BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH VÀ KỲ HẠN NỢ ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ -
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ KIM THOA
TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO
TÀI CHÍNH VÀ KỲ HẠN NỢ ĐẾN HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ -
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
Ở CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ ĐẠT CHÍ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Đinh Thị Kim Thoa
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tóm tắt .......................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU .......................................................................................... 2
1.1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................... 2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 3
1.3. Cấu trúc bài nghiên cứu ........................................................................................ 4
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ............................................................................................................................... 6
2.1. Các khái niệm liên quan ........................................................................................ 6
2.1.1. Khái niệm đầu tư ............................................................................................. 6
2.1.2. Khái niệm hiệu quả đầu tư ............................................................................... 6
2.1.3. Báo cáo tài chính ............................................................................................. 7
2.1.4. Thế nào là báo cáo tài chính có chất lượng tốt ............................................... 8
2.1.5. Nợ ngắn hạn ..................................................................................................... 9
2.2. Ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) đến hiệu quả đầu tư ..... 10
2.3. Ảnh hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư ................................................ 16
2.4. Mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư .............................................................................................................. 19
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 21
3.1. Mẫu nghiên cứu ................................................................................................... 21
3.2. Mô hình nghiên cứu ............................................................................................ 21
3.2.1. Mô hình kiểm nghiệm tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiêp ............................................................ 21
3.2.2. Mô hình kiểm nghiệm mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư ở các mức kỳ hạn nợ khác nhau ............................................................... 29
3.3. Giả thuyết nghiên cứu ......................................................................................... 30
3.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 31
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 33
4.1. Thống kê mô tả ..................................................................................................... 33
4.2. Kiểm định đa cộng tuyến ..................................................................................... 37
4.3. Kết quả hồi quy .................................................................................................... 38 4.3.1. Ảnh hưở ng của chất lượng bá o cá o tà i chính và nợ ngắ n hạn đến hiê ̣u quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam...................................................................... 39 4.3.2. Ảnh hưở ng của chất lượng bá o cá o tà i chính và nợ ngắ n hạn đến việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của các doanh nghiệp Việt Nam.................................. 43
4.3.3. Mối quan hê ̣ giữa chất lượng bá o cá o tà i chính và hiê ̣u quả đầu tư ở cá c tỷ lệ nợ ngắn hạn khá c nhau........................................................................................... 48 4.3.4. Cá c kiểm nghiê ̣m bổ sung .............................................................................. 52 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN .......................................................................................... 60
5.1. Kết luận nghiên cứu ............................................................................................ 60
5.2. Một số kiến nghị và gợi ý ..................................................................................... 62
5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ........................................... 63
TÀ I LIỆU THAM KHẢ O ......................................................................................... 65
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 69
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
FRQ Financial reporting quality Chất lượng báo cáo tài chính
INVEFF Investment efficiency Hiệu quả đầu tư
Overinvestment Đầu tư quá mức OI
UI Underinvestment Đầu tư dưới mức (thiếu đầu tư)
NPV Net Present Value Giá trị hiện tại thuần
FEM Fixed Effect Model Mô hình hiệu ứng cố định
REM Random Effect Model Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
GMM Phương pháp Mô men tổng quát Generalized method of moments
HOSE Hochiminh Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
HNX Hanoi Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
ICOR Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư Incremental Capital Output Ratio
IRR Internal Rate of Return Tỷ suất sinh lời nội bộ
STDebt Short-term debt Nợ ngắn hạn
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4. 1. Kết quả thống kê mô tả ..................................................................................... 35
Bảng 4. 2. Ma trận tự tương quan Pearson ........................................................................ 36
Bảng 4. 3. Kiểm định đa cộng tuyến .................................................................................. 38
Bảng 4.4. Hồi quy hiệu quả đầu tư với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn
hạn ...................................................................................................................................... 41
Bảng 4. 5. Hồi quy đầu tư quá mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn
hạn ...................................................................................................................................... 45
Bảng 4. 6. Hồi quy đầu tư dưới mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn
hạn ...................................................................................................................................... 47
Bảng 4. 7. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương
tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo trung vị .................................. 50
Bảng 4. 8. Hồi quy hiệu quả đầu tư thay thế, đầu tư quá mức thay thế và đầu tư dưới mức
thay thế với biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn ......................................... 55
Bảng 4. 9. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương
tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất ................ 58
Bảng 4. 10. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương
tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ ba ................... 59
1
Tóm tắt
Bài nghiên cứ u này tìm hiểu về tác động củ a chất lươ ̣ng báo cáo tài chính và kỳ ha ̣n nơ ̣ ngắn hạn đố i vớ i hiệu quả đầu tư củ a các doanh nghiê ̣p Viê ̣t Nam cũng như nghiên cứu về vai trò của
các yếu tố trên khi doanh nghiê ̣p đang ở trong tình tra ̣ng đầu tư quá mứ c hoă ̣c đầu tư dướ i mức.
Ngoài ra đề tài cò n đào sâu nghiên cứ u tác động của chất lươ ̣ng báo cáo tài chính đố i vớ i hiê ̣u
quả đầu tư ở các mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau. Mẫu nghiên cứ u là 152 doanh nghiệp phi tài chính Viê ̣t Nam đươ ̣c niêm yết ở sàn chứ ng khoán HOSE và HNX trong giai đoạn 2007- 2015.
Kết quả cho thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư và
giúp làm hạn chế tình trạng đầu tư quá mức của doanh nghiệp, tuy nhiên lại không có tác động
đến tình trạng thiếu đầu tư. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn chỉ ra ảnh hưởng của nợ ngắn hạn
trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư nhưng không tìm thấy mối quan hệ nào giữa nợ ngắn hạn
với việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức. Ngoài ra, khi phân loại nợ ngắn hạn theo tứ phân
vị thứ nhất để xác định mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, bài nghiên cứu phát hiện
ra rằng các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn thì tác động của chất lượng
báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư lớn hơn so với các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ
ngắn hạn thấp hơn.
2
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1. Lý do chọn đề tài
Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động then chốt và xuyên suốt của mỗi doanh
nghiệp. Để có thể tăng trưởng và phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành thực hiện
các hoạt động đầu tư nhằm gia tăng nguồn lợi nhuận cho công ty. Tuy nhiên việc đầu tư của
doanh nghiệp không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích nếu như khâu hoạch định và quản lý hoạt
động đầu tư của doanh nghiệp không được thực hiện chặt chẽ và khoa học. Đặc biệt trong bước
đánh giá để lựa chọn thực hiện đầu tư, nếu như doanh nghiệp không chú trọng phân tích đầy đủ
các yếu tố có liên quan đến dự án đầu tư như phương án, tài chính, nhân sự, kinh tế-xã hội, môi
trường…, thì có thể dẫn đến việc quyết định thực hiện các dự án không hiệu quả hoặc bỏ qua
những dự án tốt cho công ty. Bên cạnh các yếu tố trên, các doanh nghiệp thường xem nhẹ tầm
quan trọng của việc phân tích kỹ càng một loại công cụ vừa thuận tiện vừa có độ hữu dụng cao
và luôn sẵn có, đó chính là các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Nhiều lý thuyết và nghiên
cứu gần đây đã chỉ ra rằng chất lượng của báo cáo tài chính góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
của doanh nghiệp cũng như đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế đầu tư quá mức và thúc
đẩy đầu tư đối với các doanh nghiệp thiếu đầu tư. Ngoài ra, các nghiên cứu này còn tìm ra được
mối quan hệ giữa kỳ hạn nợ ngắn hạn với hiệu quả đầu tư và lý giải điều này theo hướng nợ ngắn
hạn góp phần làm giảm các vấn đề chi phí đại diện1 và bất cân xứng thông tin2. Đơn cử như bài
nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) trên một
mẫu các doanh nghiệp ở Tây Ban Nha đã khẳng định chắc chắn về tác động của chất lượng báo
cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư. Do đó, ngoài những yếu tố chính ảnh
đích của người quản trị và người sở hữu và vấn đề thông tin bất cân xứng
2 Thông tin bất cân xứng (asymmetrical information hoặc information asymmetry), trong kinh tế học nói chung, tình trạng thông tin bất cân xứng phát sinh khi trong một giao dịch, một trong các bên tham gia có nhiều thông tin hơn hoặc có thông tin tốt hơn (các) bên còn lại. Mô hình thông tin bất cân xứng trong kinh tế học giả định rằng có ít nhất một bên tham gia giao dịch phải có thông tin ở mức độ tốt hơn (các) bên còn lại. Hoặc cũng có thể là trường hợp một bên tham gia có khả năng áp đặt, tác động hoặc phả ứng lại một hay một số điều khoản bị phá vỡ trong thỏa thuận mà (các) bên còn lại ko có năng lực đó.
Vấn đề thông tin bất cân xứng tồn tại giữa người sở hữu và CEO là một dạng điển hình của dạng chi phí này. Người đại diện (nhà quản trị doanh nghiệp) chính là người làm việc thay mặt cho người sở hữu, nói cách khác là các cổ đông của doanh nghiệp. Thông thường cổ đông của doanh nghiệp không hoặc rất ít có điều kiện giám sát thường xuyên từng hành động của người quản trị
1 Vấn đề đại diện hay chí phí đại diện là loại chi phí phát sinh khi một tổ chức gặp phải vấn đề về sự thiếu đồng thuận giữa mục
3
hưởng đến việc thẩm định dự án đầu tư, các doanh nghiệp cũng cần chú ý đào sâu phân tích và
đánh giá báo cáo tài chính cũng như mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu nguồn vốn của mình.
Mặt khác, đứng trên góc độ thực tiễn có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam với trình độ
quản lý còn nhiều yếu kém, thiếu kinh nghiệm hoạch định đầu tư cùng với quy mô doanh nghiệp
tương đối nhỏ thường không đặt sự quan tâm đúng mức cho việc hoạch định và đánh giá, thẩm
định đầu tư, vì vậy hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam thường rất thấp, từ đó dẫn
đến thua lỗ và thậm chí là phá sản. Cụ thể theo báo cáo của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh –
Bộ kế hoạch và đầu tư, trong năm 2016, có tới 60.600 doanh nghiệp Việt Nam tạm ngừng hoạt
động có thời hạn, không thời hạn và đang chờ giải thể, tăng 32% so với năm 2015. Bên cạnh đó,
hệ số hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) của Việt Nam thời gian qua đều dao động trên mức 6, cao
hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và thế giới, cho thấy hiệu quả đầu tư của nền kinh
tế Việt Nam còn rất thấp. Do đó, việc nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của
các doanh nghiệp Việt Nam là thực sự cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự cạnh
tranh ngày càng lớn của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam hiện nay. Như đã nêu ở trên,
mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư là một
trong những vấn đề nghiên cứu thú vị mà đề tài này trong thời gian gần đây đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và nhà đầu tư cũng như các tổ chức, cá nhân có liên
quan. Tuy nhiên ở Việt Nam chưa có nhiều bài nghiên cứu về mối quan hệ trên, do đó tác giả
chọn đề tài: “Tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư-
Bằng chứng thực nghiệm ở các doanh nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra sự
ảnh hưởng của các yếu tố trên đối với hiệu quả đầu tư, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư
của các doanh nghiệp Việt Nam.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu xem xét tác động của chất lượng báo cáo tài chính, kỳ hạn nợ ngắn hạn của
công ty đối với hiệu quả đầu tư của 152 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai
đoạn 2007-2015 với các mục tiêu nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, xác định được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức.
4
Thứ hai, xác định được mối quan hệ giữa kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức.
Thứ ba, xác định được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu
tư, hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của doanh nghiệp ở các mức độ sử dụng nợ
ngắn hạn khác nhau.
Để có thể đạt được các mục tiêu trên, bài nghiên cứu đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, Chất lượng báo cáo tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư cũng
như hiện tượng đầu tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ hai, Nợ ngắn hạn có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư cũng như hiện tượng đầu
tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam?
Thứ ba, Chất lượng báo cáo tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư cũng như
hiện tượng đầu tư quá mức và thiếu đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ở các mức độ sử dụng
nợ ngắn hạn khác nhau?
1.3. Cấu trúc bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được cấu trúc thành 5 phần. Phần 1 giới thiệu tổng quan các vấn đề trong
bài nghiên cứu: lí do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu. Phần 2 trình bày tổng quan
các khái niệm về đầu tư, hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn. Phần này cũng sẽ
đưa ra các lý luận và nghiên cứu tìm hiểu về tác động của chất lượng báo tài chính đối với hiệu
quả đầu tư cũng như giữa nợ ngắn hạn và hiệu quả đầu tư. Cuối cùng, phần 2 sẽ trình bày các
nghiên cứu thực nghiệm xem xét vấn đề mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ
ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư để làm cơ sở nền tảng cho bài nghiên cứu này. Phần 3 trình
bày phương pháp nghiên cứu, mang đến một cái nhìn tổng quan về mô hình dữ liệu bảng động,
phương pháp hồi quy Pooled-OLS, Fixed Effect, Random Effect và các kiểm định khuyết tật của
mô hình có liên quan. Bên cạnh đó, phần này còn trình bày các giả thuyết nghiên cứu, mô tả mẫu
nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và nguồn thu thập dữ liệu cũng như nêu rõ cách xác định và ý
nghĩa của biến số được sử dụng trong mô hình ước lượng. Phần 4 trình bày các kết quả nghiên
cứu bao gồm thống kê mô tả, ma trận hệ số tương quan và các kết quả thực nghiệm từ mô hình
hồi quy dữ liệu bảng động bằng các phương pháp đã nêu. Phần kết luận tổng quát những kết
5
luận chính của bài nghiên cứu, nêu lên một số kiến nghị, gợi ý giúp nâng cao hiệu quả đầu tư của
các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như chỉ ra một số điểm hạn chế còn tồn tại của bài nghiên cứu
và hướng phát triển đề tài trong tương lai.
6
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Phần này sẽ trình bày một cách cụ thể các khái niệm hiệu quả đầu tư, chất lượng báo cáo tài
chính và nợ ngắn hạn. Tiếp theo đó, bài nghiên cứu sẽ đưa ra các lý luận và nghiên cứu đề cập
về ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến hiệu quả đầu tư cũng như các nghiên cứu tìm
hiểu về mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Cuối cùng, bài
nghiên cứu sẽ trình bày các nghiên cứu thực nghiệm đưa vấn đề nợ ngắn hạn và chất lượng báo
cáo tài chính trong mối liên hệ với hiệu quả đầu tư.
2.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1. Khái niệm đầu tư
Theo luật đầu tư năm 2005, đầu tư được định nghĩa là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại
tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư. Đặc biệt Luật
đầu tư còn đưa ra định nghĩa về hoạt động đầu tư để phân biệt với thuật ngữ đầu tư. Theo đó,
hoạt động đầu tư được hiểu là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu
chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư. Bên cạnh đó, Luật đầu tư năm 2014 (được
Quốc Hội ban hành ngày 26/11/2014) còn định nghĩa thêm về dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ
vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể,
trong khoảng thời gian xác định.
Như vậy, dựa trên các định nghĩa này cũng như các lý thuyết kinh tế về đầu tư và hoạt động
đầu tư, bài nghiên cứu đưa ra các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư như sau:
+ Hoạt động bỏ vốn;
+ Hoạt động có tính chất lâu dài;
+ Hoạt động luôn mang theo lợi ích và rủi ro.
2.1.2. Khái niệm hiệu quả đầu tư
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu thị quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế-xã hội
đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kì
nhất định.
7
Đứng ở góc độ doanh nghiệp có thể hiểu rằng hiệu quả đầu tư là tất cả những lơ ̣i ích do viê ̣c thực hiê ̣n đầu tư đem la ̣i hoặc cũng có thể hiểu là viê ̣c doanh nghiệp có thể thực hiê ̣n tất cả những
dự án có NPV dương. Hiệu quả đầu tư là kết quả củ a việc so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào của quá trình đầu tư của doanh nghiệp. Việc đầu tư không hiệu quả có thể dẫn đến hiện tượng đầu tư quá mức và hiện tượng đầu tư dưới mức. Trong đó, đầu tư quá mức có thể được
hiểu đơn giản là việc doanh nghiệp chấp nhận thực hiện các dự án có NPV âm và đầu tư dưới
mức hay thiếu đầu tư là việc doanh nghiệp bỏ qua việc thực hiện các dự án tốt và có NPV dương.
Ngoài ra, trong nghiên cứu này, hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp được phản ánh theo mức
độ của cơ hội tăng trưởng của năm trước và được định nghĩa theo hàm ý phủ định của nó. Theo
đó, sự không hiệu quả đầu tư được thể hiện qua sự sai lệch giữa tổng vốn đầu tư năm sau với
mức độ tăng trưởng doanh thu của năm trước đó. Nếu sai lệch này càng nhỏ thì hiệu quả đầu tư
càng cao và ngược lại. Dựa vào những cách định nghĩa này, bài nghiên cứu sẽ triển khai và định
lượng hóa để đưa vào các mô hình hồi quy phù hợp ở những phần tiếp theo.
2.1.3. Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao
gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) là một hệ thống bao gồm 4
báo cáo phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một đơn
vị:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình
kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những
người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt được mục đích này, báo cáo tài
chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở
hữu, doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ cũng như các luồng tiền. Các thông tin này cùng
8
với các thông tin trình bày trong bản thuyết minh báo cáo tài chính giúp người sử dụng dự đoán
được các luồng tiền trong tương lai và đặc biệt là thời điểm và mức độ chắc chắn của việc tạo ra
các luồng tiền và các khoản tương đương tiền.
2.1.4. Thế nào là báo cáo tài chính có chất lượng tốt
Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình
và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đảm bảo yêu cầu trung thực và
hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế
toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành.
Báo cáo tài chính phải tuân thủ các nguyên tắc sau (Tại điều 102 thông tư 200/2014/TT-BTC
ngày 22/12/2014 có quy định về các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính):
Thứ nhất, việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định tại Chuẩn mực
kế toán “Trình bày Báo cáo tài chính” và các chuẩn mực kế toán khác có liên quan. Các thông
tin trọng yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tình hình tài chính của
doanh nghiệp.
Thứ hai, báo cáo tài chính phải phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện
hơn là hình thức pháp lý của các giao dịch và sự kiện đó (tôn trọng bản chất hơn hình thức).
Thứ ba, tài sản không được ghi nhận cao hơn giá trị có thể thu hồi; Nợ phải trả không được
ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ phải thanh toán.
Thứ tư, phân loại tài sản và nợ phải trả: Tài sản và nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán phải
được trình bày thành ngắn hạn và dài hạn; Trong từng phần ngắn hạn và dài hạn, các chỉ tiêu
được sắp xếp theo tính thanh khoản giảm dần.
+ Tài sản hoặc nợ phải trả có thời gian đáo hạn còn lại không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ sản
xuất, kinh doanh thông thường kể từ thời điểm báo cáo được phân loại là ngắn hạn;
+ Những tài sản và nợ phải trả không được phân loại là ngắn hạn thì được phân loại là dài hạn.
+ Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán phải thực hiện tái phân loại tài sản và nợ phải trả được phân
loại là dài hạn trong kỳ trước nhưng có thời gian đáo hạn còn lại không quá 12 tháng hoặc một
chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường kể từ thời điểm báo cáo thành ngắn hạn.
9
Thứ năm, tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt. Chỉ thực hiện bù trừ khi tài
sản và nợ phải trả liên quan đến cùng một đối tượng, có vòng quay nhanh, thời gian đáo hạn
ngắn, phát sinh từ các giao dịch và sự kiện cùng loại.
Thứ sáu, các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí phải được trình bày theo nguyên tắc
phù hợp và đảm bảo nguyên tắc thận trọng. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và báo cáo
lưu chuyển tiền tệ phản ánh các khoản mục doanh thu, thu nhập, chi phí và luồng tiền của kỳ báo
cáo. Các khoản doanh thu, thu nhập, chi phí của các kỳ trước có sai sót làm ảnh hưởng đến kết
quả kinh doanh và lưu chuyển tiền phải được điều chỉnh hồi tố, không điều chỉnh vào kỳ báo
cáo.
Thứ bảy, khi lập Báo cáo tài chính tổng hợp giữa doanh nghiệp và các đơn vị cấp dưới không
có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc, số dư các khoản mục nội bộ của Bảng cân đối kế toán,
các khoản doanh thu, chi phí, lãi, lỗ được coi là chưa thực hiện phát sinh từ các giao dịch nội bộ
đều phải được loại trừ.
Một báo cáo tài chính đảm bảo được các yêu cầu và nguyên tắc nêu trên cũng như được các
công ty kiểm toán có uy tín kiểm toán thông qua được xem như một báo cáo tài chính tốt, cung
cấp đầy đủ và chính xác các thông tin của doanh nghiệp.
2.1.5. Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán. Theo đó, nợ ngắn hạn là một
khoản nợ của công ty hay một nghĩa vụ nợ mà thường xác định trong khoảng thời gian 1 năm
(năm tài chính). Tài sản nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán của công ty bao gồm những khoản
nợ ngắn hạn, tài khoản có thể phải trả, các khoản nợ tích lũy và các loại khoản nợ khác. Về bản
chất, đó là những hóa đơn phải trả giữa người đi vay và người cho vay trong một khoảng thời
gian ngắn. Thông thường, công ty dùng tiền mặt trong tài sản ngắn hạn để trả cho nợ ngắn hạn
của họ. Thông thường, các nhà phân tích hoặc những người cho vay sử dụng hệ số khả năng
thanh toán nợ hiện tại, hoặc hệ số khả năng thanh toán nhanh để xác định khả năng thanh toán
các khoản nợ ngắn hạn của công ty.
Trong kế toán, thuật ngữ này được dùng để chỉ những khoản nợ của bảng cân đối kế toán
trong cột ghi nợ. Nợ ngắn hạn thường phải trả trong khoảng một năm hoặc ít hơn (ví dụ tiền
10
lương, thuế…), khác với nợ dài hạn hoặc nợ cố định. Để phân biệt rõ ràng giữa nợ ngắn hạn và
nợ dài hạn, bài nghiên cứu trích dẫn quy định trong Thông tư 200/2014/TT-BTC tại Điều 112
quy định về hướng dẫn lập và trình bày bảng cân đối kế toán năm như sau:
– Đối với khoản nợ ngắn hạn khi trình bày trên báo cáo tài chính: Là tổng giá trị các khoản nợ
còn phải trả có thời hạn thanh toán không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất kinh
doanh thông thường như các khoản phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài
hạn khác, vay và nợ thuê tài chính tại thời điểm báo cáo.
– Đối với khoản nợ dài hạn khi trình bày trên báo cáo tài chính: Là tổng giá trị các khoản nợ dài
hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản nợ có thời hạn thanh toán còn lại từ 12 tháng trở
lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo như: khoản
phải trả người bán, phải trả nội bộ, các khoản phải trả dài hạn khác, vay và nợ thuê tài chính
dài hạn tại thời điểm báo cáo.
Như vậy, bài nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm cơ bản về hiệu quả đầu tư, báo cáo tài chính
và nợ ngắn hạn. Nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra mối quan hệ giữa chất
lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư cũng như mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư với mức
độ sử dụng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Phần tiếp theo sẽ giới thiệu về các mối quan hệ này
cũng như những bài nghiên cứu tìm hiểu về những vấn đề trên.
2.2. Ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) đến hiệu quả đầu tư
Như đã trình bày ở trên, hiệu quả đầu tư là tất cả những lơ ̣i ích do viê ̣c thực hiê ̣n đầu tư đem la ̣i, là kết quả củ a việc so sánh giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào củ a quá trình đầu tư. Các quyết định đầu tư ảnh hưở ng đến viê ̣c sử du ̣ng nguồ n vố n cũng như lợi ích, thành quả thu về, vì thế trướ c khi quyết đi ̣nh đầu tư các nhà đầu tư cần tìm hiểu kĩ thông tin qua nhiều công cu ̣ và biê ̣n pháp khác nhau. Một trong những kênh thông tin tiện lợi, có sẵn và hữu ích nhất giúp cho
các tổ chức và cá nhân phân tích và thẩm định việc đầu tư của doanh nghiệp đó chính là báo cáo
tài chính của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính tốt sẽ giúp các doanh nghiệp và các nhà đầu tư
đánh giá chính xác nhất về doanh nghiệp, từ đó lựa chọn được các dự án với quy mô và mức độ
đầu tư phù hợp, mang lại hiệu quả cao. Các bài nghiên cứu sau đây đưa ra một số lý giải về tác
động của chất lượng báo tài chính đối với hiệu quả đầu tư.
11
Bài nghiên cứu của Theory, Diamond và Verrecchia (1991) và Kim và Verrecchia (1994)
cho rằng việc tự nguyện công bố thông tin trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp góp
phần làm giảm bất cân xứng thông tin, giúp các nhà đầu tư nắm bắt và hiểu rõ hơn về tình hình tài chính doanh nghiê ̣p. Do đó, đối với các doanh nghiệp có mức độ minh bạch thông tin cao, nhà đầu tư có thể tương đối tự tin rằng bất kỳ giao dịch chứng khoán diễn ra tại một mức ''giá
hợp lý'' nào đều làm tăng tính thanh khoản cổ phiếu của doanh nghiệp. Theo các tác giả trên, báo
cáo tài chính là cầu nối giúp các nhà đầu tư đánh giá và xem xét dòng tiền doanh nghiệp, đồng
thời, thông tin trên các báo cáo tài chính có ứng dụng rộng rãi vì các công bố doanh thu trên các
báo cáo này đóng vai trò chính trong việc xác định giá cổ phiếu cũng như nắm bắt được việc
quản lý của công ty và thực hiện các dự án đầu tư. Ngoài ra, các nghiên cứu cho rằng việc công
bố tính thanh khoản của cổ phiếu trên các báo cáo tài chính sẽ có quan hệ với tăng việc đầu tư
vào cổ phiếu đó.
Bên cạnh đó, theo lý thuyết chi phí đại diện, có nhiều cơ chế kiểm soát khác nhau để giảm
thiểu sự bất cân xứng thông tin và rủi ro thông tin nhằm giám sát tốt hơn các hoạt động quản lý
từ đó làm giảm bớt hành vi cơ hội của người quản lý như công cụ chất lượng báo cáo tài chính
và việc công bố thông tin. Điều này đã được lý luận và phân tích cụ thể trong bài nghiên cứu của
Bushman và Smith (2001); Healy và Palepu (2001) và Hope và Thomas (2008). Cụ thể, Healy
và Palepu (2001) đã chỉ ra trong một thị trường vốn hiệu quả, báo cáo tài chính và công bố thông
tin có ý nghĩa quan trọng đối với nhà quản lý trong việc giao tiếp với nhà đầu tư bên ngoài và
giúp nâng cao hiệu quả quản lý doanh nghiệp. Các doanh nghiệp công khai thông tin tài chính
theo quy định bao gồm công bố các báo cáo tài chính, chú thích, thảo luận cũng như phân tích
quản lý và một số hồ sơ pháp lý khác. Ông cho rằng nhu cầu đối với báo cáo tài chính và công
bố thông tin phát sinh từ sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại diện giữa nhà quản lý và
nhà đầu tư bên ngoài. Chính vì vậy, tính minh bạch trong công bố thông tin từ các báo cáo tài
chính sẽ góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Cùng quan điểm với nghiên cứu
trên Hope, Thomas (2008) đã nghiên cứu một mẫu lớn các doanh nghiê ̣p đa quốc gia của Mỹ để
kiểm tra giả thuyết chi phí đại diện trong bảng thuyết minh thu nhập theo địa lý. Giả thuyết chi
phí đại diện dự báo rằng các nhà quản lý khi không được giám sát bởi cổ đông sẽ đưa ra quyết
định đầu tư để tối đa hóa lợi ích riêng của họ, do đó có khả năng làm giảm giá trị cổ đông. Những
12
quyết định này bao gồm việc đẩy mạnh sự tăng trưởng mạnh mẽ doanh nghiệp, làm giảm khả
năng sinh lợi và phá hủy giá trị doanh nghiệp. Không công bố các báo cáo tài chính làm giảm
khả năng giám sát của cổ đông đối với các quyết định của nhà quản lý liên quan đến các hoạt
động đầu tư ra nước ngoài. Sử dụng một mẫu các doanh nghiệp đa quốc gia lớn của Mỹ hoạt
động tại nước ngoài, các tác giả thấy rằng, các doanh nghiệp không công bố thông tin có lợi
nhuận thấp hơn so với các doanh nghiệp công bố thông tin.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, một hướng nghiên cứu đã được phát triển về những ảnh
hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư. Vì chất lượng báo cáo tài chính
tốt hơn góp phần làm các nhà quản lý có trách nhiệm hơn bằng cách tăng cường được việc giám
sát, từ đó có thể làm giảm sự bất cân xứng thông tin cũng như các rủi ro lựa chọn đối nghịch3 và
rủi ro đạo đức4, đồng thời nó cũng có thể làm giảm sự đầu tư quá mức và các vấn đề thiếu đầu
tư.
Mặt khác, chất lượng báo cáo tài chính cũng có thể nâng cao hiệu quả đầu tư bằng cách cho
phép các nhà quản lý đưa ra các quyết định đầu tư tốt hơn thông qua việc xác định các dự án và
số liệu kế toán trung thực hơn (theo nghiên cứu của Bushman và Smith (2001)). Cụ thể, bài
nghiên cứu của Bushman, Smith (2001) đã sử dụng các thông tin kế toán trong việc xác định dự
án là tốt hay xấu bao gồm việc xác định các cơ hội tăng hiệu quả sử dụng các tài sản cố định
cũng như việc phân bổ, sử dụng vốn và con người. Đặc biệt bài nghiên cứu này còn tìm hiểu về
vai trò của thông tin kế toán trong việc khuyến khích quản lý. Các tác giả lý giải về vai trò của
chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư theo ba hướng. Đầu tiên, thông tin kế toán
4 Rủi ro đạo đức (moral hazard), xét trên góc độ kinh tế học, là khái niệm phản ánh khả năng việc tái phân bổ rủi ro (chẳng hạn như trong hợp đồng bảo hiểm - rủi ro được chuyển từ người được bảo hiểm sang người nhận bảo hiểm - công ty bảo hiểm) sẽ làm thay đổi hành vi của người tham gia/có liên quan. Vấn đề này liên quan đến cơ chế thông tin bất đối xứng ở điểm có một bên không thể hoặc có rất ít khả năng giám sát, thu nhận những thông tin có tính chất quyết định tới giao dịch. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của ngành bảo hiểm, thuật ngữ rủi ro đạo đức ngày nay được phân thành hai nhóm là: (i) rủi ro đạo đức hành vi (vẫn sử dụng moral hazard), và (ii) rủi ro đạo đức ý thức (morale hazard). Theo sự phân biệt này, "rủi ro đạo đức hành vi" sẽ được coi là trái đạo đức và vi phạm pháp luật, vi phạm hợp đồng bảo hiểm. Còn những thay đổi trong thái độ, quan điểm được gọi là rủi ro đạo đức ý thức, không thuộc phạm vi xử lý vi phạm đạo đức hay quy định hợp đồng.
3 Rủi ro lựa chọn đối nghịch phát sinh khi có tình trạng thông tin bất đối xứng giữa các bên khi bắt đầu tham gia và một giao dịch. Lấy ví dụ thị trường điện thoại di động cũ. Có những điện thoại cũ chất lượng tốt và dĩ nhiên có những điện thoại cũ chất lượng kém. Vấn đề ở chỗ người mua không thể biết trước khi vào cửa hàng mua một chiếc điện thoại cũ thì cái nào là tốt và cái nào là không tốt. Điều này làm cho người mua buộc phải giả định một mức chất lượng trung bình, từ đó tự đưa ra một mức giá trung bình mà họ chấp nhận mua. Việc này dẫn đến một kết quả khác là trong quá trình giao dịch, những chiếc điện thoại cũ dù còn rất tốt cũng không thể được bán với đúng giá cao thích hợp, còn những chiếc rất kém lại có thể được bán với mức giá cao hơn giá trị thực của nó.
13
tài chính tốt hơn sẽ giúp các nhà đầu tư phân biệt những khoản đầu tư xấu và tốt, làm giảm rủi
ro ước lượng cũng như giảm chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp. Thứ hai, thông tin
kế toán tốt sẽ giúp các nhà đầu tư phân biệt nhà quản lý tốt hơn, làm giảm chi phí đại diện cũng
như làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Thứ ba, các nguồn thu nhập không rõ
ràng sẽ làm suy yếu mối liên kết giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập báo cáo tài chính không quan
sát được, từ đó có thể gia tăng bất cân xứng thông tin. Một nghiên cứu bổ sung của các ông đã
tìm ra sự gia tăng bất cân xứng thông tin sẽ làm tăng chi phí giao dịch, do đó cổ đông sẽ yêu cầu
lợi nhuận thậm chí còn cao hơn lãi trên vốn chủ sở hữu để được bù đắp rủi ro. Sự gia tăng chi
phí giao dịch cũng sẽ làm cho các cổ đông giao dịch ít thường xuyên hoặc không giao dịch tại
tất cả các mức giá của cổ phiếu.
Cùng với các nghiên cứu trên, một số nghiên cứu khác cũng đã tranh luận và tìm ra bằng
chứng cho thấy chất lượng báo cáo tài chính làm giảm sự nhạy cảm về dòng tiền đầu tư (Biddle
và Hilary, 2006), cũng như làm hạn chế việc đầu tư quá mức do bóp méo thông tin được quản lý
(McNichols và Stubben, 2008). Theo đó, nghiên cứ u của Biddle và Hilary (2006) cho rằng chất
lượng báo cáo tài chính giúp tăng cường hiệu quả đầu tư bằng cách giảm bất cân xứng thông tin
giữa nhà quản lý và nhà đầu tư. Hiệu ứng trên có thể mạnh mẽ hơn trong nền kinh tế mà tài chính
được cung cấp chủ yếu thông qua các giao dịch độc lập (như thị trường chứng khoán) vì thế các
quyết định đầu tư thường dựa vào các báo cáo tài chính công bố rộng rãi. Bài nghiên cứu cũng
tìm ra các mối quan hệ giữa dòng tiền tạo ra trong nội bộ và đầu tư là ít hơn khi chất lượng kế
toán cao hơn. Vì thế ông kết luận là chất lượng báo cáo tài chính có ảnh hưởng mạnh mẽ tới độ
nhạy cảm dòng vốn đầu tư bằng tiền mặt trong nền kinh tế mà tài chính được cung cấp chủ yếu
thông qua các giao dịch độc lập. Bên cạnh đó, việc giảm sự bất cân xứng thông tin sẽ giúp các
nhà đầu tư và nhà quản lý hiểu rõ hơn về tình trạng doanh nghiê ̣p như nhau từ đó giúp các quyết
định nội bộ tối ưu hơn và vì vậy giúp tăng hiệu quả đầu tư. Để làm rõ điều này, McNichols và
Stubben (2008) đã xem xét lại việc đầu tư tài sản cố định và chi tiêu vốn cho một mẫu lớn các
doanh nghiệp trong thời kì 1978-2002 theo ba nhóm: doanh nghiệp bị cáo buộc đã bóp méo thu
nhập doanh nghiệp theo điều tra của ủy ban thanh tra chứng khoán về các sai phạm theo quy định
kế toán, doanh nghiệp bị cổ đông kiện do hạch toán bất thường và các doanh nghiệp làm lại báo
cáo tài chính vì đầu tư quá mức trong giai đoạn báo cáo sai. Kết quả cho thấy rằng, sau thời kì
14
báo cáo sai các doanh nghiệp không còn đầu tư quá mức và các thông tin điều chỉnh sẽ giúp đầu
tư hiệu quả hơn. Ông cũng cho rằng chất lượng báo cáo tài chính thấp có thể che lấp các xu
hướng cơ bản về tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Vì vậy, việc đánh giá quá mức về lợi nhuận
do không nắm rõ những sai sót trong báo cáo tài chính có thể dẫn dến hiện tượng đầu tư quá mức.
Dựa trên thảo luận này, Biddle và cộng sự (2009) cũng như Chen và cộng sự (2011) đã kiểm
tra hiệu quả của chất lượng báo cáo tài chính trên hai kịch bản không hiệu quả, đầu tư quá mức
và đầu tư dưới mức. Kết quả của các tác giả một lần nữa khẳng định rằng chất lượng báo cáo tài
chính cao hơn giúp các công ty thiếu đầu tư gia tăng việc đầu tư và các công ty đầu tư quá mức
hạn chế việc đầu tư. Cụ thể, Biddle, Hilary và Verdi (2009) cho rằng những doanh nghiệp có
chất lượng báo cáo tài chính cao hơn sẽ có độ lệch so với mức đầu tư dự đoán ít hơn và ít nhạy
cảm hơn so với điều kiện kinh tế vĩ mô. Các tác giả đã tìm thấy mối quan hệ giữa chất lượng báo
cáo tài chính và việc làm giảm các vấn đề về rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch mà đây là các
nguyên nhân dẫn đến việc giảm hiệu quả đầu tư. Chất lượng báo cáo tài chính cao có thể kiềm
chế nhà quản lý tham gia vào các hoạt động “phá hoại” giá trị doanh nghiệp như đầu tư vào các
dự án lớn mang lại danh tiếng nhưng không mang lại lợi nhuận. Chất lượng báo cáo tài chính
cao còn có liên quan đến việc đầu tư thấp hơn của các doanh nghiệp có tiền mặt lớn và không
vay nợ so với các doanh nghiệp có tiền mặt và sử dụng vốn vay cao. Ngoài ra, các doanh nghiệp
này có xu hướng đầu tư ít khi tổng đầu tư là cao và ngược lại. Các kết quả này phù hợp với lập
luận rằng chất lượng báo cáo tài chính tạo điều kiện đầu tư cho các doanh nghiệp hạn chế, và
kiềm chế đầu tư cho các doanh nghiệp có nhiều khả năng đầu tư hơn. Tiếp theo, khi nghiên cứu
một mẫu 6.627 doanh nghiệp trong 21 thị trường mới nổi, Chen và cô ̣ng sự (2011) đã đưa ra kết
luận rằng chất lượng báo cáo tài chính có tương quan âm với đầu tư dướ i mức và đầu tư quá mức.
Bài nghiên cứu tìm thấy bằng chứng về chất lượng báo cáo tài chính có tương quan dương với
hiệu quả đầu tư. Mặc dù các doanh nghiệp có thể có chất lượng báo cáo tài chính thấp hơn các
doanh nghiệp công ở thị trường phát triển hoặc có nhiều thông tin bị hạn chế hơn so với các
doanh nghiệp tư nhân. Ông lập luận rằng mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu
quả đầu tư gia tăng khi tăng các khoản tín dụng ngân hàng và giảm khi các khoản thu nhập chịu
thuế giảm. Một mối quan hệ giữa việc giảm thiểu thuế và cung cấp thông tin về thu nhập được
khẳng định trong bài nghiên cứu này.
15
Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng chất lượng báo cáo tài chính thì cao hơn
ở các công ty có vốn nhà nước so với các công ty tư nhân (Ball và Shivakumar, 2005, Burgstahler
và cộng sự, 2006) cũng như ở các nước mà việc bảo vệ và thực thi pháp luật cao hơn (Leuz và
cộng sự, 2003. Holthausen, 2009). Theo đó, trong bài nghiên cứu về pháp luật nước Anh của
Ball và Shivakumar (2005), các tác giả cho rằng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tư nhân
phải được kiểm toán và tuân thủ các chuẩn mực kế toán cũng như các luật thuế doanh nghiệp.
Với giả thuyết báo cáo tài chính của doanh nghiệp tư nhân có chất lượng thấp hơn so với các
doanh nghiệp công, các tác giả kết luận rằng các doanh nghiệp tư nhân có thể sử dụng báo cáo
tài chính để giảm bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và các bên khác có liên quan.
Bên cạnh đó, chất lượng báo cáo tài chính cũng tác động đến một phần thu nhập của doanh
nghiệp như bài nghiên cứu của Bhattacharya, Daouk, Welker (2003) đã phân tích 58.653 báo cáo
tài chính của 34 nước trong giai đoạn 1985-1995 để tìm hiểu thu nhập không rõ ràng ảnh hưởng
đến hai khía cạnh của thị trường trong nước: thu nhập ròng của cổ đông đòi hỏi và số giao dịch
sẽ diễn ra. Kết quả cho thấy rằng sự gia tăng thu nhập không rõ ràng của quốc gia có liên quan
đến sự sụt giảm trong phiên giao dịch tại thị trường chứng khoán của nước đó. Thu nhập không
rõ ràng của một doanh nghiệp là sự tương tác phức tạp giữa ba yếu tố: động lực quản lý, chuẩn
mực kế toán và việc thực thi các chuẩn mực kế toán (chất lượng kiểm toán). Để làm rõ vấn đề
trên Leuz và cộng sự (2003) xem xét các khác biệt trong hệ thống quản lý thu nhập của 8.000
doanh nghiệp trên 31 quốc gia. Ông đã tìm ra mối liên kết nội sinh giữa quản trị doanh nghiệp
và chất lượng báo cáo tài chính. Kết quả hồi quy cho thấy quản lý các khoản thu nhập có mối
tương quan âm với quyền hạn của cổ đông thiểu số và việc thực thi quyền lực. Các ưu đãi nội bộ
đối với quản lý thu nhập như một cách để che giấu lợi ích kiểm soát của họ, ông cho rằng các
nguyên tắc kế toán có thể hạn chế khả năng quản lý các khoản thu nhập của người trong nội bộ.
Ở một khía cạnh khác, bài nghiên cứu của nhóm tác giả Lambert, Leuz và Verrecchia, (2007)
đã kiểm tra các số liệu và tìm hiểu ảnh hưởng của thông tin kế toán đến chi phí vốn doanh nghiệp.
Ông chứng minh rằng chất lượng của thông tin kế toán có thể ảnh hưởng đến chi phí vốn cả mặt
trực tiếp và gián tiếp. Về mặt trực tiếp, công bố thông tin có chất lượng cao sẽ góp phần làm
giảm phương sai biến động dòng tiền của doanh nghiệp. Về mặt gián tiếp, công bố thông tin có
chất lượng cao có ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp, từ đó làm thay đổi tỷ lệ dòng tiền
16
trong tương lai của doanh nghiệp trên hiệp phương sai của dòng tiền với tổng của dòng tiền trong
thị trường.
Tóm lại, chất lượng báo cáo tài chính góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp,
giúp các doanh nghiệp đầu tư quá mức hạn chế việc đầu tư và khuyến khích các doanh nghiệp
thiếu đầu tư tăng cường hoạt động đầu tư của mình. Báo cáo tài chính tổ ng hơ ̣p và trình bày mô ̣t cách tổ ng quát, toàn diê ̣n tình hình tài sản, nguồ n vố n và nơ ̣ phải trả cũng như tình hình và kết quả hoa ̣t đô ̣ng sản xuất, kinh doanh củ a doanh nghiê ̣p trong một năm tài chính. Do đó , dựa trên
các thông tin trong báo cáo này, người sử dụng có thể đánh giá đầy đủ và chính xác về thực tra ̣ng tài chính cũng như việc kinh doanh và sức khỏe củ a doanh nghiê ̣p trong kỳ hoa ̣t đô ̣ng đã qua, đồng thời có thể đưa ra những dự đoán về doanh nghiệp trong tương lai. Vì vậy, đây chính là là
mô ̣t nguồn dữ liệu quan tro ̣ng, giúp cho các chủ doanh nghiê ̣p, các nhà đầu tư hoă ̣c chủ nơ ̣ đưa
ra các quyết đi ̣nh quản lý, điều hành, tài trợ hoă ̣c đầu tư vào doanh nghiê ̣p ở hiện tại và tương
lai. Khi chất lươ ̣ng báo cáo tài chính tốt sẽ góp phần làm tăng độ chính xác của các quyết định
nêu trên từ đó cải thiê ̣n hiê ̣u quả đầu tư củ a doanh nghiê ̣p. Ngoài ra, báo cáo tài chính có chất
lượng cao sẽ làm giảm các vấn đề bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện, lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức giữa nhà quản lý và các bên có liên quan. Do đó, bài nghiên cứu kỳ vọng cũng
sẽ tìm được mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính với hiệu quả đầu tư của các doanh
nghiệp Việt Nam ở các phần tiếp theo.
2.3. Ảnh hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư
Bên cạnh ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính, bài nghiên cứ u cũng tìm hiểu về ảnh
hưởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó, với việc sử dụng nhiều nợ
ngắn hạn, có thể giúp giảm thiểu được vấn đề bất cân xứng thông tin và vấn đề đại diện giữa
người quản lý, cổ đông và chủ nợ. Việc sử dụng nợ ngắn hạn sẽ góp phần tăng khả năng kiểm
soát các nhà quản lý, giúp người cho vay có khả năng tiếp xúc gần hơn với người đi vay, từ đó
dễ dàng hơn trong việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn
đầu, để sau đó họ có thể quyết định xem có nên gia hạn hoặc thay đổi các điều khoản hợp đồng
với bên vay hay không. Ngoài ra các nghiên cứu còn cho rằng sử dụng nợ ngắn hạn sẽ cải thiện
được việc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức. Theo bài nghiên cứu của Myers (1977) cho rằ ng
kỳ hạn nợ có thể được sử dụng để giảm thiểu các vấn đề đầu tư quá mức và thiếu đầu tư. Khi có
17
các dự án NPV dương, các doanh nghiệp có thể tài trợ cho các dự án này bằng các khoản nợ ngắn
hạn để giảm bớt vấn đề thiếu đầu tư. Các doanh nghiệp sử dụng nợ ngắn hạn vì chúng sẽ được
thanh lý trong thời gian ngắn và lợi nhuận sẽ thuộc hoàn toàn về doanh nghiê ̣p.
Theo nghiên cứu của Barclay, Smith (1995) với 37.979 quan sát trong giai đoạn 1874-1991.
Ông cho rằng những yếu tố quyết định kỳ hạn nợ của doanh nghiệp ủng hộ giả thuyết rằng các
doanh nghiệp với nhiều cơ hội tăng trưởng và cơ hội đầu tư hơn khi phát hành nhiều nợ ngắn hạn
hơn. Hơn nữa, các doanh nghiệp có bất cân xứng thông tin có tiềm năng phát hành nhiều nợ ngắn
hạn hơn. Một doanh nghiệp với nợ dài hạn chiếm ưu thế sẽ từ bỏ việc thực hiện một cơ hội tăng
trưởng. Về phía ngân hàng, với một khoản nợ ngắn hạn, họ có thể đặt thêm các điều kiện về việc
hoàn trả. Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp tăng trưởng cao sẽ lựa chọn vay vốn ngân
hàng thay vì vay nợ dài hạn và nợ tư nhân phi ngân hàng.
Khi xem xét các doanh nghiệp nhỏ, bài nghiên cứu Berger, Udell (1998) cho rằng các của
doanh nghiệp nhỏ thường có báo cáo tài chính không được kiểm toán, không có nhiều tài sản có
thể đánh giá dễ dàng để cầm cố, thế chấp; có ít hồ sơ tín dụng hoặc hồ sơ về thu nhập để các nhà
cung cấp bên ngoài xem xét. Do đó, các doanh nghiệp này thường chỉ có thể vay vốn ngắn hạn
thay vì vay được nguồn vốn dài hạn. Một lý do mà các doanh nghiệp nhỏ thường ít được tiếp cận
với nợ dài hạn vì thông tin không minh bạch và nhiều rủi ro hơn các doanh nghiệp lớn.
Tiếp theo, khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nợ ngắn hạn đến chi phí vốn, bài nghiên cứu
của Childs, Mauer, (2005) cho rằng chính sách nợ linh động khuyến khích các doanh nghiệp lựa
chọn nợ ngắn hạn, dẫn đến giảm chi phí đại diện đồng thời không khuyến khích các doanh nghiệp
chọn mức nợ ban đầu cao. Tuy nhiên việc giảm chi phí đại diện có thể giảm việc doanh nghiệp
gia tăng đòn bẩy vì lựa chọn mức độ nợ ban đầu của doanh nghiệp phụ thuộc vào lựa chọn mức
độ tăng trưởng trong việc hoạch định cơ hội đầu tư. Mặc dù vậy, hầu hết các doanh nghiệp lựa
chọn các khoản vay dài hạn vì ảnh hưởng của các vấn đề chi phí phát sinh liên quan đến nợ ngắn
hạn như chi phí phát hành hoặc rủi ro thanh khoản. Nợ ngắn hạn có thể giảm nhẹ hoặc giải quyết
hoàn toàn những những xung đột, nhưng các doanh nghiệp chỉ lựa chọn nợ ngắn hạn khi doanh
nghiệp có tính linh hoạt tài chính cao để điều chỉnh mức độ nợ trong tương lai. Doanh nghiệp có
thể tự khắc phục vấn đề trên bằng cách giảm mức nợ khi điều kiện kinh doanh khó khăn.
18
Bài nghiên cứu Ortiz-Molina, Penas (2008) đã khảo sát trong giai đoạn 1994-1995 với 4,9
triệu doanh nghiệp nhỏ hoạt động hơn 3 năm. Bài viết tìm hiểu về điều gì quyết định kỳ hạn của
các khoản vay của các doanh nghiệp này. Họ thấy rằng kỳ hạn nợ có liên quan với những cam
kết thế chấp tài sản, tình trạng tài chính của công ty, lịch sử tín dụng tốt và ít bị thiếu hụt thông
tin của khách hàng vay. Các bằng chứng trong bài cho thấy rằng sử dụng nợ với kỳ hạn ngắn hơn
để việc đàm phán các điều khoản trong hợp đồng diễn ra thường xuyên hơn, do đó giúp cho việc
giám sát người vay được chặt chẽ hơn. Kết quả là kỳ hạn vay ngắn hạn hơn giúp giảm thiểu hậu
quả của việc bất cân xứng thông tin giữa người vay và cho vay. Lịch sử tín dụng xấu của các chủ
sở hữu doanh nghiệp có liên quan đến kỳ hạn của các khoản vay ngắn hơn.
Một số nghiên cứu khác đã tìm hiểu về việc sử dụng nợ ngắn hạn để giảm bất cân xứng thông
tin. Bài nghiên cứu của Ortiz-Molina, Penas, (2008) đã cho thấy rằng kỳ hạn nợ dài sẽ làm trầm
trọng thêm những hậu quả của việc bất cân xứng thông tin của người vay và cho vay. Kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp thường thích thế chấp tài sản để vay vốn dài hạn hơn,
vì điều này chuyển rủi ro cho tài sản thế chấp vay và giảm nhẹ xác suất vỡ nợ của doanh nghiệp
do áp lực trả nợ được giãn ra theo kỳ hạn dài hơn. Thứ hai, chủ sở hữu doanh nghiệp có tín dụng
cá nhân kém thường được cấp các khoản vay với kỳ hạn ngắn hơn, do các chủ nợ e ngại rủi ro
và phải giám sát chặt chẽ hơn đối với các khách hàng rủi ro cao hơn. Hai kết quả này cung cấp
bằng chứng mạnh mẽ về vai trò của kỳ hạn nợ trong việc giải quyết vấn đề bất cân xứng thông
tin.
Tóm lại, kỳ hạn nợ ngắn hạn là một trong những công cụ giúp doanh nghiệp có thể hạn chế
được sự bất cân xứng thông tin và các chi phí đại diện, thông qua việc kiểm soát chặt chẽ nhà
quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó, sử dụng nợ ngắn hạn còn giúp khắc phục
được tình trạng đầu tư quá mức và tình trạng thiếu đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài ra, có thể lý
luận rằng nợ ngắn hạn góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp theo hai hướng: thứ
nhất, bảo đảm nguồn vốn lưu động cho doanh nghiệp và thứ hai, giảm chi phí sử dụng vốn. Việc
sử dụng nợ ngắn hạn sẽ giúp các doanh nghiệp ít chịu áp lực về nợ lâu dài, bảo đảm được tính
thanh khoản và khả năng chi trả của doanh nghiệp nhưng vẫn tận dụng được các lợi ích từ việc
vay nợ. Mặt khác, khi sử dụng nợ ngắn hạn thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, do
19
đó nâng cao được xếp hạng tín dụng, thuận tiện cho việc huy động vốn cho các dự án đầu tư, từ
đó góp phần thúc đẩy hiệu quả đầu tư.
Như vậy, từ các lý luận và nghiên cứu nêu trên có thể thấy cả chất lượng báo cáo tài chính
lẫn nợ ngắn hạn đều có tác động đến hiệu quả đầu tư. Phần tiếp theo sẽ trình bày các nghiên cứu
thực kiểm kiểm tra mối quan hệ giữa hai yếu tố trên đối với hiệu quả đầu tư, từ đó làm tiền đề
nền tảng để xây dựng mô hình nghiên cứu ở các phần sau.
2.4. Mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn đối với hiệu quả
đầu tư
Các bài nghiên cứu đã trình bày ở mục 2.2. và 2.3 đều cho thấy mối quan hệ riêng rẽ giữa
chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Kết hợp
các kết quả trên, các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013)
đã thực hiện kiểm định các mối quan hệ này trên một mẫu gồm 13.500 doanh nghiệp ở Tây Ban
Nha từ năm 1997-2008. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình Pooled-OLS và sau đó sử dụng mô
hình hồi quy hai giai đoạn và mô hình GMM để kiểm tra thật chặt chẽ các mối quan hệ trên. Kết
quả cho thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính tốt hơn và việc sử dụng nợ ngắn hạn (nợ có kỳ
hạn thấp) làm tăng hiệu quả đầu tư. Tuy nhiên, nếu phân biệt giữa đầu tư quá mức và đầu tư dưới
mức, thì chất lượng báo cáo tài chính chỉ đóng vai trò trong việc giảm đầu tư quá mức. Ngược
lại, việc sử dụng nợ ngắn hạn là một cơ chế góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong cả hai kịch
bản đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức.
Thêm vào đó, bài nghiên cứu này còn tìm thấy bằng chứng cho thấy chất lượng báo cáo tài
chính và nợ có kỳ hạn thấp có mối quan hệ thay thế trong việc cải thiện hiệu quả đầu tư: Đối với
các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn thấp hơn, tác động của chất lượng báo cáo tài
chính đối với hiệu quả đầu tư cao hơn so với các doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn
cao hơn. Điều này cho thấy ở các doanh nghiệp có chất lượng báo cáo tài chính thấp, sử dụng nợ
là cơ chế chính được các chủ nợ sử dụng để kiểm soát hành vi của người quản lý và hạn chế bị
mất quyền lợi. Mặt khác, ở những công ty có chất lượng báo cáo tài chính cao hơn thì báo cáo
tài chính được sử dụng để giám sát các vấn đề không hiệu quả đầu tư.
20
Đối với Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Thùy Linh và Hoàng Mai Hạnh, Tạp chí Phát
triển Kinh tế (2015) trên mẫu nghiên cứu 304 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và HNX giai
đoạn 2009-2013 tìm ra mối tương quan dương giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn
với hiệu quả đầu tư. Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ thay thế giữa chất lượng
báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư: Các công ty ít sử dụng các
khoản nợ ngắn hạn thì chất lượng báo cáo tài chính ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư cao hơn và
ngược lại. Kết quả này tương đồng với kết quả nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz,
Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) đối với các doanh nghiệp Tây Ban Nha.
21
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mẫu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với
hiệu quả đầu tư của 152 doanh nghiệp phi tài chính đươ ̣c niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX). Dữ liệu
của các công ty trên được thu thập tại báo cáo tài chính của các doanh nghiệp và bộ dữ liệu của
Công ty Cổ phần Tài Việt (Vietstock) cũng như tổng hợp từ nguồn dữ liệu được công bố trên
một số website chứng khoán uy tín như trang tin CafeF (cafef.vn) hay trang tin Cổ phiếu 68
(cophieu68.com). Bài nghiên cứu thu thập dữ liệu của các công ty trong khoảng thời gian từ năm
2007 đến năm 2015, tuy nhiên dựa theo đề xuất của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz,
Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) về cách thức đo lường các biến hiệu quả đầu tư và chất lượng
báo cáo tài chính cũng như việc hồi quy biến vốn luân chuyển dựa trên dòng tiền vào các năm t-
2, t-1 và năm t+1, do đó từ 9 năm được thu thập như trên, mẫu của bài nghiên cứu áp dụng cho
các mô hình hồi quy như đã trình bày ở trên chỉ còn 6 năm từ năm 2009 đến năm 2014. Các dữ
liệu ban đầu sẽ được tổng hợp và tính toán lại theo đúng cách thức xác định biến, trong đó một
số biến sẽ được hồi quy để lấy phần dư và khởi tạo biến mới tương ứng thông qua phần mềm
Stata 13.0. Như vậy, mẫu nghiên cứu sau cùng của bài nghiên cứu sẽ có 912 quan sát của 152
doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ 2009-2014.
3.2. Mô hình nghiên cứu
3.2.1. Mô hình kiểm nghiệm tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với
hiệu quả đầu tư của doanh nghiêp
Bài nghiên cứu này sử dụng các mô hình hồi quy được đề xuất bởi M Fuensanta Cutillas
Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) để làm rõ mối quan hệ giữa báo cáo tài chính và
kỳ hạn nợ với hiệu quả đầu tư của các công ty như đã được thảo luận ở phần tổng quan tài liệu,
cụ thể như sau:
INVEFFi,t = β0 + β1FRQi,t + β2STDebti,t + β3LnSalesi,t + β4LnAgei,t + β5Tangi,t
+β6STDCFOi,t + β7STDSalesi,t + β8QTobini,t + β9Zi,t + β10Lossi,t + β11CFO_ATAi,t +
(1) β12Opercyclei,t + ɛi,t
22
Trong đó:
INVEFFi,t là biến phụ thuộc đại diện cho hiê ̣u quả đầu tư của doanh nghiệp i trong năm
t. Bài nghiên cứu sẽ sử dụng hai cách đo lường hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp theo đề xuất
của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Trong mỗi
cách đo lường hiệu quả đầu tư, bài nghiên cứu còn phân chia đầu tư thành trường hợp đầu tư quá
mức và đầu tư dưới mức để xem xét một cách toàn diện tác động của chất lượng báo cáo tài chính
và kỳ hạn nợ đối với biến phụ thuộc hiệu quả đầu tư.
Theo đó, các tác giả trên đã sử dụng mô hình xác định hiệu quả đầu tư dựa trên kết quả của
Biddle cù ng cô ̣ng sự (2009) với việc sử du ̣ng mô hình ước lươ ̣ng đầu tư cho cơ hô ̣i phát triển. Cu ̣ thể, đầu tư hiệu quả sẽ tồ n ta ̣i nếu không có sai lê ̣ch so vớ i mứ c kỳ vọng dựa theo tốc độc
tăng trưởng của doanh thu bán hàng. Đố i vớ i doanh nghiê ̣p đầu tư trên mứ c tố i ưu (sai số dương
so với đầu tư dự kiến) là đầu tư quá mứ c, có nghĩa là công ty đang đầu tư ở mức cao hơn so với
kỳ vọng dựa theo tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng, ngươ ̣c la ̣i doanh nghiê ̣p đang đầu
tư ở mức thấp hơn so với kỳ vọng dựa theo tốc độ tăng trưởng của doanh thu bán hàng (sai số
âm so vớ i đầu tư dự kiến) là đầu tư dướ i mứ c.
Như vậy, biến hiệu quả đầu tư trong bài nghiên cứu này được xác định như sau:
Cách 1:
(3) Investmenti,t = β0 + β1SalesGrowthi,t-1+ ɛi,t
Trong đó :
Investmenti,t là tổng mức đầu tư của doanh nghiệp i trong năm t và được đo lường bằng
Tài sản cô
́ địnhi,t−1
chênh lệch tài sản cố định giữa hai năm liên tiếp trên tổng tài sản của năm trước, cụ thể như sau:
́ địnhi,t − Tài sản cô ̉ng tài sảni,t−1 Tô
Investmenti,t =
SalesGrowthi,t-1 là tỷ lệ thay đổi doanh thu của doanh nghiệp i từ năm t-2 đến năm t-1, được
xác định như sau:
Dôanh thui,t−1−Dôanh thui,t−2 Dôanh thui,t−2
SalesGrowthi,t-1 =
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy. Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch so vớ i mứ c đầu tư
dự kiến và chính vì vậy, nó được sử dụng để làm cơ sở đo lường hiệu quả đầu tư (biến INVEFF). Biến phu ̣ thuô ̣c này được xác định là giá tri ̣ tuyê ̣t đố i củ a phần dư từ mô hình (3) nhân vớ i -1.
23
INVEFFi,t = -| ɛ̂i,t |
Cách 2:
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn sử dụng một cách xác định khác về hiệu quả đầu tư theo đề
xuất của Chen và cộng sự (2011) cũng như bài nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz,
Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Các bài nghiên cứu này bổ sung thêm biến giả NEG và biến
tương tác giữa NEG và tăng trưởng doanh thu vào mô hình (3) để xem xét rằng liê ̣u mố i quan hê ̣
giữa đầu tư và tăng trưởng doanh thu khác nhau như thế nào trong trường hơ ̣p tăng trưở ng doanh
thu mang giá trị dương và giá trị âm. Phần dư của hồi quy cũng được sử dụng để tính toán biến
phụ thuộc hiệu quả đầu tư. Mô hình hồi quy bổ sung như sau:
Investmenti,t = β0 + β1NEGi,t-1 + β2SalesGrowthi,t-1+ β3NEGi,t-1 *SalesGrowthi,t-1 + ɛi,t (4)
Trong đó:
NEG i,t-1 là biến giả đại diện cho giá trị dương hoặc giá trị âm của tăng trưởng doanh thu của
doanh nghiệp i trong năm t-1. NEGi,t-1 = 1 khi SalesGrowth < 0, NEGi,t-1 = 0 khi SalesGrowth
>0.
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy. Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch so vớ i mứ c đầu tư
dự kiến và do vậy nó được làm cơ sở để đo lường hiệu quả đầu tư (biến INVEFF2). Biến phu ̣ thuô ̣c này được xác định là giá tri ̣ tuyê ̣t đố i củ a phần dư từ mô hình (4) nhân vớ i -1.
INVEFF2i,t = -| ɛ̂i,t |
FRQi,t là biến độc lập đại diện cho chất lươ ̣ng báo cáo tài chính doanh nghiê ̣p i năm t. Bài nghiên cứu sẽ xem xét tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư dựa trên
4 cách đo lường chất lượng báo cáo tài chính theo đề xuất M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan
Pedro Sánchez Ballesta (2013):
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đối với vấn đề này, tuy nhiên cách thức xác định
chất lượng báo cáo tài của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez
Ballesta (2013) đã nhận được nhiều sự ủng hộ của các nhà nghiên cứu khác bởi sự thuận tiện
trong việc thu thập dữ liệu và ý nghĩa thực tế của cách đo lường. Do đó, dựa trên đề xuất của hai
24
nhà nghiên cứu trên, bài nghiên cứu sử dụng các biến liên quan đến chất lượng báo cáo tài chính
như sau để xem xét mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính.
- Biến FRQ_MNST: Biến này được tạo lập dựa trên phương pháp lấy phần dư hồi quy giữa
doanh thu và khoản phải thu theo đề xuất của các tác giả McNichols và Stubben (2008). Theo
đó, chất lượng báo cáo tài chính được phản ánh thông qua sai lệch giữa doanh thu đạt được và
việc quản lý nguồn thu nhập (quản lý khoản phải thu), cụ thể như sau:
(5) ΔARi,t = β0 + β1ΔSalesi,t+ ɛi,t
Trong đó :
ΔARi,t là biến phụ thuộc, đại diện cho sự thay đổi khoản phải thu hàng năm của doanh nghiệp i
trong năm t và được xác định như sau:
Khôả n phả i thui,t− Khôả n phả i thui,t−1 Tổ ng tà i sả ni,t−1
ΔARi,t =
ΔSalesi,t là biến độc lập, đại diện cho sự thay đổi doanh thu hàng năm của doanh nghiệp i trong
năm t và được xác định như sau:
Dôanh thui,t−Dôanh thui,t−1 Tổ ng tà i sả ni,t−1
ΔSalesi,t =
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy (5). Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch giữa doanh thu
và việc quản lý nguồn thu nhập, chính vì vậy nó được làm cơ sở để đo lường chất lượng báo cáo
tài chính (biến FRQ_MNST). Biến độc lập FRQ_MNST được xác định là giá tri ̣ tuyê ̣t đố i củ a phần dư từ mô hình (5) nhân vớ i -1.
FRQ_MNST = -| ɛ̂i,t |
Như đã lý luận ở trên, biến FRQ_MNST được kỳ vọng sẽ có tương quan dương với hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp.
- Biến FRQ_KASZ: Được tính toán bằng cách sử dụng phần dư từ hồi quy mô hình theo đề
xuất của Kasznik (1999) giữa biến tổng chi phí phải trả và các biến thay đổi doanh thu, tài sản
cố định và thay đổi dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, cụ thể như sau:
TAi,t = β0 + β1ΔSalesi,t+ β2PPEi,t + β3 ΔCFOi,t + ɛi,t (6)
Trong đó :
25
TAi,t là biến phụ thuộc đại diện cho tổng chi phí phải trả của doanh nghiệp i trong năm t, được
tính toán bằng với tổng số giữa chênh lệch tài sản ngắn hạn thanh khoản thấp trừ với chênh lệch
nợ ngắn hạn cộng với chênh lệch nợ ngắn hạn ngân hàng và trừ với khấu hao, sau đó được điều
chỉnh với tổng tài sản theo công thức sau:
TAi,t = [(TSNH – Tiền)i,t –(TSNH – Tiền)i,t-1 –(Nợ ngắn ha ̣ni,t - Nợ ngắn ha ̣ni,t-1) +(Nợ ngắn ha ̣n
ngân hàngi,t – Nợ ngắn ha ̣n ngân hàngi, t-1)– Khấu haoi,t]/Tổng tài sảni,t-1.
ΔSalesi,t là biến độc lập, đại diện cho sự thay đổi doanh thu hàng năm của doanh nghiệp i trong
năm t và được xác định như sau:
Dôanh thui,t−Dôanh thui,t−1 Tổ ng tà i sả ni,t−1
ΔSalesi,t =
PPEi,t là biến độc lập, đại diện cho tài sản cố định, được xác định dựa trên nguyên giá của tài sản
́ địnhi,t
cố định và điều chỉnh bởi tổng tài sản theo công thức sau:
Nguyên giá tài sản cô Tổ ng tà i sả ni,t−1
PPEi,t =
ΔCFOi,t là biến độc lập, đai diện cho sự thay đổi dò ng tiền thuần từ hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh doanh
nghiê ̣p i trong năm t, được tính toán như sau:
CFOi,t−CFOi,t−1 Tổ ng tà i sả ni,t−1
ΔCFOi,t =
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy (6). Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch giữa các yếu tố
chính mà báo cáo tài chính thể hiện, do đó nó được làm cơ sở để đo lường chất lượng báo cáo tài
chính (biến FRQ_KASZ). Biến độc lập FRQ_KASZ được xác định là giá tri ̣ tuyê ̣t đố i củ a phần dư từ mô hình (6) nhân vớ i -1.
FRQ_KASZ = -| ɛ̂i,t |
Tương tự như biến FRQ_MNST, biến FRQ_KASZ được kỳ vọng sẽ có tương quan dương
với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
- Biến FRQ_DD: Phương pháp thứ ba được sử dụng để đo lường chất lượng báo cáo tài chính
là phương pháp sử du ̣ng mô hình do Dechow và Dichev (2002) phát triển:
(7) WCAi,t = β0 + β1CFOi,t-1+ β2CFOi,t + β3CFOi,t+1 + ɛi,t
Trong đó :
26
WCAi,t là biến phụ thuộc, đại diện cho vốn luân chuyển của doanh nghiệp i trong thời gian t và
được xác định là chênh lệch tài sản ngắn hạn không có tính thanh khoản trừ cho chênh lệch nợ
ngắn hạn cộng cho chênh lệch nợ ngắn hạn ngân hàng và sau đó được điều chỉnh với trung bình
tổng tài sản hai năm liên tiếp, như sau:
WCAi,t = (TSNH – Tiền)i,t – (TSNH – Tiền)i,t-1 – (Nợ ngắn ha ̣ni,t – Nợ ngắn ha ̣ni,t-1) + (Nợ ngắn
ha ̣n ngân hàngi,t – Nợ ngắn hạn ngân hàngi,t-1)]/ [( Tổng tài sảni,t + Tổng tài sảni,t-1)/2]
CFOi,t-1, CFOi,t, CFOi,t+1 là các biến độc lập, đại diện cho dòng tiền thuần từ hoa ̣t động kinh
doanh của doanh nghiệp i trong năm t – 1, năm t và năm t +1.
ɛ̂i,t là phần dư của mô hình hồi quy (7). Phần dư này phản ánh mức sai lê ̣ch giữa vốn luân
chuyển dự kiến và dòng tiền đạt được, do đó nó được làm cơ sở để đo lường chất lượng báo cáo
tài chính (biến FRQ_DD). Biến độc lập FRQ_DD được xác định là giá tri ̣ tuyê ̣t đố i củ a phần dư từ mô hình (7) nhân vớ i -1.
FRQ_DD = -| ɛ̂i,t |
Bài nghiên cứu cũng kỳ vọng biến FRQ_DD sẽ có tương quan dương với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp.
- Biến FRQ_TB: Biến độc lập cuối cùng được lựa chọn để đại diện cho chất lượng báo cáo tài
chính là biến FRQ_TB. Đây là biến độc lập được đưa vào theo đề xuất của các tác giả M
Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) và được tạo lập dựa trên
sự kết hợp của ba biến độc lập đại diện cho chất lượng báo cáo tài chính như đã trình bày ở
trên, theo đó:
𝑭𝑹𝑸_𝑴𝑵𝑺𝑻𝒊,𝒕+𝑭𝑹𝑸_𝑲𝑨𝑺𝒁𝒊,𝒕+𝑭𝑹𝑸_𝑫𝑫𝒊,𝒕 3
FRQ_TBi,t =
Tương tự ba biến đại diện cho chất lượng báo cáo tài chính nêu trên, bài nghiên cứu cũng kỳ
vọng biến FRQ_TB sẽ có tương quan dương với biến phụ thuộc hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp.
STDebti,t là biến độc lập đại diện cho tỷ lê ̣ nợ ngắn ha ̣n củ a doanh nghiê ̣p i năm t.
được đo lường theo đề xuất của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro
Sánchez Ballesta (2013), cụ thể như sau:
27
𝑁ơ ̣ 𝑛𝑔ắ 𝑛 ℎ𝑎̣ 𝑛 𝑖,𝑡 𝑇ổ 𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ơ ̣ 𝑖,𝑡
STDebti,t =
Nhiều nghiên cứu cho rằng việc sử dụng nợ ngắn hạn sẽ góp phần hạn chế hiện tượng đầu
tư quá mức và hiện tượng thiếu đầu tư, do đó góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư. Mặt khác, khi
sử dụng nợ ngắn hạn thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, do đó nâng cao được xếp
hạng tín dụng. Đồng thời, việc sử dụng nợ ngắn hạn còn góp phần giảm thiểu bất cân xứng thông
tin do kỳ hạn nợ dài hơn sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề thông tin bất cân xứng của doanh nghiệp.
Tổng hòa hai yếu tố trên sẽ góp phần làm giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó nâng cao hiệu quả đầu
tư của doanh nghiệp. Do đó, bài nghiên cứu này sẽ kì vọng biến kỳ hạn nợ (nợ ngắn hạn) sẽ có
tương quan dương với hiệu quả đầu tư.
Các biến kiểm soát có liên quan đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp:
- Quy mô doanh nghiệp (LnSalesi,t): Quy mô doanh nghiệp phản ánh độ lớn của doanh nghiệp,
được đo lường bằng logarit doanh thu của doanh nghiệp i trong năm t. Quy mô của doanh
nghiệp có thể có mối quan hệ âm hoặc quan hệ dương với hiệu quả đầu tư. Khi doanh nghiệp
có quy mô càng lớn, thì nguồn lực và tiềm năng để đầu tư các dự án tốt các lớn, do đó hiệu quả
đầu tư càng cao. Mặt khác, nếu không biết tận dụng lợi thế về quy mô, việc đầu tư có thể bị
dàn trải, đồng thời gia tăng thêm chi phí, từ đó làm giảm hiệu quả đầu tư. Vì vậy, bài nghiên
cứu kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều hoặc ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và hiệu quả
đầu tư.
- Độ tuổi của doanh nghiệp (LnAgei,t): Độ tuổi của doanh nghiệp i tại năm t được xác định
bằng hiệu số giữa năm t và năm thành lập doanh nghiệp i và được lấy logarit để giảm sự biến
động. Nhiều bài nghiên cứu cho rằng, các doanh nghiệp thành lập càng lâu thì kinh nghiệm
hoạt động, kinh doanh và đầu tư càng nhiều, do đó đầu tư càng hiệu quả hơn. Do đó, bài nghiên
cứu kỳ vọng độ tuổi của doanh nghiệp có mối quan hệ dương với hiệu quả đầu tư.
- Tài sản cố định hữu hình (Tangi,t): Biến này phản ánh tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản,
được xác định theo công thức:
Tà i sả n cô ́ đị nh hữu hình i,t Tổ ng tà i sả n i,t
Tangi,t =
28
Hiện nay, trong các nghiên cứu học thuật, mối quan hệ giữa tỷ lệ tài sản cố định hữu hình và
hiệu quả đầu tư vẫn chưa thực sự rõ ràng. Do đó bài nghiên cứu kỳ vọng dấu của mối quan hệ
này có thể là dương hoặc âm.
- Độ biến động dòng tiền (STDCFOi,t): Đo lường mức độ biến động dòng tiền của doanh
nghiệp, được xác định bằng độ lệch chuẩn dòng tiền của doanh nghiệp i từ năm t-2 đến năm t.
Biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan âm với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp bởi vì khi
dòng tiền càng biến động thì hiệu quả đầu tư càng thấp.
- Độ biến động doanh thu(STDSalesi,t): Đo lường mức độ biến động doanh thu của doanh
nghiệp, được xác định bằng độ lệch chuẩn doanh thu của doanh nghiệp i từ năm t-2 đến năm t.
Tương tự như STDCFO, biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan âm với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp bởi vì khi doanh thu càng biến động thì hiệu quả đầu tư càng thấp.
- Cơ hội tăng trưởng (Qtobini,t): Để đo lường cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp i trong năm
t, bài nghiên cứu sẽ sử dụng đại lượng Q-Tobin được các định theo công thức:
Giá trị thị trường của nợ + Gia ́ trị thị trườ ng vốn chủ sở hữu Gia ́ trị số sá ch củ a tà i sả n
QTobin =
Biến Qtobin được kỳ vọng sẽ có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả đầu tư, bởi vì khi công
ty có càng nhiều cơ hội tăng trưởng thì hiệu quả đầu tư càng cao.
- Sức khỏe tài chính (Zi,t): Đây là thước đo khả năng thanh toán tài chính của doanh nghiệp
được đề xuất bởi Altman’s Z-score (1968) và được xác định như sau:
Z = 0,012 * X1 + 0,014 * X2 + 0,033 * X3 + 0,006 * X4 + 0,999 * X5
Vô
̉n
Trong đó :
́n luân chuyê Tổ ng tà i sản
Lợ i nhua
̣n giữ lại
X1 =
Tổ ng tà i sản
Thu nha
́ và lãi vay
X2 =
̣p trướ c thuê Tổ ng tà i sản
̉ pha
̀n
X3 =
Giá Trị thị trườ ng của vô ̉ sách của tô
Giá trị sô
́n cô ̉ng nợ
X4 =
29
Dôanh thu Tổ ng tà i sản
X5 =
Giá trị Z càng cao, cho thấy khả năng thanh toán tài chính của doanh nghiệp càng lớn, góp
phần nâng cao hiệu quả đầu tư. Do đó, biến này được kỳ vọng sẽ có tương quan cùng chiều với
hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
- Biến giả thua lỗ (Lossi,t): Đo lường về việc doanh nghiệp báo lỗ và được xác định có giá trị
bằng 1 nếu thu nhập thuần từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp i trong năm t là âm và
ngược lại có giá trị bằng 0. Biến này được kỳ vọng sẽ có mối tương quan âm với hiệu quả đầu
tư.
- Tác động của dòng tiền (CFO_ATAi,t): Đo lường tác động của dòng tiền lên hiệu quả đầu tư,
Dòng tiền thua
̣ng kinh dôanh
được xác định dựa trên công thức:
̀n từ hôạt đô ̉ng tài sản bình quân
Tô
CFO_ATA =
Biến CFO_ATA được kỳ vọng sẽ có mối quan hệ dương đối với hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp.
- Chu kỳ kinh doanh (Opercyclei,t): Biến này đo lường độ dài chu kỳ kinh doanh của doanh
nghiệp và được kỳ vọng sẽ mang dấu âm hoặc dấu dương so với hiệu quả đầu tư. Chu kì kinh
Trung bình các khôản phải thu
Trung bình hà ng tồ n khô
doanh được xác định theo công thức sau:
Dôanh thu
Giá vô
́n hàng bán
Opercycle = x 360 + x 360
Kỳ vọng dấu của các biến nêu trên được trình bày chi tiết ở Phụ lục 1 trong phần Phụ lục của
bài nghiên cứu này.
3.2.2. Mô hình kiểm nghiệm mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư
ở các mức kỳ hạn nợ khác nhau
Sau khi kiểm đi ̣nh những tác đô ̣ng củ a chất lượng báo cáo tài chính và nơ ̣ ngắn ha ̣n đố i vớ i hiê ̣u quả đầu tư, bài nghiên cứu sẽ tiếp tục mở rô ̣ng phân tích để kiểm tra xem liệu rằng với các mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau thì tác động của các nhân tố trên đối với hiệu quả đầu tư
30
sẽ thay đổi như thế nào. Để thực hiê ̣n điều này, bài nghiên cứu sẽ đưa vào mô hình (1) thêm biến
tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và các biến giả kỳ ha ̣n nơ ̣, cụ thể như sau:
INVEFFi,t = β0+β1FRQi,t+β2STDebti,t + β3FRQi,t* DumSTDebti,t + β4LnSalesi,t +
β5LnAgei,t + β6Tangi,t +β7STDCFOi,t + β8STDSalesi,t + β9QTobini,t + β10Zi,t + β11Lossi,t +
β12CFO_ATAi,t + β13Opercyclei,t + ɛi,t (2)
Trong đó :
INVEFFi,t là biến phụ thuộc đại diện cho hiê ̣u quả đầu tư củ a doanh nghiê ̣p i trong năm t.
FRQi,t là biến độc lập đại diện cho chất lươ ̣ng báo cáo tài chính doanh nghiê ̣p i năm t. DumSTDebti,t là biến giả đại diện cho mức độ sử dụng nợ ngắn hạn. Dựa trên đề xuất của
các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013), bài nghiên cứu
so sánh mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của từng doanh nghiệp theo từng năm với trung vị hoặc tứ
phân vị thứ nhất hoặc tứ phân vị thứ ba của nợ ngắn hạn của toàn bộ mẫu nghiên cứu, bao gồm
DumSTDebt, DumDebt25 và DumDebt75. Theo đó:
DumSTDebt là biến giả kỳ hạn nợ trung vị với giá trị bằng 1 khi STDebti,t > trung vị của
STDebt và ngược lại DumSTDebt có giá trị bằng 0.
DumDebt25 là biến giả kỳ hạn nợ tứ phân vị thứ nhất với giá trị bằng 1 khi STDebti,t < tứ
phân vị thứ nhất của STDebt và ngược lại DumDebt25 có giá trị bằng 0.
DumDebt75 là biến giả kỳ hạn nợ tứ phân vị thứ ba với giá trị bằng 1 khi STDebti,t > tứ
phân vị thứ ba của STDebt và ngược lại DumDebt75 có giá trị bằng 0.
Các biến còn lại được đo lường tương tự như phương trình (1)
3.3. Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các quan điểm về mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối
với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, cũng như căn cứ vào kết quả các bài nghiên cứu thực
nghiệm trước đây, câu hỏi nghiên cứu, mô hình và kỳ vọng dấu của các biến, bài nghiên cứu này
đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:
Giả thuyết nghiên cứu 1: Chất lượng báo cáo tài chính có tác động dương đối với hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp (bao gồm đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức).
31
Giải thuyết nghiên cứu 2: Nợ ngắn hạn có tác động dương đối với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp (bao gồm đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức).
Giải thuyết nghiên cứu 3: Chất lượng báo cáo tài chính có tác động mạnh hơn đến hiệu quả
đầu tư đối với doanh nghiệp có mức độ sử dụng nợ ngắn hạn thấp hơn (bao gồm đầu tư quá mức
và đầu tư dưới mức).
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Pooled- OLS, Fixed Effect và Random Effect
để ước lượng mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đối với hiệu quả đầu
tư của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp. Hồ Chí Minh
(HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) ở Việt Nam từ năm 2009-2014. Bài nghiên
cứu sẽ sử dụng kiểm định F-Test và kiểm định Hausman để xem xét trong ba phương pháp
Pooled-OLS, Fixed Effect và Random Effect thì phương pháp nào cho kết quả tốt hơn, từ đó
kiểm tra các khuyết tật của mô hình lựa chọn và tìm hướng khắc phục mô hình để đưa ra kết quả
của bài nghiên cứu. Cụ thể việc nghiên cứu được triển khai như sau:
Đầu tiên, bài nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả một số thông số liên quan đến các biến
trong mô hình, đồng thời phân tích ma trận tự tương quan để xem xét sơ bộ về chiều hướng tác
động của các biến.
Tiếp sau đó, bài nghiên cứu thực hiện kiểm định đa cộng tuyến thông qua hệ số phóng đại
phương sai VIF.
Dữ liệu nghiên cứu gồm các quan sát ở các doanh nghiệp khác nhau, trong khoảng thời gian
6 năm (2009-2014) nên có thể dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến và phương sai thay đổi. Để tăng
độ tin cậy của ước lượng, bài nghiên cứu sử dụng ma trận hệ số tương quan và nhân tử phóng
đại VIF để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả kiểm định nếu
hệ số ma trận tương quan quan bé hơn 0,8 hoặc hệ số phóng đại phương sai của các biến giải
thích đều bé hơn 10, có nghĩa tồn tại mối quan hệ tuyến tính rất nhỏ giữa các biến giải thích trong
mô hình (hiện tượng đa cộng tuyến không hoàn hảo, có thể chấp nhận trong mô hình). Ngược lại
mô hình sẽ bị đa cộng tuyến.
32
Tiếp theo, bài nghiên cứu thực hiện chạy các mô hình hồi quy theo trình tự như sau: Mô hình
Pooled-OLS; Mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) nhằm
ước lượng tác động của các biến độc lập và biến kiểm soát đến hiệu quả đầu tư ở các doanh
nghiệp.
Kiểm định, lựa chọn mô hình phù hợp:
Để lựa chọn mô hình nào phù hợp và hiệu quả nhất trong ba mô hình Pooled-OLS, FEM hay
REM nêu trên, bài nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm định F-test, kiểm định Breusch-Pagan Lagrange
Multiplier và kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình. Sau khi lựa chọn được mô hình phù hợp,
bài nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm tra liệu rằng mô hình có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi
hay không, từ đó thực hiện chạy hồi quy bổ sung robust để bảo đảm khắc phục lỗi và tính vững
của mô hình.
Hồi quy Robust cho mô hình
Trong trường hợp xuất hiện khuyết tật như phương sai thay đổi, bài nghiên cứu sẽ tiến hành
hồi quy lại mô hình được chọn bổ sung thêm ma trận trọng số của White theo đề xuất của Eicker–
Huber–White (1967). Việc hồi quy này sẽ bảo đảm độ vững của mô hình được chọn.
33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phần tiếp theo sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu. Đầu tiên bài nghiên cứu sẽ thảo luận về
kết quả thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan nhằm cung cấp một cái nhìn chung nhất về
kết quả nghiên cứu. Tiếp theo là phần kết quả hồi quy các mô hình đã trình bày cho các doanh
nghiệp ở Việt Nam.
4.1. Thống kê mô tả
Bảng 1 trình bày kết quả thống kê mô tả các biến được đưa vào mô hình hồi quy. Hiệu quả
đầu tư trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014 là -0,0677. Trong
khi đó, đầu tư quá mức có giá tri ̣ trung bình 0,1169 và trườ ng hợp đầu tư dướ i mứ c có giá tri ̣ trung bình -0,0476. Các giá trị này tương thích vớ i các nghiên cứ u củ a Chen và cộng sự (2011) và M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Đi sâu hơn, bảng 1
cho thấy có khoảng 28,95% doanh nghiê ̣p thuộc nhóm đầu tư quá mứ c, như vậy có thể kết luận rằng đa số các doanh nghiê ̣p rơi vào tình trạng đầu tư dướ i mức. Kết quả này thố ng nhất vớ i kết quả bài nghiên cứ u củ a Chen và cộng sự (2011) cũng như nghiên cứu của Trần Thị Thùy Linh
và Hoàng Mai Hạnh (2015). Kết quả này cũng xác nhâ ̣n viê ̣c đa số các doanh nghiê ̣p Viê ̣t Nam và thị trườ ng mới nổ i đều gặp ha ̣n chế trong vấn đề huy động vố n cho các dự án, từ đó làm giảm
đi hiệu quả của việc đầu tư.
Bảng 1 còn mô tả một cách tổng quát về các biến đo lường chất lượng báo cáo tài chính
(FRQ_MNST, FRQ_KASZ, FRQ_DD và FRQ_TB). Theo đó các biến này có giá trị trung bình
dao động từ -0,1664 đến -0,0858, trong đó giá trị trung bình thấp nhất được tính theo cách đo
lường biến FRQ_KASZ và cao nhất được tính theo cách đo lường FRQ_MNST. Chất lượng báo
cáo tài chính mặc dù được đo lường theo những cách khác nhau nhưng có độ sai lệch không quá
lớn. So sánh với kết quả của nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro
Sánchez Ballesta (2013) đối với các doanh nghiệp Tây Ban Nha (FRQ dao động từ -0.05 đến
0.088) cho thấy chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam thấp hơn các doanh
nghiệp ở Tây Ban Nha khá nhiều.
Bên cạnh đó, bảng 1 còn cho thấy biến nợ ngắn hạn có giá trị trung bình là 0,8287, trong đó
có các doanh nghiệp không sử dụng nợ ngắn hạn và có một số doanh nghiệp lựa chọn sử dụng
34
toàn bộ nợ ngắn hạn trong cơ cấu nợ của mình. Nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam có tỷ lệ
nợ ngắn hạn trên tổng nợ cao, chiếm gần 83%, cho thấy nhu cầu vay nợ để bổ sung vốn lưu động
và đầu tư các dự án nhỏ cũng như các dự án ngắn hạn của các doanh nghiệp Việt Nam là tương
đối lớn.
Mặt khác, dựa trên bảng 1 có thể thấy tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản của các doanh
nghiệp Việt Nam có giá trị trung bình là 20% với giá trị cao nhất là 97,6%. Tỷ lệ này tương đối
thấp, đồng nghĩa với việc tỷ trọng tài sản ngắn hạn và các tài sản dài hạn khác chiếm một tỷ lệ
tương đối lớn trong cơ cấu tài sản của các công ty. Bảng 1 cũng cho thấy độ tuổi trung bình của
các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu là 23 năm (logarit độ tuổi trung bình là 3), chứng tỏ các
doanh nghiệp được nghiên cứu đều đã bước vào giai đoạn ổn định trong chu kỳ kinh doanh của
mình.
Ngoài ra, từ bảng 1 có thể kết luận sơ bộ về sức khỏe tài chính của các doanh nghiệp Việt
Nam thông qua hệ số Z. Theo nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I. Altman - giảng viên trường đại
học New York, hệ số Z nhỏ hơn 1,8 cho thấy các doanh nghiệp có sức khỏe tài chính yếu. Như
vậy với kết quả trung bình của hệ số Z từ bảng 1 là 1,47, có thể thấy tình hình tài chính của các
doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu không tốt, tuy nhiên đây chỉ là giá trị trung bình giữa giá trị
cao nhất là 9,57 và giá trị thấp nhất là 0,00445, do đó không thể phản ánh được chính xác sức
khỏe tài chính của toàn bộ các công ty trong mẫu nói chung và từng doanh nghiệp cụ thể nói
riêng. Bảng 1 cũng cho thấy chu kỳ kinh doanh trung bình của các doanh nghiệp Việt Nam là
267 ngày và giá trị cơ hội tăng trưởng trung bình là 0,8567.
Dựa trên kết quả thống kê của biến Loss, bài nghiên cứu mở rộng phần thống kê về biến này
để xem xét tỷ suất thua lỗ của các công ty trong mẫu nghiên cứu. Theo đó có 8,11% các doanh
nghiệp báo lỗ và 91,89% công ty có lợi nhuận dương. Như vậy, trong giai đoạn 2009-2014, đa
số các doanh nghiệp có kết quả kinh doanh khả quan, phù hợp với tình hình chung của nền kinh
tế Việt Nam với việc phục hồi và đi vào ổn định sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm
2007-2008.
35
Bảng 4. 1. Kết quả thống kê mô tả
Variable
Obs
Mean
Std.Dev.
Min
Max
-0.0676703
0.1086706
-1.257566
-0.0001278
INVEFF
760
0.116885
0.1748473
0.0001278
1.257566
OI
220
UI
540
-0.0476198
5.31E-02
-0.6463072
-0.0004876
FRQ_MNST
912
-0.0885764
0.1517071
-3.175902
-9.93E-06
FRQ_KASZ
912
-0.1664266
0.1572316
-1.545071
-0.0000292
FRQ_DD
608
-0.1046702
0.0959137
-0.7058341
-4.90E-06
FRQ_TB
608
-0.1133739
0.0968392
-1.233796
-0.0100119
STDebt
912
0.8287259
0.2225627
0.0286763
1
LnSales
912
13.32425
1.713117
5.384495
18.11125
LnAge
912
2.958914
0.5831414
1.098612
4.75359
Tang
912
0.1993741
0.1760392
3.10E-07
0.9764187
STDCFO
912
79633.95
2.55E+05
58.10622
3639640
STDSales
912
4.21E+05
1111805
451.4868
1.80E+07
Qtobin
912
0.8567582
0.3737458
1.23E-06
4.207887
Z
912
1.473098
9.57268
1.290781
0.0044528
Loss
912
0.0811404
0.2732004
0
1
CFO_ATA
912
0.0877652
0.1045649
-0.3470436
0.6430633
Opercycle
912
266.852
2158.669
-2.430565
64190.06
Ma trâ ̣n tự tương quan:
Tiếp theo, bảng 4.2 trình bày về ma trận tự tương quan, cho thấy chiều hướng tác động giữa
các biến nghiên cứu. Đầu tiên, có thể thấy rằ ng cả bố n đa ̣i diê ̣n của biến chất lượng báo cáo tài
chính được đo lường theo các phương pháp khác nhau đều có tương quan dương và có ý nghĩa thố ng kê (biến FRQ_DD không có ý nghĩa thống kê) vớ i hiê ̣u quả đầu tư, nghĩa là hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp sẽ di chuyển cùng chiều với chất lượng báo cáo tài chính của công ty đó.
Đồ ng thờ i, các biến chất lượng báo cáo tài chính này cũng có mố i tương quan dương có ý nghĩa
thống kê với nhau, trong đó biến FRQ_DD và FRQ_KASZ có hệ số tương quan tương đối cao
(0,64), cho thấy mối tương đồng giữa hai phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính
này. Đặc biệt, biến FRQ_TB có hệ số tương quan cao với cả ba phương pháp đo lường chất lượng
báo cáo tài chính còn lại (trên 0,7), điều này là hoàn toàn hợp lý vì FRQ_TB là sự kết hợp của
ba phương pháp đo lường còn lại. Kết quả này cũng tương đồ ng vớ i kết quả của bài nghiên cứ u
36
Bảng 4. 2. Ma trận tự tương quan Pearson
INVEFF
FRQ_MNST
FRQ_KASZ
FRQ_DD
FRQ_TB
STDebt
LnSales
LnAge
Tang
STDCFO
STDSales
Qtobin
Z
Loss
Opercycle
CFO_ ATA
1
INVEFF
0.1381***
1
FRQ_MNST
0.1286***
0.171***
1
FRQ_KASZ
0.0337
0.1651***
0.6402***
1
FRQ_DD
0.1836***
0.7008***
0.7588***
0.7245***
1
FRQ_TB
0.1816***
-0.06*
0.0577*
-0.033
0.0136
1
STDebt
0.0842**
0.0104
-0.0233
0.0106
0.0183
-0.102***
1
LnSales
0.0152
0.0858***
0.0886***
0.0243
0.057
0.0732**
0.0394
1
LnAge
-0.2624***
0.139***
-0.0506
0.1637***
0.0697*
-0.3736***
-0.0265
0.0913***
1
Tang
0.0179
0.0234
0.0062
0.0773*
0.0506
-0.1705***
0.427***
0.031
0.0486
1
STDCFO
-0.0024
0.0146
-0.0043
0.0892**
0.0544
-0.1015***
0.5377***
-0.0325
0.0484
0.625***
1
STDSales
-0.0839**
0.0161
-0.0387
-0.0363
-0.0285
-0.1264***
0.2403***
0.0991***
0.041
0.3433***
0.1856***
1
Qtobin
0.0947***
-0.0508
0.0007
-0.0369
-0.0268
0.2488***
0.2804***
0.0249
-0.1151***
-0.0754**
0.0326
-0.0055
1
Z
-0.0686*
0.0031
0.0456
0.0123
0.0289
-0.0148
-0.1137***
-0.0618*
-0.014
-0.0276
-0.0448
-0.0241
-0.0952***
1
Loss
0.0627*
0.1688***
-0.0235
0.0487
0.0942**
0.0284
0.0882***
0.1742***
0.0261
0.2217***
0.109***
0.2512***
0.0453
-0.3588***
1
CFO_ATA
0.008
-0.0017
0.0213
-0.0016
0.0169
0.0194
-0.1565***
0.0146
-0.0509
-0.0125
-0.0044
-0.0712**
-0.0828**
0.0252
-0.0497
1
Opercycle
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
37
của M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Tương tự, biến
kỳ hạn nợ ngắn hạn cũng có tương quan dương và có ý nghĩa thố ng kê vớ i hiê ̣u quả đầu tư, cho thấy hiê ̣u quả đầu tư di chuyển cùng chiều với chiều hướng tác động của mức độ nợ
ngắn hạn trong cơ cấu nợ. Ngược lại với kết quả hệ số tương quan của chất lượng báo cáo
tài chính đối với hiệu quả đầu tư, mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn và chất lượng báo cáo
tài chính thì khác nhau tùy thuộc theo phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính.
Đối với các biến độc lập còn lại, hệ số tương quan giữa các biến này với nhau và giữa
các biến này với biến phụ thuộc tương đối thấp và có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên biến
logarit của doanh thu và độ lệch chuẩn của doanh thu có hệ số tương quan khá cao, do đó
phần tiếp theo của bài nghiên cứu này sẽ thực hiện kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến để
bảo đảm số liệu đưa vào mô hình là chính xác và không xảy ra các khuyết tật làm giảm độ
tin cậy của mô hình.
4.2. Kiểm định đa cộng tuyến
Bài nghiên cứu hồi quy biến phụ thuộc với lần lượt các biến chất lượng báo cáo tài
chính cùng với biến kỳ hạn nợ và các biến kiểm soát như đã trình bày trong phần 3 của bài
nghiên cứu này. Sau đó, bài nghiên cứu sẽ thực hiện tính toán hệ số phóng đại phương sai
VIF để kiểm định về khuyết tật đa cộng tuyến của mô hình. Kết quả của kiểm định được
trình bày tại bảng 4.3.
Từ bảng 4.3 có thể thấy tất cả các mô hình đều có hệ số VIF lớn hơn 10, do đó đều mắc
phải hiện tượng đa cộng tuyến, trong đó biến logarit doanh thu (LnSales) và biến logarit độ
tuổi của doanh nghiệp (LnAge) có hệ số VIF riêng lẻ rất cao. Từ phần mô tả biến, dễ dàng
nhận thấy doanh thu được sử dụng để tính toán hiệu quả đầu tư, cũng như được làm căn cứ
để tính toán biến LnSales và STDSales. Vì vậy khả năng xảy ra đa cộng tuyện do biến
doanh thu rất cao. Tương tự, biến độ tuổi của doanh nghiệp được tính toán dựa trên năm
doanh nghiệp đó thành lập trên cơ sở so sánh với năm nghiên cứu, do đó giữa các biến này
của cùng một công ty từ năm 2009-2014 có khả năng sẽ xảy ra đa cộng tuyến.
38
Ngoài ra khả năng gây ra đa cộng tuyến của biến độ tuổi doanh nghiệp còn do nó có
thể được phản ánh một phần trong biến quy mô của doanh nghiệp (LnSales). Từ những
phân tích trên, để bảo đảm không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, bài nghiên cứu sẽ loại
bỏ hai biến kiểm soát LnSales và LnAge. Kết quả hồi quy các mô hình sau khi loại bỏ hai
biến này cho thấy mô hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến với các hệ số VIF đều
nhỏ hơn 10 (Bảng 4.3). Như vậy, phần tiếp theo bài nghiên cứu sẽ tiến hành hồi quy các
biến đã trình bày ở phần 3 (trừ biến LnSales và LnAge) theo các phương pháp Pooled-OLS,
Fixed Effect và Random Effect.
Bảng 4. 3. Kiểm định đa cộng tuyến
VIF Ban Loại bỏ
đầu biến
25,24 6,53 FRQ_MNST
25,32 6,67 FRQ_KASZ
27,21 7,57 FRQ_DD
27,37 7,59 FRQ_TB
4.3. Kết quả hồi quy
Bài nghiên cứu tiến hành hồi quy biến phụ thuộc với từng biến chất lượng báo cáo tài
chính (FRQ_MNST, FRQ_KASZ, FRQ_DD và FRQ_TB) và biến kỳ hạn nợ cùng với các
biến kiểm soát theo mô hình mà M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez
Ballesta (2013) đề xuất theo phương pháp Pooled-OLS, Fixed Effect và Random Effect.
Sau đó, bài nghiên cứu sử dụng kiểm định F, kiểm định Breusch-Pagan Lagrange Multiplier
và kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp. Các kiểm định này đều cho cùng một
kết quả là sử dụng phương pháp Fixed Effect sẽ cho kết quả hồi quy tốt hơn. Sau đó, bài
nghiên cứu lại tiếp tục sử dụng kiểm định phương sai thay đổi để bảo đảm sự vững chắc
39
của mô hình, tuy nhiên kết quả cho thấy có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi. Do đó,
bài nghiên cứu tiến hành hồi quy lại các mô hình bằng cách bổ sung thêm ma trận trọng số
của White theo đề xuất của Eicker–Huber–White (1967) (Robust) để bảo đảm độ tin cậy
của mô hình. Phần này sẽ trình bày kết quả hồi quy theo cả 4 phương pháp Pooled-OLS,
Fixed Effect, Random Effect và Fixed Effect Robust nhưng phần diễn giải kết quả sẽ chỉ
dựa trên kết quả của phương pháp Fixed Effect Robust.
4.3.1. Ảnh hưở ng của chất lượng bá o cá o tà i chính và nợ ngắ n hạn đến hiê ̣u quả đầu tư
của các doanh nghiệp Việt Nam
INVEFFi,t = β0 + β1FRQi,t + β2STDebti,t + β3Tangi,t +β4STDCFOi,t + β5STDSalesi,t +
β6QTobini,t + β7Zi,t + β8Lossi,t + β9CFO_ATAi,t + β10Opercyclei,t + ɛi,t (8)
Để đo lường ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đến hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp, bài nghiên cứu sử dụng mô hình (8). Kết quả hồi quy mô hình
này được trình bày ở bảng 4.4 với các biến FRQ khác nhau. Cột đầu tiên trình bày kết quả sử dụng FRQ_MNST đo bởi mô hình củ a McNichols và Stubben (2008); cô ̣t thứ hai trình bày kết quả sử du ̣ng FRQ_KASZ đo bằng mô hình phát triển bở i Kasznik (1999), cô ̣t thứ ba sử du ̣ng FRQ_DD đươ ̣c xác đi ̣nh bởi mô hình củ a Dechow và Dichev (2002) và cuố i
cù ng, cô ̣t thứ tư là kết quả sử dụng FRQ_TB là giá trị được tính toán trên cơ sở kết hợp các
biến nêu trên.
Theo bảng 4.4, đối với biến FRQ_MNST, cả 4 phương pháp Pooled-OLS, Fixed Effect,
Random Effect và Fixed Effect Robust đều cho thấy hệ số dương giữa biến này với biến
hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, tuy nhiên hệ số này hồi quy theo Fixed Effect Robust lại
không có ý nghĩa thống kê. Tương tự, hệ số hồi quy của biến kỳ hạn nợ với biến phụ thuộc
là dương và đều có ý nghĩa thống kê ở mức 5% theo Pooled-OLS và 1% với các phương
pháp còn lại. Theo đó, một sự gia tăng 1 đơn vị trong tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ sẽ
mang đến thêm 0,1911 đơn vị cho hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Đáng chú ý là sự tác
động của tỷ lệ nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư lại cao hơn (gấp 2 lần) tác động của biến
chất lượng báo cáo tài chính. Các biến còn lại có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc là
biến tỷ lệ tài sản hữu hình với giá trị là -0,5254 và biến hệ số Z với giá trị 0,0249. Như vậy,
40
tỷ lệ tài sản cố định càng cao thì hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp càng thấp do hiệu quả
sử dụng tài sản của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Bên cạnh đó, khi hệ số biểu thị
sức khỏe tài chính của doanh nghiệp càng cao thì càng bảo đảm cho doanh nghiệp đầu tư
tốt hơn.
Tiếp theo, đối với biến FRQ_KASZ, cả 4 phương pháp hồi quy đều cho cùng kết quả
là biến chất lượng báo cáo tài chính được đo lường theo phương pháp của Kasznik (1999)
đều có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp. Theo đó, một sự gia tăng 1 % trong chất lượng báo cáo tài chính sẽ dẫn đến
một sự gia tăng 0,08999% trong hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Tương tự như kết quả
của phương pháp FRQ_MNST, hệ số của biến kỳ hạn nợ ngắn hạn là 0,1982 và có ý nghĩa
thống kế ở mức 1%. Các biến Tang và hệ số Z cũng có ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức 1%
và 5% với hệ số lần lượt là -0,5131 và 0,018. Như vậy, hệ số của biến Tang trong mô hình
hồi quy với FRQ_KASZ lớn hơn theo phương pháp FRQ_MNST nhưng hệ số của biến hệ
số Z lại thấp hơn. Các biến còn lại đều không có ý nghĩa thống kê.
Đối với biến FRQ_DD, phương pháp hồi quy Pooled-OLS và Random effect cho hệ số
dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 10%, tuy nhiên phương pháp Fixed Effect và Fixed
Effect Robust lại không có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên hệ số của biến này có giá trị dương
(0,0811) phù hợp với kỳ vọng dấu nhưng có giá trị nhỏ hơn giá trị của biến chất lượng báo
cáo tài chính được đo lường theo hai phương pháp đã nêu. Tương đồng với kết quả của các
mô hình khác, biến STDEBT có hệ số là 0,1697 và có ý nghĩa ở mức 1%. Giá trị này cũng
thấp hơn giá trị của chính biến này trong mô hình sử dụng các biến FRQ_MNST và
FRQ_KASZ. Điểm đặc biệt, ở mô hình sử dụng biến FRQ_DD, các biến Tang, STDCFO,
STDSales, hệ số Z và chu kỳ kinh doanh đều có ý nghĩa thống kê. Biến Tang có giá trị nhỏ
hơn giá trị của hai mô hình trước và biến hệ số Z có giá trị lớn hơn giá trị của Z trong hai
mô hình trước với cùng mức ý nghĩa 1%. Biến STDCFO và STDSales đều có hệ số dương
với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp, cho thấy khi sự biến động dòng tiền và doanh thu
càng lớn thì hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp càng cao, tuy nhiên hệ số của các biến này
rất nhỏ, gần như bằng 0 nên có thể bỏ qua tác động của chúng đối với hiệu quả đầu tư.
41
Bảng 4.4. Hồi quy hiệu quả đầu tư với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn
FRQ_MNST
FRQ_KASZ
FRQ_DD
FRQ_TB
Fixed Effect Robust
INVEFF
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
0.1206***
0.1076***
0.1196***
0.1076
0.0794***
0.0899***
0.0814***
0.0899***
0.0787*
0.0811
0.0810*
0.0811
0.2257***
0.2135***
0.2276***
0.2135**
FRQ
0.0462**
0.1911***
0.0562***
0.1911***
0.0414**
0.1982***
0.0526**
0.1982***
0.0322
0.1697***
0.0390*
0.1697***
0.0296
0.1573***
0.0355
0.1573***
STDEBT
-0.1558***
-0.5254***
-0.1712***
-0.5254***
-0.1422***
-0.5131***
-0.1576***
-0.5131***
-0.1371***
-0.5657***
-0.1484***
-0.5657***
-0.1398***
-0.5676***
-0.1513***
-0.5676***
TANG
0.0000***
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000*
0.0000
0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000**
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000**
STDSALES
-0.0319***
-0.0202
-0.0319***
-0.0202
-0.0304***
-0.0190
-0.0305***
-0.0190
-0.0139
-0.0204
-0.0161
-0.0204
-0.0106
-0.0187
-0.0133
-0.0187
QTOBIN
0.0046
0.0249**
0.0048
0.0249***
0.0041
0.0180*
0.0042
0.0180**
0.0040
0.0324**
0.0044
0.0324***
0.0041
0.0300**
0.0045
0.0300**
Z
-0.0232
0.0142
-0.0167
0.0142
-0.0208
0.0227
-0.0128
0.0227
-0.0270
0.0284
-0.0178
0.0284
-0.0315*
0.0205
-0.0231
0.0205
LOSS
0.0303
-0.0396
0.0353
-0.0396
0.0637
-0.0089
0.0684
-0.0089
0.0315
-0.0704
0.0365
-0.0704
0.0086
-0.0696
0.0154
-0.0696
CFO_ATA
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
OPERCYCLE
0
0
0
0
P-Value F
0
0
0
0
P-Value Hausman
0
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
42
Chu kỳ kinh doanh có hệ số âm với giá trị tương đối nhỏ đối với hiệu quả đầu tư, cho
thấy mối quan hệ ngược chiều không đáng kể giữa chu kỳ kinh doanh và hiệu quả đầu tư
của doanh nghiệp ở mức ý nghĩa 10%. Các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê.
Cuối cùng, biến chất lượng báo cáo tài chính tổng hợp FRQ_TB cho thấy một mối quan
hệ dương giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư ở mức ý nghĩa 1%. Theo đó,
một sự gia tăng 1% trong chất lượng báo cáo tài chính sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp 0,2135%. Giá trị này cao hơn giá trị của biến chất lượng báo cáo tài chính
được đo lường theo ba phương pháp nêu trên. Tương tự, biến nợ ngắn hạn cũng có tác động
dương ở mức ý nghĩa 1% đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp và mức độ tác động
của nó (0,1573) thấp hơn mức độ tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu
quả đầu tư. Các biến tỷ lệ tài sản cố định, hệ số Z, độ biến động dòng tiền, độ biến động
doanh thu và đều có ý nghĩa thống kê. Theo đó, hệ số của biến Tang trong mô hình của
FRQ_TB có giá trị thấp nhất (-0,5676) trong các giá trị Tang và hệ số của biến Z có giá trị
cao nhất (0,3) khi so sánh với các giá trị Z trong mô hình khác. Tương tự như mô hình của
FRQ_DD, hệ số của biến STDCFO và STDSales trong mô hình này đều là dương và có giá
trị rất nhỏ ở mức ý nghĩa 5%. Các biến còn lại không có ý nghĩa thống kê.
Tóm lại, cả bốn phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính đều thống nhất các
kết quả với nhau trong việc hồi quy hiệu quả đầu tư cùng với biến kỳ hạn nợ ngắn hạn và
các biến kiểm soát khác. Theo đó, khi chất lượng báo cáo tài chính tăng lên, các doanh
nghiệp sẽ có cơ sở đánh giá tình hình kinh doanh, sức khỏe tài chính, mức độ tín nhiệm, dự
phóng dòng tiền dự án và các rủi ro của doanh nghiệp chính xác và kịp thời hơn, từ đó
hoạch định dự án tốt hơn và mang lại hiệu quả đầu tư cao hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra
báo cáo tài chính có chất lượng tốt sẽ hạn chế được tình trạng bất cân xứng thông tin và là
công cụ hữu hiệu giúp các cổ đông và chủ nợ tăng cường kiểm soát việc quản lý của ban
điều hành doanh nghiệp, từ đó hạn chế được các chi phí đại diện. Bên cạnh đó, chất lượng
báo cáo tài chính tốt sẽ là phương tiện tốt nhất, trực quan nhất, đơn giản nhất và mức độ
phổ cập cao nhất trong việc thu hút các nhà đầu tư bên ngoài muốn đầu tư vào công ty khi
doanh nghiệp cần huy động vốn cho các dự án sắp tới. Theo những phân tích trên và kết
43
quả hồi quy có thể kết luận rằng chất lượng báo cáo tài chính sẽ góp phần làm tăng hiệu
quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam.
Tương tự với biến chất lượng báo cáo tài chính, kỳ hạn nợ ngắn hạn cũng góp phần làm
tăng hiệu quả đầu tư. Khi các doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn, khả năng chi trả
vốn và lãi vay của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn, doanh nghiệp không phải chịu sức ép quá
lớn từ việc trả nợ (do lãi suất thấp hơn) nhưng vẫn tận dụng đươc lá chắn thuế của việc vay
nợ. Mặt khác, khi sử dụng nợ ngắn hạn thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, do
đó nâng cao được xếp hạng tín dụng. Đồng thời, việc sử dụng nợ ngắn hạn còn góp phần
giảm thiểu bất cân xứng thông tin do kỳ hạn nợ dài hơn sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề thông
tin bất cân xứng của doanh nghiệp. Tổng hòa các yếu tố trên, sử dụng nhiều nợ ngắn hạn
sẽ góp phần làm giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp.
Ngoài ra, kết quả hồi quy còn cho thấy các hiệu quả sử dụng tài sản cố định của các
doanh nghiệp Việt Nam còn thấp, thể hiện qua việc khi tỷ lệ tài sản cố định trong cơ cấu
tổng tài sản tăng lên thì hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam giảm xuống. Ngược
lại, khi hệ số Z biểu thị cho sức khỏe tài chính của doanh nghiệp càng cao, thì khả năng đáp
ứng các yêu cầu về tài chính của doanh nghiệp cũng như cơ chế phòng ngừa rủi ro của công
ty càng tốt, từ đó giúp nâng cao hiệu quả đầu tư. Những biến động về dòng tiền và doanh
thu, cũng như độ dài của chu kỳ kinh doanh mặc dù có ý nghĩa thống kê nhưng mức độ tác
động của chúng đối với hiệu quả đầu tư rất nhỏ và dường như không đáng kể. Các kết quả
nêu trên đều tương đối tương đồng với kết quả của bài nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas
Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Phần tiếp theo sẽ xem xét mối quan hệ
giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với trường hợp đầu tư quá mức và
đầu tư dưới mức.
4.3.2. Ảnh hưở ng của chất lượng bá o cá o tà i chính và nợ ngắ n hạn đến việc đầu tư
quá mức và đầu tư dưới mức của các doanh nghiệp Việt Nam
Để xem xét vai trò của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiện tượng
đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, bài nghiên cứu tiếp tục sử dụng mô hình (8) nhưng
thay thế biến phụ thuộc lần lượt bằng biến đầu tư quá mức OI (OI = INVEFF khi ɛ̂i,t của
44
hồi quy (3) > 0) và biến đầu tư dưới mức UI (UI =INVEFF khi ɛ̂i,t của hồi quy (3) < 0). Bài
nghiên cứu sử dụng giá trị OI có giá trị dương để biểu thị đúng bản chất của biến này cũng
như tạo sự thuận lợi trong việc đọc kết quả nghiên cứu. Các biến FRQ_MNST,
FRQ_KASZ, KRQ_DD và FRQ_TB cũng lần lượt được đưa vào mô hình theo các phương
pháp Pooled-OLS, Fixed Effect, Random Effect và Fixed Effect Robust tương tự như mục
4.3.1 nêu trên. Kết quả của các hồi quy được trình bày tại bảng 4.5 và 4.6.
Bảng 4.5 trình bày kết quả hồi quy hiện tượng đầu tư quá mức với các biến có liên
quan. Đối với biến FRQ_MNST, hệ số hồi quy có giá trị - 0,4177 và có ý nghĩa ở mức 1%,
cho thấy một sự gia tăng trong chất lượng báo cáo tài chính sẽ góp phần làm giảm hiện
tượng đầu tư quá mức 0,4177 đơn vị. Biến kỳ hạn nợ ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê
đối với biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy với biến FRQ_MNST. Các biến Tang, hệ số
Z, tác động của dòng tiền thuần tự hoạt động kinh doanh CFO_ATA và chu kỳ kinh doanh
đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến việc đầu tư quá mức trong mô hình này. Theo đó,
nếu gia tăng sức khỏe tài chính của doanh nghiệp (được biểu thị qua hệ số Z), tăng chu kỳ
kinh doanh, giảm tỷ lệ tài sản cố định trong cơ cấu tài sản và giảm tỷ lệ dòng tiền thuần từ
hoạt động kinh doanh trên tổng tài sản thì sẽ góp phần làm giảm việc đầu tư quá mức.
Tương tự, hệ số của biến FRQ_KASZ là -0,2693 có ý nghĩa ở mức 1% trong mô hình hồi
quy với FRQ_KASZ. Giá trị tuyệt đối của hệ số này thấp hơn giá trị tuyệt đối của hệ số
FRQ_MNST. Bên cạnh đó, biến STDebt cũng không có ảnh hưởng đến đầu tư quá mức khi
hồi quy với FRQ_KASZ, nhưng các biến Tang, hệ số Z và CFO_ATA đều cho thấy tác
động đến hiện tượng đầu tư quá mức với cùng chiều hướng và mức ý nghĩa thống kê tương
tự như mô hình hồi quy với FRQ_MNST. Đối với biến FRQ_DD, cả hệ số của chính nó và
hệ số của kỳ hạn nợ ngắn hạn đều không có ý nghĩa thống kê.
Các biến Tang, biến động dòng tiền, biến động doanh thu, CFO_ATA và chu kỳ kinh
doanh đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến hiện tượng đầu tư quá mức. Theo đó, một
sự sụt giảm trong biến Tang, CFO_ATA và chu kỳ kinh doanh cũng như một sự tăng lên
trong biến động dòng tiền và doanh thu sẽ góp phần làm giảm được đầu tư quá mức.
45
Bảng 4. 5. Hồi quy đầu tư quá mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn
FRQ_MNST
FRQ_KASZ
FRQ_DD
FRQ_TB
OI
Fixed Effect Robust
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
-0.4008***
-0.4177***
-0.4082***
-0.4177**
-0.1957***
-0.2693**
-0.2237***
-0.2693*
-0.1838
-0.2051
-0.1940
-0.2051
-0.5855***
-0.6587***
-0.6241***
-0.6587**
FRQ
-0.1144*
-0.1746
-0.1168*
-0.1746
-0.1255**
-0.1993
-0.1312*
-0.1993
-0.1530**
-0.2730
-0.1709**
-0.2730
-0.1265*
-0.1914
-0.1362*
-0.1914
STDEBT
0.3089***
0.7711***
0.3697***
0.7711***
0.2299***
0.7119***
0.2730***
0.7119***
0.2644***
1.0822***
0.2938***
1.082***
0.2862***
1.0177***
0.3279***
1.0177***
TANG
-0.0000*
0.0000
-0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
STDCFO
- 0.0000***
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
STDSALES
0.0741***
0.0132
0.0666**
0.0132
0.0781***
0.0187
0.0728**
0.0187
0.0412
-0.0088
0.0416
-0.0088
0.0270
-0.0119
0.0260
-0.0119
QTOBIN
-0.0060
-0.0434
-0.0105
-0.0434**
-0.0043
-0.0309
-0.0086
-0.0309*
0.0086
-0.0147
0.0085
-0.0147
0.0079
-0.0209
0.0079
-0.0209
Z
0.0355
-0.1020
0.0001
-0.1020
0.0274
-0.1486*
-0.0155
-0.1486
0.0008
-0.2709***
-0.0374
-0.2709
0.0101
-0.1674*
-0.0205
-0.1674
LOSS
0.0902
0.3365
0.1151
0.3365**
-0.0306
0.3844
0.0113
0.3844***
0.0871
0.7138**
0.1139
0.7138***
0.1709
0.6117**
0.2008
0.6117***
CFO_ATA
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0005***
0.0012***
0.0005***
0.0012**
0.0004***
0.0011**
0.0005***
0.0011**
OPERCYCLE
- 0.0000***
0.0007
0.0014
0.0119
0
P-Value F
0.0039
0.002
0.0002
0.0016
P-Value Hausman
0
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
46
Đáng chú ý, dấu của hệ số hồi quy biến chu kỳ kinh doanh trong mô hình hồi quy của
biến FRQ_DD lại trái với dấu của chính hệ số này trong mô hình hồi quy với biến
FRQ_MNST, cho thấy tác động chưa rõ ràng giữa chu kỳ kinh doanh và việc đầu tư quá
mức. Cuối cùng, hệ số của biến FRQ_TB có giá trị tuyệt đối cao nhất trong các biến đo
lường chất lượng báo cáo tài chính, với giá trị là -0,6587 và có ý nghĩa ở mức 5%. Hệ số
của biến kỳ hạn nợ ngắn hạn có dấu ấm, cho thấy sự đóng góp của nợ ngắn hạn trong việc
làm giảm việc đầu tư, tuy nhiên hệ số này không có ý nghĩa thống kê. Tương tự như mô
hình FRQ_DD, các biến tỷ lệ tài sản cố định, biến động dòng tiền và doanh thu, CFO_ATA
và chu kỳ kinh doanh đều có ý nghĩa thống kê trong việc tác động đến hiện tượng đầu tư
quá mức. Các kết quả của bảng 4.5 đều khá tương đồng với kết quả của bài nghiên cứu của
M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) cho Tây Ban Nha.
Một cách tương tự, bảng 4.6 trình bày kết quả hồi quy giữa các biến FRQ_MNST,
FRQ_KASZ, FRQ_DD và FRQ_TB với hiện tượng đầu tư dưới mức (thiếu đầu tư). Tất cả
4 mô hình đều cho thấy không có tác động của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ
ngắn hạn đối với hiện tượng đầu tư dưới mức. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với kết
quả của M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Như vậy
có thể thấy, mặc dù chất lượng báo cáo tài chính tốt và sử dụng nợ ngắn hạn sẽ giúp cho
các công ty đánh giá đúng tiềm năng thực sự của mình để đầu tư vào các dự án, tuy nhiên
quyết định thực hiện của các doanh nghiệp còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như tâm lý
e ngại rủi ro của nhà quản lý, các chính sách hỗ trợ của nhà nước, sự cạnh tranh trên thị
trường hoặc các chi phí cơ hội trong tương lai…. Vì vậy, các doanh nghiệp sẽ lựa chọn bỏ
qua các dự án tốt, các dự án có NPV dương, dẫn đến tình trạng đầu tư dưới mức.
Tóm lại, các biến chất lượng báo cáo tài chính đều cho thấy một sự cải thiện về hiệu
quả đầu tư, đặc biệt là trong trường hợp đầu tư quá mức thì chất lượng báo cáo tài chính
đóng vai trò như là một cơ sở vững chắc để các doanh nghiệp điều chỉnh mức đầu tư của
mình về mức kỳ vọng hợp lý. Tuy nhiên, trong tình trạng doanh nghiệp đầu tư dưới mức,
chất lượng báo cáo tài chính không phải là căn cứ then chốt để các doanh nghiệp quyết định
đầu tư thêm, do đó nó không có tác động đến việc thiếu đầu tư của các công ty. Bên cạnh
đó, kết quả hồi quy chỉ ra rằng nợ ngắn hạn sẽ góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của các
47
Bảng 4. 6. Hồi quy đầu tư dưới mức với các biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn
FRQ_MNST
FRQ_KASZ
FRQ_DD
FRQ_TB
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
UI
0.0050
-0.0080
0.0034
-0.0080
-0.0020
-0.0108
-0.0054
-0.0108
0.0119
0.0081
0.0102
0.0081
0.0130
0.0039
0.0120
0.0039
FRQ
0.0003
0.0413*
0.0051
0.0413
0.0001
0.0404*
0.0050
0.0404
0.0005
0.0466
0.0052
0.0466
0.0006
0.0468
0.0053
0.0468
STDEBT
0.0059
0.0108
0.0055
0.0108
0.0063
0.0110
0.0060
0.0110
0.0101
0.0475
0.0100
0.0475
0.0107
0.0481
0.0104
0.0481
TANG
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDSALES
0.0028
-0.0116
0.0003
-0.0116
0.0027
-0.0118
0.0002
-0.0118
0.0041
-0.0169
0.0016
-0.0169
0.0041
-0.0169
0.0016
-0.0169
QTOBIN
0.0045**
-0.0020
0.0039*
-0.0020
0.0045**
-0.0010
0.0040*
-0.0010
0.0052**
-0.0054
0.0045
-0.0054
0.0052**
-0.0052
0.0045
-0.0052
Z
-0.0329***
-0.0011
-0.0236***
-0.0011
-0.0328***
-0.0018
-0.0235***
-0.0018
-0.0363***
0.0042
-0.0251**
0.0042
-0.0365***
0.0042
-0.0252**
0.0042
LOSS
0.0495*
0.0531
0.0546**
0.0531
0.0507**
0.0477
0.0552**
0.0477
0.0539*
0.0578
0.0610*
0.0578
0.0531*
0.0577
0.0602*
0.0577
CFO_ATA
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
OPERCYCLE
0
0
0
0
P-Value F
0
0
0
0
P-Value Hausman
0
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
48
doanh nghiệp Việt Nam do đảm bảo được cho các doanh nghiệp có khả năng chi trả các
gánh nặng nợ này, đồng thời làm giảm chi phí sử dụng vốn trong các dự án của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, kỳ hạn nợ ngắn hạn lại không có vai trò trong việc làm giảm đầu tư khi
doanh nghiệp đầu tư quá mức và khuyến khích đầu tư khi doanh nghiệp thiếu đầu tư. Các
biến kiểm soát như tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, hệ số sức khỏe tài chính Z-Score,
biến động dòng tiền, biến động doanh thu, tác động của dòng tiền thuần từ hoạt động kinh
doanh và chu kỳ kinh doanh đều có ảnh hưởng nhỏ đến hiệu quả đầu tư và hiện tượng đầu
tư quá mức nhưng không có tác động trong tình trạng đầu tư dưới mức.
Như vậy, kết quả của nghiên cứu chấp nhận giả thuyết H1 và H2: Chất lượng báo cáo
tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn có mối tương quan dương đối với hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp. Kết quả này tương đồng với kết quả có được từ nghiên cứu trên một mẫu các
doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2013 của tác giả Trần Thị Thùy Linh và
Mai Hoàng Hạnh (2015) .
Phần tiếp theo sẽ xem xét liệu rằng ở các tỷ lệ nợ ngắn hạn khác nhau thì chất lượng
báo cáo tài chính có tác động như thế nào đến hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư
dưới mức.
4.3.3. Mối quan hê ̣ giữa chất lượng bá o cá o tà i chính và hiê ̣u quả đầu tư ở cá c tỷ
lệ nợ ngắn hạn khá c nhau.
INVEFFi,t = β0+β1FRQi,t + β2STDebti,t + β3FRQi,t*DumSTDebti,t + β4Tangi,t +
β5StdCFOi,t + β6StdSalesi,t + β7QTobini,t + β8Zi,t + β9Lossi,t + β10CFO_ATAi,t +
(9) β11Opercyclei,t + ɛi,t
Bài nghiên cứ u mở rô ̣ng các phân tích ở trên bằng cách kiểm tra xem liệu rằng viê ̣c sử du ̣ng nhiều nơ ̣ ngắn ha ̣n hơn sẽ làm tăng hay làm giảm ảnh hưở ng củ a chất lươ ̣ng báo cáo tài chính đến hiê ̣u quả đầu tư của doanh nghiệp. Để kiếm hành kiểm nghiê ̣m này, bài nghiên cứ u sử du ̣ng biến FRQ_TB đa ̣i diê ̣n cho biến chất lươ ̣ng báo cáo tài chính và thêm vào mô hình (8) biến giả mức độ sử dụng nợ ngắn hạn DumSTDebt có giá tri ̣ bằng 1 khi doanh
nghiê ̣p có tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ lớ n hơn giá tri ̣ trung vi ̣ củ a STDebt của toàn bộ
49
các công ty trong mẫu nghiên cứu, trườ ng hơ ̣p này xem như doanh nghiê ̣p sử du ̣ng nhiều
nơ ̣ ngắn hạn.
Ngược la ̣i nếu doanh nghiê ̣p có STDebt nhỏ hơn giá tri ̣ STDebt trung vị của toàn bộ
mẫu thì DumSTDebt có giá trị bằng 0, nghĩa là các doanh nghiê ̣p đươ ̣c giả đi ̣nh sử du ̣ng ít nơ ̣ ngắn ha ̣n. Bảng 4.7 trình bày kết quả hồi quy phương trình (9) giữa biến hiệu quả đầu tư với các biến chất lượng báo cáo tài chính, nợ ngắn hạn, biến giả mức độ sử dụng nợ ngắn
hạn, biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và mức độ sử dụng nợ ngắn hạn cũng
như một số biến kiểm soát khác đã trình bày ở các phần trên.
Kết quả từ bảng 4.7 cho thấy rằng tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với
hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp không có gì khác biệt ở các mức sử dụng nợ ngắn hạn
khác nhau bởi vì hệ số của biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và biến giả mức
sử dụng nợ ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê. Điều này có thể được lý giải bởi việc mức
độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau không thực sự có ảnh hưởng đến việc đánh giá chất
lượng báo cáo tài chính khi thực hiện đầu tư do chất lượng báo cáo tài chính được thể hiện
qua nhiều chỉ tiêu và khía cạnh khác, đồng thời cũng không tìm thấy mối liên hệ nào giữa
chất lượng báo cáo tài chính và mức sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ xét
về dấu của hệ số hồi quy (-0,0200), có thể kết luận rằng ở mức sử dụng nợ ngắn hạn thấp
hơn thì chất lượng báo cáo tài chính có tác động cải thiện hiệu quả đầu tư cao hơn ở mức
sử dụng nợ ngắn hạn cao hơn. Dấu của hệ số này tương đồng với kết quả của M Fuensanta
Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013). Ngoài ra, biến FRQ_TB và
STDebt đều có tác động dương tới hiệu quả đầu tư ở mức ý nghĩa 5% với giá trị tác động
cao hơn so với kết quả hồi quy mô hình (8). Điều này bổ sung sự vững chắc cho kết luận
về việc chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn góp phần làm nâng cao hiệu quả đầu
tư của doanh nghiệp. Mặt khác, các biến Tang, STDCFO, STDSales, hệ số Z và chu kỳ
kinh doanh đều có tác động có ý nghĩa thống kê đối với hiệu quả đầu tư, trong đó chiều
hướng và mức độ tác động của các biến này hoàn toàn tương tự với kết quả được tìm thấy
ở mô hình (8).
50
Bảng 4. 7. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo
tài chính và nợ ngắn hạn theo trung vị
INVEFF
OI
UI
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled-OLS
Fixed Effect
Pooled-OLS
Random Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
INVEFF
0.2238***
0.2212***
0.2251***
0.2212**
-0.5822***
-0.6836***
-0.6180***
-0.6836**
0.0129
-0.0011
0.0112
-0.0011
FRQ_TB
0.0003
0.1935***
0.0101
0.1935**
-0.0823
-0.2957
-0.1016
-0.2957
-0.0053
0.0269
-0.0033
0.0269
STDEBT
0.0182
-0.0200
0.0154
-0.0200
-0.0234
0.0523
-0.0179
0.0523
0.0038
0.0108
0.0054
0.0108
FRQ_TB*DUMSTDEBT
-0.1365***
-0.5849***
-0.1475***
-0.5849***
0.2854***
1.0407***
0.3257***
1.0407***
0.0113
0.0623
0.0114
0.0623
TANG
0.0000
0.0000*
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDSALES
-0.0099
-0.0175
-0.0127
-0.0175
0.0288
-0.0171
0.0277
-0.0171
0.0044
-0.0165
0.0019
-0.0165
QTOBIN
0.0046
0.0289**
0.0049
0.0289**
0.0056
-0.0113
0.0063
-0.0113
0.0052**
-0.0047
0.0045
-0.0047
Z
-0.0302*
0.0186
-0.0225
0.0186
0.0056
-0.1561
-0.0229
-0.1561
-0.0363***
0.0049
-0.0247**
0.0049
LOSS
0.0091
-0.0823
0.0161
-0.0823
0.1716
0.6705**
0.1967
0.6705***
0.0537*
0.0631
0.0613*
0.0631
CFO_ATA
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
0.0004**
0.0011**
0.0005**
0.0011**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
OPERCYCLE
0
0
0
P-Value F
0
0
0
P-Value Hausman
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
51
Bảng 4.7 cũng trình bày kết quả hồi quy mô hình (9) với việc thay thế biến phụ thuộc
INVEFF bằng biến OI và UI để xem xét tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với
đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức ở các mức sự dụng nợ ngắn hạn khác nhau.
Tương tự như hồi quy hiệu quả đầu tư, tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối
với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức không có sự khác biệt ở các mức sử
dụng nợ ngắn hạn khác nhau. Trong đó, đối với trường hợp đầu tư quá mức, biến chất lượng
báo cáo tài chính có hệ số âm có ý nghĩa thống kê ở mức 5% với giá trị tuyệt đối (0,6836)
lớn hơn giá trị tuyệt đối của hệ số FRQ_TB (0,6587) trong mô hình hồi quy ở phần trước
đã trình bày, cho thấy chất lượng báo cáo tài chính đóng góp đáng kể vào việc hạn chế đầu
tư quá mức. Biến kỳ hạn nợ ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê nhưng mang dấu ấm tương
tự như kết quả hồi quy tại bảng 4.5. Các biến kiểm soát cũng có ý nghĩa thống kê và chiều
hướng tác động tương tự như kết quả hồi quy mô hình (8) áp dụng cho trường hợp đầu tư
quá mức và FRQ_TB. Ngược lại, đối với trường hợp đầu tư dưới mức, tất cả các biến đều
không có ý nghĩa thống kê tương tự như kết quả hồi quy tại bảng 4.6. Điều này một lần nữa
cho thấy chất lượng báo cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn không góp phần làm cải thiện
việc thiếu đầu tư của doanh nghiệp.
Tóm lại, phần này tiến hành kiểm định tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối
với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu
tư dưới mức sẽ thay đổi như thế nào ở các mức sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau. Kết quả
hồi quy cho thấy rằng mặc dù sử dụng nợ ngắn hạn ở các tỷ lệ khác nhau nhưng tác động
của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và thiếu đầu tư là
không có sự khác biệt. Vai trò của nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư ở Việt Nam chỉ có
được là nhờ mức lãi suất thấp hơn mà doanh nghiệp được hưởng so với việc phải đi vay dài
hạn, chứ chưa được xem xét như một kênh để chủ nợ kiểm soát hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp, do đó nó không ảnh hưởng đến tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với
hiệu quả đầu tư hay hiện tượng đầu tư quá mức và thiếu đầu tư. Kết quả này trái ngược với
nghiên cứu của M Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) khi các
tác giả tìm thấy vai trò thay thế của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với
hiệu quả đầu tư ở các doanh nghiệp Tây Ban Nha. Như vậy, kết quả nghiên cứu bác bỏ giả
52
thiết H3: Tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến hiệu quả đầu tư không có sự khác
biệt ở các mức kỳ hạn nợ khác nhau.
Bên cạnh đó, phần này còn củng cố thêm kết quả hồi quy ở phần trên khi mà biến chất
lượng báo cáo tài chính góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư và làm giảm hiện tượng đầu tư
quá mức. Đồng thời nợ ngắn hạn cũng góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp
nhưng không giúp làm hạn chế việc đầu tư quá mức và thiếu đầu tư.
4.3.4. Cá c kiểm nghiê ̣m bổ sung
Để bảo đảm sự bền vững của các kết quả hồ i quy ở các phần trên, phần này của bài
nghiên cứu sẽ tiếp tục hồi quy mô hình (8) với biến phụ thuộc là hiệu quả đầu tư được tính
toán lại theo đề xuất của Chen và cộng sự (2011). Đồ ng thờ i, bài nghiên cứu cũng sẽ đo
lườ ng xu hướ ng tâ ̣p trung củ a dữ liê ̣u bằng cách đưa thêm vào mô hình hồ i quy (8) các biến
thể hiện mối quan hê ̣ tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn
ảnh hưở ng đến hiệu quả đầu tư ở các phân vi ̣ 25 và phân vị 75 củ a biến nợ ngắn ha ̣n STDebt.
4.3.4.1. Mô hình hiê ̣u quả đầu tư thay thế
Như đã trình bày ở phần 3, để ước lượng lại hiệu quả đầu tư, bài nghiên cứu sử du ̣ng
mô hình đề xuất củ a Chen (2011), theo đó bài nghiên cứu thêm vào mô hình (3) mô ̣t biến giả (NEG) để xem xét liê ̣u rằng mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng doanh thu có khác
biệt hay không trong trườ ng hơ ̣p tăng trưởng doanh thu mang dấu dương và trường hợp
tăng trưởng doanh thu mang dấu âm. Hồi quy mô hình (4), bài nghiên cứu tính toán được
các biến hiệu quả đầu tư thay thế (INVEFF2), đầu tư quá mức thay thế (OI2) và biến đầu
tư dưới mức thay thế (UI2). Bảng 4.8 trình bày kết quả hồi quy các biến phụ thuộc này với
các biến độc lập (FRQ_TB và STDebt) và các biến kiểm soát tương ứng trong mô hình (8).
Kết quả hồi quy từ các bảng trên một lần nữa khẳng định chắc chắn rằng chất lượng
báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư, theo đó hệ số của biến
FRQ_TB và STDebt trong hồi quy với INVEFF2 lần lượt là 0,2172 và 0,1677 với mức ý
nghĩa tương ứng là 5% và 1%. Đáng chú ý là mức độ tác động của cả chất lượng báo cáo
tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư thay thế đều cao hơn so với mức tác động
của chúng trong hồi quy với hiệu quả đầu tư. Bên cạnh đó các biến Tang, STDCFO,
53
STDSales, hệ số Z đều cho thấy mối quan hệ với hiệu quả đầu tư có ý nghĩa thống kê tương
tự như kết quả ở các mô hình đã trình bày trước. Đối với trường hợp đầu tư quá mức, chất
lượng báo cáo tài chính lại thể hiện vai trò giúp hạn chế việc đầu tư quá mức, trong khi đó
nợ ngắn hạn thì không cho thấy điều này. Đặc biệt, hệ số hồi quy của FRQ_TB với OI2 rất
cao, xấp xỉ gần bằng 1, chứng tỏ vai trò quan trọng của chất lượng báo cáo tài chính trong
việc làm giảm việc đầu tư quá mức. Ngoài ra, kết quả hồi quy với biến phụ thuộc là đầu tư
dưới mức thay thế UI2 không chỉ ra mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến kiểm soát
đối với UI2, thống nhất với kết quả của các mô hình trước.
Tóm lại, với việc thay thế cách đo lường hiệu quả đầu tư theo phương pháp của Chen
và cộng sự (2011), bài nghiên cứu một lần nữa củng cố kết luận rằng chất lượng báo cáo
tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ góp phần làm cải thiện hiệu quả đầu tư của doanh
nghiệp. Đi sâu hơn, chất lượng báo cáo tài chính đóng một vai trò mạnh mẽ trong việc hạn
chế hiện tượng đầu tư quá mức nhưng lại không có tác động đối với việc thiếu đầu tư. Đồng
thời, kỳ hạn nợ ngắn hạn không có ảnh hưởng đến hai hiện tượng trên, tương tự như kết
quả của các mô hình đã kiểm định ở phần trên.
4.3.4.2. Mô hình hiê ̣u quả đầu tư vớ i phân vị STDebt 25 và STDebt 75
Phần 4.3.2 đã bổ sung thêm biến giả DumSTDebt vào mô hình (8) để kiểm định mối
quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư ở các mức sử dụng nợ ngắn
hạn khác nhau. Theo đó, nếu giá trị nợ ngắn hạn của từng công ty lớn hơn giá trị trung vị
của nợ ngắn hạn của toàn bộ công ty trong mẫu nghiên cứu thì công ty đó được đánh giá là
sử dụng nhiều nợ ngắn hạn và ngược lại là doanh nghiệp sử dụng ít nợ. Tuy nhiên để phân
định rõ ràng hơn về mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp, bài nghiên cứu dựa trên đề xuất
của các tác giả M Fuensanta Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013) chia
mẫu dữ liệu trên cơ sở so sánh tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ của từng công ty theo từng
năm với giá trị tứ phân vị thứ nhất và giá trị tứ phân vị thứ ba của biến kỳ hạn nợ ngắn hạn
cho toàn bộ mẫu nghiên cứu. Theo đó, bài nghiên cứu sẽ thay thế biến giả DumSTDebt và
biến tương tác FRQ_TB*DumSTDebt bằng các biến DumDebt25, FRQ_TB*DumDebt25,
DumDebt75 và FRQ_TB*DumDebt75 vào mô hình (9) để kiểm định lại vai trò của chất
lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức ở các
54
mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác nhau. Cách thức thêm các biến giả nêu trên đã được trình
bày chi tiết ở phần 3 của bài nghiên cứu này. Bảng 4.9 và bảng 4.10 lần lượt trình bày kết
quả hồi quy các mô hình bổ sung các biến giả DumDebt25 và DumDebt75.
Mô hình bổ sung biến giả DumDebt25:
Kết quả của bảng 4.7 chỉ ra rằng tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu
quả đầu tư không có sự khác biệt khi doanh nghiệp sử dụng ít nợ ngắn hạn và khi doanh
nghiệp sử dụng nhiều nợ. Tuy nhiên khi phân chia lại các doanh nghiệp dựa trên mức độ
sử dụng nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất thì lại cho những kết quả thú vị. Đầu tiên có
thể thấy đó chính là hệ số của biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và biến giả
mức độ sử dụng nợ theo tứ phân vị thứ nhất mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê ở mức
5%. Theo đó, đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn thì mức độ tác động của
chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp là β1 = 0,2173, trong
khi đó, các doanh nghiệp sử dụng ít nợ ngắn hạn thì mức độ tác động này sẽ là β1 + β3 =
0,2173 + (- 0,1301) = 0,0872. Điều này cho thấy chất lượng báo cáo tài chính có tác động
thấp hơn đối với hiệu quả đầu tư ở các doanh nghiệp sử dụng ít nợ ngắn hạn. Có thể lý giải
kết quả này dựa trên kết quả từ các mô hình trước khi mà cả chất lượng báo cáo tài chính
và nợ ngắn hạn đều góp phần làm tăng hiệu quả đầu tư, do đó việc sử dụng loại nợ này càng
nhiều thì càng tăng tác động cộng gộp của nó với chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu
quả đầu tư. Mô hình hồi quy bổ sung biến giả DumDebt25 một lần nữa lại khẳng định mạnh
mẽ kết luận chất lượng báo cáo tài chính góp phần cải thiện hiệu quả đầu tư ở mức ý nghĩa
1% với hệ số hồi quy là 0,2173 nhỏ hơn hệ số hồi quy của chính nó (0,2212) trong mô hình
hồi quy với biến giả DumSTDebt. Tuy nhiên, biến kỳ hạn nợ ngắn hạn lại không cho thấy
một tác động nào đối với hiệu quả đầu tư trong mô hình này. Các biến kiểm soát như Tang,
hệ số Z, STDCFO, STDSales và chu kỳ kinh doanh đều có tác động có ý nghĩa thống kê
đến hiệu quả đầu tư tương tự với kết quả ở bảng 4.7.
Đối với hồi quy biến phụ thuộc là biến đầu tư quá mức OI, biến tương tác giữa FRQ_TB
và DumDebt25 cũng chỉ ra một mối quan hệ dương với đầu tư quá mức ở mức ý nghĩa 5%.
Khi doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn thì một sự gia tăng 1% trong chất lượng báo
cáo tài chính sẽ góp phần làm hạn chế hiện tượng đầu tư quá mức 0,7103%.
55
Bảng 4. 8. Hồi quy hiệu quả đầu tư thay thế, đầu tư quá mức thay thế và đầu tư dưới mức thay thế với biến chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn
INVEFF2
OI2
UI2
INVEFF2
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
0.2273***
0.2172***
0.2297***
0.2172**
-0.5890***
-0.9881***
-0.6595***
-0.9881**
0.0179
0.0064
0.0164
0.0064
FRQ_TB
0.0333
0.1677***
0.0399*
0.1677***
-0.1116
-0.2402
-0.1209
-0.2402
0.0034
0.0545*
0.0089
0.0545
STDEBT
-0.1375***
-0.5711***
-0.1497***
-0.5711***
0.3103***
0.9275***
0.3687***
0.9275***
0.0152
0.0533
0.0148
0.0533
TANG
0.0000
0.0000*
0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000*
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDSALES
-0.0102
-0.0159
-0.0124
-0.0159
0.0376
-0.0198
0.0287
-0.0198
0.0069
-0.0112
0.0048
-0.0112
QTOBIN
0.0035
0.0275**
0.0038
0.0275**
0.0037
-0.0350
0.0035
-0.0350
0.0043*
-0.0105
0.0035
-0.0105**
Z
-0.0300*
0.0215
-0.0213
0.0215
0.0119
-0.0910
-0.0232
-0.0910
-0.0360***
0.0048
-0.0247**
0.0048
LOSS
0.0059
-0.0757
-0.0757
0.1458
0.3741
0.1819
0.3741*
0.0463
0.0531
0.0527
0.0531
0.0122
CFO_ATA
0.0000
0.0000
-0.0000
0.0003**
0.0003
0.0003**
0.0003
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
OPERCYCLE
0
0
0
P-Value F
0
0.0012
0
P-Value Hausman
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
56
Ngược lại khi doanh nghiệp sử dụng ít nợ ngắn hạn thì nếu chất lượng báo cáo tài chính
tăng 1% thì sẽ thúc đẩy hiện tượng đầu tư quá mức giảm β1 + β3 = -0,7103% + 0,2524% =
- 0,4579%. Kết quả này tương đồng với kết quả hồi quy hiệu quả đầu tư, theo đó doanh
nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn sẽ giúp tác động của chất lượng báo cáo tài chính
đối với hiệu quả đầu tư tăng cao hơn. Tương tự, hệ số của các biến FRQ_TB, Tang,
CFO_ATA và chu kỳ kinh doanh đều có ý nghĩa thống kê, trong khi bài nghiên cứu không
tìm ra mối liên hệ giữa biến kỳ hạn nợ ngắn hạn, hệ số Z, biến động dòng tiền và doanh thu,
biến thua lỗ và QTobin.
Thống nhất kết quả với các mô hình trước, trong hồi quy DumDebt25 với biến phụ
thuộc là biến đầu tư dưới mức UI, bài nghiên cứu không tìm thấy bất cứ mối liên hệ nào có
ý nghĩa thống kê giữa biến tương tác chất lượng báo cáo tài chính và biến giả DumDebt25,
biến FRQ_TB, biến nợ ngắn hạn và các biến kiếm soát đối với hiện tượng đầu tư dưới mức.
Các kết quả này tương đối phù hợp với kết quả trong bài nghiên cứu của M Fuensanta
Cutillas Gomariz và Juan Pedro Sánchez Ballesta (2013).
Mô hình bổ sung biến giả DumDebt75:
Bảng 4.10 trình bày kết quả hồi quy biến hiệu quả đầu tư với biến tương tác giữa chất
lượng báo cáo tài chính và biến giả DumDebt75, biến FRQ_TB, biến kỳ hạn nợ ngắn hạn
và các biến kiểm soát có liên quan. Khác với kết quả trong hồi quy với biến giả DumDebt25,
biến tương tác FRQ_TB và DumDebt75 không có ý nghĩa thống kê, trong khi đó biến
FRQ_TB và STDebt đều cho thấy tác động đối với hiệu quả đầu tư ở mức ý nghĩa lần lượt
5% và 1% với hệ số lần lượt là 0,2130 và 0,1732. Điều này cho thấy rằng, tác động của chất
lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư không phụ thuộc vào mức độ sử dụng nợ
ngắn hạn của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các biến kiểm soát như Tang, STDCFO và hệ số
Z đều có tác động có ý nghĩa thống kê đối với hiệu quả đầu tư tương tự như các mô hình
trước.
Đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, kết quả hồi quy tại bảng 4.10
cho thấy rằng mức độ tác động của chất lượng báo cáo tài chính đối với đầu tư quá mức và
đầu tư dưới mức không có sự khác biệt trong trường hợp doanh nghiệp sử dụng ít nợ hơn
so với trường hợp doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn. Trong đó, chất lượng báo
57
cáo tài chính góp phần làm hạn chế việc đầu tư quá mức nhưng không có tác động trong
việc giảm thiểu hiện tưởng đầu tư dưới mức. Mặt khác, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ cũng
không cho thấy một mối quan hệ nào với đầu tư dưới mức và đầu tư quá mức của các doanh
nghiệp Việt Nam.
Tó m la ̣i, kết quả của các hồi quy bổ sung đều củng cố kết luận rằng chất lượng báo cáo
tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn đều góp phần thúc đẩy hiệu quả đầu tư, đặc biết chất lượng
báo cáo tài chính đóng một phần quan trong trong việc hạn chế hiện tượng đầu tư quá mức
của các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp có các mức độ sử dụng nợ ngắn hạn khác
nhau, bài nghiên cứu tìm ra rằng tùy thuộc vào cách phân loại mức độ nợ ngắn hạn mà tác
động của chất lượng báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư có thể có hoặc không có sự
khác biệt giữa các doanh nghiệp này. Phần tiếp theo của bài nghiên cứu sẽ tiếp tục thảo
luận về kết quả của bài nghiên cứu, từ đó đưa ra một số gợi ý, khuyến nghị cho hoạt động
đầu tư của các doanh nghiệp và cuối cùng nêu lên những điểm hạn chế còn tồn tại của bài.
58
Bảng 4. 9. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo
tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ nhất
INVEFF
OI
UI
INVEFF
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled- OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
0.2280***
0.2173***
0.2303***
0.2173***
-0.5959***
-0.7103***
-0.6567***
-0.7103**
0.0132
0.0057
0.0124
0.0057
FRQ_TB
-0.0624
-0.0457
-0.0657
-0.0457
0.0918
0.1206
0.1206
0.1206
-0.0205
0.0083
-0.0189
0.0083
STDEBT
-0.0585*** -0.1377***
-0.1301*** -0.6284***
-0.0651*** -0.1526***
-0.1301** -0.6284***
0.1218** 0.29484***
0.2524*** 1.0111***
0.1586*** 0.3490***
0.2524** 1.0111***
-0.0139 0.0114
-0.0234 0.0338
-0.0158 0.0109
-0.0234 0.0338
FRQ_TB*DUMSTDEBT25 TANG
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000***
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000***
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDSALES
-0.0126
-0.0174
-0.0155
-0.0174
0.0300
-0.0195
0.0214
-0.0195
0.0035
-0.0168
0.0009
-0.0168
QTOBIN
0.0034 -0.0306*
0.0275** 0.0189
0.0037 -0.0211
0.0275** 0.0189
0.0098 0.0157
-0.0158 -0.1510*
0.0111 -0.0218
-0.0158 -0.1510
0.0051** -0.0362***
-0.0054 0.0041
0.0043 -0.0249**
-0.0054 0.0041
Z LOSS
0.0123 0.0000
-0.0952 0.0000
0.0189 0.0000
-0.0952 -0.0000**
0.1370 0.0004***
0.5770** 0.0010**
0.1761 0.0005***
0.5770*** 0.0010*
0.0531* 0.0000
0.0502 0.0000
0.0598* 0.0000
0.0502 -0.0000*
CFO_ATA OPERCYCLE
0
0
0
P-Value F
0
0
0
P-Value Hausman
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%.
59
Bảng 4. 10. Hồi quy hiệu quả đầu tư, đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức với các biến tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn theo tứ phân vị thứ ba
INVEFF
OI
UI
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Pooled-OLS
Fixed Effect
Random Effect
Fixed Effect Robust
Fixed Effect Robust
INVEFF
0.2250***
0.2130***
0.2272***
0.2130**
-0.5888***
-0.6617***
-0.6272***
-0.6617**
0.0080
0.0039
0.0082
0.0039
FRQ_TB
0.0308
0.1732***
0.0366
0.1732***
-0.1174
-0.2015
-0.1187
-0.2015
0.0093
0.0475
0.0131
0.0475
STDEBT
-0.0014
-0.0165
-0.0011
-0.0165
-0.0084
0.0129
-0.0160
0.0129
-0.0103
-0.0007
-0.0093
-0.0007
FRQ_TB*DUMSTDEBT75
-0.1398***
-0.5815***
-0.1517***
-0.5815***
0.2882***
1.0275***
0.3301***
1.0275***
0.0090
0.0474
0.0089
0.0474
TANG
0.0000
0.0000*
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDCFO
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
STDSALES
-0.0106
-0.0162
-0.0133
-0.0162
0.0272
-0.0135
0.0273
-0.0135
0.0046
-0.0168
0.0024
-0.0168
QTOBIN
0.0041
0.0302**
0.0045
0.0302**
0.0073
-0.0205
0.0070
-0.0205
0.0054**
-0.0052
0.0047*
-0.0052
Z
-0.0315*
0.0199
-0.0229
0.0199
0.0103
-0.1679*
-0.0198
-0.1679
-0.0364***
0.0042
-0.0258**
0.0042
LOSS
0.0088
-0.0824
0.0156
-0.0824
0.1710
0.6275**
0.1977
0.6275**
0.0531*
0.0572
0.0592*
0.0572
CFO_ATA
0.0000
0.0000
0.0000
-0.0000*
0.0004***
0.0011**
0.0005**
0.0011**
0.0000
0.0000
0.0000
0.0000
OPERCYCLE
0
0
0
P-Value F
0
0
0
P-Value Hausman
0
0
0
P-Value Wald
*, ** và *** lần lượt là các mức ý nghĩa 10%, 5% và 1%
60
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN
5.1. Kết luận nghiên cứu
Sử dụng một mẫu nghiên cứu gồm 152 công ty phi tài chính thuộc sàn giao dịch HOSE và
HNX để kiểm tra mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn của các
doanh nghiệp trên, bài nghiên cứu cho thấy chất lượng báo cáo tài chính dù được đo lường bằng
nhiều phương pháp khác nhau, nhưng đều cho thấy vai trò của nó đối với việc góp phần nâng
cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Theo đó, khi chất lượng báo cáo tài chính tăng lên, các
doanh nghiệp sẽ có cơ sở đánh giá tình hình kinh doanh, sức khỏe tài chính, mức độ tín nhiệm,
dự phóng dòng tiền dự án và các rủi ro của doanh nghiệp chính xác và kịp thời hơn, từ đó hoạch
định dự án tốt hơn và mang lại hiệu quả đầu tư cao hơn cho doanh nghiệp. Ngoài ra báo cáo tài
chính có chất lượng tốt sẽ hạn chế được tình trạng bất cân xứng thông tin và là công cụ hữu hiệu
giúp các cổ đông và chủ nợ tăng cường kiểm soát việc quản lý của ban điều hành doanh nghiệp,
từ đó hạn chế được các chi phí đại diện. Bên cạnh đó, chất lượng báo cáo tài chính tốt sẽ là
phương tiện tốt nhất, trực quan nhất, đơn giản nhất và mức độ phổ cập cao nhất trong việc thu
hút các nhà đầu tư bên ngoài muốn đầu tư vào công ty khi doanh nghiệp cần huy động vốn cho
các dự án sắp tới. Đặc biệt, bài nghiên cứu còn tìm thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế hiện tượng đầu tư quá mức. Thông qua việc xem
xét đánh giá lại báo cáo tài chính các năm trước, doanh nghiệp có thể phát hiện ra những điểm
mạnh điểm yếu của mình trong tình hình kinh doanh và tài chính, từ đó đưa ra các dự phóng về
doanh thu, chi phí, lãi suất chiết khấu cũng như các biện pháp phòng ngừa rủi ro hợp lý hơn cho
dự án, từ đó giảm thiểu được việc chấp nhận thực hiên các dự án không tốt và các dự án có NPV
âm, góp phần hạn chế việc đầu tư quá mức. Tuy nhiên, chất lượng báo cáo tài chính lại không
cho thấy một mối quan hệ nào có ý nghĩa thống kê đối với hiện tượng đầu tư dưới mức trong
mẫu nghiên cứu nêu trên. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với nghiên cứu của Trần Thị Thùy
Linh và Mai Hoàng Hạnh (2015) trên mẫu 304 công ty trong giai đoạn 2009 – 2013.
Đối với kỳ hạn nợ ngắn hạn, các kết quả hồi quy cho thấy rằng tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng
nợ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp sử dụng
nhiều nợ ngắn hạn, khả năng chi trả vốn và lãi vay của doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn, doanh
nghiệp không phải chịu sức ép quá lớn từ việc trả nợ (do lãi suất thấp hơn) nhưng vẫn tận dụng
61
được lá chắn thuế của việc vay nợ. Bên cạnh đó, việc sử dụng nợ ngắn hạn sẽ góp phần hạn chế
hiện tượng đầu tư quá mức, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư. Mặt khác, khi sử dụng nợ ngắn
hạn thì mức độ rủi ro của doanh nghiệp sẽ thấp hơn, do đó nâng cao được xếp hạng tín dụng.
Đồng thời, việc sử dụng nợ ngắn hạn còn góp phần giảm thiểu bất cân xứng thông tin do kỳ hạn
nợ dài hơn sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề thông tin bất cân xứng của doanh nghiệp. Tổng hòa các
yếu tố trên, sử dụng nhiều nợ ngắn hạn sẽ góp phần làm giảm chi phí sử dụng vốn, từ đó nâng
cao hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi hồi quy biến nợ ngắn hạn với các biến phụ
thuộc đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, kết quả cho thấy rằng không tồn tại mối quan hệ có ý
nghĩa thống kê giữa các biến trên. Sở dĩ tỷ lê ̣ nơ ̣ ngắn ha ̣n cao giú p cải thiê ̣n hiê ̣u quả đầu tư vì các khoản nơ ̣ ngắn ha ̣n có chi phí lãi vay thấp hơn so vớ i các khoản vay dài ha ̣n, giảm chi phí sử du ̣ng vố n; nơ ̣ ngắ n ha ̣n linh hoa ̣t hơn nơ ̣ dài ha ̣n. Các khoản nơ ̣ ngắ n ha ̣n giú p chủ nơ ̣ dễ dàng giám sát cũng như có điều kiê ̣n tiếp xú c và nhâ ̣n đi ̣nh đú ng đắn về tình hình doanh nghiê ̣p hơn. Cần phải lưu ý thêm rằng, việc sử dụng nhiều nợ ngắn hạn không hẳn là hoàn toàn mang lại lợi
ích cho các doanh nghiệp. Trên thực tế, khi gia tăng sử du ̣ng nơ ̣ sẽ gia tăng chi phí kiê ̣t quê ̣ tài chính, gia tăng khả năng phá sản từ đó làm giảm giá tri ̣ doanh nghiê ̣p. Nếu mô ̣t doanh nghiê ̣p có tỷ lê ̣ nơ ̣ dài ha ̣n/vố n chủ sở hữu giảm so vớ i năm trướ c nhưng tỷ lê ̣ nơ ̣ ngắn ha ̣n/vố n chủ sở hữu la ̣i tăng tương ứ ng thì nhiều khả năng là doanh nghiê ̣p sử du ̣ng nơ ̣ ngắ n ha ̣n để bù đắp cho nơ ̣ dài ha ̣n đến ha ̣n. Viê ̣c này rất nguy hiểm cho doanh nghiê ̣p vì ho ̣ sẽ dễ dàng gă ̣p phải các vấn đề rủ i ro thanh khoản. Do đó , viê ̣c tăng tỷ lê ̣ nơ ̣ ngắ n ha ̣n là tố t hay xấu phải xem xét thêm biến đô ̣ng củ a tỷ lê ̣ nơ ̣ ngắn ha ̣n để kết luâ ̣n. Ta ̣i Viê ̣t Nam, mứ c đô ̣ cưỡng chế và bảo vê ̣ các nhà đầu tư thấp hơn nhiều so vớ i Tây Ban Nha, Mỹ cũng như các nướ c trên thi ̣ trườ ng mớ i nổ i. Các chủ nơ ̣, tổ chứ c tín du ̣ng vì thế cũng gă ̣p rủ i ro nên ho ̣ sẽ đưa nhiều điều kiê ̣n trong hơ ̣p đồ ng vay, làm cho các doanh nghiê ̣p khó khăn khi tiếp câ ̣n nguồ n tài chính, khiến ho ̣ phải từ bỏ các dự án có NPV dương. Không những thế, thủ tu ̣c pháp lý ở Viê ̣t Nam cũng tiềm ẩn nhiều rủ i ro, tiến đô ̣ xử
lý châ ̣m và thủ tu ̣c rườ m rà làm giảm ảnh hưở ng củ a nơ ̣ ngắn ha ̣n đến hiê ̣u quả đầu tư.
Bài nghiên cứu cũng đưa vào các biến giả liên quan đến tỷ lệ nợ ngắn hạn để phân loại các
doanh nghiệp thành nhóm các công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn và nhóm các công ty sử dụng
ít nợ. Tiêu chí phân loại dựa trên tứ phân vị thứ nhất, trung vị và tứ phân vị thứ ba của giá trị tỷ
lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ của toàn bộ các doanh nghiệp trong mẫu. Kết quả cho thấy rằng khi
62
phân loại theo tiêu chí trung vị và tứ phân vị thứ ba thì tác động của chất lượng báo cáo tài chính
đối với hiệu quả đầu tư (cũng như đối với hiện tượng đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức) của
doanh nghiệp không có sự khác biệt giữa trường hợp các công ty sử dụng ít nợ và trường hợp sử
dụng nhiều nợ. Ngược lại, khi phân loại theo tiêu chí tứ phân vị thứ nhất, bài nghiên cứu chỉ ra
rằng các doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn thì sẽ có mức tác động của chất lượng
báo cáo tài chính đối với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp (cũng như hạn chế hiện tượng đầu tư
quá mức) tốt hơn các doanh nghiệp sử dụng ít nợ. Điều này có thể được lý giải qua việc kết hợp
tác động riêng lẻ của chất lượng báo cáo tài chính và nợ ngắn hạn đối với hiệu quả đầu tư như
kết quả đã trình bày ở các mô hình hồi quy trên. Kết quả này nhìn chung cho thấy chất lượng báo
cáo tài chính và kỳ hạn nợ ngắn hạn có tác động bổ sung lẫn nhau nhưng tác động này không
lớn.
Cuối cùng, bài nghiên cứu cũng tìm thấy một số mối quan hệ giữa hiệu quả đầu tư và các
biến kiểm soát. Trong đó, rõ ràng nhất là khi giảm tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản cũng như
đẩy mạnh và tăng cường hệ số Z biểu thị sức khỏe tài chính của doanh nghiệp, thì sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả đầu tư của các công ty, mặc dù sự đóng góp này rất nhỏ so với mức độ tác
động của chất lượng báo cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng nợ.
Dựa trên các kết luận này, phần tiếp theo sẽ đưa ra một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp
Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong thời gian tới.
5.2. Một số kiến nghị và gợi ý
Bài nghiên cứu sẽ đưa ra một số gợi ý và khuyến nghị liên quan đến việc đánh giá lựa chọn
dự án nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và hạn chế việc đầu tư quá mức của các doanh nghiệp Việt
Nam trong thời gian tới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp cần phải chú trọng trong việc lập báo cáo tài chính của công ty
mình, bảo đảm số liệu đầu vào và đầu ra chính xác cũng như phù hợp với các chuẩn mực kế toán
của Việt Nam và quốc tế, từ đó nâng cao được chất lượng của báo cáo tài chính. Bên cạnh đó,
việc kiểm toán báo cáo tài chính cần phải được thực hiện bởi những công ty kiểm toán có uy tín
nhằm cung cấp cho các tổ chức, cá nhân và các nhà đầu tư những thông tin chính xác và khách
quan về tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của công ty.
63
Thứ hai, doanh nghiệp nên xây dựng cho mình một cơ cấu vốn hợp lý dựa theo đặc điểm
đặc thù của lĩnh vực kinh doanh cũng như sức khỏe tài chính và vị thế của công ty trên thị trường.
Nên có sự phối hợp linh động giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trên cơ sở đảm bảo được khả năng
trả nợ của doanh nghiệp cũng như giúp cho doanh nghiệp tận dụng được các lợi ích từ việc vay
nợ.
Thứ ba, bên cạnh chú trọng vào báo cáo tài chính và cơ cấu nợ của mình, các doanh nghiệp
cũng cần tự nâng cao khả năng tài chính của bản thân mình, trong đó tập trung xây dựng các biện
pháp phòng ngừa rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính nhằm nâng cao sức khỏe tài chính cũng
như khả năng thích ứng của công ty với những thay đổi trên thị trường trong quá trình đầu tư,
thực hiện dự án.
Tóm lại, mặc dù hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua vẫn còn thấp,
tuy nhiên với việc ngày càng chú trọng hơn về việc đánh giá, hoạch định và quản lý dự án đầu
tư của các doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế-xã
hội cũng như được các cơ quan chính phủ rất quan tâm hỗ trợ với những chính sách khuyến khích
đầu tư, chắc chắn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có rất nhiều cơ hội để tăng trưởng mạnh mẽ
trong thời gian tới, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế của Việt Nam phát triển bền vững trong
tương lai.
5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
Bài nghiên cứu đã tìm ra mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và tỷ lệ nợ ngắn hạn
đối với hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý, khuyến nghị
để việc đánh giá, hoạch định dự án đầu tư nhằm bảo đảm mang lại hiệu quả đầu tư cao cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, mặc dù tạo tính thuận tiện trong việc thu thập dữ liệu, nhưng phương pháp đo
lường hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính vẫn chưa thực sự bảo đảm được việc khái
quát hết ý nghĩa của các khái niệm này. Bởi vì chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư
là những khái niệm thiên về yếu tố định tính, nên việc định lượng hóa các khái niệm trên nhằm
đưa vào mô hình hồi quy không thể tránh khỏi việc bỏ sót các yếu tố có liên quan.
64
Thứ hai, mẫu nghiên cứu là 152 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên hai sàn sàn
chứng khoán nhưng có sự khác biệt lớn về quy mô và khả năng tài chính giữa các doanh nghiệp
có thể tạo ra sự sai lệch trong kết quả thống kê. Bên cạnh đó, vì số lượng doanh nghiệp nghiên
cứu tương đối nhỏ trong thời gian nghiên cứu khá ngắn do bị giới hạn về năm t-2 và t+1, nên
việc sử dụng nhiều biến kiểm soát, có thể làm kết quả hồi quy bị yếu. Tuy nhiên, việc bổ sung
yếu tố robust trong hồi quy fixed effect đã bác bỏ điều này.
Cuối cùng, các biến đưa vào mô hình có mối liên quan với nhau, như ở trường hợp biến
doanh thu được sử dụng trong việc tính toán hiệu quả đầu tư cũng như được sử dụng để biểu thị
mức độ biến động của doanh thu và quy mô của doanh nghiệp trong thời gian nghiên cứu tương
đối ngắn có thể dẫn đến các vấn đề nội sinh giữa các biến.
Để khắc phục những hạn chế này, bài nghiên cứu định hướng sẽ mở rộng kích thước mẫu
nghiên cứu, đồng thời áp dụng các mô hình nghiên cứu khác đo lường và định lượng chính xác
hơn hiệu quả đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính. Ngoài ra bài nghiên cứu còn định hướng sẽ
sử dụng phương pháp hồi quy GMM (General Method of Moments) để kiểm soát các vấn đề nội
sinh giữa các biến, bảo đảm tính bền vững của các mô hình hồi quy.
TÀ I LIỆU THAM KHẢ O
Tà i liê ̣u trong nước:
Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam.
Luật đầu tư năm 2005.
Luật đầu tư năm 2014.
Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Trang, Nguyễn Thi ̣ Liên Hoa- Giáo trình Phân tích tài chính (NXB Lao Động-
Xã Hội, năm 2008)
Thông tư 200/2014/TT-BTC Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp.
Trần Ngo ̣c Thơ, Giáo trình Tài chính doanh nghiê ̣p hiê ̣n đa ̣i (NXB Thống Kê, 2007).
Trần Thị Thùy Linh & Mai Hoàng Hạnh, 2015. Chất lượng báo cáo tài chính và kì hạn nợ ảnh
hưởng đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Phát triển Kinh tế, 26(10),27-
50.
Tà i liê ̣u nước ngoà i:
Abel, A., 1983. Optimal investment under uncertainty. American Economic Review 73, 228–
233
Ball, R., Shivakumar, L., 2005. Earnings quality in UK private firms: comparative loss
recognition timeliness. Journal of Accounting and Economics 39, 83–128
Barclay, M.J., Smith, C.W., 1995. The maturity structure of corporate debt. The Journal of
Finance 50, 609–631.
Berger, A., Udell, G., 1998. The economics of small business finance: the roles of private equity
and debt markets in the financial growth cycle. Journal of Banking and Finance 22, 613–673.
Biddle, G.,Hilary, G., 2006. Accounting quality and firm-level capital investment. The
Accounting Review 81, 963–982.
Bharath, S.T., Sunder, J., Sunder, S.V., 2008. Accounting quality and debt contracting. The
Accounting Review 83, 1–28
Bhattacharya, U., Daouk, H., Welker, M., 2003. The world pricing of earnings opacity. The
Accounting Review 78, 641–678.
Biddle, G., Hilary, G., Verdi, R.S., 2009. How does financial reporting quality relate to
investments efficiency? Journal of Accounting and Economics 48, 112–131
Burgstahler, D., Hail, L., Leuz, C., 2006. The importance of reporting incentives: earnings
management in European private and public firms. The Accounting Review 81, 983–1016.
Bushman, R.M., Smith, A.J., 2001. Financial accounting information and corporate
governance. Journal of Accounting and Economics 32, 237–333.
Chen, F., Hope, O.Li, Q.,Wang, X., 2011. Financial reporting quality and investment efficiency
of private firms in emerging markets. The Accounting Review 86, 1255–1288.
Childs, P.D., Mauer, D.C., Ott, S.H., 2005. Interactions of corporate financing and investment
decisions: the effects of agency conflicts. Journal of Financial, Economics 76, 667–690.
Datta, S., Iskandar-Datta, M., Raman, K., 2005. Managerial stock ownership and maturity
structure of corporate debt. The Journal of Finance 60, 2333–2350.
Dechow, P., Dichev, I., 2002. The quality of accruals and earnings: the role of accrual estimation
errors. The Accounting Review 77, 35–59
D’ R 2010 Long-term debt and overinvestment agency problem. Journal of Banking and Finance
34, 324–335.
Diamond, D.W., 1993. Seniority and maturity of debt contracts. Journal of Financial Economics
33, 341–368
Douglas W. Diamond, 1989. Reputation Acquisition in Debt Markets. The Journal of Political
Economy, Vol. 97, No. 4 (Aug., 1989), pp. 828-862
Douglas W. Diamond, Robert E.Verrecchia, 1991. Disclosure, Liquidity, and the Cost of
Captital. The Journal of Finance, Vol. 46, No.4. (Sep., 1991),pp. 1325-1359.
Fuensanta Cutillas Gomariz, Juan Pedro Sánchez Ballesta, 2013. Financial reporting quality,
debt maturity and investment efficiency. Journal of Banking & Finance.
Fukunari KIMURA & Soji SAMIKAWA, 2009. A Lot of Reason Why We Should Invest More
in East Asia, Working Papers p003, Economic Research Institute for ASEAN and East Asia
(ERIA).
Gordon, M.J., 1992. The Neoclassical and a post Keynesian theory of investment. Journal of Post
Keynesian Economics 14, 425–443.
Healy, P.M., Palepu, K.G., 2001. Information asymmetry, corporate disclosure, and the capital
markets: a review of the empirical disclosure literature. Journal of Accounting and Economics
31, 405–440.
Holthausen, R.W., 2009. Accounting standards, financial reporting outcomes, and enforcement.
Journal of Accounting Research 47 (2), 447–458.
Hope, O., Thomas, W.B., 2008. Managerial empire building and firm disclosure. Journal of
Accounting Research 46, 591–626
Jensen, M., Meckling, W.H., 1976. Theory of the firm: managerial behaviour, agency costs and
ownership structure. Journal of Financial Economics 3, 305–360.
Kasznik, R., 1999. On the association between voluntary disclosure and earnings management.
Journal of Accounting Research 37, 57–81
La Porta, R., Lopez-de-Silanes, F., Shleifer, A., Vishny, R., 1998. Law and finance. Journal of
Political Economy 106, 1113–1155..
Lambert, R., Leuz, C., Verrecchia, R., 2007. Accounting information, disclosure, and the cost of
capital. Journal of Accounting Research 45, 385–420.
Leuz, C., Nanda, D., Wysocki, P.D., 2003. Earnings management and investor protection: an
international comparison. Journal of Financial Economics 69, 505–527
McNichols, M., Stubben, S., 2008. Does earnings management affect firms’ investment
decisions. The Accounting Review 86, 1571–1603
Myers, S.C., 1977. Determinants of corporate borrowing. Journal of Financial Economics 5,
147–175.
Myers, S.C., Majluf, N.S., 1984. Corporate financing and investment decisions when firms have
information that investors do not have. Journal of Financial Economics 13, 187–221
Ortiz-Molina, H., Penas, M.F., 2008. Lending to small businesses: the role of the loan maturity
in addressing informationproblems.SmallBusinessEconomics30,361–383.
Tài liệu khác
Website Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn/
Website Vietstock: http://vietstock.vn/PrintView.aspx?ArticleID=133207
Website Cophieu68: http://www.cophieu68.vn/
Website CafeF: http://cafef.vn/thi-truong-chung-khoan.chn
PHỤ LỤC
KẾ T QUẢ HỒ I QUY CÁ C MÔ HÌNH TRONG BÀ I NGHIÊN CỨ U
Phụ lục 1. Tóm tắt mô tả biến và kỳ vọng dấu
Kỳ Ký hiệu Biến Mô tả biến Nguồn vọng biến dấu
INVEFFi,t = -| ɛ̂i,t |, với ɛ̂i,t là phần dư của mô
Báo cáo Hiệu quả hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng trưởng INVEFF tài chính tài chính doanh thu
OI = INVEFF khi ɛ̂i,t > 0, với ɛ̂i,t là phần dư Báo cáo Đầu tư OI của mô hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng tài chính quá mức trưởng doanh thu
UI = INVEFF khi ɛ̂i,t < 0, với ɛ̂i,t là phần dư Báo cáo Đầu tư UI của mô hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng tài chính dưới mức trưởng doanh thu
Hiệu quả INVEFF2i,t = -| ɛ̂i,t |, với ɛ̂i,t là phần dư của mô Báo cáo tài chính INVEFF2 hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng trưởng tài chính thay thế doanh thu có xét đến doanh thu âm hay dương
OI2 = INVEFF2 khi ɛ̂i,t > 0, với ɛ̂i,t là phần dư Đầu tư Báo cáo của mô hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng quá mức OI2 tài chính trưởng doanh thu có xét đến tăng trưởng thay thế doanh thu âm hay dương
UI2 = INVEFF2 khi ɛ̂i,t < 0, với ɛ̂i,t là phần dư
Đầu tư của mô hình hồi quy giữa đầu tư và sự tăng Báo cáo dưới mức UI2 trưởng doanh thu có xét đến tăng trưởng tài chính thay thế doanh thu âm hay dương
Kỳ Ký hiệu Biến Mô tả biến Nguồn vọng biến dấu
FRQ_MNST = -| ɛ̂i,t |, với ɛ̂i,t là phần dư của Báo cáo mô hình hồi quy: FRQ_MNST + tài chính ΔARi,t = β0 + β1ΔSalesi,t+ ɛi,t
FRQ_KASZ = -| ɛ̂i,t |, với ɛ̂i,t là phần dư của
mô hình hồi quy: Báo cáo FRQ_KASZ + Chất tài chính TAi,t = β0 + β1ΔSalesi,t+ β2PPEi,t + β3 ΔCFOi,t lượng báo + ɛi, cáo tài
chính FRQ_DD = -| ɛ̂i,t |, với ɛ̂i,t là phần dư của mô
hình hồi quy: Báo cáo FRQ_DD + tài chính WCAi,t = β0 + β1CFOi,t-1+ β2CFOi,t +
β3CFOi,t+1 + ɛi,t
𝑭𝑹𝑸_𝑴𝑵𝑺𝑻𝒊,𝒕+𝑭𝑹𝑸_𝑲𝑨𝑺𝒁𝒊,𝒕+𝑭𝑹𝑸_𝑫𝑫𝒊,𝒕 3
FRQ_TBi,t = Báo cáo FRQ_TB + tài chính
𝑁ơ ̣ 𝑛𝑔ắ 𝑛 ℎ𝑎̣ 𝑛 𝑖,𝑡 𝑇ổ 𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ơ ̣ 𝑖,𝑡
Báo cáo Nợ ngắn STDebt + STDebti,t = tài chính hạn
Báo cáo Có giá trị bằng 1 nếu STDebti,t > trung vị của DumSTDebt + STDebt và ngược lại bằng 0 tài chính Biến giả Báo cáo Có giá trị bằng 1 nếu STDebti,t < tứ phân vị nợ ngắn DumDebt25 + thứ nhất của STDebt và ngược lại bằng 0 tài chính hạn Báo cáo Có giá trị bằng 1 nếu STDebti,t > tứ phân vị DumDebt75 + thứ ba của STDebt và ngược lại bằng 0 tài chính
Kỳ Ký hiệu Biến Mô tả biến Nguồn vọng biến dấu
Quy mô Quy mô doanh nghiệp phản ánh độ lớn của Báo cáo doanh LnSales doanh nghiệp, được đo lường bằng logarit -/+ tài chính doanh thu của doanh nghiệp i trong năm t nghiệp
Độ tuổi của doanh nghiệp i tại năm t được xác Độ tuổi định bằng hiệu số giữa năm t và năm thành lập Báo cáo của doanh LnAge + doanh nghiệp i và được lấy logarit để giảm sự tài chính nghiệp biến động
Tà i sả n cô ́ đị nh hữu hình i,t Tổ ng tà i sả n i,t
Tài sản cố Tangi,t = Báo cáo định hữu Tang -/+ tài chính hình
Đo lường mức độ biến động dòng tiền của Độ biến doanh nghiệp, được xác định bằng độ lệch Báo cáo động STDCFO - chuẩn dòng tiền của doanh nghiệp i từ năm t- tài chính dòng tiền 2 đến năm t
Đo lường mức độ biến động doanh thu của Độ biến doanh nghiệp, được xác định bằng độ lệch Báo cáo động STDSales - chuẩn doanh thu của doanh nghiệp i từ năm t- tài chính doanh thu 2 đến năm t
Cơ hội Báo cáo
QTobin = Giá trị thị trường của nợ + Gia ́ trị thị trườ ng vốn chủ sở hữu Gia ́ trị số sá ch củ a tài sả n
tăng QTobin + tài chính trưởng
là thước đo khả năng thanh toán tài chính của
doanh nghiệp được đề xuất bởi Altman’s Z- Báo cáo Sức khỏe Z score (1968) và được xác định như sau: + tài chính tài chính
Z = 0,012 * X1 + 0,014 * X2 + 0,033 * X3 +
0,006 * X4 + 0,999 * X5
Kỳ Ký hiệu Biến Mô tả biến Nguồn vọng biến dấu
Vô
̉n
Trong đó:
́n luân chuyê Tổ ng tà i sản
Lợ i nhua
̣n giữ lại
X1 =
Tổ ng tà i sản
Thu nha
́ và lãi vay
X2 =
̣p trướ c thuê Tổ ng tà i sản
̉ pha
̀n
X3 =
Giá Trị thị trườ ng của vô ̉ sách của tô
Giá trị sô
́n cô ̉ng nợ
X4 =
Dôanh thu Tổ ng tà i sản
X5 =
Đo lường về việc doanh nghiệp báo lỗ và được
xác định có giá trị bằng 1 nếu thu nhập thuần Báo cáo Biến giả Loss từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp i - tài chính thua lỗ trong năm t là âm và ngược lại có giá trị bằng
0
Dòng tiền thua
̣ng kinh dôanh
̀n từ hôạt đô ̉ng tài sản bình quân
Tô
Trung bình các khôản phải thu
Tác động Báo cáo CFO_ATA CFO_ATA = + của dòng tài chính tiền
Dôanh thu
Trung bình hà ng tồ n khô
Giá vô
́n hàng bán
Chu kỳ Opercycle = x 360 Báo cáo kinh Opercycle -/+ + x 360 tài chính doanh
Phụ lục 2: Danh sách các công ty trong mẫu nghiên cứu
STT
Mã CK
Tên công ty
AAM
Công ty Cổ phần Thủy Sản MeKong
1
Công ty Cổ phần XNK Thủy Sản Bến Tre
2
ABT
Công ty Cổ phần XNK Thủy Sản Cửu Long An Giang
3
ACL
Công ty Cổ phần XNK Thủy Sản An Giang
4
AGF
ANV
Công ty Cổ phần Nam Việt
5
Công ty Cổ phần Chiếu xạ An Phú
6
APC
Công ty Cổ phần Tập đoàn Dầu khí An Pha
7
ASP
Công ty Cổ phần NTACO
8
ATA
Công ty Cổ phần Việt An
9
AVF
Công ty Cổ phần Bibica
10
BBC
Công ty Cổ phần Đường Biên Hòa
11
BHS
Công ty Cổ phần Thủy sản Bạc Liêu
12
BLF
Công ty Cổ phần Sách - Thiết bị Bình Thuận
13
BST
Công ty Cổ phần Nhiệt điện Bà Rịa
14
BTP
Công ty Cổ phần Thương mại - Dịch vụ Bến Thành
15
BTT
Công ty Cổ phần Đồ hộp Hạ Long
16
CAN
Công ty Cổ phần Lâm nông sản thực phẩm Yên Bái
17
CAP
Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Công nghiệp Thương mại Củ Chi
18
CCI
Công ty Cổ phần COKYVINA
19
CKV
Công ty Cổ phần Cát Lợi
20
CLC
Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ CMC
21
CMG
Công ty Cổ phần Xây dựng và Nhân lực Việt Nam
22
CMS
Công ty Cổ phần Thương Nghiệp Cà Mau
23
CMV
Công ty Cổ phần Chế biến thủy sản và xuất nhập khẩu Cà Mau (Camimex)
24
CMX
Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su Miền Nam
25
CSM
Công ty Cổ phần Gia Lai CTC
26
CTC
Công ty Cổ phần Sách Giáo Dục tại TP Đà Nẵng
27
DAE
Công ty Cổ phần Dược phẩm Bến Tre
28
DBT
Công ty Cổ phần Dược phẩm Cửu Long
29
DCL
Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang
30
DHG
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế Domesco
31
DMC
Tổng Công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất dầu khí
32
DPM
Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú
33
DPR
Công ty Cổ phần Cao su Đồng Phú
34
DRC
Công ty Cổ phần Công viên nước Đầm Sen
35
DSN
Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Nam Định
36
DST
STT
Mã CK
Tên công ty
37
DTL
Công ty Cổ phần Đại Thiên Lộc
38
EBS
Công ty Cổ phần Sách Giáo Dục tại TP Hà Nội
39
FDT
Công ty Cổ phần Fiditour
40
FMC
Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta
41
FPT
Công ty Cổ phần FPT
42
GAS
Tổng Công ty Khí Việt Nam - CTCP
43
GMD
Công ty Cổ phần Gemadept
44
HAD
Công ty Cổ phần Bia Hà Nội - Hải Dương
45
HAI
Công ty Cổ phần Nông dược H.A.I
46
HCT
Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng
47
HDC
Công ty Cổ phần Phát triển nhà Bà Rịa-Vũng Tàu
48
HEV
Công ty Cổ phần Sách Đại học - Dạy nghề
49
HHC
Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà
50
HJS
Công ty Cổ phần Thủy điện Nậm Mu
51
HLA
Công ty Cổ phần Hữu Liên Á Châu
52
HLG
Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoàng Long
53
HMC
Công ty Cổ phần Kim khí Thành phố Hồ Chí Minh - VNSTEEL
54
HNM
Công ty Cổ phần Sữa Hà Nội
55
HOT
Công ty Cổ phần Du lịch-Dịch vụ Hội An
56
HRC
Công ty Cổ phần Cao su Hòa Bình
57
HSG
Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen
58
HTC
Công ty Cổ phần Thương mại Hóc Môn
59
HTP
Công ty Cổ phần In sách giáo khoa Hòa Phát
60
HTV
Công ty Cổ phần vận tải Hà Tiên
61
HVG
Công ty Cổ phần Hùng Vương
62
HVT
Công ty Cổ phần Hóa chất Việt Trì
63
ICF
Công ty Cổ phần Đầu tư Thương mại Thủy sản
64
IMP
Công ty Cổ phần dược phẩm Imexpharm
65
KDC
Công ty Cổ phần tập đoàn Kido
66
KHA
Công ty Cổ phần Đầu tư và Dịch vụ Khánh Hội
67
KHP
Công ty Cổ phần Điện lực Khánh Hòa
68
KKC
Công ty Cổ phần Sản xuất và Kinh doanh kim khí
69
KMT
Công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung
70
KTS
Công ty Cổ phần Đường Kon Tum
71
LBE
Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học Long An
72
LSS
Công ty Cổ phần Mía đường Lam Sơn
73
LTC
Công ty Cổ phần Điện nhẹ Viễn thông
74 MHC
Công ty Cổ phần MHC
STT
Mã CK
Tên công ty
75 MKV
Công ty Cổ phần Dược thú y Cai Lậy
76 MPC
Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy hải sản Minh Phú
77 MSN
Công ty Cổ phần Tập đoàn Ma San
Công ty Cổ phần Chế biến thủy sản Xuất khẩu Ngô Quyền
NGC
78
NST
79
Công ty Cổ phần Ngân Sơn
ONE
80
Công ty Cổ phần Truyền thông số 1
OPC
81
Công ty Cổ phần Dược phẩm OPC
PAN
82
Công ty Cổ phần Tập đoàn PAN
PCG
83
Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Gas Đô thị
PET
84
Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Tổng hợp Dầu khí
PGC
85
Tổng Công ty Gas Petrolimex - CTCP
PGD
86
Công ty Cổ phần Phân phối khí Thấp áp Dầu khí Việt Nam
PGS
87
Công ty Cổ phần Kinh doanh khí hóa lỏng miền Nam
PHH
88
Công ty Cổ phần Hồng Hà Việt Nam
PHR
89
Công ty Cổ phần Cao su Phước Hòa
PIT
90
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex
PJC
91
Công ty Cổ phần Thương mại và Vận tải Petrolimex Hà Nội
PJT
92
Công ty Cổ phần Vận tải Xăng dầu Đường Thủy Petrolimex
PLC
93
Tổng Công ty Hóa dầu Petrolimex - CTCP
PMC
94
Công ty Cổ phần Dược phẩm dược liệu Pharmedic
PNC
95
Công ty Cổ phần văn hoá Phương Nam
POM
96
Công ty Cổ phần Thép Pomina
POT
97
Công ty Cổ phần Thiết bị Bưu Điện
PPC
98
Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại
PSC
99
Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ Petrolimex Sài Gòn
PTS
100
Công ty Cổ phần Vận tải và Dịch vụ Petrolimex Hải Phòng
PVA
101
Công ty Cổ phần Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Nghệ An
PVC
102
Tổng Công ty cổ phần Dung dịch khoan và Hóa phẩm Dầu khí
PVD
103
Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan dầu khí
PVE
104
Tổng Công ty tư vấn thiết kế dầu khí - CTCP
PVG
105
Công ty Cổ phần Kinh doanh khí hóa lỏng miền Bắc
PVS
106
Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam
PVT
107
Tổng Công ty Cổ phần Vận tải dầu khí
108
SAM
Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển SACOM
SAP
109
Công ty Cổ phần In sách giáo khoa TP Hồ Chí Minh
SBT
110
Công ty Cổ phần mía đường Thành Thành Công Tây Ninh
SCD
111
Công ty Cổ phần Nước Giải khát Chương Dương (CDBECO)
SGC
112
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Sa Giang
STT
Mã CK
Tên công ty
Công ty Cổ phần Sách Giáo dục tại thành phố Hồ Chí Minh
SGD
113
Công ty Cổ phần Khách sạn Sài Gòn
SGH
114
Công ty Cổ phần Công nghệ Viễn thông Sài Gòn
SGT
115
Công ty Cổ phần Nông nghiệp Hùng Hậu
SJ1
116
Công ty Cổ phần Thủy Điện Cần Đơn
SJD
117
SMC
Công ty Cổ phần đầu tư thương mại SMC
118
Công ty Cổ phần S.P.M
SPM
119
Công ty Cổ phần Sara Việt Nam
SRA
120
Công ty Cổ phần Tập đoàn SARA
SRB
121
Công ty Cổ phần Cao su Sao vàng
SRC
122
Công ty Cổ phần Chế tạo kết cấu thép VNECO.SSM
SSM
123
Công ty Cổ phần Siêu Thanh
ST8
124
Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị trường học TP Hồ Chí Minh
STC
125
Công ty Cổ phần dịch vụ tổng hợp Sài Gòn
SVC
126
Công ty Cổ phần Dầu thực vật Tường An
TAC
127
Công ty Cổ phần Thế giới số Trần Anh
TAG
128
Công ty Cổ phần Thủy điện Thác Bà
TBC
129
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I Việt Nam
TH1
130
Công ty Cổ phần Bia Thanh Hóa
THB
131
Công ty Cổ phần Dịch vụ Vận tải và Thương mại
TJC
132
TMC
Công ty Cổ phần Thương mại Xuất nhập khẩu Thủ Đức
133
Công ty Cổ phần Thủy điện Thác Mơ
TMP
134
CÔNG TY Cổ phần TRANSIMEX
TMS
135
Công ty Cổ phần Thương Mại Xuất Nhập Khẩu Thiên Nam
TNA
136
Công ty Cổ phần Cao su Thống Nhất
TNC
137
Công ty Cổ phần Cao su Tây Ninh
TRC
138
Công ty Cổ phần Thủy sản số 4
TS4
139
Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông
TST
140
Công ty Cổ phần Thực phẩm Lâm Đồng
VDL
141
Công ty Cổ phần Ống thép Việt Đức VG PIPE
VGS
142
Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn
VHC
143
Công ty Cổ phần Đầu tư Cao su Quảng Nam
VHG
144
Công ty Cổ phần Thép Việt Ý
VIS
145
Công ty Cổ phần Lương thực thực phẩm Vĩnh Long
VLF
146
Công ty Cổ phần Tập đoàn Vinacontrol
VNC
147
Công ty Cổ phần Du lịch Thành Thành Công
VNG
148
Công ty Cổ phần Thủy hải sản Việt Nhật
VNH
149
VNM
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
150
Tên công ty
STT
Mã CK
Công ty Cổ phần Thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh
151
VSH
Công ty Cổ phần viễn thông VTC
152
VTC
Phụ lục 3. Kết quả thống kê mô tả
Phụ lục 4. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến với FRQ_MNST (loại bỏ LnSales và LnAge)
Phụ lục 5. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến với FRQ_KASZ (loại bỏ LnSales và LnAge)
Phụ lục 6. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến với FRQ_DD (loại bỏ LnSales và LnAge)
Phụ lục 7. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến với FRQ_TB (loại bỏ LnSales và LnAge)
Phụ lục 8. Kết quả hồi quy INVEFF với FRQ_MNST
Phụ lục 9. Kết quả hồi quy INVEFF với FRQ_KASZ
Phụ lục 10. Kết quả hồi quy INVEFF với FRQ_DD
Phụ lục 11. Kết quả hồi quy INVEFF với FRQ_TB
Phụ lục 12. Kết quả hồi quy OI với FRQ_MNST
Phụ lục 13. Kết quả hồi quy OI với FRQ_KASZ
Phụ lục 14. Kết quả hồi quy OI với FRQ_DD
Phụ lục 15. Kết quả hồi quy OI với FRQ_TB
Phụ lục 16. Kết quả hồi quy UI với FRQ_MNST
Phụ lục 17. Kết quả hồi quy UI với FRQ_KASZ
Phụ lục 18. Kết quả hồi quy UI với FRQ_DD
Phụ lục 19. Kết quả hồi quy UI với FRQ_TB
Phụ lục 20. Kết quả hồi quy INVEFF với DumSTDebt
Phụ lục 21. Kết quả hồi quy OI với DumSTDebt
Phụ lục 22. Kết quả hồi quy UI với DumSTDebt
Phụ lục 23. Kết quả hồi quy INVEFF với DumDebt25
Phụ lục 24. Kết quả hồi quy OI với DumDebt25
Phụ lục 25. Kết quả hồi quy UI với DumDebt25
Phụ lục 26. Kết quả hồi quy INVEFF với DumDebt75
Phụ lục 27. Kết quả hồi quy OI với DumDebt75
Phụ lục 28. Kết quả hồi quy UI với DumDebt75
Phụ lục 29. Kết quả hồi quy INVEFF2 với FRQ_TB
Phụ lục 30. Kết quả hồi quy OI2 với FRQ_TB
Phụ lục 31. Kết quả hồi quy UI2 với FRQ_TB