BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trần An Vinh
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trần An Vinh
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS Đặng Văn Phan
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
i
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng
dẫn, PGS.TS Đặng Văn Phan, trong thời gian qua đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này. Tôi cũng chân thành gửi lời cám ơn đến thầy Phạm Đỗ
Văn Trung, giảng viên Khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh vì đã
giúp đỡ tôi trong quá trình tìm kiếm tài liệu.
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên vì
đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những tài liệu quý giá về du lịch tỉnh nhà. Xin chân
thành cám ơn Khoa Địa lí, Phòng Sau Đại học trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí
Minh vì đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin được nói lời cám ơn đến gia đình, bạn bè vì đã không
ngừng quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm luận văn.
Tác giả
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả trong luận văn là trung thực. Các trích dẫn khoa học và tài liệu tham khảo đều
có nguồn gốc xác thực.
Tác giả luận văn
Trần An Vinh
iii
MỤC LỤC
Lời cám ơn ........................................................................................................................ i
Lời cam đoan ................................................................................................................... ii
Mục lục .......................................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt ..................................................................................................... vi
Danh mục các bảng........................................................................................................ vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị ...................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................... 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn đề tài ..................................................................... 1
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ....................................................................................... 2
4. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu ........................................................... 7
5. Những đóng góp của luận văn ............................................................................... 10
6. Cấu trúc luận văn ................................................................................................... 11
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ CHỨC LÃNH THỔ
DU LỊCH ...................................................................................................................... 12
1.1. Cơ sở lí luận của tổ chức lãnh thổ du lịch .......................................................... 12
1.1.1. Các khái niệm liên quan .............................................................................. 12
1.1.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch ........................................................ 18
1.1.3. Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch .................................................. 22
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch .................................. 24
1.1.5. Vai trò và mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch ......................................... 28
1.1.6. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ du
lịch cấp tỉnh ........................................................................................................... 30
1.2. Cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch ...................................................... 48
1.2.1. Tổ chức lãnh thổ du lịch ở Việt Nam .......................................................... 48
iv
1.2.2. Tổ chức lãnh thổ du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ .......................... 51
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 ............................................................................................ 56
Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC
LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN ................................................................ 57
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên ................... 57
2.1.1. Vị trí địa lí ................................................................................................... 57
2.1.2. Tài nguyên du lịch ....................................................................................... 58
2.1.3. Cơ sở hạ tầng ............................................................................................... 70
2.2. Thực trạng phát triển và tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên ........................ 72
2.2.1. Thực trạng phát triển du lịch theo ngành .................................................... 72
2.2.2. Thực trạng phát triển du lịch theo lãnh thổ ................................................. 85
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 .......................................................................................... 109
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH PHÚ
YÊN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 VÀ CÁC GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN .............................................................................................................. 110
3.1. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030........................................................................................................... 110
3.1.1. Các cơ sở của định hướng ......................................................................... 110
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Phú Yên theo ngành .................................. 112
3.1.3. Định hướng phát triển du lịch Phú Yên theo lãnh thổ ............................... 122
3.2. Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Yên .................................................. 134
3.2.1. Các giải pháp về xây dựng CSHT và CSVCKT ....................................... 134
3.2.2. Các giải pháp về vốn đầu tư ...................................................................... 134
3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực ..................................................................... 135
3.2.4. Các giải pháp về tổ chức quản lý ............................................................... 136
3.2.5. Các giải pháp tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch ................ 136
v
3.2.6. Các giải pháp về quảng bá, xúc tiến du lịch .............................................. 137
3.2.7. Tăng cường hợp tác liên ngành và quốc tế ................................................ 137
3.2.8. Các giải pháp khác ..................................................................................... 138
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 .......................................................................................... 139
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................... 144
PHỤ LỤC .................................................................................................................... 149
vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CSHT Cơ sở hạ tầng
CSVCKT Cơ sở vật chất kỹ thuật
KTXH Kinh tế - xã hội
QL Quốc lộ
TB Trung bình
TCLT Tổ chức lãnh thổ
TCLTDL Tổ chức lãnh thổ du lịch
TNDL Tài nguyên du lịch
TP Thành phố
TX Thị xã
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch ........................................................... 39
Bảng 1.2. Bảng điểm đánh giá mức độ thuận lợi của các điểm du lịch ........................ 39
Bảng 1.3. Bảng đánh giá tổng hợp cụm du lịch ............................................................ 43
Bảng 1.4. Bảng tổng hợp ý nghĩa của cụm du lịch ........................................................ 43
Bảng 1.5. Bảng đánh giá tổng hợp tuyến du lịch .......................................................... 47
Bảng 1.6. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch ................................ 47
Bảng 1.7. Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ ....... 53
Bảng 2.1. Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch tỉnh Phú Yên .................. 62
Bảng 2.2. Diễn biến khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013 ...................... 72
Bảng 2.3. Doanh thu ngành du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 ............................ 76
Bảng 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch Phú Yên phân theo loại hình du lịch giai đoạn
2001 – 2010 ................................................................................................................... 78
Bảng 2.5. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Yên .............................................. 79
Bảng 2.6. Cơ cấu lao động ngành du lịch Phú Yên, giai đoạn 2000 - 2013 ................. 81
Bảng 2.7. Kết quả tổng điểm đánh giá các điểm du lịch tỉnh Phú Yên ......................... 95
Bảng 2.8. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các điểm du lịch tỉnh Phú Yên ....... 97
Bảng 2.9. Kết quả tổng hợp điểm đánh giá các cụm du lịch tỉnh Phú Yên ................. 102
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các cụm du lịch tỉnh Phú Yên .... 103
Bảng 2.11. Kết quả tổng hợp điểm đánh giá các tuyến du lịch nội tỉnh Phú Yên ....... 105
Bảng 2.12. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch tỉnh Phú Yên .. 106
Bảng 3.1. Dự báo khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030 ........................ 115
Bảng 3.2. Dự báo doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030 ........................ 117
Bảng 3.3. Dự báo GDP du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030 ................................ 118
Bảng 3.4. Dự báo nhu cầu buồng lưu trú giai đoạn 2010 –2030 ................................. 120
Bảng 3.5. Dự báo nhu cầu lao động ngành du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030 .. 121
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Bưchơvarốp, 1975) ............................... 19
Hình 2.1. Bản đồ Hành chính tỉnh Phú Yên năm 2013 ................................................. 57
Hình 2.2. Bản đồ Tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên ...................................................... 69
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện lượt khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 ..... 74
Hình 2.4. Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013..... 77
Hình 2.5. Biểu đồ thể hiện tổng số lao động du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 .. 82
Hình 2.6. Bản đồ Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên ..................................... 108
Hình 3.1. Bản đồ Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn
năm 2030 ..................................................................................................................... 133
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu và là một trong những
ngành kinh tế quan trọng. Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi nhuận về kinh tế mà còn có ý nghĩa sâu sắc về
xã hội và môi trường. Nhận thức được vai trò quan trọng đó, Chiến lược Phát triển Du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã nêu: “Đến năm 2020, du lịch
cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp với hệ thống cơ sở vật
chất - kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có
thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong
khu vực và thế giới. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch
phát triển” [30, trang 44].
Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Yên giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2025 đã được Viện nghiên cứu phát triển du lịch và UBND tỉnh Phú Yên phê
duyệt, trong đó mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng Phú Yên thành trung tâm du lịch,
dịch vụ lớn trong khu vực và cả nước. Phấn đấu đưa du lịch Phú Yên trở thành một
điểm nhấn quan trọng trong liên kết phát triển du lịch giữa các tỉnh Tây Nguyên và
Duyên hải Miền Trung, là ngành kinh tế mũi nhọn, công nghiệp "sạch" mang màu sắc
độc đáo của Phú Yên và khu vực” [20, trang 2]. Ngành du lịch Phú Yên đã bắt đầu
khởi sắc và đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, trong điều kiện tỉnh còn
nhiều khó khăn, hoạt động du lịch hiện còn nhiều yếu kém mà một trong những
nguyên nhân của tình trạng đó là việc tổ chức lãnh thổ (TCLT). Lãnh thổ du lịch nếu
được tổ chức tốt sẽ mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội - môi trường trên cơ sở
khai thác tốt nguồn lực của tỉnh, tận dụng tối đa các nguồn lực bên ngoài.
Từ những điều trên, tôi đã chọn đề tài cho luận văn Thạc sĩ Địa lí học: “Tổ
chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên”.
2. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài
2.1. Mục đích
Xác định các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) tỉnh Phú Yên và các
định hướng, giải pháp phát triển chủ yếu, có tính khả thi.
2
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn về TCLTDL, xây dựng hệ
thống tiêu chí để xác định các hình thức TCLTDL áp dụng vào địa bàn nghiên cứu.
- Kiểm kê và bước đầu đánh giá tài nguyên phục vụ TCLTDL ở tỉnh Phú Yên.
- Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch và các hình thức TCLTDL ở Phú Yên
trên cơ sở các tiêu chí đã được xây dựng.
- Xác định các hình thức TCLTDL của tỉnh Phú Yên và đưa ra các định hướng,
giải pháp phát triển.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Về không gian: Lãnh thổ nghiên cứu là địa bàn tỉnh Phú Yên, ưu tiên nghiên
cứu các địa bàn trọng điểm, đồng thời xem xét mối quan hệ của Phú Yên với vùng du
lịch Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Về thời gian: Nghiên cứu chủ yếu từ năm 2000 đến nay và định hướng đến
năm 2020, tầm nhìn 2030.
- Về nội dung: Xây dựng hệ thống lãnh thổ du lịch ở các cấp điểm, cụm, tuyến,
đồng thời đánh giá tiềm năng cũng như thực trạng phát triển du lịch ở Phú Yên; đưa ra
các giải pháp khả thi để phát triển du lịch bền vững.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Ở Việt Nam
Ngày 09.07.1960, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 26 thành lập
Công ty Du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương. Đây là dấu mốc quan trọng
đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch nước ta. Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát
triển, ngành du lịch đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Ngày nay, trong công cuộc
đổi mới và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, du lịch được xác định là ngành mũi
nhọn. Trong tiến trình đó, các nhà khoa học đã có những đóng góp không nhỏ qua
nhiều công trình nghiên cứu về du lịch nói chung và về TCLTDL nói riêng.
Những đề tài lớn phục vụ cho phát triển du lịch cả nước như: “Chiến lược phát
triển Du lịch Việt Nam 2001 - 2010”, “Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Những nghiên cứu trên đã tiến hành đánh giá
điều kiện, hiện trạng khai thác du lịch Việt Nam, đưa ra các phương hướng, giải pháp
3
và kế hoạch hành động để phát triển du lịch cho các thời kỳ. Đề tài cũng đã nghiên cứu
các vấn đề về tổ chức lãnh thổ du lịch: hệ thống phân vùng, xây dựng tuyến, điểm, đô
thị du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch đặc trưng… Đây là cơ sở định hướng cho
việc phát triển du lịch cả nước nói chung và địa phương nói riêng. Chiến lược của từng
thời kỳ được cụ thể hóa bằng các quy hoạch: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch
Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010”, “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến
năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Những quy hoạch về lãnh thổ đã chia ra các vùng
du lịch cho cả nước. Giai đoạn năm 1995 – 2010 là 3 vùng du lịch, giai đoạn từ nay
đến 2020, tầm nhìn 2030 là 7 vùng du lịch gắn liền với 7 vùng kinh tế. Mỗi vùng phân
biệt với nhau về tài nguyên, cơ sở hạ tầng (CSHT), cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT),
có hướng khai thác du lịch khác nhau… Theo quy hoạch mới nhất, Phú Yên nằm trong
vùng du lịch Nam Trung Bộ với trung tâm du lịch là Đà Nẵng.
Ở cấp vùng, mỗi vùng đều có các quy hoạch phát triển du lịch riêng như: “Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Đồng Bằng Sông Hồng và duyên hải Đông Bắc
đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng
Bắc Trung Bộ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, “Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch Vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, “Đề án Phát triển
du lịch Đồng bằng Sông Cửu Long đến 2020”... Đối với vùng du lịch Nam Trung Bộ,
ngày 16.05.2014, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch đã tổ chức “Hội thảo tham vấn về
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng duyên hải Nam Trung Bộ đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030” tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Đây là bước chuẩn bị để
thực hiện quy hoạch tổng thể. TCLTDL tỉnh Phú Yên được hình thành căn cứ trên
những hoạch định chiến lược cũng như những mục tiêu trong quy hoạch tổng thể.
TCLT cho du lịch một tỉnh không thể tách khỏi định hướng chung của vùng và quốc
gia.
Nhiều cuốn sách có giá trị liên quan đến du lịch và TCLTDL có thể kể đến như:
Nguyễn Minh Tuệ (1992) với “Phương pháp xác định mức độ tập trung các di tích lịch
sử, văn hoá theo lãnh thổ trong nghiên cứu địa lý du lịch” và “Nghiên cứu đánh giá tài
nguyên nhân văn phục vụ mục đích du lịch biển Việt Nam”. Hai tác phẩm trên đã đề
4
cập đến cách thức xác định mức độ tập trung tài nguyên du lịch và việc khai thác
chúng; việc phát triển du lịch biển, nơi mà Phú Yên cũng có thế mạnh.
Một số cuốn sách khác có giá trị tham khảo cao về cơ sở lý luận cho luận văn
như: Vũ Tuấn Cảnh và Lê Thông (1995): “Một số vấn đề về phương pháp luận và
phương pháp quy hoạch du lịch”. Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Phạm Trung Lương:
“Tài nguyên du lịch”, “Tổ chức lãnh thổ du lịch”. Phạm Trung Lương (1999): “Tài
nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”, Phạm Trung Lương và nnk (2002): “Du lịch
sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam”. Nguyễn Đình Hòe
(2001): “Du lịch bền vững”. Trần Văn Thông (2005): “Quy hoạch du lịch”. Nguyễn
Minh Tuệ (2010): “Địa lí du lịch Việt Nam”… Những tài liệu trên đã đặt nền móng
cho việc nghiên cứu du lịch ở nước ta. Chúng đã đề cập đến nhiều nội dung liên quan
đến những nghiên cứu trong luận văn như hệ thống các khái niệm về du lịch, du lịch
bền vững, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch, các nhân tố ảnh hưởng
đến sự hình thành và phát triển du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch, các bước tiến hành
quy hoạch du lịch…
Nhiều bài báo khoa học có giá trị như: Đặng Duy Lợi (1992): “Xây dựng cảnh
quan văn hoá phục vụ du lịch” đã đề cập đến việc xây dựng các cảnh quan văn hóa;
Phạm Xuân Hậu (2000): “Du lịch sinh thái ở Việt Nam, tiềm năng và triển vọng” đã đi
sâu vào phân tích những tiềm năng và triển vọng để phát triển du lịch sinh thái ở Việt
Nam. Hiện nay, du lịch sinh thái cũng là một trong những loại hình du lịch mà Phú
Yên quan tâm phát triển nhằm khai thác hợp lý lợi thế về tự nhiên và văn hóa bản địa.
Nguyễn Thị Sơn (2000): “Phương pháp tính sức chứa du lịch cho các tuyến,
điểm tham quan ở các vườn quốc gia”; Nguyễn Thu Nhung (2013): “Xác định khả
năng chịu tải thực tế vùng du lịch sinh thái quốc gia Măng Đen phục vụ công tác quản
lý du lịch”; Nguyễn Văn Hoàng (2012): “Đánh giá sức tải trong hoạt động du lịch - sự
cần thiết cho quy hoạch và quản lí phát triển du lịch biển”. Các bài báo đã sử dụng các
phương pháp tính toán định lượng và định tính để đánh giá sức tải của các điểm du
lịch. Hiện nay, đánh giá sức tải du lịch là một trong những công cụ hữu hiệu để quản
lý phát triển du lịch bền vững. Du lịch Phú Yên không thể tách khỏi xu hướng phát
triển chung đó.
5
Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Trần Thanh Hà (2013): “Liên kết vùng
giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho phát triển du lịch” đề cập đến mối liên kiết
trong phát triển du lịch. Liên kết vùng là một trong những vấn đề thời sự trong phát
triển du lịch hiện nay, trong đó có du lịch Phú Yên. Là một tỉnh có vai trò là cầu nối
Bắc – Nam, Đông – Tây, du lịch Phú Yên sẽ phát triển mạnh mẽ nếu biết khai thác các
mối liên kết với tỉnh bạn.
Phạm Trung Lương, Nguyễn Thanh Tưởng (2013): “Phát triển du lịch bền vững
ở các đảo từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi”; Hoàng Thị Kiều Oanh, Nguyễn Khanh Vân
(2013) với “Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu cho du lịch nghỉ dưỡng tiểu vùng Tây
Nam Bộ, Việt Nam”. Trong luận văn, tác giả đã tham khảo và tiến hành đánh giá tài
nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch tỉnh Phú Yên thông qua các chỉ tiêu đơn lẻ và chỉ
tiêu tổng hợp. Đặng Duy Lợi, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Đức Hoa Cương, Nguyễn
Thục Nhu (2013) với “Xác định hệ thống tiêu chí của điểm khu du lịch sinh thái ở Việt
Nam”… Nhìn chung, những bài báo đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau trong lĩnh
vực du lịch đồng thời cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nghiên cứu
liên quan.
Một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ địa lí về đề tài du lịch đã được thực hiện
góp phần giải quyết một số vấn đề lí luận và thực tiễn phát triển du lịch Việt Nam. Các
luận án tiến sĩ như Đặng Duy Lợi (1992) với đề tài: “Đánh giá và khai thác các điều
kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du
lịch”, Nguyễn Thị Sơn (2000) với đề tài “Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát
triển du lịch sinh thái ở vường quốc gia Cúc Phương”, Trương Phước Minh (2003) với
đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng”, Phạm Lê Thảo (2003) với đề
tài: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quang điểm phát triển bền vững”, Đỗ Thị
Mùi (2010) với đề tài “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La”… Những
luận án tiến sĩ nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá. Trong luận văn của mình,
tác giả đã tham khảo cách xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu, thang điểm đánh giá đối với
các điểm, cụm, tuyến du lịch và áp dụng cho Phú Yên; cách tổ chức lãnh thổ cho
ngành du lịch trên địa bàn một tỉnh, định hướng phát triển du lịch theo hướng bền
vững… Một số luận văn thạc sĩ như Nguyễn Văn Hoàng (2007) với “Đánh giá sức tải
6
sinh thái cho các điểm du lịch ven bờ và hải đảo trong vịnh Nha Trang - Khánh Hòa”.
Trong luận văn của mình, Nguyễn Văn Hoàng đã tiến hành đánh giá sức chứa cho các
điểm du lịch khu vực vịnh Nha Trang một cách bài bản và chi tiết. Có thể nói, đây là
một công trình nghiên cứu nghiêm túc của tác giả về sức chứa du lịch. Ngoài ra còn có
một số tác giả khác: Nguyễn Quốc lập (2009) với đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh
Hà Tĩnh”; Đoàn Thị Thơm (2009) với đề tài “Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch
trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong tiến trình hội nhập”…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã có những đóng góp quan
trọng về lý thuyết cũng như thực tiễn phục vụ phát triển du lịch. Nó không chỉ có tầm
quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất
nước mà còn góp phần cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống, đem lại
cơ hội cho địa lí học đổi mới và phát triển. Những công trình trên là nguồn tài liệu
tham khảo có giá trị liên quan đến đề tài TCLTDL. Tuy nhiên, từ những công trình lớn
như các chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho cả nước đến những bài
báo khoa học, vấn đề TCLTDL cho tỉnh Phú Yên vẫn chưa được đề cập. Nó chỉ được
xét đến trong các định hướng về phát triển du lịch về mặt không gian của các vùng và
còn mờ nhạt. Có thể thấy, TCLTDL Phú Yên là một mảng còn thiếu trong nghiên cứu.
3.2. Ở Phú Yên
Tại Phú Yên, công tác nghiên cứu du lịch đã được tiến hành từ lâu nhưng thực
sự mạnh mẽ trong những năm gần đây. Đặc biệt từ năm 2011, khi tỉnh là địa phương
đăng cai “Năm du lịch quốc gia 2011 các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ”.
Một số tài đề tài có giá trị như “Báo cáo tổng hợp Cơ sở khoa học cho việc định
hướng phát triển du lịch sinh thái ở Phú Yên đến năm 2010” (2003) do Nguyễn Thành
Tâm (Giám đốc sở Thương mại và Du lịch Phú Yên) làm chủ nhiệm phối hợp với các
cán bộ của Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam như PGS.TS Phạm Trung
Lương, TS Nguyễn Ngọc Khánh. Đề tài đã đánh giá tiềm năng và hiện trạng phát triển
du lịch sinh thái tỉnh Phú Yên một cách tương đối chi tiết và đầy đủ, đồng thời đưa ra
những định hướng đến năm 2010. Đặc biệt, đề tài đã đưa ra định hướng tổ chức không
gian phát triển du lịch sinh thái và đề cập đến những trọng điểm cần ưu tiên đầu tư.
7
“Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020,
tầm nhìn 2025” (2012) đã đánh giá hiện trạng và nguồn lực phát triển, đánh giá kết quả
phát triển du lịch tỉnh giai đoạn 2000 - 2010 và đưa ra quy hoạch tổng thể đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2025. Trong báo cáo này, việc tổ chức không gian du lịch có
điểm đáng lưu ý là đề cập đến tính liên kết vùng trong phát triển du lịch của tỉnh, gắn
du lịch Phú Yên với du lịch của các tỉnh lân cận, với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
và Tây Nguyên. Tuy nhiên, báo cáo chưa chỉ ra một cách cụ thể và rõ ràng cơ sở cho
liên kết vùng, định hướng cũng như giải pháp để thực hiện sự liên kết.
Năm 2011, nhân kỷ niệm Phú Yên 400 năm và năm du lịch quốc gia Duyên hải
Nam Trung Bộ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên đã cho xuất bản cuốn sách
song ngữ Anh - Việt: “Du lịch Phú Yên”. Cuốn sách đã miêu tả một cách chi tiết và
hấp dẫn các địa điểm du lịch trong tỉnh, các lễ hội lớn trong năm, nhạc cụ truyền
thống, các làng nghề, các đặc sản ẩm thực… Đây thực sự là cuốn cẩm nang quan trọng
để quảng bá hình ảnh du lịch tỉnh Phú Yên đến du khách trong và ngoài nước. Cũng
trong dịp này, tỉnh cũng đã thành lập “Bản đồ du lịch Phú Yên” phục vụ công tác
nghiên cứu cũng như khai thác du lịch tỉnh.
Những đề tài nghiên cứu nói trên đã có những đóng góp đáng kể cho công tác
quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên, dưới góc độ TCLT vẫn chưa
có một đề tài nghiên cứu độc lập, có chăng chỉ là một phần trong các nghiên cứu.
Trong luận văn “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên”, tác giả có dịp được nghiên
cứu sâu hơn vấn đề này và có sự kế thừa của những tác giả đi trước.
4. Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Hệ thống lãnh thổ du lịch được tạo thành bởi
nhiều yếu tố: tự nhiên, văn hoá, lịch sử, con người. Chúng có mối quan hệ qua lại mật
thiết với nhau. Các yếu tố tự nhiên của Phú Yên khá đa dạng từ địa hình, khí hậu, cảnh
quan... Các yếu tố văn hoá lịch sử rất độc đáo, mang đặc trưng riêng. Tất cả những yếu
tố đó luôn được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ tổng thể. Quan điểm tổng hợp
lãnh thổ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về du lịch tỉnh Phú Yên.
8
- Quan điểm hệ thống: Mỗi một lãnh thổ du lịch có mối tương quan với cấp
phân vị cao hơn và thấp hơn. Du lịch Phú Yên là một bộ phận của du lịch Nam Trung
Bộ. Trong khu vực, Phú Yên còn được xem như chiếc cầu nối giữa các tuyến du lịch
Bắc - Nam, Đông - Tây. Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, tổng hợp và xác định
mối quan hệ hữu cơ giữa việc phát triển du lịch trong hoạt động sử dụng tài nguyên và
phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) tỉnh Phú Yên, cho thấy mối tương quan giữa lãnh
thổ du lịch tỉnh Phú Yên với lãnh thổ du lịch ở cấp vùng, quốc gia cũng như ở cấp thấp
hơn như cụm, tuyến, điểm.
- Quan điểm lịch sử: Vận dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu lãnh thổ du
lịch tỉnh Phú Yên để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển theo thời gian
và không gian trên từng địa bàn cụ thể, trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật
trong lịch sử để rút ra được những bài học kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động du lịch.
Quán triệt quan điểm lịch sử để có được những nhận định, những dự báo phát triển
không sai lệch và TCLTDL mang tính thực tiễn, gắn với xu thế phát triển chung của cả
nước.
- Quan điểm phát triển bền vững: Quan điểm này được xuyên suốt trong nội
dung của luận văn. Giáo sư Raoul Blanchard (Grenoble 1890) cho rằng: “Du lịch là
một ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam thắng cảnh của đất nước”[dẫn theo
15, trang 8]. Việc kinh doanh này đã dẫn đến việc gia tăng các thiệt hại về môi trường
như ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, tài nguyên du lịch bị xâm hại… Do đó cần
phải tính đến yếu tố phát triển bền vững khi sử dụng tài nguyên du lịch, có nghĩa là
phải tính đến hậu quả lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai. Ngày nay, phát triển bền
vững là xu thế của nhân loại và du lịch Phú Yên cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Đứng trên góc độ này, TCLTDL tỉnh Phú Yên cần tính đến cách sử dụng tài nguyên và
bảo vệ môi trường sao cho hiệu quả nhất.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Đây là phương pháp
quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận văn. Việc phân tích, phân loại
và tổng hợp tài liệu liên quan sẽ giúp ta hiểu biết về những nghiên cứu trong quá khứ
và hiện tại ở phạm vi địa phương và cả nước, phát hiện ra những vấn đề đã nghiên cứu
9
cũng như những vấn đề còn đang bỏ ngỏ. Trên cơ sở những tài liệu phong phú đó, việc
tổng hợp sẽ giúp chúng ta có một tài liệu toàn diện, khái quát về vấn đề nghiên cứu.
Đặc biệt hiện nay, việc khai thác các nguồn tài liệu qua mạng internet có vai trò quan
trọng trong việc tổng hợp các nghiên cứu liên quan. Thu thập, phân tích và tổng hợp
tài liệu từ các nguồn đáng tin cậy còn cung cấp cho ta những số liệu, những thông tin
có giá trị phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Trong luận văn, phương pháp này được tác
giả sử dụng nhiều trong Phần mở đầu: Mục 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề; Chương 1:
Mục 1.1. Cơ sở lý luận của tổ chức lãnh thổ du lịch.
- Phương pháp phân tích số liệu thống kê: Nghiên cứu hoạt động du lịch có
rất nhiều số liệu ở nhiều lĩnh vực như lực lượng lao động, số lượng cơ sở lưu trú,
lượng khách, doanh thu, vốn đầu tư... Các số liệu đó đều mang tính định lượng.
Nghiên cứu, phân tích các số liệu này để có những nhận định, đánh giá khoa học, phù
hợp với thực tế. Các số liệu được sử dụng trong luận văn chủ yếu từ Viện Nghiên cứu
phát triển du lịch, Tổng cục du lịch, Niên giám Thống kê tỉnh Phú Yên, Sở Văn hóa,
Thể thao và Du lịch Phú Yên cung cấp. Trên cơ sở nguồn số liệu đó tác giả tiến hành
xử lí, phân tích để có những dự báo phù hợp, đồng thời có thể xây dựng được bản đồ,
biểu đồ và đưa ra được những kết luận chân thực, chính xác. Trong luận văn, phương
pháp này được tác giả dùng nhiều ở Chương 2: Mục 2.2.1.1. Khách du lịch; 2.2.1.2.
Doanh thu du lịch; 2.2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; 2.2.1.4. Lao động trong
ngành du lịch.
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Địa lí học nói chung và địa lí du lịch nói
riêng luôn gắn mình với thực tiễn. Để hoàn thành luận văn, tác giả đã tiến hành khảo
sát hầu hết các điểm du lịch trọng yếu của tỉnh. Đây là cơ sở để đánh giá cụ thể các
điểm, cụm, tuyến du lịch bằng điểm số. Phương pháp này giúp người nghiên cứu tiếp
cận vấn đề một cách chủ động, sát sao, có hiểu biết thực sự, tránh những ý kiến chủ
quan và gắn nghiên cứu với thực tiễn. Phương pháp này được tác giả thể hiện rõ trong
Chương 2: Mục 2.2.2 Thực trạng phát triển du lịch theo lãnh thổ.
- Phương pháp bản đồ: Việc trình bày những dữ kiện du lịch trên bản đồ là rất
cần thiết. Điều này giúp nắm được những thông tin quan trọng, đáp ứng cho việc đi lại,
tham quan, giải trí, ăn ở… Để xây dựng được bản đồ cho luận văn, đề tài có sử dụng
10
bản đồ chuyên đề như bản đồ hành chính, bản đồ giao thông vận tải, dân cư, tài
nguyên du lịch... và các số liệu nghiên cứu. Phương pháp này được áp dụng với sự trợ
giúp của hệ thống thông tin địa lí GIS. Trong luận văn, tác giả đã xây dựng các bản đồ:
Bản đồ Hành chính tỉnh Phú Yên; Bản đồ Tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên; Bản đồ
Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên; Bản đồ Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú
Yên.
- Phương pháp thang điểm tổng hợp: Trong quá trình nghiên cứu tổ chức lãnh
thổ du lịch, tác giả đã sử dụng phương pháp thang điểm tổng hợp. Mỗi hình thức
TCLTDL cấp tỉnh đều có tiêu chí đánh giá cụ thể. Nghiên cứu đã lựa chọn các tiêu chí
phù hợp để đánh giá, mỗi tiêu chí có các thang điểm đánh giá khác nhau. Việc đánh
giá bao gồm chọn các tiêu chí đánh giá, xác định thang điểm cho các tiêu chí, xác định
trọng số cho các tiêu chí, tính điểm cho các tiêu chí cụ thể và đưa ra thang điểm tổng
hợp. Dựa vào phương pháp này, việc đánh giá điểm cho mỗi hình thức TCLTDL đảm
bảo tương đối khách quan, dễ thực hiện, có thể nhìn một cách nhanh chóng và toàn
diện những tiềm năng của các điểm, cụm, tuyến du lịch. Phương pháp này được tác giả
thể hiện rõ trong Chương 1: Mục 1.1.6. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình
thức tổ chức lãnh thổ du lịch cấp tỉnh; Chương 2: Mục 2.2.2.Thực trạng phát triển du
lịch theo lãnh thổ.
- Phương pháp dự báo: Công tác dự báo dựa trên cơ sở thực tiễn, những tiềm
năng du lịch, chiến lược phát triển KTXH của tỉnh, phương hướng, nhiệm vụ phát triển
ngành du lịch của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Phú Yên. Các tính toán dự báo ở 3
phương án: thấp, trung bình và cao. Phương pháp này được tác giả thể hiện rõ trong
Chương 3: Mục 3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Phú Yên theo ngành.
5. Những đóng góp của luận văn
- Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu ở Việt Nam và trong tỉnh liên quan đến
TCLTDL và vận dụng chúng vào việc nghiên cứu TCLTDL tỉnh Phú Yên.
- Xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTDL: điểm,
tuyến, cụm du lịch để áp dụng vào địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích nguồn lực và thực trạng phát triển du lịch, đánh giá TCLTDL qua
các tiêu chí đã được xây dựng ở địa bàn tỉnh Phú Yên.
11
- Đề xuất được định hướng và các giải pháp cụ thể để TCLTDL tỉnh Phú Yên
có hiệu quả hơn.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch.
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh
Phú Yên.
Chương 3: Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch Phú Yên đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030 và các giải pháp thực hiện.
12
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA TỔ
CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH
1.1. Cơ sở lí luận của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.1. Các khái niệm liên quan
- Du lịch
Từ xa xưa, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan trọng
trong đời sống của con người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể
thiếu được trong đời sống văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, có rất nhiều
tác giả quan tâm đến du lịch và có nhiều khái niệm về du lịch.
Từ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonos” nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ
này được Latinh hóa thành “Turnur” và sau đó thành “Tour” trong tiếng Pháp nghĩa là
đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “Touriste” là người đi dạo chơi. Từ “Tourism”
trong tiếng Anh xuất hiện từ khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa. Ngoài ra cũng có
ý kiến cho rằng từ du lịch bắt nguồn từ tiếng Pháp “le tour” chứ không phải là tiếng
Hy Lạp. Tuy còn chưa thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ “du lịch” nhưng có một
điểm chung là nội hàm thuật ngữ này nói đến chuyến hành trình từ nơi này đến nơi
khác và có quay trở lại.
Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch
là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với
mục đích giải trí” [dẫn theo 41, trang 5].
Năm 1930, Clusman (Thụy Sỹ) cho rằng: “Du lịch là sự chinh phục không gian
của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”
[dẫn theo 41, trang 6].
Năm 1951, Giáo sư Hunziker (Thuỵ Sĩ) đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là tổng
thể các hiện tượng và các mối liên hệ phát sinh từ chuyến đi khỏi nơi thường trú và
không liên quan với các hoạt động kiếm sống” [dẫn theo 15, trang 12].
Năm 1985 I.I Pirojnik định nghĩa: “Du lịch là một hoạt động của dân cư trong
thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi thường trú
nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận
13
thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và
xã hội” [dẫn theo 41, trang 6].
Năm 1991, tại Otawa (Canada), Hội nghị quốc tế về Thống kê Du lịch đưa ra
định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường
thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn
khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi
không phải để thực hiện các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [dẫn
theo 41, trang 6]
Năm 1993, Hội nghị lần thứ 27 của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa
ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về
chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại
đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài hoạt động
để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” [dẫn theo 41, trang 6].
Luật Du lịch Việt Nam (2005), chương I, điều 4, khoản 1 định nghĩa: “Du lịch là
các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khoảng thời gian nhất định” [44].
Như vậy có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về du lịch ở từng nơi,
từng thời điểm và từng tác giả nghiên cứu. Theo thời gian những quan niệm về du lịch
cũng thay đổi và hoàn thiện hơn. Ở nước ta, quan niệm “du lịch” trong Luật Du lịch
Việt Nam (2005) là được thừa nhận rộng rãi hơn cả. Tuy có nhiều cách nhìn khác nhau
nhưng nhìn chung, du lịch được hiểu là một dạng hoạt động của con người liên quan
đến việc di chuyển chỗ ở đến một nơi khác trong một khoảng thời gian ngắn để thoả
mãn việc nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, khám phá... Du lịch là một hoạt động đặc thù có
nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch
vừa có đặc điểm kinh tế, vừa có đặc điểm văn hóa - xã hội.
Trong xu hướng phát triển ngày càng mạnh mẽ, trên thế giới những năm gần đây
xuất hiện nhiều khái niệm mới về du lịch: du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, du lịch
bền vững, du lịch cộng đồng...
Du lịch sinh thái: Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về du lịch sinh thái lần đầu
14
tiên được Hector Ceballos – Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch
đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên
cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được
khám phá” [dẫn theo 12, trang 8].
Từ đó đến nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch sinh thái của các nhà
nghiên cứu. Tại Việt Nam, Hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh
thái ở Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào
thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn giáo dục với môi trường, có đóng góp cho nỗ lực
bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
[12, trang 11].
hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hoá truyền thống” [44].
Du lịch văn hoá: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn
Mục đích của du lịch văn hoá là nâng cao hiểu biết cho cá nhân, thoả mãn nhu
cầu được hiểu biết về văn hoá, lịch sử, kiến trúc, kinh tế - xã hội, lối sống và phong tục
tập quán của đất nước đến du lịch.
Du lịch bền vững:
Theo WTO: “Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp
ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan
tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển du lịch trong
tương lai. Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa
mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì
được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và
các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người” [dẫn theo 25, trang 22].
Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch
đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu
cầu về du lịch của tương lai” [44].
Du lịch cộng đồng: Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch của người dân địa
phương. Họ tham gia làm du lịch cùng với một tổ chức kinh tế nào đó (có thể cả với tổ
chức nước ngoài) nhằm khai thác những lợi thế (cả tự nhiên và KTXH) để tăng thu
15
nhập, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống ở địa phương, bảo vệ được nguồn
tài nguyên thiên nhiên và giữ gìn được bản sắc văn hoá của địa phương [15, trang 17].
Sản phẩm du lịch: Theo luật du lịch Việt Nam (năm 2005) “Sản phẩm du lịch là
tâp hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi
du lịch” [44].
Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Dịch vụ du lịch
Tài nguyên du lịch gồm có: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch
nhân văn.
Dịch vụ du lịch gồm có: Dịch vụ lữ hành; vận chuyển; lưu trú, ăn uống; vui chơi
giải trí; mua sắm; thông tin, hướng dẫn; dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung.
Các loại hình du lịch: Có nhiều tiêu chí phân loại các loại hình du lịch. Trong
luận văn này, tác giả sử dụng tiêu chí phân loại theo mục đích chuyến đi để tiện sử
dụng cho việc đưa ra định hướng phát triển du lịch Phú Yên trong chương 3. Theo tiêu
chí này, loại hình du lịch gồm có:
- Du lịch thuần túy: là chuyến đi chỉ với mục đích du lịch. Loại hình này gồm có:
Du lịch tham quan; du lịch giải trí; du lịch thể thao; du lịch khám phá; du lịch nghỉ
dưỡng.
- Du lịch kết hợp: là chuyến đi ngoài mục đích du lịch còn có những lý do khác.
Loại hình này bao gồm: Du lịch tôn giáo; du lịch học tập nghiên cứu; du lịch thể thao
kết hợp; du lịch công vụ; du lịch chữa bệnh; du lịch thăm thân.
- Tổ chức lãnh thổ
Có rất nhiều khái niệm về TCLT. Có thể chia thành hai nhóm: khái niệm của
các nhà địa lí Xô Viết và khái niệm của các nhà địa lí phương Tây.
Đối với các nhà địa lí Xô Viết: Tổ chức lãnh thổ theo nghĩa rộng bao gồm phân
công lao động theo lãnh thổ, phân bố lực lượng sản xuất, sự khác biệt về vùng trong
quan hệ sản xuất, mối quan hệ tương hỗ giữa xã hội và thiên nhiên, các vấn đề về
chính sách. Theo nghĩa hẹp, nó bao gồm tổ chức lãnh thổ - hành chính của nhà nước,
quản lý vùng về sản xuất, sự hình thành các thành tạo lãnh thổ về tổ chức - kinh tế, xác
định các khách thể vùng quản lý, phân vùng KTXH… Có thể đưa ra định nghĩa ngắn
16
gọn như sau: “Tổ chức lãnh thổ xã hội là sự kết hợp các cơ cấu lãnh thổ đang hoạt
động (bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên), được liên kết
lại bởi các cơ cấu quản lý với mục đích tái sản xuất cuộc sống của xã hội phù hợp với
các mục đích và trên cơ sở các quy luật kinh tế hiện hành trong hình thái xã hội đó”
[17, trang 54].
Như vậy, TCLT có hai tính chất cơ bản là tính tổ chức và tính lãnh thổ - hệ
thống lãnh thổ. Tính tổ chức là tính được sắp xếp, tính phù hợp bên trong của tác động
qua lại giữa các bộ phận ít nhiều được phân công hóa và độc lập của chỉnh thể do cấu
tạo của nó quy định. Tính lãnh thổ - hệ thống lãnh thổ là độ dài không gian, có ranh
giới, có kích thước, là nét tạo hình đặc biệt của đối tượng, là những đặc điểm không
gian của bức tranh phân bố các đối tượng trong một phạm vi nhất định. Hệ thống lãnh
thổ bao gồm hệ thống sản xuất, hệ thống dân cư và hệ thống tự nhiên. Trong đó hệ
thống sản xuất là phức tạp nhất và đóng vai trò quan trọng nhất.
Từ những năm 1965, để thúc đẩy phát triển kinh tế có hiệu quả, các nhà khoa
học Xô Viết đã khẳng định sự cần thiết phải kết hợp tối ưu việc kế hoạch hoá theo
ngành và theo lãnh thổ nhằm đảm bảo kế hoạch hoá tổng hợp và giải quyết những vấn
đề kinh tế quốc dân to lớn. Khái niệm về kế hoạch hoá lãnh thổ ở đây chính là vấn đề
TCLT.
Đối với các nhà địa lí phương Tây: từ thế kỷ XIX, TCLT đã trở thành khoa học
quản lý. Do đó, khái niệm tổ chức lãnh thổ đã xuất hiện ở các nước phát triển như Mỹ,
Anh, Pháp từ sớm. Theo Morrille (1970), “Tổ chức theo không gian là kinh nghiệm
của loài người về sử dụng có hiệu quả không gian trên Trái Đất”[dẫn theo 17, trang
56]. Theo Jean Paud Gaudemar (1992), “Tổ chức không gian là sự tìm kiếm một phân
bố tối ưu về người, các hoạt động và tài sản nhằm tránh sự mất cân đối trên lãnh thổ
quốc gia hay một vùng” [dẫn theo 14, trang 15].
Nhận thức của các nhà địa lí phương Tây là TCLT nhằm tìm kiếm một tỷ lệ và
quan hệ hợp lý về phát triển KTXH giữa các ngành trong một vùng, giữa các vùng
trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có xét đến các mối liên hệ quốc gia với
nhau; tạo ra một giá trị mới nhờ sắp xếp có trật tự và hài hòa giữa các đơn vị lãnh thổ
khác nhau trong cùng một tỉnh, một vùng và cả nước, trong những điều kiện kinh tế thị
17
trường và hệ thống kinh tế mở. Mục đích của nó nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực
và lợi thế so sánh trong xu thế hòa nhập và cạnh tranh để đẩy nhanh tăng trưởng kinh
tế, giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, Các nhà kế hoạch hoá và các nhà địa lí kinh tế thường dùng khái
niệm TCLT. TCLT được hiểu như toàn bộ quá trình hay hành động của con người
nhằm phân bố các cơ sở sản xuất và dịch vụ, phân bố dân cư, sử dụng tự nhiên, có tính
đến các mối liên hệ của chúng. Các hành động này được thực hiện phù hợp với các
mục tiêu của xã hội và trên cơ sở các quy luật kinh tế hoạt động trong hình thái KTXH
tương ứng. Mục tiêu cơ bản của nền kinh tế là cải thiện cơ cấu tổ chức sản xuất của đất
nước hay của từng vùng cụ thể. TCLT cũng nhằm phát triển tổng hợp, có hiệu quả cao
nền sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên
nhiên. Có thể nói, TCLT là một biện pháp quan trọng vì mục tiêu phát triển bền vững.
Như vậy, TCLT về đại thể là sự kiến thiết lãnh thổ. Trong một lãnh thổ có rất
nhiều thành phần (bộ phận) về tự nhiên, dân cư, kinh tế, xã hội... Vấn đề ở chỗ là phải tổ
chức như thế nào để đạt được mục tiêu phát triển KTXH. Trên cơ sở đó, “Tổ chức lãnh
thổ được hiểu là sự sắp xếp các thành phần (đã, đang và dự kiến sẽ có) trong mối liên hệ
đa ngành, đa lãnh thổ ở một vùng nhằm sử dụng hợp lí các nguồn lực để đạt hiệu quả cao
nhất về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững” [34, trang 217].
- Tổ chức lãnh thổ du lịch
Trong nghiên cứu du lịch, TCLTDL là một trong những nội dung được quan
tâm hàng đầu. Sở dĩ như vậy vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động
này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó. Có nhiều quan niệm
khác nhau về TCLTDL. Theo PGS. TS Nguyễn Minh Tuệ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch
là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có
liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân
văn) kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi
trường cao nhất” [35, trang 99].
TCLTDL là hình thức tổ chức sản xuất xã hội theo lãnh thổ. Do đó TCLTDL
đồng thời giải quyết các nhiệm vụ chính là kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
18
TCLT du lịch là sự phân hoá không gian của du lịch căn cứ trên điều kiện tài
nguyên, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động, các mối liên hệ
giữa ngành với các ngành khác, với các địa phương và các quốc gia liền kề.
TCLT du lịch là một bộ phận không tách rời với các định hướng của chiến lược
phát triển KTXH của quốc gia và vùng, với các định hướng đô thị hoá, bảo vệ môi
trường sinh thái lâu bền, với các định hướng khoa học công nghệ và các yêu cầu của
an ninh quốc phòng.
Như vậy, TCLT du lịch là sự phân hoá không gian của du lịch. Sự phân hoá
không gian này dựa vào TNDL, CSHT, CSVCKT, lao động trong ngành du lịch, mối
liên hệ giữa ngành du lịch với ngành khác, với địa phương khác. TCLTDL phải hợp lý,
khoa học để khai thác có hiệu quả TNDL, đồng thời phải bảo vệ môi trường, đảm bảo
cho sự phát triển bền vững.
1.1.2. Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
TCLTDL là một dạng của tổ chức lãnh thổ KTXH. Cùng với sự phát triển của
xã hội, trước hết là của sức sản xuất, đã dần dần xuất hiện các hình thức TCLTDL.
Trên bình diện vĩ mô có 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch, cụm tương hỗ
phát triển du lịch (thể tổng hợp lãnh thổ du lịch), vùng du lịch.
- Hệ thống lãnh thổ du lịch
“Hệ thống lãnh thổ du lịch thường được coi là hệ thống xã hội được tạo thành
bởi các yếu tố có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, đó là: nhóm người đi du lịch, các
tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử, cơ sở vật chất - kĩ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân
viên và bộ phận tổ chức quản lý. Nét đặc trưng quan trọng của hệ thống lãnh thổ du
lịch là tính hoàn chỉnh về chức năng và lãnh thổ” [35, trang 100].
Về phương diện cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống bao gồm
nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ. Đó là một hệ thống mở, phức tạp gồm có
cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong bao gồm các nhân tố hoạt
động với sự tác động qua lại, còn cấu trúc bên ngoài gồm các mối liên hệ với điều kiện
phát sinh và các hệ thống khác. Đây là một dạng đặc biệt của địa hệ mang tính hỗn
hợp, có đủ các thành phần tự nhiên, kinh tế, xã hội và chịu sự chi phối của nhiều quy
luật cơ bản khác nhau.
19
Về phương diện hệ thống, hệ thống lãnh thổ du lịch được cấu thành bởi nhiều
phân hệ khác nhau về bản chất, nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Đó là các
phân hệ khách du lịch, tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hoá, các công trình kĩ thuật, cán
bộ phục vụ và điều khiển.
Phân hệ khách du lịch là phân hệ trung tâm, quyết định những yêu cầu với
phân hệ khác của hệ thống bởi vì các thành phần này phụ thuộc vào đặc điểm của
khách du lịch. Các đặc trưng của phân hệ khách là cấu trúc và lượng nhu cầu, tính lựa
chọn, tính mùa vụ và tính đa dạng của luồng khách du lịch.
Phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử - văn hóa là phân hệ tham gia hệ thống với
tư cách là tài nguyên, là điều kiện để thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và là cơ sở
lãnh thổ cho việc hình thành hệ thống. Tổng thể này có sức chứa, độ tin cậy, tính thích
hợp, tính ổn định và tính hấp dẫn. Phân hệ này được đặc trưng bằng lượng nhu cầu,
diện tích phân bố và thời gian khai thác.
Phân hệ cơ sở vật chất - kỹ thuật là phân hệ đảm bảo cho cuộc sống bình
thường của khách du lịch, nhân viên phục vụ và những nhu cầu giải trí đặc biệt (chữa
bệnh, tham quan, du lịch…). Toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật là điều kiện cần thiết để
phát triển du lịch. Nét đặc trưng của phân hệ là sức chứa, tính đa dạng, tính thích hợp,
mức độ chuẩn bị để khai thác.
Phân hệ cán bộ nhân viên phục vụ là phân hệ hoàn thành chức năng dịch vụ
cho du khách và đảm bảo cho các xí nghiệp hoạt động bình thường. Đặc trưng của
phân hệ này là số lượng, trình độ chuyên môn - nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ nhân
viên và mức độ đảm bảo của lực lượng lao động.
4
1
2 3
I
5
II
Hình 1.1. Sơ đồ hệ thống lãnh thổ du lịch (M.Bưchơvarốp, 1975)
20
Chú giải
I. Môi trường và các điều kiện phát sinh môi trường du lịch.
II. Hệ thống lãnh thổ du lịch.
1. Phương tiện giao thông vận tải
2. Phân hệ khách du lịch
3. Phân hệ cán bộ phục vụ
4. Phân hệ tài nguyên du lịch
5. Phân hệ cơ sở vật chất kĩ thuật
Luồng khách du lịch
Các mối liên hệ bên trong hệ thống
Các mối liên hệ với hệ thống khác
Các mối liên hệ thông tin giữa I và II
Như vậy, TCLT du lịch là một hệ thống bao gồm nhiều phân hệ có mối quan hệ
tương tác và bổ trợ nhau.
- Cụm tương hỗ phát triển du lịch
Cụm tương hỗ phát triển du lịch trước đây được xem là thể tổng hợp lãnh thổ
du lịch theo quan niệm của các nhà địa lí Xô Viết.“Cụm tương hỗ phát triển du lịch là
tập hợp theo khu vực các doanh nghiệp, nhà cung cấp và dịch vụ du lịch có mối liên
kết với nhau” [35, trang 103]. Tại một khu vực địa lí nhất định có nhiều doanh nghiệp
du lịch liên hệ với nhau, hỗ trợ nhau, phối hợp với nhau; nhờ đó làm tăng hiệu quả
khai thác TNDL, CSVCKT, giảm bớt chi phí đầu vào, tăng sức cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Cụm tương hỗ phát triển du lịch hình thành khi các lợi thế cạnh tranh thúc đẩy
hoặc dẫn đến việc gia tăng sự bố trí và sự phát triển các doanh nghiệp du lịch và dịch
vụ thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng cần đến nhau để tận dụng các cơ hội qua liên
kết địa lí trong một lãnh thổ nhất định.
Cụm tương hỗ phát triển du lịch được hình thành trên những điều kiện sau:
+ Một không gian địa lí nhất định.
+ Có một hoặc một vài doanh nghiệp du lịch đóng vai trò hạt nhân.
21
+ Các doanh nghiệp du lịch tự nguyện liên kết với nhau thông qua hợp đồng
kinh tế hoặc biên bản thỏa thuận liên kết và trên cơ sở đó cùng thu được lợi ích kinh
tế, cùng có được sự cạnh tranh cần thiết.
+ Chính quyền địa phương khuyến khích liên kết thành cụm và tạo điều kiện hỗ
trợ các doanh nghiệp thực thi nguyện vọng của mình.
- Vùng du lịch
Theo E.A Kotliarov (1978), vùng du lịch là: 1) Một lãnh thổ hoàn chỉnh với sự
kết hợp các điều kiện, đối tượng và chuyên môn hoá du lịch; 2) Không chỉ là lãnh thổ
để nghỉ ngơi, chữa bệnh, giải trí mà còn là một cơ chế kinh tế hành chính phức tạp; 3)
Có các xí nghiệp nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, xây dựng và các cơ sở văn hoá; 4)
Hình thành do phân công lao động theo lãnh thổ trong lĩnh vực phi sản xuất. [dẫn theo
35, trang 105].
Theo quan điểm của N.X Mironeko và I.T Tirodokholebok (1981): “Vùng du
lịch là một cộng đồng lãnh thổ của các xí nghiệp du lịch chuyên môn hoá phục vụ du
khách có quan hệ về mặt kinh tế nhằm thoả mãn tốt các nhu cầu của khách trên cơ sở
sử dụng tổng thể tự nhiên, văn hoá - lịch sử hiện có và các điều kiện kinh tế của lãnh
thổ” [dẫn theo 35, trang 105].
Theo I. I Pirojonik (1985), “Vùng du lịch là hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội,
một tập hợp các hệ thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có liên hệ với nhau và các xí
nghiệp thuộc cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lãnh thổ du
lịch với việc có chung chuyên môn hoá và các điều kiện kinh tế - xã hội để phát triển
du lịch” [dẫn theo 35, trang 105].
Trong Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995 - 2010 thì:
“Vùng du lịch là một hệ thống lãnh thổ kinh tế - xã hội bao gồm một tập hợp các hệ
thống lãnh thổ du lịch thuộc mọi cấp có quan hệ với nhau và các cơ sở hạ tầng nhằm
đảm bảo cho sự hoạt động của các hệ thống lãnh thổ du lịch” [dẫn theo 35, trang 105].
Như vậy, có rất nhiều quan niệm về vùng du lịch và mỗi quan niệm có những
ưu, khuyết điểm khác nhau. Chung quy lại có thể hiểu: “Vùng du lịch là một bộ phận
lãnh thổ đất nước, có phạm vi và ranh giới xác định, có những nét đặc thù về tài
nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), điều kiện vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, sản
22
phẩm du lịch đặc trưng… cho phép hình thành và phát triển hiệu quả các hệ thống
lãnh thổ du lịch dựa trên cơ sở các mối liên hệ nội vùng và liên vùng” [35, trang 106].
Trên quan điểm hệ thống có thể trình bày vùng du lịch như một tập hợp hệ
thống lãnh thổ được tạo nên bởi hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau. Hệ thống
lãnh thổ du lịch và các mối liên hệ nội vùng và liên vùng (không gian KTXH xung
quanh) nhằm đảm bảo cho cả hệ thống hoạt động có hiệu quả. Mối liên hệ giữa các
yếu tố tạo thành hệ thống lãnh thổ du lịch mang tính chất liên hệ công nghệ, có tác
dụng thực hiện đầy đủ các khâu công nghệ của quá trình du lịch. Còn các mối liên hệ
nội vùng và liên vùng là các mối liên hệ kinh tế.
Như vậy, hệ thống lãnh thổ du lịch là hạt nhân tạo nên vùng du lịch. Hệ thống
lãnh thổ du lịch và vùng du lịch là các khái niệm rất gần gũi với nhau, đồng thời lại có
những sự khác biệt cơ bản. Sự khác biệt giữa chúng là ở chỗ hệ thống lãnh thổ du lịch
là hạt nhân của vùng du lịch. Chính từ hạt nhân này đã tạo điều kiện cho sự xuất hiện
và phát triển của vùng trong môi trường xung quanh. Các yếu tố của môi trường nuôi
dưỡng hạt nhân, giúp cho nó hoạt động và cùng với bản thân hạt nhân trở thành vùng
du lịch. Hệ thống lãnh thổ du lịch không phải là toàn bộ lãnh thổ của vùng mà chỉ là
nơi tập trung nguồn TNDL và các công trình kĩ thuật... Vùng du lịch có không gian
rộng lớn hơn trong đó bao gồm cả các khu vực sản xuất hàng hoá, vật liệu năng lượng,
có đội ngũ cán bộ thông tin, kho tàng, các công trình công cộng. Quan hệ giữa hệ
thống lãnh thổ du lịch và vùng du lịch tương tự như quan hệ giữa tổng hợp sản xuất -
lãnh thổ và vùng kinh tế tổng hợp.
1.1.3. Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch
Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch rất khác nhau giữa các nước. Ở nước
ta, trên phạm vi một quốc gia, TCLTDL có 5 cấp: điểm du lịch - trung tâm du lịch -
tiểu vùng du lịch - á vùng du lịch - vùng du lịch.
- Điểm du lịch
Điểm du lịch là nơi tập trung một loại TNDL, một loại công trình riêng biệt
phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Vì thế điểm du lịch có thể phân
thành: điểm tài nguyên và điểm chức năng. Đây là cấp thấp nhất trong hệ thống phân
vị. Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ và là những điểm riêng biệt.
23
Tại chương I, điều 4, khoản 8, Luật Du lịch Việt Nam (2005):“Điểm du lịch là
nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”
[44].
- Trung tâm du lịch
Trung tâm du lịch là sự kết hợp lãnh thổ của nhiều điểm du lịch, nơi có mật độ
điểm du lịch tương đối dày đặc. Đặc trưng của trung tâm du lịch là TNDL tập trung và
được khai thác cao độ. Trung tâm du lịch là hạt nhân tạo vùng du lịch. Chính nó tạo bộ
khung cho vùng du lịch hình thành và phát triển. Trung tâm du lịch có diện tích tương
đương lãnh thổ cấp tỉnh hay thành phố trực thuộc tỉnh.
- Tiểu vùng du lịch
Tiểu vùng du lịch là một tập hợp các điểm và trung tâm du lịch (nếu có). Về
quy mô, tiểu vùng du lịch có diện tích bao trùm một vài tỉnh. Tiểu vùng du lịch có
nguồn tài nguyên phong phú về số lượng, đa dạng về chủng loại. Có hai loại tiểu vùng
du lịch: tiểu vùng du lịch đã hình thành (tiểu vùng du lịch thực tế) và tiểu vùng du lịch
đang hình thành (tiểu vùng du lịch tiềm năng).
- Á vùng du lịch
Á vùng du lịch được coi là cấp trung gian giữa tiểu vùng du lịch và vùng du
lịch. Á vùng du lịch là tập hợp các điểm, trung tâm (nếu có), tiểu vùng du lịch thành
một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn, các thông số hoạt động và lãnh thổ
du lịch rộng lớn, các mối quan hệ bên trong đa dạng. Á vùng du lịch có nhiều loại tài
nguyên và đã thể hiện tính chuyên môn hóa trong chừng mực nhất định.
- Vùng du lịch
Đây là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị. Vùng du lịch là sự kết hợp lãnh thổ
của á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch với những đặc trưng về số
lượng và chất lượng. Nói cách khác, vùng du lịch như một hệ thống thống nhất của các
đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn - xã hội bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch
và môi trường KTXH xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du
lịch. Các mối liên hệ nội vùng và ngoại vùng đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên,
CSHT, CSVCKT sẵn có. Vùng du lịch có diện tích rất lớn bao gồm nhiều tỉnh. Nếu
24
hoạt động mạnh mẽ, nó còn bao gồm cả khu vực không du lịch. Vùng du lịch gồm:
vùng du lịch đã hình thành và vùng du lịch đang hình thành.
Căn cứ vào hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch được ứng dụng ở quy mô
toàn quốc, căn cứ vào thực tế tình hình phát triển du lịch tỉnh Phú Yên, để thuận tiện
cho việc tổ chức lãnh thổ du lịch trên phạm vi cấp tỉnh, TCLTDL tỉnh Phú Yên được
xây dựng bao gồm: điểm du lịch, cụm du lịch và tuyến du lịch.
+ Điểm du lịch: Đây là cấp thấp nhất trong phân vị và được coi là cấp cơ sở
trong phạm vi một tỉnh. Mỗi điểm du lịch đều có đặc trưng về tài nguyên và có ý nghĩa
khai thác khác nhau.
+ Cụm du lịch: Cụm du lịch được xây dựng dựa trên sự gần gũi về mặt không
gian của các điểm du lịch, phản ánh sự hấp dẫn đối với du khách thông qua mức độ kết
hợp của tài nguyên du lịch. Cụm du lịch là không gian lãnh thổ rộng, không có ranh
giới pháp lí, tập trung nhiều loại tài nguyên với một nhóm các điểm du lịch đang khai
thác hoặc dưới dạng tiềm năng, trong đó trung tâm của nó là một hoặc một vài điểm du
lịch có sức thu hút khách cao.
+ Tuyến du lịch: Tại chương I, điều 4, khoản 9, Luật Du lịch Việt Nam
(2005): “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung
cấp dịch vụ du lịch gắn với tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường
hàng không” [44]. Xây dựng các tuyến du lịch là việc quan trọng vì nó kết nối các
điểm du lịch đặc sắc và độc đáo, có khả năng thu hút khách cao; đòi hỏi bố trí thời
gian, phương tiện đi lại, cơ sở lưu trú hợp lý. Đây là cơ sở để xây dựng các tuyến tham
quan. Tuyến du lịch bao gồm tuyến nội tỉnh và liên tỉnh.
Như vậy, trên lãnh thổ một tỉnh, điểm du lịch là hình thức TCLTDL ở cấp thấp
nhất; cụm du lịch ở cấp cao hơn, bao gồm nhiều điểm du lịch; tuyến du lịch là lộ trình
liên kết giữa các điểm du lịch, gắn liền với các tuyến giao thông.
1.1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch
TCLT du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: vị trí địa lí; tài nguyên du
lịch; điều kiện kinh tế - xã hội và chính trị; CSHT và CSVCKT.
25
- Vị trí địa lí
Vị trí địa lí là một trong những nhân tố tác động không nhỏ đến các mặt kinh tế
- xã hội của một lãnh thổ, trong đó có hoạt động du lịch. Trong du lịch, vị trí địa lí ảnh
hưởng đến khả năng trung chuyển khách, đến sức hút đối với các luồng khách, đến
tính liên kết trong phát triển du lịch. Một địa bàn du lịch có vị trí gần các trung tâm
kinh tế, nằm trên các tuyến đường trọng yếu thường mang lại khả năng phát triển du
lịch lớn do du khách có thu nhập cao và việc đi lại dễ dàng. Vị trí địa lí còn tác động
đến tính liên kết vùng để đảm bảo khai thác du lịch hiệu quả nhất trên cơ sở khai thác
chung những nguồn lực và phát triển những sản phẩm đặc trưng. Ngoài ra, vị trí địa lí
còn tác động đến các yếu tố khác như khí hậu, thủy văn, sinh vật, văn hóa…và qua đó
gián tiếp tác động đến hoạt động du lịch.
- Tài nguyên du lịch
Luật Du lịch Việt Nam (2005) đã đưa ra các định nghĩa:
“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử -
văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có
thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các
khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”[44]. TNDL bao gồm TNDL tự
nhiên và TNDL nhân văn.
“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo,
khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ
mục đích du lịch” [44].
“Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm truyền thống văn hoá, các yếu tố văn
hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình
lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể
được sử dụng để phục vụ mục đích du lịch” [44].
Du lịch là ngành có sự định hướng tài nguyên. Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ
bản để tạo thành sản phẩm du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du
lịch. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc và chuyên môn hoá của vùng
du lịch. Quy mô hoạt động của điểm, cụm, tuyến du lịch được xác định trên cơ sở khối
lượng tài nguyên du lịch. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo
26
vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng và mức độ kết hợp của các loại
tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch
của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch và có
chất lượng cao, mức độ kết hợp của các loại tài nguyên phong phú thì sẽ thu hút nhiều
khách du lịch.
- Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị
Dân cư và lao động là lực lượng quan trọng của nền sản xuất xã hội. Cùng với
hoạt động lao động, họ còn có nhu cầu nghỉ ngơi du lịch. Dân số càng đông, lực lượng
tham gia vào các ngành sản xuất và dịch vụ ngày càng nhiều thì du lịch càng có điều
kiện phát triển, tổ chức lãnh thổ du lịch càng được mở rộng.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế có tác dụng làm xuất
hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu thành hiện thực. Tiếp theo đó nó đưa du lịch hoạt
động với tốc độ nhanh hơn.
Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội là đòn bẩy cho hoạt động du lịch.
Ngược lại, du lịch có tác dụng củng cố hòa bình. Hoà bình và sự ổn định về chính trị là
điều kiện đặc biệt quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong
nước và quốc tế. Du lịch chỉ có thể xuất hiện trong điều kiện hoà bình và quan hệ hữu
nghị giữa các dân tộc.
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch thay đổi theo không gian, thời gian và trở thành một
trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch.
Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môi
trường bên ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các
dạng nghỉ ngơi khác nhau. Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch đặc trưng cho mọi giai đoạn phát
triển của xã hội.
Cách mạng khoa học – công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế là những nhân
tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch. Chính chúng đã làm thay đổi
tận gốc nền sản xuất xã hội, thay thế lao động cơ bắp bằng lao động cơ giới và tự
động. Cường độ làm việc nhanh chóng và mức độ căng thẳng cao làm xuất hiện nhu
cầu nghỉ ngơi. Mặt khác, hiệu quả sản xuất được nâng cao làm gia tăng thu nhập cũng
có nghĩa là gia tăng khả năng tham gia du lịch. Đồng thời, nó còn giúp hoàn thiện và
27
hiện đại hóa CSHT và CSVCKT du lịch giúp cho ngành hoạt động ngày càng hiệu
quả.
Độ thị hóa góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch. Đô thị hóa tạo ra lối sống đô thị
mà ở đó nhận thức của con người về sức khỏe, sự hiểu biết cũng như nhu cầu nghỉ
ngơi, tham quan, tận hưởng không khí trong lành trở nên cao hơn.
Điều kiện sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch. Du
lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống của con người đạt đến một trình độ nhất định.
Mức sống tăng lên góp phần phát triển rộng rãi hoạt động du lịch.
Thời gian rỗi là nhân tố rất quan trọng để phát triển loại hình du lịch, đặc biệt là
loại hình du lịch dài ngày. Cùng với sự phát triển và tiến bộ xã hội, thời gian nghỉ ngơi
của người lao động không ngừng được nâng lên.
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
CSHT và CSVCKT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo
ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du
lịch. Có TNDL hấp dẫn, nhưng CSHT và CSVCKT kém phát triển thì TNDL chỉ dưới
dạng tiềm năng.
CSHT có vai trò đặc biệt trong việc đẩy mạnh hoạt động du lịch. Vai trò quan
trọng đầu tiên phải kể đến hệ thống giao thông vì hoạt động du lịch gắn liền với việc di
chuyển của con người. Tiếp theo, thông tin liên lạc là điều kiện để đảm bảo thông tin
cho du khách trong và ngoài nước. Ngoài ra cần phải nói đến việc cung cấp điện, nước
phục vụ trực tiếp cho các cơ sở du lịch. Như vậy CSHT là tiền đề và là đòn bẩy của
hoạt động du lịch.
CSVCKT của du lịch gồm có: cơ sở lưu trú, mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch
vụ thương mại, cơ sở thể thao, cơ sở y tế chữa bệnh, cơ sở vui chơi giải trí, hoạt động
văn hóa thông tin và các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng, tiệm nhiếp ảnh…
CSVCKT đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm du lịch cũng như
quyết định mức độ khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch. CSVCKT và TNDL có
quan hệ chặt chẽ với nhau. TNDL ảnh hưởng đến công suất, thể loại, thứ hạng của các
thành phần CSVCKT. Sự kết hợp hài hòa giữa TNDL và CSVCKT giúp cho cơ sở du
lịch hoạt động hiệu quả.
28
Tóm lại, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến TCLTDL, trong số đó TNDL có ý
nghĩa rất lớn, quyết định đến việc hình thành và phát triển của lãnh thổ du lịch.
1.1.5. Vai trò và mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch
- Vai trò
Du lịch là ngành có định hướng rõ rệt về tài nguyên, nếu không có tài nguyên
thì không có hoạt động du lịch và không thể TCLTDL. Nghiên cứu TCLTDL và xây
dựng các hình thức tổ chức theo không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có điều
kiện sử dụng hợp lí và có hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là TNDL.
Nghiên cứu TCLTDL còn tạo điều kiện đẩy mạnh chuyên môn hoá du lịch.
Chuyên môn hoá du lịch có tính chất đặc biệt, đây là một hiện tượng khách quan gắn
với các nguồn lực mà trước hết là tài nguyên du lịch. Với sự phát triển của nền sản
xuất xã hội và các quy luật khách quan khác trong các hình thái KTXH khác nhau, liên
quan đến trình độ phát triển của sức sản xuất, khi nền sản xuất xã hội phát triển, nhu
cầu du lịch ngày càng cao thì sự chuyên môn hoá du lịch ngày càng sâu sắc. Thực tế
ngành du lịch có bốn hướng chuyên môn hoá là:
+ Chuyên môn hoá theo loại hình dịch vụ;
+ Chuyên môn hoá theo loại hình du lịch;
+ Chuyên môn hoá theo giai đoạn của quá trình du lịch;
+ Chuyên môn hoá theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch.
Việc nghiên cứu TCLTDL nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du lịch trên
một lãnh thổ nói riêng còn góp phần quan trọng tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc
có khả năng thu hút khách du lịch, tăng cường khả năng cạnh tranh. Sản phẩm du lịch
là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác tiềm năng du
lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kì nghỉ trọn vẹn và
sự hài lòng về kì nghỉ đó. Những sản phẩm càng độc đáo, chất lượng càng cao, sự lôi
cuốn du khách càng mạnh. Nhưng việc hình thành các sản phẩm du lịch phụ thuộc
nhiều vào tài nguyên du lịch và việc khai thác tài nguyên du lịch đó như thế nào cho
hài lòng du khách. Tài nguyên du lịch sẽ chỉ dưới dạng tiềm năng nếu không được
khai thác phục vụ cho mục đích du lịch. Chính việc TCLTDL hợp lí là một trong
29
những biện pháp hàng đầu nhằm tạo ra và khai thác hữu hiệu các sản phẩm du lịch độc
đáo.
Nghiên cứu TCLTDL có ý nghĩa cả về mặt lí luận và thực tiễn. Việc nhận thức
chúng một cách đúng đắn sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết nhằm sử dụng hợp lí và có
hiệu quả các nguồn lực du lịch để phát triển KTXH. Hiệu quả là làm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, tăng thu nhập người dân, bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa, bảo vệ
mội trường…
- Mục tiêu
TCLTDL có những mục tiêu cụ thể. Những mục tiêu được xác định dựa trên sự
khác nhau của các đối tượng du lịch. Các đối tượng du lịch đó phải thật cụ thể, rõ ràng
để công tác tổ chức du lịch diễn ra một cách thuận lợi và đồng bộ trong một thời gian
nhất định. Những mục tiêu đó sẽ tạo tiền đề cho sự ảnh hưởng đến ý tưởng hay mục
đích và cung cấp nền tảng hệ thống cho sự xác định của các chính sách du lịch.
Theo Clare A.Gunn (1993) [dẫn theo 14, trang 19 ]có bốn mục tiêu cơ bản cần
nắm được khi tiến hành TCLT du lịch:
+ Đáp ứng sự hài lòng và sự thoả mãn của khách du lịch;
+ Đạt được những thành quả về kinh doanh và kinh tế;
+ Bảo vệ nguồn TNDL;
+ Sự thống nhất ở vùng du lịch và cộng đồng.
Bốn mục tiêu này phải được xem xét như những động cơ thúc đẩy đối với tất cả
các cơ quan hữu quan tham gia vào trong dự án và phải phát triển những chiến lược và
đối sách cần thiết nhằm thực hiện chúng cho bằng được.
TCLTDL phải đáp ứng sự hài lòng và sự thoả mãn của khách du lịch. Mỗi du
khách trước khi đi du lịch đều có mục tiêu cụ thể. Có du khách đi du lịch để tham quan
ngắm cảnh, có du khách để nghỉ ngơi thư giãn, có du khách để nghiên cứu học hỏi...
Vì vậy, khi nghiên cứu TCLTDL phải đặt mục tiêu đạt được đó là sự hài lòng, thoả
mãn của khách du lịch. Có như vậy mới thu hút được khách du lịch.
Du lịch là một ngành kinh tế vì vậy không thể không đặt mục tiêu về kinh tế.
TCLTDL như thế nào để đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, không phải bằng mọi giá
để đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế mà không chú trọng về môi trường.
30
Mục tiêu cũng hết sức quan trọng đó là phải bảo vệ tài nguyên du lịch để đảm
bảo cho sự phát triển bền vững. Các loại tài nguyên du lịch dễ bị xuống cấp nếu chúng
ta không bảo vệ giữ gìn và luôn đầu tư tu bổ. Trong quá trình khai thác tài nguyên cần
phải bảo vệ, giữ gìn tài nguyên để có thể khai thác lâu dài và hiệu quả hơn.
Mục tiêu rất quan trọng của TCLTDL đó là sự thống nhất của vùng du lịch và
cộng đồng. Trong mỗi vùng du lịch có cộng đồng cư dân sinh sống. Mọi hoạt động
kinh tế diễn ra trong vùng du lịch chủ yếu do cộng đồng dân cư. Việc thống nhất vùng
du lịch và cộng đồng dân cư sẽ là động lực để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế.
1.1.6. Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá các hình thức tổ chức lãnh thổ du
lịch cấp tỉnh
1.1.6.1. Đánh giá điểm du lịch
Trong phạm vi của một tỉnh, các hình thức TCLTDL bao gồm: điểm, cụm và
tuyến du lịch. Luận văn sẽ xây dựng tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTDL nêu trên.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá điểm du lịch
Để xác định được các điểm du lịch với các ý nghĩa khác nhau cần có những tiêu
chí cụ thể. Đã có một số tác giả [10], [14], [15] xây dựng tiêu chí đánh giá điểm du
lịch. Kế thừa những nghiên cứu của các tác giả và để phù hợp với nội dung, phạm vi
và địa bàn nghiên cứu, các tiêu chí xây dựng để đánh giá điểm du lịch trong luận văn
gồm tám tiêu chí: Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch; Thời gian hoạt động du lịch
(tính thời vụ); Sức chứa khách du lịch; Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch;
CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch; Sự kết hợp đồng bộ giữa TNDL và CSHT,
CSVCKT phục vụ du lịch;Giá trị của điểm du lịch được xếp hạng; Độ bền vững của
môi trường du lịch.
a. Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch
Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên
điểm du lịch. Sự hấp dẫn là yếu tố có tính tổng hợp được xác định bằng vẻ đẹp của
phong cảnh, địa hình, khí hậu và những nét độc đáo khác của điểm du lịch có thể đáp
ứng được nhiều loại hình du lịch. Tiêu chí này được chia thành 4 cấp: rất hấp dẫn, khá
hấp dẫn, hấp dẫn trung bình và kém hấp dẫn.
31
+ Rất hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh đẹp và đa dạng hoặc có hiện
tượng, di tích lịch sử đặc biệt, đáp ứng được trên 4 loại hình du lịch;
+ Hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh khá đẹp, đa dạng hoặc có hiện tượng,
di tích lịch sử đặc biệt, có thể đáp ứng được từ 3 đến 4 loại hình du lịch;
+ Hấp dẫn trung bình: Điểm du lịch có phong cảnh tương đối đẹp hoặc có hiện
tượng, di tích lịch sử có thể đáp ứng được 2 loại hình du lịch;
+ Kém hấp dẫn: Điểm du lịch có phong cảnh đẹp hoặc hiện tượng, di tích lịch
sử có thể đáp ứng được 1 loại hình du lịch.
b. Thời gian hoạt động du lịch (tính thời vụ)
Hoạt động du lịch phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tự nhiên, văn hóa... nên mang
tính chất thời vụ. Tính thời vụ đã trở thành đối tượng của các chương trình du lịch.
Thời gian hoạt động ở các điểm du lịch được xác định bằng số thời gian thích hợp nhất
của điều kiện khí hậu đối với sức khỏe du khách, của các yếu tố văn hóa xã hội để
triển khai các hoạt động du lịch. Nó có vai trò quan trọng đến độ hấp dẫn du lịch,
phương hướng đầu tư và khai thác hiệu quả các hoạt động du lịch. Thời gian hoạt động
du lịch được chia làm bốn cấp:
+ Rất dài: có trên 200 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và có
trên 180 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa
đặc sắc diễn ra;
+ Dài: có từ 150 - 200 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và
có từ 120 - 180 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn
hóa đặc sắc diễn ra;
+ Trung bình: có từ 100 - 150 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du
lịch và có từ 90 - 120 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự
kiện văn hóa đặc sắc diễn ra;
+ Ngắn: có dưới 100 ngày/năm có thể tiến hành tốt các hoạt động du lịch và có
dưới 90 ngày/năm có khí hậu thích hợp với sức khỏe con người, có sự kiện văn hóa
đặc sắc diễn ra.
32
c. Sức chứa khách du lịch
Ở những điểm du lịch, sự bền vững luôn đi liền với khái niệm sức chứa. Tính
toán sức chứa du lịch là việc làm rất cần thiết nhằm quản lý các hoạt động du lịch ở
giới hạn cho phép, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường. Inskeep (1991) cho
rằng: “Phân tích sức chứa hiện nay là một kỹ thuật cơ bản và được bắt đầu sử dụng
rộng rãi trong quy hoạch du lịch và giải trí nhằm xác định một cách có hệ thống
những giới hạn trên của sự phát triển và khả năng sử dụng tối ưu của khách du lịch về
các loại tài nguyên đó” [dẫn theo 14, trang 42]. Theo Stanley và Mc Cool (1997), hiện
nay khái niệm này đã thay đổi từ chỗ bao nhiêu là quá nhiều cho đến những loại điều
kiện và tài nguyên gì là thích hợp và có khả năng chấp nhận trong những điều kiện và
hoàn cảnh khác nhau. Ý nghĩa của sức chứa du lịch được đánh giá ở bốn phương diện:
sức chứa vật lý (hay sức chứa tự nhiên), sức chứa môi trường, sức chứa kinh tế, sức
chứa xã hội.
Theo định nghĩa của WTO (1992): “Sức chứa du lịch là mức độ sử dụng của
khách tham quan mà một khu vực có thể cung cấp, đáp ứng ở mức độ cao cho du
khách và để lại rất ít tác động vào nguồn tài nguyên” [dẫn theo 6, trang 10].
Trên thực có rất nhiều định nghĩa và công thức tính toán sức chứa du lịch khác
nhau tùy từng tác giả. Để phù hợp với địa bàn và đề tài nghiên cứu, tôi đã sử dụng
cách tính sức chứa của Boullon (1985) và của Ceballos – Lascurain (1996) mà các tác
giả Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Thị Sơn đã áp dụng trong luận văn thạc sĩ, luận án
tiến sĩ của mình.
Công thức tính sức chứa du lịch được áp dụng cho luận văn:
Sức chứa tự nhiên (PCC – Physical carrying capacity): là số khách tối
đa mà khách tham quan có khả năng chứa đựng trên tiêu chuẩn cá nhân trung
bình. PCC được tính như sau:
PCC = A x V/a x Rf
Trong đó: A: Diện tích dành cho du lịch (Area for tourist use). Đơn vị: m2 V/a: Tiêu chuẩn cá nhân trung bình (Individual standard). Đơn vị: số khách/m2
33
Rf: Hệ số quay vòng (Rotation factor). Rf được tính như sau:
Tổng thời gian mở cửa tham quan
Rf =
Thời gian trung bình một lần tham quan
Sức chứa thực tế (RCC – Real carrying capacity): là sức chứa tự nhiên
trừ đi các biến số điều chỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương về
sinh học, môi trường, sinh thái… RCC được tính như sau:
RCC = PCC x
x
x … x
𝟏𝟏𝟏−𝐂𝐂𝐂
𝟏𝟏𝟏−𝐂𝐂𝐂 𝟏𝟏𝟏−𝐂𝐂𝟏
𝟏𝟏𝟏 𝟏𝟏𝟏 𝟏𝟏𝟏 Trong đó: Cf là các biến số điều chỉnh. Đơn vị: %. Cf được tính như sau:
Cf = x 100
Trong đó: 𝐌𝟏 𝐌𝐌
M1: Mức độ hạn chế của biến số
Mt: Tổng số khả năng của biến số
Sức chứa cho phép (ECC – Effective carrying capacity): là sức chứa
thực tế bị hạn chế bởi mức độ quản lý du lịch. ECC được tính như sau:
ECC = RCC x X%
Trong đó: X% là mức độ quản lý chỉ đáp ứng được một tỷ lệ phần trăm yêu cầu
nhất định của hoạt động du lịch.
Như vậy, so với sức chứa tự nhiên, sức chứa cho phép thấp hơn rất nhiều lần.
Có thể xác định 4 mức độ của sức chứa cho phép là: Rất cao: >1000 khách/ngày; Cao:
750 - 1000 khách/ngày; Trung bình: 500 - 750 khách/ngày; Thấp: <500 khách/ngày.
d. Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch
Vị trí của điểm du lịch là tiêu chí quan trọng trong việc thu hút du khách. Tiêu
chí này được đánh giá bằng khoảng cách từ điểm du lịch đó đến trung tâm tập kết
khách, số phương tiện giao thông có thể sử dụng, thời gian đi đường. Có thể xác định
bằng 4 mức độ: rất thuận lợi, khá thuận lợi, bình thường và không thuận lợi.
+ Rất thuận lợi: Có khoảng cách từ 0 đến 15 km, sử dụng 3 - 4 phương tiện
giao thông, thời gian đi đường dưới 30 phút;
34
+ Thuận lợi: Có khoảng cách từ 15 đến 30 km, sử dụng 2 - 3 phương tiện giao
thông, thời gian đi đường từ 30 phút đến 1 giờ;
+ Thuận lợi trung bình: Có khoảng cách từ 30 đến 45 km, sử dụng 1 - 2 phương
tiện giao thông, thời gian đi đường từ 1 đến 2 giờ;
+ Không thuận lợi: Có khoảng cách trên 45 km, sử dụng chỉ 1 phương tiện giao
thông nhưng gặp nhiều khó khăn, thời gian đi đường trên 2 giờ.
e. CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch
Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch bao gồm mạng lưới đường giao thông, thông
tin liên lạc, hệ thống cấp điện và cấp thoát nước. CSVCKT phục vụ du lịch bao gồm
hệ thống nhà hàng, khách sạn, các cơ sở lưu trú, khu vui chơi, giải trí, thể thao, khu
dưỡng bệnh…
Tài nguyên là yếu tố cơ sở để tạo nên điểm du lịch. CSHT và CSVCKT tạo điều
kiện biến những tiềm năng thành hiện thực. CSHT đóng vai trò to lớn đối với việc
hình thành và phát triển các điểm, cụm du lịch. Trong CSHT yếu tố quan trọng hàng
đầu là mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải.
Du lịch gắn liền với việc di chuyển, việc rời nơi cư trú thường xuyên của mình
trên một khoảng cách nhất định. Có TNDL hấp dẫn nhưng chưa có khả năng khai thác
nếu thiếu hệ thống giao thông. Chỉ có giao thông vận tải thuận tiện, du lịch mới có thể
phát triển được, các điểm, cụm, tuyến du lịch mới nhanh chóng được hình thành.
Tuy nhiên, muốn đạt doanh thu du lịch cao, hiệu quả lớn, muốn lưu giữ được
khách du lịch ở lại lâu hơn thì hệ thống CSVCKT cũng có ý nghĩa rất lớn, ảnh hưởng
trực tiếp đến việc khai thác tài nguyên và phục vụ khách du lịch. Các hệ thống khách
sạn, nhà hàng, cửa hàng, nơi vui chơi, giải trí... phải đáp ứng được nhu cầu du khách.
Việc đánh giá CSHT và CSVCKT dựa trên những tiêu chí chủ yếu là: mức độ thuận
tiện trong đi lại của khách du lịch; mức độ thuận lợi về thời gian đi lại trong năm; khả
năng chứa khách du lịch của các cơ sở lưu trú; mức độ đảm bảo tiện nghi cho việc
nghỉ ngơi của khách du lịch (chất lượng của các cơ sở lưu trú). Tiêu chí này cũng được
phân thành 4 cấp: tốt, khá, trung bình và yếu.
35
+ Rất tốt: Có mạng lưới đường giao thông thuận tiện, có thể đi lại ở tất cả các
tháng trong năm, có hệ thống khách sạn đáp ứng được trên 500 người/ngày, có khách
sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao trở lên;
+ Tốt: Có mạng lưới giao thông khá thuận lợi, có thể đi lại thuận tiện 8 tháng
trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 300 đến dưới 500
người/ngày, có khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao;
+ Trung bình: Có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi, có thể đi lại thuận
tiện 6 tháng trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 100 đến 300
người, có khách sạn đạt yêu cầu;
+ Yếu: Có mạng lưới giao thông không thuận lợi, chỉ có thể hoạt động được
trong các tháng mùa khô, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được dưới 100
người, không có khách sạn, chỉ có hệ thống nhà nghỉ đạt yêu cầu.
f. Sự kết hợp đồng bộ giữa TNDL và CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch
Nếu như TNDL là một trong những yếu tố cơ sở tạo nên vùng du lịch thì
CSHT, CSVCKT tạo điều kiện biến những tiềm năng của TNDL thành hiện thực.
Giữa hai tiêu chí này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Nếu
không có CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch thì TNDL vẫn mãi mãi chỉ dưới dạng tiềm
năng. Ngược lại, nếu thiếu tài nguyên thì sẽ không có sức hấp dẫn du lịch, không có
hoạt động du lịch và không có CSVCKT phục vụ du lịch. Vì vậy, sự kết hợp đồng bộ
hai yếu tố này là một tiêu chí được đưa ra xem xét đánh giá mức độ thuận lợi của các
điểm du lịch.
Tiêu chí này được phân thành 4 cấp: kết hợp tốt, khá, trung bình và yếu.
+ Kết hợp rất tốt: Điểm du lịch có TNDL hấp dẫn, có mạng lưới giao thông
thuận lợi, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng cho trên 1000 người/ ngày;
+ Kết hợp tốt: Điểm du lịch có TNDL khá hấp dẫn, mạng lưới giao thông thuận
lợi, có hệ thống nhà nghỉ đáp ứng được từ 500 đến 1000 người/ngày;
+ Kết hợp trung bình: Điểm du lịch có TNDL tương đối hấp dẫn, có mạng lưới
giao thông khá thuận lợi, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được từ 300 đến
500 người/ngày;
36
+ Kết hợp yếu: Điểm du lịch có TNDL, nhưng thiếu cơ sở hạ tầng, hệ thống
nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng được dưới 200 người/ngày hoặc giao thông không thuận
lợi, chỉ hoạt động được dưới 4 tháng/năm.
g. Giá trị của điểm du lịch được xếp hạng
Việc xác định thứ hạng của điểm du lịch có vai trò quan trọng trong khai thác
và mở rộng hoạt động du lịch. Một di sản xếp hạng quốc gia sẽ có tầm ảnh hưởng vượt
ra khỏi địa phương và một di sản xếp hạng thế giới sẽ có tầm ảnh hưởng quốc tế. Đây
là những công nhận không phải tức thời mà cần phải có thời gian dài và thỏa mãn
những tiêu chuẩn ngặt nghèo. Do đó, thứ hạng của những điểm du lịch là một trong
những tiêu chí quan trọng để đánh giá điểm du lịch. Đề tài này sử dụng bốn bậc đánh
giá sau: Có giá trị rất cao: Điểm du lịch được xếp hạng thế giới; Có giá trị cao: Điểm
du lịch được xếp hạng quốc gia; Có giá trị trung bình: Điểm du lịch được xếp hạng
cấp tỉnh; Có giá trị thấp: Điểm du lịch chưa được xếp hạng.
h. Độ bền vững của môi trường du lịch
Khi đánh giá một điểm du lịch độ bền vững của môi trường có vai trò rất quan
trọng. Ngày nay quan điểm phát triển bền vững trở thành một quan điểm xuyên suốt
chỉ đạo các hoạt động KTXH, trong đó có du lịch. Sự suy thoái về môi trường tất yếu
sẽ dẫn đến sự suy thoái về du lịch.
+ Rất bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa rất khó bị phá hoại, nếu có thì
mức độ không đáng kể do đó chất lượng sản phẩm du lịch vẫn đảm bảo tốt giúp cho
hoạt động du lịch diễn ra liên tục;
+ Bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái ở mức độ nhẹ, khả
năng tự phục hồi và mức độ đầu tư bảo tồn không lớn giúp cho hoạt động du lịch diễn
ra thường xuyên;
+ Trung bình: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái, cần có sự tác động
của con người để bảo tồn, hoạt động du lịch bị gián đoạn;
+ Kém bền vững: các thành phần tự nhiên, văn hóa bị suy thoái nghiêm trọng
không thể sử dụng phục vụ du lịch và đòi hỏi phải có biện pháp phục hồi tích cực.
37
- Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 4 bậc, bậc 1: rất thuận lợi được 4 điểm, bậc 2:
khá thuận lợi 3 điểm, bậc 3: thuận lợi trung bình 2 điểm, bậc 4: không thuận lợi 1
điểm. Chỉ tiêu phân hạng các yếu tố này chủ yếu được vận dụng từ các nghiên cứu
trước đây do đó có sự thống nhất cao trong nghiên cứu địa lí du lịch và đã được khẳng
định trong thực tiễn. Như vậy, điểm số cho từng tiêu chí là:
a. Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch: Rất hấp dẫn: 4 điểm; hấp dẫn: 3 điểm;
hấp dẫn trung bình: 2 điểm; kém hấp dẫn: 1 điểm.
b. Thời gian hoạt động du lịch (tính thời vụ): Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm;
trung bình: 2 điểm; ngắn: 1 điểm.
c. Sức chứa khách du lịch: Rất cao: 4 điểm; cao: 3 điểm; trung bình: 2 điểm;
thấp: 1 điểm.
d. Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch: Rất thuận lợi: 4 điểm; thuận
lợi: 3 điểm; thuận lợi trung bình: 2 điểm; không thuận lợi: 1 điểm.
e. CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch: Rất tốt: 4 điểm; tốt: 3 điểm; trung bình:
2 điểm; yếu: 1 điểm.
f. Sự kết hợp đồng bộ giữa TNDL và CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch: Kết
hợp rất tốt: 4 điểm; kết hợp tốt: 3 điểm ; kết hợp trung bình: 2 điểm; kết hợp yếu: 1
điểm.
g. Giá trị của điểm du lịch được xếp hạng: Có giá trị rất cao: 4 điểm; Có giá trị
cao: 3 điểm; Có giá trị trung bình: 2 điểm; Có giá trị thấp: 1 điểm.
h. Độ bền vững của môi trường du lịch: Rất bền vững: 4 điểm; bền vững: 3
điểm; trung bình: 2 điểm; kém bền vững: 1 điểm.
- Chọn hệ số và đánh giá điểm tổng hợp cho các tiêu chí
Trên thực tế, các tiêu chí lựa chọn có mức độ quan trọng khác nhau đối với việc
đánh giá tổng hợp điểm. Vì thế, để đảm bảo cho kết quả đánh giá được chính xác và
khách quan cần xác định thêm hệ số cho các yếu tố quan trọng hơn. Trên cơ sở nghiên
cứu thực địa và kế thừa các nghiên cứu của các tác giả đi trước, xác định hệ số như
sau:
38
Hệ số 3 bao gồm: TNDL, sự đồng bộ về TNDL và CSHT, CSVCKT, giá trị xếp
hạng. Du lịch là ngành có sự định hướng rất rõ về tài nguyên. TNDL tạo nên điểm,
cụm, tuyến du lịch. TNDL càng hấp dẫn thì thu hút khách du lịch càng đông, vì vậy,
tiêu chí này được đánh giá hệ số cao nhất, hệ số 3. Nhưng nếu có TNDL mà CSHT,
CSVCKT phục vụ du lịch chưa hoàn thiện thì TNDL vẫn chỉ dưới dạng tiềm năng,
không có hiệu quả kinh tế. Bởi thế, tiêu chí sự đồng bộ về TNDL và CSHT, CSVCKT
cũng được xác định hệ số 3. Giá trị của điểm du lịch khi được xếp hạng có tầm quan
trọng đặc biệt. Nó thể hiện tầm vóc của điểm du lịch đó trên nhiều khía cạnh: tài
nguyên, khả năng thu hút du khách, chất lượng dịch vụ… trong một thời gian dài và
tạo nên thương hiệu của điểm du lịch đó.
Hệ số 2 bao gồm: Thời gian hoạt động du lịch, sức chứa khách du lịch, CSHT
và CSVCKT, độ bền vững của môi trường. Thời gian hoạt động du lịch thể hiện tính
mùa vụ trong du lịch và ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động du lịch. Sức chứa du
khách thể hiện khả năng tiếp nhận khách du lịch tại một địa điểm. Nó ảnh hưởng đến
số khách tối đa, đến doanh thu và việc đầu tư cho một điểm du lịch. CSHT và
CSVCKT bao gồm hệ thống đường, điện, cơ sở lưu trú, hệ thống nhà hàng, khách sạn,
khu vui chơi giải trí. Nếu những điều kiện trên đây thuận lợi thì hiệu quả kinh doanh
du lịch cao hơn. Độ bền vững của môi trường có tác dụng duy trì các hoạt động du lịch
không bị gián đoạn cũng như tăng sức hấp dẫn đối với du khách. Trong nhiều trường
hợp, môi trường có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của hoạt động du lịch, ví dụ
như du lịch nghỉ dưỡng. Ngày nay, trên quan điểm phát triển bền vững, môi trường là
một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá tính lâu dài của hoạt động du lịch. Bởi
thế, các tiêu chí này được xác định hệ số 2 khi đánh giá điểm du lịch.
Hệ số 1 có: Vị trí và khả năng tiếp cận. Vị trí của điểm du lịch là một cơ sở để
đánh giá mức độ thuận lợi. Nếu điểm du lịch gần đường giao thông, gần khu đô thị thì
sẽ tiện lợi, thu hút khách đông. Tuy nhiên, nếu điểm du lịch ở xa đường giao thông, xa
đô thị, nhưng có TNDL hấp dẫn, có các điều kiện về CSHT tốt thì vẫn hấp dẫn khách
du lịch, vì vậy tiêu chí này xác định hệ số 1. Kết quả đánh giá được thể hiện ở bảng
1.1:
39
Bảng 1.1. Bảng đánh giá tổng hợp điểm du lịch
Bậc số Các chỉ số Hệ số 4 3 2 1
Độ hấp dẫn của TNDL 12 3 9 6 3
Kết hợp giữa TNDL và CSHT, CSVCKT 12 3 9 6 3
Giá trị được xếp hạng 12 3 9 6 3
Thời gian hoạt động du lịch 8 2 6 4 2
Sức chứa khách du lịch 8 2 6 4 2
CSHT và CSVCKT 8 2 6 4 2
Độ bền vững của môi trường 8 2 6 4 2
Vị trí và khả năng tiếp cận 4 1 3 2 1
Tổng số 72 54 36 18
Qua bảng tổng hợp điểm trên, điểm số được phân thành 3 bậc. Bậc 1 từ 54 – 72
điểm, bậc 2 từ 36 – 53 điểm, bậc 3 từ 18 – 35 điểm. Mỗi bậc có mức độ thuận lợi và có
ý nghĩa khác nhau. Điểm tối đa là 72 điểm, tối thiểu là 18 điểm. Như vậy, các điểm du
lịch sẽ được đánh giá từ 18 đến 72 điểm. Mỗi bậc điểm có ý nghĩa khác nhau. Ý nghĩa
của các điểm du lịch được xác định như trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của điểm du lịch
STT Mức độ đánh giá Điểm số
1 Rất thuận lợi (có ý nghĩa quốc gia, quốc tế) 54 - 72
2 Thuận lợi (có ý nghĩa vùng) 36 - 53
3 Không thuận lợi (có ý nghĩa địa phương) 18 - 35
1.1.6.2. Đánh giá cụm du lịch
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cụm du lịch
Căn cứ trên thực tiễn phát triển du lịch tỉnh Phú Yên, TNDL, các điều kiện
KTXH và kế thừa các nghiên cứu của các tác giả trước, luận văn xây dựng hệ thống
40
tiêu chí đánh giá cụm du lịch gồm: Số lượng TNDL trong cụm; Thời gian có thể hoạt
động du lịch;CSHT và CSVCKT.
Trong TCLTDL cấp tỉnh thì cụm du lịch có vai trò quan trọng trong việc định
hướng khai thác, sử dụng tài nguyên và phát triển du lịch. Số lượng TNDL là tiêu chí
quan trọng để có thể phân loại các cụm, cụm nào có nhiều TNDL sẽ có tiềm năng phát
triển hơn các cụm ít TNDL. Nhưng có TNDL mà thời gian hoạt động du lịch ít thì hiệu
quả kinh doanh du lịch không cao, vì thế thời gian hoạt động du lịch được coi là một
tiêu chí quan trọng. CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch là tiêu chí để đánh giá mức độ
thuận lợi của các cụm du lịch. Nếu nhiều tài nguyên, nhưng hệ thống CSHT và
CSVCKT yếu kém thì doanh thu du lịch không cao, số ngày lưu trú ngắn.
a. Số lượng tài nguyên du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ nét. Tài
nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ, hình thành chuyên môn
hoá và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch trong mỗi cụm. Số lượng và chất lượng
tài nguyên rất cần thiết trong việc xác định quy mô hoạt động du lịch.
Số lượng tài nguyên du lịch được đánh giá bằng 4 mức độ:
+ Rất nhiều: cụm du lịch có từ 31 tài nguyên du lịch trở lên, mật độ >0,04 tài
nguyên/km2.
+ Nhiều: cụm du lịch có từ 21 đến 30 tài nguyên du lịch, mật độ từ hơn 0,025 -
0,04 tài nguyên/km2.
+ Trung bình: cụm du lịch có từ 10 đến 20 tài nguyên du lịch, mật độ từ 0,01 -
0,025 tài nguyên/km2.
+ Ít: cụm du lịch có dưới 10 tài nguyên du lịch, mật độ dưới 0,01 tài
nguyên/km2.
b. Thời gian hoạt động du lịch
Thời gian hoạt động du lịch là khoảng thời gian trong năm có khả năng tổ chức
các hoạt động du lịch. Thời gian có thể khai thác sẽ quyết định tính mùa, tính nhịp
điệu của dòng khách du lịch. Thời gian này được căn cứ vào các điều kiện khí hậu để
đánh giá. Tiêu chí này được chia thành 4 mức độ:
41
+ Rất dài: cụm có trên 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các hoạt động
du lịch và có điều kiện khí hậu thích hợp nhất với sức khoẻ của con người;
+ Dài: cụm có từ 150 đến dưới 200 ngày trong năm có thể triển khai tốt các
hoạt động du lịch và có điều kiện khí hậu thích hợp với sức khoẻ của con người;
+ Trung bình: cụm có từ 100 ngày đến dưới 150 ngày trong năm có thể triển
khai tốt các hoạt động du lịch và có điều kiện khí hậu tương đối thích hợp với sức
khoẻ của con người;
+ Ngắn: cụm có dưới 100 ngày trong năm có thể triển khai các hoạt động du
lịch và có điều kiện khí hậu tương đối thích hợp với sức khoẻ của con người;
c. CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch
Nếu như TNDL là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch thì
CSHT và CSVCKT tạo điều kiện biến những tiềm năng của tài nguyên trở thành hiện
thực. Giữa hai tiêu chí này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho
nhau. Nếu không có CSHT và CSVCKT tốt thì TNDL sẽ chỉ mãi mãi dưới dạng tiềm
năng. Các cụm du lịch có CSHT, CSVCKT tốt thì hấp dẫn khách du lịch, đồng thời có
thể lưu giữ khách du lịch lâu hơn, doanh thu du lịch lớn hơn. Tiêu chí này được đánh
giá ở sự tiện lợi của giao thông, ở sức chứa của khách sạn, nhà hàng và được chia
thành 4 mức độ: Tốt, khá, trung bình và yếu.
+ CSHT và CSVCKT rất tốt là các cụm du lịch có giao thông vận tải thuận tiện,
tất cả các loại phương tiện có thể hoạt động được đến các điểm du lịch trong cụm, hoạt
động du lịch được từ 8 đến 12 tháng trong năm, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn, nhà
hàng đáp ứng được trên 1.000 người/ngày;
+ CSHT và CSVCKT tốt là các cụm du lịch có giao thông vận tải khá thuận lợi,
tất cả các loại phương tiện có thể đến được phần lớn các điểm du lịch trong cụm, chỉ
còn lại từ 1 đến 2 điểm không hoạt động được, có thể hoạt động du lịch được từ 6 đến
8 tháng, có hệ thống nhà nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho từ 500 đến dưới 1000
người/ngày;
+ CSHT và CSVCKT trung bình các cụm du lịch có giao thông vận tải khá
thuận lợi, chỉ có các loại phương tiện ô tô dưới 30 chỗ ngồi hoạt động được ở tất cả
các điểm du lịch, còn lại các loại ô tô trên 30 chỗ ngồi không hoạt động được ở các
42
điểm du lịch. Hoạt động du lịch trong cụm được từ 4 đến 6 tháng, có hệ thống nhà
nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho từ 300 đến dưới 500 người/ngày;
+ CSHT và CSVCKT kém là cụm du lịch có giao thông vận tải không thuận lợi,
chỉ có phương tiện giao thông dưới 16 chỗ ngồi có thể hoạt động được ở tất cả các
điểm du lịch trong cụm, có thể hoạt động du lịch được dưới 4 tháng, có hệ thống nhà
nghỉ, khách sạn đáp ứng nhu cầu cho dưới 300 người/ngày.
- Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
Điểm số đánh giá cho từng thang bậc cũng tương tự như đánh giá điểm du lịch
và được xác định với 4,3,2,1 điểm tuỳ theo mức độ đánh giá.
a. Số lượng tài nguyên du lịch trong cụm:
Rất nhiều: 4 điểm; nhiều: 3 điểm; trung bình: 2 điểm; ít:1 điểm.
b. Thời gian hoạt động du lịch:
Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm; trung bình: 2 điểm; ngắn:1 điểm.
c. CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch:
Rất tốt: 4 điểm; tốt: 3 điểm; trung bình: 2 điểm; kém: 1 điểm.
- Xác định hệ số và đánh giá tổng hợp cụm du lịch
Điểm đánh giá tổng hợp cụm du lịch là tổng số điểm của từng tiêu chí được xác
định qua việc nhân hệ số với các bậc số của từng tiêu chí. Số lượng TNDL được xác
định hệ số 3 vì đây là yếu tố rất quan trọng. TNDL là cơ sở đầu tiên để phát triển du
lịch. Cụm nào càng nhiều TNDL thì mức độ thuận lợi càng cao. Thời gian hoạt động
du lịch trong cụm được xác định hệ số 3 vì thời gian hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng
lớn đến doanh thu du lịch, hiệu quả khai thác của các cụm du lịch. Cụm nào có thời
gian hoạt động nhiều thì lượng khách đông và doanh thu du lịch lớn.
CSHT và CSVCKT được xác định hệ số 2. CSHT và CSVCKT đáp ứng nhu
cầu cho du khách trong việc đi lại, ăn nghỉ, thưởng thức những giá trị văn hoá, nghệ
thuật. Nếu đáp ứng tốt nhu cầu của du khách thì doanh thu sẽ cao hơn, số lượng khách
đông hơn. Kết quả đánh giá tổng hợp được thể hiện trong bảng 1.3.
43
Bảng 1.3. Bảng đánh giá tổng hợp cụm du lịch
Bậc số Các chỉ số Hệ số 3 2 1 4
Số lượng tài nguyên du lịch 9 6 3 12 3
Thời gian hoạt động du lịch 9 6 3 12 3
CSHT và CSVCKT 6 4 2 8 2
Tổng số 24 18 8 32
Qua bảng tổng hợp điểm trên, điểm số được phân thành 3 bậc. Bậc 1 từ 24 - 32
điểm, bậc 2 từ 18 - 23 điểm, bậc 3 từ 8 - 17 điểm. Mỗi bậc có mức độ thuận lợi và có ý
nghĩa khác nhau. Điểm tối đa là 32 điểm, tối thiểu là 8 điểm. Như vậy, các cụm du lịch
sẽ được đánh giá từ 8 đến 32 điểm. Tổng hợp ý nghĩa của từng cụm du lịch được xác
định như trong bảng 1.4.
Bảng 1.4. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của cụm du lịch
STT Mức độ đánh giá - ý nghĩa Điểm số
1 Rất thuận lợi 24 - 32
2 Thuận lợi 18 - 23
3 Không thuận lợi 8 - 17
1.1.6.3. Đánh giá tuyến du lịch
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá tuyến du lịch
Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du
lịch gắn với các tuyến giao thông. Tuyến du lịch là cơ sở quan trọng để các nhà cung
cấp dịch vụ xây dựng các tour du lịch. Trong mỗi địa phương đều có các tuyến du lịch
nối các điểm du lịch trong tỉnh gọi là tuyến du lịch nội tỉnh, tuyến du lịch nối các điểm
du lịch của các tỉnh bạn hay nước bạn là tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế. Để đánh giá
các tuyến du lịch có thể có nhiều tiêu chí khác nhau, luận văn xây dựng hệ thống các
tiêu chí bao gồm: Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến; Độ hấp dẫn của
44
tài nguyên du lịch; Sự tiện lợi về giao thông vận tải; Sự đồng bộ về cơ sở vật chất;
Thời gian có thể hoạt động du lịch.
Điểm số đánh giá cho các tiêu chí cũng được xác định bằng bốn bậc 4,3,2,1 như
đánh giá điểm và cụm du lịch.
a. Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến
Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến được xác định bằng tỷ số
giữa số lượng tài nguyên du lịch trong tuyến với chiều dài tuyến du lịch. Có tuyến lộ
trình ngắn nhưng lại có nhiều điểm du lịch sẽ thuận lợi và hấp dẫn du khách, những
tuyến du lịch có lộ trình dài và ít điểm du lịch sẽ ít hấp dẫn du khách. Vì thế, tiêu chí
này rất quan trọng và được đánh giá với 4 cấp độ:
+ Rất cao: số lượng TNDL trung bình là 0,4 tài nguyên/km;
+ Cao: số lượng tài nguyên du lịch trung bình từ 0,2 đến dưới 0,4 tài
nguyên/km;
+ Trung bình: số lượng TNDL trung bình từ 0,1 đến dưới 0,2 tài nguyên/km;
+ Thấp: số lượng TNDL trung bình dưới 0,1 tài nguyên/km.
b. Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch trong tuyến
Trong tuyến du lịch nếu có TNDL hấp dẫn thì thu hút khách đông, doanh thu
cao. Nếu TNDL càng đặc sắc, càng hấp dẫn khách du lịch. Đây cũng được xem là tiêu
chí quan trọng để xác định các tuyến thuận lợi có sức thu hút khách cao và những
tuyến không thuận lợi, ít thu hút khách. Tiêu chí này được đánh giá bằng 4 mức độ:
+ Rất hấp dẫn: là tuyến có ít nhất 5 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia.
+ Hấp dẫn: là tuyến có ít nhất 3 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia.
+ Hấp dẫn trung bình: là tuyến có ít nhất 1 điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia.
+ Kém hấp dẫn: là tuyến không có điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia.
c. Sự tiện lợi về giao thông vận tải
Trong hoạt động du lịch thì giao thông có ý nghĩa quan trọng. Những tuyến du
lịch tiện lợi về giao thông sẽ có hiệu quả kinh doanh du lịch cao và ngược lại. Chính vì
thế, để đánh giá khả năng hoạt động của các tuyến du lịch, đồng thời có những giải
pháp để đầu tư, khai thác các điểm, tuyến du lịch có hiệu quả thì tiêu chí về giao thông
là quan trọng. Có 4 cấp độ:
45
+ Rất tiện lợi: là những tuyến có các điểm du lịch nằm dọc đường quốc lộ,
đường đến các điểm du lịch đã được đầu tư nâng cấp, có thể hoạt động du lịch được cả
ngày mưa và ngày nắng;
+ Tiện lợi: là những tuyến du lịch nằm ở trục đường quốc lộ có thể có 1 đến 2
điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ không quá 10 km, nhưng vẫn hoạt động được cả
ngày mưa và ngày nắng;
+ Tiện lợi trung bình: là những tuyến có điểm du lịch nằm gần quốc lộ hay tỉnh
lộ, có từ 1 đến 2 điểm du lịch nằm xa đường quốc lộ từ 10 đến 20 km;
+ Kém tiện lợi: là những tuyến du lịch có các điểm du lịch nằm cách xa quốc
lộ, tuyến du lịch này chỉ thực hiện được trong những ngày nắng.
d. Chất lượng CSVCKT phục vụ du lịch
Mục đích của hoạt động du lịch là thưởng thức các giá trị vật chất và tinh thần.
Du khách sẽ cảm thấy hài lòng khi các điều kiện vật chất được thoả mãn. Điều kiện du
lịch, sinh hoạt tiện nghi sẽ thu hút và lưu giữ được du khách lâu hơn, doanh thu du lịch sẽ
lớn hơn. Trong thực tế có những điểm du lịch có TNDL hấp dẫn, nhưng điều kiện về
CSVCKT không đáp ứng được cho nhu cầu của du khách thì số ngày lưu trú thấp, doanh
thu du lịch thấp. Tiêu chí này được chia thành 4 cấp: Tốt, khá, trung bình và yếu.
+ CSVCKT rất tốt: Tuyến du lịch có nhiều điểm có thể nghỉ ngơi tiện lợi, có từ
3 khách sạn một sao trở lên.
+ CSVCKT tốt: Tuyến du lịch có 2 đến 3 khách sạn một sao trở lên.
+ CSVCKT trung bình: Tuyến du lịch có 1 khách sạn một sao và có hệ thống
nhà nghỉ có thể đáp ứng nhu cầu cho du khách ở mức độ trung bình.
+ CSVCKT kém: Những tuyến du lịch không có khách sạn có sao, chỉ có hệ
thống nhà nghỉ ở mức độ trung bình.
e. Thời gian có thể hoạt động du lịch
Khí hậu Phú Yên mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Lượng mưa tương đối
lớn và có sự phân hoá rõ nét theo mùa. Mùa mưa vào thu - đông không thuận lợi cho
hoạt động du lịch. Mùa khô vào tháng 6, 7 ,8 có gió phơn Tây Nam cũng không thích
hợp cho du lịch. Nếu thời tiết tốt, không mưa, ấm áp sẽ rất thuận lợi cho hoạt động du
lịch. Thời gian hoạt động du lịch càng nhiều thì doanh thu du lịch càng cao. Vì vậy,
46
đây cũng được coi là một tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ thuận lợi của các
tuyến du lịch.
Thời gian hoạt động của các điểm du lịch được xác định là số ngày có thể hoạt
động được du lịch. Tiêu chí này được phân thành 4 cấp: rất dài, dài, trung bình và ngắn.
+ Rất dài: có trên 200 ngày trong năm triển khai tốt các hoạt động du lịch;
+ Dài: có từ 150 đến 200 ngày trong năm triển khai tốt các hoạt động du lịch;
+ Trung bình: có từ 100 đến dưới 150 ngày triển khai tốt các hoạt động du lịch;
+ Ngắn: có dưới 100 ngày có thể triển khai các hoạt động du lịch.
- Xác định điểm cho các tiêu chí đánh giá
a. Số lượng tài nguyên du lịch trung bình trong tuyến: Rất cao: 4 điểm; cao: 3
điểm; trung bình: 2 điểm; thấp: 1 điểm.
b. Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch trong tuyến: Rất hấp dẫn: 4 điểm; hấp
dẫn: 3 điểm; hấp dẫn trung bình: 2 điểm; kém hấp dẫn: 1 điểm.
c. Sự tiện lợi về giao thông vận tải: Rất tiện lợi: 4 điểm; tiện lợi: 3 điểm; tiện
lợi trung bình: 2 điểm; kém tiện lợi: 1 điểm.
d. Chất lượng CSVCKT phục vụ du lịch: CSVCKT rất tốt: 4 điểm; tốt: 3 điểm;
trung bình: 2 điểm; kém: 1 điểm.
e. Thời gian có thể hoạt động du lịch: Rất dài: 4 điểm; dài: 3 điểm; trung bình:
2 điểm; ngắn: 1 điểm.
- Xác định hệ số và đánh giá tổng hợp tuyến du lịch
Trên cơ sở thực tiễn, luận văn xác định tiêu chí có ảnh hưởng lớn đến hoạt động
du lịch có hệ số cao nhất là số lượng TNDL trung bình trong tuyến, độ hấp dẫn của
TNDL, thời gian hoạt động du lịch trong tuyến. Hệ số 2 là sự tiện lợi về GTVT, sự
đồng bộ về CSVCKT và CSHT.
Số lượng TNDL trung bình trong tuyến có ảnh hưởng lớn đến việc lựa chọn
tuyến du lịch. Tâm lí chung của khách du lịch là không muốn ngồi trên xe lâu. Nếu
tuyến nào có nhiều TNDL trên quãng đường ngắn thì sẽ tiện lợi hơn, gây tâm lí thoải
mái cho khách. Tiêu chí này được xác định hệ số 3.
Tuyến du lịch có TNDL hấp dẫn, độc đáo, có nhiều điểm có ý nghĩa quốc gia,
quốc tế, có nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng thì thu hút khách đông. Tiêu chí này đôi
47
khi có tính quyết định đến việc lựa chọn cuộc hành trình, vì thế tiêu chí này cũng được
xác định hệ số 3. Thời gian hoạt động du lịch trong tuyến quyết định tính mùa, tính
nhịp điệu của dòng khách du lịch và cũng được xác định hệ số 3. Sự tiện lợi về GTVT
và sự đồng bộ về CSVCKT được xác định hệ số 2. Giao thông tiện lợi hấp dẫn khách
tham quan, CSVCKT hoàn thiện thì thời gian lưu trú của khách lớn hơn, doanh thu cao
hơn, nên 2 tiêu chí này được xác định là khá quan trọng, do đó xác định hệ số 2. Tổng
hợp điểm ta có kết quả như bảng 1.5.
Bảng 1.5. Bảng đánh giá tổng hợp tuyến du lịch
Bậc số Các chỉ số Hệ số 3 4 2 1
Số lượng TNDL trung bình 9 12 6 3 3
Độ hấp dẫn của TNDL 9 12 6 3 3
Thời gian hoạt động du lịch trong tuyến 9 12 6 3 3
Sự tiện lợi về GTVT 6 8 4 2 2
Sự đồng bộ về CSVCKT 6 8 4 2 2
Tổng số 52 39 26 13
Qua bảng tổng hợp điểm, có 3 bậc đánh giá mức độ thuận lợi của các tuyến du
lịch. Bậc 1 là tuyến du lịch thuận lợi được đánh giá bằng 14 bậc điểm (từ 39 - 52
điểm). Bậc 2, tương đối thuận lợi đánh giá bằng 13 bậc điểm (từ 26 - 38 điểm). Bậc 3,
không thuận lợi được đánh giá bằng 13 bậc điểm (từ 13 - 25). Tuyến ít thuận lợi nhất
được đánh giá là 13 điểm, tuyến cao nhất là 52 điểm. Tổng hợp mức độ thuận lợi của
các tuyến du lịch được xác định trong bảng 1.6.
Bảng 1.6. Bảng đánh giá mức độ thuận lợi của tuyến du lịch
STT Mức độ đánh giá Điểm số
1 Rất thuận lợi 39 - 52
2 Thuận lợi 26 – 38
3 Không thuận lợi 13 – 25
48
1.2. Cơ sở thực tiễn của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.1. Tổ chức lãnh thổ du lịch ở Việt Nam
Nước ta có nhiều phong cảnh đẹp, có nhiều di sản thế giới như Vịnh Hạ Long,
Cố Đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Động Phong Nha - Kẻ Bàng, Lễ hội
Cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc cung đình Huế… Đây là tiềm năng rất lớn để phát
triển du lịch. Ngoài các di sản thế giới, trên khắp mọi miền đất nước còn có nhiều nơi
hấp dẫn từ các bãi biển đến các lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa… Với tiềm năng to lớn
và những lợi ích kinh tế mang lại, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến việc
phát triển ngành du lịch. CSHT và CSVCKT được đầu tư nhiều hơn và ngày càng
hoàn thiện, các sản phẩm du lịch ngày càng hấp dẫn, lao động trong ngành du lịch đã
tăng đáng kể và đã được đào tạo cơ bản, công tác tuyên truyền quảng bá, giới thiệu
hình ảnh của đất nước ngày càng được chú trọng. Giai đoạn 1995 – 2010, du lịch đã
đóng góp đáng kể cho GDP với tỷ trọng từ 3,21% (1995) tăng lên 5,8% (2010). Du
lịch đã tạo ra trên 1,4 triệu việc làm chiếm 3,8% tổng lao động, trong đó có trên
470.000 lao động trực tiếp. Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn
1995 - 2010 tăng nhanh với tốc độ trung bình cả giai đoạn đạt 9,6%/năm (năm 2010
đạt 5 triệu lượt khách, năm 2013 đạt trên 7,5 triệu lượt khách). Thu nhập du lịch ngày
một tăng và năm 2010 đạt 98,1 nghìn tỷ đồng. Năm 2010, cả nước có 12.089 cơ sở lưu
trú với 236.747 buồng đạt tiêu chuẩn, trong đó có 381 cơ sở lưu trú du lịch được xếp
hạng từ 3 sao đến 5 sao với 41.041 buồng [31, trang 28 - 31].
Công tác tổ chức lãnh thổ du lịch từ sau năm 1990, đặc biệt từ năm 1994 đến
nay đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Công tác lập quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch đã được ngành du lịch, chính quyền các tỉnh, thành phố quan tâm thực hiện và đã
đạt được một số kết quả nhất định. Các kết quả đã đạt được như: “Quy hoạch tổng thể
phát triển du lịch Việt Nam thời kì 1995 - 2010”, “Chiến lược phát triển du lịch Việt
Nam 2001 - 2010”, “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030”, “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030”… Các quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đã tạo ra những cơ sở quan
trọng để các tỉnh, thành phố trong cả nước tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch đầu tư
phát triển du lịch, quản lý thực hiện các dự án đầu tư. Quy hoạch phát triển du lịch là
49
căn cứ pháp lý để các thành phần kinh tế tổ chức triển khai đầu tư, kinh doanh du lịch.
TCLTDL trên phạm vi cả nước được tổ chức theo hệ thống phân vị các vùng, á vùng,
địa bàn trọng điểm, tiểu vùng, trung tâm, khu du lịch, tuyến du lịch, điểm và đô thị du
lịch.
Trước đây, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 phân
chia lãnh thổ du lịch Việt Nam thành 3 vùng: Vùng du lịch Bắc Bộ, Vùng Bắc Trung
Bộ, Vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Thực tiễn phát triển du lịch trong giai đoạn này
cho thấy rằng việc phân chia như trên đã tạo ra những vùng du lịch với diện tích quá
rộng. Điều này đã gây không ít khó khăn để tạo tính liên kết nội vùng và liên vùng một
cách thường xuyên. Măt khác diện tích vùng rộng lớn nên khó có thể khai thác hiệu
quả tính tương đồng về mặt tài nguyên để tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng. Do đó,
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030, tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam thành 7 vùng du lịch với những sản
phẩm đặc trưng theo từng vùng; 46 khu du lịch quốc gia; 41 điểm du lịch quốc gia; 12
đô thị du lịch và một số khu, điểm du lịch quan trọng khác tạo động lực thúc đẩy phát
triển du lịch cho các vùng và cả nước. Các vùng du lịch:
- Vùng Trung du, miền núi Bắc Bộ: gồm 14 tỉnh, thành phố: Hòa Bình, Sơn La,
Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn,
Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Bắc Giang. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du
lịch văn hóa, sinh thái gắn với du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số.
- Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc gồm 11 tỉnh/thành phố:
Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Ninh
Bình, Nam Định, Hải Phòng và Quảng Ninh. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch
tham quan thắng cảnh biển, du lịch văn hóa, du lịch đô thị, MICE.
- Vùng Bắc Trung Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Sản phẩm du lịch đặc trưng là tham quan
tìm hiểu các di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới, du lịch biển, du lịch sinh thái, tìm
hiểu văn hóa – lịch sử và du lịch đường biên.
- Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh, thành phố: Thành phố Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
50
Sản phẩm du lịch đặc trưng là tham quan tìm hiểu các di sản văn hóa thế giới, du lịch
nghỉ dưỡng biển, đảo.
- Vùng Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm
Đồng. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa trên cơ sở khai
thác các giá trị văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số.
- Vùng Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố: TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du
lịch đô thị, du lịch MICE, du lịch tìm hiểu lịch sử - văn hóa, du lịch sinh thái và nghỉ
dưỡng biển, đảo.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long gồm 13 tỉnh, thành phố: TP Cần Thơ, Long
An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre, Trà
Vinh, Vĩnh Long, Tiền Giang, Hậu Giang. Sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch sinh
thái, khai thác các giá trị văn hóa sông nước miệt vườn, du lịch nghỉ dưỡng và sinh
thái biển, đảo, du lịch MICE.
Phát triển hệ thống tuyến du lịch:
- Tuyến theo đường hàng không: Từ các sân bay thuộc trung tâm quốc gia và
các sân bay quan trọng khác.
- Tuyến theo đường bộ: Theo hệ thống các quốc lộ lớn nối các vùng du lịch và
đường Hồ Chí Minh.
- Tuyến theo đường biển: Liên kết các đảo ven bờ và các tuyến Đà Nẵng -
Hoàng Sa; Nha Trang - Trường Sa và đường Hồ Chí Minh trên biển.
- Tuyến theo đường sông: Theo hệ thống sông Hồng và sông Mê Kông.
-Tuyến theo đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam; Hà Nội - Hải Phòng; Hà
Nội - Lào Cai và Hà Nội - Lạng Sơn.
Chú trọng phát triển tuyến đường biển và tuyến đường bộ dọc biên giới.
- Các tuyến du lịch chuyên đề: Về nguồn tìm hiểu văn hóa các dân tộc Việt
Nam; khám phá biển, đảo; di sản; sinh thái núi, rừng; MICE; làng nghề; cộng đồng và
nông nghiệp, nông thôn; du thuyền, tàu biển; sông, hồ; lễ hội, tâm linh.
- Tuyến du lịch liên kết các quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan,
Trung Quốc…
51
Nhìn chung, quy hoạch tổ chức lãnh thổ du lịch trên phạm vi cả nước được phê
duyệt đã tạo cơ hội thu hút nhiều nguồn lực và các thành phần kinh tế tham gia. Thị
trường du lịch đã được mở rộng, sản phẩm du lịch ngày càng được đa dạng hoá và hấp
dẫn du khách nhiều hơn. Hệ thống CSVCKT du lịch từng bước được xây dựng đồng
bộ, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn về số lượng khách, doanh thu và chi
tiêu trung bình của khách du lịch, tăng GDP du lịch, giải quyết việc làm, xoá đói giảm
nghèo, tạo tiền đề để đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của các địa phương và
của cả nước.
Mặc dù có những thành tựu đáng kể, nhưng TCLTDL Việt Nam vẫn còn có một
số hạn chế như việc điều tra, đánh giá tài nguyên và môi trường du lịch chưa đồng bộ
và kỹ lưỡng nên việc lập quy hoạch phát triển chưa mang tính khả thi cao, chưa khai
thác hết được những thế mạnh của các địa phương, lại trùng lặp sản phẩm du lịch và
mâu thuẫn lợi ích. Loại hình sản phẩm du lịch chưa phong phú, chất lượng không đồng
đều. Nhiều địa phương còn thiếu những điểm, khu du lịch với những sản phẩm đặc
thù, chất lượng cao, sức cạnh tranh lớn. Công tác đầu tư phát triển du lịch, đặc biệt là
CSVCKT và CSHT chưa đồng bộ, nhất là ở các tỉnh miền núi. Việc phát triển giao
thông tới các điểm du lịch chưa tốt, chưa hấp dẫn khách du lịch. Công tác lập quy
hoạch phát triển du lịch tuy đã được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư nhưng còn
chậm, chưa đáp ứng nhu cầu quản lý và phát triển du lịch.
Những thành tựu, những hạn chế của ngành du lịch và công tác tổ chức lãnh thổ
du lịch là những cơ sở để Việt Nam hạn chế khó khăn, tiếp tục khai thác lợi thế đưa du
lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước và của nhiều tỉnh thành.
1.2.2. Tổ chức lãnh thổ du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng du lịch Duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích: 44.360,7km², dân số:
8.984.000 người (2012). Các dân tộc sinh sống trong vùng gồm: Kinh, Hrê, Cơ Ho, Xơ
Đăng, Chăm, Ba Na, Ê Đê, Ra Glai, Giẻ Triêng, Hoa, Chu Ru… Vùng gồm 8 tỉnh,
thành phố: TP Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,
Ninh Thuận, Bình Thuận, gắn với vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, với hệ thống
biển đảo Nam Trung Bộ. Các địa bàn du lịch trọng điểm: Đà Nẵng - Quảng Nam, Nha
Trang - Ninh Chữ, Phan Thiết - Mũi Né.
52
Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí địa lý thuận lợi: gần TP Hồ Chí Minh và
khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ; là cửa ngõ của Tây Nguyên; cửa
ngõ của tuyến đường xuyên Á thông ra đường hàng hải quốc tế. Đặc điểm chung của
các tỉnh là lưng dựa vào dãy Trường Sơn, mặt nhìn ra biển Đông. Vùng có địa hình
phức tạp, đồi - núi - rừng - biển đan xen tạo nên nhiều kỳ quan, thắng cảnh hùng vĩ
cùng những bãi tắm thơ mộng. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để các tỉnh trong khu
vực phát triển du lịch mà trọng tâm là du lịch biển - đảo.
Tài nguyên du lịch:
Các tài nguyên du lịch điển hình gồm có:
- Các tài nguyên tự nhiên gắn với biển đảo duyên hải.
- Các di sản văn hóa gắn với văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Chămpa.
- Di tích gắn với khởi nghĩa Tây Sơn, di tích lịch sử cách mạng.
- Bản sắc văn hóa các dân tộc ít người phía Đông Trường Sơn.
Các điểm tài nguyên nổi bật: Bà Nà, Sơn Trà (Đà Nẵng); Hội An, Mỹ Sơn, Cù
Lao Chàm (Quảng Nam); Mỹ Khê, Trường Lũy, Lý Sơn (Quảng Ngãi); Phương Mai,
Quy Nhơn (Bình Định), Vịnh Xuân Đài, Đầm Ô Loan (Phú Yên); Nha Trang, Cam
Ranh, Trường Sa (Khánh Hòa); Cà Ná, Phan Rang (Ninh Thuận); Mũi Né (Bình
Thuận)... Tài nguyên du lịch biển, đảo và di tích lịch sử - văn hoá dân tộc là nguồn lực
quan trọng, trong đó nổi bật là dải Đà Nẵng - Non Nước - Hội An (Quảng Nam - Đà
Nẵng) và Nha Trang - vịnh Cam Ranh (Khánh Hoà), đặc biệt vịnh Cam Ranh có thể
phát triển thành điểm du lịch biển, đảo có tầm cỡ quốc tế.
Hệ thống giao thông:
- Đường bộ: Hệ thống đường bộ có QL 1A, QL 19, QL 24, QL 25, QL 26, QL
27, QL 28, QL 29… và các tuyến đường tỉnh lộ khác.
- Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua các tỉnh của vùng.
- Đường không: sân bay Đà Nẵng, Chu Lai, Tuy Hòa, Cam Ranh, trong đó Đà
Nẵng, Cam Ranh là các sân bay quốc tế.
- Đường biển: cảng biển Đà Nẵng, Chu Lai, Dung Quất, Kỳ Hà, Quy Nhơn,
Nha Trang, Phan Thiết.
Hệ thống đô thị:
53
- 1 Thành phố trực thuộc Trung ương là Đà Nẵng (đô thị loại 1).
- Các thành phố tỉnh lỵ: Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha
Trang, Tháp Chàm, Phan Thiết.
Cửa khẩu biên giới và khu kinh tế cửa khẩu:
- Đường không: Sân bay Đà Nẵng và sân bay Cam Ranh.
- Đường thủy: Cảng Đà Nẵng, Nha Trang…
Các định hướng phát triển chính:
Các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu:
Bảng 1.7. Dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
TT Các chỉ tiêu 2015 2020 2025 2030
1 Khách quốc tế (lượt) 2.600.000 3.445.000 4.505.000 5.804.000
Ngày lưu trú trung bình (ngày) 3,55 3,70 3,90 4,10
Mức chi tiêu bình quân (USD) 109 116 121 122
2 Khách nội địa (lượt) 6.080.000 7.760.000 9.716.000 12.400.000
Ngày lưu trú trung bình (ngày) 2,00 2,10 2,20 2,40
Mức chi tiêu bình quân (USD) 29 45 51 55
Tổng thu từ du lịch (triệuUSD) 1.460 2.320 3.250 4.540 3
Nhu cầu đầu tư (triệu USD) 2.380 2.890 3.120 3.400 4
Lao động trực tiếp (người) 82.000 112.000 149.000 192.000 5
Tổng lao động (người) 283.000 394.000 502.000 716.000 6
Cơ sở lưu trú (cơ sở) 2.600 3.300 4.100 4.980 7
Số lượng buồng lưu trú (buồng) 60.000 92.000 110.000 127.000
Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch
- Tốc độ tăng trưởng khách du lịch quốc tế giai đoạn 2011 - 2020 đạt 6,6%; giai
đoạn 2021 - 2030: 5,4%.
- Tốc độ tăng trưởng khách du lịch nội địa giai đoạn 2011 - 2020 đạt 5,5%; giai
đoạn 2021 – 2030 đạt 4,8%.
- Tốc độ tăng trưởng thu nhập du lịch giai đoạn 2011 - 2020 đạt 12,3%; giai
đoạn 2021 – 2030 đạt 6,9%.
54
Hướng khai thác sản phẩm đặc trưng:
- Du lịch biển, đảo.
- Du lịch tham quan di tích (hệ thống di sản) kết hợp du lịch nghiên cứu bản sắc
văn hóa (văn hóa Chăm, các dân tộc thiểu số ở Đông Trường Sơn).
- Du lịch MICE (Hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm).
Các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch:
- Đà Nẵng - Quảng Nam gắn với Sơn Trà, Hải Vân, Hội An, Mỹ Sơn…
- Bình Định - Phú Yên - Khánh Hòa gắn với các bãi biển Phương Mai, Đầm Ô
Loan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh…
- Bình Thuận gắn với biển Mũi Né, đảo Phú Quý…
Hệ thống khu, điểm, đô thị du lịch: gồm 9 khu du lịch quốc gia; 7 điểm du lịch
quốc gia và 4 đô thị du lịch.
* 9 Khu du lịch quốc gia:
1) Khu du lịch quốc gia Sơn Trà;
2) Khu du lịch quốc gia Bà Nà;
3) Khu du lịch quốc gia Cù Lao Chàm;
4) Khu du lịch quốc gia Mỹ Khê;
5) Khu du lịch quốc gia Phương Mai;
6) Khu du lịch quốc gia Vịnh Xuân Đài;
7) Khu du lịch quốc gia Bắc Cam Ranh;
8) Khu du lịch quốc gia Ninh Chữ;
9) Khu du lịch quốc gia Mũi Né.
* 7 Điểm du lịch quốc gia:
1) Điểm du lịch quốc gia Ngũ Hành Sơn;
2) Điểm du lịch quốc gia Hoàng Sa (Điểm dừng chân trên tuyến hàng hải quốc
tế);
3) Điểm du lịch quốc gia Mỹ Sơn;
4) Điểm du lịch quốc gia Lý Sơn;
5) Điểm du lịch quốc gia Trường Lũy;
6) Điểm du lịch quốc gia Trường Sa;
55
7) Điểm du lịch quốc gia Phú Quý.
* 4 Đô thị du lịch: Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Phan Thiết.
Phú Yên là một tỉnh trong vùng du lịch Nam Trung Bộ, TCLTDL Phú Yên cần
được dựa trên những định hướng chung của TCLTDL của vùng và của cả nước. Thực
tiễn đặt ra những yêu cầu cấp thiết phải TCLTDL hợp lý để đánh giá đúng tiềm năng
và thực trạng phát triển du lịch, trên cơ sở đó có những chiến lược đầu tư, khai thác du
lịch hợp lí mang lại hiệu quả KTXH cao.
56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
TCLTDL là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ
sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự
nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã
hội, môi trường cao nhất. TCLTDL chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: tài nguyên
du lịch, các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, CSHT và CSVCKT. TCLTDL có 3
hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du lịch, cụm tương hỗ phát triển du lịch (thể tổng
hợp lãnh thổ du lịch), vùng du lịch. Trong TCLTDL, việc xây dựng hệ thống tiêu chí
để xác định sự phân hoá lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hệ thống các tiêu chí
càng có cơ sở khoa học thì việc đánh giá các điểm, cụm, tuyến du lịch sẽ càng chính
xác và phản ánh đúng thực tế khách quan. Xây dựng hê thống tiêu chí để đánh giá các
điểm du lịch là cơ sở để khai thác hợp lí tài nguyên du lịch.
Trên phương diện Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam có 7 vùng du lịch: Trung
du, miền núi Bắc Bộ; Đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc; Bắc Trung Bộ;
Duyên hải Nam Trung Bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long.
Mỗi vùng đều có chiến lược phát triển riêng trên cơ sở tiềm năng vốn có. Phú Yên
nằm trong vùng du lịch Nam Trung Bộ, vùng giàu tiềm năng để phát triển du lịch cả
về tự nhiên và nhân văn. Những định hướng phát triển du lịch Phú Yên được dựa trên
cơ sở những định hướng chung của cả vùng. Việc nghiên cứu TCLTDL có ý nghĩa lớn
nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng vốn có của tỉnh, đưa du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn.
57
Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC
TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên
2.1.1. Vị trí địa lí
Phú Yên là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, diện tích tự nhiên: 5.060,6 km², dân số 883.184 người (năm 2013) [2, trang 21]. Lãnh thổ của tỉnh nằm từ 12039’10’’ đến 13045’20’’ độ vĩ Bắc và 108040’40’’ đến 109027’47’’ độ kinh Đông. Phía bắc giáp
Bình Định, phía nam giáp Khánh Hoà, phía tây giáp Đắc Lắc và Gia Lai, phía đông
giáp biển Đông. Tỉnh nằm cách thủ đô Hà Nội 1.160 km, cách thành phố Hồ Chí Minh
561 km, cách khu cảng quốc tế Vân Phong (Khánh Hoà) khoảng 40 km. Phú Yên bao
gồm 1 thành phố tỉnh lị, 1 thị xã và 7 huyện (năm 2013): 1 thành phố (Tuy Hòa); 1 thị
xã (Sông Cầu); các huyện: Đông Hòa (H.Tuy Hòa cũ), Đồng Xuân, Phú Hòa (thị xã
Tuy Hòa cũ), Sơn Hòa, Sông Hinh, Tây Hòa (H.Tuy Hòa cũ), Tuy An.
Phú Yên có đường bờ biển dài 189 km với nhiều vũng vịnh, đảo nhỏ ven bờ, trong đó diện tích biển khai thác có hiệu quả khoảng 6.900 km2. Các huyện duyên hải
có điều kiện phát triển du lịch biển. Tuy nhiên, nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa
hằng năm tỉnh đón nhận nhiều cơn bão nhiệt đới ảnh hưởng đến việc tổ chức các hoạt
động du lịch. Bên cạnh đó vùng Duyên hải Nam Trung Bộ vẫn còn kém phát triển, du
lịch còn ở dạng tiềm năng, hiệu quả khai thác chưa cao.
Phú Yên nằm trên trục giao thông xuyên Việt về đường sắt, đường bộ với tuyến
đường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1A. Đường sắt Bắc - Nam và quốc lộ 1A chạy qua 4
huyện và thành phố ven biển của tỉnh (TP Tuy Hòa, huyện Đông Hòa, huyện Tuy An,
huyện Sông Cầu). Tỉnh còn có quốc lộ 25 nối với Gia Lai, quốc lộ 29 nối Đắc Lắc, là
cửa ngõ thông ra biển của các tỉnh Tây Nguyên. Cảng Vũng Rô đang được xây dựng là
cảng nước sâu gần đường hàng hải Quốc tế, có sân bay Đông Tác (sân bay Tuy Hòa)
thực hiện các chuyến bay nội địa. Với đặc điểm địa lí nói trên, Phú Yên là cửa ngõ để
các tỉnh Tây Nguyên thông ra biển, là nơi kết nối kinh tế giữa hai đầu Nam - Bắc, kết
57
Hình 2.1. Bản đồ Hành chính tỉnh Phú Yên năm 2013
Người thực hiện: Học viên Trần An Vinh
58
nối vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, kết
nối giữa các trung tâm du lịch lớn của cả nước với nhau như Đà Lạt, Nha Trang, TP
Hồ Chí Minh, TP Đà Nẵng… Vị trí địa lí và hệ thống giao thông thuận lợi cũng tạo
cho Phú Yên có những lợi thế trong phát triển và giao lưu kinh tế nói chung, du lịch
nói riêng với các tỉnh trong khu vực và cả nước. Quá trình mở cửa và hội nhập của
nước ta tạo cơ hội cho tỉnh mở rộng giao lưu và thu hút khách du lịch.
Phú Yên là bộ phận trong hệ thống KTXH duyên hải Nam Trung Bộ nên có
những nét tương đồng. Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung là đầu tàu của khu vực, sự
phát triển của nó sẽ tạo sức lan toả, làm nên cú huých cho kinh tế các tỉnh trong vùng
phát triển. Phú Yên là tỉnh liền kề, có nhiều cơ hội để tận dụng sự lan toả này. Đây là
điều kiện thuận lợi để Phú Yên và các tỉnh lân cận tạo nên mối liên kết vùng cho phát
triển du lịch.
2.1.2. Tài nguyên du lịch
2.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình
Phú Yên nằm giữa một bên là khối nâng Đà Lạt có cấu trúc võng chồng và một
bên là miền sụt lún mạnh rìa Biển Đông trong giai đoạn Mezozoi. Nằm ở sườn đông
dãy Trường Sơn nên địa hình đồi núi chiếm 70 % diện tích đất tự nhiên. Địa hình dốc
mạnh từ tây sang đông. Dải đồng bằng hẹp và bị chia cắt mạnh. Bờ biển dài gần 189
km khúc khuỷu, có nhiều dải núi ăn lan ra biển hình thành các vũng vịnh, đầm phá.
Theo các tiêu chí của giáo sư Vũ Tự Lập, Phú Yên có các nhóm địa hình sau:
Địa hình núi cao: tạo thành một vòng cung bao quanh từ đỉnh đèo Cù Mông
dọc theo biên giới phía Tây giáp Đắc Lắc, Gia Lai và khép kín ở đèo Cả. Độ cao trung
bình 1400 - 1500 m. Như vậy, Phú Yên có cả ba mặt đều được bao bọc bởi các dãy
núi, chỉ phía Đông là tiếp giáp với biển. Các ngọn núi cao trên 1000 m như: Hòn Dù,
Hòn Ông, Hòn Chùa (huyện Tây Hòa), Chư Ninh, Chư Đan, Chư Hle (huyện sông
Hinh), La Hiên, Chư Treng, Hòn Rung Gia, Hòn Suối Hàm (huyện Sơn Hòa và Đồng
Xuân). Vùng núi cao Phú Yên có khí hậu mát mẻ, nhiều thác ghềnh (thác H’Ly, thác
Hòa Nguyên…), rừng còn giàu (khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai), nhiều suối nước
khoáng (Trà Ô, Phú Sen) lại gắn liền với các di tích lịch sử cách mạng, với văn hóa
59
của đồng bào miền núi nên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tham quan, du lịch
lễ hội, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao.
Địa hình núi thấp ven biển: phân bố chủ yếu dọc theo quốc lộ 1A và rải rác
dọc bờ biển với độ cao trung bình 150 - 300 m. Độ dốc địa hình lớn, bề mặt địa hình bị
phân cách mạnh. Các suối ngắn, hẹp và chỉ có nước vào mùa mưa. Một số nơi có địa
hình ít bị chia cắt hơn như ở khu vực Sơn Thành, Sông Hinh và cao nguyên Vân Hòa.
Đây là khu vực có nhiều sông hồ, thác ghềnh (hồ thủy điện sông Hinh, hồ thủy điện
sông Ba Hạ, thác Hàn, Đá Bàn, vực Phun..). Khu vực này có thể phát triển loại hình du
lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng.
Địa hình đồng bằng ven biển: phân bố chủ yếu ở thành phố Tuy Hòa và huyện
Tuy Hòa thuộc hạ lưu sông Đà Rằng và sông Đà Nông. Ngoài ra còn một số diện tích
nhỏ hẹp thuộc hạ lưu sông Kỳ Lộ. Toàn bộ diện tích đồng bằng ven biển khoảng
60.000 ha, chiếm khoảng 11 % diện tích toàn tỉnh. Đây là địa bàn tập trung nhiều đô
thị lớn như TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu… cũng là những trung tâm du lịch của tỉnh.
CSHT phát triển mạnh với hệ thống giao thông, điện nước, thông tin liên lạc hoàn
thiện. CSVCKT phục vụ du lịch phát triển khá tốt vì là nơi tập trung hầu hết các nhà
hàng, khách sạn, trung tâm văn hóa, giải trí hàng đầu của tỉnh. Ở đây cũng có nhiều
đền chùa, di tích lịch sử (chùa Hương Tích, tháp Nhạn, đền thờ Lương Văn Chánh…).
Đây là nơi có thể phát triển các loại hình du lịch như MICE, du lịch công vụ, du lịch
thăm thân, du lịch giải trí, du lịch tham quan, du lịch lễ hội.
Địa hình bãi biển và bờ biển: bao gồm tất cả các địa hình hiện tại còn chịu tác
động trực tiếp của biển thông qua sự giao động mực nước thủy triều. Trên quan điểm
địa động lực, địa hình bãi còn đang trong giai đoạn hình thành, chúng có thể biến đổi
hằng năm, mùa và qua tác động đột biến như bão, nước dâng…
Biển Phú Yên có diện tích khoảng 6.900 km2. Bờ biển dốc, càng về phía nam
độ dốc càng tăng. Phía bắc độ dốc thềm lục địa từ 0,35 % - 0,45 %, độ sâu 100 m cách
xa bờ khoảng 18 - 19 km. Phía nam độ dốc thềm lục địa từ 1,4 % - 2,8 %, độ sâu 100
m chỉ cách xa bờ từ 3,5 km (mũi Kê Gà) đến 7 km (cửa Đà Rằng). Thềm lục địa ven
biển Phú Yên có nhiều vùng rạn đá. Ven bờ biển Phú Yên có 9 hòn đảo lớn nhỏ. Các
đảo ngoài địa hình và vị trí đẹp, còn có các loại hải sản: cá, tôm, cua, mực là những
60
nơi có thể khai thác tốt cho việc phát triển du lịch biển. Diện tích biển có độ sâu dưới
200 m chiếm 46,38 %. Biển sâu, dốc nên có một số nơi ít thuận lợi cho phát triển du
lịch.
Khu vực ven biển Phú Yên gồm các bãi biển tích tụ, trong đó có nhiều bãi biển
đẹp, có giá trị du lịch như: bãi biển thành phố Tuy Hòa, Long Thủy, Bãi Bàng - Bãi
Tiên, Bãi Xép, Bãi Rạng… Ngoài ra, các cấu trúc và hình thái địa hình do các quá
trình kiến tạo ở khu vực này tạo ra các ghềnh đá, vịnh biển, đầm phá với cảnh quan
đẹp như: ghềnh Đá Đĩa, vịnh Xuân Đài, vịnh Vũng Rô, đầm Cù Mông, đầm Ô Loan…
Ngoài ra khu vực này cũng gắn liền với văn hóa của người dân các làng chài: lễ hội
đua thuyền, lễ hội cầu ngư… Đây là những nơi có tiềm năng để phát triển du lịch: du
lịch tham quan, du lịch thể thao, du lịch khám phá, du lịch học tập, du lịch nghỉ dưỡng,
du lịch lễ hội.
Phú Yên với lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ khá phức tạp đã tạo ra tính
đa dạng cao của tự nhiên và gắn với nó là những nét văn hóa khác nhau. Những nét
đặc sắc và độc đáo của địa hình tỉnh Phú Yên góp phần làm giàu nguồn tài nguyên du
lịch của tỉnh. Tài nguyên này đang cần khám phá, kiểm kê trong kế hoạch phát triển du
lịch cho những năm tới. (Xem phụ lục 2 và phụ lục 3, trang 149 – 156)
- Khí hậu
Phú Yên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Nhiệt độ không khí trung bình từ 26,5oC ở phía Đông đến 26oC ở phía Tây.
Những vùng có độ cao dưới 100 m nhiệt độ trung bình năm thường dao động 26 - 27oC; ở độ cao 100 - 300 m dao động từ 24 - 25oC; trên 400 m dao động từ 23 - 24oC; trên 1000 m nhiệt độ xuống dưới 21oC. Tổng nhiệt độ năm có sự chênh lệch giữa các vùng. Vùng đồng bằng ven biển ở độ cao dưới 100 m đạt 9.500 – 9.800oC; vùng núi ở độ cao trên 400 m là 8.500 - 9.500oC; ở độ cao trên 1000 m chỉ còn khoảng 7.500oC. Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày từ 7 - 10oC. Biên độ nhiệt năm khoảng 6oC.
Gió: tốc độ gió trung bình biến đổi từ 1,5 - 2,5 m/s. Chế độ gió ở Phú Yên có
hai mùa rõ rệt. Mùa đông có ba hướng gió chính: Bắc, Đông, Đông Bắc. Mùa hạ có
hai hướng gió chính: Tây, Tây Nam.
61
Số giờ nắng trung bình hàng năm: 2.300 – 2.500 giờ. Tháng có giờ nắng nhiều
nhất là tháng 5, tháng ít nhất là 11. Thời gian nắng trong năm kéo dài 5 - 6 tháng.
Độ ẩm: độ ẩm trung bình hàng năm từ 80 – 82 %. Tháng có độ ẩm cao nhất là
tháng 11 với 89 %, tháng thấp nhất là tháng 5,6 với 74 %.
Khả năng bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi năm dao động từ 1.100 – 1.400 mm.
Lượng bốc hơi trung bình ngày: 2,5 - 4,0 mm. Ngày bốc hơi lớn nhất từ 11 – 12 mm, ít
nhất từ 0,4 - 0,5 mm.
Lượng mưa: Trong năm, khí hậu Phú Yên chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa khô: từ
tháng 1 đến tháng 8. Khí hậu khô nóng chịu ảnh hưởng của gió Tây (gió Lào) từ tháng
6 - tháng 8. Lượng mưa trung bình từ 300 - 600 mm, chiếm khoảng 20 - 30 % lượng
mưa cả năm dẫn tới thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, trong đó có hoạt động du
lịch. Điều này diễn ra ngày càng nghiêm trọng hơn do sự mất rừng và tác động của
biến đổi khí hậu.
Mùa mưa: từ tháng 9 đến tháng 12. Khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
Bắc mang theo mưa. Lượng mưa trung bình khoảng 900 – 1.600 mm, chiếm 70 - 80 %
lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình năm của Phú Yên khoảng 1.700 mm, cao
nhất là 2.497 mm và thấp nhất là 1.268 mm. Trung tâm mưa lớn là vùng núi cao Chư
Mu, đèo Cả. Vùng có lượng mưa thấp nhất là thung lũng sông Ba, Krông Ba, thung
lũng sông Kỳ Lộ, Xuân Phước. trung bình hàng năm Phú Yên có khoảng 100 ngày
mưa. Nơi có số ngày mưa ít nhất là Tuy An, Sông Cầu, nhiều nhất là Sông Hinh, Sơn
Hòa. Số ngày mưa ở vùng núi cao hơn đồng bằng. Ở Phú Yên, mùa bão và áp thấp
nhiệt đới trùng với mùa mưa và đã gây ảnh hưởng không nhỏ cho hoạt động du lịch.
Nhìn chung, khí hậu Phú Yên không thật thuận lợi cho các hoạt động du lịch.
Đây là hạn chế của tỉnh so với một số địa phương khác. Tuy nhiên, ở một số khu vực
ven biển, khu vực miền núi có những vùng tiểu khí hậu mát mẻ có thể khai thác cho
hoạt động du lịch như cao nguyên Vân Hòa, vịnh Vũng Rô, vịnh Xuân Đài. Để tận
dụng điều này cần tiến hành các hoạt động quan trắc đầy đủ để có đánh giá đúng và sử
dụng hợp lý. Hiện nay toàn tỉnh mới chỉ có 2 trạm khí tượng ở Tuy Hòa và Sơn Hòa,
trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, đội ngũ cán bộ khí tượng còn mỏng.
62
Bảng 2.1. Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch tỉnh Phú Yên
STT Tiêu chí đánh giá Tuy Hòa Sơn Hòa
1 Số giờ nắng Rất tốt -
2 Nhiệt độ trung bình năm Khá thích nghi Khá thích nghi
3 Nóng Khá thích nghi
4 Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất Số tháng có nhiệt độ ≥ 270C Rất xấu Rất xấu
5 Biên độ nhiệt năm Nóng Khá thích nghi
6 Số tháng có độ ẩm ≥ 90% Rất tốt Rất tốt
7 Lượng mưa năm Thích nghi Thích nghi
8 Tốc độ gió trung bình Rất tốt Tốt
9 RSI Bất tiện nghi Bất tiện nghi
Nguồn: Tính toán của học viên
(Xem phụ lục 12, trang 170 - 175)
- Thủy văn
Tài nguyên nước mặt: Mạng lưới sông suối của Phú Yên phần lớn bắt nguồn
từ dãy Trường Sơn phía tây, dãy Cù Mông phía bắc, và dãy Đèo Cả phía nam. Những
sông thuộc phạm vi tỉnh thường ngắn, dốc, tốc độ dòng chảy lớn. Phú Yên có trên 50
con sông lớn nhỏ. Đáng chú ý là 3 con sông chính: sông Kỳ Lộ, sông Ba, sông Bàn Thạch. Tổng diện tích lưu vực là 4.886 km2. Các sông suối đều đổ ra biển Đông. Mật độ sông suối ở Phú Yên tương đối dày: 0,3 - 1,3 km/ km2, trung bình là 0,5 km/ km2.
Tổng lượng dòng chảy 8.400 tỉ km3, song phân bố không đều trong năm. Mùa
lũ bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 70 % lượng nước. Mùa kiệt từ tháng 1 đến tháng 8. Hệ thống sông ngòi Phú Yên hàng năm đổ ra biển khoảng 12,13 tỷ m3 nước,
mang theo lượng phù sa, bùn cát gần 2,3 triệu tấn và các chất hoà tan khoảng 0,55
triệu tấn. Điều này tạo nên vùng sinh thái nước lợ giàu dinh dưỡng cho các loài thuỷ
sinh vật phát triển phong phú ở các vùng cửa sông. Tuy nhiên ở vùng cửa sông hàng
năm bị bồi lấp nhiều, cần phải nạo vét.
63
Trên các sông đã xây dựng các hồ thủy điện, hồ thủy lợi, ngoài phục vụ cho
mục đích chính là cho tưới tiêu và sản xuất còn phục vụ mục đích tham quan du lịch
như hồ thủy điện Sông Hinh, hồ thủy điện sông Ba Hạ.
Mạng lưới sông ngòi Phú Yên phổ biến ở dạng nhánh cây và nan quạt, tốc độ
tập trung nước lớn. Độ dốc bình quân lưu vực lớn là điều kiện thuận lợi cho dòng chảy
phát sinh nhất là khi mưa tập trung, cường độ mưa lớn dẫn đến xâm thực bề mặt diễn
ra mãnh liệt. Do vậy, trên các triền sông, triền suối thường có những thác ghềnh tạo
nên cảnh quan đẹp. Chúng có thể phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt du lịch mạo
hiểm. Mạng lưới kênh rạch trên đồng bằng ven biển và các vùng cửa sông nối các đầm
phá như đầm Ô Loan, đầm Cù Mông… sẽ là cơ sở phát triển du lịch sông nước, là các
điểm nhấn cho các tuyến du lịch.
Nguồn nước mặt Phú Yên phong phú về số lượng, chất lượng nước tương đối
sạch, bảo đảm lâu dài cho sinh hoạt và sản xuất.
Tài nguyên nước ngầm:
- Nước dưới đất trong trầm tích Đệ Tứ: Phân bố chủ yếu ở đồng bằng ven biển.
+ Tầng chứa nước hỗn hợp sông, hồ, biển, đầm lầy, thống Holoxen, chiều dày
tầng chứa nước từ 10 - 15 m, mức độ nước không đều (lưu lượng tại các điểm lộ và
giếng múc thí nghiệm thay đổi từ 0,21 - 0,43 l/s).
+ Tầng chứa nước bãi bồi sông thống Holoxen: đây là tầng chứa nước rất tốt,
lưu lượng nước từ 1 - 2 lít, chất lượng nước tốt.
+ Tầng chứa nước sông biển thống Holoxen dưới giữa: chiều dày tầng chứa
nước thay đổi từ 5 - 10 - 20 m, mức độ chứa trung bình 0,02 - 0,7 l/s.
+ Tầng chứa nước sông biển hỗn hợp thống Pleistoxen giữa trên: phân bố độ
sâu 15 - 30 m chủ yếu trong phạm vi đồng bằng ven chân núi, một số ở đồng bằng ven
biển. Nước thường nhiễm phèn.
+ Phức hệ chứa nước trong các thành tạo có tuổi Neogen - Đệ Tứ: mức nước
dưới đất thường sâu, mức độ chứa nước trung bình 0,1 - 0,21 l/s, chất lượng nước tốt
thuộc loại Clorua bicacbonat natri.
- Nước dưới đất trong các trầm tích trước Đệ Tứ:
64
+ Phức hệ chứa nước trong trầm tích Neogen - Hệ tầng sông Ba khả năng chứa
nước tốt, nhưng bị các trầm tích có tuổi Holoxen che phủ, phân bố độ sâu 30 – 50 m,
chất lượng nước tốt.
+ Nước dưới đất trong các trầm tích tuổi Jura, khả năng chứa nước không đều,
chất lượng nước tốt. Lưu lượng tại điểm lộ: 0,05 - 0,26 l/s, tại lỗ khoang: 0,09 - 2,021
l/s.
+ Nước dưới đất trong các thành tạo đá biến chất, xâm nhập phân bố rộng rãi
trong vùng (chủ yếu vùng núi), khả năng chứa nước kém, chúng chỉ tồn tại trong các
đới phong hóa, nứt nẻ.
Theo kết quả nghiên cứu, Phú Yên có 5 điểm nước khoáng lộ thiên phân bố ở
Phú Sen, Mỹ Thành (Phú Hòa), Trà Ô - Thiêm Đức (Đồng Xuân), Lạc Sanh (Tây
Hòa), lưu lượng từ 3 - 5 l/s. Tuy nhiên các mỏ nước khoáng này còn nhỏ so với các địa
phương khác như Khánh Hòa, Bình Thuận, Vũng Tàu…
Về chất lượng nước dưới đất, phần lớn các vùng đều đáp ứng tốt cho sinh hoạt.
Ở một số vùng ven biển như thị xã Sông Cầu, thành phố Tuy Hòa, huyện Đông Hòa…
chất lượng nước thay đổi phức tạp hơn do sự xen kẽ tầng chứa nước ngọt và nước
mặn. Đặc biệt tại phạm vi thành phố Tuy Hòa biểu hiện nhiễm bẩn do nước thải sinh
hoạt. (Xem phụ lục 4; 5; 6;7 trang 157 - 164)
- Thổ nhưỡng
Đất đai tỉnh Phú Yên được hình thành nhờ quá trình phong hóa nhiệt đới ẩm
trên nền cấu trúc địa chất phức tạp, địa hình chia cắt mạnh từ độ cao 0 - 1000 m, vì vậy
đất đai Phú Yên rất phong phú và đa dạng với 8 nhóm và 20 loại đất.
Nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích khá lớn, phân bố chủ yếu ở các huyện Sông
Hinh, Sơn Hòa, Tây Hòa. Nhóm đất đen chiếm diện tích nhỏ, phân bố ở Sơn Hòa, Phú
Hòa, Tuy An, Sông Cầu, thành phố Tuy Hòa. Đất xám bạc màu phân bố chủ yếu ở
Sông Hinh, Sơn Hòa. Đất phù sa dọc theo các sông suối trong tỉnh đều có, tập trung
nhất ở đồng bằng Tuy Hòa. Ngoài ra còn có nhóm đất cát ven biển phân bố phía đông,
nhóm đất mặn phân bố ở các vùng trũng ven biển.
Tính đa dạng và phong phú của các loại đất Phú Yên cho phép phát triển nhiều
loại cây lương thực, hoa màu, cây công nghiệp phục vụ đời sống và sản xuất. Ở Phú
65
Yên có một số làng nghề trồng hoa, cây kiểng và rau quả có thể phục vụ du lịch như:
Ngọc Lãng, Hòa Kiến… Ngoài ra còn phải kể đến thảm rừng nhiệt đới phát triển trên
đất đỏ vàng có giá trị cao đối với các hoạt động du lịch: Khu Bảo tồn thiên nhiên
Krông Trai, rừng cấm Bắc Đèo Cả.
- Sinh vật
Về thực vật: Trên lãnh thổ Phú Yên, thảm thực vật tự nhiên gồm các kiểu rừng
rụng lá và nửa rụng lá, rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, nhưng rừng tốt
không còn nhiều. Những nơi rừng bị đẩy lùi thì cây lùm bụi, trảng cỏ tạp lan rộng. Cây
trồng cũng rất phong phú, từ cây lương thực, rau màu tới cây công nghiệp ngắn ngày
và dài ngày cũng như cây ăn quả.
Theo tài liệu của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên thì diện
tích rừng hiện nay có 165.915 ha (chiếm 32,5 % diện tích tự nhiên), trong đó rừng gỗ tự nhiên là 142.688 ha với trữ lượng 13,5 triệu m3 gỗ. Diễn thế rừng đang có xu hướng
giảm rừng giàu và trung bình, tăng diện tích rừng nghèo. Độ che phủ khoảng 30 % và
ngày càng thấp. Đây là xu thế xấu do nạn phá rừng, khai thác bừa bãi mỗi ngày một
nghiêm trọng; quản lý và bảo vệ rừng chưa chặt chẽ. Vì vậy, với nguồn tài nguyên
này, trong tương lai phải đặt nhiệm vụ khoanh nuôi tu bổ, tái sinh rừng và trồng rừng.
Đây là nhiệm vụ cơ bản nhất. Việc khai thác rừng phải tính đến tái sinh rừng.
Về động vật: Ở đây có thể gặp nai, hoẵng, lợn rừng, chồn, và rất nhiều loài
chim có giá trị kinh tế. Sông biển ở Phú Yên lắm tôm nhiều cá. Các giống vật nuôi
được chú ý phát triển là trâu, bò, lợn, gà và các loại gia cầm khác.
Nằm phía tây tỉnh Phú Yên thuộc xã Krông Trai và Krông Pa của huyện Sơn
Hòa, cách thành phố Tuy Hòa 80 km theo quốc lộ 25 là rừng cấm Krông Trai rộng
22.290 ha. Ở đây có hệ sinh thái chuyển tiếp giữa vùng đông và tây dãy Trường Sơn,
có hệ động thực vật phong phú, đa dạng. Qua điều tra, thống kê được 236 loài thực
vật, 50 loài thú, 182 loài chim và 22 loài bò sát. Trong đó nhiều loài động thực vật quý
hiếm rất có giá trị cho nghiên cứu khoa học và tham quan tìm hiểu. Đặc biệt trong hệ
sinh thái nửa rụng lá là cây giáng hương.
Khu rừng cấm Bắc Đèo Cả có tổng diện tích 8.740 ha, có hệ thực vật rừng
thường xanh chạy ra sát biển. Đây là một đặc điểm hết sức độc đáo, một lợi thế so
66
sánh của Phú Yên so với các tỉnh khác. Nơi đây còn bảo tồn hơn 100 loài thực vật, và
hàng chục loài chim, thú quý hiếm có giá trị cao đối với du lịch và nghiên cứu khoa
học. hệ sinh thái ở đây là núi, thực vật rừng kín thường xanh. Hiện nay một phần của
khu rừng đã được sử dụng để khai thác du lịch và làm đường dẫn đến điểm du lịch Bãi
Môn và mũi Đại Lãnh.
Ở khu vực đảo Hòn Nưa có thể quan sát thấy san hô với đủ loại khác nhau như:
san hô cành, san hô hình hoa. Xung quanh đảo còn là nơi tập trung nhiều loại cá cảnh
và động vật đáy. (Xem phụ lục 8, trang 164 - 165)
- Các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh
2.1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Phú Yên, tính đến thời điểm hiện tại đã có 39 di tích được xếp hạng, trong đó
có 18 di tích xếp hạng cấp quốc gia và 21 di tích xếp hạng cấp tỉnh [36]. Các di tích
được phân bổ trải dài trên địa bàn tỉnh từ đèo Cù Mông (tiếp giáp với Bình Định) đến
đèo Cả (tiếp giáp với Khánh Hòa).
Các di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh xếp hạng quốc gia
Di tích lịch sử (có 9 di tích): Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh; Mộ và đền thờ
Lê Thành Phương; Địa đạo gò Thì Thùng; Chiến thắng đường 5; Địa điểm diễn ra
cuộc khởi nghĩa Hòa Thịnh; Nơi xảy ra cuộc thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh; Vũng
Rô; Nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Phú Yên; Căn cứ tỉnh Phú Yên
trong kháng chiến chống Mỹ.
Di tích khảo cổ (có 2 di tích): Thành Hồ có niên đại từ thế kỷ XII - XV; Thành
An Thổ.
Danh lam thắng cảnh (có 5 danh thắng): Gành Đá Đĩa; Bãi Môn - Mũi Điện;
Núi Đá Bia; Đầm Ô Loan, Vịnh Xuân Đài.
Di tích kiến trúc - nghệ thuật (có 2 di tích): Tháp Nhạn; Chùa Đá Trắng (Chùa
Từ Quang).
Các di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp tỉnh
Các di tích cấp tỉnh gồm có: Địa điểm quản thúc và giải thoát Luật sư Nguyễn
Hữu Thọ (có 3 di tích); Mộ và Đền thờ Đào Trí; Mộ Nguyễn Hào Sự; Mộ Nguyễn
Hữu Dực; Hành cung Long Bình; Vụ thảm sát chợ Giã; Vụ thảm sát thôn Phú Sơn; Vụ
67
thảm sát Gành Đá - Vũng Bầu; Những vụ thảm sát tại xã An Lĩnh; Vụ thảm sát Gò É -
Gộp Dệt; Vụ thảm sát xã An Hòa; Núi Sầm; Núi Hiềm; Suối Cối; Trại an trí Trà Kê;
Gành Đá; Chùa Khánh Sơn; Tháp Chăm Đông Tác; Núi Hương - Chùa Hương - Bàu
Hương.
Ngoài ra Phú Yên còn có các công trình xây dựng lớn đáng chú ý: Cầu Đà
Rằng; Đập Đồng Cam; Thủy điện Sông Hinh; Thủy điện Sông Ba Hạ.
Nhìn chung, trong số những di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh được
xếp hạng của tỉnh đa số thuộc về di tích lịch sử, văn hóa. Thắng cảnh tự nhiên có số
lượng ít hơn nhưng có vai trò quan trọng, đặc biệt là các đầm phá, vịnh biển. Những di
tích có khả năng khai thác du lịch cao: Gành Đá Đĩa, vịnh Xuân Đài, Vũng Rô, Kèn đá
và Đàn đá Tuy An. Tuy nhiên, nhiều di tích hiện tại đang bị xuống cấp cần phải trùng
tu, bảo vệ.
- Các lễ hội truyền thống, văn hóa văn nghệ dân giang
Trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay có rất nhiều lễ hội với quy mô và thời gian
tổ chức khác nhau. Các lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân. Phú Yên có các lễ
hội: Hội đua thuyền trên sông Ngân Sơn; Lễ hội sông nước Tam Giang; Lễ hội Đầm Ô
Loan; Hội đua thuyền Sông Đà Rằng; Lễ hội sông nước Đà Nông; Lễ dâng hương Đập
Đồng Cam; Hội đua ngựa gò Thì Thùng; Lễ hội Chùa Đá Trắng; Hội Chùa Ông; Hội
đêm thơ Nguyên Tiêu trên núi Nhạn; Lễ hội Cầu Ngư; Lễ hội đền thờ Lê Thành
Phương; Lễ hội đền thờ Lương Văn Chánh; Hội đánh bài chòi; Lễ hội đâm trâu; Lễ hội
bỏ mã; Lễ hội cầu an; Hội mừng sức khỏe; Lễ hội mừng cơm mới của người Ba Na;
Hò khoan.
Những lễ hội, văn hóa văn nghệ dân giang tiêu biểu ở Phú Yên: Lễ hội Đầm Ô
Loan: mùng 7 tháng Giêng (âm lịch); Lễ hội Cầu Ngư: tháng Giêng đến tháng 6 (âm
lịch); Hội đánh bài chòi: Tết Nguyên Đán; Hội đua ngựa gò Thì Thùng: mùng 9 tháng
Giêng (âm lịch); Lễ hội đâm trâu: tháng 2 đến tháng 3 (âm lịch). Đặc biệt, Phú Yên có
bộ Kèn đá, Đàn đá được phát hiện năm 1990, tại Tuy An, có niên đại 2.500 năm. Ngày
19.12.2012, tiến sĩ Katherine Mauller Marin, Trưởng đại diện UNESCO Việt Nam đã
thẩm định và đề nghị tỉnh Phú Yên lập hồ sơ đệ trình lên UNESCO để đề nghị công
nhận đàn đá, kèn đá Tuy An là di sản văn hóa của nhân loại.
68
Những lễ hội truyền thống, văn hóa văn nghệ dân giang là nét đẹp của địa
phương cần được bảo tồn và gìn giữ, là tài nguyên du lịch đặc sắc thu hút nhiều du
khách. Hiện nay, một số nét đẹp văn hóa truyền thống đó đang ngày càng mai một dần
dưới ảnh hưởng của lối sống hiện đại. Số lượng những nghệ sĩ, nghệ nhân trong các
lĩnh vực như hát bài chòi, múa siêu, hò bả trạo… đang ngày càng ít dần. Do vậy, tỉnh
cần phải có chính sách phù hợp để giữ gìn và lưu truyền cho đời sau. (Xem phụ lục 9,
trang 165 - 167)
- Làng nghề truyền thống
Phú Yên có một số làng nghề: Bánh tráng Hòa Đa; Gốm sứ mỹ nghệ Quảng
Đức; Làng rau, hoa Bình Ngọc; Làng rau Bình Kiến; Dệt thổ cẩm; Đan lát Vinh Ba;
Dệt chiếu cói An Cư; Làng nước mắm Gành Đỏ; Làng gốm Phụng Nguyên; Đan bóng
Mò O… Các làng nghề là một nét đẹp văn hóa của cư dân Phú Yên và có ý nghĩa quan
trọng trong việc phát triển du lịch. (Xem phụ lục 10, trang 168 - 169)
- Ẩm thực
Người dân Phú Yên có nghệ thuật ẩm thực khá cao. Đến Phú Yên du khách sẽ
được thưởng thức những món ăn độc đáo. Các món ăn nổi tiếng là: Bánh tráng Hòa
Đa; Sò huyết Ô Loan; Cá ngừ đại dương (cá bò gù); Gỏi sứa; Ghẹ đầm Cù Mông; Tôm
hấp nước dừa; Chả giông; Hàu Ô Loan; Ốc nhảy Sông Cầu… Trong phát triển du lịch,
đặc biệt là du lịch biển thì nghệ thuật ẩm thực có vai trò hết sức quan trọng. (Xem phụ
lục 11, trang 169 - 170)
Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên:
Phú Yên có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, cả tài nguyên du
lịch tự nhiên lẫn nhân văn. Cả hai loại tài nguyên này bổ trợ cho nhau làm nên sức hút
cho du lịch tỉnh. Trong đó, tài nguyên du lịch biển có vai trò quan trọng. Những tài
nguyên du lịch có khả năng khai thác cao cần được đầu tư thích đáng để hình thành
những điểm đến lý tưởng, thỏa mãn nhu cầu du khách. Những tài nguyên du lịch ít có
khả năng hơn có vai trò đáp ứng nhu cầu khách trong tỉnh. Cần đầu tư mạnh vào khu
du lịch biển tổng hợp Vũng Rô và vịnh Xuân Đài để tăng tính cạnh tranh và tạo nên
sắc thái riêng cho du lịch Phú Yên.
69
Hình 2.2. Bản đồ Tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên
Người thực hiện: Học viên Trần An Vinh
70
2.1.3. Cơ sở hạ tầng
2.1.3.1. Giao thông vận tải
- Đường bộ
Phú Yên có 2.050,91 km đường bộ bao gồm quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, đường
liên xã, đường nội thị. Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu gồm có:
Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa;
Quốc lộ 1D (nối thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn);
Quốc lộ 25 nối với Gia Lai;
Quốc lộ 29 nối với Đắc Lắc;
Tỉnh lộ 641 từ Thị trấn Chí Thanh chạy dọc theo đường sắt Bắc - Nam qua thị
trấn La Hai rồi gặp lại quốc lộ 1A tại thị trấn Diêu Trì (Bình Định).
Đường Phước Tân - Bãi Ngà chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng
Vũng Rô.
Hành lang lưu thông giữa Phú Yên với các tỉnh lân cận và cả nước cũng như
nội tỉnh không có nhiều trở ngại lớn cho phát triển kinh tế nói chung cũng như du lịch
nói riêng. Vấn đề là chất lượng đường xá. Mặt đường, nền đường, cầu cống trên các
trục đường đều đã quá cũ, hẹp, xấu. Tính chung cả quốc lộ, tỉnh lộ, đô thị thì chỉ có
khoảng 12 % đường loại tốt, 20 % trung bình, còn lại là đường xấu và rất xấu. Chất
lượng đường xấu, hẹp là một thực trạng không hấp dẫn đối với việc mở rộng liên kết
và thu hút khách du lịch.
- Đường sắt
Phú yên cũng có đường sắt Bắc - Nam đi qua với ga chính là ga Tuy Hòa, bắt
đầu từ Mục Thịnh (Đồng Xuân) đến đèo Cả dài 117 km.
- Đường hàng không
Phú Yên hiện đang vận hành sân bay Đông Tác (Hoạt động từ tháng 4/2003)
với 2 đường bay chính: Tuy Hòa - Hà Nội và Tuy Hòa - TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên
đây vẫn còn là một sân bay nhỏ và đang ngày càng được nâng cấp.
- Đường biển
Phú Yên có 189 km bờ biển rất thuận lợi cho vận tải hàng hóa và hành khách
bằng đường biển trong tỉnh cũng như với nhiều địa phương khác dọc bờ biển Việt
71
Nam hoặc các nước lân cận. Hiện nay, Vũng Rô đang được đầu tư xây dựng cảng biển
quốc tế.
Với thực trạng trên, có thể khẳng định hệ thống giao thông Phú Yên vẫn còn
khó khăn, chưa hấp dẫn và tạo sự liên kết tốt cho không gian du lịch. Nhưng bước đầu
giao thông Phú Yên cũng đảm bảo phần nào nhu cầu trước mắt cho du lịch tỉnh nhà.
2.1.3.2. Hệ thống cung cấp điện và nước
- Hệ thống điện
Phú Yên hiện có nhà máy Thủy điện Sông Hinh với công suất 72 MW, nhà
máy thủy điện Sông Ba Hạ công xuất 220MW và hệ thống đường dây 500 KVA Bắc -
Nam. Tỉnh đã đầu tư và vận hành trạm biến áp 110 KV khu công nghiệp Hòa Hiệp,
Tuy An. Hiện hệ thống điện đảm bảo cung cấp tốt nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất
và sinh hoạt. Đến nay, 100 % số xã, 95,3 % thôn đã có điện.
- Hệ thống cấp nước
Hiện cả tỉnh có 6 nhà máy cung cấp nước. Nhà máy cấp thoát nước TP Tuy Hòa là lớn nhất với công suất 28.500 m3/ngày đêm, phục vụ cho khu vực TP Tuy Hòa,
các vùng lân cận và khu công nghiệp Hòa Hiệp. Đồng thời xây dựng mới một số nhà
máy cấp nước cho các thị trấn huyện lỵ với công suất khoảng 3.000 m³/ngày đêm. Một
số nhà máy nước khác: nhà máy nước thị trấn La Hai; nhà máy nước thị trấn Chí
Thạnh; nhà máy nước thị trấn Hai Riêng; nhà máy nước thị trấn Củng Sơn; nhà máy
nước thị trấn Phú Hòa; nhà máy nước TX Sông Cầu.
Tuy nhiên, hiện tỷ lệ hộ dân đô thị sử dụng nước máy còn thấp. Một số nhà
máy nước đầu tư chưa có hiệu quả. Nhiều công trình sử dụng sau một thời gian bị
hỏng hóc. Đặc biệt, ở Phú Yên vào mùa khô thường xảy ra việc khan hiếm nước.
2.1.3.3. Hệ thống thông tin liên lạc
Hệ thống thông tin liên lạc: Phú Yên có mạng lưới viễn thông khá tốt. Bưu
điện trung tâm tỉnh, huyện, xã được trang bị: vi ba, cáp quang... đảm bảo liên lạc thông
suốt. Tỷ lệ người sử dụng điện thoại năm 2012 đạt 40 máy/100 dân.
Hệ thống Internet qua đường truyền ADSL cũng là một kênh liên lạc quan
trọng hiện nay đối với sự phát triển của toàn tỉnh.
72
Tổng số bưu cục, đại lý, kiốt trên toàn tỉnh là 133 đơn vị, tổng số máy điện
thoại 14.716 máy; dịch vụ bưu chính cũng phát triển mạnh.
2.2. Thực trạng phát triển và tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên
2.2.1. Thực trạng phát triển du lịch theo ngành
2.2.1.1. Khách du lịch
- Số lượt khách du lịch
Bảng 2.2. Diễn biến khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013
Năm Lượt khách Trong đó
Khách quốc tế Khách nội địa
Tổng số Tỷ trọng % Tổng số Tỷ trọng %
2000 35.011 1.073 3,1 33.938 96,9
2001 52.670 1.580 3,0 51.090 97,0
2002 54.736 1.944 3,6 52.792 96,4
2003 61.912 1.812 2,9 60.100 97,1
2004 70.479 2.106 3,0 68.373 97,0
2005 80.500 2.700 3,4 77.800 96,6
Tăng TB 18,1% 20,3% - 18,0% -
2006 95.000 2.600 2,7 92.400 97,3
2007 120.100 4.773 4,0 115.327 96,0
2008 165.312 6.517 3,9 158.795 96,1
2009 231.100 8.100 3,5 222.900 96,5
2010 361.000 20.500 5,6 340.500 94,4
Tăng TB 39,6% 67,6% - 38,6% -
Tăng TB 26,3% 34,3% - 25,9% -
(200–2010)
2011 530.900 30.900 5,8 500.000 94,2
2012 540.800 40.100 7,4 500.700 92,6
2013 640.500 60.500 9,4 580.000 90,6
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2014
73
Thời gian qua nhờ chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà nước trong hoạt động
du lịch, Phú Yên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về số lượt khách. Đặc biệt
trong khoảng 10 năm trở lại đây (2000 - 2010), tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 26,3
%. Có thể đánh giá diễn biến phát triển du khách Phú Yên theo các giai đoạn:
Giai đoạn 2000 - 2005: Tốc độ tăng trưởng bình quân về du khách hằng năm là
18,1 %. Năm 2001, lượng khách du khách du lịch đến Phú Yên đạt 52.670 lượt khách
và vẫn duy trì tăng đều ở các năm tiếp theo. Năm 2003, 2004, du lịch thế giới chịu ảnh
hưởng nặng nề từ dịch bệnh và các cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị… thì Phú Yên
vẫn duy trì được lượng khách và đến cuối năm 2005 cùng với xu hướng hồi phục của
du lịch Việt Nam, lượng du khách đến Phú Yên đạt 80.500 người, tăng 2,3 lần so với
năm 2000.
Giai đạn 2006 - 2010: cùng với sự hồi phục của du lịch thế giới và Việt Nam,
khách du lịch đến Phú Yên vẫn duy trì mạch tăng trưởng đều đặn. Du khách đến Phú
Yên qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 tăng ổn định. Năm 2010, lượng khách
du lịch đến Phú Yên đạt 361.000 lượt khách, duy trì mức tăng trưởng 39,6%.
Tính chung cho cả giai đoạn 2000 - 2010, lượng khách du lịch đến Phú Yên có
nhịp tăng trưởng tương đối bền vững ở mức 26,3 %/năm. Khách đến với mục đích
nghỉ dưỡng - tắm biển, tham dự lễ hội là lớn nhất. Tuy nhiên lượng khách này vẫn còn
thấp so với các chỉ tiêu dự báo đã đề ra. Nguyên nhân cơ bản là một số dự án chậm
đưa vào hoạt động, bên cạnh đó là việc xác định chưa chính xác luồng khách và các thị
trường gửi khách du lịch đến với Phú Yên.
Giai đoạn từ năm 2011 cho đến nay, khách du khách lịch đến Phú Yên có nhiều
thay đổi khởi sắc. Năm 2011, Phú Yên đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam
Trung Bộ. Sự kiện này đã tạo cú huých cho du lịch tỉnh nhà. Năm 2011, khách du lịch
đến Phú Yên là 530.900 lượt, tăng 47 % so với năm 2010, trong đó khách quốc tế đạt
30.900 lượt, tăng 50,7 % so với năm 2010. Từ sự kiện này khách du lịch tìm đến Phú
Yên ngày càng đông và có sự gia tăng đáng kể tỷ trọng khách nước ngoài, trong đó
luồng khách chủ yếu đến từ Nga. Năm 2013, lượng khách đến Phú Yên là 640.500
lượt trong đó du khách quốc tế là 60.500 lượt.
74
700,000
640.500
600,000
540.800
530.900
500,000
400,000
361.000
300,000
231.100
200,000
165,312
120.100
80.500 95.000
100,000
52.670 54,736 61,912 70,479
35,011
0,000
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Lượt khách
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện lượt khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013
So với các tỉnh khác trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ như Bình Định,
Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, lượng du khách đến Phú Yên còn rất khiêm tốn
(lượng khách đến Phú Yên chỉ bằng 24,4 % tới Bình Định, và 10,4 % đến Khánh
Hòa). Điều này cho thấy sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của Phú Yên còn yếu.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế cao hơn
các địa phương khác (25,2 %). Nguyên nhân chính là do sự hấp dẫn của tài nguyên du
lịch với các bãi biển đẹp và môi trường ở đây còn khá trong lành và nguyên sơ, mặc
khác là sự cải thiện của hệ thống giao thông.
- Ngày lưu trú trung bình
Số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Phú Yên cho biết số ngày lưu trú của du
khách có xu hướng tăng lên, đặc biệt là khách quốc tế. Giai đoạn 2000 - 2005 khách
quốc tế lưu trú tại Phú Yên dao động từ 1,6 - 1,8 ngày; giai đoạn từ 2006 – 2008 là 1,7
- 2 ngày, và đến năm 2010 là 2,5 ngày. Ngày lưu trú trung bình của khách nội địa cũng
dao động từ 1,2 - 1,7 ngày. Năm 2013, ngày lưu trú trung bình của khách du lịch đến
Phú Yên là 1,79 ngày, so với dự báo quy hoạch du lịch đưa ra năm 1996 là còn thấp
75
(dự báo từ 2,8 - 3,0 ngày). Nguyên nhân vì Phú Yên còn thiếu các sản phẩm du lịch
đặc trưng, có nhiều hạn chế về các dịch vụ bổ sung như vui chơi giải trí, thể thao… do
đó không thể giữ chân du khách dài ngày.
- Mức chi tiêu của khách du lịch
Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên thì giai đoạn 2000
- 2010, chi tiêu của khách du lịch tại Phú Yên trung bình một khách quốc tế là 900.000
- 1.000.000 VNĐ/ngày (tương đương với 46 USD/ngày); khách du lịch nội địa khoảng
650.000 - 700.000 VNĐ/ngày (tương ứng với 33,4 USD/ngày). Mức chi tiêu thực tế
này thấp hơn nhiều so với dự báo quy hoạch năm 1996 là khoảng 80 - 120 USD/ngày
(khách quốc tế) và 35 - 45 USD/ngày (khách nội địa).
2.2.1.2. Doanh thu du lịch
- Doanh thu du lịch
Doanh thu du lịch gồm các khoản do du khách chi trả: lưu trú, ăn uống, bán
hàng, vận chuyển… Ngoài ra còn có một số ngành dịch vụ khác không phải do ngành
du lịch trực tiếp thu: y tế, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, bảo hiểm… là những ngành
vừa phục vụ cộng đồng, vừa phục vụ du khách. Tổ chức du lịch thế giới đã áp dụng hệ
thống thống kê cho các nước thành viên về thu nhập du lịch. Nó được tính bằng toàn
bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ chi phí cho
việc vận chuyển hàng không quốc tế). Tuy nhiên ở nước ta nói chung, và Phú Yên nói
riêng, hệ thống thống kê chưa được hoàn chỉnh nên toàn bộ khoảng chi trả của du
khách chưa được thống kê chính xác.
Số liệu thống kê cho thấy, thu nhập du lịch của tỉnh vừa qua đã có sự tăng
trưởng đáng kể. Nếu như năm 2000 tổng thu nhập du lịch toàn tỉnh mới chỉ khoảng
12,3 tỷ đồng thì đến 2001 đã tăng 1,2 lần và đạt 14,77 tỷ đồng, năm 2003 là 24,63 tỷ,
2005 là 36,9 tỷ tương đương 1,942 triệu USD (dự báo 17,6 triệu USD). Tốc độ tăng
trưởng trung bình giai đoạn 2000 – 2005 là 24,4 %. Giai đoạn 2006 - 2010, tiếp tục đà
tăng trưởng đó, cùng với sự tăng mạnh mẽ của dòng khách du lịch nội địa đến Phú
Yên, thu nhập từ du lịch đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ và đột biến. Năm 2011, Phú
Yên đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ, doanh thu du lịch tăng
vượt bậc, đạt 450 tỷ đồng.
76
Bảng 2.3. Doanh thu ngành du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013
Đơn vị: Triệu đồng
Doanh thu du lịch Cơ cấu doanh thu (%) Năm
Tổng số Quốc tế Nội địa Tổng số Quốc tế Nội địa
12.389,4 533,0 11.856,4 100,0 4,3 95,7 2000
14.765,4 971,3 13.794,1 100,0 6,6 93,4 2001
18.171,0 1.194,5 16.976,5 100,0 6,6 93,4 2002
24.625,8 1.882,8 22.743,0 100,0 7,7 92,3 2003
26.544,6 2.026,8 24.517,8 100,0 7,6 92,4 2004
36.900,0 3.515,4 33.384,6 100,0 9,5 90,5 2005
57.060,0 4.450,7 52.609,3 100,0 7,8 92,2 2006
85.399,2 6.558,7 78.840,5 100,0 7,7 92,3 2007
162.176,4 15.957,7 146.218,7 100,0 9,8 90,2 2008
253.800,0 24.283,3 229.516,7 100,0 9,6 90,4 2009
450.000,0 50.400,0 399.600,0 100,0 11,2 88,8 2010
456.000,0 51.980,0 404.020,0 100,0 11,4 88,6 2011
500.000,0 60.000,0 440.000,0 100,0 12,0 88,0 2012
540.000,0 72.900,0 467.100,0 100,0 13,5 86,5 2013
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2014
- Cơ cấu doanh thu du lịch
Trong những năm qua, du lịch Phú Yên chủ yếu đáp ứng một phần nhu cầu: lưu
trú, ăn uống, vận chuyển khách. Dịch vụ lữ hành đưa khách du lịch đi tham quan danh
lam thắng cảnh còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu du lịch. Khách du lịch
lưu lại đây thường không lâu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu du lịch.
Khách du lịch đến Phú Yên (cả khách quốc tế và địa phương) đều chi tiêu nhiều cho
dịch vụ lưu trú và ăn uống. Trong doanh thu, dịch vụ ăn uống chiếm tỷ lệ dao động từ
29 - 30 %, và dịch vụ lưu trú chiếm trên dưới 36 %.
77
- Giá trị gia tăng (GDP) du lịch:
Giá trị gia tăng ngành du lịch Phú Yên năm 2000 đạt 10.514 tỷ đồng, năm 2005
đạt 24.908 tỷ và 2010 là 176 tỷ (theo giá so sánh 1994), đạt tốc độ tăng trưởng 32,5
%. Theo niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, tỷ trọng doanh thu du lịch so với tổng GDP
của tỉnh: năm 2000 là 3,8 %, năm 2005 là 3,1 %, năm 2010 là 3,6 %.
Triệu đồng
Trieu dong
600000
540.000
500.000
500000
450.000 456.000
400000
300000
253.800
200000
162.176
85.399
100000
57.060
24.626 26.545 36.900
12.389 14.765 18.171 0
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013
78
Bảng 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch Phú Yên phân theo các hạng mục giai đoạn 2001 – 2010
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2000 2001 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tăng TB
(%)
Tổng doanh 12,40 14,77 24,63 26,54 36,90 57,06 85,40 162,18 253,80 450,00 43,20
thu
Các hạng mục
Ăn uống 4,42 6,90 8,06 8,44 10,33 13,63 18,28 38,11 75,61 140,6 41,3
Lưu trú 3,43 4,64 7,88 7,68 12,08 20,31 33,26 56,53 76,98 137,5 44,6
Lữ hành 0,84 1,47 1,54 1,75 1,99 3,25 4,76 8,53 15,20 27,10 41,6
Vận chuyển 0,19 0.35 0,49 0,53 0,81 1,43 2,13 4,54 7,61 16,70 56,5
Bán hàng hóa 1,36 2,54 2,96 3,08 5,76 6,93 10,79 23,03 31,42 68,50 48,00
Doanh thu 2,15 2,27 3,69 5,07 5,93 11,51 16,17 31,43 46,98 59,50 39,40
khác
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012
79
2.2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
CSVCKT du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, thể thao, vui chơi giải
trí, phương tiện vận chuyển…
Bảng 2.5. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Yên
Tổng số cơ sở lưu trú Tổng số buồng Tổng số giường Năm
12 251 512 2000
13 282 560 2002
12 301 602 2003
15 344 669 2004
24 536 1.051 2005
Tăng TB 14,9 % 16,4 % 15,5 %
32 739 1.350 2006
35 792 1.414 2007
44 933 1.691 2008
67 1.484 2.380 2009
100 2.178 4.000 2010
23,6 % 25,8 % 23,4 % Tăng TB
108 2.500 4.200 2011
117 2.690 4.500 2012
120 2.760 4.630 2013
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012
- Cơ sở lưu trú
Giai đoạn 2000 - 2010, cơ sở lưu trú phục vụ du lịch Phú Yên phát triển khá
nhanh. Năm 2000 chỉ có 12 cơ sở hoạt động với 251 buồng và 512 giường. Năm 2005
tăng lên 24 cơ sở với 536 buồng và 1.051 giường. Đến năm 2010, Phú Yên có khoảng
100 cơ sở lưu trú với 2.178 buồng và 4000 giường. Năm 2013, cả tỉnh có 2 khách sạn
5 sao (Cenduluxe hotel, Vietstar Resort & Spa Phú Yên), 2 khách sạn 4 sao (Kaya, Sài
Gòn – Phú Yên), 01 khách sạn 3 sao, 04 khách sạn 2 sao, 39 khách sạn 1 sao, 51 nhà
nghỉ đạt tiêu chuẩn kinh doanh du lịch. Một số khách sạn, khu du lịch lớn đã đi vào
80
hoạt động và đang tiếp tục đầu tư theo tiêu chuẩn 4 - 5 sao như: khu du lịch Sao Việt,
khu du lịch Hòn Ngọc - Bãi Tràm, khu Thuận Thảo golden beach Resort, khu du lịch
Bãi Xép, khách sạn Long Beach... (Xem phụ lục 33, trang 202 – 204)
Trong những năm gần đây, du lịch phát triển khá mạnh, lượt khách du lịch lưu
trú giai đoạn 2010 - 2010 tăng bình quân 23,6 %/năm, trong đó khách quốc tế tăng 34
%/năm; số buồng lưu trú tăng 25,8 %/năm, số giường lưu trú tăng 23,4 %/năm. Cơ sở
lưu trú ở Phú Yên phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Những nơi phát triển
nhanh nhất là TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu, huyện Tuy An…
Công suất sử dụng buồng đang ngày càng tăng lên. Năm 2000, công suất sử
dụng buồng trung bình là 31 %, năm 2005 là 36 % , năm 2010 là 55,7 %. Chất lượng
cơ sở lưu trú luôn chú trọng nâng cao như tăng cường trang thiết bị, tiện nghi đầy đủ,
hiện đại, đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Quy mô cơ sở lưu trú chủ yếu là
quy mô vừa và nhỏ, đạt trung bình 22,09 buồng/cơ sở. Số cơ sở dưới 20 buồng chiếm
55,2 %, từ 20 - 40 buồng chiếm 26,86 %, trên 40 buông chiếm 11,94 %. Một số khách
sạn có số buồng lưu trú nhiều: Cendeluxe có 218 buồng, Sài Gòn - Phú Yên có 90
buồng, Kaya có 82 buồng… Trong số các cơ sở lưu trú, có 9,5 % thuộc về doanh
nghiệp nhà nước, 90,5 % thuộc về doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp liên doanh
nước ngoài.
- Cơ sở ăn uống, nhà hàng
Cơ sở ăn uống, nhà hàng có thể nằm trong hoặc độc lập với các cơ sở lưu trú,
cơ sở vui chơi giải trí… Phú Yên trong thời gian qua rất quan tâm phát triển các cơ sở
này. Hiện tại Phú Yên có khoảng 40 nhà hàng nằm trong các cơ sở lưu trú với 18.500
chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhu cầu du khách. Các cơ sở ăn
uống bên ngoài khách sạn có 67 cơ sở với 8.500 chỗ ngồi, trong đó có 26 cơ sở có quy
mô lớn và chất lượng cao. Chúng phần lớn nằm ở TP Tuy Hòa. Giá cả cho dịch vụ ăn
uống ở Phú Yên rẻ hơn nhiều nơi khác, trung bình từ 50.000 - 200.000 đồng /xuất ăn.
Đây là một lợi thế cho du lịch tỉnh nhà.
- Các khu vui chơi, giải trí và dịch vụ khác
Các khu vui chơi giải trí bao gồm trung tâm thể thao, nhà hát, rạp chiếu phim,
bể bơi, vũ trường… có tác dụng bổ trợ, thậm chí có khi đóng vai trò quan trọng để thu
81
hút và giữ chân khách. Hiện toàn tỉnh có 1 sân vận động, 6 nhà thi đấu thể thao. Các
trung tâm giải trí Trung tâm giải trí và sinh thái Thuận Thảo, Câu lạc bộ Phù Đổng,
Khu du lịch sinh thái Đá Bia, Khu du lịch Nhất Tự Sơn… Nhìn chung, các khu vui
chơi, giải trí ở Phú Yên còn ít về số lượng và kém về chất lượng. Những dịch vụ bổ trợ
cho du lịch vẫn còn là điểm yếu của tỉnh.
2.2.1.4. Lao động trong ngành du lịch
Bảng 2.6. Cơ cấu lao động ngành du lịch Phú Yên, giai đoạn 2000 - 2013
Đơn vị: Người
Năm Tổng số Trình độ đào tạo
ĐH và trên ĐH CĐ và Trung học Lao động khác
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
20 10,0 29 14,0 154 76,0 2000 203
42 17,0 35 13,5 175 69,5 2001 252
45 17,0 40 14,5 183 68,5 2002 268
47 18,4 37 14,5 171 67,1 2003 255
56 18,9 46 15,5 195 65,6 2004 297
63 18,1 59 16,9 227 65,0 2005 349
98 11,1 138 15,7 644 73,2 2006 880
146 10,1 230 15,7 1.080 74,2 2007 1.456
164 9,8 264 15,8 1.242 74,4 2008 1.670
368 18,4 404 20,2 1.228 61,4 2009 2.000
530 16,3 1.140 35,1 1.580 48,6 2010 3.250
544 16,5 1.171 35,5 1.585 48,0 2011 3.300
546 16,5 1.175 35,5 1.587 48,0 2012 3.310
608 16,9 1.314 36,5 1.677 46,6 2013 3.600
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012
82
Số lượng và chất lượng lao động là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất
lượng dịch vụ du lịch. Lao động trong ngành du lịch gồm lao động trực tiếp và lao
động gián tiếp. Lao động trực tiếp là lao động làm việc trong các khách sạn, nhà hàng,
các công ty lữ hành, các cơ sở dịch vụ du lịch khác. Lao động gián tiếp tham gia vào
các hoạt động liên quan đến du lịch. Tỷ lệ giữa lao động trực tiếp và gián tiếp thường
là 1/2,2. Thời gian qua, đội ngũ hoạt động du lịch của tỉnh tăng mạnh về số lượng.
Chất lượng nguồn lao động đang ngày được cải thiện.
Người
Người
4000
3.600
3500
3.250 3.300 3.310
3000
2500
2.000
2000
1.670
1.456
1500
880
1000
500
203 252 268 255 297 349
0
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện tổng số lao động du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013
Mặc dù có sự gia tăng đáng kể về đội ngũ lao động ngành trong những năm
gần đây, đội ngũ lao động du lịch Phú Yên vẫn còn thiếu và yếu nếu so sánh với các
tỉnh thành trong khu vực: TP Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận… Nhìn
chung, lao động trong lĩnh vực du lịch của tỉnh chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ cao,
trình độ nghiệp vụ sơ cấp chiếm phần lớn, trình độ ngoại ngữ còn thấp. Hiện tại, lao
động du lịch Phú Yên đang thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng.
83
2.2.1.5. Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển
Từ những chủ trương, chính sách phù hợp Phú Yên đã thu hút được nhiều nhà
đầu tư trong và ngoài tỉnh. Tính trong giai đoạn 2006 - 2010, UBND tỉnh đã có quyết
định chấp thuận đầu tư cho 54 dự án, tổng diện tích trên 1.726 ha, tổng số vốn đăng ký
là 93.163 tỷ đồng. Trong đó: nhà đầu tư trong nước: 43 dự án với số vốn là 12.284,4 tỷ
đồng; nhà đầu tư nước ngoài: 11 dự án với số vốn là 5.054,9 triệu USD. Trong số các
dự án đầu tư có một số đã đi vào hoạt động có hiệu quả như Trung tâm giải trí và sinh
thái Thuận Thảo, khu du lịch sinh thái Đá Bia, khu du lịch Bãi Bàu, khu du lịch Núi
Thơm… Nhìn chung, vì Phú Yên là tỉnh nghèo, ngân sách du lịch còn hạn hẹp nên vốn
đầu tư cho du lịch còn thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.
2.2.1.6. Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch
Trước khi Phú Yên được đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung
Bộ (2011), còn rất ít người biết đến vùng đất này. Sự kiện trên thực sự là một sự kiện
quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của du lịch tỉnh nhà. Các hoạt động trước,
trong, và sau sự kiện đã làm gia tăng một lượng khách đáng kể đến Phú Yên. Công tác
xúc tiến và quảng bá du lịch Phú Yên đã được quan tâm thực hiện từ trước, nhưng thực
sự mạnh kể từ sự kiện trên. Một số sự kiện đáng chú ý:
- Năm 2001 có: Hội chợ triển lãm Triển vọng Việt Nam (lần 1); Hội chợ triển
lãm Việt Nam - Hoa Kỳ.
- Năm 2002 có: Hội chợ triển lãm Triển vọng Việt Nam (lần 2).
- Tháng 04.2003, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch tại TP Hồ Chí Minh
(lần 1).
- Năm 2004 có: Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam.
- Tháng 03.2005, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch tại TP Hồ Chí Minh
(lần 2).
- Năm 2009 có: Chương trình duyên dáng Việt Nam lần thứ 22; Cuộc thi chung
kết Sao Mai 2009.
- Năm 2010 có: Cuộc thi Sao Mai điểm hẹn 2010; Hoa hậu Trái Đất 2010.
- Năm 2011 có nhiều sự kiện lớn được tổ chức: Chương trình duyên dáng Việt
Nam lần 23; Hội thơ Nguyên tiêu núi Nhạn; Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch
84
các dân tộc Việt Nam khu vực miền Trung - Tây Nguyên; Liên hoan Ca múa nhạc
chuyên nghiệp các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên; Liên hoan phim Việt Nam lần thứ
17…
- Năm 2012 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại các tỉnh Tây
Nguyên.
- Năm 2013 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại Hà Nội.
- Tháng 07. 2014 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại TP Hồ
Chí Minh.
Phú Yên đã ký kết các chương trình liên kết, hợp tác phát triển du lịch với nhiều
tỉnh thành trong khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội…
Tỉnh đã tổ chức nhiều đoàn đi công tác các nước: khối EU, ASEAN, Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… để nghiên cứu thị trường du lịch cũng như quảng
bá hình ảnh Phú Yên với thế giới.
Phú Yên cũng đã xây dựng nhiều ấn phẩm quảng bá du lịch: website du lịch
Phú Yên, sách du lịch, cẩm nang xúc tiến thương mại - du lịch Phú Yên, bản đồ du
lịch Phú Yên, ảnh du lịch, phim tài liệu về du lịch Phú Yên… Hợp tác quảng bá hình
ảnh Phú Yên với đài truyền hình Việt Nam, tạp chí du lịch và giải trí, các website của
nhiều công ty lữ hành…
Nhìn chung, Phú Yên đã có nhiều cố gắng trong việc giới thiệu hình ảnh tỉnh
nhà với du khách trong và ngoài nước. Điều này đã mang lại những thành công đáng
ghi nhận bước đầu. Tuy nhiên, do kinh phí còn eo hẹp, chủ yếu là vốn nhà nước, do
một số công ty du lịch chưa thực sự tích cực trong việc quảng bá du lịch Phú Yên nên
hiệu quả còn thấp, hoạt động còn mờ nhạt.
2.2.1.7. Quản lý nhà nước về du lịch
Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Chính phủ về du lịch, sự giúp đỡ của Tổng
cục Du lịch và Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết
về phát triển du lịch ở các giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn 2011 - 2015 có thể kể
giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020”; Quyết định của UBND tỉnh
đến như: Nghị quyết Số: 36/NQ-HĐND (2011) “Về phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Phú Yên số: 1194/QĐ - UBND (2011) phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh
85
tế - xã hội vùng cao nguyên Vân Hòa tỉnh Phú Yên đến năm 2020”; Quyết định của
UBND tỉnh Phú Yên số: 911/QĐ - UBND (2013) phê duyệt “Đề án phân cấp quản lý
di tích - danh thắng đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Phú Yên”… Những nghị quyết
trên là cơ sở để định hướng du lịch, quản lý hoạt động du lịch tỉnh một cách dễ dàng,
để thu hút đầu tư từ các công ty du lịch trong và ngoài nước. Qua mỗi giai đoạn, tỉnh
Phú Yên đều có sơ kết, tổng kết kết quả thực hiện trong ngành du lịch, đưa ra kế hoạch
cho giai đoạn tiếp theo. Ngành du lịch tỉnh đã phối hợp với nhiều ngành liên quan
khác: ngành công an, ngành giao thông vận tải, ngành thông tin liên lạc, ngành xây
dựng, ngành giáo dục… để phối hợp thực hiện các chương trình, dự án du lịch.
2.2.2. Thực trạng phát triển du lịch theo lãnh thổ
2.2.2.1. Điểm du lịch
- Vũng Rô
Loại di tích: di tích lịch sử cấp quốc gia.
Năm công nhận: 18.06.1997.
Địa điểm: xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa.
Diện tích: 1.640 ha.
Vũng Rô được các dãy núi Đèo Cả, Đá Bia, Hòn Bà bao bọc cả 3 hướng Bắc,
Đông, Tây. Trong vịnh có nhiều bãi tắm: Bãi Chùa, Bãi Trân Châu, Bãi Bàng… Đá
Bia - Vũng Rô - Đèo Cả là những địa danh lịch sử, văn hóa tiêu biểu của Phú Yên.
Trong kháng chiến chống Mỹ, đây là nơi đón những con tàu không số trên tuyến
đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Hiện nay, tỉnh Phú Yên đang có kế hoạch xây
dựng nơi đây trở thành vịnh thuyền buồm đầu tiên của Việt Nam gồm cầu tàu có sức
chứa 350 thuyền buồm kích cỡ từ 10 - 60 m cùng hệ thống dịch vụ đi kèm. Tuy nhiên,
việc xây dựng cảng biển và nhà máy lọc dầu Vũng Rô đã dẫn đến xung đột lợi ích giữa
các ngành, có ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển du lịch ở đây. Vũng Rô nằm
liền kề quốc lộ 1A, quốc lộ 29, trên tuyến đường Phước Tân - Bãi Ngà và có cảng biển
Vũng Rô và do đó tiện lợi về mặt giao thông cho việc phát triển du lịch. Tuy nhiên về
mặt CSVCKT, hiện nay ở đây chưa có khách sạn, chỉ có một vài nhà nghỉ chất lượng
chưa tốt nên không thể đáp ứng nhu cầu lưu trú của du khách.
86
- Đường số 5
Loại di tích: di tích lịch sử cấp quốc gia.
Năm công nhận: 18.06.1997.
Địa điểm: huyện Tây Hòa và Đông Hòa.
Đường số 5 (nay là quốc lộ 29), là con đường liên tỉnh Phú Yên - Đắc Lắc, nối
quốc lộ 1A với quốc lộ 14, đoạn qua tỉnh Phú Yên dài 40 km. Sau khi giải phóng Buôn
Ma Thuộc ngày 15.03.1975, Quân đoàn 2 ngụy Sài Gòn đã rời bỏ Tây Nguyên rút
chạy về phía đồng bằng để cố thủ. Nhận chỉ thị của Khu ủy Khu 5, quân dân Phú Yên
đã chặn đánh quyết liệt trong 7 ngày đêm, làm cho cuộc “rút lui chiến lược” trở thành
cuộc tháo chạy tán loạn và lập chiến công to lớn trên đường số 5, góp phần làm nên
đại thắng mùa xuân 1975. Hiện nay, di tích lịch sử đường số 5 có đưa vào khai thác du
lịch nhưng còn mờ nhạt, chủ yếu phục vụ du khách địa phương tìm hiểu về lịch sử
trong những dịp lễ. Giao thông đi lại thuận lợi nhưng cơ sở lưu trú và nơi bán đồ lưu
niệm chưa có.
- Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 18.06.1997.
Địa điểm: thôn Ngân Sơn, xã Chí Thạnh, huyện Tuy An.
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai
Ngô Đình Diệm vẫn cố tình vi phạm Hiệp định. Tại Phú Yên, ngày 07/9/1954 (tức
ngày 11/8 năm Giáp Ngọ), tại Trường Ngân Sơn, dốc Nhà Thương và khu Nhà hát
Nhân dân huyện, ngụy quân đã gây ra vụ thảm sát làm 64 người chết và 76 người bị
thương. Để tưởng nhớ tinh thần đấu tranh và hy sinh anh dũng của nhân dân huyện
Tuy An, chính quyền địa phương đã xây dựng đài tưởng niệm tại trung tâm thị trấn
Chí Thạnh. Hiện nay nơi đây chỉ phục vụ du khách địa phương tìm hiểu về lịch sử.
Giao thông thuận tiện vì nằm ngay quốc lộ 1A tuy nhiên hiện xung quanh đây chưa có
cơ sở lưu trú cho du khách.
- Địa đạo Gò Thì Thùng
Loại di tích: di tích lịch sử cấp quốc gia.
Năm công nhận: 2009.
87
Địa điểm: thôn Xuân Thành, xã An Xuân, huyện Tuy An.
Địa đạo Gò Thì Thùng bắt đầu được đào từ ngày 10.05.1964, đến tháng
08.1965 thì hoàn thành. Sau khi hoàn thành, tổng chiều dài địa đạo là 1.948 m xuyên
qua Gò Thì Thùng, sâu 4,5 m, rộng 0,8 m. Toàn bộ địa đạo có 486 giếng, trên miệng
giếng lấy gỗ đặt rầm, cách 20 m chừa một cửa hông có ngụy trang, có hệ thống hầm
chỉ huy, hầm chứa nước uống, lương thực, vũ khí. Địa đạo đã góp phần đánh bại cuộc
phản công chiến lược mùa khô năm 1966 của Mỹ. Cùng với địa đạo Củ Chi (TP Hồ
Chí Minh), địa đạo Vĩnh Mốc (Quảng Trị), địa đạo Gò Thì Thùng là một trong 3 địa
đạo lớn ở nước ta. Nơi đây còn có lễ hội đua ngựa Gò Thì Thùng diễn ra vào mùng 9
tháng Giêng âm lịch hằng năm. Hiện nay đường lên gò Thì Thùng chưa thật thuận tiện,
cơ sở lưu trú mới chỉ có một vài nhà nghỉ chất lượng không cao. Nơi đây đã được tỉnh
chú trọng khai thác phục vụ du lịch nhưng nhìn chung còn chưa tương xứng với tiềm
năng, chưa quảng bá rộng rãi trên thông tin đại chúng.
- Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 27.09.1996.
Địa điểm: thôn Mỹ Phú, xã An Hiệp, huyện Tuy An.
Lê Thành Phương sinh năm 1825 tại làng Mỹ Phú, tổng Xuân Vinh (nay là thôn
Mỹ Phú, xã An Nghiệp, huyện Tuy An). Năm 1885, ông hưởng ứng chiếu Cần Vương
tập hợp nghĩa quân chống thực dân Pháp và được vua Hàm Nghi phong làm “Thống
soái Quân vụ Đại Thần”. Trong hai năm 1885 – 1886, nghĩa quân đã đánh nhiều trận
và làm chủ một vùng rộng lớn từ Phú Yên đến Bình Thuận. Hoảng sợ trước sự lớn
mạnh của nghĩa quân, tháng 2.1887, thực dân Pháp dồn lực lượng đàn áp. Ngày
14.02.1887, ông bị bắt và giam tại nhà lao An Thổ. Thực dân Pháp ra sức mua chuộc
nhưng ông không quy hàng. Ngày 20.02.1887, ông bị xử tử tại bến đò Cây Dừa. Mộ
Lê Thành Phương được đặt trên núi Đá Trắng, gần đèo Quán Cau. Hằng năm, nhân
dân tổ chức giỗ ông vào ngày 28 tháng Giêng âm lịch. Về khai thác du lịch, giao thông
đến đây tương đối thuận lợi vì nằm gần quốc lộ 1A nhưng cơ sở lưu trú hiện chưa phát
triển. Hiện nơi đây đã khai thác du lịch phục vụ du khách địa phương.
88
- Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Phú Yên
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 18.06.1997.
Địa điểm: Thị trấn La Hai, huyện Đồng Xuân.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03.02.1930), một số thanh niên tri
thức yêu nước Phú Yên tìm cách liên lạc để tổ chức các cuộc đấu tranh. Ngày
05.10.1930, tại nhà đồng chí Phan Lưu Thanh, xóm Bồ Đề, thôn Phước Long, xã Xuân
Long (nay là khu phố Long Bình, thị trấn La Hai, huyện Đồng Xuân) đã tổ chức hội
nghị thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tại Phú Yên với 8 đảng viên. Đồng chí
Phan Lưu Thanh được bầu làm Bí thư. Sau ngày đất nước thống nhất, nơi đây được
gìn giữ và công nhận là di tích lịch sử quốc gia. Về phát triển du lịch, giao thông và cơ
sở lưu trú ở đây tương đối tốt vì nằm ở thị trấn La Hai. Tuy nhiên, hiện du lịch chủ yếu
chỉ phục vụ du khách địa phương.
- Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 22.08.2008.
Địa điểm: xã Sơn Long, Sơn Định, Sơn Xuân, huyện Sơn Hòa.
Đây là nơi gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển lực lượng kháng chiến
chống Mỹ của tỉnh từ năm 1962 đến năm 1975. Di tích khu căn cứ gắn với nhà thờ
Bác Hồ và nhiều thắng cảnh đẹp của vùng cao nguyên Vân Hòa. Hiện du lịch nơi đây
còn gặp nhiều khó vì giao thông không thuận tiện và CSVCKT hầu như chưa có gì.
Vùng cao nguyên Vân Hòa ở độ cao 400 m có khí hậu mát mẻ và nổi tiếng với cây sa
nhân tím (Đà Lạt của Phú Yên). Nếu được đầu tư thích đáng thì đây sẽ là nơi nghỉ mát
lý tưởng.
- Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 27.07.1996.
Địa điểm: xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa.
Lương Văn Chánh là người Bắc Hà, dưới thời vua Lê Thế Tông được phong
chức Thiên Vũ vệ Đô chỉ huy sứ. Năm Mậu Dần 1578, ông được chúa Nguyễn Hoàng
89
cử vào ổn định vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả. Nhờ có công lớn, ông được
thăng Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, sau làm Trấn Biên quan. Ông đã chiêu
mộ lưu dân vùng Thanh – Nghệ, Thuận Hóa và các nơi khác vào khai hoang, lập ấp và
là cơ sở để chúa Nguyễn Hoàng lập ra phủ Phú Yên. Ông là vị thành hoàng mở đất
dựng làng, bảo vệ nhân dân. Ông mất ngày 19 tháng 9 năm Tân Hợi 1611. Mộ nằm
trên gò cao, quay mặt ra sông Bến Lội, hướng về núi Chóp Chài. Hằng năm vào ngày
6 tháng 2 và ngày 19 tháng 9 (âm lịch) Phú Yên tổ chức lễ hội Đền thờ Lương Văn
Chánh. Về phát triển du lịch, giao thông đến đây tương đối thuận lợi vì gần TP Tuy
Hòa tuy nhiên CSVCKT hầu như chưa có gì.
- Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh
Loại di tích: di tích lịch sử quốc gia.
Năm công nhận: 06.11.2005.
Địa điểm: xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa.
Ngày 22.12.1960, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Phú Yên và Huyện ủy Tuy Hòa
1, nhân dân xã Hòa Thịnh đã đứng lên làm cuộc Đồng khởi, đập tan bộ máy ngụy
quyền, thiết lập chính quyền tự quản cách mạng. Cuộc Đồng khởi Hòa Thịnh là bước
mở đầu quan trọng cho phong trào cách mạng vùng nông thôn đồng bằng Phú Yên,
chuyển phong trào cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, tạo cơ sở
cho nhân dân toàn tỉnh đẩy mạnh và phát triển phong trào đấu tranh cách mạng, là
bước mở đầu cho phong trào giải phóng các tỉnh đồng bằng khu 5. Cùng với Bến Tre,
Trà Bồng, Đồng khởi Hòa Thịnh đã đi vào lịch sử Phú Yên và lịch sử dân tộc. Giao
thông đến đây tương đối thuận lợi nhưng CSVCKT hầu như chưa có gì. Du lịch nơi
đây hiện chỉ chủ yếu phục vụ du khách địa phương.
- Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên Đảng
Cộng sản Việt Nam
Loại di tích: di tích khảo cổ quốc gia.
Năm công nhận: 22.08.2005.
Địa điểm: xã An Dân, huyện Tuy An.
Thành được xây dựng vào thời vua Minh Mạng (1832-1836) theo kiến trúc bình
đồ hình vuông, là trung tâm hành chính của chính quyền phong kiến từ đầu thế kỷ XIX
90
đến năm 1899 - nơi đây gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử Cuộc khởi nghĩa Cần Vương
do chí sĩ Lê Thành Phương lãnh đạo. Thành An Thổ đóng vai trò là tỉnh lỵ của Phú
Yên trong suốt gần 60 năm, sau đó là phủ lỵ của phủ Tuy An đến năm 1939. Trong
thời gian từ năm 1901 đến năm 1906, ông Trần Văn Phổ là phụ thân Tổng Bí thư Trần
Phú, đến giữ chức Giáo thụ tại Tuy An. Ông đã đưa cả gia đình đến đây làm việc, sinh
sống và đồng chí Trần Phú đã chào đời ở nơi đây vào ngày 1/5/1904. CSHT và
CSVCKT tương đối tốt vì nằm trên quốc lộ 1A và tuyến du lịch trọng yếu của tỉnh.
Hiện tại tỉnh có chú trọng phát triển du lịch phục vụ du khách địa phương và ngoài
tỉnh.
- Thành Hồ
Loại di tích: di tích khảo cổ quốc gia.
Năm công nhận: 09.2005.
Địa điểm: Thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa.
Thành Hồ còn được gọi là thành An Nghiệp, án ngữ phía bắc sông Đà Rằng, thuộc
thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa. Tuy hiện thành chỉ còn là phế tích, nhưng đây từng là
vị thế hiểm yếu về quân sự chính trị của vương quốc Chăm Pa. Thành có bình đồ hình
chữ nhật, cao 3 – 5 m, rộng 20 – 30 m, bốn chòi canh ở bốn góc. Tường thành phía nam
chạy dọc theo sông Đà Rằng, dài 825 m, đã bị nước sông xói lở. Tường thành phía đông
dài 732 m, tường phía tây dài 940 m, phía bắc dài 738 m. Giao thông đến đây và nơi lưu
trú tương đối thuận lợi vì nằm gần thị trấn Phú Hòa. Tuy nhiên, hiện di tích Thành Hồ chỉ
còn là phế tích và chưa được trùng tu thích đáng, tài nguyên du lịch đang bị suy thoái
nghiêm trọng. Du lịch ở đây chủ yếu phục vụ khách địa phương.
- Gành Đá Đĩa
Loại di tích: thắng cảnh quốc gia.
Năm công nhận: 23.01.1997.
Địa điểm: xã An Ninh Đông, huyện Tuy An.
Gành Đá Đĩa có chiều rộng khoảng 50 m và trải dài hơn 200 m, là một thắng
cảnh thiên tạo hiếm thấy. Đá ở đây được dựng đứng theo từng cột, liền khít nhau, có
tiết diện hình lục giác hoặc hình tròn, giống như những cái đĩa xếp chồng lên nhau nên
có tên gọi là gành Đá Đĩa. Theo kết quả nghiên cứu địa chất, đá ở gành Đá Đĩa là loại
91
đá bazan được hình thành do hoạt động của núi lửa cách nay khoảng gần 200 triệu
năm. Nham thạch phun ra từ miệng núi lửa gặp nước biển bất ngờ bị đông cứng lại,
đồng thời xảy ra hiện tượng ứng lực gây nên sự rạn nứt toàn bộ khối nham thạch theo
mạch dọc, xiên, ngang khiến những cột đá bị cắt thành nhiều khúc. Bên cạnh gành Đá
Đĩa có một bãi cát dài khoảng 3 km. Cát ở đây trắng mịn, sạch và nước biển luôn trong
xanh. Phong cảnh ở đây còn nguyên vẹn vẻ đẹp hoang sơ và môi trường thuần khiết.
Gành Đá Đĩa được xem là một hiện tượng địa chất hết sức độc đáo ở nước ta. Hiện tại
giao thông đến đây thuận tiện. Tuy nhiên, CSVCKT chưa được đầu tư xứng với tầm
của một thắng cảnh quốc gia. Nơi đây chưa có cơ sở lưu trú, khu bán đồ lưu niệm,
chưa có các dịch vụ đi kèm. Du lịch ở đây hiện phục vụ cho du khách trong và ngoài
nước nhưng còn chưa tương xứng với tiềm năng.
- Núi Đá Bia
Loại di tích: thắng cảnh quốc gia.
Năm công nhận: 27.03.2009.
Địa điểm: xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa.
Núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn), dân gian gọi là Núi Ông, là ngọn núi cao nhất trong
khối núi Đại Lãnh thuộc dãy núi Đèo Cả. Núi có độ cao tuyệt đối 706 m, trên đỉnh có
tảng đá cao khoảng 76 m, mây thường xuyên che lấp khối đá tạo nên cảnh quan hùng
vĩ, ấn tượng. Từ đây có thể nhìn bao quát khung cảnh xung quanh: Vũng Rô (Phú
Yên), vịnh Vân Phong (Khánh Hòa), đồng bằng Tuy Hòa, núi Chóp Chài, sông Ba...
Từ xưa, núi Đá Bia đã được xem là ngọn núi thiêng với tên gọi Lingaparvata
(cách gọi người Chăm). Tương truyền vào năm 1471, khi thân chinh cầm quân tấn
công Chămpa, vua Lê Thánh Tông dừng tại chân núi, cho quân lính trèo lên khắc tên,
ghi rõ cương vực Đại Việt tại nơi này. Vì thế, núi được gọi là núi Đá Bia. Năm
1836,vua Minh Mạng cho thể hiện hình tượng dãy núi vào Tuyên Đỉnh. Phan Thanh
Giảng vào giữa thế kỷ XIX khi quan đây cũng đã để lại bài thơ chữ Hán. Hiện tại
CSHT và CSVCKT ở đây tương đối tốt vì nằm ngay trên quốc lộ 1A, có hệ thống nhà
nghỉ đạt chuẩn cũng như các dịch vụ đi kèm khác. Nơi đây hàng năm thu hút hàng
nghìn lượt khách trong và ngoài tỉnh.
92
- Đầm Ô Loan
Loại di tích: thắng cảnh quốc gia.
Năm công nhận: 27.09.1996.
Địa điểm: huyện Tuy An.
Đầm Ô Loan nằm sát quốc lộ 1A, dưới chân đèo Quán Cau, cách thị xã Tuy
Hòa khoảng 25 km về phía Bắc. Đây là đầm nước lợ, có diện tích tự nhiên khoảng
1.570 ha, tiếp giáp các xã An Cư, An Hòa, An Hải, An Hiệp và An Ninh Đông của
huyện Tuy An. Đầm được bao bọc bởi núi Đồng Cháy, núi Cẩm và cồn cát An Hải với
một lạch nước thông ra biển về phía bắc. Giữa đầm có hai tảng đá lớn chồng lên nhau
gọi là hòn Chồng. Đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống, đầm Ô Loan giống như con
phượng hoàng đang sải cánh. Hằng năm, vào ngày mồng Bảy tháng Giêng âm lịch, lễ
hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan được tổ chức, thể hiện nét đẹp văn hóa dân
gian truyền thống của Phú Yên. Giao thông đến đây rất thuận lợi vì nằm cạnh quốc lộ
1A. Tuy nhiên CSVCKT mới chỉ có một vài nhà nghỉ, nhà hàng còn nhỏ lẻ. Hiện nay
đầm Ô Loan đã đưa vào khai thác du lịch phục vụ du khách trong và ngoài nước.
- Vịnh Xuân Đài
Loại di tích: thắng cảnh quốc gia.
Năm công nhận: 20.01.2011.
Địa điểm: thị xã Sông Cầu và huyện Tuy An.
Vịnh Xuân Đài nằm ngay bên Quốc lộ 1A rộng trên 13.000 ha, cửa vịnh rộng
khoảng 4,4 km, bờ vịnh dài đến 50 km, sâu từ 7 m đến 18 m. Ba mặt vịnh là những dải
núi bao bọc và vươn ra biển. Vịnh trải dài trên nhiều địa hình khác nhau với nhiều cái
tên: gành Đèn, mũi Đá Ong, vũng Lắm, bãi Từ Nham… Vịnh Xuân Đài nằm trải dài
và kết nối với các địa danh khác dọc theo Quốc lộ 1A tạo thành chuỗi điểm đến thú vị,
như: Đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa… Xuân Đài là một trong những nơi
đặt chân đầu tiên của lưu dân người Việt trên vùng đất trấn biên Phú Yên hơn 400 năm
trước. Nơi ghi đậm chiến công đầu tiên của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đánh
tan đội thủy quân chủ lực của Nguyễn Ánh, mở ra triều đại Tây Sơn. Đây còn là nơi
diễn ra hoạt động ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ dưới thời vua Minh
Mạng. Hiện nay vịnh Xuân Đài đang được quy hoạch trở thành khu du lịch quốc gia.
93
CSHT và CSVCKT đã và đang được đầu tư mạnh. Nơi đây hiện thường xuyên phục
vụ du khách trong và ngoài nước.
- Bãi Môn - Mũi Điện
Loại di tích: thắng cảnh quốc gia.
Năm công nhận: 2008.
Địa điểm: thôn Đồng Bé, xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa.
Bãi Môn - Mũi Điện nằm liền kề nhau. Mũi Điện còn có tên gọi là Mũi Đại Lãnh, Mũi Kê Gà, Cap Varella; có tọa độ địa lý: 12053’48’’ vĩ độ Bắc và 109027’06’’
kinh độ Đông. Từ thành phố Tuy Hoà theo tuyến đường Hoà Hiệp - Phước Tân - Bãi
Ngà khoảng 24 km hoặc đi từ thành phố Tuy Hòa theo quốc lộ 1A khoảng 25 km đến
lưng chừng đèo Cả, gặp đường xuống Vũng Rô, đi theo đường nhựa về phía Đông
khoảng 5 km là đến Bãi Môn - Mũi Điện. Từ Bãi Môn lội qua một suối nước ngọt đi
theo đường núi, vượt lên khoảng 400 bậc cấp, dài 500 m là lên đến Trạm Hải Đăng.
Cuối Thế kỷ XIX, đại úy sỹ quan người Pháp tên là Varella đã phát hiện và ghi nhận
tầm quan trọng của mũi đất này trên bản đồ hàng hải thế giới, người pháp gọi là Cap
Varella. Năm 1890, người Pháp xây dựng ngọn hải đăng với mục đích định hướng cho
tàu thuyền hoạt động trên biển ra vào vịnh Vũng Rô. Trải qua chiến tranh, ngọn hải
đăng đã bị đổ nát. Năm 1995, ngọn hải đăng được xây dựng và hoạt động lại. Đây là
một trong 8 ngọn hải đăng có trên 100 năm tuổi trong tổng số 79 ngọn hải đăng đang
hoạt động của Việt Nam; là ngọn hải đăng nằm gần hải phận quốc tế nhất. Còn Bãi
Môn là bãi biển được Mũi Nạy ở phía Bắc và Mũi Điện ở phía Nam che chắn, bờ biển
dài hơn 400 m, cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng nhẹ, độ dốc nhỏ và thoải dần ra
xa. Hiện tại đường tới Bãi Môn – Mũi Điện khá thuận lợi. Tuy nhiên, CSVCKT ở đây
còn yếu, chỉ có một trạm dừng chân nhỏ và chưa có các dịch vụ khác. Hiện nơi đây đã
được khai thác phục vụ du lịch cho du khách trong và ngoài nước.
- Tháp Nhạn
Loại di tích: di tích kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.
Năm công nhận: 16.11.1988.
Địa điểm: Phường 1, thành phố Tuy Hòa, bên bờ sông Đà Rằng.
Đây là một công trình kiến trúc vào loại lớn của người Chăm, xây dựng vào
khoảng cuối thế kỷ XI, tọa lạc trên núi Nhạn ở độ cao 64 m. Tháp có cấu trúc bình đồ
94
vuông, mỗi cạnh 10 m, cao 23,5 m, gồm 3 phần chính: đế, thân và mái. Cửa tháp quay
về phía Đông. Đứng trên núi Nhạn du khách có thể ngắm toàn cảnh TP.Tuy Hòa.
Trong dân gian vẫn còn lưu lại câu chuyện về việc xây tháp Nhạn. Hằng năm vào rằm
tháng Giêng âm lịch, nơi đây diễn ra hội thơ Nguyên Tiêu thu hút đông đảo văn nghệ
sĩ và du khách. Tháp Nhạn có vị trí thuận lợi vì nằm trong TP Tuy Hòa. CSHT và
CSVCKT phục vụ du lịch tương đối tốt.
- Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang)
Loại di tích: di tích kiến trúc - nghệ thuật quốc gia.
Năm công nhận: 29.06.1997.
Địa điểm: thôn Cần Lương, xã An Dân, huyện Tuy An.
Chùa nằm trên núi có nhiều tảng đá trắng nên gọi là chùa Đá Trắng. Chùa dựa
lưng vào núi Xuân Đài có độ cao gần 100 m nhìn ra con sông Cái. Chùa được xây từ
năm 1797 dưới triều vua Quang Toản (triều Tây Sơn). Năm 1889 chùa được ban sắc
tứ. Phía Tây là khu mộ các vị hòa thượng khai sơn và trụ trì của chùa. Trong chùa có
quả Đại hồng chung nặng 330 kg do hòa thượng Pháp Ngũ đúc tại kinh đô Phú Xuân.
Xung quanh chùa là vườn xoài Đá Trắng mà ngày xưa dùng để tiến vua và mang danh
hiệu là “Bạch Thạch Yêm Ba”. Vào mùng 10 tháng Giêng âm lịch nơi đây tổ chức hội
chùa thu hút nhiều du khách.
Trên đây là những thông tin cơ bản về các điểm du lịch trọng yếu tỉnh Phú Yên.
Trong luận văn, tác giả đã tiến hành đánh giá mức độ thuận lợi của từng điểm trên.
Những điểm này được đánh giá bởi 8 tiêu chí khác nhau. Các điểm du lịch được đánh
giá là những nơi có tài nguyên du lịch được công nhận cấp quốc gia và có vai trò quan
trọng cho du lịch tỉnh. Có một số điểm không được tiến hành đánh giá vì thiếu một số
thông tin cần thiết và vì vai trò không thực sự quan trọng của nó đối với du lịch tỉnh
Phú Yên.
95
Bảng 2.7. Kết quả tổng điểm đánh giá các điểm du lịch tỉnh Phú Yên
Điểm du lịch Độ hấp Thời Sức Vị trí CSHT và Sự kết hợp Giá trị Độ bền Tổng
dẫn của gian chứa và khả CSVCKT giữa TNDL xếp vững điểm
TNDL hoạt khách năng phục vụ du và CSHT, hạng của môi
động du lịch tiếp lịch CSVCKT trường
cận du lịch
Vũng Rô 12 6 4 3 6 9 9 8 57
Đường số 5 3 8 2 4 2 6 9 8 42
Nơi diễn ra vụ thảm sát 3 8 2 3 2 3 9 8 38
Ngân Sơn - Chí Thạnh
Địa đạo Gò Thì Thùng 9 4 8 2 6 6 9 8 52
Mộ và Đền thờ Lê 9 2 2 3 2 6 9 8 41
Thành Phương
Nơi thành lập Chi bộ 6 4 2 2 2 6 9 8 39
Đảng Cộng sản đầu
tiên tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú 6 4 2 2 2 6 9 8 39
Yên trong kháng chiến
96
chống Mỹ
2 9 2 2 4 Mộ và Đền thờ Lương 6 9 8 42
Văn Chánh
2 3 4 2 3 Đồng Khởi Hòa Thịnh 3 9 8 34
2 6 4 2 3 Thành An Thổ 3 9 8 37
2 9 8 2 4 Thành Hồ 6 9 8 48
2 12 6 8 3 Gành Đá Đĩa 6 9 8 54
6 12 6 4 3 Núi Đá Bia 9 9 8 57
2 12 6 2 4 Đầm Ô Loan 6 9 8 49
2 12 6 8 3 Vịnh Xuân Đài 6 9 8 54
6 12 6 2 4 Bãi Môn – Mũi Điện 9 9 8 54
6 9 8 6 4 Tháp Nhạn 12 9 8 62
2 9 8 2 2 Chùa Đá Trắng (Chùa 6 9 8 46
Từ Quang)
Nguồn: Tính toán của học viên
(Xem phụ lục 14 - 20, trang 175 - 190)
97
Bảng 2.8. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các điểm du lịch tỉnh Phú Yên
STT Điểm du lịch Tổng Mức độ
điểm
Vũng Rô 1 57 Rất thuận lợi
Đường số 5 2 42 Thuận lợi
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh 38 Thuận lợi 3
Địa đạo Gò Thì Thùng 52 Thuận lợi 4
5 Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương 41 Thuận lợi
6 Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh 39 Thuận lợi
Phú Yên
7 Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến 39 Thuận lợi
chống Mỹ
8 Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh 42 Thuận lợi
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh 34 Không thuận lợi 9
10 Thành An Thổ 37 Thuận lợi
11 Thành Hồ 48 Thuận lợi
12 Gành Đá Đĩa 54 Rất thuận lợi
13 Núi Đá Bia 57 Rất thuận lợi
14 Đầm Ô Loan 49 Thuận lợi
15 Vịnh Xuân Đài 54 Rất thuận lợi
16 Bãi Môn – Mũi Điện 54 Rất thuận lợi
17 Tháp Nhạn 62 Rất thuận lợi
46 Thuận lợi 18 Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang)
Nguồn: Tính toán của học viên
Kết quả 18 điểm du lịch được tiến hành đánh giá có 6 điểm du lịch rất thuận lợi,
chiếm 33,33 %; có 11 điểm du lịch thuận lợi, chiếm 61,11 %; có 1 điểm du lịch không
thuận lợi, chiếm 5,55 %. Điểm du lịch có điểm số cao nhất là Tháp Nhạn với 62 điểm.
Tỷ lệ điểm so với điểm tối đa là 86,11 %. Điểm du lịch có điểm số thấp nhất là Địa
98
điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh với 34 điểm. Tỷ lệ so với điểm tối đa là
47,22%.
Nhìn chung, hạn chế lớn nhất của các điểm du lịch là về CSHT và CSVCKT
phục vụ du lịch. Nhiều điểm tuy đã được công nhận cấp quốc gia nhưng vẫn còn khai
thác theo kiểu tự phát, sơ sài, thiếu sự quản lý chặt chẽ trong các khâu tiếp thị quảng
cáo, đưa đón khách, dịch vụ ăn uống, công tác bảo vệ mội trường… Do đó, tính hiệu
quả khi khai thác các điểm du lịch không cao. Những điểm du lịch khai thác có hiệu
quả cao thường tập trung ở TP Tuy Hòa và vùng phụ cận.
Như vậy, Phú Yên có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Điểm mạnh của du lịch
Phú Yên là tài nguyên du lịch còn hoang sơ, môi trường chưa bị suy thoái nghiêm
trọng. Tuy nhiên, điểm yếu nhất của du lịch Phú Yên là CSHT và CSVCKT, nguồn lao
động chất lượng cao. Nếu đầu tư tốt, nhất là CSHT và CSVCKT thì du lịch Phú Yên sẽ
phát triển mạnh mẽ hơn.
2.2.2.2. Cụm du lịch
Căn cứ vào sự phân bố về mặt không gian của các tài nguyên du lịch, cũng
như căn cứ vào các điều kiện KTXH, CSHT… tổ chức không gian du lịch tỉnh Phú
Yên có thể gồm các không gian trọng yếu sau:
- TP Tuy hòa và vùng phụ cận
Đặc điểm chung: Cụm du lịch này bao gồm TP Tuy Hòa và huyện Đông Hòa có diện tích tự nhiên 375 km2, dân số hơn 266,5 nghìn người, chiếm 7,5 % diện tích và 30 % dân số toàn tỉnh. Mật độ trung bình: 711 người/km2, đông nhất tỉnh. Đây là
không gian động lực cho du lịch tỉnh Phú Yên hiện nay. Hoạt động du lịch chủ yếu
gắn với đô thị Tuy Hòa với lợi thế về CSHT, CSVCKT, nhân lực. Ở đây tập trung hầu
hết các đầu mối giao thông quan trọng: quốc lộ 1A, quốc lộ 25 quốc lộ 29, ga đường
sắt Bắc – Nam, sân bay Đông Tác, cảng Vũng Rô.
Trung tâm du lịch: TP Tuy Hòa là trung tâm của cụm du lịch này và cũng là
trung tâm du lịch của tỉnh Phú Yên. Trung tâm thương mại và dịch vụ Vũng Rô là
trung tâm bổ trợ gắn với Khu kinh tế Nam Phú Yên.
Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch ở đây đa dạng và phong phú: bãi biển
Tuy Hòa, bãi biển Long Thủy, Vũng Rô, núi Đá Bia, mũi Điện, rừng cấm Bắc Đèo
99
Cả… Ở đây có nhiều làng nghề, tập quán sinh hoạt độc đáo: đan đát Vĩnh Phú, gốm
Hòa Vinh, hoa Bình Ngọc…
Sản phẩm du lịch chủ yếu:
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch tự nhiên: tham quan thắng cảnh,
nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, leo núi, du thuyền…
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch nhân văn: tham quan danh
thắng, tìm hiểu di tích lịch sử - văn hóa, tìm hiểu làng nghề truyền thống…
+ Sản phẩm du lịch gắn với đô thị: tham quan mua sắm, dịch vụ công, MICE,
quá cảnh, vui chơi giải trí.
Trong không gian du lịch này, trọng điểm đầu tư phát triển các sản phẩm du
lịch tập trung ở TP Tuy Hòa, khu vực vịnh Vũng Rô.
Đối tượng khách du lịch chủ yếu:
+ Khách du lịch với mục đích thương mại, công vụ gắn với TP Tuy Hòa, Khu
kinh tế Nam Phú Yên, cảng Vũng Rô.
+ Khách nội địa từ TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tây Nguyên, các tỉnh duyên hải
Nam Trung Bộ, khách nội tỉnh.
+ Khách quốc tế: Nga, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc…
- TX Sông Cầu và vùng phụ cận (Bắc Phú Yên)
Đặc điểm chung: Cụm du lịch này bao gồm Tx. Sông Cầu và phía Đông huyện Tuy An với diện tích tự nhiên 904 km2, dân số hơn 231 nghìn người, chiếm 17,87 % diện tích và 26,1 % dân số toàn tỉnh. Mật độ trung bình: 255,72 người/km2. Đây là
không gian chủ đạo của hoạt động nghỉ dưỡng biển, đảo của Phú Yên. Khách du lịch
có thể đến đây bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy.
Trung tâm du lịch: Trung tâm chính là Tx. Sông Cầu với các địa danh Vịnh
Xuân Đài, bãi biển Từ Nham, Gành Đá Đĩa. Trong đó Vịnh Xuân Đài là một trong
những vịnh đẹp nhất miền Trung. Trung tâm du lịch bổ trợ là khu vực đầm Cù Mông.
Tài nguyên du lịch: Vùng biển phía Bắc Phú Yên có nhiều cảnh đẹp, hệ sinh
thái nhiệt đới đặc trưng. Bờ biển khúc khuỷu, núi ăn sát ra biển tạo nên những vịnh,
đầm, đảo, bãi biển rộng có giá trị khai thác du lịch cao: vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông,
đầm Ô Loan, hòn Yến, hòn Chùa, Bãi Bàng, Bãi Bàu, Bãi Rạng, Bãi Xép… Ngoài ra
100
đây cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử và lễ hội đặc sắc của cư dân bản địa: lễ hội cầu
ngư, lễ hội Đầm Ô Loan, lễ hội đua ngựa Gò Thì Thùng… Đây là nơi thuận lợi cho
phát triển du lịch tổng hợp.
Một đặc điểm rất quan trọng làm tăng giá trị không gian du lịch là môi trường
tự nhiên ở đây khá hoang sơ, chưa chịu nhiều tác động của các hoạt động phát triển
kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nếu hoạt động nuôi trồng thủy sản ở đây không được kiểm
soát chặt chẽ theo quy hoạch thì có thể trong một thời gian không xa, những giá trị du
lịch khu vực này sẽ mất dần.
Sản phẩm du lịch chủ yếu:
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch tự nhiên: tham quan thắng cảnh,
nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, leo núi, lặn biển, du thuyền, văn hóa ẩm thực như
sò huyết, cua huỳnh đế, hàu, ghẹ, tôm hùm…
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch nhân văn: tham quan tìm hiểu di
tích khảo cổ thành An Thổ, mộ và đền thờ Lê Thành Phương…
Trong cụm du lịch này, trọng điểm đầu tư các sản phẩm du lịch tập trung ở
đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa - vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông.
Đối tượng khách du lịch chủ yếu:
+ Khách nội địa từ TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tây Nguyên, Bình Định...
+ Khách quốc tế: Nga, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc…
- Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận
Đặc điểm chung: Cụm du lịch này bao gồm toàn bộ huyện Đồng Xuân, một
phần huyện Sơn Hòa và huyện Tuy An. Đây là vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh
sống, vùng căn cứ cách mạng. Hạn chế lớn nhất ở đây là giao thông, địa hình, công tác
quảng bá, xúc tiến… Hiện nay cụm du lịch này còn kém phát triển, chỉ có một vài
điểm du lịch lẻ tẻ.
Trung tâm du lịch: Trung tâm du lịch của cụm này là cao nguyên Vân Hòa.
Trung tâm du lịch bổ trợ là thị trấn La Hai.
Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch quan trọng nhất là vùng cảnh quan và
khí hậu cao nguyên Vân Hòa, các làng văn hóa dân tộc thiểu số, cảnh quan dọc sông
Kỳ Lộ, nguồn nước khoáng nóng Trà Ô, Triêm Đức, địa đạo Gò Thì Thùng…
101
Sản phẩm du lịch chủ yếu:
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch tự nhiên: Du lịch nghỉ dưỡng
núi tại cao nguyên Vân Hòa, du lịch tham quan gắn với các vùng cảnh quan độc đáo
dọc sông Kỳ Lộ, du lịch nghỉ dưỡng suối nước khoáng Triêm Đức.
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch nhân văn: Du lịch cộng đồng
gắn với tìm hiểu văn hóa dân tộc tại buông Xí Thoại và Hà Rai, du lịch về nguồn tìm
hiểu căn cứ địa cách mạng.
Trong cụm du lịch này, trọng điểm đầu tư để phát triển các sản phẩm du lịch
tập trung ở khu nghỉ mát cao nguyên Vân Hòa.
Đối tượng khách du lịch chủ yếu:
+ Khách nội địa: Bình Định, Khánh Hòa và khách nội tỉnh.
+ Khách quốc tế: ưu tiên phân khúc thị trường khách tham quan gắn với hoạt
động nghiên cứu, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa, khám phá mạo hiểm, đối tượng
khách du lịch lưu trú dài ngày: Nhật, Pháp, Úc, Nga…
- Sông Hinh và vùng phụ cận (Tây Nam Phú Yên)
Đặc điểm chung: Cụm du lịch này bao gồm toàn bộ huyện Sông Hinh, Tây
Hòa, Phú Hòa và một phần huyện Sơn Hòa. Đây là vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh
sống, vùng căn cứ cách mạng, núi non hùng vĩ. Hạn chế lớn nhất ở đây là giao thông,
địa hình, sự phân tán các điểm du lịch, công tác quảng bá, xúc tiến… Hiện cụm du lịch
này chỉ mới có một vài điểm du lịch lẻ tẻ.
Trung tâm du lịch: Trung tâm du lịch là thị trấn Hai Riêng gắn với hồ thủy
điện Sông Hinh. Trung tâm phụ trợ là thị trấn Củng Sơn gắn với khu bảo tồn thiên
nhiên Krông Trai, hồ thủy điện Sông Ba Hạ, thác Hòa Nguyên.
Tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch tự nhiên có: khu bảo tồn thiên nhiên
Krông Trai, nước khoáng Phú Sen, suối nước nóng Lạc Sanh, vực phun Hòa Mỹ, đập
Đồng Cam, hồ thủy điện Sông Ba Hạ, hồ thủy điện Sông Hinh… Tài nguyên du lịch
nhân văn có: di tích đồng khởi Hòa Thịnh, di tích thời tiền sử Eo Bồng, gò Dương, gò
Dinh…
102
Sản phẩm du lịch chủ yếu:
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch tự nhiên: Du lịch sinh thái gắn
với khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai, hồ thủy điện Sông Ba Hạ, hồ thủy điện Sông
Hinh. Du lịch nghỉ dưỡng chữa bệnh gắn với các nguồn nước khoáng Lạc Sanh, Phú
Sen.
+ Sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch nhân văn: Du lịch gắn với tìm
hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số và hình thành các tuyến nối liền với Tây Nguyên, du
lịch làng nghề: dệt thổ cẩm, đan lát… Phát triển một số làng văn hóa du lịch của đồng
bào dân tộc, phát triển lễ hội đập Đồng Cam.
Trong không gian du lịch này, trọng điểm đầu tư phát triển các sản phẩm du
lịch tập trung ở khu vực phía bắc và phía tây hồ thủy điện Sông Hinh, khu bảo tồn
thiên nhiên Krông Trai.
Đối tượng khách du lịch chủ yếu:
+ Khách nội địa: Bình Định, Khánh Hòa, Tây Nguyên và khách nội tỉnh.
+ Khách quốc tế: ưu tiên phân khúc thị trường khách tham quan gắn với hoạt
động nghiên cứu, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa, đối tượng khách du lịch lưu trú dài
ngày: Nhật, Pháp, Úc, Nga… Đây là nơi có hoạt động du lịch núi nhằm thay đổi “khẩu
vị” cho khách du lịch biển.
Bảng 2.9. Kết quả tổng hợp điểm đánh giá các cụm du lịch tỉnh Phú Yên
Cụm DL Số lượng Thời gian CSHT và Tổng điểm
TNDL hoạt động CSVCKT
du lịch du lịch
TP Tuy Hòa và vùng phụ cận 12 9 8 29
TX Sông Cầu và vùng phụ cận 9 9 6 24
Cao nguyên Vân Hòa và vùng 3 9 2 14
phụ cận
Sông Hinh và vùng phụ cận 6 9 2 17
Nguồn: Tính toán của học viên
(Xem phụ lục 23 – 25, trang 198 – 199)
103
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các cụm du lịch tỉnh Phú Yên
Cụm du lịch Tổng điểm Mức độ
TP Tuy Hòa và vùng phụ cận 29 Rất thuận lợi
TX Sông Cầu và vùng phụ cận 24 Thuận lợi
Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận 14 Không thuận lợi
Sông Hinh và vùng phụ cận 17 Không thuận lợi
Nguồn: Tính toán của học viên
Như vậy, tổng hợp điểm các tiêu chí thì cụm du lịch có tiềm năng lớn nhất, có
hiệu quả khai thác cao là cụm du lịch TP Tuy Hòa và vùng phụ cận. Điểm số là 29, tỷ
lệ điểm so với điểm tối đa là 90,6 %. Cụm TX Sông Cầu và vùng phụ cận có tiềm
năng và hiệu quả khai thác cao thứ nhì. Điểm số là 24, tỷ lệ điểm so với điểm tối đa là
75%. Cụm có mức thuận lợi cao thứ ba là cụm Sông Hinh và vùng phụ cận với 17
điểm, tỷ lệ so với điểm tối đa là 53,1 %. Cụm Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận
có điểm số thấp nhất là 14 điểm, tỷ lệ so với điểm tối đa là 43,7 %. Đây là cụm có sức
thu hút khách hạn chế và hiệu quả khai thác kém nhất.
2.2.2.3. Tuyến du lịch
- Các tuyến du lịch nội tỉnh
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa
- Các điểm du lịch chính: Tháp Nhạn - Sông Đà Rằng - Bãi biển Tuy Hòa - Bãi
biển Long Thủy - Núi Chóp Chài - Làng hoa Bình Ngọc - Làng hoa Bình Kiến - Chùa
Bảo Lâm - Chùa Bảo Tịnh - Chùa Hồ Sơn - Khu du lịch Gió Chiều - Khu du lịch Đá
Bàn - Khu du lịch sinh thái Thuận Thảo - Khu du lịch sinh thái Sao Việt.
- Tính chất tuyến: Tổ chức theo hệ thống giao thông trong TP Tuy Hòa, phục vụ
khách tham quan, tìm hiểu các di tích và thắng cảnh trên địa bàn TP Tuy Hòa; tham
quan các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; thưởng thức các chương trình văn hóa
nghệ thuật: bài chòi, hò khoan, hò bá trạo, biểu diễn kèn đá và đàn đá…
TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu
- Các điểm du lịch biển chủ yếu trên tuyến này bao gồm: Bãi biển Long Thủy
- Hòn Chùa - Bãi Xép - Đền thờ Lê Thành Phương - Đầm Ô Loan - Rừng dương
104
Thành Lồi - Gành Đá Đĩa - Nhà thờ Mằng Lăng - Thành An Thổ - Chùa Đá Trắng -
Làng nghề nước mắm Gành Đỏ - Vũng Lắm - Vịnh Xuân Đài - Đầm Cù Mông - Bãi
Rạng - Bãi Tràm - Bãi Từ Nham…
- Tính chất tuyến: Đây là tuyến du lịch được tổ chức theo trục quốc lộ 1A để
đến phần lớn các điểm du lịch biển có giá trị ở vùng ven biển đông bắc Phú Yên.
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân
- Các điểm du lịch biển chủ yếu trên tuyến này bao gồm: Bãi biển Long Thủy -
Hòn Chùa - Bãi Xép - Đền thờ Lê Thành Phương - Đầm Ô Loan - Gành Đá Đĩa - Nhà
thờ Mằng Lăng - Thành An Thổ - Địa đạo Gò Thì Thùng - Nơi thành lập chi bộ Đảng
Cộng sản Phú Yên đầu tiên - Nước khoáng Triêm Đức - Nước khoáng Trà Ô - Buôn
Xí Thoại - Buôn Hà Rai - Hồ Phú Xuân.
- Tính chất tuyến: Tổ chức theo quốc lộ 1A, DT 641, DT 647, là tuyến du lịch
tổng hợp lịch sử - văn hóa - sinh thái - nghỉ dưỡng.
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia
- Các điểm du lịch biển chủ yếu trên tuyến này bao gồm: núi Đá Bia - Khu du
lịch Núi Đá Bia - Rừng cấm Đèo Cả - Bãi Môn - Mũi Điện - Bãi Gốc - Bãi Bàng -
Vũng Rô - Hòn Nưa - Khu di tích lịch sử Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển.
- Tính chất tuyến: Tổ chức theo quốc lộ 1A từ thành phố Tuy Hòa lên đèo Cả,
quốc lộ 29, là tuyến du lịch tham quan tổng hợp: du lịch sinh thái rừng cấm Bắc Đèo
Cả, leo núi Đá Bia, ngắm bình minh ở Bãi Môn - Mũi Điện…
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa
- Các điểm du lịch biển chủ yếu trên tuyến này bao gồm: Cao nguyên Vân Hòa
- Căn cứ cách mạng tỉnh Phú Yên - Thác Hòa Nguyên - Đập Đồng Cam - Nước
khoáng Phú Sen - Gành Đá Hòa Thắng - Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh - Thành Hồ
- Các làng nghề truyền thống.
- Tính chất tuyến: Được tổ chức theo tuyến DT 643, quốc lộ 25. Sản phẩm du
lịch chính là du lịch văn hóa lịch sử và làng nghề.
105
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa
- Các điểm du lịch biển chủ yếu trên tuyến này bao gồm: Nước khoáng Phú Sen
- Hồ thủy điện Sông Hinh - Hồ thủy điện Sông Ba Hạ - Thị trấn Hai Riêng - làng văn
hóa dân tộc thiểu số La Diêm - Khu du lịch Sơn Nguyên - Khu BTTN Krông Trai.
- Tính chất tuyến: Được tổ chức theo tuyến DT 645, quốc lộ 25 nối vùng Duyên
hải Nam Trung Bộ với Tây Nguyên. Tuyến này gắn với các giá trị văn hóa, sinh thái
miền núi phía tây Phú Yên.
Ngoài ra còn có các tuyến du lịch biển: Tuyến Vịnh Xuân Đài - Đầm Cù Mông;
Đầm Ô Loan - Hòn Lao Mái Nhà; Vịnh Vũng Rô - Hòn Nưa; Tuyến du lịch sông
Chùa; Tuyến du lịch sông Kỳ Lộ; Tuyến du lịch hạ lưu sông Ba.
Bảng 2.11. Kết quả tổng hợp điểm đánh giá các tuyến du lịch nội tỉnh Phú Yên
Thời Số Sự CSHT, gian Độ hấp Tuyến du lịch tiện CSVCph lượng Tổng hoạt dẫn của lợi về điểm TNDL ục vụ du động du TNDL GTVT lịch lịch
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 9 6 12 8 8 43
TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu 12 12 12 4 8 48
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân 12 3 2 6 29 6
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - 9 12 2 8 41 9
Núi Đá Bia
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - 9 9 2 6 20 3
Phú Hòa
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa 3 3 2 6 17 3
Nguồn: Tính toán của học viên
(Xem phụ lục 26 – 30, trang 199 – 200)
106
Bảng 2.12. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các tuyến du lịch tỉnh Phú Yên
Tuyến du lịch Tổng Mức độ
điểm
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 43 Rất thuận lợi
TP Tuy Hòa - Tuy An – TX Sông Cầu 48 Rất thuận lợi
TP Tuy Hòa - Tuy An – Đồng Xuân 29 Thuận lợi
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô – Núi Đá Bia 41 Rất thuận lợi
TP Tuy Hòa – Tuy An – Sơn Hòa – Phú Hòa 20 Không thuận lợi
TP Tuy Hòa – Sông Hinh – Sơn Hòa 17 Không thuận lợi
Nguồn: Tính toán của học viên
Như vậy, trong số 6 tuyến du lịch được đánh giá, Phú Yên có 3 tuyến du lịch
được đánh giá rất thuận lợi, chiếm 50 %. Tuyến có số điểm cao nhất là tuyến du
lịch TP Tuy Hòa - Tuy An – Tx. Sông Cầu với 48 điểm, chiếm 92,3 % so với điểm tối
đa. Tuyến được đánh giá là thuận lợi có 1 tuyến, chiếm 16,6 %. Tuyến được đánh
giá là không thuận lợi có 2 tuyến, chiếm 33,3%. Tuyến có số điểm thấp nhất là
tuyến du lịch TP Tuy Hòa – Sông Hinh – Sơn Hòa với 17 điểm, chiếm 32,7 % so với
điểm tối đa. Nếu có những giải pháp TCLT du lịch hợp lí, đặc biệt có sự đầu tư cho
CSHT, CSVCKT thì các tuyến du lịch Phú Yên sẽ có nhiều khởi sắc, tăng sức hút
với du khách hơn.
- Các tuyến du lịch liên tỉnh
Tuy Hòa - Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế - Quảng Bình
Đây là một phần của tuyến du lịch xuyên Việt nối Phú Yên với các tỉnh phía
bắc nằm trên “Con đường di sản Miền Trung”. Tuyến có nhiều tài nguyên du lịch đặc
sắc: Di tích về khởi nghĩa Tây Sơn, tháp Chăm (Bình Định); Trường Lũy (Bình Định,
Quảng Ngãi);Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An (Quảng Nam); Ngũ Hành Sơn (TP Đà
Nẵng), cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình)… Trong
tương lai khi tuyến du lịch xuyên Á qua cửa khẩu Lao Bảo phát triển, tuyến du lịch
này có thể sẽ kết nối với tuyến trên thành tuyến du lịch quốc tế.
107
Tuy Hòa - Nha Trang - Ninh Chữ
Đây là tuyến du lịch có ý ngĩa quan trọng trong vùng, quốc gia và quốc tế. Nha
Trang (Khánh Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận) là hai trọng điểm du lịch vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ. Tuyến này có thể kết nối với tuyến Đà Lạt, hồ Tuyền Lâm (Lâm
Đồng) vốn là hai trọng điểm du lịch nghỉ dưỡng khu vực phía Nam. Tuyến này có thể
mở rộng về phía Nam kết nối với vùng du lịch Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ theo
quốc lộ 1A.
Tuy Hòa - Các tỉnh Tây Nguyên
Tuyến du lịch này được tổ chức theo quốc lộ 25 và 29. Đây là tuyến du lịch có
ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển du lịch Phú Yên bởi đây là con đường ngắn
nhất đưa khách du lịch Phú Yên lên vùng núi rừng Tây Nguyên và ngược lại, đưa
khách du lịch Tây Nguyên xuống biển (khoảng 200 km). Không những thế, Phú Yên
còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hợp tác KTXH giữa Việt Nam – Lào –
Campuchia với vai trò là cửa ngõ thông ra Biển Đông. Vai trò này sẽ ngày càng rõ nét
hơn khi cảng Vũng Rô hoạt động ngày càng hiệu quả. Trên tuyến du lịch này có các
điểm du lịch đặc sắc: thác Phú Cường, hồ Ayun Hạ, cụm du lịch Ayun Pa (suối Đá,
bến Mộng, thung lũng Hồng), hồ Tân Trúc, các buôn làng dân tộc thiểu số…
108
Hình 2.6. Bản đồ Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
Người thực hiện: Học viên Trần An Vinh
109
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Phú Yên có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Vị trí địa lí là cầu nối hai miền
Nam – Bắc, cửa ngõ Tây Nguyên. TNDL Phú Yên phong phú, đặc trưng, bao gồm cả
TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn. TNDL còn hoang sơ, mới được khai thác nên ít bị
suy thoái. CSHT và CSVCKT hiện được tỉnh cố gắng dần hoàn thiện nhằm đáp ứng
tốt hơn nhu cầu của khách du lịch. Phú Yên nhìn chung có khí hậu ít biến động hơn
nhiều tỉnh miền Trung khác nên hoạt động du lịch diễn ra gần như quanh năm. Tuy
nhiên, ngành du lịch Phú Yên hiện cũng đang đứng trước nhiều khó khăn: CSHT và
CSVCKT hiện còn nhiều thiếu thốn; một số tài nguyên đã bị xuống cấp, kể cả tài
nguyên tự nhiên và nhân văn…
Về thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên, có một số nét chính sau:
Một số điểm du lịch đã và đang đưa vào hoạt động. Công tác tổ chức, kinh doanh du
lịch bước đầu có hiệu quả, thu hút du khách trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, các
điểm du lịch hầu hết mới được khai thác, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, chủ yếu dựa
trên những thế mạnh vốn có về tự nhiên. Việc đầu tư, nâng cấp, tôn tạo còn hạn chế,
công tác quy hoạch chưa được quan tâm thích đáng, công tác xúc tiến quảng bá tuy có
quan tâm nhưng chưa đủ mạnh. Hầu hết các điểm du lịch chưa khắc phục được tính
thời vụ, nhiều danh thắng đang bị suy thoái. Các cụm du lịch hoạt động có hiệu quả là
những cụm du lịch giàu tài nguyên, có CSHT, CSVCKT phát triển như: cụm TP Tuy
Hòa và vùng phụ cận, TX Sông Cầu và vùng phụ cận. Các cụm khác chưa được chú
trọng đầu tư và chưa khai thác có hiệu quả. Có ba tuyến du lịch được đánh giá là rất
thuận lợi, có khả năng phát triển cao là tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa, tuyến TP
Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu, tuyến TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá
Bia. Đây là những tuyến có TNDL trung bình cao, có CSVCKT và CSHT đã được đầu
tư tốt. Có 1 tuyến du lịch được đánh giá thuận lợi, 2 tuyến du lịch được đánh giá
không thuận lợi. Cần có những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả khai thác du
lịch tỉnh Phú Yên.
110
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU
LỊCH TỈNH PHÚ YÊN ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM
2030 VÀ CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
3.1. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030
3.1.1. Các cơ sở của định hướng
3.1.1.1. Quy hoạch phát triển du lịch quốc gia và vùng
Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định Phú Yên nằm trong vùng du lịch Duyên hải Nam
Trung Bộ với các tuyến du lịch đường bộ, đường sắt, đường không nối các trung tâm
du lịch lớn như Nha Trang, Đà Nẵng… Phía Bắc, Phú Yên giáp Bình Định là một tỉnh
nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung. Phía Nam, Phú Yên giáp Khánh Hòa
là một trung tâm du lịch lớn của vùng và của cả nước. Phía Tây, Phú Yên giáp Gia Lai
và Đắc Lắc, hai trọng điểm du lịch của Tây Nguyên có tiềm năng du lịch quốc tế thông
qua các cửa khẩu nối vùng Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Trong tương lai, Phú
Yên là điểm dừng chân lý tưởng cho khách du lịch nội địa và quốc tế. Phía Đông, Phú
Yên giáp với biển Đông với đường bờ biển dài 189 km. Đây là vùng biển giàu tiềm
năng phát triển du lịch với nguồn hải sản phong phú, nhiều vũng vịnh đẹp, nhiều bãi
tắm hấp dẫn và một nền văn hóa miền biển đặc sắc. Đây cũng là cửa ngõ giao thương
quốc tế quan trọng không những của Phú Yên mà còn của các tỉnh Tây Nguyên. Định
hướng cũng đã chỉ rõ Phú Yên giữ vai trò không chỉ là cầu nối giữa các địa phương
trong vùng Nam Trung Bộ mà còn giữa các tỉnh trong vùng du lịch Nam Trung Bộ với
Tây Nguyên. Du lịch Phú Yên hiện đang phát triển phù hợp với chiến lược phát triển
du lịch cả nước, phù hợp với chiến lược phát triển du lịch của khu vực và thế giới.
3.1.1.2. Quy hoạch phát triển KTXH của tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030
Quyết định số 122/2002/QĐ-TTg ngày 29.08.2008 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Phú Yên đến năm 2020 ghi rõ:
“…Xây dựng tỉnh Phú Yên thành một cửa ngõ mới ra Biển Đông cho vùng Tây
111
Nguyên; phấn đấu trở thành trung tâm du lịch, dịch vụ lớn trong khu vực và cả nước.
Hình thành cụm đầu mối giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ Đông Tây và
đường hàng không…”. Trong thời gian qua nhờ xác định đúng hướng phát triển, tình
hình KTXH Phú Yên phát triển khá nhanh và ổn định. Những kết quả đạt được đó có
sự đóng góp đáng kể của du lịch và ngược lại, giúp cho du lịch Phú Yên ngày càng
phát triển mạnh mẽ hơn. Phú Yên phấn đấu đến 2015 cơ cấu GDP là: Nông – lâm –
ngư nghiệp 15,9 %; Công nghiệp – xây dựng 44,3 %; Dịch vụ 39,8 %. Năm 2020 cơ
cấu GDP sẽ là: Nông – lâm – ngư nghiệp 10,2 %; Công nghiệp – xây dựng 47,3 %;
Dịch vụ 42,5 %.
3.1.1.3. Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030
- Quan điểm phát triển du lịch
Quan điểm chung
Thu hút mọi nguồn lực để phát triển du lịch Phú Yên với tốc độ nhanh và bền
vững. Phát triển du lịch gắn với bảo vệ thiên nhiên và môi trường sinh thái, gìn giữ và
phát huy văn hóa bản địa, gắn với lợi ích dân cư, xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng
cao đời sống nhân dân, giữ vững an ninh quốc phòng và ổn định chính trị, đảm bảo trật
tự an toàn xã hội.
Quan điểm cụ thể
+ Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Phú Yên đến năm 2020 ghi rõ:
“Phát triển mạnh du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, công nghiệp sạch mang
màu sắc độc đáo riêng. Tôn tạo các di tích, danh thắng, các điểm du lịch gắn với công
tác bảo vệ môi trường. Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng thu hút đầu tư: khu du lịch
liên hợp cao cấp An Phú - An Chấn; các khu đô thị du lịch và dịch vụ cao cấp (Sông
Cầu, Tuy An, Đồng Xuân); các cụm du lịch cảnh quan sinh thái, văn hóa nghỉ dưỡng,
giả trí”.
+ Quy hoạch phát triển du lịch sao cho phát huy có hiệu quả tài nguyên du lịch
tổng hợp, hạn chế phát triển manh mún, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các dự án du lịch.
+ Phát huy thế mạnh về vị trí cầu nối của hai đầu Bắc – Nam, cửa ngõ thông ra
biển của Tây Nguyên và Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia.
112
+ Phát huy giá trị văn hóa bản địa, các giá trị sinh thái ven biển, các danh lam
thắng cảnh để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù.
+ Chú trọng quan tâm đến đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào
vùng sâu, vùng xa, từng bước thực hiện xã hội hóa du lịch để phát huy tối đa tiềm
năng vốn có.
- Mục tiêu phát triển du lịch
+ Về kinh tế: Phát triển du lịch góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu
nhập, nâng cao đời sống nhân dân đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, góp
phần xóa đói giảm nghèo; đưa Phú Yên trở thành một điểm đến ưu thích của vùng
Duyên hải miền Trung.
+ Về văn hóa xã hội và môi trường: Phát triển du lịch góp phần nâng cao dân
trí, bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan, di tích lịch sử và môi trường khu vực.
+ Về an ninh quốc phòng: Phát triển du lịch với vai trò tăng cường hợp tác quốc
tế, phát triển tình đoàn kết hữu nghị anh em giữa Việt Nam với các nước mà đặc biệt
là Thái Lan, Lào, Campuchia; góp phần giữ vững an ninh và toàn vẹn lãnh thổ; giữ ổn
định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch Phú Yên theo ngành
3.1.2.1. Cơ sở dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch
Chiến lược phát triển KTXH của tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 chủ
trương đưa du lịch Phú Yên xứng đáng với vị trí cầu nối và trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn. Để đạt được điều đó cần có những nhiệm vụ và giải pháp thích hợp phát
triển du lịch theo từng giai đoạn, cần có dự báo phát triển của ngành trong thời gian
tới. Muốn có những dự báo tương đối chính xác, cơ sở dự báo được dựa trên những
căn cứ sau:
+ Quy hoạch phát triển KTXH tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025.
+ Quy hoạch phát triển du lịch Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
+ Tiềm năng du lịch tỉnh Phú Yên.
+ Hiện trạng tăng trưởng và xu hướng của dòng khách quốc tế và nội địa đến
Việt Nam nói chung và Phú Yên nói riêng.
113
+ Hiện trạng phát triển CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch của Phú Yên.
+ Các dự án đầu tư của ngành du lịch và các ngành liên quan đến du lịch ở Phú
Yên đã được cấp giấy phép và các dự án trong kế hoạch kêu gọi vốn đầu tư.
Dự báo mức tăng trưởng du lịch Phú Yên được tính theo 3 phương án: Phương
án thấp; phương án trung bình; phương án cao. Phương án trung bình được tính toán
dựa trên hiện trạng phát triển của giai đoạn trước và những yếu tố sẽ tác động trong
tương lai; phương án thấp và phương án cao chênh lệch với phương án trung bình từ 2
– 5 % tùy theo từng tiêu chí.
3.1.2.2. Dự báo một số chỉ tiêu chủ yếu
- Khách du lịch
Những năm qua lượng khách quốc tế đến Phú Yên tăng trưởng khá cao (20,3
%/năm giai đoạn 2000 – 2005; 50,0 %/năm giai đoạn 2006 – 2010) nhưng số lượng
tuyệt đối còn thấp. Năm 2000 con số này là 1.100 lượt khách (chỉ bằng 0,05 % lượng
khách đến Việt Nam), năm 2005 là 2.700 lượt khách (bằng 0,08 % lượng khách đến
Việt Nam), năm 2010 là 20.500 lượt khách (bằng 0,5 % lượng khách đến Việt Nam).
Khách quốc tế đến Phú Yên chủ yếu là từ các địa phương khác như: TP Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế… và ghé qua Phú Yên bằng đường bộ
và đường sắt. Phú Yên hiện vẫn chưa có khả năng đón khách du lịch bằng đường biển.
Tuy nhiên, trong tương lai không xa khi vịnh Vũng Rô được xây dựng trở thành khu
du lịch tổng hợp thì khả năng tiếp nhận du khách quốc tế thông qua đường biển có thể
thực hiện được. Về đường không, du khách đến Phú Yên qua sân bay Tuy Hòa tuy
nhiên số lượng còn khiêm tốn.
Khách du lịch nội địa đến Phú Yên từ khắp mọi miền đất nước nhưng chủ yếu
là các tỉnh gần kề. Trong số đó, khách du lịch quá cảnh chiếm tỷ lệ đáng kể. Ngoài ra
còn phải kể đến bộ phận lớn khách du lịch nội tỉnh đi du lịch trong địa phương mình.
Năm 2000, Phú Yên đón 32.700 lượt khách nội địa, năm 2005 tăng lên 77.800 lượt và
năm 2010 đạt 300.000 lượt.
Thời gian lưu trú của khách du lịch ở Phú Yên ngắn hơn nhiều tỉnh khác trong
khu vực. Giai đoạn 2000 – 2005 khách quốc tế lưu trú chỉ dao động từ 1,6 – 1,8 ngày,
114
năm 2006 khách quốc tế lưu trú từ 1,7 – 2 ngày và năm 2010 tăng lên 2,5 ngày; khách
nội địa lưu trú chỉ từ 1,2 – 1,7 ngày.
Trong những năm tới Phú Yên sẽ xây dựng vịnh Xuân Đài thành khu du lịch
quốc gia, vịnh Vũng Rô thành vịnh thuyền buồm đầu tiên tại Việt Nam, nâng cấp cảng
Vũng Rô và sân bay Tuy Hòa, hoàn thiện CSHT và nâng cao chất lượng CSVCKT, đa
dạng hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tăng cường quảng bá hình ảnh du
lịch thì du khách sẽ đến Phú Yên nhiều hơn và lưu trú dài ngày hơn. Tuy nhiên trong
giai đoạn 2011 – 2015, Phú Yên chưa có nhiều dự án lớn phát triển du lịch nên số lượt
khách chưa có sự thay đổi lớn. Dự đoán lượng khách quốc tế đến Phú Yên năm 2015
chiếm khoảng 0,6 – 0.65 % so với cả nước. Lượng khách sẽ tăng đáng kể sau khi hoàn
thành việc xây dựng khu du lịch vịnh Xuân Đài và Vũng Rô.
Dự báo tốc độ gia tăng lượt khách quốc tế giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 35
%/năm, giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 25 %/năm, giai đoạn 2021 – 2025 khoảng 15
%/năm, giai đoạn 2026 – 2030 khoảng 10 %/năm. Dự báo tốc độ gia tăng lượt khách
nội địa giai đoạn 2011 – 2015 khoảng 20 %/năm, giai đoạn 2016 – 2020 khoảng 15
%/năm, giai đoạn 2021 – 2025 khoảng 10 %/năm, giai đoạn 2026 – 2030 khoảng
5%/năm.
Về dự báo số ngày lưu trú, thực tiễn cho thấy sự chênh lệch thời gian lưu trú
trong các giai đoạn không lớn nên trong luận văn tác giả chỉ sử dụng một kết quả cho 3
phương án thấp, trung bình và cao. Sau mỗi giai đoạn, thời gian lưu trú tăng so với ban
đầu là 0,2 ngày.
115
Bảng 3.1. Dự báo khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030
Phương án Loại khách Hạng mục 2010 (*) 2015 2020 2025 2030
Khách quốc tế Tổng lượt khách (ngàn) 85,3 240,1 442,3 649,8 20,5
Ngày lưu trú trung bình 2,7 2,9 3,1 3,3 2,5
Phương án Tổng số ngày khách (ngàn) 51,25 230,31 696,29 1.371,13 2.144,34
1 Khách nội địa Tổng lượt khách (ngàn) 340,5 778,9 1.435,0 2.108,4 2.444,2
Ngày lưu trú trung bình 1,7 1,9 2,1 2,3 2,5
Tổng số ngày khách (ngàn) 578,85 1.479,91 3.013,50 4.849,32 6.110,50
Phương án Khách quốc tế Tổng lượt khách (ngàn) 91,9 280,4 563,9 908,1 20,5
2 Ngày lưu trú trung bình 2,7 2,9 3,1 3,3 2,5
Tổng số ngày khách (ngàn) 51,25 248,13 813,16 1.748,09 2.996,73
Khách nội địa Tổng lượt khách (ngàn) 340,5 847,2 1.704,0 2.744,3 3.502,4
Ngày lưu trú trung bình 1,7 1,9 2,1 2,3 2,5
Tổng số ngày khách (ngàn) 578,85 1.609,68 3.578,4 6.311,89 8.756,00
Phương án Khách quốc tế Tổng lượt khách (ngàn) 98,9 326,7 716,2 1.262,1 20,5
3 Ngày lưu trú trung bình 2,7 2,9 3,1 3,3 2,5
Tổng số ngày khách (ngàn) 51,25 267,03 947,43 2.220,22 4.164,93
116
Khách nội địa Tổng lượt khách (ngàn) 340,5 920.2 2.017,4 3.555,7 4.987,1
Ngày lưu trú trung bình 1,7 1,9 2,1 2,3 2,5
Tổng số ngày khách (ngàn) 578,85 1.748,38 4.236,54 8.178,11 12.467,00
Nguồn: Tính toán của học viên
(*): Số liệu hiện trạng
.
117
- Doanh thu du lịch
Bảng 3.2. Dự báo doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030
Đơn vị: Triệu USD
Phương án Loại thu nhập 2010 (*) 2015 2020 2025 2030
Phương án 1 Thu nhập từ du lịch 2,4000 14,5 48,7 123,4 214,4
quốc tế
Thu nhập từ du lịch 19,050 59,1 132,5 218,2 305,5
nội địa
Tổng cộng 21,450 73,6 181,2 341,6 519,9
Phương án 2 Thu nhập từ du lịch 2,4000 15,6 56,9 157,3 299,6
quốc tế
Thu nhập từ du lịch 19,050 64,3 157,4 284,0 437,8
nội địa
Tổng cộng 21,450 79,9 214,3 441,3 737,4
Phương án 3 Thu nhập từ du lịch 2,4000 16,8 66,3 199,8 416,4
quốc tế
Thu nhập từ du lịch 19,050 69,9 186,4 368,0 623,3
nội địa
Tổng cộng 21,450 86,7 252,7 567,8 1.039,7
Nguồn: Tính toán của học viên
(*): Số liệu hiện trạng
Hiện tại thống kê doanh thu du lịch tỉnh Phú Yên dựa trên tổng số lượt khách
đến, số ngày lưu trú trung bình trên địa bàn và khả năng chi tiêu trung bình một ngày
của du khách. Trong năm 2010, trung bình một du khách quốc tế đến Phú Yên chi tiêu
khoảng 46 USD, khách nội địa khoàng 33,4 USD. Trong những năm tới, khi sản phẩm
du lịch phong phú, đa dạng, chất lượng dịch vụ được nâng cao thì mức chi tiêu của du
khách sẽ tăng lên và do đó làm gia tăng doang thu du lịch. Căn cứ vào tổng lượt khách
đến Phú Yên, số ngày lưu trú trung bình và mức chi tiêu trung bình có thể dự đoán
được doanh thu du lịch của tỉnh trong những năm tới. Theo Sở Văn hóa, Thể thao và
118
Du lịch tỉnh Phú Yên, mức chi tiêu của du khách qua các giai đoạn được dự báo như
sau: Giai đoạn 2000 – 2010: khách quốc tế: 46,0 USD và khách nội địa: 33,4 USD;
Giai đoạn 2011 – 2015: khách quốc tế: 63,0 USD và khách nội địa: 40,0 USD; Giai
đoạn 2016 – 2020: khách quốc tế: 70,0 USD và khách nội địa: 44,0 USD; Giai đoạn
2021 – 2025: khách quốc tế: 90,0 USD và khách nội địa: 45,0 USD; Giai đoạn 2026 –
2030: khách quốc tế: 100,0 USD và khách nội địa: 50,0 USD.
- Tốc độ tăng trưởng GDP ngành du lịch
Theo số liệu thống kê tỉnh Phú Yên, tỷ trọng du lịch trong cơ cấu GDP của tỉnh
qua các năm: năm 2000 chiếm 0,67 %; năm 2005 chiếm 0,96 %; năm 2010 chiếm 3,6
%. Căn cứ vào tốc độ tăng trưởng GDP ngành du lịch và tỷ trọng của ngành so với
tổng GDP của cả tỉnh qua các năm, căn cứ trên số liệu dự báo về số lượt khách du lịch,
cơ cấu chi tiêu của du khách, tổng doanh thu du lịch trừ đi khoảng 30 % chi phí trung
gian, căn cứ vào dự báo tăng trưởng GDP tỉnh Phú Yên của Viện Nghiên cứu phát
triển Du lịch, khả năng đóng góp của du lịch trong tổng GDP của tỉnh Phú Yên trong
những năm tới được dự báo như bảng 3.3.
Bảng 3.3. Dự báo GDP du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030
(Theo giá so sánh 1994: 1USD = 11.000 VNĐ)
Chỉ tiêu Đơn vị 2010 (*) 2015 2020 2025 2030
tính
1. Tổng GDP Tỷ VNĐ 4.889,9 9.911,4 20.230,0 - -
2. Tổng GDP ngành du lịch
Tỷ VNĐ Phương án 1 176 566,7 1.395,2 2.422,4 4.003,2
Tỷ VNĐ Phương án 2 176 615,2 1.650,1 3.398,0 5.677,9
Tỷ VNĐ Phương án 3 176 667,5 1.945,7 4.372,0 8.005,6
3. Tỷ lệ GDP du lịch so với GDP toàn tỉnh
% Phương án 1 3,6 5,7 6,8 - -
% Phương án 2 3,6 6,2 8,1 - -
% Phương án 3 3,6 6,7 9,6 - -
Nguồn: Tính toán của học viên
(*): Số liệu hiện trạng
119
- Nhu cầu buồng lưu trú
Việc dự báo nhu cầu buồng lưu trú có quan hệ chặt chẽ với số lượng khách, số
ngày lưu trú bình quân, hệ số sử dụng buồng và công suất sử dụng buồng trung bình.
Trong tổng số khách du lịch sẽ có một lượng khách địa phương không cần sử dụng
dịch vụ lưu trú, một số lưu trú ở nhà người thân, nhà trọ bình dân hoặc dùng lều trại.
Bộ phận này ước tính chiếm khoảng 20 – 25 %. Như vậy lượng buồng lưu trú chỉ để
đáp ứng khoảng 75 - 80 % nhu cầu du khách.
Số ngày lưu trú bình quân của du khách đến Phú Yên năm 2010 là 2,5 ngày đối
với khách quốc tế và 1,7 ngày đối với khách nội địa. Trong những năm tới, Phú Yên sẽ
đa dạng hóa sản phẩm du lịch trong đó phát triển mạnh một số sản phẩm đặc trưng,
đầu tư nâng cấp CSHT và CSVCKT do đó sẽ làm gia tăng số ngày lưu trú trung bình
của du khách.
Công suất sử dụng phòng khách sạn ở Phú Yên năm 2010 chỉ đạt 55,7 % (Theo
tính toán của Tổ chức Du lịch thế giới thì để kinh doanh có lãi công suất sử dụng
phòng phải trên 50 %). Công suất sử dụng phòng khách sạn dự đoán năm 2015: 57 %;
năm 2020: 59 %; năm 2025: 61 %; năm 2030: 63 %.
Số giường trung bình một phòng tại các cơ sở lưu trú ở Phú Yên hiện nay chỉ
khoảng 1,6. Tuy nhiên các khách sạn hiện nay đang xây dựng trung bình 2
giường/buồng. Số giường trung bình ước tính năm 2015 là 1,7 giường/phòng; năm
2020 là 1,8 giường/phòng; năm 2025 là 1,9 giường/phòng; năm 2030 là 2,0
giường/phòng.
Số lượng phòng khách sạn được tính theo công thức:
Số phòng cần =
365 x � � x (Số giường môt phòng) (Số lượt khách)x (Số ngày lưu trú trung bình) Công suất sử dụng phòng trung bình
120
Bảng 3.4. Dự báo nhu cầu buồng lưu trú giai đoạn 2010 –2030
Phương án Nhu cầu 2010 (*) 2015 2020 2025 2030
Phương án 1 Nhu cầu cho khách 651 1.796 3.241 4.662
quốc tế
Nhu cầu cho khách 4.184 7.774 11.463 13.286
nội địa
Tổng cộng 2.138 4.835 9.570 14.704 17.948
Phương án 2 Nhu cầu cho khách 701 2.097 4.132 6.516
quốc tế
Nhu cầu cho khách 4.551 9.231 14.920 19.038
nội địa
Tổng cộng 2.138 5.252 11.328 19.052 25.554
Phương án 3 Nhu cầu cho khách 754 2.444 5.248 9.056
quốc tế
Nhu cầu cho khách 4.943 10.929 19.331 27.108
nội địa
Tổng cộng 2.138 5.697 13.337 24.579 36.164
Nguồn: Tính toán của học viên
(*): Số liệu hiện trạng
121
- Nguồn nhân lực
Dựa vào nhu cầu lao động tính bình quân một phòng khách sạn của cả nước và
khu vực là 1,6 – 1,8 lao động trực tiếp và số lao động gián tiếp kèm theo (1lao động
trực tiếp kèm theo 2 lao động gián tiếp), các tính toán về nhu cầu lao động trong du
lịch Phú Yên thời kỳ 2010 – 2030 như sau:
Bảng 3.5: Dự báo nhu cầu lao động ngành du lịch Phú Yên giai đoạn 2010 – 2030
Đơn vị: Người
Phương Nhu cầu 2010 (*) 2015 2020 2025 2030
án
Phương Lao động trực tiêp 3.250 7.736 15.312 23.526 28.716
án 1 Lao động gián tiếp 15.472 30.624 47.052 57.432
Tổng cộng 23.208 45.936 70.578 86.148
Phương Lao động trực tiêp 3.250 8.928 19.257 32.388 43.441
án 2 Lao động gián tiếp 17.856 38.514 64.776 86.882
Tổng cộng 26.784 57.771 97.164 130.323
Phương Lao động trực tiêp 3.250 10.254 24.006 44.242 65.095
án 3 Lao động gián tiếp 20.508 48.012 88.484 130.190
Tổng cộng 30.762 72.018 132.726 195.285
Nguồn: Tính toán của học viên
(*): Số liệu hiện trạng
Luận chứng các phương án phát triển
Dự báo tăng trưởng du lịch Phú Yên được tính theo 3 phương án:
Phương án 1(phương án phát triển thấp): Phương án này được tính toán dựa
trên tốc độ tăng trưởng như hiện nay và phù hợp với phương án tăng trưởng thấp của
du lịch vùng Nam Trung Bộ.
Phương án 2 (phương án phát triển trung bình): Được tính toán với tốc độ tăng
trưởng cao hơn hiện nay và phù hợp với phương án phát triển du lịch của vùng Nam
Trung Bộ.
122
Phương án 3 (phương án phát triển cao): Được tính toán với tốc độ tăng trưởng
cao hơn phương án 2 và phù hợp với phương án phát triển cao của du lịch vùng Nam
Trung Bộ.
Theo phân tích, khả năng đạt được của phương án 1 là hiện thực ngay cả khi
không có đầu tư lớn cho du lịch. Tuy nhiên phương án này chỉ dùng để dự phòng nếu
kinh tế của Phú Yên có những biến động không mong muốn.
Phương án 2 phù hợp với xu hướng phát triển chung của tỉnh và của vùng du
lịch Nam Trung Bộ nên được chọn làm phương án chủ đạo. Để đạt được những chỉ
tiêu theo phương án này cần đầu tư mạnh về CSHT, CSVCKT, đào tạo lao động cho
ngành du lịch…
Phương án 3 có thể trở thành hiện thực nếu có sự quyết tâm lớn của toàn thể
ban ngành cũng như có được nhiều thuận lời trong quá trình phát triển KTXH của tỉnh.
Trong các phương án trên, phương án 2 được chọn làm phương án chủ đạo. Tuy
nhiên, nếu tình hình phát triển du lịch diễn biến không tốt có thể chuyển sang phương
án 1. Nếu tình hình diễn biến có nhiều khởi sắc, thu hút được nhiều chương trình, dự
án đầu tư, kinh tế của tỉnh phát triển mạnh, xu hướng du lịch trong nước và quốc tế có
nhiều khả quan thì có thể nắm bắt cơ hội và chuyển sang phương án 3.
3.1.3. Định hướng phát triển du lịch Phú Yên theo lãnh thổ
3.1.3.1. Định hướng chung
Lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên có thể phân chia thành hai hướng phát triển
chính như sau:
- Hướng Bắc – Nam (hướng chủ đạo): gắn liền với quốc lộ 1A và tuyến
đường sắt Bắc – Nam, là cầu nối các tỉnh Duyên hải miền Trung. Hướng này gắn liền
với tài nguyên du lịch biển, có thể phát triển các loại hình du lịch như: tắm biển, nghỉ
dưỡng, vui chơi giải trí, tham quan phong cảnh… Đây cũng là nơi có nhiều danh thắng
nổi tiếng như: Vịnh Xuân Đài, Vũng Rô, đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, gành Đá Đĩa,
bãi Long Thủy, bãi Xép, bãi Rạng, bãi Bàu… Nhiều công trình kiến trúc tôn giáo như:
nhà thờ Mằng Lăng, chùa Bảo Lâm, chùa Bảo Tịnh… Gắn liền với cư dân đồng bằng
ven biển có nhiều nét văn hóa đặc sắc: lễ hội cầu ngư, hò bả trạo, đàn đá và kèn đá Tuy
123
An… Trục này có thế mạnh về CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch và đi qua nhiều đô
thị quan trọng của tỉnh như TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu, thị trấn Chí Thạnh.
- Hướng Đông – Tây: Hướng này gắn liền với quốc lộ 25, 29 nối Phú Yên với
các tỉnh Tây Nguyên. Trục phát triển này có thế mạnh về phát triển loại hình du lịch
sinh thái: tìm hiểu văn hóa bản địa của các dân tộc thiểu số cùng với việc ưu tiên xây
dựng một số buôn làng văn hóa: Hoài Ngãi, La Diêm, Xí Thoại; cảnh quan tự nhiên
miền núi: Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai; hồ thủy điện Sông Hinh, hồ thủy điện
Sông Ba Hạ; các mỏ nước khoáng Phú Sen, Trà Ô, Triêm Đức…; ưu tiên xây dựng
cao nguyên Vân Hòa thành trung tâm nghỉ dưỡng của tỉnh.
3.1.3.2. Tổ chức hệ thống các điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch
Điểm du lịch
- Các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia
+ Vũng Rô
Đây là điểm có nhiều lợi thế để phát triển du lịch. Tuy nhiên, việc khai thác còn
nhiều hạn chế, chưa có nhiều sản phẩm du lịch độc đáo để có thể lưu giữ du khách dài
ngày hơn. Các hoạt động dịch vụ đi kèm còn kém phát triển. Trong những năm tới cần ưu
tiên đầu tư vào CSVCKT, đặc biệt là cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ bổ
trợ khác. Dự án xây dựng vịnh thuyền buồm ở Vũng Rô cần có những tính toán cẩn trọng
tới những tác động môi trường và tránh những xung đột lợi ích với việc phát triển nhà
máy lọc dầu ở đây.
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích lịch
sử đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, tham quan thắng cảnh thiên nhiên); du lịch thể
thao (bơi thuyền, câu cá, lặn biển); du lịch khám phá (tìm hiểu ẩm thực miền biển, tìm
hiểu rạn san hô); du lịch giải trí, du lịch nghỉ dưỡng.
+ Địa đạo Gò Thì Thùng
Hiện tại việc khai thác du lịch còn nhiều hạn chế, các hoạt động dịch vụ đi kèm
còn kém phát triển. Trong những năm tới cần ưu tiên đầu tư vào CSHT mà đặc biệt là hệ
thống đường xá, đầu tư CSVCKT mà đặc biệt là cơ sở lưu trú. Phát triển du lịch địa đạo
Gò Thì Thùng cần gắn liền với trung tâm nghỉ dưỡng ở cao nguyên Vân Hòa.
124
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích lịch
sử địa đạo gò Thì Thùng); du lịch khám phá (tìm hiểu lễ hội đua ngựa); du lịch thể
thao (đua ngựa), du lịch nghỉ dưỡng.
+ Gành Đá Đĩa
Đây là điểm có nhiều lợi thế để phát triển du lịch với công trình địa chất độc đáo
và bãi biển còn nguyên sơ. Tuy nhiên hiện việc khai thác còn nhiều hạn chế, việc quảng
bá thương hiệu chưa tốt, các hoạt động dịch vụ đi kèm còn kém phát triển. Trong những
năm tới cần ưu tiên đầu tư vào CSVCKT, đặc biệt là cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống và một
số dịch vụ bổ trợ khác. Phát triển du lịch ở gành Đá Đĩa cần gắn liền với văn hóa của ngư
dân vùng biển và di tích khảo cổ kèn đá, đàn đá Tuy An.
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan và du lịch khám phá
(tham quan và khám phá thắng cảnh thiên nhiên gành Đá Đĩa); du lịch nghỉ dưỡng; du
lịch học tập, nghiên cứu.
+ Núi Đá Bia
Hiện tại đang được đầu tư khai thác du lịch tương đối tốt. Trong những năm tới
cần chú trọng hiện đại hóa CSVCKT du lịch, đào tạo nguồn lao động chuyên nghiệp
hơn. Núi Đá Bia - Đèo Cả - Vũng Rô cần phối hợp phát triển du lịch tạo thành thế liên
hoàn bổ trợ nhau để đa dạng hóa sản phẩm du lịch gồm cả du lịch núi và biển.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan và du lịch khám phá; du
lịch thể thao (leo núi); du lịch giải trí cuối tuần.
+ Vịnh Xuân Đài
Từ nay cho đến năm 2020, nơi đây sẽ được đầu tư mạnh để xây dựng thành khu
du lịch quốc gia. Việc trở thành một khu du lịch tầm cỡ cần chú ý đến những tính toán
về sức tải du lịch để đảm bảo du lịch phát triển một cách bền vững. Vịnh Xuân Đài -
gành Đá Đĩa phát triển cùng nhau sẽ tạo nên nhiều sản phẩm du lịch độc đáo thu hút
du khách trong và ngoài nước.
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan thắng
cảnh thiên nhiên); du lịch khám phá (tìm hiểu lịch sử - văn hóa, tìm hiểu hệ sinh thái
biển); du lịch thể thao (câu cá, bơi thuyền, lặn biển); du lịch nghỉ dưỡng; du lịch học
tập, nghiên cứu.
125
+ Bãi Môn – Mũi Điện
Hiện tại CSVCKT ở đây còn tương đối yếu nên cần phải được đầu tư nhiều, đặc
biệt là cơ sở lưu trú và các dịch vụ bổ trợ. Bãi Môn - Mũi Điện khi phát triển du lịch
cần gắn liền với sự phát triển của Núi Đá Bia - Đèo Cả - Vũng Rô nhằm đa dạng hóa
sản phẩm du lịch.
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan và khám phá thắng
cảnh thiên nhiên; du lịch học tập, nghiên cứu.
+ Tháp Nhạn
Với lợi thế nằm ở TP Tuy Hòa, hiện Núi Nhạn đã được khai thác du lịch khá
tốt. Tuy nhiên với hạn chế về không gian, du lịch Núi Nhạn cần chú ý đến những tính
toán về sức tải. Khai thác du lịch ở đây cần gắn liền với loại hình du lịch tham quan
làng hoa Ngọc Lãng, làng hoa Bình Kiến, tham quan chợ hoa tết ở Tuy Hòa cũng như
lễ hội đua thuyền trên sông Đà Rằng vào mùng 7 Tết hàng năm.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan tháp Nhạn,
ngắm cảnh núi Nhạn sông Đà); du lịch học tập, nghiên cứu; du lịch khám phá (tìm
hiểu về hội thơ Nguyên Tiêu).
- Các điểm du lịch có ý nghĩa vùng
+ Đường số 5
Là di tích lịch sử cấp quốc gia nhưng hiện tại hoạt động du lịch còn yếu. Để
khai thác du lịch, di tích đường số 5 cần phát triển liên kết với các điểm du lịch khác
trên hướng du lịch Đông - Tây dọc quốc lộ 29 như: chùa Hương Tích, suối nước
khoáng Lạc Sanh, hồ thủy điện Sông Hinh.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan tìm hiểu di tích lịch sử; du
lịch học tập, nghiên cứu.
+ Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương
Hiện tại nơi đây hoạt động du lịch còn yếu. Trong những năm tới cần đầu tư
trùng tu, tôn tạo di tích và phát triển lễ hội. Phát triển du lịch ở đây cần gắn với nhiều
công trình kiến trúc tôn giáo khác dọc quốc lộ 1A như: Chùa Tổ, Chùa Đá Trắng, Nhất
Tự Sơn… để tạo nên chuyến du lịch tôn giáo đặc sắc. Gắn với nó là chuyến du lịch
đến đầm Ô Loan và vịnh Xuân Đài.
126
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích lịch sử,
tham quan lễ hội); du lịch học tập, nghiên cứu.
+ Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh
Hiện tại hoạt động du lịch còn yếu. Nơi đây cần đầu tư trùng tu di tích, giữ gìn
và phát triển lễ hội hàng năm như một nét đẹp tưởng nhớ đến vị anh hùng mở cõi.
Hoạt động du lịch cần gắn với những chuyến tham quan đến gành đá Hòa Thắng,
thành Hồ, mỏ nước khoáng Phú Sen, đập Đồng Cam để tạo nên sự liên kết trong
chuyến du lịch tìm hiểu về lịch sử và văn hóa vùng đất Phú Yên.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích lịch sử,
tham quan lễ hội); du lịch học tập, nghiên cứu.
+ Thành Hồ
Đây là công trình khảo cổ có ý nghĩa quan trọng đối với lịch sử Phú Yên nói
riêng và vùng đất Nam Trung Bộ nói chung. Nó là nhân chứng cho thời kỳ nam tiến
của ông cha ta. Hiện nay công trình đang xuống cấp nghiêm trọng nên trước hết phải
đầu tư tôn tạo, theo đó là phát triển các hoạt động lễ hội. Du lịch thành Hồ cần liên kết
với nhiều điểm du lịch khác như: gành đá Hòa Thắng, mỏ nước khoáng Phú Sen, đập
Đồng Cam để tạo nên sức hấp dẫn.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích khảo
cổ, tham quan lễ hội); du lịch học tập, nghiên cứu.
+ Đầm Ô Loan
Đây là nơi có rất nhiều tiềm năng phát triển du lịch tuy nhiên hiện hoạt động du
lịch còn chưa tương xứng với tiềm năng. Trong những năm tới cần đầu tư mạnh vào cơ
sở lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí. Tuy nhiên phát triển du lịch ở đây
cần xem xét các giới hạn về sức chứa du lịch để không ảnh hưởng đến hệ sinh thái
vùng đầm cũng như cuộc sống người dân xung quanh. Phát triển du lịch đầm Ô Loan
cần gắn kết với gành Đá Đĩa và vịnh Xuân Đài để tạo nên sản phẩm du lịch biển độc
đáo.
Các loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan thắng
cảnh thiên nhiên); du lịch khám phá (tìm hiểu văn hóa ẩm thực, tìm hiểu hệ sinh thái,
127
tìm hiểu nghề nuôi trồng thủy sản); du lịch thể thao (câu cá), du lịch homestay trải
nghiệm cuộc sống ngư dân; du lịch học tập, nghiên cứu.
+ Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang)
Đây là một ngôi chùa cổ độc đáo có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch. Chùa
Đá Trắng cần gắn kết với nhiều công trình kiến trúc tôn giáo khác để tạo thành tuyến
du lịch chuyên đề về tôn giáo.
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan chùa, tham
quan lễ hội); du lịch tôn giáo; du lịch học tập, nghiên cứu.
- Các điểm du lịch có ý nghĩa địa phương
+ Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh
Loại hình du lịch có thể phát triển: tham quan di tích lịch sử; du lịch học tập,
nghiên cứu.
+ Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Phú Yên
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan di tích lịch sử; du lịch học
tập, nghiên cứu.
+ Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan di tích lịch sử; du lịch học
tập, nghiên cứu; du lịch nghỉ dưỡng.
+ Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan; du lịch học tập, nghiên
cứu.
+ Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên Đảng
Cộng sản Việt Nam
Loại hình du lịch có thể phát triển: du lịch tham quan (tham quan di tích khảo
cổ, tham quan lễ hội); du lịch học tập, nghiên cứu.
Nhìn chung những điểm du lịch này ít có thế mạnh để phát triển du lịch. Muốn
khai thác du lịch, các điểm này cần liên kết với các điểm du lịch trọng yếu khác trong
tuyến.
128
Cụm du lịch
- TP Tuy hòa và vùng phụ cận
Phạm vi: Toàn bộ diện tích TP Tuy Hòa, huyện Đông Hòa và một phần huyện
Phú Hòa. Cụm bao gồm trung tâm du lịch TP Tuy Hòa và các điểm du lịch trọng yếu:
bãi biển Tuy Hòa, bãi biển Long Thủy, khu du lịch Sao Việt, Nhạn Tháp, Vũng Rô,
núi Đá Bia, mũi Đại Lãnh, rừng cấm Bắc Đèo Cả. Một số điểm du lịch mới đề nghị
cần đẩy mạnh đầu tư: làng nghề trồng hoa Ngọc Lãng, làng nghề trồng hoa Bình Kiến,
thành Hồ, đền thờ Lương Văn Chánh.
Đây là cụm du lịch quan trọng nhất, có ý nghĩa lớn đối với Phú Yên và vùng
Duyên hải Nam Trung Bộ. Từ TP Tuy Hòa du lịch toả ra các hướng của cả tỉnh. Cụm
này tập trung nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nguồn tài nguyên du lịch nhân văn
khá phong phú và đa dạng. Hệ thống CSHT và CSVCKT phục vụ cho du lịch vào loại
tốt nhất trong cả tỉnh: sân bay Tuy Hòa (Đông Tác), cảng Vũng Rô, quốc lộ 1A, đường
sắt Bắc – Nam, các khách sạn hạng sao: Cenduluxe, Sao Việt, Kaya, Sài Gòn – Phú
Yên...
Sản phẩm du lịch chủ yếu có thể phát triển là:
+ Du lịch tham quan di tích lịch sử: đền thờ Lương Văn Chánh, thành Hồ, tháp
Nhạn;
+ Du lịch lễ hội: thơ Nguyên Tiêu trên núi Nhạn, đua thuyền đầu năm trên sông
Đà Rằng, lễ hội đền thờ Lương Văn Chánh.
+ Du lịch nghỉ dưỡng biển: bãi biển Tuy Hòa, bãi biển Long Thủy, khu du lịch
Sao Việt, bãi Môn…;
+ Du lịch thể thao: leo núi (núi Đá Bia, núi Chóp Chài), lặn biển (Vũng Rô),
đua thuyền và thúng chai (sông Đà Rằng, Vũng Rô);
+ Du lịch MICE gắn với đô thị là TP Tuy Hòa;
+ Du lịch làng nghề: làng hoa Ngọc Lãng và Bình Kiến;
+ Du lịch cuối tuần, giải trí, kết hợp mua sắm: gắn với các khu mua sắm, khu
vui chơi ở TP Tuy Hòa.
129
- TX Sông Cầu và vùng phụ cận (Bắc Phú Yên)
Phạm vi: bao gồm toàn bộ diện tích TX Sông Cầu và phần lớn huyện Tuy An.
Trung tâm du lịch của cụm là TX Sông Cầu, trung tâm du lịch phụ trợ là thị trấn Chí
Thạnh. Các điểm du lịch trọng yếu: vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông, đầm Ô Loan, gành
Đá Đĩa, Bãi Bàu, Bãi Tràm, chùa Đá Trắng. Một số điểm du lịch mới đề nghị cần đầu
tư mạnh: nhà thờ Mằng Lăng, thành An Thổ, khu ẩm thực Đầm Ô Loan, nơi diễn ra vụ
thảm sát Ngân Sơn – Chí Thạnh. Ngoài ra cụm cần chú trọng phát triển loại hình du
lịch văn hóa: lễ hội cầu ngư, lễ hội đầm Ô Loan, hò bả trạo… Đặc biệt cần nhanh
chóng quảng bá và đưa vào khai thác du lịch bộ đàn đá và kèn đá Tuy An.
Nhìn chung, cụm du lịch đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch tỉnh
Phú Yên. Đặc trưng của cụm du lịch này là tài nguyên du lịch biển phong phú và đa
dạng với nhiều điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia. Bên cạnh đó cụm cũng có nguồn tài
nguyên du lịch nhân văn đặc sắc với các di tích lịch sử, lễ hội, làng nghề, làn điệu dân
ca… Sản phẩm du lịch chủ yếu của cụm là:
+ Du lịch nghỉ dưỡng – thể thao biển: vịnh Xuân Đài;
+ Du lịch tham quan thắng cảnh, di tích lịch sử: gành Đá Đĩa, đầm Ô Loan, đầm
Cù Mông, vịnh Xuân Đài, chùa Đá Trắng, thành An Thổ, thảm sát Ngân Sơn – Chí
Thạnh;
+ Du lịch lễ hội: lễ hội cầu ngư, lễ hội đầm Ô Loan;
+ Du lịch làng nghề: bánh tráng Hòa Đa, gốm sứ Quảng Đức…;
+ Du lịch homestay ở khu vực đầm Ô Loan;
+ Du lịch tôn giáo: nhà thờ Mằng Lăng, chùa Đá Trắng, chùa Tổ, chùa Triều Tôn.
- Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận
Phạm vi: huyện Đồng Xuân, một phần huyện Sơn Hòa và Tuy An. Trung tâm
du lịch: đề nghị trong tương lai xây dựng tại cao nguyên Vân Hòa một thị trấn nghỉ
mát trở thành trung tâm du lịch của cụm, bên cạnh đó xây dựng thị trấn La Hai là trung
tâm du lịch phụ trợ. Một số điểm du lịch trọng yếu: thị trấn nghỉ mát Vân Hòa, địa đạo
gò Thì Thùng, căn cứ cách mạng tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ, nhà tù
Trà Kê, hồ Phú Xuân, suối đá đen, suối nước khoáng Triêm Đức, buôn Xí Thoại.
130
Điểm nhấn của cụm du lịch này là cao nguyên Vân Hòa với tài nguyên khí hậu
mát mẻ thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng (cao nguyên Vân Hòa được mệnh danh là Đà Lạt của Phú Yên với nhiệt độ trung bình thấp hơn 3 – 5 0C). Bên cạnh đó cụm còn có
các di tích lịch sử cách mạng, có lễ hội đua ngựa Gò Thì Thùng được tổ chức hàng
năm. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của cụm du lịch này là CSHT và CSVCKT phục vụ
du lịch. Sản phẩm du lịch chủ yếu của cụm là:
+ Du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh: nghỉ mát ở cao nguyên Vân Hòa, tắm nước
khoáng ở Trà Ô, Triêm Đức;
+ Du lịch tham quan thắng cảnh, di tích lịch sử: địa đạo gò Thì Thùng, căn cứ
cách mạng tỉnh Phú Yên thời chống Mỹ, nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên, nhà tù
Trà Kê;
+ Du lịch homestay: tìm hiểu văn hóa dân tộc ít người ở buôn Xí Thoại, buôn
Ha Rai.
- Sông Hinh và vùng phụ cận (Tây Nam Phú Yên)
Phạm vi: toàn bộ huyện Sông Hinh, một phần huyện Sơn Hòa, huyện Tây Hòa
và phía tây huyện Phú Hòa. Trung tâm du lịch của cụm là thị trấn Hai Riêng, bên cạnh
đó xây dựng thị trấn Củng Sơn là trung tâm du lịch phụ trợ. Các điểm du lịch trọng
yếu: hồ thủy điện Sông Hinh, hồ thủy điện Sông Ba Hạ, thác H’Ly, đập Đồng Cam,
buôn La Diêm, suối nước khoáng Lạc Sanh, suối nước khoáng Phú Sen, khu bảo tồn
thiên nhiên Krông Trai.
Điểm nhấn của cụm du lịch này là Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai. Bên
cạnh đó cụm còn có hai hồ thủy điện là hồ thủy điện Sông Hinh và hồ thủy điện Sông
Ba Hạ và có nhiều mỏ nước khoáng. Đây cũng là nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống tạo ra nhiều sắc thái văn hóa khác nhau. Sản phẩm du lịch chủ yếu của
cụm là:
+ Du lịch sinh thái: khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai, buôn văn hóa La Diêm;
+ Du lịch tham quan dã ngoại: hồ thủy điện Sông Hinh, hồ thủy điện Sông Ba Hạ;
+ Du lịch homestay: tìm hiểu cuộc sống dân tộc ít người ở buôn La Diêm;
+ Du lịch nghỉ dưỡng – chữa bệnh: suối nước khoáng Phú Sen, suối nước
khoáng Lạc Sanh.
131
Tuyến du lịch
- Các tuyến du lịch nội tỉnh
+ Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Tháp Nhạn – Sông Đà Rằng – Bãi biển Tuy
Hòa – Núi Chóp Chài – Làng hoa Bình Kiến – Chùa Bảo Lâm – Chùa Bảo Tịnh –
Chùa Hồ Sơn – Khu du lịch Gió Chiều – Khu du lịch Đá Bàn – Khu du lịch Sao Việt –
Bãi biển Long Thủy.
Tuyến được tổ chức theo hệ thống giao thông trong TP Tuy Hòa. Đây là tuyến
du lịch tiện lợi nhất, có giá trị và có vai trò quan trọng. Chiều dài tối đa của lộ trình
khoảng 36 km. Sản phẩm du lịch chính: mua sắm, giải trí cuối tuồn, tham quan, tìm
hiểu các di tích và thắng cảnh; tham quan các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ;
thưởng thức các chương trình văn hóa nghệ thuật: bài chòi, hò khoan, hò bá trạo, biểu
diễn kèn đá và đàn đá…
+ TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Bãi biển Long Thủy – Đảo Hòn Chùa – Bãi
Xép – Đền thờ Lê Thành Phương – Đầm Ô Loan – gành Đá Đĩa – Nhà thờ Mằng Lăng
– Thành An Thổ - Chùa Đá Trắng – Làng nghề nước mắm Gành Đỏ - Vũng Lắm –
Vịnh Xuân Đài – Đầm Cù Mông – Bãi Tràm, Bãi Bàu, Bãi Nồm.
Tuyến du lịch được tổ chức theo trục quốc lộ 1A để đến phần lớn các điểm du
lịch biển có giá trị ở vùng ven biển đông bắc Phú Yên. Chiều dài lộ trình 75 km. Sản
phầm du lịch chính: du lịch nghỉ dưỡng – thể thao biển, tham quan danh thắng, lễ hội,
ẩm thực…
+ TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Bãi biển Long Thủy – Đảo Hòn Chùa – Bãi
Xép – Đầm Ô Loan – Đền thờ Lê Thành Phương – Gành Đá Đĩa – Nhà thờ Mằng
Lăng – Thành An Thổ - Địa đạo Gò Thì Thùng – Nước khoáng Triêm Đức, nước
khoáng Trà Ô – Buôn Xí Thoại, Hà Rai.
Tuyến được tổ chức theo quốc lộ 1A, DT 641, DT 647. Chiều dài lộ trình 81
km. Sản phẩm du lịch chính: du lịch tổng hợp lịch sử - văn hóa - sinh thái - nghỉ
dưỡng.
132
+ TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Khu du lịch núi Đá Bia – Di tích lịch sử tàu
không số Vũng Rô – Bãi Môn – Mũi Điện – Rừng cấm Bắc Đèo Cả - Hòn Nưa.
Tổ chức theo quốc lộ 1A từ thành phố Tuy Hòa lên đèo Cả, quốc lộ 29. Chiều
dài lộ trình 40 km. Sản phầm du lịch chính: du lịch sinh thái rừng cấm Bắc Đèo Cả,
leo núi Đá Bia, ngắm bình minh ở Bãi Môn – Mũi Điện…
+ TP Tuy Hòa – Tuy An – Sơn Hòa – Phú Hòa (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Cao nguyên Vân Hòa – Căn cứ cách mạng
tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ - Thác Hòa Nguyên – Đập Đồng Cam –
Nước khoáng Phú Sen – Gành đá Hòa Thắng – Mộ và đền thờ Lương Văn Chánh –
Thành Hồ.
Được tổ chức theo tuyến DT 643, quốc lộ 25. Chiều dài lộ trình 95 km. Sản
phẩm du lịch chính: du lịch tham quan di tích lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh,
du lịch cộng đồng.
+ TP Tuy Hòa – Sông Hinh – Sơn Hòa (Thời gian: 1 - 2 ngày)
Các điểm du lịch nằm trên tuyến: Suối nước nóng Phú Sen – Hồ thủy điện Sông
Hinh – Hồ thủy điện Sông Ba Hạ - Buôn La Diêm – Khu Bảo tồn thiên nhiên Krông
Trai – Khu du lịch sinh thái Sơn Nguyên.
Được tổ chức theo tuyến DT 645, quốc lộ 25 nối vùng Duyên hải Nam Trung
Bộ với Tây Nguyên. Chiều dài lộ trình 150 km. Tuyến này gắn với các giá trị văn hóa,
sinh thái miền núi phía tây Phú Yên. Sản phẩm du lịch chính: du lịch sinh thái, du lịch
cộng đồng.
- Các tuyến du lịch liên tỉnh
+ Tuy Hòa – Quy Nhơn – Đà Nẵng – Huế - Quảng Bình
Tuyến du lịch này được tổ chức theo quốc lộ 1A phía bắc Phú Yên. Đây là một
phần của tuyến du lịch xuyên Việt nối Phú Yên với các tỉnh phía bắc nằm trên “Con
đường di sản Miền Trung”. Trên tuyến có nhiều tài nguyên du lịch nhân văn đặc sắc:
di tích về khởi nghĩa Tây Sơn, di tích văn hóa Chăm với hệ thống các tháp Chàm ở
Bình Đinh, Thánh địa Mỹ Sơn, bảo tàng Chăm ở Đà Nẵng, phố cổ Hội An (Quảng
Nam), cố đô Huế, di tích lịch sử cách mạng Vạn Tường, Sơn Mỹ (Quảng Ngãi)… Các
133
điểm du lịch trên sẽ bổ sung và làm tăng tính hấp dẫn của tuyến. Trong tương lai khi
tuyến du lịch quốc tế qua cửa khẩu Lao Bảo phát triển sẽ kết nối trực tiếp với tuyến
này thành tuyến du lịch quốc tế.
+ Tuy Hòa – Nha Trang – Ninh Chữ
Tuyến du lịch này được tổ chức theo quốc lộ 1A phía nam Phú Yên với Nha
Trang, Ninh Chữ là hai trọng điểm du lịch nghỉ dưỡng của vùng duyên hải Nam Trung
Bộ. Đây là tuyến du lịch có ý ngĩa quan trọng trong vùng, quốc gia và quốc tế với sản
phẩm du lịch đặc trưng là du lịch tham quan khu bảo tồn thiên nhiên và danh thắng,
tham quan di tích lịch sử cách mạng, văn hóa Việt – Chăm, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch
thể thao, du lịch MICE với các đô thị ven biển. Tuyến này có thể kết nối với tuyến Đà
Lạt, hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), có thể mở rộng về phía Nam kết nối với vùng du lịch
Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ theo quốc lộ 1A.
+ Tuy Hòa – Các tỉnh Tây Nguyên
Tuyến du lịch này được tổ chức theo quốc lộ 25 và 29. Đây là tuyến du lịch có
ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển du lịch Phú Yên bởi đây là con đường ngắn
nhất nối Phú Yên với Tây Nguyên. Không những thế, nó còn có vai trò quan trọng
trong việc thúc đẩy hợp tác KTXH giữa Việt Nam – Lào – Campuchia với vai trò là
cửa ngõ thông ra Biển Đông. Tuyến du lịch gắn kết thế mạnh giữa du lịch biển và du
lịch rừng, giữa du lịch sinh thái của đồng bằng và miền núi.
133
Hình 3.1. Bản đồ Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030
Người thực hiện: Học viên Trần An Vinh
134
3.2. Các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Yên
3.2.1. Các giải pháp về xây dựng CSHT và CSVCKT
Đầu tư kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông ven biển, điện, nước,
cầu cảng du lịch… tại các khu vực quy hoạch phát triển du lịch, từng bước hình thành
một số khu du lịch cao cấp, tạo bước đột phá trong phát triển loại hình du lịch nghỉ
dưỡng cao cấp ở Phú Yên. Tiếp tục đầu tư hệ thống giao thông đường hàng không;
đường sắt; đường bộ; đường biển đến Phú Yên. Đặc biệt, đề nghị đưa vào khai thác
loại máy bay lớn, tăng tần suất bay, mở thêm tuyến Tuy Hòa - Đà Nẵng - Hà Nội;
nâng cấp các ga đường sắt Tuy Hòa, tăng thời gian dừng tàu, tăng số ghế, nối các
chuyến tàu TP Hồ Chí Minh - Nha Trang ra đến Phú Yên; xây dựng cảng biển đón
khách du lịch ở Vũng Rô...
Phối hợp các ngành đẩy nhanh tiến độ đầu tư các dự án lớn có tác động mạnh
đến phát triển KTXH của tỉnh cũng như phát triển du lịch: dự án Hầm đường bộ qua
đèo Cả; dự án Nhà máy Lọc hóa dầu Vũng Rô và Cảng Bãi Gốc; dự án Tổ hợp du lịch
- nghỉ dưỡng ở vịnh Vũng Rô với tổng vốn đầu tư 2,5 tỉ USD do Tập đoàn Rose Rock
Group đầu tư.
3.2.2. Các giải pháp về vốn đầu tư
Cần huy động nhiều nguồn vốn cho đầu tư phát triển du lịch, và sử dụng theo
hướng đồng bộ, có trọng tâm, mang lại hiệu quả cao. Đó là các nguồn:
- Vốn ngân sách nhà nước: Dùng để ưu tiên phát triển CSHT và CSVCKT cho
các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia; đầu tư, giữ gìn, tôn tạo các tài nguyên du lịch đã
xuống cấp; bảo vệ môi trường; quảng bá và xúc tiến du lịch, đào tạo nhân lực.
- Vốn đầu tư nước ngoài: FDI, ODA. Các nguồn thu hút vốn lớn có: Ngân
hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Chính phủ Nhật Bản.
Nguồn vốn này dùng để ưu tiên phát triển các dự án du lịch lớn.
- Vốn từ các nguồn thu du lịch: Phú Yên cần tổ chức hoạt động bán vé tại các
địa điểm du lịch nhằm tạo nguồn thu và dễ quản lý hoạt động. Nguồn thu này sẽ dùng
để đầu tư ngược trở lại: CSHT, CSVCKT, hoạt động quảng bá và các hoạt động khác.
- Vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức khác: Cần tiến hành xã hội hóa hoạt
động du lịch để thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư nhằm phát huy tối đa tiềm năng du
135
lịch hiện có. Nguồn vốn đến từ: các công ty lữ hành, các cơ sở kinh doanh nhà nghỉ,
các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân…
- Vốn từ sự đóng góp của cộng đồng: Sự đóng góp của cộng đồng là một trong
những phần quan trọng để phát triển du lịch bền vững. Cộng đồng có nghĩa vụ đóng
góp vào hoạt động du lịch và gắn với nó là những quyền lợi lâu dài. Các hình thức
đóng góp như: tiền vốn, công lao động, tổ chức các lễ hội, xây dựng các làng nghề…
- Lồng ghép các chương trình dự án có liên quan: Tăng cường sự phối hợp của
các bộ, ngành để lồng ghép các chương trình, dự án khác nhau có liên quan đến hoạt
động du lịch như: chương trình 135 về xóa đói giảm nghèo, chương trình trồng rừng,
chương trình nuôi trồng thủy sản, chương trình khôi phục và phát triển làng nghề…
3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực
Đối với nguồn nhân lực hoạt động du lịch Phú Yên, do nhu cầu phát triển du
lịch ngày càng cao, đòi hỏi đội ngũ lao động trong lĩnh vực này không ngừng nâng cao
số lượng và chất lượng. Để đạt được yêu cầu trên, phải không ngừng đào tạo nguồn
nhân lực. Cần thiết phải xác định chiến lược và kinh phí thỏa đáng từ ngân sách để đào
tạo nguồn nhân lực cho du lịch. Hướng đào tạo cần mang tính chuyên sâu, bài bản và
thường xuyên tại các cơ sở trong và ngoài nước.
- Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo đủ nguồn nhân
lực du lịch trong hiện tại và trong tương lai.
- Đảm bảo sự cân đối giữa các cấp bậc đào tạo, ngành nghề đào tạo, và phân
bổ hợp lý giữa các địa phương.
- Lựa chọn chương trình, phương thức và cơ sở đào tạo phù hợp. Đối với du
lịch Phú Yên, do nằm trung tâm dải ven biển miền Trung, việc lựa chọn các cơ sở đào
tạo nguồn nhân lực gặp nhiều thuận lợi. Có thể lựa chọn các trung tâm đào tạo ở: Nha
Trang, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra có thể mở lớp ngắn hạn tại chỗ
hoặc đi tu nghiệp ở nước ngoài. Cần tranh thủ sự ủng hộ của Tổng cục du lịch Việt
Nam trong công tác đào tạo nguồn nhân lực.
- Tạo quỹ cho phát triển nguồn nhân lực.
- Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực thường xuyên và liên tục.
136
- Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, quan tâm đồng bào các dân tộc,
khuyến khích, kêu gọi lao động từ các khu vực khác.
- Tăng cường nguồn nhân lực du lịch, trong đó ưu tiên ở các vị trí làm việc trực
tiếp như nghiệp vụ, kỹ năng nghề du lịch chuyên ngành lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp,
hướng dẫn viên du lịch, an ninh khách sạn, thuyết minh viên du lịch…; tổ chức các
khóa đào tạo chuyên sâu, đào tạo tiếng Nga.
3.2.4. Các giải pháp về tổ chức quản lý
- Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về du lịch và nâng cao trình độ cho cán
bộ quản lý trên địa bàn tỉnh để tăng cường hiệu quả công tác quản lý phát triển du lịch
theo quy hoạch.
- Thành lập Ban quản lý các khu du lịch để quản lý công tác quy hoạch và đầu
tư, bảo vệ tài nguyên và quản lý hoạt động kinh doanh.
- Tăng cường sự phối hợp liên ngành trong công tác thực hiện quy hoạch du
lịch.
- Thành lập hội du lịch tỉnh, trung tâm xúc tiến du lịch để tăng cường công tác
quảng bá, xúc tiến du lịch.
3.2.5. Các giải pháp tôn tạo tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch
Bảo vệ môi trường cần các giải pháp mang tính tổng hợp. Đó là:
- Các dự án phát triển du lịch tại các điểm, khu, tuyến du lịch cần được cân
nhắc hợp lý. Đặc biệt phải tiến hành đánh giá tác động về môi trường trước mắt cũng
như lâu dài.
- Có sự phối hợp trong tuyên truyền, quản lý, kiểm soát và xử lý rác thải, xử
phạt vi phạm.
- Có sự phối hợp, trao đổi kinh nghiệm giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài
nước về quản lý và bảo vệ môi trường.
- Tăng cường công tác quản lý, bảo đảm an ninh, an toàn cho khách du lịch;
các doanh nghiệp chấp hành nghiêm túc các quy định về niêm yết và bán theo giá
niêm yết dịch vụ du lịch, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh và cung cấp những dịch vụ
chất lượng, giá cả hợp lý…
137
- Có các biện pháp đối phó với những tác động của biến đổi khí hậu tới du lịch.
Theo kịch bản Biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nếu nước biển dâng 100 cm thì diện tích ngập nước của Phú Yên là 44,3664 km2. Điều này sẽ đe dọa đến
cuộc sống của các hộ dân ven biển ở TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu, huyện Đông Hòa và
huyện Tuy An. Ngoài nguy cơ nước biển dâng, người dân phải đối mặt với nguy cơ
xâm thực, xói lở, ngập mặn, ô nhiễm môi trường biển. Hiện nay, phạm vi sạc lở ở TX
Sông Cầu từ 300 – 1.500 m, huyện Tuy An từ 700 – 1.500 m. Tốc độ sạc lở từ 10 – 20
m/năm. Phú Yên cần chú ý phòng tránh các thiên tai như: hạn hán vào mùa hè, bão và
áp thấp nhiệt đới vào thu – đông, nước biển dâng, sạc lở đất…
3.2.6. Các giải pháp về quảng bá, xúc tiến du lịch
Công tác xúc tiến quảng bá có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng thương
hiệu du lịch Phú Yên. Đây đồng thời cũng là công cụ quan trọng nhằm tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm du lịch tỉnh. Một số biện pháp cần tiến hành:
- Xây dựng chiến lược, kế hoạch về Marketing du lịch Phú Yên phù hợp với
chiến lược chung của cả nước và mang dấu ấn riêng.
- Nghiên cứu, tìm hiểu thị trường trong đó cần hướng đến thị trường trọng
điểm: Tây Âu, Nga, Đông Bắc Á, Thái Lan, Lào, Campuchia.
- Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm du lịch Phú Yên. Muốn làm được điều
này cần dựa trên những đặc điểm nổi trội về tài nguyên du lịch. Đặc trưng đó có thể
lấy từ hình ảnh Gành Đá Đĩa và Vịnh Xuân Đài.
- Sử dụng nhiều kênh xúc tiến quảng bá du lịch khác nhau cùng đội ngũ lao
động chuyên nghiệp.
- Tổ chức các hội nghị xúc tiến quảng bá du lịch Phú Yên tại nhiều nơi một
cách thường xuyên. Trước hết tiến hành ở các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, ở các tỉnh Tây Nguyên. Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu
“Phú Yên - Điểm đến hấp dẫn và thân thiện”.
3.2.7. Tăng cường hợp tác liên ngành và quốc tế
Đồng thời với các giải pháp phát huy nội lực, hợp tác liên ngành và mở rộng
quan hệ quốc tế về mọi mặt là biện pháp thực sự cần thiết nhằm thu hút các nguồn lực
138
phát triển du lịch từ bên ngoài. Có thể thông qua các tổ chức: UNWTO, PATA,
ASEANTA, IUCN, WWF, GEF…
3.2.8. Các giải pháp khác
- Tiếp tục phát triển đa dạng các sản phẩm du lịch là thế mạnh của tỉnh như:
Sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề, du lịch văn
hóa, du lịch MICE...
- Tổ chức khảo sát, xây dựng các chương trình tour ngắn ngày và dài ngày
phục vụ khách du lịch quốc tế (hướng đến khách Nga); liên kết với các công ty lữ hành
quốc tế tại TP Hồ Chí Minh, Bình Thuận, Khánh Hòa, Đà Nẵng… để đưa khách du
lịch Nga về Phú Yên.
- Phát triển du lịch gắn với cộng đồng địa phương: Việc chia sẽ nghĩa vụ và
quyền lợi thu được từ du lịch với cư dân bản địa nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá
trình phát triển du lịch. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cũng là giải
pháp để phát triển du lịch bền vững.
139
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước, du lịch Phú Yên được biết đến
như là cầu nối của vùng du lịch Nam Trung Bộ và là cửa ngõ của Tây Nguyên. Nằm
trong không gian phát triển du lịch Nam Trung Bộ, Phú Yên có các điểm nhấn rất ấn
tượng là: Vịnh Vũng Rô, Gành Đá Đĩa, Vịnh Xuân Đài. Các sản phẩm du lịch chính
yếu dựa trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa miền
biển. Hiện nay, du lịch Phú Yên còn gặp nhiều khó khăn. Các khó khăn chủ yếu do
trình độ phát triển KTXH còn nhiều yếu kém. Nhưng trong tương lai gần, trong tầm
nhìn đến năm 2030, ngành du lịch Phú yên sẽ đứng trước những triển vọng tăng
trưởng và phát triển khá sáng sủa.
Việc tổ chức không gian phát triển du lịch Phú Yên cần tập trung giải quyết
nhiệm vụ chính:
- Về tổ chức điểm du lịch: tập trung đầu tư và phát triển du lịch ở các điểm du
lịch có ý nghĩa quốc gia. Đó là: Vũng Rô; Địa đạo Gò Thì Thùng; Gành Đá Đĩa; Núi
Đá Bia; Vịnh Xuân Đài; Bãi Môn - Mũi Điện; Tháp Nhạn.
- Về tổ chức cụm du lịch: tập trung đầu tư phát triển du lịch ở cụm TP Tuy hòa
và vùng phụ cận; TX Sông Cầu và vùng phụ cận, lấy đó là trọng tâm và là động lực
phát triển du lịch chung cho toàn tỉnh. Cụm du lịch Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ
cận, Sông Hinh và vùng phụ cận cần đầu tư trước mắt về CSHT và CSVCKT.
- Về tổ chức tuyến du lịch: tập trung đầu tư phát triển du lịch ở Tuyến du lịch
tham quan TP Tuy Hòa, Tuyến TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu, Tuyến TP Tuy
Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia. Các tuyến du lịch TP Tuy Hòa - Tuy An -
Đồng Xuân; Tuyến TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa; Tuyến TP Tuy Hòa -
Sông Hinh - Sơn Hòa có vai trò bổ trợ và làm đa dạng sản phẩm du lịch tỉnh. Những
tuyến này cần đầu tư trước hết về giao thông để rút ngắn khoảng cách đến các điểm du
lịch.
Để hiện thực hoá tổ chức không gian lãnh thổ du lịch nói trên, du lịch Phú Yên
cần triển khai đồng bộ các giải pháp về: quy hoạch, đầu tư CSHT và CSVCKT, huy
động vốn, phát triển nguồn nhân lực, tạo lập và bảo vệ môi trường du lịch, đẩy mạnh
140
quảng bá và xúc tiến du lịch, hợp tác liên ngành và quốc tế, đồng thời chú trọng một số
giải pháp bổ trợ. Trong đó, quan trọng hàng đầu vẫn là:
- Đầu tư CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch (khách sạn, nhà hàng, khu vui
chơi, giải trí, trung tâm thương mại, xây dựng các danh mục, các dự án kêu gọi vốn
đầu tư nước ngoài);
- Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực;
- Đầu tư phát triển du lịch bền vững, đảm bảo an ninh, an toàn cho du khách,
phát triển du lịch cộng đồng.
141
KẾT LUẬN
1. Du lịch là một dạng hoạt động của con người liên quan đến việc di chuyển
đến một nơi khác ngoài nơi cư trú trong một khoảng thời gian ngắn để thoả mãn việc
nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, khám phá. Có nhiều hình thức du lịch khác nhau, trong đó
các hình thức có ý nghĩa nhất đối với Phú Yên là du lịch tham quan di tích lịch sử và
danh lam thắng cảnh, du lịch MICE, du lịch văn hoá.
2. TCLTDL là một hình thức tổ chức sản xuất theo lãnh thổ nên đồng thời phải
giải quyết các nhiệm vụ về kinh tế, xã hội và môi trường. TCLTDL hợp lí có vai trò
quan trọng giúp khai thác hiệu quả hơn những tiềm năng sẵn có, biến những tiềm năng
đó thành sản phẩm du lịch đặc trưng. TCLTDL chịu ảnh hưởng của hàng loạt các yếu
tố khác nhau như tài nguyên du lịch, vị trí địa lí, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật,
dân cư, điều kiện sống, thời gian rỗi rãi… trong đó ảnh hưởng mạnh nhất là TNDL.
3. Trên cơ sở lí luận về TCLTDL, luận văn đã xây dựng tiêu chí đánh giá điểm,
cụm, tuyến du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh Phú yên.
- Các tiêu chí để đánh giá điểm du lịch là: Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch;
Thời gian hoạt động du lịch (tính thời vụ); Sức chứa khách du lịch; Vị trí và khả năng
tiếp cận của điểm du lịch; CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch; Sự kết hợp đồng bộ
giữa TNDL và CSHT, CSVCKT phục vụ du lịch; Giá trị của điểm du lịch được xếp
hạng; Độ bền vững của môi trường du lịch.
- Các tiêu chí đánh giá cụm du lịch gồm: số lượng TNDL trong cụm, thời gian
có thể hoạt động du lịch, CSHT và CSVCKT, doanh thu du lịch.
- Các tiêu chí đánh giá tuyến du lịch là: số lượng tài nguyên du lịch trung bình
trong tuyến; độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch; sự tiện lợi về giao thông vận tải; sự
đồng bộ về cơ sở vật chất và thời gian có thể hoạt động du lịch.
Tuỳ theo mức độ quan trọng của các tiêu chí lại có các hệ số khác nhau. Trên
cơ sở tổng hợp điểm số đó để có thể đánh giá mức độ thuận lợi hay ý nghĩa của các
hình thức TCLTDL trên địa bàn.
4. Phú Yên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Vị trí địa lí là cầu
nối các vùng du lịch trên tuyến du lịch Bắc – Nam, cửa ngõ của Tây Nguyên, có thể
liên kết với các tỉnh thành lân cận để hình thành các tuyến du lịch. TNDL độc đáo, cả
142
TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn. TNDL có giá trị hơn cả là các bãi biển, vịnh biển,
các lễ hội văn hoá của cư dân ven biển. CSHT, CSVCKT đã và đang được hoàn thiện.
Hệ thống nhà hàng, khách sạn, các khu vui chơi giải trí đã và đang được đầu tư, nâng
cấp. Đây là những cơ hội để du lịch Phú yên phát triển.
TCLTDL ở Phú yên đã được hình thành với các điểm, cụm, tuyến du lịch. Có
những điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia: Vũng Rô, Gành Đá Đĩa, Vịnh Xuân Đài.., có
Tuy hòa và vùng phụ cận, TX Sông Cầu và vùng phụ cận là hai cụm hoạt động có
điểm du lịch mới chỉ ở dạng tiềm năng. Phú yên đã có 4 cụm du lịch, trong đó cụm TP
lịch tham quan TP Tuy Hòa, Tuyến TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu, tuyến TP
hiệu quả cao nhất. Các tuyến du lịch ở Phú Yên hoạt động hiệu quả nhất là Tuyến du
Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia.
5. Trong những năm qua, du lịch Phú Yên đã bước đầu phát triển, số lượng
khách và doanh thu du lịch tăng, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng và độc đáo hơn.
Tuy nhiên, ngành du lịch Phú Yên vẫn còn kém phát triển, chưa tương xứng với tiềm
năng. Du lịch Phú Yên mới chỉ khai thác trên cơ sở vốn tự có, chưa có sự đầu tư thoả
đáng. Sản phẩm du lịch chưa hấp dẫn khách du lịch, CSHT và CSVCKT chưa được
đầu tư đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách. Việc khai thác và quy
hoạch các điểm, cụm, tuyến du lịch còn chưa hiệu quả, chất lượng lao động trong
ngành du lịch chưa cao, lao động chủ yếu chưa qua đào tạo.
6. Để khai thác tốt tiềm năng, Phú Yên phải có những định hướng về tổ chức
hoạt động du lịch. Phát triển nhanh ngành du lịch trong chiến lược công nghiệp hóa -
hiện đại hóa của tỉnh. Phú Yên cần có những định hướng về tổ chức, khuyến khích
và tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh du lịch với những
cơ chế bình đẳng với mọi doanh nghiệp; có những định hướng sản phẩm để tăng khả
năng cạnh tranh và tăng hiệu quả kinh doanh du lịch; có những định hướng về thị
trường, về đầu tư để phát triển du lịch bền vững…
Định hướng chung để TCLTDL ở Phú Yên cần giải quyết các nhiệm vụ chính
tại các cấp điểm, cụm, tuyến du lịch khác nhau.Trên cơ sở những định hướng chung
đó, luận văn cũng đã đề ra các giải pháp để phát triển du lịch. Các giải pháp để phát
143
triển du lịch ở Phú yên là: quy hoạch du lịch, các giải pháp về vốn và đầu tư, các giải
pháp về nguồn nhân lực, các giải pháp về tổ chức và quản lý du lịch, các giải pháp để
tạo ra môi trường du lịch thân thiện... Cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp đó để du
lịch Phú Yên đạt hiệu quả cao hơn.
7. Những hạn chế của luận văn:
- Luận văn chưa xây dựng được cơ sở thuyết phục để đặt trọng số cho các tiêu
chí đánh giá điểm, cụm, tuyến du lịch. Những nghiên cứu sau cần sử dụng phương
pháp AHP để khắc phục khiếm khuyết này.
- Phần lớn các điểm du lịch hiện nay ở Phú Yên chưa tổ chức bán vé nên khó để
có những con số thống kê về số lượng và chi tiêu của du khách. Khách du lịch là một
trong những tiêu chí quan trọng đánh giá ý nghĩa của một điểm du lịch. Do đó, những
đề tài sau cần tiến hành nghiên cứu thêm về tiêu chí này.
- Cần xây dựng bảng hỏi và tiến hành điều tra xã hội học ở các điểm du lịch
trọng yếu trong tỉnh.
- Luận văn chỉ mới tính toán sức tải vật lý ở các điểm du lịch. Những mặt khác
của sức tải như: sức tải môi trường, sức tải kinh tế, sức tải tâm lý vẫn chưa được đề
cập đến.
- Luận văn chưa đề cập một cách sâu sắc tới tính liên kết vùng trong phát triển
du lịch tỉnh Phú Yên.
- Cần tiến hành phân khúc thị trường đối với du lịch Phú Yên.
- Phân tích SWOT để đưa ra những định hướng phù hợp cho phát triển du lịch
tỉnh Phú Yên.
144
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Huy Anh (2013), Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên ở huyện Phú Lộc,
tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp phát triển theo hướng bền vững, Kỷ
yếu hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 169 -
177.
2. Cục Thống kê tỉnh Phú Yên (2014), Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên 2013, Nxb
Thống kê, Hà Nội.
3. Huỳnh Thị Trúc Giang (2012), Phát triển du lịch bền vững tỉnh Đồng Tháp, hiện
trạng và định hướng, Luận văn thạc sĩ Địa lí học, Trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Phạm Hoàng Hải, Lương Chi Lan, Lê Thu Hương (2013), Hiện trạng tổ chức du
lịch và định hướng không gian phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc, Kỷ yếu hội
nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 672 - 676.
5. Trương Quang Hải, Nguyễn Cao Huần, Trần Thanh Hà (2013), Liên kết vùng giữa
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cho phát triển du lịch, Kỷ yếu hội nghị khoa
học Địa lí toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 1029 - 1040.
6. Nguyễn Văn Hoàng (2007), Đánh giá sức tải sinh thái cho các điểm du lịch ven bờ
và hải đảo trong vịnh Nha Trang - Khánh Hòa, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Nguyễn Văn Hoàng (2012), Đánh giá sức tải trong hoạt động du lịch - sự cần thiết
cho quy hoạch và quản lí phát triển du lịch biển, Tạp chí Khoa học Đại học Sư
phạm TP Hồ Chí Minh, Số 38, trang 76 - 83.
8. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
9. Trần Viết Khanh, Phạm Hoàng Hải, Lê Minh Hải (2013), Đánh giá tài nguyên du
lịch tự nhiên tỉnh Thái Nguyên, Kỷ yếu hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần
thứ 7, Thái Nguyên, trang 1066 - 1071.
10. Nguyễn Quốc Lập (2009), Tổ chức lãnh thổ du lịch Hà Tĩnh, Luận văn thạc sĩ
khoa học Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
145
11. Đặng Duy Lợi, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Đức Hoa Cương, Nguyễn Thục Nhu
(2013), Xác định hệ thống tiêu chí của điểm khu du lịch sinh thái ở Việt Nam,
Kỷ yếu hội nghị khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 39-
46.
12. Phạm Trung Lương và nnk (2002), Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực
tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
13. Phạm Trung Lương, Nguyễn Thanh Tưởng (2013), Phát triển du lịch bền vững ở
các đảo từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, Kỷ yếu hội nghị khoa học Địa lí toàn
quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 352 - 358.
14. Trương Phước Minh (2003), Tổ chức lãnh thổ du lịch Quãng Nam - Đà Nẵng,
Luận án tiến sĩ Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
15. Đỗ Thị Mùi (2010), Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Sơn La, Luận án tiến
sĩ Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
16. Nguyễn Thu Nhung (2013), Xác định khả năng chịu tải thực tế vùng du lịch sinh
thái quốc gia Măng Đen phục vụ công tác quản lý du lịch, Đề tài cán bộ trẻ
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Địa lí, Hà Nội.
17. Đặng Văn Phan (chủ biên) (2012), Tổ chức lãnh thổ kinh tế-xã hội Việt Nam, Tài
liệu lưu hành nội bộ, Vĩnh Long.
18. Đặng Văn Phan, Tô Hoàng Kia (2012), Đánh giá điều kiện sinh khí hậu khu vực
đất liền và ven biển - hải đảo vùng Nam Bộ phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng và
chữa bệnh, Tạp chí khoa học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh.
19. Sở Thương mại và Du lịch Phú Yên (2003), Báo cáo tổng hợp Cơ sở khoa học cho
việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở Phú Yên đến năm 2010.
20. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên (2012), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch
phát triển du lịch tỉnh Phú Yên giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2025.
21. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên (2011), Du lịch Phú Yên.
146
22. Nguyễn Thị Sơn (2000), Phương pháp tính sức chứa du lịch cho các tuyến, điểm
tham quan ở các vườn quốc gia, Thông báo khoa học số 2, Khoa Địa lí,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
23. Nguyễn Thị Sơn (2000), Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch
sinh thái ở vườn quốc gia Cúc Phương, Luận án tiến sĩ Địa lí, Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội.
24. Hoàng Văn Thành (2014), Giáo trình văn hóa du lịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
25. Phạm Lê Thảo (2006), Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát
triển bền vững, Luận án tiến sĩ Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
26. Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức (1998), Định lượng và định tính trong
nghiên cứu địa lí kinh tế - xã hội, Thông báo khoa học số 5, Trường Đại học
Sư phạm - Đại học quốc gia Hà Nội, trang 136 - 146.
27. Trần Văn Thông (2005), Quy hoạch du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
28. Bùi Thị Thu (2012), Xây dựng cơ sở khoa học phục vụ cho việc xác định các tuyến
du lịch ở tỉnh Quảng Trị, Báo cáo tổng kết đề tài Khoa học và Công nghệ cấp
bộ, Đại học Huế.
29. Nguyễn Thanh Tưởng, Ngô Thị Thu Hà (2013), Thực trạng và giải pháp phát triển
du lịch ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kỷ yếu hội nghị khoa học Địa lí
toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 55 - 63.
30. Tổng cục du lịch (2012), Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030.
31. Tổng cục du lịch (2013), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
32. Tổng cục du lịch (2013), Số liệu thống kê chủ yếu ngành du lịch, Nxb Thanh niên,
Hà Nội.
33. Nguyễn Minh Tuệ và nnk (1996), Địa lí du lịch, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
147
34. Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2005), Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, Nxb Đại học
Sư Phạm, Hà Nội.
35. Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), Địa lí du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt
Nam, Vĩnh Phúc.
36. UBND tỉnh Phú Yên, Quyết định số: 911/QĐ - UBND (2013) phê duyệt “Đề án
phân cấp quản lý di tích - danh thắng đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Phú
Yên”.
37. Nguyễn Khanh Vân và nnk (2000), Các biểu đồ sinh khí hậu Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
38. Nguyễn Khanh Vân, Hoàng Bắc, Hoàng Thị Kiều Oanh (2011), Nghiên cứu đánh
giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch các khu vực biển-đảo bờ
Đông và bờ Tây vùng Nam Bộ Việt Nam, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học
Biển toàn quốc lần thứ 5, Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam.
39. Nguyễn Khanh Vân, Hoàng Thị Kiều Oanh (2013), Đánh giá tài nguyên sinh khí
hậu cho du lịch nghỉ dưỡng tiểu vùng Tây Nam Bộ, Việt Nam, Kỷ yếu hội nghị
khoa học Địa lí toàn quốc lần thứ 7, Thái Nguyên, trang 189 - 196.
40. Bùi Thị Hải Yến và nnk (2007), Tài nguyên du lịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Tiếng Anh
41. Nguyen Khanh Van (2008), Classification and assessment of bioclimatic
conditions for tourism, health resort and some weather therapies in Vietnam,
VNU Journal of Science, Earth Sciences 24 (2008), Viet Nam, pp. 145 - 152.
42. Tran Nghi et al (2007), Tourism carrying capacity assessment for Phong Nha - Ke
Bang and Dong Hoi, Quang Binh Province, VNU Journal of Science, Earth
Sciences 23 (2007), Viet nam, pp. 80 - 87.
43. Valentina Castellani and Serenella Sala (2012), Carrying Capacity of Tourism
System: Assessment of Environmental and Management, Constraints Towards
Sustainability, University of Milano - Bicocca, Department of Environmental
Science, Italy, pp. 295 - 316.
148
Trang web
44.http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=
detail&document_id=32495
45.http://phuyentourism.gov.vn/
46.http://svhttdl.phuyen.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c5/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9
CP0os3g3Z0tnT8tgYzM_AyM3A0cLbw8Ls1BPY39zU_1wkA6cKgzMzSDy
BjiAo4G-n0d-bqp-
QXZ2mqOjoiIA_92kHw!!/dl3/d3/L2dJQSEvUUt3QS9ZQnZ3LzZfRkM5Q0k
5UzM2VjJEOTBBOEVRVDRRUTNRQjA!/
47.http://vietnamtourism.gov.vn/
48.http://www2.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&
_page=605&mode=detail&document_id=2957
49.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/326-danh-gia-diem-manh-diem-yeu-co-
hoi-va-thach-thuc-doi-voi-du-lich-viet-nam-buoc-sang-thap-ky-toi-2011-
2020.html
50.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/336-quy-hoach-phat-trien-du-lich-cac-
tinh-duyen-hai-mien-trung-trong-lien-ket-phat-trien-vung.html
51.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/344-chuyen-trong-tam-phat-trien-du-lich-
tu-dien-rong-sang-chieu-sau-chat-luong-va-hieu-qua.html
52.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/520-tao-dot-pha-trong-thu-hut-dau-tu-
phat-trien-du-lich-cac-tinh-thanh-pho-vung-duyen-hai-mien-trung.html
53.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/521-phat-trien-du-lich-van-hoa-trong-
chien-luoc-quy-hoach-phat-trien-du-lich-viet-nam.html
54.http://www.itdr.org.vn/nghiencuu-traodoi/553-ung-pho-voi-bien-doi-khi-hau-trong-
hoat-dong-phat-trien-du-lich-o-viet-nam.html
55.http://www.itdr.org.vn/tin-tuc/quy-hoach-phat-trien-san-pham-du-lich/584-lien-ket-
phat-trien-san-pham-du-lich-cac-tinh-duyen-hai-mien-trung.html
149
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Dân số và phân bổ dân cư tỉnh Phú Yên năm 2013
Huyện/thành Diện Dân số Mật độ Phân theo giới Phân theo thành
phố (người) thị, nông thôn
tích (km2) dân số (người/km2) Nam Nữ Thành Nông
thị thôn
Tổng số 5.060 883.184 175 442.066 441.118 205.213 677.971
TP Tuy Hòa 107 156.903 1.466 77.639 79.264 126.313 30.590
TX Sông 489 100.468 205 50.546 49.922 30.729 69.739
Cầu
H.Đồng 1.069 59.365 56 30.044 29.321 9.463 49.902
Xuân
H.Tuy An 415 124.043 299 61.845 62.198 8.625 115.418
H.Phú Hòa 264 105.492 400 52.679 52.813 9.303 96.189
H.Sơn Hòa 952 55.366 27.956 27.410 10.007 45.359 58
H.Sông Hinh 887 46.442 23.508 22.934 10.773 35.669 52
H.Tây Hòa 609 118.205 194 59.251 58.954 - 118.205
H.Đông Hòa 268 116.900 436 58.598 58.302 - 116.900
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, năm 2014
Phụ lục 2: Tiềm năng du lịch của bãi biển Phú Yên
STT Bãi biển Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
nguyên
1 Bãi Bàu Xã Xuân Chiều rộng bãi: 105 m Đã hình
Hải, thị xã Độ dốc bãi: 0,35 % thành khu du
Sông Cầu Độ cao sóng: 0,42 m lịch sinh thái
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng tự nhiên biển
mịn với nhiều
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt loại hình du
150
lịch
độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
2 Bãi Bàng Thôn 2, xã Chiều rộng bãi: 190 m Đã có một số
Xuân Hải, Độ dốc bãi: 0,35 % dịch vụ phục
thị xã Sông Độ cao sóng: 0,42 m vụ tắm biển,
Cầu Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng ăn uống, dã
mịn ngoại
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
3 Bãi Rạng Thôn 2, xã Chiều rộng bãi: 170 m Đã có một số
Xuân Hải, Độ dốc bãi: 1,39 % cơ sở đầu tư
thị xã Sông Độ cao sóng: 0,42 m kinh doanh
Cầu Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng dịch vụ du
mịn lịch
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
4 Bãi Nồm Thôn Hòa Chiều rộng bãi: 630 m Còn hoang
An, xã Xuân Độ dốc bãi: 0,45 % sơ, chưa khai
Hải, thị xã Độ cao sóng: 0,5 m thác
Sông Cầu Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
5 Bãi biển Thôn 4, xã Chiều rộng bãi: 2500 m Còn hoang
Thôn 4 Xuân Hải, Độ dốc bãi: 0,43 % sơ, chưa khai
thị xã Sông Độ cao sóng: 0,7 m thác
151
Cầu Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
6 Bãi biển Thôn 2, xã Chiều rộng bãi: 200 m Còn hoang
Thôn 2 Xuân Hải, Độ dốc bãi: 0,43 % sơ, chưa khai
thị xã Sông Độ cao sóng: 0,7 m thác
Cầu Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
7 Bãi Tràm Thôn Hòa Chiều rộng bãi: 600 m Hiện đang
Thạnh, xã Độ dốc bãi: 0,35 % triển khai
Xuân Cảnh, Độ cao sóng: 0,4 m đầu tư khu
thị xã Sông Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng du lịch và
Cầu mịn kinh doanh
một số dịch
vụ du lịch
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
8 Bãi Long Thôn Long Chiều rộng bãi: 120 m Còn hoang
Hải Hải, thị trấn Độ dốc bãi: 0,45 % sơ, chưa khai
Sông Cầu, Độ cao sóng: 0,7 m thác
thị xã Sông Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
Cầu mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
152
9 Bãi Tiên Xã Xuân Chiều rộng bãi: 70 m Có các nhà
Cảnh, thị xã Độ dốc bãi: 0,3 % hàng với
Sông Cầu Độ cao sóng: 0,1 m nhiều loại
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng đặc sản
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
10 Bãi Từ Thôn Phú Chiều rộng bãi: 800 m Còn hoang
Nham Dương, xã Độ dốc bãi: 0,45 % sơ, chưa khai
Xuân Thịnh, Độ cao sóng: 0,5 m thác
thị xã Sông Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
Cầu mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
11 Bãi Ôm Thôn Dân Chiều rộng bãi: 306 m Còn hoang
Phú 2, xã Độ dốc bãi: 0,35 % sơ, chưa khai
Xuân Độ cao sóng: 0,5 m thác
Phương, thị Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
xã Sông Cầu mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
12 Bãi tắm Thôn Mỹ Chiều rộng bãi: 30 m Hiện có một
trên đảo Thành, xã Độ dốc bãi: 0,48 % số dịch vụ
Nhất Tự Xuân Thọ 1, Độ cao sóng: 0,4 m phục vụ ăn
Sơn thị xã Sông Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng uống, tắm
Cầu mịn biển, dã
153
ngoại
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27, 3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
13 Bãi Vũng Xã Xuân Chiều rộng bãi: 70 m Còn hoang
Lắm Thọ, thị xã Độ dốc bãi: 0,35 % sơ, chưa khai
Sông Cầu Độ cao sóng: 0,25 m thác
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
14 Bãi gần Xã An Ninh Chiều dài: 3 km Còn hoang
Gành Đá Đông, huyện Chiều rộng bãi: 120 m sơ, chưa khai
Đĩa Tuy An Độ dốc bãi: 0,37 % thác
Độ cao sóng: 0,9 m
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
15 Bãi Phú Thôn Phú Chiều rộng bãi: 475 m Còn hoang
Thường Thường, xã Độ dốc bãi: 0,37 % sơ, chưa khai
An Hòa, Độ cao sóng: 0,5 m thác
huyện Tuy Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
An mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
16 Bãi Súng Thôn Giai Chiều rộng bãi: 60 m Còn hoang
154
Sơn, xã An Độ dốc bãi: 0,37 % sơ, chưa khai
Mỹ, huyện Độ cao sóng: 0,5 m thác
Tuy An Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
17 Bãi Xép Thôn Mỹ Chiều rộng bãi: 250 m Còn hoang
sơ, chưa khai Quang Bắc, Độ dốc bãi: 0,47 %
thác xã An Chấn, Độ cao sóng: 0,7 m
huyện Tuy Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
An mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
18 Bãi tắm Xã An Hải, Chiều rộng bãi: 70 m Còn hoang
trên Hòn huyện Tuy Độ dốc bãi: 1,95 % sơ, chưa khai
Lao Mái An Độ cao sóng: 0,9 m thác
Nhà Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 26,8 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
19 Bãi tắm Xã An Hòa, Chiều rộng bãi: 60 m Còn hoang
trên hòn huyện Tuy Độ dốc bãi: 0,74 % sơ, chưa khai
Yến An Độ cao sóng: 0,9 m thác
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt
155
độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
20 Bãi biển Phường 6 và Chiều rộng bãi: 200 m Đã được quy
Tuy Hòa 7, TP.Tuy Độ dốc bãi: 0,54 % hoạch thành
Hòa Độ cao sóng: 0,75 m trung tâm du
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng lịch của tỉnh
và đang triển mịn
khai nhiều
dự án đầu tư
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,9 0C
21 Bãi Long Xã An Phú, Chiều rộng bãi: 200 m Đã đưa vào
Thủy TP.Tuy Hòa Độ dốc bãi: 0,37 % khai thác
nhưng chưa Độ cao sóng: 0,5 m
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng có nhiều dịch
mịn vụ
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,1 0C
22 Bãi Môn Xã Hòa Chiều rộng bãi: 167 m Còn hoang
Tâm, huyện Độ dốc bãi: 0,35 % sơ, chưa khai
Đông Hòa Độ cao sóng: 0,67 m thác
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,7 0C
23 Bãi tắm Thôn Vũng Chiều rộng bãi: 60 m Còn hoang
trên đảo Rô, xã Hòa Độ dốc bãi: 1,21 % sơ, chưa khai
Hòn Nưa Xuân Nam, Độ cao sóng: 0,9 m thác
156
huyện Đông Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
Hòa mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,7 0C
24 Bãi Bàng Xã Hòa Chiều rộng bãi: 40 m Còn hoang
Tâm, huyện Độ dốc bãi: 0,54 % sơ, chưa khai
Đông Hòa Độ cao sóng: 0,59 m thác
Chất lượng bãi cát: bãi thoải, cát trắng
mịn
Chất lượng nước biển: nước trong, nhiệt độ trung bình 27,3 0C Nhiệt độ không khí trung bình: 28,7 0C
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 3: Các đảo tiêu biểu ở Phú Yên
Tên đảo Diện tích (km2) Vị trí
Hòn Lao Mái Nhà 1,51 phía đông An Hải - Tuy An
Hòn Yến 0,01 phía đông An Hoà - Tuy An
Hòn Chùa 0,22 phía đông An Chấn - Tuy An
Hòn Than 0,01 phía đông An Chấn - Tuy An
Hòn Dứa 0,02 phía đông An Phú - Tuy An
Hòn Khô 0,015 phía đông Hoà Hiệp Nam - Đông Hoà
Hòn Nưa 0,6 phía đông Vũng Rô - Đông Hoà
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
157
Phụ lục 4: Tiềm năng du lịch của đầm phá ven biển Phú Yên
STT Đầm Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
phá nguyên
1 Đầm Cù Thuộc địa phận Diện tích mặt nước: 2655 ha Đã khai thác
Mông các xã: Xuân Có các đảo trong đầm cho hoạt động
Cảnh, Xuân Có hệ sinh vật phong phú, đặc du lịch. Có thể
Hòa, Xuân Hải, biệt có các loài hải sản quý khai thác quanh
Xuân Lộc, Xuân Có các bãi tắm đẹp năm, không chịu
Bình, Xuân Khí hậu trong lành, mát mẻ ảnh hưởng của
Thịnh, thị xã quanh năm tính thời vụ
Sông Cầu
2 Đầm Ô Thuộc các xã: Diện tích mặt nước: 1570 ha Đã khai thác
Loan An Cư, An Hòa, Có các đảo trong đầm cho hoạt động
An Hải, An Có hệ sinh vật phong phú, đặc du lịch. Có thể
Hiệp, An Ninh biệt có các loài hải sản quý khai thác quanh
Đông huyện Tuy Có các bãi tắm đẹp năm, không chịu
An Khí hậu trong lành, mát mẻ ảnh hưởng của
quanh năm tính thời vụ
3 Vịnh Thị xã Sông Cầu Diện tích mặt nước: 13000 ha Đã khai thác
Xuân Bờ vịnh dài 50 km cho hoạt động
Đài Có hệ sinh vật phong phú, đặc du lịch. Có thể
biệt có các loài hải sản quý khai thác quanh
Có các bãi tắm đẹp năm, không chịu
Khí hậu trong lành, mát mẻ ảnh hưởng của
quanh năm tính thời vụ
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
158
Phụ lục 5: Tiềm năng du lịch của vùng biển nông ven bờ Phú Yên
Thứ Đảo Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
tự nguyên
1 Vũng Thôn Vũng Diện tích mặt nước: 1640 ha Đã khai thác cho
Rô Rô, xã Hòa Có hệ sinh vật phong phú, đặc biệt có hoạt động du
Xuân nam, các loài hải sản quý lịch. Có thể khai
huyện Đông Có các bãi tắm đẹp thác quanh năm,
Hòa Khí hậu trong lành, mát mẻ quanh không chịu ảnh
năm hưởng của tính
thời vụ
2 Hòn Xã An Phú, Hiện đã đầu tư
Chùa TP.Tuy Hòa Chiều dài: 594 m; chiều rộng: 370 m Nhiệt độ trung bình mùa hè: 28,9 0C xây dựng khu du
lịch trên đảo
Nhiệt độ trung bình mùa đông: 25,1 0C
Xung quanh đảo là nơi cư ngụ của
các loài san hô, động vật đáy và cá
cảnh.
3 Gành Thôn 6, xã Chưa có dịch vụ
Đá Đĩa An Ninh Chiều dài: 200 m; chiều rộng: 50 m Nhiệt độ trung bình mùa hè: 28,9 0C phục vụ khách
Đông, huyện tham quan
Tuy An Nhiệt độ trung bình mùa đông: 25,1 0C
Đá ở Gành Đá Đĩa có màu đen huyền
hoặc nâu vàng hình lục giác hoặc bát
giác xếp thành cột, nửa chìm nửa nổi
trên mặt nước. Gành đã được xếp
hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia
4 Gành Xã An Hòa, Chưa có dịch vụ
Yến huyện Tuy Chiều rộng: 594 m; chiều dài: 370 m Nhiệt độ trung bình mùa hè: 28,9 0C phục vụ khách
(Hòn An Nhiệt độ trung bình mùa đông: 25,1 tham quan
0C
159
Yến)
5 Xã An Hải, Hiện đã có dự Hòn
huyện Tuy Đảo nhỏ cách đầm Ô Loan hơn 4 km. Diện tích khoảng 1,2 km2, cao đến án xin đầu tư Lao
An 104 m, cấu tạo bởi bazan, chân đảo Mái
nhiều ám tiêu san hô. Nhà
Bãi trước cát trắng mịn, nhiều san hô
và rong, thích hợp cắm trại, tắm biển.
Bãi sau là một bãi đá lớn, sát bên bờ
nước sâu vài mét thích hợp câu cá.
6 Xã Hòa Cao 105 m, Hòn Nưa có hình dáng Hiện đã có dự Hòn
Xuân, huyện giống như cây trụ chia đôi cánh cửa án xin đầu tư Nưa
Tuy An phía nam vào Vũng Rô. Trên đảo có
bãi cát nhỏ trắng mịn chạy dài
khoảng 500 m theo hình vòng cung.
Cách không xa bãi biển là những rạn
san hô ven bờ tuyệt đẹp.
7 Gành Xã An Ninh Gành Đèn là một gành đá nằm sát Hiện chưa có dự
Đèn Đông, huyện biển, sở hữu nét đẹp phóng khoáng án xin đầu tư
Tuy An và ngoạn mục của thiên nhiên, cách
sa khu dân cư, ít người tới nên cảnh
trí gần như nguyên sơ, dưới chân
gành có không gian rộng rãi để cắm
trại.
Gành Đèn và hải đăng Gành Đèn
đang trở thành điểm đến thích thú
của du khách để nghỉ ngơi và câu cá
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
160
Phụ lục 6: Tiềm năng du lịch của sông, suối, hồ Phú Yên
STT Sông, Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
suối, hồ nguyên
1 Suối Đá Thôn Cẩm Tú, Nước suối trong, chảy quanh Chưa khai thác
Bàn xã Hòa Kiến, năm, cảnh đẹp thơ mộng hoạt động du
TP.Tuy Hòa lịch
2 Suối Lớn Hòa Xuân Nước suối trong, chảy quanh Hiện nay đã xây
Nam, huyện năm, cảnh đẹp thơ mộng dựng khu du lịch
Đông Hòa sinh thái tự
nhiên
3 Suối Đập Thôn Hảo Nước suối trong, chảy quanh Chưa khai thác
Hàn Sơn, xã Hòa năm. Suối uốn lượn quanh co hoạt động du
Xuân Nam, lịch qua các ghềnh đá, vũng, hồ, hai
huyện Đông bên là rừng, núi điệp trùng tạo
Hòa nên một phong cảnh hữu tình
4 Suối Mơ Thôn 1, xã Đa Nước suối trong, chảy quanh Chưa khai thác
Lộc, huyện năm, cảnh đẹp thơ mộng hoạt động du
Đồng Xuân lịch
5 Thác Hòa Thôn Nguyên Chiều cao thác: 30 m Chưa được khai
Nguyên Xuân, xã Sơn Độ dốc thác: 35 độ thác cho hoạt
Nguyên, Thác phân thành nhiều tầng, tốc động du lịch
huyện Sơn độ dòng chảy điều hòa, có nước
Hòa chảy quanh năm. Cảnh quan đẹp
gắn với cảnh quan rừng nguyên
sinh
6 Vực Phun Xã Hòa Mỹ Chiều cao thác: 50 m Chưa được khai
Tây, huyện Độ dốc thác: 75 độ thác cho hoạt
Tây Hòa Thác phân thành nhiều tầng, tốc động du lịch
độ dòng chảy mạnh. Cảnh quan
161
đẹp, đa dạng và hùng vĩ
7 Hồ thủy Thuộc xã Đức Diện tích mặt nước: 4.100 ha Đã khai thác
điện Sông Bình Đông và Có đảo trên hồ phục vụ du lịch,
Hinh Sông Hinh, Có thảm thực vật phong phú bao chịu ảnh hưởng
huyện Sông quanh hồ của tính thời vụ
Hinh Có các bãi tắm ven hồ, ven một (khai thác vào
số đảo mùa xuân và
Khí hậu trong lành, mát mẻ mùa hạ)
quanh năm
8 Hồ thủy Huyện Sơn Diện tích mặt nước: 3.143 ha Chưa được khai
điện Sông Hòa, huyện thác cho hoạt
Ba Hạ Sông Hinh động du lịch
9 Hồ trung Thị trấn Hai Diện tích mặt nước: 17 ha Chưa được khai
tâm thị Riêng, huyện Có thảm thực vật phong phú bao thác cho hoạt
trấn Hai Sông Hinh quanh hồ động du lịch
Riêng Khí hậu trong lành, mát mẻ
quanh năm
10 Hồ chứa Xã Hòa Thịnh Diện tích mặt nước: 10 ha Chưa được khai
nước Mỹ và Hòa Mỹ Có thảm thực vật phong phú bao thác cho hoạt
Lâm Tây, huyện quanh hồ động du lịch
Tây Hòa Khí hậu trong lành, mát mẻ
quanh năm
11 Biển Hồ Thôn Hảo Diện tích mặt nước: 66 ha Chưa được khai
Sơn, xã Hòa Có đảo trên hồ thác cho hoạt
Xuân Nam, Có thảm thực vật phong phú bao động du lịch
huyện Đông quanh hồ
Hòa Khí hậu trong lành, mát mẻ
quanh năm
12 Hồ chứa Xã An Diện tích mặt nước: 165 ha Chưa được khai
162
nước Nghiệp, huyện Có thảm thực vật phong phú bao thác cho hoạt
Đồng Tuy An quanh hồ động du lịch
Tròn Có các bãi tắm ven hồ
Khí hậu trong lành, mát mẻ
quanh năm
13 Sông Ba Sông bắt Chiều dài khoảng 357 km., là Chưa được khai
nguồn từ dãy con sông lớn nhất Nam Trung thác cho hoạt
núi Ngọc Rô, động du lịch Bộ, lớn thứ ba Trung Bộ.
cao 1500 m
trên cao Diện tích lưu vực rộng 13.220 km2
nguyên Kon Chảy qua một vùng cao nguyên
Tum, chảy qua rộng lớn, núi non trùng điệp của
Gia Lai, xuống dãy Trường Sơn. Thượng lưu
huyện Sơn sông lắm thác ghềnh.
Hòa, Tuy Hòa Không những là tuyến giao
rồi đổ ra biển thông quan trọng giữa hai vùng
qua cửa Đà núi và đồng bằng, mà còn có vai
Diễn. trò chuyển giao văn hóa giữa các
dân tộc Tây Nguyên với Duyên
hải miền Trung.
Đảm bảo nguồn nước khai thác
du lịch.
14 Sông Phát nguyên từ Chảy theo hướng bắc – nam, dài Chưa được khai
Hinh núi Vọng Phu 50 km. thác cho hoạt
(huyện Khánh động du lịch Đây là con sông nổi tiếng Phú
Dương, tỉnh Yên có nhiều cá.
Đắc Lắc), đến
Bình Thạnh thì
nhập vào sông
163
Ba.
15 Sông Cái Huyện Đồng Có chiều dài 102 km, nhưng chỉ Chưa được khai
Xuân, huyện chảy trong vùng đất của tỉnh vào thác cho hoạt
Tuy An khoảng 76 km. động du lịch
Diện tích lưu vực rộng 1.950 km2, phần chảy trong tỉnh chỉ rộng 1.560 km2.
Trên sông và các suối đổ vào
sông đã có các công trình thủy
lợi: đập Hòn Cao, trạm bơm
Thiêm Đức…
Hai bên bờ sông là núi cao, lòng
sông hẹp và có nhiều
ghềnh.Thảm thực vật phong phú.
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 7: Tiềm năng du lịch của các nguồn nước khoáng ở Phú Yên
STT Nguồn Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
nguyên nước
khoáng
Chưa được 1 Trà Ô Xã Xuân Nhiệt độ nước: 57 0C
khai thác cho Lãnh, huyện Nước đục, có mùi
Đồng Xuân Nguồn nước khoáng nóng từ hoạt động du
gành đá granit chảy qua bể lọc do lịch
người Pháp xây dựng, có thể
dùng để tắm Nhiệt độ nước: 70 0C 2 Thiêm Đức Thôn Thiêm Chưa được
Đức, xã Xuân Nước trong, không mùi khai thác cho
Quang 2, hoạt động du Nước chảy quanh năm vào lòng
huyện Đồng lịch chảo rồi tràn ra thành một dòng
164
Xuân nhỏ đổ vào sông Cái. Nước suối
giàu các chất khoáng, có thể dùng
3 Phú Sen Thôn Phú Sen, Chưa được để chữa bệnh, uống… Nhiệt độ nước: 70 0C
xã Hòa Định Nước trong, không mùi khai thác cho
Tây, Phú Hòa Nguồn nước khoáng nóng ở nhiệt hoạt động du
độ cao, được khoang ở độ sâu lịch
100 m, đang được khai thác để
sản xuất nước khoáng. Nhiệt độ nước: 50 0C 4 Lạc Sanh Xã Sơn Thành, Chưa được
huyện Tây Nước trong, không mùi khai thác cho
Hòa hoạt động du Nguồn nước khoáng phun lên từ
lịch lòng đất có hàm lượng khoáng
chất thích hợp cho giải khát, tắm,
chữa bệnh. Xung quanh suối là
cánh rừng dầu rộng trên 70 ha.
Nhìn về phía tây là rừng tự nhiên
và những dãy núi trùng điệp, đỉnh
cao là Hòn Nhọn.
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 8: Tiềm năng du lịch của khu BTTN Phú Yên
Thứ Khu Phân bố Thông tin cơ bản Tình trạng tài
BTTN tự nguyên
1 Krông Xã Suối Tổng diện tích: 22.290 ha Có thể khai
Trai Trai và + Vùng đệm: 5.344 ha thác quanh
Krông Pa, + Vùng lõi: 1.571 ha năm, không
huyện Sơn Khu vực bảo vệ nghiêm ngặt: 18.517 ha chịu ảnh
Hòa Diện tích rừng: 16.000 ha hưởng của tính
Thực vật quý hiếm: 9 loài; trong đó có 3 thời vụ nhưng
165
loài ghi trong sách đỏ Việt Nam hiện chưa khai
Động vật quý hiếm: 7 loài; trong đó có 2 thác cho hoạt
loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam động du lịch.
2 Bắc Đèo Xã Hòa Tổng diện tích: 8.740 ha Có thể khai
Cả Xuân Nam + Vùng đệm: 1.613,7 ha thác quanh
và xã Hòa + Vùng lõi: 5,049,8 ha năm, không
Tâm, Khu vực bảo vệ nghiêm ngặt: 2.076,5 ha chịu ảnh
huyện Diện tích rừng: 3.109,6 ha hưởng của tính
Đông Hòa Thực vật quý hiếm: 6 loài; trong đó có thời vụ nhưng
một loài ghi trong sách đỏ Việt Nam hiện chưa khai
Động vật quý hiếm: 8 loài; trong đó có 1 thác cho hoạt
loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam động du lịch.
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 9: Những lễ hội, văn hóa văn nghệ dân giang tiêu biểu ở Phú Yên
STT Tên lễ hội, VHVNDG Thông tin cơ bản
1 Lễ hội Đầm Ô Loan Thời gian: mùng 7 tháng Giêng (Âm lịch)
Địa điểm: tại thôn Phú Tân, xã An Cư, huyện Tuy An.
Lễ hội này là lễ hội cầu ngư của người dân quanh đầm
Ô Loan. Đầu tiên là phần lễ cúng cá Ông (cá voi) vào
ngày mùng 6. Phần hội diễn ra trên mặt đầm váo sáng
ngày mùng 7, gồm có: hát tuồng và các thể loại dân
ca truyền thống như múa siêu, múa lân, hò bả trạo; các
cuộc thi thể thao, với các nội dung như đua thuyền
chài, đua thuyền rồng, đua thuyền thúng, bơi lội.
2 Lễ hội Cầu Ngư Thời gian: từ tháng Giêng đến tháng 6 (âm lịch)
Địa điểm: đình làng ven biển.
Theo tín ngưỡng của người dân vùng biển, Lễ hội cầu
ngư nhằm cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, ngư
dân đánh bắt được nhiều tôm cá, gia đình bình an,
166
hạnh phúc… Mở đầu lễ hội là lễ rước sắc, sau đó là lễ
nghinh thủy. Khi chủ tế cúng trong đình thì ở ngoài
đoàn hát bả trạo bắt đầu hát (bả là cầm nắm, trạo là lay
động, chèo; là loại hình có nguồn gốc từ hát bội). Vào
phần tế lễ, có Tế sanh, Tế đình, Tế Bà Thiên Yana và
cuối cùng là ông Nam Hải. Sau phần nghi thức cầu
cúng là phần hội. Đây là những sinh hoạt văn hóa
cộng đồng như trò diễn dân gian và hát tuồng thứ lễ.
3 Hội đánh bài chòi Thời gian: Tết Nguyên Đán
Người ta cất 9 hoặc 11 chòi, chia thành 2 bên, mỗi bên
5 chòi, mỗi chòi cao độ 2-3m, rộng đủ vài ba người
ngồi và một chòi trung ở giữa giành cho các vị chức
sắc địa phương. Vào cuộc chơi, anh hiệu (tức người hô
thai) xốc ống bài, rút ra một con và xướng tên con bài
lên. Để gây thêm sự hồi hộp và bắt người chơi phải
suy đoán, anh hiệu hô lên một câu thai hoặc một câu
ca dao có tên con bài. Đánh bài chòi gợi lại hình ảnh
của những người Phú Yên thời mới mở đất. Khi đó, để
tránh ác thú, xua đuổi chim muông phá hoại mùa
màng, người ta phải cất chòi canh, rồi từ các chòi canh
đó, tổ chức trò chơi đánh bài chòi.
4 Hội đua ngựa gò Thì Thời gian: mùng 9 tháng Giêng
Thùng Địa điểm: xã An Xuân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Bãi đua là một vùng đất rộng, bằng phẳng trên gò Thì
Thùng. Đường đua hình tròn, chu vi 500m. Mở đầu là
phần diễu hành của các kỵ sĩ, sau đó là phần đua ngựa
sôi động. Ngoài đua ngựa ở đây còn có các trò chơi
dân gian truyền thống: bài chòi, kéo co, đẩy gậy…
5 Lễ hội đâm trâu Thời gian: tháng 2 đến tháng 3 (âm lịch)
167
Địa điểm: miền núi Phú Yên.
Lễ hội diễn ra trong 3 ngày 3 đêm. Lễ hội đâm trâu là
một hoạt động văn hóa giàu bản sắc của đồng bào dân
tộc Ba Na, Chăm, Ê Đê. Trước khi tổ chức lễ khoảng
một tuần, những người đàn ông khỏe mạnh lên rừng
tìm vật liệu như tre, mây, lồ ô… về làm cây nêu cao
khoảng 3,5 m. Đúng ngày, bà con tụ tập tại Nhà rông
văn hóa và tổ chức trồng 4 cây nêu ngay giữa trước
mặt sân. Lễ hội đâm trâu được tổ chức để tạ ơn trời
đất, tạ ơn thần linh, đồng thời cầu mong Giàng phù hộ
cho gió thuận mưa hòa, lúa đầy bồ, sắn đầy rẫy, cầu
mong cho người dân trong buôn ai ai được mạnh
khỏe.
6 Kèn đá và Đàn đá Tuy Phú Yên có bộ Kèn đá, Đàn đá được phát hiện năm
An 1990, tại Tuy An, có niên đại 2.500 năm. Cho tới năm
1991 thì tìm được tất cả 8 thanh đá. Bộ đàn đá này
được đánh giá là có thang âm thuộc loại chuẩn nhất
trong số những đàn đá thời tiền sử được phát hiện tại
Việt Nam. Còn Kèn đá được phát hiện dưới lòng một
phế tích Chăm Pa ở thôn Phú Cần, xã An Thọ, huyện
Tuy An và đã được giữ gìn và sử dụng qua bảy đời
các vị trụ trì của chùa Hậu Sơn, ước khoảng trên 150
năm, và được xem là nhạc cụ độc nhất vô nhị trên thế
giới. Ngày 19.12.2012, tiến sĩ Katherine Mauller
Marin, Trưởng đại diện UNESCO Việt Nam đã thẩm
định và đề nghị tỉnh Phú Yên lập hồ sơ đệ trình lên
UNESCO để đề nghị công nhận đàn đá, kèn đá Tuy
An là di sản văn hóa của nhân loại.
168
Phụ lục 10: Tài nguyên du lịch làng nghề tỉnh Phú Yên
TT Làng nghề Phân bố Thông tin cơ bản
1 Bánh tráng Hòa Đa Thôn Hòa Đa, xã - Sản phẩm chính: bánh tráng
An Mỹ, huyện - Tỷ lệ hộ dân tham gia: 60%
Tuy An
2 Gốm sứ mỹ nghệ Thôn Quảng Đức, - Sản phẩm chính: đồ gốm
Quảng Đức xã An Thạch, - Tỷ lệ hộ dân tham gia: 20%
huyện Tuy An
3 Làng rau, hoa Bình Xã Bình Ngọc, TP - Sản phẩm chính: hoa, rau sạch phục
Ngọc Tuy Hòa vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày
- Tỷ lệ hộ dân tham gia: 50%
4 Làng rau, hoa Bình xã Bình Kiến, TP - Sản phẩm chính: rau, cây cảnh
Kiến Tuy Hòa - Tỷ lệ hộ dân tham gia: 50%
5 Dệt thổ cẩm Xã Suối Trai, - Sản phẩm chính: áo, mền, chăn,
huyện Sơn Hòa gối…
- Tỷ lệ hộ dân tham gia: 20%
6 Đan lát Vinh Ba Xã Hòa Đồng, - Sản phẩm chính: hàng thủ công mỹ
huyện Tây Hòa nghệ như lọ hoa, giỏ xách…
- Tỷ lệ hộ dân tham gia: 29%
7 Dệt chiếu cói An Thôn Phú Tân, xã Sản phẩm chính: hàng thủ công mỹ
Cư An Cư, huyện Tuy nghệ như túi xách, giỏ, mũ…
An
8 Làng nước mắm Thôn Tân Thạnh, Có 13 cơ sở sản xuất nước mắm với
Gành Đỏ xã Xuân Thọ 2, những thương hiệu nổi tiếng: “Ông
TX Sông Cầu Già”, “Bà Bảy”, “Tân Lập”…
9 Làng gốm Phụng Xã Hòa Trị, huyện - Làng gốm lâu đời nhất Phú Yên
Nguyên Phú Hòa - Sản phẩm chính: chum, vại, chậu
kiểng, nồi đất…
- Tỷ lệ hộ dân tham gia: 20%
169
10 Đan bóng Mò O Thôn Hòa Thạnh, Có hơn 125 hộ làm nghề đan bóng cá
xã Xuân Cảnh, bằng cây Mò O.
TX Sông Cầu
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 11: Giá trị ẩm thực khai thác du lịch Phú Yên
TT Món ăn Thông tin cơ bản
1 Bánh tráng Đặc điểm: được làm từ bột gạo, mịn đều, dẻo thơm, không có
Hòa Đa vị chua và ít bị dính khi nhúng nước.
Cách chế biến: chọn gạo để ngâm trong vài giờ, sau đó xay
bột, rộng bột tách nước chua trong gạo và cũng để tạo thêm kết
dính. Sau đó căng tấm khuôn vải lên nồi nước sôi, pha bột,
tráng bánh, vớt và phơi bánh.
Cách dùng: dùng cuốn với thịt luộc, cá hấp, tôm chiên…và
chấm với nước mắm nhỉ, mắm nêm, mắm mực… Có thể
thưởng thức tại chỗ hoặc làm quà.
2 Sò huyết Ô Đặc điểm: thịt màu hồng xen lẫn vàng gạch, ngọt và béo.
Loan Cách chế biến: chà sạch vỏ, ngâm hết bùn, đem nướng trên lò
than.
Cách dùng: ăn với muối tiêu chanh.
3 Cá ngừ đại Đặc điểm: Phú Yên là địa phương đi đầu cả nước trong đánh
dương (cá bò bắt cá ngừ đại dương. Đây là món ăn ưa thích của nhiều nước
gù) châu Á.
Cách chế biến và thưởng thức: thịt cá tươi sống được thái
mỏng, ướp lạnh. Ăn với lá cải cay chấm với mù tạc, tương
ớt…Mắt cá ngừ có thể chưng cách thủy và thêm gia vị rất hấp
dẫn.
4 Gỏi sứa Vùng biển Phú Yên từ tháng 3 đến tháng 9 âm lịch có rất nhiều
sứa. Sứa là món ăn tươi sống, lành tính, rất bổ dưỡng. Gỏi sứa
và súp sứa là hai đặc sản phổ biến.
170
5 Ghẹ đầm Cù Ghẹ ở đây có vị ngọt và thơm đặc trưng. Chế biến bằng nhiều
Mông cách: rang muối, rang me, nấu súp…
6 Tôm hấp nước Phú Yên có nhiều loại tôm: tôm hùm, tôm sú, tôm đất… Tôm
dừa chế biến thành nhiều món: tôm rang muối, tôm nướng, gỏi
tôm… Nhưng tôm hấp nước dừa là đặc biệt nhất vì vừa có vị
ngọt, vừa có mùi thơm.
7 Chả giông Thịt giông có thể chế biến thành nhiều món: nấu cháo, làm
chả. Chả giông được làm từ thịt giông ướp gia vị, sau đó cuốn
với bánh tráng và chiên vàng. Nước chấm chả giông làm từ cà
chua, thơm, ớt, tỏi, đậu phụng rang.
8 Hàu Ô Loan Hàu là hải sản đặc biệt của đầm Ô Loan. Hàu có ở đây quanh
năm nhưng ngon nhất là vào tháng 3 – 4 âm lịch. Hàu được
chế biến thành nhiều món ăn khác nhau: nhúng giấm, um
chuối, nấu cháo.
9 Ốc nhảy Sông Mùa ốc ngon nhất từ tháng 2 – 9. Ốc nhảy luộc với sả hay lá
Cầu gừng. Thịt ốc nhảy vừa giai, vừa giòn, cũng có thể nướng
chấm muối tiêu chanh.
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2012.
Phụ lục 12: Đánh giá sinh khí hậu phục vụ du lịch tỉnh Phú Yên
1. Đặt vấn đề
Tài nguyên khí hậu là tài nguyên quan trọng đối với du lịch. Các yếu tố của khí
hậu: nhiệt độ trung bình, biên độ nhiệt, lượng mưa, độ ẩm… luôn tác động đồng thời
lên con người. Việc tiến hành đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch cho
một lãnh thổ là điều thực sự cần thiết.
171
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp đánh giá
1.1. Cơ sở dữ liệu
Bảng 1: Đặc điểm các trạm khí tượng tại Phú Yên
Stt Tên trạm Kinh độ (Đông) Độ cao (m)
12 1 Tuy Hòa
Vĩ độ (Bắc) 13005’ 13003’ 39 2 Sơn Hòa 109013’ 108059’
1.2. Phương pháp đánh giá
- Thống kê khí hậu;
- Đánh giá mức độ thích hợp của một số đặc trưng khí hậu riêng;
- Đánh giá mức độ thích hợp của một số chỉ tiêu sinh khí hậu tổng hợp.
3. Đánh giá mức độ thích hợp của một số đặc trưng khí hậu riêng
3.1. Chế độ nắng
Bảng 2: Số giờ nắng trung bình ngày các tháng và năm (giờ)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Tuy 5,0 6,8 8,2 8,9 9,0 7,8 7,8 7,3 6,8 5,2 4,0 3,9 6,7
Hòa
Sơn - - - - - - - - - - - - -
Hòa
3.2. Chế độ nhiệt
Bảng 3: Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm (0C)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Tuy 23,1 23,7 25,3 27,2 28,7 29,3 29,0 28,7 27,6 26,3 25,2 23,8 26,5
Hòa
Sơn 22,0 23,3 25,4 27,7 28,8 28,7 28,5 28,3 27,0 25,4 24,0 22,3 25,9
Hòa
172
Bảng 4: Biên độ nhiệt ngày trung bình tháng và năm (0C)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Tuy 5,6 6,4 7,4 8,0 8,5 8,1 8,8 8,4 7,7 5,8 4,6 4,9 7,0
Hòa
Sơn 8,8 9,9 12,1 12,2 11,1 9,3 10,1 9,5 9,3 7,4 6,4 7,0 9,5
Hòa
3.3. Chế độ mưa ẩm
Bảng 5: Độ ẩm trung bình tháng và năm (%)
I II IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm III
Tuy 84 84 82 79 74 75 76 81 86 86 84 81 84
Hòa
Sơn 85 81 79 77 78 78 74 75 83 87 89 87 81
Hòa
I
II
IV
V
XII
XI
IX
X
III 53,8 19,2 25,5 30,9 69,4
Năm VI VII VIII 55,2 45,1 50,9 209,1 461,1 419,4 151,9 1591,5
19,6 8,0 31,7 31,7 122,8 120,7 91,0 97,2 217,1 472,0 387,3 115,4 1714,5
Tuy Hòa Sơn Hòa
Bảng 6: Tổng lượng mưa tháng và năm (mm)
3.4. Chế độ gió
Bảng 7: Tốc độ gió trung bình tháng và năm (m/s)
I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Tuy 2,2 2,0 1,9 1,8 1,7 2,5 2,4 2,5 1,6 1,8 3,0 3,1 2,2
Hòa
Sơn 1,1 1,4 1,5 1,4 1,6 2,4 2,8 2,8 1,4 0,9 1,1 1,1 1,6
Hòa
3.5. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
- Các cơn bão và áp thấp nhiệt đới diễn ra vào tháng 9 – 12. Trung bình hằng
năm có 2 cơn bão đổ bộ.
173
- Gió Tây khô nóng (gió Lào) diễn ra từ tháng 6 – 8.
3.6. Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch
Bảng 8: Phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe [38, trang 4]
Mức độ đánh Số tháng Số tháng Số giờ Số ngày Tốc độ gió
giá có độ ẩm nắng toàn trời đầy trung bình
năm mây (m/s) có nhiệt độ ≥ 270C ≥ 90%
Rất xấu 5 4 1000 100 1
Bình thường 4 - 5 3 1200 80 1 – 1,5
Tốt 2 - 3 2 1200 80 1,5
Rất tốt 0 0 1500 50 2 - 3
Bảng 9: Chỉ tiêu sinh khí hậu học đối với con người [35, trang 44]
Hạng Ý nghĩa Nhiệt độ Nhiệt độ Biên độ Lượng mưa
trung bình năm (mm)
trung bình năm (0C) nhiệt năm (0C)
tháng nóng nhất (0C)
1 Thích nghi 18 - 24 24 - 27 < 6 1250 - 1900
2 Khá thích nghi 24 - 27 27 - 29 6 – 8 1900 - 2550
3 Nóng 27 – 29 29 – 32 8 – 14 > 2550
4 Rất nóng 29 – 32 32 – 35 14 – 19 < 1250
5 Không thích nghi > 32 > 35 > 19 < 650
So sánh các số liệu từ bảng 2 đến bảng 7 với các tiêu chí ở bảng 8 và bảng 9, ta
có bảng đánh giá sau:
Bảng 10: Đánh giá tài nguyên sinh khí hậu phục vụ du lịch tỉnh Phú Yên
Số thứ Tiêu chí đánh giá Tuy Hòa Sơn Hòa
tự
1 Số giờ nắng Rất tốt -
2 Nhiệt độ trung bình năm Khá thích nghi Khá thích nghi
174
Nóng Khá thích nghi 3
Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất Số tháng có nhiệt độ ≥ 270C Rất xấu Rất xấu 4
Biên độ nhiệt năm Nóng Khá thích nghi 5
Số tháng có độ ẩm ≥ 90% Rất tốt Rất tốt 6
Lượng mưa năm Thích nghi Thích nghi 7
Tốc độ gió trung bình Rất tốt Tốt 8
4. Đánh giá tài nguyên khí hậu du lịch bằng chỉ tiêu sinh khí hậu tổng hợp
(chỉ số RSI)
Chỉ số căng thẳng tương đối (Relative Strain Index) được đưa ra bởi Burton
(1944), với các điều kiện chuẩn (người mặc áo màu sáng, đi bộ với vận tốc 4km/giờ,
RSI
và tốc độ gió là 0,5m/s).
[10,7+0,74(𝑇−35)] Với: e = 0,254H (0,00739T + 0,807) 44−e
=
Trong đó:
e: sức trương hơi nước (mb) T: nhiệt độ không khí (0C)
H: độ ẩm không khí (%)
RSI < 0,1: tiện nghi; 0,1 ≤ RSI < 0,2: khá tiện nghi; 0,2 ≤ RSI: bất tiện nghi [].
Bảng 11: Các mức cảm giác RSI [39, trang 195]
Người đã thích Cảm giác Người bình thường Người già nghi khí hậu
Tiện nghi <0,1 <0,2 <0,1
Bất tiện nghi 0,2-0,3 0,3-0,5 0,1-0,2
Khốn khổ 0,4-0,5 0,6-1,0 0,3
Thất vọng >0,5 >1,0 >0,3
175
Bảng 12: Chỉ số nhiệt căng thẳng tương đối RSI
Tên trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
Tuy Hòa 0,08 0,10 0,15 0,21 0,25 0,26 0,25 0,24 0,22 0,19 0,15 0,10
Sơn Hòa 0,04 0,08 0,14 0,21 0,25 0,25 0,23 0,23 0,20 0,16 0,11 0,05
Phụ lục 13: Một số tiêu chuẩn để đánh giá sức chứa du lịch
[Tổng hợp từ 6, 14, 15]
- Diện tích cho du khách tham quan: 4 m2/người
- Trung bình mỗi nhóm khách tham quan: 15 người
- Chiều dài đường đi cho mỗi du khách leo núi: 1m
- Khoảng cách tối thiểu giữa các nhóm leo núi: 50m - Mật độ khách sử dụng trên bãi biển: 10 m2/người
- Thời gian mỗi lần tắm biển, lặn biển: 30 phút - Diện tích cho du khách tắm biển, lặn biển: 25 m2/người - Diện tích cho du khách lặn có khí tải: 50 m2/người
- Chiều dài bờ biển để du khách dạo chơi thư giãn: 10 m/người
- Diện tích mặt biển dùng để chèo thuyền: 1 ha/thuyền
- Diện tích mặt biển để sử dụng thuyền buồm: 0,5 ha/thuyền
- Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng và đảm bảo chất lượng môi trường: 50
m2/người
- Mật độ resort: 60 – 100 giường/ha
Phụ lục 14: Tính sức chứa cho một vài điểm du lịch tiêu biểu ở Phú Yên
1. Đặc vấn đề
Ngày nay, ở nước ta du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ và đóng góp
quan trọng trong cơ cấu GDP. Ngành du lịch hiện là một trong những ngành kinh tế
mũi nhọn. Ở Phú Yên, du lịch thực sự khởi sắc từ năm 2011 khi tỉnh đăng cai tổ chức
Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ và cùng với nó là nhiều sự kiện lớn đi
kèm. Với xu thế phát triển đó, những tác động của du lịch đến môi trường là không thể
176
tránh khỏi. Vì vậy, để phát triển du lịch một cách bền vững, việc tính sức chứa cho
những điểm tham quan là rất cần thiết. Điều này đảm bảo rằng các khu vực du lịch
được quản lý ở mức độ cho phép.
Theo định nghĩa của WTO (1992): “Sức chứa du lịch là mức độ sử dụng của
khách tham quan mà một khu vực có thể cung cấp, đáp ứng ở mức độ cao cho du
khách và để lại rất ít tác động vào nguồn tài nguyên”.
Khái niệm trên cho thấy rằng có những giới hạn cho việc sử dụng của du khách.
Nếu vượt qua giới hạn này, nguồn tài nguyên du lịch sẽ bị hủy hoại, làm giảm sự hài
lòng của du khách và tác động ngược lại đến kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường của
khu vực.
2. Công thức tính sức chứa du lịch
2.1. Sức chứa tự nhiên (PCC – Physical carrying capacity): là số khách tối đa
mà khách tham quan có khả năng chứa đựng trên tiêu chuẩn cá nhân trung bình.
PCC được tính như sau:
PCC = A x V/a x Rf
Trong đó: A: Diện tích dành cho du lịch (Area for tourist use). Đơn vị: m2
V/a: Tiêu chuẩn cá nhân trung bình (Individual standard). Đơn vị: số
khách/m2
Rf: Hệ số quay vòng (Rotation factor). Rf được tính như sau:
Tổng thời gian mở cửa tham quan
Rf =
Thời gian trung bình một lần tham quan
2.2. Sức chứa thực tế (RCC – Real carrying capacity): là sức chứa tự nhiên trừ
đi các biến số điều chỉnh căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương về sinh
học, môi trường, sinh thái… RCC được tính như sau:
RCC = PCC x
x
x … x
100−Cf2 100−Cf1 100−Cfn Trong đó: Cf là các biến số điều chỉnh. Đơn vị: %. Cf được tính như sau: 100 100 100
Cf = x 100
M1 Mt
177
Trong đó:
M1: Mức độ hạn chế của biến số
Mt: Tổng số khả năng của biến số
2.3. Sức chứa cho phép (ECC – Effective carrying capacity): là sức chứa thực tế
bị hạn chế bởi mức độ quản lý du lịch. ECC được tính như sau:
ECC = RCC x X%
Trong đó: X% là mức độ quản lý chỉ đáp ứng được một tỷ lệ phần trăm yêu cầu
nhất định của hoạt động du lịch.
Như vậy, so với sức chứa tự nhiên, sức chứa cho phép thấp hơn rất nhiều lần.
Có thể xác định 4 mức độ của sức chứa cho phép là:
3. Áp dụng tính sức chứa cho một vài điểm du lịch tiêu biểu ở Phú Yên
3.1. Gành Đá Đĩa
3.1.1. Tính sức chứa khu gành đá
Mô tả khu gành đá
Gành Đá Đĩa có diện tích 2 km2, phần gành đá có chiều rộng 50 m, chiều dài
200 m. Đây là một kiệt tác được hình thành cách đây 200 triệu năm. Khu gành là
những khối đá mặt hình lục giác, gắn chặt với nhau như miếng sáp ong khổng lồ. Nó
được hình thành khi núi lửa tuôn trào dung nham xuống biển. Dòng dung nham nóng
gặp biển lạnh đông cứng lại, cùng với hiện tượng di ứng lực nên toàn bộ khối nham
thạch bị rạn nứt đa chiều tạo nên cảnh quan kỳ thú như ngày nay. Kế bên Gành Đá Đĩa
có một bãi cát chạy dài khoảng 3 km. Khí hậu Gành Đá Đĩa thuộc khí hậu nhiệt đới
ẩm gió mùa. Mùa khô kéo dài từ tháng 1 – tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 – tháng 12.
Mỗi ngày, thời gian từ 11h – 14h trời nắng gắt không thuận tiện cho các hoạt động
tham quan. Mùa mưa thường xuất hiện mưa lớn, giông bão, sóng dữ dội nên cũng
không thuận tiện cho các hoạt động du lịch.
Năm 1997, Gành Đá Đĩa được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là thắng
cảnh cấp quốc gia. Tuy đã được khai thác du lịch từ lâu nhưng cho đến hiện nay hoạt
động du lịch ở Gành Đá Đĩa vẫn chưa thực sự được đầu tư thích đáng. Từ năm 2011,
đường dẫn xuống Gành Đá Đĩa mới được trải nhựa. Xung quanh khu vực này vẫn
chưa có khách sạn lưu trú, chưa có nhà hàng hay các dịch vụ phục vụ du lịch đi kèm
178
khác, chưa tổ chức bán vé thăm quan, chưa có biển chỉ dẫn. Du khách khi đến thăm
Gành Đá Đĩa thường đi theo tour xuất phát từ TP Tuy Hòa. Chuyến tham quan diễn ra
ngắn và đơn điệu. Bãi biển bên cạnh Gành Đá Đĩa vẫn chưa được đầu tư đưa vào khai
thác.
Loại hình du lịch có thể khai thác: tham quan ngắm cảnh, nghiên cứu khoa học,
tắm biển, tắm nắng, du thuyền…
Tính sức chứa tự nhiên
Các thông tin cụ thể: - Diện tích dành cho du lịch: 10.000 m2.
- Giờ cho phép tham quan: 10 h/ngày (từ 7h – 17h).
- Thời gian mỗi lần tham quan: 1h.
=> Hệ số quay vòng: Rf = 10/1 = 10 lần/ngày. - Mỗi người cần 4 m2 khi tham quan [].
Vậy: Sức chứa tự nhiên PCC = 10.000 x 1/4 x 10 = 25.000 khách/ngày.
Tính sức chứa thực tế
Các thông tin cụ thể:
- Hệ số hiệu chỉnh thời gian mưa:
Tổng số ngày mưa: 130 ngày/năm.
Vậy: Cf mưa = 130/360 ≈ 36 %.
- Hệ số hiệu chỉnh thời gian nắng:
+ Số giờ nắng trung bình năm: 6,7 h/ngày.
=> Tổng số giờ nắng trong năm: 6,7 x 360 = 2412 h.
+ Thời gian nắng gắt bất lợi cho thăm quan từ 11h – 14h.
=> Tổng số giờ nắng gắt trong năm: 3 x 360 = 1080 h.
Vậy: Cf nắng = 1080/2412 ≈ 45 %.
Sức chứa thực tế: RCC = 25000 x 64 % x 55 % = 8.800 khách/ngày.
Tính sức chứa cho phép
Để hoạt động tham quan diễn ra thuận lợi, các đoàn khách được tổ chức theo
nhóm 15 người và thêm 1 hướng dẫn viên đi kèm. Như vậy số lượng hướng dẫn viên
cần có là 586 người.
179
Hiện số lao động được đào tạo chuyên ngành du lịch cả tỉnh chỉ có 134 người
và phân bổ ở nhiều nơi khác nhau. Riêng điểm du lịch Gành Đá Đĩa thì chưa có hướng
dẫn viên riêng cho khu. Các hướng dẫn viên phần lớn từ các công ty du lịch có trụ sở ở
TP Tuy Hòa và Tx. Sông Cầu. Nếu chia bình quân cho 18 điểm du lịch cấp quốc gia
thực hiện đánh giá thì mỗi điểm chỉ có được 7 hướng dẫn viên. Vì hệ số Rf là 10 nên
số hướng dẫn viên ta có nhờ quay vòng là 70 người.
Như vậy khả năng đáp ứng X% = 70/586 = 11,9 %.
Sức chứa cho phép: ECC = 8.800 x 11,9 % = 1047 khách/ngày.
Mức độ đánh giá sức chứa du lịch: rất cao
3.1.2. Tính sức chứa khu bãi tắm
Tính sức chứa tự nhiên
Các thông tin cụ thể: - Diện tích bãi tắm có thể khai thác du lịch: 60.000 m2.
- Giờ cho phép tắm biển: 10h/ngày (từ 7h – 17h).
- Thời gian mỗi lần tắm biển: 30ph.
=> Hệ số quay vòng: Rf = 10/0.5 = 20 lần/ngày. - Diện tích mỗi người cần khi tắm biển: 25 m2 [].
Vậy: Sức chứa tự nhiên PCC = 60.000 x 1/25 x 20 = 48.000 khách/ngày.
Tính sức chứa thực tế
Các thông tin cụ thể:
- Hệ số hiệu chỉnh thời gian mưa:
Tổng số ngày mưa: 130 ngày/năm
Vậy: Cf mưa = 130/360 ≈ 36 %.
- Hệ số hiệu chỉnh thời gian nắng:
+ Số giờ nắng trung bình năm: 6,7 h/ngày
=> Tổng số giờ nắng trong năm: 6,7 x 360 = 2412 h.
+ Thời gian nắng gắt không tốt cho tắm biển từ 10 h – 15 h.
=> Tổng số giờ nắng gắt trong năm: 5 x 360 = 1800 h.
Vậy: Cf nắng = 1800/2412 ≈ 75 %.
Sức chứa thực tế: RCC = 48.000 x 64 % x 25 % = 7680 khách/ngày.
180
Tính sức chứa cho phép
Hiện tại khu bãi tắm gần Gành Đá Đĩa vẫn chưa đưa vào khai thác du lịch do đó
những tính toán chỉ dừng lại ở sức chứa thực tế. Khi khu bãi tắm được đầu tư và đi vào
hoạt động, sức chứa cho phép sẽ phụ thuộc vào khả năng đáp ứng X%. X% tùy thuộc
vào các yếu tố: số lượng người quản lý, nhân viên cứu hộ, khả năng cung cấp các dịch
vụ tắm biển: đồ bơi, kính lặn, phao…
3.2. Một số điểm du lịch khác
Điểm Địa điểm PCC RCC ECC
du lịch đánh giá
Vũng Đảo Hòn Diện tích: 60ha X% ≈ 30% Cf mưa ≈ 36 %.
Rô Nưa Diện tích cho du lịch: 3ha ECC = 417 Cf nắng ≈ 45 %.
Loại hình: ngắm cảnh, lặn biển, RCC = 1393 khách/ngày
khách/ngày Sức chứa:
thấp tắm biển, du thuyền, cắm trại Tiêu chuẩn: 25m2/người
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 3h
PCC = 3.960 khách/ngày
Vịnh Diện tích: 1.640ha X% ≈ 30% Cf mưa ≈ 36 %.
Vũng Rô Diện tích cho du lịch: 1.100ha ECC = 618 Cf nắng ≈ 45 %.
Loại hình: ngắm cảnh, lặn biển, RCC = 2059 khách/ngày
tắm biển, tắm nắng, thuyền khách/ngày Sức chứa:
buồm, cắm trại, tìm hiểu lịch sử, trung bình
chụp ảnh…
Tiêu chuẩn xây dựng: 50 m2/người Tiêu chuẩn tắm biển: 25m2/người
Tiêu chuẩn thuyền buồm:
0,5ha/chiếc
181
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 3h
PCC = 7152 khách/ngày
Núi Đá Tuyến Loại hình: leo núi, ngắm cảnh, X% ≈ 90% Cf mưa ≈ 36 %.
Bia tham nghỉ mát, tìm hiểu lịch sử ECC = 595 Cf nắng ≈ 45 %.
quan Đá RCC = 662 khách/ngày Chiều dài tuyến: 2000m
Bia khách/ngày Sức chứa: Nhóm: 15 người
trung bình Tiêu chuẩn 1 khách tham quan:
1m; khoảng cách giữa các nhóm:
50m
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 3h
PCC = 1881 khách/ngày
Đầm Ô X% ≈ 20% S = 1.570ha Cf mưa ≈ 36 %.
Loan Loại hình: ngắm cảnh, du thuyền, ECC = 362 Cf nắng ≈ 45 %.
câu cá, ẩm thực, tìm hiểu lịch sử, RCC = 1812 khách/ngày
lễ hội, chụp ảnh… khách/ngày Sức chứa:
thấp
Tiêu chuẩn xây dựng: 50 m2/người Tiêu chuẩn sử dụng: 10m2/người
Tiêu chuẩn du thuyền: 1ha/chiếc
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 3h
PCC = 5148 khách/ngày
Vịnh S = 13.000 ha X% ≈ 25% Cf mưa ≈ 36 %.
Xuân Loại hình: ngắm cảnh, lặn biển, ECC = 3747 Cf nắng ≈ 45 %.
182
Đài tắm biển, tắm nắng, du thuyền, RCC = 14.988 khách/ngày
cắm trại, ẩm thực, tìm hiểu lịch khách/ngày Sức chứa: rất
sử, chụp ảnh… cao
Tiêu chuẩn xây dựng: 50 m2/người Tiêu chuẩn tắm biển: 25m2/người
Tiêu chuẩn du thuyền: 1ha/chiếc
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 3h
PCC = 42.580 khách/ngày
Bãi Bãi Môn S = 6,5ha X% ≈ 20% Cf mưa ≈ 36 %.
Loại hình: ngắm cảnh, tắm biển, ECC = 610 Môn – Cf nắng ≈ 45 %.
tắm nắng, cắm trại RCC = 3050 khách/ngày Mũi
Điện khách/ngày Sức chứa:
trung bình
Tiêu chuẩn xây dựng: 50 m2/người Tiêu chuẩn tắm biển: 25m2/người
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 1h
PCC = 8.666 khách/ngày
Tuyến Loại hình: leo núi, ngắm cảnh, X% ≈ 60 % Cf mưa ≈ 36 %.
tham nghỉ mát, tìm hiểu lịch sử ECC = 253 Cf nắng ≈ 45 %.
quan Mũi RCC = 422 khách/ngày Chiều dài tuyến: 500m
Điện khách/ngày Sức chứa: Nhóm: 15 người
thấp Tiêu chuẩn 1 khách tham quan:
1m; khoảng cách giữa các nhóm:
50m
Thời gian cho phép tham quan:
183
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 1h
PCC = 1.200 khách/ngày Khuôn viên: 1000m2 Tháp Khu tháp X% ≈ 100 % Cf mưa ≈ 36 %.
Nhạn Chăm Loại hình: leo núi, ngắm cảnh, ECC = 880 Cf nắng ≈ 45 %.
tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu khoa RCC = 880 khách/ngày
học, lễ hội khách/ngày Sức chứa:
cao tham
Tiêu chuẩn 1 khách quan:4m2
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 1h
PCC = 2.500 khách/ngày
Địa Khu địa Loại hình: tìm hiểu lịch sử X% ≈ 40 % Cf mưa ≈ 36 %.
ECC = 1232 đạo Gò đạo Cf nắng ≈ 45 %.
khách/ngày Thì Diện tích toàn khu di tích: 27ha Diện tích khu đón khách: 7000m2 RCC = 3.080
Thùng Sức chứa: rất tham khách/ngày
cao Tiêu chuẩn 1 khách quan:4m2
Thời gian cho phép tham quan:
10h/ngày
Thời gian 1 lần tham quan: 2h
PCC = 8.750 khách/ngày
4. Kết luận
Phương pháp tính sức chứa chỉ có tính chất tương đối, mang tính ước lệ. Mặc
dù những con số đưa ra không phải là tuyệt đối nhưng sự ước đoán này là cần thiết
nhằm có những biện pháp quản lý du lịch trong khả năng cho phép. Đồng thời, sức
chứa của một điểm du lịch không phải là bất biến. Thông qua cách tính sức chứa
chúng ta có thể có nhiều giải pháp để nâng sức chứa cho lãnh thổ du lịch. Các biện
pháp như: xây thêm các cơ sở lưu trú, đào tạo và tuyển dụng thêm hướng dẫn viên du
184
lịch chuyên nghiệp, đầu tư cơ sở thu thu gom rác thải… Việc tính toán này là cần thiết
nhằm tạo cơ sở để phát triển du lịch theo hướng bền vững.
Phụ lục 15: Bảng đánh giá thời gian hoạt động du lịch của điểm du lịch
Số ngày có Số ngày Điểm nhân Điểm du lịch
thể triển thuận lợi hệ số 2
nhất khai du lịch
Vũng Rô 240 180 6
Đường số 5 300 240 8
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh 240 240 8
Địa đạo Gò Thì Thùng 240 90 4
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương 300 60 2
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên 300 90 4
tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến 240 90 4
chống Mỹ
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh 300 60 2
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh 300 90 4
Thành An Thổ 300 90 4
Thành Hồ 240 240 8
Gành Đá Đĩa 240 180 6
Núi Đá Bia 240 180 6
Đầm Ô Loan 240 180 6
Vịnh Xuân Đài 240 180 6
Bãi Môn – Mũi Điện 240 180 6
Tháp Nhạn 300 240 8
Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang) 300 240 8
185
Phụ lục 16: Bảng đánh giá sức chứa khách du lịch của điểm du lịch
Sức chứa du khách Điểm nhân hệ Điểm DL
số 2
Vũng Rô Trung bình 4
Đường số 5 Thấp 2
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh Thấp 2
Địa đạo Gò Thì Thùng Rất cao 8
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương Thấp 2
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên Thấp 2
tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến Thấp 2
chống Mỹ
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh Thấp 2
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh Thấp 2
Thành An Thổ Thấp 2
Thành Hồ Thấp 2
Gành Đá Đĩa Rất cao 8
Núi Đá Bia Trung bình 4
Đầm Ô Loan Thấp 2
Vịnh Xuân Đài Rất cao 8
Bãi Môn – Mũi Điện Thấp 2
Tháp Nhạn Cao 6
Thấp 2 Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang)
Phụ lục 17: Bảng đánh giá vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch
Điểm du lịch Khoảng Thời gian Số lượng Điểm
cách đi đường các loại nhân hệ
(km) (giờ) phương số 1
tiện
186
Vũng Rô 23 30 ph – 4 3
1h
Đường số 5 6 ≤30 ph 3 4
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí 30 30 ph – 3 3
Thạnh 1h
Địa đạo Gò Thì Thùng 47 >2h 3 2
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương 21 30 ph – 3 3
1h
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu 45 1h – 2h 3 2
tiên tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng 40 1h – 2h 3 2
chiến chống Mỹ
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh 7 ≤30 ph 3 4
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa 33 1h – 2h 3 3
Thịnh
Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần 20 30 ph – 3 3
Phú - Tổng Bí thư đầu tiên Đảng Cộng 1h
sản Việt Nam
Thành Hồ 12 ≤30 ph 3 4
Gành Đá Đĩa 40 1h – 2h 4 3
Núi Đá Bia 25 30 ph – 3 3
1h
Đầm Ô Loan 26 30 ph – 4 4
1h
> 2h 46 Vịnh Xuân Đài 4 3
30 ph – 24 Bãi Môn – Mũi Điện 4 4
1h
≤30 ph 0 Tháp Nhạn 3 4
1h – 2h 35 Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang) 3 2
187
Phụ lục 18: Bảng đánh giá CSHT và CSVCKT của điểm du lịch
Điểm du lịch Giao Khách Dịch vụ Điểm
thông sạn có bổ trợ nhân hệ
sao số 2
Vũng Rô 0 Có 6 Tốt
Đường số 5 0 Không 2 Tốt
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí 0 Không 2 Tốt
Thạnh
Địa đạo Gò Thì Thùng 0 Có 6 Tốt
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương 0 Không 2 Trung
bình
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu Tốt 0 Không 2
tiên tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng Trung 0 Không 2
chiến chống Mỹ bình
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh 0 Không 2 Trung
bình
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Trung 0 Không 2
Thịnh bình
Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần 0 Không 2 Tốt
Phú - Tổng Bí thư đầu tiên Đảng Cộng
sản Việt Nam
Thành Hồ 0 Không 2 Tốt
Gành Đá Đĩa 0 Có 2 Trung
bình
Núi Đá Bia 0 Có 6 Tốt
Đầm Ô Loan 0 Không 2 Trung
bình
Vịnh Xuân Đài 0 Không 2 Trung
188
bình
Bãi Môn – Mũi Điện Tốt 0 Có 6
Tháp Nhạn Tốt 3 Có 6
Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang) Trung 0 Không 2
bình
Phụ lục 19: Bảng đánh giá sự kết hợp giữa TNDL với CSHT, CSVCKT của điểm
du lịch
Điểm du lịch TNDL Sự tiện Khả năng Điểm
lợi về đáp ứng nhà nhân
GTVT nghỉ cho du hệ số 3
khách
Vũng Rô Rất hấp Tốt 9 0
dẫn
Đường số 5 Ít hấp dẫn Tốt 6 0
Tốt Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Ít hấp dẫn 3 0
Thạnh
Địa đạo Gò Thì Thùng Hấp dẫn Tốt 6 0
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương Hấp dẫn Khá tốt 6 0
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu Trung bình Tốt 6 0
tiên tỉnh Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng Trung bình Khá tốt 6 0
chiến chống Mỹ
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh Hấp dẫn Khá tốt 6 0
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Ít hấp dẫn Khá tốt 3 0
Thịnh
Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần Trung bình Tốt 3 0
Phú - Tổng Bí thư đầu tiên Đảng Cộng
sản Việt Nam
Thành Hồ Hấp dẫn Tốt 0 6
189
Gành Đá Đĩa Rất hấp Khá tốt 0 6
dẫn
Núi Đá Bia Rất hấp Tốt 0 9
dẫn
Đầm Ô Loan Rất hấp Khá tốt 0 6
dẫn
Vịnh Xuân Đài Rất hấp Khá tốt 0 6
dẫn
Bãi Môn – Mũi Điện Rất hấp Tốt 0 9
dẫn
Tháp Nhạn Hấp dẫn Tốt 12 Tốt
Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang) Hấp dẫn 0 6 Khá
tốt
Phụ lục 20: Bảng đánh giá độ bền vững môi trường của điểm du lịch
Có nơi thu Hiện trạng Điểm Điểm du lịch
gom, xử môi nhân hệ
lý rác thải trường số 2
Vũng Rô Có Tốt 8
Đường số 5 Không Tốt 8
Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh Không Tốt 8
Địa đạo Gò Thì Thùng Có Tốt 8
Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương Có Tốt 8
Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Có Tốt 8
Phú Yên
Căn cứ của tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Có Tốt 8
Mỹ
Mộ và Đền thờ Lương Văn Chánh Có Tốt 8
Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh Không Tốt 8
190
Thành An Thổ nơi sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Có Tốt 8
Bí thư đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam
Thành Hồ Có Tốt 8
Gành Đá Đĩa Có Tốt 8
Núi Đá Bia Có Tốt 8
Đầm Ô Loan Không Tốt 8
Vịnh Xuân Đài Không Tốt 8
Bãi Môn – Mũi Điện Có Tốt 8
Tháp Nhạn Có Tốt 8
Có Tốt 8 Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang)
Phụ lục 21: Danh sách 21 điểm du lịch xếp hạng cấp tỉnh của Phú Yên
STT Tên di tích Thông tin cơ bản
1 Địa điểm Loại di tích: di tích lịch sử
quản thúc và Địa điểm: xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa; thị trấn Củng Sơn, huyện
giải thoát Sơn Hòa; xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa.
Luật sư Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh năm 1910 tại Long An. Năm
Nguyễn Hữu 1921, mới mười một tuổi ông được gửi sang Pháp học, đến năm
Thọ (có 3 di 1933 tốt nghiệp trường Luật và về nước hành nghề luật sư. Ông
tích) nổi tiếng ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ lúc đó vì là một luật sư
có cảm tình với kháng chiến. Vì đấu tranh đòi Mỹ, Diệm thi hành
Hiệp định Giơ-ne-vơ, chống chế độ độc tài Ngô Ðình Diệm, ông
đã bị Mỹ - Diệm bắt ngày 15.11.1954 và bị quản thúc tại Hải
Phòng, sau đó là quãng dài bị lưu đày tại Phú Yên.
Sau Nghị quyết 15 của Trung ương về cách mạng miền nam, việc
thành lập MTDTGPMN Việt Nam đã trở nên bức thiết, nhưng
người được Bác Hồ và đồng chí Lê Duẩn đề cử làm lãnh tụ tổ
chức này lại đang bị giặc giam giữ tại Phú Yên. Một kế hoạch
giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bắt đầu. Bí thư Khu ủy
khu V Trần Lương (tức Trung tướng Trần Nam Trung sau này)
191
và Tỉnh ủy Phú Yên được giao nhiệm vụ ấy. Cuộc giải thoát lần
một bị địch đánh hơi thấy liền đưa luật sư lên Củng Sơn. Và lần
thứ hai, với sự tính toán tỉ mỉ, chính xác, cuộc tập kích quận lỵ
Củng Sơn với nhiều đơn vị của các địa phương tham gia thắng
lợi, nhưng lần thứ hai cuộc giải cứu không thành công bởi địch
đã đưa luật sư về thị xã Tuy Hòa hôm trước mà cơ sở không kịp
báo tin... Lần thứ ba phải dùng đến mưu trí, luật sư đã được giải
cứu thành công. Một đơn vị tinh nhuệ đã hộ tống luật sư theo
đường giao liên về Trung ương Cục. Ðài phát thanh Giải phóng
sau đó loan tin: Luật sư Nguyễn Hữu Thọ được bầu làm Chủ tịch
Ủy ban Trung ương MTDTGPMN Việt Nam.
2 Mộ và Đền Loại di tích: di tích lịch sử
thờ Đào Trí Địa điểm: Phường Xuân Đài, Tx. Sông Cầu.
Đào Trí (1798 - ?), tự là Trung Hòa, là một võ quan cao cấp của
nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Tiên tổ Đào Trí là người
Thanh Hóa, sau chuyển vào ở huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
Năm Minh Mạng thứ 5 (1824), theo lệ làng, ông ra đầu quân rồi
thăng mãi đến Chánh đội trưởng suất đội. Năm Canh Tý (1840),
Đào Trí được điều động sang Trấn Tây thành (tức Chân Lạp) và
trấn áp được cuộc nổi dậy của người Chân Lạp ở Sa Tôn.
Tháng 10 (âm lịch) năm 1858, ở sông Hàn, ông và Tán tương
Nguyễn Duy đã đánh lui được quân Pháp.
Năm Nhâm Tuất (1862), đánh dẹp cuộc nổi dậy của Tạ Văn
Phụng. Cũng trong năm đó giải vây thành tỉnh Cao Bằng từ Lý
Hiệp Thắng (tàn dư của các lực lượng chống Thanh nhưng đã
biến chất). Nhờ hai chiến công này, mà Đào Trí được thăng hàm
Đô thống lĩnh chức Tổng đốc Định Yên (Nam Định và Hưng
Yên). Gặp khi Nam Định giá gạo đắt, dân thiếu ăn, Đào Trí cùng
Bố chính Nguyễn Huy Kỷ và Án sát Lê Tuấn quyên tiền giúp
192
việc chẩn cấp.
Năm Bính Dần (1866), đến kỳ xét công lao, Đào Trí được thăng
Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự. Ông mất khi ngoài 80
tuổi.
3 Mộ và Đền Loại di tích: di tích lịch sử
thờ Nguyễn Địa điểm: xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân.
Hào Sự Nguyễn Hào Sự sinh năm 1840 tại làng Phú Xuân, tổng Xuân
Phong huyện Đồng Xuân, nay thuộc xã Xuân Phước, huyện
Đồng Xuân. Từ nhỏ, ông được gia đình đưa ra Bình Định cho ăn
học tử tế cả văn lẫn võ, trở thành một võ sư nổi tiếng, trở về quê
nhà mở trường dạy võ.
Khi cuộc khởi nghĩa của Lê Thành Phương nổ ra ở Phú Yên,
Nguyễn Hào Sự tập hợp lực lượng yêu nước địa phương, lập “Tụ
hiền trang”, xây dựng căn cứ ở Hòn Ông, đặt mỹ danh mới là
“Thạch Long Cương”. Thực dân Pháp và tay sai Trần Bá Lộc tổ
chức nhiều đợt tấn công vào căn cứ nhưng không thu được kết
quả. Thực dân Pháp giở thủ đoạn đốt phá xóm làng, tra tấn dân
lành làm cho nhiều nghĩa quân dao động. Nguyễn Hào Sự cùng
các đồng sự tổ chức nhiều hoạt động để cải thiện tình hình nhưng
không thu được kết quả. Trước sự đàn áp dã man của thực dân
Pháp giáng xuống dân lành, Nguyễn Hào Sự cùng nhiều người
chọn con đường tự ra nộp mình cho giặc để cứu dân. Ông khảng
khái nói thẳng vào mặt tên Việt gian Trần Bá Lộc: “Tôi về đây là
vị biết vận nước đã hết. Nếu vẫn trụ bám ở căn cứ hoặc tự sát thì
chỉ khổ cho xóm làng. Nước nhà lâm nguy, bổn phận tôi là dân
phải ghé vai gánh vác việc quân vương giao phó. Công việc
không thành thì chỉ biết lấy cái chết đền nợ nước mà thôi. Các
ông cứ đem tôi ra chém, đừng chiêu hàng vô ích”.
4 Mộ Nguyễn Loại di tích: di tích lịch sử
193
Hữu Dực Địa điểm: xã Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa.
Nguyễn Hữu Dực sinh năm 1857 tại làng Phú Hiệp, tổng Hòa
Đa, huyện Tuy Hòa (nay thuộc thôn Phú Hòa, xã Hòa Hiệp
Trung) là một nhân sĩ yêu nước. Năm 1885, ông tham gia phong
trào Cần Vương và giữ chức tham trấn. Năm 1887, ông bị Pháp
bắt cầm tù. Mãn hạn tù, ông liên lạc với các nhân sĩ cách mạng
trong và ngoài tỉnh. Đến năm 1908, ông mất khi đang cùng một
số nhân sĩ yêu nước lãnh đạo nhân dân Phú Yên biểu tình chống
thuế.
5 Hành cung Loại di tích: di tích lịch sử.
Long Bình Địa điểm: Phường Xuân Phú, Tx. Sông Cầu.
Hành cung là công trình kiến trúc nằm trong thành Long Bình.
được xây dựng vào khoảng năm 1899. Hành cung Long Bình
được chính quyền phong kiến cho xây dựng và sử dụng trong
thời gian từ những năm đầu của thế kỷ XX đến trước năm 1945
dưới thời các vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại.
Hành cung là một công trình lớn, được kiến thiết ở vị trí trung
tâm của khu thành, quay mặt về hướng nam. Những bộ phận kiến
trúc chính của hành cung gồm có tòa chính điện, cổng vào, sân
chầu và tường bao.
6 Vụ thảm sát Loại di tích: di tích lịch sử
Gò É, Gộp Địa điểm: xã An Xuân, huyện Tuy An.
Dệt
7 Những vụ Loại di tích: di tích lịch sử
thảm sát An Địa điểm: xã An Lĩnh, huyện Tuy An.
Lĩnh
8 Vụ thảm sát Loại di tích: di tích lịch sử
Gành Đá - Địa điểm: xã An Hải, huyện Tuy An .
Vũng Bầu
194
9 Vụ thảm sát Loại di tích: di tích lịch sử
Phú Sơn Địa điểm: thôn Phú Sơn, xã An Ninh Đông, huyện Tuy An.
10 Vụ thảm sát Loại di tích: di tích lịch sử
chợ Giã Địa điểm: xã An Ninh Tây, huyện Tuy An.
11 Vụ thảm sát Loại di tích: di tích lịch sử
xã An Hòa Địa điểm: xã An Hòa, huyện Tuy An.
12 Suối Cối Loại di tích: di tích lịch sử
Địa điểm: xã Xuân Quang 1, huyện Đồng Xuân.
Trong kháng chiến chống Pháp, tại Suối Cối, quân ta đã tiêu diệt
Tiểu đoàn Ngự lâm quân số 2 của địch vào ngày 21.03.1954 do
Trung đoàn phó Trung đoàn 803 Hà Vi Tùng trực tiếp chỉ huy
Tiểu đoàn 365.
Những năm chống Mỹ, Xuân Quang 1 gồm các thôn Kỳ Lộ,
Đồng Hội, Đồng Xe, Thác Dài, Suối Cối, Phú Giang là căn cứ
vững chắc của Đồng Xuân, của Phú Yên. Ngày 23.09.1961, khi
giải phóng Đồng Tre, Xuân Phước, Tổng đoàn Dân vệ ở Kỳ Lộ
bỏ chạy, vùng Suối Cối, Thác Dài là vùng giải phóng sớm nhất
của Phú Yên.
13 Trại an trí Trà Loại di tích: di tích lịch sử
Kê Địa điểm: xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa.
Ngục Trà Kê thành lập năm 1940, bên cạnh có đồn lính khố xanh
trên dưới 100 người do thiếu úy người Pháp làm đồn trưởng. Trại
tù giam tù chính trị từ Thanh Hóa tới Phan Rang. Nhiều lãnh đạo
cách mạng đã bị giam ở đây trong đó có Hà Huy Giáp, Bùi Công
Trừng, Hồ Tùng Mậu, Lưu Quý Kỳ…
14 Núi Sầm Loại di tích: di tích lịch sử
Địa điểm: xã Hòa Trị, huyện Phú Hòa.
Tại núi Sầm, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược đã diễn ra nhiều trận đánh của các đơn vị
195
lực lượng vũ trang Liên khu 5 và bộ đội địa phương, dân quân,
du kích tỉnh Phú Yên. Tiêu biểu là trận đánh ngày 20.06.1954
của Tiểu đoàn 365, Tiểu đoàn 375, tiêu diệt trên 100 tên địch
trong công sự kiên cố. Trận đánh ngày 26.10.1965 của Tiểu đoàn
85 cùng Đại đội đặc công 202 (Tỉnh đội Phú Yên) diệt gọn Ban
chỉ huy Tiểu đoàn 23 Biệt động quân, loại khỏi vòng chiến đấu
125 tên địch. Trận đánh ngày 13.04.1972 của Tiểu đoàn 96 (Tỉnh
đội Phú Yên), loại khỏi vòng chiến đấu 90 tên địch. Chiến thắng
Núi Sầm làm cho địch mất chỗ dựa, mất tin tưởng vào hệ thống
phòng ngự vững chắc, phá được thế kìm kẹp của địch ở vùng ven
và đô thị.
15 Núi Hiềm Loại di tích: di tích lịch sử
Địa điểm: xã Hòa Xuân Đông, huyện Đông Hòa.
Tại núi Hiềm, từ tháng 01.1947 đến cuối năm 1950, bộ đội chủ
lực, lực lượng vũ trang tỉnh và du kích Hòa Xuân, huyện Tuy
Hòa đã tổ chức đánh gần 100 trận lớn, nhỏ tấn công đồn bót,
chống hành quân càn quét, chống dỡ nhà, cướp bóc, phục kích
đánh giao thông, bao vây bắn tỉa, cắt dây điện thoại liên lạc; kết
hợp với công tác binh, địch vận vào Đồn Núi Hiềm, triệt phá các
ổ gián điệp, trừng trị bọn tề ngụy… gây cho địch nhiều thiệt hại.
Để tránh khỏi sự tiêu diệt hoàn toàn buộc chúng phải lặng lẽ rút
quân khỏi Đồn Núi Hiềm vào ngày 05.12.1950. Từ đó, Phú Yên
đã trở thành vùng tự do vững chắc của Liên khu 5 cho đến khi
kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
16 Chùa Khánh Loại di tích: di tích lịch sử
Sơn Địa điểm: Phường 9, TP Tuy Hòa.
17 Tháp Chăm Loại di tích: di tích khảo cổ
Đông Tác Địa điểm: Phường Phú Thạnh, TP Tuy Hòa.
18 Gành Đá Loại di tích: danh lam thắng cảnh
196
Địa điểm: xã Hòa Thắng, huyện Phú Hòa.
Nằm trên vùng châu thổ Sông Ba và có cảnh quan thiên nhiên
đẹp, Gành Đá còn được gọi là Ngũ Thạch Sơn gồm có năm dãy
đá lớn tạo thành như: Gành Miễu, Gành Quan, Gành Dung, Gành
Quýt và Gành Bồ. Gành Đá gắn liền với đời sống tinh thần của
nhân dân địa phương và đã đi vào thơ ca.
19 Núi Hương, Loại di tích: danh lam thắng cảnh
bầu Hương, Địa điểm: xã Hòa Phong, xã Hòa Mỹ Tây, xã Hòa Mỹ Đông,
chùa Hương huyện Tây Hòa.
Núi Hương cao 142 mét, có con sông nhỏ chạy vắt qua chân núi
rồi vòng xuống thôn Thạnh Phú. Tại đây dòng sông nhỏ bỗng
dưng phình to ra tạo thành bàu rộng mà dân gian gọi là bầu
Hương. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhà chí sĩ về ẩn cư tại
đây, lập một thư quán tên gọi Tam Thai. Cả một cụm núi Hương,
bàu Hương và chùa Hương Tích đã tạo nên một thắng cảnh đẹp.
Và bên cạnh đó còn truyền tụng một truyền thuyết bàng bạc màu
sắc lãng mạn về cuộc tình duyên giữa người trần và tiên giới.
Phụ lục 22: Phân bố TNDL ở các cụm du lịch
Cụm du Tài nguyên du lịch Số lượng
lịch
TP Tuy - TNDL tự nhiên: Vũng Rô; Núi Đá Bia; Bãi Môn – Mũi 20
Hòa và Điện; Bãi Bàng; Bãi Gốc; bãi biển Tuy Hòa; bãi biển Long
vùng phụ Thủy; núi Chóp Chài; suối Đá Bàn; Đập Hàn; Biển Hồ.
cận - TNDL nhân văn: Di tích đường Hồ Chí Minh trên biển; Địa
điểm quản thúc và giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (xã
Bình Kiến); Mộ Nguyễn Hữu Dực; Núi Hiềm; Chùa Khánh
Sơn; Tháp Nhạn; Tháp Chăm Đông Tác; KDL Sao Việt; KDL
sinh thái Thuận Thảo.
197
TX Sông - TNDL tự nhiên: Hòn Chùa; Hòn Yến; Bãi Xép; bãi biển Phú 37
Cầu và Thường; Bãi Ôm; Bãi Từ Nham; Bãi Nồm; Bãi Rạng; Bãi
vùng phụ Bàng; Gành Dưa; Gành Đá Đĩa; Đầm Ô Loan; khu ẩm thực
cận Đầm Ô Loan; đầm Cù Mông; Vịnh Xuân Đài; Vũng Lắm;
suối Đá Đen; thác Cây Đu; suối Mơ.
- TNDL nhân văn: Nơi diễn ra vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí
Thạnh; Mộ và Đền thờ Lê Thành Phương; Thành An Thổ nơi
sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng
sản Việt Nam; Chùa Đá Trắng (Chùa Từ Quang); Mộ và Đền
thờ Đào Trí; Hành cung Long Bình; Vụ thảm sát Gò É - Gộp
Dệt; Những vụ thảm sát An Lĩnh; Vụ thảm sát Gành Đá -
Vũng Bầu; Vụ thảm sát Phú Sơn; Vụ thảm sát chợ Giã; Vụ
thảm sát xã An Hòa; chùa Tổ; nhà thờ Mằng Lăng; khu mộ cổ
A Mang; chùa Triều Tôn; Nhất Tự Sơn; KDL Bãi Tràm.
Cao - TNDL tự nhiên : cao nguyên Vân Hòa; suối nước khoáng 12
nguyên Trà Ô; suối nước khoáng Triêm Đức.
Vân Hòa - TNDL nhân văn: Địa đạo Gò Thì Thùng; Căn cứ của tỉnh
và vùng Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ; Nơi thành lập Chi bộ
phụ cận Đảng Cộng sản đầu tiên tỉnh Phú Yên; Mộ và Đền thờ Nguyễn
Hào Sự; Suối Cối; buôn Xí Thoại; buôn Ha Rai; chùa Phước
Sơn; hồ Phú Xuân.
Sông - TNDL tự nhiên: khu bảo tổn thiên nhiên Krông Trai; Gành 20
Hinh và Đá; thác H’Ly; suối nước khoáng Phú Sen; suối nước khoáng
vùng phụ Lạc Sanh; vực phun Hòa Mỹ.
cận - TNDL nhân văn: Đường số 5; Mộ và Đền thờ Lương Văn
Chánh; Địa điểm diễn ra cuộc Đồng Khởi Hòa Thịnh; Thành
Hồ; Địa điểm quản thúc và giải thoát Luật sư Nguyễn Hữu
Thọ (TT.Củng Sơn, huyện Sơn Hòa và xã Hòa Thịnh, huyện
Tây Hòa); Trại an trí Trà Kê; Núi Sầm; Núi Hương, bầu
198
Hương, chùa Hương; chùa Hương Tích; hồ thủy điện Sông Ba
Hạ; hồ thủy điện Sông Hinh; đập Đồng Cam; buôn La Diêm.
Phụ lục 23: Bảng đánh giá số lượng TNDL của cụm du lịch
Cụm du lịch Diện Số Điểm
lượng Mật độ tài nguyên (tài nguyên/km2) nhân
tích (km2) TNDL hệ số 3
TP Tuy Hòa và vùng phụ cận 375 20 12 0,053
TX Sông Cầu và vùng phụ cận 904 37 9 0,040
Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận 1.545 12 3 0,007
Sông Hinh và vùng phụ cận 2.236 20 6 0,009
Phụ lục 24: Bảng đánh giá thời gian hoạt động của cụm du lịch
Cụm du lịch Số ngày có thể Số ngày thuận lợi Điểm nhân
triển khai du lịch nhất hệ số 3
TP Tuy Hòa và vùng phụ 240 180 9
cận
TX Sông Cầu và vùng phụ 240 180 9
cận
Cao nguyên Vân Hòa và 240 180 9
vùng phụ cận
Sông Hinh và vùng phụ 240 180 9
cận
Phụ lục 25: Bảng đánh giá CSHT và CSVCKT của cụm du lịch
Cụm du lịch CSHT CSVCKT Điểm nhân
hệ số 2
TP Tuy Hòa và vùng phụ cận Rất tốt Rất tốt 8
TX Sông Cầu và vùng phụ cận Tốt Tốt 6
Cao nguyên Vân Hòa và vùng phụ cận Kém Kém 2
199
Sông Hinh và vùng phụ cận Kém Kém 2
Phụ lục 26: Bảng đánh giá số lượng TNDL của tuyến du lịch
Tuyến du lịch Chiều dài Số lượng Mật độ Điểm
tuyến TNDL tài nhân hệ
(km) nguyên số 3
(TN/km)
36 Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 14 0,38 9
75 TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu 32 0,42 12
81 TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân 15 0,18 6
40 TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - 10 0,25 9
Núi Đá Bia
95 TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - 9 0.09 3
Phú Hòa
7 0,04 TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa 150 3
Phụ lục 27: Bảng đánh giá độ hấp dẫn TNDL của tuyến du lịch
Tuyến du lịch Số lượng TNDL có Điểm nhân
ý nghĩa quốc gia hệ số 3
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 1 6
TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu 7 12
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân 6 12
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia 3 9
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa 3 9
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa 0 3
200
Phụ lục 28: Bảng đánh giá sự tiện lợi GTVT của tuyến du lịch
Tuyến du lịch Chất lượng Vị trí điểm Điểm nhân
đường giao du lịch với hệ số 3
thông đường giao
thông
Rất gần Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa Rất tốt 12
Rất gần TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu Rất tốt 12
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân Trung bình Xa 3
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia Rất tốt Rất gần 12
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa Tốt Gần 9
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa Trung bình Xa 3
Phụ lục 29: Bảng đánh giá CSVCKT của tuyến du lịch
Tuyến du lịch Khách sạn Dịch vụ Điểm nhân
có sao khác hệ số 2
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 28 Rất tốt 8
TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu 1 Tốt 4
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân 0 Kém 2
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia 0 Kém 2
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa 0 Kém 2
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa 0 Kém 2
Phụ lục 30: Bảng đánh thời gian hoạt động của tuyến du lịch
Tuyến du lịch Thời gian Thời gian Điểm nhân
hoạt động tiện lợi hệ số 2
du lịch nhất
Tuyến du lịch tham quan TP Tuy Hòa 300 240 8
TP Tuy Hòa - Tuy An - TX Sông Cầu 300 240 8
TP Tuy Hòa - Tuy An - Đồng Xuân 240 180 6
201
TP Tuy Hòa - Đèo Cả - Vũng Rô - Núi Đá Bia 300 240 8
TP Tuy Hòa - Tuy An - Sơn Hòa - Phú Hòa 240 180 6
TP Tuy Hòa - Sông Hinh - Sơn Hòa 240 180 6
Phụ lục 31: Phát triển du lịch dựa trên quan hệ với tài nguyên tự nhiên
Tài nguyên Phát triển loại hình du lịch
Nước Những nơi nghỉ mát, cắm trại, công viên, địa điểm câu cá, vùng đáy
biển, du thuyền trên biển, trên sông, dã ngoại, cảnh quan nước, các điểm
lễ hội nước, vùng trước biển, lặn biển, chụp ảnh dưới nước.
Địa hình Miền núi, những điểm thể thao mùa đông, leo núi, tàu lượn, công viên,
những điểm cảnh quan, sông băng, bình nguyên, điểm chăn nuôi, điểm
ngắm chụp ảnh, phong cảnh.
Thực vật Công viên, cắm trại, những vùng hoa dại, điểm quan sát, phong cảnh,
nhà nghỉ, chụp ảnh phong cảnh, nơi cư trú của sinh vật hoang dã.
Khí hậu Tắm nắng, tắm biển, các điểm nghỉ mùa hè và mùa đông, những điểm
có nhiệt độ thích hợp với sự phát triển các loại hình đặc biệt.
Nguồn:[14], trang 164
Phụ lục 32: Phát triển du lịch dựa trên quan hệ với tài nguyên văn hóa
Tài nguyên Phát triển loại hình du lịch
Thời tiền Trung tâm phiên dịch cho du khách, khai quật cổ, công viên thời tiền sử
sử, khảo cổ và những khu vực cấm, những điểm khảo cổ hàng hải, những điểm lễ
học hội có liên quan tới thời tiền sử, phong tục thời tiền sử.
Lịch sử Những sự kiện lịch sử, những kiến trúc lịch sử những bảo tàng lịch sử
linh thiêng giới thiệu những kỷ nguyên của lịch sử nhân loại, những
trung tâm văn hóa, lịch sử, lễ hội, những sự kiện đánh dấu lịch sử.
Chủng tộc, Những nơi có tầm quan trọng về chủng tộc (phong tục, nghệ thuật, tín
di chỉ, giáo ngưỡng), những trung tâm văn hóa, chủng tộc quốc gia, lễ hội và tuồng
dục lịch sử, những khu nhà nghỉ cổ, trường đại học.
Kỹ nghệ, Chế tạo và chế biến thực vật, buôn bán, học viện nghiên cứu giáo dục,
202
thương mại trung tâm hội nghị, biểu diễn nghệ thuật, bảo tàng, phòng trưng bày.
Giải trí, sức Suối khoáng, trung tâm y tế, nhà hàng đặc sản, thánh địa tôn giáo, nơi tế
khỏe, tôn lễ, đấu trường thể thao, câu lạc bộ đêm, sòng bạc, nhà hát, bảo tàng (lịch
giáo, thể sử, nghệ thuật, lịch sử tự nhiên, khoa học ứng dụng, chuyện dân giang),
thao phòng triển lãm nghệ thuật.
Nguồn:[14], trang 164
Phụ lục 33: Danh sách một số khách sạn hạng sao trên địa bàn tỉnh Phú Yên
TT Tên cơ sở lưu trú Địa chỉ Sở hữu Hạng Số
sao phòng
1 Khách sạn Cenduluxe Hải Dương, Bình Ngọc, TP CP Tư 5 sao 218
Tuy Hòa nhân
2 Vietstar Resort & Spa Núi Thơm, An Phú, TP Tuy 5 sao 86
Phú Yên Hòa
3 Khách sạn Kaya 238, Hùng Vương, TP Tuy CP Tư 4 sao 82
Hòa nhân
4 Khách sạn Sài Gòn – 541, Trần Hưng Đạo, TP CP Nhà 4 sao 87
Phú Yên Tuy Hòa nước
5 Khách sạn Hùng 239 – 241, Hùng Vương, TP Tư 3 sao 50
Vương Tuy Hòa nhân
6 Khách sạn Hương 22B, Nguyễn Tất Thành, TP CP Nhà 2 sao 55
Sen Tuy Hòa nước
5 Khách sạn Công Độc Lập, TP Tuy Hòa CP Nhà 2 sao 64
Đoàn nước
7 Khách sạn Vĩnh 227, Nguyễn Tất Thành, TP CP Nhà 2 sao 89
Thuận Tuy Hòa nước
8 Khách sạn Ái Cúc II 267 – 269, Hùng Vương, TP Tư 2 sao 27
Tuy Hòa nhân
9 Khách sạn Ái Cúc II 06, Lê Quý Đôn, TP Tuy Tư 1 sao 36
Hòa nhân
203
10 Khách sạn Hoàng 151, Lê Thánh Tôn, TP Tuy Tư 1 sao 20
Sương Hòa nhân
11 Khách sạn Hoa Anh 250, Trần Hưng Đạo, TP Tư 1 sao 16
Đào Tuy Hòa nhân
12 Khách sạn Lam Trà Lô 14 C2, Hùng Vương, TP Tư 1 sao 26
Tuy Hòa nhân
13 Khách sạn Kim Hằng 221, Hùng Vương, TP Tuy Tư 1 sao 15
Hòa nhân
14 Khách sạn Hoàng Lan 29A, Nguyễn Du 1 sao 17 Tư
nhân
15 Khách sạn Thiên 186B, Lê Lợi, TP Tuy Hòa Tư 1 sao 12
Hươg nhân
16 Khách sạn Quỳnh 18, Trần Bình Trọng, TP Tư 1 sao 26
Tuy Hòa Hoa nhân
17 Khách sạn Huyền Chính Nghĩa, An Phú, TP Tư 1 sao 21
Tuy Hòa Trâm nhân
18 Khách sạn Đà Giang 24, Nguyễn Tất Thành 1 sao 15 Tư
nhân
19 Khách sạn Forex 52, Nguyễn Tất Thành 1 sao 29 Tư
nhân
20 Khách sạn Sinh Hiền 461 – 463, Hùng Vương, TP Tư 1 sao 21
Tuy Hòa nhân
21 Khách sạn Anh Tuấn Lô A3 – A4 Hùng Vương, Tư 1 sao 12
2 TP Tuy Hòa nhân
22 Khách sạn Laura 252, Nguyễn Huệ, TX Sông Tư 1 sao 22
Cầu nhân
23 Khách sạn Đại Hưng Lô 04, 25 – 29, Hùng 1 sao 20 Tư
Phát Vương, TP Tuy Hòa nhân
24 Khách sạn Thanh 224, Lê Thánh Tôn, TP Tuy Tư 1 sao 28
204
Bình Hòa nhân
25 Khách sạn Thanh Vân 210, Thanh Vân, TP Tuy Tư 1 sao 15
Hòa nhân
26 Khách sạn Thanh 189 – 191, Hùng Vương, TP Tư 1 sao 28
Kim Anh Tuy Hòa nhân
27 Khách sạn Thu 01, Nguyễn Du, TP Tuy 1 sao 10 Tư
Hường Hòa nhân
28 Khách sạn Việt 26A, Nguyễn Tất Thành, TP Tư 1 sao 18
Hương 2 Tuy Hòa nhân
29 Khách sạn Lam Trà 2 Lô A3 – A4, Trần Phú, TP Tư 1 sao 28
Tuy Hòa nhân
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, năm 2013
205
Phụ lục 34: Một số thắng cảnh ở Phú Yên
Tháp Nhạn
Sông Đà Rằng nhìn từ núi Nhạn
206
Nhà thờ Mằng Lăng
Di tích đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
207
Bãi Môn – Mũi Điện
Gành Đá Đĩa
Nguồn: Học viên Trần An Vinh