LUẬN VĂN:
PHÂN TÍCH THốNG KÊ KếT QUả SảN XUấT
KINH DOANH CủA CÔNG TY DịCH Vụ HÀNG
KHÔNG SÂN BAY NộI BÀI (NASCO) GIAI ĐOạN
2000 - 2004 VÀ Dự ĐOÁN CHO NĂM 2005
Lời nói đầu
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước dịch vụ được coi ngành
tiềm năng. Nền kinh tế Nước ta đang trong thời kỳ chuyển mình từ một kinh tế Nông
nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế thị trường với Công nghiệp và Dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn,
đóng vai trò chủ đạo. Dịch vụ Hàng không một ngành kinh tế mũi nhọn tim năng
của khu vực Dịch vụ nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Nội Bài một đơn vthuộc ngành Dịch vụ
Hàng Không, hoà cùng với sự nhịp độ phát triển của thời đại Công ty đang ngày càng phát
triển. Tuy nhiên một công ty lớn với nhiều hình thức dịch vụ đòi hỏi công ty phải hệ
thống quản lý rất chặt chẽ về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Để đạt được hiệu
quả kinh tế tối ưu, các nhà quản phải phân tích các hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó
luôn đổi mới các chính sách, chiến lược kinh doanh thể cạnh tranh được với các
hãng dịch vụ khác.
Qua thời gian thực tập tại ng ty em cũng được tìm hiểu về các hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty đã chọn được đề tài: Phân tích thống kết quả sản xuất
kinh doanh của Công ty Dịch vụ ng không n bay Nội bài (NASCO) giai đoạn
2000 - 2004 và dự đoán cho năm 2005” làm luận văn tốt nghiệp.
Nội dung của đề tài gồm ba phần:
Chương I: Những vấn đề chung về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nói chung và của Công ty NASCO nói riêng.
Chương II: Xác định hệ thống chỉ tiêu một số phương pháp phân tích thống
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty NASCO.
Chương III: Phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty NASCO
thời kỳ 2000-2004.
CHƯƠNG I: NHữNG VấN Đề CHUNG Về HOạT Động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nói chung và của Công ty NASCO nói riêng.
I. Những VấN Đề CHUNG Về HOạT Động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một quá trình vận động biến
đổi giữa đầu vào ( các chi phí ) kết quả đầu ra ( các sản phẩm vật chất dịch vụ )
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đồng thời đạt mục tiêu lợi nhuận.
Trên cơ sở khái niệm đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có những
đặc điểm sau:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm (vật chất
dịch vụ).
Kết quả tạo ra không phải để phục vụ cho chính tiêu dùng của doanh nghiệp để bán
trên thị trường phục vụ nhu cầu tiêu dùng của hội thu lại lợi nhuận từ hoạt động đó.
- Doanh nghiệp phải hạch toán được đầy đủ chi phí bỏ ra kết quả thu được đồng
thời đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp tối đa hoá lợi nhuận. Do đó, khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải tính toán chi tiết các khoản chi
phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm cả chi phí vật chất lẫn chi phí dịch vụ.
Đồng thời xác định đúng kết quả giá trị sản phẩm tạo ra m cơ sở để hạch toán lãi, lỗ
đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất và dịch
vụ cho xã hội, và có thể đo lường bằng các thước đo khác nhau.
- Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của Doanh nghiệp phải hướng đến người
tiêu dùng, nói cách khác, để hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả doanh nghiệp phải
luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm trên thị trường, trong đó các thông tin
về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm, về xu hướng biến đổi tiêu dùng sản phẩm của th
trường, thông tin vkthuật công nghệ, gia công chế biến sản phẩm ,vcác chính sách
kinh tế tài chính, pháp luật của nhà nước có quan hệ đến sản phẩm của Doanh nghiệp và về
phát triển kinh tế xã hội.
2. Lý lun chung v kết qu sn xut kinh doanh ca doanh nghip.
2.1. Khái nim kết qu hot đng sn xut kinh doanh ca doanh nghip.
Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh những Doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra các
sản phẩm vật chất và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của hội , và thu được lợi
nhuận. Các sản phẩm Doanh nghiệp tạo ra được người tiêu dùng chấp nhận , để đáp ứng
cho nhu cầu của mình. Các sản phẩm đó được gọi kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp những kết quả do doanh
nghiệp tạo ra mang lại lợi ích tiêu dùng cho hội, bao gồm là sản phẩm vật chất hoặc phi
vật chất.
* Những sản phẩm này phải phù hợp kinh tế và trình độ văn minh của tiêu dùng
hội. Nó phải được người tiêu dùng chấp nhận.
* Sản phẩm vật chất do các doanh nghiệp sản xuất vật chất tạo ra làm tăng thêm của
cải vật chất cho xã hội.
Sản phẩm phi vật chất (Sản phẩm dịch vụ) không hình thái cụ thể, không cân đo
đong đếm được. Sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời. Việc tạo ra sản
phẩm dịch vụ góp phần làm cho cuộc sống ngày càng phong phú.
Từ khái niệm trên ta thấy kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp những
nội dung kinh tế sau:
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do lao động của doanh nghiệp tạo ra
đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng mà nhà nước quy định theo yêu cầu của người tiêu dùng.
Kết quả sản xuất kinh doanh đáp ứng được mọi yêu cầu của nhân hội. Do
vậy sản phẩm của doanh nghiệp phải có giá trị sử dụng là sản phẩm tốt. Giá trị sử dụng của
sản phẩm phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn minh xã hội.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải đảm bảo lợi ích cho người tiêu
dùng và doanh nghiệp. Do vậy chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp không vượt quá giới
hạn lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp và người tiêu dùng chấp nhận được. Lợi ích của doanh
nghiệp thể hiện chi phí sản xuất sản phẩm không vượt quá giá kinh doanh của doanh
nghiệp trên thị trường. Lợi ích của nời tiêu dùng thể hiện ở khả năng thanh toán khi mua
hàng và mức chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lợi ích kinh tế chung cho tiêu
dùng xã hội.
2.2. Đơn vị đo lường kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm vật chất.
Để đo lường kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thể dùng đơn vị
hiện vật, hiện vật quy ước, hiện vật kép và đơn vị giá trị. Đơn vị hiện vật, hiện vật, hiện vật
kép đều bao m một lượng giá trị sử dụng của một sản phẩm. Lượng gtrị sdụng này
được đo bằng một đơn vị hiện vật thông thường như: mét, kg, lít, chiếc, cái… đơn vị
hiện vật kép như: km/h, tấn/h. Để tính kết qusản xuất theo đơn vị giá trị, phải dựa trên cơ
sở giá cả của sản phẩm tính theo đồng tiền của một quốc gia cụ thể.
- Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ.
Kết quả sản xuất kinh doanh cũng được biểu hiện bằng hai loại đơn vị đo lường
hiện vật và giá trị.
Kết quả kinh doanh dịch vụ đo lường bằng đơn vị hiện vật được tính theo số lần, s
ca, số vụ, số người được phục vụ.
Kết quả sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ đo lường bằng giá trị (tiền), không
giá nhất định nên khi tính bằng tiền phải nh theo giá n thuê sẽ nhận phục vụ đã
thoả thuận theo mỗi ca, mỗi vụ cụ thể.
2.3. Nguyên tắc tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
- Phải kết quả của lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp m ra trong
kỳ. Do vậy, các doanh nghiệp không tính vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp những kết quả thuê ngoài làm, những kết quả này do người m thuê tính . Ngược
lại các doanh nghiệp được tính vào kết quả của mình các hoạt động m thuê cho bên
ngoài.
Chỉ tính những kết quả đã hoàn thành trong kỳ báo cáo, chênh lệch sản phẩm chưa
hoàn thành (cuối kỳ - đầu kỳ).
- Được tính toàn bộ sản phẩm m ra trong kỳ báo cáo như sản phẩm tự sản tự
tiêu(điện, than dùng trong doanh nghiệp sản xuất điện, than). Sản phẩm chính và phụ phẩm
nếu doanh nghiệp thu nhặt được (thóc, rơm, rạ trong nông nghiệp). Sản phẩm kinh doanh
tổng hợp của tất cả các công đoạn kinh doanh(A-Z).
- Chỉ tính những sản phẩm đủ tiêu chuẩn nằm trong khung chất lượng hợp tiêu
chuẩn Việt Nam. Do vậy, chỉ tính những sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ báo cáo,