LUẬN VĂN:
Bước đầu đánh giá kinh tế các tác động
môi trường do hoạt động của công ty Cao
su Sao vàng Hà Nội
Lời nói đầu
Quá trình lao động sáng tạo ra của cải vật chất của con người đều tác động đến
môi trường xunh quanh theo chiều thuận lợi hoặc không thuận lợi cho đời sống phát
triển của con người. Cuộc cách mạng khoa học kthuật những diễn đàn kinh tế hội
mang tính chất toàn cầu trong những thập kỷ qua đã gây ảnh hưởng rộng lớn, sâu sắc và cơ
bản đến điều kiện thiên nhiên môi trường, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, cân bằng
sinh thái đảo lộn, chất lượng môi trường sống suy thoái đồng thời ảnh hưởng trực tiếp tới
quá trình sản xuất kinh doanh cũng như sức khoẻ của công nhân tại các ssản xuất.
vậy làm sao để cho các sở sản xuất kinh doanh trực tiếp lao động có hiệu qu
không tổn hại đến môi trường của con người? m sao để cho sở sản xuất kinh
doanh biết được rằng họ thực hiện được các biện pháp bảo vệ môi trường là có hiệu quả về
mặt kinh tế và xã hội?
Đây việc không dễ dàng, muốn bảo vệ i trường thì trong quá trình sản xuất
kinh doanh các công ty, nghiệp… phải thực hiện các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô
nhiễm đòi hỏi chi phí quá lớn trong một thời gian dài lợi ích chưa thấy ràng, vậy
các công ty khi thực hiện các biện pháp này tchưa thực sự quan m họ chưa hưởng
được lợi ích gì.
Vấn đề đặt ra đây cần phải những phương pháp hữu hiệu đđánh giá xem
các biện pháp bảo vệ môi trường đạt được hiệu quả cao đặc biệt quan trọng phải cho
các sở sản xuất kinh doanh thấy được cái lợi của việc thực hiện các biện pháp bảo vệ
môi trường và cái hại của việc không thực hiện các biện pháp của việc không thực hiện các
biện pháp bảo vệ môi trường. Xuất phát từ những lý do trên, sau một thời gian thực tập tại
công ty cao su sao vàng Nội m hiểu về bảo vệ môi trường tại công ty cùng với sự
hướng dẫn của cô giáo Thạc Lê Thu Hoa và cô Nguyễn thị Lân, Bùi Xuân Ba trong công
ty.
Tôi xin chọn đề tài Bước đầu đánh giá kinh tế các tác động môi trường do hoạt
động ca công ty Cao su Sao vàng Nộitừ đó đề ra một số giải pháp nhằm ngăn
ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Nội dung chuyên đề bao gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Đánh giá kinh tế các tác động môi trường do hoạt động của công ty.
Chương 3: Căn cứ đề xuất một số giải pháp cho việc gim thiểu, ngăn ngừa ô
nhiễm môi trường.
Chương 1: cơ sở lý luận chung
I. Ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp.
1. Môi trường:
Bao gồm các yếu tố tự nhiên các yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, tồn tại, phát triển của con
người và thiên nhiên.
2. Chất thải:
chất được loại ra trong sinh hoạt, trong qtrình sản xuất hoặc trong các hoạt
động khác. Chất thải có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc các dạng khác.
3. Chất gây ô nhim:
Là những nhân tố làm môi trường trở nên độc hại.
4. Ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp:
Ô nhiễm công nghiệp sự mặt của một chất ngoại lai trong môi trường tự nhiên
chất đó hại hay không, kết quả của hoạt động công nghiệp, khi vượt quá một
ngưỡng nào đó thì chất đó sẽ trở nên độc hại với các thành phần môi trường.
4.1. Ô nhiễm môi trường không khí:
4.1.1. Không khí: hỗn hợp gồm khoảng 78% Nitơ, 21% ôxy 1% khí
Agon 0,03% CO2. Ngoài ra còn một lượng nhỏ các khí như: Neon, Heli... điều
kiện bình thường độ ẩm tuyệt đối hơi nước chiếm 1- 3% thể tích không khí.
4.1.2. Nhiễm bẩn không khí: kết quả của schứa đựng trong đó một lượng quá
lớn các thành phần bình thường, chẳng hạn nCO2 các phần tử rắn lửng khác ô
nhiễm không khí trong không khí một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng
trong thành phần của không khí gây tác động hại hoặc gây ra một sự khó chịu (sto
mùi khó chịu, sự giảm tầm nhìn do bụi). Mặt khác, sự tích luỹ hay phân tán của các chất ô
nhiễm trong không khí phụ thuộc vào điều kiện khí tượng.
Chất ô nhiễm một số chất trong khí quyển một nồng độ cao hơn nồng độ
bình thường của nó hoặc chất đó thường không có trong không khí.
4.1.3. Ô nhiễm không khí không gây kích thích: Những chất ô nhiễm môi trường
không gây kích thích, thường gây ảnh hưởng đến cơ thể sau khi chúng hấp thụ và tích trữ ở
một nơi nào đó trong cơ thể. Tính chất của hơi khí hít vào sẽ ảnh hưởng đến tốc độ hấp th
cùng với những yếu tố khác. Mức độ hấp thụ những chất bẩn, không kích thích thể
thay đổi do những yếu tố ngẫu nhiên nhưng smặt đồng thời trong không khí những
chất bẩn khác đôi khi những tác đông kích thích. Thường khi một tác nhân o đó kích
thích phổi sẽ m tăng tốc độ hấp thụ vào máu những tác nhân gây nhiễm độc khác, trong
trường hợp những chất gây ung thư của không khí tác động lên đường hấp ttính
kích thích của thành phần chất nhiễm bẩn khác phụ thêm vào, lại thể đóng vai trò quan
trọng… Trong trường hợp này những tác nhân kích thích của các thành phần chất nhiễm
bẩn khác phụ thuộc thêm vào, lại có thể đủ mạnh lại có thể đủ mạnh để gây liệt biểu
nhung mao của phế quản kéo dài thời gian tiếp tục của c chất gây ung thư trên lớp
biểu mô nhậy cảm vi các tác động trên ngoài ra vai trò của những tác nhân gây kích thích
phụ sau làm bề mặt của tế bào biểu mô làm cho tác nhân gây ung thư như tiếp xúc chặt chẽ
với những tế bào nằm sâu n nhạy cảm ung thư. Phần lớn những chất rắn, lỏng được
thải vào môi trường không khí, thường bao gồm những phần tử nhỏ kích thước đủ lớn
dễ lắng ngay xuống đất, phần còn lại kích thước nhỏ hơn nhiều lắng xuống chậm hơn
phụ thuộc vào chuyển động không khí dụ như bụi, i. Chính những chất hay chất
lỏng này (kdung) lửng trong một thời gian dài, thể xâm nhập vào cơ thể cùng với
không khí được hít vào. Từ trạng thái khí dung này chỉ được phần tử kích thước nh
hơn 1 micromet mới thể tiến sang phế nang được ngoài ra những phần tử có kích thước
1- 0,6 và nhỏ hơn 2 miromet bị giữ lại ở phế nang nhiều nhất. Sự giữ lại những phần tử rắn
lỏng của khí dung phụ thuộc một phần vào tần suất biên độ hấp thụ ng như ph
thuộc vào nồng độ tương đối của chất hít vào. Sự hấp thụ những phần tử rắn từ phế nang
vào máu được xác định trên stính toán hoà tan của chúng vào dịch thể tổ chức bộ mặt
của nhu mô phổi gây kích thích.
4.1.4.Ô nhiễm không khí gây kích thích:
Mức độ phát sinh kích thích của hơi khí đến đường hô hấp trên, một phần phụ thuộc
vào shoà tan của chúng vào nước, nếu các hơi khí này hoà tan trong phần chất lỏng của