ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THÚY QUỲNH

CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN- 2020

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ THÚY QUỲNH

CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO

Ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Mã số: 8.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MẠNH TIẾN

THÁI NGUYÊN- 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và

kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố

trong bất kỳ một công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả Phạm Thị Thúy Quỳnh

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự

quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS. Nguyễn Mạnh Tiến, người đã tận

tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn

này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong và ngoài trường Trường Đại học

Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa

học.

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn hữu,

đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020

Tác giả

Phạm Thị Thúy Quỳnh

ii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i

LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii

MỤC LỤC............................................................................................................ iii

DANH MỤC BẢNG .............................................................................................. v

MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 2

4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 2

5. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 2

6. Bố cục của luận văn ......................................................................................... 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN ....... 4

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu .............................................................. 4

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về câu tiếng Việt theo cấu tạo ngữ pháp ................ 4

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về câu phức trong tiếng Việt .................................. 8

1.1.3. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trong Tuyển tập Nam Cao ............... 12

1.2. Cơ sở lí luận ................................................................................................ 16

1.2.1. Khái quát về câu trong tiếng Việt ............................................................ 16

1.2.2. Câu phức .................................................................................................. 26

1.3. Tiểu kết ....................................................................................................... 31

Chương 2: CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO XÉT VỀ MẶT

NGỮ PHÁP ........................................................................................................ 32

2.1. Dẫn nhập ..................................................................................................... 32

2.2. Câu phức phụ thuộc trong Tuyển tập Nam Cao ......................................... 36

2.2.1. Đặc điểm chung của câu phức phụ thuộc ................................................ 36

2.2.2. Phân biệt câu phức phụ thuộc với câu đơn và câu phức đẳng lập ........... 37

2.2.3. Các kiểu câu phức phụ thuộc ................................................................... 42

iii

2.3. Câu phức đẳng lập ...................................................................................... 58

2.3.1. Đặc điểm chung của câu phức đẳng lập .................................................. 58

2.3.2. Các kiểu câu phức đẳng lập trong Tuyển tập Nam Cao .......................... 59

2.4. Tiểu kết ....................................................................................................... 62

Chương 3: CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO XÉT VỀ MẶT

NGỮ NGHĨA ..................................................................................................... 63

3.1. Dẫn nhập ..................................................................................................... 63

3.2. Đặc điểm chung về ngữ nghĩa của câu phức trong Tuyển tập Nam Cao ......... 63

3.2.1. Câu phức với số lượng sự tình được biểu thị .......................................... 64

3.2.2. Về tổ chức ngữ nghĩa của câu phức ........................................................ 67

3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức phụ thuộc ............................................. 69

3.3.1. Nhận xét chung ........................................................................................ 69

3.3.2. Chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị trong câu phức phụ thuộc ..... 69

3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức đẳng lập ............................................... 81

3.5. Tiểu kết ....................................................................................................... 82

KẾT LUẬN ........................................................................................................ 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 85

iv

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1. Các kiểu câu phức ......................................................................... 34

Bảng 2.2. Các kiểu câu phức phụ thuộc ........................................................ 35

Bảng 2.3. Các kiểu câu đẳng lập .................................................................... 35

Bảng 2.4. Tính trung gian của câu phức phụ thuộc ....................................... 37

v

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có chức năng thông báo. Từ trước đến

nay, vấn đề câu được nghiên cứu trên nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau.

Với tư cách là một trong những kiểu câu được phân loại theo cấu tạo ngữ

pháp, câu phức là một vấn đề luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà

ngôn ngữ.

Theo quan niệm được thừa nhận rộng rãi, câu phức là câu gồm từ hai cụm

chủ vị trở lên. Câu phức được đặc trưng không chỉ bởi sự phức tạp về mặt cấu

tạo, đa dạng về mặt ngữ nghĩa mà còn ở những đặc điểm đáng chú ý về mặt ngữ

dụng.

1.2. Nói về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ văn chương trong đó có cách

dùng từ đặt câu, không thể không nói đến Nam Cao, nhà văn hiện thực lớn của

nền văn học Việt Nam. Ông không chỉ là nhà văn hiện thực kiệt xuất, có tư tưởng

nhân đạo sâu sắc mà còn là nhà văn có quan điểm nghệ thuật tiến bộ, có những

đóng góp rất quan trọng về mặt sử dụng ngôn ngữ.

1.3. Mặc dù đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về câu phức nhưng cho

đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi, chưa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu

về câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

Theo chúng tôi, việc nghiên cứu câu phức trong Tuyển tập Nam Cao theo

hướng trên đây có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận lẫn thực tiễn.

Về lí luận, kết quả nghiên cứu đề tài này góp phần bổ sung, làm phong

phú lí thuyết cú pháp nói chung, lí thuyết về câu phức nói riêng với tư cách là

đơn vị đa bình diện theo quan điểm của ngữ pháp chức năng.

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu đề tài này cung cấp một tài liệu tham

khảo hữu ích đối với việc nghiên cứu và dạy học về ngữ pháp tiếng Việt.

Chính vì những lí do trên đây, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề

tài Câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ đặc điểm câu phức trong Tuyển

tập Nam Cao về các mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa; Qua đó, cung cấp nguồn tài liệu

tham khảo có ý nghĩa về ngữ pháp tiếng Việt, góp phần nâng cao chất lượng dạy

học tiếng Việt trong Nhà trường.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác lập cơ sở lí luận của đề tài.

- Thống kê, phân loại câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

- Miêu tả, làm rõ đặc điểm về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu phức trong

Tuyển tập Nam Cao.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là câu phức trong Tuyển tập Nam Cao xét

về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả để làm rõ đặc điểm của câu

phức trong Tuyển tập Nam Cao. Phù hợp với phương pháp miêu tả, đề tài sử dụng

các thủ pháp thống kê, phân loại, phân tích ngữ pháp, ngữ nghĩa.

5. Đóng góp của luận văn

5.1. Về mặt lí luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của câu

phức trong Tuyển tập Nam Cao dưới các bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa; qua

đó, góp phần bổ sung, làm phong phú lí thuyết về cú pháp nói chung, lí thuyết

về câu phức nói riêng trên cứ liệu văn bản văn học của một tác giả cụ thể nhìn từ

quan điểm ngữ pháp chức năng.

2

5.2. Về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo hữu ích có

ý nghĩa đối với việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường.

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2: Câu phức trong Tuyển tập Nam Cao xét về mặt ngữ pháp

Chương 3: Câu phức trong Tuyển tập Nam Cao xét về mặt ngữ nghĩa

3

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về câu tiếng Việt theo cấu tạo ngữ pháp

1.1.1.1. Các công trình theo khuynh hướng truyền thống

Trong việc phân tích câu về mặt cấu tạo ngữ pháp, khuynh hướng truyền

thống luôn giữ vai trò chủ đạo với những công trình tiêu biểu của các tác giả như

Hoàng Tuệ (1962, [54]), Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963, [15]),

Nguyễn Kim Thản (1964, [55]), I.X.Bưxtrov, Nguyễn Tài Cẩn, N.V Stankevich

(1975, [12]), Hoàng Trọng Phiến (1980, [40]), Diệp Quang Ban (1984, [7])…

Theo sự tổng kết của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, nét chung

đồng thời cũng là nét cơ bản của cách phân tích câu truyền thống là thừa nhận

chủ ngữ, vị ngữ là hai thành phần chính (nòng cốt) của câu và ngoài hai thành

phần chính là chủ ngữ vị ngữ, câu còn có các thành phần phụ như bổ ngữ, trạng

ngữ, định ngữ,…Cách phân tích câu trên quan niệm trên đây có tính phổ biến

nhất không chỉ trong Việt ngữ học mà cả trong ngôn ngữ học nước ngoài. Về ưu

điểm, cách phân tích câu theo truyền thống đã phản ánh tương đối đầy đủ và

trung thực tổ chức cú pháp của câu. Nó đã đưa ra được một bức tranh về thành

phần câu tương đối phù hợp với cảm nhận của người bản ngữ. Về mặt thực tiễn,

hệ thống khái niệm ngữ pháp nói chung và hệ thống thành phần câu nói riêng

của ngữ pháp học truyền thống đã giúp cho người học nắm được một cách khá

thuận lợi tổ chức ngữ pháp của câu và có thể vận dụng một cách có hiệu quả

trong nói, viết. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, cách

phân tích câu theo truyền thống cũng còn có những hạn chế nhất định; cụ thể,

quan niệm truyền thống chưa đưa ra được sự miêu tả một cách không mâu thuẫn

hệ thống thành phần câu và vẫn chưa có được cả cách định nghĩa một cách

không mâu thuẫn thành phần câu như là thể thống nhất của nội dung và hình

thức của nó” [37, 193].

1.1.1.2. Những công trình theo hướng tìm tòi mới

4

Trong các công trình nghiên cứu về câu theo hướng tìm tòi mới, công trình

nghiên cứu của Cao Xuân Hạo là một hướng tìm tòi đáng chú ý.

Là người đầu tiên áp dụng một cách triệt để quan hệ đề - thuyết vào việc

phân tích cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt, trong công trình “Tiếng Việt - Sơ thảo

Ngữ pháp chức năng” (1991) Cao Xuân Hạo cho rằng cần phải thay cách phân

tích câu tiếng Việt theo quan hệ chủ - vị mà theo tác giả là đã bê nguyên xi từ

tiếng Pháp vào tiếng Việt do tư tưởng “dĩ Âu vi trung” bằng cách phân tích theo

quan hệ đề - thuyết cho phù hợp với đặc điểm loại hình của tiếng Việt là một

ngôn ngữ thiên chủ đề. Ảnh hưởng tư tưởng của Ch.L.Li và S.A Thompson về

tính thiên chủ đề của một số ngôn ngữ trong đó có tiếng Việt, trong công trình

Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991), Cao Xuân Hạo không thừa

nhận cấu trúc chủ vị là cấu trúc cú pháp cơ bản của câu tiếng Việt. Theo ông, cấu

trúc cú pháp cơ bản và duy nhất của câu tiếng Việt là cấu trúc đề thuyết.

Có thể coi công trình trên đây của Cao Xuân Hạo là sự mở đầu cho một

hướng mới trong nghiên cứu câu tiếng Việt: hướng nghiên cứu câu theo bình

diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp, thông báo) mà trước đó còn ít được chú ý. Tuy

nhiên, về lý luận cũng như thực tiễn, cách phân tích câu, phân loại câu theo đề

thuyết mà Cao Xuân Hạo chủ trương không loại trừ và thay thế cách phân tích

theo bình diện cú pháp như một số tác giả đã chỉ ra [32;1 - 15].

Hồ Lê cũng chủ trương phân tích câu theo đề thuyết với việc dựa vào các

kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trực tiếp tạo nên cấu trúc câu. Theo

ông, ngoài câu một thành phần hay câu gọi tên (Ví dụ: Mùa hạ.),tất cả các câu

hai thành phần đều có cấu tạo đề thuyết và bao gồm bốn kiểu:

- Câu chủ - vị (chủ ngữ - vị ngữ).

Ví dụ: (1) Ông Ba đi họp.

- Câu đề - ứng (đề ngữ - ứng ngữ).

Ví dụ: (2) Quyển sách này, ông Ba mới mua.

- Câu cách thức - hành động (thức ngữ - hành động ngữ).

5

Ví dụ: (3) Một cách chậm rãi, ông Ba bắt đầu kể chuyện.

- Câu điều kiện - hệ quả (điều kiện ngữ - hệ quả ngữ).

Ví dụ: (4) Nhờ gia đình chăm sóc tốt nên ông Ba chóng bình phục [37, 36-

37].

Có thể nhận thấy những đề xuất trên đây chưa thật sự xuất phát từ bản chất

cú pháp của câu và thành phần câu (từ ý nghĩa cú pháp và hình thức cú pháp

tương ứng) và chính điều đó không cho phép phân biệt các biến thể khác nhau

của một kiểu câu. (Ví dụ: Ông Ba mới mua quyển sách này => Quyển sách này,

ông Ba mới mua).

Trần Ngọc Thêm, mặc dù, cũng sử dụng cặp đề - thuyết để phân tích câu

nhưng khác với các tác giả khác, ông vẫn sử dụng các khái niệm truyền thống

như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ. Tác giả cho rằng cặp chủ đề - thuật đề

(cặp đề - thuyết) không đồng nhất với cặp chủ ngữ - vị ngữ cũng như cặp nêu -

báo (cái đã biết - cái mới) [53, 48-50].

Với việc đưa các khái niệm đề - thuyết vào việc phân tích câu mà vẫn giữ

lại các khái niệm truyền thống như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ,…, cách

phân tích của Trần Ngọc Thêm đã gợi mở một hướng nghiên cứu phù hợp theo

đó, cấu trúc của câu như là đơn vị đa bình diện có thể được xem xét đồng thời

theo các bình diện khác nhau (bình diện cú pháp, bình diện ngữ nghĩa, bình diện

giao tiếp).

Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, V.S. Panfilov có cách nhìn nhận có

nhiều điểm khác với cách nhìn nhận truyền thống. Xem xét vấn đề hệ thống thành

phần tiếng Việt, V.S.Panfilov quan niệm “thành phần câu là phạm trù chức năng,

đó là yếu tố có quan hệ hình thái - ngữ nghĩa với vị ngữ hoặc với toàn bộ câu”

[39, tr.75]. Theo quan niệm này, hệ thống thành phần câu được V.S. Panfilov xác

định gồm các thành phần tiêu biểu như chủ ngữ, trạng ngữ, định ngữ của vị ngữ

và bổ ngữ. Vị ngữ mặc dù được coi là đỉnh cú pháp của câu nhưng không được

xếp vào số các thành phần câu. Quan niệm trên đây của V.S. Panfilov thể hiện

6

cách nhìn sâu sắc đối với vấn đề cú pháp nói chung, vấn đề thành phần câu nói

riêng.

Gần đây, trong Cuốn Thành phần câu tiếng Việt, Nguyễn Minh Thuyết và

Nguyễn Văn Hiệp đã có những đề xuất mới mẻ nhằm giải quyết triệt để hơn vấn

đề thành phần câu tiếng Việt [50]. Công trình này là một dấu mốc quan trọng

trong việc giải quyết vấn đề thành phần câu tiếng Việt. Tuy nhiên, theo nhận xét

của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, cách xác định, phân tích thành phần

câu thiên hẳn về mặt hình thức của các tác giả, xét về mặt lý thuyết cũng như khả

năng vận dụng vào thực tiễn phân tích cú pháp, cũng còn những hạn chế nhất

định như Tomita Kenji đã nhận xét trong lời giới thiệu về công trình này [37,

tr.195].

1.1.1.3. Lí thuyết kết trị và việc phân tích câu theo kết trị của từ

a) Khái niệm kết trị (valence) của động từ

Người khởi xướng lí thuyết kết trị là L. Tesniere, nhà ngôn ngữ học nổi

tiếng người Pháp. Theo L.Tesniere: “Có thể hình dung động từ ở dạng như

nguyên tử với những cái móc có thể hút vào mình một số lượng nhất định diễn tố

phù hợp với số lượng móc mà nó có để giữ bên mình các diễn tố này - số lượng

các móc có ở động từ và số lượng diễn tố mà nó có khả năng chi phối lập thành

bản chất của cái mà chúng tôi sẽ gọi là kết trị của động từ (valence verbe)” [18,

250].

Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị lần đầu tiên đã được nghiên cứu có hệ thống

trong chuyên luận Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc. Trong

công trình này, tác giả hiểu kết trị của động từ là khả năng của động từ tạo ra

xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp

(các thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định [37, 34].

b) Các công trình vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu về cú pháp

7

Sau khi ra đời, lí thuyết kết trị đã nhanh chóng được phổ biến và được áp

dụng rộng rãi vào việc phân tích ngữ pháp nói chung, câu nói riêng. Những tư

tưởng, khái niệm, thuật ngữ của lí thuyết kết trị xuất hiện phổ biến trong nhiều

công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như: M.D.Stepanova

(1973), O.I. Moskanskaja (1974), G. Helbig (1978), (Dẫn theo [37, 201])

Trong Việt ngữ học, lí thuyết kết trị và cách vận dụng lí thuyết này vào

việc nghiên cứu ngữ pháp nói chung, câu nói riêng đã được đề cập đến trong các

công trình của Cao Xuân Hạo [28], Nguyễn Thị Quy [42], Đinh Văn Đức ([26,

Nguyễn Văn Lộc [37;64]), Nguyễn Văn Hiệp [29], Lâm Quang Đông [16] và

một số tác giả khác. Tuy nhiên, ở hầu hết các tác giả này, lí thuyết kết trị và việc

vận dụng vào phân tích ngữ pháp chủ yếu được đề cập khi xem xét, miêu tả vị từ

hoặc mặt ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) của câu.

Chỉ đến công trình của Nguyễn Mạnh Tiến (2016, Phân tích câu về cú

pháp dựa vào thuộc tính kết trị của từ [51]), vấn đề vận dụng lí thuyết kết trị vào

việc phân tích câu về cú pháp mới thực sự được đặt ra và được xem xét một cách

có hệ thống và chuyên sâu. Tài liệu này cũng là một trong những cơ sở được dựa

vào để triển khai một số nội dung quan trọng của luận văn.

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về câu phức trong tiếng Việt

1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau trong việc phân loại câu

Nhìn chung, khi phân loại câu theo mức độ phức tạp về cấu tạo, các tác

giả đều dựa vào cụm chủ vị (mệnh đề). Tuy nhiên, cách phân loại cụ thể ở các

tác giả có sự khác nhau. Có thể chỉ ra ba cách phân loại chính sau đây:

a) Phân loại dựa đơn thuần vào số lượng cụm chủ vị

Theo cách này, câu được chia thành hai loại: câu đơn và câu phức.

Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị.

Ví dụ: (5) Nó ngủ. (6) Tôi đọc sách.

Câu phức là câu bao gồm hai cụm chủ vị trở lên.

Ví dụ: (7) Nó ngủ, còn tôi đọc sách.

8

(8) Khi nó ngủ, tôi đọc sách. ([32, 273], [37, 206 - 207])

Ưu điểm của cách phân loại này là đơn giản, tiện lợi và cho phép vạch được

ranh giới rõ ràng, dứt khoát giữa câu đơn và câu phức. Tuy nhiên, những tác giả

không ủng hộ giải pháp này cho rằng cách này có hạn chế là chưa tính đến vai trò

của các cụm chủ vị (sự phân biệt cụm nòng cốt, cụm không nòng cốt).

b) Phân loại dựa vào số lượng cụm chủ vị nòng cốt

Cụm chủ vị nòng cốt được hiểu là cụm chủ vị không bị bao chứa trong một

cụm từ khác, tức là không làm thành phần của câu hay của từ tổ [37, 525].

Theo cách này, câu cũng được chia thành hai loại: câu đơn (câu đơn giản)

và câu phức (câu phức hợp).

Câu đơn giản là câu chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt.

Ví dụ: (9) Nó đến.

(10) Người anh cần gặp đã đến.

(11) Tôi ngỡ nó đến.

Câu phức hợp là câu có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên.

Ví dụ: (12) Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược.

(13) Vì tên Dậu là thân nhân của hắn cho nên chúng con bắt phải

nộp thay. (Ngô Tất Tố)

Cách phân loại này có ưu điểm là đã tính đến vai trò của các cụm chủ vị

(phân biệt cụm chủ vị nòng cốt với cụm chủ vị không nòng cốt) nhưng cách phân

loại này lại bị phê phán ở chỗ không tính đến sự khác nhau về số lượng cụm chủ

vị (theo cách này, câu đơn có thể gồm cả những câu có hai hoặc hơn hai cụm chủ

vị).

Ví dụ:

(14) Tôi tin rằng kế hoạch chúng ta đề ra sẽ hoàn thành đúng thời hạn.

(15) Lí tưởng là cái vì nó mà người ta sống, dưới ánh sáng của nó, người

ta thấy ý nghĩa cuộc đời.

c) Phân loại dựa vào cả số lượng cụm chủ vị lẫn số lượng cụm chủ vị nòng cốt

9

Theo cách này, câu được chia thành ba loại: câu đơn, câu phức và câu

ghép [37, 289 - 302].

Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị.

Ví dụ: (16) Bé ngủ.

Câu phức là câu gồm từ hai cụm chủ vị trở lên trong đó chỉ có một cụm

chủ vị nòng cốt.

Ví dụ: (17) Cuốn sách tôi vừa mua rất hay.

(18) Tôi tin rằng nó sẽ đến.

Câu ghép là câu gồm từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên.

Ví dụ: (19) Nếu tục ngữ thiên về trí tuệ thì ca dao lại thiên về tình cảm.

(20) Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. (Hồ Chí Minh)

Cách phân loại này được đánh giá là đã chú ý đến cả mặt số lượng lẫn mặt

vai trò, chức năng của các cụm chủ vị (kết hợp, dung hòa hai cách trên đây).

Tuy vậy, ở cách phân loại này cũng có những hạn chế nhất định (thể hiện

ở cách dùng thuật ngữ cũng như ở việc xác định khái niệm cụm chủ vị nòng cốt

như sẽ được chỉ ra ở dưới đây).

Bên cạnh ba cách phân loại phổ biến và khá quen thuộc trên đây, còn có

một vài cách phân loại trong đó có sự điều chỉnh, bổ sung nhất định đối với một

trong những cách phân loại đã giới thiệu trên đây.

Chẳng hạn, ở cách phân loại của Hoàng Trọng Phiến, bên cạnh câu đơn

(câu có một cụm chủ vị hay một trung tâm tính vị ngữ [40, 104]) và câu ghép

(câu gồm hai cụm chủ vị hay hai trung tâm tính vị ngữ trở lên có tính độc lập

tương đối [40, 205]) còn có câu trung gian (câu có cụm chủ vị làm thành phần

câu [40, 189 - 191]).

Theo cách phân loại của Nguyễn Văn Hiệp, câu cũng được chia thành: câu

đơn, câu phức, câu ghép.

Câu đơn được hiểu là những câu chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt (các cụm

chủ vị còn lại nếu có chỉ là thành phần không nòng cốt như định ngữ, trạng ngữ).

Ví dụ: (21) Tôi biết nó.

10

(22) Người mà chúng ta vừa gặp là nhà văn.

Câu phức là câu có ít nhất một trong những thành phần nòng cốt (các thành

phần tham gia nòng cốt câu như chủ ngữ, bổ ngữ, vị ngữ) có dạng là kết cấu chủ

vị.

Ví dụ: (23) Cô ấy làm thế rất đúng.

(24) Tôi muốn anh giúp một tay.

Câu ghép là câu có ít nhất hai cụm chủ vị trở lên có quan hệ với nhau về logic

- ngữ nghĩa và mối quan hệ này có thể được đánh dấu hoặc không đánh dấu.

Ví dụ: (25) Gái có công, chồng chẳng phụ.

(26) Giá tôi có tiền thì tôi đã mua ô tô.

Như vậy, theo cách phân loại trên đây của Nguyễn Văn Hiệp, những câu

có cụm chủ vị làm thành phần câu được tách ra thành hai nhóm: nhóm những

câu có cụm chủ vị làm định ngữ, trạng ngữ thuộc về câu đơn; còn nhóm những

câu có cụm chủ vị là chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ lại thuộc về câu phức. Khái niệm

câu đơn, câu phức theo cách phân loại này lại trở nên phức tạp hơn.

Qua sự trình bày trên đây, có thể phần nào thấy tính phức tạp của sự đối

lập giữa các loại, kiểu câu về mặt cấu tạo và kéo theo điều đó là những khó khăn,

phức tạp của việc phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp.

1.1.2.2. Nhận xét đánh giá về cách phân loại câu theo độ phức tạp về cấu tạo

Trong ba cách phân loại trên đây, chúng tôi nhận thấy cách phân loại thứ

nhất tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn.

Theo cách này, trước hết, câu bình thường được chia dựa vào số lượng

cụm chủ vị thành hai loại: câu đơn (câu đơn giản) và câu phức (câu phức hợp).

Câu đơn là câu chỉ có một cụm chủ vị.

Ví dụ: (27) Nam chạy.

(28) Nam viết thư.

Câu phức là câu bao gồm hai cụm chủ vị trở lên.

11

Ví dụ: (29) Ngôi nhà Hoàng ở rất rộng.

(30) Tôi biết anh ấy là người tốt.

Ở bước tiếp theo, câu đơn và câu phức sẽ được chia tiếp thành những kiểu

cụ thể dựa vào những tiêu chí nhất định.

Chẳng hạn, câu đơn sẽ được chia tiếp dựa vào đặc điểm chi phối của vị từ

- vị ngữ đối với các thành phần bắt buộc (chủ ngữ, bổ ngữ) thành các kiểu với

các mô hình cú pháp (mô hình kết trị) đặc trưng được xác định trên cơ sở thuộc

tính cú pháp của vị từ - vị ngữ.

Câu phức được chia tiếp dựa vào vai trò, chức năng của các cụm chủ vị

thành: câu phức phụ thuộc (câu phức chỉ có một cụm chủ vị chính hay một cụm

chủ vị nòng cốt) và câu phức đẳng lập (câu phức gồm từ hai cụm chủ vị chính

hay hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên).

Theo chúng tôi, ưu điểm của cách phân loại này là:

- Đơn giản, tiện lợi, dễ áp dụng.

- Phản ánh được rõ sự đối lập theo độ phức tạp về cấu tạo ngữ pháp giữa

các loại câu thể hiện ở cả mặt số lượng cụm chủ vị lẫn vai trò, chức năng của các

cụm chủ vị.

- Giúp khắc phục được những hạn chế của các cách phân loại thứ hai và

ba như đã chỉ ra.

1.1.3. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ trong Tuyển tập Nam Cao

Trong số các tác giả hàng đầu của văn xuôi hiện thực giai đoạn văn học

1930 - 1945, Nam Cao đến với làng văn không sớm nhưng các tác phẩm của ông

đều để lại ấn tượng rõ nét trong lòng độc giả.

Không chỉ mới mẻ trong kết cấu, văn Nam Cao còn tạo sức hấp dẫn bền

lâu ở việc sử dụng ngôn ngữ. Tuổi thơ cũng như gần như cả cuộc đời ông gắn

liền với nông thôn và dân nghèo thành thị cho nên các tác phẩm của ông gắn liền

với người nông dân, người dân nghèo thành thị và trí thức tiểu tư sản. Đặt sáng

tác của Nam Cao trong bối cảnh văn xuôi 1930 - 1945, chúng ta nhận ra Nam

12

Cao có lối đi riêng. Nếu Thạch Lam đi tìm cái đẹp để khám phá và phát hiện; Vũ

Trọng Phụng mổ xẻ đến tận cùng cái ung nhọt của xã hội đến mức cực đoan;

Khái Hưng, Nhất Linh nhiều phần thi vị hóa cuộc sống… thì Nam Cao thể hiện

một ngòi bút tỉnh táo, đúng mực khi nhìn nhận hiện thực.

Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu về phong cách nghệ thuật và ngôn

ngữ trong tác phẩm của Nam Cao. Có thể tóm lược như sau:

Nghiên cứu ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự của Nam Cao, tác giả Chu Bích

Thu trong bài “Sức sống của một sự nghiệp văn chương” đã viết “…trong văn

Nam Cao, một thứ văn xuôi tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày mà soi kỹ

lại thấy chữ nghĩa rất chỉnh, tiếng nói nhân vật và tiếng nói tác giả hòa quyện,

đan xen tạo nên một thế giới đa thanh, phức điệu mà chỉ văn xuôi hiện đại mới

có”[57; 33]. Trong bài viết của mình, tác giả Bích Thu còn nhấn mạnh: “Ngôn

ngữ của tác phẩm Nam Cao là sự hòa âm, phối hợp của nhiều loại ngôn ngữ khác

nhau”.Tác giả cũng đã đưa ra quan điểm về hai khía cạnh là ngôn ngữ đối thoại

và ngôn ngữ độc thoại, qua đó, chỉ ra cái tài của Nam Cao. Trong sử dụng ngôn

ngữ đối thoại, về ngôn ngữ đối thoại, Bích Thu viết: “Sự thành thạo trong sử

dụng ngôn ngữ của Nam Cao thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại mang đầy chất văn

xuôi đời thường, ngoài việc thực hiện chức năng tự sự còn là để khắc họa tính

cách và nội tâm nhân vật” [57;33]. Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại, chúng ta

cũngcần nhìn nhận về giá trị của ngôn ngữ độc thoại thể hiện nội tâm của nhân

vật. Đề cập đến vấn đề này, Bích Thu viết “Nam Cao có nhiều đóng góp cho việc

miêu tả lời thoại nội tâm, đặc biệt trong sự tiếp thu một cách sáng tạo chắt lọc

phương pháp dòng ý thức của văn học phương Tây trong sáng tác, tạo điều kiện

vào đi sâu vào phân tích tâm lý nhân vật, khiến nhân vật đối diện với chính mình,

tự phơi bày, tạo ra những cuộc tranh luận ngầm, bộc lộ ý kiến cá nhân của nhân

vật về một vấn đề đang được quan tâm: nhân cách trong cuộc đời, trong sáng tạo

nghệ thuật” [57;33].

13

Nhận xét về văn Nam Cao, tác giả Hà Minh Đức viết: “Văn Nam Cao

mang nhiều tính chất hiện đại mới mẻ. Anh không tả theo ước lệ và công thức

sáo mòn. Nam Cao sử dụng nhiều từ mới, nhiều so sánh, liên tưởng khá độc đáo

để diễn tả cho đúng trạng thái của đối tượng”. [20; 43].

Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét về ngôn ngữ của Nam Cao như sau: “Nam

Cao có nhiều đóng góp xuất sắc về ngôn ngữ văn xuôi. Sự hấp dẫn của văn Nam

Cao một phần quan trọng là do sức hấp dẫn của một thứ ngôn ngữ phong phú về

từ vựng, về cú pháp, về giọng điệu. Một thứ ngôn ngữ đi sát với đòi sống, nhiều

khi cứ như là buông thả theo lối khẩu ngữ dân gian có vẻ dài dòng, luộm thuộm,

kì thực đã vận dụng tiếng nói của đời sống một cách chủ động với một trình độ

nghệ thuật cao” [16,439].

Bùi Công Thuấn cũng đã nêu lên quan điểm của mình về ngôn ngữ Nam

Cao trong “Phong cách truyện ngắn Nam Cao” trước Cách mạng. Trong bài viết

này, Bùi Công Thuấn đã trình bày kết quả nghiên cứu về phong cách nghệ thuật,

phong cách ngôn ngữ và phong cách tác giả thể hiện qua các tác phẩm của Nam

Cao. Bùi Công Thuấn nhận định: “Bút pháp tâm lí và tính triết lí trong những

truyện ngắn của Nam Cao là đặc sắc và có gí trị bao trùm lên ngôn ngữ có chất

nông dân Bắc Bộ và chất trí thức tiểu tư sản bế tắc, bi tráng của Nam Cao. Cũng

chính sự thể hiện tâm lí và những nhận thức triết lí của Nam Cao là những đóng

góp độc đáo làm nên giá trị riêng của Nam Cao” [45;368].

Trong chuyên luận Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao, Vũ

Khắc Chương đã khảo sát các yếu tố chủ thể kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, cốt

truyện, cách kể, nhịp điệu trong tác phẩm của Nam Cao.

Trong khối lượng lớn các tài liệu nghiên cứu về Nam Cao, vấn đề phong

cách nghệ thuật Nam Cao được đề cập trong các công trình như Phong cách

truyện ngắn Nam Cao của Vũ Tuấn Anh, và Phong cách truyện ngắn Nam Cao

trước cách mạng của Bùi Công Thuấn.

Trong các cuốn sách tập hợp nhiều bài viết về Nam Cao như “Nghĩ tiếp về

Nam Cao” (NXB Hội nhà văn Hà Nội 1992), “Nam Cao - về tác gia, tác phẩm”

14

(NXB Giáo dục 1998), “Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất sắc” (NXB Thông

tin văn hóa Hà Nội 2000), “Nam Cao - con người và tác phẩm” (NXB Văn học

Hà Nội 2000), các tác giả đã đề cập đến vấn đề nội dung và nghệ thuật qua các

sáng tác của Nam Cao. Đặc biệt, trong nhóm bài bàn về ngôn ngữ nghệ thuật của

Nam Cao có thể, kể đến: “Chất giọng Nam Cao trong Chí Phèo” của Nguyễn

Thái Hòa, “Lối văn kể chuyện của Nam Cao” của Phan Diễm Hương, “Bút pháp

tự sự đặc sắc trong Sống mòn” của Nguyễn Ngọc Thiện, “Tìm hiểu chữ “nhưng”

trong văn Nam Cao” của Phan Trọng Thưởng…Qua các công trình trên đây, ta

thấy ngôn ngữ trong các tác phẩm của Nam Cao là một mảnh đất hấp dẫn đối với

các nhà nghiên cứu và nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của ông đã được chỉ ra một

cách tinh tế, sâu sắc.

Người đầu tiên chú ý đến sự sắc sảo trong văn phong của Nam Cao là

Nguyễn Đình Thi trong bài “Nam Cao” viết vào tháng 2 năm 1950 đăng trên Tạp

chí Văn nghệ; tiếp đó là hai hồi kí của Tô Hoài in trên báo Văn nghệ năm 1956.

Bước sang những năm 60, nhiều công trình có giá trị về Nam Cao ra đời. Trong

đó, tiêu biểu là các công trình: Nam Cao, nhà văn hiện thực xuất sắc [46;22],

Nam Cao đời văn và tác phẩm [47]. Những công trình kể trên đây đều có đề cập

đến ngôn ngữ của Nam Cao.

Các nhà nghiên cứu đã đi sâu vào “khai mỏ” phong cách ngôn ngữ của

Nam Cao nhằm làm sáng tỏ “một tài năng nghệ thuật không những không hề cũ

mà ăn nhập vào thế giới nghệ thuật hiện đại”. Ta có thể điểm qua một số công

trình như: Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của Nam Cao [43;36],

Phong cách khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan và Nam Cao

[35;31], Thành ngữ tục ngữ trong sáng tác của Nam Cao [26;25], Tiểu từ tình

thái trong tác phẩm của Nam Cao từ góc nhìn ngôn ngữ học [15;12], Câu dưới

bậc trong truyện ngắn Nam Cao [27;26], Khẩu ngữ tự nhiên trong Tuyển tập

Nam Cao [22;21].

Ở Việt Nam, có lẽ Nam Cao là nhà văn đầu tiên tạo ra những tác phẩm

văn học không chỉ kể câu chuyện của mình, mà còn là câu chuyện về mình.

15

Truyện ngắn của ông thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của tiểu thuyết hiện

đại. Chức năng nghệ thuật của nhân vật văn học trong sáng tác của Nam Cao hết

sức đa dạng.

Mỗi công trình, bài viết trên đây đều có cách nhìn, cách cảm nhận khác

nhau của từng tác giả nghiên cứunhưng tựu trung, các tác giả đều đánh giá giá

trị to lớn của ngôn ngữ trong Tuyển tập Nam Cao.

Tuy nhiên, hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra những

nhận xét khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nam Cao mà chưa đi sâu

tìm hiểu, nghiên cứu về câu phức. Chính vì lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài

“Câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

1.2. Cơ sở lí luận

1.2.1. Khái quát về câu trong tiếng Việt

1.2.1.1. Khái niệm câu

Câu là đơn vị ngôn ngữ có đặc tính rất phức tạp. Từ trước đến nay có rất

nhiều cách định nghĩa về câu dựa trên những quan điểm, khuynh hướng khác

nhau. Cụ thể:

a) Hướng định nghĩa câu dựa vào ý nghĩa

Cách định nghĩa này coi “câu là phán đoán được biểu hiện bằng từ” hoặc

“câu là tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn” (Dẫn theo [37, 498]).

b) Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt hình thức

Hình thức của câu nói ở đây bao gồm hình thức bên trong (cấu tạo ngữ

pháp của câu) và hình thức bên ngoài (ngữ điệu hay dấu ngắt câu và các hư từ

tình thái)

Dựa vào hình thức bên trong, A.M.Peesskovskij xác định câu theo cấu trúc

chủ vị: “Tất cả những kết hợp có chứa vị ngữ hoặc chỉ ra những vị ngữ bị lược

bỏ bằng thành phần hình thức của mình, hoặc chỉ gồm một vị ngữ sẽ được chúng

tôi gọi là câu” (Dẫn theo [37, 38]).

Dựa vào hình thức bên ngoài, X.Ia. Fitialov xác định câu theo dấu câu:

“Câu là chuỗi từ hình thức nằm giữa hai dấu chấm hoặc hai chữ cái hoa” (Dẫn

16

theo [37, 38]). I.S.Bưxtrov, Nguyễn Tài Cẩn, N.V.Stankevich xác định câu dựa

vào cả dấu hiệu bên trong lẫn bên ngoài: “Các dấu hiệu của câu có thể chia thành

dấu hiệu bên trong và dấu hiệu bên ngoài (…). Các dấu hiệu bên ngoài là ngữ

khí từ và chỗ ngắt giọng, dấu hiệu bên trong là bản thân cấu trúc của câu” [37,

132].

c) Hướng định nghĩa câu dựa cả vào mặt ý nghĩa lẫn hình thức

Đi theo hướng này, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của Hoàng Trọng

Phiến, câu được định nghĩa như sau: “Với tư cách là đơn vị bậc cao của hệ thống

các đơn vị ngôn ngữ; câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ

pháp và ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định,

là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói

đối với hiện thực” [40; 19].

Định nghĩa câu của Diệp Quang Ban cũng đi theo khuynh hướng dựa cả

vào đặc điểm nội dung và hình thức: “Câu là đơn vị của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ

pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc mang một ý nghĩa

tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc có thể kèm theo

sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình

cảm” [9; 125].

d) Hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng

Khác với các cách định nghĩa câu đã nêu theo đó, câu được xác định một

cách độc lập, riêng biệt (không đặt trong mối quan hệ với các đơn vị ngôn ngữ

khác trong cùng hệ thống), khuynh hướng định nghĩa câu dựa vào khối lượng và

chức năng chủ trương xác định câu trong mối quan hệ hệ thống với các đơn vị

ngôn ngữ khác. Theo hướng này, câu cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác cùng

hệ thống luôn được định nghĩa dựa vào hai mặt: mặt so sánh khối lượng và mặt

chức năng. Cụ thể, câu được định nghĩa như sau:“Câu là kiểu đơn vị nhỏ nhất

mà có thể mang một thông báo tương đối hoàn chỉnh” [37,363]. Cách định nghĩa

này có ba ưu điểm cơ bản:

17

Thứ nhất, đây là cách định nghĩa mang tính hệ thống rõ rệt nhất. Nó thống

nhất về nguyên tắc với cách định nghĩa các đơn vị ngôn ngữ khác cùng hệ thống

với câu như âm vị, hình vị, từ cho nên rất tiện cho việc đối chiếu chúng với nhau.

Thứ hai, cách định nghĩa này nêu lên được những tiêu chí cần thiết cho

phép xác định câu, phân biệt nó với các đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn thuộc cùng

hệ thống: Tiêu chí “có chức năng thông báo” được đưa vào định nghĩa có tác

dụng phân biệt câu với từ, hình vị, âm vị, vốn không có chức năng này; còn tiêu

chí “nhỏ nhất” có tác dụng phân biệt câu với đơn vị lớn hơn (văn bản) cũng có

chức năng thông báo.

Thứ ba, so với một số định nghĩa khác, cách định nghĩa này rất ngắn gọn

nên dễ nhớ hơn.

Những cách định nghĩa trên đây đều có những ưu điểm và hạn chế nhất

định. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, đề tài chọn cách định nghĩa câu dựa vào

mặt khối lượng và chức năng.

1.2.1.2. Câu và phát ngôn

Theo những cách hiểu được phổ biến rộng rãi thì “phát ngôn là cái biểu

hiện cụ thể trong từng lúc của câu” [37,12] hoặc phát ngôn là “sự hiện thực hóa

mô hình câu trong lời nói” [37, 100].

Theo cách hiểu trên đây, mối quan hệ giữa câu và phát ngôn chính là mối

quan hệ giữa đơn vị trừu tượng (thuộc bình diện ngôn ngữ) với đơn vị cụ thể

(thuộc bình diện lời nói). Mối quan hệ này cũng tương tự như mối quan hệ giữa

âm vị và âm tố, hình vị và hình tố, từ và các dạng thức từ.

Để có sự đơn giản và dễ hiểu nhất, trong luận văn này, tán thành ý kiến

của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, chúng tôi coi những “cái biểu hiện

cụ thể trong từng lúc của câu” hoặc “sự hiện thực hóa mô hình câu trong lời

nói” mà các tác giả gọi là phát ngôn cũng là câu. Cụ thể hơn, phát ngôn chính là

câu trong hoạt động giao tiếp.

1.2.1.3. Các bình diện của câu

18

Trong việc nghiên cứu câu, việc xác định các bình diện của câu, bản chất,

phạm vi ranh giới của chúng đến nay vẫn còn là những vấn đề nan giải.

Theo chúng tôi, câu là một thực thể hỗn hợp được tạo nên bởi ba bình diện

mà phù hợp với chúng là các cấu trúc tương ứng: bình diện cú pháp - cấu trúc

cú pháp, bình diện nghĩa biểu hiện (nghĩa sâu) - cấu trúc nghĩa biểu hiện, bình

diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp) - cấu trúc giao tiếp.

a) Bình diện cú pháp

Nội dung của việc nghiên cứu câu theo bình diện cú pháp gồm những vấn

đề chính sau đây:

- Xác định làm rõ các khái niệm cú pháp cơ bản (ý nghĩa, hình thức, quan

hệ cú pháp; thành tố cú pháp hay thành phần câu; vai trò, chức năng cú pháp…)

tạo cơ sở cho việc phân tích tổ chức cú pháp của câu.

- Xác định các kiểu quan hệ cú pháp, phân biệt quan hệ cú pháp với quan

hệ ngữ nghĩa (quan hệ về mặt nghĩa biểu hiện) và quan hệ về mặt giao tiếp.

- Xác định nguyên tắc, thủ pháp, quy trình phân tích câu về cú pháp.

- Xác định, phân loại, miêu tả các loại, kiểu thành phần cú pháp của câu

theo đặc điểm nội dung và hình thức.

- Xác định, phân loại, miêu tả các loại, kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp.

b) Bình diện nghĩa biểu hiện

Trong ngữ pháp chức năng, bình diện nghĩa biểu hiện của câu (thường

được gọi là bình diện ngữ nghĩa) được xác định trong sự đối lập với bình diện cú

pháp và bình diện ngữ dụng (giao tiếp).

Trong công trình này, chúng tôi hiểu bình diện ngữ nghĩa, với tư cách là

một trong ba bình diện của câu đối lập với bình diện cú pháp và bình diện giao

tiếp (ngữ dụng) theo cách hiểu hẹp, nghĩa là chỉ gồm nghĩa biểu hiện.

Nội dung của việc nghiên cứu theo bình diện nghĩa biểu hiện là xác định,

miêu tả các thành tố ngữ nghĩa gồm: hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình) và

19

các tham thể ngữ nghĩa hay các vai nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu

và tiến hành phân loại, phân tích, miêu tả các kiểu câu theo mặt nghĩa biểu hiện.

c) Bình diện giao tiếp

Bình diện giao tiếp (cú pháp giao tiếp, ngữ dụng) là bình diện của câu với

tư cách là đơn vị cụ thể của hoạt động giao tiếp được người nói tạo ra vào thời

điểm nhất định với mục đích giao tiếp nhất định. Với cách hiểu này, V.S. Panfilov

cho rằng “đối tượng trung tâm của nghiên cứu cú pháp giao tiếp là các phát ngôn

- sự thực tại hóa các sơ đồ cấu trúc của câu” [37,415].

Theo chúng tôi, bình diện giao tiếp không chỉ bao gồm các vấn đề như cấu

trúc thông tin (cấu trúc thông báo), tiêu điểm, ngôn trung của câu mà bao gồm cả

cấu trúc đề thuyết, nghĩa tình thái (chủ quan) và cấu trúc tình thái của câu.

1.2.1.4. Các thành phần câu

A. Vị ngữ

1) Khái niệm

Có nhiều quan niệm khác nhau về vị ngữ. Trong luận văn này, vị ngữ được

hiểu như sau:

Vị ngữ là thành phần chính duy nhất (thành phần được xác định tuyệt đối)

trong tổ chức cú pháp của câu, chỉ hoạt động hay đặc điểm, ở dạng cơ bản, được

biểu hiện bằng vị từ với ý nghĩa và hình thức thời thể chiếm vị trí trung tâm của

câu.

2) Đặc điểm nội dung và hình thức của vị ngữ

a) Về nội dung

- Được xác định tuyệt đối, tức là không phụ thuộc vào thành phần câu nào

(không có chức năng bổ sung cho thành phần câu nào).

- Chỉ hoạt động hay đặc điểm gắn với ý nghĩa thời thể nhất định (nghĩa

thời gian, nghĩa khẳng định, phủ định).

b) Về hình thức

- Ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ. Ở dạng không cơ

bản, được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ, ví dụ: “Cô ấy mười bảy tuổi.”

20

- Chiếm vị trí trung tâm của câu (ở giữa câu).

3) Phân loại

a) Vị ngữ được biểu hiện bằng động từ, cụm động từ.

Ví dụ: (31) Nó ngủ.

(32) Mẹ về nhà.

b) Vị ngữ được biểu hiện bằng tính từ, cụm tính từ.

Ví dụ: (33) Nhân dân ta anh hùng.

(34) Con chó to và dữ lắm.

B. Chủ ngữ

1) Khái niệm

Có nhiều quan niệm khác nhau về chủ ngữ. Trong luận văn này, chủ ngữ

được hiểu như sau:

Chủ ngữ là thành phần phụ bắt buộc của câu, có ý nghĩa cú pháp chủ thể,

ở dạng cơ bản, được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ) không được dẫn nối

bởi quan hệ từ phụ thuộc chiếm vị trí trước vị ngữ hay vị từ.

2) Đặc điểm

a) Nội dung

Chủ ngữ có ba đặc điểm quan trọng là tính phụ thuộc, tính bắt buộc và

nghĩa cú pháp chủ thể.

Trong câu có vị ngữ là động từ, chủ ngữ xét trong mối quan hệ cú pháp

với động từ - vị ngữ luôn có ý nghĩa cú pháp chủ thể hoạt động; từ không chỉ chủ

thể cú pháp của hoạt động không phải là chủ ngữ trong câu có vị ngữ là động từ.

b) Hình thức

Khả năng thay thế bằng từ nghi vấn là dấu hiệu về tính phụ thuộc của chủ

ngữ. Những từ hay đơn vị nghi vấn thường dùng để hỏi về chủ ngữ là ai, cái gì.

Ở dạng cơ bản, chủ ngữ được biểu hiện bằng danh từ (không được dẫn nối

bởi quan hệ từ phụ thuộc).

3) Phân loại

a) Chủ ngữ được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ.

21

Ví dụ: (35) Những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. (Tô Hoài)

b) Chủ ngữ được biểu hiện bằng động từ, cụm động từ.

Ví dụ: (36) Viết tiểu thuyết rất khó.

c) Chủ ngữ được biểu hiện bằng tính từ, cụm tính từ.

Ví dụ: (37) Dịu dàng là đức tính cần có của người phụ nữ.

C. Bổ ngữ

1) Khái niệm

Bổ ngữ (cũng như trạng ngữ) là thành phần thứ yếu hay thành phần phụ

của câu.

2) Đặc điểm

a) Nội dung

Bổ ngữ có ba đặc điểm cơ bản: tính phụ thuộc, tính bắt buộc và nghĩa cú

pháp đối thể (khách thể).

b) Hình thức

- Khả năng thay thế bằng từ nghi vấn: bổ ngữ có khả năng thay thế bằng

ai, gì.

- Về cách biểu hiện: ở dạng cơ bản, bổ ngữ được biểu hiện bằng danh từ

(đại từ)

- Về vị trí: ở dạng cơ bản, bổ ngữ chiếm vị trí liền sau vị từ ngoại hướng.

- Về phương thức kết hợp: phụ thuộc vào đặc điểm ý nghĩa và thuộc tính

chi phối của vị từ, bổ ngữ có thể được kết hợp với vị từ theo một trong hai phương

thức: kết hợp trực tiếp và kết hợp gián tiếp.

3) Phân loại

- Bổ ngữ chỉ đối thể cú pháp - ngữ nghĩa

Ví dụ: (38) Bà Năm đã nấu cơm xong. (Nguyễn Khải)

(39) Chúng đốt cháy hàng trăm tấn lúa gạo. (Nguyễn Khải)

- Bổ ngữ chỉ đối thể thuần cú pháp (đối thể của hoạt động trừu tượng)

Ví dụ: (40) Con cụ làm lí trưởng. (Nam Cao)

22

D. Trạng ngữ

1) Khái niệm

Trạng ngữ là thành phần phụ tự do của câu chỉ hoàn cảnh (vị trí, thời gian,

nguyên nhân, mục đích, phương tiện, tính chất, điều kiện...) của hoạt động hay

đặc điểm nêu ở vị ngữ.

2) Đặc điểm

a) Về nội dung

Trạng ngữ có ba đặc điểm chính: tính phụ thuộc, tính không bắt buộc (tự

do) và ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (chỉ không gian, thời gian, nguyên nhân,

mục đích, công cụ, tính chất, …)

Ví dụ: (41) Họ đang chơi cờ ngoài vườn.

(42) Chúng tôi chia tay nhau vì sự đời. (Tô Hoài)

b) Về hình thức

Đặc điểm về hình thức của trạng ngữ được biểu thị qua các mặt: khả năng

thay thế bằng từ nghi vấn, cách biểu hiện, phương thức kết hợp và vị trí.

Ví dụ: (43a) Ở ngoài ngõ, mẹ con chị đĩ Chuột vừa kêu khóc, vừa van lạy.

(Nam Cao)

(43b) Mẹ con chị đĩ Chuột vừa kêu khóc, vừa van lạy ở ngoài ngõ.

(43c) Mẹ con chị đĩ Chuột ở ngoài ngõ vừa kêu khóc, vừa van lạy.

3) Phân loại

- Trạng ngữ không gian

Ví dụ: (44) Nó đốt một đống lửa ở giữa nhà ưng. (Nguyễn Trung Thành)

- Trạng ngữ thời gian

Ví dụ: (45) Đêm đêm, tiếng loa địch vận vọng vào. (Nam Cao)

- Trạng ngữ nguyên nhân

Ví dụ: (46) Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà. (Tục ngữ)

- Trạng ngữ mục đích

Ví dụ: (47) Anh đưa mắt vào trong nhà để tìm. (Nguyễn Công Hoan)

23

- Trạng ngữ điều kiện. Ví dụ: (48) Nếu mưa to thì sẽ lụt

- Trạng ngữ nhượng bộ

Ví dụ: (49) Tuy ngủ ít nhưng ông vẫn tỉnh táo. (Nguyễn Công Hoan)

Ngoài ra còn có trạng ngữ công cụ (phương tiện), phương thức; trạng ngữ

chỉ số lần hoạt động; trạng ngữ với ý nghĩa tính chất, cách thức (hay so sánh);

trạng ngữ chỉ phạm vi, …

E. Định ngữ

1) Khái niệm

Định ngữ vốn là thành tố phụ của cụm danh từ và khi cụm danh từ tham

gia cấu tạo câu, các thành tố phụ (là thực từ) của cụm danh từ trở thành định ngữ,

một loại thành phần phụ của câu [37, 134].

2) Đặc điểm

a) Nội dung

Về vai trò chức năng cú pháp: tính phụ thuộc

Ý nghĩa chung của định ngữ là nêu đặc điểm của sự vật (đặc điểm về các

mặt: số lượng, tên gọi, vị trí,…) do danh từ trung tâm biểu thị.

b) Hình thức

Có khả năng thay thế bằng các từ nghi vấn (ai, gì, nào), có cấu tạo là từ,

cụm từ hoặc tổ hợp đẳng lập và có thể kết hợp gián tiếp hoặc trực tiếp với danh

từ trung tâm

Ở dạng cơ bản, trừ định ngữ chỉ số lượng luôn đứng trước danh từ, các

định ngữ còn lại đều chiếm vị trí sau danh từ được xác định.

3) Phân loại

- Định ngữ được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ)

Ví dụ: (50) Bóng đá được coi là môn thể thao vua.

- Định ngữ được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ (cụm chủ vị)

Ví dụ: (51) Lá lành đùm lá rách.(Tục ngữ)

- Định ngữ được biểu hiện bằng số từ

24

Ví dụ: (52) Hai người lặng lẽ rẽ xuống một con đường nhỏ. (Kim Lân)

- Định ngữ được biểu hiện bằng đại từ

Ví dụ: (53) Vợ hắn biết là chồng đã hết giận. (Nam Cao)

F. Chú giải ngữ

1) Khái niệm

Chú giải ngữ mang đặc tính của thành phần phụ thuộc. Chú giải ngữ có

chức năng bổ sung cho nòng cốt câu hay cho một thành phần câu nhất định.

Về ngữ nghĩa, chú giải ngữ có chức năng giải Thích hoặc chú Thích , tức

là làm rõ thêm một nội dung, chi tiết cụ thể nào đó cho nòng cốt câu hay thành

phần câu.

2) Phân loại chú giải ngữ

Theo đặc điểm, tính chất của bộ phận được chú giải, chú giải ngữ được

chia thành:

a) Chú giải ngữ giải nghĩa cho một từ, cụm từ

Ví dụ: (54)Tâm đã thêm vào vài thức hàng mới: phấn xoa mặt, dầu bôi tóc

và son thoa môi. (Thạch Lam)

b) Chú giải ngữ giải nghĩa cho cả câu

Ví dụ: (55) Hắn đờ hai con mắt khẽ rên: hắn chỉ còn đủ sức để rên khe

khẽ. (Nam Cao)

1.2.1.5. Các kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp

1) Phân loại câu theo tính phổ biến (tính thông dụng): câu bình thường và

câu đặc biệt.

a) Câu bình thường

Khái niệm: Câu bình thường là những câu phổ biến (thông dụng) nhất

được cấu tạo trên cơ sở một hoặc một vài cụm chủ vị (cụm vị từ) được hiện thực

hóa ở dạng đầy đủ hay không đầy đủ.

Ví dụ: (56) Bốn chiến sĩ xuống cầu. (Trần Đăng)

(57) Từ cuối bãi tiến lại hai chú bé con. (Tô Hoài)

b) Câu đặc biệt

25

Khái niệm: Câu đặc biệt là những câu không có hoặc không mang đầy đủ

các đặc trưng của câu bình thường.

Ví dụ: (58) Khiếp. (Nam Cao)

(59) Giời ơi. (Nam Cao)

2) Phân loại câu theo tính hoàn chỉnh: câu đầy đủ và câu không đầy đủ.

a) Câu đầy đủ

Khái niệm: Là câu không có sự tỉnh lược (hay sự thiếu vắng) thành phần

bắt buộc nào đó bị quy định bởi ngữ cảnh của câu.

b) Câu không đầy đủ

Khái niệm: Là câu có sự tỉnh lược (hay thiếu vắng) thành phần bắt buộc

nào đó bị quy định bởi ngữ cảnh của câu.

Ví dụ: (60) (Ông ấy làm loong toong ở sở máy đèn.) Ngày nào O cũng đi

làm từ sáu giờ. (Nam Cao)

3) Phân loại câu theo độ phức tạp về cấu tạo

Dựa vào số lượng cụm chủ vị, câu được chia thành câu đơn và câu phức.

- Câu đơn: là câu chỉ có một cụm chủ vị.

Ví dụ: (61) Mẹ về.

- Câu phức: là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên.

Ví dụ: (62) Cuốn sách tôi vừa mua rất hay.

1.2.2. Câu phức

1.2.2.1. Định nghĩa và đặc điểm của câu phức

a) Định nghĩa

Câu phức là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên.

Ví dụ: (63) Người anh cần gặp đã đến.

b) Đặc điểm của câu phức

- Về nội dung: Tính đa sự kiện (biểu thị hai sự tình hay hai sự việc trở lên).

- Về cấu tạo: Gồm 2 cụm chủ vị trở lên.

1.2.2.2. Các kiểu câu phức

26

Theo vai trò của các cụm chủ vị, câu phức được chia thành:

- Câu phức phụ thuộc: là câu phức chỉ có một cụm chủ vị chính hay một

cụm chủ vị nòng cốt.

Theo chức năng của các cụm chủ vị, kiểu này được chia thành các kiểu

nhỏ sau:

+ Câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị làm chủ ngữ

Ví dụ: (64) Nó cắn càn ấy là cái khổ của bọn ăn mày (Nam Cao)

+ Câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị làm bổ ngữ

Cụm chủ vị làm bổ ngữ, nói chung, chỉ xuất hiện sau vị ngữ là động từ

thuộc một số nhóm nhất định. Cụ thể:

 Động từ cảm nghĩ, nói năng, thông báo

Ví dụ: (64) Sáng hôm sau Mị mới biết mình đang ngồi trong nhà thống lí

Pá Tra. (Tô Hoài)

 Động từ thụ cảm

Ví dụ: (65) Mỗi chiều thứ bẩy, Thứ thấy lòng nhẹ bẫng. (Nam Cao)

 Động từ tiếp thụ bị động

Ví dụ: (66) Một đêm, anh Tịch được Út nhắn về gấp. (Anh Đức)

 Động từ gây khiến

Ví dụ: (67) Một ý nghĩa khiến anh mỉm cười. (Ngô Tự Lập)

 Động từ chỉ quan hệ đồng nhất (là)

Ví dụ: (68) Luật của cuộc thi là Ví sinh phải vẽ một bức tranh theo đề tài

tự chọn ngay trước mặt ban giám khảo. (Tạ Duy Anh)

+ Câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị làm trạng ngữ

Phù hợp với ý nghĩa cụ thể của trạng ngữ, câu phức phụ thuộc có cụm chủ

vị làm trạng ngữ được chia thành:

 Câu phức nguyên nhân

Ví dụ: (69) Giang cười, chỉ vì chàng nghĩ đến chuyện riêng của chàng

(Nam Cao)

27

 Câu phức điều kiện

Ví dụ: (70) Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi. (Nam Cao)

 Câu phức nhượng bộ

Ví dụ: (71) Dù nó có mang, con cũng cứ lấy (Vũ Trọng Phụng)

 Câu phức mục đích

Ví dụ: (72) Mày về chào lạy tao để mày đi chết đấy à? (Tô Hoài)

 Câu phức so sánh (câu phức với cụm chủ vị chỉ tính chất)

Ví dụ: (73) Mặt y sáng sủa như có một ngọn lửa ở bên trong giọi. (Nam Cao)

+ Câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị làm định ngữ

Cụm chủ vị làm định ngữ có thể bổ sung cho danh từ giữ bất kì thành phần

câu nào. Cụ thể:

 Danh từ làm chủ ngữ

Ví dụ: (74) Tin làng Xô Man mài giáo đến tai bọn giặc ở Đắc Hà (Nguyễn

Trung Thành)

 Danh từ làm bổ ngữ

Ví dụ: (75) Tôi hãy còn nhớ cái ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng (Nam Cao)

 Danh từ làm trạng ngữ

Ví dụ: (76) Lúc cụ Mết nói, mọi người im lặng (Nguyễn Trung Thành)

 Danh từ làm định ngữ

Ví dụ: (77) Vẻ mặt người chị đồng hương mà tôi vừa quen biết trở nên xa

vắng (Bùi Đức Ái)

 Danh từ làm chú giải ngữ

Ví dụ: (78) Rồi nó chạy vào sân bên tả là chỗ ba người đợi. (Vũ Trọng Phụng)

+ Câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị làm chú giải ngữ

Ví dụ: (79) Hài điều độ vì bắt buộc - hắn không có sức dư để bứa bừa.

(Nam Cao)

+ Câu phức phụ thuộc hỗn hợp

Ví dụ: Tôi tin chắc chắn rằng người con gái đang ngồi cạnh mình là

Nguyệt, chính là người mà chị tôi thường nhắc đến. (Nguyễn Minh Châu)

28

- Câu phức đẳng lập: là câu phức gồm từ hai cụm chủ vị chính trở lên.

Kiểu này được chia thành các kiểu nhỏ sau:

+ Câu phức liệt kê

Ví dụ: (80) Y xấu, y nghèo, y ngờ nghệch, vụng về. (Nam Cao)

+ Câu phức nối tiếp

Ví dụ: (81) Thị vùng vẫy để ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí

Phèo. (Nam Cao)

(82) Tôi toan mếu, tôi đau đớn lắm. (Nam Cao)

+ Câu phức đối xứng

Ví dụ: (83) Bố nhìn con, con nhìn bố. (Nam Cao)

+ Câu phức tương phản

Ví dụ: (84) Tôi cũng cười nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm.

(Nam Cao)

+ Câu phức lựa chọn

Ví dụ: (85) Mình đọc hay tôi đọc? (Nam Cao)

+ Câu phức bổ sung

Ví dụ: (86) Thúy Kiều không chỉ xinh đẹp mà nàng còn rất thông minh.

1.2.2.3. Vấn đề phân biệt câu phức với câu đơn

- Phân biệt câu phức phụ thuộc với câu đơn

Những câu thể hiện sự gần gũi giữa câu đơn và câu phức phụ thuộc chủ

yếu thuộc một trong hai trường hợp: trường hợp của những câu có hiện tượng

tỉnh lược chủ ngữ ở cụm chủ vị phụ thuộc và trường hợp những câu có hiện tượng

tỉnh lược chủ ngữ của cụm chủ vị chính (nòng cốt).

+ Trường hợp tỉnh lược chủ ngữ của cụm chủ vị phụ thuộc

So sánh:

(1a) Nếu  có tiền, tôi sẽ mua ô tô.

(1b) Nếu tôi có tiền, tôi sẽ mua ô tô.

29

(2a) Thị cười vì  nghĩ đến đàn con. (Nam Cao)

(2b) Thị cười vì thị nghĩ đến đàn con.

+ Trường hợp tỉnh lược chủ ngữ ở cụm chủ vị chính (nòng cốt)

So sánh:

(3a) Nếu anh mệt thì  cứ nghỉ.

(3b) Nếu anh mệt thì anh cứ nghỉ

Đối với những câu trung gian thuộc trường hợp tỉnh lược chủ ngữ ở cụm

chủ vị phụ thuộc: Vì cụm chủ vị phụ thuộc có vai trò thứ yếu đối với cấu trúc

của câu và chủ ngữ trong nó cũng dễ dàng bị lược bỏ nên sẽ xếp (một cách quy

ước) những câu trên thuộc trường hợp câu đơn.

Đối với những câu trung gian thuộc trường hợp tỉnh lược chủ ngữ ở cụm

chủ vị chính: Vì cụm chủ vị chính và chủ ngữ trong nó có vai trò quan trọng hơn

(việc lược bỏ chủ ngữ ở cụm chủ vị chính hạn chế hơn và việc khôi phục dễ hơn)

nên sẽ xếp những câu trung gian thuộc trường hợp này vào câu phức.

- Phân biệt câu phức đẳng lập với câu đơn

Sự gần gũi giữa câu đơn và câu phức đẳng lập chủ yếu thể hiện ở những

câu có vị ngữ đồng loại trong đó có cơ sở nhất định để nói về hiện tượng tỉnh

lược chủ ngữ.

So sánh:

(4a) Chúa ăn rồi  lại ngồi.

(4b) Chúa ăn rồi chúa lại ngồi. (Ca dao)

(5a) Họ vừa đi  vừa hát.

(5b) Họ vừa đi họ vừa hát. (Dẫn theo [6, 314])

Những câu a) trên đây thường được coi là những câu có các vị ngữ đồng

loại (có quan hệ đẳng lập với nhau) với các dạng cụ thể là quan hệ nối tiếp, đồng

thời hay bổ sung. Chúng đều chỉ có một cụm chủ vị được biểu hiện một cách

hiển ngôn và do đó, có tính chất của câu đơn. Tuy nhiên, ở chúng lại có nét gần

gũi với câu phức. Điều này thể hiện ở khả năng bổ sung chủ ngữ cho động từ thứ

30

hai trong chúng và khi đó, ta sẽ có những câu b) là câu phức tương ứng. Trong

luận văn này, chúng tôi chọn giải pháp coi những câu (4a), (5a) là câu đơn.

1.3. Tiểu kết

Trong Chương 1, luận văn đã trình bày hai nội dung chính: tổng quan tình

hình nghiên cứu và cơ sở lí luận.

Ở nội dung tổng quan, luận văn đã trình bày tóm tắt các khuynh hướng

khác nhau trong việc nghiên cứu câu về cú pháp và các ý kiến khác nhau trong

việc nghiên cứu về câu phức. Về tình hình nghiên cứu ngôn ngữ trong Tuyển tập

Nam Cao, luận văn đã điểm qua một số công trình nghiên cứu về phong cách

ngôn ngữ Nam Cao trong đó đáng chú ý là các luận văn, bài viết đề cập đến đặc

điểm sử dụng từ ngữ, cách đặt câu trong Tuyển tập Nam Cao.

Về cơ sở lí luận, luận văn đã xác lập cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài

qua việc làm rõ các khái niệm liên quan như: câu, thành phần câu, phát ngôn, các

kiểu câu xét theo độ phức tạp về cấu tạo, câu đơn, câu phức.

31

Chương 2

CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO

XÉT VỀ MẶT NGỮ PHÁP

2.1. Dẫn nhập

Chương này trình bày kết quả nghiên cứu câu phức trong Tuyển tập Nam

Cao xét về mặt ngữ pháp. Những vấn đề chính được đề cập trong chương này là

kết quả phân loại câu phức trong Tuyển tập Nam Cao xét về mặt ngữ pháp và đặc

điểm cấu tạo (tổ chức) ngữ pháp của các kiểu câu phức trong Tuyển tập Nam Cao.

Khi xem xét đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của các kiểu câu phức trong Tuyển tập

Nam Cao, những khía cạnh cụ thể sẽ được chú ý là đặc điểm của các cụm chủ vị

xét về các mặt: phạm vi kết hợp, phương thức kết hợp, tổ chức nội bộ.

Để có cơ sở miêu tả đặc điểm ngữ pháp của câu phức trong Tuyển tập Nam

Cao, chúng tôi đã tiến hành thống kê câu phức trong 57 truyện ở tác phẩm này.

Qua kết quả thống kê, chúng tôi thu được 765 câu phức. Tiến hành phân loại 765

câu phức dựa vào số lượng cụm chủ vị chính (cụm chủ vị nòng cốt), chúng tôi

thu được kết quả: Trong 765 câu phức có 540 câu phức có một cụm chủ vị chính

(một cụm chủ vị nòng cốt, tức là cụm chủ vị không bị bao chứa trong một cụm

từ khác) và 225 câu phức có từ hai cụm chủ vị chính (cụm chủ vị nòng cốt) trở

lên. Kiểu câu phức chỉ có một cụm chủ vị chính hay một cụm chủ vị nòng cốt

được gọi là câu phức phụ thuộc (câu phức chính phụ). Ví dụ: (1) Họ thấy Chí

Phèo lăn lộn dưới đất. (Chí Phèo). Kiểu câu phức chỉ có hai cụm chủ vị chính

hay hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên sẽ được gọi là câu phức đẳng lập. Ví dụ: (2)

Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người. (Chí Phèo)

Như vậy, câu phức phụ thuộc là kiểu câu phức chỉ có một cụm chủ vị

chính, còn câu phức đẳng lập là câu phức có hai cụm chủ vị chính trở lên. (Ở

câu phức đẳng lập, các cụm chủ vị chính có quan hệ bình đẳng về cú pháp với

nhau).

32

Câu phức phụ thuộc được phân loại tiếp theo chức năng cú pháp của các

cụm chủ vị phụ thuộc thành sáu kiểu:

- Câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ

Ví dụ:

(3) Cậu Phán yêu thương đến con bé Na cũng chẳng phải sự lạ. (Đón khách)

- Câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ

Ví du:

(4) Bà cô thị bảo thị là người vô tâm. (Chí Phèo)

- Câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ

Ví du:

(5) Vợ Điền là con một nhà khá giả, lấy Điền vì Điền là người có học.

(Trăng sáng)

- Câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ

Ví du:

(6) Du còn đang tìm chỗ bán lấy bạc trăm những tiểu thuyết chàng còn

mang ở trong đầu. (Nhỏ nhen)

- Câu phức có cụm chủ vị làm chú giải ngữ

Ví dụ:

(7) Hắn loạng choạng vừa đi vừa chửi: hắn chẳng còn đến ba xu. (Chí Phèo)

- Câu phức hỗn hợp

Đây là kiểu câu phức có trên hai cụm chủ vị phụ thuộc nhưng các cụm chủ

vị phụ thuộc giữ các chức năng cú pháp khác nhau.

Ví du:

(8) Tôi biết sau khi anh nắm bàn tay cháu, anh thầm ước một chậu nước

sạch và một miếng xà phòng để rửa tay. (Mua nhà)

Trong câu trên đây có ba cụm chủ vị trong đó có hai cụm chủ vị không

nòng cốt giữ các chức năng khác nhau: một cụm chủ vị giữ chức năng định ngữ

cho danh từ khi ((khi) anh nắm bàn tay cháu) và một cụm chủ vị làm bổ ngữ cho

33

động từ biết (anh thầm ước một chậu nước sạch và một miếng xà phòng để rửa

tay).

Câu phức đẳng lập cũng được phân loại tiếp theo dựa vào tính chất của

mối quan hệ cú pháp giữa cụm chủ vị chính (nòng cốt) thành năm kiểu:

- Câu phức liệt kê

Ví dụ:

(9) Thị cười, thị không thấy buồn ngủ và thị cứ lăn ra, lăn vào. (Chí Phèo)

- Câu phức nối tiếp

Ví dụ:

(10) Thoạt tiên, hắn xách cái lọ đổ ra rồi hắn lẳng lặng ngồi xuống bên

sườn thị. (Chí Phèo)

- Câu phức đối ứng

Ví dụ:

(11) Bố nhìn con, con nhìn bố. (Chuyện hàng xóm)

- Câu phức đối lập (tương phản)

Ví dụ:

(12) Tôi cũng cười nhưng cái cười chẳng được tươi cho lắm. (Đôi mắt)

- Câu phức lựa chọn

Ví dụ:

(13) Mình đọc hay tôi đọc? (Đôi mắt)

Kết quả phân loại câu phức thể hiện ở các bảng dưới đây.

Bảng 2.1. Các kiểu câu phức

Số lượng, tỉ lệ Số Tỉ lệ Ví dụ Các kiểu lượng %

Câu phức phụ thuộc Hắn thấy người mệt mỏi 540 70,59 Ngôi nhà Hoàng ở có thể nói là rộng rãi

Câu phức đẳng lập Đức đi trước, tôi cắp cặp theo sau 225 29,41 Bố nhìn con, con nhìn bố

Tổng số 765 100

34

Bảng 2.2. Các kiểu câu phức phụ thuộc

Số lượng, tỉ lệ Số Tỉ lệ Ví dụ Các kiểu lượng %

7 1,30 Câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ Cậu Phán yêu thương đến con bé Na cũng chẳng phải là sự lạ.

205 37,96 Câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ Người vợ biết là chồng đã hết giận. Họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất.

143 26,48 Câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ Từ đã tin như người ta tin một vị thần. Anh bảo đem vào để chúng tôi mua.

Câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ 83 15,37

Tôi còn nhớ ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. Tôi nghĩ đến những người phụ nữ khác xấu hay đẹp mà tôi đã gặp.

31 5,74 Câu phức có cụm chủ vị làm chú giải ngữ Hắn đờ hai con mắt khẽ rên: hắn chỉ còn đủ sức để rên khe khẽ.

Câu phức hỗn hợp 71 13,15 Bỗng một bàn tay đập vào vai hắn khiến hắn giật mình quay lại.

Tổng số 540 100

Bảng 2.3. Các kiểu câu đẳng lập

Số lượng, tỉ lệ Số Tỉ lệ Ví dụ Các kiểu lượng %

Y đánh bạc, y uống rượu, y ăn cắp Câu phức liệt kê 88 39,12 tiền của vợ.

91 Anh do dự rất lâu rồi anh quả quyết, Câu phức nối tiếp 40,44 anh xuống bếp.

Mẹ chồng nghiến rứt con dâu, con Câu phức đối xứng 27 12,00 dâu cãi lại mẹ chồng.

Thứ cũng cười nhưng cái cười lặng Câu phức tương phản 18 8,00 lẽ và chua chát.

Câu phức lựa chọn 1 0,44 Mình đọc hay tôi đọc?

Tổng số 225 100

35

Trên cơ sở kết quả thống kê và phân loại trên đây, chúng tôi tiến hành

miêu tả các kiểu câu phức về mặt ngữ pháp.

2.2. Câu phức phụ thuộc trong Tuyển tập Nam Cao

Như đã xác định ở trên đây, câu phức phụ thuộc là câu phức có một cụm

chủ vị chính (một cụm chủ vị nòng cốt).

Câu phức phụ thuộc sẽ được xem xét ở hai mặt: đặc điểm chung và các

kiểu cụ thể.

2.2.1. Đặc điểm chung của câu phức phụ thuộc

1) Về số lượng

Trong Tuyển tập Nam Cao, câu phức phụ thuộc là kiểu câu phức có số

lượng lớn (chiếm 70,59% trong tổng số câu phức). Đặc điểm này cho thấy trong

việc tạo lập câu phức, việc tạo câu phức trong đó các cụm chủ vị có quan hệ phụ

thuộc vào nhau có ý nghĩa quan trọng đối với việc biểu thị các nội dung phức tạp

cần diễn đạt.

2) Về nội dung

Câu phức phụ thuộc thuộc kiểu câu phức đa sự kiện trong đó chỉ có một

sự kiện (sự việc) chính. Các sự việc nêu ở các cụm chủ vị phụ thuộc chỉ có tác

dụng làm rõ sự việc nêu ở cụm chủ vị chính về mặt nào đó.

3) Về kiểu cấu tạo

Câu phức phụ thuộc trong Tuyển tập Nam Cao rất phong phú, đa dạng về

kiểu cấu tạo. Điều này thể hiện ở sự khác nhau về chức năng của các cụm chủ vị

phụ thuộc. Sự khảo sát câu phức phụ thuộc trong Tuyển tập Nam Cao cho thấy

các cụm chủ vị phụ thuộc có thể thuộc về chức năng khác nhau (chủ ngữ, bổ ngữ,

trạng ngữ, định ngữ, chú giải ngữ). Như vậy, có thể thấy tất cả các thành phần

phụ thuộc của câu đều có thể được biểu hiện bằng cụm chủ vị. Nói cách khác,

mỗi thành phần phụ của câu đều có thể mở rộng bằng cụm chủ vị.

4) Về vị trí trong hệ thống các kiểu câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp

Trong hệ thống các loại, kiểu câu xét theo cấu tạo ngữ pháp, câu phức phụ

thuộc là kiểu câu chiếm vị trí trung gian giữa câu đơn và câu phức đẳng lập.Tính

36

trung gian của câu phức phụ thuộc thể hiện ở chỗ, câu phức phụ thuộc (câu phức

thành phần) vừa có nét giống với câu đơn, vừa có nét giống với câu phức đẳng

lập (câu ghép) [37; 465].

Câu phức phụ thuộc giống câu đơn ở số lượng cụm chủ vị chính hay cụm

chủ vị nòng cốt: Cả hai đều có một cụm chủ vị nòng cốt. Nét khác nhau giữa câu

phức phụ thuộc và câu đơn là ở số lượng cụm chủ vị: Câu đơn chỉ có một cụm

chủ vị còn câu phức phụ thuộc gồm từ hai cụm chủ vị trở lên.

Câu phức phụ thuộc giống câu phức đẳng lập ở số lượng cụm chủ vị: Cả

hai kiểu câu này đều gồm từ hai cụm chủ vị trở lên. Nét khác nhau giữa câu phức

phụ thuộc và câu phức đẳng lập là ở số lượng cụm chủ vị nòng cốt: Câu phức

phụ thuộc chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt còn câu phức đẳng lập gồm từ hai cụm

chủ vị nòng cốt trở lên.

Tính trung gian của câu phức phụ thuộc thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.4. Tính trung gian của câu phức phụ thuộc

Đặc điểm cấu trúc Số lượng Số lượng

Kiểu câu cụm chủ vị cụm chủ vị nòng cốt

Câu đơn 1 1

Câu phức phụ thuộc 2 trở lên 1

Câu phức đẳng lập 2 trở lên 2 trở lên

Trong số câu phức phụ thuộc, câu phức có cụm chủ vị là trạng ngữ (chỉ

nguyên nhân điều kiện, nhượng bộ) là kiểu có nét gần gũi với câu phức đẳng lập

nhất. (Điều này đã được chỉ ra cụ thể qua việc phân biệt câu phức phụ thuộc với

câu phức đẳng lập được trình bày trên đây).

2.2.2. Phân biệt câu phức phụ thuộc với câu đơn và câu phức đẳng lập

Do câu phức phụ thuộc vừa có nét gần gũi với câu đơn, vừa có nét gần gũi

với câu phức đẳng lập nên khi xác định câu phức phụ thuộc, chúng ta cần phân

biệt với hai kiểu câu nói trên.

37

1) Phân biệt câu phức phụ thuộc với câu đơn

Thực tế cho thấy, câu phức phụ thuộc thường bị nhầm lẫn với hai dạng

câu đơn sau:

a) Câu đơn có vị ngữ là động từ cầu khiến (cấm, mời, khuyên, kéo, rủ, yêu

cầu…) mà sau đó là hai bổ ngữ.

Dưới đây là một số câu đơn dẫn trong Tuyển tập Nam Cao dễ bị nhầm lẫn

với câu phức

(14) Rồi Đức chạy ra kéo tôi đi. (Cái mặt không chơi được)

(15) Nhung qua lại để nhờ Đức giảng cho cái tính khó hay giúp cho một

vài ý để làm một bài luận văn. (Cái mặt không chơi được)

(16) Ông chủ tịch ấy hai ba lượt yêu cầu nhà tôi dạy bình dân học vụ.

(Đôi mắt)

(17) Hoàng mời tôi đến chơi nhà mấy người bạn cũ … (Đôi mắt)

(18) Một anh bạn khuyên tôi đừng đả động đến một người nào. (Những

truyện không muốn viết)

Trong câu (14), sau động từ kéo có hai bổ ngữ tôi và đi. Vậy câu (14) chỉ

là câu đơn nhưng dễ nhầm lẫn là câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ (sự nhầm

lẫn bổ ngữ của động từ kéo là cụm chủ vị tôi đi).

Ở câu (15), sau động từ cầu khiến nhờ cũng có hai bổ ngữ: Đức (chỉ đối

thể cầu khiến) và giảng (chỉ nội dung cầu khiến) nhưng hai từ là bổ ngữ này có

thể bị nhầm lẫn là có quan hệ chủ vị với nhau. Sự nhầm lẫn này chính là sự nhầm

lẫn câu đơn thành câu phức (có cụm chủ vị bổ ngữ).

Ở câu (16), sau động từ - vị ngữ yêu cầu (thuộc động từ cầu khiến) cũng có

hai bổ ngữ: bổ ngữ chỉ đối thể cầu khiến (tôi) và bổ ngữ chỉ nội dung cầu khiến

(dạy). Hai từ là bổ ngữ này cũng dễ bị nhầm lẫn là hai từ có quan hệ chủ vị với nhau.

Sự nhầm lẫn này thực chất cũng là sự nhầm lẫn câu đơn với câu phức.

Những câu (17), (18) cũng chỉ là câu đơn có vị ngữ là động từ cầu khiến

(mời, khuyên). Nhưng những câu này cũng dễ bị nhầm lẫn thành câu phức có

cụm chủ vị là bổ ngữ.

38

Sở dĩ có sự nhầm lẫn câu đơn với câu phức như chỉ ra trên đây là vì từ

tiếng Việt không biến hình (nên bổ ngữ không có sự khác biệt về hình thức với

chủ ngữ).

b) Câu đơn có chủ ngữ hay bổ ngữ là cụm danh từ

Trong tiếng Việt, cụm danh từ có những nét gần gũi về hình thức với cụm

chủ vị. Vì vậy, người phân tích dễ nhầm lẫn hai kiểu đơn vị này. Sự nhầm lẫn cụm

danh từ với cụm chủ vị cũng dễ dẫn đến sự nhầm lẫn câu đơn với câu phức.

Dưới đây là một số ví dụ trong Tuyển tập Nam Cao về những câu đơn có

chủ ngữ hay bổ ngữ là cụm danh từ dễ gây sự nhầm lẫn với câu phức.

- Câu đơn có chủ ngữ là cụm danh từ

(19) Những nữ sinh nhí nhảnh không còn hợp với tuổi tôi và nghề nghiệp

của tôi. (Cái mặt không chơi được)

(20) Những cô bán hàng dành cho khách mua hàng. (Cái mặt không chơi được)

Trong những câu (19), (20), chủ ngữ đều là cụm danh từ nhưng có thể bị

nhầm lẫn là cụm chủ vị. Sự nhầm lẫn đó chính là sự nhầm lẫn câu đơn thành câu

phức.

- Câu đơn có bổ ngữ là cụm danh từ

Ví dụ:

(21) Tôi để ý đến những cô gái làm khuy nút. (Cái mặt không chơi được)

(22) Họ là những người trẻ tuổi thích làm sang. (Nhỏ nhen)

(23) Giang là một học sinh nghèo đến nỗi không đủ tiền để đến trường.

(Nhỏ nhen)

(24) Ngạn đã chán với tình yêu của hạng người cứ luôn triết lí với tình yêu

lắm rồi. (Nhìn người ta sung sướng)

(25) Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay chỉ biết làm

theo một vài kiểu mẫu đưa cho. (Đời thừa)

Trong câu (21), bổ ngữ của động để ý là một cụm danh từ (những cô gái

làm khuy nút). Cụm danh từ là bổ ngữ này dễ bị nhầm lẫn là cụm chủ vị và sự

nhầm lẫn đó dẫn đến nhầm lẫn câu đơn với câu phức.

39

Trong câu (22), bổ ngữ của động là cũng chỉ là một cụm danh từ , do đó,

câu (22) chỉ là một câu đơn chứ không phải là câu phức.

Ở câu (23), bổ ngữ sau là cũng có cấu tạo là cụm danh từ và câu (23) cũng chỉ

là câu đơn (nhưng dễ bị nhầm lẫn là câu phức có cụm chủ vị là bổ ngữ.

Ở câu (24), sau quan hệ từ của là một cụm danh từ làm định ngữ. Cụm

danh từ này có nét gần gũi với cụm chủ vị về hình thức nên dễ bị nhầm lẫn là

cụm chủ vị và sự nhầm lẫn đó sẽ dẫn đến nhầm lẫn câu đơn với câu phức.

Ở câu (25), bổ ngữ của cần đến cũng chỉ là một cụm danh từ nên câu (25)

cũng chỉ là câu đơn chứ không phải câu phức.

Để phân biệt câu đơn, câu phức trong các trường hợp như đã chỉ ra trên

đây, ngoài sự cảm nhận chủ quan, điều quan trọng là cần dựa vào các thủ pháp

hình thức và sự phân tích ngữ nghĩa. Các thủ pháp phân biệt câu đơn với câu

phức phụ thuộc đã được trình bày cụ thể trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của

Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến [37; 422-448], vì vậy, sẽ không được

trình bày ở đây.

2. Phân biệt câu phức phụ thuộc với câu phức đẳng lập

Khảo sát các kiểu câu phức phụ thuộc trong Tuyển tập Nam Cao, chúng

tôi gặp một loạt câu có nét trung gian giữa câu phức phụ thuộc và câu phức đẳng

lập. Thuộc về số này là những câu sau:

a) Những câu phức trong đó các cụm chủ vị có quan hệ nhân quả

Ví dụ:

(26) Du đắc chí lắm vì tưởng câu chuyện của mình rất có duyên. (Nhỏ nhen)

(27) Giang cười chỉ vì chàng nghĩ đến chuyện riêng của chàng. (Nhỏ nhen)

(28) Lũ trẻ không cười nữa vì cái mặt của Câm hầm hầm, trông dữ lắm.

(Chuyện người hàng xóm)

b) Những câu phức trong đó các cụm chủ vị có quan hệ điều kiện kết quả

(29) Nếu trăng là một người đàn bà thì người đàn bà ấy thật hoàn hảo.

(Giăng sáng)

40

(30) Nếu Nhu không cho thì chúng ăn cướp của Nhu. (Ở hiền)

(31) Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi. (Chí Phèo)

(32) Giá bác ở đây lâu thì nhiều lúc bác cũng cười đến chết. (Đôi mắt)

c) Những câu phức trong đó các cụm chủ vị có quan hệ nhượng bộ

Ví dụ:

(33) Dẫu rằng mụ Tam không ưng bán chịu thì hắn cũng đã mua chịu được

ba bữa. (Trẻ con không ăn thịt chó)

(34) Ba hôm sau, tôi đi Cấp mặc dù, cuốn tiểu thuyết chưa xong một nửa.

(Đui mù)

Đối với ba kiểu câu trên đây (câu nhân quả, câu điểu kiện - kết quả, câu

nhượng bộ), hiện nay, ý kiến của các tác giả về tính chất của mối quan hệ cú

pháp giữa các cụm chủ vị chưa có sự thống nhất. Theo cuốn Ngữ pháp tiếng Việt

của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến, hiện nay có ba loại ý kiến về cách

phân tích kiểu câu này:

- Coi đây là những kiểu câu mà giữa hai cụm chủ vị có qua hệ chính phụ.

- Coi đây là những kiểu câu mà giữa hai cụm chủ vị có quan hệ phụ thuộc

qua lại.

- Coi đây là những kiểu câu mà giữa hai cụm chủ vị có quan hệ đẳng lập.

[37;457].

Không có điều kiện đi sâu vào vấn đề bản chất của mối quan hệ cú pháp

giữa các cụm chủ vị trong những kiểu câu trên đây, trong luận văn này, chúng

tôi tán thành cách phân tích thứ nhất (Theo đó, coi quan hệ giữa các cụm chủ vị

trong các kiểu câu trên đây là quan hệ chính phụ). Như vây, những kiểu câu trên

sẽ được xếp vào câu phức phụ thuộc (cụ thể là câu phức phụ thuộc với các cụm

chủ vị làm trạng ngữ).

Trên cơ sở xác định phạm vi, ranh giới của câu phức phụ thuộc như trên,

dưới đây, chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả từng kiểu câu phức phụ thuộc theo kết

quả phân loại thể hiện ở Bảng 2.

41

2.2.3. Các kiểu câu phức phụ thuộc

2.2.3.1. Câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ

Câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ có những đặc điểm chính sau:

1) Về số lượng

Đây là kiểu câu phức có số lượng ít nhất trong các câu phức phụ thuộc (chỉ

gồm 7 câu, chiếm tỉ lệ 1,30%). Có thể lí giải điều này dựa vào đặc điểm của chủ

ngữ: Về từ loại và cấu tạo, chủ ngữ được đặc trưng bởi tính thể từ (có dạng biểu

hiện cơ bản là danh từ, cụm danh từ, đại từ). Đặc điểm cấu tạo này của chủ ngữ

phù hợp với ý nghĩa đặc trưng của chủ ngữ: nghĩa chủ thể. Không chỉ trong tiếng

Việt mà trong nhiều ngôn ngữ khác, chủ ngữ rất ít khi xuất hiện ở dạng vị từ,

cụm vị từ.

2) Về phạm vi kết hợp (phạm vi xuất hiện)

Chủ ngữ là cụm chủ vị (cụm chủ vị làm chủ ngữ) chỉ có khả năng xuất

hiện hạn chế bên một số vị từ - vị ngữ nhất định. Theo kết quả khảo sát của chúng

tôi trong Tuyển tập Nam Cao, chủ ngữ là cụm chủ vị hầu như chỉ xuất hiện bên

các vị từ - vị ngữ là động từ ngữ pháp (chỉ quan hệ) là:

Ví dụ:

(35a) Nó lấy Tơ đúng là con cú đậu cạnh mai. (Một chuyện xú-nơ-via).

(36a) Ở vùng này, súng nổ là chuyện bình thường. (Từ ngược về xuôi).

(37a) Súng không nổ mới là bất thường. (Từ ngược về xuôi).

(38a) Nó cắn càn là cái khổ của bọn ăn mày. (Cái chết của con chó mực).

Trong những câu trên đây, chủ ngữ (in đậm) đều là các cụm chủ vị, còn vị

ngữ là động từ ngữ pháp là.

3) Về khả năng cải biến

Cụm chủ vị làm chủ ngữ dễ dàng tham gia cải biến danh hóa với từ việc

hoặc yếu tố sự.

Chẳng hạn, chủ ngữ là cụm chủ vị ở các câu trên đây có khả năng danh

hóa với từ việc để biến thành chủ ngữ là cụm danh từ. Khi đó, chủ ngữ là cụm

chủ vị sẽ trở thành định ngữ.

42

Ví dụ:

(35b) Việc nó lấy Tơ đúng là con cú đậu cành mai.

(36a) Ở vùng này, việc súng nổ là chuyện bình thường.

(37a) Việc súng không nổ mới là bất thường.

Đối với câu (38a), có thể danh hóa cụm chủ vị làm chủ ngữ theo hai cách.

- Dùng việc như với những câu (35b), (36b), (37b).

(38b) Việc nó cắn càn là cái khổ của bọn ăn mày.

- Dùng sự kết hợp với quan hệ từ của. Trong trường hợp này, chủ ngữ của

cụm chủ vị sẽ được chuyển thành định ngữ.

Ví dụ:

(38c) Sự cắn càn của nó là cái khổ của bọn ăn mày.

Khả năng danh hóa của cụm chủ vị là chủ ngữ cho thấy, về bản chất cú

pháp, chủ ngữ là cụm chủ vị chỉ là biến thể của chủ ngữ là cụm danh từ trong đó,

danh từ trừu tượng việc đã bị lược bỏ (lí do chính của sự lược bỏ việc là danh từ

này khá trống nghĩa từ vựng, không có vai trò quan trọng về ngữ nghĩa). Như

vậy, có cơ sở để cho rằng kiểu câu phức phụ thuộc có cụm chủ vị là chủ ngữ về

thực chất, chỉ là biến thể của câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ (trong đó, khi

lược bỏ danh từ trung tâm việc, chủ ngữ là cụm danh từ sẽ trở thành chủ ngữ là

cụm chủ vị).

2.2.3.2. Câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ

1) Đặc điểm của câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ

a) Về số lượng

Đây là kiểu câu phức có số lượng lớn nhất trong số câu phức phụ thuộc

(gồm 205 câu, chiếm 37,96%). Sự phổ biến của câu phức có cụm chủ vị làm bổ

ngữ có thể giải thích dựa vào đặc điểm chi phối của động từ - vị ngữ. Như đã

biết, động từ tiếng Việt không chỉ có số lượng lớn mà còn rất phong phú về kiểu

loại, tức là gồm nhiều tiểu loại với đặc điểm chi phối khác nhau. Trong số động

từ tiếng Việt có một bộ phận lớn là động từ ngoại động (ngoại hướng), tức là

43

động từ đòi hỏi các thành tố bắt buộc (bổ ngữ hay diễn tố đối thể). Trong số động

từ ngoại động lại có một số tiểu loại luôn đòi hỏi (chi phối) bổ ngữ là cụm chủ

vị. Những điều vừa chỉ ra giải thích vì sao loại câu phức phụ thuộc có bổ ngữ là

cụm chủ vị lại phổ biến.

b) Về phạm vi kết hợp (phạm vi xuất hiện)

Kết quả khảo sát trong Tuyển tập Nam Cao cho thấy, cụm chủ vị làm bổ

ngữ thường xuất hiện sau các động từ - vị ngữ thuộc các tiểu loại sau:

- Động từ cảm nghĩ nói năng (bảo, nói, biết, hiểu, nghĩ, tưởng, tưởng

tượng, ngỡ, thề, đoán).

Ví dụ:

(39) Người ta bảo ông Lí ra đình thì hách dịch, cả làng phải sợ nhưng về

nhà thì lại sợ cái bà còn trẻ này. (Chí Phèo)

(40) Bà cô thị bảo thị là người vô tâm. (Chí Phèo)

(41) Hồi năm nọ, một thầy địa lí qua đây bảo đất làng này vào cái thể

“quần ngư tranh thực”... (Chí Phèo)

(42) Hắn biết đâu hắn đã phá bao cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên

vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu

người lương thiện. (Chí Phèo).

(43) Dân làng kháo nhau rằng hắn có tiền. (Mua danh)

(44) Tôi đoán anh nhìn theo nét mặt tôi kĩ lắm. (Đại mù)

(45) Ông lão cả đời không đi chợ, cứ tưởng chè rẻ lắm. (Một đám cưới)

- Động từ thụ cảm (thấy, nhìn, xem, nghe...).

Ví dụ:

(46) Điều càng nghĩ, càng thấy hắn là người khổ... (Giăng sáng)

(47) Đôi mắt nảy lửa của y nhìn lũ trẻ con đang cúi đầu ăn như muốn đem

chúng ra mà giết đi. (Sống mòn).

(48) Hắn thấy người nôn nao, chân tay bủn rủn. (Chí Phèo)

44

(49) Y ngồi bó gối nhìn mọi người ăn. (Tư cách mõ).

- Động từ tiếp thụ bị động (được, bị)

Ví dụ:

(50) Những vùng khác phần nhiều mới bị địch lướt qua vài ba trận. (Từ

ngược về xuôi)

(51) Chỉ biết có một hôm, Chí bị người ta giải lên huyện rồi nghe đâu phải

đi tù. (Chí Phèo)

(52) Hồng bị mẹ kéo đi xềnh xệch. (Bài học quét nhà)

- Động từ gây khiến (làm, khiến)

Ví dụ:

(53) Cái ý nghĩ ấy đã khiến cả hai bố con cùng buồn bã. (Một đám cưới)

(54) Tình yêu có thể làm một tâm hồn đẹp hẳn lên. (Chí Phèo)

(55) Luôn năm sáu cái “đùng” như vậy, hắn làm các ông liểng xiểng. (Đôi

móng giò)

c) Về phương thức kết hợp

Cụm chủ vị bổ ngữ có thể kết hợp với động từ trung tâm theo hai phương thức:

- Kết hợp trực tiếp

Trong trường hợp này, cụm chủ vị bổ ngữ thường xuất hiện bên các động

từ thụ cảm (nghe, nhìn, xem) như ở những câu (47), (49).

- Kết hợp gián tiếp thông qua các quan hệ từ rằng, là, như

+ Kết hợp thông qua quan hệ từ rằng

Ví dụ:

(56) Đến hôm thứ sáu thì thị bỗng nhớ ra rằng thị còn có một bà cô ở đời.

(Chí Phèo)

(57) Và có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ

Đại. (Chí Phèo)

(58) Thị bỗng nhiên nghĩ rằng cái thằng liều lĩnh ấy kể ra cũng đáng

thương... (Chí Phèo)

45

Trong nhiều trường hợp, quan hệ từ rằng có thể bị lược bỏ. Khi đó, ta sẽ

có biến thể vắng quan hệ từ của bổ ngữ là cụm chủ vị.

Ví dụ: (59) Mới đầu bà cũng tưởng Ø Nhu thật thà thì bà có thể trao tay

hòm chìa khóa cho Nhu. (Ở hiền)

(60) Thị tưởng Ø hắn muốn tìm một cái gì để phang vào đầu thị (Trẻ con

không được ăn thịt chó)

(61) Tôi không biết Ø lúc xông pha vào trại giặc, chị có dữ dội, ngổ ngáo

không. (Những bàn tay đẹp ấy)

+ Kết hợp thông qua quan hệ từ là

(62) Người vợ biết là chồng đã hết giận. (Con mèo).

(63) Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng trộm. (Rửa hồn).

(64) Cái Viên đoán là chủ giận, vội vàng vét nồi cơm ra hát. (Con mèo).

(65) Tôi thấy nói là nó giỏi. (Đôi mắt).

+ Kết hợp thông qua quan hệ từ như

Ví dụ:

(66) Sáng dậy, Dần cảm thấy như nó vừa mới chợp mắt được một tí. (Một

đám cưới)

(67) Y đã pha trộn tiểu thuyết với đời và cho như đời chỉ toàn những tâm

trạng lỗi thời, rắc rối. (Sống mòn)

Trong những câu (66), (67) quan hệ từ như dẫn nối bổ ngữ có thể thay thế

bằng quan hệ từ rằng. Khả năng thay thế quan hệ từ là, như bằng quan hệ từ rằng

cho thấy trong các quan hệ từ dẫn nối bổ ngữ là cụm chủ vị, rằng là quan hệ từ

phổ biến nhất.

d) Về khả năng cải biến

Cụm chủ vị làm bổ ngữ không có khả năng cải biến bị động. Đây là nét

khác biệt giữa bổ ngữ là cụm chủ vị với bổ ngữ là thể từ (danh từ, cụm danh từ,

đại từ). Cụm chủ vị làm bổ ngữ cũng rất hạn chế về khả năng cải biến vị trí (khả

năng chuyển lên trước cụm chủ vị nòng cốt).

46

Thử nghiệm khả năng cải biến vị trí của bổ ngữ là cụm chủ vị, chúng tôi nhận

thấy chỉ có thể áp dụng hạn chế thủ pháp này trong một vài trường hợp.

Ví dụ:

(68a) Tôi thầm nghĩ: hắn muốn chết thì cho hắn chết. (Mua nhà).

(68b) Hắn muốn chết thì cho hắn chết, tôi thầm nghĩ.

(69a) Tôi thầm nhắc trong trí: ta không mua thì người khác mua. (Mua nhà).

(69b) Ta không mua thì người khác, tôi thầm nhắc trong trí.

Một nét đáng chú ý ở cụm chủ vị làm bổ ngữ là khả năng lược bỏ chủ ngữ

ở cụm chủ vị này. Khả năng này có thể được hiện thực hóa trong các trường hợp

cụ thể sau:

- Khi chủ ngữ (chủ thể) của cụm chủ vị bổ ngữ trùng với chủ ngữ (chủ thể)

của cụm chủ vị nòng cốt.

Ví dụ:

(70) Nó bảo con rằng Ø chưa lấy ai. (Sống mòn).

(71) Y định rằng Ø sẽ sống chết ở trong nghề. (Sống mòn).

Trong những câu (70), (71), chủ thể của các hoạt động lấy, sống chết nêu

ở vị ngữ của cụm chủ vị làm bổ ngữ trùng với chủ thể của các hoạt động (bảo,

định) nên ở vị ngữ của cụm chủ vị nòng cốt. Đây là cơ sở của sự lược bỏ nhằm

tránh lặp nghĩa.

- Khi chủ ngữ của cụm chủ vị bổ ngữ chỉ bộ phận của sự vật nêu ở chủ

ngữ của cụm chủ vị nòng cốt.

Ví dụ:

(72a) Hắn thấy người mệt mỏi. (Xem bói)

(72b) Hắn thấy mệt mỏi.

(73a) Tôi muốn óc tôi hoàn toàn rảnh rang để chỉ nghĩ đến công việc văn

chương. (Những truyện không muốn viết)

(73b) Tôi muốn hoàn toàn rảnh rang để chỉ nghĩ đến công việc văn chương.

Trong những câu (72a), (72b), chủ ngữ của các cụm chủ vị bổ ngữ (người,

óc tôi) chỉ bộ phận của sự vật nêu ở chủ ngữ của các cụm chủ vị nòng cốt (hắn,

47

tôi). Nhờ mối quan hệ ngữ nghĩa này mà có thể lược bỏ các chủ ngữ chỉ bộ phận

của chỉnh thể.

2.2.3.3 Câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ

Câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ nói chung, cụm chủ vị trạng ngữ

nói riêng có những đặc điểm cơ bản sau:

1) Về số lượng

Đây là kiểu câu phức phụ thuộc có số lượng tương đối lớn. Theo kết quả

thống kê trong Tuyển tập Nam Cao, kiểu câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ

gồm 143 câu, chiếm tỉ lệ 26,48%. Số lượng lớn của câu phức phụ thuộc có cụm

chủ vị làm trạng ngữ có thể giải thích dựa vào nhu cầu mở rộng câu và ý nghĩa

của trạng ngữ nói chung, ý nghĩa của trạng ngữ được biểu hiện bằng cụm chủ vị

nói riêng. Như đã biết, trạng ngữ tuy là thành phần không bắt buộc về cú pháp

của câu nhưng lại là thành phần rất quan trọng về ngữ nghĩa. Trong nhiều trường

hợp, nếu lược bỏ (hay không dùng) trạng ngữ, ý nghĩa của câu sẽ trở nên không

cụ thể, rõ ràng, thậm chí không thể hiểu đúng.

Chẳng hạn, thử xem xét vai trò ngữ nghĩa của trạng ngữ trong những câu sau:

(74) Giá lúc ấy vợ hắn có nhà thì hắn đã đâm chết vợ. (Đòn chồng).

(75) Bởi vì nếu hắn không vui miệng thì hắn không nói thế. (Trẻ con không

được ăn thịt chó).

Trong những câu (74), (75), nếu lược bỏ các trạng ngữ, ý nghĩa của câu sẽ

trở nên không xác định, không phù hợp bởi việc “hắn đã đâm chết vợ” hoặc “hắn

không nói thế” chỉ là giả thiết chứ không phải các sự việc đã xảy ra trong thực

tế. Các ví dụ (74), (75) và sự phân tích cho thấy trạng ngữ có vai trò quan trọng

đối với việc hiểu ý nghĩa của câu. Từ đây, cần thấy rằng việc dùng trạng ngữ

(trong đó có trạng ngữ là cụm chủ vị) với vai trò là yếu tố mở rộng câu luôn phổ

biến trong mọi loại văn bản.

2) Về phạm vi kết hợp của cụm chủ vị trạng ngữ

Cũng như trạng ngữ nói chung, trạng ngữ là cụm chủ vị (cụm chủ vị làm

trạng ngữ) nói riêng có khả năng kết hợp rộng rãi với hầu hết các nhóm vị từ - vị

48

ngữ. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa cụm chủ vị trạng ngữ và cụm chủ vị bổ

ngữ (chỉ có khả năng kết hợp hạn chế với một số nhóm động từ - vị ngữ).

Kết quả khảo sát câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ trong “Tuyển tập

Nam Cao” cho thấy, trạng ngữ là cụm chủ vị có khả năng xuất hiện bên các kiểu

vị ngữ (ở các cụm chủ vị chính) sau:

a) Vị ngữ là động từ nội động

Ví dụ:

(76) Hắn cười khanh khách bởi hắn thấy giống anh chàng ấy quá. (Đôi

móng giò).

b) Vị ngữ là động từ ngoại động

Ví dụ:

(77) Tôi thương tiếc cái nhà của tôi như người ta tiếc thương một người

vợ bị lâu ngày hắt hủi,... (Mua nhà).

c) Vị ngữ là tính từ

Ví dụ:

(78) Nó không còn đỏ được bởi y làm gì có máu. (Đòn chồng).

(79) Mặt y sáng sủa như có ngọn lửa ở bên trong giọi. (Nhìn người ta sung

sướng).

3) Về phương thức kết hợp của cụm chủ vị trạng ngữ

Nhìn chung, cụm chủ vị làm trạng ngữ thường kết hợp gián tiếp với vị từ

- vị ngữ thông qua các quan hệ từ. Cụ thể:

a) Kết hợp thông qua quan hệ từ vì (do, bởi).

Ví dụ:

(80) Thị hơi sửng sốt vì bố chúng nó đang thả một con chó thui xuống

nước... (Trẻ con không được ăn thịt chó).

(81) Y không kháng cự bởi kháng cự thật là vô ích. (Đón chồng).

(82) Chú lấy giùm tôi là phần nhất bởi tôi biết tiền chú sẵn, có thể xếp cho

tôi chóng vánh. (Mua nhà).

49

b) Kết hợp thông qua quan hệ từ như

Ví dụ: (83) Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm con gọi đứa con cầu

tự. (Lão Hạc).

(84) Hắn bước nhanh nhẹn và vui vẻ như một ông phó mới đi đến một đám

mời ăn khao. (Trẻ con không được ăn thịt chó).

(85) Từ đã tin như người ta tin một vị thần. (Đời thừa).

c) Kết hợp thông qua quan hệ từ nếu (giá).

Ví dụ:

(86) Nếu Nhu kệ nó thì nó còn khóc mãi. (Ở hiền).

(87) Giá mỗi cây chuối sinh lấy hai buồng thì hắn không đến nỗi là con

người lật lọng. (Trẻ con không được ăn thịt chó).

d) Kết hợp thông qua quan hệ từ để

Ví dụ:

(88) Bà thuê Dần với hai con bé nữa để chúng dọn vặt và trông nom ông

suốt (Một đám cưới).

(89) Dần trông coi, săn sóc các em để cho bố đi làm. (Một đám cưới).

4) Về vị trí và khả năng cải biến vị trí

Trạng ngữ (trong đó có trạng ngữ là cụm chủ vị) được coi là thành phần

câu có sự tự do, linh hoạt về vị trí. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn

Mạnh Tiến, vị trí cơ bản (xuất phát) của trạng ngữ là ở sau vị ngữ. Khảo sát trên

cứ liệu Tuyển tập Nam Cao (và qua các ví dụ về trạng ngữ là cụm chủ vị dẫn trên

đây), chúng tôi thấy ý kiến của các tác giả là có cơ sở. Tuy nhiên, cần thấy rằng,

khi hoạt động trong câu, trạng ngữ (gồm trạng ngữ là cụm chủ vị) dễ dàng được

cải biến vị trí, cụ thể là chuyển lên trước cụm chủ vị nòng cốt. Minh chứng cho

điều này, ngoài các ví dụ (86), (87), có thể nêu thêm các ví dụ sau đây (trong đó,

cụm chủ vị trạng ngữ đứng trước cụm nòng cốt).

(90) Nếu nó không chịu đi với cháu hay bắt nạt cháu thì cháu cứ bảo dì

(Cái mặt không chơi được).

50

(91) Giá ông xoay được thì ông trả phắt Điền chục bạc, cho đẹp mặt cả

đôi bên. (Giăng sáng).

(92) Nếu người ấy không trở lại, anh đành xướng mà chịu mất ba xu. (Nhỏ

nhen).

2.2.3.4. Câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ

1) Xác định câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ

Sở dĩ cần đặt ra vấn đề xác định câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ vì

đến nay vẫn còn có những ý kiến khác nhau trong việc xác định kiểu câu này.

Chẳng hạn, thử xem xét những câu dưới đây:

(93) Tôi sướng run người mỗi khi tôi có thể chạm tay tôi vào tay cô một

cái. (Cái mặt không chơi được).

(94) Vâng, chính tôi, tôi đã cả gan ăn cắp, ăn cắp chỉ vì bốn đồng xu trong

lúc tôi kiếm bạc trăm là thường. (Nhỏ nhen).

Trong các câu (93), (94), sau các từ khi, lúc là các cụm chủ vị. Khi xác

định chức năng năng của các cụm chủ vị này, có tác giả coi chúng là cụm chủ vị

làm trạng ngữ (khi, lúc được coi là quan hệ từ dẫn nối); có tác giả lại coi lúc, khi

là danh từ và các cụm chủ vị sau chúng là cụm chủ vị định ngữ. Không có điều

kiện đi sâu vào vấn đề tranh luận trên đây, trong luận văn này, chúng tôi tán thành

ý kiến của Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Mạnh Tiến coi lúc, khi là danh từ chỉ thời

gian và các cụm chủ vị ở sau chúng là cụm chủ vị định ngữ. Theo đó, những câu

(93), (94) là những câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ.

2) Đặc điểm của câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ

Câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ có những đặc điểm cơ bản sau:

a) Về số lượng

Trong Tuyển tập Nam Cao, câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ có số

lượng đáng kể (chiếm vị trí thứ ba với 83 câu với tỉ lệ là 15,37 %). Nhìn vào số

lượng này, có thể thấy nhu cầu mở rộng cụm danh từ bằng cụm chủ vị khá lớn.

Điều này cũng dễ hiểu vì vị từ - vị ngữ với vai trò là hạt nhân cú pháp, ngữ nghĩa

của câu và thuộc tính kết trị phức tạp của mình luôn đòi hỏi được phát triển, mở

rộng về mặt cú pháp và ngữ nghĩa.

51

b) Về phạm vi kết hợp của cụm chủ vị định ngữ

Cũng như định ngữ, cụm chủ vị làm định ngữ luôn đi với danh từ (thuộc

các tiểu loại, các nhóm cụ thể khác nhau).

Kết quả khảo sát trong Tuyển tập Nam Cao cho thấy, cụm chủ vị làm định

ngữ xuất hiện bên các nhóm danh từ sau:

- Nhóm danh từ chỉ thời gian (khi, lúc, hồi, hôm, ngày, thời kì).

Ví dụ: (95) Hắn về đột ngột giữa lúc người ta gần như quên hắn. (Chí Phèo).

(96) Tôi có vẻ ghen bóng ghen gió, trong lúc tôi không có quyền gì được

ghen. (Đui mù)

(97) Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân. (Sống mòn).

(98) Trong thời kì người Nhật ở đây, các quý phu nhân còn cần phải giao

thiệp với họ nhiều. (Nỗi truân chuyên của khách má hồng).

(99) Hồi tôi mới lên Việt Bắc, một anh bạn hỏi cảm tưởng đầu tiên của tôi

khi tới miền núi rừng. (Trên những con đường Việt Bắc).

(100) Từ ngày Cừ vào bộ đội, chưa ai bảo Cừ là xoàng cả. (Trần Cừ).

- Nhóm danh từ chỉ người (hoặc bộ phận của người).

Ví dụ:

(101) Tôi nghĩ đến những thiếu nữ khác đẹp hay xấu mà tôi đã gặp. (Cái

mặt không chơi được).

(102) Có lẽ chính vì thế mà Thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng sợ. (Chí

Phèo).

- Nhóm danh từ chỉ động vật

Ví dụ:

(103) Con gà mái ông định bắt, tôi đã nhận tiền bán cho người khác rồi

(Nửa đêm).

- Nhóm danh từ chỉ thực vật

Ví dụ: (104) Chúng tôi vừa in, vừa cắn hạt bí mà cụ Quân cho. (Ở rừng).

(105) Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp

mạnh. (Đời thừa).

52

(106) Nhưng anh bán sách chỉ nhìn qua hai cuốn sách tôi cần rồi mở ngăn

kéo trả tôi năm hào. (Nhỏ nhen).

(107) Nó mặc một cái quần, một cái áo bằng thứ vải mà con sen nhà các

anh cũng không thèm mặc. (Mua nhà).

- Nhóm danh từ chỉ sự việc cụ thể hoặc trừu tượng

Ví dụ:

(108) Mỗi buổi tối, những người phải đi qua, nghe tiếng chúng cười như

thằng điên. (Đôi móng giò).

(109) Nay mai, những cái họ mang nặng trên vai sẽ nổ tung. (Vui dân công).

(110) Cả làng Vũ Đại thì thầm kể cho nhau nghe chuyện ông Thiên Lôi

giết vợ. (Nửa đêm).

- Nhóm danh từ chỉ đơn vị (lần, lượt) tính đến hoạt động

Ví dụ:

(111) Mỗi lần mẹ đi chợ về, cứ nghe tiếng các anh réo là cu Con lại thét

lên. (Trẻ con không được ăn thịt chó).

(112) Mỗi lần tôi nhất định là một lần tim tôi nhảy chồm lên. (Cái mặt

không chơi được).

- Nhóm danh từ chỉ vị trí

Ví dụ:

(113) Thứ rón rén lên gác lại gần chỗ Đích nằm. (Sống mòn).

c) Về phương thức kết hợp

Kết quả khảo sát cho thấy cụm chủ vị làm định ngữ có thể kết hợp với

danh từ trung tâm theo hai phương thức: kết hợp trực tiếp (không có quan hệ từ)

và kết hợp gián tiếp (thông qua quan hệ từ).

- Kết hợp trực tiếp

Ví dụ:

(114) Hồi bu còn sống, bu hay mang cái bị giẻ và một ôm quần áo vào ổ

rơm ngồi vá. (Từ ngày mẹ chết).

53

(115) Anh chạy được năm khung cửi cho năm người hàng xóm, mới thấy

tiếng các cụ láo quáo ở ngoài đê. (Thô, đi về).

- Kết hợp gián tiếp

Trong trường hợp này, các quan hệ từ dẫn nối cụm chủ vị thường gặp là:

+ Quan hệ từ mà

Đây là trường hợp của những câu (101), (102), (105), (107) đã dẫn ở trên.

+ Quan hệ từ của

Ví dụ:

(116a) Đó là tên của bà Cựu đặt cho anh. (Truyện người hàng xóm)

Trong câu trên đây quan hệ từ của có thể được thay thế bằng quan hệ từ

mà: (116b) Đó là tên mà bà Cựu đặt cho anh. Khả năng thay thế của bằng mà

cho thấy phương tiện dẫn nối cụm chủ vị định ngữ chủ yếu là quan hệ từ mà.

d) Về hiện tượng tỉnh lược bổ ngữ ở sau động từ - vị ngữ trong cụm chủ vị

định ngữ.

Khảo sát đặc điểm ngữ pháp của cụm chủ vị làm định ngữ ở câu phức phụ

thuộc trong Tuyển tập Nam Cao, chúng tôi ghi nhận một hiện tượng đáng chú ý

là sự lược bỏ bổ ngữ sau động từ - vị ngữ. Chẳng hạn, xin dẫn lại và phân tích

một số câu đã dẫn ở trên để làm rõ điều này.

(101) Tôi nghĩ đến những thiếu nữ khác đẹp hay xấu mà tôi đã gặp Ø .

(Cái mặt không chơi được).

(102) Có lẽ chính vì thế mà Thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng sợ Ø.

(Chí Phèo).

(103) Con gà mái ông định bắt Ø, tôi đã nhận tiền bán cho người khác

rồi. (Nửa đêm).

(104) Chúng tôi vừa in, vừa cắn hạt bí bà cụ Quân cho Ø. (Ở rừng).

Trong câu (101), sau động từ "gặp" (động từ ngoại động) không xuất hiện

bổ ngữ (vì văn cảnh gần đã cho biết đối thể của "gặp" là "những thiếu nữ"). Tuy

nhiên, cần chỉ ra rằng cụm từ "những thiếu nữ" đứng trước không phải là bổ ngữ

54

của gặp. Như vậy, ở đây cần thừa nhận có hiện tượng lược bỏ bổ ngữ (để tiết

kiệm và tránh lặp nghĩa không cần thiết). Đây là đặc điểm của tiếng Việt (vì trong

các ngôn ngữ biến hình, bên động từ - vị ngữ như ở trường hợp trên đây vẫn

thường xuất hiện bổ ngữ là đại từ quan hệ).

Phân tích theo cách tương tự, ta cũng có thể khẳng định rằng trong những

câu (102), (103), (104) cũng có hiện tượng lược bỏ bổ ngữ sau các động từ - vị

ngữ (sợ, bắt, cho).

2.2.3.5. Câu phức có cụm chủ vị làm chủ giải ngữ

Câu phức có cụm chủ vị làm chú giải ngữ có những đặc điểm chủ yếu sau:

1) Về số lượng

Kiểu câu phức này có số lượng không nhiều trong số câu phức phụ thuộc

(gồm 31 câu, chiếm 5,74%). Có thể lí giải điều này dựa vào đặc điểm của chú

giải ngữ. Đây là một thành phần câu đặc biệt mà trong nhiều trường hợp cụ thể,

được một số tác giả coi là biến thể của định ngữ, bổ ngữ hoặc trạng ngữ. Nét đặc

biệt của thành phần câu này là tính biệt lập (không thể hiện kết trị của một từ loại

nhất định). Nó là biến thể của định ngữ, bổ ngữ hoặc trạng ngữ. Nó được dùng

để chú giải, làm rõ nghĩa cho bất kì từ ngữ nào trong câu hoặc cho cả câu. Chú

giải ngữ thường được biểu hiện bằng từ hoặc cụm từ chính phụ. Chỉ trong một

số trường hợp, nó mới có dạng cấu tạo là cụm chủ vị.

2) Về phạm vi kết hợp của cụm chủ vị làm chú giải ngữ

Như đã nói trên, chú giải ngữ (gồm chú giải ngữ là cụm chủ vị) không thể

hiện kết trị của một từ loại nhất định. Nó có thể được dùng để chú giải, làm rõ

nghĩa cho bất kì từ loại hay thành phần câu nào.

Theo khảo sát của chúng tôi, cụm chủ vị làm chú giải ngữ trong Tuyển tập

Nam Cao thường được dùng trong các trường hợp sau:

a) Chú giải làm rõ nghĩa cho danh từ, cụm danh từ giữ một chức năng cú pháp

nhất định.

Ví dụ:

(117) Hôm làm khao, ông nghĩ ra một kế vô cùng ác hiểm: ông sai người

đem cau đến mời ông lí cựu. (Rửa hờn).

55

Trong câu (117), chú giải ngữ là cụm chủ vị được dùng để giải thích, làm

rõ nghĩa cho cụm danh từ làm bổ ngữ "một kế vô cùng ác hiểm".

(118) Người ta mỉm cười với cái ý nghĩ: ta muốn nằm đến bao giờ cũng

được. (Truyện tình).

Trong câu (118), cụm chủ vị là chú giải ngữ được dùng để giải nghĩa cho

cụm danh từ "cái ý nghĩ" giữ vai trò trạng ngữ.

b) Chú giải làm rõ nghĩa cho cụm vị từ - vị ngữ hoặc cả câu

Ví dụ:

(119) Hắn đờ hai con mắt để rên: hắn chỉ còn đủ sức để rên khe khẽ.

(Chí Phèo).

(120) Tôi sẽ chẳng bao giờ đả động đến cái tôi - cái tôi là đáng ghét.

(Những truyện không muốn viết).

(121) Hài điều độ vì bắt buộc - hắn không có sức dư để bứa bừa. (Quên

điều độ).

(122) Tôi, cái ấy đã dĩ nhiên rồi: tôi vẫn gầy. (Những truyện không muốn

viết).

3) Về hình thức

Chú giải ngữ được đặc trưng bởi tính biệt lập về hình thức. Trong ngôn

ngữ nói, tính biệt lập của chú giải ngữ được thể hiện ở ngữ điệu (quãng ngừng).

Trong ngôn ngữ viết, tính biệt lập của chú giải ngữ thể hiện ở các dấu câu (dấu

phẩy, dấu gạch ngang, dấu hai chấm, dấu ngoặc đơn). Tuy nhiên, kết quả khảo

sát cụm chủ vị làm chú giải ngữ trong câu phức phụ thuộc ở "Tuyển tập Nam

Cao" cho thấy các cụm chủ vị làm chú giải ngữ được tách biệt bởi hai phương

tiện: dấu hai chấm (như ở các câu (119), (122)) và dấu gạch ngang (ở các câu

(120), (121)).

2.2.3.6. Câu phức phụ thuộc hỗn hợp

Câu phức phụ thuộc hỗn hợp là kiểu câu phức phụ thuộc gồm ba cụm chủ vị

trở lên trong đó các cụm chủ vị phụ thuộc không cùng chức năng cú pháp.

56

Câu phức phụ thuộc hỗn hợp có những đặc điểm sau:

1) Về số lượng

Câu phức phụ thuộc hỗn hợp gồm 71 câu, chiếm tỉ lệ 13,15 %. Với số lượng

này, câu phức phụ thuộc hỗn hợp đứng thứ tư trong sáu kiểu câu phức phụ thuộc

(trên kiểu câu phức có cụm chủ vị làm chú giải ngữ và câu phức có cụm chủ vị

làm chủ ngữ). Sự có mặt của câu phức phụ thuộc hỗn hợp với số lượng trên đây

cho thấy trong một câu mở rộng bằng cụm chủ vị, sự xuất hiện đồng thời các cụm

chủ vị phụ thuộc giữ các chức năng cú pháp khác nhau không phải là hiện tượng

hiếm. Hiện tượng này phản ánh sự đa dạng, phức tạp của tư duy được thể hiện ở

tính đa dạng, phức tạp trong tổ chức cú pháp của câu.

2) Các kiểu câu phức phụ thuộc hỗn hợp

Xét theo chức năng của các cụm chủ vị phụ thuộc (cụm chủ vị làm thành

phần câu), có thể chia câu phức phụ thuộc hỗn hợp thành các kiểu cụ thể sau:

a) Câu phức hỗn hợp có cụm chủ vị làm chủ ngữ, bổ ngữ

Ví dụ:

(123) Cây cối um tùm che khuất khiến nó tách ra như một thế giới khác.

(Truyện tình)

(124) Bỗng một bàn tay đập vào vai hắn khiến hắn giật mình quay lại.

(Đời thừa)

Những câu (123), (124) đều có vị ngữ là động từ khiến mà trước nó là cụm

chủ vị làm chủ ngữ, còn sau nó là cụm chủ vị làm bổ ngữ. Như vậy, ở những câu

này, hai cụm chủ vị phụ thuộc (cụm chủ ngữ và cụm bổ ngữ) khác nhau về chức

năng cú pháp.

b) Câu phức hỗn hợp có cụm chủ vị làm chủ ngữ, bổ ngữ và định ngữ.

Ví dụ:

(125) Nó hắt lên cái đi-văng Thứ đang ngồi khiến y nheo mắt nhìn lên.

(Sống mòn).

Ở câu (125) có ba cụm chủ vị phụ thuộc giữ các chức năng khác nhau: chủ

ngữ (nó hắt lên cái đi văng Thứ đang ngồi), định ngữ (Thứ đang ngồi), bổ ngữ

(y nheo mắt nhìn lên).

57

c) Câu phức hỗn hợp có cụm chủ vị làm bổ ngữ, định ngữ

Ví dụ:

(126) Cái lúc hắn tưởng là hắn chết lại chính là lúc hắn bắt đầu lên lưng.

(Mua danh).

Trong câu (126) có bốn cụm chủ vị trong đó có ba cụm chủ vị phụ thuộc.

Trong ba cụm chủ vị phụ thuộc có hai cụm giữ chức năng định ngữ (đứng sau

danh từ lúc) và một cụm chủ vị bổ ngữ (bổ sung cho động từ tưởng: "tưởng là

hắn chết").

d) Câu phức hỗn hợp có cụm chủ vị làm bổ ngữ, trạng ngữ

Ví dụ:

(127) Tôi thấy rằng sau kháng chiến, nếu tôi thích đi cày, đi cuốc hơn cầm

bút, tôi có thể đi cày đi cuốc được. (Ở rừng).

Trong câu (127) có ba cụm chủ vị trong đó hai cụm chủ vị phụ thuộc giữ

các chức năng khác nhau: Trạng ngữ ((nếu) tôi thích đi cày đi cuốc hơn cầm bút)

và bổ ngữ (xét trong mối quan hệ với động từ - vị ngữ thấy: tôi có thể đi cày đi

cuốc được).

2.3. Câu phức đẳng lập

2.3.1. Đặc điểm chung của câu phức đẳng lập

Câu phức đẳng lập là câu phức gồm từ hai cụm chủ vị chính (cụm chủ vị nòng

cốt) trở lên. Các cụm chủ vị chính có quan hệ bình đẳng với nhau, tức là không có cụm

nào làm thành phần câu, chúng không phụ thuộc vào nhau về cú pháp.

Câu phức đẳng lập trong Tuyển tập Nam Cao có những đặc điểm chung sau:

1) Về số lượng

Câu phức đẳng lập trong “Tuyển tập Nam Cao” gồm 225 câu, chiếm 29,41

%. Về số lượng, sở dĩ câu phức đẳng lập ít hơn câu phức phụ thuộc khá nhiều là

vì có những nguyên khác nhau. Một trong những nguyên nhân đó có thể là do

tính độc lập của các cụm chủ vị tạo thành vế câu: Do có tính độc lập khá cao,

trong nhiều trường hợp, người viết chọn giải pháp tách thành câu đơn thay cho

giải pháp dùng câu phức đẳng lập.

58

2) Về tính chất của mối quan hệ cú pháp giữa các cụm chủ vị

Giữa các cụm chủ vị nòng cốt tạo thành câu phức đẳng lập có mối quan

hệ bình đẳng, tức là không cụm nào phụ thuộc về cú pháp vào cụm nào. Do đặc

điểm này mà trong nhiều trường hợp, việc lược bỏ một cụm không ảnh hưởng

đến sự tồn tại của cụm kia, nhất là về ngữ pháp.

3) Về trật tự giữa các cụm chủ vị

Phù hợp với trật tự trong các tổ hợp đẳng lập, trật tự giữa các cụm chủ vị

trong câu phức đẳng lập tương đối tự do về cú pháp. Sở dĩ nói tương đối vì không

phải trong mọi trường hợp, có thể dễ dàng thay đổi trật tự giữa các cụm chủ vị.

Sự hạn chế khả năng thay đổi trật tự giữa các cụm chủ vị trong câu phức đẳng

lập có những nguyên nhân thuộc về mặt logic - ngữ nghĩa (chứ không phải cú

pháp).

4) Về phương tiện biểu thị quan hệ giữa các cụm chủ vị (các vế câu)

Các phương tiện chủ yếu được sử dụng là ngữ điệu ngừng (thể hiện trên

chữ viết là dấu phẩy, dấu chấm phẩy), quan hệ từ (và, hay, rồi), phó từ (lại).

2.3.2. Các kiểu câu phức đẳng lập trong Tuyển tập Nam Cao

Theo tính chất của mối quan hệ giữa các cụm chủ vị (các vế câu), câu phức

đẳng lập trong Tuyển tập Nam Cao có thể được chia thành các kiểu chính sau:

1) Câu phức liệt kê

Ở kiểu này, số lượng cụm chủ vị có thể là hai hoặc lớn hơn hai, trật tự giữa

các cụm tương đối tự do, phương tiện nối kết giữa các vế thường là ngữ điệu

(dấu phẩy) hoặc quan hệ từ và.

Ví dụ:

(128) Thúc hắn thì hắn chửi, cắm vườn hắn thì hắn chém, sinh chuyện với

hắn thì chính lí trưởng làng có lỗi. (Chí Phèo)

(129) Thị cười, thị thấy không buồn ngủ và thị cứ lăn vào. (Chí Phèo)

(130) Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người. (Chí Phèo)

(131) Y đánh bạc, y uống rượu, y ăn cắp tiền của vợ. (Nhìn người ta sung

sướng).

59

(132) Cái ổ rơm nóng, mẻ ngô rang thơm ngạt, tiếng trẻ con cười giòn.

(Làm tổ).

(133) Bà cào, bà cấu, bà tát, mồm thì gào lên như chính bà bị đánh. (Nửa

đêm).

(134) Y xấu, y nghèo, y ngờ nghệch vụng về. (Sống mòn).

Trong những câu phức liệt kê trên đây, số lượng cụm chủ vị phần lớn là

trên hai cụm, trật tự giữa các cụm cũng tương đối tự do mà bằng chứng là có thể

đổi chỗ giữa chúng mà không dẫn đến sự thay đổi hay phá vỡ cấu trúc cú pháp

cơ bản của câu.

Bên cạnh những câu phức liệt kê điển hình như trên đây, còn có thể gặp

những câu phức liệt kê mà về ngữ nghĩa, rất khó chuyển đổi trật tự giữa các cụm

chủ vị (các vế). Dưới đây là một ví dụ về dạng câu phức như vậy.

(135) Mắt tôi nhìn xuống mũi, mũi tôi nhìn xuống miệng và miệng tôi thì

bĩu ra. (Những truyện không muốn viết).

Trong câu trên đây, vì lí do ngữ nghĩa rất khó thay đổi trật tự giữa các vế

(mặc dù về ngữ pháp, các cụm chủ vị trong câu trên đây có quan hệ đẳng lập và

biểu thị các sự việc mang ý nghĩa thiên về liệt kê).

2) Câu phức nối tiếp

Kiểu câu phức này biểu thị các sự việc nối tiếp nhau theo thời gian. Phương

tiện biểu thị mối quan hệ giữa các sự việc là ngữ điệu và quan hệ từ rồi hoặc phó

từ lại.

Ví dụ:

(136) Anh do dự rất lâu, rồi anh quả quyết, anh xuống bếp. (Nhỏ nhen).

(137) Ninh gọi Đạt về, lau nước mắt cho nó rồi chị em ăn sáng. (Từ ngày

mẹ chết).

(138) Hắn lẩm bẩm thành lời rồi hắn lại toan xộc vào nhà. (Sống mòn).

Trong những câu (136), (137), (138), mối quan hệ nối tiếp giữa các sự việc

nêu trong cụm chủ vị được biểu thị bởi quan hệ từ rồi.

60

Có những trường hợp trong quan hệ từ rồi không xuất hiện nhưng ý nghĩa

nối tiếp vẫn được bộc lộ. Thuộc những trường hợp này là:

- Khi cụm chủ vị đứng sau có chứa đại từ thay thế cho từ nêu ở cụm chủ

vị đứng trước.

Ví dụ:

(139) Hiền sợ lắm, nó lúng túng gỡ chăn. (Truyện người hàng xóm).

(140) Đôi mắt thì long sòng sọc, chúng toan nhảy vọt ra. (Những truyện

không muốn viết).

- Khi cụm chủ vị đứng sau có danh từ chỉ bộ phận bất khả li của chỉnh thể

nêu ở cụm chủ vị đứng trước.

(141) Bà ngồi xuống cửa, mặt hầm hầm như giận dữ. (Từ ngày mẹ chết).

(142) Dì ngoẹo đầu đi, mặt đỏ bừng... (Dì Thảo).

- Khi cụm chủ vị đứng sau biểu thị sự việc mà về logic thời gian chỉ có thể

xảy ra sau sự việc thứ nhất.

Ví dụ:

(143) Người Mán bẫy được gấu một lần, người Mán cho chúng tôi ăn thịt

gấu. (Từ ngược về xuôi).

Trong câu (143), sự việc "ăn thịt gấu" nêu ở cụm chủ vị đứng sau chỉ có

thể xảy ra sau sự việc "bẫy được gấu" nêu ở cụm chủ vị đứng trước.

3) Câu phức đối xứng

Kiểu câu phức này thường gồm hai vế (hai cụm chủ vị) đối xứng nhau về

ý nghĩa và hình thức.

Ví dụ:

(144) Người nhìn ra sân, người nhìn vào bát. (Đón khách).

(145) Cơm trắng, cá ngon. (Đón khách).

(146) Mẹ chồng nghiến rứt con dâu, con dâu cãi lại mẹ chồng. (Nước mắt).

4) Câu phức đối lập (tương phản)

Kiểu câu phức này cũng thường gồm hai vế trong đó vế sau thường được

dẫn nối bởi các quan hệ từ nhưng, song chỉ sự việc đối lập (tương phản) với sự

việc nêu ở vế trước.

61

Ví dụ:

(147) Tôi cũng cười nhưng có lẽ cái cười chẳng được tươi cho lắm. (Đôi mắt).

(148) Con em chúng nó mù, nhưng hắn không mù. (Đôi móng giò).

(149) Y cũng vào phòng viết, ngồi như thường lệ nhưng y không viết được.

(Bài học quét nhà).

5) Câu phức lựa chọn

Trong Tuyển tập Nam Cao, kiểu câu phức này rất ít gặp. Trường hợp duy

nhất mà chúng tôi gặp là câu hỏi lựa chọn với hai cụm chủ vị đã nêu ở đầu

Chương 2 (Mình đọc hay tôi đọc?).

2.4. Tiểu kết

Trong Chương 2, luận văn đã xem xét đặc điểm ngữ pháp của câu phức

trong Tuyển tập Nam Cao. Qua kết quả thống kê, phân loại và miêu tả ở chương

này, có thể thấy câu phức trong Tuyển tập Nam Cao không chỉ phong phú về số

lượng mà còn rất đa dạng về cấu tạo. Trong hai kiểu câu phức chính xét về mặt

cấu tạo (câu phức phụ thuộc và câu phức đẳng lập), câu phức phụ thuộc có số

lượng áp đảo (với 70,59%). Không chỉ chiếm số lượng lớn, câu phức phụ thuộc

trong Tuyển tập Nam Cao còn rất đa dạng về kiểu cấu tạo (với sáu kiểu nhỏ).

Trong sáu kiểu câu phức phụ thuộc có ba kiểu có số lượng lớn nhất là câu phức

có cụm chủ vị làm bổ ngữ (37,96 %), câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ

(chiếm 26,48%) và câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ (chiếm 15,37 %). Sự

phổ biến của ba kiểu câu phức phụ thuộc trên đây phản ánh thuộc tính kết trị

phong phú của vị từ và danh từ cũng như sự phong phú, phức tạp của tư duy với

vai trò là công cụ phản ánh đầy đủ, trung thực hiện thực khách quan bằng ngôn

ngữ.

Kết quả thống kê, miêu tả câu phức trong Tuyển tập Nam Cao cũng cho

thấy câu phức có vai trò quan trọng trong hệ thống ngữ pháp, trong việc phản

ánh hiện thực đời sống vốn rất đa dạng và phức tạp mà nếu chỉ dùng câu đơn

(câu có một cụm chủ vị) sẽ không thể phản ánh đầy đủ, trung thực.

62

Chương 3

CÂU PHỨC TRONG TUYỂN TẬP NAM CAO

XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA

3.1. Dẫn nhập

Vấn đề ngữ nghĩa của câu là một vấn đề rất phức tạp. Vấn đề tổ chức ngữ

nghĩa của câu phức lại là vấn đề phức tạp hơn. Sở dĩ như vậy là vì câu phức biểu

thị không phải là một mà một vài sự tình mà mỗi sự tình tương ứng với một sự

tình nêu trong câu đơn.

Trước một vấn đề phức tạp như vậy, tác giả luận văn không có điều kiện,

khả năng giải quyết một cách đầy đủ, thấu đáo. Mục tiêu mà luận văn đặt ra ở

chương này chỉ là xem xét, miêu tả một cách khái quát một số đặc điểm ngữ

nghĩa của câu phức trong Tuyển tập Nam Cao. Những vấn đề chính mà luận văn

sẽ đề cập ở chương này là:

1) Đặc điểm chung về ngữ nghĩa của câu phức (trên cứ liệu Tuyển tập Nam

Cao)

2) Đặc điểm về ngữ nghĩa của câu phức phụ thuộc (trên cứ liệu Tuyển tập

Nam Cao).

3) Đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức đẳng lập (trên cứ liệu Tuyển tập Nam

Cao).

Khi xem xét những vấn đề trên đây, về mặt lí thuyết, chúng tôi chủ yếu

dựa vào quan niệm về ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện) thể hiện trong cuốn Ngữ pháp

tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc và Nguyễn Mạnh Tiến [LT, 484 - 494].

3.2. Đặc điểm chung về ngữ nghĩa của câu phức trong Tuyển tập Nam Cao

Khác với câu đơn không chỉ đơn giản về cú pháp mà còn đơn giản về ngữ

nghĩa, câu phức được đặc trưng bởi tính phức tạp về ngữ nghĩa.

Tính phức tạp về ngữ nghĩa của câu phức được thể hiện ở hai mặt: câu

phức biểu thị nhiều sự tình (sự việc, sự kiện) và có tổ chức ngữ nghĩa nhiều tầng

bậc với nhiều kiểu quan hệ ngữ nghĩa khác nhau.

63

Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét cụ thể hai đặc điểm ngữ nghĩa này của câu

phức trên cứ liệu Tuyển tập Nam Cao.

3.2.1. Câu phức với số lượng sự tình được biểu thị

1. Sự tình như là nội dung biểu thị của cụm chủ vị

Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ sự tình thường được hiểu là một sự việc

diễn ra (hay tồn tại) trong thực tế. Sự việc (sự tình) đó bao gồm hoạt động (hay

đặc điểm) tạo nên lõi sự tình và các thực thể tham gia vào hoạt động (hay mang

đặc điểm) với tư cách là chủ thể hoặc đối thể. Ngoài ra, liên quan đến sự tình còn

có các yếu tố giữ vai trò bối cảnh (thời gian, không gian) hoặc các yếu tố thúc

đẩy, cản trở sự tình (nguyên nhân, mục đích, phương tiện...). Một sự tình thường

được ngôn ngữ biểu thị bằng một cụm chủ vị trong đó vị ngữ (là thực từ đồng

thời là hạt nhân ngữ nghĩa của cụm) biểu thị lõi sự tình, chủ ngữ biểu thị chủ thể,

còn bổ ngữ và trạng ngữ (nếu có) biểu thị đối thể và tình huống (hoàn cảnh) của

sự tình. Chẳng hạn: câu (1) “Chí Phèo lăn lộn dưới đất.” biểu thị một sự tình

gồm lõi sự tình được biểu thị bởi động từ - vị ngữ (lăn lộn), chủ thể (được biểu

thị bởi chủ ngữ Chí Phèo) và hoàn cảnh (được biểu thị bởi trạng ngữ dưới đất).

2. Số lượng, sự tình được biểu thị trong câu phức

Tư liệu thống kê trong Tuyển tập Nam Cao cho thấy số lượng sự tình được

biểu thị tương ứng với số lượng cụm chủ vị trong câu phức có thể dao động từ 2

đến 13 sự tình cụ thể:

a. Câu phức với hai sự tình

Ví dụ:

(2) Cứ tình hình ấy thì ta nói quách: Thị Nở không có chồng. (Chí Phèo)

(3) Anh ấy bảo: anh ấy sợ Tri lắm. (Cái mặt không chơi được)

(4) Ở Hà Nội, Trinh bán hàng cho một hiệu thuốc tây, Ngạn làm cho một

công ty bảo hiểm. (Nhìn người ta sung sướng).

(5) Chúng nhìn thẳng, chúng nhìn nghiêng. (Giăng sáng)

Trong câu (2) có hai cụm từ chủ vị tương ứng với hai sự tình: ta nói và thị

64

Nở không có chồng.

Trong các câu (3), (4), (5) cũng đều có hai cụm chủ vị biểu thị hai sự tình

khác nhau.

b. Câu phức với ba sự tình

Ví dụ:

(6) Hắn thấy người nôn nao, chân tay bủn rủn. (Chí Phèo)

(7) Sáng hôm sau, tôi đang rửa mặt thì Kha xách cái lồng sáo của Kha

sang, Kha cười toe toét để làm lành. (Truyện tình).

(8) Điền càng nghĩ càng thấy rằng hắn là người khổ, vợ hắn là người tệ

bạc. (Nước mắt).

(9) Những đàn bà họ làm dáng cả với những người mà họ biết chẳng đời

nào họ yêu. (Truyện người hàng xóm).

Trong câu (6) có ba cụm chủ vị ứng với ba sự tình: Hắn thấy, người nôn

nao, chân tay bủn rủn.

Trong câu (7) có ba cụm chủ vị biểu thị ba sự tình là: tôi đang rửa mặt,

Kha xách cái lồng sáo của Kha sang, Kha cười toe toét...

Ở các câu (8),(9) cũng có ba cụm chủ vị biểu thị ba sự tình khác nhau.

c) Câu phức với bốn sự tình

(10) Thấy điệu bộ hung hăng của hắn, bà cả đùn bà hai, bà hai thúc bà

ba, bà ba gọi bà tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời

phải chăng. (Chí Phèo)

(11) Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen đen mà

rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trong gớm chết. (Chí Phèo)

(12) Ông phó đi đánh bạc đêm về cũng tạt vào, anh trương, tuần đi tuần

cũng tạt vào, anh hàng xóm cũng mò sang, thậm chí, đến cái thằng hương điền

cũng mon men vào gạ gẫm. (Chí Phèo).

Trong câu (10) có bốn cụm chủ vị tương ứng với bốn sự tình được biểu

thị: bà cả đùn bà ha, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà tư và chẳng bà nào dám nói

với hắn...

65

Trong câu (11) có bốn cụm chủ vị miêu tả về ngoại hình của Chí Phèo:

Cái đầu thì trọc lốc, cái răng thì cạo trắng hởn, cái mặt thì đen đen mà rất cơng

cơng, hai mắt gờm gờm...

Ở câu (12) có bốn cụm chủ vị biểu thị bốn sự tình (nói về cái hoạt động

xấu xa của các nhân vật: ông Phó, anh Trương tuần, anh hàng xóm, thằng hương

điền).

d) Câu phức với năm sự tình

(13) Nhưng nếu cụ lại cứ tưởng cụ là to, khinh y là một anh giáo quèn

trường tư thì y sẽ khinh khỉnh lại ngay mà liệu cách tỏ cho cụ biết tuy y nghèo

rớt mồng tơi nhưng chẳng thèm quỵ lụy thằng nào... (Sống mòn).

Trong câu (13), có năm cụm chủ vị biểu thị năm sự tình: cụ lại cứ tưởng,

cụ là to, y sẽ khinh khỉnh lại ngay, cụ biết, y nghèo...

đ) Câu phức với sáu sự tình

Ví dụ:

(14) Biết bao lần giữa một bữa ăn vui, hình ảnh một bà cụ già nuốt nước

bọt thầm hay một đứa em lấm lét nhìn trộm nồi cơm để ước lượng, xem nó có

còn hi vọng gì được thêm một lượt xới nữa chăng đột ngột hiện ra, khiến y đang

ăn ngon lành bỗng ngẩn mặt thẫn thờ... (Sống mòn)

Trong câu (14) có thể đêm được sáu cụm chủ vị biểu thị sáu sự tình có mối

quan hệ phụ thuộc vào nhau trong đó, cụm chủ vị chính có vị ngữ là động từ

khiến biểu thị sự tình nhân quả.

e) Câu phức với bẩy sự tình

Ví dụ:

(15) Và bây giờ người ta thấy vợ hắn rất chính chuyên mà lại trung thành,

thị chăm chỉ làm ăn để nuôi hắn; những ông trưởng, ông phó tự nhiên cũng nghĩ

bụng rằng: người ta có chồng rồi mà còn chàng màng thì phải tội; ai cũng tử tế

cả chỉ trừ anh Binh, bởi vì Binh Chức bây giờ lại rất mực ngang ngược (Chí

Phèo).

66

Đây chưa phải là câu phức dài nhất trong “Tuyển tập Nam Cao” dù có đến

bẩy cụm chủ vị biểu thị bẩy sự tình có mối quan hệ đan xen phức tạp với nhau.

g) Câu phức với 13 sự tình

Ví dụ:

(16) Họ là những người nhẫn nại đến cực độ, luôn nhận mình là con sâu

cái kiến, ai muốn giẫm lên cũng được; những kẻ bị bóc lột, đè nén, đánh chửi đã

quá quen rồi nên hầu như không còn biết phẫn uất là gì; họ có thể cho kẻ khác

tát một cái để được lợi một vài hào, nhưng lại rất có thể vứt ra đôi ba trăm để

được người ta gọi là ông phó; họ tiếc không dám giết một con gà cho bố mẹ ăn

nhưng nếu bố mẹ chết đi lại có thể giết mấy con bò để làm ma thật lớn, những

người rất ngờ nghệch nhưng lại rất đa nghi; chẳng khó gì mà có thể khiến họ tin

rằng một con cá chép vừa hóa thành một ông lão tóc bạc phơ để nói thành lời

báo tin đói kém, mất mùa, nhưng đố ai phân trần được cho họ hiểu rằng không

phải trồng đậu ngăn được bệnh đậu mùa mà bệnh đậu mùa sinh ra chỉ do một

loại vi rút chứ chẳng có các cô, bà nào đi rải hoa quả. (Truyện người hàng xóm)

Câu (16) trên đây có lẽ là câu dài nhất trong “Tuyển tập Nam Cao” với 13

cụm chủ vị ứng với 13 sự tình được biểu thị.

Như vậy, số lượng sự tình, được biểu thị trong câu phức có thể rất lớn và

điều đó là một bằng chứng về tính phức tạp về ngữ nghĩa của câu phức trong

Tuyển tập Nam Cao.

3.2.2. Về tổ chức ngữ nghĩa của câu phức

Với số lượng sự tình được biểu thị như đã chỉ ra (gồm từ hai sự tình trở

lên), câu phức trong Tuyển tập Nam Cao có tổ chức ngữ nghĩa rất phức tạp vì

vậy, phân tích tổ chức ngữ nghĩa của câu phức trong Tuyển tập Nam Cao là công

việc rất khó khăn. Ở đây, chúng tôi chỉ có thể phân tích sơ bộ tổ chức ngữ nghĩa

của một vài kiểu câu phức với mục đích phần nào chỉ ra tính phức tạp về ngữ

nghĩa của chúng.

(17) Gặp ai hắn cũng bảo hắn đến nhà cụ Bá Kiến đòi nợ đây. (Chí Phèo)

67

Câu (17) gồm hai cụm chủ vị biểu thị hai sự tình: sự tình chính có hạt nhân

ngữ nghĩa là bảo với hai tham thể cơ sở chủ thể nói năng (hắn) và nội dung nói

năng (hắn đến nhà cụ Bá Kiến đòi nợ). Tham thể nội dung nói năng lại có tổ

chức ngữ nghĩa là một sự tình bộ phận mà hạt nhân là đến với hai tham thể cơ sở

là hắn, nhà cụ Bá Kiến và một tham thể mở rộng chỉ mục đích (đòi nợ). Như vậy,

sự tình được biểu thị ở câu (17) không phải là một sự tình đơn mà là sự tình phức

với hai sự tình có quan hệ phụ thuộc với nhau (trong đó sự tình chính có hạt nhân

là bảo còn sự tình phụ thuộc có hạt nhân là đến). Sự phân tích trên đây cho thấy

tổ chức ngữ nghĩa (cũng như tổ chức ngữ pháp) của câu phức có tính thứ bậc

(tôn ti) trong đó có những thành tố nghĩa (hạt nhân, tham thể) thuộc bậc 1 (trong

cụm chủ vị nòng cốt) và bậc 2, bậc n (trong cụm chủ vị phụ thuộc).

(18) Bỗng một bàn tay đập vào vai hắn khiến hắn giật mình quay lại. (Đời thừa)

Trong câu (18) có ba cụm chủ vị biểu thị ba sự tình: cụm chủ vị nòng cốt

(vị ngữ là khiến) biểu thị sự tình phức tạp là sự tình nhân quả. Cụm chủ vị chủ

ngữ (một bàn tay đập vào vai hắn) biểu thị sự tình nguyên nhân. Cụm chủ vị bổ

ngữ (hắn giật mình quay lại) biểu thị sự tình kết quả. Như vậy, sự tình nhân quả

(sự tình phức tạp) bao gồm hai sự tình bộ phận (nguyên nhân và kết quả). Mỗi

sự tình bộ phận lại có hạt nhân và các tham thể phụ thuộc vào hạt nhân. Chẳng

hạn, sự tình nguyên nhân gồm hạt nhân đập vào và các tham thể chủ thể (một

bàn tay), đối thể (vai hắn). Sự tình kết quả gồm hạt nhân giật mình quay lại và

tham thể chủ thể (hắn).

(19) Nó hắt cả lên cái đi - văng Thứ đang ngồi khiến y nheo mắt, nhìn lên.

(Sống mòn)

Trong câu (19) có bốn cụm chủ vị biểu thị bốn sự tình: sự tình phức tạp

nhân quả (được biểu thị bởi cụm chủ vị nòng cốt với vị ngữ là khiến), sự tình

nguyên nhân (được biểu thị bởi cụm chủ vị chủ ngữ: nó hắt cả lên cái đi - văng

Thứ đang ngồi) sự tình kết quả (được biểu thị bởi cụm chủ vị bổ ngữ: y nheo

mắt, nhìn lên) và sự tình bộ phận bậc 3 (Thứ đang ngồi) có vai trò bổ sung làm

68

rõ nghĩa cho sự vật cái đi - văng (là đối thể của hoạt động hắt lên). Ở đây, cần

chỉ ra rằng mặc dù là sự tình bộ phận thuộc bậc 3 nhưng sự tình “Thứ đang ngồi”

có một vai trò khá quan trọng về nghĩa vì nếu không có nó thì sẽ không thể lí giải

được tại sao lại có hoạt động “nheo mắt nhìn lên” nêu ở sự tình kết quả. (Ánh

sáng hắt lên cái đi - văng Thứ đang ngồi, tức là hắt vào mặt Thứ, đó là lí do khiến

“Y nheo mắt nhìn lên”). Sự phân tích tổ chức ngữ nghĩa của các câu (17), (18),

(19) cho thấy phần nào tính phức tạp trong tổ chức ngữ nghĩa của câu phức.

3.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức phụ thuộc

3.3.1. Nhận xét chung

Mặc dù đều có đặc điểm chung với câu phức đẳng lập là tính đa sự tình,

tính phức tạp về tổ chức ngữ nghĩa nhưng khác với câu phức đẳng lập, câu phức

phụ thuộc là kiểu câu phức chỉ gồm một sự tình chính. Quan hệ giữa sự tình

chính và các sự tình phụ thuộc là quan hệ chính phụ (sự tình phụ thuộc bổ sung

làm rõ nghĩa cho sự tình chính). Một đặc điểm quan trọng về ngữ nghĩa của câu

phức phụ thuộc là sự phong phú của các kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các cụm

chủ vị cũng như sự đa dạng của các kiểu chức năng ngữ nghĩa mà các cụm chủ

vị phụ thuộc đảm nhận.

3.3.2. Chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị trong câu phức phụ thuộc

3.3.2.1. Chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị làm chủ ngữ

Khi xem xét chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị chủ ngữ, luận văn không

chỉ giới hạn ở cụm chủ vị chủ ngữ trong kiểu câu phức có cụm chủ vị làm chủ

ngữ mà sẽ xem xét chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị làm chủ ngữ nói chung

(gồm cả cụm chủ vị làm chủ ngữ trong câu phức hỗn hợp).

Kết quả khảo sát cho thấy, cụm chủ vị làm chủ ngữ có các chức năng ngữ

nghĩa sau:

1) Chỉ sự tình có quan hệ đồng nhất với sự tình nêu ở bổ ngữ

Ví dụ:

(20) Nó lấy Tơ đúng là con cú đậu cành mai. (Một truyện xú - nô - via)

69

Trong câu (20), sự tình nó lấy Tơ nêu ở cụm chủ vị chủ ngữ có mối quan

hệ đồng nhất với sự tình con cú đậu cành mai nêu ở bổ ngữ.

2) Chỉ sự tình được đánh giá bằng đặc điểm nêu ở vị ngữ

Ví dụ:

(21) Cậu Phán yêu thương đến con bé Na cũng chẳng phải là sự lạ. (Đón khách)

Trong câu (21), sự tình nêu ở cụm chủ vị chủ ngữ được đánh giá bằng đặc

điểm nêu ở vị ngữ.

3) Chỉ sự tình là nguyên nhân của sự tình nêu ở bổ ngữ

Trong trường hợp này, cụm chủ vị chủ ngữ đứng trước vị ngữ là các động

từ làm/ khiến chỉ quan hệ nhân quả giữa chủ ngữ và bổ ngữ.

Ví dụ:

(22) Cây cối um tùm che khuất khiến nó tách biệt ra như một thế giới khác

(Truyện tình)

(23) Hắn nhấc vội Hiền cho đứng xuống rồi chạy ra ngoài đột ngột khiến

người đàn bà giật mình nhìn theo. (Truyện người hàng xóm).

(24) Bà thợ giật cười một cái nặng nề làm những cục thịt ở mặt nổi hết cả

lên. (Sống mòn)

Trong những câu (22), (23), (24), các sự tình nêu ở cụm chủ vị chủ ngữ là

nguyên nhân của sự tình nêu ở các cụm chủ vị bổ ngữ.

3.3.2.2. Chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị làm bổ ngữ

Cụm chủ vị bổ ngữ không chỉ xuất hiện trong câu phức phụ thuộc có cụm

chủ vị bổ ngữ mà còn xuất hiện trong câu phức phụ thuộc hỗn hợp. Vì vậy, khi

xem xét chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị bổ ngữ, có thể đề cập đến cả

hai kiểu câu phức phụ thuộc trên đây.

Kết quả khảo sát cho thấy: cụm chủ vị làm bổ ngữ, xét trong mối quan hệ

ngữ nghĩa với vị từ hạt nhân, có các chức năng ngữ nghĩa sau:

1) Chỉ sự tình là nội dung của hoạt động cảm nghĩ nói năng nêu ở hạt nhân ngữ

nghĩa

Ví dụ:

70

(25) Dân làng kháo nhau rằng hắn có tiền. (Mua danh)

(26) Bà cô thị bảo thị là người vô tâm. (Chí Phèo)

(27) Những người trông coi vườn bách thú thường bảo rằng hổ báo hiền

y như mèo. (Chí Phèo)

(28) Thị bỗng nhiên nghĩ rằng cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng

thương... (Chí Phèo)

Trong những câu (25), (26), (27), (28), hạt nhân ngữ nghĩa (đồng thời cũng

là hạt nhân cú pháp) đều là các động từ cảm nghĩ, nói năng (bảo, nghĩ) mà sau

chúng là các bổ ngữ chỉ sự tình là nội dung cảm nghĩ, nói năng. Cần thấy rằng

xét về vai trò ngữ nghĩa, sự tình chính là sự tình nêu ở cụm chủ vị chính. Còn sự

tình nêu ở các cụm chủ vị bổ ngữ chỉ có chức năng bổ sung ngữ nghĩa cho sự

tình chính (cụ thể là bổ sung ngữ nghĩa cho hạt nhân của sự tình chính).

2) Chỉ sự tình là nội dung của hoạt động thụ cảm nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa

Ví dụ:

(29) Tôi bỗng thấy trái tim như ngừng đập, người run rẩy, cổ khô, đầu

choáng váng... (Truyện tình)

(30) Sáng hôm sau, lúc ăn cơm, chàng thoáng thấy nó đi qua, đầu cúi, mắt

nhìn nghiêng như những người trả giá. (Cái chết của con chó mực).

(31) Sáng hôm sau, vợ hắn vừa mở mắt đã thấy hắn quần áo chỉnh tề

(Cười)

(32) Một hôm, khi tôi đi bắt cào cào về thì thấy cậu tôi ngồi đợi ở nhà.

(Truyện tình)

Trong những câu từ (29) đến (32), hạt nhân ngữ nghĩa (cũng là hạt nhân

cú pháp) nêu ở các cụm chủ vị chính đều chỉ hoạt động thụ cảm (thấy) và sau hạt

nhân là các tham thể biểu thị nội dung của hoạt động thụ cảm. Các tham thể nội

dung thụ cảm này đều được biểu hiện bằng cụm chủ vị bổ ngữ.

3) Chỉ sự tình là nội dung tiếp thụ của hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa và

hạt nhân cú pháp

Ví dụ:

71

(33) Kiện, chồng Liễu được mọi người mến phục. (Đợi chờ)

(34) Bà cúi đầu như một con mẹ ăn cắp bị tuần sương tóm được. (Một bữa no)

4) Chỉ sự tình là kết quả của nguyên nhân nêu ở sự tình hay sự việc nêu trước đó

Ví dụ:

(35) Anh em tập hơi luống cuống một tí là quát ngậu lên làm người ta

luống cuống thêm. (Hội nghị nói thẳng)

(36) Tình yêu có thể làm một tâm hồn đẹp lên. (Chí Phèo)

3.3.2.3. Chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị làm trạng ngữ

Cụm chủ vị trạng ngữ không chỉ xuất hiện trong câu phức phụ thuộc có

cụm chủ vị làm trạng ngữ mà còn xuất hiện trong câu phức phụ thuộc hỗn hợp.

Vì vậy, khi xem xét chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị làm trạng ngữ, cả hai

kiểu câu phức trên đây đều có thể được đề cập.

Kết quả khảo sát cho thấy cụm chủ vị trạng ngữ, xét trong mối quan hệ

ngữ nghĩa với vị từ hạt nhân (trong cụm chủ vị chính) có các chức năng ngữ

nghĩa sau:

1) Chỉ sự tình là nguyên nhân của hoạt động (trạng thái, đặc điểm) nêu ở hạt

nhân ngữ nghĩa.

Ví dụ:

(37) Hắn đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say.

(Chí Phèo)

(38) Tôi biết vì chính tôi cũng đã một vài lần được người ta trả nhầm cho

một vài hào. (Nhỏ nhen)

(39) Giang cười vì chàng nghĩ đến chuyện riêng của chàng. (Nhỏ nhen)

(40) Hắn cười khanh khách bởi hắn thấy hắn giống anh chàng ấy

quá..(Đôi móng giò)

(41) Bà làm thế bởi bà tưởng Sinh đùa. (Đón khách)

Trong những câu từ (37) đến (41), sau hạt nhân ngữ nghĩa (biết ở các câu

(37), (38); cười ở các câu (39), (40) và làm ở câu (41)) đều có các cụm chủ vị

trạng ngữ chỉ nguyên nhân (được dẫn nối bởi các quan hệ từ vì, bởi). Các quan

72

hệ từ dẫn nối cụm chủ vị trạng ngữ không chỉ có chức năng cú pháp (biểu thị

quan hệ phụ thuộc về cú pháp) mà còn đồng thời có chức năng ngữ nghĩa (biểu

thị nghĩa nguyên nhân với tư cách là một loại nghĩa biểu hiện của tham thể được

dẫn nối). Ở đây, cần lưu ý thêm về mối quan hệ thời gian giữa sự tình kết quả

(nêu ở cụm chủ vị chính) và sự tình nguyên nhân (nêu ở cụm chủ vị trạng ngữ).

Sự khảo sát cho thấy hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa (chỉ kết quả) ở cụm

chủ vị chính hầu như luôn diễn ra sau hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa của

cụm chủ vị trạng ngữ: Chẳng hạn, ở câu (37) hoạt động đâu biết (không biết) nêu

ở cụm chủ vị chính diễn ra sau hoạt động làm nêu ở cụm chủ vị trạng ngữ (đã

làm những việc ấy mà không biết tác hại của chúng). Ở câu (39) hoạt động cười

(nêu ở cụm chủ vị chính) diễn ra sau hoạt động nghĩ đến (nêu ở cụm chủ vị trạng

ngữ).

Như vậy, có thể thấy ở câu phức phụ thuộc có cụm từ chủ vị trạng ngữ chỉ

nguyên nhân, sự tình nêu ở cụm chủ vị trạng ngữ nguyên nhân hầu như luôn diễn

ra trước và là tiền đề dẫn đến sự tình nêu ở cụm chủ vị chính (cụm chủ vị nòng

cốt). Đây là một điều có tính quy luật trong tổ chức ngữ nghĩa của câu phức nhân

quả.

2) Chỉ sự tình là mục đích của hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa

Ví dụ:

(42) Bà thuê Dần với hai con bé nữa để chúng dọn vặt và trông nom ông

suốt. (Một đám cưới)

(43) Hắn ngồi ghé vào cạnh ghế phía trong để mình khuất vào cánh cửa.

(Xem bói)

(44) Y khép cách cửa để chúng không nhìn vào bên trong được. (Sống mòn)

(45) Tôi bảo anh đem vào để chúng tôi mua. (Ở rừng)

(46) Tôi phải bám vào vai Hiến để Hiến dắt đi. (Bốn cây số cách một căn

cứ địch)

73

(47) Con bằng lòng đi để bà nói với nó cho nó mừng. (Nhìn người ta sung

sướng)

Trong những câu từ (42) đến (47), sau hạt nhân ngữ nghĩa nêu ở các cụm

chủ vị chính (thuê, ngồi ghé, khép cánh cửa, bảo đem vào, bám vào, bằng lòng)

là các cụm chủ vị trạng ngữ (được dẫn nối bởi quan hệ từ để) chỉ sự tình là mục

đích của hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa. Riêng ở câu (47) có hai cụm chủ

vị trạng ngữ (cụm bà nói với nó và cụm nó mừng). Quan hệ từ (để) dẫn nối các

cụm chủ vị mục đích vừa có chức năng cú pháp (biểu thị mối quan hệ phụ thuộc)

vừa có chức năng ngữ nghĩa (biểu thị ý nghĩa biểu hiện mục đích của tham thể

được dẫn nối).

Về mối quan hệ thời gian giữa các sự tình, có thể thấy sự tình (hoạt động)

nêu ở hạt nhân trong cụm chủ vị chính hầu như luôn diễn ra trước sự tình nêu ở

cụm chủ vị trạng ngữ.

Chẳng hạn, ở câu (42) hoạt động thuê (nêu ở cụm chủ vị chính) diễn ra

trước các hoạt động dọn vặt và trông nom (nêu ở cụm chủ vị trạng ngữ). Ở câu

(47) hoạt động bằng lòng (nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa), về nguyên tắc phải diễn ra

trước hoạt động nói nêu ở cụm chủ vị trạng ngữ.

3) Chỉ sự tình là điều kiện của hoạt động nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa

Có thể phân biệt hai kiểu sự tình là điều kiện xét theo mối quan hệ với hiện

thực (xét theo tính thực hiểu).

a) Sự tình điều kiện mang tính thực hữu (tính hiện thực)

Phù hợp với kiểu sự tình này, sự tình nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa cũng có

tính hiện thực (thực hữu) ở mức độ nhất định.

Ví dụ:

(48) Nếu Nhu không cho thì chúng ăn cướp của Nhu. (Ở hiền)

(49) Nếu Nhu kệ nó thì nó còn khóc mãi. (Ở hiền)

Trong các câu (48), (49) đều có các sự tình điều kiện (được biểu hiện bằng

các cụm chủ vị trạng ngữ được dẫn nối bởi quan hệ từ nếu). Mặc dù nêu điều

kiện giả thiết nhưng các sự tình điều kiện giả thiết ở hai câu trên đây đều có tính

hiện thực nhất định: Việc Nhu không cho chúng hoặc Nhu kệ nó là điều có thể

74

xảy ra và phù hợp với các điều kiện đó, các sự tình kết quả (chúng ăn cướp của

Nhu hoặc Nó còn khóc mãi) cũng có thể xảy ra. Khi viết những câu trên đây,

chắc chắn tác giả đã quan sát hiện thực, do đó, mới có cơ sở để khẳng định về

các sự tình nêu ở các cụm chủ vị chính.

b) Sự tình điều kiện mang tính phi thực hữu (tính phản thực)

Phù hợp với kiểu sự tình điều kiện này, sự tình nêu ở cụm chủ vị chính

cũng có tính phi thực hữu (phản thực).

Ví dụ:

(50) Giá lúc ấy vợ hắn có nhà thì hắn đã đâm chết vợ. (Đòn chồng)

(51) Giá ông xoay được thì ông trả phắt Điền chục bạc cho đẹp mặt cả đôi

bên. (Giăng sáng)

(52) Nếu trời là một cánh đồng thì cánh đồng ấy thật bao la. (Giăng sáng)

(53) Giá mỗi cây chuối sinh ra hai buồng thì hắn không đến nỗi lật lọng

đâu. (Trẻ con không được ăn thịt chó)

(54) Nếu trăng là một người đàn bàn thì người đàn bà ấy thật hoàn hảo.

(Cười)

(55) Nếu tôi giống như những người đàn ông khác thì tôi đã không lấy

mình. (Sao lại thế này)

Trong những câu từ (50) đến (55) đều có các cụm chủ vị trạng ngữ (được

dẫn nối bởi quan hệ từ nếu) biểu thị các sự tình điều kiện mang tính phi thực hữu

(phản thực). Ở câu (50) sự tình điều kiện lúc ấy vợ hắn có nhà là không thực hữu

và phù hợp với điều đó, sự tình kết quả: hắn đã đâm chết vợ cũng không xảy ra

(phi thực hữu). Ở câu (51) sự tình điều kiện ông xoay được tiền là phi thực hữu

và do đó, sự tình kết quả nêu sau đó (ông trả phắt Điền chục bạc) cũng không

hiện thực (như nội dung câu chuyện cho biết). Xét theo mối quan hệ thời gian

giữa các sự tình điều kiện và kết quả, có thể thấy về nguyên tắc, sự tình điều kiện

phải đi trước sự tình kết quả (Đó là nói về nguyên tắc logic, còn trên thực tế trong

75

nhiều trường hợp, cả sự tình điều kiện lẫn sự tình kết quả đều không hoặc chưa

xảy ra, như đã thấy ở những câu trên đây).

4) Chỉ sự tình có quan hệ nhượng bộ với sự tình nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa

Quan hệ nhượng bộ cũng là một kiểu quan hệ cú pháp ngữ nghĩa như quan

hệ nhân quả, điều kiện kết quả. Về cú pháp, quan hệ nhượng bộ chỉ ra tính phụ

thuộc của vế câu chỉ sự nhượng bộ (thường được dẫn nối bởi các quan hệ từ dù,

dầu, mặc dù, tuy). Về ngữ nghĩa, quan hệ nhượng chỉ ra tính phụ thuộc (nghĩa

nhượng bộ) của vế câu được dẫn nối bởi các quan hệ từ dù, mặc dù, tuy. Quan

hệ nhượng bộ còn được gọi là “quan hệ nghịch nhân quả” vì các sự tình nêu ở

hai vế câu phức nhượng bộ có quan hệ trái với quy luật logic (quy luật nhân quả)

hay trái với lẽ thường.

Dưới đây là một số ví dụ về câu phức phụ thuộc với cụm chủ vị trạng ngữ

chỉ sự tình nhượng bộ.

(56) Tuy tôi còn bé, tôi cũng đã hiểu rằng dì tôi làm thế chẳng ích gì. (Cái

mặt không chơi được).

(57) Hắn lảm nhảm bênh vực cho cái dự định của hắn như thế mãi tuy

chẳng có ai phản đối. (Trẻ con không được ăn thịt chó)

(58) Ba hôm sau tôi đi “Cấp” dù cuốn tiểu thuyết chưa xong một nửa.

(Đui mù)

(59) Dẫu rằng mụ Tam không ưa bán chịu thì hắn cũng đã chịu luôn được

ba bữa. (Trẻ con không được ăn thịt chó)

(60) Tuy mẹ hắn cố tình giấu giếm nhưng hắn cũng biết rằng vợ hắn rất

hư. (Sao lại thế này)

(61) Tuy hắn có một người anh nhưng người anh ấy đi tha phương cầu

thực, mấy năm nay chẳng có tin tức gì. (Xem bói)

(62) Y vào Sài Gòn với một người làng mặc dầu rằng khí hậu nóng ẩm

miền nam chẳng tốt tí nào cho cung bệnh của y. (Sống mòn)

Trong các câu từ (56) đến (62) các cụm chủ vị làm trạng ngữ (được dẫn

nối bởi các quan hệ từ tuy, dù, dẫu rằng, mặc dầu, rằng) đều chỉ sự tình nhượng

76

bộ, tức là có mối quan hệ nghịch nhân quả (trái với quy luật về mối quan hệ nhân

quả) với sự tình nêu ở cụm chủ vị chính (thường đứng sau quan hệ từ nhưng).

5) Chỉ sự tình có quan hệ so sánh với sự tình nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa

Cụm chủ vị làm trạng ngữ chỉ sự so sánh thường được dẫn nối bởi quan

hệ từ như. Về ý nghĩa, mặc dù mang ý nghĩa so sánh nhưng thực chất cụm chủ

ngữ làm trạng ngữ so sánh đồng thời biểu thị tính chất (mức độ) của hoạt động

hay đặc điểm nêu ở hạt nhân ngữ nghĩa.

Ví dụ:

(63) Nó ì ạch vần cái chổi như người ta vần cái cối đá nhất. (Bài học quét

nhà)

(64) Hắn uống rồi lại uống, uống lẳng lẳng như chưa bao giờ hắn uống.

(Nửa đêm)

(65) Từ đã tin như người ta tin một vị thần. (Đời thừa)

(66) Từ chẳng dám cãi nửa lời, chỉ lẳng lặng cúi xuống như một đứa trẻ

con biết mình có lỗi... (Đời thừa)

(67) Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp

thức ăn cho con trẻ. (Lão Hạc)

(68) Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. (Dì Hảo)

(69) Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự. (Lão

Hạc)

(70) Họ nói chuyện toang toang như một bọn đồ tể đi bắt lợn. (Từ ngày

mẹ chết)

(71) Mặt y sáng sủa như có một ngọn lửa bên trọng giọi. (Nhìn người ta

sung sướng)

Trong những câu phức từ (63) đến (71) đều có các cụm chủ vị trạng ngữ

chỉ sự tình có mối quan hệ so sánh (quan hệ tương đồng) với sự tình nêu ở cụm

chủ vị chính (thực ra, cụm chủ vị trạng ngữ trực tiếp miêu tả cho hạt nhân ngữ

nghĩa biểu thị lõi sự tình) nêu ở cụm chủ vị chính.

77

Ở câu (63) cụm chủ vị trạng ngữ miêu tả hành động vần cái chổi của đứa

trẻ lên năm (nhân vật Hồng) một cách khó khăn vất vả (như người ta vần cái cối

đá nhất). Ở câu (65), cụm chủ vị trạng ngữ miêu tả niềm tin tuyệt đối của nhân

vật Từ vào người chồng của mình (tin như người ta tin một vị thần). Ở câu (68)

chức năng ngữ nghĩa của cụm chủ vị trạng ngữ là biểu thị sự tình so sánh, qua

đó, miêu tả hành động khóc thảm thiết của nhân vật dì Hảo (khóc như người ta

thổ). Ở câu (71) cụm chủ vị trạng ngữ miêu tả niềm vui ánh lên trên khuôn mặt

của nhân vật Ngạn khi được đón nhận tình yêu ngọt ngào, đằm thắm của Duyên.

Có thể nói qua những câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ chỉ sự so sánh

trên đây, ta thấy Nam Cao đã lựa chọn, sử dụng hết sức phù hợp các biểu thức

so sánh để làm nổi bật đặc điểm tính chất của các sự tình cần miêu tả.

3.3.2.4. Chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị làm định ngữ

Các cụm chủ vị làm định nghĩa có chung đặc điểm ngữ nghĩa là miêu tả

làm rõ nghĩa cho danh từ trung tâm, tức là chỉ ra một sự tình (sự việc) có liên

quan đến sự vật (thời gian, vị trí) nêu ở danh từ trung tâm (qua đó, giúp cho sự

vật nêu ở danh từ trung tâm được xác định rõ).

Qua khảo sát ngữ liệu thu được, có thể thấy, các cụm chủ vị làm định ngữ

thường thể hiện các chức năng ngữ nghĩa chính sau (xét trong mối quan hệ với

danh từ trung tâm):

1) Chỉ hoạt động mà đối thể là người nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ

(72) Tôi nghĩ đến những thiếu nữ khác đẹp hay xấu mà tôi đã gặp. (Cái

mặt không chơi được)

Trong câu (72) hoạt động nêu ở cụm chủ vị định ngữ (gặp) có đối thể là

thiếu nữ.

2) Chỉ hoạt động mà đối thể là động vật nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ:

(73) Con gà mái ông định bắt, tôi đã nhận tiền bán cho người khác rồi

(Nửa đêm)

78

Trong câu (73) hoạt động nêu ở cụm chủ vị định ngữ (định bắt) có đối thể

(trong dự định) là con gà mái nêu ở danh từ trung tâm.

3) Chỉ hoạt động mà đối thể là thực vật nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ

(74) Nước mắt hắn bật ra như nước một quả chanh mà người ta bóp mạnh.

(Đời thừa)

Trong câu (74) hoạt động nêu ở cụm chủ vị định ngữ (bóp) có đối thể là

quả chanh nêu ở danh từ trung tâm.

4) Chỉ hoạt động mà đối thể là đồ vật nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ:

(75) Một hôm, tôi tìm mãi không còn một quyển sách mới xuất bản nào tôi

chưa có. (Nhỏ nhen)

Trong câu (75) hoạt động sở hữu nêu ở cụm chủ vị định ngữ có đối thể là

cuốn sách nêu ở danh từ trung tâm.

5) Chỉ hoạt động là nội dung của sự việc nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ:

(76) Tôi rất ham thích cái công việc mà giá bốn năm trước đây, người ta

bắt tôi làm tôi có thể điên lên được. (Ở rừng)

(77) Cả làng Vũ Đại thì thầm kể cho nhau nghe chuyện ông Thiên Lôi giết

vợ. (Nửa đêm)

Trong các câu (76), (77) các hoạt động nêu ở cụm chủ vị định ngữ (người

ta bắt tôi làm, ông Thiên Lôi giết vợ) là nội dung của sự việc nêu ở danh từ trung

tâm (công việc, chuyện).

6) Chỉ sự việc diễn ra vào thời gian nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ:

(78) Tôi còn nhớ ngày dì bỏ tôi đi lấy chồng. (Dì Hảo)

(79) Anh bị giặc bắt được ở làng anh vào những ngày bọn Pháp ở đây đã

sửa soạn để bỏ Cao Bằng. (Vài nét ghi qua vùng vừa giải phóng)

(80) Từ ngày Cừ vào bộ đội, chưa ai bảo Cừ là xoàng cả. (Trần Cừ)

79

(81) Hồi tôi mới lên Việt Bắc, một anh bạn hỏi cảm tưởng đầu tiên của tôi

khi tới miền núi rừng. (Trên những con đường Việt Bắc).

(82) Trong thời kì Nhật ở đây, các quý phu nhân phải giao tiệp với họ

nhiều. (Nối truân chuyên của khách má hồng)

Trong những câu (78) đến (82), các cụm chủ vị làm định ngữ đều chỉ sự việc

diễn ra vào thời gian nêu ở danh từ trung tâm (ngày, hồi, thời kì) đứng trước.

7) Chỉ sự việc diễn ra ở vị trí nêu ở danh từ trung tâm

Ví dụ:

(83) Thứ rón rén lên gác, lại gần chỗ Đích nằm. (Sống mòn)

Trong những câu (83), cụm chủ vị định ngữ (Đích nằm) chỉ sự diễn ra ở

vị trí nêu ở danh từ trung tâm (chỗ).

3.3.2.5. Chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị làm chú giải ngữ

Cụm chủ vị làm chú giải ngữ có các chức năng ngữ nghĩa sau:

1) Giải thích làm rõ nghĩa cho cụm danh từ chỉ sự việc nêu trước đó.

Ví dụ:

(84) Hôm làm khao, ông nghĩ ra một kế ác vô cùng: ông sai người đem

cau đến mời ông lí Cựu. (Rửa hờn)

(85) Người ta mỉm cười với cái ý nghĩ: ta muốn nằm đến bao giờ cũng

được. (Truyện tình)

Trong những câu (84), cụm chủ vị làm chú giải ngữ (đứng sau dấu hai

chấm) giải thích làm rõ nội dung của một kế ác vô cùng nêu trước đó: Cái ác của

kế này là mời kẻ thua kiện đến dự tiệc của người thắng kiện.

Trong những câu (85), cụm chủ vị làm chú giải ngữ giải Thích làm rõ

nghĩa cho “cái ý nghĩa”: sự thoải mái của kẻ được hoàn toàn tự do làm chủ thời

gian của mình.

2) Giải thích làm rõ sự tình (sự việc) nêu ở cụm chủ vị chính

Ví dụ:

(86) Hàn dừng lại: hắn thấy thằng Tơ đột nhiên nghiêm mặt. (Một truyện

xú -nơ-via)

80

(86) Hàn điều độ vì bắt buộc - hắn không có đủ sức để bứa bừa. (Quên

điều độ)

Trong những câu (86), cụm chủ vị làm chú giải ngữ giải thích làm rõ lí do

của sự việc Hàn dừng lại nêu ở cụm chủ vị chính. Với ý nghĩa này, cụm chủ vị

làm chú giải ngữ rất gần về nghĩa với trạng ngữ nguyên nhân (có thể chuyển chú

giải ngữ này thành trạng ngữ nguyên nhân bằng cách thay đấu hai chấm bằng

quan hệ từ vì: Hàn dừng lại vì hắn thấy Tơ đột nhiên nghiêm mặt).

Trong những câu (86), cụm chủ vị làm chú ngữ đứng sau dấu gạch ngang

giải thích làm rõ sự tình ở cụm chủ vị chính: Vì không đủ sức để bứa bừa nên

Hàn bắt buộc phải điều độ.

3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức đẳng lập

Về tổ chức ngữ nghĩa câu phức đẳng lập không có sự phức tạp như câu

phức phụ thuộc. Ở câu phức đẳng lập, xét một cách khái quát về mặt ngữ nghĩa,

về thực chất, chỉ có năm kiểu quan hệ ngữ nghĩa giữa các cụm chủ vị (quan hệ

liệt kê, nối tiếp, đối xứng, tương phản, lựa chọn). Các kiểu quan hệ trên đây đôi

khi còn được gọi là quan hệ cú pháp - ngữ nghĩa. Theo cách gọi như vậy, rõ ràng

các kiểu quan hệ đó có tính chất ngữ nghĩa.

Đi sâu vào phân tích quan hệ ngữ nghĩa giữa các sự tình nêu ở các cụm

chủ vị, các vế câu, có thể chỉ ra các trường hợp đáng chú ý sau:

- Trường hợp hạt nhân ngữ nghĩa (biểu thị lõi sự tình) ở các cụm chủ vị chỉ các

hoạt động (đặc điểm thuộc cùng một chủ thể)

Ví dụ:

(88a) Y đánh bạc, y uống rượu, y ăn cắp tiền của vợ. (Nhìn người ta

sung sướng)

(89a) Chúng nhìn thẳng, chúng nhìn nghiêng. (Đôi móng giò)

(90a) Y xin phép vào chơi nhà bác một lát và y vào tay không. (Đón khách)

(91a) Y nghèo, y xấu, y ngờ nghệch, vụng về. (Sống mòn)

Trong các câu (88) đến (91), các hoạt động nêu ở các cụm chủ vị đều thuộc

về một chủ thể. Đối với những kiểu câu này, có thể lược bỏ chủ thể (chủ ngữ) ở

các cụm chủ vị đứng sau:

81

(88b) Y đánh bạc, uống rượu, ăn cắp tiền của vợ.

(89b) Chúng nhìn thẳng, nhìn nghiêng.

(90b) Y xin phép vào chơi nhà bác một lát và vào tay không.

(91b) Y nghèo, xấu, ngờ nghệch, vụng về.

- Trường hợp hạt nhân ngữ nghĩa ở các cụm chủ vị chỉ các hoạt động, đặc

điểm khác với chủ thể khác nhau:

(92) Ngài thương tôi, tôi nghèo lắm. (Quên điều độ)

(93) Người nhìn ra sân, người nhìn vào bát. (Đón khách)

(94) Cơm trắng, cá ngon. (Đón khách)

(95) Bà thì lắc đầu, bà thì chép miệng. (Đòn chồng)

(96) Trán vợ Điền hóa phẳng phiu, mặt thị tươi hẳn. (Giang sáng)

Trong những câu trên dây, các hoạt động, đặc điểm nêu ở vị ngữ ở mỗi

cụm chủ vị thuộc các chủ thể khác nhau. Trong trường hợp này, không thể lược

bỏ chủ thể (chủ ngữ) ở các mỗi cụm chủ vị.

3.5. Tiểu kết

Trong Chương 3, luận văn đã miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của câu phức

trong Tuyển tập Nam Cao. Luận văn đã chỉ ra tính phức tạp trong tổ chức ngữ

nghĩa của câu phức, đồng thời, tập trung miêu tả chi tiết tổ chức ngữ nghĩa của

câu phức phụ thuộc; qua đó, làm rõ chức năng ngữ nghĩa của các cụm chủ vị phụ

thuộc. Kết quả miêu tả mặt ngữ nghĩa của câu phức trong Tuyển tập Nam Cao

cho thấy trong hai kiểu câu phức, câu phức phụ thuộc có tổ chức ngữ nghĩa phức

tạp hơn so với câu phức đẳng lập. Điều này không chỉ thể hiện ở sự phong phú,

đa dạng về các kiểu chức năng ngữ nghĩa (gắn cả các chức năng cú pháp) của

các cụm chủ vị làm thành câu mà còn thể hiện ở sự đa dạng của các kiểu quan

hệ ngữ nghĩa trong câu phức phụ thuộc. Kết quả miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của

câu phức cũng cho thấy vai trò quan trọng của kiểu câu này trong việc tổ chức

ngữ nghĩa của các văn bản cũng như việc phản ánh hiện thực và biểu thị tư tưởng

mà tác giả muốn truyền đạt.

82

KẾT LUẬN

Trên đây, sau khi đã xác lập cơ sở lí luận của đề tài, luận văn đã tiến hành

miêu tả câu phức trong Tuyển tập Nam Cao về các mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Với những kết quả đạt được trong ba chương, có thể rút ra những kết luận sau:

1. Trong các kiểu câu phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, câu phức là

kiểu câu không những được dùng phổ biến mà còn có những đặc điểm rất đáng

chú ý về ngữ pháp và ngữ nghĩa so với câu đơn. Đó là tính phức tạp về ngữ pháp

và tính phức tạp về tổ chức ngữ nghĩa.

2. Về ngữ pháp, tính phức tạp của câu phức không chỉ thể hiện ở các đặc

điểm sau:

2.1. Số lượng cụm chủ vị trong câu phức phụ thuộc tối thiểu là 2 và có thể

đến 13.

2.2. Về tổ chức cú pháp, câu phức được tổ chức với tính nhiều tầng bậc

(cấp độ), với nhiều kiểu quan hệ cú pháp cụ thể khác nhau.

2.3. Tính phức tạp về cú pháp của câu phức phụ thuộc còn thể hiện ở chỗ

bên cạnh cụm chủ vị chính (cụm chủ vị nòng cốt) còn có các cụm chủ vị phụ

thuộc gắn với hầu như với tất cả các chức năng cú pháp (chủ ngữ, bổ ngữ, trạng

ngữ, định ngữ, chủ giải ngữ). Đề tài cũng chỉ ra rằng bên cạnh những câu phức

phụ thuộc mà cụm chủ vị phụ thuộc chỉ gắn với một chức năng cú pháp, còn khá

nhiều câu phức phụ thuộc hỗn hợp trong đó, các cụm chủ vị phụ thuộc gắn với

các chức năng cú pháp khác nhau.

3. Về ngữ nghĩa, tính phức tạp của câu phức thể hiện đậm nét ở kiểu câu

phức phụ thuộc trong đó các cụm chủ vị phụ thuộc gắn với nhiều chức năng ngữ

nghĩa khác nhau xét trong mối quan với vị từ mà chúng bổ sung. Ở các cụm chủ

vị làm bổ ngữ, trạng ngữ, các chức năng ngữ nghĩa đều xoay quanh việc bổ sung

làm rõ nghĩa cho vị từ hạt nhân với các nghĩa cụ thể như nội dung cảm nghĩ, nói

năng, thụ cảm, tiếp thụ, nguyên nhân, mục đích, điều kiện, nhượng bộ. Ở các cụm

chủ vị làm định ngữ, các chức năng ngữ nghĩa xoay quanh việc bổ sung làm rõ

83

nghĩa cho danh từ trung tâm (thông qua việc nêu các sự việc có liên quan đến

người, vật, sự việc, thời gian, vị trí nêu ở danh từ trung tâm).

Nghiên cứu câu phức trong Tuyển tập Nam Cao là công việc thú vị nhưng

cũng rất khó khăn. Mặc dù tác giả luận văn đã rất cố gắng nhưng chắc chắn

luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Chúng tôi hy vọng sẽ có cơ hội khắc

phục những hạn chế thiếu sót đó trong một nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.

84

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Hải Anh (2006), "Đặc trưng phong cách ngôn ngữ trần thuật của Nam

Cao", Tạp chí nghiên cứu văn học, số 3.

2. Vũ Tuấn Anh (1998), Phong cách truyện ngắn Nam Cao, in lại trong Nam

Cao về tác gia, tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội.

3. Lại Nguyên Ân (1998), Nghĩ tiếp về Nam Cao, Nam Cao và cuộc cách tân

văn học đầu thế kỷ XX, NXB Giáo dục, Hà Nội.

4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, H

5. Diệp Quang Ban (1980), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập 1-2, Nxb Giáo

dục, H. Diệp Quang Ban (1972), Xung quanh việc phân biệt câu ghép với

câu đơn. T/c Ngôn ngữ, số 4/1972.

6. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam phần câu, Nxb ĐHSP, Hà Nội

7. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo câu đơn tiếng Việt, Trường đại học Sư

phạm Hà Nội 1.

8. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, tập II, Nxb. Đại

học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội.

9. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

10. Nam Cao - Về tác gia và tác giả (2007), Nxb Giáo dục.

11. Nguyễn Tài Cẩn (1988), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

12. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, H.

13. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, H.

14. Đỗ Hữu Châu (2011), Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Đại học quốc

gia Hà Nội.

15. Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp Việt

Nam, Huế.

16. Lâm Quang Đông (2008), Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm vị từ

trao tặng (trong tiếng Anh và tiếng Việt), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

17. Hữu Đạt (1999), Nhà văn, sự sáng tạo nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, H.

85

18. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức (1983), Nhà văn Việt Nam (1945 - 1975), tập 2,

NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

19. Phan Cự Đệ (chủ biên) (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

20. Hà Minh Đức (1997), Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc, in lại trong

Nam Cao, đời văn và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội.

21. Hà Minh Đức (1997), Lời giới thiệu Nam Cao - tác phẩm, in lại trong Nam

Cao đời văn và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội.

22. Hà Minh Đức (1988), Nam Cao đời văn và tác phẩm, Nxb. Văn học Hà Nội.

23. Đinh Văn Đức (2010), Ngữ pháp tiếng Việt – Từ loại, Nxb. Đại học Quốc

gia Hà Nội.

24. Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên) (2004), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H.

25. Lê Thị Đức Hạnh (1998), “Chất hài trong truyện ngắn Nam Cao”, tạp chí

Tác phẩm mới, số 3, in lại trong Nam Cao về tác gia và tác phẩm, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

26. Lương Mai Hiếu, (2012) Thành ngữ, tục ngữ trong sang tác của Nam Cao,

Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

27. Trần Quốc Hoàn (2014), Câu dưới bậc trong trong truyện ngắn Nam Cao,

Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

28. Cao Xuân Hạo (1991),Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991),

Nxb Khoa học.

29. Nguyễn Văn Hiệp (2009), Cú pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục Việt Nam.

30. Phong Lê, Nguyễn Văn Hạnh,…, Kim Ngọc Diệu biên soạn (1992), Nghĩ

tiếp về Nam Cao, Viện Văn học, Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam.

31. Phan Diễm Hương (2000), Lối văn kể chuyện của Nam Cao, Nxb Khoa học.

32. Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991), quyển 1,

Nxb Khoa học Xã hội.

33. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2010), Dẫn

luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H.

86

34. Trần Đăng Suyền (1998), Nam Cao - Nhà văn hiện thực xuất sắc, nhà nhân

đạo chủ nghĩa lớn, Tạp chí Văn học (số 6).

35. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (1995), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo Dục.

36. Bùi Thị Liên (2008), Phong cách khẩu ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Công

Hoan và Nam Cao, Luận văn tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sư phạm

Thái Nguyên.

37. Nguyễn Văn Lộc (chủ biên) (2017), Nguyễn Mạnh Tiến, Ngữ pháp tiếng

Việt, Nxb Giáo dục Hà Nội.

38. Nguyễn Văn Lộc (1998), Vận dụng lí thuyết kết trị vào việc phân tích câu,

Đề tài khoa học cấp Bộ.

39. Nguyễn Đăng Mạnh (1991),Về Nam Cao và truyện ngắn của Nam Cao,

Nxb Khoa học.

40. Panfilov V. S. (2008), Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt, Nxb. Giáo dục.

41. Hoàng Trọng Phiến (1986), Ngữ pháp tiếng Việt, Câu, Nxb. Đại học và

trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

42. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển, Nxb Đà Nẵng,

Đà Nẵng.

43. Nguyễn Thị Quy (1995), Vị từ hành động và các tham tố của nó, Nxb. Khoa

học Xã hội, Hà Nội.

44. Lê Thị Thư (2010), Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong truyện ngắn của Nam

Cao, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.

45. Cù Đình Tú (2001), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo

dục.

46. Bùi Công Thuấn (1997), Phong cách truyện ngắn Nam Cao trước Cách

mạng, Tạp chí Văn học (số 2).

47. Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Tạp chí Văn nghệ tháng 2 năm 1950.

48. Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú (1962), Giáo trình về Việt ngữ, tập 1, Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

87

49. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb.

Khoa học Xã hội, Hà Nội.

50. Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp (2004), Thành phần câu tiếng

Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

51. Nguyễn Mạnh Tiến (2016), Phân tích câu về cú pháp dựa vào thuộc tính kết

trị của từ, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Thái Nguyên.

52. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb.

Khoa học và Xã hội, Hà Nội.

53. Trần Ngọc Thêm (2011), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb. Giáo

dục Việt Nam.

54. Phan Trọng Thưởng (1997), Tìm hiểu chữ “nhưng” trong văn Nam Cao,

Tạp chí văn học số 10.

55. Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú (1962), Giáo trình về Việt ngữ, Tập I, Đại

học Sư phạm, Hà Nội.

56. Nguyễn Kim Thản (1964), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb.

Hà Nội.

57. Chu Bích Thu (2007), Sức sống của một sự nghiệp văn chương, Nxb. Hà Nội.

58. Trần Quốc Vượng (CB, 2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, H.

59. Nguyễn Thế Vinh (2011), Nam Cao những mạch nguồn văn, Tái bản lần

thứ nhất có chỉnh lí và bổ sung, Văn hóa thông tin.

NGUỒN KHẢO SÁT VÀ DẪN CÁC VÍ DỤ

60. Tuyển tập Nam Cao (2010), Nxb, Thời đại.

88