intTypePromotion=1
ADSENSE

LUẬN VĂN: Những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tại SGDI ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:80

101
lượt xem
26
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong hơn mười năm qua , nhờ vận hành theo cơ chế thị trường mà nền kinh tế của nước ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc so với nền kinh tế theo cơ chế tập trung trước kia. Cùng với sự biến chuyển của cả nền kinh tế , hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam , sau khi được tổ chức lại thành hệ thống ngân hàng hai cấp theo nghị định 53/HĐBT , đã có nhiều đóng góp đáng kể trong công cuộc xây dựng đất nước . Nhờ sự thay đổi này...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tại SGDI ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

  1. LUẬN VĂN: Những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tại SGDI ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
  2. Lời mở đầu Trong hơn mười năm qua , nhờ vận hành theo cơ chế thị trường mà nền kinh tế của nước ta đã đạt được những tiến bộ vượt bậc so với nền kinh tế theo cơ chế tập trung trước kia. Cùng với sự biến chuyển của cả nền kinh tế , hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam , sau khi được tổ chức lại thành hệ thống ngân hàng hai cấp theo nghị định 53/HĐBT , đã có nhiều đóng góp đáng kể trong công cu ộc xây dựng đất nước . Nhờ sự thay đổi này mà hệ thống ngân hàng thương mại cũng trở nên độc lập , linh hoạt và hoạt động có hiệu quả hơn. Tuy nhiên cơ chế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức cho tất cả các đơn vị kinh tế nói chung , cũng nh ư các ngân hàng thương mại nói riêng . Rủi ro luôn là người bạn đồng hành với tất cả các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế thị tr ường , và ngân hàng thương mại với tư cách là một đơn vị kinh doanh tiền tệ cũng không phải là một ngoại lệ . Những dịch vụ cũng như các hình thức tín dụng mà ngân hàng cung cấp đã giúp cho các doanh nghiệp có thể tiến hành một cách dễ dàng hơn hoạt động sản xuất kinh doanh và mở rộng qui mô sản xuất. Hiện nay có thể nói không có một doanh nghiệp nào có thể phát triển hoạt động kinh doanh một cách thuận lợi mà không cần các dịch vụ hay các hình thức tín dụng ngân hàng . Nguồn vốn vay từ ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp . Mặt khác hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng , cho nên bất kì một rủi ro nào mà doanh nghịêp gặp phải đều có khả năng mang đến rủi ro cho ngân hàng , và ngược lại bất cứ rủi ro nào mà ngân hàng gặp phải đều có khả năng gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho bản thân ngân hàng và cho các đối tác liên quan. Mà trong điều kiện kinh tế đầy biến động như hiện nay những nguy cơ tiềm ẩn như : sự biến động bất lợi của bối cảnh kinh tế , những kẻ hở pháp luật , vốn vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản, luôn có thể biến khoản vay tôt thành nợ khó đòi. Đó là nguy cơ mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải đương đầu .
  3. Chính vì thế mà rủi ro và vấn đề phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng của ngân hàng bao giờ cũng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu để tránh những tác động xấu đến hoạt động của các ngân hàng và có thể của nhiều doanh nghiệp hay của cả nền kinh tế. Xuất phát từ lý do trên cùng với quá trình thực tập tại sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam , em xin mạnh dạn chọn đề tài “Những biện pháp nhằm hạn chế rủi ro tại SGDI ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam” thương mại và rủi ro tín dụng I. Ngân hàng thương mại và tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại xuất hiện tr ước từ thời trung cổ với hoạt động chủ yếu là đổi tiền. Tính chất vô danh của đồng tiền khiến cho những người kinh doanh tiền tệ có thể chuyển từ việc chỉ giữ hộ tiền (vàng) sang đổi hộ tiền, vận chuyển hộ tiền và dần dần khi họ tích luỹ được một số vốn nhất định họ sẽ tiến hành cho vay lấy lãi. Để có thể cho vay nhiều và thu được nhiều lợi nhuận những thương gia kinh doanh tiền tệ sẽ phải khuyến khích khách hàng gửi tiền nhiều bằng cách không thu phí giữ tiền và h ơn nữa là trả lãi .Ngoài ra họ còn tiến hành nghiệp vụ thanh toán hộ khách hàng. Khi cả ba nghiêp vụ nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán) được hình thành thì lúc đó ngân hàng thực thụ đã xuất hiện. Và kể từ đó ngân hàng ngày càng phát triển về số vốn, về thị trường , về hoạt động và cả về công nghệ . Như vậy có thể nói Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ . Hoạt động thường xuyên của nó là huy động vốn, cho vay và thực hiện những hoạt động trung gian khác . 2. Những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại
  4. 2.1. Nghiệp vụ nợ Nghiệp vụ nợ hay còn gọi là nghiệp vụ tạo nguồn vốn và huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng th ương mại. Thực hiện nghiệp vụ này Ngân hàng thương mại đã thực hiện được một phần chức năng tạo tiền. Nếu không có hoạt động của các ngân hàng thương mại thì các doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp kinh doanh theo mùa sẽ gặp tr ường hợp có thời gian bị ứ đọng vốn nhưng lại cũng có khi không có vốn để sản xuất. Nhờ hoạt động của các ngân hàng mà các doanh nghiệp có thể gửi tiền vào khi không cần hoặc vay tiền khi thiếu vốn ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng để sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng đây là một nguồn quan trọng mà ngân hàng có thể huy động được . Ngoài tiền gửi thanh toán của dân cư và các tổ chức kinh tế với kì hạn và lãi suất khác nhau ngân hàng còn có thể tạo nguồn vốn bằng cách phát hành trái phiếu , cổ phiếu hoặc cũng có thể vay ngân hàng khác hoặc các ngân hàng nước ngoài . Nếu như ngân hàng thực hiện công tác tạo nguồn và huy động một cách thuận lợi thì các hoạt động khác của ngân hàng , đặc biệt là hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng ít gặp khó khăn do được cung cấp đầy đủ vốn. Tuy nhiên yêu cầu đặt ra đối với ngân hàng là : luôn phải đảm bảo một khối lượng tiền gửi phù hợp với khả năng sử dụng của chính ngân hàng . Nhưng để xác định được nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng cần phải căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế mà cụ thể là nhu cầu của khách hàng của ngân hàng. Nếu lượng vốn huy động thừa ngân hàng sẽ phải chi trả một phần chi phí mà không mang lại lợi nhuận, còn nếu thiếu thì hoạt động của ngân hàng sẽ bị hạn chế.Cho nên có thể nói hoạt động huy động và tạo nguồn vốn là hoạt động cơ bản có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng , quyết định tới qui mô sử dụng vốn và cơ cấu sử dụng vốn của ngân hàng Chính vì vậy mà hoạt động này cần phải được chú trọng 2.2 Ngiệp vụ có
  5. Ngiệp vụ có hay còn gọi là hoạt động sử dụng vốn là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng . Những hoạt động này rất đa dạng và phong phú nhưng có thể chia thành ba nhóm bao gồm : các hoạt động về ngân quĩ, các hoạt động cho vay, các hoạt động đầu tư. a. Các hoạt động về ngân quĩ Mục đích của các hoạt động về ngân quĩ là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng , chính vì thế mà mỗi ngân hà ng đều cần phải có một mức độ dự trữ thích hợp. Quản lý khoản mục dự trữ là một trong những trách nhiệm hàng đầu của ngân hàng , bởi xuất phát từ trách nhiệm đối với người gửi . Ngân hàng phải có trách nhiệm thanh toán tiền gửi cho khách hàng bất cứ lúc nào h ọ muốn rút vì quyền lợi của chính ngân hàng , vì nếu ngân hàng không thể hoàn trả cho khách hàng khi họ có nhu cầu , thì khách hàng sẽ mất lòng tin và gây khó khăn cho công tác huy động vốn của ngân hàng , còn nếu ngân hàng hoàn trả kịp thời thì có thể tạo niềm tin cho khách hàng và có thể nhận được nhiều tiền gửi, cho vay nhiều hơn. Vì ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động của nền kinh tế cho nên cần phải có sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước để tránh tình trạng ngân hàng cho vay quá nhiều, mất khả năng thanh toán , gây ảnh hưởng tiêu cực. Thêm vào đó , hoạt động của ngân hàng cũng tạo thêm phương tiện thanh toán cho nền kinh tế , nhưng dư thừa quá cũng không tốt, cho nên nhà nước cần phải qui định mức dự trữ của ngân hàng thương mại để khống chế khả năng tạo tiền , nhằm thực hiện chính sách tiền tệ. Như vậy khoản mục dự trữ của ngân hàng thương mại có thể được hình thành vì các lý do khác nhau nhưng có thể chia thành hai bộ phận bao gồm : - Dự trữ bắt buộc theo qui định của nhà nước - Dự trữ tự nguyện có thể để phục vụ khả năng thanh toán , hoặc cũng có thể do ngân hàng không thể cho vay được , hoặc cũng có thể ngân hang để lại để chờ cơ hội có lợi nhuận cao hơn
  6. Dự trữ của một ngân hàng có thể tồn tại dưới các hình thái : Tiền mặt ở trong két , tiền gửi ngân hàng khác , số dư trong tài khoản của khách hàng , giấy tờ có giá ngắn hạn như tín phiếu kho bạc. Xác định đúng mức dự trữ phù hợp là một hoạt động quan trọng đối với mỗi một ngân hàng vì nếu dự trữ không đủ thì có thể gây mất khả năng thanh toán , nhưng nếu dự trữ dư thừa thì không tận dụng được nguồn vốn , làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Để xác định đúng mức dự trữ cho ngân hàng phải căn cứ vào nhiều yếu tố , trước hết là dự đoán một cách tương đối chính xác nhu cầu rút tiền của khách hàng dựa trên việc phân tích những kết quả thống kê trước đó cũng như dựa trên việc phân tích những biến động có thể có của nền kinh tế , đồng thời cũng phải dựa vào luồng tiền có thể trở về ngân hàng như : các khoản vay đến kì hạn thanh toán , các khoản lãi có thể thu được để xác định mức dự trữ phù hợp. Ngoài ra còn cần phải xác định các hình thái dự trữ cho phù hợp sao cho có lợi nhất cho ngân hàng . Các hoạt động cho vay b. Đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng nhưng có độ rủi ro rất cao. Vốn mà Ngân hàng thương mại sử dụng để cho vay chủ yếu suất phát từ nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế ngoài ra ngân hàng còn có thể sử dụng vốn tự có để cho vay. Trong việc tạo ra khả năng tín dụng, các ngân hàng thương mại đã và đang thực hiện các chức năng xã hội của mình làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó dẫn đến lợi nhuận nhiều hơn, đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao. Rõ ràng tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, nó tạo ra khả năng tài trợ cho hoạt động công nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp của đất nước. Vì thế nên mọi hoạt động cho vay của ngân hàng đều phải chịu sự giám sát nghiêm ngặt và phải tuân theo những qui định của các nhà chức trách cũng như các qui định của bản thân ngân hàng . Do việc cho vay có liên quan chặt chẽ tới bản thân ngân hàng và những khách hàng mà nó phục vụ nên chính sách cho vay phải đ ược thiết lập một cách cẩn thận sau khi xem
  7. xét đến toàn bộ những yếu tố ảnh hưởng . Hoạt động cho vay của một ngân hàng trước hết phụ thuộc vào tình hình vốn của nó, vốn của bản thân ngân hàng được xem như là lớp lá chắn cho các khoản tiền gửi của khách hàng, vì thế nên qui mô vốn có ảnh hưởng tới số lượng rủi ro mà một ngân hàng có thể chấp nhận được. Các ngân hàng có qui mô vốn lớn có thể cho vay với các kì hạn dài hơnvà nhiều rủi ro tín dụng hơn. Sau khi đã giành một lượng tài sản thích hợp cho dự trữ , các ngân hàng buộc phải xem xét tới tính ổn định của các khoản tiền gửi để tiến hành hoạch định chính sách cho vay. Ngoài ra khi hoạch định chính sách cho vay ngân hàng cũng cần phải tính tới các điều kiện kinh tế và những ảnh hưởng của chính sách tài chính tiền tệ của quốc gia. Nếu điều kiện kinh tế không thuận lợi thì các khoản vay cũng trở nên tự do hơn so với khi điều kiện kinh tế không thuận lợi. Chính sách cho vay hợp lý chính là điều kiện quyết định sự thành công của một ngân hàng , nó cho phép ngân hàng khai thác tối đa nguồn vốn mà ngân hàng có và có thể huy động được đem lại lợi nhuận tối ưu cho ngân hàng. c.Các hoạt động đầu tư Khác với hoạt động cho vay ngân hàng chỉ đóng vai trò là chủ nợ, không trực tiếp tham gia quá trình sử dụng tiền mà chỉ có thể giám sát , thì khi đâu tư các ngân hàng có thể can thiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh. Hoạt động đầu tư thông thường phải chịu rủi ro nhiều hơn hoạt động tín dụng nh ưng lợi nhuận lại cao hơn và không dự tính trước một cách rõ ràng vì còn phụ thuộc vào hiệu quả của quá trình kinh doanh. Mục đích của hoạt động đầu tư là nhằm cung cấp cho ngân hàng tính đa dạng , lợi nhuận , và là một khoản dự trữ thứ cấp khi cần thiết. Mỗi ngân hàng đều có một chính sách đầu tư riêng bởi vì sẽ là không khôn ngoan nếu không có một hoạt động đầu tư nào ngoài khu vực nó cho vay do một nguyên tắc đầu tiên , cốt yếu của hoạt động đầu tư là
  8. phân tán rủi ro . Chính sách đầu tư của một ngân hàng phụ thuộc vào lợi nhuận , nhu cầu thanh khoản và mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro của chính ngân hàng đó. Các hoạt động đầu tư của ngân hàng có thể dưới dang góp vốn liên doanh hoặc ngân hàng cũng có thể sử dụng vốn của mình để mua các chứng khoán trên thị trường . Tuy nhiên dù dưới hình thức nào , và với mục đích nào thì ngân hàng luôn phải quan tâm tới chất lượng và kì hạn của mỗi khoản đầu tư đặc biệt là chất lượng vì hoạt động đầu tư cũng đóng góp phần không nhỏ vào lợi nhuận của ngân hàng. Để đảm bảo chất lượng cho các khoản đầu tư n gân hàng thương mại phải đa dạng hoá danh mục đầu tư nhằm chống lại và hạn chế những rủi ro bất ngờ mà nó có thể gặp trong hoạt động đầu tư của mình. Ngoài ra kì hạn của các khoản đầu tư cũng là yếu tố mà ngân hàng cần phải quan tâm , bởi ngoài mục đích lợi nhuận ra , những tài sản này còn phải hỗ trợ cho nhu cầu thanh khoản của ngân hàng . Chính sách đầu tư không những phải phù hợp với tình hình và nhu cầu của bản thân mỗi ngân hàng mà còn phải điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình kinh tế và những thay đổi khác có thể ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư như thay đổi về mặt chính sách , luật pháp ,và tình hình chính trị .Một chính sách đầu tư đúng đắn là lá chắn an toàn cho mọi ngân hàng thương mại . 2.3 Nghiệp vụ trung gian Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ , với sự hỗ trợ của những thiết bị hiện đại , những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng ngày càng phong phú và đa dạng . Những dịch vụ này ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận và đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng thương mại không chỉ đơn thuần là trung gian thanh toán mà còn quản lý các phương tiện thanh toán một cách có hiệu quả. Hiện nay ở nhiều nước ngân hàng đã và đang trang b ị hệ thống máy vi tính và các phương tiện kỹ thuật hiện đại khác nhằm làm cho quá trình
  9. thanh toán bù trừ, thanh toán liên hàng được thực hiện nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao . Ngoài hoạt động thanh toán Ngân hàng thương mại còn thực hiện một số dịch vụ như :nhận bảo quản tài sản cho cá nhân , dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ bảo quản vật có giá , quản lý chứng từ có giá , tư vấn cung cấp thông tin về kinh tế cho khách hàng ... Những hoạt động này luôn phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế và càng khẳng định sự hữu ích và vai trò quan trọng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường. 3. Vai trò c ủa tín dụng ngân hàng 3.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Ngày nay , các ngân hàn g thương mại là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống kinh tế –xã hội. Thông qua cơ ch ế thị trường, ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển giao đúng nơi , đúng lúc, phù hợp với nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh. Các ngân hàng thương mại , thực hiện việc cung cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng , đồng thời thông qua hoạt động này ngân hàng cũng thu được lợi nhuận cho mình. Về bản chất tín dụng là một quan hệ kinh tế , trong đó các chủ thể chuyển nhượng cho nhau quyền sử dụng một lượng giá trị hoặc hoặc hiện vật với những điều kiện do cả hai bên thoả thuận , những điều kiện đó có thể là những điều kiện về lượng tiền hoặc hàng hoá , về thời hạn , về lãi trả , phương thức trả , điều kiện đảm bảo.... Như vậy tín dụng ngân hàng thực chất là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lưọng vốn nhất định của ngân hàng cho người khác (người đi vay) trong một khoảng thời gian nhất định với những điều kiện cụ thể về thời gian hoàn trả và về lãi suất. Trong tất cả các hình thức khác nhau của quan hệ tín dụng thì tín dụng ngân hàng là loại hình tín dụng phát triển nhanh chóng và đa dạng nhất . Cùng với sự phát triển của
  10. mọi mặt đời sống kinh tế xã hội các hình thức tín dụn g ngân hàng ngày càng trở nên quan trọng và đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh. 3.2 Các loại hình tín dụng ngân hàng Hiện nay phạm vi hoạt động của tín dụng ngân hàng là khá rộng lớnvà đa dạng , việc phân loại chỉ có tính chất tương đối , dựa vào những căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thành các loại tín dụng ngân hàng khác nhau a. Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành - Tín dụng ngắn hạn : là các khoản cho vay mà thời hạn không quá một năm. Mục đích chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về mua nguyên vật liệu , chi phí sản xuât. - Tín dụng trung hạn : là các khoản vay thường có thời hạn từ trên một năm đến ba, năm , hoặc bảy năm , tuỳ vào qui định của mỗi quốc gia. Mục đích là vay vốn để sữa chữa, khắc phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật , hợp lý hoá sản xuất , đổi mới công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ , thời hạn thu hồi vốn nhanh - Tín dụng dài hạn : Là những khoản vay có thời hạn trên ba, năm , hoặc bảy năm tuỳ thuộc vào qui định của mỗi quốc gia. Mục đích của những khoản vay này giống nhưtín dụng trung hạn nhưng với những công trình có qui mô và thời hạn dài hơn. b. Căn cứ vào mục đích tín dụng - Tín dụng tiêu dùng : là những khoản vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua chịu hàng hoá , xây dựng nhà ở và các phương tiện cần thiết khác. Thông thường những khoản vay này được thực hiện cho cá nhân hoặc các hộ gia đình . - Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá : là loại tín dụng được cung cấp cho các nhà sản xuất và kinh doanh hàng hoá .Nó đáp ứng nhu cầu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh để dự trữ nguyên vật liệu , cho vay chi phí sản xuất hoặc đáp ứng nhu cầu vốn trong quan hệ thanh toán giữa các d oanh nghiệp . Trong tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh người ta còn có thể chia thành tín dụng phục vụ kinh doanh
  11. thưong mại , tín dụng phục vụ sản xuất công nghiệp , tín dụng phục vụ sản xuất công nghiệp , tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp . c. Căn cứ vào thành phần kinh tế Căn cứ vào thành phần kinh tế có thể chia thành - Tín dụng đối với kinh tế ngoài quốc doanh : là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm : công ty trách nhiệm hữu hạn , công ty cổ phần , doanh nghiệp tư nhân ,hộ cá thể , tổ sản xuất và hợp tác xã . - Tín dụng đối với kinh tế quốc doanh : là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các doanh nghiệp nhà nước. d. Phân loại theo đặc điểm luân chuyển vốn - Tín dụng vốn cố định : là loại tín dụng được cung cấp để hình thành nên tài sản cố định cho các tổ chức kinh tế - Tín dụng vốn lưu động : là loại tín dụng được cung cấp để bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế e. Căn cứ vào điều kiện đảm bảo - Tín dụng có đảm bảo là những khoản vay mà ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi tiền chovay khi khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụgn -- Tín dụng không có đảm bảo :là những khoản vaymà ngân hàng không nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi , mà thay vào đó là những điều kiện ràng buộc khác. f. Ngoài ra còn có một số ngiệp vụ khác - Ngiệp vụ chiết khấu :là nghiệp vụ mà theo đó ngân hàng cung cấp tiền cho người mang chứng từ đến ngân hàng chiết khấu trên cơ sở mệnh giá của chứng từ chiết khấu , trừ đi một khoản lệ phí chiết khấu . Các chứng từ có thể là kỳ phiếu , hối phiếu , phiếu
  12. gửi hàng trong kho...Đây là một hình thức cho vay , có đảm bảo , độ an toàn cao vì nhiều người có trách nhiệm trả tiền cho chứng từ chiết khấu và vì uy tín của những người này khá cao thì chứng từ mới được chấp nhận . - Nghiệp vụ thuê mua : đây là nghiệp vụ mà ngân hàng tài trợ cho khách hàng dưới hình thức cho thuê tài sản . 3.3.Vai trò tín dụng ngân hàng a. Trong nền kinh tế thị trường Ngày nay tín dụng ngân hàng là đòn bẩy quan trọng trong nền kinh tế là nguồn vốn quan trọng , chủ động để phát triển kinh tế trong nước . Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường ở nước ta , tín dụng ngân hàng ngày càng phát huy hết những lợi thế và vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế . Một vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng đã được khẳng định thông qua quá trình tồn tại và phát triển của nó , đó là tác dụng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất. Với mục đích tối đa hoá lợi nhuận, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và lại đưa vốn trở lại những nơi thiếu vốn thông qua hoạt động tín dụng .Việc điều hoà vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu thông qua hoạt động tín dụng đã cho thấy tín dụng ngân hàng được sử dụng như một công cụ quản lý tích cực , có tác dụng to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân . Trong nền kinh tế thị tr ường , các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt , do đó nhu cầu đầu tư phát triển luôn được đặt lên hàng đầu . Tuy nhiên khó khăn đầu tiên đối với các doanh nghiệp khi quyết định đầu tư mở rộng sản xuất bao giờ cũng là thiếu vốn , và thông thường để giải quyết những khó khăn này các doanh nghiệp cần phải có sự giúp đỡ từ các ngân hàng . Thông qua việc cho vay, không những ngân hàng thu được lợi nhuận mà còn góp phần đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng, đồng thời còn góp phần giả quyết các vấn đề kinh tế xã hội .
  13. Khi vay vốn ngân hàng nghĩa là các doanh nghiệp đã tự gắn mình với trách nhiệm hoàn trả cả vốn lẫn lãi cho ngân hàng .Nhưng để có thể trả được nợ thì doanh nghiệp buộc phải làm ăn có hiệu quả , như vậy tín dụng ngân hàng ngoài việc mang lại lợi nhuận cho ngân hàng còn có một tác dụng khác là thúc đẩy việc hạch toán kinh doanh , nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp . Tuy nhiên điều này có nghĩa là chỉ có những doanh nghiệp có triển vọng ,làm ăn phát đạt mới được vay vốn ngân hàng , đó là điều tất yếu để đảm bảo thu nhập cho ngân hàng . Nh ưng trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, các khu vực kinh tế còn phát triển không đồng đều, một số khu vực còn khá yếu kém , cần nhiều vốn đầu tư để phát triển . Để dạt được mục tiêu phát triển đồng đều đó chính phủ cần phải có những chính sách khuyến khích các ngâ n hàng thương mại cho vay hỗ trợ các dự án phát triển của nhà nước . Trong tr ường hợp này tín dụng ngân hàng đã trở thành công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn . Ngày nay khi mà tất cả các quốc gia trên thế giới có xu hướng chuyển từ đối đầu sang đối thoại thì việc phát triển kinh tế của một quốc gia không thể chỉ bó hẹp trong phạm vi đất nước mình mà còn phải hoà nhập vào sự phát triển chung của các quốc gia trên khu vực và trên phạm vi toàn cầu . Tín dụng ngân hàng là cầu nối quan trọng giữa các nền kinh tế trên thế giới , đối với các nước đang phát triển thì đây là cơ hội để mở rộng xuất nhập khẩu hàng hoá và nâng cao uy tín trên trường quốc tế. Để có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế thì việc đầu tư đổi mới công nghệ , mở rộng sản xuất là hết sức quan trọng . Trong điều kiện hiện nay , để tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại thì không thể không kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng là điều không thể thiếu. b. Đối với ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại thường được đinh nghĩa là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu của nó là “ đi vay để cho vay’. Điều đó có thể cho thấy vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động của mỗi ngân hàng thương mại.
  14. Thông thường để an toàn , các ngân hàng thương mại không bao giờ chỉ triển khai mình hoạt động cho vay mà phải đa dạng hoá các hoạt động đầu tư của mình , nhưng thôngthường lợi nhuận từ hoạt động tín dụng bao giờ cũng chiếm khoảng trên dưới 70% tổng lợi nhuận của ngân hàng . Như vậy nếu hoạt động tín dụng ngân hàng không tốt thì không những ảnh hưởng tới lợi nhuận của ngân hàng mà còn làm ảnh hưởng tới uy tín của ngân hàng . Nếu những khoản vay của ngân hàng có vấn đề thì ngân hàng sẽ không thu được lợi nhuận , không những thế , ngân hàng còn có thể gặp khó kh ăn trong quá trình thanh toán cho khách hàng , vì những khoản vay mà ngân hàng cho vay là xuất phát từ nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ công chúng. Cho nên ngân hàng phải luôn thận trọng khi cho vay để đảm bảo duy trì ở mức thấp nhất những thất thoát có thể xảy ra. Để làm được điều đó ngân hàng phải luôn chú ý kiểm tra và có những sách lược đúng đắn đối với hoạt động tín dụng, và có những biện pháp để hạn chế rủi ro tín dụng . II. Rủi ro tín dụng 1/ Khái niệm về rủi ro và phân loại rủi ro Mọi hoạt động của mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội , đều hướng tới một mục đích nào đó . Song có những trường hợp mục đích đó không đạt được do trong quá trình hoạt động gặp phải rủi ro . Vậy rủi ro là gì ? Đã có nhiều định nghĩa về rủi ro, nhưng nói chung mọi định nghĩa đều đi đến sự khẳng định : rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và đem lại những hậu quả xấu . Trong kinh tế , rủi ro được coi là những tổn thất mà các doanh nghiệp có thể gặp phải khi kinh doanh làm giảm lợi nhuận hoặc thậm chí là thua lỗ. Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ -tín dụng các ngân hàng cũng phải chấp nhận rủi ro, và thực tế đã chứng minh rằng không một ngành kinh doanh nào mà khả năng dẫn đến rủi ro nhiều như kinh doanh tiền tệ . Trong bất kỳ lĩnh vực nào của đời sống kinh tế xã hội con người luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau , nếu xét riêng trong lĩnh vực kinh tế rủi ro có thể được chia thành hai loại rủi ro chủ yếu đó là rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống . Rủi ro có hệ thống là những rủi ro tác động đến hầu hết hoặc toàn bộ các tài sản . Vì thế
  15. nên người ta còn gọi nó là rủi ro của thị trường . Nguyên nhân dẫn đến rủi ro có hệ thống là do các điều kiện kinh tế chung như là việc giảm GDP , tăng lãi suất tiền vay , tăng tốc độ lạm phát , chiến tranh....Còn rủi ro không có hệ thống là những rủi ro chỉ tác động tới một hoặc một nhóm nhỏ các tài sản . Điều đó có nghĩa là , loại rủi ro này chỉ liên quan tới từng doanh nghiệp cụ thể nào đó và vì vậy người ta còn gọi là rủi ro một tài sản cụ thể . Rủi ro không có hệ thống được gây ra bởi những nguyên nhân cục bộ , chẳng hạn như sự kiện cáo , đình công ,sự thành công hay không thành công của những chương trình marketing, sự thắng lợi hay thất bại của nh ững hợp đồng quan trọng , và những sự kiện khác mà nó là đặc thù riêng đối với một công ty. Vì những rủi ro không hệ thống là những rủi ro bất ngờ không lường trước được nên người ta phải tìm mọi cách để đề phòng và hạn chế những tác hại mà những rủi ro loại này có thể gây ra. 2- Các loại rủi ro chủ yếu mà ngân hàng thương mại thường gặp. Chúng ta đều biết rằng hoạt động của ngân hàng là loại hình hoạt động rất cần sự thận trọng song vẫn thường gặp phải rủi ro. Một ngân hàng thành công trong hoạt động của nó không chỉ có những cán bộ chuyên môn giỏi mà cần phải am hiểu nhiều lĩnh vực và đặc biệt phải có phẩm chất đạo đức tốt , có tinh thần trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên vẫn phải khẳng định rằng kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực gặp nhiều rủi ro nhất, trong đó tập trung vào 5 loại rủi ro sau: 2.1- Rủi ro thuần tuý. Đó là các rủi ro do tác động của thiên nhiên mang lại như: Thiên tai, hoả hoạn, động đất, hoặc những rủi ro như lừa đảo, trộm cắp, tham nhũng... Làm thiệt hại hoặc gây thất thoát tài sản của ngân hàng. 2.2- Rủi ro lãi suất: Loại này xảy ra khi có sự thay đổi lãi suất trực tiếp tác động tới lợi nhuận của nhà ngân hàng. Ví dụ, khi lãi suất tiền vay giảm trong khi lãi suất trả cho tiền gửi hoặc trái
  16. phiếu giữ nguyên làm giảm thu nhập của nhà ngân hàng. Những thiệt hại do rủi ro lãi suất gây ra làm chi phí cho nguồn vốn cao hơn thu nhập sử dụng vốn dẫn đến kinh doanh của ngân hàng bị lỗ. 2.3- Rủi ro tín dụng. Đó là loại rủi ro xảy ra khi khách hàng không thực hiện các điều kiện đã kí kết trong hợp đồng tin dụng . Rủi ro này xảy ra với tất cả các khoản cho vay của ngân hàng, các khoản đầu tư chứng khoán, tín dụng tài trợ... đến kỳ hạn mà khách hàng, người phát hành không thanh toán hoặc trả nợ được cho ngân hàng. Đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra. Bởi vậy việc đánh giá rủi ro này là trách nhiệm của chính các ngân hàng, hơn 2/3 số tài sản có của ngân hàng là các món nợ cho vay và đầu tư ch ứng khoán, đem lại thu nhập chủ yếu cho nhà ngân hàng. Thêm vào đó các hoạt động ngoại bảng tổng kết tài sản như: Các giao dịch trên thị trường hối đoái, các hợp đồng trao đổi, bảo lãnh tín dụng, tín dụng tài trợ... đều rất dễ bị rủi ro, thua lỗ và mất mát. Nếu các món vay hoặc chứng khoán đến kỳ hạn mà không được hoàn trả ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn laĩ. Nếu giá trị số thiệt hại quá lớn, vượt quá số vốn tự có của ngân hàng thì chắc chắn ngân hàng sẽ không hoạt động được nữa và lâm vào tình trạng khủng hoảng, có nguy cơ bị phá sản. 2.4- Rủi ro hối đoái. Đây là loại rủi ro do biến động của thị trường ngoại hối gây ra. hiện nay các ngân hàng thương mại thường có xu hướng hoạt động đa năng thực hienẹ cả nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ do đó khi có sự biến động về tỷ giá hối đoái thì thường phải chịu ảnh hưởng ở một mức độ nào đó (nếu sự biến động đó nằm ngoài dự kiến của ngân hàng) Nhất là với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, hiện nay mới đang trong thời kỳ sơ khai, còn nhiều bỡ ngỡ, kinh nghiệm còn hạn chế do đó vẫn đề rủi ro hối đoái đang được các ngân hàng quan tâm một cách thích đáng. 2.5- Rủi ro nguồn vốn
  17. Thể hiện trên 2 phương diện: Rủi ro do bị đọng vốn và rủi ro thiếu vốn khả dụng. * Rủi ro bị đọng vốn: là trường hợp ngân hàng huy động vốn mà không cho vay ra được xảy ra tình trạng mất cân đối giữa việc huy động và sử dụng vốn. Rủi ro này xảy ra có thể do tác động của lãi suất, của công cụ hạn mức tín dụng hoặc do chất lượng kinh doanh của bản thân ngân hàng. * Rủi ro thiếu vốn khả dụng xảy ra khi ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu thanh toán của khách hàng. Nó xuất phát từ chức năng chuyển hoán các kỳ hạn sử dụng vốn và gnuồn vốn của ngân hàng. Rủi ro này thể hiện ngân hàng thiếu vốn hoạt động. Do sự cạnh tranh giữa các thể chế tài chính trên thị trường vốn, nếu khả năng thanh toán của ngân hàng kém, ngân hàng lại càng khó lòng huy động được một nguồn vốn dồi dào, từ đó phạm vi hoạt động của ngân hàng bị thu hẹp, Ngân hàng càng có nguy cơ rủi ro, vỡ nợ. Vì thế loại rủi ro này rất nguy hiểm đối với nhà quản lý ngân hàng. Với loại rủi ro này, Ngân hàng luôn đề phòng bằng việc tính toán, duy trì một hệ thống vốn khả dụng phù hợp với ngân hàng mình. Hệ số này được xây dựng trên cơ sở phân tích cụ thể tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn theo tính chất khả chi và khả dụng thực sự của chúng. Chẳng hạn tiền gửi có kỳ hạn thường ổn định hơn tiền gửi không kỳ hạn; tiền gửi giữa các ngân hàng thường bấp bênh hơn tiền gửi của khách hàng.... Như vậy, trong năm loại rủi ro kể trên, rủi ro tín dụng là có tác động mạnh mẽ đến sự tồn tại của ngân hàng. nếu như cho vay là chức năng chính của nhà ngân hàng và nó đem lại nguồn lợi nhuận lớn thì đi kèm với nó rủi ro tín dụng cũng luôn th ường trực và khi đã xảy ra thì sức công phá của nó cũng rất nghiêm trọng, nó có thể biến Ngân hàng từ trạng thái phát dạt đến nguy cơ bị phá sản. Chính vì vậy nghiên cứu về rủi ro tín dụng và tìm ra các giải pháp cho nó luôn là một đề tài không bao giờ cũ . 3. Rủi ro tín dụng 3.1 Hậu quả của rủi ro tín dụng
  18. Rủi ro tín dụng nói chung và nợ quá hạn nói riêng xảy ra trong kinh doanh của ngân hàng thương mại tuỳ theo mức độ mà có ảnh hưởng ít hay nhiều tới bản thân Ngân hàng hay khách hàng của họ. Có thể khái quát trên hai phương diện: a) Đối với nền kinh tế: Ngân hàng thương mại hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ , nó có quan hệ trực tiếp và thường xuyên với các tổ chức kinh tế, do đó khi Ngân hàng gặp phải những rủi ro thì tất yếu sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Gặp rủi ro làm lợi nhuận trong kinh doanh Ngân hàng giảm, thậm chí Ngân hàng phải lấy vốn tự có ra để bù đắp, có thể dẫn đến Ngân hàng thiếu vốn khả dụng hoặc mất khả năng thanh toán làm giảm lòng tin của khách hàng vào ngân hàng. mặt khác, các ngân hàng thương mại thường có quan hệ chặt chẽ với nhau, khi một Ngân hàng gặp rủi ro có nguy cơ phá sản tất yếu sẽ kéo theo tình trạng khủng hoảng của toàn bộ hệ thống các ngân hàngthương mại kiểu phản ứng dây chuyền một Ngân hàng gặp rủi ro có nguy cơ phá sản tất yếu sẽ gây ra tình trạng mất ổn định trên thị trườngtiền tệ tín dụng. tình trạng này có thể gây nên sự mất ổn định của nền kinh tế, giá trị đồng tiền giảm gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ hàng hoá... b) Đối với bản thân ngân hàng. Rủi ro xảy ra tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng. Khi rủi ro ở mức nhỏ thì ngân hàng chỉ phải bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh, bằng vốn tự có nên ngân hàng chỉ bị giảm lợi nhuận kinh doanh hoặc thua lỗ. Song nếu rủi ro gặp phải ở mức độ nghiêm trọng, nguồn vốn ngân hàng không đủ bù đắp thì tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản. Như vậy rủi ro có thể làm đảo lộn thành quả hoạt động trong nhiều năm và thậm chí trở thành vấn đề sống còn của nhà ngân hàng. 3.2 Nguyên nhân gây rủi ro tín dụng a. Nguyên nhân khách quan. *Môi trường pháp lý kinh tế .
  19. Cơ chế chính sách thay đổi thường xuyên trong thời gian qua (chính sách xuất nhập khẩu, chính sách đất đai...) làm cho môi trường kinh tế không ổn định, ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, làm đảo lộn chính sách tín dụng của từng ngân hàng, là nguyên nhân tác động mạnh mẽ đến sự bất ổn mà hiện nay các Ngân hàng thương mại còn đang phải khắc phục hậu quả. Môi trường pháp lý kinh doanh ngân hàng chưa đầy đủ, chưa đồng bộ , thể hiện ở việc ban hành và hướng dẫn thực hiện các qui định, thông tư hướng dẫn chưa thống nhất giữa các ngành liên quan để khi thực hiện tại ngân hàng cơ sở có lúc bị vi phạm. * Hiệu lực quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước chưa cao. Hiệu lực của cơ quan hành pháp chưa cao, chưa nhất quán trong việc thực thi những vấn đề có liên quan đến hoạt động ngân hàng. Quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhiều lúc còn sơ hở, nhà n ước cho phép nhiều doanh nghiệp đ ược sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng, nhiệm vụ vượt quá trình độ năng lực quản lý , qui mô hoạt động quá lớn so với khả năng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, làm nảy sinh những điều kiện dẫn đến rủi ro . *Trường hợp một số doanh nghiệp và nhà sản xuất gặp khó khăn: hàng hoá vật tư tồn đọng, thua lỗ, mất khả năng thanh toán nên phát sinh nợ quá hạn và nợ khó đòi, khá nhiều khách hàng sử dung tiền vay không đúng mục đích, không trả nợ ngân hàng đúng hạn (vòng đầu trả nợ nghiêm chỉnh nhưng vòng sau lại mang tiền đi chơi hụi , đánh đ ề , buôn lậu dẫn đến tình trạng không đủ khả năng trả nợ tiền vay). Trường hợp phổ biến là các doanh nghiệp nhà nước do vốn tự có thấp, nhưng lại "mạnh mẽ " trong việc xây dựng và mua sắm tài sản cố định, không những sử dụng hết vốn tự có , mà còn sử dụng thêm khối lượng vốn tín dụng ngắn hạn để phục vụ sản xuất kinh doanh vào mua sắm tài sản cố định . Tình trạng này kéo dài cùng với các hành vi tiêu cực khác trong quản lý của bản thân doanh nghiệp làm cho tình hình tài chính của đơn vị đã khó khăn lại càng khó khăn hơn dẫn đến tình trạng nợ quá hạn triền miên,nếu
  20. không có biện pháp khắc phục hữu hiệu thì một bộ phận không nhỏ vốn vay của ngân hàng không thu hồi được. b. nguyên nhân chủ quan. Trong số các rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại thì trên 80% xảy ra là do nguyên nhân chủ quan, chủ yếu là: * Hạ thấp các tiêu chuẩn cho vay. mặc dù biết rằng nếu cho vay sẽ có nhiều rủi ro, nhiều điều khoản bất lợi và có sự vi phạm các nguyên tắc tín dụng lành mạnh nhưng do yếu thế khi giao dịch với các đối tượng có nhiều quyền thế chịu ảnh hưởng thân quen hoặc tránh va chạm đ ến lợi ích cá nhân nên một số lãnh đạo cũng như cán bộ tín dụng của ngân hàng vẫn giải quyết cho vay. Đáng chú ý là nhiều đối tượng xin vay vốn nhưng không phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, không tạo ra của cải vật chất, ngoài chế độ quy định miễn sao thu hồi được gốc và lãi. Cơ chế thị trường tỏ ra linh hoạt nhưng nó cũng có những mặt trái nhất định, nhất là ở những nơi như thành phố, thị xã có nhiều Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng hoạt động. Hơn n ữa đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh lại đang thực hiện chế độ khoán tài chính không cho vay thì không có lãi và không có thu nhập. Vì vậy nhiều nơi lợi dụng cơ chế đó đã dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, có những nơi cho vay chỉ cần có tài sản thế chấp, có nơi cho vay buôn bán bất động sản nhà cửa đất đai và số tiền cho vay không phải là nhỏ. Người vay nếu là doanh nghiệp Nhà nước hay tư nhân bỏ vốn ra kinh doanh lại được sự giúp đỡ tận tình của ngân hàng và nếu cuộc mua bán "thông đồng bén giọt" lợi nhuận tạo ra cho cả hai bên rất nhanh chóng, nhưng nếu không thành công có sự trục trặc hoặc do sự giả mạo của giấy tờ thì ngân hàng không biết đến bao giờ mới đòi hết nợ. Vừa qua liên hiệp dâu tơ tằm Việt Nam lại được khoanh nợ gần 300 tỷ đồng trong vòng 5 năm do sử dụng vốn sai mục đích lấy vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản cố định.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2