VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN XUÂN QUANG
LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VÙNG BẮC TRUNG BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 9/2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN XUÂN QUANG
LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VÙNG BẮC TRUNG BỘ
Ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 9.34.04.10
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Đình Long
2. TS. Nguyễn Thị Minh Phượng
HÀ NỘI - 9/2020
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ................................................................................................................. 11
1.1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết
phát triển vùng ........................................................................................................ 11
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết ................................................... 11
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết ................................................... 13
1.2. Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên
kết phát triển du lịch ............................................................................................... 15
1.3. Những vấn đề rút ra ........................................................................................ 24
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT PHÁT
TRIỂN DU LỊCH .................................................................................................... 26
2.1 Du lịch, liên kết, liên kết phát triển du lịch – Một số khái niệm và cách
tiếp cận ..................................................................................................................... 26
2.1.1. Du lịch, phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững .......................... 26
2.1.2. Vùng, liên kết, liên kết phát triển du lịch ............................................... 28
2.1.3. Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của liên kết vùng trong phát triển du
lịch..................................................................................................................... 31
2.1.4. Điều kiện liên kết vùng trong phát triển du lịch ..................................... 37
2.2. Nội dung về liên kết phát triển du lịch ........................................................... 40
2.2.1. Liên kết tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu
du lịch ............................................................................................................... 40
2.2.2. Liên kết xây dựng sản phẩm du lịch, chương trình du lịch (tour du
lịch) chung của toàn vùng ................................................................................ 40
2.2.3. Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ....................................... 41
2.2.4. Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao
thông ................................................................................................................. 42
2.2.5. Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư
phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù
hợp với thế mạnh của từng địa phương ............................................................ 42
i
2.2.6. Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch .......................... 43
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch ................................ 43
2.4. Kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch và bài học kinh nghiệm cho
các tỉnh Bắc Trung Bộ ............................................................................................ 45
2.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực ........................................ 45
2.4.2. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước ................................... 50
2.4.3. Bài học rút ra cho các tỉnh Bắc Trung Bộ .............................................. 54
Chương 3: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC
TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ ............................................................................ 58
3.1. Tiềm năng và lợi thế của du lịch vùng Bắc Trung Bộ .................................. 58
3.1.1. Vị trí địa lý.............................................................................................. 58
3.1.2. Tài nguyên du lịch .................................................................................. 58
3.1.3. Cơ sở hạ tầng .......................................................................................... 59
3.1.4. Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch
của cả nước và quốc tế ..................................................................................... 59
3.1.5. Thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ ................................. 61
3.2. Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ ......................... 63
3.2.1. Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch ............................... 63
3.2.2. Liên kết phát triển sản phẩm du lịch ...................................................... 67
3.2.3. Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ....................................... 69
3.2.4. Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông .. 71
3.2.5. Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư
phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù
hợp với thế mạnh của từng địa phương ............................................................ 72
3.2.6. Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch .......................... 75
3.3. Phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du
lịch ở Bắc Trung Bộ ................................................................................................ 79
3.3.1. Khái quát về mô hình ............................................................................. 79
3.3.2. Xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi ................................................. 81
3.3.3. Kết quả đánh giá dựa trên phần gốc của mô hình .................................. 82
3.3.5. Kiểm định độ tin cậy của mô hình ....................................................... 104
ii
3.3.6. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về liên kết phát triển du lịch vùng
Bắc Trung Bộ ................................................................................................. 108
3.4. Đánh giá chung ............................................................................................... 111
3.4.1. Kết quả đạt được................................................................................... 111
3.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân ........................................................... 112
Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG
CƯỜNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG
BẮC TRUNG BỘ .................................................................................................. 120
4.1. Quan điểm và định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ .... 120
4.1.1. Quan điểm ............................................................................................ 120
4.1.2. Định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ ................. 121
4.2. Giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ ................................................................................................................ 126
4.2.1. Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ ...... 126
4.2.2. Giải pháp liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du
lịch vùng Bắc Trung bộ .................................................................................. 127
4.2.3. Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung bộ ........ 132
4.2.4. Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ ........................ 134
4.2.5. Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến ................ 136
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 139
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ................................ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 143
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 160
iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát .......................................... 6
Bảng 3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ thời kỳ 2011 - 2018 .............. 60
Bảng 3.2. Lượng khách du lịch đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ ............................ 58
Bảng 3.3. Doanh thu từ du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ ................... 60
Bảng 3.4. Số lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ . 61
Bảng 3.5. Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ .......... 62
Bảng 3.6. Huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các
tỉnh Bắc Trung Bộ (2011 – 2018) ............................................................................. 74
Bảng 3.7. Hiện trạng hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ .......................... 76
Bảng 3.8. Đặc điểm cá nhân của chuyên gia được hỏi ý kiến .................................. 83
Bảng 3.9. Đánh giá về các tài nguyên phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ ..... 84
Bảng 3.10. Đánh giá về các tài nguyên thừa kế ........................................................ 85
Bảng 3.11. Đánh giá về các tài nguyên tạo thêm ...................................................... 85
Bảng 3.12. Đánh giá về các yếu tố phụ trợ ............................................................... 86
Bảng 3.13. Đánh giá về liên kết phát triển của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại
vùng Bắc Trung Bộ ................................................................................................... 88
Bảng 3.14. Đánh giá về các điều kiện hoàn cảnh ..................................................... 91
Bảng 3.15. Đánh giá về thị trường ............................................................................ 92
Bảng 3.16. Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch .................................................. 93
Bảng 3.17. Đặc điểm nhân khẩu học của du khách được điều tra ............................ 94
Bảng 3.18. Tỷ trọng du khách theo nghề nghiệp ...................................................... 95
Bảng 3.19. Tỷ trọng du khách theo địa phương ........................................................ 96
Bảng 3.20. Mục đích chuyến thăm của du khách ..................................................... 97
Bảng 3.21. Số lần đi du lịch vùng Bắc Trung Bộ ..................................................... 97
Bảng 3.22. Hình thức tổ chức chuyến đi ................................................................... 97
Bảng 3.23. Hình thức thu thập thông tin về du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ .... 98
Bảng 3.24. Phương tiện giao thông ........................................................................... 98
Bảng 3.25. Mức chi tiêu ............................................................................................ 98
Bảng 3.26. Khoản chi tiêu tốn kém nhất ................................................................... 99
iv
Bảng 3.27. Đánh giá về sản phẩm/điểm thu hút du lịch ........................................... 99
Bảng 3.28. Đánh giá về an ninh, trật tự, môi trường xã hội.................................... 101
Bảng 3.29. Đánh giá về vệ sinh, môi trường........................................................... 101
Bảng 3.30. Đánh giá về cơ sở hạ tầng, tiện ích ....................................................... 101
Bảng 3.31. Đánh giá về giá cả................................................................................. 102
Bảng 3.32. Đánh giá về độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên,
cán bộ bản địa .......................................................................................................... 103
Bảng 3.33. Đánh giá về thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ .......... 103
Bảng 3.34. Kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha phần gốc của mô hình ......... 104
Bảng 3.35. Kết quả phân tích nhân tố khám phá phần gốc của mô hình ................ 106
v
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ ............................ 4
Hình 2.1: Các bên tham gia trong các hoạt động du lịch .......................................... 31
Hình 2.2: Các phạm vi của hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch .............. 35
Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch ............................ 45
Biểu đồ 3.1. So sánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011
- 2018 ....................................................................................................... 60
Biểu đồ 3.2. So sánh lượng khách du lịch nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách)......................................................... 59
Biểu đồ 3.3. So sánh lượng khách du lịch quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách)......................................................... 59
Biểu đồ 3.4. So sánh lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung
Bộ qua các năm (ĐVT: buồng) ................................................................ 61
Biểu đồ 3.5. So sánh lao động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua
các năm .................................................................................................... 63
Biểu đồ 3.6. So sánh huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch
trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ ......................................................... 74
vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên kết ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Liên kết là một yếu tố không
thể thiếu trong phát triển du lịch. Liên kết góp phần phát huy tối đa lợi thế của các chủ
thể liên kết, tạo sự đa dạng, phong phú sản phẩm du lịch, giảm thiểu khiếm khuyết, tạo
sự bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau giữa các điểm đến, thúc đẩy phát triển du lịch.
Liên kết vùng cũng như liên kết vùng du lịch bao hàm liên kết phát triển nội
vùng và phát triển liên vùng. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp chiu sự tác động của nhiều ngành, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều cấp theo chiều dọc và chiều ngang.
Liên kết phát triển du lịch vùng cho phép khai thác lợi thế về tài nguyên du lịch, về cơ
sở hạ tầng và các nguồn lực khác của các địa phương và doanh nghiệp tham gia liên
kết. Mặt khác phát triển liên kết vùng du lịch còn là nhân tố quan trọng để làm tăng
khả năng cạnh tranh, thu hút các nguồn lực đầu tư cho du lịch, thu hút khách du lịch
đến vùng du lịch với tư cách là một điểm đến thống nhất và đến lãnh thổ của từng địa
phương liên kết. Liên kết phát triển du lịch đã hình thành và phát triển từ nhiều năm
trước đây. Ngay từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, khả năng đi lại,
giao thương giữa các vùng, miền trở nên thuận lợi, cùng với sự phát triển kinh tế - xã
hội, vấn đề liên kết phát triển du lịch đã được đặt ra và ngày càng trở nên cấp thiết.
Trước đây, sự liên kết thường tập trung giữa các địa phương, điểm đến du lịch có
khoảng cách gần về địa lý, thuận lợi về giao thông. Ngày nay, liên kết phát triển du
lịch được thực hiện theo nhiều chiều, không chỉ giữa những điểm đến liền kề mà cả
những điểm đến xa có chung định hướng phát triển; không chỉ giữa hai hay một vài
điểm đến, địa phương mà còn giữa các vùng, miền; không chỉ liên kết trong phạm vi
quốc gia mà còn liên kết giữa các quốc gia trong một khu vực (ví dụ như liên kết giữa
các quốc gia ASEAN trong phát triển du lịch).
Chính vì vậy, ngành du lịch Việt Nam được Đảng, Nhà nước xác định là ngành kinh tế quan trọng và được xác định tập trung nguồn lực để đến năm 2020 trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính
trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [4]. Trong các Nghị quyết của Đảng và trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 201 ngày
22/01/2013 [16] và Quyết định số 2161/QĐ - TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" đã xác định: đến năm 2020, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, cạnh tranh được với các
nước trong khu vực và thế giới. Đồng thời, cũng đã khẳng định vị trí, vai trò quan
1
trọng của du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam,
góp phần kết nối với các vùng du lịch trong nước, trong khu vực và quốc tế.
Khu vực Bắc Trung Bộ gồm 06 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng
Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế, có dân số trên 10 triệu người với 25 dân tộc
anh em cùng sinh sống; Là vùng có khá nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch đặc
thù, đặc sắc mà các vùng khác không có. Thứ nhất, đây là vùng duy nhất có kế cấu địa
phương trải dài liên tục, từ Thanh Hóa vào đến Thừa Thiên Huế, các tỉnh nối liền một
dải, một tỉnh chỉ tiếp giáp với hai tỉnh hai đầu, trừ Thừa Thiên – Huế tiếp giáp với 3
tỉnh. Thứ hai,địa thế của vùng nối liền với biển (biển Đông) và núi (dãy Trường Sơn),
sau lưng là nước bạn Lào. Đồng bằng ít, núi nhiều, độ dốc lớn, rất khó khăn trong việc
phát triển các loại kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông. Tuy nhiên, tính theo
tỷ lệ chiều dài “biên giới” với diện tích của vùng, tiềm năng “mở cửa – hội nhập” của
Bắc Trung Bộ là khá lớn. Thứ ba, đây là vùng có nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và
đẳng cấp.
Vùng có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên đẳng cấp cao, thậm chí ở đẳng cấp
quốc tế như khu vực hang động Sơn Đoòng –Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình),
Núi Bạch Mã, bãi biển Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), rừng quốc gia Vũ Quang (Hà
Tĩnh), rừng quốc gia Pù Mát (Nghệ An), thành nhà Hồ, suối Cá thần (Thanh
Hóa),…Những đặc sản tự nhiện chỉ có ở vùng Bắc Trung Bộ như gió Lào, vùng Đầm
phá Thừa Thiên Huế, các cồn cát trắng Quảng Bình, Quảng Trị,… vốn là những yếu tố
gây bất lợi thế cho phát triển du lịch của vùng nhưng hiện nay, đây có thể được coi là
tiềm năng lợi thế tuyệt đối để phát triển du lịch đẳng cấp cao.
Tài nguyên văn hóa – lịch sử của vùng cũng khá phong phú. Là nơi tập trung 4
di sản thế giới được UNESCO công nhận, đó là Thành nhà Hồ, Vườn quốc gia Phong
Nha – Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế và Nhã nhạc – âm nhạc cung đình Việt
Nam. Nơi đây là quê hương của nhiều danh nhân nổi tiếng Việt Nam như: Hồ Chí
Minh, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Trần Phú, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn,.., các vua
nhà Lê, nhà Hồ, nhà Nguyễn, chúa Nguyễn, chúa Trịnh,…; Là nơi tập trung nhiều di
tích lịch sử, cách mạng có giá trị như Kinh thành Huế, đường mòn Hồ Chí Minh, địa
đạo Vịnh Mốc, nghĩa trang Trường Sơn, căn cứ Cồn Tiên, Thành cổ Quảng Trị,… Nơi
đây còn là quê hương của nhiều lễ hội độc đáo như: lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa), lễ
hội đền Cuông (Nghệ An), lễ hội Hòn Chén (Thừa Thiên – Huế); đặc biệt là Festival
Huế được tổ chức định kỳ 2 năm một lần đã trở thành một sự kiện văn hóa mang tầm
quốc tế được nhiều du khách trong và ngoài nước quan tâm.
2
Tuy có tiềm năng, lợi thế lớn, mức độ khác biệt nhưng du lịch của vùng vẫn còn
kém phát triển. Vì sao vậy? Một là, cũng như các vùng, các địa phương khác trên cả
nước, du lịch vùng Bắc Trung Bộ vẫn phát triển theo logic cổ điển (du lịch “đi sau”).
Tính “tự lực địa phương” là chính, do đó, chia cắt, manh mún, nghèo nàn và không thể
phối hợp vẫn là đặc điểm chính. Hình thái du lịch chủ đạo vẫn chỉ là “nghỉ mát – tắm
biển” có tính thời vụ, “nhờ trời”. Các lợi thế, tính đặc sắc riêng của các địa phương
không được kết nối, tạo ra sức mạng cộng hưởng nên khó phát huy. Hai là, thiếu nguồn
lực khởi động, thiếu hạ tầng kết nối quốc tế đúng tầm, đúng cách, chưa có nhà đầu tư
chiến lược, thiếu cơ chế phối hợp, liên kết và vận hành phù hợp, không có chính sách
đột phá, không đủ quyền chủ động điều hành và tổ chức,…đều có thể là nguyên nhân
dẫn đến liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ còn chưa thực sự mạnh để khẳng
định vai trò và tiềm năng du lịch của vùng.
Chính vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc
Trung Bộ trong thời gian quan để nhìn nhận đúng nguyên nhân của vấn đề liên kết
phát triển du lịch của vùng còn yếu kém, để nhận diện, phác họa đúng chân dung đối
tượng mà du lịch Bắc Trung Bộ đang nhắm đến để hội nhập quốc tế, đồng thời, định
hướng và tìm giải pháp tăng cường liên kết du lịch để có thể làm cho ngành du lịch
đóng vai trò “ngành mũi nhọn” tại vùng Bắc Trung Bộ. Vấn đề đặt ra là cần phát huy
những lợi thế khác biệt bà trội bật đảm bảo chi vùng phát triển du lịch như thế nào? Cơ
sở nào để thực hiện? và giải pháp nào để tăng cường liên kết du lịch của vùng Bắc
Trung Bộ trong thời gian tới?... Xuất phát từ những lý do đó, nghiên cứu sinh đã lựa
chọn đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” làm đề tài luận án tiến
sỹ chuyên ngành Quản lý kinh tế với mong muốn đóng góp thêm những cơ sở lý luận
và thực tiễn cho quá trình liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ thời gian tới.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
+ Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm làm rõ các vấn đề về lý luận và
thực tiễn về liên kết du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ. Từ đó, đề xuất các giải pháp
tăng cường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Để đạt được mục đích này, luận án hướng đến việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
1. Liên kết phát triển du lịch là gì? Có những nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình
liên kết đó?
2. Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ như thế nào?
3. Cần có những giải pháp nào để tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc
Trung Bộ trong thời gian tới?
Trên cơ sở xác định mục đích nghiên cứu, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ đặt
ra theo sơ đồ mô hình nghiên cứu như sau:
3
Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết du lịch
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Sơ
h c ị l
Liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch
Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung Bộ
u d n ể i r t t á h p t ế k n ê i l
Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ
p á h p
i ả i G
Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến
Ị
Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch
I
Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch
h c ị l
Liên kết phát triển sản phẩm du lịch
I
Ộ B G N U R T C Ắ B G N Ù V H C L U D N Ể R T T Á H P T Ế K N Ê L
Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
u d n ể i r t t á h p t ế k n ê i l
Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch
g n ạ r t c ự h T
Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch
4
+ Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Làm rõ một số vấn đề cơ sở lý luận về phát triển du lịch và liên kết phát triển du lịch; Kinh nghiệm một số quốc gia và một số địa phương trong nước về phát triển
du lịch, từ đó rút ra bài học đối với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
- Đánh giá đúng thực trạng về liên kết phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung
Bộ trong thời gian qua, đưa ra các thành tựu, thách thức và hạn chế, đồng thời làm rõ nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc
Trung Bộ trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Liên kết phát triển du lịch
+ Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi về nội dung:
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến liên kết phát triển du
lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ như: (1) Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du
lịch; (2) Liên kết phát triển sản phẩm du lịch; (3) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực; (4) Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao
thông; (5) Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát
triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương; (6) Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch.
Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu liên kết phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ. Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2015 – 2019, dự báo cho đến năm
2025 và những năm tiếp theo.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, luận án không chỉ
dựa vào phân tích định tính (thông qua miêu tả) mà còn cung cấp những phân tích định lượng (thông qua điều tra, phân tích thống kê số liệu). Cụ thể, những phương pháp sau
sẽ được đưa vào sử dụng:
4.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
* Chọn mẫu điều tra: + Lựa chọn mẫu điều tra: Đối tượng điều tra và phỏng vấn mẫu nghiên cứu gồm
2 nhóm đối tượng: (1) các chuyên gia (đó là các chuyên gia du lịch làm việc tại các trường đại học, viện nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước cả ở cấp trung ương và cấp địa phương, các doanh nhân, nhân viên kinh doanh du lịch; (2) khách du lịch (khách
nội địa và quốc tế)
5
+ Quy mô và cách chọn mẫu:
- Đối với nhóm chuyên gia thì dự kiến số lượng phiếu điều tra phỏng vấn xin ý kiến là 150 phiếu (150 người). Các chuyên gia được chọn một cách có chọn lọc
nhằm đảm bảo thu thập được những thông tin chính xác. Mặt khác, đối tượng được
phỏng vấn ở nhiều địa điểm khác nhau chứ không tập trung một nơi cũng như nghề
nghiệp khác nhau nhằm thu được những thông tin đa dạng về nhân khẩu học.
Việc phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia thực hiện bằng cách gặp gỡ, liên lạc để
chuyên gia đồng ý đánh giá sau đó gửi cho chuyên gia Bảng hỏi qua email hoặc trực
tiếp bản in. Chuyên gia có thể cho ý kiến trực tiếp vào file mềm rồi trả lời lại bằng
email hoặc bản in.
- Đối với khách du lịch dự kiến 250 phiếu cho cả khách nội địa và nước ngoài.
Thời điểm lấy ý kiến đánh giá của du khách chọn thời điểm đông khách tại các điểm
du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ. Nguyên tắc chọn du khách phỏng vấn theo cách thức
ngẫu nhiên. Phân bổ phỏng vấn du khách đã thực hiện cụ thể như sau:
Bảng 1.1. Phân bổ phỏng vấn du khách tại điểm khảo sát
Bãi biển
Số lượng (khách)
Quảng Bình
70
Huế
100
Thanh Hóa
30
Nghệ An
30
Hà Tĩnh
20
Do đặc điểm về nguồn khách đến Bắc Trung Bộ, đối với khách quốc tế là từ
tháng 2 – 5 (kéo dài đến giữa tháng sáu) và tháng 11 hàng năm. Đối với khách nội địa
là khoảng cuối tháng 5 đến cuối tháng 8 hàng năm. Tuy nhiên, đo đặc thù về điều kiện
thời tiết nên hoạt động du lịch tại Bắc Trung Bộ mạnh nhất từ giữa tháng 5 – 8 hàng
năm (do thời gian này ít mưa). Vì vậy, cuộc điều tra mới nhất tập trung vào việc đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, tác giả luận án đã chọn thời điểm điều tra được chọn từ tháng 5 9/2018. Số phiếu được tính
theo công thức: . (Trong đó: N: Lượng khách dự kiến (từ tháng 5
tháng 9/2018) ; độ tin cậy = 95%; x trong phạm vi cho phép = 5%; Độ lệch chuẩn
lấy theo phương sai các cuộc điều tra về du lịch ở nước ta). Phương pháp chọn mẫu như vậy, đặc biệt với số lượng mẫu lớn bảo đảm tính chính xác và đại điện dự theo tính chất của từng điều tra. Từng điều tra đã tham khảo và trao đổi với nhiều nhóm chuyên gia để chọn điểm, chọn mẫu nhằm bảo đảm được tính chất ổn định của khách du lịch cộng đồng.
- Thiết kế phiếu theo thang đo được đo lường bằng thang Likert 5 điểm, trong
đó 1 là Rất kém; 2 là Kém; 3 là Trung bình; 4 là Khá và 5 là Tốt.
6
4.2 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
4.2.1 Số liệu thứ cấp - Các tài liệu, thông tin, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến
đề tài. Điều tra, thu thập, nghiên cứu kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp du lịch, các định hướng, chính sách của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại
địa phương. - Số liệu về tình hình phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
từ năm 2010 đến 2018 (Niên giám thống kê, Cục Thống kê các tỉnh).
- Nguồn số liệu được dùng trong nghiên cứu này bao gồm là những thông tin đã
được công bố trên sách báo, tạp chí, trên các trang web, các báo cáo của Sở, Ban,
Ngành các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, gồm: (i) dựa trên các tư liệu, số liệu thống kê và
các nguồn dữ liệu, tài liệu từ các cơ quan chức năng tỉnh; (ii) ý kiến của các doanh
nghiệp, du khách, người dân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn các
tỉnh vùng Bắc Trung Bộ; (iii) Ý kiến của các cán bộ thuộc các cơ quan chức năng của
tỉnh. Nhóm nghiên cứu đã kết hợp nhiều kỹ thuật thu thập thông tin để thu thập thông
tin một cách tương đối đầy đủ và chính xác theo những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.
- Thu thập tài liệu liên quan từ các cơ quan chức năng tỉnh.
- Phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp, du khách, người dân
- Phỏng vấn gián tiếp, phỏng vấn sâu một số cán bộ thuộc các cơ quan chức năng
cấp tỉnh, huyện.
- Toạ đàm với cán bộ thuộc các cơ quan chức năng cấp tỉnh, huyện và doanh
nghiệp.
Nội dung thu thập số liệu điều tra
STT Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu
Nội dung thu thập số liệu Quy hoạch phát triển du lịch
1
Tổ chức đầu tư, huy động vốn đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn 2
- UBND các Tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, Sở Văn hóa - Thể thao và du lịch các tỉnh. - Các doanh nghiệp du lịch các tỉnh - Sở Văn hóa - thể thao và Du lịch tỉnh các tỉnh Bắc Trung Bộ - Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong và ngoài vùng.
3 - Đề án phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030. - Thu thập từ báo cáo của các doanh nghiệp các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 - Báo cáo tổng kết tình hình phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 - Thu thập số liệu từ báo cáo của các doanh nghiệp các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018. - Thống kê tài nguyên du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 Quản lý, phát triển tài nguyên du lịch và cơ sở hạ tầng phục vụ du - Tác giả điều tra thực tế. - Sở Văn hóa-thể thao và du lịch.
7
STT Nơi thu thập số liệu Cách thu thập số liệu
Nội dung thu thập số liệu lịch trên địa bàn - Các khu, điểm du lịch trong tỉnh
4
Phát triển sản phẩm du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch. 5
Chính sách quản lý du lịch và thực hiện quản lý nhà nước về du lịch 6
- Điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch + Báo cáo tổng kết tình hình phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018. + Điều tra, thu thập ý kiến khách du lịch. + Số liệu thống kê từ các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 về nguồn nhân lực. +Thu nhập các mẫu điều tra về nguồn nhân lực, ngành nghề, thu nhập của dân cư trên địa bàn điều tra. - Đề án phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018 + Qui chế phối hợp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn.
7
Tuyên truyền, nâng thức và cao nhận khuyến khích cộng đồng dân cư tham gia hoạt động phát triển kinh tế du lịch. + Thu thập ý kiến các doanh nghiệp, du khách đến tham quan tại các khu, điểm du lịch. + Thu thập, tổng hợp ý kiến đánh giá, nhận xét của người dân trên địa bàn du lịch.
Liên kết phát triển hoạt động du lịch, mở rộng thị trường du lịch
8
+ Thu thập ý kiến các hãng lữ hành đến khu, điểm du lịch năm 2019. + Thu thập ý kiến, đánh giá, nhận xét của hướng dẫn viên, nhân viên du lịch tại các khu, điểm du lịch.
+ Sở Văn hóa-thể thao và du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018. + Khách du lịch trong và ngoài vùng. + Cục thống kê tỉnh các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018. + Điều tra tại các khu, điểm du lịch trong tỉnh, địa bàn dân cư tại khu, điểm du lịch. - UBND các tỉnh Bắc Trung Bộ giai đoạn 2010 - 2018. - Sở Văn hóa-thể thao và du lịch. + Phỏng vấn chính quyền địa phương (huyện, xã, thôn, buôn..) - Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong và ngoài vùng. - Du khách trong và ngoài tỉnh. - Phỏng vấn dân cư tại địa bàn khu du lịch. + Tổng cục du lịch (liên kết phát triển các tour, tuyến du lịch ) + Phỏng vấn một số hãng lữ hành du lịch trong và ngoài vùng. + Phỏng vấn hướng dẫn viên và nhân viên các khu, điểm du lịch.
8
4.2.2 Số liệu sơ cấp
- Nghiên cứu tài liệu tại bàn: Tập hợp, sưu tầm và phân tích các nghiên cứu có liên quan đã được công bố. Phương pháp này giúp tìm ra khoảng trống cả về lý luận
lẫn thực tiễn để nghiên cứu có thể bổ sung, đóng góp. Phương pháp này còn giúp tiếp
cận các thành tựu, kết quả và cách giải quyết vấn đề, phương pháp nghiên cứu mà các
học giả đi trước đã sử dụng thành công, nhờ đó có thể tiết kiệm thời gian, công sức và đi thẳng vào những vấn đề mà nghiên cứu đặt ra một cách hiệu quả nhất.
4.2.3. Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp chuyên gia: Đối tượng chuyên gia mà nghiên cứu này sẽ tiếp
cận, đó là các nhà nghiên cứu, giảng viên, doanh nhân, nhân viên kinh doanh, cán bộ
quản lý nhà nước, v.v… thuộc lĩnh vực du lịch. Những đối tượng này sẽ được phỏng
vấn, hỏi ý kiến về các tiêu chí đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
lấy ra từ mô hình tích hợp đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch của Dwyer và Kim
(2003) [105]. Trên cơ sở đó một mô hình phù hợp sẽ được xây dựng nhằm đánh giá
liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Các tiêu chí trong mô hình đánh giá sẽ
được xây dựng và chuyển thành bảng hỏi dùng để điều tra phỏng vấn các đối tượng
nghiên cứu.
Ngoài ra, nghiên cứu này còn có mục tiêu khuyến nghị các giải pháp chính sách
nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, do đó nội dung của phỏng vấn còn quan tâm đến những ý kiến của chuyên gia trong đề xuất các giải pháp
chính sách nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: với mục tiêu và đối tượng nghiên cứu là
đánh giá liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ nên phương pháp nghiên cứu
so sánh được lựa chọn sử dụng. Phương pháp này giúp nghiên cứu có thể tìm ra được
những điểm tương đồng cũng như sự khác biệt giữa liên kết phát triển du lịch vùng
Bắc Trung Bộ.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng xác suất thống kê để kiểm định độ tin cậy về kết quả điều tra phỏng vấn của các đối tượng. Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để phân tích Cronbach Alpha
nhằm loại biến có hệ số tương quan với biến tổng nhỏ đồng thời kiểm tra độ tin cậy của các thang đo. Thêm vào đó phầm mềm SPSS 22.0 cũng được sử dụng để phân tích nhân tố khám phá EFA .
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là một nghiên cứu mang tính hệ thống liên quan đến liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ, luận án đã có những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn như sau: - Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch cả trong và ngoài nước, làm rõ nội hàm liên kết phát triển du lịch,
9
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch. Luận án đã tổng kết được bài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch của các quốc gia trong khu vực Châu Á và các địa phương trong nước như vùng Nam Bộ, vùng Tây Bắc. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ.
- Luận án đã đưa ra các quan điểm về liên kết vùng và liên kết phát triển du lịch. - Đánh giá thực trạng liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ, những thuận lợi và hạn chế, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó. Và đề xuất các nhóm giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
+ Ý nghĩa lý luận của luận án: - Lý luận về liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch thực hiện trong luận án góp phần khẳng định việc liên kết phát triển du lịch là yếu tố quan trọng nhất để đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động này, là cơ sở gợi mở cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu cho thấy muốn tăng cường liên kết phát triển du lịch cần quy hoạch tập trung xây dựng sản phẩm du lịch đặc trưng cho từng vùng, tránh tình trạng chồng chéo, liên kết du lịch giữa các tỉnh trong vùng và các vùng trong cả nước, nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và những người trực tiếp tham gia hoạt động du lịch. Bên cạnh đó là định hướng phát triển du lịch từ chiều rộng sang chiều sâu, phát triển du lịch bền vững với chất lượng dịch vụ cao hơn; tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành…; vì vậy tính đồng bộ trong thực hiện các giải pháp cần phải được đặc biệt quan tâm.
+ Ý nghĩa thực tiễn của luận án: - Luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ; các giải pháp này nếu được áp dụng sẽ góp phần tăng cường liên kết phát triển du lịch Bắc Trung Bộ trong thời gian tới.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho các đối tượng có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề liên kết vùng, liên kết du lịch; các địa phương khác trong cả nước cũng có thể tìm thấy những thông tin bổ ích trong luận án này. 7. Kết cấu của Luận án
Ngoài Lời mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu, phụ lục, nội dung
luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu có liên quan đến luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch Chương 3: Phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp tăng cường liên kết phát triển
du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
10
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Liên kết phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với các
địa bàn khác trong một nước và liên kết quốc tế, với các nước nằm trong khu vực
nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương, tạo
sự độc đáo trong các tour du lịch, tăng cường chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến
quảng bá du lịch , vừa tạo sự hài hòa, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của từng địa
phương, của vùng nhằm tạo lập không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát
triển, tăng khả năng cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Lý
luận và thực tiễn về liên kết phát triển du lịch được đề cập trong một số các nghiên
cứu lý thuyết và thực nghiệm như sau:
1.1. Tổng quan một số công trình nghiên cứu liên quan liên kết và liên kết
phát triển vùng
1.1.1. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết
Thuật ngữ liên kết (linkage) từ lâu đã được sử dụng trong nhiều ngành khoa học
khác nhau như vật lý học, sinh học, quân sự, chính trị học,… Trong mỗi ngành nó lại
có nội hàm và ý nghĩa riêng. Ngay bản thân trong lý thuyết phát triển, thuật ngữ liên
kết, với các tác giả khác nhau, cũng được dùng với nhiều cách khác nhau. Trong lý
thuyết phát triển, thuật ngữ liên kết được sử dụng đầu tiên trong các công trình của
Perroux (1955) [165] và Hirschman (1958) [130]. Tuy vậy, Perroux và Hirschman lại
đi theo hai hướng khác nhau, và chính hai hướng đi này có ảnh hưởng chi phối đối với
nhiều công trình nghiên cứu về liên kết của các tác giả đi sau.
Hirschman (1958) [130] sử dụng khái niệm liên kết bao gồm các liên kết ngược
(backward linkages, upstream linkages) và liên kết xuôi (forward linkages,
downstream linkages). Hiệu ứng liên kết ngược (backward linkage effects) nảy sinh từ
nhu cầu cung ứng đầu vào của một ngành nào đó mới được thiết lập; còn hiệu ứng liên
kết xuôi phát sinh từ việc sử dụng đầu ra của ngành đó như là đầu vào của các hoạt
động kéo theo. Ông khuyến nghị cần tập trung đầu tư vào những ngành có các mối liên
kết mạnh, để thông qua sức lan tỏa của chúng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng
không cân đối). Với cách quan niệm của mình khi định nghĩa liên kết là quá trình làm thế
nào một hoạt động này dẫn đến một hoạt động khác và giải thích thêm rằng liên kết tồn tại
11
khi một hoạt động đang diễn ra kéo theo các chủ thể khác bắt đầu một hoạt động mới,
Hirschman đã gây ra rất nhiều sự nhầm lẫn về sau này khi không có sự phân biệt bản thân
mối liên kết với những hiệu ứng của nó (Kristiansen, 2003) [146].
Ở góc độ khác, Perroux (1955) [165] tiếp cận liên kết vùng dựa trên ý tưởng về
“cực tăng trưởng”, với chiến lược thiết lập các khu vực trong đó có ngành có sức lan
tỏa mạnh. Từ đó, ngành cốt lõi này tạo xung lực cho sự phát triển của các khu vực và
ngành khác trong phạm vi lân cận.
Mặc dù vậy, nhiều người cho rằng quan điểm về không gian kinh tế và không
gian địa lý của Perroux không trùng khớp. Vì thế Boudeville (1966) [86] đã cố gắng
nhấn mạnh yếu tố địa lý trong lý thuyết cực tăng trưởng bằng cách đưa ra các ranh giới
rõ ràng về mặt địa lý của các hiệu ứng phát triển tích cực (Capello, 2007) [88]. Từ đây,
yếu tố then chốt trong phát triển không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành
nữa mà để có sự phát triển kinh tế vùng phải có sự tập trung về mặt không gian của
các hoạt động sản xuất; và Boudeville giả định luôn rằng sự tập trung đó nằm ở đô thị.
Các liên kết trong phát triển vùng ở đây nằm ở sự tương tác giữa cực tăng trưởng/đô
thị và các vùng nằm trong ảnh hưởng của nó.
Một cách tiếp cận khác ngược với kiểu liên kết cực/trung tâm tăng trưởng nêu
trên do Friedman and Douglass (1978) [112] đề xuất. Đây là cách tiếp cận theo kiểu từ
dưới lên (bottom-up), hướng tới giải quyết các vấn đề nghèo đói thông qua các dự án ở
nông thôn và nông nghiệp, với sự tham gia liên kết của nhiều phía: khu vực tư nhân và
nhà nước, các trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, các tổ chức xã hội,…, và
được triển khai trên quy mô tương đối nhỏ. Nói cách khác, theo cách tiếp cận này, sự
phát triển vùng có thể đạt được một cách tốt nhất thông qua sự kết nối giữa phát triển
đô thị và phát triển nông thôn ở cấp độ địa phương (Douglass, 1998) [102].
Douglass (1998) chỉ ra 5 liên kết cần lưu ý: (1) Hệ thống thương mại và vận tải
đô thị và sản xuất nông nghiệp; (2) Các dịch vụ vật tư nông nghiệp và cường độ sản
xuất nông nghiệp; (3) Các thị trường hàng hóa phi nông nghiệp và thu nhập và sức cầu
ở nông thôn; (4) Công nghiệp chế biến và đa dạng hóa nông nghiệp; và (5) Việc làm
phi nông nghiệp và lao động nông thôn.
Martin (2003) [155] tiếp cận khái niệm liên kết giữa đô thị và nông thôn trong
vùng trên cơ sở phức hợp các mối quan hệ trong đó. Có 7 liên kết chủ yếu: (1) Liên kết
về cơ sở hạ tầng bao gồm đường sá, cảng và hệ thống cơ sở giáo dục và y tế; (2) Liên
12
kết kinh tế bao gồm cấu trúc thị trường, các dòng vốn, lao động và nguyên vật liệu,
hợp tác trong sản xuất và chuyển giao công nghệ; (3) Liên kết dịch chuyển dân số bao
gồm các dòng di cư tạm thời và lâu dài; (4) Liên kết xã hội bao gồm tương tác giữa
các nhóm xã hội, tôn giáo và văn hóa, và sức khỏe, kỹ năng của dân cư; (5) Liên kết tổ
chức bao gồm các chuẩn mực và quy tắc, các tổ chức chính thức và phi chính thức; (6)
Liên kết hành chính bao gồm các mối quan hệ về cơ cấu hành chính, các chuỗi quyết
định chính trị phi chính thức; và (7) liên kết môi trường bao gồm các mối quan hệ về
vốn tự nhiên và chất thải.
Trên khía cạnh khác, xem xét mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội và thể chế,
Kristiansen (2003) [146] chia liên kết thành 3 nhóm: (1) Liên kết như là tổng giá trị kinh
tế của các giao dịch giữa các khu vực kinh tế hay khu vực địa lý theo thời gian; (2) Liên
kết như là mối liên hệ liên tục giữa các tác nhân kinh tế, bị chi phối bởi các hợp đồng hoặc
sự can thiệp của nhà nước; và (3) Liên kết như các quan hệ xã hội hay mạng lưới mà có
thể được sử dụng để phát triển vốn xã hội, văn hóa và con người hay thúc đẩy giá trị của
các quyết định, giao dịch kinh doanh hoặc phát triển kinh tế.
1.1.2. Các nghiên cứu liên quan đến liên kết
Ở Việt Nam, hiện đã có nhiều kết quả nghiên cứu về vai trò của liên kết trong
phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung theo hướng
bền vững ở các vùng khác nhau. Vấn đề liên kết ở nhiều vùng ở Việt Nam đều đã được
xem xét, chẳng hạn Vũ Thành Hưng (2011) [40] đánh giá về liên kết phát triển Vùng
Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Vũ Minh Trai (2011) [71] nghiên cứu vị trí và vai trò của
Hà Nội trong mối liên kết vùng kinh tế Đồng Bằng Sông Hồng. Về liên kết phát triển ở
miền Trung và Tây Nguyên, có các nghiên cứu của Lê Thế Giới (2008) [23], Đào Hữu
Hòa (2008) [26], Trương Bá Thanh (2009) [65], Nguyễn Danh Sơn (2010) [60], Trần
Du Lịch (2011) [45], Nguyễn Văn Huân (2012) [31] và Nguyễn Danh Sơn (2014)
[61]. Đối với liên kết phát triển ở phía Nam, có các công trình của Nguyễn Xuân
Thắng (2010) [66], Trương Thị Hiền (2011) [39] hay Đinh Sơn Hùng (2011) [29],
trong số nhiều tác giả khác. Các tác giả đều thống nhất rằng điều quan trọng là phải có
sự liên kết hỗ trợ cùng phát triển, cần xoá bỏ “cát cứ hành chính”, cần có “người nhạc
trưởng” để chỉ huy sự phát triển của một vùng.
Các nghiên cứu vùng mang tính nền tảng về vùng cũng được nhiều tác giả thực
hiện. Chẳng hạn, Lê Thông và Nguyễn Văn Phú (2004) [67] đã đưa ra một số lý luận
13
cơ bản về vùng và phát triển vùng, đó là các khái niệm về vùng, vùng kinh tế; quan
niệm về phát triển bền vững theo vùng; vấn đề xử lý liên vùng trong quá trình phát
triển vùng; cơ chế chính sách phát triển vùng; vấn đề phát triển các lãnh thổ đặc biệt
và các trung tâm đô thị làm hạt nhân đột phá trên các vùng... Trong đó các tác giả đã
đua ra các quan điểm phát triển vùng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đến năm 2020 gồm các điểm: (1) Phát triển vùng có trọng tâm, trọng điểm, tránh tràn
lan, dàn trải. Trước hết tạo ra sự phát triển nhanh của một vùng lãnh thổ làm động lực,
đột phá cho sự phát triển chung của cả nước; (2) Mỗi vùng luôn chú ý phát hiện những
nhân tố mới, nổi trội để hình thành các hạt nhân trong vùng để bứt phá đi trước, trở
thành động lực trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của cả nước; (3) Bên
cạnh phát triển có trọng điểm, luôn chú ý đến sự phát triển của các vùng kém phát triển
ở mức độ nhất định nhằm đảm bảo ổn định và phát huy tiềm năng thế mạnh của tất cả
các vùng; (4) Phát triển vùng trên cơ sở tận dụng khả năng tài nguyên, nguồn nhân lực
tại chỗ và đáp ứng nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích cộng đồng trong mỗi vùng và
hiệu quả kinh tế - xã hội cao; (5) Phát triển vùng phải đảm bảo “giữ được bản sắc
vùng”, mỗi vùng phải thể hiện được đặc thù của mình cả về kinh tế và văn hoá; và 6)
Phát triển kinh tế vùng phải đảm bảo bền vững cho mỗi vùng và cho cả nền kinh tế.
Các tác giả Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005) [51] đã có đánh giá tương đối
toàn diện về vấn đề phát triển các vùng. Theo đó, sự phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo
ra sự chênh lệch về trình độ phát triển và thu nhập, vì những vùng có nhiều lợi thế
cạnh tranh sẽ tăng trưởng cao hơn các vùng sâu vùng xa, các thành phố sẽ có tốc độ
tăng trưởng cao hơn các vùng nông thôn, những lao động có kỹ năng cũng sẽ có thu
nhập cao hơn những lao động không có kỹ năng. Do vậy sự chênh lệch về phát triển là
khó tránh khỏi. Và cũng phải nói là kinh tế thị trường ra đời cùng với sự chênh lệch về
phát triển, vì nếu một quốc gia phải cùng một lúc đầu tư phát triển đồng đều tất cả các
vùng - kể cả các vùng có lợi thế, cũng như các vùng không có lợi thế, thì quốc gia đó
khó có thể tăng trưởng cao được và cũng khó có các nhà đầu tư chịu lỗ để kinh doanh
ở những vùng không có lợi thế cạnh tranh. Mọi nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường đều phải tìm kiếm lợi nhuận, họ sẽ tìm đến những nơi có lợi nhất để kinh
doanh, do vậy ở đó phát triển và những nơi kém lợi thế sẽ kém, hoặc không phát triển,
những lĩnh vực kinh doanh cũng vậy. Đó là quy luật của kinh tế thị trường. Sự chênh
lệch về trình độ phát triển do lợi thế cạnh tranh tạo ra sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát
14
triển, tạo ra những cơ hội để các chính phủ có thể hỗ trợ cho các vùng sâu vùng xa,
những người nghèo, giảm bớt sự bất bình đẳng duy trì được sự ổn định xã hội và an
ninh quốc gia. Tuy vậy trong cuốn sách này các tác giả không đi sâu giải quyết các vấn
đề liên kết vùng để các vùng cùng phát triển một cách bền vững.
Về vai trò của liên kết vùng, Lê Anh Đức (2014) [21] khẳng định, liên kết vùng
là đòi hỏi tất yếu hiện nay bởi ba lý do: (1) Liên kết vùng nâng cao khả năng cạnh
tranh; (2) Liên kết tạo ra lợi thế so sánh và phân công hợp lý hơn; và (3) Liên kết để
tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Luận điểm này tiếp nối và bổ sung cho
nghiên cứu của Đào Hữu Hòa (2008) [26] cho rằng liên kết vùng mang lại nhiều lợi
ích cho các bên tham gia: (1) Tăng quy mô hoạt động nhằm đạt đến quy mô hiệu quả
nhờ có phân công lao động xã hội; (2) Tăng khả năng linh hoạt của mỗi bên trong việc
phát huy thế mạnh; (3) Tăng được sức mạnh cạnh tranh chung nhờ phối hợp sử dụng
được những ưu thế riêng biệt của các bên; và (4) Giảm thiểu các rủi ro nhờ chia cơ
chế sẻ trách nhiệm giữa các bên tham gia.
Ngoài các nghiên cứu liên kết theo chiều cạnh không gian hành chính, liên kết
vùng thông qua các chủ thể cũng đã được đào xới. Đào Hữu Hòa (2008) [26] và Lê
Anh Vũ (2016) [74] cho rằng liên kết kinh tế được là sự thiết lập các mối quan hệ giữa
các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực
hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động
mang tính chất bổ sung, nhằm tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao
hơn trong sản xuất - kinh doanh, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các
khả năng, mở ra những thị trường mới. Mặc dù vậy, hầu hết các tác giả đều không đưa
ra khái niệm liên kết vùng là gì, và nếu có đưa ra thì quan niệm cũng có sự khác biệt
đáng kể hoặc chỉ tập trung chủ yếu vào liên kết kinh tế vùng.
1.2. Tổng quan về một số công trình nghiên cứu phát triển du lịch và liên
kết phát triển du lịch
Vấn đề hội nhập khu vực trong du lịch đã được đặt ra và tập trung trong bối cảnh
mới sự phát triển trong cạnh tranh khu vực và những thay đổi trong ngành du lịch như
sự phát triển của công nghệ thông tin, internet và nhu cầu du lịch của người tiêu dùng
mới. Theo Mills và Law (2004) [159], internet đang thay đổi cấu trúc của ngành du lịch
bằng cách thay đổi các rào cản gia nhập, cách mạng hóa các kênh phân phối, tạo điều
kiện minh bạch giá cả và cạnh tranh; như kết quả, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nhiều
15
học giả đã lập luận rằng cơ sở lý thuyết của liên kết vùng trong du lịch xuất phát từ
chiến lược điểm đến của Porter (1990) [173], quan niệm về du lịch của Gilbert (1984)
[119] nhà nước và hàng hóa hoặc khái niệm chuyên môn hóa năng động và đổi mới
thường xuyên của Poon (1994) [171]. Trong lĩnh vực liên kết cụm, Anderson et al.
(2004) [77] lập luận rằng việc hình thành các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ hoặc liên
minh giữa các chủ thể là rất quan trọng để nâng cao khả năng cạnh tranh và đẩy mạnh
liên kết du lịch. Coi điểm đến là một loại hình du lịch đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã
nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác và liên kết (Gunn, 1997) [122]. Đạt được mức độ
cao của liên kết, với các sản phẩm và dịch vụ khác biệt dựa trên sự đổi mới thường
xuyên, là một chiến lược cho tăng khả năng cạnh tranh của các điểm đến du lịch một
cách bền vững, vì lợi ích của địa phương cộng đồng. Gần đây, các mối liên kết du lịch
đã chuyển từ một cách tiếp cận dựa trên cạnh tranh sang một phương pháp hợp tác
(Baggio et al., 2013 [80]; Mariani và Kylanen, 2014 [154]) theo hướng du lịch các
điểm đến được quảng bá, tiếp thị và giao dịch như một nỗ lực chung (Wang & Shaul,
2008) [198].
Khi các công ty du lịch tham gia sâu hơn vào các mạng lưới khu vực, trong nước
và quốc tế, việc hợp tác và duy trì các mối quan hệ trong mạng lưới kinh doanh trở nên
cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh (Erkus-Otzurk và Eraydın, (2010) [109];
Plummer et al., (2006) [168]). Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy rằng liên kết vùng
không chỉ là một yêu cầu cho du lịch phát triển trong một thời kỳ nhất định nhưng cũng
là một lựa chọn không thể thiếu để phát triển du lịch. Các nghiên cứu quốc tế về hội
nhập khu vực có thể cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn hữu ích cho nghiên cứu khu
vực tại Việt Nam.
Ở Việt Nam có những nghiên cứu sau đây nghiên cứu về ngành du lịch:
Đề tài cấp bộ “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam” của Phạm Trung Lương năm 2002 [46]. Kết quả nghiên cứu là thử nghiệm xây
dựng mô hình phát triển du lịch bền vững trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và đề xuất
hệ thống các giải pháp đảm bảo phát triển du lịch bền vững trong điều kiện Việt Nam.
Du lịch là một hoạt động có tính thời vụ cao, nhất là hoạt động du lịch biển, do đó
“Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam” của
Nguyễn Thăng Long năm 1998 [49] đã nghiên cứu tác động của tính thời vụ đối với
hoạt động của một số loại hình du lịch chủ yếu ở Việt Nam bao gồm: du lịch biển, du
16
lịch núi, du lịch lễ hội và du lịch tham quan nghiên cứu. Đề tài đã xác lập được cơ sở
khoa học về ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động du lịch góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh du lịch và là căn cứ để xây dựng các giải pháp cụ thể nhằm
hạn chế ảnh hưởng của tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch ở những vùng
lãnh thổ khác nhau với những mức độ ảnh hưởng khác nhau.
Với mục tiêu là đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy sự phát triển của các
khu du lịch quốc gia biển miền Trung một cách hiệu quả và bền vững, tác giả Nguyễn
Thu Hạnh đã tiếp cận theo phương pháp khảo sát thực địa, điều tra xã hội học, phương
pháp bản đồ, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp ma trận, chuyên gia, dự
báo (cả định tính và định lượng) để đánh giá tiềm năng tài nguyên và hiện trạng các
khu du lịch biển một cách hệ thống và tổng quát nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hưởng
của các yếu tố đến phát triển khu du lịch biển trong đề tài cấp bộ năm 2009 "Cơ sở
khoa học phát triển các khu du lịch quốc gia biển miền Trung", từ đó đánh giá được
thực trạng phát triển du lịch biển tại các địa bàn để có các định hướng và giải pháp
phát triển các khu du lịch biển phù hợp với tương lai [34].
Liên quan đến chính sách phát triển biển có cuốn “Chính sách, pháp luật biển của
Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” do tác giả Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá
Diễn (chủ biên) được xuất bản năm 2006 bởi NXB Tư pháp. Cuốn sách đề cập một cách
tổng quan đến các vấn đề chính sách pháp luật về biển cũng như các nguyên tắc phát triển
bền vững [22].
Trong đó đi sâu nghiên cứu các chính sách biển của Việt Nam trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững, các vấn đề hợp tác quốc tế. Đề cập đến các
chính sách của phát triển du lịch bền vững ở những vùng sinh thái nhạy cảm như du lịch
ven biển, miền núi, sinh thái, các tác giả Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (trong cuốn “Du
lịch bền vững” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) đã chứng minh được rằng do tính
nhạy cảm của hoạt động du lịch ở ven biển nên cần thiết phải có những chính sách phù hợp
để đảm bảo tính bền vững của khu vực cũng như quốc gia, vùng hay địa phương trong phát
triển du lịch [27].
Bên cạnh đó, có khá nhiều đề tài dưới hình thức luận án, luận văn nghiên cứu các vấn
đề có nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển du lịch nói chung và du lịch
biển cấp độ quốc gia. Với tác giả Hoàng Văn Hoan trong luận án tiến sĩ năm 2002“Hoàn
thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam” thì tiếp cận trên
17
góc độ các công cụ quản lý nhà nước (trong đó có chính sách) đối với lao động trong kinh
doanh du lịch ở Việt Nam [28].
Từ năm 2006 đến nay, trong các đề tài cấp Bộ, nghiên cứu về các khía cạnh khác
nhau trong phát triển du lịch, khi đề cập đến các giải pháp thúc đẩy du lịch phát triển
thì liên kết giữa du lịch - hàng không luôn được coi trọng và được xem là một trong
các giải pháp quyết định cho sự phát triển của ngành du lịch.
Đề tài cấp Bộ (2006): “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu
du lịch” do Thạc sĩ Lê Văn Minh chủ nhiệm và Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch
chủ trì [50]. Đề tài tập trung vào nghiên cứu vai trò của đầu tư trong phát triển các khu
du lịch, khi nêu ra các giải pháp để tạo lập các điều kiện hạ tầng vật chất - kỹ thuật bảo
đảm cho các khu du lịch hoạt động có hiệu quả, tác giả đã đề xuất các giải pháp liên kết
với các ngành liên quan, trong đó liên kết với ngành giao thông vận tải được chú trọng.
Đặc biệt, đề tài nhấn mạnh tới việc hình thành các cơ sở hạ tầng giao thông như đường xá,
sân bay, bến cảng, coi đây là điều kiện hạ tầng vật chất kỹ thuật thiết yếu đảm bảo cho
các khu du lịch ra đời và hoạt động có hiệu quả.
Đề tài cấp Bộ (2007): “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính
cạnh tranh trong khu vực và quốc tế” do Tiến sĩ Đỗ Cẩm Thơ chủ nhiệm, Viện Nghiên
cứu và Phát triển Du lịch chủ trì [69], trong đó đã trình bày được những vấn đề cơ bản
về sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, phân tích được cấu thành sản phẩm chung của
điểm đến và sản phẩm theo các loại hình du lịch, định vị được sản phẩm du lịch Việt
Nam trên thị trường khu vực và quốc tế. Đặc biệt khi đề cập đến đặc trưng của sản
phẩm du lịch được cấu tạo bởi sự liên kết hoạt động giữa các ngành, vùng.. đề tài đã
tập trung phân tích vai trò của liên kết giữa hàng không và du lịch như một trong các
giải pháp cơ bản đề giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch, nhất là sản
phẩm của lữ hành du lịch.
Đề tài cấp Bộ (2011): “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển
quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ”do Nguyễn Thu Hạnh chủ nhiệm, Viện Nghiên
cứu và Phát triển Du lịch chủ trì [35]. Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về du
lịch biển và phát triển du lịch biển quốc gia, tác giả đề tài đã nêu ra 10 bài học kinh
nghiệm, trong đó đã khẳng định: Việc tổ chức hình thành khu du lịch phải gắn liền với
mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt và đường không.
Đặc biệt cần tìm địa hình thuận lợi để phát triển các cảng hàng không cho loại hình LCA
18
nhằm gắn khu du lịch với các thị trường du lịch quốc tế lớn, bảo đảm cho khu du lịch
phát triển và tăng trưởng ổn định, bền vững.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Việt Nam” (2010)
của Nguyễn Tuấn Anh, bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội [2]. Trong luận án, tác giả
đã trình bày cơ sở lý luận, thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch.
Trong đó đã đưa ra khái niệm điểm đến và năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch.
Trong cấu thành năng lực điểm đến, tác giả coi việc hình thành cơ sở hạ tầng giao
thông hoàn chỉnh cho các điểm đến du lịch, đặc biệt là phát triển các cảng hàng không,
nhất là các cảng hàng không dùng cho các loại máy bay giá rẻ có thể cất hạ cánh thuận
lợi nhằm liên kết với loại hình vận tải này để giảm chi phí cho các sản phẩm lữ hành
du lịch, nối liền điểm đến với các trung tâm du lịch của khu vực và quốc tế, tăng sức
cạnh tranh của các điểm đến.
+ Khi phân tích thực trạng của các điểm đến du lịch của Việt Nam, tác giả đã chỉ
ra hạn chế về năng lực cạnh tranh của các điểm đến du lịch nước ta là thiếu một hệ
thống hạ tầng giao thông hiện đại, hoàn chỉnh, đặc biệt là nhiều điểm đến du lịch ở quá
xa các cảng hàng không.
+ Trong 7 nhóm khuyến nghị chính sách và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
của các điểm đến thì giải pháp xây dựng một hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại, đặc
biệt là những điểm đến du lịch có địa hình thuận lợi có thể phát triển các cảng hàng không
phụ tạo điều kiện để các hãng LCA cung ứng LCAS là một giải pháp quan trọng.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế
quốc tế” (2011) của Trần Xuân Ảnh, bảo vệ tại Học viện Chính trị-Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh [3].
+ Trong luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về thị trường du
lịch như: Khái niệm về thị trường du lịch, cấu thành và đặc điểm của thị trường du
lịch, cơ chế hoạt động của thị trường du lịch và kinh nghiệm phát triển thị trường du
lịch ở các tỉnh thành phố trong và ngoài nước bài học cho Quảng Ninh.
+ Trong phân tích thực trạng phát triển thị trường du lịch Quảng Ninh và trong
các giải pháp thúc đẩy thị trường du lịch phát triển. Khi phân tích về tạo lập môi
trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả đã nhấn mạnh đến
phát triển hệ thống đường bộ, đường thủy và đường không. Đặc biệt sự liên kết giữa
hàng không, trong đó có LCA với các cơ sở lưu trú, du thuyền và đưa khách tham
19
quan vịnh bằng các loại máy bay du lịch và máy bay lên thẳng.
Luận án tiến sĩ kinh tế, “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch
Bắc Bộ của Việt Nam” (2011) của Hoàng Thị Lan Hương, bảo vệ tại Đại học Kinh tế
Quốc dân, Hà Nội [36].
+ Trong luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về lưu trú du
lịch và kinh doanh lưu trú du lịch, xây dựng được một hệ thống các tiêu thức đánh
giá về kinh doanh lưu trú du lịch. Trong đó phân tích các tiêu thức xác định kinh
doanh lưu trú du lịch bền vững với việc liên kết với các hãng hàng không, trong đó
có LCA để duy trì lượng khách ổn định là một tiêu thức quan trọng.
+ Trong phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp đảm bảo cho kinh doanh
lưu trú du lịch phát triển bền vững thì liên kết giữa du lịch - hàng không được xem như
một tiêu thức, giải pháp giúp loại hình kinh doanh này phát triển.
Luận án tiến sĩ, “Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế: Kinh nghiệm một số nước Đông Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam” (2012)
của Nguyễn Trùng Khánh bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm
Khoa học và Xã hội Việt Nam [41].
+ Nội dung cơ bản của luận án là hướng vào phân tích lý luận về lữ hành du lịch,
dịch vụ lữ hành du lịch và các đặc điểm cơ bản của dịch vụ lữ hành du lịch trong hội
nhập kinh tế quốc tế.
+ Phân tích kinh nghiệm phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong hội nhập kinh tế
quốc tế của một số nước Đông Á như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, từ đó rút ra bài
học cho Việt Nam.
+ Đặc biệt, tác giả luận án kết luận, khi phân tích về các bài học phát triển dịch
vụ lữ hành du lịch thì liên kết du lịch - hàng không được coi như là một yếu tố quan
trọng để phát triển các doanh nghiệp lữ hành du lịch Việt Nam. Trong đó được tác giả
tập trung phân tích những lợi thế căn bản của quan hệ liên kết này trong phát triển các
doanh nghiệp lữ hành và bảo đảm thành công các hoạt động của chúng.
Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết khu vực trong du lịch: trường
hợp nghiên cứu tại Việt Nam, Tạp chí của Học viện Quản lý văn hóa nghệ thuật quốc
gia Herald, năm 2018 [211]. Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra các tình
huống hiện tại về mối liên kết khu vực trong phát triển du lịch ở các khu vực Trung du
và vùng núi phía Bắc Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ một cuộc khảo sát trên 755
20
người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nước phụ trách du lịch, các
quan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhà khoa học du lịch và
khách du lịch. Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành nhóm tập trung và phỏng vấn các quan
chức cơ quan du lịch và các công ty du lịch ở các tỉnh miền trung và miền núi của Việt
Nam. Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ở Việt Nam nói chung và khu vực Tây
Bắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thành mối liên kết khu vực; các dự án phát
triển du lịch khu vực và quốc gia chỉ mang tính hình thức. Một số nguyên nhân là
chính sách hội nhập khu vực hạn chế, thiếu các cơ chế quản trị khu vực thích hợp và
sự tham gia không tích cực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực. Dựa trên
những phát hiện, chúng tôi đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, ý
nghĩa chính sách được đưa ra để thực hiện các chính sách liên kết ở Việt Nam nói
riêng và rộng hơn cho các nước mới nổi nói chung.1
Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết vùng phát triển du lịch Việt
Nam, Bài viết đăng trên https://www.preprints.org/manuscript/ năm 2018 [212].
Nghiên cứu này được thực hiện để điều tra tình trạng liên kết vùng trong phát triển du
lịch ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam. Dữ liệu được thu thập từ một
cuộc khảo sát trên 755 người, bao gồm các quan chức từ các cơ quan quản lý nhà nước
phụ trách du lịch, các quan chức và nhân viên tại các khu du lịch, công ty du lịch, nhà
khoa học du lịch và khách du lịch. Ngoài ra, chúng tôi đã tiến hành 10 cuộc thảo luận
nhóm, phỏng vấn 30 quan chức cơ quan du lịch nhà nước và các công ty du lịch ở các
tỉnh miền trung và miền núi của Việt Nam. Kết quả cho thấy sự phát triển du lịch ở
Việt Nam nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng là vô cùng rời rạc, chưa hình thành
mối liên kết khu vực; Các chương trình phát triển du lịch khu vực và quốc gia chỉ
mang tính hình thức. Nguyên nhân chính của tình hình là chính sách hội nhập khu vực
hạn chế ở Việt Nam, thiếu cơ chế quản trị khu vực thích hợp và sự tham gia không tích
cực của khu vực tư nhân trong hội nhập khu vực. Dựa trên những phát hiện, chúng tôi
đề xuất một mô hình liên kết ngành du lịch; bên cạnh đó, các hàm ý chính sách được
đưa ra để thực hiện chính sách liên kết ở khu vực Trung du và vùng núi phía Bắc2.
Hoàng Ngọc Hải và cộng sự (2020), Liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các
tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, bài viết đăng trên Tạp chí lý luận (bản online) ngày
22/03/2020 [213]. Bài viết đã cho thấy liên kết khu vực để tạo ra các sản phẩm du lịch 1 http://journals.uran.ua/visnyknakkkim/article/view/178168 2 https://www.preprints.org/manuscript/201807.0578/v1
21
tiêu biểu và độc đáo để thu hút khách du lịch đã được triển khai ở nhiều nơi trên thế
giới cũng như tại Việt Nam. Đối với Tây Bắc, liên kết là một xu hướng tốt, đã được
tích cực tham gia vào nhiều địa phương để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết
đã cho thấy kết quả ban đầu. Bài viết này nhằm cung cấp một số gợi ý về chính sách
liên kết khu vực cho phát triển du lịch Tây Bắc dựa trên phân tích kết quả cũng như
những hạn chế cần khắc phục ở các tỉnh Tây Bắc3.
Ngoài ra, Nghiên cứu nổi bật nhất về hội nhập khu vực tại Việt Nam là "Nghiên
cứu về chính sách và Khuyến nghị về phát triển liên kết vùng và kinh tế khu vực (Kinh
tế trung ương Ủy ban, 2015) [7]. Nghiên cứu đã nâng cao kinh nghiệm quốc tế về kinh
tế khu vực phát triển và hội nhập khu vực, để cung cấp một cái nhìn tổng quan về phát
triển kinh tế khu vực và hội nhập khu vực và đề xuất một số giải pháp cho phát triển
kinh tế khu vực và khu vực liên kết tại Việt Nam.
Trần Đình Thiên (2016) [68] và Vũ Trọng Bình (2017) [13] đã nhấn mạnh tình
hình của khu vực liên kết tại Việt Nam. Các tác giả này cho rằng mối liên kết khu vực
ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, chưa chưa thành lập thể chế quản trị khu vực, mỗi tỉnh
có quy mô kinh tế nhỏ, chưa thành lập một chuỗi liên kết.
Ngô Thắng Lợi và Vũ Cương (2015) [44], Liên kết phát triển và tổ chức điều
phối liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị.
Nghiên cứu này đã phân tích ba yếu tố liên kết phát triển trong nền kinh tế trọng điểm
khu vực: liên kết phát triển kinh tế, liên kết phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện,
Nước); liên kết để giải quyết ô nhiễm môi trường và liên kết phát triển nguồn nhân
lực. Tuy nhiên, các khu vực kinh tế trọng điểm vẫn chủ yếu phát triển dựa trên số
lượng, không hình thành kinh tế khu vực không gian.
Trần Đình Thiên (2016) [68], Thể chế điều hành liên kết phát triển vùng độc lập
– yếu tố quyết định sự phát triển cấp vùng, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Liên kết
trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam. Bài
viết đã phân tích và đánh giá các hoạt động liên quan đến các tỉnh ven biển miền
Trung. Có nhiều hạn chế về khu vực hóa ở Việt Nam, như thiếu nhận thức về sự cần
thiết phải liên kết vùng và ý tưởng hội nhập khu vực trong phát triển kinh tế xã hội.
Vũ Trọng Bình (2017) [13], Phát triển kinh tế vùng – vấn đề và giải pháp, Kỷ
yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong 3 http://lyluanchinhtri.vn/home/en/index.php/practice/item/689-regional-linkage-in-tourism-development-in-the- northwest-provinces-of-vietnam.html
22
phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội. Bài viết nhấn mạnh rằng liên kết
vùng tại Việt Nam vẫn là tự nguyện, ít dựa trên cơ sở khoa học và lập luận thực tế,
thiếu động lực cho các bên liên quan, thiếu liên kết chặt chẽ giữa các địa phương và
thiếu quản trị thể chế khu vực thích hợp.
Trong bối cảnh của Việt Nam, gần đây đã có một số bài viết về liên kết du lịch
được công bố trên các tạp chí khoa học và hội nghị, hội thảo. Nội dung của các bài viết
này bao gồm một số vấn đề chính sau đây:
Đầu tiên, quan điểm, mục tiêu và nội dung của liên kết du lịch.
Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã đưa ra quan điểm về mối liên
kết du lịch: bình đẳng, cùng có lợi; liên kết dựa trên tinh thần tự nguyện; mối liên kết
được thiết kế thành các dự án và chương trình cụ thể rõ ràng mục tiêu.
Hà Văn Siêu (2017) [53], Tiềm năng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng phát
triển du lịch ở vùng miền núi Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng
và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động
– xã hội. Nghiên cứu này đã xây dựng 6 nguyên tắc: chấp hành, tự nguyện, đồng thuận,
bình đẳng, tương hỗ lợi ích, chia sẻ. Tương tự, Phạm Trung Lương (2014), Phát triển
du lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, Kỷ yếu Hội thảo khoa học:
Phát huy giá trị đặc biệt của di tích lịch sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh phát triển du
lịch Điện Biên trong mối liên kết với vùng Tây Bắc, ngày 13/03/2014, Điện Biên Phủ.
Bài viết này cũng cụ thể hóa 3 nguyên tắc bình đẳng, tình nguyện, thiết kế thành các dự
án, chương trình liên kết du lịch.
Hà Văn Siêu (2017) cho rằng mục tiêu liên kết du lịch đang nâng cao hiệu quả
tăng trưởng kinh tế, Đảm bảo sự hài lòng của khách du lịch, xây dựng cạnh tranh
thương hiệu du lịch, thiết lập điểm chung tài nguyên của toàn khu vực, tạo thành khu
vực du lịch quốc gia quan trọng và tuyến du lịch. Và nhấn mạnh vào nội dung của sản
phẩm liên kết du lịch phát triển.
Phạm Trung Lương (2014) [47] đã đặt mục tiêu dài hạn để khai thác và phát huy
hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của từng khu vực; các Mục tiêu ngắn hạn là ưu tiên
đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như phát triển du lịch cơ sở hạ tầng, kết nối "điểm
đến" với các điểm đến du lịch chính của khu vực, đang phát triển sản phẩm du lịch, đào
tạo nguồn nhân lực.
Vũ Trọng Bình (2017), Trần Đình Thiên (2016) đã phác thảo nội dung liên kết:
23
phân phối lại lực lượng sản xuất; điều chỉnh quy hoạch phát triển du lịch; xây dựng
đồng bộ vận tải liên tỉnh cơ sở hạ tầng; thiết lập không gian du lịch thống nhất; đào tạo
chung và phát triển nguồn nhân lực; đến huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính
sách chung cho toàn khu vực; phối hợp xúc tiến du lịch.
Nguyễn Văn Khánh (2016) [43], Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chính
sách đến thực tiễn, Nxb Thế giới. Trong nghiên cứu này đã đề xuất rằng nội dung liên
quan nên bao gồm sự phát triển của chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển du
lịch; phối hợp giữa các tỉnh phát triển cơ chế liên kết hiệu quả; liên kết du lịch cần tăng
cường cả liên kết ngang và dọc liên kết.
Thứ hai, giải pháp tăng cường liên kết du lịch.
Trần Hữu Sơn (2016) [57], Nguyễn Ngọc Sơn (2015) [59] đã đề xuất một số đề
xuất: lập kế hoạch du lịch khu vực, thiết lập cơ cấu tổ chức quản lý khu du lịch; tăng
cường quản lý liên kết ngang và dọc; quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch; huy
động các nguồn lực trong việc liên kết quảng bá và quảng cáo du lịch; phát triển sản
phẩm du lịch và quản lý chất lượng sản phẩm du lịch.
Như vậy, kết quả của nhóm công trình khoa học này có ý nghĩa về mặt thực
tiễn quan trọng đối với xu thế phát triển ngành du lịch ở Việt Nam. Kết quả này đã
đưa ra được nhiều hướng mở cho quá trình phát triển ngành du lịch nói chung, đồng
thời gìn giữ và phát huy bản sắc và giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong
quá trình hội nhập quốc tế nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
về vấn đề liên kết du lịch nói chung và liên kết du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ.
Chính vì vậy, đây chính là khoảng trống cho nghiên cứu của nghiên cứu sinh.
1.3. Những vấn đề rút ra
Qua nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước, những vấn đề sau đây đã
được đề cập đến, luận án sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, hoàn thiện theo hướng phù
hợp với nội dung và yêu cầu của đề tài luận án đề ra:
Thứ nhất, một số công trình trong và ngoài nước đã đề cập tới khái niệm phát
triển du lịch, liên kết phát triển du lịch và vai trò của liên kết phát triển du lịch. Tuy
nhiên, để sử dụng được các khái niệm trên trong luận án cần phải khái quát lại và bổ
sung những đặc trưng mới cho phù hợp với nội dung và yêu cầu của luận án đòi hỏi.
Thứ hai, trong một số công trình đã đề cập đến nội dung liên kết phát triển du lịch.
Những nội dung này luận án đã kế thừa và phát triển rộng ra, gắn kết các đặc điểm các
24
hoạt động du lịch của vùng Bắc Trung Bộ cho phù hợp và tương đồng hơn.
Thứ ba, nhiều tư liệu thực tiễn và tình hình hoạt động liên kết phát triển du lịch ở
một số quốc gia và địa phương trong nước được tác giả luận án kế thừa và cơ cấu lại
theo các tiêu thức cho phù hợp với đề tài.
Thứ tư, hầu như tất cả các công trình nghiên cứu đều đề cập tới quan điểm,
phương hướng và hệ thống các giải pháp để thúc đẩy du lịch phát triển. Ở đây
luận án chỉ kế thừa các giải pháp liên kết du lịch hoặc liên kết du lịch để phát triển
và hoàn thiện hơn.
Cho đến nay, tác giả luận án chưa có tìm thấy một luận án nào viết về liên kết phát
triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Do đó, nội dung cốt lõi trong đề cương được phê duyệt
của luận án do tác giả tự nghiên cứu và triển khai. Đó là các nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, chứng minh tính khách quan của liên kết phát triển du lịch do yêu cầu
phát triển nội tại của các địa phương, trong đó sản phẩm du lịch với tư cách là sản
phẩm ra đời trên cơ sở tài nguyên của địa phương và liên kết với các dịa phương khác
trong vùng để tăng giá trị gia tăng của ngành dịch vụ du lịch.
Thứ hai, phân tích thực trạng liên kết phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc
Trung Bộ với các nội dung cốt lõi: (1) Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du
lịch; (2) Liên kết phát triển sản phẩm du lịch; (3) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực; (4) Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao
thông; (5) Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát
triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế
mạnh của từng địa phương; (6) Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch.
Thứ ba đưa ra được những quan điểm cơ bản và hệ thống các giải pháp khả thi để
tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và bảo đảm cho nó phát triển
ổn định bền vững trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
25
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Du lịch, liên kết, liên kết phát triển du lịch – Một số khái niệm và cách tiếp
cận
2.1.1. Du lịch, phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi tổ chức, mỗi cá nhân có cách hiểu khác nhau về du lịch.
Theo Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch (IUOTO), du lịch được hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắn đến các vùng xung quanh để nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh.
Năm 1963, Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch (tổ chức tại Rome) cho rằng: “Du lịch và tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc” [64].
Năm 1980, Tổ chức Du lịch quốc tế (tại Hội nghị Manila) đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải là di cư và một cách hòa bình, hoặc xuất phát từ mục đích thực hiện sự phát triển cá nhân về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người” [141].
Năm 1991, Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đưa ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [19].
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017, du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác [55]
Từ những định nghĩa trên, theo tác giả, du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu, trải nghiệm và vui chơi, giải trí trong một khoảng thời gian nhất định; là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Du lịch là một ngành năng động và cạnh tranh, đòi hỏi khả năng thích ứng với nhu cầu và mong muốn của khách hàng vì sự hài lòng, an toàn và hưởng thụ của khách hàng là trọng tâm chính của kinh doanh du lịch. Mục tiêu phát triển của ngành du lịch là góp phần nâng cao về chất lượng và sự đa dạng của các sản phẩm và dịch vụ du lịch tại các điểm đến mục tiêu nhằm tăng số lượng khách du lịch, thu nhập ngoại tệ và việc làm.
26
Phát triển du lịch chủ yếu đề cập đến tình hình tăng trưởng chất lượng trong các ngành du lịch về sự phát triển, mạnh mẽ kế hoạch và chính sách và tiếp thị trên toàn thế giới. Hơn nữa, phát triển du lịch bao gồm cách tiếp cận điểm đến, cơ sở vật chất thích hợp như khách sạn, phương tiện giao thông, tiện nghi, để khách du lịch có sự hài lòng hoàn toàn ở điểm đến cụ thể. Chất lượng là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của công ty du lịch hoặc chìa khóa để cạnh tranh [162].
Từ đó có thể hiểu phát triển du lịch là một khái niệm chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác.
Các tiêu chí về phát triển du lich cũng nằm chung trong các tiêu chí phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Theo đó, phát triển du lịch là quá trình các cơ quan nhà nước,đơn vị kinh doanh, các tổ chức cùng phối hợp để thúc đẩy du lịch phát triển, tạo việc làm, nâng cao mức sống của người dân địa phương nơi có du lịch. Việc phát triển du lịch cũng cần đảm bảo các nhân tố cho phát triển bao gồm: (i) khai thác hợp lý các tài nguyên du lịch trên cơ sở nghiên cứu, chọn lọc các tài nguyên du lịch hấn dẫn, xây dựng thành các sản phẩm du lịch đặc thù, các sản phẩm du lịch chính và các sản phẩm du lịch bổ trợ; khai thác các tài nguyên du lịch phù hợp với đặc thù của địa phương và của vùng; khai thác tài nguyên du lịch đi đôi với việc trùng tu, tôn tạo, bảo vệ các tài nguyên, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống; (ii) đảm bảo đem lại lợi ích kinh tế cho các bên liên quan bao gồm cộng đồng dân cư, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp. Đồng thời, đảm bảo sự liên kết chặt chẽ và bình đẳng giữa các địa phương tham gia vào chuỗi cung ứng các sản phẩm du lịch; (iii) bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch; khai thác các tài nguyên du lịch đi đôi với việc đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường xã hội ở các khu/điểm/tuyến du lịch.
Như vậy, theo tác giả, phát triển du lịch là một dạng phát triển kinh tế với tư cách là một ngành. Các chỉ số thể hiện kết quả của quá trình phát triển du lịch bao gồm: số lượng khách du lịch và thu nhập du lịch; số lượng lao động/số việc làm mà ngành du lịch tạo ra; số lượng các doanh nghiệp du lịch được thành lập; số lượng các khu/điểm du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của khách trong một khoảng thời gian nhất định tại điểm đến cụ thể. Điểm đến đó có thể là khu vực, quốc gia, vùng, địa bàn, hoặc địa phương (tỉnh/thành phố).
Theo UNEP và UNWTO, du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinh thái mà du lịch phụ thuộc vào. Du lịch bền vững là việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương [202]. Cần xem xét đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai nhằm giải quyết các nhu cầu của du khách, các ngành công nghiệp, môi trường và cộng đồng chủ nhà.
27
Theo UNWTO “phát triển du lịch bền vững đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch hiện nay và cộng đồng sở tại trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho phát triển du lịch trong tương lai” [193]. Phát triển du lịch bền vững cần được chấp nhận như là tất cả các loại của sự phát triển du lịch mà tạo nên một đóng góp đáng kể hay, ít nhất, không mâu thuẫn với việc duy trì các nguyên tắc phát triển trong một thời gian vô hạn định mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu và ham muốn của họ. Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai [55].
Từ những phân tích trên, theo tác giả, du lịch được coi là phát triển bền vững khi nền
du lịch đó tốt cho đất nước ở thời điểm hiện tại và còn bền vững lâu dài mai sau.
2.1.2. Vùng, liên kết, liên kết phát triển du lịch 2.1.2.1. Khái niệm vùng trong phát triển du lịch Vùng du lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp chuyên môn hóa phục vụ khách du lịch, có quan hệ mật thiết về kinh tế nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách trên cơ sở sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hóa lịch sử hiện có và các điều kiện kinh tế - xã hội của lãnh thổ [75]. Một số nghiên cứu cho thấy, vùng du lịch là không gian du lịch gồm nhiều địa phương khác nhau, là một tổng thể thống nhất của các đối tượng tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ở đó có các yếu tố của du lịch như tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng du lịch, nguồn lao động du lịch, nhu cầu và số lượng khách du lịch và các yếu tố kinh tế - xã hội khác. Đặc trưng của mỗi vùng thể hiện ơ sự khác biệt về tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
Để liên kết phát triển du lịch, việc tổ chức lãnh thổ du lịch là vấn đề được quan tâm hàng đầu, lý do là không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động liên kết nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó. Tổ chức lãnh thổ du lịch (Territorial organization of tourism) là phân chia lãnh thổ quốc gia thành các vùng kinh tế du lịch, nhằm phát huy lợi thế, tổ chức và kinh doanh du lịch đạt hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất. Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là: (1) Một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ; (2) Nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên, kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác; (3) Tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính lịch sử.
Có hai hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phổ biến bao gồm: Một là, hệ thống lãnh thổ du lịch. Đó là một thành tạo toàn vẹn về hoạt động và lãnh thổ, có sự lựa chọn các chức năng xã hội nhất định. Một trong những chức năng được lựa chọn là phục hồi và tái tạo sức khỏe, khả năng lao động, thể lực và trí lực. Hệ thống lãnh thổ du lịch chỉ là nơi tập trung tài nguyên du lịch và công trình kĩ thuật, do đó các hệ thống lãnh thổ du lịch có thể không khép kín toàn bộ lãnh thổ tự nhiên. Hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch.
Hệ thống được tạo thành bởi các phân hệ có quan hệ mật thiết với nhau, gồm: (i) Phân hệ khách: Là phân hệ trung tâm, chi phối các thành phần khác của hệ thống. Số
28
lượng và đặc điểm xã hội, nhân khẩu, dân tộc... của khách du lịch quyết định các thành phần khác của hệ thống. (ii) Phân hệ tài nguyên: Là điều kiện để thoã mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và là cơ sở lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống. (iii) Phân hệ công trình kĩ thuật: Đảm bảo cho cuộc sống bình thường của khách và nhân viên phục vụ về ăn ở, đi lại và những nhu cầu giải trí, tham quan, đặc biệt như chữa bệnh... (iv) Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ: Đáp ứng các dịch vụ cho khách hàng và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thường. (v) Bộ phận điều khiển: Có nhiệm vụ giữ cho cả hệ thống nói chung và từng phần hệ nói riêng hoạt động tối ưu.
Hai là, vùng du lịch. Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội, một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của các hệ thống lãnh thổ du lịch có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế xã hội để phát triển du lịch. Như vậy vùng du lịch gồm 2 yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau: Hệ thống lãnh thổ du lịch; và không gian kinh tế - xã hội bao quanh.
Vùng du lịch có không gian rộng hơn, bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hoá, vật liệu, năng lượng, kho tàng, các công trình công cộng... Vùng du lịch là không gian kinh tế - xã hội nên có tính chất lịch sử, nghĩa là có thể thay đổi theo thời gian [214].
Á vùng du lịch được hiểu là cấp phân vị thứ hai sau vùng du lịch, là noi tập hợp các điểm du lịch, trung tâm du lịch (nếu có) và các tiểu vùng du lịch, tạo thành không gian lãnh thổ du lịch lớn hơn tiểu vùng du lịch; Á vùng du lịch bao gồm cả những địa phương không có điểm du lịch. Trong Á vùng du lịch, sự chuyên môn hóa bắt đầu hình thành, tuy chưa đậm nét. Sự hình thành Á vùng du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ở một số vùng du lịch, có thể không định hình rõ Á vùng du lịch và trong nhiều trường hợp, hệ thống phân vị chỉ thực sự có 4 cấp: Điểm du lịch – Trung tâm du lịch – Tiểu vùng du lịch – Vùng du lịch.
Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch với mật độ cao, bao gồm các điểm du lịch chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế - kỹ thuật và tổ chức, nơi có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch khá đồng bộ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách trong thời gian lưu trua dài. Trung tâm du lịch có quy mô nhất định về mặt diện tích, thường tương ứng với 1 tỉnh, là nơi có khả năng tạo vùng cao và liên kết vùng rất cao nên thường được xem là hạt nhân của vùng hay cực tăng trưởng của vùng du lịch.
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị. Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ, là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Điểm du lịch có thể được phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng. Sự kết nối các điểm du lịch gắn với các hệ thống giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không) và các dịch vụ sẽ tạo thành tuyến du lịch; thời gian lưu trú của khách du lịch ở địa điểm du lịch thường là tương đối ngắn.
2.1.2.2. Liên kết vùng du lịch Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, liên quan tới nhiều ngành nghề, nhiều bên tham gia. Các hoạt động đi du lịch và kinh doanh du lịch cũng diễn ra trên phạm vi rộng, đòi hỏi sự hợp tác của các bên trong quá trình tổ chức hoạt động du lịch, kinh doanh và quản lý du lịch.
29
Trước hết, xét trên góc đi chuyến đi của khách du lịch, được hiểu là quá trình rời khỏi chỗ ở thường xuyên, di tới và lưu lại một địa điểm mới thể tham quan, tìm hiểu, khám phá, nghỉ ngơi …, hoạt động du lịch trải trên một phạm vi rộng, với thời gian dài (ít nhất là một ngày, theo định nghĩa du lịch của Tổ chức Du lịch Thế giới - UNWTO). Quá trình đi du lịch của khách trải qua nhiều địa phương khác nhau, ít nhất là trên quãng đường từ nơi cư trú của khách tới nơi khách đi du lịch. Hoạt động của khách du lịch cũng không bó hẹp tại một địa điểm, một điểm du lịch mà thường có xu hướng tới nhiều điểm du lịch khách nhau có thể ở nhiều địa phương khác nhau.
Liên kết vùng du lịch bao gồm liên kết nội vùng và liên kết vùng. Liên kết nội vùng là sự hợp tác, hỗ trợ và phân công giữa các á vùng (nếu có), các tiểu vùng và các địa phương trong vùng dựa trên những lợi thế so sánh của từng á vùng (nếu có), tiểu vùng và từng địa phương nhằm thực hiện thành công các định hướng chiến lược phát triển du lịch của chính các á vùng, tiểu vùng và các địa phương trong vùng.
Liên kết liên vùng là sự hợp tác và phân công giữa vùng du lịch dựa trên những lợi thế so sánh của từng vùng nhằm thực hiện thành công các định hướng chiến lược phát triển du lịch, góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển du lịch của chính các vùng du lịch đó. Thông thường liên kết liên vùng được thực hiện giữa hai vùng có địa giới liền kề.
Theo tác giả, liên kết vùng du lịch chính là hợp tác và phân công giữa các bên tham gia trong một số lĩnh vực phát triển du lịch chính, bao gồm: hợp tác phân bổ lại nguồn lực, điều chỉnh quy hoạch phát triển phù hợp với thế mạnh của từng địa phương trong vùng, trong từng giai đoạn phát triển; liên kết trong phát triển sản phẩm du lịch, đặc biệt là các sản phẩm đặc trưng của nhóm các địa phương, của các tiểu vùng trong vùng hoặc giữa hai vùng du lịch liền kề; liên kết trong xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu điểm đến và sản phẩm du lịch; liên kết thiết lập sự thống nhất về không gian du lịch vùng (hệ thống điểm, tuyến du lịch) thông qua phát triển hạ tầng kết nối lãnh thổ; liên kết trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực; hợp tác trong huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách để đầu tư phát triển du lịch chung của vùng; hợp tác cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh vùng du lịch; hợp tác xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin du lịch phục vụ các mục tiêu phát triển du lịch của vùng; hợp tác bảo vệ môi trường đối với các vấn đề môi trường mang tính vùng, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu trong lĩnh vực du lịch.
Liên kết tiểu vùng là liên kết các loại phân vị lãnh thổ thuộc vùng du lịch. Tuy nhiên, đối với liên kết tiểu vùng có một số nội dung liên kết cụ thể không được đặt ra. Tuy nhiên, liên kết vùng và liên kết tiểu vùng du lịch sẽ rất khó thực hiện nếu không có tổ chức chuyên trách quản lý hoạt động du lịch của vùng và từng tiểu vùng. Điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ không có chủ thể cụ thể đại diện vùng và các tiểu vùng tham gia thực hiện liên kết. Chính vì vậy, có lúc, liên kết vùng và liên kết tiểu vùng chỉ mang ý nghĩa “biểu trưng” và “ý tưởng” trong quy hoạch phát triển du lịch của vùng du lịch, đặc biệt là kết nối giao thông.
Ở góc độ tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ du lịch, khách du lịch thường tiêu dùng nhiều loại sản phẩm và dịch khác nhau, từ những sản phẩm mang tính đặc trưng của du lịch như khách sạn, nhà hàng, tua du lịch, tới cá sản phẩm mang tính bổ trợ, có thể là những sản phẩm hàng hóa thông thường tại địa phương.
30
Hoạt động du
Các bên tham gia trong ngành du lịch
lịch
Khách du lịch Người dân kinh doanh du lịch Doanh nghiệp lữ hành Doanh nghiệp lư trú Các loại hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch
khác
h c ị l u d i
Đ
h c ị l u d ý l n ả u Q
h c ị l u d h n a o d h n i K
Các doanh nghiệp cung cấp cho doanh nghiệp du lịch Người quản lý điểm du lịch Chính quyền tại điểm du lịch Chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh, Trung ương) Các cơ quan tham gia (các ngành) khác Các tổ chức xã hội có liên quan Các bên tham gia khác
Nguồn: Xây dựng của tác giả. Ở góc độ kinh doanh du lịch, hoạt động du lịch gắn theo một chuỗi giá trị dài (UNWTO 2013) [193]. Một tour du lịch liên quan tới nhiều dịch vụ như lưu trú, ăn uống, mua sắm … Chính những dịch vụ này, như kinh doanh ăn uống, đòi hỏi phải mua sắm nhiều nguyên vật liệu, hàng hóa khác nhau từ địa phương cũng như những nơi khác. Chính vì vậy, du lịch được xem là một “ngành kinh tế tổng hợp” với sự tham gia của nhiều ngành kinh tế khác nhau. Mối liên hệ, hợp tác giữa các ngành, các doanh nghiệp là điều kiện không thể thiếu.
Hình 2.1: Các bên tham gia trong các hoạt động du lịch
Phát triển du lịch là một mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế vùng đồng thời cũng có thể coi là một yếu tố/điều kiện thúc đẩy việc thực thi các chính sách phát triển vùng, liên kết vùng và tiểu vùng ở những khu vực địa lý có chung đặc điểm tự nhiên, nhân văn, có thể kết nối tạo thành các tiềm năng hợp tác phát triển du lịch để mang lại giá trị kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng vùng. Chính vì vậy, ban hành chính sách phát triển du lịch dựa trên liên kết vùng và tiểu vùng cần căn cứ tiếp cận hai chiều với vai trò của Chính phủ trong xác định chiến lược phát triển vùng, liên kết vùng; ưu tiên đầu tư đảm bảo các điều kiện phát triển tiểu vùng và vai trò chủ động của chính quyền địa phương trong xác định các mục tiêu phát triển du lịch theo hướng liên kết vùng, tiểu vùng.
2.1.3. Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của liên kết vùng trong phát triển du lịch 2.1.3.1. Mục tiêu Liên kết phát triển du lịch nhằm khai thác tối đa và phát huy có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương, của từng tiểu vùng và toàn vùng góp phần thúc đẩy tăng trưởng du lịch nhanh và bền vững. Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch đặc thù của từng địa phương và vùng có giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, khu vực và quốc tế; góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các cộng đồng địa phương.
Một là, tạo ra lợi thế cạnh tranh về du lịch vùng trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như giảm chi phí du lịch, quản lý tài nguyên bền vững, tăng hiệu quả đầu
31
tư công và đầu tư xã hội, tăng quy mô du lịch. Khi các tỉnh trong vùng tham gia vào hoạt động liên kết du lịch, sẽ có nhiều thỏa thuận hợp tác được thiết lập đa phương và song phương tạo thành mạng lưới du lịch, làm giản chi phí và các rào cản. Liên kết du lịch còn làm hình thành các giá trị chung mà mỗi chủ thể phải tôn trọng. Mặt khác, tương tác trong liên kết du lịch sẽ tạo ra luồng thông tin và kiến thức lan tỏa trong mạng lưới, mạng lưới càng dày, sức lan tỏa càng cao là điều không xảy ra nếu như không thực hiện liên kết.
Hai là, phát huy tối đa và sử dụng hợp lý lợi thế một vùng về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành lợi thế cạnh tranh tổng hợp, thúc đẩy chuyên môn hóa sản xuất, qua đó phát huy tiềm năng và lợi thế của từng địa phương và nâng cao khả năng cạnh tranh. Trong điều kiện tương đồng về các tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa giữa các tỉnh trong vùng, liên kết tiểu vùng, tiểu vùng kết nối các lợi thế tuyệt đối này thành một chỉnh thể phân công và chuyên môn hóa sản xuất. Từng địa phương sẽ tập trung vào các thế mạnh nổi bật, đặc thù và trao đổi với các địa phương khác tạo thành một chuỗi sản phẩm du lịch liên hoàn và các tỉnh đều có lợi trong mối quan hệ này.
Ba là, tìm ra các điểm đột phá phát triển của các trung tâm, cực tăng trưởng du lịch, tạo nên các tác động lan tỏa phát triển cho các địa phương khác; thúc đẩy cải cách thể chế, thu hút đầu tư, hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch, vai trò vượt trội về hiệu quả đầu tư và lan tỏa, khả năng cửa ngõ kết nối quốc tế của các trung tâm tăng trưởng thông qua việc rà soát khoanh vùng chuẩn xác, xây dựng cơ chế chính sách du lịch thực sự có tính vượt trội, tăng cường tính tập trung kinh tế.
Bốn là, thúc đẩy liên kết quốc tế, xây dựng hình ảnh vùng du lịch có tính đặc thù cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế; giảm chi phí, chồng chéo trong đầu tư, hạn chế mâu thuẫn trong quy hoạch và đầu tư, thu hút đầu tư giữa các địa phương.
Năm là, giảm dần tình trạng phát triển chênh lệch giữa các địa phương, với việc hình thành các cơ chế, chính sách đặc thù, phù hợp, có tính ưu đãi về du lịch cho các vùng khó khăn, nhất là về đầu tư công và các dịch vụ công cơ bản; chính sách đặc thù cho từng vùng khó khăn, kết nối với các vùng kinh tế trọng điểm nhằm tạo ra sự liên kết và tham gia các vùng này vào quá trình phát triển.
Sáu là, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng dân cư. Các hoạt động du lịch sẽ góp phần quan trọng tăng nguồn thu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo tác dụng lan tỏa phát triển các ngành nghề khác trên địa bàn. Hoạt động du lịch, nhất là du lịch cộng đồng góp phần quan trọng tạo thêm việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư bản địa.
Bảy là, bảo vệ môi trường tài nguyên du lịch thông qua các cam kết về chất lượng dịch vụ, phương tiện đối với các doanh nghiệp lữ hành; phối hợp tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho khách du lịch và các cộng đồng dân cư; tổ chức các lớp tập huấn về bảo vệ môi trường cho nhân dân địa phương.
2.1.3.2. Nguyên tắc Có rất nhiều các nguyên tắc khác nhau trong liên kết vùng, tiểu vùng theo các tiếp cận khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Văn Huân (2012), liên kết vùng cần được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản là: (1) Phân bố các ngành và phân bố vùng phải dựa trên các lợi thế so sánh có thể làm cho tổng chi phí sản xuất và phân phối sản
32
phẩm đến thị trường thấp nhất; (2) là sự song hành huy động và sử dụng nguyên liệu cho nhiều nơi sẽ làm giảm hiệu suất sử dụng nguồn lợi và làm mất đi các lực liên kết vùng; (3) dựa trên hiệu quả quy mô [31]
Theo tác giả Lê Anh Vũ (2016), các nguyên tắc liên kết vùng gồm: (1) đảm bảo hiệu quả toàn cục trên cơ sở tận dụng, phát huy lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối; thực hiện phân công chuyên môn hóa; (2) gắn với các chủ thể trong thị trường và trong xã hội và phải đảm bảo bình đẳng trong hoạt động của các chủ thể tham gia; (3) đảm bảo thực hiện hợp tác, hài hòa trong các hoạt động phát triển [74].
Theo tác giả Trần Hữu Sơn (2016), nguyên tắc liên kết vùng, tiểu vùng du lịch: (1) tôn trọng nguyên tắc toàn vẹn; (2) liên kết du lịch trong khu vực là một quá trình năng động với các đặc điểm di chuyển, phối hợp, hội nhập và định kỳ, vì vậy cần tuân thủ các nguyên tắc phát triển tuần tự và có trật tự; (3) nguyên tắc lợi ích, kết hợp lợi ích kinh tế và xã hội, lợi ích sinh thái [57].
Dựa trên các lý thuyết phát triển vùng kinh tế vừa trình bày trên đây, các tác giả
xin đề xuất thêm một số nguyên tắc cụ thể như sau: * Nguyên tắc 1: (Dựa trên Lý thuyết cực tăng trưởng) Hình thành cực phát triển, các dòng hướng tâm của các nguồn lực sản xuất tới cực, và dòng ly tâm của các dòng tiền, thông tin, tiến bộ khoa học và công nghệ… từ cực sang các vùng xung quanh.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc xây dựng bản đồ lợi thế/tiềm năng của vùng, tiểu vùng và đề xuất các phương án phối hợp giữa các địa điểm. Từ đó xác định các cực phát triển du lịch trọng tâm, với xung quanh là các cực liên quan (các cực hướng tâm cung cấp nguồn lực cho phát triển du lịch tại cực phát triển và các cực ly tâm các lợi ích thu được từ cực phát triển để đầu tư cho các vùng lân cận).
Ưu điểm của nguyên tắc này khắc phục được hạn chế 1. do tạo ra sự phát triển đồng đều, phát huy được điểm mạnh 1 và cơ hội 1, 2 và 3. Đây cũng là đặc thù của du lịch Việt Nam hiện nay, khi mỗi địa phương có một đặc thù du lịch khác nhau, sự gượng ép gắn kết giữa các địa phương được coi là liên kết vùng trong phát triển du lịch hoặc trường hợp khác là cực phát triển có nhưng không hình thành được cực ly tâm và cực hướng tâm cho cực phát triển này, dẫn đến sự phát triển du lịch đơn lẻ, du khách không đến nhiều lần.
* Nguyên tắc 2: (Dựa trên Lý thuyết vùng trung tâm) Hình thành những vị trí
trung tâm cung cấp dịch vụ và hàng hóa cho các vùng xung quanh.
Một thực tế là khi đến Việt Nam, du khách rất yêu mến con người, cảnh vật, thực phẩm, văn hóa…nước ta, nhưng chi tiêu cho du lịch lại không nhiều. Do các sản phẩm du lịch nghèo nàn, thậm chí nhiều sản phẩm nhập từ Trung Quốc hoặc sản xuất đơn lẻ nên không thể đem lại giá trị bền vững cho phát triển du lịch dựa trên liên kết vùng và tiểu vùng. Thực tế thứ hai là khách du lịch sau khi quay lại thấy cảnh quan có thể bị ô nhiễm hơn, hàng hóa du lịch không thay đổi, chưa kể đến những biến đổi hành vi trong hoạt động mua bán làm tổn hại uy tín cho thương hiệu du lịch vùng.
Bởi vậy, nguyên tắc này đề cập tới giải pháp hình thành những vị trí trung tâm cung cấp dịch vụ và hàng hóa cho cực phát triển. Tác động ngoại biên của nguyên tắc này là: một khu vực có nhiều trung tâm sản xuất trùng sản phẩm hàng hóa thì dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh. Từ đó, nguyên tắc này đòi hỏi:
1- Xác định sản phẩm truyền thống đặc thù DUY NHẤT (nhưng phải gắn với hoạt động sở hữu trí tuệ như đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, đăng ký chỉ dẫn địa lý để sản
33
phẩm không “bị đánh cắp”). Trường hợp Tỏi Lý Sơn, Quảng Ngãi là một ví dụ điển hình. Nhiều người dân mang tỏi từ nơi khác về bán, hoặc trồng tỏi nơi khác rồi lấy bao bì mang tên Tỏi Lý Sơn, dẫn đến hậu quả là làm mất uy tín và những giá trị vô hình về sản phẩm phục vụ du lịch tại Đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
2- Quy hoạch phát triển vùng sản xuất và cấp giấy chứng nhận kinh doanh cho
các cơ sở sản xuất muốn tham gia cung cấp dịch vụ cho cực phát triển.
3- Xây dựng bộ tiêu chí cho du lịch liên kết vùng, tiểu vùng (tiêu chí môi trường,
tiêu chí an toàn, tiêu chí sinh thái....).
* Nguyên tắc 3: (Dựa trên Lý thuyết Desakota): Định hướng xen vùng - Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với đặc thù của Việt Nam do tính xen vùng vốn có. Nhiều chính sách ưu tiên phát triển kinh tế tại các địa phương hiện nay đang gặp phải những tác động ngoại biên từ ngành/lĩnh vực kinh tế mũi nhọn. Đó là khi du lịch đem lại giá trị kinh tế cao, toàn bộ lao động nông nghiệp sẽ chuyển sang làm dịch vụ du lịch hoặc chuyển đổi đất nông nghiệp thành đất dự án hay xây dựng hạ tầng phát triển du lịch.
Nguyên tắc này giải quyết được điểm yếu 3 và thách thức 3 và thực hiện các quy
trình như sau:
+ Dự báo xu hướng chuyển đổi lao động sang phát triển du lịch để đào tạo tay
nghề, kiến thức một cách bài bản và chuyên nghiệp.
+ Xây dựng định hướng cực phát triển để tiến hành di rời hoặc định hướng các khu vực xen vùng cho các ngành khác (nông nghiệp, công nghiệp). Việc xen vùng này có thể mang lại những tác động ngoại biên dương tính như việc phát triển mô hình du lịch sinh thái có thể gắn với sản xuất nông nghiệp và hoa màu. Có thể lấy kinh nghiệm trong hoạt động này từ vùng Banaeu, Philllipines. Ở đây, du khách rất thích thú tham quan và trải nghiệm với các ruộng bậc thang và cách làm sản phẩm từ cây lúa.
Các nguyên tắc này tiệm cận với cách tiếp cận vùng, tiếp cận chùm đổi mới, chùm vùng hiện đang được một số quốc gia lựa chọn trong thực thi chính sách phát triển du lịch vùng, tiểu vùng gắn với khoa học và công nghệ.
2.1.3.3. Phạm vi của liên kết vùng du lịch Liên kết vùng du lịch là thể hiện rõ nét của hoạt động hợp tác du lịch nói chung trong phạm vi một vùng du lịch. Mục đích hợp tác, liên kết du lịch của một vùng, nói cho cùng, là tạo ra sự phát triển du lịch tại vùng đó với biểu hiện cụ thể là việc tăng lượng khách, tăng doanh thu, tăng lợi thế cạnh tranh và hình ảnh du lịch của vùng. Liên kết vùng du lịch cho thấy hoạt động thúc đẩy hợp tác trong phát triển du lịch một cách chủ động, đặc biệt với sự tham gia của các cơ quan quản lý.
Tuy liên kết vùng du lịch có xu hướng tập trung nhiều hơn vào việc liên kết ở phạm vi không gian và hành chính, trực tiếp là giữa các địa phương cấp tỉnh trong một vùng, phát triển liên kết vùng theo nghĩa này không tách khỏi những yêu cầu trong việc phát triển hợp tác, liên kết trong phạm vi nội bộ địa phương cũng như giữa các doanh nghiệp tại các địa phương khác nhau trong vùng.
Với nhiều đối tượng tham gia trong phát triển du lịch, hợp tác liên kết trong phát triển du lịch được thể hiện ở nhiều phạm vi khác nhau với nhiều đối tượng khác nhau. Hợp tác, liên kết vùng du lịch có thể chia thành 3 phạm vi là hợp tác nội bộ địa phương, liên kết vùng cấp kinh doanh và liên kết vùng cấp quản lý (hành chính).
34
Hợp tác nội bộ địa phương Hợp tác nội bộ địa phương Hợp tác nội bộ địa phương
Địa phương 2 Địa phương ... Địa phương1 1 Liên kết cấp quản lý
Liên kết cấp kinh doanh
Các sản phẩm du lịch
KHÁCH DU LỊCH
Ghi chú
Cơ quan quản lý Tổ chức, doanh nghiệp du lịch và các bên liên quan
Nguồn: Phát triển của tác giả
Hình 2.2: Các phạm vi của hợp tác, liên kết vùng trong phát triển du lịch Hợp tác nội bộ địa phương là phạm vi mang tính “đơn vị” trong liên kết vùng du lịch bởi không có hợp tác nội bộ địa phương, hợp tác liên kết vùng không thể đạt mục tiêu lan tỏa, đem lại những sản phẩm, trải nghiệm tích hợp cuối cùng cho khách du lịch. Tại mỗi địa phương, khách du lịch tiêu dùng những sản phẩm cụ thể riêng biệt. Những sản phẩm này được tạo thành bởi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch tại địa phương cũng như bởi sự hợp tác giữa các doanh nghiệp này.
Liên kết vùng cấp kinh doanh thể hiện sự hợp tác giữa các doanh nghiệp khác nhau nằm ở các địa phương khác nhau trong vùng. Nếu coi chuyến đi của khách du lịch tới một vùng du lịch là một sản phẩm thì yêu cầu hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp khác nhau trong vùng, thậm chí là với cả doanh nghiệp ở ngoài vùng là điều kiện quan trọng để tạo nên một sản phẩm du lịch của vùng có chất lượng tốt.
Liên kết vùng cấp chính sách cho thấy mối quan hệ hợp tác ở cấp quản lý giữa các địa phương trong vùng. Phát triển du lịch luôn gắn với vai trò các tổ chức, cơ quan quản lý điểm đến du lịch (UNWTO 2008) [194]. Nếu coi một vùng là một điểm đến du lịch với quy mô lớn hơn điểm đến du lịch cấp địa phương (cấp tỉnh) thì việc liên kết
35
vùng cấp chính sách đáp ứng yêu cầu quản lý điểm đến du lịch cấp vùng
Phát triển du lịch của một vùng cần quan tâm tới cả ba phạm vi hợp tác, liên kết này. Nếu như hợp tác nội bộ địa phương là vấn đề của bên tham gia trong phạm vi hành chính của một địa phương thì hợp tác cấp vùng (kể cả doanh nghiệp và hành chính) đề cập tới mối quan hệ vượt qua biên giới hành chính của các địa phương, đòi hỏi những phối hợp, điều hòa giữa các chính sách. Tương tự như vậy, nếu như hợp tác giữa các doanh nghiệp (được hiểu theo nghĩa là những người cung cấp sản phẩm du lịch cuối cùng) nhằm tạo ra sản phẩm tốt cho khách du lịch được xem là mục tiêu cuối cùng của hợp tác, liên kết du lịch vùng thì hợp tác ở góc độ chính sách, thể chế là điều kiện, là cơ sở mở đường cho hợp tác giữa các doanh nghiệp.
2.1.3.4. Các hoạt động liên kết vùng du lịch Mục tiêu của liên kết vùng du lịch là phát triển và quản lý du lịch điểm đến du lịch cấp vùng một cách có hiệu quả. Với góc nhìn này, các hoạt động liên kết vùng bao gồm các hoạt động từ việc xây dựng chiến lược phát triển, hoạt động marketing, quản lý nâng cao trải nghiệm của khách du lịch (UNWTO 2008) [194].
Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch được xác định là công việc đầu tiên của người quản lý điểm đến du lịch. Là một ngành kinh tế tổng hợp, phát triển du lịch liên quan và phụ thuộc vào nhiều ngành, nhiều bên, nhiều đối tượng tham gia. Du lịch tại một điểm đến cũng luôn phải cạnh tranh với các điểm du lịch khác. Cùng với đó, phát triển bền vững được đặt ra với các điểm du lịch trong quá trình phát triển. Tất cả những điều này đặt ra yêu cầu cho phát triển du lịch một cách có chiến lược, được triển khai trong thời gian dài hạn.
Do du lịch liên quan tới nhiều bên, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch cần sự tham gia của các bên, từ việc xác định rõ những nguồn lực, vị thế của điểm đến du lịch của mình cho tới việc xác định các mục tiêu, tổ chức thực hiện chiến lược. Trong phạm vi một vùng du lịch, việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của cả vùng luôn đặt trong mối quan hệ với chiến lược phát triển du lịch của mỗi địa phương.
Marketing điểm đến du lịch là hoạt động cụ thể và thấy rõ ràng nhất trong quản lý điểm đến. Marketing điểm đến cho phép điểm đến du lịch định hướng rõ ràng đối tượng khách du lịch mà mình hướng tới, từ đó có định hướng và tổ chức phát triển sản phẩm, xây dựng hình ảnh điểm đến, quảng bá và xúc tiến sản phẩm một cách có hiệu quả tới đối tượng khách hàng mục tiêu của mình.
Do đặc điểm về tài nguyên và sản phẩm du lịch, trong nhiều trường hợp, hình ảnh của một sản phẩm du lịch gắn liền với một vùng hơn là một địa phương, một tỉnh nhất định. Các hoạt động marketing có hiệu quả hơn khi được triển khai cho một vùng du lịch.
Quản lý nâng cao trải nghiệm của khách du lịch liên quan tới các hoạt động quản lý du lịch tại một địa phương nhằm đảm cho cho khách du lịch có những trải nghiệm thú vị, có chất lượng trong quá trình đi du lịch. Quản lý trải nghiệm liên quan tới các hoạt động quản lý ngành du lịch và các ngành có liên quan. Đối với ngành du lịch, nâng cao trải nghiệm của khách du lịch liên quan tới những hoạt động tạo ra những nguồn lực chung trong ngành (như đào tạo lao động ngành du lịch) và tạo ra những chuẩn mực về chất lượng áp dụng trong ngành du lịch tại địa phương. Do tính chất liên ngành của du lịch, việc trải nghiệm du lịch của khách còn vượt qua phạm vi ngành du lịch, liên quan tới các ngành liên quan như giao thông, y tế, công an … Điều này đòi
36
hỏi sự điều phối của người quản lý du lịch. Tại phạm vi một vùng, quản lý trải nghiệm nhằm đảm bảo sự tương đồng về chất lượng, tiêu chuẩn sản phẩm, giảm sự lặp lại của sản phẩm tạo ra sự nhàm chán của khách du lịch cũng như tạo ra những gắn kết về các điều kiện cơ sở hạ tầng chung trong vùng đáp ứng yêu cầu của khách.
2.1.4. Điều kiện liên kết vùng trong phát triển du lịch 2.1.4.1. Cơ sở tạo lập liên kết vùng du lịch Những cơ sở quan trọng tạo lập liên kết nội vùng và liên kết vùng trong du lịch,
bao gồm:
(i)
Các lợi thế so sánh vùng có vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống phân công lao động và chuyên môn hóa, và do đó hình thành mối liên kết nội vùng và liên vùng.
(ii)
Lợi thế quy mô nhờ chuyên môn hóa. Lợi thế nhờ quy mô tác động lan tỏa đến các vùng khác nhờ sử dụng các nguyên liệu đầu vào và kiến thức, lao động có kỹ năng. Trong lĩnh vực du lịch, với lợi thế về tài nguyên du lịch và sự thu hút của trung tâm du lịch lớn sẽ hình thành nên các cực trung tâm phát triển, có tác dụng lan tỏa cao, tạo thành chuỗi liên kết phát triển du lịch.
(iii)
Sự đồng thuận về thể chế và các nhóm xã hội chia sẻ lợi ích chung, trong đó có lợi ích phát triển riêng của địa phương. Sự đồng thuận giữa các cấp quản lý vĩ mô và các chủ thể kinh doanh du lịch như doanh nghiệp, hộ gia đình, đồng thuận giữa nội vùng và liên vùng, quốc tế.
(iv)
Sự đồng bộ về cơ chế chính sách, khung thể chế và quản trị vùng trên các khía cạnh: đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia liên kết, tạo khung khổ thể chế cho việc xây dựng và thực hiện các cam kết và cung cấp đầy đủ thông tin cho các chủ thể. Tạo ra sự công khai, minh bạch trong các chính sách; tạo điều kiện cho sự tham gia của dân cư vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách du lịch.
(v)
Hệ thống hạ tầng phát triển đồng bộ và hiện đại với các loại hình hạ tầng khác nhau. Hạ tầng trong nhiều trường hợp quyết định sự thành công hay thất bại của các mối quan hệ liên kết tiểu vùng, liên kết vùng và liên kết du lịch.
2.1.4.2. Các điều kiện thực hiện liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch Một là, điều kiện về nhận thức và hợp tác chặt chẽ giữa các chủ thể du lịch. Liên kết vùng du lịch hướng tới sự phát triển bền vững là một quá trình lâu dài và phức tạp, nên cần nhận thức đầy đủ về vị trí vai trò của liên kết và xây dựng được một kế hoạch cụ thể bồi dưỡng, đào tạo cán bộ du lịch có đủ trình độ, năng lực xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chiến lược, chương trình, các chính sách liên kết phát triển vùng du lịch. Đòng thời, liên kết là một hoạt động phức tạp với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều thành phần, có thể ảnh hưởng đến lợi ích trước mắt của một số thành viên dễ dẫn đến tình trạng “lách luật”, “phá rào” trong liên kết. Vì vậy, cần xây dựng một cơ chế pháp lý rõ ràng và mạnh mẽ cho sự phát triển vùng du lịch.
Liên kết vùng du lịch là nội hàm quyết định hình thành vùng du lịch, không có liên kết vùng du lịch thì không có vùng du lịch thực sự. Nhà nước có trách nhiệm hình thành những cơ chế bắt buộc, tự nguyện, khuyến khích liên kết giữa chủ thể nhà nước, thị trường, cộng đồng. Liên kết vùng của chủ thể nhà nước để hình thành không gian chính sách, dịch vụ công, phát triển hạ tầng; liên kết hình thành thị trường vùng, kết nối hiệu quả với thị trường quốc gia và quốc tế, hình thành những dịch vụ, ngành hàng hiệu quả của vùng.
37
Hai là, điều kiện về chính sách và thể chế quản trị vùng. Để liên kết vùng du lịch thực sự có hiệu quả và thực chất, Nhà nước cần có chính sách rõ ràng về liên kết vùng nói chung và liên kết vùng trong phát triển du lịch nói riêng, tạo điều kiện cho không gian vùng du lịch được kết nối và mở rộng, nhiều cụm ngành kinh tế và sản phẩm thế mạnh mà các địa phương được liên kết với nhau, phát huy được lợi thế so sánh mà từng địa phương liên kết; chuỗi giá trị du lịch được xác lập làm tăng hiệu quả đầu tư do tận dụng được “lợi thế dùng chung” trên cơ sở phân công trong nội vùng và liên vùng; từ đó tạo ra những sản phẩm du lịch cạnh tranh có hiệu quả. Nếu không có chính sách phù hợp thì vai trò của du lịch sẽ không được phát huy, không gian liên kết vùng du lịch bị chia cắt và thu hẹp, các trung tâm du lịch và sản phẩm du lịch trong vùng không được liên kết với nhau, lợi thế so sánh về du lịch của từng tỉnh không được phát huy, dẫn đến chuỗi giá trị du lịch bị cắt khúc; đầu tư trùng lặp, giá trị gia tăng thấp, du lịch hoạt động không hiệu quả trên phạm vi vùng, chi phí tăng cao, giảm sức cạnh tranh trên thị trường. Để đảm bảo tính nhất quán của chính sách, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương trong điều phối chính sách để các chủ trương, chính sách chung của Trung ương thực sự gắn với các điều kiện cụ thể của địa phương. Các chính sách của Nhà nước đối với các vùng cần phải được thực hiện nhất quán ở tất cả các địa phương và cần được giám sát thực hiện sát sao, tránh việc các địa phương tự tiện “phá rào” ảnh hưởng đến lợi ích toàn cục.
Thể chế phát triển vùng du lịch có vai trò hết sức quan trọng trong quyết định, điều phối những nội dung liên kết phát triển du lịch vùng. Không có thể chế phát triển vùng đủ mạnh thì không có sự phát triển vùng du lịch có hiệu quả. Liên kết vùng du lịch diễn ra ở nhiều cấp, nhiều dạng với nhiều hình thức liên kết đa dạng và linh hoạt. Vì vậy, thể chế quản trị vùng cũng cần đa dạng, có nhũng thể chế nhà nước, phi nhà nước, cộng đồng, thị trường.
Ba là, điều kiện về giao thông và cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Hạ tầng giao thông có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bảo đảm sự thông suốt toàn bộ nền kinh tế, cũng như vùng và địa phương. Liên kết vùng du lịch sẽ không thể phát triển được nếu không có cơ sở hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại và có tính kết nối cao. Hạ tầng giao thông và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí,…) tốt sẽ giúp thúc đẩy liên kết và hợp tác chặt chẽ du lịch trong vùng, kết nối thị trường vùng và liên vùng vói thị trường quốc gia và quốc tế, khai thác và hiện thực hóa các tiềm năng du lịch của địa phương; nâng cao hiệu quả đầu tư, thu hút du khách. Ngược lại, hạ tầng giao thông và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch kém phát triển sẽ là một trong những nút thắt lớn, tạo ra lực cản mạnh nhất trong liên kết vùng, tiểu vùng du lịch.
Bốn là, điều kiện về phát triển kinh tế - xã hội. Các vùng miền với sự đa dạng về trình độ phát triển. Vì vậy không có mô hình đồng nhất nào cho liên kết phát triển du lịch vùng. Với các vùng năng động, có lợi thế so sánh về du lịch, cần hình thành các cực tăng trưởng du lịch đủ mạnh để có sức lan tỏa, kết nối với quốc tế. Ngay trong một vùng kinh tế - xã hội, cũng nên quy hoạch phát triển mạng lưới các cực tăng trưởng nội vùng, không nên có quan điểm phát triển dàn đều cùng tiến. Kết hợp phát triển du lịch vùng, tiểu vùng theo các cực tăng trưởng, dựa trên sự hình tành, sự tập trung phát triển cơ sở hạ tầng và các điều kiện đảm bảo thu hút khách du lịch, tạo nên mạng lưới cực tăng trưởng có quan hệ hữu cơ với phát triển vùng theo cơ cấu lãnh thổ, đảm bảo
38
sự hài hòa tránh sự phát triển phân cực thái quá dẫn đến mất ổn định và kèm bền vững về môi trường.
Năm là, điều kiện về sự thông suốt trong quản lý, điều hành thống nhất từ cấp quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương. Vùng du lịch không là phép cộng đơn thuần của các đơn vị hành chính. Do vậy, để tăng cường phối hợp hoạt động các địa phương trong vùng, cần có cơ quan quản trị cấp vùng với tư cách là chủ thể triển khai những quyết định, chính sách phát triển vùng, tránh được những cục bộ ngành, địa phương. Bên cạnh đó, cần phải xây dựng quy hoạch không gian lãnh thổ, làm rõ chức năng kinh tế - xã hội của từng vùng làm nền tảng định hình quy hoạch không gian lãnh thổ vùng, theo nguyên tắc quy hoạch ở cấp cao hơn là cơ sở quy hoạch cấp dưới. Những vấn đề có tính quốc gia thì quy hoạch quốc gia, vấn đề có tính vùng thì nằm ở quy hoạch vùng, làm rõ giới hạn từng quy hoạch.
Sáu là, điều kiện về xác định không gian địa lý kinh tế phù hợp. Sử dụng có hiệu quả lãnh thổ của một vùng du lịch cụ thể thông qua điều kiện tài nguyên du lịch, hệ thống giao thông liên lạc và các điểm dân cư trên cơ sở tính toán đến các nhân tố và điều kiện tự nhiên, kinh tế, kiến trúc, xây dựng, địa chất. Việc xác định ranh giói địa kinh tế của những vùng du lịch trọng điểm, khu, điểm du lịch là hết sức quan trọng, không nên xác định địa bàn quá rộng sẽ làm giảm hiệu quả du lịch, cũng không nên để các vấn đề xã hội kìm hãm các động lực liên kết du lịch.
Bảy là, điều kiện về vốn đầu tư thông qua các quỹ phát triển du lịch vùng, đầu tư có hiệu quả theo cơ chế thị trường. Để có nguồn vốn hỗ trợ phát triển vùng du lịch, ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước để xây dựng các công trình hạ tầng lớn, cần thành lập quỹ phát triển du lịch vùng với kinh phí được hình thành từ nhiều nguồn, bao gồm ngân sách nhà nước, viện trợ quốc tế, tài trợ của các tổ chức, cá nhân nhằm tài trợ, cho vay, để tạo ra sự chủ động về tài chính cho sự phát triển. Trên cơ sở đó, dùng cơ chế chính sách, công nghệ để thúc đẩy thị trường du lịch, đầu tư phù hợp với quy hoạch vùng, coi đó là một bộ phận cấu thành của chính sách kinh tế, là hệ thống các biện pháp xác định quy mô, cơ cấu và phương hướng đầu tư, kéo quá trình phát triển vùng du lịch theo hướng hiệu quả, vận hành theo cơ chế thị trường [38].
2.1.4.3. Các tiêu chí đánh giá liên kết phát triển du lịch Một là, mức độ tham gia liên kết vùng: quyết định thành lập ban điều phối liên kết của cơ quan có thẩm quyền; tỷ lệ các địa phương trong vùng cam kết bằng văn bản tham gia liên kết; tỷ lệ các địa phương tham gia liên kết của cán bộ tham gia điều phối. Hai là, chương trình hoặc kế hoạch liên kết vùng: tỷ lệ các nội dung liên kết so với những nội dung có thể liên kết du lịch vùng có được sự thống nhất giữa các địa phương cam kết tham gia liên kết; tỷ lệ các nội dung liên kết có được chương trình hoặc kế hoạch liên kết cụ thể được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Ba là, thực tế triển khai chương trình/kế hoạch liên kết: tỷ lệ các nội dung liên kết so với những nội dung có thể liên kết du lịch vùng được triển khai trong thực tế tại thời điểm khảo sát; tỷ lệ các nội dung liên kết hoàn thành trong thực tế tại thời điểm khảo sát.
Bốn là, sản phẩm du lịch vùng: tỷ lệ những sản phẩm du lịch mang tính chất vùng trên tổng số những sản phẩm du lịch chính của các địa phương trong vùng được đề xuất xây dựng đến thời điểm khảo sát; tỷ lệ những sản phẩm du lịch mang tính vùng đã hình thành và được đưa vào khai thác.
39
Năm là, xúc tiến quảng bá thương hiệu du lịch vùng: thương hiệu du lịch chung của vùng hoặc của cụm một số địa phương trong vùng được xây dựng; tỷ lệ các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch chung toàn vùng trên tổng số hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch riêng lẻ của các địa phương trong vùng được thực hiện đến thời điểm khảo sát.
Sáu là, nhận thức và hiểu biết về liên kết du lịch vùng: tỷ lệ các cơ sở đào tạo về du lịch trong vùng đưa lồng ghép nội dung về liên kết du lịch vào chương trình đào tạo; tỷ lệ các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao nhận thức và trình độ liên kết du lịch vùng so với tổng số các lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh qua các năm.
2.2. Nội dung về liên kết phát triển du lịch Liên kết phát triển du lịch bao gồm nhiều nội dung nhưng luận án tập trung vào
một số nội dung chủ yếu sau:
2.2.1. Liên kết tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến xây dựng thương hiệu du
lịch
Kết nối các sự kiện, lễ hội riêng của từng địa phương trong vùng để tạo ra chuỗi sự kiện du lịch mang tính chất vùng nhằm thu hút khách du lịch, đặc biệt là các thị trường trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế cao; tổ chức các diễn đàn xúc tiến đầu tư du lịch toàn vùng nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư từ các tập đoàn kinh doanh du lịch xuyên quốc gia; xúc tiến thành lập cổng thông tin điện tử, xây dựng cơ sở dữ liệu du lịch và các lĩnh vực có liên quan, xác lập thương hiệu, hình thành tờ báo chuyên ngành du lịch sử dụng chung cho toàn vùng; nghiên cứu nhằm xây dựng và định vị hình ảnh du lịch toàn vùng trên thị trường và các nhà đầu tư.
Phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch vùng để quảng bá, cung cấp thông tin cho du khách tại các điểm đến; hỗ trợ nhau trong hoạt động xúc tiến các sản phẩm du lịch đặc thù của vùng và của từng địa phương trong vùng; hoàn thiện hệ thống xúc tiến đầu tư du lịch vùng; tạo ra sự liên kết, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các doanh nghiệp du lịch, vừa bảo đảm hài hòa lợi ích của mỗi địa phương, vừa phát huy sức mạnh tổng hợp du lịch chung của toàn vùng.
Xây dựng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu vùng về các chỉ tiêu phát triển du lịch cơ bản gồm: số lượng khách du lịch (quốc tế và nội địa); chi tiêu và ngày lưu trú trung bình, số lượng lao động trực tiếp và gián tiếp; tổng vốn đầu tư phát triển du lịch (quy mô, cơ cấu theo lĩnh vực và nguồn huy động), so sánh với các vùng du lịch khác và cả nước. Trao đổi thông tin kinh tế - xã hội giữa các địa phương trong vùng về tình hình phát triển, các khó khăn vướng mắc, các yêu cầu hỗ trợ, hợp tác; nghiên cứu mô hình phát triển du lịch và bài học kinh nghiệm từ các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi học tập kinh nghiệm giữa các địa phương, doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch trong vùng về các hoạt động chuyên môn, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, các hội nghị, hội thảo phát triển du lịch nhằm phát huy lợi thế về du lịch của mỗi địa phương, của từng tiểu vùng và toàn vùng một cách hiệu quả nhất.
2.2.2. Liên kết xây dựng sản phẩm du lịch, chương trình du lịch (tour du lịch)
chung của toàn vùng
Các hoạt động liên kết nhằm tạo ra các sản phẩm để du khách có thể tham quan, tìm hiểu nhiều lĩnh vực, nhiều điểm du lịch, tham gia nhiều hoạt động khác nhau trong
40
một chương trình du lịch. Cần nghiên cứu hình thành một số sản phẩm du lịch theo dạng liên kết tổng hợp phù hợp với vùng như liên kết giữa tìm hiểu văn hóa với tham quan di tích lịch sử, liên kết các hoạt động tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển vùng.
Với hệ thống các sản phẩm du lịch đặc thù được phát triển hoàn thiện, nhiều phương thức liên kết cần được nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm du lịch liên kết tổng hợp góp phần hình thành những chương trình du lịch hấp dẫn, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường. Đối với những sản phẩm du lịch tổng hợp này cũng cần chú trọng đến khả năng tiêu dùng sản phẩm, khả năng hưởng thụ của khách du lịch, tránh tình trạng đưa quá nhiều hoạt động và mục đích trong thời gian tham quan ngắn, làm giảm khả năng trải nghiệm của du khách đối với từng hoạt động, mặt khác không tạo được các điểm nhấn trong từng chi tiết sản phẩm.
Liên kết các loại hình dịch vụ tạo sự khác biệt. Ngày nay, lý thuyết du lịch hiện đại đề cập đến yếu tố mới trong cấu thành của sản phẩm du lịch , đó là yếu tố trải nghiệm. Sự trải nghiệm ảnh hưởng rất nhiều đến cảm nhận và hình ảnh của du khách về sản phẩm du lịch. Cần nghiên cứu các phương thức kết hợp các loại hình dịch vụ nhằm tạo ra sự phong phú trong trải nghiệm của du khách, mang lại ấn tượng và sự khác biệt cho du lịch của vùng. Hình thức kết hợp đa dạng loại hình vận chuyển hiện đại với truyền thống trong một chuyến du lịch là một trong nhuwgx dạng liên kết phù hợp.
Liên kết với các ngành, lĩnh vực có thế mạnh để xây dựng những sản phẩm du lịch tiềm năng chuyên biệt. Vận dụng những cơ sở và đặc thù của các ngành có thế mạnh trong vùng để nghiên cứu xây dựng các sản phẩm du lịch kết hợp là một hướng khai thác hiệu quả. Các quy trình sản xuất của các ngành cũng là đối tượng tham quan lý thú của nhiều nhóm du khách.
Chương trình liên kết phát triển du lịch chung góp phần lại kết quả trong việc liên kết quản lý điều hành, đào tạo nguồn nhân lực, thiết kế tour tuyến, khai thác sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá, thúc đẩy phát triển du lịch cụm và du lịch từng tỉnh.
Chương trình liên kết phát triển du lịch chung tạo động lực phát triển du lịch cho các địa phương. Đồng thời, sự liên kết giữa các địa phương đã mang lại hiệu quả, tiết kiệm chi phí song vẫn đảm bảo được chất lượng, quy mô các chương trình.
Bên cạnh việc chủ động xây dựng và phát triển các chương trình du lịch riêng mang tính đặc thù của mỗi địa phương (theo chiến lược phát triển du lịch của mỗi tỉnh), các tỉnh trong Vùng cần phối hợp xây dựng các chương trình du lịch chung của toàn Vùng trên cơ sở những định hướng đã được xác định trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.
Việc xây dựng các chương trình liên kết chung là điều kiện để hợp tác xây dựng chính sách du lịch thông thoáng, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư, khai thác và phát triển du lịch. Huy động tối đa nguồn lực của từng địa phương để xây dựng những sản phầm đặc thù thu hút khách du lịch. Đồng thời thực hiện các chương trình du lịch liên kết vùng, định hướng theo nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế.
2.2.3. Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Tập trung đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch, đặc biệt là lao động nghề chất lượng cao. Thu hút nhân lực trình độ cao, nhất là các chuyên gia hàng đầu về du lịch trong nước, các chuyên gia quốc tế về làm việc trong các cơ sở đào tạo về du lịch
41
trên địa bàn vùng. Tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo, các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp du lịch, nhất là các tập đoàn, doanh nghiệp du lịch lớn để tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề; đồng thời tập trung dạy nghề chất lượng cao theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, khu du lịch quốc gia vùng.
Đẩy mạnh hợp tác dào tạo bằng nhiều hình thức hợp tác, liên kết, liên thông giữa các cơ sở đào tạo, các viện nghiên cứu chuyên ngành du lịch và các lĩnh vực có liên quan trong vùng và liên vùng để mở thêm các chuyên ngành đào tạo mới, các chương trình đào tạo tiên tiến nhằm khai thác các nguồn lực giáo viên, giảng viên có trình độ, kinh nghiệm; tận dụng cơ sở vật chất hiện có; trao đổi giáo trình phương pháp giảng dạy khoa học để phát triển nhân lực du lịch trình độ cao cho toàn vùng một cách hiệu quả. Tập trung đầu tư cho các cơ sở đào tạo có uy tín trên địa bàn để hình thành một hệ thống đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng và cả nước.
2.2.4. Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao
thông
Hợp tác xây dựng không gian du lịch thống nhất dựa trên cơ sở kết nối các tour, tuyến, khu, điểm du lịch nhằm phát triển đa dạng các loại hình du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái, thể thao mạo hiểm,...); khai thác và bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa vùng; hình thành các điểm đến trong vùng có sức cạnh tranh cao trong nước, khu vực và quốc tế; gắn kết các địa bàn trọng điểm, các khu, điểm du lịch quốc gia, các đô thị trong vùng; tạo lập các chuỗi sự kiện du lịch trong vùng như các festival, lễ hội văn hóa quốc tế, lễ hội quốc gia tiêu biểu.
Xây dựng mới hiện đại một số khu hội chợ, hội nghị, hội thảo, quốc tế, khu thể thao tổng hợp ở các địa phương trong vùng có điều kiện về hạ tầng và đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi giải trí tầm cỡ khu vực và quốc tế.
Hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng du lịch, đặc biệt là hệ thống giao thông cho từng địa phương trong vùng, khớp nối với hệ thống giao thông liên vùng, khu vực và quốc tế. Chú trọng tìm kiếm cơ chế đầu tư phát triển và tạo bước đột phá trong xúc tiến triển khai những công trình có tầm ảnh hưởng lớn, tạo ra liên kết vùng du lịch. Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt, các địa phương trong vùng phối hợp xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch vùng như khách sạn, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, hình thành hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đồng bộ trên quy mô toàn vùng.
Đồng thời, nâng cấp các trục giao thông kết nối với các hành lang kinh tế, các cửa khẩu quốc tế. Phối hợp với hãng hàng không quốc gia Việt nam xúc tiến mở các tuyến đường bay quốc tế trực tiếp đến cảng hàng không quốc tế trong vùng; mở thêm các đường bay trong nước nối các đô thị trong vùng với nhau và với trung tâm du lịch cả nước.
2.2.5. Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương
Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương. Phối hợp xây dựng cơ chế chính sách mang tính vùng đầu tư kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, đặc biệt là các khu vui chơi giải trí, các khu mua sắm đặc trưng và chất lượng cao, trên cơ sở đó thống nhất trong quy hoạch sản
42
phẩm du lịch đặc thù của vùng dựa vào lợi thế của mỗi địa phương trong vùng.
Trong giai đoạn phát triển mới, để phù hợp với định hướng chung của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cần thiết Quy hoạch phát triển vùng theo hướng bền vững đáp ứng với những yêu cầu và nhiệm vụ mới. Chính vì vậy, việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ và điều chỉnh quy hoạch du lịch phù hợp với từng địa phương là cần thiết. Bản Quy hoạch này phải đáp ứng được mọi nhu cầu cần thiết về không gian, thời gian của tất cả các điểm du lịch ở các địa phương được liên kết lại thành chương trình du lịch, tuyến du lịch đặc sắc.
2.2.6. Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Chia sẻ kinh nghiệm về phát triển du lịch giữa các địa phương nhằm tăng cường năng lực quản lý, điều hành về du lịch của Chính quyền địa phương, tập trung vào việc giảm chi phí gia nhập thị trường của doanh nghiệp du lịch, nâng cao tính mình bạch và thông tin, tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực cho các doanh nghiệp du lịch, giảm chi phí không chính thức, giảm chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, nâng cao chất lượng dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp du lịch.
Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch, hiệp hội du lịch giữa các địa phương trong vùng liên kết với nhau nhằm hình thành các doanh nghiệp du lịch có quy mô lớn, thương hiệu mạnh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị ở tầm quốc gia, khu vực và vươn ra quốc tế.
Tổ chức định kỳ hội nghị phát triển vùng du lịch nhằm thu hút được nhiều ý kiến đa dạng, nhiều chiều từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp du lịch, là cơ sở tham khảo quan trọng để các địa phương trong vùng hoạch định chính sách.
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch Có rất nhiều cách phân chia các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch. Tuy nhiên đứng trên khía cạnh kinh tế - kinh doanh việc nhìn nhận các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của liên kết phát triển du lịch tại một điểm tài nguyên, một vùng, một quốc gia thường dự vào các yếu tố sau:
Ở chiều thứ nhất, nó được hình thành từ những tài nguyên sẵn có (gọi là lợi thế so sánh) và việc khai thác các tài nguyên này (gọi là lợi thế cạnh tranh). Chiều thứ hai thông dụng hơn xác định năng lực cạnh tranh trong du lịch gồm có ba cấu phần chính: (1) các yếu tố và tài nguyên phụ trợ; (2) các tài nguyên và điểm thu hút chủ chốt (hay được hiểu là tài nguyên du lịch); (3) quản lý lập kế hoạch. Cấu phần thứ nhất được hiểu theo nghĩa là các lợi thế so sánh trong kinh tế học thương mại, thường được quyết định bởi những tài nguyên sẵn có do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử, dân tộc mang lại. Cấu phần thứ hai là sự tác động của con người, thể hiện một “quy trình sản xuất” kết hợp cấu phần thứ nhất cùng các yếu tố đầu vào khác nhằm tạo ra sản phẩm du lịch thu hút được nhiều khách hàng. Cấu phần thứ ba thể hiện vai trò của các quá trình quản lý, lập kế hoạch và phổ biến, quảng bá... nhằm sử dụng và khai thác các tài nguyên du lịch.
Các cấu phần nói trên quyết định phần lõi của liên kết phát triển du lịch, đồng thời chịu ảnh hưởng của môi trường vi mô và môi trường vĩ mô. Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố cơ bản của điểm đến du lịch giúp so sánh với các điểm đến du lịch khác, ví dụ như các thành viên trong ngành du lịch lữ hành, thị trường du lịch, các đối
43
thủ cạnh tranh, các đơn vị thụ hưởng, v.v… Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố xung quanh và ảnh hưởng đến môi trường vi mô. Những yếu tố vĩ mô có thể kể ra là: nhận thức tăng lên về môi trường tự nhiên; quá trình tái cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế; sự thay đổi của đặc điểm nhân khẩu học; sự phức tạp trong mối tương tác giữa tài nguyên công nghệ và nguồn nhân lực, v.v… Môi trường vi mô và môi trường vĩ mô tác động lẫn nhau, đồng thời ảnh hưởng đến các cấu phần trong phần lõi của năng lực cạnh tranh. Ví dụ Lordkipanidze và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng thông lệ, thói quen kinh doanh có ảnh hưởng rất lớn đến thu hút khách du lịch tại một vùng nông thôn của Thụy Điển.
Các yếu tố của mô hình liên kết phát triển du lịch bao gồm: (i) Các tài nguyên được chia thành nhiều loại: tài nguyên sẵn có, tài nguyên được tạo mới và tài nguyên phụ trợ. Tài nguyên sẵn có gồm tài nguyên tự nhiên (núi non, hồ, sông, biển, khí hậu, v.v…) và tài nguyên di sản (ngôn ngữ, văn hóa, tập tục, nghề truyền thống, lễ hội, v.v…). Các tài nguyên tạo mới có rất nhiều loại, có thể kể ra như cơ sở hạ tầng du lịch (lưu trú, ăn uống, v.v…), hoạt động, sự kiện, vui chơi giải trí, mua sắm, v.v… Các tài nguyên phụ trợ cũng rất đa dạng, ví dụ như cơ sở hạ tầng chung (giao thông), chất lượng dịch vụ (tài chính, ngân hàng v.v…), sự thân thiện mến khách, các mối liên kết thị trường. v.v… Tất cả các tài nguyên cùng nhau tạo nên đặc điểm đa dạng của một điểm đến du lịch, từ đó hấp dẫn du khách tới thưởng ngoạn và tạo nền tảng cho năng lực liên kết của địa phương.
(ii) Các điều kiện hoàn cảnh là những lực tác động tồn tại trong môi trường hoạt động của hoạt động du lịch. Lực tác động đến từ thể chế kinh tế, xã hội, đặc điểm dân cư, công nghệ, môi trường, chính trị, luật pháp, v.v… Những lực tác động này quyết định giới hạn, khả năng khai thác các tài nguyên du lịch và có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến năng lực liên kết du lịch.
LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH
CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN
Vị trí
Sự thụ thuộc
Sức tiếp nhận
An toàn/ An ninh
Chi phí/ Giá trị
Hình ảnh
Lợi thế cạnh tranh (Khai thác tài nguyên * Kiểm
)
*Nguồn
toán/Kiểm
CHÍNH SÁCH, LẬP KÊ HOẠCH & PHÁT TRIỂN
nhân lực
Ô M
kê.
M Ô
Xác định hệ thống
Triết lý/ Giá trị
Tầm nhìn
Định vị/ Nhãn hiệu
Phát triển
Theo dõi & Đánh giá
Kiểm tra
Ĩ V
Phân tích cạnh tranh/ hợp tác
* Bảo quản
(
vật chất
* Tăng
QUẢN LÝ
* Nguồn
trưởng/Phát
vốn
triển
Tổ chức
Tiếp thị
* Kết cấu
Chất lượng dịch vụ
Tài chính/ Đầu tư
Thông tin/ Nghiên cứu
Quản lý nguồn lực
Quản lý khủng hoảng
* Hiệu suất
hạ tầng và
Quản lý du khách
* Hiệu lực
Lợi thế so sánh (Tài nguyên sẵn có) * Nguồn lực thượng tầng
du lịch
Địa vật lý & Khí hậu
Kết hợp hoạt động
Văn hóa & Lịch sử
Quan hệ thị trường
* Nguồn lực
Kết cấu thượng tầng
(
tự
Quản trị nhân sự CÁC NGUỒN LỰC VÀ ĐIỂM THU HÚT CHỦ CHỐT Sự kiện đặc biệt CÁC YẾU TỐ & NGUỒN LỰC HỖ TRỢ
nhiên/văn
I T R Ư Ờ N G L I Ê N K Ế T V I
Cơ sở hạ tầng
Khả năng tiếp cận
Các nguồn lực phụ trợ
Doanh nghiệp
Ý chí chính trị
hóa
)
* Quy mô
M Ô
H N A U Q G N U X G N Ờ Ư R T I Ô M
nền kinh tế
Giải trí Độ thân thiện
44
Sơ đồ 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch (iii) Thị trường cũng có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến liên kết phát triển du lịch, cụ thể thông qua loại hình sản phẩm, dịch vụ được phát triển trong địa phương. Một số đặc điểm chính của thị trường là sở thích du lịch, hiểu biết về điểm đến du lịch và hình ảnh của điểm đến du lịch. Kết quả hoạt động du lịch chịu tác động của việc có đưa ra thị trường được hay không các sản phẩm, dịch vụ du lịch đáp ứng sở thích của du khách. Hiểu biết về điểm đến du lịch trong khi đó được tạo lập bằng nhiều phương tiện như quảng bá tiếp thị, liên kết thị trường. Hình ảnh của điểm đến du lịch ảnh hưởng đến nhận thức và do đó cũng quyết định kết quả hoạt động du lịch.
(iv) Quản lý của địa phương bao hàm các yếu tố có tác dụng tăng cường khả năng khai thác các tài nguyên du lịch chủ chốt (tự nhiên, di sản, tạo mới), cải tiến chất lượng, hiệu suất các tài nguyên phụ trợ và thích ứng tốt nhất với các điều kiện hoàn cảnh. Cần phân biệt quản lý của khu vực công (quản lý hành chính của chính quyền) và quản lý thuộc khu vực tư (ví dụ quản lý trong các doanh nghiệp). Các hoạt động quản lý công gồm đề ra chiến lược phát triển du lịch, tổ chức quản lý chung điểm đến du lịch (điều phối, cung cấp thông tin, giám sát và đánh giá), quản lý việc quảng bá địa phương, đất nước; lập kế hoạch, chính sách; phát triển nguồn nhân lực; quản lý môi trường, trật tự trị an. v.v… Quản lý thuộc khu vực tư là hoạt động quản lý của các tổ chức kinh doanh du lịch, ví dụ chi trả cho các chương trình quảng bá du lịch, tài trợ các chương trình đào tạo, áp dụng các nghiệp vụ du lịch xanh, phát triển sản phẩm mới, tham gia các chương trình môi trường v.v…Quản lý công và tư cùng nhau quyết định loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch đưa ra thị trường để đáp ứng sở thích của du khách.
(v) Mối liên hệ giữa các yếu tố. Tất cả các yếu tố nói trên cũng như sự tương tác giữa chúng sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch. Để đo lường năng lực cạnh tranh, có thể thông qua các chỉ số năng lực cạnh tranh cứng hay mềm. Chỉ số cứng là những thống kê thường hay sử dụng như số lượt khách, số tiền chi tiêu, thị phần, đóng góp của du lịch trong nền kinh tế, đầu tư vào ngành du lịch, chỉ số giá cả du lịch v.v… Chỉ số mềm có thể là độ thân thiện của điểm đến du lịch, chất lượng dịch vụ, cảnh quan, an toàn, v.v…
Tiêu chí để kiểm định liên kết du lịch là sự bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa, sinh thái, môi trường, văn hóa, chính trị, v.v… mà hoạt động du lịch mang lại. Năng lực liên kết cao đồng nghĩa với phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện qua các chỉ tiêu chất lượng cuộc sống. Sự bền vững thường được biểu hiện trong phúc lợi mà kinh doanh du lịch đem lại cho cư dân bản địa. Chính vì vậy, vai trò của cư dân bản địa cần được đặc biệt chú ý khi lập kế hoạch phát triển du lịch. Thực tế, ví dụ trong Yoon và cộng sự (2001) [196], đã chứng minh rằng sự ủng hộ, tham gia tích cực của nhân dân địa phương vào các chương trình, hoạt động du lịch có tác dụng rất lớn đến hiệu quả. Ngược lại, Teye và cộng sự (2002) [184] đã chỉ ra rằng nếu cư dân bản địa không có nhiều lợi ích từ hoạt động phát triển du lịch, họ sẽ không hợp tác, làm cản trở, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả. Những quá trình này sẽ đóng góp tích cực vào việc tạo ra sự liên kết cho mỗi điểm đến du lịch.
2.4. Kinh nghiệm về liên kết phát triển du lịch và bài học kinh nghiệm cho
các tỉnh Bắc Trung Bộ
2.4.1. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực
45
2.4.1.1. Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan là một điểm sáng du lịch không chỉ tại khu vực Đông Nam Á mà trên toàn thế giới. Năm 2016, lượng khách du lịch quốc tế đến Thái Lan đã vượt qua mốc 30 triệu người, là một trong những nước có số lượng khách du lịch quốc tế lớn hàng đầu trên thế giới.
Theo đánh giá của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC,2016), đóng góp trực tiếp của du lịch cho GDP của Thái Lan năm 2015 là 1.247,3 nghìn tỷ bath, chiếm khoảng 9,3% GDP. Nếu tính tổng những đóng góp trực tiếp, gián tiếp và các lĩnh vực chịu ảnh hưởng của du lịch vào GDP, giá trị này là 2.795,1 tỷ bath năm 2015, chiếm 20,8 % GDP. Thái Lan đứng thứ 6 trên thế giới về thu nhập từ du lich (UNWTO, 2016) [193]. Theo dự báo của WTTC, với tốc độ tăng trưởng khoảng 6,4%/năm, trong 10 năm tới, du lịch sẽ đem lại doanh thu tổng hợp là 5.420,5 tỷ bath, chiếm 30,5% GDP của Thái Lan.
Phát triển kinh tế theo vùng được chú trọng tại Thái Lan trong hơn 20 năm qua, đem lại những kết quả cụ thể trong phát triển , thể hiện rõ trong phát triển du lịch. Phát triển vùng du lịch của Thái Lan cho thấy mối lien hệ giữa phát triển du lịch với phát triển vùng kinh tế. Ngoài những chính sách thúc đẩy phát triển chung trong vùng, những chính sách cụ thể cho việc phát triển vùng du lịch có tác động rõ rệt trong việc hình thành các dòng sản phẩm, thương hiệu cũng như hệ thống du lịch tại mỗi vùng. Trong chiến lược phát triển du lịch của Thái Lan, hoạt động kinh doanh du lịch được định hướng thành 5 vùng là: Vùng phía Bắc, Vùng Đông Bắc, Vùng trung tâm, Vùng phía Đông và Vùng phía Nam. Việc phân vùng du lịch trước hết do đặc điểm địa lý, đặc điểm kinh tế và xã hội quyết định. Điều này phần nào quyết định những đặc điểm sản phẩm riêng của mỗi vùng.
Phát triển sản phẩm du lịch mang đặc trưng của vùng và từng địa phương làm
cơ sở cho việc liên kết phát triển du lịch.
Một khu vực tại Thái Lan có nhiều đặc điểm tương đồng với vùng Tây Bắc là vùng Bắc Thái Lan. Là một khu vực miền núi, vùng Bắc Thái Lan có điều kiện kinh tế khó khăn hơn so với các địa phương khác trong cả nước. Khu vực này cũng chứa đựng nhiều giá trị văn hóa của các dân tộc. Khu vực của 16 tỉnh này được quan tâm phát triển du lịch sau những trung tâm du lịch lớn của Thái Lan.
Trong nhiều năm qua, Chính phủ Thái Lan đã tập trung các sản phẩm du lịch đặc trưng của Vùng Bắc Thái Lan nói chung và từng địa phương trong vùng nói riêng, tạo nên sự đa dạng và khác biệt với các vùng khác. Vì vậy, vùng Bắc Thái Lan đã trở thành một trong những vùng thu hút khách du lịch nổi tiếng ở Thái Lan Đầu tư có trọng điểm tại vùng du lịch làm cơ sở thúc đẩy liên kết. Phát triển du lịch đồi hỏi quá trình đầu tư, nhất là trong giai đoạn đầu. Hoạt động đầu tư phát triển du lịch của Chính phủ Thái Lan trong giai đoạn đầu là tập trung đầu tư vào một số khu du lịch trọng điểm, phát triển một số trung tâm du lịch làm động lực lan tỏa sang các vùng khác. Một trong những định hướng đầu tư cho phát triển du lịch được Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) đưa ra vào đầu những năm 1990 là phát triển cơ sở hạ tầng bốn thành phố cửa ngõ phát triển du lịch của vùng, làm cơ sở cho hoạt động liên kết phát triển du lịch của vùng và kết nối với các vùng khác trong nước và quốc tế. Các nguồn lực trong nước và quốc tế được huy động cho mục tiêu này.
Việc tập trung thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng du lịch tại Thái Lan
46
cho thấy, chính sách của Nhà nước đóng vai trò quan trọng định hướng phát triển ngành du lịch nói chung và vùng du lịch nói riêng. Đây là cơ sở quan trọng để tập trung các nguồn lực trong và ngoài nước để hình thành các khu du lịch trọng điểm, tạo sự liên kết nội vùng và liên vùng trong phát triển du lịch. Để phát triển vùng du lịch, việc tập trung đầu tư các điểm du lịch lớn, những “ cửa ngõ du lịch” cần được ưu tiên để tạo ra nguồn lực thúc đẩy phát triển du lịch của cả vùng.
Vai trò của chính sách trong phát triển liên kết du lịch - bài học từ du lịch cộng đồng. Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, nhất là các địa phương khu vực miền núi. Các mô hình phát triển du lịch cộng đồng – loại hình du lịch được khuyến khích phát triển tại các vùng núi như Bắc Thái Lan cho thấy vai trò tổng hợp của các bên trong phát triển du lịch, từ đó gợi ý các mô hình liên kết trong vùng.
Định hướng của Nhà nước trong phát triển liên kết vùng du lịch Có thể thấy Thái Lan cũng gặp những khó khăn nhất định trong liên kết vùng phát triển du lịch. Sự phát triển liên kết vùng du lịch Thái Lan gắn liền với quá trình phát triển du lịch, phát triển các sản phấm du lịch cũng như hình thành những bối cảnh du lịch mới.
Tới những năm đầu của thế kỷ XXI, liên kết vùng du lịch Thái Lan vẫn chưa thực sự nhận được sự quan tâm của Nhà nước Thái Lan thiếu những định hướng trong liên kết phát triển du lịch, thậm chí xu hướng phát triển du lịch theo từng địa phương còn được ưu tiên. Các tỉnh tại Thái Lan có xu hướng phát triển thương hiệu du lịch riêng cho tỉnh mình và Nhà nước cũng ủng hộ xu hướng này với những hỗ trợ cho từng tỉnh. Tuy nhiên, định hướng này không được thành công (Kovathanakul, 2015). Thực tế, là cho tới gian đoạn gần đây, hợp tác nói chung và liên kết vùng du lịch của Thái Lan vẫn được đánh giá là điểm yếu trong chiến lược phát triển du lịch của Thái Lan. Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2017-2021 của Thái Lan đánh giá “Hiện tại, việc liên kết và cân đối của những nỗ lực phát triển du lịch của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (thực thể - entities) tại Thái Lan còn kém, nhất là trong vấm đê xác định thời điểm của kế hoạch phát triển. Việc không tương thích về thời điểm phát triển dẫn tới sự không liên tục giữa các hành động và ngân quỹ. Có rất ít những cuộc gặp gỡ được tổ chức giữa các thực tế để có được sự nhất trí chung về định hướng và thời gian của các bản quy hoạch tổng thể” (Bộ Du lịch và Thể thao Thái Lan, 2017).
2.4.1.2. Kinh nghiệm của Malaysia Malaysia cũng là một quốc gia du lịch lớn trong khu vực Đông Nam Á và thế giới. Là quốc gia thân thiện, có nền kinh tế phát triển bền vững và nền chính trị ổn định. Năm 1998, số lương khách du lịch quốc tế đến Malaysia là 5,6 triệu lượt, năm 2000 là 10 triệu, năm 2010 là 24,28 triệu và đến năm 2015, Malaysia đã đón gần 26 triệu lượt khách du lịch quốc tế.
Theo đánh giá của WTTC, năm 2015, tổng số đóng góp của du lịch là 152,8 tỉ Ringgit (chiếm 13,1% GDP). Năm 2016, đóng góp trực tiếp của du lịch là 55,2 tỉ Ringgit, chiếm 7,9% GDP.
Tuy có quy mô du lịch không lớn như Thái Lan nhưng Malaysia cũng được biết tới khá rộng rãi trên bản đồ du lịch thế giới. Trong số 184 nước trên thế giới, quy mô ngành du lịch Malaysia xếp thứ 27 về giá trị tuyệt đối. Nước này đã có tốc độ tăng trưởng du lịch nhanh trong thời gian gần đây (năm 2016, tốc độ tăng trưởng du lịch
47
đứng thứ 3 trên thế giới).
Đặc điểm kinh tế và tự nhiên của Malaysia dẫn tới những phát triển không đồng đều về du lịch (Hendersion, 2008). Phát triển các vùng du lịch tại Malaysia cũng theo quá trình phát triển của ngành du lịch nước này. Điển hình là khu vực Đông Bắc tới các tỉnh Kelantan, Pahang và Teregganu, được khuyến khích phát triển du lịch kể từ năm 1999, sau khi Malaysia hướng tới phát triển một thương hiệu du lịch mới là “Trully Asia” (“Thực sự là Châu Á”) kèm theo định hướng mở rộng các loại sản phẩm du lịch tại quốc gia này. Cùng với chính sách của quốc gia, các tỉnh trong khu vực đông bắc đã có những địn hướng và chính sách để phát triển khu vực này trở thành một trung tâm du lịch mới, khai thác những giá trị thiên nhiên vốn có, kết hợp với việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Trong hơn 20 năm qua, Malaysia đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển du lịch hướng tới thúc đẩy liên kết vùng. Các chính sách này cũng thay đổi theo đặc điểm và trình độ phát triển du lịch của Malaysia.
Chính sách phát triển du lịch quốc gia là cơ sở quan trọng trong việc thúc đẩy
phát triển liên kết vùng du lịch theo địa lý và theo chuỗi giá trị sản phẩm.
2.4.1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc Trung Quốc là một điểm đến du lịch lớn trên thế giới, không chỉ thu hút đông đảo lượng khách du lịch quốc tế mà còn đáp ứng nhu cầu lớn hơn 1,3 tỷ khách du lịch nội địa. Liên kết vùng du lịch tại Trung Quốc được đặt ra và trao đổi nhiều tại Trung Quốc bởi những đặc điểm kinh tế, xã hội khá khác biệt so với các nước châu Âu và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam. Feng (2011) đưa ra 5 đặc điểm tạo ra sự khác biệt trong các hoạt động liên kết du lịch vùng của Trung Quốc, bao gồm:
Tính tập quyền trong quản lý: quyền lực tập trung vào chính quyền trung ương
sau đó phân quyền tới các địa phương và các doanh nghiệp.
Thị trường không mở hoàn toàn với các đối thủ cạnh tranh quốc tế. Có những
chính sách bảo hộ nhất định trong kinh doanh du lịch.
Khu vực nhà nước có quyền lực lớn hơn trong mối quan hệ hợp tác công tư. Các cơ quan du lịch có quyền lực chi phối các hiệp hội mặc dù trên danh nghĩa
đăng ký của các cơ quan này là các tổ chức phi chính phủ.
Các thành phố chủ động hơn trong việc thúc đẩy các hoạt động phát triển du lịch
trong vùng.
Những đặc điểm này cho thấy Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam trong quá trình phát triển du lịch và tăng cường liên kết vùng trong phát triển du lịch. Chính bối cảnh chính trị, kinh tế xã hội này tạo ra yêu cầu cần thiết của việc thúc đẩy liên kết vùng du lịch.
Các nhân tố tác động tới hiệu quả liên kết vùng du lịch Nghiên cứu một số mô hình liên kết vùng du lịch tại Trung Quốc, chỉ ra những
đặc điểm cơ bản của du lịch tác động tới hoạt động liên kết du lịch vùng, bao gồm:
Mối quan hệ chặt chẽ giữa đặc điểm chính trị - kinh tế tại điểm du lịch và thống nhất các mục tiêu hợp tác sẽ tăng hiệu quả của hợp tác trong du lịch. Ở Trung Quốc, sự can thiệp về chính trị có tác dụng làm hạn chế việc từng địa phương trong theo đuổi các mục tiêu riêng của mình trong phát triển du lịch. Tương tự như vậy, cơ quan du lịch cấp vùng nếu có quyền lực chính trị hạn chế sẽ phải nhờ đến sự tác động của các cơ quan chính quyền, do đó sẽ làm giảm khả năng “đàm phán” với các địa phương,
48
dẫn tới hạn chế hiệu quả của hợp tác. Vì vậy, cần xác định rõ và nâng cao quyền lực chính trị của cơ quan điều phối du lịch cấp vùng. Đồng thời, để nâng cao hiệu quả hợp tác, các địa phương trong vùng cần thống nhất các mục tiêu liên kết vùng trong phát triển du lịch, cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Các bên tham gia cam kết càng nhiều, hiệu quả liên kết vùng càng lớn. Các cam kết giữa các bên tham gia liên kết du lịch cần đi vào thực chất và cụ thể. Để đảm bảo hiệu quả của cam kết , các thỏa thuận bằng văn bản sẽ hữu hiệu hơn.
Bên cạnh cam kết, các nguồn lực về tài chính cho việc thực hiện cũng rất quan
trọng.
Việc lãnh đạo được các bên tham gia chấp nhận đóng vai trò quan trọng. Trong liên kết du lịch vùng, cơ quan lãnh đạo, điều phối du lịch có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, cơ quan lãnh đạo, điều phối du lịch cấp vùng chỉ có thể thực sự phát huy được hiệu quả chỉ khi được các bên tham gia chấp nhận và ủng hộ. Tại Trung Quốc, cơ quan chỉ đạo cấp vùng thường được hình thành trước khi có sự hợp tác. Tuy vậy trong quá trình quản lý, nếu cơ chế chỉ huy này không phát huy được tính dân chủ của các bên tham gia thì cũng không tạo được động lực cho sự hợp tác, và do đó, sự hợp tác, liên kết giữa các bên trong vùng khó có thể duy trì và phát triển bền vững.
Động cơ của việc hợp tác phải phù hợp với động cơ của các bên tham gia. Nghiên cứu tại Trung Quốc cho thấy, các bên tham gia các hoạt động liên kết vùng không sẵn sang hy sinh lợi ích riêng của họ cho sự hợp tác. Nếu hợp tác cùng đem lại lợi ích thì các bên mới tích cực tham gia. Vì vậy, trong quá trình liên kết, cần lưu ý, hạn chế đến mức tối đa xung đột lợi ích giữa các bên liên kết.
Sự hiện diện của các bên tham gia sẽ tạo nên hiệu quả của liên kết vùng du lịch. Bài học tại Trung Quốc cho thấy, trong nhiều trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị loại ra khỏi quá trình ra quyết đình trong khuôn khổ liên kết vùng du lịch. Tập hợp các lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ này là cần thiết trong cơ chế ra quyết định.
Cơ chế tham gia bao trùm sẽ làm tăng hiệu quả của từng hoạt động liên kết vùng du lịch. Bài học từ Trung Quốc cho thấy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ bị loại ra khỏi hoạt động liên kết vùng du lịch. Đặc biệt, người dân địa phương dường như không được tham gia. Điều này hạn chế hiệu quả của hoạt động liên kết vùng du lịch.
Cần chú trọng ưu tiên cho từng hoạt động cụ thể trong quá trình liên kết vùng du lịch. Thực tế liên kết vùng du lịch tại Trung Quốc cho thấy, việc ưu tiên cho từng lĩnh vực cụ thể chỉ thực sự đem lại hiệu quả trong liên kết du lịch vùng khi nó được xây dựng với các kế hoạch hành động rõ ràng và các nhiệm vụ được thiết kế cụ thể. Điều này khắc phục được sự “thiếu tích cực” của các bên tham gia khi lợi ích của họ không được đáp ứng. Ngược lại, khi từng địa phương, doanh nghiệp nhận thấy được rõ lợi ích của mình trong các hoạt động, trong một kế hoạch tổng thể thì hiệu ứng tích cực của liên kết sẽ được tăng lên rõ rệt.
Cơ chế hoạt động chính thức sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động liên kết. Trong liên kết vùng du lịch, cơ chế hoạt động chính thức luôn đóng vai trò quan trọng, chi phối hiệu quả liên kết. Tuy nhiên, thực tế tại Trung Quốc cũng cho thấy, bên cạnh một cơ chế chính thức được xây dựng, cơ chế hoạt động phi chính thức cũng có tác động nhất định đến các hoạt động liên kết.
Mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hiệu quả liên kết vùng du lịch Nghiên cứu về liên kết vùng du lịch tại Trung Quốc, cho thấy các yếu tố cơ bản
49
cho sự thành công của hoạt động liên kết vùng du lịch được chia thành 2 nhóm là các nhân tố bối cánh (trước liên kết) và các nhân tố thực hiện (sau liên kết). Cụ thể như sau:
Nhóm các yếu tố bối cảnh (trước quá trình hợp tác): i) năng lực hành động và quyền lực chính trị của cơ quan quản lý du lịch tham gia vào quá trình liên kết; ii) cam kết cụ thể và thực tế của các bên tham gia chính; iii) cơ chế đảm bảo sự tham gia bình đảng các bên tham gia chính nhưng lại có quyền lực yếu hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực hợp tác; iv) tập hợp các động cơ với đặc điểm là dễ lượng hóa, đáp ứng được trong ngắn hạn, và hướng tới tối ta đa hóa lợi ích của các cá nhân tham gia.
Nhóm yếu tố thực hiện (trong quá trình hợp tác): i) sự đại diện cuả các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ trong quá trình ra quyết định; ii) áp dựng cơ chế tham vấn để tập hợp các ý kiến của các bên tham gia trong quá trình ra quyết định; iii) các kế hoạch hành động và các nhiệm vụ được mô tả rõ ràng; iv) có một văn phòng được thành lập để điều phối các hoạt động hàng ngày; có các chỉ số đánh giá rõ ràng và một cơ chế tạo lập quỹ cho các hoạt động liên kết.
2.4.2. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 2.4.2.1. Kinh nghiệm của vùng Nam Trung Bộ Liên kết vùng du lịch tại Nam Trung Bộ được đánh dấu bởi sự hình thành và phát triển của một sản phẩm du lịch mang dấu ấn của vùng là “Con đường di sản”, kết nối địa phương có di sản thế giới dọc duyên hải miền Trung. Sản phẩm đặc trưng, giàu giá trị này có được từ ý tưởng tiên phong của chuyên gia du lịch người Đức là Paul Stoll (nguyên Tổng giám đốc Furama resort) đưa ra từ năm 2000. Tiếp nhận ý tưởng này, các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước đã tập trung nỗ lực xây dựng thành các sản phẩm hoàn chỉnh, các chương trình quảng bá và xúc tiến, thúc đẩy tạo nên sản phẩm du lịch riêng của vùng.
Các tỉnh vùng Nam Trung Bộ đã thực hiện một số hình thức và nội dung liên kết
cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hình thức liên kết. Liên kết giữa các tỉnh/ thành trong vùng (góc độ quản lý nhà nước) trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có du lịch (định hướng xây dựng các sản phẩm liên kết,các tour du lịch kết nối nhiều điểm đến/ dịch vụ của các tỉnh trong khu vực, liên kết trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các dịch vụ liên quan phục vụ du lịch.
Liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch trong vùng để cung cấp, nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch.
Liên kết nhóm giữa một số địa phương, có đặc điểm hoạt động du lịch tương
đồng và có khả năng hợp tác, hỗ trợ giải quyết các yêu cầu thực tế đặt ra.
Liên kết giữa một số tỉnh, thành phố trong vùng với các tỉnh vùng lân cận trong đa dạng hóa sản phẩm du lịch, cải thiện kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch. Liên kết, hợp tác quốc tế giữa các địa phương trong vùng với một số tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan trong đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường khách.
Thứ hai, về nội dung liên kết. Các tỉnh vùng duyên hải Nam Trung Bộ đã thống nhất một số nội dung hợp tác như: hợp tác xây dựng sản phẩm du lịch; liên kết tổ chức chào bán và phục vụ khách du lịch giữa các công ty lữ hành, các đơn vị cung ứng dịch vụ du lịch giữa các địa phương trong vùng; hợp tác trong quy hoạch phát triển du lịch của mỗi địa phương, hình thành không gian kinh tế du lịch vùng thống nhất; mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho các địa phương
50
trong vùng; hợp tác trong xúc tiến quảng bá du lịch các địa phương trong vùng; xây dựng hệ thống thông tin và trao đổi thông tin kinh tế - xã hội, du lịch và đầu tư phát triển giữa các địa phương trong vùng; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển các địa phương trong toàn Vùng; liên kết đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng giao thông giữa các tỉnh trong vùng, với các tỉnh và vùng khác và với các nước láng giềng; hợp tác trong bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu trong bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Tuy nhiên, liên kết phát triển du lịch vùng duyên hải Nam Trung Bộ còn có một
số hạn chế cơ bản sau:
Liên kết phát triển du lịch của các tỉnh trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ mới chỉ dừng lại trong việc tổ chức sự kiện, chưa thật sự liên kết để cùng phát triển sản phẩm du lịch.
Việc quảng bá du lịch trong toàn vùng không có cùng một chủ đề, chủ điểm, hình ảnh thống nhất. Mỗi địa phương lại hoạt động riêng lẻ với nguồn lực hạn chế, kinh nghiệm và phương pháp kém hấp dẫn.
Việc quy hoạch du lịch thiếu tâm nhìn tổng thể toàn vùng đã khiến chất lượng dịch vụ kém đồng bộ, manh mún làm giảm sức hấp dẫn của sản phẩm và thương hiệu du lịch, lãng phí tài nguyên.
Sự tham gia của các doanh nghiệp trong các hoạt động liên kết còn mờ nhạt, chủ
yếu ở một số công ty lữ hành.
Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế trên là do các hoạt động liên kết trong vùng
còn thiếu “nhạc trưởng” để điều phối, kết nối du lịch các tỉnh trong Vùng.
Kinh nghiệm phát triển liên kết du lịch vùng Nam Trung Bô cho thấy vai trò quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thúc đẩy các hoạt động hợp tác và xúc tiến, Phát triển liên kết là một quá trình, đòi hỏi nhiều nỗ lực của các bên. Trong khi hợp tác giữa các cơ quan quản lý di lịch tại các địa phương trong vùng có thể nhanh chóng được hình thành nhưng để hoạt động hợp tác của các cơ quan quản lý này lan tỏa dẫn tới hiệu quả thực chất trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đòi hỏi có nhiều sáng kiến, nỗ lực và đầu tư của các bên.
2.4.2.2. Kinh nghiệm của vùng Tây Bắc Khu vực Tây Bắc của Việt Nam là một khu vực chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế xã hội, quốc phòng và an ninh chiếm một phần ba diện tích của đất nước với hơn 10 triệu dân. Tây Bắc được thiên nhiên ban tặng vẻ đẹp hùng vĩ, địa hình độc đáo, khí hậu, địa chất, cảnh quan, hệ sinh thái có giá trị và các địa điểm du lịch. Tây Bắc có những cảnh quan tuyệt đẹp như cao nguyên đá Đồng Văn, Mù Cang Chải, đỉnh Phansipan, đèo Ma Pi Leng, đèo Pha Din, hồ Pa Khoang, hồ sông Đà, thác Thác Bà, Na Hang, Núi Cốc, thác Bản Giốc , Hang Pac Po, hang Nguom Ngam, v.v ... Vùng này là nơi có các công viên quốc gia có giá trị như Hoàng Liên, Ba Bể, Xuân Sơn, Pu Mat ... và các suối nước nóng như Kim Bôi, Thanh Thủy, Mỹ Lâm, Uva ... Với khí hậu ôn đới như ở Sapa, Mộc Châu, Mậu Sơn, Sin Ho. Tất cả đều có nền văn hóa đầy màu sắc và ẩm thực độc đáo. Tây Bắc cũng gắn liền với các giá trị của sự nghiệp và quốc phòng xây dựng quốc gia như di tích đền Hùng, những bãi đá cổ Sa Sa, Tân Mẫn, Điện Biên Phủ, Chiến khu Tân Bàn, An toàn Dinh Hòa, Bắc Mê , Vân vân.
Mục tiêu của phát triển du lịch Tây Bắc là trở thành một khu du lịch tiêu biểu, một điểm đến nổi tiếng với những trải nghiệm độc đáo, văn hóa và sinh thái. Thu hút
51
nguồn vốn từ khách du lịch để đóng góp quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế xã hội của toàn khu vực. Đến năm 2020, Tây Bắc sẽ đón 2,3 triệu khách quốc tế, 14 triệu khách nội địa, với 1.900 cơ sở lưu trú và 40.000 phòng lưu trú; tổng doanh thu du lịch dự kiến đạt 22.000 tỷ đồng [215].
Đối với Tây Bắc, liên kết du lịch là một xu hướng tốt, được nhiều địa phương tham gia tích cực để phát triển du lịch, một số mô hình liên kết đã cho thấy kết quả ban đầu. Việc thúc đẩy liên kết hợp tác sẽ tạo điều kiện cho phát triển du lịch Tây Bắc cả về chiều sâu và chiều rộng, dựa trên việc thúc đẩy tiềm năng và thế mạnh của từng địa phương. Chẳng hạn, mô hình liên kết giữa 3 tỉnh Lào Cai - Yên Bái - Phú Thơ trong chương trình du lịch đến cội nguồn. Theo Ban tổ chức, từ khi sản phẩm ra đời du lịch đến gốc rễ, các khía cạnh kinh tế, xã hội và văn hóa của ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Phú Thơ đã thay đổi rất nhiều. Trước đây, khách du lịch không thể tìm thấy khách sạn hạng sang ở Nghĩa Lộ (Yên Bái) hay Sapa (Lào Cai), giờ đây, nhiều khách sạn hạng sang đã mọc lên. Bên cạnh đó, các sản phẩm du lịch tiêu biểu được phát triển nhờ sự kết nối của các tour du lịch, tuyến đường, địa điểm du lịch, chẳng hạn như Nguồn Nguồn của tổ tiên đất, Đá Ngọc của đất nước Yên Yến, Đọ, nguồn gốc của vùng Tây Bắc đã thu hút du khách. Du khách có thể tìm hiểu về phong tục, truyền thống, lễ hội, thưởng thức các đặc sản dân tộc độc đáo và khám phá các hang động ở vùng cao nguyên Tây Bắc.
Chương trình lần thứ 6 của Di sản trên khắp miền Bắc Việt Nam Di sản 2014, là một sự kiện quy mô lớn của khu vực với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch nhằm quảng bá và giới thiệu tiềm năng về đất đai, con người, văn hóa và du lịch trong sáu cuộc chiến tranh các tỉnh chiến đấu ở miền Bắc Việt Nam nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Trên cơ sở đó, nhằm tăng cường mối quan hệ trao đổi và hợp tác giữa các tỉnh, đồng thời họ đang thu hút các nhà đầu tư liên kết và khai thác tiềm năng phát triển du lịch để thu hút ngày càng nhiều khách du lịch đến Việt Bắc.
Năm 2008, một mô hình liên kết giữa 8 tỉnh Tây Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình, Phú Thơ, Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên) được hình thành để phát triển du lịch. Dự án được đặt tên là Tây Bắc Road Road, xây dựng các tour du lịch qua các ngôi làng nghèo nhất nước nhằm mục đích giảm nghèo cho người dân sử dụng du lịch. Mô hình liên kết phát triển du lịch tại 8 tỉnh Tây Bắc diễn ra trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội với nhiều bước phát triển mới: suy thoái kinh tế, lạm phát lan rộng ra hầu hết các nền kinh tế và hoạt động du lịch. Đối mặt với những biến động này, 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng hợp tác và liên kết chặt chẽ; thực hiện nhất quán mục tiêu chung theo kế hoạch đã đề ra. Với sự đồng ý và hướng dẫn chặt chẽ của lãnh đạo tám tỉnh Tây Bắc mở rộng và sự hỗ trợ của cộng đồng doanh nghiệp du lịch, các chỉ số ngành du lịch tiếp tục phát triển và đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Số lượng khách du lịch đến các tỉnh trong khu vực đã tăng đáng kể qua các năm, chất lượng tour du lịch đã tạo ra những bước đột phá ở mỗi địa phương.
Nhiều khu du lịch sinh thái trong khu vực cũng khẳng định thương hiệu, được nhiều khách du lịch đánh giá cao về chất lượng dịch vụ, như Topas Ecolodge (Lào Cai); Khu du lịch làng Vũ Linh ở hồ Thác Bà (Yên Bái); Panhouse (Hà Giang), Uva (Điện Biên). Các cơ sở lưu trú tại các điểm du lịch tại 8 tỉnh cũng đã tăng về số lượng và chất lượng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách du lịch. Đặc biệt, chương trình hợp tác của 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng đã cung cấp các sản phẩm du lịch độc đáo, mới và
52
tiêu biểu với các chương trình du lịch hấp dẫn như: khám phá bốn lối đi tuyệt vời ở phía Tây Bắc; Đường Tây Bắc; Mùa hoa Tây Bắc nở; Chương trình du lịch vòng cung Tây Bắc đã được thiết kế và đưa vào hoạt động với nhiều hình thức đa dạng và hấp dẫn. Phối hợp với các công ty du lịch uy tín như Vietravel, Vietran Tour, Hanoi Redtours, Saigontourist, v.v ... Điều này giúp khách du lịch tận hưởng một cuộc sống đầy đủ, yên bình và nguyên sơ. Các tỉnh trong khu vực đã và đang tạo ra các thương hiệu cho tên của các ngọn núi phía bắc như bốn đỉnh núi đá đẹp nhất của Việt Nam, Ô Quý Hồ - đèo đầu tiên, Pha Din - đèo núi huyền thoại. Những biệt danh này được tạo ra để phát triển mạnh mẽ du lịch dựa vào cộng đồng, một đặc sản bền vững của cộng đồng du lịch của khu vực. Mỗi tỉnh cũng được biết đến với tính năng độc đáo: Điểm thu hút của Điện Biên là một lịch sử lâu dài, Hà Giang là du lịch cộng đồng gắn liền với vùng nông thôn mới; Lào Cai là du lịch sinh thái và văn hóa, và Sơn La là cao nguyên Mộc Châu. Các tỉnh trong khu vực đã và đang tạo ra các thương hiệu cho tên của các ngọn núi phía bắc như bốn đỉnh núi đá đẹp nhất của Việt Nam, Ô Quý Hồ - đèo đầu tiên, Pha Din - đèo núi huyền thoại. Những biệt danh này được tạo ra để phát triển mạnh mẽ du lịch dựa vào cộng đồng, một đặc sản bền vững của cộng đồng du lịch của khu vực. Mỗi tỉnh cũng được biết đến với tính năng độc đáo: Điểm thu hút của Điện Biên là một lịch sử lâu dài, Hà Giang là du lịch cộng đồng gắn liền với vùng nông thôn mới; Lào Cai là du lịch sinh thái và văn hóa, và Sơn La là cao nguyên Mộc Châu (3). cuộc sống bình yên, và nguyên sơ. Các tỉnh trong khu vực đã và đang tạo ra các thương hiệu cho tên của các ngọn núi phía bắc như bốn đỉnh núi đá đẹp nhất của Việt Nam, Ô Quý Hồ - đèo đầu tiên, Pha Din - đèo núi huyền thoại. Những biệt danh này được tạo ra để phát triển mạnh mẽ du lịch dựa vào cộng đồng, một đặc sản bền vững của cộng đồng du lịch của khu vực. Mỗi tỉnh cũng được biết đến với tính năng độc đáo: Điểm thu hút của Điện Biên là một lịch sử lâu dài, Hà Giang là du lịch cộng đồng gắn liền với vùng nông thôn mới; Lào Cai là du lịch sinh thái và văn hóa, và Sơn La là cao nguyên Mộc Châu (3). Pha Din - đèo núi huyền thoại. Những biệt danh này được tạo ra để phát triển mạnh mẽ du lịch dựa vào cộng đồng, một đặc sản bền vững của cộng đồng du lịch của khu vực. Mỗi tỉnh cũng được biết đến với tính năng độc đáo: Điểm thu hút của Điện Biên là một lịch sử lâu dài, Hà Giang là du lịch cộng đồng gắn liền với vùng nông thôn mới; Lào Cai là du lịch sinh thái và văn hóa, và Sơn La là cao nguyên Mộc Châu. Những biệt danh này được tạo ra để phát triển mạnh mẽ du lịch dựa vào cộng đồng, một đặc sản bền vững của cộng đồng du lịch của khu vực. Mỗi tỉnh cũng được biết đến với tính năng độc đáo: Điểm thu hút của Điện Biên là một lịch sử lâu dài, Hà Giang là du lịch cộng đồng gắn liền với vùng nông thôn mới;
Liên kết phát triển du lịch ở khu vực Tây Bắc gần như hoàn toàn dưới hình thức trao đổi kinh nghiệm. Nó đã không thể huy động các nguồn lực và khuyến khích các sáng kiến đầu tư. Những thành tựu đạt được là không tương xứng với tiềm năng và lợi thế của khu vực. Những lợi thế độc đáo của khu vực chưa được phát huy, cụ thể là du lịch dựa vào cộng đồng gắn liền với văn hóa dân tộc và các điểm du lịch cụ thể, như du lịch nghỉ dưỡng và y tế, du lịch cộng đồng gắn liền với các di tích lịch sử, v.v. Mặt khác, các hoạt động hợp tác trong liên kết phát triển du lịch ở khu vực Tây Bắc vẫn thiếu lời khuyên của các chuyên gia. Các doanh nghiệp du lịch lớn đã quy định lại từ việc bắt tay với các cơ quan quản lý nhà nước trong phát triển du lịch và dịch vụ. Các sản phẩm du lịch không được coi là phong phú và mang bản sắc của các dân tộc Tây
53
Bắc. Cơ chế hợp tác giữa 8 tỉnh chưa thể hiện rõ trách nhiệm ràng buộc giữa các tỉnh trong việc tham gia các hoạt động chung dẫn đến kết quả thực hiện thấp. Ngoài ra, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch ở các vùng tiếp giáp giữa các tỉnh đã bị bỏ qua, ảnh hưởng đến sự liên kết của các tuyến du lịch trong khu vực. 2.4.3. Bài học rút ra cho các tỉnh Bắc Trung Bộ Nghiên cứu phát triển liên kết vùng du lịch tại một số nước trên thế giới và tại các vùng tại Việt Nam cho thấy nhiều kinh nghiệm cụ thể, có thể nghiên cứu áp dụng trong việc tăng cường liên kết phát triển du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ.
Thứ nhất, liên kết phát triển du lịch theo vùng và liên vùng là một yêu cầu cần
thiết cho phát triển du lịch.
Quá trình phát triển du lịch tại các quốc gia theo đặc tính lan tỏa từ những trung tâm du lịch lớn, trải rộng ra các địa phương khác. Xu hướng phát triển du lịch trên phạm vi toàn quốc theo chiều hướng phát triển du lịch từ những trung tâm có giá trị du lịch độc đáo, mở rộng ra các khu vực lân cận. Thực tế phát triển du lịch ở Thái Lan, Malayxia, Trung Quốc đã cho thấy, liên kết trong phát triển du lịch là một yêu cầu tất yếu do đặc điểm phát triển du lịch, nhu cầu của khách du lịch, yêu cầu phát triển các sản phẩm du lịch. Liên kết trong phát triển du lịch cũng là một công cụ hữu hiệu cho phát triển du lịch. Trong các hoạt động liên kết này, các cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng.
Liên kết vùng du lịch tuy là một yêu cầu khách quan trong phát triển các sản phẩm du lịch nhưng lại là một hoạt động khó khăn trong quản lý du lịch. Những khó khăn này có thể đến từ chính đặc điểm của ngành du lịch cũng như tới từ những hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi vùng. Các sản phẩm du lịch thường đa dạng, trải trên một phạm vi địa lý rộng, liên quan tới nhiều ngành, nhiều bên. Quá trình phát triển năng động của du lịch càng làm trầm trọng thêm những khó khăn trong việc liên kết trong phát triển du lịch. Cùng với quá trình phát triển du lịch, nhu cầu liên kết vùng trong phát triển du lịch ngày càng trở nên rõ ràng. Tại các nước như Thái Lan, Trung Quốc, trong những giai đoạn đầu phát triển du lịch liên kết vùng du lịch chưa được đặt ra mang tính cấp bách. Tuy vậy khi ngành du lịch càng phát triển, hệ thống du lịch, sản phẩm du lịch càng lớn, những đòi hỏi về tính thống nhất và hiệu quả của phát triển và quản lý du lịch dẫn tới những đòi hỏi lớn hơn trong việc phát triển liên kết vùng du lịch. Nếu không được giải quyết, đây sẽ trở thành những nút thắt trong phát triển du lịch.
Thứ hai, liên kết vùng phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế - xã hội, hình
thành chuỗi liên kết vùng và liên vùng.
Phát triển du lịch gắn với tài nguyên du lịch, bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên,xã hội và văn hóa. Bên cạnh đó, các điều kiện về KT-XH tác động trực tiếp tới các yếu tố về cơ sở hạ tầng, dân trí, trình độ kinh doanh, mức độ dịch vụ .v., chi phối trực tiếp tới hoạt động phát triển du lịch của địa phương. Phát triển du lịch tại mỗi địa phương, mỗi vùng cần xác định rõ tầm nhìn dài hạn, không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện tại cho phát triển du lịch mà cần hướng tới yêu cầu phát triển bền vững.
Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy quá trình phát triển liên kết vùng du lịch không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là quá trình “vừa học hỏi, vừa thử nghiệm”. Những thất bại trong phát triển du lịch các tỉnh một cách độc lập là cơ sở cho những định hướng tăng cường liên kết vùng trong phát triển du lịch. Với sự tham gia của nhiều bên, nhiều thành phần, nhiều địa phương, liên kết vùng du lịch luôn gặp phải
54
nhiều khó khăn, thách thức. Những nỗ lực, định hướng chính sách và đầu tư của chính phủ đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy liên kết vùng du lịch.
Kinh nghiệm Malayxia cho thấy, chiến lược phát triển du lịch đã được triển khai từng bước thông qua các kế hoạch 5 năm phát triển KT-XH và gắn liên kết du lịch với sự phát triển KT-XH trên phạm vi quốc gia cũng như ở từng địa phương. Trong từng kế hoạch phát triển KT-XH, việc liên kết phát triển du lịch ở Malayxia luôn được đi liền với phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp và các ngành dịch vụ hỗ trợ du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng; phát triển du lịch đi đôi với bảo tồn các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường. Liên kết vùng du lịch cần có những hạt nhân phát triển du lịch của vùng. Điều này vừa tạo ra điểm nhấn, xây dựng hình ảnh, tạo động lực phát triển du lịch trong vùng, vừa là cơ sở để tạo tính lan tỏa rộng rãi hoạt động du lịch sang các địa phương, lĩnh vực khác. Kinh nghiệm của Thái Lan trong việc tập trung đầu tư vào một số khu du lịch trọng điểm và từng bước hình thành chuỗi liên kết vùng và liên vùng là bài học quý đối với liên phát triển du lịch ở nước ta nói chung và vùng Bắc Trung Bộ.nói riêng.
Thứ ba, cần có những định hướng và chiến lược rõ ràng cho phát triển liên kết vùng du lịch, tập trung ưu tiên đầu tư phát triển một số trung tâm du lịch vùng để lan tỏa sang các vùng khác.
Một yêu cầu quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển liên kết du lịch vùng chính là chính sách của nhà nước. Chính sách của nhà nước tác động ở nhiều cấp độ và góc độ khác nhau. Các chính sách của nhà nước trung ương, nhất là các chính sách liên quan tới du lịch mang tính định hướng, mở ra nhận thức và nền tảng xây dựng chính sách phát triển liên kết trong vùng du lịch. Trong khi đó các chính sách của các địa phương là cơ sở trực tiếp để có những chiến lược và huy động, liên kết các nguồn lực trong phát triển du lịch. Các chính sách không chỉ trong phạm vi ngành du lịch, mà còn liên quan tới chính sách phát triển KT-XH khác. Định hướng phát triển liên kết du lịch vùng không chỉ được xác định trong du lịch mà cần được đặt trong khuôn khổ phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Vì vậy, cần có những định hướng phát triển chung, tích hợp của cả vùng trong phát triển du lịch. Định hướng phát triển chung vừa là mục tiêu vừa là kết quả của hoạt động liên kết trong phát triển du lịch.
Liên kết vùng trong phát triển du lịch có thể được đặt ra mục tiêu mang tính chiến lược trong chính sách phát triển du lịch của quốc gia hay mỗi vùng. Tùy theo quy mô và điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia, liên kết vùng du lịch có thể trở thành những “nút thắt” cần tháo gỡ để phát triển du lịch. Nhà nước cần có những đánh giá cụ thể về điều này. Kinh nghiệm của nhà nước phát triển du lịch trước và khá tương đồng với Việt Nam (như Thái Lan) cho thấy yêu cầu không thể thiếu của liên kết vùng trong điều kiện quy mô du lịch lớn, với điều kiện hợp tác quốc tế trong phát triển du lịch ngày càng mớ rộng. Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm từ Thái Lan để có những bước đi sớm hơn, hiệu quả hơn trong hoạt động liên kết vùng trong phát triển du lịch.
Trong điều kiện nguồn lực hạn hẹp, không thể và không có điều kiện để đồng tời phát triển du lịch ở tất cả các địa phương, các điểm du lịch. Vì vậy, cần tập trung đầu tư vào một số điểm, hình thành các cực tăng trưởng để lan tỏa sang các địa phương khác. Quá trình liên kết phát triển du lịch của Thái Lan, Malayxia đã cho thấy rõ kinh nghiệm này.
55
Thứ tư, xây dựng thể chế quản trị và hình thành tổ chức điều phối liên kết vùng
là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy liên kết du lịch vùng.
Tổ chức điều phối các hoạt động liên kết có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết vùng du lịch. Các hoạt động liên kết trên phạm vi vùng khá đa dạng, cần có sự quản lý tập trung của một cơ quan để có thể huy động và điều phối tốt nhất các nguồn lực phát triển du lịch. Việc hình thành một cơ quan quản lý các hoạt động liên kết vùng du lịch chịu tác động của nhiều hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, đòi hỏi những mô hình phù hợp với hoàn cảnh của từng vùng.
Cơ cấu hành chính của mỗi quốc gia có ảnh hưởng tới nhu cầu phát triển liên kết vùng du lịch. Nói cách khác, yếu tố hành chính có thể xem là một rào cản đối với liên kết phát triển vùng du lịch. Các nước có cơ cấu hành chính theo tỉnh (như Trung Quốc, Thái Lan) gặp nhiều khó khăn trong liên kết vùng du lịch, gắn kết giữa các thực thể với nhau trong quá trình xây dưng chiến lược, gắn kết các mục tiêu, chương trình hoạt động và ngân quỹ. Bài học của Trung Quốc cho thấy, việc hình thành cơ quan chỉ đạo liên kết du lịch cấp vùng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để thực thi liên kết. Cơ quan này cần được phân cấp, đủ quyền lực về chính trị để có thể điều phối được các hoạt động liên kết du lịch giữa các đia phương và các chủ thể tham gia liên kết.
Kinh nghiệm tổ chức các hoạt động liên kết du lịch ở vùng Nam Trung Bộ và vùng Tây Bắc cũng đã thấy rõ vai trò của tổ chức điều phối liên kết vùng. Như đã nêu ở trên, nguyên nhân chủ yếu của hạn chế liên kết du lịch ở vùng Nam Trung Bộ là do các hoạt động liên kết còn thiếu một “nhạc trưởng” để điều phối và kết nối các hoạt động liên kết. Mặt khác, những kết quả đã đạt được trong liên kết du lịch ở các tỉnh vùng Tây Bắc lại cho thấy vai trò quan trọng của Ban chỉ đạo Tây Bắc và Hiệp hội du lịch cấp vùng trong việc kết nối các địa phương và doanh nghệp nội vùng và liên vùng đối với các hoạt động du lịch.
Thứ năm, liên kết phát triển sản phẩm du lịch là một trong những nội dung trọng
tâm của liên kết phát triển du lịch.
Du lịch là một ngành kinh tế sang tạo cao, đòi hỏi thường xuyên đổi mới và phát triển. Liên kết vùng luôn đặt trong trạng thái động, linh hoạt, yêu cầu có những hoạt động đổi mới và sang tạo. Một trong những mục tiêu cơ bản liên kết vùng du lịch và phát triển hệ thống sản phẩm, xúc tiến, quảng bá sản phẩm cũng như phối hợp các hoạt động quản lý du lịch chung trong vùng. Các hoạt động này đòi hỏi những sang kiến phát triển du lịch mạnh mẽ không chỉ tạo ra những sản phẩm đặc trưng của vùng mà còn tạo ra hệ thống đa dạng các sản phẩm khác biệt của các địa phương trong vùng.
Kinh nghiệm phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng Bắc Thái Lan và từng địa phương trong vừng dựa trên lợi thế về tài nguyên du lịch, đã tạo nên sự đa dạng và khác biệt với các vùng khác, biến vùng Bắc Thái Lan từ vùng miền núi nghèo nàn trở thành một trung tâm du lịch khá nổi tiếng là bài học cần nghiên cứu và áp dụng đối với vùng Tây Bắc. Việc liên kết phát triển các sản phẩm du lịch đặc trưng ở vùng Nam Trung bộ và vùng Tây Bắc là một trong những nhân tố chủ yếu tạo ra sự phát triển vượt bậc của du lịch ở các vùng này trong những năm gần đây.
Thứ sáu, thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân là yêu cầu quan trọng để có
hiệu quả trong liên kết vùng du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch, nói cho cùng vẫn là công việc của các doanh nghiệp. Lôi cuốn sự tham gia của các doanh nghiệp trong các hoạt động liên kết vùng
56
du lịch đóng vai trò tất yếu.Kinh nghiệm các mô hình phát triển du lịch ở Malayxia và Thái Lan đã cho thấy thành công của liên kết vùng du lịch chính là sự tham gia của khu vực tư nhân. Quá trình mở đường của các cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả thực chất, cần nhanh chóng lôi cuốn sự tham gia của các doanh nghiệp. Kinh nghiệm tại các địa phương tại Việt Nam cũng cho thấy, nếu các doanh nghiệp đủ mạnh, họ sẽ chủ động trong hoạt động này. Tại những vùng mà các doanh nghiệp có quy mô không lớn, cần chú trọng việc khuyến khích, tạo điều kiện để các doanh nghiệp từng bước tham gia, chủ động đóng góp ý kiến và quyết định các hình thức và nội dung liên kết.
Liên kết vùng du lịch cần có những đầu tư mang tính liên kết địa phương trong vùng. Các dự án đầu tư này trước hết là từ Nhà nước, tập trung vào các vấn đề cơ bản trong phát triển cơ sở hạ tầng như đường giao thông. Cũng cần thiết có những dự án mang tính hỗ trợ phát triển du lịch chung trong vùng, tạo ra những sợi dây liên kết du lịch ban đầu, làm tiền đề để hình thành mối quan hệ liên kết vùng du lịch, từ đó huy động sự tham gia của khu vực tư nhân.
Thứ bảy, cần chú trọng cách tiếp cận bao trùm lợi ích, cam kết và đại diện của
các bên trong các hoạt động liên kết du lịch.
Liên kết vùng du lịch đòi hỏi cách tiếp cận bao trùm lợi ích các bên. Việc cam kết và thực hiện các cam kết của các bên cũng đóng vai trò rất quan trọng. Đây là một hạn chế ở nhiều địa phương tại Việt Nam. Tính cam kết của các bên, cơ quan quản lý Nhà nước cho tới các doanh nghiệp cần thiết phải được đẩy mạnh. Cần tạo ra những cơ chế cho việc xây dựng, kiểm tra việc thực hiện các cam kết này. Các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, ban điều phối, với sự tham gia của đại diện các bên là mô hình quan trọng trong việc điều hành hoạt động liên kết vùng du lịch.
Mặt khác, liên kết vùng du lịch cần được tiếp cận ở cả góc độ chính sách, quản lý cũng như hoạt động kinh doanh, bao trùm hoạt động của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tại các địa phương trong vùng, cách tiếp cận bao trùm, hướng tới hiệu quả phát triển du lịch cần được đặt ra trong quá trình thực hiện liên kết vùng du lịch. Liên kết vùng du lịch không chỉ là liên kết về chính sách mà cả hoạt động đầu tư, không chỉ với sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước mà cả khu vực tư nhân, không chỉ là định hướng mà cả những chương trình cụ thể như định vị, xây dựng thương hiệu, mạng lưới sản phẩm.v.v.
57
Chương 3
THỰC TRẠNG LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH VÙNG BẮC TRUNG BỘ
3.1. Tiềm năng và lợi thế của du lịch vùng Bắc Trung Bộ
3.1.1. Vị trí địa lý Trong tổ chức lãnh thổ phát triển du lịch Việt Nam, theo định hướng chiến lược mới được phê duyệt, vùng Bắc Trung Bộ là vùng tiếp giáp với các vùng trung du miền núi Bắc Bộ, vùng đồng Bằng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc và vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Vùng Bắc Trung Bộ có diện tích 51.524,6km2, dân số thống kê năm 2019 là 10.189,6 nghìn người, vùng Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
Đây là vùng có vị trí địa lý đặc biệt, có lãnh thổ kéo dài, địa hình phức tạp, nằm gọn trên dải đất hẹp nhất của Việt Nam, là cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam, với nước bạn Lào, Campuchia, có nhiều vũng nước sâu và cửa sông có thể hình thành cảng lớn nhỏ phục vụ việc giao lưu trao đổi hàng hóa giữa các tỉnh trong vùng, với các vùng trong nước và quốc tế. Đây là vùng mà tất cả các tỉnh đều giáp biển, là lợi thế mà không phải vùng nào cũng có được. 3.1.2. Tài nguyên du lịch Bắc Trung Bộ là vùng tài nguyên du lịch vô cùng đa dạng, phong phú với dải bờ biển dài khoảng 670 km, thiên nhiên hoang sơ và giàu những nét văn hóa đặc sắc. Bắc Trung Bộ nổi tiếng với các bãi biển đẹp như: Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Nhật Lệ (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Thuận An, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)...; các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia: Bến En (Thanh Hóa), Pù Mát (Nghệ An), Vũ Quang, Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh), Phong Nha – Kẻ Bàng, Sơn Đoòng (Quảng Bình), Bạch Mã (Thừa Thiên – Huế)... Với tiềm năng sinh thái rừng và biển phong phú, đa dạng, các tỉnh Bắc Trung Bộ có điều kiện lý tưởng để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và thể thao mạo hiểm.
Trong tổng số 28 di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận tính đến năm 2020 thì đã có 7 di sản thuộc vùng Bắc Trung Bộ: Quần thể di tích cố đô Huế; Vườn Quốc giá Phong Nha – Kẻ Bàng; Nhã nhạc cung đình Huế; Mộc bản triều Nguyễn; Thành nhà Hồ (Thanh Hóa); Ví dặm Nghệ Tĩnh; Châu bản Triều Nguyễn. Hệ thống các di sản thế giới này tạo nên sự khác biệt nổi trội của Bắc Trung Bộ so với các vùng khác trong cả nước. Nơi đây còn có các lễ hội độc đáo như: Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa); lễ hội đền Cuông (Nghệ An); lễ hội điện Hòn Chén (Thừa Thiên – Huế); Festival Huế,... Bắc Trung Bộ còn là nơi cư trú của 25 dân tộc khác nhau với kho tàng văn hóa dân gian phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là các điệu hò sông nước đặc trưng như: Hò sông Mã (Thanh Hóa), hò ví dặm (Nghệ Tĩnh), hò khoan (Quảng Bình), hò mái nhì (Quảng Trị) và hò Huế.
Ngoài ra, ở đây còn có rất nhiều di tích gắn với lịch sử chiến tranh: Thành cổ Quảng Trị, nghĩa trang Trường Sơn, địa đạo Vĩnh Mốc, Khe Xanh, cầu Hiền Lương... Khu vực tập trung nhiều di tích nhất và cũng là nơi chứa đựng nhiều lớp nghĩa nhất là cố đô Huế. Trong kho tàng di sản văn hóa của đất nước, trải qua bao biến động thăng trầm của thời gian, có thể thấy Huế là nơi duy nhất còn bảo tồn được tổng thể kiến trúc của một kinh đô nước Việt. Huế hiện nay được coi là một kho tàng sử liệu đồ sộ, một
58
di sản văn hóa độc đáo với đầy đủ hệ thống thành quách, cung điện, đền miếu, lăng tẩm, chùa chiền...
Bên cạnh đó, Bắc Trung Bộ còn được biết đến là một vùng đất giàu giá trị văn hóa truyền thống với những làn điệu ca mua nhạc vừa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, vừa lại giàu sắc thái riêng như hò sông Mã, hát sẩm xoan (Thanh Hóa); hát ví dặm, hát phường vải (Nghệ An); ca trù Cổ Đam, hò chèo cạn Nhượng Ban (Hà Tĩnh); hò khoan Quảng Bình, hò bài chòi, ca trù (Quảng Bình),.. đặc biệt là nhã nhạc cung đình Huế - đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thế của nhân loại.
Những thế mạnh về tài nguyên du lịch là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch của vùng Bắc Trung Bộ. Mục tiêu phát triển du lịch của Bắc Trung Bộ đến năm 2030 là thu hút 14 triệu lượt khách quốc tế, 17 triệu lượt khách nội địa, tổng thu từ du lịch đạt 3,6 tỷ USD; phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong vùng, là trọng điểm phát triển du lịch của cả nước.
3.1.3. Cơ sở hạ tầng Vùng Bắc Trung Bộ có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường hàng khong tương đối phát triển, kết nối toàn bộ 6 tỉnh thuộc vùng là ba tuyến quan trọng trên trục giao thông Bắc – Nam là đường quốc lộ 1A, đường sắt Bắc – Nam và đường Hồ Chí Minh. Ngoài ra, vùng cũng có nhiều sân bay, trong đó quan trọng nhất là sân bay Phú Bài (Thừa Thiên – Huế), Vinh và Đồng Hới. Nhìn chung, so với cả nước, các tuyến giao thông đường bộ của vùng Bắc Trung Bộ tương đối thuận lợi, thường xuyên được bảo trì, nâng cấp nên có chất lượng tốt. Tuy nhiên, do tác động của thiên tai, bão lũ nên giao thông còn gặp nhiều khó khăn vào mùa mưa bão.
Bắc Trung Bộ có tuyến hành lang kinh tế Động – Tây (EWEC) đi qua 4 nước Myanmar – Thái Lan – Lào – Việt Nam đang phát triển mạnh, là nhân tố động lwucj để phát triển kinh tế khu vực. Đây là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi để có thể đẩy mạnh hợp tác với các nước bạn trong phát triển du lịch qua các cửa khẩu đường bộ. Toàn vùng cũng đang dần hình thành một tuyến đường du lịch chạy dọc ven biển, tuy nhiên vẫn còn khó khăn ở một số địa phương và khó khăn trong việc khớp nối toàn bộ tuyến đường để tạo thành một trục đường quan trọng chạy song song với quốc lộ 1A. Sự hình thành con đường này sẽ tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt trong việc phát triển du lịch toàn vùng.
3.1.4. Vị trí Vùng du lịch Bắc Trung Bộ trong chiến lược phát triển du lịch của
cả nước và quốc tế
Nằm ở dải đất miền trung Việt Nam, nơi giao lưu của hai nền văn minh Đông Sơn và Sa Huỳnh, nơi còn nhiều dấu di tích lịch sử, di tích cách mạng và cũng là nơi có dải ven biển sạch đẹp nổi tiếng từ Nhật Lệ (Quảng Bình), Lăng Cô (Huế) đến đô thị cổ Hội An, hứa hẹn sự phát triển du lịch mạnh mẽ của vùng. Đặc biệt, đây cũng là vùng đất văn hóa quan trọng của Việt Nam, là nơi có 4 di sản được UNESCO công nhận là di sản thế giới: Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Thánh địa Mỹ Sơn.
Trong những năm qua, ngành Du lịch dịch vụ đã đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của vùng, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều địa phương thuộc Vùng du lịch Bắc Trung Bộ theo xu hướng tăng tỷ trọng du lịch - dịch vụ. Điều đó thể hiện sự khởi sắc của nền kinh tế dựa vào các lợi thế so sánh. Từ năm 2018 doanh thu của ngành du lịch đạt 34.125 tỷ đồng. Tỷ lệ đóng góp của du lịch
59
- dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của các địa phương năm 2018 từ 24,4% đến 34,2% (tính cả du lịch và các ngành dịch vụ khác)
TT
CÁC NGÀNH
1. 2. 3.
Phương hướng phát triển kinh tế xã hội của nhiều địa phương vùng du lịch Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã xác định rõ vai trò quan trọng có tính quyết định của du lịch – dịch vụ thông qua mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phương. Hầu hết các địa phương trong vùng đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng: Công nghiệp - Du lịch, dịch vụ - Nông nghiệp và đã xác định hướng đưa ngành du lịch, dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn hoặc ngành kinh tế mạnh. Như vậy: Du lịch dịch vụ sẽ đóng vai trò quyết định trong nền kinh tế của các địa phương.
Nông lâm, thủy sản Công nghiệp - Xây dựng Du lịch - dịch vụ TỔNG SỐ
Năm 2014 5,16 37,80 48,58 100,0
Năm 2011 6,82 34,80 49,77 100,0
Bảng 3.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ thời kỳ 2011 - 2018 (ĐVT: %) Năm 2018 4,31 38,60 48,47 100,0
(Nguồn: Tổng Cục Thống kê và tổng hợp của tác giả) [62]
Biểu đồ 3.1. So sánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011 - 2018
Đối với khu vực Đông Nam Á và thế giới, các địa phương Vùng du lịch Bắc Trung bộ (VDLBTB) có vai trò quan trọng về “địa – chính trị” và “địa - kinh tế”, cửa ngõ hướng ra biển Đông của khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương. Chính vì vậy, để thúc đẩy sự phát triển của khu vực này và ngày 9 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1114/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung đến năm 2020. Quy hoạch xây dựng mục tiêu cho từng tiểu vùng: Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định); tiểu vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị); và tiểu vùng Nam Trung Bộ (Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận); khu vực miền núi phía Tây của các tỉnh, thành phố trong Vùng. Việc phát triển các Khu kinh tế được gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương.
60
Vị trí chiến lược của các địa phương trong VDLBTB càng được khẳng định khi tuyến "hành lang kinh tế Đông Tây" (EWEC) được thành lập và triển khai. Đây là tuyến giao thông dài 1450 km đi qua bốn nước. Bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine đến cử khẩu Myawaddy (Myanma), đi qua bảy tỉnh của Thái Lan tới Lào và cuối cùng đến Việt Nam (chạy từ cửa khẩu Lao Bảo qua các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế tới cảng Đà Nẵng). Tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây đã được hoàn thành cuối năm 2006 đã đem lại cơ hội cho các quốc gia trên tuyến đường đẩy mạnh hợp tác khu vực và nâng cao mức sống cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và buôn bán qua biên giới, đa dạng hóa hoạt dộng kinh tế và xuất khẩu, thúc đẩy phát triển du lịch.
Trong lĩnh vực du lịch, việc phát triển du lịch tại Vùng du lịch Bắc Trung Bộ sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch liên vùng, liên quốc gia. Kết hợp với du lịch vùng miền Trung Lào và Đông Bắc Thái Lan tạo thành điểm nhấn du lịch của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Theo Tổng cục Du lịch Việt Nam từ tháng 12/2006, khi chính thức thông tuyến EWEC, du lịch đường bộ xuyên các nước đã khởi sắc. Du khách đến Việt Nam từ Lào, Campuchia, Thái Lan vào các tỉnh miền Trung tăng nhanh qua các năm.
Với việc đầu tư tập trung đầu tư các dự án trọng điểm vào các địa phương Bắc Trung Bộ như: trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ; cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, giao thông xuyên Việt, xuyên á. Đặc biệt, với việc hình thành các khu kinh tế mở như: Chu Lai, Dung Quất, Chân Mây … kéo theo sự hình thành các khu đô thị Công nghiệp – Thương mại - Dịch vụ du lịch; Nó đem lại một nguồn sinh lực mới cho khu kinh tế trọng điểm miền Trung và tạo ra các tiền đề quan trọng cho sự phát triển ngày càng hoàn chỉnh của khu vực này.
Để khai thác tối đa lợi thế của miền Trung, Tổng cục du lịch (TCDL) đã xác định các tuyến du lịch trọng điểm gồm: Con đường Di sản thế giới, Con đường xanh Tây Nguyên, Con đường huyền thoại - đường mòn Hồ Chí Minh; Tuyến hành lang Đông - Tây...
Cùng với việc đầu tư phát triển các dự án trọng điểm về du lịch và việc mở rộng các đường bay thẳng từ sân bay Quốc tế Đà Nẵng đến các nước trên thế giới sẽ tạo điều kiện cho việc thu hút du khách đến vùng. Nhiều chuyên gia du lịch và tập đoàn FujiKen (Nhật Bản) nhận định: "Việc phát triển Bắc Trung Bộ sẽ tạo điều kiện nối kết với hai trung tâm du lịch lớn là Hà Nội và TP. HCM, đặc biệt sẽ tạo sự nối kết mạnh với du lịch Lào và Đông Bắc Thái Lan". Điều này sẽ góp phần tạo nên điểm đến hấp dẫn ở khu vực Đông nam Á và Châu Á Thái Bình Dương và nếu “Định hướng đúng và làm tốt có thể tạo nên “ cực du lịch” hấp dẫn ở khu vực và có sức thu hút mạnh đối với du khách trên thế giới”.
Tóm lại: Vùng du lịch Bắc Trung Bộ là một vùng đất không chỉ có cảnh quan đẹp do thiên nhiên ưu đãi mà còn có lịch sử, xã hội, văn hóa biến động phức tạp. Là nơi hội nhập các luồng văn hóa tư tưởng khác nhau với sự pha tạp các dân tộc khác nhau. Chính sự pha trộn đó làm cho các địa phương trung vùng trở thành nét đặc thù về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam. Với lợi thế so sánh của mình, việc phát triển hoạt động du lịch tại vùng thực sự có vai trò quan trọng nó không chỉ đóng góp vào sự phát triển du lịch của cả nước mà còn thúc đẩy sự phát triển du lịch ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương.
3.1.5. Thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ * Thị trường khách du lịch Số lượng khác du lịch đến khu vực Bắc Trung Bộ ngày một tăng. Bảng 3.2 dưới đây thể hiện số lượng khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ trong giai đoạn từ 2011 – 2018.
61
Bảng 3.2. Lượng khách du lịch đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ
(ĐVT: lượt khách)
Năm 2011 Năm 2015 Năm 2018 TT Địa phương
Nội địa Quốc tế Tổng cộng Nội địa Quốc tế Tổng cộng Nội địa Quốc tế Tổng cộng
Thanh Hóa 3 322 000 43 000 3 365 000 5 403 000 127 000 5 530 000 8 020 000 230 000 8 250 000 1
Nghệ An 2 642 048 98 285 2 740 333 3 485 542 64 450 3 549 992 5 942 000 128 000 6 070 000 2
Hà Tĩnh 709 531 721 380 1 500 000 22 950 1 522 950 3 675 000 25 000 3 700 000 11 849 3
4 Quảng Bình 936 440 961 420 994 060 47 330 1 041 390 3 700 000 200 000 3 900 000 24 980
Quảng Trị 909 000 157 000 1 066 000 1 453 000 197 000 1 650 000 1 647 000 168 000 1 815 000 5
Thừa Thiên 1 247 955 806 415 2 054 370 2 103 480 1 023 015 3 126 495 2 300 000 1 950 000 4 250 000 6 - Huế
Cộng cả vùng 9 766 974 1 141 529 10 908 503 14 939 082 1 481 745 16 420 827 25 284 000 2 701 000 27 985 000
(Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm - Sở VHTT & DL các tỉnh)[62]
58
Năm 2011 cả vùng Bắc Trung Bộ đón được 10.908.503 lượt khách du lịch, năm 2018 lượng khách đến các tỉnh này đã là 27.985.000 lượt khách, tăng 156,54%. Trong đó, lượng khách nội địa năm 2018 tăng so với năm 2011 là 158,87%; lượng khách quốc tế năm 2018 tăng so với năm 2011 là 136,61%. Trong 6 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, tỉnh Quảng Bình có lượng khách du lịch nội địa và quốc tế tăng nhanh nhất cả về số tuyệt đối và số tương đối.
Biểu đồ 3.2. So sánh lượng khách du lịch nội địa đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách)
Biểu đồ 3.3. So sánh lượng khách du lịch quốc tế đến các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm (ĐVT: lượt khách)
Khách du lịch quốc tế đến vùng Bắc Trung Bộ phân bố không đều theo lãnh thổ. Phần lớn khách đến Huế vì nơi đây tập trung các tài nguyên du lich, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối tốt. Thị trường khách du lịch quốc tế đến vùng du lịch Bắc Trung Bộ cũng đang có sự chuyển dịch. Nếu như trước đây, khách
59
du lịch chính đến vùng là khách từ các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, thì ngày nay chủ yếu là khách du lịch đến từ các nước Tây Âu như Pháp, Đức; các nước Bắc Mỹ; các nước châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản và các nước ASEAN. Mục đích chuyến đi của khách du lịch quốc tế đến vùng Bắc Trung Bộ cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là du lịch thuần túy, khách du lịch có mục đích thương mại và các mục đích khác là không đánh kể. Hiện nay, vùng Bắc Trung Bộ mỗi năm đón khoảng hơn 2 triệu lượt khách quốc tế (năm 2018 đón 2.701.000 lượt khách quốc tế).
Khách du lịch nội địa đến vùng Bắc Trung Bộ trong thời gian qua cũng tăng đáng kể. Mục đích của khách nội địa cũng rất đa dạng, nhưng chủ yếu là tham quan di tích lịch sử như các di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế, động Phong Nha, quê hương chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp,.. Ngoài ra, khách du lịch nội địa còn có mục đích lễ hội – tín ngưỡng, tắm biển, tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch công vụ.
Bảng 3.3. Doanh thu từ du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ
(ĐVT: tỷ đông)
Năm So sánh
Tỉnh 2011 2014 2015 2018 2015/2011 2018/2011
Tổng cộng 21 720 12 889 6 563 10 993 5 140 19 442 76 747 472,38 738,19 2187,89 1114,01 171,67 100,81 355,15 Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế Cộng 2 245 1 004 256 403 946 4 910 9 763 230,73 237,30 156,25 803,48 137,42 96,73 176,64 3 690 2 093 306 2 871 1 270 4 833 15 062 10 605 7 410 5 601 4 485 1 624 4 950 34 675
5 180 2 382 400 3 235 1 300 4 750 17 246 (Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm - Sở VHTT & DL các tỉnh) [62] Nhìn chung, doanh thu du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ có tốc độ tăng hết sức nhanh trong hơn một thập kỷ qua. Bảng 3.3 cho thấy con số này đã vươn lên từ mức rất thấp 9.763 tỷ đồng năm 2011 lên tới hơn 34 675 tỷ đồng năm 2018, đạt tốc độ tăng 55,15% của năm 2018 so với năm 2011. Tuy vậy, mức chi tiêu bình quân hàng ngày của mỗi du khách còn khá thấp, mới đạt mức 330 nghìn đồng năm 2012 và 417 nghìn đồng năm 2018.. Nếu tính cả trượt giá thì dường như mức chi tiêu hàng ngày trên đầu du khách hầu như không tăng trong hơn mười năm qua. Thực tế này cho thấy thành tích doanh thu do phát triển du lịch biển, đảo mới thành công ở việc tăng số lượng khách. Các sản phẩm, dịch vụ du lịch chưa thực sự có sự chuyển biến lớn về độ hấp dẫn cũng như độ đa dạng để khuyến khích du khách chi trả thêm.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch của vùng nhìn chung còn kém phát triển, chưa thực sự thuận lợi cho khách tiếp cận các khu/điểm du lịch và đảm bảo vệ
60
sinh, môi trường cho hoạt động du lịch. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch trong khu vực phát triển khá nhanh so với quy mô cả nước. Quy mô của các cơ sở lưu trú ở khu vực cao hơn mặt bằng chung của cả nước, với tỷ trọng số buồng ngủ cao hơn tỷ trọng cơ sỏ lưu trú cho thấy khu vực có cơ sở vật chất có khả năng đón và phục vụ khách du lịch cao cấp. Qua nghiên cứu cho thấy, tốc độ tăng số lượng buồng lưu trú du lịch qua các năm tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ là khá cao. Tính chung cả vùng số lượng buồng lưu trú du lịch năm 2018 tăng hơn so với năm 2011 là 84,55%, trong đó tỉnh Thanh Hóa có tốc độ tăng cao nhất với 126,91% và tiếp đến là tỉnh Quảng Bình với tốc độ tăng 100,72%. Năm 2011, toàn vùng có 38.995 buồng có thể cho thuê lưu trú, và đến năm 2018 số lượng buồng có thể cho thuế lưu trú du lịch đã là 71.966 buồng. Hiện nay, vùng Bắc Trung Bộ đã có hơn 500 cơ sở lưu trú được Tổng Cục Du lịch xếp hàng từ 1 sao đến 5 sao.
Bảng 3.4. Số lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh
trong vùng Bắc Trung Bộ
(ĐVT: buồng)
TT Địa phương Năm 2015 Năm 2017
3310 4377 1820 4800 5100 2450
1 Thanh Hóa 2 Nghệ An 3 Hà Tĩnh 4 Quảng Bình 5 Quảng Trị 6 Huế
Tổng cả vùng Năm Năm Năm 2011 2018 2016 11150 12200 13100 18100 25300 11348 13522 13813 18138 20951 5081 3500 2552 5610 4617 2795 1580 2711 1930 9570 10710 11252 12256 12313 38995 45939 48212 60844 71966 109,42 119,16 129,70 156,60 115,19 111,91 117,81
So sánh 2015/2011 2018/2011 226,91 184,62 199,10 200,72 171,58 128,66 184,55 (Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm - Sở VHTT & DL các tỉnh) [62]
Biểu đồ 3.4. So sánh lượng buồng lưu trú du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung
61
Bộ qua các năm (ĐVT: buồng)
Bên cạnh đó, các cơ sở vui chơi, giải trí và các dịch vụ bổ sung còn ít và thiếu thốn. Ở các tỉnh, thành phố trong vùng chưa có những khu vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu cho khách du lịch cũng như người dân địa phương. Điều này đã làm hạn chế thời gian lưu trú của khác cũng như hiệu quả kinh doanh du lịch. Khách du lịch đến vùng Bắc Trung Bộ, ngoài tắm biển, tham quan còn nhiều thời gian nhàn rỗi nhưng khó có thể tìm thấy điểm vui chơi, giải trí. Các cơ sở hạ tầng du lịch ở khu vực mặc dù đã được nhà nước hỗ trợ nhưng còn thấp so với nhu cầu phát triển du lịch (những địa phương được đầu tư nhiều nhất cũng chỉ đáp ứng khoảng 30 – 40% nhu cầu đầu tư) và đặc biệt là còn manh mún, dàn trải, chưa có được những dự án đầu tư lớn. Đồng thời, giá cả của các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác ở trong vùng tương đối thấp so với các nơi khác.
* Nguồn nhân lực du lịch
Năm 2011 số lao động trực tiếp trong ngành du lịch tại vùng là 52.522 người, đến năm 2018 số lao trực tiếp trong ngành du lịch tại vùng là 72.093 người, tốc độ tăng năm 2018 so với năm 2011 là 37,26%. Lao động trong ngành du lịch đông nhất là ở tỉnh Quảng Trị, tiếp đến là Thanh Hóa và Huế, các tỉnh còn lại có số lao động trong ngành du lịch tương đương nhau và chiếm khoảng 7 – 8% của toàn vùng. Trong tổng số lao động trong ngành du lịch của vùng có khoảng 19% có trình độ đại học và trên đại học. Hiện nay cả vùng có 25 cơ sở có các chương trình đào tạo du lịch ở các trình độ khác nhau. Tuy nhiên chí có trường Cao đẳng Du lịch Huế, Trung cấp du lịch miền Trung là đào tạo chuyên sâu. Bảng 3.5. Số lượng lao động du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ
TT Năm 2015 Năm 2017 (ĐVT: người) So sánh 2015/2011 2018/2011
7492 3522 3200 6372 2987 2473
Địa phương 1 Thanh Hóa 2 Nghệ An 3 Hà Tĩnh 4 Quảng Bình 5 Quảng Trị 6 Huế
Năm Năm Năm 2011 2018 2016 12900 14300 15000 16460 18500 7492 7076 6352 3766 3365 2791 4100 3050 2179 18700 23800 25000 25055 25235 9600 10800 11200 12500 13000 52522 60732 64691 68229 72093 110,85 100,31 107,02 113,49 127,27 112,50 115,63 Tổng cả vùng
143,41 117,95 134,93 188,16 134,95 135,42 137,26 (Nguồn: Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm - Sở VHTT & DL các tỉnh) [62] (ĐVT: người)
62
Biểu đồ 3.5. So sánh lao động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ qua các năm
* Các sản phẩm du lịch
Phát huy thế mạnh về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, Bắc Trung
Du lịch nghỉ dưỡng biển: Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Nhật Lệ, Lăng Cô,... Du lịch tham quan tiềm hiểu di sản: cố đô Huế, Thành nhà Hồ, ... Du lịch sinh thái, khám phá hang động: Phong Nha – Kẻ Bàng, Sơn
Du lịch tìm hiểu lịch sử - cách mạng, du lịch về nguồn: Kim Liên (Nghệ
Ngoài ra, vùng còn có nhiều mô hình liên kết du lịch như: hành trình kinh
Bộ phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau như: Đoòng,.. An), nghĩa trang Trường Sơn, thành cổ Quảng Trị, ... đô Việt Cổ; Con đường di sản miền Trung; Một ngày ăn cơm ba nước,... Tuy nhiên, chất lượng sản phẩm, dịch vụ còn thấp, không đồng đều, thiếu tính liên kết. Sản phẩm du lịch cũng chưa đặc sắc và sức cạnh tranh còn hạn chế. Các sản phẩm được xây dựng vẫn chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên sẵn có của địa phương, chưa được nghiên cứu xây dựng dựa trên thế mạnh đặc thù về tiềm năng tài nguyên theo nhu cầu cụ thể của từng thị trường. Hơn nữa, việc liên kết, hợp tác giữa các địa phương còn nhiều hạn chế, từ đó dẫn đến tình trạng trùng lặp về sản phẩm du lịch làm hạn chế sức hấp dẫn và cạnh tranh chung về du lịch của cả khu vực. 3.2. Thực trạng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ 3.2.1. Liên kết tuyên truyền quảng bá và xúc tiến du lịch
Các tỉnh hợp tác hình thành cơ chế chính sách chung nhằm khuyến khích phát triển sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng của từng địa phương, nâng cấp dịch vụ du lịch, xúc tiến du lịch, khuyến khích đầu tư phát triển du lịch, xây dựng quy chế quản lý các hoạt động du lịch phù hợp với thực tiễn của địa phương; tạo điều kiện cho các hãng lữ hành khảo sát mở rộng thị trường du lịch; tăng cường
63
hợp tác đầu tư các dự án về du lịch liên vùng hướng tới phát triển du lịch bền vững và xóa đói giảm nghèo. Các tỉnh Bắc Trung Bộ đã hình thành tổ chức bộ máy phối hợp chung gồm Ban chỉ đạo (lãnh đạo cấp tỉnh), Tổ thường trực (Lãnh đạo cấp Sở) và Tổ giúp việc (lãnh đạo và cán bộ cấp phòng thuộc Sở VH, TT& DL hoặc một số tỉnh là Sở Du lịch) và cơ chế họp 1 – 1 – 2 (BCĐ du lịch họp 1 kỳ/năm; Tổ thường trực họp 1 kỳ/năm, Tổ giúp việc họp 2 kỳ/năm). Cơ chế điều hành: Ban chỉ đạo hoạt động theo cơ chế trưởng ban điều hành luân phiên nhằm tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động hợp tác trong năm và xây dựng kế hoạch cho năm tiếp theo, có sự tham gia của Tổng Cục Du lịch. Để thúc đẩy các hoạt động liên kết phát triển du lịch, các tổ công tác phát triển du lịch tại từng tỉnh cũng đã được thành lập: tổ công tác phát triển sản phẩm du lịch; tổ công tác marketing; tổ công tác phát triển nguồn nhân lực. Công tác xúc tiến thành lập hiệp hội du lịch tại các địa phương cũng đã được triển khai thực hiện. Chính vì vậy, trong những năm qua, các địa phương đã chủ động phối hợp tham gia tổ chức gian hàng chung tại Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam - VITM Hà Nội 2017. Gian hàng chung 4 tỉnh Bắc Trung Bộ với chủ đề: "Bốn địa phương một điểm đến" (Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình) được Hiệp hội du lịch Việt Nam tặng gian hàng quy mô và ấn tượng. Tham gia Hội chợ du lịch quốc tế ITE Hồ Chí Minh 2017 (có 03 tình tham gia: Nghệ Anm Thanh Hóa và Quảng Bình). Bốn tỉnh tham gia giới thiệu các sự kiện văn hóa, du lịch tại các Website, Facebook, trên Bản tin Du lịch (Mục Liên kết hợp tác phát triển Du lịch bốn tinhr Bắc Trung Bộ) như: kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quảng bá dân ca Xứ Nghệ; giới thiệu khu lưu niệm Nguyễn Du, biển Thiên Cầm - Hà Tĩnh, quảng bá Lễ hội 110 năm Du lịch Sầm Sơn, du lịch Cửa Lò 2017 với chủ đề "Cửa Lò hội tụ và Tỏa sáng", giới thiệu loại hình di sản phi vật thể hát Chầu Văn, quảng bá quần thể hang động Quảng Bình, biển Nhật Lệ, tham gia Hội thảo khoa học "Giải pháp phát triển du lịch Hà Tĩnh"... Các tỉnh cũng đã phối hợp chặt chẽ triển khai quảng bá, hỗ trợ phát động thị trường, thu hút khách du lịch từ các thị trường quốc tế đến 6 địa phương. Trong đó, Quảng Bình đã phối hợp rất tốt với Sở Du lịch/ Sở VH,TT&DL, Hiệp hội Du lịch các tỉnh trong việc phát động thị trường khách du lịch Thái Lan và các quốc gia thứu 3 thông qua Thái Lan đến các Tỉnh Bắc trung Bộ bằng đường hàng không trên chuyến bay quốc tế Đồng Hới - Chiang Mai. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch, 06 tỉnh đã tích cực phối hợp đón các đoàn theo Chương trình khảo sát nhằm kích cầu du lịch nội địa cho các hãng lữ hành, báo chí từ các tỉnh phía Bắc và phía Nam tới các tỉnh miền Bắc Trung Bộ: các địa phương đã tích cực phối hợp tổ chức đón tiếp và làm việc với các đoàn Famtrip do Sở Du lịch Hà Nội, Câu lạc bộ Lữ hành UNESCO, các doanh nghiệp lữ hành, cơ quan truyền thông đến khảo sát, đưa tin tuyên truyền, kết nối các điểm đến dọc tuyến duyên hải, tuyến đường mòn Hồ Chí Minh từ Thanh Hóa đến Quảng Bình để giới thiệu cho khách du lịch.
64
Kịp thời phối hợp với các cơ quan báo chí truyền thông tuyên truyền, cung cấp thông tin về mức độ an toàn nước biển, hải sản biển sau sự cố môi trường tại các tỉnh miền Trung. Trong năm 2017, Trung tâm Thông tin xúc tiến Du lịch/ Trung tâm xúc tiến Đầu tư Thương mại và Du lịch các tỉnh đã tổ chức chương trình tham quan chéo học tập kinh nghiệm và ký kết chương trình hợp tác về xúc tiến, quảng bá.
Công tác xúc tiến du lịch được 06 tỉnh quan tâm phối hợp thực hiện, tiêu biểu như: "Đã tham gia Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam VITM 2018 tại Hà Nội với chủ đề "Bốn địa phương một điểm đến" (từ ngày 28/03 đến 1/4/2018); tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế ITE tại TP. Hồ Chí Minh ( từ ngày 6/9 đến 8/9/2018); tổ chức thành công chương trình Roadshow giới thiệu du lịch các tỉnh Bắc Miền Trung tại Viêng Chăn - Lào và Udonthani vùng Đông Bắc Thái Lan (từ ngày 20-24/5/2018)... Việc tham gia gian hàng chung đã tạo được hiệu ứng tích cực trong việc quảng bá hình ảnh du lịch chung của 6 tỉnh trong vùng, tạo cơ hội kêu gọi đầu tư, giúp các doanh nghiệp 06 tỉnh liên kết, tìm kiếm các đối tác, giới thiệu và chào bán các sản phẩm, dịch vụ du lịch.
Hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch tiếp tục được chú trọng thông qua việc xây dựng đường link liên kết các trang website của Sở du lịch; Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch để hỗ trợ tuyên truyền, quảng bá các sự kiện tiêu biểu của các địa phương như: Lễ hội du lịch biển Sầm Sơn; Lễ hội Bà Triệu; Lễ hội Lam Kinh (Thanh Hóa); Lễ hội biển Cửa Lò, hưởng ứng phát động 3 cuộc thi: Ảnh, video clip, sáng tác slogan quảng bá du lịch (Nghệ An); Lễ hội biển Cửa Sót (Lộc Hà), Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Đồng Lộc (Hà Tĩnh ); sản xuất bản đồ chung du lịch các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ; đăng tin trên các ấn phẩm, bản tin chuyên ngành...
Mặc dù còn những hạn chế nhất định, nhưng các chương trình liên kết đã bước đầu kết nối không gian (lãnh thổ) du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Chẳng hạn, chương trình liên kết quan những miền di sản Bắc Trung Bộ. Các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ như phối hợp xây dựng cơ chế chính sách, phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực đã được triển khai. Các liên kết ở cấp độ doanh nghiệp được xác lập và bước đầu phát huy hiệu quả. Có thể nhận thấy, sự kết nối không gian về du lịch đã bắt đầu được hình thành, tạo tiền đề cho sự liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
Kết quả công tác quảng bá, xúc tiến cho thấy hình thức và cách thức tuyên truyền quảng bá du lịch của các tỉnh khá phong phú cả về nội dung và hình thức, có tác động tích cực tới việc nâng cao thương hiệu du lịch đặc sắc của vùng Bắc Trung Bộ, tạo ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách trong nước và quốc tế về tiềm năng du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
65
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát về việc nâng cao thương hiệu du lịch của các chương trình liên kết du lịch ở Bắc Trung Bộ
Đồng ý Không đồng ý Tổng số Không có ý kiến gì Hoàn toàn đồng ý Hoàn toàn không đồng ý
35 216 133 386 2 0
0 6 12 18 0 0
0 20 25 45 0 0
10 21 35 67 1 0
0 25 6 163 14 47 20 236 0 1 0 0
0,52 9,07 55,96 34,46 100,00 0
- 33,33 66,67 100,00 - 0
- 44,44 55,56 100,00 - 0
0 1,49 14,93 31,34 52,24 100,00
Tổng số người được điều tra (người) Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch Cơ cấu theo mức độ đồng ý (%) Tổng số người được điều tra (%) Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch 0 0,00 - 0,42 - 10,59 30,00 69,07 70,00 19,92 100,00 100,00
(Nguồn: Tổng hợp theo kết quả điều tra, khảo sát, 2018) Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người được hỏi (90,42%) cho rằng chương rình liên kết du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ đã có tác dụng nâng cao thương hiệu du lịch ở Băc Trung Bộ. Nhiều tour, tuyến du lịch liên kết được hình thành và đưa vào khai thác có hiệu quả. Nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng được xây dựng nhờ việc kết nối các tour, tuyến, điểm du lịch. Các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đã có nhiều chương trình hợp tác liên kết xây dựng nhiều sản phẩm du lịch đặc thù trở thành một trong những tuyến du lịch thu hút khá đông khác quốc tế. Chất lượng du lịch cộng đồng được cải thiện đáng kể. Sự phát triển của các chương
66
trình liên kết du lịch và các tour, tuyến du lịch liên tỉnh đã tạo điều kiện từng bước hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch. Xu hướng đầu tư vào phân khúc cao cấp với sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ đã hình thành. Sự liên kết giữa các tỉnh ở vùng Bắc Trung Bộ với các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra sức hút đầu tư lớn. Các tỉnh Bắc Trung Bộ đã thu hút được nhiều sự án đầu tư khu du lịch, khu nghỉ dưỡng, cơ sỏ lưu trú cao cấp, trong đố nhiều dự án xây dựng khách sạn đạt chuẩn từ 3 – 4 sao, góp phần thay đổi diện mạo một số khu du lịch và từng bước đáp ứng yêu cầu về chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch.
3.2.2. Liên kết phát triển sản phẩm du lịch Các tỉnh cam kết phối hợp tổ chức các sự kiện du lịch trong khu vực, phát
triển sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của mỗi địa phương. Trên cơ sở Báo cáo kinh tế kỹ thuật của dự án EU và phát triển sản phẩm du lịch Bắc miền Trung, các địa phương đã chủ động làm việc với Hiệp hội Du lịch, triển khai, chia sẻ Báo cáo đến các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh để khuyến khích, hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng sản phẩm đặc trưng chung của vùng theo hai chủ đề: "Con đường di sản miền Trung", "Con đường sinh thái, văn hóa tâm linh Bắc miền Trung gắn với du lịch có trách nhiệm và bền vững". Sở du lịch Nghệ An đã chủ động phối hợp với 3 tỉnh triển khai quảng bá, giới thiệu các sản phẩm mới: Khu du lịch sinh thái Mường Thanh Safari Diễn Lâm, Tổ hợp khách sạn, khu vui chơi giải trí, biệt thự nghỉ dưỡng Vinpearl Cửa Hội, du lịch cộng đồng tại xã Yên Khê (Con Cuông), du lịch đảo chè xã Thanh An (Thanh Chương)... Sở du lịch tỉnh Quảng Bình đã chủ trì phối hợp với Sở Du lịch/Sở VH,TT&DL, Hiệp hội Du lịch các tỉnh thực hiện nhiều chuyến khảo sát, xây dựng sản phẩm chung cho khách du lịch quốc tế qua đường bay quốc tế Đồng Hới - Chiang Mai cũng như đường bộ qua cửa khẩu quốc tế Cha Lo. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Tĩnh đã tổ chức Hội Thảo khoa học "Giải pháp phát triển du lịch Hà Tĩnh" với sự tham gia của các đại biểu, chuyên gia du lịch đến từ 6 tỉnh Bắc Trung Bộ. Qua đó, đã giới thiệu được một số điểm đến du lịch tiềm năng như: Khu du lịch sinh thái Hải thượng Lãn Ông, khu du lịch nước sổ Sơn Kim, Khu du lịch Quỳnh Viên Lê Khôi, các điểm đến về nguồn,...góp phần bổ sung khắc phục tính mùa vụ, tăng khả năng thu hút khách du lịch đến với Hà Tĩnh nói riêng và khu vực Bắc Trung Bộ nói chung.
Nhằm liên kết, khai thác, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ, năm 2018, các Sở Du lịch/Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch đã chủ động tổ chức đón, làm việc và ký kết hợp tác với đoàn Famtrip trong và ngoài nước, tiêu biểu như: Đón đoàn Famtrip thành phố Hồ Chí Minh; đoàn Famtrip các doanh nghiệp lữ hành Bắc - Trung - Nam (Hà Tĩnh); phối hợp đón đoàn Famtrip các tỉnh Đông Bắc Thái Lan khảo sát các điểm du lịch Quảng Bình - Hà Tĩnh - Nghệ An - Thanh Hóa; tham dự các sự kiện do Thanh Hóa chủ trì gồm: tổ chức buổi tọa đàm Kết nối du lịch Thanh Hóa với du lịch các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan; khảo sát
67
tour du lịch tại Thanh Hóa qua đường Hồ Chí Minh; Hội nghị chuyên đề về xây dựng thương hiệu sản phẩm du lịch chung 4 tỉnh Bắc miền Trung. Phối hợp với Hiệp hội Du lịch trong việc triển khai các nội dung ký kết hợp tác, khai thác sản phẩm du lịch, đồng thời hướng dẫn cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch xây dựng các sản phẩm đặc trưng của 04 tỉnh Bắc miền Trung. Thông qua các chương trình khảo sát, tọa đàm, kết nối...các doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước đã đánh giá cao khả năng kết nối, hợp tác du lịch của các tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình. Từ đó, hướng tới tăng cường khả năng thu hút và đáp ứng dịch vụ tại các khu, điểm du lịch, đồng thời làm phong phú thêm các sản phẩm du lịch tại các địa phương, thu hút ngày càng nhiều khách du lịch, nhất là khách quốc tế đến 06 tỉnh Bắc Trung Bộ.
Các chương trình liên kết đã bước đầu giới thiệu được các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ và từng nhóm địa phương cũng như sản phẩm đặc thù của từng địa phương.
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát về việc giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng vùng Tây Bắc của các chương trình liên kết du lịch
Đồng ý Không đồng ý Tổng số Không có ý kiến gì Hoàn toàn đồng ý Hoàn toàn không đồng ý
0 2 48 250 86 386 Tổng số người được điều tra (người)
0 0 0 6 12 18
0 1 9 22 13 45
0 0 11 26 30 67
0 0 0 1 8 20 11 185 1 30 20 236
0,00 0,52 12,44 64,77 22,28 100,00
0,00 0,00 0,00 33,33 66,67 100,00 Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch Cơ cấu theo mức độ đồng ý (%) Tổng số người được điều tra (%) Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch
68
0,00 2,22 20,00 48,89 28,89 100,00
0,00 0,00 16,42 38,81 44,78 100,00
Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch 0,00 0,00 0,00 0,42 40,00 8,47 55,00 78,39 5,00 12,71 100,00 100,00
(Nguồn: Tổng hợp theo kết quả điều tra, khảo sát, 2018) Kết quả khảo sát cho thấy, với tổng số phiếu khảo sát là 386 phiếu trả lời, bao gồm cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ ở các khu du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các nhà khoa học và khách du lịch về kết quả của chương trình liên kết đối với sản phẩm du lịch đặc trưng vùng Bắc Trung Bộ được thể hiện ở bảng 3.7. Kết quả cho thấy có đến 87,05% số người được hỏi đồng ý cho rằng các chương trình liên kết du lịch ở vùng Bắc Trung Bộ đã có tác dụng giới thiệu được các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng. 3.2.3. Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực du lịch và chất lượng nguồn nhân lực du lịch là nhân tố hết sức quan trọng trong phát triển du lịch. Tuy nhiên, qua kết quả thống kê của vùng cho thấy, tỷ lệ lao động có trình độ văn hóa chưa tốt nghiệp phổ thông trung học là khá cao, chiếm khoảng 19,95% trong tổng số lao động phục vụ ngành du lịch. Hầu hết lực lượng lao động trong ngành du lịch của vùng được chuyển công tác từ các bộ phận và chuyên ngành khác nhau đến làm du lịch vì thế kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn về du lịch chủ yếu được tiếp thu qua các lớp tập huấn ngắn ngày, qua học tập kinh nghiệm… , nên hiện nay số lao động trong chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch, quản lý và kinh doanh hiệu quả chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng du lịch sẵn có. Trong thời gian qua, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước được quan tâm đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, tuy nhiên, với nhiều lĩnh vực liên quan thì năng lực của đội ngũ còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể: kỹ năng giao tiếp, đàm phán; kiến thức quản lý, lãnh đạo, ngoại ngữ, tin học… và cả về năng lực chuyên sâu: hoạch định chính sách; quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; thống kê du lịch; quản trị du lịch; nghiên cứu thị trường; marketing, xúc tiến, quảng bá du lịch; quản lý phát triển các loại hình du lịch .v.v., còn có những hạn chế.
* Về quy mô Bắc Trung Bộ là vùng có quy mô nhân lực lớn, dân số chủ yếu tập trung tại vùng nông thôn. Năm 2018, dân số toàn vùng là 10.513.694 người, trong đó dân số nông thôn chiếm đến 82,9%. Dân cư thưa thớt, mật độ thấp hơn so với các khu vực (121 người/km2). Cơ cấu dân số trẻ, số người thuộc nhóm dưới 15 tuổi là 3.082.271 (26,84%). Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2018 chiếm có 62,2% dân số (nam 15-60 tuổi, nữ 15-55 tuổi).
Những năm gần đây, quy mô nhân lực vùng Bắc Trung Bộ có xu hướng gia
69
tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong cơ cấu lực lượng lao động cả nước. Năm 2018, 6 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Huế có 2.749,1 nghìn lao động, chiếm 5,16% lao động cả nước. Mặc dù tỷ trọng lao động của vùng so với cả nước là nhỏ, song đã có sự gia tăng qua các năm từ 2010 đến nay. Đáng lưu ý là, tỷ trọng này cao hơn mức trung bình cả nước.
Quy mô tuyển sinh của các cơ sở dạy nghề trong vùng đã tăng lên: Tổng tuyển sinh dạy nghề giai đoạn 2013-2018 là 415.884 người (tăng 11% so với giai đoạn 2010-2012) và tỷ lệ việc làm sau đào tạo, đạt 77,6% (thấp hơn bình quân chung cả nước 0,2%, tăng 3,3% so với giai đoạn 2010-2012). Dạy nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2013-2018 được 268.835 người (tăng 30,7% so với giai đoạn 2010 - 2012); trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số (chiếm 62%), thuộc hộ nghèo và cận nghèo (chiếm 19%), học xong chủ yếu tự tạo việc làm (chiếm 87%), một số ít được doanh nghiệp tuyển dụng hoặc thành lập các tổ, nhóm sản xuất nhỏ (chiếm 13%). Công tác tuyển sinh, đào tạo nghề tại các tỉnh vùng trung du, miền núi Bắc Trung Bộ tập trung chủ yếu đào tạo nghề trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên (chiếm 89,3%), đào tạo nghề trình độ cao đẳng và trung cấp chiếm tỷ lệ thấp (cao đẳng chiếm 2,2% và trung cấp chiếm 8,5%).
* Về chất lượng Chất lượng nhân lực là một sự tổng hoà của nhiều chỉ số thành phần, có thể đại diện bằng các chỉ tiêu như: tỷ lệ mù chữ, tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung học cơ sở, đại học, cao đẳng, trường nghề trên quy mô dân số... Trong những năm gần đây, đối với vùng Bắc Trung Bộ, các chỉ tiêu này có những thay đổi tích cực ban đầu, song, vẫn bộc lộ rõ những khoảng cách lớn so với các vùng khác trong toàn quốc.
Lực lượng lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo của vùng Bắc Trung Bộ thấp hơn so với mức trung bình cả nước và không đồng đều giữa các tỉnh. Ngoài Nghệ An, Quảng Bình có sự gia tăng đáng kể lực lượng lao động đã qua đào tạo, các tỉnh còn lại gồm Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị tỷ lệ lao động đã qua đào tạo thấp hơn rõ rệt.
Nguồn nhân lực mỏng và ít được đào tạo. Năm 2018, mỗi tỉnh có khoảng 300- 700 nghìn lao động trên địa bàn. Với diện tích lớn và giàu tiềm năng kinh tế, nguồn nhân lực như vậy chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.
Trình độ lao động chưa cao: năm 2018, tỷ lệ lao động 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo của Thanh Hóa là 12%, Huế là 16,2%, Hà Tĩnh là 13,7%, Quảng Trị là 11,8% (cả nước là 17,9%). Quảng Bình có tín hiệu tốt hơn là 17,9% và Nghệ An là 18,9%. Tỷ lệ này thể hiện phần nào chất lượng nhân lực vùng Bắc Trung Bộ, có ảnh hưởng quan trọng đến các chính sách, mục tiêu phát triển du lịch của vùng. Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ thấp nhất trong toàn quốc. Nếu như, tỷ lệ dân số biết chữ của cả nước là 94,8%, thì tỷ lệ này ở vùng Bắc Trung Bộ chưa đạt được mức 90%.
Thực tế giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực tại các tỉnh thuộc địa bàn
70
Bắc Trung Bộ gặp rất nhiều khó khăn; trình độ lao động lại có sự chênh lệch giữa các tỉnh và biến động khó kiểm soát.
Ở bậc học phổ thông, nhìn chung, số lượng học sinh theo học của vùng Bắc Trung Bộ có gia tăng qua các năm, song, hầu hết tập trung tại bậc tiểu học, số học sinh theo học trung học cơ sở và trung học phổ thông ít. Học sinh tiểu học chiếm hơn 50% trong số lượng học sinh của vùng. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông của các tỉnh Tây Bắc thuộc nhóm thấp nhất trong cả nước và có xu hướng giảm.
Ở các cấp học cao hơn như đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề, số lượng sinh viên theo học tại vùng Bắc Trung Bộ là rất ít và hầu hết theo học tại các trường công lập. Đây là thực trạng chung của các vùng khó khăn và có sự cách trở về địa lý như Bắc Trung Bộ. Hiện nay, vùng Bắc Trung Bộ đã có hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực nói chung và có cơ sở đào tạo nhân lực du lịch nói riêng. Những cơ sở đào tạo chính trong hệ thống bao gồm: Đại học Vinh, Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, Đại học Quảng Bình, Đại học Huế v.v.. Ngoài ra còn có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực như các Trung tâm dạy nghề, Trung tâm giáo dục thường xuyên cũng tham gia tổ chức đào tạo, bồi dưỡng. Theo thống kê, ngoài các cơ sở đào tạo nêu trên, hiện nay, toàn vùng có 404 cơ sở dạy nghề, gồm 14 trường cao đẳng nghề, 24 trường trung cấp nghề, 173 trung tâm dạy nghề và 183 cơ sở khác có nhiệm vụ dạy nghề.
Tuy nhiên tình trạng thiếu giáo viên chuyên môn về các lĩnh vực du lịch tại các cơ sở đào tạo; nội dung đào tạo chưa thống nhất ở các bậc trong ngành du lịch; cơ sở thực tập, thực hành còn hạn chế; sự thiếu hiệu quả trong liên kết đào tạo nhân lực du lịch.v.v., đã ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.
3.2.4. Liên kết xây dựng đồng bộ hạ tầng du lịch, đặc biệt là hạ tầng giao thông Hạ tầng giao thông trong khu vực được chú trọng đầu tư. Về giao thông đường bộ, các dự án lớn (dự án nâng caaos mạng lưới giao thông khu vực miền Trung – ADB5, dự án nâng cấp mở rộng đường Hồ Chí Minh, dự án cầu vượt ngã ba Huế - Đà Nẵng,…), đã được xúc tiến triển khai nhằm đẩy mạnh sự giao lưu giữa các vùng Bắc – Nam Trung Bộ với các cực phát triển của cả nước là đồng bằng sông Hồng (phía Bắc) và Đông Nam bộ (phía Nam) góp phần tạo nền tảng phát triển kinh tế xã hội, qua đó thúc đẩy hoạt động du lịch. Trong vùng, hệ thống vận tải đường bộ giữ vai trò chủ đạo, chiếm 90% thị phần vận tải, các phương thức khác chỉ đảm nhận thị phần nhỏ (hàng không 2,2% hành khách), đường sắt (4,49% hành khách). Hệ thống giao thông đường bộ về cơ bản đáp ứng yêu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách nội vùng, liên vùng và vận tải quốc tế, nhất là vận tải quá cảnh quốc tế. Hệ thống cầu trên quốc lộ 1A được cải tạo, nâng cấp, xây mới đã nâng cao đáng kể năng lực lưu thông của hệ thống giao thông đường bộ trong vùng.
Về giao thông đường thủy, hệ thống cảng biển của các tỉnh được chú trọng trong các nhăm qua đã góp phần hình thành các điểm đến của các tour du lịch quốc tế. Điển hình là cảng Chân Mây (Thừa Thiên – Huế) với khả năng đón tàu du lịch quốc tế cỡ lớn (3000 khách) cũng là lựa chọn điểm dừng chân cho các du thuyền ở
71
khu vực Đông Nam Á. Từ năm 2015 đến nay, cảng Chân Mây đã đón hàng triệu lượt khách du lịch từ Hồng Koong, Italia, Tây Ban Nha, Anh, Mỹ,… đã mở ra một hướng đi mới trong việc phát triển du llichj tàu biển.
Về giao thông hàng không, vùng Bắc Trung Bộ có 4 cảng hàng không, chiếm hơn 19% tổng số cảng hàng không của cả nước (có 21 cảng hàng không): Thọ Xuân (Thanh Hóa), Vinh (Nghệ An), Đồng Hới (Quảng Bình), cảng hàng không quốc tế Phú Bài (Huế). Các cảng hàng không này được đầu tư cơ bản hiện đại, đáp ứng được nhu cầu đi lại của khách du lịch. Một số cảng hàng không đã phục vụ khá tốt nhu cầu của khách hàng thể hiện qua công suất sử dụng cao như cảng hàng không Phú Bài (77,3%).
Bên cạnh đó, các cơ sở lưu trú được nâng cấp và mở rộng, nhiều điểm đến đã phục vụ hiệu quả nhu cầu của du khách trong và ngoài nước. Các khu đô thị, khu du lịch lớn như Kinh thành Huế (Thừa Thiên – Huế); Cửa Lò (Nghệ An), Đồng Hới (Quảng Bình); Sầm Sơn (Thanh Hóa),.. với các thương hiệu nổi tiếng như: Vingroup, Mường Thanh, FLC,..đã tạo lập các cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết du lịch giữa các địa phương trong vùng.
Đồng thời, hạ tầng đô thị được chú trọng đầu tư và đạt được kết quả bước đầu. Các đô thị hạt nhân được cấp vùng như thành phố Vinh, thành phố Huế,.. đã được xây dựng và phát triển nhằm phát huy lợi thế biển, lợi thế về du lịch. Bên cạnh đó, các đô thị vừa (thành phố, thị xã thuộc tỉnh), các đô thị nhỏ (thị trấn) và các đô thị mói cũng góp phần tạo nên những chuyển biến tích cực về kết cấu hạ tầng đô thị.
3.2.5. Liên kết huy động vốn đầu tư và xây dựng cơ chế chính sách đầu tư phát triển du lịch chung của vùng, rà soát quy hoạch phát triển du lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương
Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển du lịch vùng đến năm 2030 là 165.025 tỷ đồng (tương đương khoảng 8,05 tỷ USD). Mục tiêu này cũng đặt ra không ít thách thức đối với vùng Bắc Trung Bộ, bởi đây là vùng còn nhiều khó khăn về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nguồn lực phát triển du lịch nói riêng.
Công tác thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch của các địa phương trong vùng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, chưa tương xứng với những tiềm năng, thế mạnh về phát triển du lịch của vùng. Đặc biệt, còn thiếu các giải pháp chính sách mang tính liên kết vùng để thu hút vốn đầu tư phát triển các loại hình du lịch đặc thù, các hình thức liên kết trong du lịch... trong bối cảnh vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho phát triển du lịch của vùng còn hạn chế. Để giải quyết được vấn đề vốn cho đầu tư phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong bối cảnh toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch như hiện nay thì một trong những giải pháp quan trọng cần phải đẩy mạnh đó là xã hội hóa huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước.
Thu hút vốn đầu tư là các hoạt động của chủ thể ở các địa phương, vùng lãnh thổ (Chính phủ, chính quyền địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư địa phương hay vùng lãnh thổ), nhằm xúc tiến, kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi để các
72
nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện các dự án đầu tư (thực hiện hoạt động đầu tư vốn) hình thành vốn sản xuất trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn. Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia thành 2 nguồn (Vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài).
Nguồn vốn đầu tư trong nước gồm có: Nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn từ khu vực tư nhân. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức: Viện trợ phát triển chính thức và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
* Kênh huy động vốn từ nguồn ngân sách nhà nước NSNN là nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi vùng. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của DN đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ.
Đối với chi NSNN cho phát triển du lịch tại các địa phương vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011-2018 có một số kết quả nổi bật như: Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước thời gian qua đã tập trung cho phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch cho các Khu du lịch quốc gia trên địa bàn Vùng (cụ thể như đường giao thông kết nối di tích Thành Nhà Hồ; hệ thống đường giao thông và tu bổ di tích Khu du lịch quốc gia Nam Đàn; hệ thống đường ven biển Đô thị du lịch Cửa Lò; đường kết nối Khu du lịch quốc gia Thiên Cầm; đường vào khu du lịch Lăng Cô…). Tính đến tháng 12/2016 đã có trên 800 nghìn tỷ đồng được đầu từ trong toàn vùng Bắc Trung Bộ, các hạng mục đầu tư tập trung vào đường giao thông kết nối với các khu du lịch quốc gia, đường giao thông ven biển, đường cấp điện cho các khu du lịch… Xét theo địa phương, tỉnh Hà Tĩnh là địa phương có tổng nguồn chi từ NSNN cho phát triển du lịch lớn nhất, với 148,8 tỷ đồng, tiếp theo là Thanh Hóa với 138,4 tỷ đồng. Địa phương có số chi từ NSNN cho phát triển du lịch thấp nhất trong vùng là Quảng Bình, với 117,9 tỷ đồng.
* Kênh huy động vốn từ khu vực tư nhân Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các DN dân doanh, các hợp tác xã. Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài Nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để. Đối với nguồn đầu tư tư nhân cho phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ giai đoạn 2011-2018 cho thấy, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 9,75%/năm với tổng mức vốn đầu tư đạt 15.794 tỷ đồng. Xét theo các địa phương trong vùng cho thấy, tỉnh Nghệ An có tổng mức vốn đầu tư tư nhân cho du lịch cao nhất với 5.527 tỷ đồng, tỉnh Thừa Thiên - Huế đứng thứ 2 trong Vùng, khi đầu tư vào du lịch đạt 5.125 tỷ đồng ; tổng mức vốn đầu tư thấp nhất là tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị với tổng mức vốn đầu tư đạt trên 1 nghìn tỷ đồng.
73
Bảng 3.6. Huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ (2011 – 2018)
Năm Tỉnh
2015 1157 1257 150 162 233 612 2693 2011 193 597 133 112 91 1057 2210 2014 137 841 167 99 211 391 2255 Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh Quảng Bình Quảng Trị Thừa Thiên - Huế Tổng cộng 1602 3653 687 716 892 2942 10581
2018 Cộng 115 958 237 343 357 882 3423 (Nguồn: Tổng cục du lịch, 2019) Số liệu bảng 3.6 cho thấy, nguồn đầu tư tư nhân có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch Vùng, các tỉnh trong vùng Bắc Trung bộ đã có nhiều giải pháp, nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư tư nhân trong nước cho phát triển du lịch. Tuy nhiên, so với nguồn lực rất lớn trong dân cư thì mức thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch trong Vùng hiện nay còn hạn chế. Các địa phương trong khu vực còn thiếu những chính sách thu hút mang tính liên kết vùng nên còn thiếu vắng các đầu tư vào các dự án liên kết, khai thác các khu, điểm du lịch liên vùng.
Biểu đồ 3.6. So sánh huy động vốn từ khu vực tư nhân cho phát triển du lịch trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung Bộ
* Kênh huy động vốn từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa; là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị DN cũng như
74
phương thức kinh doanh.
Trong gian đoạn 2010-2018, vùng Bắc Trung Bộ có 27 dự án đầu tư cho du lịch, trong đó tỉnh Thừa Thiên Huế có 17 dự án, Hà Tĩnh có 7 dự án, Quảng Bình có 2 dự án và Quảng Trị có 1 dự án, Thanh Hóa và Nghệ An không thu hút được dự án đầu tư nước ngoài. Về tổng mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỉnh Thừa Thiên Huế đạt cao nhất là 271,03 triệu USD, chiếm 92% tổng số vốn đầu tư nước ngoài trong Vùng; Hà Tĩnh thu hút một số lượng dự án đầu tư vào khu du lịch biển tại các điểm du lịch Kỳ Anh, Cẩm Xuyên... các dự án này chủ yếu là của các nhà đầu tư từ Đài Loan, Trung Quốc và Hồng Kông, chủ yếu phục vụ cho chuyên gia, công nhân xây dựng Khu gang thép Formosa tại Khu công nghiệp Vũng Áng.
Từ thực tiễn trên cho thấy, Vùng Bắc Trung Bộ thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển du lịch vẫn còn hạn chế cả về số lượng và quy mô đầu tư; tỷ lệ các tỉnh thu hút hút vốn đầu tư còn thấp, không đồng đều, thậm chí nhiều tỉnh chưa thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Quy mô các dự án đầu tư nhỏ, khai thác tiềm năng hạn chế, hầu hết các dự án tập trung vào khai thác tiềm năng di sản tại TP. Huế.
3.2.6. Liên kết hợp tác nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch Vùng Bắc Trung Bộ bao gồm 06 tỉnh có nhiều điều kiện khá tương đồng về điều kiện phát triển và sản phẩm du lịch, nằm cận kề nhau trong các hành trình khác nhau của khách du lịch. Một cách tự nhiên, mối liên hệ giữa các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng, chính quyền các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ trong các hoạt động phát triển du lịch đã được hình thành. Ở mức độ đơn giản nhất, đó là việc kết nối giao thông giữa các tỉnh, trước hết là do yêu cầu dân sinh, sau đó là cho phát triển du lịch. Việc hình thành các tour du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ là chất xúc tác mang tính tự nhiên cho việc hình thành các liên hệ giữa các tỉnh, nhất là giữa các doanh nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ du lịch.
Tuy vậy, việc liên kết mang tính chủ động, đặc biệt với sự tham gia của các cơ quan quản lý Nhà nước, được hình thành một cách rõ rệt khoảng 10 năm trở lại đây. Các nhà quản lý du lịch các địa phương nhắc tới mốc đầu tiên là năm 2016, khi các sở văn hóa, thể thao và du lịch 6 tỉnh Bắc Trung Bộ họp nhau lại, thể hiện mong muốn trong việc phát triển hợp tác liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ với những định hướng hợp tác đầu tiên. Các hoạt động hợp tác của chính quyền và các cơ quan quản lý du lịch của các Tỉnh được duy trì và từng bước được mở rộng tới thời điểm này.
Tương tự như vậy, các hoạt động hợp tác, liên kết trong phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ không chỉ giới hạn trong hoạt động của các cơ quan, chính quyền. Thực tế là các hoạt động hợp tác ở cấp độ kinh doanh đã hình thành và từng bước bước triển cho tới thời điểm hiện tại. Tuy vậy, quá trình phát triển hợp tác, liên kết du lịch của vùng Bắc Trung Bộ ghi nhận vai trò thúc đẩy quan trọng của các cơ quan quản lý của các tỉnh. Hiện trạng phát triển hợp tác và liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ với 3 phạm vi là liên kết chính sách cấp vùng, liên kết doanh nghiệp cấp vùng và hợp tác nội bộ các địa phương được thể hiện tại bảng 3.7. Phân tích hiện trạng hợp tác và liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ cho thấy một số nhận định dưới đây.
75
Bảng 3.7. Hiện trạng hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Cấp liên kết Liên kết chính sách cấp vùng Liên kết doanh nghiệp cấp vùng
Nội dung Xây dựng chiến lược
- Hầu hết các địa phương đã đề cập tới yêu cầu liên kết vùng trong chiến lược phát triển du lịch của địa phương mình. Tuy vậy định hướng này chưa được cụ thể hóa. - Thiếu những chiến lược cho phát triển du lịch vùng nói chung và liên kết du lịch vùng nói riêng.
- Các doanh nghiệp trong vùng chủ yếu có quy mô nhỏ, việc xây dựng định hướng chiến lược liên kết trong khu vực chưa được đưa vào chiến lược kinh doanh các doanh nghiệp. - Bắt đầu xuất hiện xu hướng một số doanh nghiệp lữ hành tại Nghệ An, Quảng Bình, Huế mở rộng hoạt động đưa hoạt động phát triển các quan hệ hợp tác ngoài tỉnh vào chiến lược hoạt động của doanh nghiệp.
Marketing điểm đến du lịch
- Đã thực hiện một số chương trình hợp tác trong xúc tiến như cùng tham gia hội chợ, quảng bá trên trang web chung. - Tuy vậy các hoạt động dựa trên sự kiện là cơ bản, chưa có có những chương trình hoạt động dài hạn
- Có những hoạt động trao đổi thông tin, kinh nghiệm mang tính tự phát trong phát triển sản phẩm du lịch - Một số doanh nghiệp lữ hành tại Nghệ An, Quảng Bình, Huế bắt đầu phát triển các chương trình du lịch sang các địa phương lân cận, kéo theo các hoạt động quảng bá các chương trình trong vùng
Hợp tác nội bộ tại địa phương - Các hiệp hội du lịch được thành lập từ khoảng 5 năm trở lại đây, đánh dấu những bước đi đầu tiên cho việc phát triển liên kết nội bộ vùng mang tính chiến lược. - Ngoài hiệp hội du lịch Nghệ An, Quảng Bình, Huế có những hoạt động tham vấn chiến lược rõ ràng, vai trò đóng góp của hiệp hội du lịch khác còn khá mờ nhạt. - Các Trung tâm xúc tiến du lịch của các tỉnh trong khu vực từng bước mở rộng vai trò marketing du lịch và thu hút sự tham gia của doanh nghiệp - Hoạt động marketing chưa được xây dựng một cách tổng thể, có chiến lược để lôi cuốn sự tham gia có hệ thống của doanh nghiệp - Đã xuất hiện mô hình các doanh nghiệp tại Nghệ An, Quản lý nâng cao chất lượng trải - Đã thực hiện một số hoạt động chia sẻ thông tin phát triển sản - Chia sẻ thông tin về các mô hình làm du lịch, từ đó chuyển giao kiến
76
Cấp liên kết Liên kết chính sách cấp vùng Liên kết doanh nghiệp cấp vùng
Nội dung nghiệm du lịch thức về yêu cầu tiêu chuẩn du lịch.
phẩm mới trong vùng, từ đó tạo nên những giá trị khác biệt cũng như thúc đẩy tạo nên những tiêu chuẩn chung về du lịch trong vùng (như du lịch cộng đồng). - Chia sẻ kinh nghiệm và mong muốn nâng cao chất lượng dựa trên áp dụng các tiêu chuẩn ngành. - Chia sẻ thông tin quản lý trong việc phối hợp các bên tham gia trong phát triển du lịch cấp tỉnh (tham khảo các chính sách phát triển du lịch các tỉnh khác để xây dựng chính sách cho tỉnh mình).
Hợp tác nội bộ tại địa phương Quảng Bình, Huế cùng hợp tác với nhau và hợp tác với các cơ quan quản lý trong việc quản lý chất lượng du lịch, thông tin và đề xuất tư vấn giải quyết các vấn đề phát sinh trong phát triển du lịch nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Tuy vậy hoạt động này tại các địa phương khác còn mờ nhạt. - Các tỉnh tham khảo kinh nghiệm để từng bước xây dựng các định hướng phát triển và quản lý du lịch trong tỉnh nhằm thống nhất trong công tác quản lý du lịch tại tỉnh mình.
Nguồn: Phát triển của tác giả trên cơ sở phỏng vấn
77
Thứ nhất, hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ được hình thành ở mức độ ban đầu. Điều này được thể hiện ở cả ba phạm vi hợp tác. Ở phạm vi hợp tác nội bộ địa phương, các cơ chế hợp tác giữa các bên mang tính giao dịch nhiều hơn là quá trình hợp tác. Tương tự với liên kết doanh nghiệp cấp vùng. Ở cấp liên kết chính sách vùng, một số sáng kiến và kết quả hợp tác đã được ghi nhận (như tổ chức một số hoạt động xúc tiến chung, trao đổi thông tin …). Tuy vậy hợp tác chính sách cấp vùng mới dừng lại ở các hoạt động cụ thể mà chưa hình thành nên các chương trình hành động hay ở mức cao hơn là một cách tiếp cận chiến lược cho hợp tác.
Thứ hai, các hoạt động hợp tác liên kết đang chuyển từ tạo lập niềm tin sang giai đoạn xây dựng các chương trình hợp tác. Việc tạo lập niềm tin được xem là giai đoạn đầu tiên của hợp tác, từ có những định hướng hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau trong hoạt động động trước khi có những quyết định hành động chung. Quá trình hợp tác, liên kết du lịch trong khu vực Bắc Trung Bộ chuyển dần từ giai đoạn thử nghiệm, thăm dò sang giai đoạn định hướng phối hợp hành động chung. Điều này thấy rõ hơn ở liên kết chính sách cấp vùng và liên kết nội bộ tại các địa phương.
Thứ ba, hợp tác và liên kết du lịch trong vùng không thực sự cân xứng, do phát triển không đồng đều của du lịch các tỉnh trong vùng. Du lịch vùng Bắc Trung Bộ nổi bật trong vùng là du lịch tỉnh Quảng Bình - trung tâm du lịch của cả vùng. Tại Quảng Bình, lực lượng các doanh nghiệp du lịch đã được hình thành khá đông đảo. Không chỉ là các cơ sở lưu trú, cung cấp dịch vụ địa phương, sự hình thành của các doanh nghiệp lữ hành đánh dấu giai đoạn phát triển mới của điểm đến du lịch này - giai đoạn tăng trưởng (development) (Butler 2011, dẫn Butler 1980). Trong khi đó, các tỉnh khác trong vùng mới trong giai đoạn phát triển khai phá (exploration) hoặc tham gia (involvement) (Butler 2011, dẫn Butler 1980) khi ngành du lịch còn rất non trẻ.
Giai đoạn phát triển du lịch khác nhau dẫn tới năng lực phát triển của ngành du lịch khác nhau và mức độ hợp tác tại địa phương cũng như yêu cầu hợp tác trong vùng và ngoài vùng cũng khác nhau. Tại Quảng Bình, trong khi hợp tác nội bộ tại địa phương đang phát triển mạnh trong thời gian 5 năm trở lại đây, dần trở thành yêu cầu quan trọng đối với các doanh nghiệp, chính quyền và các bên tham gia thì hợp tác nội bộ địa phương tại các địa phương khác mới đang ở giai đoạn hình thành ban đầu. Một số doanh nghiệp tại Quảng Bình, nhất là các doanh nghiệp lữ hành đã từng bước mở rộng địa bàn hoạt động sang các tỉnh lân cận, dần tạo nên những mạng lưới hợp tác doanh nghiệp cấp vùng.
Thứ tư, phạm vi hợp tác chủ yếu trong cấp độ ngành du lịch (cấp sở và doanh nghiệp). Các hoạt động hợp tác đã và ngày càng nhận được sự quan tâm của cấp lãnh đạo tỉnh. Tuy vậy những quan tâm này chưa được chuyển nhiều thành những định hướng chính sách và đầu tư ở cấp Tỉnh, làm hạn chế hiệu quả và năng lực hợp tác, liên kết.
Thứ năm, các cơ quan quản lý Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình hợp tác. Các doanh nghiệp du lịch trong vùng Bắc Trung Bộ, trừ tỉnh Quảng Bình, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, mới hình thành, có phạm vi hoạt động bó hẹp
78
tại địa phương. Các hoạt động hợp tác, liên kết mới ở trạng thái bị động. Trong điều kiện đó, hợp tác liên kết du lịch trong vùng nổi lên vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch. Các cơ quan này tiên phong trong hợp tác, tạo ra nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động này, từng bước giới thiệu và thúc đẩy các mô hình hợp tác. Tuy các kết quả mới chỉ là bước đầu nhưng vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước ngày càng rõ rệt.
Thứ sáu, vai trò của các đối tác ngoài vùng thúc đẩy quá trình hợp tác, liên kết. Một trong những đối tác quan trọng ngoài vùng là các công ty lữ hành đưa khách tới du lịch trong vùng. Một tua du lịch vùng Bắc Trung Bộ thường đi qua nhiều địa điểm du lịch tại nhiều tỉnh trong vùng. Gắn kết các điểm du lịch, các dịch vụ du lịch này trở thành một tua, một sản phẩm du lịch là công việc của các công ty lữ hành. Quá trình kinh doanh các tua du lịch đem lại yêu cầu hợp tác giữa các doanh nghiệp của địa phương với các doanh nghiệp du lịch ở ngoài vùng. Dần dần, quá trình hợp tác này lan tỏa thành hợp tác giữa các doanh nghiệp và các bên tham gia của địa phương. Một ví dụ điển hình của hợp tác này là những chuyến du lịch làm quen (FAM trip) giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ du lịch địa phương tới các công ty lữ hành để xây dựng sản phẩm. 3.3. Phân tích mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch ở Bắc Trung Bộ
3.3.1. Khái quát về mô hình
Từ khung lý thuyết đã đề xuất, mô hình liên kết du lịch tốt cần đưa ra kết quả đối với những yếu tố sau đây: (i) Yếu tố về phẩm cấp và mức độ phổ biến; (ii) Yếu tố về chính sách, kế hoạch phát triển du lịch; (iii) Yếu tố về quản lý; (iv) Yếu tố về tài nguyên du lịch chủ chốt; (v) Yếu tố phụ trợ; (vi) Yếu tố thị trường. Các yếu tố chính này là tập hợp của rất nhiều tiêu chí cụ thể. Yếu tố thứ nhất gồm các điều kiện thực tế như vị trí, sự an toàn, độ nổi tiếng. Yếu tố thứ hai thể hiện môi trường thể chế cho hoạt động du lịch. Yếu tố thứ ba thể hiện khả năng điều chỉnh, thích nghi với các điều kiện thực tế. Yếu tố thứ tư chỉ các lợi thế trực tiếp để thu hút khách du lịch. Yếu tố thứ năm gồm các điều kiện ảnh hưởng tới việc khai thác, đưa các lợi thế trực tiếp ra thị trường, ví dụ như cơ sở hạ tầng. Yếu tố cuối cùng liên quan đến đặc điểm của thị trường nguồn khách. Vì vậy, mô hình đánh giá liên kết phát triển du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ cần được thiết kế để bao gồm những yếu tố quan trọng này. Điều kiện thực tế của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đã chỉ rõ tài nguyên du lịch, các vấn đề thuộc về phía thị trường (nhu cầu của du khách), quản lý du lịch cũng như sự tương tác, liên hệ giữa các yếu tố là đặc biệt quan trọng. Ngoài ra, du lịch vùng Bắc Trung Bộ cũng có những đặc trưng riêng khác với du lịch các vùng khác. Ví dụ các yếu tố thuộc tài nguyên du lịch đặc trưng là du lịch biển (các tỉnh Bắc Trung Bộ đều có biển, bãi biển đẹp nổi tiếng), ngoài ra còn có các tài nguyên du lịch khác như du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, khám phá, mạo hiểm...là những tài nguyên cần được phát huy để thu hút du khách. Chính vì vậy, thiết kế mô hình liên kết cho các tỉnh Bắc Trung Bộ cần ưu tiên hơn những đặc điểm này.
79
Tổng cộng cả 5 nhóm yếu tố có 118 tiêu chí đánh giá, chi tiết từng nhóm yếu tố
như sau. (1) Các tài nguyên
Yếu tố tài nguyên gồm có 3 loại sau. - Tài nguyên sẵn có: gồm có 2 bộ phận là tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa/di sản. Du lịch biển, đảo gắn rất chặt với tài nguyên sẵn có nên nhiều tiêu chí liên quan đến bãi biển, thắng cảnh tự nhiên biển, đảo được bổ sung thêm vào trong mô hình. Tổng cộng có 9 tiêu chí đánh giá tài nguyên sẵn có.
- Tài nguyên tạo mới: gồm có 5 bộ phận là cơ sở hạ tầng du lịch, hoạt động vui chơi, mua sắm, giải trí và sự kiện/lễ hội đặc biệt. Tổng cộng có 16 tiêu chí đánh giá tài nguyên tạo mới.
- Tài nguyên phụ trợ: gồm có cơ sở hạ tầng tổng thể, chất lượng dịch vụ, đi lại, sự thân thiện/mến khách và quan hệ thị trường. Tổng cộng có 20 tiêu chí đánh giá tài nguyên phụ trợ. (2) Quản lý liên kết điểm đến du lịch
Yếu tố này gồm có những hoạt động quản lý của chính quyền như: Xây dựng bộ máy quản lý du lịch; Quản lý việc quảng bá; Lập chính sách, kế hoạch và phát triển; Phát triển nguồn nhân lực; Quản lý môi trường. Ngoài quản lý của chính quyền thì còn có quản lý kinh doanh trong các doanh nghiệp nhằm tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch. Do có sự trùng lặp khá lớn giữa các tiêu chí thành phần thuộc từng hoạt động quản nên mô hình dùng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ sẽ lược bớt hoặc gộp chung nhiều tiêu chí tương tự. Tổng cộng có 24 tiêu chí đánh giá quản lý liên kết phát triển du lịch. (3) Các điều kiện hoàn cảnh
Yếu tố này gồm những điều kiện sau: Môi trường cạnh tranh (vi mô); Vị trí của điểm đến; Môi trường tổng thể (vĩ mô); Cạnh tranh qua giá cả; An toàn/An ninh. Cũng giống như yếu tố liên kết phát triển du lịch, nhiều tiêu chí trùng lắp được lược bớt hoặc gộp lại. Tổng cộng có 26 tiêu chí đánh giá các điều kiện hoàn cảnh. (4) Thị trường Có 2 tiêu chí đánh giá cầu là: Du QBách đã có hiểu biết, trải nghiệm về du lịch địa phương; và Du khách có sở thích, ưu tiên lựa chọn địa phương khi đi du lịch. Như đã đề cập trên đây, yếu tố cầu thuộc phần gốc của mô hình sẽ được chi tiết hóa bằng phần mở rộng. (5) Các chỉ số kết quả hoạt động
Phần này gồm có những chỉ số sau: Thống kê về số du khách; Thống kê về chi tiêu của du khách; Đóng góp của du lịch cho kinh tế địa phương; Đầu tư cho du lịch; Chỉ số cạnh tranh về giá; Hỗ trợ của chính quyền cho du lịch. Giống với một số yếu tố trên đây, nhiều tiêu chí trùng lắp được lược bớt hoặc gộp lại. Tổng cộng có 21 tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động du lịch.
Mặc dù một số chỉ số kết quả hoạt động có thể đưa ra từ phân tích trực tiếp
80
số liệu và tình hình thực tiễn, phần này của mô hình gốc vẫn được giữ lại nhằm ba mục đích. Thứ nhất, tính chính xác, tin cậy từ các trả lời của chuyên gia có thể kiểm nghiệm dễ dàng khi so sánh với thực tế. Trả lời của chuyên gia sát với thực tế cho những câu hỏi thuộc phần này là cơ sở quan trọng để tin vào trả lời của họ cho những câu hỏi thuộc các phần khác. Thứ hai, do không có đủ điều kiện về số liệu và tình hình thực tiễn của tất cả các địa phương đem so sánh với các tỉnh Bắc Trung Bộ, ý kiến của chuyên gia về các câu hỏi trong phần này sẽ góp phần đánh giá kết quả hoạt động du lịch của tất cả các địa phương có liên quan. Thứ ba, một vài chỉ tiêu kết quả hoạt động du lịch cần dựa trên đánh giá chủ quan.
Việc bổ sung phần mở rộng vào mô hình giúp đánh giá chi tiết, toàn diện hơn yếu tố cầu thị trường vốn quá đơn giản, sơ sài trong mô hình gốc. Điều này còn giúp so sánh, đối chiếu ý kiến của chuyên gia và du khách đối với nhiều tiêu chí quan trọng. Những nhóm yếu tố chính thuộc phần mở rộng được đưa vào phân tích và lấy ý kiến của du khách là: (1) Sản phẩm/điểm thu hút du lịch; (2) An ninh - Trật tự; (3) Vệ sinh - Môi trường; (4) Cơ sở hạ tầng - Tiện ích; (5) Giá cả; (6) Cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa; (7) Thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Phân tích thực trạng ở mục trên cũng đã chỉ rõ những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đi du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ của du khách. Tổng cộng có 47 tiêu chí đánh giá các yếu tố thuộc phần mở rộng của mô hình đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
3.3.2. Xây dựng thang đo và thiết kế bảng hỏi
Để tính toán bằng số giá trị các tiêu chí trong mô hình thực nghiệm, bảng hỏi thường được thiết kế dựa trên hệ thống các tiêu chí trong mô hình. Trong nghiên cứu này, mỗi tiêu chí được cụ thể hóa bằng một câu hỏi (hoặc một nhận định) để lấy ý kiến của đối tượng được khảo sát (chuyên gia, du khách). Mỗi tiêu chí có thể được cho điểm theo một thang đo cho trước. Những nghiên cứu thực nghiệm dựa trên mô hình của Dwyer và Kim (2003) hay dùng thang đo Likert có 5 mức đánh giá. Để thuận tiện cho phân tích và theo thông lệ chung, thang đo Likert cũng được áp dụng cho mô hình đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Theo đó, có 5 mức đánh giá (được số hóa từ 1 tới 5) đối với từng tiêu chí: 1 là Rất kém; 2 là Kém; 3 là Trung bình; 4 là Khá; và 5 là Tốt.
Trên cơ sở khung mô hình đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ được xây dựng trên đây, hai bảng hỏi sẽ được thiết kế và sử dụng: (1) Bảng hỏi ý kiến chuyên gia tương ứng với phần gốc của mô hình; và (2) Bảng hỏi ý kiến du khách tương ứng với phần mở rộng của mô hình. Ngoài phần chính nhằm đánh giá các tiêu chí, giống như thông lệ, cả hai bảng hỏi đều có phần thu thập thông tin cá nhân của người được phỏng vấn.
Trước khi những bảng hỏi này được sử dụng để phỏng vấn các đối tượng được khảo sát, nhiều học giả, chuyên gia du lịch đã được hỏi ý kiến về sự hợp lý của mô hình đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ cũng như nội dung các bảng hỏi. Tất cả góp ý của học giả, chuyên gia đều đã
81
* Điều tra khảo sát Nhằm có được số liệu đầu vào cho mô hình, hai bảng hỏi trên đây được chuyển đến lấy ý kiến từ các chuyên gia du lịch (nhà nghiên cứu, giảng viên, doanh nhân, nhân viên kinh doanh, cán bộ quản lý, v.v…) và du khách tại các điểm đến du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Việc khảo sát lấy ý kiến được tiến hành trong thời gian từ tháng 4-9 năm 2018. Nguyên tắc của việc lấy ý kiến du khách là lựa chọn ngẫu nhiên còn với chuyên gia là chọn một cách có chọn lọc. Sau đó, đối tượng khảo sát đều được đảm bảo hiểu chính xác nội dung từng câu hỏi trong bảng hỏi trước khi đưa ra trả lời.
được thể hiện trong mô hình và những bảng hỏi được sử dụng. Chi tiết mẫu từng bảng hỏi được để trong phần Phụ lục. * Bảng hỏi ý kiến chuyên gia Bảng hỏi thứ nhất dùng để lấy ý kiến các chuyên gia du lịch, phục vụ việc đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ thông qua phần mô hình gốc giống như trong Dwyer và Kim (2003). Một bảng hỏi gồm các câu hỏi về thông tin cá nhân người được khảo sát và 118 nhận định, tương ứng với 118 tiêu chí trong mô hình đã được xây dựng. Thang đo Likert được sử dụng để cho điểm các tiêu chí. Về nguyên tắc, những địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ có đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, nguồn khách, sản phẩm du lịch biển, đảo được lựa chọn. Do vậy, tác giả đã khảo sát tất cả 05/06 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ để có được cách nhìn tổng quát nhất. * Bảng hỏi ý kiến du khách Bảng hỏi thứ hai dùng để lấy ý kiến của du khách, phục vụ việc đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ thông qua phần mở rộng của mô hình. Một bảng hỏi gồm các câu hỏi về thông tin cá nhân và chuyến thăm của du khách và 47 nhận định, tương ứng với 47 tiêu chí trong phần mở rộng của mô hình đã được xây dựng. Giống với bảng hỏi thứ nhất, thang đo Likert cũng được sử dụng để cho điểm các tiêu chí. Tuy nhiên, bảng hỏi thứ hai chỉ hỏi ý kiến của du khách đối với các tiêu chí của du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
3.3.3. Kết quả đánh giá dựa trên phần gốc của mô hình
Phần gốc của mô hình được đánh giá dựa vào kết quả điều tra, khảo sát, phỏng vấn lấy ý kiến từ những người được chọn lọc, có kinh nghiệm, kiến thức, hiểu biết về lĩnh vực du lịch. 150 bảng hỏi ý kiến chuyên gia đã được phát hành và đều nhận được phản hồi. Nhìn chung, các chuyên gia đều hiểu rõ và đưa ra trả lời khách quan, trung thực cho những câu hỏi từ quan điểm và góc nhìn của mình. Một số đặc điểm cá nhân chính của các chuyên gia được hỏi ý kiến được trình bày trong bảng 3.8. Cụ thể, có hơn 60% chuyên gia là nam và gần 40% chuyên gia là nữ. Tuổi bình quân của các chuyên gia là 43 trong đó nhóm tuổi có tỷ trọng lớn nhất từ 41-50 (40%), theo sau bởi nhóm tuổi 31-40 (36%) và nhóm tuổi 51-60 (15,3%). Cơ cấu tuổi tác này phản ánh đúng mục tiêu hướng tới là những người còn đang làm việc, có đủ số năm kinh nghiệm và hiểu biết sâu sát tình hình thực tế.
Về trình độ của người được hỏi ý kiến, đại đa số có trình độ đại học và trên
82
đại học. Về nghề nghiệp của chuyên gia, những công việc được đưa ra là: quản lý nhà nước, kinh doanh, nghiên cứu - giảng dạy và nghề khác. Có nhiều chuyên gia trả lời đang làm hơn một công việc, nhất là vừa làm quản lý nhà nước, vừa làm nghiên cứu - giảng dạy. Trong những trường hợp này, một nghề nghiệp chính (thường là nghề nghiệp đầu tiên) sẽ được lựa chọn. Kết quả là có đến 60% làm quản lý nhà nước, gần 30% nghiên cứu, giảng dạy và 10% làm kinh doanh. Về địa bàn làm việc, sinh sống của người được hỏi ý kiến, do điều kiện thực tế, phần lớn đối tượng ở khu vực phía Bắc, trong đó tập trung nhiều nhất ở trung ương và các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Cụ thể, 30% đang làm việc cho các cơ quan trung ương. Tất cả 5 tỉnh được đánh giá đều có đại diện chuyên gia trả lời ý kiến.
Bảng 3.8. Đặc điểm cá nhân của chuyên gia được hỏi ý kiến
Giới tính Nam 61,3% Nữ 38,7%
21-30 31-40 41-50 51-60 60+ Tuổi
6,0% Bình quân 43 36,0% 15,3% 2,7%
TPTH Cao đẳng Cử nhân Tiến sỹ QBác Trình độ
1,3% 24,7% 24,7% 2,0%
Kinh doanh khác Nghề nghiệp
40,0% Thạc sỹ 46,0% Nghiên cứu - Giảng dạy 29,3% 10,0% 0,7% 1,3% Quản lý nhà nước 60,0%
khác Thanh Hóa Quảng Bình Hà Tĩnh Quảng Trị Nghệ An Trung ương Nơi ở, làm việc chính
Thừa Thiên – Huế 30,0% 20,7% 28% 4,7% 5,3% 4,7% 4%
2,7% (Nguồn: Điều tra của tác giả) Để kiểm tra độ tin cậy của kết quả điều tra phỏng vấn, sự khác biệt về trả lời của các chuyên gia đối với từng tiêu chí cụ thể dựa trên đặc điểm cá nhân của họ sẽ được phân tích. Ví dụ, chuyên gia nam và chuyên gia nữ hay chuyên gia từ các địa phương khác nhau có trả lời khác nhau không đối với mỗi tiêu chí du lịch của từng tỉnh sẽ được kiểm tra... Cụ thể, những kiểm định giả thiết sau sẽ được thực hiện.
H0: µij|ddk = µij|ddl H1: µij|ddk ≠ µij|ddl Trong đó µij là giá trị trung bình tiêu chí i (i=1...118, tương ứng với 118 câu hỏi trong bảng hỏi) của tỉnh j (j=Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình); dd là một đặc điểm cá nhân của người được phỏng vấn (dd=giới tính, tuổi, trình độ, nghề nghiệp, nơi ở/làm việc chính) và k, l là những mức, nhóm QBác nhau thuộc chung một đặc điểm (ví dụ nam hay nữ trong đặc điểm về giới tính).
Kết quả là trong phần lớn các trường hợp, ta đều không đủ cơ sở để loại bỏ giả thiết H0 tại mức ý nghĩa α=5%. Điều đó có nghĩa là đối với mỗi tiêu chí của
83
từng tỉnh, các chuyên gia có ý kiến đánh giá tương đối ít khác biệt mặc dù họ có thể khác nhau về nhiều đặc điểm cá nhân. Ngoài ra, độ lệch chuẩn đánh giá của các chuyên gia cũng tương đối nhỏ trong phần lớn các trường hợp.4
Do đó, ta có thể đi đến kết luận rằng ý kiến đánh giá của các chuyên gia là khá tập trung và ít bị ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân của họ. Như vậy, kết quả điều tra, khảo sát có thể tin cậy và sử dụng được để so sánh, đánh giá liên kết du lịch của các địa phương.
Trong những phân tích kết quả đánh giá dưới đây, ngoài 118 tiêu chí riêng biệt tương ứng với 118 câu hỏi, tác giả còn tính toán và phân tích các tiêu chí tổng hợp bao gồm nhiều tiêu chí riêng biệt. Do chưa có điều kiện đánh giá mức đóng góp cụ thể của từng tiêu chí riêng biệt5, các tiêu chí tổng hợp được tính toán bằng bình quân giản đơn giá trị của từng tiêu chí thành phần.
3.3.3.1. Về các tài nguyên phát triển du lịch của vùng Các tài nguyên phát triển du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ được tổng hợp
(bằng tính bình quân giản đơn) và thể hiện tại bảng 3.9. Bảng 3.9. Đánh giá về các tài nguyên phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ
Bình quân
Độ lệch chuẩn
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
Số quan sát 150 150 150
Bình quân chung Các tài nguyên thừa kế Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ
2,9 3,2 2,8 3,9 4,0 0,8 0,8 0,8 0,7 0,7 3,1 3,4 3,1 3,8 3,9 0,8 0,7 0,8 0,7 0,7 2,6 2,8 2,4 3,9 3,9 0,9 0,9 0,8 0,7 0,7 3,0 3,4 3,0 4,1 4,1 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6 (Nguồn: Điều tra của tác giả) Nghệ An đạt trên mức trung bình (3,2), Thanh Hóa (2,9), Hà Tĩnh (2,8), Thừa Thiên - Huế (3,9), Quảng Bình (4,0). Trong ba chỉ số tổng hợp tài nguyên thì các tài nguyên thừa kế và yếu tố phụ trợ của Nghệ An đạt mức 3,4 trong khi các tài nguyên tạo thêm chỉ đạt 2,8. Độ lệch chuẩn bình quân các tiêu chí cũng tương đối thấp (chỉ khoảng 15%-30% giá trị bình quân), thể hiện sự tập trung trong kết quả trả lời của các chuyên gia. Chi tiết đánh giá từng loại tài nguyên được trình bày dưới đây.
* Về các tài nguyên thừa kế Kết quả đánh giá của chuyên gia về các tài nguyên thừa kế được thể hiện tại Bảng 3.10. Nhìn chung, các tài nguyên thừa kế của các tỉnh Bắc Trung Bộ đạt mức giữa so với những địa phương được đánh giá và đạt trên mức bình quân (3,4). Trong tài nguyên thừa kế thì tài nguyên tự nhiên của các tỉnh Bắc Trung Bộ được đánh thấp hơn so với tài nguyên văn hóa, di sản (lần lượt là 3,2 và 3,5).
Cụ thể, trong phần lớn các tiêu chí về tài nguyên tự nhiên, đánh giá cao hơn (một chút) có các tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh nhưng thấp hơn (khá nhiều) so với Thừa
4 Kết quả kiểm định các giả thiết và tính toán sẽ được cung cấp nếu có yêu cầu. 5 Tầm quan trọng của các tiêu chí thành phần được thể hiện qua trọng số trong tiêu chí tổng hợp. Trọng số cũng thường được tính toán dựa vào ý kiến của các chuyên gia.
84
Thiên - Huế và Quảng Bình. Nghệ An được các chuyên gia đánh giá có thiên nhiên, bãi biển là lợi thế lớn nhất còn khií hậu, thời tiết là tiêu chí tài nguyên tự nhiên bất lợi nhất. Trong khi đó các tiêu chí về văn hóa, di sản của Nghệ An lại tương đương với Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình và cao hơn Thanh Hóa, Hà Tĩnh. Với bản thân Nghệ An, tài nguyên văn hóa, di sản cũng được đánh giá cao hơn so với tài nguyên tự nhiên. Trong các tiêu chí về tài nguyên văn hóa, di sản của Nghệ An thì di tích, bảo tàng, văn hóa nghệ thuật truyền thống được đánh giá cao, thậm chí cao nhất trong các địa phương được khảo sát.
Bảng 3.10. Đánh giá về các tài nguyên thừa kế
Bình quân Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 3,1 3,4 3,1 3,8 3,9 0,8 0,7 0,8 0,7 0,7 3,1 3,2 3,1 4,0 4,3 0,7 0,7 0,8 0,8 0,7 150 3,0 2,9 2,8 4,1 4,6 0,6 0,6 0,6 0,4 0,5 150 3,2 3,5 3,5 3,7 3,7 0,8 0,7 0,7 0,7 0,8 150 3,2 3,5 3,4 4,5 4,5 0,7 0,7 0,8 0,6 0,6
150 3,1 3,3 3,1 4,0 4,3 0,7 0,7 0,8 0,7 0,8
150 2,8 3,1 2,9 3,6 4,1 0,8 0,7 0,8 0,8 0,7
3,1 3,5 3,1 3,6 3,5 0,9 0,7 0,8 0,7 0,8
150 3,3 3,7 3,4 3,6 3,3 0,8 0,6 0,6 0,6 0,9
150 3,0 3,1 2,8 3,6 3,4 0,9 0,8 0,8 1,0 0,9
thuật, văn hóa 150 3,2 3,7 3,3 3,4 3,3 0,9 0,7 0,7 0,8 0,8
Bình quân chung Tự nhiên Khí hậu - Thời tiết Thiên nhiên nguyên sơ Bãi biển, nước biển Cảnh quan, thắng cảnh, khu bảo tồn tự nhiên Thảm động - thực vật và sinh vật Văn hóa / Di sản Di tích, di sản và bảo tàng lịch sử, văn hóa Đặc trưng nghệ thuật - kiến trúc Nghệ truyền thống Đa dạng ẩm thực 150 3,1 3,4 3,0 3,8 3,8 0,7 0,8 0,9 0,6 0,7
* Về các tài nguyên tạo thêm Kết quả đánh giá của chuyên gia về các tài nguyên tạo thêm được nêu tại Bảng 3.11. Cũng giống với tài nguyên kế thừa, cho thấy, Thanh Hóa (2,6), Hà Tĩnh (2,4), Nghệ An (2,8), Thừa Thiên - Huế (3,9) và Quảng Bình (3,9). Trong các tài nguyên tạo thêm thì vui chơi, giải trí của Nghệ An có vị trí thấp nhất (2,5) trong khi cơ sở hạ tầng được đánh giá cao nhất (3,3).
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
Bảng 3.11. Đánh giá về các tài nguyên tạo thêm
Bình quân Độ lệch chuẩn
Số quan sát TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 2,6 2,8 2,4 3,9 3,9 0,9 0,9 0,8 0,7 0,7 Bình quân chung
85
2,8 3,3 2,6 4,4 4,3 0,9 0,7 0,8 0,6 0,6 150 2,9 3,6 2,6 4,5 4,5 0,8 0,7 0,7 0,5 0,6
150 2,8 3,4 2,7 4,3 4,3 1,0 0,6 0,7 0,6 0,5
150 2,8 3,2 2,7 4,6 4,5 0,9 0,8 0,8 0,6 0,6
150 2,6 3,0 2,5 4,1 4,0 0,8 0,7 0,8 0,7 0,7
2,3 2,5 2,2 3,6 3,9 0,9 0,9 0,9 0,8 0,8 150 2,4 2,6 2,2 3,7 3,9 0,9 0,9 0,8 0,8 0,8 150 2,5 2,5 2,3 3,9 4,3 1,0 0,9 0,9 0,8 0,6 150 2,5 2,6 2,4 3,7 3,7 1,0 1,0 0,9 0,7 0,7 150 2,1 2,1 2,0 3,2 3,6 0,8 0,8 0,8 0,8 1,0 150 2,2 2,4 2,1 3,6 3,8 0,9 0,9 0,9 0,7 0,7 2,7 3,0 2,7 3,9 3,9 0,7 0,8 0,8 0,6 0,7
149 2,8 3,2 2,6 4,0 4,0 0,8 0,9 0,7 0,6 0,6
149 2,8 3,1 2,9 4,0 3,9 0,8 0,8 0,8 0,6 0,6
149 2,6 2,8 2,6 3,6 3,7 0,7 0,6 0,8 0,6 0,8
2,3 2,5 2,2 3,7 3,9 0,9 1,0 0,9 0,8 0,9 149 2,2 2,6 2,1 3,8 4,0 0,9 1,0 0,9 0,8 0,8
149 2,4 2,5 2,3 3,7 3,9 0,9 0,9 0,9 0,8 0,8
149 2,2 2,5 2,1 3,7 3,8 0,9 1,0 0,9 0,9 1,0 2,6 2,9 2,4 3,9 3,8 0,9 1,0 0,9 0,8 0,7
149 2,6 2,9 2,4 3,9 3,8 0,9 1,0 0,9 0,8 0,7 Cơ sở hạ tầng du lịch Phòng ở, lưu trú Cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng Phương tiện phục vụ hội nghị, triển lãm Hướng dẫn và thông tin du lịch Các hoạt động vui chơi Vui chơi thông thường Vui chơi nước Vui chơi gắn với thiên nhiên Vui chơi mạo hiểm Vui chơi thể thao Mua sắm Chất lượng của các địa điểm mua sắm (trung tâm thương mại, siêu thị, chợ…) Chất lượng, giá trị các sản phẩm mua sắm Sự đa dạng của trải nghiệm mua sắm và các sản phẩm mua sắm Giải trí Công viên, khu giải trí Chất lượng/Đa dạng của hoạt động giải trí Giải trí về đêm Sự kiện/Lễ hội Có nhiều sự kiện, lễ hội hấp dẫn, đặc biệt
Về các yếu tố phụ trợ Đánh giá của chuyên gia về các yếu tố phụ trợ được trình bày tại Bảng 3.12. Các yếu tố phụ trợ của du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ đạt mức trung bình, trong đó Thanh Hóa (3,0), Hà Tĩnh (3,0) và thấp hơn Thừa Thiên - Huế (4,1), Quảng Bình (4,1). Sự thân thiện, mến khách của Nghệ An là yếu tố phụ trợ được cho điểm cao nhất (3,8) trong khi chất lượng dịch vụ được đánh giá thấp nhất (3,2).
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
Bảng 3.12. Đánh giá về các yếu tố phụ trợ
86
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 3,0 3,4 3,0 4,1 4,1 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6 3,0 3,4 2,9 4,1 4,0 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6
150
3,0 3,4 2,7 4,4 4,3 0,7 0,7 0,6 0,6 0,7
150
3,0 3,3 2,9 3,9 3,8 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6
150
3,1 3,4 3,0 4,1 4,0 0,8 0,9 0,8 0,6 0,6
150
3,5 3,7 3,4 4,1 4,0 0,7 0,6 0,8 0,6 0,6
150
2,7 3,5 2,4 4,5 4,3 1,0 0,8 0,9 0,5 0,6
150
3,0 3,5 2,8 4,1 4,1 0,6 0,6 0,6 0,5 0,5
150 150
2,8 3,0 2,8 3,9 3,7 0,7 0,6 0,7 0,7 0,7 3,2 3,5 3,2 4,1 4,0 0,7 0,7 0,7 0,5 0,6 2,8 3,2 2,7 4,1 4,0 0,8 0,7 0,8 0,6 0,5
133
2,7 3,2 2,6 4,2 4,2 0,7 0,6 0,7 0,5 0,5
133
2,7 3,2 2,6 4,1 4,1 0,8 0,7 0,8 0,7 0,5
133
3,0 3,2 3,0 4,0 3,8 0,9 0,8 0,9 0,6 0,5
3,0 3,4 3,0 4,1 4,0 0,7 0,7 0,7 0,6 0,6
150
3,0 3,3 3,0 4,1 3,9 0,7 0,6 0,6 0,6 0,6
150
2,9 3,6 2,8 4,4 4,3 0,7 0,7 0,7 0,6 0,6
150
3,0 3,1 3,0 3,7 3,7 0,6 0,7 0,6 0,8 0,8 3,3 3,8 3,5 4,3 4,2 1,0 0,8 0,9 0,7 0,7
150
3,1 3,8 3,4 4,3 4,1 1,1 0,9 1,0 0,8 0,8
150
3,4 3,9 3,6 4,4 4,2 0,9 0,7 0,7 0,6 0,6
3,1 3,5 3,0 4,1 4,1 0,8 0,7 0,9 0,6 0,6
150
3,1 3,6 3,0 4,3 4,3 0,7 0,7 0,9 0,6 0,7
Bình quân chung Cơ sở hạ tầng tổng thể Cơ sở hạ tầng đầy đủ, hoàn thiện Phương tiện y tế/chăm sóc sức khỏe Tài chính/ngân hàng/bảo hiểm Thông tin liên lạc Sân bay, nhà ga, bến xe, bến cảng Hệ thống các tuyến giao thông Xử lý rác thải Cung cấp điện/nước Chất lượng dịch vụ Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có chất lượng dịch vụ tiêu chuẩn cao Các doanh nghiệp quan tâm đến chất lượng dịch vụ và theo dõi/đảm bảo sự hài lòng của du khách Tốc độ, hiệu quả xử lý công việc của các cơ quan công quyền Đi lại Kết hợp thăm viếng địa điểm khác Chuyến bay/tàu/xe đến/đi địa phương Chi phí/thủ tục đi đường Thân thiện/Mến khách Sự thân thiện của cư dân địa phương Sự ủng hộ của cư dân địa phương với phát triển du lịch Quan hệ thị trường Quan hệ kinh doanh với những thị trường khách du
87
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
150
3,3 3,6 3,1 3,6 3,6 0,8 0,8 0,8 0,6 0,6
150
3,1 3,3 2,9 4,0 4,1 0,7 0,7 0,9 0,6 0,6
150
3,0 3,3 2,9 4,3 4,3 0,9 0,7 0,9 0,7 0,7
lịch chính Quan hệ đồng hương, họ tộc, tôn giáo với những thị trường khách du lịch chính Quan hệ khác với những thị trường khách du lịch chính (thể thao, vui chơi…) Quy mô đầu tư vào du lịch của địa phương
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
Độ lệch chuẩn
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
3.3.3.2. Về quản lý của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại địa phương Đánh giá của chuyên gia về quản lý du lịch được nêu tại bảng 3.13. Nhìn chung, về quản lý liên kết phát triển du lịch, phần lớn các nhóm tiêu chí đánh giá đều đạt trên mức Trung bình (3,0) và tương đối gần nhau. Hai nhóm tiêu chí quản lý quảng bá du lịch và phát triển nguồn nhân lực được cho điểm tốt nhất (3,4), nhưng cũng không cao hơn nhiều so với nhóm tiêu chí được cho điểm kém nhất là ra chính sách, lập kế hoạch và liên kết phát triển du lịch (3,2). Bảng 3.13. Đánh giá về liên kết phát triển của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ Bình quân Số quan sát 2,9 3,3 2,9 4,0 3,9 0,9 0,8 0,9 0,7 0,7 2,7 3,3 2,8 4,1 3,9 1,0 0,7 1,0 0,7 0,7
150 2,8 3,2 2,8 4,2 4,0 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6
150 2,7 3,3 2,7 4,0 3,8 1,1 0,8 1,1 0,8 0,6
150 2,6 3,3 2,7 4,1 3,9 1,1 0,7 1,1 0,8 0,8
2,8 3,4 2,8 4,1 4,1 0,9 0,8 0,9 0,7 0,7
150 2,5 3,1 2,5 4,2 4,3 0,9 0,7 1,0 0,8 0,7
Bình quân chung Quản lý nhà nước về du lịch Điều tiết, quản lý tốt các tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động du lịch Liên lạc hiệu quả, tiếp thu, phản ánh tốt quan điểm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân hoạt động du lịch Quan tâm, tiếp thu ý kiến của du khách Quản lý quảng bá du lịch địa phương Hiệu quả quảng bá du lịch địa phương Thương hiệu du lịch địa phương Mối liên kết giữa các cơ quan 150 150 2,7 3,5 2,5 4,4 4,5 0,9 0,7 1,0 0,6 0,7 2,8 3,3 2,7 4,2 4,2 0,8 0,8 0,8 0,7 0,7
88
Bình quân Độ lệch chuẩn
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB Số quan sát
thị trung đúng các 150 2,9 3,5 2,9 4,3 4,3 0,7 0,9 0,8 0,6 0,5
150 3,1 3,7 3,2 4,0 3,9 0,8 0,9 0,8 0,7 0,7
150 3,0 3,3 3,1 3,6 3,6 0,9 0,7 0,8 0,8 0,7
2,8 3,2 2,8 4,0 4,0 0,8 0,7 0,9 0,7 0,7
150 2,9 3,5 3,0 4,5 4,2 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6
150 2,9 3,2 2,8 4,2 4,2 0,8 0,8 0,9 0,6 0,7
150 2,9 3,4 3,0 4,2 4,2 0,8 0,8 0,9 0,7 0,7
150 2,8 3,1 2,7 3,9 4,0 0,7 0,6 0,8 0,8 0,8
150 2,7 3,0 2,6 3,8 3,7 1,0 0,7 0,9 0,6 0,6
150 2,9 3,0 2,8 3,7 3,8 0,7 0,5 0,7 0,6 0,7
150 2,8 3,0 2,7 3,5 3,6 0,7 0,7 1,0 0,7 0,7
150 2,8 3,2 2,9 4,0 3,9 1,0 0,8 1,0 0,6 0,6
tổ chức du lịch của địa phương với các tổ chức lữ hành Tập trường mục tiêu Hợp tác, phối hợp với các cơ quan quản lý du lịch ở địa phương khác Quảng bá du lịch địa phương dựa trên kiến thức về sản phẩm của các địa phương khác Ra chính sách, lập kế hoạch và liên kết phát triển du lịch Có chiến lược (tầm nhìn) dài hạn cho phát triển du lịch, thể hiện được vai trò, giá trị của cư dân địa phương và các đơn vị, tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch Phát triển du lịch có tính đến nhu cầu, sở thích của du khách Tích hợp được những lợi thế lớn nhất của địa phương vào sản phẩm du lịch Phát triển du lịch hài hòa, ăn triển các nhập với phát ngành kinh tế khác Xác định rõ đối thủ cạnh tranh và sản phẩm thế mạnh của họ Giải pháp thực hiện khớp với chiến lược Sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin, số liệu thống kê trong lập kế hoạch và phát triển du lịch Có sự ủng hộ của cộng đồng đối với chiến lược, kế hoạch, giải pháp liên kết phát triển du lịch vùng
89
Bình quân Độ lệch chuẩn
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
Số quan sát 3,1 3,4 3,0 3,8 3,8 0,9 0,7 0,9 0,7 0,7
150 3,3 3,7 3,4 4,2 4,1 0,9 0,7 0,9 0,7 0,7
150 3,2 3,5 3,1 4,0 4,0 0,8 0,8 0,8 0,9 0,9
150 2,6 3,0 2,7 3,4 3,4 0,9 0,8 1,0 0,7 0,6
150 3,1 3,2 3,0 3,6 3,7 0,8 0,7 0,8 0,7 0,7
3,0 3,3 2,9 4,0 3,9 1,0 0,9 1,0 0,7 0,7
150 3,1 3,5 3,1 4,1 4,1 1,0 0,9 1,1 0,7 0,6
150 2,9 3,1 2,9 4,0 3,9 1,1 0,9 1,0 0,7 0,8
150 2,8 3,2 2,7 3,8 3,7 1,0 0,9 1,0 0,7 0,7
Phát triển nguồn nhân lực Cam kết của cơ quan quản lý nhà nước trong việc giáo dục, đào tạo du lịch Cam kết của các tổ chức kinh doanh trong việc giáo dục, đào tạo du lịch Đào tạo được chỉnh theo nhu cầu du khách Phạm vi, chất lượng của các chương trình giáo dục, đào tạo du lịch Quản lý môi trường Nhận thức cơ quan quản lý nhà nước về tầm quan trọng phát triển du lịch bền vững Nhận thức của tổ chức kinh doanh về tầm quan trọng phát triển du lịch bền vững Hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, di sản và công tác nghiên cứu về tác động môi trường của du lịch
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
3.3.3.3. Về các điều kiện hoàn cảnh
Đánh giá của chuyên gia về các điều kiện hoàn cảnh của du lịch vùng Bắc Trung Bộ được thể hiện tại bảng 3.14. Như trước, các điều kiện hoàn cảnh của các địa phương tại vùng Bắc Trung Bộ đạt trên mức trung bình (3,3), trong đó Thanh Hóa (3,0), Hà Tĩnh (3,0), Thừa Thiên - Huế (3,9), Quảng Bình (3,8). Tất cả các tiêu chí, nhóm tiêu chí điều kiện hoàn cảnh của Bắc Trung Bộ đều đạt trên trung bình.
90
Bảng 3.14. Đánh giá về các điều kiện hoàn cảnh
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 3,0 3,3 3,0 3,9 3,8 0,8 0,7 0,8 0,7 0,7
2,9 3,2 2,8 3,9 3,9 0,8 0,7 0,8 0,6 0,7
150
2,6 3,4 2,6 4,2 4,3 0,9 0,7 1,0 0,5 0,6
150
3,0 3,1 3,0 4,0 3,9 0,7 0,7 0,6 0,6 0,6
150
3,0 3,3 2,8 3,9 4,0 0,9 0,7 0,9 0,6 0,6
150
3,1 3,2 2,9 3,8 3,8 0,7 0,7 0,8 0,6 0,6
150
2,8 3,0 2,5 3,6 3,6 0,8 0,7 0,7 0,7 0,7
150
2,9 3,2 2,7 3,7 3,8 0,8 0,7 0,7 0,6 0,7
150
2,8 3,0 2,7 4,0 4,0 0,7 0,8 0,8 0,6 0,6
150
2,7 3,2 3,0 3,8 3,6 1,0 0,7 0,7 0,7 0,8
150
3,0 3,3 3,0 3,9 3,8 0,6 0,6 0,7 0,5 0,6
3,0 3,3 2,8 3,9 3,9 0,7 0,6 0,8 0,7 0,7
150
2,6 3,2 2,6 4,0 4,0 0,9 0,7 0,9 0,6 0,6
150
3,3 3,4 3,1 3,9 3,8 0,6 0,6 0,7 0,8 0,8
150
3,2 3,2 2,7 3,9 3,9 0,6 0,6 0,7 0,7 0,7
3,1 3,3 3,1 4,0 4,0 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6
150
2,9 3,1 3,0 3,7 3,7 0,6 0,6 0,7 0,7 0,7
150
3,1 3,3 3,1 3,9 3,9 0,6 0,7 0,7 0,7 0,7
Bình quân chung Môi trường liên kết (vi mô) Môi trường kinh doanh du lịch Khả năng tiếp cận vay vốn kinh doanh Khả năng quản lý của các đơn vị kinh doanh du lịch Cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn Hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh du lịch trên địa bàn Liên kết giữa các đơn vị lịch với kinh doanh du doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác Hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, tổ chức, cá nhân hoạt động du lịch Các doanh nghiệp làm ăn có đạo đức Các doanh nghiệp sử dụng công nghệ thông tin để tạo lợi thế cạnh tranh Vị trí trên thị trường Sự khác biệt so với các địa phương khác Gần gũi các địa điểm du lịch khác Khoảng cách, thời gian đi lại từ các thị trường du khách chính Môi trường tổng thể (vĩ mô) Điều kiện kinh doanh, môi trường luật lệ, quy định tổng thể Chính sách phát triển du lịch của Chính phủ dành cho địa
91
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
150
2,9 3,3 2,8 4,3 4,2 1,0 1,0 1,0 0,5 0,6
150
3,4 3,6 3,4 4,0 4,0 0,9 0,8 0,7 0,5 0,5
150
3,0 3,1 3,0 3,9 3,8 0,7 0,5 0,7 0,5 0,6
150
3,3 3,4 3,2 4,2 4,1 0,8 0,7 0,8 0,5 0,5
3,0 3,3 3,0 3,7 3,7 0,7 0,7 0,7 0,7 0,7 2,9 3,3 3,0 3,8 3,7 0,9 0,7 0,8 0,7 0,8 2,9 3,3 3,2 3,9 3,9 0,8 0,7 0,8 0,7 0,6 3,1 3,3 3,0 3,7 3,6 0,7 0,6 0,7 0,8 0,7
150 150 150
150
2,9 3,3 2,9 3,5 3,5 0,7 0,7 0,8 0,8 0,7
3,1 3,2 3,1 3,7 3,7 0,6 0,6 0,6 0,6 0,7 3,1 3,6 3,3 4,2 3,8 1,1 0,7 0,9 0,7 0,6 3,2 3,6 3,3 4,2 3,8 1,1 0,8 0,9 0,8 0,6 3,0 3,6 3,3 4,3 3,9 1,1 0,7 0,9 0,7 0,6
150 150 150
150
2,9 3,5 3,3 4,1 3,8 1,1 0,6 0,8 0,7 0,6
phương Môi trường đầu tư phát triển du lịch Tình hình dân cư, văn hóa, xã hội Thay đổi công nghệ tại địa phương Điều kiện kinh tế tại các thị trường khách du lịch chính Cạnh tranh về giá Giá phòng ở Giá ăn uống Giá đi lại từ các thị trường chính Giá hoạt động vui chơi, giải trí, thăm viếng Giá các tua du lịch trọn gói Trật tự/An ninh/An toàn Công an, dân phòng An toàn cho du khách An toàn cho tài sản, vật dụng của du khách
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
3.3.3.4. Về thị trường Kết quả khảo sát chuyên gia về cầu thị trường được nêu tại bảng 3.15. Về cầu thị trường, các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ được đánh giá ở mức trung bình. Hai tiêu chí thuộc cầu là du khách đã có trải nghiệm và du khách ưu tiên lựa chọn lần lượt là 3,6 và 3,5.
Bảng 3.15. Đánh giá về thị trường
Bình quân Độ lệch chuẩn
Số quan sát TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 2,9 3,5 2,7 4,4 4,5 1,0 0,7 0,9 0,7 0,7
150 3,1 3,6 2,7 4,5 4,4 1,0 0,7 0,9 0,7 0,6
150 2,8 3,5 2,8 4,4 4,5 1,1 0,7 0,9 0,7 0,7
Bình quân chung Du khách đã biết, nghe hoặc trải nghiệm về địa phương Du khách có sở thích, ưu tiên lựa chọn địa phương khi đi du lịch
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
3.3.3.5. Về kết quả hoạt động du lịch Đánh giá của chuyên gia về kết quả hoạt động du lịch của Bắc Trung Bộ
92
được trình bày tại bảng 3.16. Giống với các đánh giá trên đây, kết quả hoạt động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung được đánh giá trên mức trung bình một chút (3,1), trong đó Thanh Hóa (2,7), Hà Tĩnh (2,6), Thừa Thiên - Huế (4,0), Quảng Bình (4,1). Các nhóm chỉ tiêu về khách, chi tiêu, đóng góp, đầu tư, cạnh tranh về giá, hỗ trợ của chính quyền của Nghệ An được cho điểm tương đối sát nhau và đều tốt hơn Thanh Hóa, Hà Tĩnh nhưng kém hơn Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình. Những kết quả này là rất phù hợp với tình hình thực tiễn, do vậy là một cơ sở quan trọng cho thấy ý kiến của chuyên gia là đáng tin cậy.
Bảng 3.16. Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát 150 150 150 150 150 150 150
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB 0,8 0,7 0,7 2,7 3,1 2,6 4,0 4,1 0,8 0,7 0,8 0,6 0,6 2,7 3,2 2,6 4,2 4,4 0,8 0,7 0,7 0,6 0,6 3,0 3,6 2,8 4,2 4,5 0,8 0,6 0,8 0,7 0,5 2,7 3,1 2,4 4,4 4,7 1,0 1,0 0,7 0,7 0,5 2,7 3,0 2,7 4,1 4,3 0,6 0,7 0,9 0,5 0,6 2,5 3,0 2,2 4,3 4,3 0,9 0,7 0,8 0,6 0,6 2,7 3,1 2,6 4,1 4,2 0,8 0,6 0,8 0,7 0,8 2,7 3,0 2,6 4,1 4,1 0,8 0,7 0,7 0,7 0,7 2,8 3,2 2,7 4,2 4,2 0,7 0,6 0,8 0,8 0,9 2,6 2,8 2,4 4,0 4,0 0,8 0,8
2,7 3,1 2,5 4,2 4,2 0,8 0,7
0,8 0,7 0,7
150 150
2,6 3,0 2,4 4,3 4,3 0,8 0,6 2,6 3,1 2,5 4,2 4,1 0,7 0,6
0,8 0,6 0,6 0,8 0,7 0,7
150
2,7 3,1 2,6 4,0 4,0 0,8 0,9
0,8 0,9 0,8
150
2,9 3,3 2,7 4,2 4,2 0,7 0,6
0,8 0,7 0,7
2,7 3,0 2,6 4,0 4,0 0,7 0,7
0,7 0,7 0,7
150
2,8 3,3 2,8 3,8 3,8 0,6 0,8
0,6 0,8 0,8
150
2,9 3,4 2,8 4,2 4,4 0,6 0,6
0,7 0,6 0,6
150
2,5 2,6 2,4 4,1 4,1 0,8 0,7
0,8 0,7 0,7
150
2,6 2,8 2,5 3,7 3,8 0,7 0,6
0,7 0,7 0,8
2,7 3,1 2,7 3,8 4,1 0,7 0,5
0,7 0,6 0,8
150
2,7 3,1 2,7 3,8 4,1 0,7 0,5
0,7 0,6 0,8
2,6 3,0 2,5 3,8 3,8 0,9 0,7
0,9 0,8 0,8
Bình quân chung Khách du lịch Số khách trong nước Số khách nước ngoài Số ngày nghỉ của du khách Thị phần so với cả nước Tỷ lệ khách trở lại Chi tiêu của du khách Chi tiêu của du khách Tỷ lệ chi tiêu so với cả nước Đóng góp của du lịch cho địa phương Đóng góp vào GDP, thu nhập Tạo việc làm Tăng năng suất của ngành du lịch Ảnh hưởng tốt đến các ngành kinh tế khác Đầu tư cho du lịch Đầu tư du lịch từ nguồn vốn ngân sách Đầu tư du lịch từ vốn tư nhân trong nước Đầu tư du lịch từ nguồn vốn nước ngoài Đầu tư du lịch trong tổng đầu tư Chỉ số cạnh tranh về giá Chỉ số cạnh tranh giá cả chung Hỗ trợ của chính quyền cho liên kết phát triển du lịch
93
Bình quân
Độ lệch chuẩn
Số quan sát
TH NA HT TTH QB TH NA HT TTH QB
150
2,6 3,0 2,3 3,9 3,9 0,8 0,6
0,9 0,8 0,8
150
2,5 3,0 2,4 4,1 4,0 1,0 0,9
0,9 0,9 0,8
150
2,6 3,0 2,6 3,8 3,8 0,9 0,6
0,9 0,8 0,9
150
2,5 2,7 2,4 3,4 3,5 0,9 0,8
0,9 1,0 1,1
150
2,8 3,3 2,6 4,0 4,0 0,9 0,8
0,9 0,7 0,7
Ngân sách cho du lịch và quản lý du lịch Chi phí dành cho quảng bá du lịch Chương trình hỗ trợ phát triển du lịch Ưu đãi thuế, trợ cấp cho ngành du lịch Giáo dục, đào tạo nghề du lịch
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
3.3.4. Kết quả đánh giá dựa trên phần mở rộng của mô hình Phần mở rộng của mô hình được đánh giá dựa vào kết quả điều tra, khảo sát, phỏng vấn du khách đến du lịch các vùng Bắc Trung Bộ. Cụ thể, 200 du khách đã được phỏng vấn và ghi lại kết quả ở 200 bảng hỏi. Cơ bản là các du khách đều hiểu rõ nội dung câu hỏi và cố gắng trả lời khách quan, trung thực nhất dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm của bản thân. Những sai sót của du khách khi trả lời nếu được phát hiện ra sẽ được xử lý, điều chỉnh cho phù hợp trước khi tiến hành nhập dữ liệu. Do vậy, những ý kiến thu được từ du khách hứa hẹn cung cấp chính xác thông tin về du khách, đồng thời cho thấy đúng quan điểm, đánh giá của cầu thị trường đối với liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ. Chỉ có một vấn đề phát sinh là các du khách thường không trả lời đầy đủ tất cả các câu hỏi có trong bảng phỏng vấn (mặc dù đều trả lời đa số, bình quân trên 95% tổng số câu hỏi). Để sử dụng thông tin thu thập được một cách tối đa và hiệu quả nhất, tất cả các trả lời có được đối với từng câu hỏi đều được đưa vào phân tích. Đồng thời, đối với một số câu hỏi mà du khách bỏ trống (ví dụ như câu hỏi về số con) thì tác giả sẽ tự điền vào thông tin phù hợp dựa trên trả lời cho các câu hỏi có liên quan.
(1) Đặc điểm của du khách - Về nhân khẩu học
Kết quả bảng hỏi điều tra du khách được phân tích nhằm tìm ra những đặc điểm chính của cầu thị trường đối với liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, đồng thời đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của liên kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ từ quan điểm cầu thị trường. Sau đây là kết quả chi tiết đã thu được. 3.3.4.1. Thông tin về du khách
Bảng 3.17. Đặc điểm nhân khẩu học của du khách được điều tra
Giới tính Nữ 42,21%
25-34 45-54 35-44 55-64 65+ Tuổi Trung bình 32,17
Hôn nhân Nam 57,79% 15-24 20,73% 42,49% 25,39% 8,81% 2,59% 0,00% Độc thân Có gia đình
94
34,01% 0 1 2 65,99% 4 3 5+
Số con của các gia đình Trung bình 1,70
8,46% 26,92% 56,15% 4,62% 2,31% 1,54% (Nguồn: Điều tra của tác giả) Bảng 3.17 cho biết một vài đặc điểm nhân khẩu học của du khách được điều tra. Nhìn chung, khách trẻ tuổi đã có gia đình và con cái là đối tượng khách hàng chính của du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Cụ thể, đa số du khách được hỏi ý kiến là nam (58%), còn lại là nữ (42%). Độ tuổi trung bình của du khách là 32 tuổi, do vậy tương đối trẻ. Du khách trong độ tuổi 25-34 có tỷ trọng lớn nhất (42,5%), theo sau bởi độ tuổi 35-44 (25,4%) và 15-24 (20,7%). Không có du khách được điều tra nào có tuổi lớn hơn 65. Cơ cấu theo độ tuổi này cho thấy khách du lịch trong độ tuổi thanh niên và trước khi bước sang trung niên chiếm phần lớn. Điều này phản ánh thực tế du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ là loại hình có tương đối nhiều hoạt động mạnh, cường độ vận động cao, di chuyển nhiều nên ít phù hợp hơn với du khách cao tuổi. Ngoài ra, du khách đến với du lịch Bắc Trung Bộ đa phần đã có gia đình (gần 2/3). Số độc thân chỉ chiếm hơn 1/3. Trong số khách đã lập gia đình thì hơn nửa có 2 con và gần 1/3 có 1 con. Những gia đình chưa có con hoặc có nhiều con có tỷ lệ khá nhỏ. Vì vậy, không ngạc nhiên khi số con trung bình của khách có gia đình là 1,7. - Về nghề nghiệp
Bảng 3.18. Tỷ trọng du khách theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Sinh viên, học sinh Tự do, kinh doanh, buôn bán nhỏ Nông dân Công nhân, lao động phổ thông, lái xe Công chức, lực lượng vũ trang Nhân viên văn phòng Hướng dẫn viên, nhân viên kinh doanh Kỹ sư Giáo viên, nghiên cứu Y tá, bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng Doanh nhân Nghỉ hưu Đơn vị tính: % Tỷ lệ 12,44 20,73 1,55 8,29 9,33 12,44 7,25 11,92 8,29 5,70 1,55 0,52
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Kết cấu theo nghề nghiệp của du khách được thể hiện tại bảng 3.18. Về cơ bản, những ngành nghề có trình độ chuyên môn thấp, do đó thu nhập nhỏ chiếm tỷ lệ lớn. Cụ thể, trong 4 nhóm có tỷ trọng trên 10% thì cao nhất là du khách làm nghề tự do hoặc kinh doanh, buôn bán nhỏ (20,7%), theo sau bởi sinh viên, học sinh và nhân viên văn phòng (cùng là 12,4%) và kỹ sư (11,9%). Công nhân, lao động phổ thông,
95
lái xe và công chức, lực lượng vũ trang cũng khá cao, lần lượt là 8,3% và 9,3%. Cơ cấu ngành nghề này phản ánh khá chính xác thực tiễn du khách đến các vùng Bắc Trung Bộ chủ yếu là khách bình dân, đại trà có thu nhập không cao. - Về địa phương
Bảng 3.19. Tỷ trọng du khách theo địa phương
Đơn vị tính: %
Địa phương
Hà Nội Thanh Hóa Nghệ An Hà Tĩnh Trung du miền núi phía Bắc Đồng bằng sông Hồng (ngoài Hà Nội) Duyên hải phía Bắc Trung Bộ (ngoài Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) Tp. Hồ Chí Minh Các tỉnh Nam Bộ (ngoài Tp. HCM) Quốc tế Tỷ lệ 38,54 3,65 33,85 4,17 5,73 2,08 5,73 2,60 1,04 2,08 0,52
(2) Thông tin về chuyến thăm của du khách - Về mục đích du lịch Trả lời của du khách về chuyến thăm cũng cung cấp nhiều thông tin giá trị có
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Cơ cấu du khách theo địa phương được thể hiện tại bảng 3.19. Nhìn chung, Hà Nội và chính các địa phương của vùng là hai nguồn khách quan trọng nhất đối với du lịch Bắc Trung Bộ. Hai địa phương này lần lượt đóng góp tới 38,5% và 33,9% tổng số khách và cao hơn rất nhiều so với các địa phương, vùng lãnh thổ còn lại, do đó khá phù hợp với các báo cáo du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ. Các địa phương, vùng lãnh thổ còn lại có tương đối ít khách tới du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Khách quốc tế cũng chiếm tỷ trọng không đáng kể, chủ yếu là đến Quảng Bình và Thừa Thiên – Huế. Tóm lại, kết quả điều tra đặc điểm du khách cho thấy khách nội địa, nhất là từ Hà Nội và chính Nghệ An, là nguồn chính của du lịch Bắc Trung Bộ. Du khách phần lớn còn trẻ và đi du lịch cùng gia đình, con cái. Ngoài ra, khách du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ chủ yếu là khách phổ thông, đại trà làm việc trong những ngành có thu nhập không cao.
thể sử dụng để đưa ra các chính sách phát triển du lịch phù hợp. Về mục đích, thăm quan, nghỉ dưỡng và lễ hội là những mục đích chính của du khách du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, thể hiện tại bảng 3.20. Cả ba mục đích này đều liên quan đến những sản phẩm, dịch vụ chủ chốt mà du lịch Bắc Trung Bộ đang cung cấp trên thị trường, chiếm tới 94% tổng số du khách. Ngoài ba mục đích này thì những mục đích khác khi đi du lịch Bắc Trung Bộ nhìn chung không đáng kể.
96
Bảng 3.20. Mục đích chuyến thăm của du khách
Đơn vị tính: %
Lễ hội Công việc Hội nghị khác
Thăm quan 58,33 Nghỉ dưỡng 26,11 9,44 Thăm thân 2,78 2,22 0,56 0,56
(Nguồn: Điều tra của tác giả)
- Về số lần đi du lịch
Bảng 3.21. Số lần đi du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Đơn vị tính: %
1 lần
2 lần 3 lần 4 lần 5 lần 6-10 lần
trên 10 lần 2,78 18,33 18,89 23,89 10,00 12,78 13,33
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Về số lần du lịch Bắc Trung Bộ, bình quân mỗi khách đã đi thăm các điểm du lịch của vùng Bắc Trung Bộ tới hơn 4 lần. Chỉ có 18,3% số du khách mới tới Bắc Trung Bộ 1 lần. Tỷ lệ du khách đi thăm Bắc Trung Bộ 3 lần là lớn nhất, lên tới gần 24%. Bảng 3.21 thể hiện kết quả về số lần thăm Bắc Trung Bộ của du khách. Khảo sát chi tiết hơn cho thấy du khách của các tỉnh Bắc Trung Bộ đi du lịch tại chính tỉnh nhà bình quân 3,88 lần, so với mức 3,3 lần của du khách đến từ các địa phương khác. Kết quả này cho thấy những nguồn khách chủ chốt của du lịch Bắc Trung Bộ là du khách của chính các tỉnh trong vùng có số lần quay lại khá cao, vì vậy có thể coi là những khách hàng truyền thống, trung thành của ngành du lịch Bắc Trung Bộ. Lý do của thực tế này ngoài những nỗ lực phát triển của ngành du lịch vùng Bắc Trung Bộ thì có lẽ còn bởi yếu tố giao thông thuận lợi, giá cả phù hợp. Đối với du khách bình dân, phổ thông thì đây là những yếu tố đặc biệt có ý nghĩa. Do vậy, cũng không qua bất ngờ khi hơn 97% du khách có ý định quay lại du lịch Bắc Trung Bộ và giới thiệu cho bạn bè, người thân.
- Về hình thức tổ chức chuyến đi
Bảng 3.22. Hình thức tổ chức chuyến đi
Đơn vị tính: % khác 5,95 Tự tổ chức 69,73 Dịch vụ 12,43 Cơ quan/đoàn thể 11,89
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Để thực hiện chuyến thăm, phần lớn du khách tự tiến hành tổ chức (gần 70%). Số du khách phải thuê dịch vụ tổ chức và đi cùng cơ quan, đoàn thể mỗi loại chỉ chiếm khoảng 12%. Bảng 3.23 cho biết chi tiết về tỷ lệ từng hình thức tổ chức chuyến thăm của du khách. Phần lớn du khách chọn hình thức tự tổ chức có lẽ một phần để tiết kiệm chi phí, nhưng chủ yếu do du khách đã quá quen thuộc với du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (thể hiện qua nhiều lần đi thăm, và tỷ trọng khá lớn du khách là người địa phương) và đi theo đoàn cùng nhiều người thân trong gia đình nên muốn tăng sự chủ động. Tỷ lệ khách đi theo cơ quan, đoàn thể chỉ chiếm 12%
97
thể hiện thay đổi lớn về sự chủ động của du khách so với trước đây, nhất là so với thời kỳ bao cấp.
- Về hình thức thu thập thông tin
Bảng 3.23. Hình thức thu thập thông tin về du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ Đơn vị tính: %
Internet QBác Tự bản thân Công ty du lịch Người quen Truyền thông
51,01 Tờ rơi/sách báo 10,07 Triển lãm/hội chợ 0,67 2,68 20,81 5,37 8,05 1,34
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Bảng 3.23 về hình thức du khách thu lượm thông tin cũng phần nào khẳng định những kết quả có được trên đây. Theo đó, có tới 51% du khách tự có sẵn hiểu biết về du lịch vùng Bắc Trung Bộ và gần 21% du khách kiếm thông tin từ người quen. Thực tế này cho thấy công tác quảng bá du lịch của Bắc Trung Bộ thông qua in tờ rơi, sách báo, triển lãm, hội chợ, truyền thông có lẽ ảnh hưởng nhiều hơn tới nguồn cầu ở những thị trường phi truyền thống. Do những đặc điểm nguồn khách trên đây, không có gì bất ngờ khi đường bộ là phương tiện đi lại chính của du khách (76,5%), tiếp theo là đường sắt (15,5%). Bảng 3.24 thể hiện kết quả chi tiết về phương tiện đi lại mà du khách tới du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ sử dụng. - Về phương tiện giao thông
Bảng 3.24. Phương tiện giao thông
Đơn vị tính: % khác 0,53
Đường bộ 76,47
Đường sắt 15,51 Đường thủy 1,07 Hàng không 6,42
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Qua nghiên cứu cho thấy, du khách phần lớn từ chính các địa phương trong vùng hoặc tương đối gần với vùng Bắc Trung Bộ, đồng thời làm việc trong những ngành có trình độ chuyên môn thấp, mức chi tiêu của họ khi đi du lịch tại các địa điểm du lịch vùng Bắc Trung Bộ là tương đối thấp, thể hiện tại bảng 3.25. Du khách chi tiêu trong mức 1-5 và 5-10 triệu đồng khá đông, lần lượt chiếm tới 33% và 32,5%. Tỷ lệ khách chi tiêu trong mức 15-20 và trên 20 triệu đồng vẫn thấp, lần lượt là 7,3% và 4,7%. Kết quả điều tra này khá phù hợp với các báo cáo du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ như đã phân tích ở chương trước. - Về mức chi tiêu
Bảng 3.25. Mức chi tiêu
Đơn vị tính: %
15-20 triệu Trên 20 triệu
Dưới 1 triệu 7,33 1-5 triệu 32,98 5-10 triệu 32,46 10-15 triệu 15,18 7,33
4,71 (Nguồn: Điều tra của tác giả) Trong các khoản chi tiêu thì phần lớn du khách cho rằng ăn uống là tốn kém
98
nhất (61% du khách), kế tiếp là vui chơi giải trí (17% du khách) và phòng nghỉ (9%). Bảng 3.26 cho kết quả về ý kiến của du khách về khoản chi phí lớn nhất họ phải trả khi du lịch các điểm du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ. Ở đây, một điều khá ngạc nhiên là có đến 17% du khách chi tiêu nhiều nhất cho vui chơi giải trí, cao hơn so với 9% du khách chi tiêu nhiều nhất cho phòng nghỉ.
Bảng 3.26. Khoản chi tiêu tốn kém nhất
Đơn vị tính: %
Đi lại Ăn uống Mua sắm Khác
60,61 Phòng nghỉ 9,09 Vui chơi giải trí 16,97 4,24 2,42
Thăm quan 4,24 2,42 (Nguồn: Điều tra của tác giả) Kết quả nói trên rõ ràng cung cấp những thông tin rất giá trị cho việc tìm ra giải pháp đẩy lên mức chi tiêu của du khách, từ đó nâng cao thu nhập từ hoạt động du lịch tại các điểm du lịch vùng Bắc Trung Bộ 3.3.4.2. Đánh giá của du khách
Tương tự trường hợp các chuyên gia, ảnh hưởng đặc điểm cá nhân của du khách tới trả lời của họ cũng sẽ được phân tích. Do vậy, những kiểm định giả thiết sau sẽ được thực hiện.
H0: µi|ddk = µi|ddl H1: µi|ddk ≠ µi|ddl Trong đó µi là giá trị trung bình tiêu chí i của du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ (i=1...47, tương ứng với 47 câu hỏi trong bảng hỏi); dd là một đặc điểm cá nhân của du khách được phỏng vấn (dd=đặc điểm nhân khẩu học, trình độ, nghề nghiệp, nơi ở/làm việc chính) và k, l là những mức, nhóm khác nhau thuộc chung một đặc điểm (ví dụ nam hay nữ trong đặc điểm về giới tính).
Kết quả là trong phần lớn các trường hợp, ta đều không đủ cơ sở để loại bỏ giả thiết H0 tại mức ý nghĩa α=5%. Điều đó có nghĩa là đối với mỗi tiêu chí đánh giá, các du khách có ý kiến đánh giá tương đối ít khác biệt mặc dù họ có thể khác nhau về nhiều đặc điểm cá nhân. Ngoài ra, độ lệch chuẩn đánh giá của các du khách cũng tương đối nhỏ trong phần lớn các trường hợp.6
(1) Về sản phẩm/Điểm thu hút du lịch
Nói cách khác, giống với trường hợp chuyên gia, ta có thể kết luận rằng ý kiến đánh giá của các du khách là khá tập trung và ít bị ảnh hưởng bởi đặc điểm cá nhân của họ. Như vậy, kết quả điều tra, khảo sát du khách có thể tin cậy và sử dụng được để đánh giá liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
Bảng 3.27. Đánh giá về sản phẩm/điểm thu hút du lịch
Các tiêu chí thành phần Sốquan sát Bình quân
Độ lệch chuẩn 0,81 Khí hậu / Thời tiết 175 4,14
6 Kết quả kiểm định các giả thiết và tính toán sẽ được cung cấp nếu có yêu cầu.
99
200 196 194 187 198 188 189 192 192 189 183 190 190 4,10 4,04 3,99 3,57 4,28 3,57 3,26 3,51 3,67 3,68 2,78 3,38 3,46 0,81 0,75 0,81 0,84 0,64 0,89 0,82 0,84 0,99 0,88 0,99 0,93 0,96
186 3,51 0,79
Bãi tắm Danh lam thắng cảnh tự nhiên Di tích lịch sử, văn hóa Biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể thao Ẩm thực Lễ hội, hội chợ, sự kiện Mua sắm Vui chơi, giải trí (thông thường) Vui chơi nước Vui chơi gắn với thiên nhiên Vui chơi mạo hiểm Vui chơi thể thao Vui chơi giải trí về đêm Liên kết, phối hợp các sản phẩm/địa điểm du lịch Bình quân chung 3,66 0,85
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Bảng 3.27 cho thấy nhìn chung yếu tố sản phẩm/điểm thu hút du lịch chỉ đạt giữa mức Trung bình và mức khá (3,66). Những tài nguyên du lịch sẵn có như khí hậu/thời tiết, bãi tắm, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa được đánh giá cao hơn hẳn (phần lớn đạt trên mức khá) so với những tài nguyên du lịch tạo thêm như biểu diễn văn hóa nghệ thuật thể thao, lễ hội sự kiện, mua sắm, vui chơi giải trí,… (dao động từ dưới mức Trung bình đến khoảng giữa mức khá và Trung bình). Kết quả này khá phù hợp với tình hình thực tiễn du khách đến các tỉnh Bắc Trung Bộ chủ yếu để tắm biển, nghỉ dưỡng. Các giá trị gia tăng tạo thêm từ vui chơi giải trí, lễ hội chưa thực sự hấp dẫn, lôi cuốn được du khách. Việc liên kết, phối hợp các sản phẩm, địa điểm du lịch cũng chưa được đánh giá cao. Trong các loại hình vui chơi giải trí thì vui chơi mạo hiểm bị đánh giá khá thấp, chỉ đạt bình quân 2,78, tức dưới mức Trung bình. Trong thực tế thì rõ ràng các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa đầu tư xây dựng được các trung tâm vui chơi giải trí thể thao, mạo hiểm có chất lượng cao thu hút được du khách.
Tuy nhiên, một điều đáng mừng là tiêu chí ẩm thực được du khách đánh giá cao nhất, đạt bình quân 4,28. Đây có lẽ cũng là một nguyên nhân quan trọng của việc có đến 60% du khách chi tiêu nhiều nhất cho ăn uống. Ý kiến của du khách đối với ẩm thực cũng có độ tập trung cao nhất, thể hiện qua độ lệch chuẩn có giá trị nhỏ nhất (0,64). Trong khi đó du khách có đánh giá phân tán lớn nhất đối với các tiêu chí về vui chơi giải trí (độ lệch chuẩn của các tiêu chí này bằng khoảng 33% mức bình quân). Điều này thể hiện du khách có quan điểm đa dạng, khác biệt khi cho nhận xét về các sản phẩm vui chơi giải trí.
Kết quả nói trên phản ánh cầu thị trường đối với liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ bị tác động lớn nhất bởi tài nguyên du lịch tự nhiên sẵn có và ẩm thực. Nói cách khác thì tắm biển, thăm quan và ăn uống vẫn là những lợi
100
(2) Về an ninh, trật tự, môi trường xã hội
thế chính du lịch vùng Bắc Trung Bộ đang dựa vào để thu hút khách du lịch.
Bảng 3.28. Đánh giá về an ninh, trật tự, môi trường xã hội
Số quan sát 196 195 195 185 An toàn thân thể Kiểm soát tệ nạn ăn cắp, cướp giật, lừa đảo Kiểm soát nạn ăn xin, đeo bám, phiền nhiễu du khách Kiểm soát các tệ nạn xã hội khác Chung Độ lệch chuẩn 0,83 0,98 1,05 0,91 0,94
(3) Về vệ sinh, môi trường
Bình quân 4,06 3,97 3,76 3,95 3,94 (Nguồn: Điều tra của tác giả) Bảng 3.28 cho thấy tiêu chí an ninh, trật tự, môi trường xã hội được đánh giá ở sát mức khá (3,94). Tuy nhiên, tiêu chí kiểm soát nạn ăn xin, đeo bám, phiền nhiễu du khách chỉ đạt mức 3,76, thấp hơn khá nhiều so với các tiêu chí còn lại. Thực tế cũng chứng minh đây là vấn đề nổi cộm nhất mà du lịch vùng Bắc Trung Bộ đang phải giải quyết. Như trên đã phân tích, mặc dù đạt được nhiều thành tựu nhưng tệ nạn này vẫn chưa giải quyết được dứt điểm, chủ yếu do số lượng trẻ gây ra tệ nạn này quá đông và khó để kiểm soát mọi nơi, mọi lúc.
Bảng 3.29. Đánh giá về vệ sinh, môi trường
Các tiêu chí thành phần Số quan sát Bình quân
199 199 195 198 Cảnh quan môi trường tự nhiên, đô thị Chất lượng vệ sinh môi trường Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Chất lượng vệ sinh bãi biển, nước biển Bình quân chung 4,01 3,86 4,06 3,90 3,96 Độ lệch chuẩn 0,79 0,78 0,72 0,93 0,80
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Nhìn tổng thể, chất lượng vệ sinh, môi trường của các tỉnh Bắc Trung Bộ được du khách đánh giá ở mức khá (3,96). Tiêu chí “vệ sinh an toàn thực phẩm” và “cảnh quan môi trường tự nhiên, đô thị” được đánh giá cao hơn so với tiêu chí “chất lượng vệ sinh môi trường” và “chất lượng vệ sinh bãi biển, nước biển”, mặc dù sự khác biệt là không nhiều. Kết quả này phản ánh khá chính xác những cố gắng của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ trong việc chỉnh trang môi trường du lịch, từ đó nhận được phản hồi và đánh giá tích cực của du khách. Đánh giá tổng hợp của du khách về vệ sinh, môi trường được nêu trong bảng 3.29.
(4) Về cơ sở hạ tầng, tiện ích
Bảng 3.30. Đánh giá về cơ sở hạ tầng, tiện ích
Các tiêu chí thành phần Số quan Bình Độ lệch
101
sát 192 188 185 193 196 194 188 189 186 184 chuẩn 0,81 0,82 0,77 0,77 0,81 0,71 0,87 0,98 0,98 0,91 0,84 Thông tin, hướng dẫn về du lịch địa phương Điện thoại, internet Giao thông, nhà ga, bến tàu, sân bay Điện, nước sinh hoạt QBách sạn, nhà nghỉ Nhà hàng ăn uống Dịch vụ thanh toán (tài chính, ngân hàng, tiền tệ) Trung tâm vui chơi, giải trí, thể thao Chợ, siêu thị, trung tâm thương mại Y tế, chăm sóc sức khỏe Bình quân chung
(5) Về giá cả
quân 3,65 3,99 3,97 4,12 4,15 4,18 3,75 3,46 3,53 3,72 3,85 (Nguồn: Điều tra của tác giả) Cơ sở hạ tầng, tiện ích phục vụ du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung gần đạt mức khá (3,85). Các loại hình cơ bản (ví dụ phòng nghỉ, nhà hàng, điện nước, giao thông, viễn thông) dường như được đánh giá cao hơn hẳn (trên hoặc sát mức khá 4,0) so với các loại hình ngoài cơ bản (chẳng hạn thông tin hướng dẫn, thanh toán, vui chơi, thương mại, y tế…), thể hiện tại bảng 3.30. Kết quả này phản ánh thực tế các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nỗ lực và thu được thành công nhiều hơn từ phát triển hạ tầng, tiện tích cơ bản tuy nhiên còn hạn chế ở việc tạo ra các cơ sở có giá trị gia tăng cao. Nó cũng nói lên đặc trưng của du khách tới du lịch tại Bắc Trung Bộ chủ yếu là khách bình dân, đại trà nên hoạt động mà họ hướng tới liên quan nhiều đến các loại hình dịch vụ cơ bản.
Bảng 3.31. Đánh giá về giá cả
Các tiêu chí thành phần Số quan sát Bình quân
199 198 190 196 192 189 186 187 Giá cả chung Giá đi lại Giá phòng ở, lưu trú Giá ăn uống tại nhà hàng Giá dịch vụ Giá hàng lưu niệm, quà tặng Giá vui chơi, giải trí Giá vé vào các điểm thăm quan Bình quân chung Độ lệch chuẩn 0,82 0,78 0,78 0,87 0,78 0,83 0,83 0,91 0,83 3,60 3,66 3,62 3,58 3,48 3,54 3,61 3,69 3,60
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Bảng 3.31 báo cáo kết quả đánh giá của du khách về giá cả tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Các chỉ tiêu giá cả được du khách cho ý kiến khá giống nhau, dao động quanh mức 3,6, tức khoảng giữa mức Trung bình và khá, thấp hơn tương đối
102
(6) Về độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ
bản địa
nhiều so với các nhóm tiêu chí khác. Nhìn tổng thể thì giá cả chưa phải là một yếu tố hấp dẫn của du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Kết quả này chủ yếu dựa trên đánh giá chủ quan của du khách, do đó bị tác động rất lớn bởi điều kiện kinh tế, thu nhập của họ chứ không hẳn do thực tế khách quan về mức giá du lịch tại vùng Bắc Trung Bộ. Tuy vậy, điều này là phù hợp với đặc điểm phần lớn du khách tới Bắc Trung Bộ thuộc nhóm bình dân, đại trà, chủ yếu sử dụng các dịch vụ, sản phẩm cơ bản.
Bảng 3.32. Đánh giá về độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa
Các tiêu chí thành phần Số quan sát Bình quân
Độ lệch chuẩn 0,70 0,76 0,73 192 185 183 4,20 4,10 3,87
184 0,78 0,74 Cư dân địa phương Cán bộ chính quyền Taxi/Xe ôm Nhân viên các cơ sở kinh doanh (lưu trú, ăn uống, dịch vụ, lữ hành…) Bình quân chung 4,06 4,06
(7) Về thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung Bộ
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Con người Bắc Trung Bộ nhìn chung nhận được cái nhìn thiện cảm đối với du khách. Trong các đối tượng thì dân thường được đánh giá cao hơn cả, đạt mức 4,20. Cán bộ chính quyền và nhân viên các cơ sở kinh doanh du lịch cũng được cho điểm khá, lần lượt đạt mức 4,10 và 4,06. Tuy nhiên, lái xe taxi và xe ôm được đánh giá chưa cao, chỉ đạt 3,87. Ý kiến đánh giá của du khách đối với con người vùng Bắc Trung Bộ là khá nhất quán, tập trung, thể hiện qua giá trị tương đối thấp của độ lệch chuẩn. Kết quả này là tương đối tích cực và phản ánh sự tiến bộ về nhận thức, ý thức của các tầng lớp dân cư đối với hoạt động du lịch và khách du lịch. Thu hút, tạo ấn tượng đẹp với du khách giờ đây là mục tiêu phấn đấu chung của dân cư, cán bộ, nhân lực du lịch tại các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ. Nó cũng cho thấy tác dụng tốt của công tác tuyên truyền, siết chặt kỷ cương mà chính quyền các cấp đang áp dụng.
Các tiêu chí thành phần Số quan sát Bình quân
189 194 Bảng 3.33. Đánh giá về thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ Độ lệch chuẩn 0,73 0,75 0,74 Phổ cập nhiều người biết đến Hấp dẫn, cuốn hút Bình quân chung 3,95 4,03 3,99
103
(Nguồn: Điều tra của tác giả) Kết quả đánh giá thương hiệu điểm đến du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ được báo cáo tại bảng 3.33. Cả hai tiêu chí đánh giá thương hiệu điểm đến du các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ đều được du khách cho điểm quanh mức khá. Tiêu chí “phổ cập nhiều người biết” được đánh giá thấp hơn một chút so với tiêu chí “hấp dẫn, cuốn hút”. Trả lời của du khách cũng tương đối tập trung, thể hiện qua giá trị khá nhỏ của độ lệch chuẩn. Kết quả này ngoài nguyên nhân từ những nỗ lực phát triển du lịch của Bắc Trung Bộ có lẽ còn do sự thông thạo, quen thuộc của du khách. Như trên đã phân tích, du khách đến với du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ thường nhiều lần, đồng thời phần lớn từ chính các địa phương trong vùng và gần vùng. Do vậy, họ nắm rất rõ các đặc thù của du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ và lựa chọn được những điểm có giá trị để trở lại thưởng thức nhiều lần.
3.3.5. Kiểm định độ tin cậy của mô hình 3.3.5.1. Đánh giá thang đo phần gốc của mô hình bằng phương pháp phân tích
hệ số Cronbach Alpha
Như thông lệ, đánh giá thang đo bằng phương pháp phân tích hệ số Cronbach
Alpha được tiến hành đầu tiên để loại bỏ những biến rác hoặc ít quan trọng.
Như đã giải thích trên đây, mô hình được áp dụng có cấu trúc nhiều tầng nấc. Toàn bộ mô hình bao gồm 118 tiêu chí cơ sở nhưng những tiêu chí này được cấu trúc theo những cách khác nhau. Mặc dù có 5 nhóm yếu tố lớn nhưng trong từng nhóm yếu tố lớn lại có cấu trúc khác nhau. Ví dụ nhóm yếu tố cầu được quyết định toàn bộ bởi 2 tiêu chí thành phần trong khi các nhóm yếu tố còn lại được hình thành từ nhiều yếu tố phụ. Các yếu tố phụ thuộc 3 nhóm yếu tố quản lý du lịch tại địa phương, các điều kiện hoàn cảnh, kết quả hoạt động du lịch được quyết định bởi những tiêu chí nhất định. Trong khi đó các yếu tố phụ thuộc nhóm yếu tố các tài nguyên lại gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần mới được quyết định bởi một số tiêu chí cụ thể.
Vì lý do này, cấu trúc của mô hình sẽ được giữ nguyên khi áp dụng phân tích Cronbach Alpha. Nói cách khác, phân tích Cronbach Alpha sẽ được áp dụng đối với các tiêu chí cơ sở thuộc từng thành phần (ví dụ các thành phần thuộc các yếu tố phụ trong nhóm yếu tố về tài nguyên du lịch), yếu tố phụ (ví dụ yếu tố phụ trong các nhóm yếu tố về quản lý liên kết du lịch tại địa phương, các điều kiện hoàn cảnh, kết quả hoạt động du lịch) hoặc nhóm yếu tố (thị trường). Trừ những thành phần hoặc yếu tố phụ chỉ có một chỉ tiêu, tổng số phân tích Cronbach Alpha phải tiến hành là 27 phân tích. Việc đánh giá thang đo bằng phân tích hệ số Cronbach Alpha được thực hiện bằng phần mềm SPSS 22. 0.
Bảng 3.34. Kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha phần gốc của mô hình
Gợi ý
Thành phần / Yếu tố phụ / Nhóm yếu tố
Cronbach Alpha
Vị trí trên thị trường
0,548
Địa phương Thanh Hóa
Loại bỏ tiêu chí “Sự khác biệt so với các địa phương khác”
Nghệ An Thân thiện / Mến khách
0,482
Chập hai tiêu chí “Sự thân thiện”
104
Gợi ý
Địa phương
Thành phần / Yếu tố phụ / Nhóm yếu tố
Cronbach Alpha
và “Sự ủng hộ”
0,287
Loại bỏ tiêu chí “Quan hệ khác”
0,485
Chập một số tiêu chí
Quan hệ thị trường Quản lý quảng bá du lịch địa phương Môi trường tổng thể (vĩ mô) Cạnh tranh về giá
0,396 0,535
Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí
Khách trong nước
0,389
Chập một số tiêu chí
Chỉ số cạnh tranh về giá
0,507
Các tài nguyên tự nhiên sẵn có
0,535
Hà Tĩnh
Thân thiện / Mến khách
0,574
Quan hệ thị trường Các tài nguyên tự nhiên sẵn có
0,580 0,574
Đi lại
0,354
Chập hai tiêu chí “Chi tiêu” và “Tỷ lệ chi tiêu” Chập một số tiêu chí Chập hai tiêu chí “Sự thân thiện” và “Sự ủng hộ” Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí hoặc loại bỏ tiêu chí “Kết hợp thăm viếng địa điểm khác”
Thừa Thiên - Huế
Thân thiện / Mến khách
0,553
Chập hai tiêu chí “Sự thân thiện” và “Sự ủng hộ”
0,464 0,485 0,559
Quan hệ thị trường Đầu tư cho du lịch Các tài nguyên tự nhiên sẵn có
Đi lại
0,538
Quảng Bình
Quan hệ thị trường Môi trường tổng thể (vĩ mô) Đầu tư cho du lịch
0,535 0,396 0,525
Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí hoặc loại bỏ tiêu chí “Kết hợp thăm viếng địa điểm khác” Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí Chập một số tiêu chí (Nguồn: Tính toán của tác giả) Phân tích Cronbach Alpha được áp dụng cho từng địa phương được khảo sát (mỗi địa phương 27 phân tích). Do số phân tích là rất lớn nên mục này chỉ tổng hợp những kết quả chính. Kết quả chi tiết về phân tích hệ số Cronbach Alpha cho từng địa phương được nêu trong Phụ lục. Việc tổng hợp kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha được tiến hành dựa vào các quy tắc thông dụng để quyết định các tiêu chí được sử dụng có phù hợp hay không là hệ số Cronbach Alpha > 0,6 (Nunnally và Burnstein, 1994). Chỉ những kết quả không đáp ứng được tất quy tắc này thì mới được phân tích trong mục này.
Bảng 3.34 nêu kết quả phân tích hệ số Cronbach Alpha. Kết quả phân tích
105
3.3.5.2. Đánh giá thang đo phần mở rộng của mô hình bằng phương
pháp phân tích hệ số Cronbach Alpha Tương tự như đối với phần gốc, việc đánh giá thang đo phần mở rộng của mô hình bằng phương pháp phân tích hệ số Cronbach Alpha giúp xác định những biến không quan trọng có thể loại bớt khỏi mô hình.
cho thấy mô hình nhìn chung là đáng tin cậy do số lượng các thành phần/nhóm yếu tố có hệ số Cronbach Alpha thấp là rất nhỏ. Phần lớn các phân tích đều cho kết quả hệ số Cronbach Alpha lớn hơn 6,0. Để giúp cho mô hình tốt hơn thì một số thành phần, nhóm yếu tố phải được điều chỉnh lại các tiêu chí trực thuộc. Tuy nhiên, do các địa phương có sự khác biệt về những thành phần, nhóm yếu tố cần được điều chỉnh nên việc giữ nguyên các tiêu chí thuộc phần gốc của mô hình như thiết kế ban đầu vẫn có thể chấp nhận được.
Kết quả chi tiết đánh giá thang đo phần mở rộng của mô hình bằng phương pháp phân tích hệ số Cronbach Alpha được nêu trong Phụ lục. Hệ số Cronbach Alpha tính được có giá trị rất cao, bằng 0,972. Đồng thời, phần lớn các hệ số tương quan biến tổng của các tiêu chí đều lớn hơn 0,3 và việc loại bỏ biến/tiêu chí không giúp tăng thêm hệ số Cronbach Alpha. Do vậy, 48 tiêu chí đưa vào phần mở rộng của mô hình là phù hợp (Nunnally và Burnstein, 1994).
3.3.5.3. Phân tích nhân tố khám phá phần gốc của mô hình Phân tích nhân tố khám phá (EFA) giúp nhóm các tiêu chí được giữ lại sau khi phân tích hệ số Cronbach Alpha vào một số các thành phần chính. Về cơ bản, EFA giúp đơn giản hóa toàn bộ dữ liệu. Như phân tích Cronbach Alpha cho thấy, tất cả các tiêu chí thuộc phần gốc của mô hình đều có thể được giữ lại mà không làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng phân tích. Tuy nhiên, do phần gốc của mô hình có cấu trúc phức tạp, nhiều tầng nấc, EFA không thể thực hiện được cho tất cả các tiêu chí như thông thường mà cần áp dụng đối với nhóm những tiêu chí nhất định. Cụ thể, phân tích EFA sẽ được tiến hành đối với các tiêu chí thuộc từng nhóm yếu tố là quản lý liên kết du lịch tại địa phương, các điều kiện hoàn cảnh, cầu và kết quả hoạt động du lịch. Riêng đối với nhóm yếu tố các tài nguyên du lịch, phân tích EFA sẽ được áp dụng cho các yếu tố thuộc từng nhóm yếu tố phụ là các tài nguyên sẵn có, các tài nguyên tạo thêm và các yếu tố phụ trợ. Phân tích EFA được áp dụng cho tất cả các địa phương có dữ liệu thu thập bằng phần mềm SPSS 22.0. Phương pháp trích được lựa chọn là phân tích thành phần chính (PCA) còn phương pháp quay vuông góc là Varimax. những điểm chính thu được, thể hiện tại bảng 3.35.
Kết quả chi tiết phân tích EFA được nêu tại Phụ lục. Mục này chỉ phân tích
Bảng 3.35. Kết quả phân tích nhân tố khám phá phần gốc của mô hình
Nhóm yếu tố / Yếu tố phụ KMO Địa phương Số thành phần rút trích Số thành phần/ yếu tố phụ theo thiết kế ban đầu Tổng phương sai trích (%)
106
2 5 5 0,756 0,906 0,810 2 2 4 59,15 67,58 69,73
5 0,912 4 80,59 Thanh Hóa
5 1 6 2 5 5 0,841 0,500 0,836 0,568 0,750 7 1 4 3 3 5 79,51 82,67 73,32 78,85 92,00 66,29
5 0,830 6 74,49 Nghệ An
5 1 6 2 5 5 0,765 0,5 0,613 0,895 0,822 8 1 5 3 3 5 75,37 74,57 75,31 65,03 70,79 72,88
Hà Tĩnh 5 0,904 4 79,21
5 1 6 2 5 5 0,827 0,646 0,840 0,638 0,837 0,639 7 0,500 5 3 4 7 76,35 82,283 77,68 63,42 71,02 76,52
5 0,835 5 67,11
Thừa Thiên - Huế
5 1 6 2 5 5 0,727 0,699 0,771 0,752 0,805 0,741 8 1 5 3 4 5 76,45 84,955 73,60 69,73 71,04 69,88
5 0,825 6 72,21 Quảng Bình
Các tài nguyên sẵn có Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ Quản lý liên kết du lịch tại địa phương Các điều kiện hoàn cảnh Cầu Kết quả hoạt động du lịch Các tài nguyên sẵn có Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ Quản lý liên kết du lịch tại địa phương Các điều kiện hoàn cảnh Cầu Kết quả hoạt động du lịch Các tài nguyên sẵn có Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ Quản lý liên kết du lịch tại địa phương Các điều kiện hoàn cảnh Cầu Kết quả hoạt động du lịch Các tài nguyên sẵn có Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ Quản lý liên kết du lịch tại địa phương Các điều kiện hoàn cảnh Cầu Kết quả hoạt động du lịch Các tài nguyên sẵn có Các tài nguyên tạo thêm Các yếu tố phụ trợ Quản lý liên kết du lịch tại địa phương Các điều kiện hoàn cảnh Cầu Kết quả hoạt động du lịch 5 1 6 0,727 0,500 0,770 7 1 5 72,48 77,13 72,82
107
(Nguồn: Tính toán của tác giả) Nhìn chung, do hệ số KMO đều lớn (lớn hơn 0,5), mức ý nghĩa Sig nhỏ (đều bằng 0,000) và tổng phương sai trích đều lớn hơn 50% nên kết quả EFA là đáng tin cậy (Hair và cộng sự, 2006). Thiết kế ban đầu của mô hình gốc phù hợp với kết quả EFA về số thành phần rút trích thể hiện ở những nhóm yếu tố / yếu tố phụ là “các yếu tố phụ trợ”, “quản lý du lịch tại địa phương” và “cầu”.
Đối với yếu tố phụ “các tài nguyên sẵn có”, số lượng thành phần như thiết kế ban đầu là 2 nên được tăng thành 3. Do đó, thành phần “văn hóa/di sản” có thể được tách thành hai thành phần riêng biệt.
Đối với yếu tố phụ “các tài nguyên tạo thêm”, số lượng thành phần như thiết kế ban đầu là 5 nên được giảm thành 3. Vì vậy, thành phần “mua sắm”, “giải trí” và “sự kiện/lễ hội” có thể được gộp thành một.
Đối với yếu tố “các điều kiện hoàn cảnh”, số lượng yếu tố phụ như thiết kế ban đầu là 5 nên được tăng thành 7. Do đó, yếu tố phụ “môi trường liên kết (vi mô)” và “môi trường tổng thể (vĩ mô)” có thể cùng được tách làm hai.
Đối với yếu tố “kết quả hoạt động du lịch”, số lượng yếu tố phụ như thiết kế ban đầu là 6 nên được giảm thành 5. Yếu tố phụ “khách du lịch” và “chi tiêu của du khách” có thể được gộp thành một. 3.3.5.4. Phân tích nhân tố khám phá phần mở rộng của mô hình Phân tích hệ số Cronbach Alpha cho thấy không cần thiết phải loại bất kỳ biến số (tiêu chí) nào khỏi phần mở rộng của mô hình. Vấn đề bây giờ là kiểm định việc sắp xếp 48 tiêu chí vào 7 nhóm thành phần như thiết kế ban đầu có phù hợp không thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA sử dụng phần mềm SPSS 22.0. Giống như trên đây, phương pháp trích được lựa chọn là phân tích thành phần chính (PCA) còn phương pháp quay vuông góc là Varimax. Kết quả chi tiết EFA phần mở rộng của mô hình được nêu tại Phụ lục.
Kết quả phân tích nhân tố khám phá cho thấy hệ số KMO=0,855, mức ý nghĩa Sig=0,000 và kiểm định Barlett đều chứng tỏ có ý nghĩa thống kê ở mức cao (Hair và cộng sự, 2006). Điểm dừng tại giá trị Eigenvalue là 1,124 và số các thành phần rút trích ra là 10 sẽ giải thích được 67,94% tất cả biến thiên của dữ liệu, đáp ứng được yêu cầu hơn 50% (Hair et al, 2006). Do số thành phần rút trích bằng 10 lớn hơn thiết kế ban đầu, một số nhóm thành phần lớn như “sản phẩm/điểm thu hút du lịch”, “cơ sở hạ tầng tiện ích” có thể tách thành những thành phần nhỏ hơn.
Nhìn chung, mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch biển, đảo đủ tin cậy để sử dụng phân tích kết quả điều tra, khảo sát ý kiến của chuyên gia và du khách. Để giúp cho mô hình được tốt hơn, cấu trúc của một số yếu tố, yếu tố phụ có thể được thay đổi một chút so với thiết kế hiện tại.
3.3.6. Đánh giá điểm mạnh, điểm yếu về liên kết phát triển du lịch vùng Bắc
Trung Bộ
Nhìn một cách tổng thể, liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đạt giữa mức Trung bình. Cầu thị trường được đánh giá là mặt mạnh nhất của liên kết
108
phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong khi kết quả hoạt động du lịch bị đánh giá thấp nhất. Kết quả nói trên cho thấy còn có một khoảng cách khá xa giữa liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ so với những địa phương hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên, do những nỗ lực nhằm tăng thêm giá trị gia tăng của các tài nguyên du lịch sẵn có, ví dụ như thông qua phát triển các tài nguyên tạo thêm và yếu tố phụ trợ, nâng chất lượng hoạt động quản lý du lịch và cải thiện các điều kiện hoàn cảnh... liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đã có nhiều kết quả tốt. Các tiêu chí lấy ý kiến chuyên gia nhiều hơn so với du khách nhưng được phân loại bằng 5 nhóm lớn là: các tài nguyên, quản lý du lịch, các điều kiện hoàn cảnh, thị trường và kết quả hoạt động du lịch. Kết quả hoạt động du lịch và các tài nguyên bị đánh giá thấp nhất.
Tài nguyên phát triển du lịch vùng là nhóm yếu tố bị đánh giá thấp trong 5 nhóm yếu tố điều tra chuyên gia, điểm số trung bình thấp hơn nhiều so với Thừa Thiên - Huế và Quảng Bình. Trong nhóm tiêu chí tài nguyên du lịch, các tiêu chí thuộc yếu tố phụ trợ, cơ sở hạ tầng tiện ích được cho điểm cao hơn so với các tiêu chí thuộc yếu tố tài nguyên tạo thêm và tài nguyên thừa kế.
Tài nguyên thừa kế được đánh giá trên mức bình quân, cao hơn một chút so với Thanh Hóa và Hà Tĩnh nhưng thấp hơn nhiều so với Thừa Thiên - Huế và Quảng Bình, trong đó yếu tố về tự nhiên như thời tiết khí hậu hay danh lam thắng cảnh, thảm động thực vật được ghi nhận là bất lợi. Tuy nhiên tài nguyên di sản văn hóa của Nghệ An được đánh giá tương đương với Thừa Thiên - Huế và Quảng Bình.
Trong các tài nguyên tạo thêm của Nghệ An thì cơ sở hạ tầng được đánh giá cao nhất và vui chơi giải trí bị đánh giá thấp nhất. Tài nguyên phụ trợ được đánh giá mức trung bình, sự thân thiện của Nghệ An là yếu tố phụ trợ được cho điểm cao nhất trong khi chất lượng dịch vụ được đánh giá thấp nhất.
Quản lý của chính quyền tỉnh đối với du lịch tại địa phương được đánh giá đạt trên trung bình. Hai nhóm tiêu chí quản lý quảng bá du lịch và phát triển nguồn nhân lực được cho điểm tốt nhất, nhóm tiêu chí kém nhất là ra chính sách, lập kế hoạch và phát triển du lịch.
Các điều kiện hoàn cảnh của Bắc Trung Bộ đạt trên mức trung bình, trong đó nhóm tiêu chí điều kiện hoàn của của Nghệ An được đánh giá tốt nhất là Trật tự/An ninh/An toàn trong khi nhóm yếu tố thấp nhất là môi trường cạnh tranh vi mô. Cầu thị trường của Bắc Trung Bộ cũng được nhận định ở mức tương đối khi so sánh với các điểm đến khác với điểm số ở mức trung bình khá (3,5). Kết quả hoạt động du lịch của các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ nhìn chung được đánh giá ở mức thấp so với các nhóm tiêu chí khác. Các nhóm tiêu chí về khách, chi tiêu, đóng góp, đầu tư, cạnh tranh về giá, hỗ trợ của chính quyền của các tỉnh Bắc Trung Bộ được cho điểm từ 3 đến 3,2 điểm.
109
Trong số 7 tiêu chí lấy ý kiến du khách thì tiêu chí thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ và tiêu chí độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa được đánh giá cao nhất.
Tiêu chí thương hiệu có điểm số đánh giá cao là 4,10, trong đó tiêu chí “phổ cập nhiều người biết” được đánh giá thấp hơn so với tiêu chí “hấp dẫn, cuốn hút”. Tiêu chí chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa được đánh giá ở mức khá 4,06 điểm. Du khách đánh giá thiện cảm đối với con người vùng Bắc Trung Bộ, đặc biệt là những người dân thường, tuy nhiên, lái xe taxi và xe ôm lại được đánh giá chưa cao.
Tiêu chí sản phẩm/điểm thu hút và giá cả bị đánh giá thấp nhất trong số 7 nhóm tiêu chí. Các giá trị gia tăng tạo thêm từ vui chơi giải trí, lễ hội chưa thực sự hấp dẫn, lôi cuốn được du khách. Việc liên kết, phối hợp các sản phẩm, địa điểm du lịch cũng chưa được đánh giá cao. Bên cạnh đó, giá cả chưa phải là một yếu tố hấp dẫn của Bắc Trung Bộ. Kết quả này có thể do ý kiến chủ quan của du khách, điểu này cũng cho thấy thị trường mục tiêu của Bắc Trung Bộ là nhóm du khách có điều kiện kinh tế, thu nhập trung bình. Tuy vậy, xét về tiêu chí sản phẩm, những tài nguyên du lịch sẵn có được đánh giá cao hơn hẳn so với những tài nguyên du lịch tạo thêm. Điều đáng ghi nhận là tiêu chí ẩm thực được du khách đánh giá cao nhất và giá trị của độ lệch chuẩn nhỏ cũng thể hiện sự thống nhất của du khách về lợi thế ẩm thực của các địa phương vùng Bắc Trung Bộ.
Các tiêu chí vệ sinh môi trường và an ninh trật tự môi trường xã hội được đánh giá ở mức khá . “Vệ sinh an toàn thực phẩm” và “cảnh quan môi trường tự nhiên, đô thị” được đánh giá cao hơn so với tiêu chí “chất lượng vệ sinh môi trường” và “chất lượng vệ sinh bãi biển, nước biển”. Bên cạnh đó, tiêu chí kiểm soát nạn ăn xin gây ảnh hưởng đến du khách đạt thấp hơn khá nhiều so với các tiêu chí còn lại.
Cơ sở hạ tầng, tiện ích phục vụ du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ nhìn chung gần đạt mức khá. Các loại hình cơ bản (ví dụ phòng nghỉ, nhà hàng, điện nước, giao thông, viễn thông) được đánh giá cao hơn hẳn so với các loại hình ngoài cơ bản (thông tin hướng dẫn, thanh toán, vui chơi, thương mại, y tế).
Từ đánh giá của chuyên gia và du khách, du khách có xu hướng đánh giá Bắc Trung Bộ cao hơn so với các chuyên gia. Điều này cũng dễ hiểu bởi một khi đã quyết định tới du lịch Bắc Trung Bộ, về cơ bản du khách đã đánh giá du lịch vùng Bắc Trung Bộ có nhiều giá trị hơn so với các điểm đến khác. Tuy nhiên, vị trí tương đối của nhóm các yếu tố là khá đồng nhất giữa ý kiến của chuyên gia và du khách. Ví dụ cả du khách và chuyên gia đều cho rằng du lịch vùng Bắc Trung Bộ dường như thành công hơn trong việc liên kết tiếp thị, quảng bá và đổi mới cung cách quản lý, điều hành và làm du lịch cũng như phát triển, hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, việc cải thiện những yếu tố chủ chốt của du lịch là sản phẩm, địa điểm thu hút du lịch và giá cả thì chưa thành công bằng. Tài nguyên tự nhiên du lịch vùng Bắc Trung Bộ cũng có vị trí tương đối thấp so với các tiêu chí khác, thể hiện thực tế kém lợi thế về mặt điều kiện tự nhiên so với những địa phương hàng đầu của cả nước về du lịch.
110
Những kết quả thu được nói trên đã phản ánh được những lợi thế và bất lợi về liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Đó là những cơ sở thực tiễn và khoa học sát thực cho khuyến nghị các giải pháp của chính quyền các tỉnh Bắc Trung Bộ nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ được trình bày ở chương sau. 3.4. Đánh giá chung
3.4.1. Kết quả đạt được
Một là, nâng cao nhận thức về liên kết phát triển du lịch Hoạt động hợp tác du lịch của các tỉnh Bắc Trung Bộ ngày càng có chiều sâu, thu hút sự tham gia của nhiều địa phương và doanh nghiệp trong và ngoài vùng, tăng cường sự gắn kết trong các hoạt động du lịch. Nhận thức về tầm quan trọng của liên kết phát triển du lịch ngày càng được nâng cao, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý du lịch các cấp ở địa phương. Từ sau đại hội XII của Đảng, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị (tháng 1/2017) về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, các địa phương của vùng Bắc Trung Bộ đã có nhiều chính sách cụ thể để phát huy tiềm năng du lịch. Quan điểm phát triển du lịch vùng được thể hiện trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2161/QĐ-TTg ngày 11 tháng 11 năm 2013 phù hợp với quan điểm chung của Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh tập trung phát triển du lịch tham quan nghiên cứu di sản thế giới và văn hóa - lịch sử; Liên kết, hợp tác nội vùng, liên vùng và quốc tế là nội dung quan trọng, xuyên suốt đối với phát triển du lịch Bắc Trung Bộ. Một số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế đã có nhiều chính sách đặc thù cho phát triển du lịch. Nội dung liên kết trong chính sách du lịch của tỉnh được chú trọng. Trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và chính sách phát triển du lịch nói riêng, các cấp chính quyền của vùng Bắc Trung Bộ đã nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của liên kết giữa các địa phương trong và ngoài vùng; liên kết ngành (liên kết các ngành công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ với du lịch); liên kết giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp du lịch; liên kết giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch nội vùng và liên vùng. Các địa phương và kinh doanh du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ đã bước đầu xây dựng được nền tảng phương hướng hợp tác phát triển du lịch, mở ra hành làng pháp lý cho các tỉnh trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động của địa phương. Các chính sách của địa phương đã góp phần tăng cường sự tham gia của khối doanh nghiệp du lịch, phát triển hoạt động du lịch nhằm thu hút du khách đến với địa phương và khu vực, đồng thời mạnh dạn đầu tư phát triển các sản phẩm mới có liên quan đến du lịch. Bên cạnh đó, thúc đẩy công tác quy hoạch, định vị thị trường, xác định hướng thu hút đầu tư hạ tầng và cơ sở vật chất chuyên ngành, các chương trình hợp tác phát triển du lịch đã được thực hiện việc xây dựng các cơ chế thu hút đầu tư về
111
Hai là, các chương trình liên kết đã bước đầu kết nối không gian du lịch
Ba là, chương trình liên kết du lịch đã góp phần bảo tồn di sản văn hóa, khơi
du lịch, xúc tiến quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch một cách thống nhất. Thông qua các chương trình liên kết phát triển du lịch, các địa phương và doanh nghiệp ở Bắc Trung Bộ đã xác định rõ hơn vai trò của liên kết vùng trong phát triển du lịch, nhận thức rõ hơn các rào cản về thể chế, về phối hợp chung trong công tác xúc tiến quảng bá, xây dựng sản phẩm du lịch liên vùng, cải thiện cơ sỏ hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, quy hoạch phát triển du lịch cấp vùng và tiểu vùng và các điều kiện khác để phát triển du lịch bền vững. vùng Bắc Trung Bộ, khắc phục sự chia cắt về du lịch trong từng địa phương Thông qua các chương trình hợp tác, đã hình thành mối liên kết du lịch mang tính liên vùng và đồng thời tạo điều kiện mở rộng liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ với các trung tâm du lịch và các địa phương trong nước, thúc đẩy du lịch xuyên quốc gia, tạo cầu nối liên kết du lịch với các nước trong khu vực. dậy tiềm năng và nâng cao thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Trên thực tế, du lịch về nguồn có không ít lợi thế, thậm chí là những giá trị độc đáo, đặc biệt mà các loại hình du lịch khác khó có thể so sánh. Nếu chúng ta biết khai thác, tôn vinh đúng cách sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch hết sức đa dạng, mang đến cho du khách nhiều trải nghiệm mới, thú vị. Để tương xứng với tiềm năng sẵn có, ngành du lịch cần phải làm nhiều hơn nữa để việc du lịch tới mỗi “địa chỉ đỏ” thật sự trở thành một hành trình lịch sử, văn hóa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, nhắc nhở đến những địa danh, những con người đã làm nên lịch sử hào hùng và nền văn hóa đặc sắc của dân tộc, giáo dục giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống cho thế hệ tương lai.
Một số địa phương hiện có nhiều tour về nguồn hấp dẫn có thể kể đến như: Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa. Du lịch Quảng Bình trong vài năm trở lại đây, bên cạnh các tour khám phá hang động, thưởng ngoạn danh lam thắng cảnh cũng đã hết sức chú trọng các tour về nguồn. Quảng Bình đang có những tour về nguồn rất hấp dẫn du khách như địa đạo Văn La, điểm di tích Làng Ho, bến đò Mẹ Suốt, bến phà Long Đại.... Các địa phương khác như Quảng Trị cũng đang có nhiều nỗ lực đầu tư, hoàn thiện dịch vụ tại các điểm di tích lịch sử để du khách có nhu cầu trải nghiệm “về nguồn” đến tham quan thật sự thoải mái và muốn quay trở lại. Thành cổ Quảng Trị, cầu Hiền Lương, bến sông Thạch Hãn (Quảng Trị)... cũng được ghi nhận là các “địa chỉ đỏ” có nhiều du khách đến hơn, chủ yếu do cách làm du lịch của địa phương ngày càng chuyên nghiệp với nhiều nội dung phong phú và hấp dẫn. Nhiều chuyến du lịch về nguồn đã được chào bán rộng rãi trong các đơn vị lữ hành, thậm chí trở thành tour hút khách.
3.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Nhìn chung, Du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong những năm qua đã có bước phát triển khá, tuy nhiên kết quả đạt được chưa thực sự tương xứng với tiềm năng du lịch. Thu hút đầu tư du lịch ở nhiều tỉnh trong vùng đã được cải thiện, song các
112
hoạt động du lịch của vùng còn ở dạng nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chưa có được sự hợp tác chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng làm cho sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp dẫn và thiếu tính cạnh tranh. Du lịch đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương trong vùng, tuy nhiên, nguồn nhân lực du lịch của hầu hết các tỉnh trong vùng nhìn chung còn hạn chế về chất lượng và thiếu chuyên nghiệp.
Một là, các chương trình liên kết chưa xây dựng được cơ chế chính sách phù
hợp trên phạm vi toàn vùng.
Việc phát triển thương hiệu, xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, thiếu chuyên nghiệp. Phát triển du lịch của vùng đang trong tình trạng “mạnh ai, nấy làm, thiếu sự góp sức, chia sẻ của các địa phương trong vùng làm giảm thế mạnh và giá trị sản phẩm du lịch. Các dịch vụ du lịch ít được đổi mới, quá lệ thuộc vào một số thị trường quen thuộc nên dễ gặp rủi ro khi có biến động. Bên cạnh đó, nhiều địa phương chưa có biện pháp khắc phục tính mùa vụ trong hoạt động du lịch nên hiệu quả hoạt động du lịch chưa cao.
Đặc biệt, trong liên kết phát triển du lịch về nguồn. Mặc dù đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, du lịch về nguồn hiện vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, vai trò vẫn còn khiêm tốn trong toàn cảnh bức tranh du lịch. So với số lượng di tích lịch sử, các “địa chỉ đỏ” có tiềm năng phát triển du lịch thì số lượng các tour để lại ấn tượng cho du khách chưa nhiều. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta đang lãng phí tài nguyên du lịch. Hệ thống các di tích chính là nơi lưu giữ các di sản văn hóa lịch sử vô giá nhưng chúng ta vẫn để phần lớn các địa chỉ này “ngủ yên”, chưa biết cách đánh thức, khai thác để làm sống động các giá trị này trong lòng người thông qua các sản phẩm du lịch độc đáo. Nhiều địa phương cũng chung cảnh ngộ, dẫn đến tình trạng du lịch vẫn đang loay hoay chưa biết cách làm để thu hút du khách trong các tour về nguồn. Chính vì nội dung tour du lịch còn nghèo nàn; nguồn nhân lực chưa chuyên nghiệp, còn yếu về chất lượng, thiếu về số lượng; việc trùng tu tôn tạo chủ yếu dựa vào ngân sách của Nhà nước; thiếu sự liên kết chặt chẽ với các công ty, doanh nghiệp khai thác du lịch; công tác truyền thông, quảng bá các “địa chỉ đỏ” cũng chưa được nhiều địa phương quan tâm, chú trọng,... nên phần lớn điểm di tích chưa thể phát huy, tạo được nguồn thu nhập ổn định hiệu quả để tự thân phát triển, chưa nói tới việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Để thay đổi tình trạng nêu trên, ngành du lịch của mỗi địa phương cần phải chủ động đưa ra những giải pháp phù hợp, trước hết là quan niệm về hình thức du lịch này. Cần nhận thức rằng, các di tích lịch sử, văn hóa đang ngày càng đem lại cơ hội lớn thu hút du khách vì các giá trị văn hóa, lịch sử, tâm linh luôn luôn ẩn chứa trong đó, nhiệm vụ của chúng ta là phải phát huy tối đa những giá trị của từng “địa chỉ đỏ”. Mỗi di tích lịch sử cần phải được xây dựng một chương trình riêng và phù hợp, với nội dung hấp dẫn để quảng bá hình ảnh tới các công ty lữ hành, mời gọi khách du lịch, thông qua việc chú trọng xây dựng, nâng cấp, hoàn chỉnh các phòng truyền thống, phòng trưng bày hiện vật, tư liệu, phòng chiếu phim, tạo cảnh quan chung quanh các điểm di tích
113
nhằm thiết lập một không gian thật sự hấp dẫn, thu hút du khách. Điều đáng nói là, với các di tích có nhiều lợi thế khai thác du lịch, bên cạnh việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, cần tạo môi trường thuận lợi khuyến khích sự chung tay của xã hội cũng như vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước. Công việc này cần được kết hợp chặt chẽ với việc nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp cho đội ngũ quản lý và nhân viên theo hướng khai thác du lịch tại điểm di tích lịch sử. Đồng thời, cần có sự phối hợp các ngành liên quan trong quy hoạch, xây dựng mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông, hệ thống bến bãi nhằm tạo điều kiện tiếp cận thuận lợi các điểm di tích lịch sử khai thác tiềm năng phát triển du lịch. Vấn đề quảng bá thông tin du lịch tại các “địa chỉ đỏ” cũng cần được quan tâm đúng mức, đầu tư thỏa đáng, nhằm giúp du khách có cơ hội biết nhiều hơn về các tour về nguồn để có lựa chọn phù hợp. Một trong những vấn đề quan trọng nhất để phát triển du lịch về nguồn là tính chủ động của từng địa phương trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá mời gọi du khách tìm đến.
Mặc dù chương trình liên kết du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ đã bước đầu được hình thành. Tuy nhiên, sự phối hợp trên nhiều nội dung quan trọng chưa thực hiện được hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện. Các hoạt động liên kết chủ yếu dựa vào cơ chế hội nghị của các Ban chỉ đạo hàng năm. Các chương trình liên kết còn thiếu thể chế, chính sách liên kết vùng, chưa có cơ chế hiệu quả để tạo sự liên kết, thực hiện các cam kết phối hợp. Các cam kết giữa các tỉnh thành viên cũng như cam kết giữa các địa phương và doanh nghiệp thiếu tính pháp lý ràng buộc, chủ yếu dựa vào tính tự nguyện và nhận thức của các bên. Vì vậy, trong một số hoạt động, sự liên kết phối hợp giữa các địa phương còn mang tính hình thức, hành chính. Mặt khác, do thiếu các nguồn lực cần thiết (như nguồn nhân lực, kinh phí, cơ sỏ vật chất cần thiết) nên các chương trình khó hoạt động.
Sự phối hợp giữa các địa phương trong việc thực thi chính sách, kế hoạch liên kết du lịch vẫn còn nổi lên nhiều vấn đề, tình trạng “mạnh ai nấy chạy“ giữa các tỉnh tạo ra sự cạnh tranh, chay đua thu hút đầu tư, thi nhau “trải thảm đỏ“ mời gọi các nhà đầu tư vào địa phương mình, nhiều hình thức ưu đãi được áp dụng (giảm thuế, giảm giá thuế đất, thậm chí giảm các điều kiện về môi trường) khiến lợi ích tổng thể về du lịch bị giảm đi ở cấp độ quốc gia cũng như trong từng vùng du lịch và ngay ở từng địa phương trong vùng. Đó cũng là hệ quả của tư duy, cơ chế quản lý, phân cấp ngân sách theo địa bàn cấp tỉnh ở nước ta hiện nay. Sự hạn chế của cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong việc thực hiện các chương trình liên kết thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.36. Kết quả khảo sát về việc thiếu cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong các chương trình liên kết du lịch ở Bắc Trung Bộ
Đồng ý Tổng số Không đồng ý Không có ý kiến gì Hoàn toàn đồng ý Hoàn toàn không đồng ý
114
3 35 122 170 56 386
0 0 0 10 8 18
0 0 0 25 20 45
0 6 8 46 7 67
0 3 6 23 7 107 7 82 0 21 20 236
0.78 9,07 31,61 44,04 14,51 100,00
0,00 0,00 0,00 55,56 44,44 100,00
0,00 0,00 0,00 55,56 44,44 100,00
0,00 8,96 11,94 68,66 10,45 100,00
Tổng số người được điều tra (người) Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch Cơ cấu theo mức độ đồng ý (%) Tổng số người được điều tra (%) Cán bộ cơ quan QLNN về du lịch Cán bộ các khu du lịch & các đơn vị sự nghiệp về du lịch Các doanh nghiệp/ hộ kinh doanh du lịch Các nhà khoa học Khách du lịch 0,00 1,27 30,00 9,75 35,00 45,34 35,00 34,75 0,00 8,90 100,00 100,00
(Nguồn: Tính toán của tác giả) Do chưa xây dựng được cơ chế chính sách mang tính liên vùng cùng như tỏng phạm vi tiểu vùng phù hợp với tính đặc thù của toàn vùng và từng tiểu vùng, chưa hình thành được thể chế quản trị chung để điều phối trên phạm vi toàn vùng, nên hoạt động du lịch về cơ bản vẫn mang tính khép kín trong từng địa phương. Do liên kết chưa hiệu quả nên du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ cũng chưa hình thành được các cực tăng trưởng thực sự đủ sức lôi kéo và tác động lan tỏa đến các địa phương khác. Nhiều khu du lịch tring tâm mang tính chất cực tăng trưởng mới ở dạng tiềm năng, chưa được đầu tư thành điểm mạnh của vùng và tiểu vùng nên thiếu tác dụng lan tỏa; chưa có liên kết chặt chẽ giữa vùng Bắc Trung Bộ với các trung tâm du lịch quốc gia và liên kết với các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Thái Lan và các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Hai là, về tiếp cận điểm đến, hệ thống giao thông trong vùng đã được quan tâm đầu tư, hai tuyến đường quan trọng đi qua vùng là: Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh đã được đầu tư nâng cấp, giảm thiểu thời gian đi lại cho du khách. Hệ thống đường sắt kết nối với các trung tâm lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành Phố Hồ Chí Minh nên thuận lợi cho khách du lịch đến các điểm du lịch trong vùng. Tuy nhiên, nhìn chung giao thông đường bộ còn thiếu đồng bộ, hệ thống
115
đường sắt còn lạc hậu do thiếu nguồn lực đầu tư nên hạn chế không nhỏ đến lựa chọn của du khách khi có ý định sử dụng phương tiện này.
Giao thông đường biển chưa phát triển do thiếu đầu tư, đặc biệt hệ thống hạ tầng phục vụ phát triển du lịch như cảng biển du lịch…cảng Chân Mây của Thừa Thiên Huế cũng chỉ mới đón một số chuyến tàu du lịch do các tàu biển quốc tế cập cảng, còn hầu hết các cảng biển trong vùng như cảng Vũng Áng, Nghi Sơn, Cửa Việt chưa được khai thác phục vụ phát triển du lịch.
Bắc Trung Bộ có 4 cảng hàng không, trong đó có hai cảng hàng không quốc tế đó là: Cảng hàng không Phú Bài (Thừa Thiên - Huế), cảng hàng không Vinh và 2 cảng hàng không nội địa là Thọ Xuân (Thanh Hóa) và Đồng Hới (Quảng Bình). Các cảng hàng không trong vùng hầu hết chưa có tuyến bay quốc trực tiếp mà chỉ thông qua cảng hàng không Nội Bài và Tp Hồ Chí Minh, nên cũng hạn chế khả năng tiếp cận của điểm đến. Mặt khác, giờ bay còn chưa thuận lợi, hoặc là quá sớm hoặc quá muộn, nên chưa phù hợp cho việc đi lại của khách du lịch đến vùng.
Ba là, chưa xây dựng sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng của vùng Bắc
Trung Bộ
Các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ chưa tập trung xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, ít quan tâm phát triển sản phẩm mới, vẫn còn sự trùng lặp về sản phẩm giữa các tỉnh, đặc biệt là sản phẩm du lịch cộng đồng. Các đại phương chủ yếu khai thác những sản phẩm sẵn có chứ chưa tạo ra sản phẩm du lịch mới, mang tính đặc trưng vùng miền. Mối liên kết du lịch giữa các địa phương còn thiếu những sản phẩm du lịch chất lượng cao. Sản phẩm du lịch của vùng có tính thời vụ rất rõ nét, đặc biệt là tại các khu du lịch biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm,…Ngoài ra, đây là vùng thường xuyên chịu tác động lớn từ thiên tai như bão, lũ lụt, lở đất ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động du lịch của vùng.
Các loại hình dịch vụ vui chơi giải trí của vùng Bắc Trung Bộ còn hạn chế và ít được đầu tư. Hiện nay, chỉ các trung tâm du lịch lớn trong vùng như Huế, Vinh, Phong Nha – Kẻ Bàng, Hà Tĩnh và Sầm Sơn có đầu tư cho loại hình du lịch này còn hầu hết các điểm du lịch khác hầu như chưa có, do đó du khách dễ bị nhàm chán, thiếu sự hấp dẫn du khách.
Bốn là, ô nhiễm môi trường, đặc biệt môi trường nước biển đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều địa phương, trong đó có vùng Bắc Trung Bộ. Năm 2016, thảm họa biển miền Trung do ảnh hưởng môi trường nghiêm trọng từ khu công nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã tác động rất mạnh tới lượng khách du lịch đến 3 tỉnh gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị. Do đó, vấn đề môi trường cũng đã trở thành những thách lớn trong quá trình phát triển du lịch của vùng.
Để đánh giá rõ hơn thực trạng liên kết du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, tác giả đã khảo sát các đối tượng bào gồm cán bộ trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, cán bộ ở các khu du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các nhà khoa học và khách du lịch với tổng số phiếu khảo sát thu về là 386 phiếu hợp lệ. Theo cách đánh giá thang điểm từ 1 đến 5 (với 1 điểm là mức đánh giá thấp nhất, và
116
5 điểm là mức đánh giá cao nhất), điểm bình quân đánh giá của người được điều tra về thực trạng nội dung liên kết của các tỉnh trong vùng về chiến lược, quy hoạch, vf chính sách phát triển du lịch; liên kết về phát triển sản phẩm du lịch; liên kết về xúc tiến, quảng bá du lịch còn thấp, chỉ từ 2,9 đến 3,11 điểm. Tương tự, điểm bình quân đánh giá về mức độ liên kết giữa các doanh nghiệp nội vùng và liên vùng, liên kết điểm đến, liên kết với nước ngoài cũng khá thấp, chỉ từ 2,83 đến 2,9 điểm.
Bảng 3.37. Điểm bình quân đánh giá của người được khảo sát về thực trạng nội dung liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ (với 1 là điểm đánh giá ở mức thấp nhất, và 5 là điểm đánh giá ở mức cao nhất)
Khách du lịch Cán bộ các khu du lịch Các nhà khoa học Tổng hợp chung
Các doanh nghiệp du lịch
Cán bộ cơ quan quản lý nhà nước về du lịch
3,11
3,00
3,14 2,98 2,77 3,28 3,09
2,90
3,11 2,78 2,98 3,11 2,97
2,08
2,66 2,90 3,08 2,86 2,92
3,07
3,29 3,19 2,92 2,93 3,03
2,99
2,99 3,26 2,98 2,91 3,06
2,75 2,87 2,90 3,17 2,99 1.Thực trạng liên kết về chiến lược, quy hoạch và chính sách phát triển du lịch Liên kết của các tỉnh về chiến lược phát triển du lịch Liên kết của các tỉnh về quy hoạch phát triển vùng du lịch Liên kết của các tỉnh về chính sách khuyến khích liên kết du lịch 2.Thực trạng liên kết về sản phẩm du lịch Liên kết phát triển các sản phẩm du lịch chung toàn vùng Liên kết phát triển sản phẩm đặc trưng của từng nhóm địa phương Liên kết sản phẩm đặc thù của từng tỉnh
117
2,93
2,99
2,92 2,73 2,88 2,82 3,15
3,06
2,98 2,84 2,81 2,91 3,20
2,83
2,97 2,90 3,08 2,91 3,24
2,85 2,53 2,84 2,65 3,11
3,06
2,99 2,99 3,04 2,88 3,14 3,04
3,08 2,93 3,19 2,95 3,09 Liên kết hình thành chuỗi dịch vụ du lịch ở toàn vùng Liên kết xây dựng các tour, tuyến du lịch 3. Thực trạng liên kết trong xúc tiến, quảng bá du lịch Liên kết xây dựng trang web chung Liên kết xây dựng thương hiệu chung Liên kết tham gia hội chợ về du lịch Liên kết chia sẻ và cung cấp thông tin
(Nguồn: Tính toán của tác giả)
*Nguyên nhân của hạn chế
Một là , thiếu chính sách ưu tiên, cơ chế tài chính huy động các nguồn lực cho hoạt động xúc tiến du lịch chung 04 tỉnh; chưa có cơ chế chính sách điều chỉnh các hoạt động xúc tiến đáp ứng được với yêu cầu phát triển du lịch; Cơ chế phối hợp chưa chặt chẽ, thiếu tính liên tục, hiệu lực thi hành chưa cao. Chưa có sự thống nhất đồng bộ giữa các tổ công tác của 4 tỉnh nên sự phối hợp để triển khai nhiệm vụ, trao đổi, thống nhất kế hoạch còn chậm.
Hai là, công tác chỉ đạo, lãnh đạo còn thiếu tập trung; sự phối hợp giữa các cấp,các ngành, các tổ chức về phát triển du lịch chưa được quan tâm; thiếu tính liên tục và hiệu lực thi hành; tổ chức bộ máy xúc tiến du lịch mỏng; các Tổ công tác phát triển du lịch chủ yếu là kiêm nhiệm, chưa có nhiều thời gian dành cho các nhiệm vụ hợp tác; chưa chủ động trong công tác tham mưu và triển khai nhiệm vụ. Hoạt động liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các ngành, giữa các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ và chính quyền địa phương chưa hiệu quả. Việc xây dựng và triển khai các nhiệm vụ còn nhiều thủ tục, mất nhiều thời gian, dẫn đến tình trạng dồn việc vào cuối năm. Hoạt động du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tính mùa vụ... gây khó khăn trong công tác quản lý nói chung và quản lý, khai thác, phát triển du lịch nói riêng.
Ba là, công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch chưa được thường xuyên; hình thức tổ chức chưa chuyên nghiệp, chưa có được sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, địa phương với các doanh nghiệp.
Bốn là, các doanh nghiệp du lịch phần lớn có quy mô nhỏ, khả năng hội nhập, cạnh tranh và tính chủ động, chuyên nghiệp chưa cao; chất lượng lao động du lịch còn nhiều hạn chế.
118
Năm là, nguồn kinh phí ngân sách dành cho các hoạt động du lịch ở một số tỉnh quá ít ỏi, nguồn xã hội hóa không nhiều nên ảnh hưởng đến việc tham gia tổ chức các sự kiện, các hoạt động xúc tiến, quảng bá trong và ngoài nước. Trong năm có nhiều nội dung công việc được giao đột xuất nên các tỉnh đã phải chuyển nội dung và kinh phí của kế hoạch ban đầu sang cho nội dung công việc đột xuất nên một số tỉnh không còn nguồn để tham gia một số các hoạt động do Tổng cục Du lịch tổ chức và nếu địa phương này tổ chức thì các địa phương khác không bố trí được kinh phí để tham gia cùng. Công tác huy động các nguồn lực tham gia xúc tiến du lịch còn hạn chế. Dự án EU đã kết thúc nên công tác hướng dẫn, hỗ trợ chuyên gia và kỹ thuật cho các tỉnh Bắc Trung Bộ chưa được nhiều, dẫn đến khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ chung. Các thành viên Tổ công tác tham mưu chủ yếu là kiêm nhiệm, chưa có nhiều thời gian dành cho các nhiệm vụ được giao.
119
Chương 4
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG LIÊN
KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI CÁC TỈNH
VÙNG BẮC TRUNG BỘ
4.1. Quan điểm và định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
4.1.1. Quan điểm
Để phát huy có hiệu quả vai trò, vị trí du lịch vùng Bắc Trung Bộ và tiềm
năng thế mạnh du lịch của vùng trong tổng thể du lịch quốc gia thì vấn đề hợp tác,
liên kết phát triển du lịch là giải pháp then chốt, có ý nghĩa hết sức quan trọng,
trong đó, liên kết phát triển sản phẩm du lịch có chất lượng, thống nhất trong đa
dạng, tạo dựng thương hiệu du lịch cho vùng, cho quốc gia.
Một là, trên quan điểm liên kết bình đẳng, các bên cùng có lợi trên cơ sở khai
thác và phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh về du lịch của từng địa phương và toàn
vùng để cùng phát triển du lịch một cách bền vững. Tăng cường liên kết phát triển du
lịch giữa các địa phương trong vùng, giữa vùng với các địa bàn khác trong cả nước và
liên kết với quốc tế và với các nước trong khu vực nhằm đa dạng hóa sản phẩm du
lịch phù hợp với thế mạnh của từng địa phương, tạo sự độc đáo trong các tour du lịch,
tăng cường chất lượng sản phẩm du lịch và xúc tiến quảng bá du lịch, vừa tạo sự hài
hòa, thống nhất và sức mạnh tổng hợp của từng địa phương, của vùng.
Tập trung phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch là thế mạnh của vùng,
nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm du lịch để khẳng định thương hiệu du lịch
cho vùng và cho quốc gia. Theo hướng này cần tập trung phát triển nhóm sản phẩm
du lịch biển, đảo gắn với hệ thống đô thị du lịch biển, các khu du lịch biển, các đảo
du lịch, trong đó chú trọng đặc biệt phát triển sản phẩm cao cấp, sản phẩm có tính
cạnh tranh cao với các nước trong khu vực (nghỉ dưỡng biển cao cấp, thể thao biển,
sinh thái biển, tàu biển; du lịch MICE với chuỗi các sự kiện du lịch trong vùng);
Phát triển nhóm sản phẩm du lịch văn hóa gắn với các di sản thế giới, di tích lịch sử
chiến tranh, cách mạng (xây dựng các bộ sản phẩm du lịch di sản văn hóa gắn với
120
con đường di sản miền Trung; Bộ sản phẩm du lịch gắn với chiến công hào hùng
của dân tộc, anh hùng dân tộc; Bộ sản phẩm gắn với bản sắc cộng đồng của các địa
phương vùng Bắc Trung Bộ); Phát triển các nhóm sản phẩm du lịch sinh thái gắn
với đa dạng sinh học dãy Trường Sơn, đặc biệt khai thác giá trị nổi bật toàn cầu của
di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng gắn với hệ thống
các hang động đẹp, độc đáo nhất thế giới.
Hai là, liên kết trên tinh thần tự nguyện của các địa phương, tổ chức, doanh
nghiệp; có bước đi thích hợp, theo từng giai đoạn, mục tiêu cụ thể trên cơ sở lựa
chọn những nội dung, lĩnh vực trọng điểm phát triển du lịch của các địa phương và
của toàn vùng.
Về dài hạn: khai thác, phát huy có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh của
từng địa phương và toàn vùng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng du lịch nhanh, phát
triển bền vững. Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch đặc thù của từng địa phương,
từng vùng có giá trị gia tăng lớn, có sức cạnh tranh ở tầm quốc gia, khu vực và quốc
tế; góp phần tạo ra nhiều việc làm, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các
tầng lớp dân cư trong vùng.
Về ngắn hạn:Ưu tiên tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu như phát triển
kết cấu hạ tầng du lịch kết nối “cửa đến” với các trọng điểm du lịch của vùng; phát
triển du lịch sản phẩm đặc thù, các khu, điểm du lịch quốc gia trên địa bàn vùng;
đào tạo nâng cao năng lực nguồn nhân lực du lịch, chú trọng nhân lực nghề; phân
công, chuyên môn hóa các địa phương, doanh nghiệp thực hiện hợp phần trong
chuỗi giá trị du lịch mang tính vùng, xúc tiến đầu tư du lịch vùng… nhằm tạo lập
không gian du lịch thống nhất toàn vùng để cùng phát triển, tăng sức cạnh tranh
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
4.1.2. Định hướng liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
* Định hướng chung
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn phát triển
trong môi trường hội nhập quốc tế và cạnh tranh toàn cầu. Theo cách tiếp cận đó, tái
cơ cấu của ngành du lịch phải bắt đầu từ việc định vị lại chức năng, sứ mệnh của
mình trong cấu trúc phát triển hiện đại, thay đổi cách nhìn về tài sản – tài nguyên du
121
lịch. Xác định đúng tài nguyên đó là của ai, cho ai, vì ai, nhờ ai trong thế giới toàn
cầu hóa – hội nhập và cạnh tranh dựa trên nền tảng công nghệ cao sẽ giúp xác lập
nền tảng phát triển mới cho ngành du lịch Việt Nam. Khi đó một công cuộc phát
triển hiện đại của ngành du lịch mới thực sự bắt đầu.
* Định hướng phát triển du lịch Bắc Trung Bộ
Để đáp ứng các yêu cầu phát triển hiện đại, cần có cách tiếp cận mới căn bản,
trên cơ sở thay đổi từ quan niệm về ngành du lịch, về lợi thế và các điều kiện phát
triển cho đến cách tiếp cận và phương thức phát triển.
Trong thế giới hiện đại, có 3 điều kiện có thể làm cho ngành du lịch đóng vai
trò “ngành mũi nhọn” ở Bắc Trung Bộ, đó là: (i) điều kiện và quốc tế xu hướng toàn
cầu; (ii) thay đổi logic phát triển của vùng (để xác định ngành đóng vai trò trục dẫn
dắt cơ cấu); (iii) phát triển dựa chủ yếu vào lợi thế để đột phá và sự vượt trội.
Trong giai đoạn tới, quan điểm về lợi thế, về tài nguyên du lịch của vùng
trong môi trường hội nhập quốc tế cần thay đổi. Phải coi đây là tài sản thuộc về loài
người, là quốc gia chứ không phải của riêng địa phương trong vùng. Việc khai thác
và hưởng thụ chúng phải đặt trên tầm nhìn quốc tế, trong khuôn khổ quốc gia, trong
sự liên kết vùng và liên vùng, ở đẳng cấp quốc tế và quốc gia.
Để đạt được mục tiêu đó, phải thay đổi tư duy chiến lược phát triển du lịch
vùng với định hướng ngay từ đầu là xây dựng một ngành du lịch đẳng cấp cao vượt
trội (ít nhất cũng là so với thực trạng hiện nay hoặc hơn thế, vượt lên để liên kết và
cạnh tranh cùng thắng với các nước trong khu vực, với các vùng khác trong nước).
Cần phải nhanh chóng vượt qua tư duy phát triển du lịch lấy “sản lượng khách” làm
thước đo thành công chủ yếu, ưu tiên hướng tới chất lượng khách (dịch vụ và sản
phẩm phục vụ đẳng cấp cao)7
Thứ nhất, phát triển đa dạng thị trường khách du lịch, đẩy mạnh phát triển
đồng thời cả du lịch nội địa và du lịch quốc tế.
Đối với thị trường du lịch nội địa, chú trọng khách nghỉ dưỡng biển, du lịch
về nguồn, nghỉ cuối tuần, lễ hội tâm linh; Khuyến khích phát triển, mở rộng thị
7 Trần Đình Thiên (2016), Liên kết du lịch Trung bộ: Xác lập chuỗi và định hình đẳng cấp, Kỷ yếu hội thảo khoa học liên kết phát triển du lịch vùng Bắc – Nam Trung bộ, Tr 77 – 88.
122
trường du lịch sinh thái và du lịch kết hợp công vụ.
Đối với thị trường khách quốc tế, phát triển mạnh thị trường gần như Đông
Nam Á, đặc biệt là các thị trường trong hành lang kinh tế Đông Tây và Đông Bắc
Á; Tăng cường khai thác thị trường truyền thống cao cấp từ Tây Âu, Bắc Âu, Bắc
Mỹ, Châu Đại dương...
Thứ hai, chú trọng phát triển sản phẩm du lịch khác biệt, độc đáo và đa
dạng, phù hợp với nhu cầu thị trường, đảm bảo bền vững về môi trường, sinh thái.
Trên cơ sở lợi thế tài nguyên của vùng, tập trung phát triển các sản phẩm du
lịch văn hóa, lịch sử trên cơ sở khai thác hiệu quả hệ thống di sản thế giới và các di
tích văn hóa, lịch sử - cách mạng trong vùng; phát triển các sản phẩm du lịch nghỉ
dưỡng biển. Đa dạng hóa sản phẩm nhằm khắc phục tính thời vụ của hoạt động du
lịch. Tăng cường liên kết phát triển sản phẩm du lịch giữa các địa phương trong
vùng và với các địa phương lân cận như Đà Nẵng, Quảng Nam, Ninh Bình, cũng
như với các quốc gia khác trên hành lang kinh tế Đông Tây.
Thứ ba, tăng cường thu hút đầu tư phát triển du lịch: Có chiến lược đầu tư
phù hợp nhằm phát huy hiệu quả vốn đầu tư, tạo cho môi trường đầu tư thuận lợi để
phát triển tương xứng với vai trò là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn. Đầu
tư để xây dựng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch có chất lượng cao – đẳng
cấp, đồng bộ (cơ sở lưu trú, vui chơi giải trí- thể thao, phương tiện vận chuyển, các
cơ sở dịch vụ du lịch khác), để có đủ điều kiện để phục vụ nhu cầu của khách du
lịch chi trả cao.
Thứ tư, có cơ chế, chính sách thúc đẩy đầu tư kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ
tầng kết nối các khu điểm du lịch của vùng; có cơ chế cởi mở, thông thoáng, ưu đãi,
khích lệ các doanh nghiệp và người dân chủ động và tích cực tham gia đầu tư cơ sở
hạ tầng du lịch, sáng tạo ý tưởng, đầu tư nguồn lực để hình thành các sản phẩm du
lịch; xây dựng cơ chế điều phối liên kết vùng để cùng giải quyết những vấn đề
chung đảm bảo mục tiêu hài hòa lợi ích và cạnh tranh bình đẳng giữa các tỉnh trong
vùng, từng bước thực hiện vai trò động lực lan tỏa vùng kinh tế Bắc Trung Bộ.
Có cơ chế, chính sách hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển để tăng
cường năng lực bộ máy và hoạt động xúc tiến quảng bá, đẩy mạnh liên kết giữa các
123
địa phương trong vùng cùng với Tổng cục Du lịch triển khai các chương trình xúc
tiến quảng bá du lịch quốc gia và của vùng.
Có cơ chế chính sách để khuyến khích người dân và doanh nghiệp tư nhân
tham gia góp ý vào các dự án đầu tư, xây dựng và đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ
du lịch như dịch vụ lưu trú tại nhà dân, dịch vụ ẩm thực, hướng dẫn du lịch bản địa,
sản xuất và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hàng lưu niệm truyền thống của
địa phương, cung cấp sản vật của địa phương cho phát triển du lịch.
Thứ năm, đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
Đẩy mạnh quảng bá du lịch vùng trên internet và các mạng truyền thông xã
hội. Các Sở Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các doanh nghiệp trong
vùng chủ động tham gia các hội chợ du lịch quốc tế, các chương trình giới thiệu du
lịch Việt Nam tại những thị trường trọng điểm và tiềm năng ở nước ngoài. Đẩy
mạnh hoạt động xúc tiến du lịch Vùng thông qua việc xây dựng bộ nhận diện
thương hiệu du lịch vùng dựa trên cơ sở các sản phẩm du lịch đặc thù của Vùng và
tiềm năng du lịch của từng địa phương trong Vùng.
Tăng cường tổ chức các FAMTRIP cho các hãng lữ hành và PRESS TRIP
cho phóng viên báo chí, truyền hình trong nước và quốc tế tới khảo sát tiềm năng và
sản phẩm du lịch của vùng. Phối hợp với các hãng hàng không trong nước xây dựng
chương trình quảng bá du lịch, sản phẩm du lịch của vùng Bắc Trung Bộ để quảng
bá trên các chuyến bay của các hãng hàng không Việt Nam.
Thứ sáu, nâng cao vai trò tham mưu quản lý nhà nước, vai trò của Hiệp hội
Du lịch và tăng cường liên kết trong phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
Nâng cao năng lực quản lý chuyên ngành du lịch của Sở Du lịch, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch trong Vùng. Nâng cao năng lực quản lý trong xây dựng và
quản lý quy hoạch, quản lý đầu tư xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến
quảng bá, đào tạo bồi dưỡng, quản lý môi trường du lịch…Tăng cường liên kết, hợp
tác, phối hợp trong hoạt động du lịch giữa các ngành ở địa phương; giữa các địa
phương trong vùng để tạo sản phẩm du lịch có chất lượng, khác biệt, hấp dẫn và có
khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước.
Nâng cao vai trò của Hiệp hội Du lịch của các tỉnh trong vùng Bắc Trung
124
Bộ trong việc kết nối, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp lữ hành và các doanh
nghiệp đẩy mạnh liên kết, hợp tác xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của Vùng, từ
đó hình thành các chương trình du lịch hấp dẫn.
Thực hiện liên kết chặt chẽ trong vùng về đầu tư phát triển du lịch, xây
dựng các chương trình liên kết chung của vùng, liên kết quảng bá xúc tiến du lịch
vùng, liên kết đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch, xây dựng trang Web du
lịch chung của vùng; đẩy mạnh liên kết với các địa phương ngoài vùng, đặc biệt chú
trọng liên kết với Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Ninh Bình và Quảng Nam;
thúc đẩy hợp tác liên kết chặt chẽ, hiệu quả với các quốc gia trên Hành lang Kinh tế
Đông Tây và trong Tiểu vùng sông Mêkông mở rộng.
Đẩy mạnh và tăng cường hợp tác, liên kết giữa các tỉnh Bắc Trung Bộ, giữa
các doanh nghiệp trong và ngoài vùng để đầu tư phát triển sản phẩm du lịch Vùng;
thường xuyên trao đổi kinh nghiệm và tìm được tiếng nói chung thông qua các kênh
hợp tác, liên kết phát triển sản phẩm du lịch đặc thù, khác biệt của Vùng, nâng cao
vị thế cạnh tranh điểm đến cho toàn Vùng.
Hợp tác, liên kết trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch chuyên
nghiệp, chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn nghề quốc gia và khu vực.
Thứ bảy, tăng cường liên kết ứng dụng khoa học công nghệ giữa các địa
phương trong vùng. Tích cực ứng dụng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công
nghệ số trong đầu tư phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến, quảng bá du lịch; Áp
dụng công nghệ sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch trong các doanh
nghiệp du lịch ở Vùng Bắc Trung Bộ.
Thứ tám, coi trọng bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên du lịch trong quá
trình đầu tư phát triển du lịch. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi
trường, phát triển du lịch xanh, thân thiện với môi trường, ứng phó với biến đổi khí
hậu. Chú trọng phát triển sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, khuyến
khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia đầu tư phát triển du lịch, chia sẻ lợi ích và trách
nhiệm trong khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khuyến khích các doanh
nghiệp (chủ yếu là các khách sạn) ứng dụng công nghệ sạch trong kinh doanh để
125
giảm ô nhiễm, chất thải, năng lượng tiêu thụ so với các công nghệ thay thế, đẩy
mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
Với nhiều lợi thế rất lớn về tài nguyên du lịch văn hóa, lịch sử, tài nguyên
thiên nhiên – sinh thái rừng, biển độc đáo và hệ thống di tích của các danh nhân,
văn hóa, chính trị của Việt Nam, cùng với xu hướng đầu tư cho phát triển du lịch tại
các tỉnh trong vùng ngày càng mạnh sẽ hứa hẹn cho du lịch vùng Bắc Trung Bộ cơ
hội phát triển du lịch nhanh, hiệu quả và bền vững trong thời gian tới.
4.2. Giải pháp tăng cường liên kết phát triển du lịch tại các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ
4.2.1. Xây dựng chiến lược hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ
Hoạt động liên kết hiện tại mới đang ở giai đoạn trao đổi thông tin, phối hợp
hành động dựa trên các hoạt động cụ thể. Các hoạt động được xây dựng theo từng
năm chủ yếu do một tỉnh đăng cai tổ chức. Cơ chế họp 1-2 năm một lần chủ yếu tập
trung vào khâu tổng kết, báo cáo hơn là công tác điều hành. Quy mô hợp tác này
chưa đáp ứng được yêu cầu của một «vấn đề chung» là phát triển du lịch trên phạm
vi toàn vùng Bắc Trung Bộ. Chiến lược hợp tác liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ
là cơ sở tạo nên niềm tin cho các bên tham gia, tạo ra định hướng chia sẻ chung
cũng như là cơ sở xây dựng các chương trình hành động cụ thể.
Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam tới năm 2020, tầm nhìn
tới năm 2030, việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cấp vùng, trong
đó có vùng Bắc Trung Bộ đã được đặt ra và sẽ được Bộ Văn hóa Thể thao và Du
lịch thực hiện. Quy hoạch này sẽ đưa ra tầm nhìn và giải pháp chiến lược cho phát
triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Tuy vậy, đối với các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, bên
cạnh việc khuyến nghị các cơ quan trung ương sớm xây dựng quy hoạch Vùng, cần
có những hoạt động chủ động định hướng chiến lược cho phát triển du lịch vùng,
làm nền tảng cho các hoạt động liên kết vùng. Ngay cả khi quy hoạch du lịch vùng
được xây dựng, việc tổ chức triển khai quy hoạch một cách có chiến lược cũng là
nhiệm vụ hợp tác liên kết của các tỉnh.
Các hoạt động hợp tác, liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ cần được xây dựng
thành các chương trình hành động dài hơi, với sự tham gia của nhiều tỉnh, nhiều
126
bên, tập trung vào các vấn đề trong công tác quản lý phát triển du lịch. Các chương
trình hành động cũng đưa ra các mục tiêu, giải pháp, nguồn lực và kết quả đạt được
làm cơ sở triển khai, giám sát việc thực hiện các hoạt động du lịch.
Một thực tế hiện tại là các chương trình hợp tác phát triển du lịch giữa các tỉnh
trong vùng Bắc Trung Bộ còn khá khiêm tốn bởi những hạn chế về nguồn lực, hạn
chế về sáng kiến và mức độ cam kết thực hiện các sáng kiến đưa ra. Việc xây dựng
các chương trình hợp tác cụ thể cho phép huy động nguồn lực ở các tỉnh cũng như
phân bổ nguồn lực giữa các tỉnh.
Mô hình quản lý hiện tại với Ban chỉ đạo là lãnh đạo các tỉnh (các thường là
phó chủ tịch tỉnh), bộ phận điều phối có sự tham gia của lãnh đạo các sở văn hóa,
thể thao, du lịch các tỉnh. Mô hình có tác động rõ ràng trong các hoạt động điều
phối nhưng hạn chế hiệu quả trong các hoạt động chỉ đạo chiến lược. Liên kết du
lịch vùng cần những hoạt động mang tính điều phối nhưng cần hơn nữa những định
hướng mang tính chiến lược để thúc đẩy hoạt động liên kết sâu rộng và hiệu quả.
Cần có những cơ chế hợp tác với những cơ quan/mô hình hợp tác đảm nhận chức
năng xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển du lịch cả vùng.
Phát triển liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ cần đặt trong yêu cầu và tầm nhìn
cho phát triển du lịch của cả vùng như là một điểm đến du lịch. Một điểm đến du lịch
cần có cơ quan quản lý. Cơ quan này có thể là cơ quan hành chính, có thể là tổ chức
với sự tham gia của các bên nhưng nhất thiết cần có sự có mặt của cơ quan hành chính
(bao gồm cơ quan quản lý du lịch). Cơ quan này có thể là một tổ chức độc lập hoặc là
một tổ chức phối hợp giữa các bên tham gia. Hiện tại vùng Bắc Trung Bộ đang thiếu
cơ quan quản lý du lịch cấp vùng này với đầy đủ các nhiệm vụ và chức năng của nó
4.2.2. Giải pháp liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch
vùng Bắc Trung bộ
+ Về tổ chức, quản lý
Hiện nay, việc hình thành các Ban Điều phối vùng để có khả năng liên kết
các địa phương, thúc đẩy các hoạt động du lịch đang là yêu cầu cần thiết xuất phát
từ thực tiễn ở nhiều vùng du lịch. Các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay đã có mô hình
hoạt động của Ban điều phối vùng Bắc miền Trung. Ban đã có nhiều hoạt động
127
quan trọng liên quan đến thúc đẩy các mối liên kết phát triển sản phẩm du lịch. Tuy
vậy, đối với lĩnh vực du lịch cần có sự gắn kết chặt chẽ hơn, cần xem xét mô hình tổ
chức của Ban để xác định rõ hơn vai trò và chức năng nhiệm vụ của Ban đối với
hoạt động liên kết phát triển du lịch, bộ phận giúp việc cần có cán bộ chuyên trách
về lĩnh vực du lịch. Việc này thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ trong các địa phương của
mỗi vùng và tạo cơ sở cho sự liên kết vùng Bắc Trung Bộ. Trên cơ sở hình thành
các Ban điều phối phát triển du lịch của mỗi vùng thì kế hoạch xúc tiến quảng bá
của các địa phương sẽ được tập hợp và thống nhất thành chiến lược và kế hoạch
hành động chung, trong đó các hoạt động nào các địa phương chủ động thực hiện và
các hoạt động nào phối hợp liên kết trong một số địa phương có cùng mục tiêu hoặc
nội dung xúc tiến. Cũng vậy, kế hoạch xúc tiến quảng bá theo từng thời kỳ là căn cứ
để liên kết giữa các vùng.
Xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu du lịch trên cơ sở liên vùng cũng
đặt ra vai trò của các địa phương đầu tàu. Trong mỗi vùng du lịch, không phải địa
phương nào cũng có tiềm năng và năng lực, kinh nghiệm phát triển du lịch như
nhau. Vì vậy những địa phương có tiềm lực lớn hơn, có kinh nghiệm hơn trong triển
khai thực hiện công tác xúc tiến quảng bá, phát triển thương hiệu trong thời gian
gần đây như Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Thanh Hóa, Nghệ An cần dẫn dắt quá
trình liên kết và chủ động trong công tác liên kết xúc tiến quảng bá.
+ Về cơ chế liên kết và huy động nguồn lực trong liên kết xúc tiến quảng bá,
phát triển thương hiệu
Về tài chính, hiện nay, các tỉnh Bắc Trung Bộ đã được hình thành Qũy
nghiên cứu phát triển miền Trung nằm trong sự điều tiết của Ban Điều phối vùng
Bắc Trung Bộ là một thuận lợi khá lớn so với nhiều vùng khác nhau trên cả nước.
Vùng du lịch Bắc Trung Bộ cũng cần nghiên cứu hình thức Qũy để có cơ chế tài
chính linh hoạt các hoạt động du lịch. Quỹ này có thể giúp thúc đẩy nhiều hoạt
động, liên kết chung trong phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá, đào tạo
nguồn nhân lực, thậm chí là xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch nếu đủ lớn.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa và liên kết công - tư, thu hút các
nguồn lực xúc tiến quảng bá. Xây dựng các cơ chế thu hút tham gia xã hội hóa hoạt
128
động xúc tiến quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch. Sự tham gia đa thành phần
cần chú trọng đến tính đồng bộ, tính thống nhất của hệ thống xúc tiến để đảm bảo
khả năng liên kết lâu dài và phát triển thương hiệu du lịch. Ở đây, vai trò của Ban
điều phối phát triển du lịch các vùng là rất cần thiết, với vai trò điều tiết, xây dựng
cơ chế về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của các doanh nghiệp khi được thu hút
tham gia các hoạt động xúc tiến quảng bá, đặc biệt là các hoạt động liên kết giữa hai
vùng. Ban cũng cần có kế hoạch xúc tiến quảng bá, phát triển thương hiệu di lịch
liên vùng, chủ động tạo ra sân chơi thu hút các doanh nghiệp tham gia.
Phát triển thương hiệu du lịch có sự tham gia của rất nhiều thành phần nên sự
huy động sự ủng hộ các ngành, các lĩnh vực, các cá nhân, tổ chức, cộng đồng xã hội
trong các hình thức liên kết khác nhau là rất cần thiết. Thông qua các hoạt động văn
hóa, thương mại, ngoại giao...để thúc đẩy thông tin quảng bá, phát triển thương hiệu
du lịch.
Xây dựng tính cộng đồng yêu thích các dòng sản phẩm du lịch của vùng Bắc
Trung Bộ như du lịch di sản, du lịch biển..., thông qua những người yêu thích du
lịch hay những người con quê hương hoặc xa quê hương để hình thành nên những
nhóm ủng hộ và giới thiệu chân thành cho sản phẩm hoặc vùng đất họ yêu thích.
Đặc biệt nhiều địa phương trong vùng Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà
Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế... có sự gắn bó chặt chẽ trong cộng
đồng và dễ dàng hình thành các diễn đàn ủng hộ du lịch quê nhà và vùng du lịch nơi
họ sinh thành. Những người con của mỗi vùng đất khi trở thành những người nổi
tiếng, những ca sỹ, nghệ sỹ thành danh cần được khuyến khích, động viên để trở
thành đại sứ du lịch cho địa phương và cả vùng du lịch.
+ Về đẩy mạnh tính chuyên nghiệp hóa của hoạt động xúc tiến quảng bá và
phát triển thương hiệu
Để đảm bảo điều kiện liên kết xúc tiến quảng bá và phát triển thương hiệu thì
trước tiên, các vùng theo cơ chế Ban điều phối hoặc bản thân các địa phương cần có
kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng xúc tiến, tổ chức troa đổi kinh nghiệm
giữa các địa phương, các kinh nghiệm triển khai tổ chức thành công các chiến dịch
xúc tiến quảng bá, quản trị rủi ro, xây dựng thương hiệu điểm đến.
129
Kế hoạch xúc tiến quảng bá giữa các địa phương cần được tham khảo lẫn
nhau, theo đó, các hoạt động xúc tiến quảng bá liên kết cần được triển khai đồng bộ,
thống nhất theo cùng quy mô và cơ chế tham gia. Các địa phương cần thường xuyên
cập nhật và học tập kinh nghiệm để cùng triển khai các hình thức hoặc các kênh xúc
tiến quảng bá hiện đại, phù hợp với xu thế thị trường. Cần đẩy mạnh quảng bá điện
tử, cải thiện tính hấp dẫn và tính năng trang thông tin điện tử, tham gia quảng bá
qua các kênh mạng xã hội, xây dựng lòng tin của thị trường thông qua sự tin tưởng
và giới thiệu của những người nổi tiếng hoặc những người có tầm ảnh hưởng.
Các địa phương trong mỗi vùng cần đặt liên kết trong trang điện tử, các địa
phương ở vùng liên kết có cùng dòng sản phẩm cũng cần đặt liê kết trong trang điện
tử. Không chỉ đặt liên kết mà các thông tin, bài viết cần thể hiện tính liên kết và
thúc đẩy cao của du lịch trong vùng và các sản phẩm liên kết vùng Bắc Trung Bộ.
Thực tế, thị trường khách du lịch của vùng Bắc Trung Bộ hiện có và mục
tiêu thu hút chủ yếu là khách du lịch nội địa và thu hút khách du lịch quốc tế và là
một trong các vùng thu hút số lượng khách du lịch quốc tế quan trọng của cả nước
(Thừa Thiên – Huế; Quảng Bình). Như vậy, đối tượng của hoạt động xúc tiến quảng
bá của hai vùng có sự khác biệt dẫn đến các hoạt động xúc tiến quảng bá và thu hút
thị trường cũng khác nhau. Chúng ta hiểu rằng xúc tiến quảng bá là hoạt động thu
hút thị trường tìm đến sử dụng sản phầm du lịch, do đó cần định hướng đúng thị
trường và sử dụng những biện pháp hiệu quả nhất để tiếp cận thị trường này. Các
biện pháp này là các công cụ quảng bá, các thông tin xúc tiến, các hoạt động phát
động thị trường, các kênh truyền thông, nội dung và ngôn ngữ của các thông điệp,
hình ảnh, âm thanh..., theo đó thị trường quốc tế và nội địa cần được tiếp cận theo
các hình thức, công cụ, kênh, thông điệp, ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh khác nhau
phù hợp vào thói quen, đặc điểm tâm lý xã hội của thị trường khách trong nước và
quốc tế. Chính vì vậy mà quá trình liên kết cần đặc biệt chú trọng từng nội dung,
hoạt động xúc tiến quảng bá trên cơ sở xác định rõ thị trường mục tiêu để lựa chọn
việc tham gia vào mỗi chiến dịch xúc tiến quảng bá.
+ Về phát triển sản phẩm du lịch và quản lý chất lượng sản phẩm du lịch
130
Cần triển khai kế hoạch phát triển, làm mới sản phẩm du lịch để phù hợp với
các nội dung xúc tiến quảng bá. Các lời hứa được truyền tải qua các thông điệp
quảng bá xúc tiến du lịch cần được thực hiện thông qua các sản phẩm du lịch tại
chỗ, có như vậy mới có thể đảm bảo được việc phát triển thương hiệu du lịch vầ lâu
dài. Với tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, du lịch biển, du lịch sinh thái của cả
vùng Bắc Trung Bộ, cả hai vùng cần trao đổi hệ thống kế hoạch phát triển sản phẩm
du lịch chung của mỗi vùng và liên kết vùng. Mỗi địa phương với mỗi sản phẩm có
vòng đời riêng, phát triển sản phẩm du lịch vùng giúp liên kết để kéo dài và gối đầu
các sản phẩm của các địa phương. Các kế hoạch và chiến lược phát triển sản phẩm
này cần được thống nhất và là mục tiêu cho kế hoạch xúc tiến quảng bá và phát
triển thương hiệu.
Ví dụ với dòng sản phẩm du lịch biển: Cả vùng đều có chung thế mạnh về
sản phẩm du lịch biển, tuy vậy cần có chiến lược phát triển sản phẩm phù hợp với
đặc điểm tài nguyên biển ở mỗi nơi. Vùng Bắc Trung Bộ cần nghiên cứu việc làm
mới sản phẩm du lịch, bổ sung thêm các loại hình sản phẩm, dịch vụ du lịch như: tổ
chức nhiều hoạt động thể thao, giải trí ven biển, các giải thi đấu, các hoạt động
teambuilding...hoặc thay đổi cơ cấu chất lượng sản phẩm như: quy hoạch lại phân
vùng để phát triển sản phẩm du lịch cao cấp. Các hoạt động làm mới sản phẩm
nhằm thay đổi hình ảnh, tái định vị và thu hút thị trường khách với hình ảnh mới về
du lịch vùng. Sản phẩm du lịch biển vùng Bắc Trung bộ tập trung vào du lịch nghỉ
dưỡng, thu hút số lượng lớn khách du lịch đại trà với nhu cầu nghỉ dưỡng đều đặn
hằng năm, thuận lợi về khoảng cách với thị trường nguồn là Hà Nội và các tỉnh phía
Bắc. Như vậy, mặc dù cùng dòng sản phẩm nhưng mỗi nhóm điểm đến có tính cạnh
tranh riêng và thu hút thị trường khách riêng. Chính vì vây, việc xác định rõ thế
mạnh và khả năng thu hút thị trường để có chiến lược phát triển và định hình
thương hiệu sẽ tạo giúp phát triển sản phẩm đúng hướng, liên kết bền vững, tránh
cạnh tranh.
Một vấn đề quan trọng khác về phát triển sản phẩm gắn với thương hiệu là
việc quản lý chặt chẽ chất lượng sản phẩm du lịch để phù hợp với các giá trị thương
hiệu được quảng bá, xúc tiến tới các thị trường. Các vùng cần đặt ra vấn đề về quản
131
lý chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch, liên kết trao đổi kinh nghiệm về các biện
pháp hữu hiệu trong quản lý chất lượng du lịch. Bộ quy tắc ứng xử du lịch là một
công cụ nâng cao nhận thức và ứng xử văn minh với du khách, hoạt động cấp biển
hiệu quả đạt tiêu chuẩn cho các cơ sở dịch vụ cũng là hoạt động cần thiết đối với
công tác quản lý chất lượng du lịch.
Tóm lại, phát triển du lịch trong mối liên kết vùng Bắc Trung Bộ là thúc đẩy
một vùng lãnh thổ ven biển quan trọng với nhiều thế mạnh tiềm năng và các hướng
tiếp cận thị trường. Việc liên kết phát triển, xúc tiến quảng bá và phát triển thương
hiệu sẽ giúp các địa phương trong mỗi vùng xác định rõ được lợi thế cạnh tranh, vai
trò riêng để tạo ra sức mạnh tổng hợp, tiết kiệm các nguồn lực và bổ sung cho nhau
kéo dài vòng đời sản phẩm và thương hiệu du lịch vùng.
4.2.3. Đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung bộ
Để phát huy tiềm năng phát triển du lịch Bắc Trung Bộ, thời gian tới, để khai
thác có hiệu quả thế mạnh tài nguyên du lịch của vùng Bắc Trung Bộ, các địa
phương trong vùng từng bước liên kết tạo điểm đến chung trên cơ sở hình thành
chuỗi các sản phẩm du lịch đặc thù, hấp dẫn để thu hút du khách, tiến tới mở rộng
thị trường, thu hút đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực và tổ chức quảng bá cho điểm
đến chung. Để đạt được các mục tiêu này, cần tập trung các giải pháp tăng cường
huy động vốn đầu tư phát triển du lịch đối với vùng này như sau:
Giải pháp chung
Thứ nhất, các địa phương cần phối hợp cùng nhau định vị du lịch Bắc Trung
Bộ nhằm tăng cường thu hút đầu tư phát triển du lịch. Tạo lập hình ảnh định vị cho
Vùng là công việc khá khó khăn không chỉ đối với các địa phương trong cả nước
mà ngay cả đối với hình ảnh định vị của quốc gia trong sự nhận thức của bạn bè thế
giới. Các phương án định vị được đề cập tới thường là liên quan đến vấn đề văn hóa
và rất ít chú trọng đến hình ảnh về kinh tế. Tuy nhiên, cho đến nay, trên cả phương
diện quốc gia, Việt Nam chưa xây dựng được hình ảnh định vị chính thức. Do đó,
thời gian tới các địa phương trong khu vực Bắc Trung Bộ cần có kế hoạch định vị
du lịch của từng địa phương cũng như của Vùng, coi đây là yếu tố quan trọng để
phát triển du lịch cũng như thu hút đầu tư phát triển du lịch.
132
Thứ hai, các địa phương trong Vùng cần nghiên cứu ban hành cơ chế, chính
sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư ngoài NSNN để phát triển du lịch Vùng. Với
thông điệp là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và thân thiện với nhà đầu tư
phát triển du lịch, các tỉnh Bắc Trung Bộ cần tạo ra sự cân bằng lợi ích giữa địa
phương và nhà đầu tư.
Các chính sách “giá” mà chính quyền địa phương có thể thực hiện nhằm hỗ trợ
cho nhà đầu tư vào Vùng, bao gồm: Ban hành chính sách về hỗ trợ xây dựng cơ sở
hạ tầng, kỹ thuật như đường giao thông, điện… có tính chất liên vùng; Thống nhất
ưu đãi về chính sách thuế, phí, lãi suất cho các dự án du lịch trong khu vực; Có
chương trình hợp tác về đào tạo, chia sẻ, nguồn nhân lực du lịch…
Thứ ba, các địa phương trong Vùng cần tăng cường công tác xúc tiến đầu tư,
quảng bá du lịch. Để thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch có hiệu quả thì bên cạnh
việc cải thiện môi trường đầu tư, cần nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư.
Bên cạnh việc chủ động triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư cho từng địa
phương thì cần tăng cường xúc tiến đầu tư liên tỉnh, xúc tiến đầu tư cho cả khu vực,
nhằm tăng cường sức mạnh thu hút đầu tư.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là ưu tiên hàng đầu đáp ứng yêu
cầu của các nhà đầu tư du lịch trong Vùng. Để cải thiện môi trường đầu tư, nhằm
thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch trong thời gian tới, các địa phương cần triển
khai thực hiện có hiệu quả chương trình đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường lao động du lịch của địa
phương, vùng. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa các nguồn lực, mở rộng quy
mô, đa dạng hóa ngành, nghề và hình thức đào tạo; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao, đội ngũ quản trị viên tại các DN du lịch, hướng dẫn viên du lịch,
nhân viên lễ tân, buồng, bàn... đáp ứng nhu cầu lao động cho các DN du lịch.
Giải pháp cho từng kênh huy động vốn
Một là, đối với nguồn vốn NSNN. Hàng năm, các địa phương đề xuất Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính dựa trên kế hoạch ngân sách của cả nước có kế
hoạch ưu tiên nguồn vốn NSNN cho đầu tư các hạng mục cơ sở hạ tầng trọng điểm
phát triển du lịch Vùng.
133
Đối với nguồn vốn từ ngân sách địa phương cần phân bổ cho phát triển hạ tầng
các khu du lịch địa phương và khu du lịch có tiềm năng trên địa bàn. Khi xây dựng kế
hoạch về chi NSNN cho phát triển du lịch các địa phương trong khu vực cần có thông
tin, trao đổi thống nhất để tăng hiệu quả đầu tư, tránh chồng chéo, kém hiệu quả.
Hai là, đối với nguồn vốn xã hội hóa từ DN, cá nhân đầu tư cho du lịch. Trong
thời gian tới, các địa phương trong Vùng cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa
trong công tác đầu tư phát triển du lịch; khuyến khích các thành phần kinh tế tham
gia góp vốn đầu tư dưới các hình thức khác nhau, đặc biệt có cơ chế thích hợp để
thu hút nguồn vốn trong dân để đầu tư phát triển du lịch.
Ba là, cần có nhiều giải pháp thức đầu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
cho phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Tiếp tục hoàn thiện chính sách ở những
địa phương đã thu hút được các dự án trong thời gian qua như Thừa Thiên – Huế.
Đặc biệt, đối với các địa phương chưa thu hút được dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài như Thanh Hóa, Nghệ An cần có chính sách đột phá để khai thông thế vướng
mắc, tồn tại để thu hút vốn đầu tư cho phát triển du lịch của Vùng. Bên cạnh thu hút
FDI, các địa phương trong vùng cũng cần quan tâm đến các nguồn vốn nước ngoài
khác như ODA. Cần ưu tiên các nguồn vốn vay, nguồn vốn ODA của các nước
thông qua các hiệp định.
Thông qua các kênh đối ngoại, ngoại giao khác nhau, các hiệp định thương
mại để thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư cơ sở hạ tầng các khu vực trọng điểm,
những nơi có yêu cầu nguồn vốn đầu tư lớn mà ngân sách, vốn của các nhà đầu tư
trong nước không có khả năng tham gia. Thông qua các cơ quan đại diện của Việt
Nam ở nước ngoài, các tổ chức thương mại quốc tế, bà con Việt Kiều để tìm hiểu
năng lực của các nhà đầu tư, tiếp xúc cung cấp thông tin, khuyến khích họ đầu tư...
4.2.4. Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Theo Chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã
được phê duyệt, định hướng phát triển sản phẩm đặc trưng của khu vực gồm: du
lịch về nguồn tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam; tham quan, nghiên
cứu hệ sinh thái núi cao, hang động; nghỉ dưỡng núi; nghỉ cuối tuần; thể thao khám
134
phá; du lịch biên mậu… Việc phát triển du lịch của vùng được quan tâm phát triển,
tuy nhiên yếu tố nguồn nhân lực du lịch của khu vực còn có những bất cập. Cụ thể,
về số lượng, theo đánh giá dự báo trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, số lượng lao động trong lĩnh vực du lịch của
khu vực Bắc Trung Bộ là 25.183 người. Như vậy, lượng lao động trong vùng Bắc
Trung Bộ không nhiều. Mặt khác, theo đánh giá của các cơ quan quản lý du lịch địa
phương, nguồn nhân lực du lịch của địa phương hiện nay còn nhiều bất cập.
Về mặt hình thức liên kết, các tỉnh Bắc Trung Bộ có thể thực hiện theo hai
hướng sau đây.
Hình thức liên kết nội vùng: ngành du lịch các địa phương phối hợp với các cơ
quan chức năng về văn hóa, thông tin, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong
phạm vi địa phương và các địa phương lân cận phối hợp với cá cơ sở đào tạo tổ
chức các khóa bồi dưỡng ngắn hạn nghiệp vụ du lịch và kiến thức quản lý nhà nước
về du lịch.
Hình thức liên kết ngoại vùng: hình thức này được triển khai tương đối phổ
biến. Hoạt động hợp tác và phối hợp với các cơ quan Trung ương như Bộ Văn hóa,
thể thao và du lịch thông qua Tổng cục Du lịch Việt Nam. Ngoài ra, các địa phương
còn có thể thu hút các dự án phát triển du lịch cộng đồng, du lịch bền vững, du lịch
sinh thái do nhiều tổ chức phi chính phủ, các dự án phát triển nguồn nhân lực, phát
triển cộng đồng phối hợp với các cơ sở đào tạo trong vùng tổ chức các lớp đào tạo
và bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch. Cụ thể, hiện nay, các tổ chức có mối quan hệ và
liên kết hỗ trợ công tác đào tạo phát triển nhân lực du lịch chủ yếu từ trước đến nay
gồm: tổ chức SNV của Hà Lan, tổ chức IUCN, dự án EU và dự án ERST hiện nay
do Liên minh châu Âu tài trợ. Ngoài ra, một số địa phương trong vùng biên giới có
thể tổ chức phối hợp với các tỉnh biên giới của Lào và Thái Lan, Trung Quốc để bồi
dưỡng nhân lực du lịch thông qua sự phối hợp với các doanh nghiệp du lịch có thị
trường khách tại đây.
Từ đó, để phát triển nguồn nhân lực du lịch cần thực hiện một số chính sách sau:
- Thứ nhất: Đẩy mạ ̣nh công tác quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực du lịch Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch của các tỉnh/thành phố trong vùng cần phối
135
hợp với các sở, ban ngành có liên quan tiến hành khảo sát, điều tra về nguồn nhân
lực du lịch trong vùng để xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực du
lịch của vùng, làm cơ sở cho việc khai thác, đào tạo và bồi dưỡng nhằ̀m nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Đồng thời, cần xây dựng và hoàn thiện các
chính sách liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực như các tiêu chuẩn chức
danh quản lý, tiêu chuẩn nghiệp vụ,...để làm cơ sở cho việc đào tạo nguồn nhân lực.
- Thứ hai: Nâng cao chất lượng đào tạ ̣o nguồn nhân lực du lịch Bên cạnh việc đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực du
lịch của ngành du lịch, các cơ sở đào tạo phải tiến hành công tác khảo sát, thay đổi
và cải tiến nội dung chương trình, giáo trình, trang thiết bị đào tạo, chất lượng đội
ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, công tác đào tạo phải
gắn kết nhu cầu và yêu cầu của các cơ sở kinh doanh du lịch trong vùng.
- Thứ ba: Xã hội hóa công tác đào tạ ̣o, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch Nhà nước cần tạo hành lang pháp lý hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng, đa
dạng hóa các hình thức đào tạo. Có thể khuyến khích bằ̀ng cách tạo điều kiện thuận
lợi cho các trường trong việc liên kết đào tạo với nước ngoài; hoặc có chính sách tài
chính ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân có tham gia công tác đào tạo nguồn nhân
lực du lịch như: giao đất xây dựng cơ sở đào tạo, miễn tiền sử dụng đất, ưu đãi thuế.
4.2.5. Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến
Theo các chuyên gia, hoạt động du lịch khá phức tạp, bị phân đoạn từ thời
điểm du khách đặt chân đến điểm đến du lịch tới khi họ rời đi. Sự trải nghiệm của
du khách phụ thuộc vào môi trường, thái độ của cộng đồng và nhiều dịch vụ khác
nhau từ khu vực công và tư nhân. Việc tạo ra giá trị du lịch tốt phụ thuộc nhiều vào
việc các tổ chức phối hợp làm việc với nhau như thế nào. Để cạnh tranh có hiệu
quả, các điểm đến phải tạo ra cho du khách những trải nghiệm và giá trị tuyệt vời.
Do vậy, vấn đề quản lý điểm đến đòi hỏi sự liên kết của các lợi ích khác nhau để
cùng làm việc vì một mục tiêu chung nhằm đảm bảo sức sống và sự toàn vẹn cho
điểm đến hiện tại và trong tương lai.
Sự có mặt của các cấu trúc quản lý du lịch hiệu quả tại địa phương là rất quan
trọng. Nhiều dịch vụ du lịch cốt lõi được cung cấp ở điểm đến địa phương và điểm
136
đến cũng là nơi các tác động tích cực cũng như tiêu cực của du lịch tới kinh tế, xã
hội, môi trường được thể hiện rõ nét nhất, đòi hỏi phải có sự quy hoạch và quản lý
tại địa phương một cách hợp lý. Ở nhiều quốc gia, công tác quản trị du lịch điểm
đến ngày càng có xu hướng được đặt trên nền tảng hợp tác và quan hệ đối tác công
tư hoặc các đối tác nhiều thành phần, trong nhiều trường hợp là thông qua các Tổ
chức Quản lý điểm đến (DMO). Tầm quan trọng của việc gắn kết các doanh nghiệp
du lịch và cộng đồng địa phương vào quá trình quy hoạch và phát triển du lịch của
khu vực đang được công nhận rộng rãi. Cơ chế hợp tác này sẽ góp phần cải thiện
dịch vụ du lịch nói chung ở cấp điểm đến, theo hướng đáp ứng nhu cầu thị trường
bằng cách xây dựng tầm nhìn chiến lược cho phát triển du lịch để bao gồm năng lực
thực hiện và giám sát kết quả.
Phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trở thành ngành kinh tế quan trọng là
tầm nhìn chiến lược. Cơ hội phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch được tập
trung ở những địa bàn cụ thể có dòng du khách đến và xung quanh một khu vực cụ
thể. Với ranh giới địa lý rõ ràng, các bên liên quan phải đối mặt với nhiệm vụ quản
lý nhiều hơn để giải quyết những yêu cầu của khách du lịch tự, xử lý những vấn đề
chung và nắm bắt những lợi ích lớn hơn. Khi doanh nghiệp phát triển, cơ cấu quản
lý điểm đến sẽ được đưa vào. Tại các tỉnh chỉ có các doanh nghiệp du lịch tư nhân
nhỏ, quản lý điểm đến sẽ chủ yếu là chức năng của khu vực công. Sự tham gia của
các đơn vị điều hành tour là rất quan trọng để đảm bảo định hướng thị trường. Khi
du lịch phát triển, trách nhiệm quản lý điểm đến sẽ có sự tham gia ngày càng tăng
của khu vực doanh nghiệp. Tuy nhiên, thách thức chủ yếu hiện nay ở khu vực 8 tỉnh
Tây Bắc mở rộng là sự hợp tác, kết nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý, và
giữa các doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau còn rất hạn chế.
Trên cơ sở sáng kiến hợp tác liên kết phát triển du lịch của Bắc Trung Bộ vẫn
đang được thực hiện trong thực tiễn, Dự án EU đã xây dựng và đề xuất một mô hình
quản lý điểm đến vùng với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Đề xuất này hiện
nay đang được thảo luận với các Sở VHTTDL và Ủy ban nhân dân các tỉnh.
Theo mô hình được đề xuất trước hết cần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa
khu vực công và khu vực tư tại cấp tỉnh bằng cách hoàn thiện Ban điều phối (hoặc
137
Ban chỉ đạo) du lịch tại mỗi tỉnh với sự tham gia mạnh mẽ của doanh nghiệp. Ban
điều phối du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nền tảng cho công tác
quản lý khách, chất lượng và tăng trưởng và sẽ chia sẻ trách nhiệm đối với một loạt
chức năng được xác định phù hợp với nhu cầu của từng tỉnh. Điều quan trọng là
Ban điều phối du lịch phải mở rộng thành viên và mang lại những lợi ích thực sự
cho các thành viên để khuyến khích sự tham gia của họ.
Mô hình đề xuất bao gồm cơ cấu phối hợp quản lý điểm đến vùng ở 2 cấp: cấp
tỉnh và cấp vùng, với các hoạt động thiết thực có trách nhiệm tại cấp tỉnh và với sự
hỗ trợ và giám sát của cấp cao hơn đó là cấp vùng.
Hiện nay, Ban chỉ đạo hợp tác phát triển du lịch Bắc Trung Bộ là cơ chế hợp
tác hữu ích để chia sẻ thông tin, liên kết, phối hợp thực hiện nhiệm vụ phát triển du
lịch ở khu vực. Tuy nhiên, do khoảng cách địa lý giữa các tỉnh quá xa nên gây nhiều
khó khăn cho việc tham gia thường xuyên của các cán bộ vào công tác quản lý điểm
đến vùng. Ý tưởng đề xuất của Dự án EU là nên hình thành hai tiểu vùng với 2
nhóm làm việc để có thể thường xuyên gặp gỡ, trao đổi, giúp việc triển khai các
chương trình hợp tác được thiết thực và hiệu quả hơn.
Đẩy mạnh phát triển du lịch tại các tỉnh Bắc Trung Bộ mở rộng luôn là mối
quan tâm và là một trong những nội dung quan trọng trong công tác chỉ đạo của
Tổng cục Du lịch. Với mô hình quản lý điểm đến vùng được đề xuất như đã trình
bày ở trên, du lịch khu vực Bắc Trung Bộ sẽ có thể phát triển bền vững về môi
trường, xã hội và kinh tế.
138
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” đã :
- Đã hệ thống hoá, làm rõ một số lý luận cơ bản và thực tiễn về liên kết phát
triển du lịch, cụ thể: Thứ nhất, lý thuyết về phát triển vùng; Thứ hai, về liên kết phát
triển du lịch: (1) Liên kết thiết lập không gian du lịch thống nhất, hợp tác trong xây
dựng các chương trình du lịch (tour du lịch) chung của toàn vùng; (2) Liên kết xây
dựng sản phẩm du lịch; (3) Liên kết xúc tiến quảng bá, xây dựng thương hiệu du
lịch; (4) Liên kết đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; Thứ ba, nghiên cứu về kinh
nghiệm liên kết vùng, liên kết phát triển du lịch của một số quốc gia trên thế giới và
một số vùng trong nước, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm liên kết du lịch cho
vùng Bắc Trung Bộ.
- Về mặt lý luận, Luận án đã đi sâu phân tích và đánh giá tổng quan tình hình
nghiên cứu về liên kết phát triển du lịch vùng, từ đó luận án đã phản ánh được xu
thế về liên kết phát triển du lịch và vai trò của nó trong phát triển ngành du lịch.
Luận án xây dựng mô hình và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát
triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ gồm có 2 phần: (1) phần gốc là mô hình của gồm 5
nhóm yếu tố với 118 tiêu chí đánh giá và (2) phần mở rộng thuộc phía thị trường do
tác giả độc lập nghiên cứu và hình thành mô hình đánh giá mới gồm 7 nhóm yếu tố
với 47 tiêu chí đánh giá. 7 nhóm yếu tố đó là: Sản phẩm/điểm thu hút du lịch; An
ninh – Trật tự - Môi trường xã hội; Vệ sinh – Môi trường; Cơ sở hạ tầng – tiện ích;
Giá cả; Độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa;
Thương hiệu điểm đến du lịch vùng Bắc Trung Bộ. Về mặt thực tiễn, Mô hình đã
đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung
Bộ, đồng thời chỉ rõ được mặt mạnh, mặt yếu từng tiêu chí, xác định vị trí của liên
kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ trong mối tương quan với các địa phương
trong vùng. Các kết quả đánh giá có độ tin cậy cao cho phép tác giả đề xuất các giải
pháp nhằm tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ.
139
- Đề tài đã đề xuất các quan điểm và định hướng liên kết phát triển du lịch
Bắc Trung Bộ đến năm 2025 và tầm nhìn 2030. Đồng thời đề xuất bộ giải pháp
tăng cương liên kết phát triển du lịch vùng, bao gồm: (1) Xây dựng chiến lược
hợp tác liên kết vùng du lịch Bắc Trung Bộ; (2) Giải pháp liên kết xúc tiến quảng bá
và phát triển thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung Bộ; (3) Đẩy mạnh huy động vốn
đầu tư phát triển du lịch Bắc Trung bộ; (4) Phát triển nguồn nhân lực du lịch vùng
Bắc Trung Bộ; (5) Liên kết phát triển du lịch trong mô hình quản lý điểm đến.
* Đối với nhà nước
- Bộ VH – TT – DL, Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với các ban
ngành liên quan tiến hành xây dựng quy hoạch phát triển du lịch vùng tầm quốc
gia làm cơ sở để định hướng cho các quy hoạch và tổ chức các hoạt động du lịch
tại các địa phương, các vùng có tiềm năng thành khối thống nhất về thể chế và
quản lý.
- Chính phủ phải có chính sách hỗ trợ, chỉ đạo cho các bộ ban ngành liên
quan ủng hộ cho các địa phương xây dựng các quy hoạch, chiến lược phát triển
du lịch vùng. Đồng thời có chính sách ưu tiên cho các dự án đầu tư du lịch; Có
chính sách hỗ trợ về mặt tài chính để xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất tại
các khu vực này nhằm tạo điều kiện cho việc phát triển hoạt động du lịch.
* Đối với các địa phương trong vùng và ngành du lịch
- Cần chỉ đạo cho Sở VH-TT-DL phối hợp với các ban ngành tiến hành
xây dựng quy hoạch tổng thể và quy hoạch liên kết chi tiết tại các vùng có tiềm
năng phát triển du lịch tại địa phương. Đồng thời, thành lập ban hoặc tiểu ban chỉ
đạo việc phát triển du lịch tại các điểm hoặc cụm tài nguyên; xúc tiến công tác đào
tạo nhân lực và tuyên truyền quảng bá về tiềm năng du lịch của địa phương.
- Tranh thủ sự tài trợ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính
phủ và các tổ chức môi trường để xây dựng các dự án quy hoạch phát triển tại
các điểm tài nguyên; các chương trình hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực; chương
trình phát triển du lịch...
2. Kiến nghị
140
- Các doanh nghiệp du lịch, ban quản lý các điểm tài nguyên cần có kế
hoạch cụ thể nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến điểm du lịch sinh thái; phối
hợp có hiệu quả trong việc tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm du lịch sinh thái
tại địa phương trên thị trường du lịch trong nước và quốc tế.
141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
1. Trần Xuân Quang, Hoạt động du lịch tỉnh Quảng Bình: Thực trạng và giải
pháp, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Số tháng 488/2017, Tr 112 –
114&107.
2. Trần Xuân Quang, Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình theo hướng
bền vững, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, Số 17 (06/2019), Tr 99 – 101.
3. Trần Xuân Quang, Liên kết du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ: Thực trạng và giải
pháp, Tạp chí Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Số tháng 2/2020, Tr 95 – 97.
4. Trần Xuân Quang et al. (2020), Factors Affecting Community-Based Tourism
Development and Environmental Protection: Practical Study in Vietnam,
Journal of Environmental Protection, 2020, 11, 124-151.
142
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ngô Đức Anh (2007), “Khả năng cạnh tranh và hướng phát triển du lịch Việt
Nguyễn Tuấn Anh (2010), “Năng lực cạnh tranh điểm đến của du lịch Việt
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017), Nghị quyết số 08/NQ – TW ngày
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2015), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý
Ban Kinh tế Trung ương (2015), Báo cáo tóm tắt đề án Nghiên cứu, đề xuất
Ban Kinh tế Trung ương – Đại sứ quán CHLB Đức tại Việt Nam – Ban điều
Tiếng Việt 1. Nam thời kỳ hậu WTO”, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7/2007. 2. Nam”, Luận án tiến sỹ, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. Trần Xuân Ảnh (2011), “Thị trường du lịch Quảng Ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sỹ, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. 4. 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. 5. quốc lần thứ XII, tài liệu của Văn phòng TW Đảng. 6. luận – thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nxb Chính trị quốc gia. 7. chủ trương chính sách về kinh tế vùng, liên kết vùng. 8. phối vùng duyên hải miền Trung (2016), Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: Liên kết vùng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Quyết định số 2714/QĐ –
trong tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam. 9. BVHTTDL ngày 3/8/2016 phê duyệt Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt
Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. 10. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia: Đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao – Thực trạng và giải pháp, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội. 11. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Ban Kinh tế Trung ương – UBND tỉnh Nghệ An – Ngân hàng TMCP ĐT&PT Việt Nam (2016), Kỷ yếu hội thảo khoa học:
Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc – Nam Trung Bộ. 12. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Ban Kinh tế Trung ương – UBND tỉnh Quảng Nam (2017), Diễn đàn du lịch miền Trung – Tây Nguyên: Du lịch miền
Trung – Tây Nguyên hướng tới đẳng cấp thương hiệu. 13. Vũ Trọng Bình (2017), Phát triển kinh tế vùng – vấn đề và giải pháp, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong
phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội.
143
14. Báo cáo tổng kết của Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu rà soát, đánh giá kết quả, tác động và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả Quyết định
79/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ”, mã số: KHCN-TB.02X/13-18. Đề tài
được tài trợ bởi Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển bền vững
vùng Tây Bắc, ĐHQGHN. 15. Chính phủ (2011), Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. 16. Chính phủ (2013), Quyết định số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
Lê Anh Đức (2014). Mấy vấn đề liên kết kinh tế vùng. Tạp chí Kinh tế và Dự
Lê Thế Giới (2008). Xây dựng mô hình hợp tác và liên kết vùng trong phát
Trần Thị Bích Hằng (2012),“Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
2030”. 17. Chính phủ (2014), Nghị quyết số 92/NQ – CP ngày 08/12/2014 về một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới. 18. Vũ Cao Đàm (2011). Giáo trình Khoa học Chính sách. NXB. Đại học Quốc Gia Hà Nội. 19. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình kinh tế du lịch, Nxb. Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2008, tr.19. 20. Nguyễn Văn Đính (2017), Du lịch và phát triển, Nxb Bách khoa Hà Nội. 21. báo, 18, tr. 15-17. 22. Hoàng Ngọc Giao, Nguyễn Bá Diễn (chủ biên) (2006), “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững”, NXB Tư pháp. 23. triển bền vững vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 2, tr. 167-177. 24. doanh nghiệp nhà nước kinh doanh du lịch sau cổ phần hóa trên địa bàn Hà Nội”,
Trần Thị Minh Hòa, Giáo trình Marketing du lịch (viết chung với Nguyễn Văn
Luận án tiến sỹ, Đại học Thương mại. 25. Mạnh, Nguyễn Đình Hòa...), Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, 2008. 26. Đào Hữu Hòa (2008). Liên kết trong chính sách thu hút đầu tư phát triển công nghiệp của các địa phương Vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung – Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, 6(29), tr. 101-109. 27. Nguyễn Đình Hoè, Vũ Văn Hiếu (2001), “Du lịch bền vững” - NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
144
28. Hoàng Văn Hoan (2002), Luận án Tiến sỹ Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch ở Việt Nam, Trường ĐH KTQD. 29. Đinh Sơn Hùng (2011). Cơ chế liên kết kinh tế giữa vùng ĐBSCL và TP.HCM - Thực trạng và giải pháp. Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. 30. Nguyễn Văn Huân (2012), Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn, Phòng Nghiên cứu phát triển kinh tế vùng,Viện Kinh tế Việt Nam. 31. Nguyễn Văn Huân, (2012). Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn, Kỷ yếu Diễn đàn Kinh tế mùa thu 2012, Trang 418-443. 32. Hoàng Ngọc Hải và cộng sự (2020), Liên kết vùng trong phát triển du lịch ở các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam, bài viết đăng trên Tạp chí lý luận (bản online) ngày
22/03/2020. 33. Trần Văn Hải, (2016). Báo cáo tổng kết nhánh, Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu rà soát, đánh giá kết quả, tác động và đề xuất giải pháp triển khai
thực hiện hiệu quả Quyết định 79/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ”, mã số:
KHCN-TB.02X/13-18. 34. Nguyễn Thu Hạnh (2009), "Cơ sở khoa học phát triển các khu du lịch quốc gia biển miền Trung", Đề tài KHCN cấp Bộ. 35. Nguyễn Thu Hạnh (2011), “Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ” , Đề tài KHCN cấp Bộ. 36. Hoàng Thị Lan Hương (2011), Luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển kinh doanh lưu trú du lịch tại vùng du lịch Bắc Bộ của Việt Nam”, Đại học Kinh tế Quốc dân,
Hà Nội. 37. Hoàng Văn Hoa, Trần Hữu Sơn, Trần Thị Vân Hoa (2016), Liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch bền vững ở Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học và công
nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc, Trang 155-166. 38. Hoàng Văn Hoa và các cộng sự (2018), Liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở vùng Tây Bắc, Nxb Lao động – Xã hội, 2018. 39. Trương Thị Hiền (2011). Bàn về cơ chế liên kết vùng Đồng bằng Sông Cửu Long với TP. Hồ Chí Minh trong chiến lược phát triển kinh tế. Hội thảo khoa học “Cơ chế liên kết vùng Đồng bằng sông Cửu Long”, Cà Mau 21/10/2011. 40. Vũ Thành Hưng (2011). Thúc đẩy liên kết phát triển Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và phát huy vị thế của Thủ đô để đẩy nhanh quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa. Hội thảo khoa học “Thúc đẩy liên kết giữa Hà Nội và các tỉnh lân
cận”, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
145
41. Nguyễn Trùng Khánh (2012), Luận án tiến sĩ, “Phát triển dịch vụ lữ hành du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế: Kinh nghiệm một số nước Đông Á và gợi
ý chính sách cho Việt Nam”, Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học
và Xã hội Việt Nam. 42. Nguyễn Văn Khánh (2016). VNU Journal of Science – Policy and Management Studies, Some issues in the Studies Relating to Researches, Analysis
Trần Du Lịch (2011). Báo cáo đề dẫn. Hội thảo khoa học “Liên kết Phát triển
Phạm Trung Lương (2002), “Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch
Phạm Trung Lương (2014), Phát triển du lịch Điện Biên trong mối liên kết
and Evaluation of Decision No.79/2005/QD-TTg of the Prime Minister on the Development of the Northwest.Vol 32. No.1, 2016, Page 43. Nguyễn Văn Khánh, Đào Thanh Trường (2016), Phát triển bền vững vùng Tây Bắc: Từ chính sách đến thực tiễn, Nxb.Thế giới, Trang 275-313. 44. Ngô Thắng Lợi và Vũ Cương (2015), Liên kết phát triển và tổ chức điều phối liên kết phát triển vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị. 45. 7 tỉnh Duyên hải miền Trung”, Đà Nẵng 7/2011. 46. bền vững ở Việt Nam”, Đề tài KHCN cấp Bộ. 47. với vùng Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phát huy giá trị đặc biệt của di tích
lịch sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh phát triển du lịch Điện Biên trong mối liên kết
Phạm Trung Lương (2016), Một số vấn đề cần quan tâm trong liên kết phát
với vùng Tây Bắc, ngày 13/03/2014, Điện Biên Phủ. 48. triển vùng du lịch, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc –
Lê Văn Minh (2006), “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển
Nam Trung Bộ, tháng 2/2016. 49. Nguyễn Thăng Long (1998), “Nghiên cứu ảnh hưởng của tính mùa vụ du lịch đến hoạt động du lịch ở Việt Nam”, Đề tài KHCN cấp Bộ. 50. khu du lịch”, Đề tài KHCN cấp Bộ (Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch). 51. Đỗ Hoài Nam và Võ Đại Lược (2005). Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay. Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2005. 52. Bùi Xuân Nhàn (2012), “Năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch Việt Nam”,Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Hội nhập: hợp tác và cạnh tranh, Trường cao đẳng Kinh tế Đối ngoại Tp. Hồ Chí Minh. 53. Hà Văn Siêu (2017), Tiềm năng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng phát triển du lịch ở vùng miền núi Tây Bắc, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: Thực
146
trạng và giải pháp liên kết vùng, tiểu vùng trong phát triển du lịch ở Tây Bắc, Nxb Lao động – xã hội. 54. Hoàng Ngọc Phong (2015), Thể chế và chính sách phát triển kinh tế vùng. 55. Quốc hội Việt Nam, Luật du lịch (2017). 56. Nguyễn Quang (2014), Lồng ghép biến đổi khí hậu trong quy hoạch phát triển vùng ở Việt Nam, Báo cáo tổng hợp các Hội thảo về về kinh tế vùng, liên kết
Trần Hữu Sơn, (2016). Xây dựng cơ chế chính sách liên kết vùng và tiểu
vùng do Ban KTTƯ phối hợp tổ chức tại Miền Trung, Vùng Đông Nam Bộ, Vùng ĐBSCL, Tây Nguyên. 57. vùng du lịch Tây Bắc. Kỷ yếu Hội thảo khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và
Trần Hữu Sơn, Hoàng Văn Hoa (2016), Liên kết vùng du lịch Tây Bắc với
phát triển vùng Tây Bắc, Trang 176-188. 58. phát triển bền vững, Tạp chí Cộng sản, số 118. 59. Nguyễn Ngọc Sơn (2015), Phát triển cụm ngành công nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia. 60. Nguyễn Danh Sơn (2010). Liên kết phát triển theo hướng phát triển bền vững vùng Tây Nguyên. Tạp chí Khoa học xã hội Tây Nguyên, Số 2, tr. 24-32. 61. Nguyễn Danh Sơn (2014). Liên kết kinh tế nội vùng trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên – Thực trạng, vấn đề và giải pháp. Kỷ yếu Hội thảo khoa
học: Phát triển kinh tế - xã hội đặc thù Tây Nguyên: Những vấn đề cốt yếu và giải
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Tổng cục Du lịch (2012), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm
Trần Đức Thanh (2008), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học quốc gia
Trương Bá Thanh (2009), Liên kết kinh tế miền Trung và Tây Nguyên – từ
pháp. Thành phố Buôn Ma Thuột, ngày 25-26/4/2014. 62. Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế (2011 - 2018), Báo cáo tình hình phát triển du lịch các năm (2011 – 2018) 63. 2020, tầm nhìn đến năm 2030. 64. Hà Nội, Hà Nội, tr.12. 65. lý luận đến thực tiễn, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 3 (32). 66. Nguyễn Xuân Thắng (2010). Liên kết phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long-nhân tố quan trọng nhất để bứt phá về thu hút đầu tư. Tạp chí Thông tin khoa
học xã hội, số 10/2010, tr. 3-8.
147
Lê Thông, Nguyễn Văn Phú và Nguyễn Minh Tuệ (2004), Địa lý kinh tế xã
Trần Đình Thiên (2016), Thể chế điều hành liên kết phát triển vùng độc lập –
67. hội Việt Nam, Nxb ĐHSP Hà Nội, 2004. 68. yếu tố quyết định sự phát triển cấp vùng, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế: Liên
Trương Thị Ngọc Thuyên (2000), Khảo sát ý kiến khách du lịch nước ngoài
kết trong quá trình tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam 69. Đỗ Cẩm Thơ (2007), “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực và quốc tế”, Đề tài KHCN cấp Bộ. 70. về những điểm mạnh, điểm yếu của du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng, Đề tài khoa học và
công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Đà Lạt. 71. Vũ Minh Trai (2011). Tăng cường, phối hợp, liên kết giữa Hà Nội với các tỉnh phụ cận trong thu hút đầu tư phát triển công nghiệp. Hội thảo khoa học “Thúc đẩy liên kết giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận”, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 72. Nguyễn Thành Vượng (2012), “Phát triển du lịch biển, đảo khu vực Bắc Trung Bộ”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Tiềm năng và hướng phát triển du lịch Bắc
Lê Anh Vũ (2016), Một số vấn đề lý luận cơ bản về liên kết vùng, Kỷ yếu hội
Trung Bộ, Huế. 73. Viện Ngôn ngữ học (2003). Từ điển Tiếng Việt. NXB Trung tâm từ điển. 74. thảo khoa học và công nghệ thúc đẩy liên kết và phát triển vùng Tây Bắc. Trang 11-
26. 75. Bùi Thị Hải Yến, Giáo trình Quy hoạch du lịch, Nxb Giáo dục, tr 62 – 63.
Tiếng Anh 76. Armenski, T.,Gomezelj, D. O., Djurdjev, B., Cúrčic, N., Dragin, A.(2012), flags”,Ekonomska “Tourism destination competitiveness - between two
Istraživanja, 25(2), pp. 485-502. 77. Anderson, J. C., Hakansson, H. & Johanson, J. Dyadic business relationships within a business context, Journal of Marketing, 1994, 58(4), 1-15. 78. Ballantine, J.L. (1991), "An Analysis of the Characteristics of a Population of Canadian Tourists to Kenya" - Master's thesis, Department of Recreation and Leisure Studies, University of Waterloo, Waterloo, Ontario, Canada. 79. Bartelmus, P. 1986, Environment and Development, London. Allen and Unwin, Pg 2-5. 80. Baggio, R., Scott, N. & Cooper, C. Network science – a review with a focus on tourism, Annals of Tourism Research, 2010, 37, 802-827.
148
81. Bordas, E. (1994), “Competitiveness of tourist destinations in long distance markets”, Tourism Review, 4(3), pp. 3-9. 82. Buhalis, D. (2000), “Marketing the competitive destination of the future”, Tourism Management, 21(1), pp. 97-116. 83. Butler, R.W. (2011). Tourism area life-cycle. Contemporary Tourism Limited Reviews. Goodfellow Publishers
(http://www.goodfellowpublishers.com/free_files/fileTALC.pdf) 84. Bryson, M.John, Barbara C. Crosby, Melissa Middleton Stone. (2006). The Design and Implementation of Cross-Sector Collaborations: Propositions from the
Literature. Public Administration Review, Volume 66, Issues1December
2006 Pages 44–55 85. Benjamin Higgins and Ronald J. Savoie (1997), Regional Development Theories & Their Application, Transaction Publishers New Brunswick (USA) and
(1937). nature firm. The the R. of
London (UK). 86. Boudeville, J. (1966). Problems of regional economic planning. Edinburgh University Press: Edinburgh. 87. Camagni, R. (2002). On the concept of territorial competitiveness: sound or misleading?. Urban Studies, 39(13), pp.2395-2411. 88. Capello, R. (2007). Regional economics. Routledge Publisher: London & New York. 89. Coase, http://www.scribd.com/doc/2530438/COASEThe-Nature-of-the-Firm 90. Coe, D. T., Helpman, E., and Hoffmaister Alexander W. (1997). North-South R&D Spillovers. The Economic Journal, 107, pp.13-149. 91. Cooke, P. (2014). Systems of Innovation and the Learning Region. In Fischer, Manfred, M. and Peter Nijkamp (2014). Handbook of Regional Science,
Springer Berlin Heidelberg, pp.457-474. 92. Chon, K. S., & Mayer, K. J. (1995), “Destination competitiveness models in tourism and their application to Las Vegas”. Journal of Tourism Systems and Quality Management, 1(2-4), pp. 227-246. 93. Cracolici, M. F. & Nijkamp, P. (2008). “The attractiveness and competitiveness of tourist destinations: A study of Southern Italian regions”,
Tourism Management, 30, pp. 336-344.
149
94. Cracolici, M. F., Nijkamp, P. & Rietveld, P. (2008). “Assessment of tourism competitiveness by analysing destination efficiency”, Tourism Economics, 2008, 14
Crouch, G. I. (2010), “Destination Competitiveness: An Analysis of
Crouch, G. I. & J. R. B. Ritchie (1999), “Tourism, Competitiveness, and
in managed destination d'Hauteserre, A. M. “Lessons (2000),
(2), pp. 325-342. 95. Crouch, G. I. (2007), Modelling destination competitiveness: A survey and analysis of the impact of competitiveness attributes. Technical Report. National Library of Australia Cataloguing in Publication Data. 96. Determinant Attributes”, Journal of Travel Research, 50(1), pp. 27-45. 97. Social Prosperity”, Journal of Business Research, 44, pp. 137-152. 98. competitiveness: the case of Foxwoods casino resort”, Tourism Management, 21, pp. 23-32. 99. Dillard, Dudley (1967), Economic Development of the North Allantic Community: Historical Introduction to Modern Economics, Englewood Cliffs, NJ:
Prentice - Hall. 100. Dillard, Dudley (1988), The Barter Illlusion in Classical and Neoclassical Economics', Eatern Economic Journal, 14 (4), October - December, 299 - 318 101. Dieppe, Alistair and Mutl Jan (2013). International Spillovers Technology Transfer vs. R&D synergies. European Central Bank, Working Papers Serries,
(2010),“The Turkish Tourism Product:
No.1504. 102. Douglass M, (1998). East Asian Urbanization: Patterns, Problems, and Prospects. Stanford University Press. 103. Duman, T. & Kozak M. Differentiation and Competitiveness”, Anatolia: An International Journal of
Tourism and Hospitality Research, 21(1), pp. 89-106. 104. Dwyer, L., Forsyth, P., & Rao, P. (2000), “The price competitiveness of travel and tourism: a comparison of 19 destinations”, Tourism Management, 21(1), pp. 9-22. 105. Dwyer, L. & Kim, C. (2003), “Destination Competitiveness: Determinants and Indicators”, Current Issues in Tourism, 6(5), pp. 369-414. 106. Enright, M. J., & Newton, J. (2004),“Tourism Destination Competitiveness: a Quantitative Approach”, Tourism Management, 25(6), pp. 777-788.
150
107. Enright, M. J. & Newton, J. (2005), “Determinants of Tourism Destination Competitiveness in Asia Pacific: Comprehensiveness and Universality”, Journal of
(2012). Destination
Travel Research, 43, pp. 339-350. 108. Evans, M. R., Fox, J. B., & Johnson, R. B. (1995), “Identifying competitivestrategies for successful tourism destination development”, Journal of Hospitality and Leisure Marketing, 3(1), pp. 37-45. 109. Erkus-Otzurk, H. & Eraydin, A. Tourist destination governance: practice, theory and issues, Annals Tourism Research, 2010, 38(4), 1300-1321. 110. EC (European Commission) (1999). Sixth periodic report on the social and economic situation of regions in the EU. EC: Brussels 111. Fernandez-Stark, Karina, Bamber Penny and Gereffi Gary (2011). The Fruit and Vegetable Global Value Chain: Workforce Development and Economic Upgrading. Center for Globalization, Governance and Competitiveness. 112. Friedmann, J. & Douglass, M. (1978); Agropolitan development: Toward a new strategy for regional planning in Asia; in Douglass (1998) 113. Fujita, M. and Mori, T. (2005). Frontiers of the New Economic Geography. Regional Science, 87(4), pp. 635-651 114. Fyall, Alan, Brian Garrod, Youcheng Wang. collaboration: A critical review of theoretical approachesto a multi-dimensional
phenomenon, Journal of Destination Marketing & Management 1 (2012) 10–26 115. Garín-Muñoz, T. &Montero-Martín, L. F. (2007), “Tourism in the Balearic Islands: A Dynamic Model for International Demand Using Panel Data”, Tourism
Management, 28, pp. 1224-1235. 116. Gereffi, Gary and Fernandez-Stark Karina (2010). The Offshore Services Industry: A Global Value Chain Approach. Center on Globalization Governance
linkages in
and Competitiveness, Duke University. 117. Gereffi, Gary and Fernandez-Stark Karina (2016). Global value chain analysis: A Primer. Center on Globalization, Governance and Competitiveness, Duke University. 118. Giroud, A. and Scott-Kennel, J. (2006). Foreign-local international business: A review and extension of the literature. WP No. 06-06. http://www.brad.ac.uk/acad/management/external/pdf/workingpapers/2006/Booklet
_06-06.pdf
151
119. Gilbert, M. Quantitative methods in tourism economics, A Springer Company, 1984. 120. Go, F. M. & Govers, R. (2000), “Integrated Quality Management for Tourist Destinations: A European Perspective on Achieving Competitiveness”, Tourism
Management, 21, pp. 79-88. 121. Gomezelj, D. O.& Mihalič, T. (2008),“Destination competitiveness - Applying different models, the case of Slovenia”, Tourism Management, 29, pp. 294-307. 122. Gunn, C. A. Vacationscape, Developing tourist areas, Washington, DC: Taylor & Francis, 1997. 123. Haggblade, S., Hazell, P. and Brown, J. (1989). Farm-Nonfarm Linkages in Rural Sub-Sahran Africa. World Development, 17(8), pp. 1173-1201. 124. Hazell, P.B.R. and Roell, A. (1983). Rural growth linkages: Household expenditure pattern in Malaysia and Nigeria. Research Report No. 41, International
Food Policy Institute, Washington D.C. 125. Harry W. Richardson (1979), Regional Economics, University of Illinois Press, USA. 126. Hass and Richard Capella (2006), Intergration and Regional Linkage - Papers of Harvard University, 2006. 127. Hair, J. F., Black, W. C., Babin, B. J., Anderson, R. E. & Tatham, R. L. (2006), Multivariate data analysis (6th edn), Pearson Prentice Hall. 128. Hassan, S. S. (2000), “Determinants of Market Competitiveness in an Environmentally Sustainable Tourism Industry”, Journal of Travel Research, 38, pp. 239-245. 129. Haugland, S. A., Ness, H., Grønseth, B. O. & Aarstad, J. (2011). “Development of Tourism Destinations: An Integrated Multilevel Perspective”.
Annals of Tourism Research, 38(1), 268-290. 130. Hirschman, A. O. (1958). The strategy of economic development. In Bianchi, A. N. (2004), Albert Hirschman in Latin America: Note on Hirschman’s trilogy on economic developmnet. www.anpec.org.br/encontro2004/artigos/A04A004.pdf 131. Huang, Z., 2005. Supply chain management for Chinese agricultural info/tech agribusiness/SCM products http://www.ccag.com.cn/chinese/technical
BJwkshp/BJ wkshp cn.htm
152
132. Humphrey, John and Schmitz Hubert (2002). How Does Insertion in Global Value Chains Affect Upgrading in Industrial Clusters?. Regional Studies, 36(9), pp.
1017-1027. 133. Hussain, N. (2000). Linkages between SMEs and large industries for increased markets and trade: An African perspective. African Development Bank, Economic research papers, No. 53. 134. Henkel, R., Henkel, P., Agrusa, W., Agrusa, J., and Tanner, J. (2006), “Thailand as a Tourist Destination: Perceptions of International Visitors and Thai
Residents”, Asia Pacific Journal of Tourism Research, 11(3), pp. 269-287. 135. Honey, M., & Krantz, D. (2007), Global Trends in Coastal Tourism. Paper prepared for World Wildlife Fund. 136. Hudson, S., Ritchie, B. & Timur, S. (2004), “Measuring Destination Competitiveness: An Empirical Study of Canadian Ski Resorts”, Tourism and
Hospitality Planning & Development, 1 (1), pp. 79-94. 137. Jamal, T., & Jamrozy, U. (2006). Collaborative networks and partnerships for
integrated destination management. In: D. Buhalis, & C. Costa (Eds.),
Tourismmanagement dynamics: Trends, management and tools (pp. 164–172).
Oxford: Elsevier Butterworth Heinemann. 138. Jansson, H. (1982). Inter-firm linkages in a developing economy: The case of Swedish firms in India. 139. Johanson, Martin and Lundberg Heléne (2011). Network Strategies for Regional Growth. Palgrave Macmillan: New York. 140. Johansson, B. and Quigley, J. (2004). Agglomeration and networks in spatial California. economies. University of
http://urbanpolicy.berkeley.edu/pdf/JQPIRS0804PB.pdf 141. Joachim Willms: The Future Trends in Tourism - Global Perspectives, 2007,
p.12.
142. Jones, E., & Haven-Tang, C. (2005), Tourism SMEs, service quality and destination competitiveness. In E. Jones & C. Haven-Tang (Eds.), Tourism SMEs,
Service Quality and Destination Competitiveness (1-24), Cambridge, MA: CABI publishing.
153
143. Joseph Cortright (2006). “Making sence of cluster: Regional competitiveness and Economic development”, Metropolitan Policy Program – The Brooking
institution. 144. Kaplinsky (1999). Globalization and Unequalization: What can be learned from value chainanalysis. Journal of Development Studies, 37(2), pp. 117-146. 145. Kaplinsky, R. and Mike Morris. (2001). A handbook for value chain research. 146. Kristiansen, S. (2003). Linkages and Rural Non-Farm Employment Creation: Changing Challenges and Policies in Indonesia. ESA WP No. 03-22. 147. Krugman, P. (1979). Increasing returns, monopolistic competition and international trade. Journal of International Economics, 9, pp.469-479. 148. Krugman, P. (1980). Scale economies, product differentiation and the pattern of trade. American Economic Review, 70, pp.950-959. 149. Krugman, P. (1995). Development, geography and economic theory. MIT Press: Cambridge (MA). 150. Krugman, P. (2004). The “new” economic geography: Where are we?. http://www.ide.go.jp/Japanese/Lecture/Sympo/pdf/krug_summary.pdf 151. Kozak, M., & Rimmington, J. (1999), “Measuring tourist destination competitiveness: a comparison of two cases”, Tourism Management, 26, pp. 606-
616. 152. Lee, M.S., San, Y.H. and Hsu, Y.R. (2011) A Study of the Key Success Factors of the Ecotourism Industry in Taiwan. African Journal of Business
(2005), “The
Management, 5, 627-640 153. Lordkipanidze, M., Brezet, H. & Backman, M. entrepreneurship factor in sustainable tourism development”, Journal of Cleaner
Production, 13, pp. 787-798. 154. Mariani, M. M. & Kylanen (2014), M. Cooperative and cooperative practices: Cases from the tourism industry, Plagrave Macmillan, N.Y, 2014. 155. Martin, R. (2003). A study on the factors of regional competitiveness; University of Cambridge. http://www.docstoc.com/docs/956888/A-Study-on-the-
Factors-of-Regional-Competitiveness 156. Ministry of Natural Resources and Environment – MONRE (2015). Second Thailand. biennial update report of
154
https://unfccc.int/files/national_reports/nonannex_i_parties/biennial_update_reports /submitted_burs/application/pdf/347251_thailand-bur2-1-sbur_thailand.pdf 157. M. Nikolova (2011), Scientific research basis for sustainable development of the Moutain regions: Main concepts and basic theories - Chapter 1, Boian Koulov,
Georgi Zhelezov edit (2010). The Book “Sustainable Development in Mountain Regions Southeastern Europ, Srpinger. 158. McGee (2012), The Emergence of Desakota Regions in Asia: Expanding a Hypothesis 159. Mills, J. E. & Law, R. Handbook of consumer behavior, tourism and the internet, Haworth Hospitality Press, N.Y, 2004. 160. Nunnally, J. & Berstein, I.H. (1994), Pschychometric Theory (3rd edn), New
York: McGraw-Hill.
161. Nguyen et al. (2020), Factors Affecting Community-Based Tourism Development and Environmental Protection: Practical Study in Vietnam, Journal of
Environmental Protection, 2020, 11, 124-151. 162. Ofronov, Bogdan, 2018. "The Development Of Quality Management In The Industry," Annals of Spiru Haret University, Economic Series, Tourism
Universitatea Spiru Haret, vol. 18(2), pages 173-187 163. Ottaviano, G. and Puga, D. (1998). Agglomeration in the global economy: A survey of the New Economic Geography. World Economy, 21, pp.707-731. 164. Pack, Howard and Saggi Kamal (1999). Vertical Technology Transfer, Diffusion, and Competition. Previous version issued as World Bank Policy
Research Working Paper No.2065. 165. Perroux, F. (1955). Note sur la notion de pole de croissance. Economie Appliquée, 8, pp.307-320 (Translated as: Perroux, F. (1970). Note on the Concept of
Growth Poles. In: McKee, D., Dean, R. and Leahy, W. (eds.). Regional Economics:
the
Theory and Practice. The Free Press: New York, pp.93-104). 166. Pingali, P. (2006). Agricultural Growth and Economic Development: a view globalization through lens. https://ageconsearch.umn.edu/record/25429/files/pa06pi01.pdf 167. Prem Nath, Mr Minas Papademetriou, Dr Kasem Piluek and Dr Edward M Herath, (1999). The vegetable sector in Thailand a review. http://www.fao.org/3/a-
ac145e.pdf
155
168. Plummer, M., Best, N., Cowled, K. & Vines, K. CODA: Convergence diagnosis and output analysis for MCMC, R News, 6(1), 7-10. Publishing House of
Political Theory, Vietnam, 2006. 169. Pearce, D. G. (1997), “Competitive destination analysis in Southeast Asia”. Journal of Travel Research, 35(4), pp. 16-25. 170. Poon, A. (1993), Tourism, Technology, and Competitive Strategy. Wallingford: CAV International. 171. Poon, A. (1994), The new tourism revolution, Tourism Management, 15(2), 91-92. 172. Porter, M. (2008), On Competition, Updated and Expanded Edition, Harvard Business School Press October 2008. 173. Porter, M.E. (1990), The Competitive Advantage of Nations, The Free Press, New York. 174. Reardon, T., and J.A. Berdegué (2002). The Rapid Rise of Supermarkets in Latin America: Challenges and Opportunities for Development. Development
Policy Review, 20(4), pp.371–388. 175. Reardon, T., C.P. Timmer, C.B. Barrett, and J.A. Berdegué (2003). The Rise of Supermarkets in Africa, Asia, and Latin America. American Journal of
Agricultural Economics, 85(5), pp.1140–1146 . 176. Ritchie, J. R B. & G. I. Crouch (1993), “Competitiveness in International Tourism: A Framework for Understanding and Analysis,” Proceedings of the 43rd
Congress of the Association Internationale d’Experts Scientifique due Tourisme on
Competitiveness of Long-Haul Tourist Destinations, St. Gallen, Switezerland: A.I.E.S.T., pp. 23–71. 177. Ritchie, J. R. B. & Crouch, G. I. (2000), “The competitive destination, a sustainable perspective”, Tourism Management, 21(1), pp. 1-7. 178. Ritchie, J. R. B. & Crouch, G. I. (2003), The Competitive Destination: A Sustainable Tourism Perspective, Wallingford, UK: CABI Publishing. 179. Saggi, Kamal (2002). Trade, foreign direct investment, and international technology transfer: A survey. World Bank Research Observer, 17, pp. 191-235. 180. Saverdiades, A. (2000), “Establishing the Social Tourism Carrying Capacity for the Tourist Resorts of the East Coast of the Republic of Cyprus”, Tourism
Management, 21, pp. 147-156.
156
(2006).Regional Development Strategies Selected
181. Sutton, J. (1992), Sunk Costs and Market Structure, Cambridge, MA: MIT Press. 182. Somik V. Lall international experience. Roundtable Discussion Policy Responses to the Spatial
Concentration of the Poorest in Lagging Regions, Spatial and Local Development Unit Sustainable Development Network World Bank April 11, 2006. 183. Tanja, A., Vladimir M., Nemanja, D. &Tamara, J. (2011), “Integrated Model of Destination Competitiveness”, Geographica Pannonica, 15(2), pp. 58-69. 184. Teye, V., Somez, S. F., Sirakaya, E. (2002), “Residents’ Attitudes toward Tourism Development”, Annals of Tourism Research, 29(3), pp. 668-688. 185. Tinsley, R. & Lynch, P. (2001), “Small tourism business networks and destination Development”, Hospitality Management, 20, pp. 367-378. 186. Tipraqsa, P.(2006). Opportunities and constraints of integrated farming system in Northeast Thailand: a case study of the Huai Nong Ian catchment, Khon
Kaen province. Ecology and Development Series No. 35. Cuvillier Verlag
Gottingen. 187. Tipraqsa, P., E.T. Craswell, A.D. Noble, and D. Schmidt-Vogt (2007). Resource integration for multiple benefits: multifunctionality of integrated farming
systems in Northeast Thailand. Agricultural Systems 94:694-703. 188. Thomson, Ann Maria, James L. Perry, Theodore K. Miller, (2008), Linking Collaboration Processes and Outcomes Foundations for Advancing Empirical
Theory. In Lisa Blomgren Bingham and Rosemary O'Leary (Eds.). Big ideas in
report: Promoting (2001). World investmnet linkages.
collaborative public management.Armonk, N.Y. 189. Thomson, Ann Marie and James L. Perry. 2006. Collaboration Processes: Inside the Black Box. Public Administration Review 66 (sl): 20 – 32. 190. UN (United Nations) (2000). United Nations millennium declaration. General Assembly, A/RES/55/2, New York. 191. UNCTAD http://www.unctad.org/en/docs/wir2001_en.pdf 192. UNWTO and UNEP (2005), Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers. 193. UNWTO (2013), Sustainable Tourism for Development Guidebook, First edition, 2013, p. 21.
157
194. UNWTO (2008), A Practical Guide to Tourism Destination Management. Published and printed by the World Tourism Organization, Madrid, Spain. 195. Vermeulen, S; Woodhill, J; Proctor, F and Delnoye,R (2008). Chain-Wide Learning for Inclusive Agrifood Market Development: A guide to multi-stakeholder
processes for linking small-scale producers to modern markets. The International Institute for Environment and Development, UK and the Capacity Development and
Institutional Change Programme, Wageningen University and Research Centre, the Netherlands 196. Yoon, Y., Gursoy, D. & Chen, J. S. (2001), “Validating a tourism development theory with structural equation modelling”, Tourism Management, 22,
pp. 363-372. 197. Yilmaz, Y. & Bititci, U. (2006). Performance measurement in the value chain: Manufacturing v. tourism. Journal of Productivity and Performance
Measurement, 55(5): 371-389. 198. Wang, Y. & Shaul, S. (2008), Destination marketing: competition, cooperation & operation, International Journal of Contemporary Hospitality Management, 20(2), 126-
Wynne, C., Berthon, P., Pitt, L., Ewing, M., & Napoli, J. (2001). The impact
141. 199. Werthner, H., & Klein, S. (1999). Information Technology and Tourism - A Challenging Relationship. Vienna: Springer-Verlag, 18 – 19 200. of the Internet on the distribution value chain. The case of the South African
tourism industry. International Marketing Review, 18(4), 420-431 201. Wong, P. P. (1998), “Coastal tourism development in Southest Asia: relevance and lessons for coastal zone management”, Ocean & Coastal Management, 38, pp.
World Economic Forum (2007), The travel and tourism competitiveness
World Tourism Organization (2007), “A Practical Guide to Tourism
89-109. 202. report 2007, Furthering the process of economic development, Geneva, Switzerland. 203. Destination Management”. 204. World Commission on Environment and Development (WCED) (1987), Our Comon Future. New York: Oxford University Press, pp 42 – 45. 205. WTTC (2016), Travel and Tourism Economic Impact 2016:Vietnam, WTTC 206. Wood, D.J., and B. Gray.(1991) Towards a Comprehensive Theory of Collaboration. The Journal of Applied Behavioral Science. 27, 139-162.
158
207. Walter Christaller (1933), Christaller’s Central Place Theory. https://web.archive.org/web/20070928200411/http://www.thinkgeography.org.uk/A
S%20Human%20Settlement/cpt%202.pdf 208. Wong, P. P. (1998), “Coastal tourism development in Southest Asia: relevance and lessons for coastal zone management”, Ocean & Coastal Management, 38, pp. 89- 109.
Trang website 209. http://tonghoixaydungvn.vn/Gi%E1%BB%9Bithi%E1%BB%87u/tabid/89/ca tid/115/item/6728/gioi-thieu-tom-luoc-nguyen-ly-kinh-te-hoc-va-quy-hoach-tong-
http://lyluanchinhtri.vn/home/en/index.php/practice/item/689-regional-
the-vung.aspx 210. http://www.s-cool.co.uk/a-level/geography/urban-profiles/revise-it/central- place-and-bid-rent-theories. 211. http://journals.uran.ua/visnyknakkkim/article/view/178168 212. https://www.preprints.org/manuscript/201807.0578/v1 213. linkage-in-tourism-development-in-the-northwest-provinces-of-vietnam.html 214. https://vietnambiz.vn/to-chuc-lanh-tho-du-lich-territorial-organization-of- tourism-la-gi-cac-hinh-thuc-20200113140212613.htm 215. https://www.thiennhien.net/2014/05/07/du-lich-vung-tay-bac-day-manh-lien- ket-de-phat-trien
159
PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1 BẢNG HỎI LẤY Ý KIẾN CHUYÊN GIA (Thời điểm nhận được ý kiến trả lời từ chuyên gia:__________________)
Trước hết, chúng tôi xin chân thành cám ơn sự hợp tác và hỗ trợ của quý chuyên gia đối với đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” của NCS Trần Xuân Quang. Kinh nghiệm và kiến thức của quý chuyên gia về Liên kết phát triển du lịch tại các địa phương chắc chắn sẽ hỗ trợ chúng tôi rất nhiều trong việc đánh giá mức độ liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ Hướng dẫn trả lời: Xin đánh dấu (X) hoặc điền thông tin thích hợp vào các ô trống. A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
Xin quý chuyên gia cho biết những thông tin cá nhân sau đây:
2. Tuổi:
1. Giới tính: □ Nam □ Nữ __________________________
3. Trình độ: □ Tú tài □ Cao đẳng □ Cử nhân □ Thạc sỹ □ Tiến sỹ □
Khác:___________
4. Công việc: □ Quản lý Nhà nước □ Kinh doanh □ Nghiên cứu □ Giảng dạy
□
Khác:____
5. Số năm kinh nghiệm làm việc liên quan đến lĩnh vực du lịch:
________________________
6. Đang sinh sống, làm việc chủ yếu tại:
_________________________________________
B. ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Xin quý chuyên gia cho ý kiến đánh giá đối với các tiêu chí liên quan đến liên kết
phát triển du lịch tại một số địa phương dựa trên thang điểm sau: 1 (Rất kém): Rất kém
so với mức trung bình; 2 (Kém): Kém so với mức trung bình; 3 (Trung bình): Trung
bình; 4 (Khá): Khá so với mức trung bình; 5 (Tốt): Tốt so với mức trung bình.
Ví dụ:
160
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
Khí hậu - Thời tiết
5
2
2
4
1
1
ĐÁNH GIÁ CỦA QUÝ CHUYÊN GIA
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
x
x
x
x
x
A
CÁC NGUỒN LỰC
x
x
x
x
x
A1
Các nguồn lực sẵn có
x
x
x
x
x
A11 Tự nhiên
1
Khí hậu - Thời tiết
2
Thiên nhiên nguyên sơ
3
Bãi biển, nước biển
4
Cảnh quan, thắng cảnh, khu bảo tồn tự
nhiên
5
Thảm động - thực vật và sinh vật
x
x
x
x
x
A12 Văn hóa / Di sản
6
Di tích, di sản và bảo tàng lịch sử, văn hóa
7
Đặc trưng nghệ thuật - kiến trúc
8
Nghệ thuật, văn hóa truyền thống
9
Đa dạng ẩm thực
x
x
x
x
x
A2
Các nguồn lực tạo thêm
x
x
x
x
x
A21 Cơ sở hạ tầng du lịch
10
Phòng ở, lưu trú
11
Cơ sở dịch vụ ăn uống, nhà hàng
12
Phương tiện phục vụ hội nghị, triển lãm
13
Hướng dẫn và thông tin du lịch
x
x
x
x
x
A22 Các hoạt động vui chơi
14
Vui chơi thông thường
15
Vui chơi nước
161
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
Vui chơi gắn với thiên nhiên
16
Vui chơi mạo hiểm
17
Vui chơi thể thao
18
x
x
x
x
x
A23 Mua sắm
19
Chất lượng của các địa điểm mua sắm
(trung tâm thương mại, siêu thị, chợ…)
Chất lượng, giá trị các sản phẩm mua sắm
20
Sự đa dạng của trải nghiệm mua sắm và
21
các sản phẩm mua sắm
x
x
x
x
x
A24 Giải trí
Công viên, khu giải trí
22
Chất lượng/Đa dạng của hoạt động giải trí
23
Giải trí về đêm
24
x
x
x
x
x
A25 Sự kiện/Lễ hội
Có nhiều sự kiện, lễ hội hấp dẫn, đặc biệt
25
x
x
x
x
x
Các yếu tố phụ trợ
A3
x
x
x
x
x
A31 Cơ sở hạ tầng tổng thể
Cơ sở hạ tầng đầy đủ, hoàn thiện
26
Phương tiện y tế/chăm sóc sức khỏe
27
Tài chính/ngân hàng/bảo hiểm
28
Thông tin liên lạc
29
Sân bay, nhà ga, bến xe, bến cảng
30
Hệ thống các tuyến giao thông
31
Xử lý rác thải
32
Cung cấp điện/nước
33
x
x
x
x
x
A32 Chất lượng dịch vụ
34
Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch có
chất lượng dịch vụ tiêu chuẩn cao
35
Các doanh nghiệp quan tâm đến chất lượng
dịch vụ và theo dõi/đảm bảo sự hài lòng
162
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
của du khách
36
Tốc độ, hiệu quả xử lý công việc của các
cơ quan công quyền
x
x
x
x
x
A33 Đi lại
37
Kết hợp thăm viếng địa điểm khác
38
Chuyến bay/tàu/xe đến/đi địa phương
39
Chi phí/thủ tục đi đường
x
x
x
x
x
A34 Thân thiện/Mến khách
40
Sự thân thiện của cư dân địa phương
41
Sự ủng hộ của cư dân địa phương với phát
triển du lịch
x
x
x
x
x
A35 Quan hệ thị trường
42
Quan hệ kinh doanh với những thị trường
khách du lịch chính
43
Quan hệ đồng hương, họ tộc, tôn giáo với
những thị trường khách du lịch chính
44
Quan hệ khác với những thị trường khách
du lịch chính (thể thao, vui chơi…)
45
Quy mô đầu tư vào du lịch của địa phương
x
x
x
x
x
B
QUẢN LÝ DU LỊCH TẠI ĐỊA
PHƯƠNG
x
x
x
x
x
B1 Quản lý nhà nước về du lịch
46
Điều tiết, quản lý tốt các tổ chức, đơn vị, cá
nhân hoạt động du lịch
47
Liên lạc hiệu quả, tiếp thu, phản ánh tốt
quan điểm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân
hoạt động du lịch
48
Quan tâm, tiếp thu ý kiến của du khách
x
x
x
x
x
B2 Quản lý quảng bá du lịch địa phương
49
Hiệu quả quảng bá du lịch địa phương
163
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
50
Thương hiệu du lịch địa phương
51 Mối liên kết giữa các cơ quan tổ chức du
lịch của địa phương với các tổ chức lữ hành
Tập trung đúng các thị trường mục tiêu
52
Hợp tác, phối hợp với các cơ quan quản lý
53
du lịch ở địa phương khác
54
Quảng bá du lịch địa phương dựa trên kiến
thức về sản phẩm của các địa phương khác
x
x
x
x
x
B3
Ra chính sách, lập kế hoạch và liên kết
phát triển du lịch
55
Có chiến lược (tầm nhìn) dài hạn cho phát
triển du lịch, thể hiện được vai trò, giá trị
của cư dân địa phương và các đơn vị, tổ
chức, cá nhân hoạt động du lịch
56
Phát triển du lịch có tính đến nhu cầu, sở
thích của du khách
57
Tích hợp được những lợi thế lớn nhất của
địa phương vào sản phẩm du lịch
58
Phát triển du lịch hài hòa, ăn nhập với phát
triển các ngành kinh tế khác
59
Xác định rõ đối thủ cạnh tranh và sản phẩm
thế mạnh của họ
Giải pháp thực hiện khớp với chiến lược
60
Sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học,
61
thông tin, số liệu thống kê trong lập kế
hoạch và phát triển du lịch
62
Có sự ủng hộ của cộng đồng đối với chiến
lược, kế hoạch, giải pháp phát triển du lịch
x
x
x
x
x
B4
Phát triển nguồn nhân lực
63
Cam kết của cơ quan quản lý nhà nước
164
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
trong việc giáo dục, đào tạo du lịch
64
Cam kết của các tổ chức kinh doanh trong
việc giáo dục, đào tạo du lịch
65
Đào tạo được chỉnh theo nhu cầu du khách
66
Phạm vi, chất lượng của các chương trình
giáo dục, đào tạo du lịch
x
x
x
x
x
B5 Quản lý môi trường
67
Nhận thức cơ quan quản lý nhà nước về
tầm quan trọng phát triển du lịch bền vững
68
Nhận thức của tổ chức kinh doanh về tầm
quan trọng phát triển du lịch bền vững
69
Hiệu quả công tác bảo vệ môi trường, di
sản và công tác nghiên cứu về tác động môi
trường của du lịch
x
x
x
x
x
C
CÁC ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH
x
x
x
x
x
C1 Môi trường liên kết (vi mô)
70 Môi trường kinh doanh du lịch
71
Khả năng tiếp cận vay vốn kinh doanh
72
Khả năng quản lý của các đơn vị kinh
doanh du lịch
73
Cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh du
lịch trên địa bàn
74
Hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh du lịch
trên địa bàn
75
Liên kết giữa các đơn vị kinh doanh du lịch
với doanh nghiệp thuộc ngành nghề khác
76
Hiệu quả kinh doanh của các đơn vị, tổ
chức, cá nhân hoạt động du lịch
Các doanh nghiệp làm ăn có đạo đức
77
Các doanh nghiệp sử dụng công nghệ
78
165
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
thông tin để tạo lợi thế cạnh tranh
x
x
x
x
x
C2
Vị trí trên thị trường
79
Sự khác biệt so với các địa phương khác
80
Gần gũi các địa điểm du lịch khác
81
Khoảng cách, thời gian đi lại từ các thị
trường du khách chính
x
x
x
x
x
C3 Môi trường tổng thể (vĩ mô)
82
Điều kiện kinh doanh, môi trường luật lệ,
quy định tổng thể
83
Chính sách phát triển du lịch của Chính
phủ dành cho địa phương
84 Môi trường đầu tư phát triển du lịch
85
Tình hình dân cư, văn hóa, xã hội
86
Thay đổi công nghệ tại địa phương
87
Điều kiện kinh tế tại các thị trường khách
du lịch chính
x
x
x
x
x
C4
Cạnh tranh về giá
88
Giá phòng ở
89
Giá ăn uống
90
Giá đi lại từ các thị trường chính
91
Giá hoạt động vui chơi, giải trí, thăm viếng
92
Giá các tua du lịch trọn gói
x
x
x
x
x
C5
Trật tự/An ninh/An toàn
93
Công an, dân phòng
94
An toàn cho du khách
95
An toàn cho tài sản, vật dụng của du khách
x
x
x
x
x
D
CẦU
96
Du khách đã biết, nghe hoặc trải nghiệm về
địa phương
97
Du khách có sở thích, ưu tiên lựa chọn địa
166
STT
Tiêu chí
Thanh
Nghệ
Hà
Thừa
Quảng
1 Rất kém - 2 Kém - 3 Trung bình - 4 Khá - 5 Tốt
Hóa
An
Tĩnh
Thiên
Bình
– Huế
phương khi đi du lịch
x
x
x
x
x
E
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
x
x
x
x
x
E1 Khách du lịch
98
Số khách trong nước
99
Số khách nước ngoài
100
Số ngày nghỉ của du khách
101 Thị phần so với cả nước
102 Tỷ lệ khách trở lại
x
x
x
x
x
E2
Chi tiêu của du khách
103 Chi tiêu của du khách
104 Tỷ lệ chi tiêu so với cả nước
x
x
x
x
x
E3
Đóng góp của du lịch cho địa phương
105 Đóng góp vào GDP, thu nhập
106 Tạo việc làm
107 Tăng năng suất của ngành du lịch
108 Ảnh hưởng tốt đến các ngành kinh tế khác
x
x
x
x
x
E4
Đầu tư cho du lịch
109 Đầu tư du lịch từ nguồn vốn ngân sách
110 Đầu tư du lịch từ vốn tư nhân trong nước
111 Đầu tư du lịch từ nguồn vốn nước ngoài
112 Đầu tư du lịch trong tổng đầu tư
x
x
x
x
x
E5
Chỉ số cạnh tranh về giá
113 Chỉ số cạnh tranh giá cả chung
x
x
x
x
x
E6 Hỗ trợ của chính quyền cho du lịch
114 Ngân sách cho du lịch và quản lý du lịch
115 Chi phí dành cho quảng bá du lịch
116 Chương trình hỗ trợ phát triển du lịch
117 Ưu đãi thuế, trợ cấp cho ngành du lịch
118 Giáo dục, đào tạo nghề du lịch
167
D. GÓP Ý
Xin quý chuyên gia vui lòng cho ý kiến làm thế nào để liên kết du lịch vùng Bắc
Trung Bộ có thể tốt hơn nữa!
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
__________________
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của quý chuyên gia!
168
PHỤ LỤC 2
BẢNG HỎI LẤY Ý KIẾN DU KHÁCH (Thời điểm thực hiện phỏng vấn lấy ý kiến: ______________________)
Trước hết, chúng tôi xin chúc quý du khách có một kỳ nghỉ vui vẻ và xin chân thành cảm ơn sự hợp tác/hỗ trợ của quý du khách đối với đề tài “Liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ” của NCS Trần Xuân Quang. Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến xác thực và chân tình của quý du khách.
Ý kiến của quý du khách về liên kết du lịch vùng Bắc Trung Bộ chắc chắn sẽ hỗ trợ
chúng tôi rất nhiều trong việc tăng cường liên kết phát triển du lịch vùng thời gian tới. Hướng dẫn trả lời: Xin đánh dấu (X) hoặc điền thông tin thích hợp vào các ô trống.
A. THÔNG TIN CÁ NHÂN
1. Giới tính: □ Nam □ Nữ
2. Tuổi: _________________
3. Tình trạng hôn nhân: □ Độc thân □ Có gia đình
4. Số con: ________________
5. Nghề nghiệp: __________________________________________________________
6. Đang sinh sống, làm việc chủ yếu tại: ________________________________________
B. THÔNG TIN VỀ CHUYẾN THĂM
1. Mục đích: □ Tham quan □ Nghỉ dưỡng □ Lễ hội □ Thăm thân □ Công việc □ Hội
nghị □ Khác:_____________________________________________________________
2. Đây là lần thứ mấy du lịch các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ: ______ 3. Hình thức: □ Cá
nhân □ Gia đình
4. Số thành viên trong gia đình cùng đi: ____
5. Thời gian
thăm: ____ngày;
____đêm
6. Tổ chức: □ Tự tổ chức □ Qua dịch vụ □ Do cơ quan, đoàn thể □ Khác:_____________
7. Biết/có được thông tin về du lịch Nghệ An qua: □ Tự bản thân □ Tờ rơi, sách báo
□ Công ty du lịch □ Người quen □ Triển lãm, hội chợ □ Internet □ Truyền thông
□ Khác:_________________________________________________________________
8. Đến/đi các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ bằng: □ Đường bộ □ Đường sắt □ Đường thủy □
Hàng không □ Khác:___
9. Những địa điểm đi thăm ở Bắc Trung Bộ: _____________________________________
169
10. Những địa điểm thú vị nhất:_______________________________________________
11. Những hoạt động tại các tỉnh Bắc Trung Bộ:_________________________________
12. Những hoạt động thấy thú vị nhất: _________________________________________
13. Quà kỷ niệm đã mua:_____________________________________________________
14. Những món ăn thích nhất:_________________________________________________
15. Chi tiêu cho cả chuyến thăm: □ Dưới 1 triệu □ 1-5 triệu □ 5-10 triệu □ 10-15 triệu
□ 15-20 triệu □ Trên 20 triệu
16. Chi phí lớn nhất dành cho: □ Phòng nghỉ □ Ăn uống □ Đi lại □ Vui chơi, giải trí
□ Mua sắm □ Thăm quan □ Khác:____________________________________________
17. Có ý định trở lại du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ thời gian tới không? □ Có
□ Không
18. Có giới thiệu du lịch các tỉnh Bắc Trung Bộ cho bạn bè/người quen không? □ Có
□
Không
C. ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC TIÊU CHUẨN LIÊN KẾT PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Xin quý du khách cho ý kiến đánh giá bằng cách đánh dấu (X) vào lựa chọn của
mình đối với các tiêu chí liên quan đến liên kết phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ
dựa trên thang điểm sau: Rất kém – Kém – Trung bình – Khá – Tốt.
Ví dụ:
Các tiêu chí liên kết phát triển du lịch Rất Trung Kém Khá Tốt vùng Bắc Trung Bộ kém bình
1. Khí hậu / Thời tiết X
ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH
Các tiêu chí liên kết phát triển du lịch Rất Trung Kém Khá Tốt vùng Bắc Trung Bộ kém bình
x x x x x Sản phẩm/điểm thu hút du lịch
1. Khí hậu / Thời tiết
2. Bãi tắm
3. Danh lam thắng cảnh tự nhiên
4. Di tích lịch sử, văn hóa
170
Các tiêu chí liên kết phát triển du lịch Rất Trung Kém Khá Tốt vùng Bắc Trung Bộ kém bình
5. Biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể
thao
6. Ẩm thực
7. Lễ hội, hội chợ, sự kiện
8. Mua sắm
9. Vui chơi, giải trí (thông thường)
10. Vui chơi nước
11. Vui chơi gắn với thiên nhiên
12. Vui chơi mạo hiểm
13. Vui chơi thể thao
14. Vui chơi giải trí về đêm
15. Liên kết, phối hợp các sản phẩm/địa
điểm du lịch
x x x x x An ninh - Trật tự - Môi trường xã hội
16. An toàn thân thể
17. Kiểm soát tệ nạn ăn cắp, cướp giật,
lừa đảo
18. Kiểm soát nạn ăn xin, đeo bám,
phiền nhiễu du khách
19. Kiểm soát các tệ nạn xã hội khác
x x x x x Vệ sinh - Môi trường
20. Cảnh quan môi trường tự nhiên, đô
thị
21. Chất lượng vệ sinh môi trường
22. Chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm
23. Chất lượng vệ sinh bãi biển, nước
171
Các tiêu chí liên kết phát triển du lịch Rất Trung Kém Khá Tốt vùng Bắc Trung Bộ kém bình
biển
x x x x x Cơ sở hạ tầng - tiện ích
24. Thông tin, hướng dẫn về du lịch địa
phương
25. Điện thoại, internet
26. Giao thông, nhà ga, bến tàu, sân bay
27. Điện, nước sinh hoạt
28. Khách sạn, nhà nghỉ
29. Nhà hàng ăn uống
30. Dịch vụ thanh toán (tài chính, ngân
hàng, tiền tệ)
31. Trung tâm vui chơi, giải trí, thể thao
32. Chợ, siêu thị, trung tâm thương mại
33. Y tế, chăm sóc sức khỏe
x x x x x Giá cả
34. Giá cả chung
35. Giá đi lại
36. Giá phòng ở, lưu trú
37. Giá ăn uống tại nhà hàng
38. Giá dịch vụ
39. Giá hàng lưu niệm, quà tặng
40. Giá vui chơi, giải trí
41. Giá vé vào các điểm thăm quan
x x x x x Độ tin cậy, cởi mở, chuyên nghiệp của
cư dân, nhân viên, cán bộ bản địa
42. Cư dân địa phương
43. Cán bộ chính quyền
172
Các tiêu chí liên kết phát triển du lịch Rất Trung Kém Khá Tốt vùng Bắc Trung Bộ kém bình
44. Taxi/Xe ôm
45. Nhân viên các cơ sở kinh doanh (lưu
trú, ăn uống, dịch vụ, lữ hành…)
x x x x x Thương hiệu du lịch vùng Bắc Trung
Bộ
46. Phổ cập nhiều người biết đến
47. Hấp dẫn, cuốn hút
D. GÓP Ý
Xin quý du khách vui lòng cho ý kiến làm thế nào để liên kết phát triển du lịch vùng
Bắc Trung Bộ có thể tốt hơn nữa!
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
_________________________________________________________________________
Một lần nữa chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của quý du khách!
173

