BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trịnh Văn Anh
Chuyên ngành : Địa Lý học
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRỊNH THANH SƠN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ
tận tình quý báu của các thầy cô giáo, các bạn bè và gia đình. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và
biết ơn sâu sắc đến:
- TS. Trịnh Thanh Sơn, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ trong quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, Phòng Khoa học Công nghệ & Sau
Đại học, Khoa Địa lý, Quý thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
- Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè thân hữu đã dành tình cảm,
động viên và giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn
Trịnh Văn Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
: CG Cần Giờ
: DK Du khách
: DL Du lịch
Du lịch sinh thái : DLST
Khu dự trữ sinh quyển Thế giới : KDTSQTG
Thành phố Hồ Chí Minh : Tp. HCM
Ủy ban Nhân dân : UBND
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch (DL) nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng ngày càng khẳng định được
vị thế của mình trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nước có nền
kinh tế phát triển, hàng năm ngành này mang lại cho họ hàng chục tỷ đô la Mỹ. Chính vì thế,
khoảng hai thập kỉ gần đây, DL (đặc biệt DLST) được nhiều quốc gia, lãnh thổ chú ý vì đó là
ngành phát triển dựa vào thiên nhiên, bảo tồn tự nhiên, bảo tồn văn hóa bản địa, đặc biệt có khả
năng nhanh chóng cải thiện cuộc sống của cộng đồng địa phương góp phần thúc đẩy kinh tế –
xã hội phát triển.
Tuy nhiên, loại hình này ở nước ta còn khá mới mẻ, chưa được chú ý phát triển và nghiên
cứu một cách khoa học, tạo cơ sở cho việc khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ DLST.
Thực tế thường tồn tại, việc phát triển DL tại một vùng hay một địa phương nào đó thường kéo
theo sự suy giảm và xuống cấp tài nguyên môi trường nơi đó. Một trong những nguyên nhân
chủ yếu gây tổn thương cho tài nguyên tự nhiên khi đưa vào khai thác DL được nhiều giới,
ngành, nghề thừa nhận là: hoạt động DL không được quản lý chặt chẽ, thiếu quy hoạch, các nhà
tổ chức DL cũng như dân địa phương chỉ chú ý đến lợi ích trước mắt mà không tính đến hậu
quả lâu dài, dẫn đến khai thác tràn lan nên giảm giá trị và tính hấp dẫn của nó.
Cần Giờ (CG) là một huyện ngoại thành của Tp. HCM, có diện tích tự nhiên 71.310 ha,
cách trung tâm thành phố 50 km về hướng Đông Nam. Tổng diện tích rừng ngập mặn của địa
phương này là 38.663 ha, ngoài chức năng “lá phổi xanh” của Tp. HCM, đây còn là nơi sinh
sống của nhiều loài động – thực vật hoang dã quý hiếm và một số loài đặc hữu của rừng ngập
mặn nhiệt đới gió mùa. Hơn nữa, tháng 1 năm 2000, UNESCO (tổ chức Giáo dục – Khoa học –
Văn hóa của Liên Hợp Quốc) công nhận rừng ngập mặn CG là một trong 368 Khu dự trữ sinh
quyển Thế giới (KDTSQTG). Lợi thế trên, đã giúp cho CG có đầy đủ những điều kiện cần thiết
về tự nhiên để phát triển DLST; tuy nhiên, hiện tại nguồn tài nguyên DL quý giá này vẫn chỉ
nằm ở dạng tiềm năng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Vấn đề tổ chức DLST ở Cần
Giờ – Tp. HCM” làm luận văn tốt nghiệp, mong sao có thể đóng góp một phần nhỏ bé theo suy
nghĩ khiêm tốn của mình để đưa DLST CG ngày càng phát triển, tương xứng với tiềm năng, vị
thế vốn có của nó.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu tiềm năng phát triển DLST CG.
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng DLST CG, trên cơ sở đó chúng tôi đề xuất một số biện
pháp nhằm đẩy mạnh phát triển DLST góp phần cải thiện đời sống cho dân địa phương cũng
như duy trì, bảo tồn nguồn động – thực vật qúy hiếm ở KDTSQTG.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển DL và bảo tồn môi trường tự nhiên cân bằng
sinh thái. Đồng thời, đánh giá sự tác động của DL đối với đời sống kinh tế – xã hội của người
dân CG.
- Đưa ra một số định hướng để phát triển DLST CG.
3. Sơ lược lịch sử nghiên cứu đề tài
DLST trong những năm gần đây phát triển mạnh mẽ theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Hòa nhịp dòng chảy đó, DLST Việt Nam nói chung và DLST CG nói riêng ngày càng thu hút
sự chú ý của DK trong và ngoài nước. Có thể nói, trong tương lai không xa, CG là điểm hẹn
cuối tuần cho thành phố và các tỉnh lân cận. Bên cạnh đó, năm 2000 rừng ngập mặn CG được
UNESCO công nhận là KDTSQTG nên đến nay đã có những công trình nghiên cứu, tham luận,
đề án về DLST CG như:
“Nghiên cứu sinh thái nhân văn ở Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn CG” (2006),
luận án Tiến sĩ của Lê Đức Tuấn. Ở đây, tác giả đã phân tích, đánh giá tổng thể và đề ra một số
giải pháp bảo vệ môi trường sinh thái nhân văn rất hữu ích cho việc phát triển DLST CG.
“Đánh giá tác động của DL đến môi trường tự nhiên, nhân văn CG” của Viên Ngọc Nam.
Công trình nghiên cứu này tác giả đã đánh giá tổng thể môi trường tự nhiên, nhân văn và và sự
tác động của DL đến nó đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp DLST CG phát triển.
Công trình nghiên cứu “Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn CG” (2002) của Lê Đức
Tuấn và một số cộng sự đã được Nhà xuất bản Nông nghiệp ấn hành. Đây là công trình cung
cấp đầy đủ nhất từ trước đến nay về môi trường tự nhiên, các hệ sinh thái động – thực vật CG
làm cẩm nang cho việc vận dụng vào việc phát triển DLST ở địa phương này
Đề án “Quy hoạch CG thành 3 vùng DLST” của UBND CG đã được UBND Tp. HCM
phê duyệt tháng 4/2004. “Quy hoạch tổng thể DLST CG đến năm 2020” (2004) của UBND Tp.
HCM. Theo đó, huyện CG được phân thành 3 vùng: vùng DLST nông nghiệp kết hợp với
nhiệm vụ phát triển 4 xã phía Bắc; vùng DLST rừng gồm toàn bộ diện tích rừng ngập mặn và
phần còn lại là DLST biển.
Huyện đã có các báo cáo thường niên và định kì như: “Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện
quy hoạch phát triển DLST” (2005 – 2007); “Báo cáo thành tựu xây dựng và phát triển huyện
CG sau 30 năm CG sáp nhập về Tp. HCM” (02/2008) và “Báo cáo giới thiệu tiềm năng, quy
hoạch và các dự án đầu tư phát triển DLST CG” (06/2008). Ba báo cáo trên của UBND huyện
CG đã đánh giá quá trình quy hoạch, triển khai đề án, tổng kết các dự án DLST đang thi công,
đã hoàn thành đưa vào sử dụng. Đồng thời, các báo cáo cũng nêu thành tựu, hạn chế và đề ra
phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm sắp tới cho DLST CG.
Ngoài ra, còn một số bài báo về các đề án xây dựng, phát triển khu DL Vàm Sát, Đảo
Khỉ, đặc biệt là Khu đô thị sinh thái lấn biển CG. Qua những bài này cho thấy, các tác giả đã
nhìn nhận, đánh giá cả hai khía cạnh được và mất trong quá trình triển khai dự án cũng như
đóng góp ý kiến rất hữu ích cho DLST CG.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Thời gian nghiên cứu: từ 2003 đến quý 2 năm 2008 (tập trung ở giai đoạn 2005 –
2007), trên cơ sở đó định hướng cho việc phát triển DLST CG trong tương lai.
- Không gian nghiên cứu: huyện CG (Tp. HCM).
- Nội dung nghiên cứu: Trên cơ sở giới thiệu tiềm năng tự nhiên, kinh tế – xã hội và hiện
trạng DLST CG chúng tôi đưa ra một số định hướng để phát triển DLST CG.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Các quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
Là tập hợp các thành tố tạo nên một chỉnh thể ổn định và vận động theo quy luật tổng
hợp, một hệ thống bao giờ cũng có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố lại có cấu trúc
nhỏ hơn. Các thành tố của hệ thống có quan hệ biện chứng với nhau bằng quan hệ vật chất và
quan hệ chức năng.
Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn CG là một phân hệ của Đông Nam Bộ. Trong
rừng, có các hệ nhỏ hơn như: phân hệ khách DL, phân hệ tổng thể tự nhiên, lịch sử, văn hóa của
rừng, trong đó người dân bản địa và nhân viên rừng ngập mặn sẽ quy định tương lai của hệ.
5.1.2. Quan điểm sinh thái và phát triển bền vững
Xét trên quan điểm này cần làm rõ mối quan hệ giữa sinh thái và con người sống trong
hệ sinh thái đó, chúng có mối quan hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần bộ
phận tự nhiên của khu dự trữ.
Làm rõ mối quan hệ giữa thành phần, bộ phận của tự nhiên với dân địa phương và khách
DL. Trên cơ sở đó, chúng ta khai thác tiềm năng của rừng để phục vụ DL, bảo tồn tự nhiên, văn
hóa bản địa sao cho thỏa mãn hiện tại mà không ảnh hưởng tới nhu cầu trong tương lai.
5.1.3. Quan điểm sinh thái – kinh tế
Quan điểm này cần phải tổ chức DLST ở CG sao cho: vừa phát triển DLST, vừa phát
triển kinh tế, vừa cải thiện được đời sống dân địa phương mà vẫn duy trì cân bằng sinh thái, bảo
vệ nguồn gen và động thực vật quý hiếm.
5.1.4. Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mỗi sự vật và hiện tượng đều có quá trình phát sinh, phát triển vận động và biến đổi
không ngừng. Đứng trên quan điểm lịch sử, phân tích nguồn gốc phát sinh, đánh giá đúng hiện
tại sẽ là cơ sở đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát triển trong thời gian sắp tới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thực địa
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích khảo sát, kiểm chứng, tìm hiểu các yếu tố tự
nhiên, kinh tế – xã hội, cơ sở vật chất kĩ thuật và một số hoạt động DL khác từ nguồn tài liệu đã
tham khảo làm tư liệu cho đề tài nghiên cứu.
5.2.2. Phương pháp bản đồ
Từ bản đồ, vạch ra các vị trí tiến hành khảo sát, kiểm tra khu DLST CG. Xem xét, nghiên
cứu trên bản đồ để xây dựng các tuyến điểm DL mới, vị trí cần quy hoạch và dự đoán hậu quả
của sự phát triển DLST.
5.2.3. Phương pháp phân tích tổng hợp
Tổng hợp các tài liệu, số liệu đã thu thập sàng lọc một cách chi tiết, phân loại xử lý, tìm
kết quả có độ tin cậy cao đưa vào minh chứng cho đề tài.
5.2.4. Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo dựa trên cơ sở sự phát triển có tính quy luật của sự vật, hiện tượng
trong quá khứ, hiện tại mà suy diễn logic cho tương lai, từ đó đề ra các giải pháp cho DLST
CG.
5.2.5. Phương pháp chuyên gia
Để nghiên cứu đánh giá vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề
cần tham khảo trao đổi với nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
6. Cấu trúc của luận văn
- Luận văn chia làm 3 chương với tổng số 96 trang.
- Các chương gồm:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về DL và DLST.
+ Chương 2: Hiện trạng DLST ở CG.
+ Chương 3: Hướng tổ chức DLST ở CG.
- Chúng tôi tập trung nghiên cứu ở chương 2 và chương 3.
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Khái niệm về DL và DLST
1.1.1. Khái niệm về DL
Mấy thập kỉ gần đây, DL đã trở thành một ngành kinh tế lớn chiếm vị trí quan trọng ở
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
Năm 1925 Hiệp hội Tổ chức DL Quốc tế đã ra đời tại Hà Lan, từ đó đến nay có rất nhiều
khái niệm khác nhau về DL.
Theo Liên hiệp Quốc tế các Tổ chức lữ hành chính thức:
“DL được hiểu là hành động DK đến với một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên
của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc
kiếm tiền sinh sống…”.
Theo I.I Pirôgiơnic (1985) thuật ngữ DL gồm 3 nội dung sau:
1/ Sử dụng thời gian rỗi ngoài nơi cư trú thường xuyên.
2/ Dạng chuyển cư đặc biệt.
3/ Ngành kinh tế – một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ các
nhu cầu văn hóa – xã hội của nhân dân.
Theo các nhà DL Trung Quốc thì: “Hoạt động DL là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện
tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế – xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể DL, khách thể
DL và trung gian DL làm điều kiện.”.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về DL họp tại Roma – Italia (1963) các chuyên gia đưa ra định
nghĩa: “DL là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động về kinh tế bắt nguồn từ các
cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài
nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”.
Như vậy, khái niệm DL có thể hiểu như sau:
DL là một dạng hoạt động của dân cư được thực hiện trong thời gian rảnh rỗi liên quan
đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa
bệnh, phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa, thể thao kèm theo việc
tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa.
1.1.2. Khái niệm về DLST
DLST là một khái niệm tương đối mới mẻ nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan
tâm của nhiều giới, ngành và nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi cá nhân, tổ chức, quốc gia có một
cách hiểu khác nhau về DLST. Đối với một số người chỉ là một từ ghép đơn giản giữa 2 từ
“DL” và “sinh thái”, nhưng với người khác ở góc nhìn rộng hơn thì DLST được hiểu là DL dựa
vào tự nhiên, có lợi cho tự nhiên, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển hệ
sinh thái nơi diễn ra hoạt động DL. Cũng có ý kiến cho rằng, DLST đồng nghĩa với DL đúng
đắn, có đạo lý, DL có trách nhiệm, DL xanh có lợi cho môi trường hay có tính bền vững.
DLST còn thể hiện dưới nhiều loại hình khác nhau như:
1/ DL thiên nhiên.
2/ DL dựa vào thiên nhiên.
3/ DL dựa vào môi trường.
4/ DL đặc thù.
5/ DL xanh.
6/ DL thám hiểm.
7/ DL có trách nhiệm.
8/ DL nhạy cảm.
9/ DL nhà tranh.
10/ DL bền vững.
Vậy DLST là gì? Sau đây là một số khái niệm về DLST:
“DLST là DL đến với những khu vực tự nhiên còn ít bị biến đổi với những mục đích đặc biệt:
nghiên cứu, tham quan với ý thức tôn trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa khám phá”,
(Hectorceballos – Lascurain, 1978).
“DLST được phân biệt với các loại hình thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với
môi trường sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề. DLST tạo ra
mối quan hệ giữa con người và tự nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản
thân khách DL thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển
DL sẽ giảm thiểu tác động của DK đến văn hóa, môi trường, đảm bảo cho địa phương được
hưởng nguồn tài chính cho DL mang lại và trú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo
tồn thiên nhiên.” (Allen, 1993).
“Chỉ có DL tự nhiên được quản lý bền vững hỗ trợ cho sự bảo tồn và được giáo dục về
môi trường mới được coi là DLST và DLST được coi là đồng nghĩa với môi trường tự nhiên
đích thực.” (L. Hens, 1998).
“DLST là DL tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi, nó phải đóng góp bảo tồn
thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương.”, (Hội DLST Hoa Kì, 1998).
Vai trò của DLST đã được thừa nhận và đánh giá cao, nhưng quan điểm về DLST vẫn có
sự khác biệt giữa các quốc gia, các tổ chức thế giới.
Đinh nghĩa của Malaixia: “DLST là hoạt động DL thăm viếng một cách có trách nhiệm
về mặt môi trường đối với khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận dụng và tôn trọng những
giá trị về thiên nhiên (theo những đặc tính văn hóa kèm theo trước đây cũng như hiện nay), mà
hoạt động này cũng thúc đẩy công tác bảo tồn có ảnh hưởng của DK không lớn và tạo điều kiện
cho dân địa phương được tham dự một cách tích cực có lợi về kinh tế – xã hội.”.
Định nghĩa của Ôxtrâylia “DLST là DL dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo
dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái.”.
Tổng cục DL Việt Nam đã đưa ra định nghĩa như sau: “DLST là DL dựa vào thiên nhiên
và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển
bền vững với sự tham gia tích cực của cộng động địa phương.”.
Tóm lại, DLST còn được hiểu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Vậy DLST là gì?
Chúng ta có thể hiểu nôm na là: DLST là DL dựa vào thiên nhiên, phát triển dựa vào những hấp
dẫn của văn hóa bản địa gắn với bảo vệ môi trường. Phát triển DLST cần phổ biến những kiến
thức cơ bản nhất về sinh thái học cho DK và dân bản địa, đồng thời ra sức lôi kéo sự tham gia
của cộng đồng địa phương vào hoạt động DL nhằm nâng cao đời sống cho họ, góp phần vào
việc bảo tồn sinh thái.
1.2. Tài nguyên DL
1.2.1. Định nghĩa tài nguyên DL và tài nguyên DLST
1.2.1.1. Định nghĩa tài nguyên DL
Tài nguyên DL có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành DL, đến việc hình
thành chuyên môn hóa các vùng DL và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ. Dĩ nhiên, ảnh
hưởng này chịu sự chi phối gián tiếp của các nhân tố kinh tế – xã hội, phương thức sản xuất,
trình độ phát triển văn hóa, nhu cầu xã hội….
Tài nguyên DL là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa lịch sử đã bị biến đổi ở
mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục
đích DL.
Tài nguyên DL là một phạm trù lịch sử bởi vì những thay đổi cơ cấu và lượng nhu cầu đã
lôi cuốn vào hoạt động DL, những thành phần mới mang tính chất tự nhiên cũng như tính chất
văn hóa lịch sử. Nó là một phạm trù động vì khái niện tài nguyên thay đổi tùy thuộc vào sự tiến
bộ kĩ thuật, sự cần thiết về kinh tế, tính hợp lý và mức độ nghiên cứu. Khi đánh giá và xác định
hướng khai thác cần phải tính đến thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh
tế kĩ thuật khai thác các tài nguyên DL mới.
Từ những trình bày trên, có thể hiểu khái niệm tài nguyên DL như sau:
“Tài nguyên DL là tổng thể tự nhiên, văn hóa, lịch sử cùng các thành phần của chúng
góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe
của họ. Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản
xuất dịch vụ DL.” (P.TS Nguyễn Minh Tuệ và những người khác, Địa lý DL, 1999).
1.2.1.2. Định nghĩa tài nguyên DLST
Tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của tài nguyên DL bao gồm các giá trị tự
nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa, tồn tại, phát triển
không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó.
Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng, một số loại tài nguyên DLST thường được
khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu DK là:
- Các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là những nơi có tính đa dạng sinh học cao, với nhiều
loài sinh vật đặc hữu quý hiếm.
- Các hệ sinh thái nông nghiệp: Hệ sinh thái nông nghiệp là một tổng thể bao gồm môi
trường và những quần thể sinh vật (cây trồng, vật nuôi, cây rừng…), các sinh vật gây hại (sâu,
bệnh, chuột…), các sinh vật có ích.
1.2.2. Phân loại tài nguyên DL và tài nguyên DLST
1.2.2.1. Phân loại tài nguyên DL
- Tài nguyên DL tự nhiên:
+ Địa hình: Có hai đơn vị hình thái chính là đồi núi và đồng bằng. Đồng bằng tương đối
đơn điệu ít gây cảm hứng cho khách tham quan; ngược lại miền núi thường tạo ra không gian
thoáng đãng bao la. Ngoài địa hình chính với các ý nghĩa phục vụ DL khác nhau cần chú ý đến
địa hình đặc biệt có giá trị lớn cho tổ chức DL là kartơ và bờ biển.
+ Khí hậu: ảnh hưởng đến việc thực hiện chuyến DL hoặc hoạt động dịch vụ DL. DL cả
năm thích hợp với các loại hình DL chữa bệnh suối khoáng, DL trên núi; Ngược lại, mùa hè có
thể phát triển loại hình như: tắm biển, leo núi; mùa đông là DL trên núi.
+ Thủy văn: Trong tài nguyên nước phải nói đến tài nguyên nước khoáng – nguồn tài
nguyên có giá trị dinh dưỡng và chữa bệnh. Trên thế giới, nhu cầu DL kết hợp với nhu cầu an
dưỡng, chữa bệnh phát triển đáng kể, ngày càng thu hút khách quốc tế.
+ Sinh vật: Tài nguyên động – thực vật là điều kiện để các loại hình DL phát triển như:
tham quan, săn bắn, thể thao, nghiên cứu khoa học…. Phát triển DL cần phải đi đôi với duy trì
và bảo tồn tài nguyên sinh vật.
- Tài nguyên DL nhân văn:
+ Di tích lịch sử – văn hóa: Mỗi quốc gia đều có những quy định bảo vệ, nó được phân ra
các dạng: di tích văn hóa khảo cổ, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, danh lam thắng cảnh.
+ Lễ hội: Là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau giây phút lao động mệt nhọc
hay một dịp để con người hướng về sự kiện trọng đại. Khách DL tham quan mục đích lễ hội
thường cảm thấy hòa đồng, say mê nhập cuộc, nảy sinh tình cảm cộng đồng cũng như hiểu biết
dân tộc ấy hơn.
1.2.2.2. Phân loại tài nguyên DLST
- Các hệ sinh thái điển hình và đa dạng sinh học: Trên cơ sở đa dạng sinh học của các hệ
sinh thái, người ta phân ra các hệ sinh thái như: xích đạo, cận xích đạo, nhiệt đới, cận nhiệt đới,
ôn đới, cận cực và cực đới. Ngoài ra, người ta còn phân hệ sinh thái theo kiểu: núi cao, san hô,
ven biển…. Các hệ sinh thái đặc thù này thường được tập trung ở các vườn quốc gia và khu bảo
tồn thiên nhiên, vì vậy việc khai thác tiềm năng DLST thường gắn với khu vực này.
- Các tài nguyên DLST đặc thù:
+ Miệt vườn: Là đặc trưng của hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm các vùng chuyên canh
cây ăn quả, vườn hoa, cây cảnh… có sức hấp dẫn với khách DL.
+ Sân chim: Là hệ sinh thái đặc biệt ở khu đất tương đối rộng, hệ thực vật tương đối phát
triển, khí hậu phù hợp với điều kiện sống hay di cư của một số loài chim.
+ Cảnh quan tự nhiên: Là sự kết hợp tổng thể các thành phần tự nhiên, trong đó địa hình,
lớp phủ thực vật, sông nước đóng vai trò quan trọng tạo nên yếu tố thẩm mĩ thu hút khách DL.
- Văn hóa bản địa: bao gồm đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống; kiến
thức dân gian, truyền thuyết; các sản phẩm thủ công mĩ nghệ gắn với cộng đồng; di tích văn
hóa khảo cổ gắn với liền lịch sử phát triển và tín ngưỡng cộng đồng.
1.3. Sản phẩm DL
1.3.1. Định nghĩa sản phẩm DL và sản phẩm DLST
1.3.1.1. Định nghĩa sản phẩm DL
Theo các nhà DL Trung Quốc, sản phẩm DL gồm các mặt: xuất phát từ mục đích DL thì sản
phẩm DL là toàn bộ dịch vụ của nhà kinh doanh DL dựa vào vật thu hút DL và khởi sự DL; xuất
phát từ góc độ người DL là chỉ quá trình DL một lần do DK từ bỏ thời gian, chi phí và sức lực nhất
định để đổi được.
Theo TS. Trần Văn Thông: “Sản phẩm DL là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở
khai thác tài nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác DL cho khách DL trong hoạt động DL.”.
Sản phẩm DL gồm cả hữu hình và vô hình: Hữu hình là sản phẩm mang tính hình thức có
thể cầm, nắm, cân, đong, đo, đếm; ngược lại, sản phẩm vô hình là sản phẩm không mang hình
thái vật chất hữu hình.
1.3.1.2. Định nghĩa sản phẩm DLST
Đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về sản phẩm DLST, nhưng chúng ta có thể hiểu:
Sản phẩm DLST là sự khai thác tính “nguyên sơ” của thiên nhiên và tính “nguyên bản” nền văn
hóa của mỗi dân tộc làm thỏa mãn nhu cầu trở về với thiên nhiên của DK tạo cảm giác được
hòa mình cùng thiên nhiên. Từ đó giấy lên trong lòng họ tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên và trao đổi văn hóa đưa đến kết quả tạo ra một mạng lưới tích cực tác động
đến môi trường, kinh tế địa phương.
Sản phẩm DLST cũng gồm sản phẩm vô hình và hữu hình.
Như vậy, sản phẩm DLST là tất cả tài nguyên DLST được con người đưa vào khai thác phục
vụ cho hoạt động kinh doanh DL nhằm mang đến sự hài lòng nhất, thỏa mãn nhất cho nhu cầu của
DK và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
1.3.2. Phân loại sản phẩm DL và sản phẩm DLST
1.3.2.1. Phân loại sản phẩm DL
- Sản phẩm DL tự nhiên: bao gồm các điều kiện tự nhiên, các cảnh quan tự nhiên (cảnh
quan rừng ngập mặn, rừng nhiệt đới, xa van…).
- Sản phẩm DL nhân văn: bao gồm các điều kiện về nhân văn (phong tục tập quán, làng
nghề truyền thống, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…), có khả năng tạo sức hút cho DK.
1.3.2.2. Phân loại sản phẩm DLST
- Sản phẩm DLST tự nhiên: Gồm các tài nguyên DLST có tính đa dạng sinh học cao, các
tài nguyên thường đưa vào sử dụng như: vườn chim, bãi biển, các khu rừng quốc gia….
- Sản phẩm DLST nhân văn: Gồm các tài nguyên DLST nhân văn như: phong tục tập
quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống (đặc biệt là của dân tộc thiểu số)….
1.4. Vấn đề tổ chức DLST
1.4.1. Vấn đề tổ chức DL
1.4.1.1. Về quy hoạch
Hợp nhất phát triển DL vào khuôn khổ quy hoạch chiến lược cấp quốc gia và địa phương.
Tiến hành phân vùng DL, các hình thức tổ chức DL; đồng thời, đánh giá tác động của môi trường sẽ
tăng khả năng tồn tại, phát triển của DL
1.4.1.2. Tổ chức kinh doanh
Xây dựng và phát triển mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc và các dịch vụ
cho ngành DL nói chung, thiết kế các tuyến, điểm, trung tâm, tiểu vùng, á vùng và vùng DL nói
riêng. Đồng thời, xây dựng các chương trình, tour, dịch vụ, thông tin DL, thời gian, giá cả và
nhu cầu thị trường.
1.4.1.3. Đào tạo cán bộ
Đào tạo gắn với vấn đề phát triển bền vững và thực tiễn công việc cùng với việc tuyển
dụng lao động địa phương ở mọi cấp sẽ làm phát triển chất lượng sản phẩm DL tốt hơn.
1.4.1.4. Tiếp thị quảng bá DL
Giúp cho khách DL mọi thông tin đầy đủ về hoạt động DL nhằm lôi kéo sự tham gia của
du khách và nâng cao ý thức, sự hiểu biết của họ đối với tự nhiên, văn hóa, xã hội. Đồng thời,
làm thỏa mãn sự hài lòng của DK đối với dịch vụ, địa điểm chuyến đi.
1.4.1.5. Lôi kéo sự tham gia của cộng đồng địa phương
Lôi kéo cộng đồng địa phương vào hoạt động DL nhằm nâng cao mức sống, cải thiện
phúc lợi cho đân địa phương. Đồng thời, giúp bảo vệ môi trường tốt hơn, chất lượng DL hài
lòng quý khách hơn.
1.4.1.6. Liên doanh, liên kết DL trong nước với thế giới
Trong xu hướng hội nhập thế giới, việc liên doanh liên kết với DL các nước trên thế giới
là điều không thể thiếu nhằm góp phần mở rộng thị trường, giao lưu văn hóa, tạo mối liên hệ
kinh tế – xã hội….
1.4.2. Vấn đề tổ chức DLST
1.4.2.1. Sức chứa DK
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa là tốc độ tối đa DK mà khu vực có thể tiếp nhận được.
Các công thức chung để tính sức chứa của một điểm DL như sau:
- Tính sức chứa thường xuyên:
CPI = AR/a
Trong đó:
CPI: sức chứa thường xuyên
AR: Diện tích của khu vực
a: Tiêu chuẩn của không gian (diện tích cần cho một người).
- Tính sức chứa hàng ngày:
CPD = CPI x TR = TR/a
Trong đó:
CPD: Sức chứa hàng ngày.
TR: Công suất sử dụng hàng ngày.
- Tính sức chứa hàng năm:
CPY = CPD/PR = AR x TR/a x PR
Trong đó:
CPY: Sức chứa hàng năm
PR: Ngày sử dụng (tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm).
(Sử dụng cả đêm 1/365 x OR)
OR: Công suất sử dụng giường.
Các công thức trên có thể áp dụng cho những hoạt động có yêu cầu sử dụng diện tích.
Trong trường hợp có trước nhu cầu DL thì diện tích có trước để đáp ứng nhu cầu DL đó
có thể được tính như sau:
AR = TD x a x PR/TR
Trong đó:
TD: Nhu cầu DL
Đứng ở góc độ sinh học, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ
vượt khỏi khả năng tiếp nhận của môi trường. Sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi số lượng DK
và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập quán sinh hoạt dân bản địa,
của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp (phá vỡ tập quán kết bầy, làm
đất bị xói mòn…).
Đứng ở góc độ tâm lý, sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì
bản thân DK sẽ cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có
mặt của DK khác. Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều DK đến tham quan làm cho
DK khác phải chịu nhiều tác động do DK khác gây ra (khó quan sát được các loài thú hoang dã,
đi lại khó khăn hơn, sự khó chịu nảy sinh do rác thải…).
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng DK mà tại đó bắt đầu xuất hiện
những tác động tiêu cực của hoạt động DL đến đời sống văn hóa, kinh tế – xã hội của khu vực.
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu DL có khả
năng phục vụ.
Boullosn (1985) đưa ra công thức chung để xác định sức chứa DL của một khu vực, chia thành yêu cầu do DK sử dụng và tiêu chuẩn trung bình cho từng cá nhân (thường là người/m2).
Khu vực do DK sử dụng
Sức chứa =
Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân
Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thường được xác định bằng thực
nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào các hình thức hoạt động DL.
Ví dụ: Hoạt động giải trí ở các khu DL + Picnic: 50 – 60 m2 + Hoạt động cắm trại ngoài trời: 100 – 200 m2/người.
Số lượng khách tham quan hàng ngày = Sức chứa x Hệ số luân chuyển.
Hệ số luân chuyển được xác định:
Thời gian khu vực mở cửa cho khách tham quan
Hệ số luân chuyển =
Thời gian trung bình của một cuộc tham quan
1.4.2.2. Về hoạch định chính sách
Quy hoạch phát triển DLST chỉ được xem xét, thực hiện trên những vùng lãnh thổ đặc
trưng đảm bảo các yêu cầu cần thiết. Quá trình thực hiện cần được tiến hành theo khuôn khổ,
các quy định, luật pháp và được Chính phủ thông qua.
1.4.2.3. Về quản lý lãnh thổ
Cần kiểm soát thường xuyên đối với các hệ sinh thái và môi trường tự nhiên. Trong quá
trình phát triển DL, việc tuyên truyền giáo dục cộng đồng là một trong những giải pháp quan
trọng mà các nhà quản lý cần thực hiện nhằm khuyến khích người dân địa phương và nhà điều
hành DL nổ lực chung cho sự phát triển DL bền vững.
1.4.2.4. Về vai trò của nhà điều hành DL
Phải bảo đảm lợi ích kinh doanh DL, đồng thời đảm bảo các nguyên tắc bảo tồn và phát
triển bền vững.
1.4.2.5. Về đào tạo hướng dẫn viên
Phải là người có kiến thức, nắm được đầy đủ về môi trường tự nhiên, đặc điểm sinh thái
và văn hóa cộng đồng địa phương để giới thiệu một cách sinh động nhất, đầy đủ nhất với DK
về những vấn đề họ quan tâm.
1.4.2.6. Về quảng bá, tiếp thị
Trong thời buổi thông tin như hiện nay, việc quảng bá, tiếp thị sản phẩm là không thể
thiếu, nó đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến tay người tiêu
dùng. Vì vậy, vấn đề quảng bá, tiếp thị cần có chiến lược nhằm khai thác hiệu quả nhất tiềm
năng DLST cũng như thỏa mãn nhu cầu của “Thượng đế”.
Chương 2: HIỆN TRẠNG DU LỊCH SINH THÁI Ở CẦN GIỜ -
TP. HỒ CHÍ MINH
2.1. Giới thiệu khái quát về Tp. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở 10022’ đến 11022’ vĩ độ Bắc và từ 106007’ đến 107002’ kinh độ Đông với diện tích 2.095 km2. Phía Bắc – Tây Bắc giáp Bình Dương và Tây Ninh; phía
Đông – Đông Bắc giáp Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu; phía Đông Nam giáp Biển Đông
thông qua huyện Cần Giờ; phía Nam – Tây Nam giáp Long An và Tiền Giang.
Là trung tâm văn hóa, kinh tế, khoa học kĩ thuật của cả nước và đầu mối giao thông quan
trọng nhất phía Nam nên vai trò của thành phố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế
phía Nam cũng như cả nước.
Về mặt tự nhiên: Địa phương này có địa hình bán bình nguyên vùng đồi lượn sóng – nơi
chuyển tiếp từ địa hình miền núi Tây Nguyên xuống miền đồng bằng sông Cửu Long. Khí hậu
mang tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa, cận xích đạo với một mùa khô nóng và một mùa mưa ít
nóng hơn. Thực vật gồm các hệ sinh thái: rừng nhiệt đới ẩm gió mùa, rừng nhiệt đới phát triển
trên đất phèn và rừng ngập mặn. Thành phố có hệ thống sông Đồng Nai chảy theo hướng Tây
Bắc – Đông Nam đổ ra biển Đông.
Về mặt kinh tế – xã hội: Năm 2006, dân số của địa phương này là 6,43 triệu người, GDP
bình quân đạt 2100 USD/người. Đây cũng là địa phương đóng góp cho ngân sách nhà nước cao
nhất so với các tỉnh thành và nhận lượng kiều hối tới 60% của cả nước. Là nơi giao thoa của
nhiều dòng chảy văn hóa (Việt, Hoa, Chăm,…) thuộc vùng văn hóa Nam Bộ với đặc trưng con
người năng động, nhạy bén. Chính vì thế, ẩm thực của thành phố phong phú, đa dạng; hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng khá phát triển.
2.2. Giới thiệu về Cần Giờ
2.2.1. Vị trí địa lý
CG là một huyện ngoại thành của Tp. HCM, có diện tích tự nhiên 71.310 ha (bằng 1/3
diện tích tự nhiên của Tp. HCM), cách trung tâm thành phố 50 km. Đây là một huyện ven biển
duy nhất của Tp. HCM có đường bờ biển dài 20 km.
- Tọa độ địa lý: + Vĩ độ Bắc: 10018’ – 10037’ + Kinh độ Đông: 106044’ – 107002’
- Ranh giới:
+ Phía Bắc giáp Nhơn Trạch (Đồng Nai).
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Nhà Bè (Tp. Hồ Chí Minh).
+ Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Cần Đước, Cần Giuộc (Long An) và huyện Gò Công
Đông (Tiền Giang).
+ Phía Nam giáp Biển Đông
+ Phía Đông giáp huyện Tân Thành (Bà Rịa – Vũng Tàu).
CG có 6 xã và một thị trấn: Bình Khánh, An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp, Lý Nhơn,
Long Hòa, Thạnh An và thị trấn Cần Thạnh.
2.2.2. Điều kiện tự nhiên
2.2.2.1. Địa hình
Về mặt địa hình, CG có dạng lòng chảo ở trung tâm, nếu xét theo từng khu vực nhỏ thì
địa hình cũng có phần biến đổi nhưng sự chênh lệch không lớn lắm, độ cao trung bình so với
mực nước biển từ 0,0 m – 1,5 m (Giồng chùa là điểm cao nhất khoảng 10,1 m). Do lực tương
tác sông biển nên địa hình CG phát triển theo 2 hướng chính là xói mòi và bồi tụ.
2.2.2.2. Khí hậu
CG thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa, cận xích đạo với một mùa khô nóng và
một mùa mưa ít nóng hơn. Mùa mưa từ tháng 5 – 10 (gió Tây Nam); mùa khô từ tháng 11 – 4
năm sau (gió Đông Nam). Lượng mưa tương đối thấp, trung bình đạt 1300 – 1400 mm/năm, tập
trung đến 90% vào mùa mưa.
Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sinh vật và hoạt động tổ chức DLST.
2.2.2.3. Thủy văn
- Sông ngòi: Hệ thống sông ngòi dày đặc với diện tích toàn lưu vực là 22.850 ha, chiếm
32,45 % diện tích tự nhiên CG. Sông ngòi nơi đây chủ yếu chảy theo hướng Đông Nam dạng
uốn lượn nên ảnh hưởng trực tiếp đến địa hình và cảnh quan. Môi trường nước CG đang bị đe
dọa nghiêm trọng bởi dầu thải tàu bè, chất thải công nghiệp, sinh hoạt…. Nguồn nước ngọt ở
CG rất khan hiếm.
- Biển: Đường bờ biển dài 20 km, độ dốc thoải, thành phần nước giàu phù sa, thích hợp
cho việc phát triển và nuôi trồng thủy hải sản. Đồng thời, tiềm năng này có thể phát triển các
loại hình DL: nghỉ ngơi, tắm biển, thể thao nước, tham quan bãi nghêu, tham gia đánh bắt thủy
sản với người dân trong vùng để hòa mình với cuộc sống thôn quê….
Bãi biển 30/4 và các vịnh giáp Biển Đông là nơi thuận lợi cho các loại hình DL thể thao,
an dưỡng, tham quan kết nối với tour ở Vũng Tàu, Tp. HCM và đồng bằng sông Cửu Long.
2.2.2.4. Động – Thực vật
Sự kết hợp khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng và chế độ ngập triều đã hình thành rừng ngập
mặn CG với các loài động thực vật cực kì phong phú và đa dạng. Trong chiến tranh, khu vực
này là một vùng rậm rạp, cây rừng cao đến 25m gồm các hội đoàn: đước đôi, bần trắng, mấm
trắng…. Thời gian từ năm 1964 – 1970, Mỹ đã rải khoảng 1 triệu gallonr chất độc hóa học (da
cam, xanh, trắng), rừng bị hủy diệt hoàn toàn làm thay đổi diễn thế sinh thái, các loại cây đước,
đà, vẹt biến mất nhường chỗ cho mấm, giá, cóc và một số cây bụi khác.
Từ năm 1978 đến nay, việc tiến hành trồng rừng để khôi phục lại hệ sinh thái đạt được
kết quả mỹ mãn. Sau khi rừng phục hồi, chim, thú rừng đã quay trở lại sinh sống, tạo nên
những đặc điểm nổi bật của CG về tính đa dạng sinh học.
a/ Động vật
- Động vật trên cạn: Cùng với việc khôi phục rừng ngập mặn, nhiều loài động vật vốn có
đã xuất hiện trở lại, sinh sôi phát triển rất phong phú và đa dạng. Thống kê cho biết, tổng số
động vật trên cạn gồm 103 loài với các loài tiêu biểu như cá sấu hoa cà, khỉ, rắn….
Bảng 2.1: Các loài động vật ở KDTSQTG.
Lớp Bộ H ọ Chi Loài
Thú 07 11 14 16
Chim 11 23 35 55
Bò sát 03 15 24 27
22 Lưỡng cư 03 03 05
Tổng cộng 43 52 76 103
(Nguồn: UBND huyện CG, 2007)
- Động vật dưới nước: Tổng số động vật dưới nước gồm 36 loài thân mềm, 120 loài cá
và một số phiêu sinh vật nổi cùng sinh vật đáy khác.
CG có 13 loài thú quý hiếm được nêu trong Sách Đỏ (chiếm 62% trên tổng số loài thú
nơi đây). Hiện nay, địa phương này đang tiến hành nuôi một số loài theo mô hình tự nhiên và
bán tự nhiên từ quy mô nhỏ đến lớn như: cá sấu hoa cà, khỉ (gần 1000 con, sống thành từng
bầy), trăn, rắn, kì đà…. Tất cả những loài trên được nuôi thực nghiệm và nhân giống nhằm mục
đích khôi phục, bảo tồn phục vụ cho việc phát triển DLST hiện nay cũng như trong tương lai.
b/ Thực vật
Thực vật rừng ngập mặn rất phong phú, đa dạng, theo thống kê của Viên Ngọc Nam và
Nguyễn Sơn Thụy (1999) thì CG có 159 loài thực vật thuộc 76 họ. Cụ thể: Loài cây thực sự
ngập mặn: 36 loài thuộc 15 họ; loài cây chịu mặn: 33 loài thuộc 19 họ; loài cây sinh sống trên
vùng đất cao: 90 loài thuộc 42 họ.
Hệ sinh thái rừng được tạo thành bởi hai hệ thống sinh thái: Hệ sinh thái rừng hỗn giao
lá rộng nhiệt đới, ẩm, gió mùa có diện tích phân bố nhỏ và hệ sinh thái rừng ngập mặn với các
kiểu quần xã điển hình trên toàn bộ vùng đất ngập triều. Loài cây rừng ngập mặn phát sinh,
phát triển theo một trật tự chặt chẽ thích nghi với môi trường sống của từng loài mà yếu tố chi
phối trật tự phân bố là mức độ ngập triều, thổ nhưỡng, độ mặn và địa hình.
- Diễn thế sinh thái rừng ngập mặn:
+ Diễn thế nguyên sinh:
Từ thông tin giải đoán không ảnh qua các thời kì cho thấy, diễn thế nguyên sinh của CG
là bần trắng, rồi đến mấm trắng (bần trắng chiếm ưu thế). Tiến sâu vào bên trong có đước hỗn
giao với bần hay mấm, đây là giai đoạn chuyển từ rừng bần, mấm sang rừng đước sau khi đất
tương đối ổn định. Vào sâu hơn nữa là mấm đen, dà, chà là, giá…. Vùng chuyển tiếp là hỗn
giao giữa dà, mấm đen, đước, đây là giai đoạn cuối cùng của sự chuyển tiếp để chuyển sang
rừng phát triển trên đất cao, lúc này đước không thích nghi mà nhường chỗ cho dà vôi. Càng
ngày đất ổn định và cao dần thì giai đoạn chuyển tiếp từ bần sang đước càng rõ rệt.
+ Diễn thế thứ sinh:
Giai đoạn từ năm 1966 – 1970, CG bị rãi chất độc hóa học làm cho cây rừng rụng lá, chết
hàng loạt, đất trơ trụi. Dọc theo bãi bồi hoặc hai bên bờ sông có mấm trắng, bần trắng (trong đó mấm
trắng chiếm ưu thế hơn – khác hẳn với diễn thế nguyên sinh). Có lẽ, do trái mấm trắng có đặc điểm
là to hơn bần trắng (vỏ hạt bần cứng hơn) nên trái mấm dễ dàng bám vào đất bùn hơn thuận lợi cho
việc nảy mầm và tái sinh nhanh. Vì thế, cây bần sau khi bị tàn phá, hủy hoại chúng phát triển nhanh
hơn (đặc biệt ở phía Tây CG), trong khi đó, các cây mấm đen, đước đôi bị chết hàng loạt, đất bỏ
trống cây rừng chưa kịp tái sinh. Nước triều giúp cho quá trình tái sinh mạnh mẽ các loài thực vật
ở CG.
Trên các vùng đất cao bị ảnh hưởng bởi thủy triều thì cây lức mọc thành từng đám cùng
với trùm lé, tra lâm vồ, chà là… đây là diễn thế sinh thái cuối cùng của rừng ngập mặn. Ở các
ruộng muối bỏ hoang có nguồn nước triều ngập theo định kì thì các loại cây hạt nhỏ như mấm
quăn, dà, cóc, đã tái sinh nhưng phân bố không đều.
Việc hiểu biết diễn thế sinh thái, giúp chúng ta biết được các yêu cầu cần thiết trong việc
bố trí các loài cây, các yếu tố môi trường ảnh hưởng tới sự tái sinh của rừng, từ đó đưa ra các
biện pháp tái tạo lại rừng ngập mặn CG.
- Các loại quần xã rừng ngập mặn CG.
Mức độ ngập triều có tác động rõ rệt đến sự phân hóa quần xã thực vật, bên cạnh đó các yếu
tố môi trường cũng ảnh hưởng không nhỏ: độ sâu tầng đất, độ rắn, cấu trúc, độ mặn…. Sự phân bố
thảm thực vật ở CG gồm quần xã sau:
+ Quần xã mấm trắng: Phân bố dọc theo các bãi bồi ở phía Tây của CG, thích hợp với
bùn lỏng và hơi chặt. Quần xã này có tác dụng cố định đất, lấn biển nhờ hệ thống rễ phế căn
mọc dày trên mặt đất và giữ được trái đước trôi đến, tái sinh khi đất đã ổn định.
+ Quần xã bần trắng: phân bố trên đất mới bồi, bùn lỏng vùng cửa sông, ven biển có độ
mặn cao.
+ Quần xã mấm trắng – bần trắng: phân bố ở các cửa sông, ven sông rạch.
+ Quần xã mấm – đước đôi: thường phân bố ở vùng đất ổn định hơn.
+ Quần xã đước đôi: Phân bố ở vùng đất đã ổn định hoàn toàn, các quần xã dần dần được
thay thế bằng rừng trồng. Với cây đước thuần loại, sự hình thành các quần xã này được coi là
ổn định trong diễn thế sinh thái rừng có lợi trong kinh doanh DL và phòng hộ.
+ Quần xã đước đôi – cây bụi: phân bố trên các vùng đất cao hơn, ở đây các loài cây thân
gỗ nhỏ bắt đầu xâm chiếm với cây đước.
+ Quần xã mấm quăn: Phân bố dọc theo các sông rạch ở phía Nam, Đông Nam hay dọc
theo tuyến Nhà Bè – CG, chúng thường mọc thuần loại hay hỗn giao với cóc vàng, giá trên nền
ruộng muối cũ đã có rau sam đỏ.
+ Quần xã cóc vàng: Phân bố chủ yếu trên đất cao có rau sam đỏ, thích hợp với thành
phần đất sét chặt, nước triều ngập theo tháng, thường mọc xen lẫn với mấm đen, giá, dà.
+ Quần xã chà là: Phân bố chủ yếu trên đất cao ít ngập triều, trong đó xen kẽ một số loài:
ráng, tra lâm vồ, tra bụp, lức, giá… đây cũng là nơi cư trú của một số loài động vật như heo,
khỉ, trăn….
+ Quần xã dà: Có hai loại là dà vôi và dà quánh, thường mọc trên vùng đất cao. Dà vôi
thường mọc thuần loại theo đám hay hỗn giao với cóc vàng, mấm quăn, sinh trưởng tốt trên nền
ruộng muối cũ và đất có rau sam đỏ mọc.
+ Quần xã ráng, lức: Phân bố rãi rác ở khu vực phía Bắc, thích hợp với những vùng đất
cao, đất sét chặt, ít bị ngập triều, thường mọc hỗn giao với lức, chùm lé….
+ Quần xã dừa nước: Phân bố dọc kênh rạch có độ mặn thấp và đất phù sa bồi đắp đã bắt
đầu ổn định; quần xã này thường mọc thuần loại hay hỗn giao với mái dầm, ô rô, lác, cói….
Nếu chi tiết hơn còn có thể kể đến một số quần xã được gây dựng với diện tích không lớn
lắm như quần xã vẹt đen, gõ nước….
2.2.3. Điều kiện kinh tế – xã hội
2.2.3.1. Dân cư – nguồn lao động
- Gia tăng tự nhiên: Theo thống kê của UBND huyện CG năm 2007, dân số huyện là
68.000 người, tỷ lệ gia tăng tự nhiên 1.07%.
- Phân bố dân cư: Dân cư phân bố không đều, mật độ trung bình là 65 người/km2, chủ
yếu tập trung theo các cụm dân cư, xóm, ấp và các xã nằm ven bờ rừng. Các xã có mật độ cao
là Bình Khánh, Cần Thạnh và Long Hòa.
- Thu nhập bình quân: Thu nhập bình quân theo đầu người năm 2007 là 1100
USD/người, hoạt động chủ yếu trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp và một số hoạt động
trong DL. Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn 6 triệu/hộ/năm giảm còn 14.46%.
- Trình độ dân trí: Trình độ dân trí của huyện rất thấp.
Bảng 2.2: Số lượng trường, lớp, học sinh và giáo viên ở CG
Năm học Số trường Số lớp Số học sinh Số giáo viên
1997 – 1998 30 461 13.776 561
2007 – 2008 33 493 15.470 773
(Nguồn: UBND huyện CG, 2007)
- Nguồn lao động: Năm 2007 số người trong độ tuổi lao động là 36.429 người. Trong đó,
lao động hoạt động trong ngành nông nghiệp 2.176 người (chiếm 5.97%), nuôi trồng thủy hải
sản là 13.865 người (chiếm 38.06%), thương mại – dịch vụ – DL là 6.103 người (chiếm
16.75%), còn lại là các ngành khác.
2.2.3.2. Hoạt động kinh tế – văn hóa
a/ Về kinh tế:
- Nông nghiệp: Chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, tổng sản lượng năm 2007 đạt 42.352 tấn.
Hiện nay, huyện tiếp tục triển khai nuôi cua, cá, tôm theo mô hình kinh tế trang trại với sự cho
vay vốn và lãi suất ưu đãi từ ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tp. HCM. Bên
cạnh đó huyện cũng đầu tư phát triển ngành trồng cây ăn trái, lúa và khai thác muối.
- Lâm nghiệp: Tổng giá trị doanh thu từ rừng năm 2007 đạt 12 tỉ đồng, tăng 11% so năm
2006. Hiện nay, đã hoàn thành công tác điều tra sinh học trong vùng lõi, các hộ sản xuất dưới
tán rừng, theo dõi cây đước chết không rõ nguyên nhân và triển khai thực hiện 6 đề tài nghiên
cứu khoa học về rừng ngập mặn CG.
- Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng: Công nghiệp CG chưa phát triển,
huyện có 2 ngành tiểu thủ công nghiệp đặc trưng là sản xuất chiếu cói và đồ thủ công mĩ nghệ
từ cây rừng ngập mặn. Năm 2007, tổng doanh thu 3 ngành là 107 tỉ đồng; số vốn đầu tư cho
ngành xây dựng là 944 tỉ đồng, tập trung chủ yếu các dự án: khu dân cư Phước Lộc, khu đô thị
lấn biển CG, resort biển xanh….
- Dịch vụ: Doanh số bán ra năm 2007 đạt 1.721 tỉ đồng, tổng số DK đến CG là 272.000
lượt người/năm, toàn huyện có 29 đơn vị kinh doanh cơ sở lưu trú.
b/ Về văn hóa: Huyện có nhiều cơ sở văn hóa phục vụ cho nhu cầu giải trí của nhân dân:
thư viện, nhà văn hóa, sân vận động thể dục – thể thao…. Ngoài ra, CG còn có các cơ sở tôn
giáo như: chùa, đình, miếu, miễu… phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của người dân. Thành phần
dân tộc chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó còn có nguời Hoa, Khơ – me… làm cho văn hóa
bản địa thêm phong phú, đa dạng.
2.2.3.3. Cơ sở hạ tầng
- Giao thông vận tải:
+ Về đường bộ: Hệ thống đường bộ được cải thiện tương đối, ½ diện tích là đường nhựa
số còn lại thuộc về đường đất và đường trãi sỏi, đá. Tuyến đường Rừng Sác nối phà Bình
Khánh với các xã, thị trấn đang được thi công rộng tới 6 làn xe chạy góp phần thúc đẩy DLST
CG phát triển mạnh trong tương lai. Ngoài ra, CG có 2 bến xe bus với 102 xe đang hoạt động,
năm 2003 tuyến xe bus Tp. HCM – CG được khai trương.
+ Về đường thủy: Trên địa bàn toàn huyện có 48 phương tiện đường thủy vận chuyển
hành khách, hàng hóa và 41 bến đò nội huyện được bố trí trãi đều trên các xã, thị trấn. Tuy
nhiên, trong nhiều năm qua, năng lực phục vụ cho nhu cầu đi lại của nhân dân và việc vận
chuyển hàng hóa mới chỉ đáp ứng được 50%.
- Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc hiện nay đã phát triển đến cấp thôn, xã,
cơ quan, nhà nghỉ, khách sạn…; số máy điện thoại bình quân năm 2007 đạt 17 máy/100 dân.
- Điện năng: CG đã nhận được mạng điện chung của Tp. HCM, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện
lưới quốc gia đạt 92.50% (6/7 xã được kéo lưới điện, trừ xã đảo Thạnh An).
- Cấp thoát nước và vấn đề môi trường: Hiện nay, nước ngọt dùng cho sinh hoạt và sản
xuất phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn cung cấp từ bên ngoài như: nước từ Tp. HCM ra và Đồng
Nai xuống, được vận chuyển chủ yếu bằng xà lan, ghe…. Vì thế, nước đến tay người tiêu dùng
giá thành rất cao, có khi không đủ cung cấp cho sinh hoạt vào mùa khô.
Nếu như thành phố lớn, hệ thống thoát nước thải và vấn đề bảo vệ môi trường luôn gặp
khó khăn thì ở CG việc này càng trở nên nghiêm trọng. Bởi lẽ, địa hình thấp, sông rạch dày đặc
nên việc thoát nước thải của các khu dân cư cũng như cơ sở sản xuất được đổ thẳng ra kênh
rạch mà không qua xử lý.
- Hệ thống y tế – giáo dục: Hệ thống y tế – giáo dục có nhiều thay đổi, năm 2007 toàn
huyện có 33 trường học, 493 lớp học với 15.470 học sinh và 773 giáo viên; 12 cơ sở y tế phục
vụ khám chữa bệnh cho nhân dân.
- Hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí:
+ Cơ sở lưu trú: Tính đến cuối năm 2007, toàn huyện có 29 đơn vị kinh doanh cơ sở lưu
trú với 432 phòng (có 2 cơ sở được công nhận là khách sạn 3 sao: resort DLST CG và resort
Hòn Ngọc Phương Nam, tổng số 140 phòng).
+ Cơ sở ăn uống: Hệ thống cơ sở ăn uống rất ít, chỉ có một số nhỏ như: nhà hàng 2/9,
Duyên Hải, Phi Lao, Hồng Phát, Hương Biển….
+ Quầy lưu niệm, khu giải trí thực sự chưa thu hút du khách.
2.3. Hiện trạng DLST ở CG
2.3.1. Tài nguyên DLST ở CG
2.3.1.1. Tài nguyên DLST tự nhiên
- Địa hình: Địa hình hết sức đa dạng, phức tạp, có kiểu địa hình bờ biển lẫn địa hình đầm
lầy; lại có kiểu địa hình đồng bằng, gò đất, cồn cát hay các giồng cát với sự chia cắt mạnh mẽ.
Địa hình CG là sự tổng hợp của nhiều loại đất, do đó tạo ra nhiều khu sinh cảnh khác nhau trên
nhiều loại đất khác nhau.
- Khí hậu: CG nằm trong đới khí hậu nhiệt đới, ẩm, gió mùa cận xích đạo với một mùa
khô nóng và một mùa mưa ít nóng hơn. Kiểu khí hậu này rất thuận lợi cho động – thực vật rừng
ngập mặn phát triển, tạo tiền đề thu hút khách DL. Ngoài ra, phần lớn diện tích CG được che
phủ bởi rừng ngập mặn, kết hợp với tính hải dương (do gần biển) làm cho khí hậu nơi đây điều
hòa và dịu mát tạo điều kiện tốt cho việc phục hồi, cải thiện sức khỏe DK.
- Tài nguyên nước: Hệ thống sông ngòi CG rậm rạp, chằng chịt làm nên phong cảnh sông
nước hữu tình rất hấp dẫn khách tham quan. Khách du lịch đến nơi đây, ắt hẳn sẽ không quên
được cảm tưởng khi du thuyền, tận mắt quan sát đời sống động – thực vật hoang dã. Ngoài ra,
do vùng cửa sông giáp biển nên nước sông bị nhiễm mặn là điều kiện tốt cho sinh vật ưa mặn
phát triển và cũng là điều kiện thuận lợi cho dân cư tổ chức nuôi trồng thủy hải sản: tôm sú, cá,
cua… rất thích hợp với DK tham quan kiểu miệt vườn.
- Tài nguyên sinh vật: Phong phú, đa dạng ở cả hai phương diện thực vật và động vật, có
nhiều loài quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ thế giới như: cá sấu hoa cà, bồ nông châm xám, rái
cá lông mượt… và cũng là nơi cư trú, sinh sống của nhiều loài chim nước.
2.3.1.2. Tài nguyên DLST nhân văn
- Dân cư – dân tộc: Theo các nhà nhân chủng học thì CG xưa kia là nơi nơi trú ngụ của
những cư dân cổ sinh, họ sống gần gũi với dân cư thời văn hóa Sa Huỳnh. Khi đến CG, DK sẽ
được ngắm nhìn những hiện vật cổ xưa như: mộ chum, các công cụ sản xuất, vũ khí… tất cả
các di tích này đã và đang được khai quật để triển lãm cũng như nghiên cứu khoa học.
- Di tích văn hóa khảo cổ:
+ Nhóm di tích giồng Am: nằm ở Cần Thạnh cách UBND huyện 200m về hướng Nam.
Những năm gần đây, do việc đắp đường nối liền tuyến Nhà Bè – CG, nên giồng Am đã bị phá
hủy một phần. Hiện di chỉ khảo cổ này có trên 6.289 hiện vật, chất liệu hiện vật được làm duy
nhất từ đất nung.
+ Nhóm di tích giồng Phệt: Tọa tạc trên một giồng đất đỏ thuộc xã Long Hòa, diện tích của giồng khoảng 10.000 m2, di tích này cao hơn mực nước biển 1 – 2 m, nằm giữa rừng ngập
mặn um tùm, nhiều luồng lạch.
+ Nhóm di tích giồng Cá Vồ: Diện tích khoảng 7.000 m2 nằm ở tả ngạn sông Hà Thanh
(Long Hòa), đây là di tích có quy mô khá lớn và khá nguyên vẹn. Năm 1993, một hố thám sát
đã được mở ở phía Bắc của giồng, phát hiện 38 mộ chum (23 mộ còn cốt) bằng gốm và nhiều
đồ trang sức cũng làm từ gốm.
- Di tích văn hóa – tôn giáo – tín ngưỡng:
+ Chùa: Chùa ở đây thuộc 3 nhánh: Giáo phái Lâm Tế (chùa Thạnh Phước); Giáo phái
Tịnh Độ (chùa Hưng Lợi và Hưng Cần); Giáo phái Xuất Gia.
+ Thánh thất: Hầu hết các khu dân cư ở CG đều có thánh thất – cơ sở tôn giáo của đạo
Cao Đài. Các thánh thất CG, có dáng dấp và hình thức tương đối giống nhau. Biểu tượng thờ
của đạo là lấy Thiên Nhãn, nhưng thực tế đạo thờ những biểu tượng hòa đồng giữa Phật giáo,
Thiên Chúa giáo và Nho giáo.
+ Nhà thờ: Thiên Chúa giáo du nhập vào CG khoảng thế kỉ 19 do một số người theo đạo
Thiên Chúa ở nơi khác đến đây cư trú và người Pháp sau này đến truyền đạo.
+ Đình: CG có 7 ngôi đình, người dân nơi đây thờ những người có công khai phá đất
hoang hay những người tổ chức, bảo vệ cuộc sống yên ổn cho dân làng.
+ Miễu: CG có nhiều miễu như: Sua Đũa, Nhất, Nhị, Đá Giăng, Bình Khánh, Lý
Nhơn…. Các miễu được xây dựng với quy mô nhỏ, kiến trúc cổ xưa và hầu hết di dời nhiều
lần.
+ Lăng Ông: CG có 2 lăng (lăng Ông Thủy Tướng ở Cần Thạnh và lăng Ông ở đảo
Thạnh An), thờ bộ xương cá voi (cá Ông) được ngư dân rất sùng bái, tôn kính. Họ gọi đây là
thần Nam Hải Đại Tướng quân – vị thần trên biển có công cứu giúp người bị nạn và phù hộ cho
con người những mùa bội thu no ấm. Ngày nay, lễ hội Nghinh Ông Thủy Tướng tổ chức ở thị
trấn Cần Thạnh (ngày 15/8 âm lịch hàng năm) là lễ hội chính thức của cư dân ven biển.
- Di tích lịch sử:
+ Lịch sử tên gọi vùng đất CG: Theo các cụ già sống lâu năm ở gần lăng Ông Thủy
Tướng kể lại: “Năm xưa, chúa Nguyễn bị nghĩa quân Tây Sơn đánh đuổi chạy đến vùng đất
này. Lúc bấy giờ, dân ta chưa thể xác định được giờ giấc chính xác và cũng không có dụng cụ
hay quy luật nào để đo đếm thời gian. Người dân chài lưới ở vùng biển này chỉ biết nhằm theo
hai chùm sao Nam Tào và Bắc Đẩu để ra khơi, còn chúa Nguyễn cần phải biết thời gian chính
xác để hội họp. Do đó, ông đã tạo ra những chiếc đồng hồ theo ước lệ riêng: đồng hồ được quy
ước là dùng những chiếc lu có cùng kích cỡ, đục lỗ để thoát nước với các đường kính bằng
nhau, phía trên treo 1 cây thước vạch sẵn múi giờ, mực nước hạ đến đâu, giờ dựa theo đó mà
tính. Sau khi giành được quyền binh, ông đặt tên cho vùng đất này là “CG”.
Lại có ý kiến cho rằng: Trước kia, đây là vùng đất hoang vu, sông ngòi rậm rạp lại giáp
biển, chỉ có một luồng lạch sâu để tàu lớn ra vào mỗi khi triều lên. Ngày ấy, tại đây có một ngôi
nhà trắng với hai người thay nhau canh gác liên tục thông qua hệ thống đèn pha, phao câu báo
nước lớn, nước ròng cho tàu bè ra vào trung tâm Biên Hòa – Gia Định. Tàu bè phải chờ đợi đến
nước lớn, có đèn báo mới vào được nếu không sẽ mắc cạn, do vậy họ đặt tên cho vùng đất này
là CG.
Nhưng một số lại nói rằng: Nơi đây xưa kia rừng rậm rạp, đầm lầy hoang vu, xung quanh
bị bao bọc bởi sông biển. Đây cũng là nơi ẩn thân của những người nghĩa sĩ, những người chờ
thời cơ đến. Họ mong mỏi từng giờ, từng phút, suy nghĩ về tình thế quân sự chuyển biến. Họ
“cần giờ” chính xác để xuất trận khi thời cơ đến để dành lấy thắng lợi.
+ Bến Đình: Đây là nơi thờ ông Dương Văn Hạnh, người làng Lý Nhơn vì muốn bảo vệ
Trương Định nên bị giặc Pháp bắt, chém đầu tại bến sông Soài Rạp. Sau đó, nhân dân đã lập
đình làng để thờ ông gọi là Bến Đình.
+ Di tích chiến khu Rừng Sác: Cần Giờ có căn cứ cách mạng như: căn cứ địa Giồng
Chùa (Thạnh An), chiến khu trù mật Động Hang Nai (cạnh sông Đồng Tranh), căn cứ địa Núi
Đất (Lý Nhơn)…. Đặc biệt, có khu căn cứ địa cách mạng với hệ thống hầm di động thuộc khu
vực Lâm viên CG.
- Các làng nghề:
+ Làng chiếu: Làng này nằm ở xã Tam Thôn Hiệp, nơi đây có các ngôi nhà ven sông
chứa những sợi cói khô được dùng để đan thành chiếu. Nguyên liệu làm chiếu là những cây cói
tròn, mọc tự nhiên hay được trồng trên những cánh đồng gần đấy. Hiện làng còn không tới 10
hộ dệt chiếu, họ bỏ nghề vì nhiều lý do: đi làm ăn xa, đào ao nuôi tôm làm mất diện tích đất
trồng cói, giá thành chiếu thấp không đủ cho chi phí sản xuất….
+ Làng chài (xóm lưới): Tập trung ở bến chài Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh An hay các
bến đò nơi có tàu, thuyền, ghe, xuồng đánh bắt cá trở về mỗi khi sáng sớm hay chiều tối.
+ Làng muối: DK về ấp Tân Điền (Lý Nhơn), gần khu DL Vàm Sát, hay đường từ Đảo
Khỉ ra bãi biển 30/4 thuộc xã Long Hòa, vào mùa khô sẽ bắt gặp hai bên đường những ruộng
muối trắng xóa. Đặc biệt, hạt muối xã Lý Nhơn vuơn cánh bay xa ra cả nước và xuất khẩu qua
EU. Làng muối cần khẩn trương cải tạo, nâng cấp… không chỉ nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng muối mà còn làm cho nghề muối trở thành điểm đến cho DK.
+ Làng rừng: gồm những hộ làm nghề rừng (trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng), tập trung ở
Tam Thôn Hiệp, An Thới Đông và Lý Nhơn.
Những làng nghề cần được giữ ghìn, tôn tạo, phát triển, vì đó là một trong những lý do
DK đến tham quan hay muốn tìm hiểu về CG.
- Các lễ hội:
+ Lễ hội Nghinh Ông:
Hàng năm vào dịp trung tuần tháng 8 âm lịch, cư dân từ các nơi lại lần luợt đổ về thị trấn
Cần Thạnh để dự lễ hội Nghinh Ông. Các vị lão ngư tại thị trấn CG kể rằng: “Vào cuối thế kỉ
19, nơi đây xảy ra nhiều huyền thoại về cá voi như: Giúp người đi biển vượt qua nhiều tai nạn,
từ việc cứu thuyền bị đắm cho đến cứu người bị nạn đang trôi dạt tìm đường vào bờ thoát
chết…. Những huyền thoại này, làm cho lòng tin và sự biết ơn thành một tín ngưỡng phổ biến
khắp vùng biển CG nói riêng và các miền duyên hải khác nói chung. Bà con lúc bấy giờ đã lập
lăng thờ sau khi một con cá voi bị nạn và chết trôi dạt vào bờ biển CG. Sau đó, bà con xin triều
đình ban sắc thần để thờ.”. Việc tổ chức lễ hội Nghinh Ông nhân dịp Tết Trung thu, chính là sự
cầu nguyện cho mùa vụ sản xuất ngư nghiệp được bình yên và gặp nhiều may mắn.
+ Ngoài ra, CG còn có những lễ hội như: Lý Nhơn cúng đình thần Dương Văn Hạnh vào
16 tháng 12 âm lịch; Long Hòa tổ chức lễ hội Nghinh Ông Thủy Tướng vào ngày 15 tháng 3
âm lịch….
- Những tập quán cổ truyền: CG có tục thờ những vị tiền hiền khai phá đất hoang, những
người yêu nước và thờ cúng tổ tiên.
2.3.2. Sản phẩm DLST ở CG
2.3.2.1. Các điểm DL
a/ Vàm Sát
Từ phà Bình Khánh DK đi xe máy (hoặc ôtô dưới 16 chỗ), theo đường Rừng Sác khoảng
13 km, rồi rẽ phải vào đường Lý Nhơn 21 km nữa sẽ đến điểm DL Vàm Sát (rộng 2000 ha)
nằm trong rừng ngập mặn CG, thuộc xã Lý Nhơn. Nếu thích du thuyền, len lỏi theo các kênh
rạch để tận hưởng cảm giác bồng bềnh với sông nước mây trời thì DK có thể theo đường thủy
bằng cách mua vé đi thuyền tại bến Bạch Đằng (quận 1, Tp. HCM) hay chân cầu Dần Xây (cầu
nối giữa xã An Thới Đông và Long Hòa) do Công ty DLST Vàm Sát đảm nhận. Với bạt ngàn
cây rừng ngập mặn, cùng hệ động – thực vật đa dạng, phong phú, Vàm Sát hiện là một trong 4
điểm hấp dẫn bậc nhất hiện nay của CG (Vàm Sát, Đảo Khỉ, bãi tắm 30/4, thị trấn Cần Thạnh).
Tháng 7/2002, Tổ chức DL Thế giới đã công nhận Vàm Sát là một trong 65 khu DL phát triển
bền vững nhất thế giới. Bên cạnh bạt ngàn cây đước còn có vẹt, ô rô, chà là, bần… mỗi loài một
vẻ, mỗi cách sinh trưởng đến kì lạ. Trong rừng có mèo, trăn, rắn, khỉ, kì đà, heo… và nhiều loài
thú quý hiếm khác, những người có duyên gặp được chúng, có lẽ sẽ không bao giờ quên ấn
tượng mà thiên nhiên ban tặng. Đặc biệt, nhân viên bảo vệ ở đây cho hay: “do được bảo vệ
nghiêm ngặt nên ngày càng xuất hiện nhiều hệ động vật quý hiếm về đây sinh sống”.
Nét độc đáo nhất của Vàm Sát là có tháp Tang Bồng cao 25 m hình cánh cung vút thẳng
lên trời. Tại đây, DK có thể phóng tâm mắt chiêm ngưỡng tất cả những gì mà thiên nhiên ưu đãi
cho vùng duyên hải. Thi vị nhất vẫn là mỗi khi chiều về, DK đứng trên đỉnh tháp phóng mắt về
phía vườn chim ngắm nhìn những đàn cò chấp chới trong nắng vàng hoàng hôn bay về tổ ấm
sau một ngày kiếm ăn mệt mỏi, hình ảnh ấy khó có thể phai nhạt cho chuyến du ngoạn CG.
Ngoài ra, DK có thể tự chèo thuyền nhỏ len lỏi vào rừng (giá thuê thuyền 20.000 đồng/giờ) để
tham quan, tìm hiểu hệ động vật vô cùng phong phú. Số lượng chim, dơi lên tới hàng nghìn con
tại hai điểm Đầm Dơi và sân chim. Ông Hà Thanh Linh – Giám đốc công ty DLST Vàm Sát và
cũng là công ty phụ trách điểm du lịch này cho biết: “Sân chim hiện nay có khoảng 10.000 cá
thể, chúng bắt đầu hình thành từ năm 1994, nơi chim cư trú phần lớn diện tích là rừng tái sinh
tự nhiên. Ngược lại, Đầm Dơi trước kia có khoảng 4.000 cá thể, hiện nay chỉ còn trên dưới 400
cá thể. Nguyên nhân chủ yếu khiến dơi giảm nhiều là do con người săn bắn và diện tích vườn
trái cây của Long Thành, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Lái Thiêu (Bình Dương), Long An, Tiền
Giang bị thu hẹp nhằm đáp ứng cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.”.
DK chọn nơi đây ngày một tăng, song vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải có một chính
sách phù hợp nhằm bảo tồn rừng cây và nơi trú ngụ của các loài chim để chúng không phải đi
kiếm ăn tại các bãi nuôi tôm cá của người dân, gây thiệt hại kinh tế cho họ.
Vàm Sát còn có di tích lịch sử Núi Đất – nơi tiếp nhận và cất giữ vũ khí trong thời chiến
tranh. Một di tích khác mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của Lý Nhơn – di tích đình
thần Dương Văn Hạnh do nhân dân tôn kính lập nên. Về Lý Nhơn, DK còn được thăm trại nuôi
dê, thưởng thức sữa dê và món ăn chế biến từ dê cùng các món ăn thủy hải sản khác.
Hệ thống nhà nghỉ hiện đại cùng nhiều trò giải trí hấp dẫn sẽ đáp ứng phần nào cho nhu
cầu DK một lần ghé thăm. Đây là một trong 4 điểm thu hút lượng DK đông nhất CG hiện nay.
Về đường đi đến điểm du lịch Vàm Sát:
+ Đường bộ: dành cho xe gắn máy, ô tô dưới 16 chỗ.
Qua phà Bình Khánh → đường Rừng Sác (khoảng 13 km) → đến ngã ba đường Rừng
Sác – Lý Nhơn quẹo phải vào đường Lý Nhơn khoảng 13 km gặp cầu Vàm Sát → đi thẳng 7
km gặp ngã 3 rẽ trái 600 m là đến Vàm Sát.
Hoặc có thể đi (chỉ dành cho khách đi xe gắn máy): Tp. HCM → Phú Mỹ Hưng (Q7) →
xã Hiệp Phước → bến đò Hiệp Phước, xuống đò Hiệp Phước – Doi Lầu → cầu Vàm Sát → cầu
Gốc Tre → Vàm Sát (tổng cộng 35 km đường bộ và 20 phút vượt sông Soài Rạp)
+ Đường thủy bộ kết hợp: dành cho khách đi xe máy hay xe bus.
Qua phà Bình Khánh → theo đường Rừng Sác (khoảng 22 km) → đến chân cầu Dần Xây
xuống xe bus (nếu đi xe gắn máy thì gửi lại) rẽ phải 100 m, rồi mua vé của Công ty DLST Vàm
Sát, ca nô sẽ đưa chúng ta vào tham quan. Nếu từ hướng Cần Thạnh muốn thăm Vàm Sát thì
DK đến chân cầu Dần Xây mua vé đi ca nô theo đường thủy là thuận lợi nhất.
+ Đường Thủy: DK bắt tàu cao tốc, ca nô hay thuyền buồm tại bến Bạch Đằng, theo 2
hướng:
• Sông Sài Gòn → sông Soài Rạp → sông Vàm Sát → điểm DLST Vàm Sát (tuyến dài
35km).
• Sông Sài Gòn → sông Lòng Tàu → Mũi Nai → Lò Rèn → sông Vàm Sát → điểm
DLST Vàm Sát (tuyến dài 45 km).
Bến tàu luôn có ca nô (dành cho quý khách muốn đi nhanh) và du thuyền gỗ (dành cho
khách thích ngắm cảnh quan thơ mộng hai bên bờ sông hay tìm hiểu cảnh sinh hoạt sông nước
của dân địa phương).
b/ Lâm viên CG (Đảo Khỉ)
Đến CG, chúng ta không thể bỏ qua điểm DL cự kì hấp dẫn – Lâm viên CG hay còn gọi
là “Đảo Khỉ”. Có thể nói, điểm DL hấp dẫn thứ 2 này làm nên sự nổi tiếng của rừng ngập mặn
CG. Lâm viên được bao bọc bởi hệ thống sông, rạch chằng chịt, vì thế khi DK đi ghe thuyền
len lỏi theo dòng nước quanh co sẽ có được những cảm giác rất thú vị.
Lâm viên rộng 2100 ha (gồm diện tích rừng trồng và một số đốm rừng tái sinh tự nhiên),
độ che phủ đạt 91%, trong đó 514 ha được đưa vào khai thác DL. Trong rừng, có nhiều loài
động vật như: bò sát, lưỡng cư, chim… đặc biệt có nhiều loài thú quý hiếm được ghi vào Sách
Đỏ. Hấp dẫn nhất nơi này là DK được tiếp cận với đàn cháu chắt của “Tôn Ngộ Không”. Có thể
tạm gọi Đảo Khỉ là “Vương quốc khỉ”, với 4 loài (khỉ đuôi dài, khỉ lợn, khỉ chó, khỉ vàng) được
nuôi và bảo vệ trong điều kiện bán tự nhiên rất gần gũi với khách, số lượng lên tới gần 1000
con. Nhân viên bảo vệ ở đây cho biết: “Trước đây, khi chưa thành lập lâm viên, những đàn khỉ
sống rải rác ở sâu trong rừng, từ khi có được nhiều thức ăn của khách tham quan, chúng kéo
“đại gia đình” ra và ngày càng dạn dĩ tiếp cận với con người.”.
Đây cũng là căn cứ địa cách mạng rộng lớn với hệ thống hầm bí mật che dấu bộ đội đặc
công Rừng Sác một thời lửa đạn. Hiện nay, đã phát hiện một số hầm và đang tìm kiếm những
nắp hầm cùng những khu căn cứ nằm giữa rừng. Khách đến đây sẽ tìm thấy lại những hoạt
động của Bộ Chỉ huy miền Rừng Sác cùng những trận đánh nổi tiếng của các chiến sĩ đặc công
làm tiêu hao sinh lực của Mỹ – Ngụy trên sông Lòng Tàu, Soài Rạp…. Ngoài ra, DK còn được
quan sát tận mắt hình ảnh dựng lại về cuộc sống và sinh hoạt của các chiến sĩ năm xưa.
Lâm viên đang hoàn chỉnh hệ thống nhà hàng, khách sạn và các cửa hàng bán sản phẩm
đặc trưng của rừng ngập mặn; nâng cấp các con đường rộng thoáng để DK có thể quan sát động
vật hoang dã; các khu nuôi trồng thủy sản; nhà truyền thống; các phòng trưng bày hiện vật lịch
sử.
Lâm viên cách phà Bình Khánh không đầy 40 km theo đường Rừng Sác. Điểm DL này
có hai cách đến: DK có thể theo các hãng lữ hành bằng đường thủy (xuất phát tại bến Bạch
Đằng, quận 1, Tp. HCM) theo hay đi ô tô, xe máy, xe bus theo đường Rừng Sác xuống.
Hiện nay, lượng khách đến Đảo Khỉ ngày càng đông đặc biệt vào dịp lễ, tết và cuối tuần.
c/ Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên Tp. HCM
Từ Đảo Khỉ hướng về phía thị trấn khoảng 2km, gặp cầu Hà Thanh nhìn sang tay trái DK
sẽ bắt gặp một điểm dừng chân hấp dẫn và độc đáo cho chuyến sinh hoạt dã ngoại cuối tuần –
Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên Tp. HCM. Điểm này rất thích hợp cho giới trẻ là sinh
viên, học sinh… vì giá phòng trọ bình dân (40.000 đồng/người/đêm), lại sang trọng và sức chứa
lên tới 156 người. Tới đây, khách DL được thụ hưởng bầu không khí trong lành từ cái mát lạnh
của rừng đến những làn gió nhè nhẹ của biển. Đồng thời, cũng là cơ hội cho các bạn trẻ thi thố
tài năng sinh hoạt tập thể, với các chương trình giao lưu văn hóa sôi nổi, gắn kết, thân mật.
Trung tâm này, tọa tạc tại tiểu khu 21 (nằm trên địa bàn xã Long Hòa) thuộc phân khu
phục hồi sinh thái với diện tích khai thác giai đoạn một gần 1 ha. Là khu vực dành riêng cho
sinh hoạt dã ngoại, học tập, giải trí, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của các bạn
thanh thiếu niên Tp. HCM.
Tại đây, DK có thể sinh hoạt lửa trại qua đêm, câu cá, chèo thuyền, tham quan rừng ngập
mặn, tắm biển 30/4, viếng “Vương quốc khỉ” hay tham quan các khu di tích lịch sử, cách mạng,
văn hóa truyền thống của CG. Địa danh này ngày càng thu hút khách DL, chủ yếu là giới học
sinh, sinh viên, đoàn thanh niên, công đoàn.
d/ Xã Long Hòa
Từ Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên thành phố theo đường Rừng Sác 2 km, gặp ngã
ba Long Hòa rẽ phải chúng ta tới ngay Long Hòa. Đến xã Long Hòa DK sẽ được tham quan di
chỉ khảo cổ giồng Cá Vồ và giồng Phệt. Ở đây, DK cũng bắt gặp những vườn nặng trĩu trái cây:
xoài, mãng cầu, nhãn, táo; đặc biệt, xoài cát CG cho trái quanh năm và rất thơm ngon. DK vừa
len qua những cành cây vừa tự mình hái những trái xoài ửng vàng để thưởng thức hương vị
“ngọt lịm rất CG, mà không nơi nào có được”, thật chẳng có gì lý thú hơn.
Tham quan xã Long Hòa, khách DL còn có dịp ghé thăm các trại nuôi tôm sú giống, khu
nuôi tôm sú công nghiệp. Hoặc, có thể vào làng chài ở xóm đò Đông Hòa, Long Thạnh hay đến
bến đò để hiểu thêm về phong tục tập quán, lối sống và sinh hoạt của người dân miền biển. Nếu
túi tiền rủng rỉnh, DK có thể nghỉ ngơi qua đêm tại resort Hòn Ngọc Phương Nam hay resort
Tâm Ngọc.
Đến Long Hòa, khách tham quan có thể đi ô tô, xe máy, xe bus theo đường bộ hay đường
thủy đều rất thuận tiện.
e/ Bãi biển 30/4
Từ Đảo Khỉ theo con lộ Rừng Sác khoảng 5 km về hướng thị trấn Cần Thạnh chúng ta sẽ
gặp điểm DL hấp đẫn thứ 3 – bãi biển 30/4. Bãi biển này dài hơn 1km, là khu nghỉ mát yên tĩnh
thích hợp cho người dân Tp. HCM cũng như các tỉnh lân cận vào các ngày lễ, tết và dịp cuối
tuần. Khu vực biển 30/4 rất thích hợp cho việc nghỉ ngơi, an dưỡng, thể thao dưới nước, câu
cá,…. DK vừa có thể thưởng thức những món ăn hải sản vừa trao đổi cuộc sống cũng như
phương pháp đánh bắt thủy hải sản cùng phong tục tập quán với người dân địa phương. Tuy
nhiên, biển CG có một số hạn chế như: nước biển chứa nhiều phù sa nên có màu nâu đen, sóng
tương đối lớn, cát không mịn lại chứa nhiều xác của động vật biển. Thêm vào đó, sự thiếu ý
thức của 1 bộ phận nhỏ người dân bản địa cũng như DK nên hiện nay bãi biển nhếch nhác, khá
ô nhiễm.
Hiện nay, CG đang tiến hành đổ cát lấp biển để thực hiện dự án xây dựng Khu DLST lấn
biển rộng 600 ha.
Địa danh này phần lớn khách du lịch đến CG đều ghé thăm, có lẽ do đường đi dễ dàng
(cho phép ô tô đến tận nơi), không khí biển mát dịu, hải sản tươi sống, hệ thống nhà hàng,
khách sạn khang trang….
g/ Thị trấn Cần Thạnh:
Qua bến phà Bình Khánh thẳng đường Rừng Sác không đầy 45 km, gặp ngã ba Long
Hòa rẽ trái chạy dọc theo con đường Duyên Hải thênh thang chúng ta sẽ đến thị trấn Cần Thạnh
– trung tâm huyện CG – Địa danh DL hấp dẫn thứ 4. Nơi đây, tập trung nhiều điểm di tích văn
hóa đặc sắc phục vụ cho các loại hình DL, du khảo như: giồng Am, lăng Ông Thủy Tướng,
đình thần, chùa làng, bảo tàng, miếu, thánh thất, nhà thờ. Đặc biệt, dãi đất biển đan xen những
vườn cây ăn trái xum xê: xoài, nhãn, mãng cầu… cùng những món ăn hải sản tươi sống từ các
ao nuôi tôm sú, nghêu, sò…hay thuyền ghe mỗi khi cập bến sẽ hài lòng khách ghé tham quan.
Tại thị trấn này, hệ thống cơ sở vật chất và hạ tầng khá tốt nên các điểm DL nơi đây đều
cho phép các loại phương tiện đưa khách đến tận nơi.
h/ Đảo Thạnh An:
Là một đảo nhỏ nằm giữa sông và biển, phương tiện đến đây là dùng ghe, tàu. Ngoài các
điểm tham quan làng chài truyền thống với nét đặc trưng của đảo, trong tương lai Thạnh An
còn là điểm DL thích hợp với loại hình dã ngoại kết hợp với loại hình giải trí khác như: câu cá,
chèo thuyền…. Ngoài ra, DK còn có thể tham quan núi Giồng Chùa – ngọn núi duy nhất ở Tp.
HCM. Núi Giồng Chùa nhìn từ xa như một hòn non bộ giữa biển khơi, không bị ngập nước và
ảnh hưởng bởi thủy triều. Thổ nhưỡng ở Thạnh An là loại đất nâu vàng, thích hợp cho loại cây
lá rộng, tại đây vừa được thả nuôi 100 con khỉ, làm phong phú thêm hệ động vật tự nhiên hoang
dã trên đảo.
Trong tương lai, Thạnh An sẽ biến thành khu giải trí, nghỉ dưỡng biệt lập và đầu tư xây
dựng hệ thống cáp treo, tổ chức tàu luợn, khinh khí cầu để DK có thể thư giản, ngắm phong
cảnh sông nước mây trời từ trên cao.
Hiện nay, điểm du lịch này rất ít người tham quan do chúng chưa thực sự hấp dẫn và bất
tiện về đường đi. Muốn thăm điểm này chúng ta có thể theo đường bộ xuống thị trấn rồi gửi xe,
đi thuyền máy (thời gian khoảng 1 tiếng đồng hồ) ra thăm đảo. Riêng tham quan Giồng Chùa,
DK phải thuê ghe nhỏ và nhờ dân sống ở đảo chở đi.
k/ Những đốm rừng tái sinh tự nhiên:
Sau năm 1975, tổng diện tích rừng còn sót lại 4500 ha chủ yếu là cây bụi, chúng phân bố
rãi rác khắp phân khu rừng ngập mặn CG. Số diện tích này, đã phát triển thành những đốm
rừng tái sinh tự nhiên rất hấp dẫn cho khách lữ hành tham quan vì họ muốn được cảm nhận nét
hoang sơ nguyên thủy cũng như sự khác biệt của chúng với rừng tái sinh nhân tạo. Đặc điểm
chính của loại rừng này là nhiều tầng, nhiều lớp, nhiều loài xen kẻ nhau, thân cây to lớn và
thường là nơi cư trú của động vật hoang dã.
Tuy nhiên, hiện nay những đốm rừng tái sinh tự nhiên chỉ dành cho khách DL là nhà
khoa học đến tham quan, nghiên cứu. Thiết nghĩ, cần chọn một vài đốm ven lộ Rừng Sác hay
gần cầu Dần Xây, Vàm Sát, Đảo Khỉ, Thạnh An làm điểm tham quan để mọi DK đều có thể
thưởng thức.
- Ngoài ra, CG còn có một số điểm DL khác, các điểm này thường gắn với công trình
kiến trúc có giá trị văn hóa – xã hội – tinh thần, bao gồm 3 nhóm cơ sở: tôn giáo, tín ngưỡng và
di tích kiến trúc nghệ thuật. Điển hình như 3 ngôi chùa lớn (Thạnh Phước, Hưng lợi, Hải Đức)
và nhiều chùa nhỏ khác, thêm vào còn có 6 thánh thất (Cần Thạnh, Long Hòa, Đồng Hòa,
Thạnh An, An Thới Đông, Bình Khánh), 4 nhà thờ (Đồng Hòa, An Thới Đông, Cần Thạnh,
Tam Thôn Hiệp). Các điểm này đều có lịch sử rất riêng, rất thuận lợi cho việc nghiên cứu, tìm
hiểu, tham quan DL. Hơn nữa, các làng nghề truyền thống như: làng chiếu (Tam Thôn Hiệp),
làng chài (Thạnh An, Cần Thạnh, Tam Thôn Hiệp), làng muối (Long Hòa, Lý Nhơn) và làng
rừng (An Thới Đông, Tam Thôn Hiệp) ngày càng khẳng định được tính hấp dẫn của nó trong
lòng người lữ thứ. Khi tham quan các điểm DL nhỏ này, DK chọn phương tiện xe gắn máy (hay
xe ô tô dưới 16 chỗ) là thận tiện nhất vì có nhiều điểm nhỏ lẻ không cho phép ô tô lớn đến
được.
2.3.2.2. Các tuyến DL
a/ Tuyến đường bộ:
- Phà Bình Khánh – Lâm viên CG – bãi biển 30/4 – thị trấn Cần Thạnh
Lượng khách theo tuyến này chiếm tới 60% trong tổng số khách đến Cần Giờ. DK có thể
đi theo tuyến này bằng các phương tiện: xe DL, bus, xe gắn máy từ thành phố qua phà Bình
Khánh rồi thẳng đường Rừng Sác đi tham quan các các điểm trên. Theo tuyến này, khách DL
được tận hưởng không khí trong lành dịu mát của biển, được đắm say trong màu xanh bạt ngàn
bất tận của rừng ngập mặn; hoặc, giao lưu với con người CG vốn lam lũ, thật thà, chất phát
nhưng thân thiện, mến khách. Hấp dẫn nhất tuyến này phải kể đến “Đảo Khỉ” cách phà Bình
Khánh gần bốn mươi cây số. Thực vật nơi đây chủ yếu là đước, trong rừng rất nhiều dòng kênh
nhỏ với những chiếc cầu bắc ngang qua để DK có thể ngồi câu cá hay ngắm nhìn bầy thòi lòi cỡ
hai ngón tay tung tăng đùa giỡn trên bãi sình. Ngoài ra, khách du lịch còn được ngồi ca nô chạy
xé gió trên những dòng kênh nhỏ của sông Đồng Tranh hay Lòng Tàu khi đi tham quan chiến
khu Rừng Sác. Khỉ ở đây có tới 1000 con, được nuôi trong điều kiện tự nhiên và bán tự nhiên
nên chúng rất dạn dĩ với con người. DK có thể tự tay mình mua thức ăn (2000 đ/phần) cho
chúng ăn và chụp hình với chúng. Ngoài ra, DK còn được tham quan cá sấu hoa cà, kì đà, rái
cá… và ghé thăm bảo tàng CG.
Tiếp tục cuộc hành trình theo đường Rừng Sác ra bãi biển 30/4, DK sẽ tận mắt ngắm
nhìn cánh đồng muối trắng xóa cùng những đống muối cao ngất và mấy cô thôn nữ bận áo bà
ba đang cào muối. Bãi biển 30/4, màu nước khá đen (do phù sa), nhưng lại rất sạch cũng là
điểm hẹn lý tưởng cho những ai yêu thích tắm biển hay thưởng thức hải sản cùng gió biển trăng
thanh.
Thị trấn Cần Thạnh – điểm dừng chân cuối cùng trong tuyến này. Ở đây, DK có thể tham
quan đình, chùa, miếu, miễu, làng chài… và trực tiếp gặp gỡ trò chuyện, giao lưu văn hóa cùng
con người CG. Với lịch sử hào hùng trong hơn 300 năm hình thành, phát triển và những kì tích
oanh liệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ đã làm nên con người CG gan góc,
anh dũng trong chiến đấu, sáng tạo trong lao động và sức chịu đựng đến tuyệt vời trong gian
khổ khó khăn. Họ bền bỉ như cây bần, cây đước cắm sâu bộ rễ chắc khỏe của mình vào lòng đất
mặn để chắt chiu từng giọt khoáng chất nuôi dưỡng màu xanh quê hương ngày càng tốt đẹp
hơn. Chắc chắn rằng, những câu chuyện lạ kì về sức chịu đựng dẻo dai ấy của dân quê miền
biển góp phần bổ sung kiến thức hữu ích cho DK khi một lần ghé thăm CG.
Nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của DK được đáp ứng bởi hệ thống nhà nghỉ tại: Trung tâm dã
ngoại Thanh thiếu niên, Long Hòa, thị trấn Cần Thạnh hay bãi biển 30/4.
- Phà Bình Khánh – Vàm Sát:
Tuyến này dài 34 km tính từ phà Bình Khánh đến Vàm Sát. DK xuất phát từ phà Bình
khánh theo đường Rừng Sác 13 km rồi rẽ phải vào đường đất đỏ Lý Nhơn 21 km nữa sẽ gặp
điểm DLST Vàm Sát (Lý Nhơn). Địa danh này, nổi tiếng bởi hai điểm Đầm Dơi và sân chim.
Thiên nhiên đã ưu đãi, ban tặng cho 2 điểm này thành chỗ trú ngụ của hàng nghìn chú chim, cò,
vạc, bồ nông… (chiếm 34% số lượng chim nước Việt Nam), khiến cho khách lữ hành dù khó
tính đến mấy nếu đã từng đặt chân đến đây cũng khó lòng hờ hững cất bước ra đi. Những đàn
chim, đàn cò ầm ĩ bay đi kiếm ăn và gọi nhau về tổ nghỉ ngơi là một hình ảnh gây hưng phấn, lạ
lẫm không riêng gì cho khách trong nước mà cả khách quốc tế. Đặc biệt, nhân viên ở đây cho
biết, hiện nay hai nơi này xuất hiện ngày càng nhiều hệ động vật quý hiếm về đây sinh sống
như trăn, rắn, cá sấu, kì đà….
Dịch vụ nghỉ ngơi, giải trí nơi đây khá đầy đủ, DK có thể dạo xem khỉ hoang, tắm “biển
chết”, ngắm nhìn chim trời trên tháp cao Tang Bồng mỗi khi sáng đến hay chiều về hoặc du
thuyền câu cá sấu. Vàm Sát trực thuộc Công ty DLST Vàm Sát khai thác, quản lý.
Hạn chế lớn nhất của điểm DL này là tuyến đường đất đỏ Lý Nhơn – Vàm Sát rất xấu,
chỉ dành cho xe ô tô dưới 16 chỗ vào đi mùa khô hay khi nắng ráo. Thêm nữa, nếu DK đi xe
gắn máy, chẳng may hư xe giữa đường thật không biết tìm đâu ra chỗ sửa xe vì hai bên đường
hầu như không có dân sinh sống cũng như tiệm sửa chữa xe gắn máy. Hay, vào tham quan Vàm
Sát xong rồi, DK muốn theo đường thủy ra cầu Dần Xây để tiếp tục cuộc hành trình thì tàu DL
ở địa danh nổi tiếng này chỉ chở được người còn xe gắn máy đành “ngủ lại” lại nơi đây. Quả
thực bất tiện!
- Ngoài hai tuyến chính trên còn có một số tuyến nội huyện và điểm DL nhỏ lẻ nằm trên
tuyến chính như: Nông trường Gò Vấp và Cholimex; Ban Quản lý Rừng phòng hộ CG; Trung
tâm dã ngoại Thanh thiếu niên thành phố; điểm DL Long Hòa: resort Hòn Ngọc Phương Nam,
resort Tâm Ngọc, mộ cổ giồng Cá Vồ, giồng Phệt, làng chài, vuờn cây ăn trái; đảo Thạnh An.
b/ Tuyến đường thủy:
- Bến Bạch Đằng – sông Soài Rạp – sông Vàm Sát – điểm DLST Vàm Sát – thị trấn Cần
Thạnh – Thạnh An.
- Bến phà Bình Khánh – sông Lòng Tàu – điểm DLST Vàm Sát – sông Đồng Tranh –
Long Hòa – thị trấn Cần Thạnh – Vũng Tàu.
- Bến Bạch Đằng – sông Soài Rạp – sông Vàm Sát – điểm DLST Vàm Sát – Long Hòa –
Tiền Giang – Bến Tre.
Trên 3 tuyến này, DK có thể đi bằng phương tiện tàu cao tốc, ca nô, thuyền buồm hoặc
xuồng máy. Tuyến DL này thích hợp với những người thích cảm giác mạnh, ưa khám phá,
chinh phục, tìm hiểu, trở về với thiên nhiên hoang dã, ngắm nhìn màu xanh bạt ngàn của sông
nước cây rừng và ghé thăm một số điểm DL như: Vàm Sát, Cần Thạnh, Thạnh An, Long Hòa,
Vũng Tàu….
Đến CG theo đường bộ chỉ có con đường duy nhất từ nội thành Tp. HCM ra, do đó làm
cho tuyến đơn điệu nhàn chán. Các tuyến DL hiện nay còn thiếu đội ngũ hướng dẫn viên –
người có vai trò cực kì quan trọng trong tour DL, do vậy khi thăm quan, chắc chắn rằng DK sẽ
không hiểu hết ý nghĩa của chuyến đi mà mình đã chọn. Bên cạnh đó, sự thiếu liên kết giữa các
đơn vị quản lý, sự đơn giản hóa các loại hình DL cũng dễ gây nhàm chán đối với DK khiến họ
không mặn mà lắm cho lần hẹn gặp sau.
2.3.3. Vấn đề tổ chức DLST CG
2.3.3.1. Về quy hoạch
Tháng 4 năm 2004, UBND Tp. HCM phê duyệt quy hoạch DLST CG, đến nay đã hình
thành tương đối 3 khu phát triển DLST: DLST rừng (toàn bộ 38.000 ha rừng ngập mặn), DLST
biển (Cần Thạnh, Long Hòa), DLST nông nghiệp kết hợp với nhiệm vụ phát triển 4 xã phía Bắc
của huyện. Công tác quy hoạch được triển khai chi tiết ở một số khu như: khu dân cư Cần
Thạnh kết hợp với phát triển DL Cần Thạnh, khu đô thị lấn biển rộng 600 ha, khu nhà vườn
Long Hòa…. Tuy nhiên, việc triển khai còn chậm, phần lớn các khu quy hoạch thường gắn kết
với khu dân cư trên địa bàn huyện và tập trung ở Long Hòa, Cần Thạnh.
2.3.3.2. Về đầu tư và kêu gọi đầu tư
Trong mấy năm qua, huyện đã chủ động xây dựng chương trình phát triển đầu tư DLST
với các công trình trọng điểm: tuyến đường Rừng Sác, các công trình giao thông liên xã, các
công trình phục vụ phục vụ trong các điểm DL (Vàm Sát, Đảo Khỉ). Đồng thời, tiến hành xây
dựng thêm 2 trạm dừng chân dọc tuyến đường Rừng Sác với các dịch vụ về ăn uống, nghỉ ngơi,
bán hàng tiêu dùng và lưu niệm phục vụ DK. Gần đây, đang cho thử nghiệm một số hoạt động
DL như câu cá, du thuyền trong khu rừng phòng hộ thuộc Nông trường duyên hải quận Gò
Vấp, Vàm Sát bước đầu thu hút khá nhiều khách.
Từ năm 2003 – 2007 có 15 dự án đăng kí đầu tư trên lĩnh vực dịch vụ DL với số vốn lên
tới trên 1000 tỷ đồng, trong đó 8 dự án (91 tỉ đồng) đã được triển khai và đưa vào khai thác tại
khu vực ven biển Cần Thạnh, Long Hòa. Đáng chú ý nhất trong các dự án đầu tư là ngày
13/12/2007 Công ty Cổ phần Đô thị DL CG công bố lễ khởi công khu đô thị DL lấn biển CG –
Công trình đô thị lấn biển lớn nhất Việt Nam do công ty làm chủ, vốn đầu tư cho toàn dự án
ước tính 180 triệu USD, dự kiến hoàn thành vào năm 2016. Đô thị này được quy hoạch thành 4
khu chức năng và có thể phục vụ 33.000 cư dân và DK. Do phần lớn diện tích của huyện thuộc
KDTSQTG, cần được bảo vệ nghiêm ngặt nên CG mạnh dạn lập dự án xây dựng khu đô thị lấn
biển trên. Nguyên cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phát biểu hôm khởi công: “ ...Ngày nay, để
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, phát huy những điều kiện tự nhiên cộng với bàn tay
lao động của con người, ý tưởng lấn biển, cải thiện chất lượng nước biển, khai thác phát triển
và bảo tồn giá trị KDTSQTG sẽ được triển khai mà điểm khởi đầu là khu đô thị DL lấn biển
CG…”.
Tính đến tháng 5/2008 đã đầu tư hoàn thành và đưa vào hoạt động 7 dự án cùng 2 dự án
đang được triển khai (cụ thể bảng 2.3).
Bảng 2.3: Các dự án đầu tư hoàn chỉnh và các dự án đang triển khai
STT Tên dự án Chủ đầu tư Địa điểm
Quy mô (ha)
Các dự án đầu tư hoàn chỉnh và đưa vào sử dụng
1 Trung tâm sinh hoạt Thành đoàn Long Hòa 0.97
dã ngoại Thanh thiếu Tp. Hồ Chí Minh
niên Tp. HCM
Công ty DLST CG Resort 30/4 2 Long Hòa 2.16
Đảo Khỉ 3 Long Hòa 1.9
Công ty Cổ phần Long Hòa 0.65 4 Trung tâm kinh doanh
Dịch vụ và Thương Thương mại –
mại Dịch vụ CG
5 Resort Hòn Ngọc Bà Nguyễn Thị Long Hòa 3
Phương Nam Hồng Vân
6 Resort Tâm Ngọc Công ty Cổ phần Long Hòa 1.3
Tâm Ngọc
7 Điểm DLST Vàm Sát Công ty Dịch vụ – Lý Nhơn 7
Du lịch Phú Thọ
Các dự án đang triển khai
8 Trung tâm Thương Ban Tài chính Long Hòa 1.7
mại – Dịch vụ – DL Quản trị Thành ủy
9 Khu đô thị DLST lấn Công ty Cổ phần Long Hòa 600
biển CG Đô thị DL CG
(Nguồn: UBND huyện Cần Giờ, 2008)
Ngoài ra, còn 18 dự án đang lập quy hoạch chi tiết sắp triển khai như: Trung tâm vui chơi
giải trí DL an dưỡng kết hợp nhà nghỉ cuối tuần; điểm DLST biển Hòn Ngọc Phương Nam 2;
điểm DLST 30/4 (resort Biển Xanh); điểm DLST nhà vườn, nghỉ dưỡng ven sông Lòng Tàu ….
2.3.3.3. Về quảng bá thương hiệu và phát triển hệ thống cơ sở lưu trú
Từ năm 2005 đến nay, các cơ quan chức năng ở CG đã thực hiện công tác quảng bá DL
bằng các hình thức như: Phát hành 5000 sổ tay “DLST CG” ra toàn quốc và nước ngoài; Phối
hợp với Tuần báo Kinh tế thuộc Bộ Thương mại in và phát hành 5000 bản Đặc san “Hello
Korean” để giới thiệu DL CG vào thị trường Hàn Quốc; Xây dựng phim “Điểm hẹn CG” phát
hành tại hai đầu bến phà Bình Khánh, các tour trong và ngoài nước; Hàng quý, giới thiệu DLST
CG thông qua hệ thống thông tin đại chúng (truyền thanh, truyền hình, internet…).
Tính đến cuối năm 2007 toàn huyện có 29 đơn vị kinh doanh cơ sở lưu trú với 432 phòng
(có 2 cơ sở được công nhận là khách sạn 3 sao: resort DLST CG và resort Hòn Ngọc Phương
Nam với tổng số 140 phòng).
Bảng 2.4: Nhà nghỉ, khách sạn tại thị trấn Cần Thạnh và xã Lý Nhơn
Thương hiệu Địa chỉ Giá dịch vụ
phòng/ngày
Nhà nghỉ Nhạn Trắng Đường Duyên Hải, Miễu 100.000 đ/quạt
Nhì, Cần Thạnh 140.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Thúy Lan 92/3 Khu phố 3, Cần Thạnh 70.000 đ/quạt
Nhà nghỉ Thái Hòa 290/3D Miếu Ba, Cần 80.000 đ/quạt
Thạnh
Nhà nghỉ Nam 33/3 Miễu Ba, 60.000 đ/quạt
Phương Cần Thạnh 100.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Cát Tường 425/2 Miễu Nhì, Cần Thạnh 120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Ngọc Diệp 68/3 Miễu Nhì, 100.000 đ/quạt
Cần Thạnh 120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Thành Tâm 157/3 Khu phố 3, 80.000 đ/quạt
Cần Thạnh 120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Xuân Thảo 8/3 đường Duyên Hải, 80.000 đ/quạt
Cần Thạnh 120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Tuyết 68/3A Miễu Ba, Cần Thạnh 70.000 đ/quạt
Nhung 100.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Vàm Sát Lý Nhơn 120.000 đ/quạt
150.000đ/tiện nghi
(Nguồn: Ủy ban Nhân dân huyện CG, 2006)
Bảng 2.5: Nhà nghỉ, khách sạn, resort tại xã Long Hòa
Thương hiệu Địa chỉ Giá dịch vụ
phòng/ngày
Cangio Resort Bãi biển 30/4, Long Hòa 30 – 40 USD/đơn
40 – 75 USD/đôi
Nhà nghỉ Hàng Dương Khu nghỉ mát 30/4 120.000 đ/quạt
150.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Phi Lao 1 Khu nghỉ mát 30/4 80.000 đ/quạt
150.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Hồng Phát Khu nghỉ mát 30/4 80.000 đ/quạt
120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Hương Biển Khu nghỉ mát 30/4 80.000 đ
Nhà nghỉ Đông Phương Khu nghỉ mát 30/4 90.000 đ/quạt
120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Kỳ Nam Đường Phan Đức 80.000 đ/quạt
Quán 110.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Bích Trâm 28/1A Hòa Hiệp 50.000 đ
Nhà nghỉ Thái Ngân Ấp Hòa Hiệp 70.000 đ
Nhà nghỉ Hoàng Âp Long Thạnh 70.000 đ/quạt
Phương 120.000 đ/lạnh
Nhà nghỉ Khoa Nguyên Ấp Long Thạnh 80.000 đ/quạt
120.000 đ/lạnh
80.000 đ/quạt Nhà nghỉ Thu Thảo Ấp Long Thạnh
80.000 đ/quạt Nhà nghỉ Minh Anh Ấp Long Thạnh
(Nguồn: Ủy ban Nhân dân huyện CG, 2006)
2.3.3.4. Về phát triển các sản phẩm DLST
a/ Về phát triển các tuyến, điểm DLST: CG đang khai thác và phát triển 5 tuyến DL
chính ở cả hai phương diện đường thủy và đường bộ gồm:
1/ Phà Bình Khánh – Lâm viên CG – bãi biển 30/4 – thị trấn Cần Thạnh.
2/ Phà Bình Khánh – Vàm Sát.
3/ Bến Bạch Đằng – sông Soài Rạp – sông Vàm Sát – điểm DLST Vàm Sát – thị trấn Cần
Thạnh – Thạnh An.
4/ Bến phà Bình Khánh – sông Lòng Tàu – điểm DLST Vàm Sát – sông Đồng Tranh –
Long Hòa – thị trấn Cần Thạnh – Vũng Tàu.
5/ Bến Bạch Đằng – sông Soài Rạp – sông Vàm Sát – điểm DLST Vàm Sát – Long Hòa –
Tiền Giang – Bến Tre.
Các điểm DL được khách tham quan thích ghé nhất: Vàm Sát, Đảo Khỉ, bãi biển 30/4 và
thị trấn Cần Thạnh. Các tuyến được DK lựa chọn nhiều nhất là từ số 1 đến số 4 (trong đó tuyến
số 1 chiến 60% lượng DK).
b/ Về phát triển các tour DLST:
- Thời gian các tour: Dựa trên các tuyến, điểm cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ DL, các
tour thường chỉ kéo dài từ 1 – 2 ngày (3 ngày rất hiếm), đối tượng tham gia chủ yếu học sinh,
sinh viên, nhà nghiên cứu, hội cựu chiến binh hoặc nhóm DK gia đình và một lượng nhỏ khách
quốc tế.
- Những tour được DK lựa chọn nhiều nhất: tour tham quan về tự nhiên; tham quan về
văn hóa lịch sử; tour kết hợp nhiều hình thức (tham quan, dã ngoại, nghiên cứu, tìm hiểu). Phần
lớn các tour tổ chức thông qua các công ty DL lữ hành của thành phố, tự tổ chức đi hoặc thông
qua các đơn vị ngoại huyện thực hiện. Khả năng giữ chân DK chưa cao, mức độ tham quan
dừng lại ở việc quan sát mà chưa có chương trình tổ chức nghiên cứu nghiêm túc về sinh thái
CG.
- Các tổ chức, công ty tổ chức các tour DL về CG: Công ty DLST Cần Giờ, Công ty
DLST Vàm Sát, Trung tâm sinh hoạt dã ngoại Thanh thiếu niên thành phố, Khu DL 30/4, Công
ty DL Thanh niên Tp. HCM, Công ty TNHH DL Hoa Mai, Công ty Hoa Lữ Việt, Công ty Cổ
phần DL Bến Tre, Công ty TNHH DL An Trân.
c/ Về phát triển các loại hình DLST: CG phát triển mạnh loại hình DL sau
+ DL tìm hiểu, nghiên cứu sinh thái, lịch sử, khảo cổ, văn hóa gồm: 3 di chỉ khảo cổ học
(giồng Am, giồng Phệt và giồng Cá Vồ); Rừng Sác; Vàm Sát.
+ DL tham quan, an dưỡng, vui chơi và giải trí: Vàm Sát, Đảo Khỉ, bãi biển 30/4, sông
rạch CG.
+ DL thăm chiến trường xưa: Chiến khu An Thới Đông, Chiến khu Rừng Sác, kênh Phụ
nữ.
+ DL văn hóa, lễ hội: lăng Ông Thủy Tướng, bảo tàng CG và một số địa điểm đình, chùa,
thánh thất, miếu, miễu….
d/ Về phát triển hệ thống cửa hàng lưu niệm:
Đến nay, tại khu vực chợ Hàng Dương (khu DL 30/4) và thị trấn Cần Thạnh đã có những
quầy, gian hàng bán hàng lưu niệm cũng như đồ thủ công mĩ nghệ được chế tác từ sinh vật
biển: móc khóa, chuỗi ốc, đèn bàn… rất đa dạng tương đối thỏa mãn nhu cầu lựa chọn của DK.
Từ bước đầu nghiên cứu, phát triển sản phẩm DL mang tính đặc thù của rừng ngập mặn,
đến nay Ban Quản lý Rừng phòng hộ CG đang thí điểm sản xuất một số hàng hóa phục vụ nhu
cầu mua sắm như: hàng mĩ nghệ (bàn, ghế được chế tác từ cây rừng ngập mặn); hàng thủ công
(được chế tác, lắp ghép từ cây rừng: hình người, phương tiện giao thông, hình thú…) nhằm giới
thiệu đến DK về môi trường cảnh quan thiên nhiên của KDTSQTG.
2.3.3.5. Đối tượng và số lượng du khách
Bảng 2.6: Số lượng khách DL đến CG từ năm 2003 – 2007
Tổng số Trong nước Ngoài nước Năm
2003 218.000 12.000 230.000
2004 215.500 18.500 234.000
2005 218.570 21.430 240.000
2006 225.530 25.470 251.000
2007 232.853 39.147 272.000
(Nguồn: UBND huyện CG, 2007)
Qua bảng số liệu 2.6 cho thấy, số lượng khách đến CG ngày càng tăng. Năm 2007, số
lượng khách đến là 272.000 lượt người, trong đó khách nước ngoài chiếm 15%, dự báo, từ nay
đến năm 2010, lượng khách tăng bình quân từ 10 – 15% năm.
Đơn vị: nghìn lượt người
250
200
150
Khách quốc tế
100
Khách trong nước
50
0
2003
2004
2005
2006
2007
Biểu đồ 2.1: Số lượng khách đền CG từ năm 2003 – 2007.
- Khách trong nước: chủ yếu là các em học sinh, sinh viên từ Tp. HCM và các khu vực
lân cận do trường hoặc các công ty DL tổ chức. Họ thường đến vào những ngày cuối tuần hoặc
ngày lễ với mục đích tham quan, sinh hoạt dã ngoại hay kết hợp tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập
mặn; Đôi khi DK là cán bộ, công nhân viên xí nghiệp, nhà máy, các gia đình tự đến hay thông
qua công ty DL. DK thường đến vào những ngày lễ, tết, cuối tuần với mục đích tham quan nghỉ
ngơi. Một số ít khách là nhà khoa học trong nước từ các trường đại học, học viện, viện nghiên
cứu họ thường đi theo nhóm hoặc hướng dẫn các sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh đến
nghiên cứu và thực tập tại rừng.
Đơn vị: nghìn lượt người
235
230
225
220
215
210
205
2003
2004
2005
2006
2007
Biểu đồ 2.2: Số lượng khách trong nước đến CG từ năm 2003 – 2007
- Khách quốc tế: Số lượng khách quốc tế đến CG ngày càng tăng (năm 2007 chiếm 15%
lượng DK đến CG) chủ yếu từ các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc. Phần
lớn, họ đến với mục đích nghiên cứu khoa học, tìm hiểu hệ sinh thái rừng, vì vậy doanh thu từ
khách DL theo loại hình này không đáng kể. Đây là hạn chế rất lớn cho DL CG, điều này đòi
hỏi các nhà chức trách phải có chiến lược trong cách quản lý và tiếp thị DL ra thị trường thế
giới.
Đơn vị: nghìn lượt người
40
35
30
25
20
15
10
5
0
2003
2004
2005
2006
2007
Biểu đồ 2.3: Số lượng khách quốc tế đến CG từ năm 2003 – 2007
Nhìn chung, số khách đến CG tăng theo các năm, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm
năng sẵn có. Hơn nữa, số ngày lưu trú (1 – 2 ngày) và mức độ chi trả của khách mỗi ngày rất ít
nên doanh thu mang lại không cao. Nguyên nhân chủ yếu: cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ
thuật yếu kém; chất lượng phục vụ thấp; sản phẩm DL nghèo nàn đơn điệu….
- Doanh thu hàng năm: Qua bảng 2.6 về số lượng khách đến CG cho thấy: khách trong
nước chiếm 85% tổng số DK, số còn lại là khách ngoại quốc. Đối tượng đến chủ yếu là học
sinh, sinh viên, cán bộ công nhân viên chức và nếu là khách nước ngoài thì thường là những
nhà nghiên cứu. Chính vì thế, doanh thu từ DL rất thấp, ước tính khoảng vài chục tỉ đồng/năm.
Điều này cho thấy, doanh thu DL chưa tương xứng với tiềm năng DLST của CG.
2.3.4. Đánh giá hiện trạng DLST CG
2.3.4.1. Tiềm năng
- CG xứng đáng là “lá phổi xanh” của thành phố với hệ sinh thái phong phú, đa dạng:
thực vật có 159 loài, động vật 103 loài (trong đó nhiều loài được ghi vào Sách Đỏ) rất thuận lợi
cho việc phát triển DLST. Đặc biệt, nơi đây đang hình thành trở lại các sân chim tự nhiên với
số loài chiếm tới 34% tổng số loài chim nước Việt Nam, trong đó có 9 loài quý hiếm được ghi
vào Sách Đỏ thế giới. Bên cạnh đó, CG cách thành phố không xa, lại được thế giới công nhận
là KDTSQTG. Hơn nữa, văn hóa của cộng đồng người dân nơi đây cũng rất phong phú, đa
dạng và mang đậm bản sắc bản địa gắn liền với các làng nghề truyền thống như: làng chài, làng
chiếu, làng muối, làng rừng. Đây cũng là nơi đầu tiên ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
phát hiện ra khu mộ chum cổ với trên 300 ngôi – di chỉ có giá trị về nền văn hóa Óc Eo. Chính
vì lý do trên, Cần Giờ có đầy đủ tiềm năng về tự nhiên, nhân văn cho việc phát triển DLST góp
phần cải thiện đời sống dân địa phương và bảo vệ môi trường sinh thái rừng ngập mặn.
- Với nhiều loại hình DL phù hợp với nhiều đối tượng DK khác nhau trên nhiều lĩnh vực
cảm thụ khác nhau, CG đã thu hút khách bằng sự chọn lọc thế mạnh vốn có của mình: tham
quan Đảo Khỉ, sân chim (Vàm Sát) dành cho những người yêu thích thiên nhiên, thích nghiên
cứu động thực vật; Hay, thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có ở Đầm Dơi với hàng nghìn
chú dơi treo lủng lẳng trên cành; Hoặc tìm về chốn xa xưa, khi DK quá bộ ghé thăm khu mộ cổ
giồng Cá Vồ, giồng Phệt. Thế mạnh DL CG đã và đang là điểm nhấn để cải thiện chất lượng
cuộc sống của người dân nơi đây.
- Bước đầu huyện đã quy hoạch được 3 khu DLST với 3 chức năng riêng biệt: DLST
biển 600 ha, DLST rừng 38.663 và DLST nông nghiệp (số diện tích tự nhiên còn lại).
- Trong những năm qua huyện đã đẩy mạnh việc đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng góp
phần thúc đẩy DLST phát triển. Đặc biệt, việc đẩy nhanh tiến độ thi công đường trục chính
Rừng Sác, khu DL, khu dân cư thì trong tương lai không xa CG là điểm hẹn cuối tuần cho DK
là điều có thể.
- Số vốn đăng kí đầu tư tính đến cuối 2007 đã lên tới gần 1000 tỷ đồng, đầu tư chủ yếu
vào hệ thống nhà hàng, khách sạn, khu giải trí, khu dân cư cao cấp, hệ thống giao thông. Trong
khi đó, khâu yếu nhất của DL CG thuộc về những yếu tố trên. Nếu các dự án này hoàn thành thì
DL CG có nhiều điệu kiện thuận lợi hơn để đón và giữ chân DK.
- Đời sống người dân ngày càng được quan tâm, chăm sóc góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống là điều kiện thuận lợi cho DL phát triển. Số lượng người tham gia vào hoạt động DL
tăng, chính lực lượng dân địa phương là người bảo vệ rừng hiệu quả nhất.
2.3.4.2. Hạn chế
- Về giao thông đường bộ: Hệ thống giao thông đường bộ từ trục chính đến các thôn, xã,
thị trấn còn nhiều hạn chế gây trở ngại rất lớn đối với sự phát triển kinh tế của huyện cũng như
việc khai thác DL. Mặc dù, đường Rừng Sác đã khởi công hơn 3 năm nay nhưng vẫn chưa hoàn
thành giai đoạn 1 (giai đoạn đền bù, giải tỏa, hạ nền). Hơn nữa, đơn vị tổ chức thi công chưa
quan tâm đến sự đi lại của DK nên làm cho môi trường ô nhiễm (mùa nắng thì bụi, mùa mưa
lầy lội), nhiều ổ voi, ổ gà ảnh hưởng không nhỏ đến sự đi lại (Từ thành phố đến trung tâm
huyện không đầy 60 km mà phải mất tới 3 tiếng đồng hồ; trong khi đó từ thành phố về trung
tâm huyện Củ Chi gần 70 km mất hơn một tiếng.).
Cầu Bình Khánh chưa có, đây là thiệt thòi lớn cho DL huyện nhà, khách qua phà Bình
Khánh phải chờ rất lâu (có khi hơn một tiếng đồng hồ) lại không có chỗ nghỉ tạm khi chờ phà.
- Về giao thông đường thủy: CG có thế mạnh về kênh, rạch, sông, biển nhưng thế mạnh
ấy đến nay vẫn chỉ là tiềm năng chưa được khai thác. Nguyên nhân chủ yếu do chưa có bến tàu
lớn nên hạn chế phương tiện đường thủy neo đậu; phương tiện đường thủy quá thô sơ….
- Cơ sở vật chất kĩ thuật và cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế (toàn huyện có 29 đơn vị
kinh doanh nhà nghỉ khách sạn với tổng số 432 phòng), mặc dù gần đây có Công ty DLST CG,
Công ty DL Vàm Sát và bà Nguyễn Thị Hồng Vân đã đầu tư xây dựng 3 khu resort. Tuy nhiên,
những ngày nghỉ lễ cũng không đáp ứng được nhu cầu (Ông Hồ Bạch Long – Phó Trưởng Ban
quản lý Khu du lịch 30/4 cho biết: “Ngày 30/04/08 có tới 25.000 DK đến tham quan CG, gây
quá tải về nhà nghỉ, khách sạn; vệ sinh bị hạn chế do thiếu nước ngọt dẫn đến DK phàn nàn.”).
- Các khu vui chơi, giải trí: CG rất hạn chế về khu vui chơi giải trí và các dịch vụ khác
(đặc biệt là dịch vụ về đêm) để phục vụ DK. Do vậy, khách đến nơi đây vẫn chưa biết mua gì,
xem gì, ăn gì, chơi gì cho thỏa mãn chuyến đi.
- Các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội rất nhiều nhưng
chưa được đầu tư và đưa vào khai thác phục vụ DK.
- Mặt bằng dân trí thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, do vậy đời sống gặp nhiều khó khăn nên họ
chưa ý thức vấn đề bảo vệ tài nguyên sinh thái rừng. Những hộ sống bằng nghề rừng vẫn chưa
tìm được mô hình sản xuất phù hợp để nâng cao đời sống và bám giữ nghề rừng tốt hơn.
- Các nhà quản lý, các công ty tổ chức chương trình, tuyến và tour DL chưa hợp lý. Đồng
thời, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng để xây dựng những sản phẩm
DL mang tính đặc trưng cho vùng.
- Vấn đề môi trường: Có thể nói, môi trường là vấn đề thời sự hiện nay của CG. Mức độ
ô nhiễm đáng báo động, vì CG là nơi hứng toàn bộ nguồn nước thải từ Tp. HCM ra nên độ ô
nhiễm rất cao. Tại CG, hệ thống xử lý các vấn đề liên quan đến môi trường nghèo nàn, lạc hậu,
cả huyện chỉ lác đác vài xe thu gom rác cũ của công ty dịch vụ Công Ích nên rác hàng ngày
được đổ thẳng ra sông, biển. Hơn nữa, DK đến CG ngày một đông nên lượng rác thải tăng
nhưng lại thiếu thiết bị chứa rác. Hậu quả là đất, nước, không khí bị ô nhiễm nặng nề do việc đổ
rác thành đống (bãi biển 30/4 điển hình cho vấn nạn ô nhiễm).
- Nước ngọt rất khan hiếm và giá cao hơn nội thành nhiều lần (năm 2007, vào mùa khô giá nước đội lên tới 50.000đ/m3), vẫn chưa có hệ thống dẫn nước từ thành phố ra mà chủ yếu
vận chuyển bằng ghe, tàu từ Đồng Nai xuống và từ thành phố ra. Vì vậy, vào những ngày lễ lớn
hệ thống nhà hàng khách sạn không đủ nước cung cấp cho DK – điều đáng tiếc trong cung cách
phục vụ các vị “Thượng đế”.
Tóm lại: Tài nguyên DLST CG phong phú, đa dạng, nhưng hiện tại mới khai thác một
phần nhỏ của tài nguyên tự nhiên (hầu như chưa khai thác tài nguyên nhân văn). Cần khắc phục
hạn chế và đẩy mạnh khai thác DLST hơn nữa để xứng đáng với vị thế và vai trò của
KDTSQTG.
Chương 3: HƯỚNG TỔ CHỨC DU LỊCH SINH THÁI Ở CẦN GIỜ
TP. HỒ CHÍ MINH
3.1. Cơ sở để định hướng
3.1.1. Tầm quan trọng của KDTSQTG
- Duy trì nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển các loài sinh vật trong rừng ngập mặn.
Hàng năm, rừng ngập mặn cung cấp một lượng rơi rụng khá lớn để làm giàu cho đất rừng, vùng
cửa sông và ven biển kế cận. Lượng rơi rụng của bản thân cây rừng khoảng 8 – 20 tấn/ha (trong
đó 79,7% là lá), quá trình phân hủy trở thành nguồn thức ăn hữu cơ cho các loài sinh vật trong
rừng phát triển.
- Bảo đảm sự ổn định và phát triển nguồn lợi thủy sản cho dân địa phương, ghìn giữ
nguồn ghen các loài động – thực vật quý hiếm.
- Điều hòa khí hậu trong vùng, mở rộng diện tích đất bồi ven sông, hạn chế xói lở và
phòng chống gió bão. Rừng ngập mặn CG được xem là “lá phổi xanh” của Tp. HCM, góp phần
cân bằng một lượng lớn khí CO2 thải ra do hoạt động hàng ngày của thành phố.
- Là địa điểm nghỉ ngơi, giải trí, an dưỡng,… cho cư dân trong và ngoài tỉnh. Mấy năm
gần đây, CG trở thành điểm tham quan DLST cho DK trong và ngoài nước nhờ cảnh quan đẹp,
môi trường trong lành. Việc phát triển DL góp phần nâng cao mức sống cho dân bản địa và
khai thác được giá trị của rừng ngập mặn.
- Là địa điểm nghiên cứu khoa học, hiện nay hệ sinh thái rừng được ví như phòng thí
nghiệm tự nhiên to lớn và cũng là nơi lý tưởng cho các nhà khoa học, học sinh, sinh viên đến
nghiên cứu, học tập. Trong những năm qua, Ban Quản lý Rừng phòng hộ CG đã tiếp đón hàng
nghìn lượt sinh viên, học viên, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến nghiên cứu. Những
kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học góp phần phục vụ cho công tác quản lý phát triển
rừng ngập mặn ngày càng bền vững. Diện tích rừng ngập mặn hiện nay còn rất ít trên thế giới
nên chúng cực kì quý giá.
3.1.2. Tiềm năng, hiện trạng DLST CG
- Tiềm năng DLST CG phong phú, đa dạng ở cả hai phương diện tài nguyên tự nhiên và
nhân văn. Với diện tích rừng ngập mặn hơn 38.000 ha đôi chút, lại được công nhận là
KDTSQTG nên động – thực vật phong phú đa dạng: động vật có 103 loài, thực vật có 159 loài
cùng nhiều khu sinh cảnh đa dạng khác sẽ mang đến cho DK yêu thích thiên nhiên nhiều cảm
giác mới lạ.
- Tài nguyên DL nhân văn cũng không kém phần phong phú. Con người CG hiếu khách,
thân thiện cùng nhiều phong tục, tập quán, lễ hội lâu đời; Nhiều đình, chùa, miếu, miễu, khu
khảo cổ được phong cấp di tích quốc gia.
- Vấn đề tổ chức DLST, Ban Lãnh đạo địa phương rất quan tâm phát triển: Đã quy hoạch
được 3 khu DLST (rừng, biển, nông nghiệp); thường xuyên tổ chức công tác quảng bá, tiếp thị
ra thị trường trong nước và thế giới; có chính sách kêu gọi đầu tư thông thoáng, nhiều ưu đãi;
công tác phát triển sản phẩm DL đạt được một số kết quả nhất định: phát triển nhiều tour DL,
đưa vào khai thác nhiều điểm DL mới, tổ chức nhiều hình thức DL theo nhu cầu của DK, hoàn
thành xây dựng 3 khu resort và nhiều cơ sở nghỉ ngơi khác; hàng thủ công mĩ nghệ và hàng lưu
niệm ngày càng phong phú đa dạng, giá cả cạnh tranh.
- Trong các hình thức DL thì DLST được DK quan tâm nhất. Vài năm gần đây, DK quốc
tế đến Việt Nam tăng mạnh (4,2 triệu lượt người năm 2007), như một hiệu ứng dây truyền thì
CG ngày càng thu hút sự quan tâm của giới DL là điều dễ hiểu (năm 2007 CG đón hơn 300
ngàn lượt DK, đạt doanh thu vài chục tỷ đồng). Cuộc sống công nghiệp vội vã, nhiều lo toan,
môi trường ô nhiễm nên nhu cầu tham quan, giải trí, tìm hiểu, trở về với thiên nhiên hoang dã,
bảo vệ môi trường được nhiều giới quan tâm. Phát triển DLST sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu đó.
3.1.3. Chủ trương chung về vấn đề phát triển DLST CG
3.1.3.1. Chủ trương của Nhà nước, UBND Tp. HCM và của UBND huyện CG
- Mục tiêu tổng quát của DL Việt Nam đã được các Đại hội Đảng xác định rõ: “Phát triển
nhanh DL, đưa DL Việt Nam trở thành trung tâm DL, thương mại, dịch vụ có tầm cỡ trong khu
vực.” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII); “Phát triển DL thật sự trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn.” (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX); “Phát triển mạnh và nâng
cao chất lượng hoạt động DL, đa dạng hóa các sản phẩm và loại hình DL.” (Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X). DL được Chính phủ cam kết là một trong 11 ngành ưu tiên hội nhập
sớm trong lộ trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Phương châm của DL Việt Nam là:
phát triển nhanh và bền vững; kết hợp DL quốc tế và nội địa; Bảo đảm hiệu quả về kinh tế – xã
hội, chính trị, an ninh, quốc phòng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, xóa đói
giảm nghèo, thúc đẩy hợp tác, tăng cường hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa.
- Tháng 4/2004 Chủ tịch UBND Tp. HCM đã phê duyệt “Đề án Quy hoạch phát triển khu
DLST CG đến năm 2020” và tháng 12/2007 thành phố đã điều chỉnh đề án này. Theo đó, thành
phố sẽ có chính sách ưu đãi về đất đai, thuế đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu
tư vào DL CG. Mục tiêu và chiến lược của đề án là: đa dạng hóa các loại hình DLST, thu hút
các nhà đầu tư, đào tạo nhân lực cho ngành DL CG, tạo nền tảng tác động tích cực để bảo tồn
rừng ngập mặn, di sản tự nhiên, văn hóa và đa dạng sinh học. Theo quy hoạch, CG sẽ có một
khu DLST biển rộng 600 ha, một khu DLST rừng rộng 42.000 ha (tăng 4.000 ha so với hiện
nay) và một khu DLST nông nghiệp diện tích 28.710 ha.
- Tính đến tháng 5/2008 CG đã thu hút được 22 nhà đầu tư đăng kí thực hiện và lập 25
dự án đầu tư vào các khu DLST, khu vui chơi, giải trí trãi đều trên địa bàn toàn huyện với tổng
diện tích thực hiện là 1.776 ha (trong đó, 7 dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, 18 dự án
đang triển khai). Theo ông Đoàn Văn Sơn – Phó Chủ tịch UBND huyện cho biết: “DLST được
xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. CG mong muốn vươn lên thành đô thị sinh thái
của thành phố, sao cho đô thị này phải hài hòa với sinh thái và bảo tồn được sinh thái.”. Đại hội
Đảng bộ huyện lần thứ IX (2005 – 2010) và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2008 cũng có
chủ trương: “Phấn đấu tổng doanh thu DL tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 25%, tăng
trưởng về số khách đạt 20%, đầu tư và phát triển khu DLST Cần Thạnh.”.
3.1.3.2. Ý kiến của tác giả luận văn
Cần đẩy mạnh phát triển DLST hơn nữa, phát triển càng nhanh càng tốt, có phát triển
DLST mới có khả năng duy trì, ổn định, phát triển KDTSQTG. Vì, số tiền thu được do hoạt
động DL mang lại sẽ được trích một phần cho công tác bảo tồn, chăm sóc, phát triển rừng ngập
mặn. Hơn nữa, khi DLST phát triển, cũng đồng nghĩa với việc tạo ra công ăn việc làm và không
ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân địa phương. Lúc đó, họ thấy được ý nghĩa thiết
thực do DL mang lại sẽ ra sức bảo vệ rừng trên cơ sở tự nguyện, tự giác và khoa học. Bảo vệ
rừng, chính là bảo vệ miếng cơm, manh áo của họ và không ai bảo vệ rừng hơn chính người
dân CG.
3.2. Nguyên tắc phát triển DLST CG
3.2.1. Nguyên tắc 1: Phát triển song hành DLST trên cả hai mặt chất và lượng.
a/ Thế nào là phát triển về chất và phát triển về lượng?
- Phát triển về chất: Là phát triển đường đi, lối lại, nơi ăn, chốn nghỉ, đội ngũ hướng dẫn
viên, đặc biệt là thái độ hướng dẫn, đón tiếp, phục vụ của hướng dẫn viên đối với DK. Làm sao
để mọi DK đều cảm thấy thoải mái, hài lòng và bổ ích cho một chuyến tham quan CG. Bên
cạnh đó, phát triển về chất phải bảo đảm ngày càng gắn bó chặt chẽ hơn với môi trường sinh
thái và an toàn tuyệt đối cho KDTSQTG.
- Phát triển về lượng: Là cũng cố và phát triển thêm các tuyến, điểm, tour, loại hình DL
cũng như các khu vui chơi, giải trí… nhằm mang lại cho DK sự thỏa mãn nhất, hài lòng nhất
hơn cả sự mong đợi của họ.
b/ Hai mặt chất và lượng phải song hành với nhau
Khi phát triển, hai mặt chất và lượng phải song hành vì giữa chúng có sự tương tác qua
lại với nhau. Khi chất phát triển thì lượng khách đến với CG ngày một đông hơn, điều này cũng
đồng nghĩa với doanh thu từ hoạt động DL tăng theo, lúc đó chúng ta có điều kiện phát triển về
mặt lượng. Khi lượng phát triển, ta lại đẩy mạnh phát triển về chất và ngược lại, cứ như vậy đến
vô cùng vô tận. Trong quá trình phát triển thì cần ưu tiên số một cho mặt chất, đồng thời luôn
luôn cũng cố, triển khai phát triển mặt lượng. Quá trình đầu tư phát triển, CG phải tiến hành
từng bước thật vững chắc, lâu dài, khoa học, cân nhắc ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và
không được nôn nóng.
c/ Phát triển có định hướng trước mắt và lâu dài:
Định hướng trước mắt là những việc phải làm ngay hoặc được thực hiện trong vòng từ 3
đến 5 năm nữa. Chẳng hạn, phải hoàn thành cấp tốc tuyến đường Rừng Sác và làm cầu Bình
Khánh để giải quyết vấn đề trở ngại lớn nhất hiện nay cho DLST huyện nhà.
Ngược lại, trong khi thực hiện những việc trước mắt cần quy hoạch, dự báo và đề ra
những giải pháp khả thi cho giai đoạn lâu dài, tức là từ 10 đến 15 năm hay xa hơn nữa. Những
việc làm trong tương lai được triển khai khi những việc trước mắt đã hoàn thành và đưa vào
hoạt động DL có hiệu quả.
Như vậy, nguyên tắc phát triển về chất, lượng phải bao gồm cả những việc trước mắt và
lâu dài.
3.2.2. Nguyên tắc 2: Phát triển DLST phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái
cũng như đa dạng sinh học. Và, không chỉ bảo vệ mà còn cải thiện môi trường, phát triển
đa dạng sinh học.
a/ Giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển DLST và sự xuống cấp của môi trường.
Trong quá trình phát triển DLST sẽ kéo theo sự xuống cấp của môi trường sinh thái cũng
như đa dạng sinh học là tất yếu. Vậy, chúng ta giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?
Phải có những quy định nghiêm ngặt và thực hiện xử phạt nghiêm minh đối với DK cũng
như hướng dẫn viên khi họ vi phạm. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho họ thực hiện quy định
đó.
Chẳng hạn, chúng ta viết nội quy ngay tại cổng ra vào các điểm DL hay đặt những bảng
cảnh báo bên vệ đường tham quan cho DK dễ thấy, các bảng phải ghi rõ số tiền nộp phạt. Song
song đó, trước khi vào tham quan thì hướng dẫn viên phải phổ biến những nội quy cho DK
được rõ, nếu hướng dẫn viên không làm điều này thì khi DK vi phạm, người hướng dẫn bị trừ
vào tiền lương. Ngược lại, DK xả rác, bẻ hoa, khạc nhổ, dẫm lên cỏ, leo rào… vi phạm nội quy
thì phạt nóng ngay tại chỗ để làm gương cho người khác. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện cho
DK thực hiện nội quy như: đặt các thùng rác bên vệ đường, có nhà vệ sinh công cộng, có ghế
đá hay bãi cỏ cho DK dừng chân nghỉ tạm….
Huyện phải thường xuyên giáo dục môi trường sinh thái, da dạng sinh học cho dân địa
phương. Lực lượng hướng dẫn viên cần phổ biến cho DK một cách kĩ lưỡng những kiến thức
cơ bản nhất về sinh thái học để từ đó họ yêu thiên nhiên hơn và có ý thức bảo vệ môi trường
hơn.
Ra sức lôi kéo người dân địa phương tham gia hoạt động DL bằng cách:
Thứ nhất: Đào tạo nghề hướng dẫn viên DL, bố trí cho họ làm công tác bảo vệ rừng, bảo
vệ các điểm DL, tham gia các lễ hội, phát triển nghề thủ công mĩ nghệ, cho thuê dịch vụ nhà
trọ….
Thứ hai: Không ngừng nâng cao chất lượng đời sống cho dân bản địa trên cơ sở trích tiền
từ hoạt động DL để cải tạo và xây dựng mới hệ thống đường, điện, trường, trạm và một số công
trình phúc lợi khác.
b/ Không ngừng cải thiện môi trường sinh thái và phát triển đa dạng sinh học.
Phải trích một phần tiền (khoảng 20%) do hoạt động DL mang lại cho công tác bảo vệ
môi trường như: mua thùng rác, xây nhà vệ sinh công cộng, làm hàng rào, xử lý rác thải, nước
thải…. Đồng thời, nuôi trồng thêm các loài đặc hữu bản địa, thu mua các loài độc đáo từ nơi
khác về và trồng thêm rừng để tăng diện tích lớp phủ thực vật.
Đơn cử như: nuôi thêm trăn, rắn, kì đà, cá sấu, chim yến… thông qua trung tâm nhân
giống lai tạo vật nuôi cây trồng, hoặc thấy trên báo chí hay phương tiện thông tin đại chúng
thông báo có loài vật lạ, cây trồng hay, thì cử người đến ngay thu mua về.
3.2.3. Nguyên tắc 3: Phát triển song song các loại hình DL phục vụ cho những đối tượng
DK khác nhau.
Cần tiến hành phân loại đối tượng DK để có thể bố trí những tour hay loại hình DL phù
hợp với nhu cầu, sở thích, mức sống, thu nhập cá nhân... của họ. Ở đây, chúng ta cần hiểu rằng,
không phải chỉ tìm ra những điểm mới, tuyến mới, mới có thể mang đến sự hài lòng thỏa mãn
cho DK. Ngược lại, cũng tuyến đó, điểm đó, song nếu chúng ta biết phân loại khách và thiết kế
những tour, loại hình DL, cải tiến cách đón tiếp, phục vụ thì vẫn có thể gây ấn tượng cho khách
tham quan mà hiệu quả kinh tế cũng cao hơn. DK chỉ khác nhau về: nhu cầu ăn ở, phương tiện
đi lại, thu nhập cá nhân, cách thưởng thức, giải trí… vì vậy, chúng tôi tạm chia các đối tượng
trên thành 3 loại chính như sau:
- Đối tượng 1: Bao gồm học sinh – sinh viên, đoàn thanh niên, công đoàn.
Đối tượng này thu nhập cá nhân không cao, thậm chí sống nhờ vào sự trợ cấp của gia
đình nhưng lại có sở thích: thích giao lưu, kết bạn, nhiệt tình, năng động, khám khá chinh phục
những miền đất lạ và không ngừng trau dồi kiến thức về tự nhiên, kinh tế – xã hội…. Họ
thường đi theo đoàn lớn, từ vài chục đến vài trăm người, đôi khi cũng đi theo dạng cá nhân hay
tốp nhỏ nhưng rất ít.
Nhu cầu cho đối tượng này có thể phục vụ theo phương châm: rẻ – vui – bổ ích. Như thế,
theo phương châm trên, chúng ta cần chú ý những điểm sau:
+ Về nhà trọ: Phải có nhà trọ tập thể giá thật rẻ, họ không quan trọng lắm về chỗ ở qua
đêm. Tuy nhiên, nhà trọ cần có đủ gối, mùng, mền, quạt, các giường có thể kê sát nhau và được
phân thành 2 dãy nam nữ.
+ Về ẩm thực: Họ cần các món ăn rẻ, ngon, no, bổ chứ không phải là những món cầu kì.
+ Về cách giải trí: Ban đêm, phải có nơi cho họ đốt lửa trại, vài cây đàn ghi ta, đôi ba bộ
bài tiến lên và quan trọng hơn là có hướng dẫn viên chuyên nghiệp, tổ chức cho họ chơi những
trò chơi tập thể thật vui nhộn, hài hước, sức lôi cuốn cao.
+ Về hướng dẫn viên: Đối tượng này nhu cầu học hỏi xếp thứ 2 sau vui chơi. Vì vậy,
hướng dẫn viên phải là người trẻ tuổi, năng động, nhiệt tình, vui vẻ và có kiến thức vững chắc
về sinh thái học để giới thiệu, giải thích những gì khách thắc mắc trên tuyến đi.
Nói chung, đối tượng thứ nhất thích học tập, vui chơi, bổ ích và quan trọng là rẻ tiền.
Như vậy, nên đặt Văn phòng xúc tiến DL và xây nhà trọ cũng như tiến hành tổ chức các
trò chơi ở một địa điểm gần Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên Tp. HCM là hợp lý nhất.
- Đối tượng thứ 2: Những người nghèo và trung lưu
Người nghèo ở đây không phải là nghèo quá mà có thể hiểu rộng hơn một chút, đó là
những người thu nhập cá nhân có dư đôi chút. Họ thường đi theo nhóm, cá nhân hoặc gia đình.
Phương châm phục vụ cho đối tượng này là: giá rẻ – bổ ích – thoải mái.
Đối tượng này nhu cầu học hỏi không cao bằng đối tượng trên, nhưng về ẩm thực và chỗ
ở yêu cầu cao hơn. Họ thích ăn những món ăn gia đình ngon, bổ, rẻ và ở nhà trọ bình dân theo
kiểu gia đình, tốp hay cá nhân. Chính vì thế, CG nên bố trí cho đối tượng này ở nhà trọ bình
dân của huyện hoặc nhà trọ trong dân (Chúng tôi sẽ nói rõ trong phần phương hướng.). Họ
thích tham quan các điểm DL tự nhiên, các làng nghề, đến các trung tâm thương mại, cửa hàng
tự chọn mua sắm với giá bình dân và buổi tối có thể xem ca nhạc hoặc cải lương hay đàn ca tài
tử. Phương tiện đi lại của họ là những loại bình dân với giá cả phải bình dân như: xe ôm, xuồng
nhỏ, xe daihatsu….
Nên bố trí hướng dẫn viên là người đứng tuổi, tâm lý, tính tình điềm đạm và không yêu
cầu cao về kiến thức sinh thái môi trường như đối tượng 1, vì đối tượng này chỉ cần biết chứ rất
ít khi thắc mắc “tại sao lại thế?”. Tuy nhiên, hướng dẫn viên cũng cần phổ biến những kiến thức
cơ bản nhất về sinh thái học giúp họ hiểu về tự nhiên và có ý thức bảo vệ môi trường tốt hơn.
Cần đặt Văn phòng xúc tiến du lịch tại thị trấn Cần Thạnh để khi đối tượng này xuống thì
tư vấn, bố trí cho họ những tour, tuyến, điểm tham quan, chỗ nghỉ ngơi sao cho hợp lý nhất.
+ Đối tượng thứ 3: Khách nước ngoài, người giàu có, cá nhân an dưỡng và những nhà
khoa học.
Đối tượng này thu nhập cá nhân rất cao, do đó nhu cầu đòi hỏi cũng rất cao ở tất cả các
khâu và dịch vụ chăm sóc đón tiếp. Đội ngũ hướng dẫn viên phục vụ cho họ phải giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ, trẻ đẹp và kinh nghiệm lâu năm.
Họ thích đưa đón bằng những xe xịn nhất, đắt tiền, sang trọng nhất (thường thì DK có xe
du lịch riêng), món ăn cầu kì lạ mắt, bổ dưỡng, giá cạnh tranh và nơi ở là những khách sạn sang
trọng nhất. Đối với loại khách này chúng ta phải bố trí loại hình dịch vụ: massage, sông hơi,
giải trí… 24/24.
Riêng khách nước ngoài, ngoài tham quan về tự nhiên thì cần cho họ tham gia lễ hội,
tham quan làng nghề. Ngược lại, các nhà khoa học, an dưỡng phải có khu cao cấp dành riêng
cho họ. Nên bố trí những khu nhà yên tĩnh, cao cấp, sát biển, ven rừng phục vụ cho an dưỡng
và nghiên cứu khoa học (có thể là những nhà trọ cao cấp trong dân hay của huyện).
Nói chung, nhu cầu cho đối tượng này là: tham quan, giải trí, học tập, an dưỡng, nghiên
cứu nhưng giá thành phải cạnh tranh.
3.3. Phương hướng, giải pháp cho thời gian trước mắt và những việc cần làm ngay
3.3.1. Nhanh chóng hoàn thành tuyến đường Rừng Sác và làm cầu Bình Khánh
Đường Rừng Sác rộng tới 6 làn xe chạy, nối phà Bình Khánh và thị trấn Cần Thạnh,
tuyến đường này khởi công cách nay 3 năm và dự định hoàn thành vào cuối năm 2008, nhưng
hiện nay mới chỉ hoàn thành được giai đoạn hạ nền giải tỏa. Vì lẽ trên, CG cách thành phố
không đầy 60 km mà phải chạy xe máy tới 3 tiếng đồng hồ (tính cả thời gian đợi phà), do đó
gây khó khăn không nhỏ cho sự phát triển của DL huyện nhà. Việc cấp thiết hiện nay là nhanh
chóng hoàn thành tuyến đường huyết mạch này mới có thể đưa DL CG phát triển tương xứng
với tiềm năng của nó. Muốn vậy, CG phải dồn vốn đầu tư cho dự án này và đôn đốc, xử phạt
những nhà thầu, gói thầu không hoàn thành thi công đúng thời hạn.
Bên cạnh đó, tiến hành xây cầu Bình Khánh nhằm chấm dứt tình trạng khách đến CG
phải đợi phà rất lâu như hiện nay.
3.3.2. Nhanh chóng hoàn thành hệ thống đường ống dẫn nước ngọt từ Tp. HCM về CG
Cần nhanh chóng hoàn thành hệ thống dẫn nước ngọt từ thành phố về CG. Dự án này đã
tiến hành mấy năm nay, nhưng hiện nay công trình vẫn còn dang dở, gây không ít phiền hà cho
DK đến CG vào những ngày tết, lễ, cuối tuần do thiếu nước ngọt.
Hệ thống dẫn nước tối thiểu phải đến được các nhà trọ trong dân, nhà trọ tập thể đặt gần
Trung tâm giải trí Thanh thiếu niên thành phố, nhà nghỉ, khách sạn để phục vụ cho DK. Khi
chưa tiến hành xong dự án trên, các cơ quan chức năng của huyện phải tăng cường biện pháp
quản lý giá cung cấp nước sinh hoạt, dịch vụ và nước dành cho sản xuất, kinh doanh tại các khu
vực trên địa bàn, không để tình trạng tiểu thương ép và đẩy giá lên quá cao như hiện nay (năm 2007, vào mùa khô giá nước lên tới 50.000đ/m3).
Trong điều kiện hiện nay, huyện và thành phố chỉ cần góp tiền làm đường ống dẫn nước
ngọt về trung tâm các xã, thị trấn còn người dân phải tự bỏ tiền ra làm đường ống nhánh dẫn
vào thôn, ấp và gia đình mình.
3.3.3. Phát triển hệ thống đường giao thông đến các điểm DL, xây dựng bến đò, bến xe
ôm, bến xe daihatsu phục vụ cho DK
- Về đường bộ: Nhanh chóng cải tạo, nâng cấp các tuyến đường đến các điểm DL mà ô
tô có thể đi được hay tối thiểu xe gắn máy cũng vào được. Các tuyến đường cần hoàn thành
sớm là:
+ Đường Lý Nhơn: Tuyến này bắt đầu từ giao lộ Rừng Sác và Lý Nhơn, kết thúc là cầu
Gốc Tre (Vàm Sát). Toàn tuyến có tới 95% là đường đất, đường nhỏ hẹp lại lắm ổ voi, nhiều ổ
gà, mùa khô thì bụi, mùa mưa lầy lội chỉ cho phép xe ô tô dưới 16 chỗ đi vào mùa khô hay khi
nắng ráo. Cần nhanh chóng triển khai thi công tuyến đường này để khắc phục hạn chế trên,
đồng thời, trang bị thuyền lớn để DK khi vào tham quan Vàm Sát xong, nếu thích đi theo
đường thủy ra cầu Dần Xây thì thuyền có thể chở được cả xe lẫn người (hiện nay, thuyền chỉ
chở người, mà không chở xe).
+ Đường Tam Thôn Hiệp và An Thới Đông: Hiện nay hai tuyến này đang thi công, cần
nhanh chóng hoàn thành để phục vụ DLST CG.
+ Ngoài ra, các đường vào điểm DL nhỏ cần cũng cố: đường vào tham quan các chùa,
thánh thất, điểm khảo cổ giồng Cá Vồ và giồng Phệt.
+ Thành lập bến xe ôm, xe daihatsu: Nếu chỗ nào ô tô không thể vào được hay nơi không
thuận tuyến xe bus nên thành lập ngay bến xe ôm, xe daihatsu để đưa khách vào tham quan. Tất
nhiên, tài xế hay nhân viên phục vụ cũng cần được giáo dục, đào tạo sơ đẳng về cách đón tiếp
và phục vụ DK. Giá đi xe phải rẻ và thu theo giá quy định chung của huyện, không để bến xe
hoạt động theo kiểu tự phát, mời chào, níu kéo, tranh dành DK rồi hét với giá “trên trời” và
phục vụ một cách thiếu lịch sự.
Nên phát triển các bến xe ôm, xe daihatsu tại: Đầu và cuối đường An Thới Đông, Tam
Thôn Hiệp, giao lộ giữa Rừng Sác và Lý Nhơn, chân cầu Gốc Tre, cầu Dần Xây, Đảo Khỉ,
Trung tâm dã ngoại thanh thiếu niên thành phố, ngã 3 Long Hòa, bến đò Long Hòa, bãi biển
30/4, bến đò Cơ Khí (Cần Thạnh) và một số điểm thuộc thị trấn Cần Thạnh, đảo Thạnh An (chỉ
bố trí bến xe ôm).
Bố trí các địa điểm cho thuê xe gắn máy giá rẻ của huyện tại các điểm DL: Vàm Sát, Đảo
Khỉ, Long Hòa, bãi biển 30/4, Cần Thạnh.
Khi tuyến đường Rừng Sác hoàn thành nên thay xe bus có công suất vừa như hiện nay
bằng xe bus lớn hơn, tiện nghi hơn (có máy lạnh, máy hát) và chấn chỉnh lại phong cách đón
tiếp phục vụ của nhân viên, tài xế xe bus. Tuyến xe bus có nhiệm vụ kết nối với bến xe ôm,
daihatsu, điểm cho thuê xe gắn máy, bến đò và một vài điểm du lịch lớn để DK được tự do lựa
chọn phương tiện khi đi tham quan.
- Về đường thủy: nâng cấp các bến đò cũ và làm thêm các bến đò mới, cụ thể:
+ Cần nâng cấp các bến đò tại các điểm: An Thới Đông, Vàm Sát, Đông Hòa (Long
Hòa), Cần Thạnh, đảo Thạnh An. Bến đò Vàm Sát phải trang bị thuyền đủ lớn có thể chở được
người và xe gắn máy nhằm chấm dứt tình trạng như hiện nay: thuyền chỉ chở được người mà
không chở được xe. Tại 3 bến đò Đông Hòa, Cần Thạnh và đảo Thạnh An, phải trang bị tàu
thuyền, ca nô dành riêng cho công tác phục vụ DK, tránh tình trạng thuyền vừa chở khách địa
phương vừa chở khách du lịch như hiện nay. Đồng thời, tăng cường số chuyến hơn nữa (hiện
nay cả ngày chỉ có một chuyến Đông Hòa – Tiền Giang xuất bến vào lúc 5h; Cần Thạnh –
Vũng Tàu xuất bến lúc 9h; đảo Thạnh An – Vũng Tàu xuất bến lúc 11h) và nhanh chóng dẹp
nạn bốc vác theo kiểu “bảo kê” rồi hét với giá trên trời đang diễn ra hiện nay ở bến đò Cơ Khí
(Cần Thạnh).
+ Trang bị thêm phương tiện chở khách như ca nô, xuồng, ghe loại nhỏ để có thể len lỏi
vào các kênh rạch nhỏ của rừng ngập mặn (có thể cho khách thuê, tự lái hay cử nhân viên phục
vụ song giá phải rẻ). Trên đó, cần trang bị các phương tiện đảm bảo an ninh, an toàn, tạo sự an
tâm cho DK như: phao cứu sinh, dụng cụ phòng cứu hỏa, một số vật dụng y tế và buộc DK phải
mặc áo phao khi đi trên sông rạch lớn.
+ Thành lập bến đò mới tại: ấp An Nghĩa (An Thới Đông), Thiềng Liềng (Thạnh An)….
Cuối cùng, với DK loại 3, nên trang bị một chiếc thuyền rồng loại lớn phục vụ cho nhu
cầu giải trí ban đêm. Trên thuyền, phải có 1 đoàn ca nhạc tài tử hay cải lương thường trực để
phục vụ khi họ có nhu cầu. Nên bố trí tuyến hoạt động là những con sông, rạch lớn hay ven các
bờ vịnh.
3.3.4. Cùng với dân làm các nhà trọ trong dân tại các điểm DL: Vàm Sát, Đảo Khỉ, bãi
biển 30/4, Cần Thạnh và Thạnh An
a/ Cách tiến hành:
Tại các điểm DL trên, huyện chọn ra một vài nhà dân có uy tín, nhiệt tình trong công tác
xã hội và kí hợp đồng với họ. Huyện cấp toàn bộ kinh phí, kĩ thuật để dân cải tạo nhà mình
đang ở thành nhà trọ trong dân.
b/ Loại hình nhà trọ: Phát triển 2 loại hình nhà trọ, phục vụ cho đối tượng 2 và một phần
DK thuộc đối tượng 3. Cụ thể:
- Nhà trọ bình dân:
Phục vụ cho đối tượng loại 2, loại DK này thường đi theo gia đình, cá nhân hay nhóm
nhỏ mà không có khả năng tài chính vào các khách sạn hay nhà nghỉ bình dân. Nhà được bố trí
thành các phòng trọ riêng cho DK, trong phòng có các tiện nghi như: gường, đệm, mùng, mền,
gối, quạt máy… nói chung là những vật dụng bình dân rẻ tiền. Nếu chọn được những nhà dân
có vườn hoa, cây cảnh, ao cá thì càng tốt, để sáng sớm hay chiều tối DK có thể thư giản nghe
chim hót, ngắm cá bơi hay cùng bạn bè nhâm nhi vài ly rượu đế trên bộ bàn ghế đá đặt giữa
vườn.
Trong nhà cần bố trí vài chiếc xe gắn máy để DK khi có nhu cầu đi tham quan họ cũng
có thể thuê với giá rất bình dân mà không cần phải đi đâu xa.
Nếu DK có nhu cầu dùng cơm tại nhà trọ thì gia chủ có thể nấu ăn cho họ và chọn những
món đơn giản nhưng ngon, rẻ, bổ dưỡng chứ không cầu kì.
Nói chung, loại nhà trọ này dựa trên tiêu chí: gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ. giá rẻ, phục vụ
các món ăn ngon, bổ, rẻ. Kiểu nhà trọ này cũng có thể giải quyết cho đối tượng 1 khi chỗ ở tập
thể bị quá tải.
- Nhà trọ cao cấp: Loại nhà này phát triển theo 2 mô hình: liên kết với dân và 100% của
huyện tự làm.
+ Đối với loại hình nhà trọ cao cấp, liên kết giữa huyện và dân:
Kiểu nhà trọ này phục vụ cho đối tượng 3, nhưng chủ yếu là cá nhân an dưỡng, nhà khoa
học, chính vì thế cần chọn những nhà dân sát biển, gần rừng và yên tĩnh.
Đối tượng này tương đối giàu có, do đó yêu cầu đòi hỏi cao hơn đối tượng 1. Song, nếu
họ chọn nhà nghỉ hay khách sạn lại không phù hợp với túi tiền, sở thích của họ. Phòng trọ phải
rộng rãi, thoáng mát hơn nhà trọ bình dân, trong phòng có nệm êm, gối thơm, tủ lạnh, truyền
hình cáp, máy tính bàn, máy tắm nóng lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, thậm chí máy massage. Bắt
buộc phải có khuôn viên rộng: vườn hoa, cây cảnh, ao cá và bộ bàn đá đặt trong khuôn viên để
sáng sớm hay chiều chiều họ có thể cùng bằng hữu ngồi tại khuôn viên nhâm nhi chén chà, ly
rượu, ngắm biển, trông rừng, nghe chim hót… mà không cần phải đi nơi khác.
Trong nhà luôn có nhân viên y tế, tạp vụ, nấu ăn để đáp ứng nhu cầu khi họ cần hay giải
quyết khi có sự cố về sức khỏe. Thậm chí, trong tương lai cần có nhân viên biết kể chuyện, chia
sẻ, tâm sự cho họ khi vui cũng như lúc buồn. Nhân viên massage khi nào họ có nhu cầu thì gọi
đến phục vụ chứ không cần thường trực như những đối tượng trên.
Nhu cầu cao thì giá thuê dịch vụ cao, lực lượng phục vụ chuyên nghiệp (gồm cả chủ nhà
và người của huyện nhưng được đào tạo về nghiệp vụ). Tuy nhiên, giá cả phải rẻ hơn rất nhiều
so với nhà nghỉ, khách sạn và khu resort.
Nên bố trí vài chiếc xe đạp trong nhà để họ tập thể dục buổi sáng hay rong phố khi chiều
về. Phương tiện đi lại cho khách nên bố trí taxi hay xe của huyện (thường thì họ có xe con
riêng).
+ Đối với loại nhà trọ cao cấp của huyện:
Loại nhà này do huyện đầu tư xây dựng mới hoàn toàn, trong nhà trang bị đầy đủ nội thất
như nhà trọ cao cấp liên kết với dân. Ở mỗi điểm du lịch lớn, huyện chỉ nên xây một vài căn thí
điểm và có vị trí cách xa nhà trọ liên kết với dân. Tất nhiên, khi đưa vào hoạt động kinh doanh,
giá cả và các dịch vụ khác tương đối giống như nhà trọ trong dân chứ không được chênh lệch
quá tạo sự cạnh tranh không bình đẳng bất lợi cho quá trình hợp tác làm ăn lâu dài giữa dân và
huyện trong tương lai.
c/ Phương pháp kinh doanh:
Phải lập cam kết hợp đồng trước khi tiến hành triển khai cải tạo nhà dân thành nhà trọ.
Giai đoạn đầu khi đưa vào khai thác DL, doanh thu từ dịch vụ nhà trọ này sẽ được ăn chia theo
tỷ lệ 50/50 (một nữa của huyện và một nữa chia cho dân). Đến một lúc nào đó, khi huyện thu
hồi lại vốn đầu tư ban đầu thì giao toàn quyền thu chi cho dân được tự do kinh doanh nhưng
phải theo mô hình giá rẻ như cam kết hợp đồng. Mô hình thành công sẽ nhân rộng ra cho toàn
huyện.
Như vậy, mô hình nhà trọ trong dân và nhà trọ cao cấp của huyện sẽ góp phần giải quyết
vấn đề nhà trọ cho DL CG. Đối tượng đến CG chủ yếu là khách bình dân, phát triển mô hình
này rất hợp với họ. Hơn nữa, huyện bỏ ra số vốn đầu tư ban đầu thấp lại thu hồi vốn nhanh, dân
địa phương có nhà mới để ở, có công ăn việc làm ổn định, tăng thu nhập góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống. Đây chính là cách thức ra sức lôi kéo người dân bản địa tham gia vào
hoạt động du lịch sinh thái.
3.3.5. Cải tiến ẩm thực và các cửa hàng mua sắm
a/ Về ẩm thực
Nên chọn những món ăn ngon, rẻ, bổ dưỡng, độc đáo: Trước hết, chọn các món ăn mang
tính đặc trưng của địa phương nhưng phải đạt được tiêu chuẩn như trên và quan trọng hơn là
giá cả cạnh tranh. CG, có thế mạnh về nuôi trồng hải sản cần đẩy mạnh khai thác các món ăn
được chế biến từ hải sản tươi sống. Bên cạnh đó, không ngừng sưu tầm những món ăn độc đáo,
thơm ngon, bổ dưỡng, giá rẻ từ nơi khác về phục vụ cho DL chứ không phải nhất nhất tìm cho
ra đặc sản địa phương phục vụ DK. Ẩm thực CG nên phát triển theo hướng: DK chỉ cần đến
CG cũng có thể thưởng thức đặc sản của tất cả địa phương khác với giá cạnh tranh mà hương vị
món ăn không thua kém với món ăn chính thống.
Thời gian đầu, khi CG du nhập món ăn từ địa phương khác, nên mời những người nấu ăn
giỏi từ địa phương ấy về phục vụ, hoặc chọn vài người của huyện có khiếu về ẩm thực đến địa
phương ấy học nấu những món đó.
Có thể chọn món ăn khắp đất nước, thậm chí du nhập ngoại quốc về. Chẳng hạn, chọn
các đặc sản: các bống kho nồi đất của Quảng Nam, Cháo cá Nha Trang, vịt quay Bắc Kinh, bún
cá An Giang, cà – ri – dê Ấn Độ, kim chi Hàn Quốc, rượu bầu đá Bình Định, rượu cần Tây
Nguyên, rượu đế Long An… về phục vụ cho DK.
Trong điều kiện có thể, CG nên thí điểm một vài quán ăn theo khẩu vị cũng như phong
cách phục vụ của địa phương có đặc sản đó. Đơn cử như: Huế có các món ăn cung đình và món
ăn làm từ mắm rất nổi tiếng, CG nên mời đầu bếp giỏi và đội ngũ nhân viên phục vụ là người
Huế. Đồng thời, xây dựng quán ăn theo nét đặc trưng của các quán ăn ngoài Huế. Nếu làm
được điều đó, DK khi vào thưởng thức sẽ thấy không cần phải ra Huế nhưng cũng có thể
thưởng thức món ăn Huế, hương vị Huế và do chính con người Huế phục vụ nhưng giá cả rất
Cần Giờ theo mô hình ngon – rẻ – bổ dưỡng. Tuy nhiên, chỉ nên tiến hành mô hình này với một
vài món ăn độc đáo của các tỉnh thành nổi tiếng chứ không làm đại trà vì chi phí ban đầu khá
cao (làm quán, thuê đầu bếp, nhân viên phục vụ là người địa phương khác…); Hơn nữa, cần
phải kiểm nghiệm xem thị trường phản ứng như thế nào để có giải pháp điều chỉnh và rút kinh
nghiệm. Khi thành công và được phần lớn “Thượng đế” chấp nhận chúng ta sẽ nhân rộng.
Song song với quá trình phục vụ ẩm thực cho khách bình dân thì CG cũng không được
bỏ qua đối tượng là người giàu có. Với loại khách này, tiền bạc đôi khi không thành vấn đề, mà
vấn đề nằm ở chỗ món ăn có ngon, có lạ, có độc đáo, có bổ dưỡng không? Phong cách phục vụ
như thế nào? Muốn đáp ứng yêu cầu đó, CG phải chủ động tìm kiếm, sưu tầm món ăn đặc
trưng, độc đáo của huyện và du nhập đặc sản độc đáo của địa phương khác về phục vụ cho đối
tượng nhiều tiền trên. Chẳng hạn, có thể mua cá anh vũ (Phú Thọ), ba ba sống trong môi trường
tự nhiên, yến sào… và chế biến theo yêu cầu DK. Đối tượng này chỉ chiếm một phần nhỏ trong
cơ cấu khách đến CG hiện nay, nhưng nếu khéo khai thác cũng có thể mang lại cho ngân sách
huyện nhà số tiền không phải quá nhỏ so với hiện trạng doanh thu du lịch hiện nay của địa
phương này.
Như vậy, CG nên chọn ẩm thực là đặc sản của địa phương và nhập những món ăn, chất
uống nổi tiếng, độc đáo từ nơi khác về theo phương châm phục vụ: ngon, rẻ, bổ dưỡng, cần gì
cũng có, đáp ứng mọi lúc mọi nơi.
b/ Về mua sắm
Chọn mặt hàng mang tính chất đặc trưng của CG, đồng thời nhập hàng thủ công mĩ nghệ
độc đáo từ nơi khác về kinh doanh chứ không nhất thiết phải là hàng sản xuất tại CG. Chẳng
hạn, CG nên nhập sản phẩm làm từ đá ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng); hàng thổ cẩm của các dân
tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Tây Nguyên; các sản phẩm làm từ dừa ở Bến Tre…. Nói chung,
nhập những mặt hàng theo thị hiếu khách hàng với giá rẻ, chất lượng, uy tín xóa đi tính đơn
điệu, sự nhàm chán của các mặt hàng lưu niệm đang bày bán hiện nay ở huyện nhà, miễn sao
làm hài lòng và thỏa mãn nhu cầu mua sắm cho mọi đối tượng.
Thiết lập hệ thống cửa hàng tự chọn giá rẻ bán các mặt hàng lưu niệm tại các điểm DL
lớn. Tất cả các mặt hàng phải niêm giá trên bề mặt sản phẩm để DK được tự do lựa chọn. Đồng
thời, chấn chỉnh lại phương thức kinh doanh thuộc khu chợ Hàng Dương và dẹp nạn bán rong
hàng lưu niệm ở bãi biển 30/4.
Khuyến khích khách mua sắm bằng những chương trình khuyến mãi, mùa hạ giá, tổ chức
hội chợ, hoàn thuế VAT, hải quan, tạo điều kiện cho khách ngoại quốc mua hàng lưu niệm, đồ
giả cổ về nước,… với giá mềm dẻo và các chiêu thức khuyến mãi hấp dẫn khác nhằm “lấy” đến
đồng tiền cuối cùng của họ.
Nghiên cứu và hình thành các cơ sở chế tác sản phẩm hàng thủ công mĩ nghệ lấy từ
nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương: cây rừng, vỏ hải sản (ngao, sò, ốc, hến biển..). Tuy
nhiên, phải có chính sách về vốn (vay lâu dài, lãi suất ưu đãi) và đảm bảo đầu ra cho các cơ sở
sản xuất.
Hàng năm, các cơ quan chức năng của huyện nên tổ chức cho một số hộ dân tham quan,
học tập ở các khu DL nổi tiếng về: nghệ thuật kinh doanh, tiếp thị hàng lưu niệm và sản xuất
hàng thủ công mĩ nghệ để giới thiệu, phục vụ cho nhu cầu mua sắm của DK tại địa phương.
Ví dụ: Có thể chọn một số hộ dân kinh doanh, sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ giỏi đến
các thành phố du lịch như: Nha Trang, Đà Lạt, Hạ Long… hoặc nếu có điều kiện thì cho họ
sang Trung Quốc, Thái Lan – 2 quốc gia có chiêu thức kinh doanh tiếp thị du lịch rất hấp dẫn
lại tương đối phù hợp với điều kiện CG để học tập kinh nghiệm.
Tóm lại: Cần nhanh chóng cải tiến ẩm thực và các cửa hàng mua sắm trên cơ sở phát huy
tính đặc trưng của địa phương và nhập những mặt hàng độc đáo từ nơi khác về. Tất cả phải kinh
doanh dựa theo phương châm: giá cả cạnh tranh, uy tín, chất lượng, cần gì cũng có và phục vụ
tận tình.
3.3.6. Đào tạo hướng dẫn viên DL
a/ Nội dung đào tạo: Đào tạo cho học viên những kiến thức cơ bản nhất về hướng dẫn
DL. Cụ thể những môn học sau:
- Môn 1: Đại cương về DL và DLST.
- Môn 2: Các khu vực trên thế giới và các khu vực ở Việt Nam nhằm cung cấp cho học
viên kiến thức cơ bản nhất về: dân tộc, tôn giáo, văn hóa, tự nhiên để tùy theo đối tượng đến
CG thì học viên có thể đối xử theo văn hóa, phong tục của họ. Xa hơn nữa, học viên có thể giải
thích, giới thiệu về CG và liên hệ với địa phương DK đang sinh sống theo khía cạnh các lĩnh
vực trên. Có như thế, DK mới thấy hứng thú, hấp dẫn, bổ ích và mong muốn hẹn gặp lại lần
sau.
- Môn 3: Những kiến thức cơ bản về sinh thái học.
- Môn 4: Những kiến thức cơ bản về rừng ngập mặn.
Môn 3 và 4 cung cấp cho học viên kiến thức cơ bản nhất về sinh thái học và rừng ngập
mặn tại CG cũng như các khu vực khác nhau trên thế giới. Ngoài ra, còn có thể giúp học viên
thấy được sự khác và giống nhau giữa rừng ngập mặn nơi họ sống và nơi khác để giới thiệu cho
DK.
- Môn 5: Cách hướng dẫn các tuyến, điểm DL cụ thể ở CG, Vũng Tàu, Tiền Giang.
Như vậy, các môn học trên cung cấp kiến thức cơ bản nhất về hướng dẫn DL, nó bao
gồm cả phần lý thuyết và thực hành giúp sinh viên tự tin vào nghề.
b/ Giáo viên:
Mời những giáo viên mà phải biết cụ thể, chính xác và chắc chắn người đó có thể đảm
đương được những môn học trên. Tất nhiên, CG phải tính tiết trả tiền với giá thật cao và các
chế độ đãi ngộ khác để họ nhiệt tình trong công tác giảng dạy.
c/ Nguồn tuyển sinh:
Điều kiện đầu tiên phải là người địa phương, tốt nghiệp cấp 3 trở lên, ngoại hình ưa nhìn,
chất giọng tốt… nhằm tránh trường hợp đào tạo xong không chịu phục vụ cho huyện nhà. Kêu
gọi sinh viên học chuyên ngành DL, ngoại ngữ (đã tốt nghiệp) hoặc đang học trong các trường
Trung cấp, Cao đẳng, Đại học về phục vụ cho CG. Tất cả các đối tượng, buộc phải tham gia
khóa học 5 môn chúng tôi nêu trên và huyện phải bỏ toàn bộ kinh phí đào tạo trong một vài
khóa học đầu tiên. Để giữ chân họ sau khi hoàn thành khóa học, phải kí hợp đồng cam kết ràng
buộc đôi bên trước khi nhập học và trả lương thật hậu hĩnh so với mức sống chung của CG.
c/ Thời gian và địa điểm đào tạo:
Đào tạo ngay tại địa phương chứ không phải gửi đến một cơ sở đào tạo chuyên ngành DL
nào khác, khóa học kéo dài trong thời gian từ 3 đến 6 tháng.
3.3.7. Làm một số nhà nghỉ dưỡng
Tiến hành làm một số nhà nghỉ dưỡng mà UBND huyện đầu tư, xây dựng mới 100%
phục vụ cho đối tượng khách DL loại 3 (khách quốc tế, cá nhân nghỉ dưỡng).
Yêu cầu của loại nhà này: Vì là nhà nghỉ dành cho đối tượng có thu nhập cao nên yêu cầu
nội thất cao hơn, nhà khang trang hơn, đẹp hơn nhà trọ cao cấp liên kết với dân hay của huyện.
Đội ngũ nhân viên y tế, bảo vệ, phục vụ thường trực 24/24, nhân viên massage có thể đáp ứng
bất cứ lúc nào.
Các nhà nghỉ được bố trí ở ven biển hay ven sông, ven rừng, yên tĩnh và có phong cảnh
đẹp. Như vậy, loại nhà này nên phát triển ở Vàm Sát, khu 30/4, Cần Thạnh, Long Hòa, Thạnh
An, trong đó đảo Thạnh An là lý tưởng nhất vì nơi đó có rừng, có biển, có phong cảnh đẹp, lại
yên tĩnh và tách biệt với các xã của huyện.
Để duy trì hoạt động và phục vụ tốt hơn thì giá thu trên đầu người cũng cao hơn nhà trọ
cao cấp nhưng thấp hơn nhà nghỉ, khách sạn thông thường khác đang kinh doanh ở CG.
Chỉ nên phát triển một vài căn và đưa vào kinh doanh nhằm rút kinh nghiệm cho giai
đoạn sau.
3.3.8. Làm những đường đi trên cây để đi vào rừng
CG có những điểm DL hấp dẫn nằm sâu trong rừng ngập mặn, ở đó có thể cho phép DK
đi theo đường thủy (đường bộ rất hạn chế hoặc không thể). Hay, một số điểm DL nếu theo
đường thủy cũng chỉ đứng quan sát bên ngoài mà không đi sâu vào bên trong được. Theo chúng
tôi, giải quyết vấn đề này nên tận dụng cây rừng ngập mặn để làm những con đường đi trên
thân cây, không chạm đất vừa giảm kinh phí làm đường, hạn chế diện tích mở đường, giảm
thiểu tác động đến môi trường sinh thái lại mang đến cho DK cảm giác mới lạ “không đụng
hàng” mà “rất CG” và quan trọng hơn là có thể mở bất cứ tuyến đường nào mà mình thích. Khi
mở các tuyến, phải có nhà nghỉ tạm ở đầu đường, ven đường để khách DL mệt thì ghé vào nghỉ
ngơi hay dùng cho nhân viên hướng dẫn phổ biến nội quy và giới thiệu sơ nét những điểm tham
quan.
Phải chọn những điểm du lịch hấp dẫn, đường chỉ cần rộng đủ 2 người đi và làm theo
đường vòng nhằm tránh DK đụng đầu nhau gây tắc nghẽn giao thông hay không bị nhàm chám
trong quá trình tham quan. Hai bên đường làm hai sợi dây hay 2 con sào có thể giúp cho DK
vững vàng khi di chuyển. Cách khoảng 300 thì bố trí một thùng giác, kế bên thùng đặt bảng ghi
số tiền bị phạt nếu DK vi phạm nội quy như: bẻ cành, hái hoa, trêu chọc thú rừng…. Nếu đường
dài quá hay đi quá sâu vào trong rừng cần làm nhà vệ sinh công cộng đặt cách đường khoảng
100 – 200 m và phải có đường đi vào nhà vệ sinh. Với một số loài thực vật đặc trưng nên làm
bảng gỗ, ghi họ tên và treo vào gốc cây để thuận tiện cho khách tham quan muốn tìm hiểu hay
hướng dẫn viên đỡ phải thuyết trình khi nói về sự lặp lại của chúng trong suốt tuyến đi.
3.3.9. Cải tiến, củng cố việc tiếp thị và quảng bá DL
a/ Cải tiến.
Xác định lại đối tượng tiếp thị: theo thống kê cho thấy, đối tượng khách đến CG phần lớn
thuộc đối tượng 1 và 2. Chính vì vậy, mục tiêu cho chiến dịch quảng bá tiếp thị trong thời gian
tới là đối tượng này chứ không phải đối tượng 3. CG nên kinh doanh DL dựa trên đối tượng có
thu nhập trung bình, không thể chọn đối tượng khách là những người giàu có làm mục tiêu
chính trong giai đoạn hiện nay. Phải chấp nhận kinh doanh dựa trên số lượng đông, có nghĩa là
mỗi người khách lời một ít, tích tiểu thành đại và chính lực lượng này sẽ thay CG quảng bá
miễn phí cho giai đoạn về sau. Thậm chí, giai đoạn đầu, phải chấp nhận bù lỗ tạo thương hiệu,
sau đó khi đã có lượng khách nhất định, mới tính đến phương án kiếm lời dựa trên cơ sở lời
từng ít một. Tất nhiên, để chuẩn bị cho vấn đề bù lỗ thì huyện cần chuẩn bị số vốn nhất định
trang trãi trong thời gian tới. Như vậy, lấy ngắn nuôi dài, tích tiểu thành đại là chiến lược kinh
doanh trong giai đoạn hiện nay. Vậy, DL CG phải tiếp thị từ đâu và theo hướng nào? Cụ thể:
Cho nhân viên đến liên hệ trực tiếp các trường học, công ty, cơ quan nhà nước tại Tp.
HCM để tư vấn về chương trình tham quan CG. Trong tờ rơi quảng cáo, phải ghi rõ giá cả, lịch
trình chuyến đi, người phụ trách chương trình, nơi ăn chốn nghỉ, địa điểm vui chơi giải trí, kiến
thức thu thập qua chuyến đi… nói chung phải chỉ cho họ thấy được vai trò, ý nghĩa của chuyến
đi ngắn ngày nhưng vui, khỏe, rẻ, an toàn và bổ ích.
Với số lượng trường học, công ty, cơ quan như thành phố thì đây quả là thị trường tiềm
năng đầy triển vọng. Vấn đề đặt ra là chất lượng thực tế trong chuyến đi phải đi đôi với quảng
bá, tiếp thị, không thể quảng bá một đường chất lượng phục vụ một nẻo. CG chỉ cần làm một
vài tour thí điểm theo phương châm trên, nếu DK cảm thấy hài lòng thì phần tiếp thị tiếp theo
sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Và, không có hình thức tiếp thị, quảng bá nào rẻ tiền, hiệu quả hơn
cách truyền miệng vì những người đến sẽ giới thiệu cho nhiều người khác cùng đến. “Hữu xạ tự
nhiên hương” – bài học vỡ lòng cho công tác quảng bá, tiếp thị trong kinh doanh trên mọi
phương diện ngành nghề.
b/ Tiếp tục quảng bá, tiếp thị những công việc huyện đang tiến hành.
Tiếp tục phát triển các chiến dịch quảng bá lớn hàng năm như: “CG – điểm đến 2009”,
“CG – vẻ đẹp tiềm ẩn” hoặc tổ chức hội chợ DL CG hay xa hơn nữa là hướng tới chiến lược
“Triển lãm DL CG’ tại các hội chợ triển lãm quốc tế hàng năm tổ chức ở Pháp, Trung Quốc,
Canada…. Mô hình quảng bá tiếp thị trên rất thành công đối với DL Việt Nam trong mấy năm
gần đây, con số DK đến nước ta tăng rất nhanh đã chứng minh cho điều đó (năm 2007 số DK
đến Việt Nam là 4,2 triệu lượt người). Vậy, tại sao CG không áp dụng mô hình quốc gia đó cho
riêng mình? Đây là vấn đề đáng lưu tâm cho các nhà làm công tác DL ở huyện miền duyên hải
này.
Thực hiện kế hoạch phổ biến rộng rãi logo DLST CG đến các doanh nghiệp, các hộ kinh
doanh dịch vụ trên địa bàn toàn huyện, tại cổng chào bến phà Bình Khánh và thị trấn Cần
Thạnh… sao cho logo DLST CG trở thành biểu tượng quen thuộc cho người dân CG và DK
từng ghé thăm.
Hàng năm, Ban Quản lý khu DL 30/4 cần phối hợp với các doanh nghiệp giới thiệu về
CG trên các phương tiện thông tin đại chúng như: internet, truyền hình cáp, sách báo, phim
ảnh…. Tuy nhiên, phải cung cấp chính xác thông tin về sản phẩm DL, giá cả dịch vụ, đội ngũ
hướng dẫn viên, công ty lữ hành đang khai thác nơi đây. Chú ý, các sản phẩm DL phải mang
tính chất chọn lọc, không chỉ gây ấn tượng cho DK mà còn thể hiện giá trị “hàng độc” của CG
không nơi nào có được. Ngoài các hình thức quảng bá trên, nên thực hiện các hình thức quảng
bá khác như: xây dựng băng video tại hai đầu bến phà Bình khánh để khách đến CG khi dừng
chân đợi phà có thể đứng xem; tổ chức cuộc thi và triển lãm ảnh đẹp; giới thiệu CG thông qua
tập vở học sinh; thông qua các chương trình từ thiện; quỹ học bổng giúp các em nghèo vượt
khó học giỏi….
Ở những điểm dừng chân phục vụ DK hay các nơi công cộng của huyện đến nay vẫn
chưa có bản đồ tuyến, điểm DL. Thành thử, khách đến nơi đây muốn biết chỉ có cách duy nhất
là hỏi thăm dân bản địa, gây khó khăn không nhỏ cho họ (đặc biệt khách ngoại quốc). Do vậy,
tại bến phà Bình Khánh và các điểm DL hấp dẫn như: Đảo Khỉ, Vàm Sát, thị trấn Cần Thạnh,
bãi biển 30/4, Thạnh An nên có bản đồ DL và thông tin về số lượng khách đến hàng năm.
Cũng cố lại hình thức quảng bá trên internet: trong thời đại công nghệ thông tin, vai trò
của internet cực kì quan trọng. Vì thế cần lập ra các website, trong đó phải có thông tin: bản đồ
các điểm du lịch, cách đi đến các điểm, nét độc đáo của từng điểm, chỗ nghỉ ngơi, cách liên hệ,
chi phí ăn ở, nếu đi cá nhân thì đi như thế nào, tốp và tập thể lớn thì đi như thế nào… để DK chỉ
cần bỏ ra vài phút lên mạng là biết được thông tin cần thiết cho một chuyến tham quan.
Tóm lại: Quảng bá, tiếp thị và tìm kiếm phát triển thị trường du lịch là yếu tố sống còn
nuôi dưỡng, phát triển du lịch CG. Trong đó, chất lượng du lịch mang yếu tố quyết định, còn
quảng bá là cầu nối đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Và, trong nền kinh tế cạnh tranh
khốc liệt như giai đoạn hội nhập hiện nay, một doanh nghiệp, công ty hay một tổ chức nào đó
nếu không có khách hàng thì sớm muộn gì cũng “chết yểu”. ‘Uy tín quý hơn vàng, khách hàng
là thượng đế” phương châm kinh doanh dài lâu cho tất cả cách ngành nghề.
3.3.10. Phát triển các loại hình DL phù hợp với nhiều đối tượng
Phần nguyên tắc phát triển chúng tôi đã trình bày, lượng khách đến CG tạm chia thành 3
đối tượng chính hay nói ngắn gọn hơn là hai loại đối tượng: giàu và nghèo. Thực tiễn cho thấy,
CG hiện nay đang phát triển DLST theo mô hình phục vụ chủ yếu cho những người giàu có mà
quên đi lực lượng DK đầy tiềm năng chiếm số lượng lớn trong cơ cấu khách đến CG đó là
những người nghèo (tức là đối tượng loại 1 và 2).
Phải phát triển DLST CG theo mô hình đa dạng các loại hình DL phục vụ cho mọi đối
tượng, nhưng trọng tâm là đối tượng 1 và 2. Ở phần nguyên tắc phát triển DL CG, chúng tôi đã
phân ra làm 3 dạng và định hướng cụ thể cho từng đối tượng. Vì vậy, trong phần này chúng tôi
chỉ góp ý thêm cho cách phục vụ DK thuộc đối tượng 1 và một bộ phận nhỏ của loại 3.
+ Đối với đối tượng 1:
Chọn một địa điểm gần Trung tâm giải trí Thanh thiếu niên Tp. HCM làm điểm vui chơi,
giải trí, nghỉ ngơi cho đối tượng này. Tại đây, nhanh chóng thành lập Văn phòng xúc tiến du
lịch, khi khách là đối tượng 1 xuống CG thì chỉ việc đến đây liên hệ về nơi ăn, chốn ở, tham
quan tuyến nào, địa điểm nào hay mua sắm ở đâu là phù hợp….
Về nhà trọ qua đêm, nên xây dựng ngôi nhà tập thể bằng cây rừng ngập mặn, mái lợp lá
dừa nước, có phên chắn 4 bên, sức chứa khoảng 100 – 150 người. Bên trong khu nhà đặt
những cái sạp bằng tre chạy dọc hai bên làm chỗ ngủ cho nam và nữ. Ở giữa, đặt dãy bàn nhỏ
để họ có thể ngồi sinh hoạt tập thể, hay ăn uống đêm khuya. Tùy theo số lượng khách bố trí
mền, gối, chiếu còn mùng thì bắt buộc phải có (CG rất nhiều muỗi) và nên chọn mùng tập thể.
Nói chung, đối tượng này chỗ ngủ không là vấn đề vì nếu tổ chức những trò chơi hấp dẫn thì họ
có thể vui chơi thâu đêm mà không cần ngủ, song cũng cần phục vụ ngăn nắp, chu đáo trong ăn
ngủ, nghỉ ngơi. Một đêm CG chỉ cần thu 5.000 – 10.000 đồng/người là hợp lý. Ngoài hình thức
làm nhà trọ trên thì CG nên trang bị lều tập thể sức chứa khoảng 10 – 15 người/lều để họ tự tổ
chức cắm trại qua đêm nhưng giá cho thuê phải rẻ.
Tại điểm vui chơi, giải trí này nên xây một nhà kho, chuẩn bị sẵn củi khô để phục vụ cho
đốt lửa trại. Ban đêm, khi tổ chức đốt lửa phải an toàn tuyệt đối và bố trí một người chuyên
hướng dẫn, tổ chức các trò chơi tập thể hấp dẫn có sức lôi kéo tất cả mọi người cùng tham gia
(kể cả DK đi theo nhóm, cá nhân không cùng đoàn). Ngoài ra, cần tổ chức các trò chơi, văn
nghệ theo nhóm nhỏ như: nhảy sạp (Tây Bắc), khêu vũ, hát cho nhau nghe, đánh bài quệt nhọ
nồi…. Tất nhiên, đêm khuya phải phục vụ cho DK 1 bữa ăn nhẹ lót dạ.
Ban ngày, chọn hướng dẫn viên trẻ tuổi, năng động, có tính hài hước và giỏi về chuyên
môn nghiệp vụ hướng dẫn họ tham quan các điểm du lịch như: Đảo Khỉ, Vàm Sát, bãi biển
30/4, thị trấn Cần Thạnh, vườn cây trái Long Hòa, Thạnh An. Đối tượng này rất ham học hỏi,
tìm hiểu nên hướng dẫn viên phải giỏi về sinh thái học, rừng ngập mặn và kiến thức xã hội
khác. Kết thúc các điểm tham quan, hướng dẫn viên có thể dẫn đoàn ghé vào các cửa hàng tự
chọn để DK mua hàng lưu niệm về làm quà.
Như vậy, biến một địa điểm gần Trung tâm giải trí Thanh thiếu niên Tp. HCM thành khu
tiếp nhận, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi cho đối tượng 1. Nếu quá tải về chỗ nghỉ ngơi, có thể cho
họ nghỉ tại nhà trọ trong dân, còn vui chơi vẫn là địa điểm này. Vui, rẻ, ngon, bổ ích là phương
châm phục vụ cho đối tượng trên.
+ Đối với đối tượng 3:
Ở đây, chúng tôi chỉ góp ý cho hướng dẫn viên khi hướng dẫn khách là nhà khoa học,
Nghiên cứu sinh, học viên Cao học, còn những vị khách như người giàu có, cá nhân an dưỡng
và khách ngoại quốc thì theo nguyên tắc phân chia trên thực hiện. Vậy, điểm lưu ý cho hướng
dẫn viên khi gặp đối tượng này là gì?
Trước hết, phải bố trí hướng dẫn viên là người có đầy đủ tiêu chuẩn chúng tôi nêu ra
trong phần nguyên tắc. Khi hướng dẫn, hướng dẫn viên chỉ nên nói sơ qua về sinh thái học cũng
như rừng ngập mặn chứ không nói sâu vào vấn đề này. Tại sao lại thế? Vì, công bằng mà nói
khách thuộc đối tượng này, họ là bậc thầy so với trình độ hướng dẫn viên về lĩnh vực sinh thái
rừng ngập mặn. Nếu hướng dẫn viên cứ thao thao phổ biến những kiến thức cơ bản về tự nhiên
CG sẽ gây phản cảm, ấn tượng không tốt trong lòng DK. Mà ngược lại, hướng dẫn viên phải
khiêm tốn học hỏi kiến thức về sinh thái rừng ngập mặn từ đối tượng này nhằm nâng cao trình
độ hướng dẫn đáp ứng các đoàn khách sau này. Nhu cầu của DK ở đây là thích nghe hướng dẫn
viên kể về những câu chuyện lạ tai như: Chiến công của các chiến sĩ đặc công Rừng Sác năm
xưa, những trận đánh nổi tiếng, địa điểm diễn ra trận đánh, cách đánh, ai là người chỉ huy và
bây giờ họ còn sống không? nếu có hiện nay họ ở đâu? Hay cách lấy nước ngọt trong rừng?
Hoặc chỗ nào đặt phục binh của Nguyễn Huệ xưa kia đánh Nguyễn Ánh và quân Xiêm cùng
nhiều câu chuyện dân gian khác về CG. Tất nhiên, cách kể chuyện cần thông minh, dí dỏm, hài
hước, lôi cuốn… tạo cho người nghe luôn luôn có nhu cầu muốn nghe nữa.
Như vậy, việc phân loại khách để có phương pháp đón tiếp, bố trí chỗ ăn, chỗ ở và người
hướng dẫn là việc vô cùng quan trọng cho giai đoạn phát triển du lịch hiện nay của CG.
3.3.11. Tổ chức các hình thức giải trí để thu hút khách
Các trò giải trí hiện nay ở CG rất đơn điệu, nghèo nàn, thực sự DK đến đây vẫn chưa biết
tiêu khiển như thế nào. Do vậy, du lịch CG phải nghỉ ra các trò giải trí nhiều hơn nữa nhằm lôi
kéo DK tham gia. Các trò chơi có thể tổ chức là:
Xiếc khỉ, xiếc cá sấu, xiếc trăn tại Đảo Khỉ, Vàm Sát: ba loại vật này sẵn có tại hai nơi
đây, chúng ta chỉ cần mời chuyên gia về huấn luyện hay mời những người nổi tiếng về xiếc thú
đến biểu diễn. Chẳng hạn: dạy cho khỉ đá banh, đi xe đạp, nhào lộn… hay cho trăn cuốn khắp
người; đưa đầu người vào miệng cho cá sấu cắn thử; nuốt rắn; tổ chức du thuyền câu cá sấu
(mô hình này khá lôi cuốn khách ở Vàm Sát)…. Nói chung, càng tạo ra các trò chơi độc đáo
bao nhiêu thì sức lôi cuốn khách càng cao bấy nhiêu, giai đoạn đầu có thể cho khách xem miễn
phí hay thu vé vào cổng thật rẻ (2000 đồng/người).
Ngoài ra, có thể du nhập những trò giải trí từ địa phương khác về hay cuối tuần mời một
số người nổi tiếng về một lĩnh vực giải trí nào đó về biểu diễn phục vụ DK.
3.4. Phương hướng lâu dài.
- Thực hiện các dự án của UBND huyện CG
Hiện nay, CG đang triển khai các dự án như: Quy hoạch CG thành 3 khu DLST, xây
dựng các khu dân cư cao cấp, khu nghỉ dưỡng, khu du lịch lấn biển CG… và một số công trình
phúc lợi khác.
Trong khi thực hiện các giải pháp trước mắt, cần tiến hành song song các dự án của
huyện đang hay sắp triển khai. Riêng đối với dự án khu DL lấn biển CG nên cân nhắc ý kiến
của các nhà khoa học.
- Tiếp tục tìm kiếm, phát triển thành các tuyến, điểm DL mới
Trong khi huyện cũng cố phát triển các tuyến DL cũ thì cần tiến hành tìm kiếm, phát
triển thêm tuyến, điểm, loại hình DL mới. Quá trình tiến hành phải mời chuyên gia về để họ
khảo sát, phát hiện, triển khai chứ không thể tùy tiện mở tuyến, điểm hay loại hình DL theo
cảm hứng hoặc một lý do nào đó.
Cần Giờ có những đốm rừng tái sinh tự nhiên phân bố rãi rác khắp rừng ngập mặn. Nên
đưa một số đốm rừng loại này vào khai thác du lịch để DK có thể cảm nhận được sự giống và
khác nhau giữa chúng với rừng trồng cũng như thấy được ý nghĩa của công tác bảo vệ rừng
ngập mặn.
Chẳng hạn, tại khu DLST Vàm Sát thì phần lớn diện tích của sân chim và Đầm Dơi
thuộc về rừng tái sinh tự nhiên. Cây rừng ở đây rất to lớn, chúng gồm nhiều loại cây, phát triển
theo khả năng thích nghi của mỗi loài nên rừng gồm nhiều lớp, nhiếu tầng chứ không đều và
đồng loại như rừng tái sinh nhân tạo. Chúng ta có thể đưa điểm này kết hợp với việc quan sát
chim, dơi vào tour DLST rất hấp dẫn.
Hay, CG có thể lập tuyến tham quan những đốm rừng tái sinh tự nhiên kết hợp với nghỉ
ngơi qua đêm thông qua hệ thống nhà nghỉ trên cây. Sau khi chọn ra điểm du lịch hấp dẫn thì
mời chuyên gia thiết kế tuyến, làm đường đi trên cây vào tham quan. Tại điểm cách chỗ tham
quan không xa, nơi có rừng tái sinh nhân tạo chúng ta tiến hành làm nhà kiểu “tổ chim” trên các
cây cao lớn để DK nghỉ ngơi tại rừng qua đêm. Kiểu nhà nghỉ này nên tận dụng cây rừng ghép
lại, giống hình chuồng chim có sức chứa từ 2 đến 3 người/nhà. Từ “nhà tổ chim” họ có thể ăn
uống, nghỉ ngơi, tham quan thú đêm hay cảm nhận thiên nhiên hoang sơ, trở về lối sống nguyên
thủy sơ khai của loài người. Phát triển tuyến du lịch này CG phải chú ý vấn đề môi trường như:
chất thải do vệ sinh ăn uống, lượng nước ngọt phục vụ, số người tham quan nghỉ lại qua đêm
không quá đông ảnh hưởng đến hoạt động của thú rừng. Nếu CG thiết lập được những tuyến
như thế, thì đây quả là loại hình du lịch độc nhất vô nhị của Việt Nam và chắc chắn rằng DK
khó có thể phai nhạt cho chuyến ghé thăm huyện biển duy nhất của Tp. HCM này.
Hoặc, lập các tuyến theo diễn thế sinh thái: Tự nhiên CG hết sức phức tạp, hệ thống kênh
rạch chằng chịt, địa hình cao thấp khác nhau hình thành nên các cảnh quan đa dạng. Chính vì lẽ
đó, việc phát triển tuyến du lịch theo diễn thế sinh thái rất có ý nghĩa và sức hút cao đối với DK
ưa khám phá tìm hiểu thiên nhiên. Để xây dựng được tyến này cũng cần mời chuyên gia về tiến
hành khảo sát thiết kế.
Ngoài những tuyến trên, chúng ta có thể phát triển tuyến thám hiểm rừng ban đêm tại
Vàm Sát và Đảo Khỉ dành cho DK thích phiêu liêu mạo hiểm đi với tính chất nhóm nhỏ vào
ban đêm (từ 5 đến 10 người). Phát triển theo tuyến này, phải trang bị các phương tiện bảo hộ
xuyên rừng cho DK như: thuốc chống muỗi, xuồng nhỏ, thuốc trị rắn cắn… theo phương châm
an toàn là trên hết.
Khôi phục lại làng nghề dệt chiếu ở Tam Thôn Hiệp, hệ thống lô cốt, hầm di động thuộc
Chiến khu An Thới Đông để phục vụ cho việc khai thác DLST. Biến đảo Thạnh An thành điểm
du lịch nghỉ dưỡng trên cơ sở dời bớt dân địa phương vào đất liền và xây dựng các khu nghỉ
dưỡng, khu giải trí, tổ chức các trò thể thao nước, đồng thời đầu tư xây dựng đưa Gồng Chùa
vào hoạt động du lịch.
Trong tương lai, CG nên phát triển du lịch tại Vàm Sát, Đảo Khỉ theo hướng như: Vàm
Sát chỉ nên xây khu giải trí, tổ chức các trò chơi ít gây ồn ào (vì nơi đây là địa điểm cư trú của
chim, cò, dơi). Hơn nữa, cần thay thế tháp Tang Bồng bằng xích đu xoay tròn (giống xích đu
xoay của công viên Đầm Sen – Tp. HCM) để DK vừa có thể ngắm nhìn cảnh vật, hoàng hôn,
chim chiều vừa nhâm nhi ly rượu nồng và tán gẫu cùng bằng hữu trên xích đu xoay, có lẽ như
thế sẽ thi vị và ý nghĩa hơn rất nhiều so với cuốc bộ lên tháp như hiện nay. Còn Đảo Khỉ nên
thay phương tiện đi ca nô vào thăm chiến khu bằng ghe, thuyền chèo bằng tay, vì tiếng ca nô
gây động ảnh hưởng đến thú rừng. Đi ghe thuyền chèo bằng tay còn giúp DK có thời gian tận
hưởng phong cảnh và như đang được sống lại năm tháng chiến tranh khi cùng các cô gái đội
mũ tai mèo chèo thuyền. Và, tại đây, nên xây dựng các cụm nhà nghỉ với vật liệu là cây rừng
ngập mặn, tránh “bê tông hóa” để DK đến đây thực sự là trở về với thiên nhiên hoang dã.
Cuối cùng, việc liên kết với Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Cát Tiên để mở các tuyến
liên tỉnh là cần thiết. Xa hơn nữa, Cần Giờ có thể liên kết với các khu rừng quốc gia ở các địa
phương khác hoặc các khu dự trữ sinh quyển trên thế giới.
- Tổ chức lễ hội dàn dựng, văn nghệ chiến khu
CG có thể tổ chức lễ hội dàn dựng cho DK chứ không cần đợi đến đúng dịp mới cho họ
thưởng thức. Đầu tư hơn nữa cho lễ hội Nghinh Ông được tổ chức hàng năm vào ngày 15/8 âm
lịch thành sự kiện lớn thu hút khách tham quan. Đặc biệt, văn nghệ chiến khu nên tổ chức
thường xuyên hơn ở lâm viên CG để DK mỗi khi tham quan Đảo Khỉ có thể ghé chân thăm
luôn chiến khu Rừng Sác và thưởng thức văn nghệ thời chiến. Văn nghệ chiến khu phải tái hiện
được như thời chiến từ trang phục, dụng cụ đàn nhạc, đến lời ăn tiếng nói, cách lẫn tránh địch
khi đang diễn bị càn quét. Tất cả, phải giống thời chiến, không nên cải tiến để DK có thể cảm
nhận được thế nào là văn nghệ chiến khu.
- Xây dựng lại những làng nghề truyền thống, lễ hội giả cổ
Trong lịch sử phát triển của huyện, có thể có những làng nghề truyền thống hay lễ hội cổ
nhưng nay bị thất truyền hay không còn phù hợp với hiện tại. Vì thế, CG nên khôi phục lại nhằm
giúp DK đến nơi đây không chỉ biết đời sống con người CG hiện tại mà còn hiểu một phần nào đó
phong tục tập quán xưa kia. Trong trang phục, sinh hoạt, lao động nên tái hiện giống thời xưa, có
như vậy, DK mới thấy hứng thú khi tận mắt tìm hiểu con người CG cổ xưa.
Lễ hội có thể là giả cổ, song cũng có khả năng tạo sức hút và đánh vào tâm lý hiếu kì cho
DK. Thậm chí, nên sưu tầm một số lễ hội cổ nhưng thất truyền từ địa phương khác về CG để
DK muốn tìm hiểu nó chỉ việc đến CG là có thể đáp ứng được nhu cầu.
Song song với vấn đề trên, huyện nên cũng cố, khôi phục lại các làng nghề hiện hữu (làng
chiếu, làng chài, làng rừng, làng muối) và định hướng quy hoạch cũng như đề ra giải pháp khả
thi hướng chúng phục vụ cho DLST CG.
- Bồi dưỡng thường xuyên cho lực lượng hướng dẫn viên nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ DL đáp ứng cho nhu cầu DK trong tương lai.
Phải bồi dưỡng, nâng cao kiến thức nghiệp vụ cho lực lượng hướng dẫn viên một cách
thường xuyên, liên tục, lâu dài và tùy theo tình hình nhu cầu thực tiễn có chiến lược đào tạo.
Bên cạnh đó, việc nâng cao nghiệp vụ cho lượng bảo vệ, nhân viên phục vụ, tạp vụ… cũng rất
cần thiết nhằm mang đến sự hài lòng, thân thiện cho khách tham quan. Xa hơn nữa, huyện phải
có chiến lược hướng tới đào tạo đội ngũ tiếp thị, quảng bá, các cán bộ quản lý, quy hoạch để
đối tượng này có thể tìm kiếm những tuyến mới, điểm mới, nghỉ ra các trò chơi hấp dẫn mới…
nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trong tương lai.
- Xây dựng trung bảo tồn, nhân giống và cứu chữa động vật hoang dã
Trên thế giới, phát triển DLST không thể thiếu khu bảo tồn và cứu chữa động vật hoang
dã. Thế nhưng, cho đến tận bây giờ CG vẫn chưa có khu bảo tồn và cứu chữa động vật hoang
dã. Do đó, việc xây dựng chúng trong tương lai là không thể thiếu. Khu này nên xây dựng ở
đảo Thạnh An, vì nơi đây có thể cách ly khi xảy ra bệnh dịch. Trung tâm có nhiệm vụ nghiên
cứu tập tính sinh hoạt của động vật hoang dã, đồng thời chữa trị cho các loài động vật hoang dã
khi bị tai nạn hay bệnh tật.
- Xây dựng công viên thú hoang
Nên quy hoạch xây dựng một công viên thú hoang ở Thạnh An. Công viên này có vai trò
nhân giống một số loài động thực vật quý hiếm nhằm cung cấp cho các khu dự trữ sinh quyển
khác trên thế giới và cho DK tham quan, học tập, nghiên cứu. Đồng thời, nhập một số thú rừng
ngập mặn khác trên thế giới làm phong phú cho động vật rừng ngập mặn CG. Tuy nhiên, cần
chú ý độ an toàn cho khách DL và không nên thả chúng ra rừng ngập mặn CG vì chúng có thể
làm mất nguồn ghen quý hiếm của loài bản địa.
- Thành lập làng DLST kiểu mẫu
Trước hết, mời những kiến trúc sư nổi tiếng về quy hoạch thiết kế kiểu nhà, đường đi lối lại,
vườn hoa cây cảnh…. Kèm theo đó là xây dựng nếp sống, cách ăn mặc, nói năng, tác phong… sao
cho DK khi tham quan có thể cảm nhận được đó là làng DLST kiểu mẫu, không lẫn được với làng
quê nào khác.
Nông nghiệp của làng phát triển theo mô hình nông nghiệp sinh thái và sử dụng công
nghệ tiên tiến nhất hiện nay như: trồng rau sạch trong nhà kính, không sử dụng hóa chất trong
phòng trừ sâu bệnh và bảo quản thành phẩm…. Tổ chức nuôi trồng các tập đoàn cây con đặc
biệt như: trồng đủ các loại hoa, đủ các loại xương rồng, nuôi đủ các loại chó, các loại trăn, rắn,
các sấu…. Nói chung, mỗi làng nuôi đủ một loài động vật, trồng đủ một loại cây phục vụ cho
DLST.
Chẳng hạn, tại Khu DLST nông nghiệp gồm 4 xã phía Bắc, huyện có thể tổ chức thành
những làng nuôi toàn chó, làng nuôi toàn ong, làng nuôi toàn cá sấu… để DK khi muốn tìm
hiểu, tham quan hay nghiên cứu về chúng thì chỉ việc đến CG sẽ đáp ứng nhu cầu. Và, để phục
vụ DK khi có nhu cầu thưởng thức các sản phẩm từ ong, chó, cá sấu… nên thành lập một làng
ẩm thực.
Hình thành những làng nuôi chim yến: Hiện nay, Cần Giờ đang thử nghiệm mô hình nuôi
chim yến trong nhà tại xã Tam Thôn Hiệp trên cơ sở dụ yến vào nhà ở và nhân giống yến tại
chỗ. Triển khai mô hình này hoàn toàn có cơ sở khoa học, vì theo các tài liệu khoa học và thực
tế cho thấy, hiện nay CG là một trong những khu vực có số lượng yến sinh sống tự nhiên khá
cao. Huyện có thể xây một số ngôi nhà và tạo ra môi trường nhân tạo để dụ yến vào sinh sống,
hoặc nếu không thể thì thực hiện lai tạo, cho ấp nở chim yến tại chỗ như Khánh Hòa, Phan
Thiết (Bình Thuận) đang làm. Khi mô hình thành công thì nhân rộng, tiến tới thành lập những
làng nuôi yến sào vừa tận dụng tài nguyên tự nhiên vừa tăng thu nhập cho dân và cũng có thể
dựa vào đó để thiết kế các tour du lịch sinh thái.
- Biến CG thành trung tâm giải trí cuối tuần cho DK
Sau khi tích lũy số vốn nhất định thì CG phải tính đến giai đoạn biến nơi đây thành điểm
hẹn cuối tuần hay dịp lễ tết thông qua các hình thức giải trí nghệ thuật như: đàn ca tài tử, cải
lương, hát bội, ca nhạc trẻ, hát cho nhau nghe… trên cơ sở mời các ca sĩ trẻ, các nghệ sĩ đàn ca
tài tử, hát cải lương nổi tiếng về phục vụ cho DK. Tất nhiên, phải có lực lượng cơ hữu để khi
cần là có thể phục vụ cho những vị khách ngẫu hứng hay những đoàn khách quan trọng đến
thăm quan đột xuất.
- Liên kết DL với các khu vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển khác
Trong những năm tới, việc liên kết DL địa phương với các nơi có rừng quốc gia khác là
việc làm cần thiết trong sự phát triển DL liên tuyến hướng tới thỏa mãn nhu cần “Thượng đế”.
Trước hết, cần liên kết với các tỉnh bên cạnh như: Bến tre, Tiền Giang, Long An, Bà Rịa –
Vũng Tàu. Khi liên kết DL với tỉnh bạn, cần bàn bạc kĩ lưỡng như: DK sẽ đi bằng phương tiện
gì? đi như thế nào? tham quan những điểm nào? chỗ ăn nghỉ ra sao?... sao cho chu đáo, khoa
học, rẻ tiền và bổ ích. Tiếp theo, nên liên kết với các điểm du lịch tại Tp. HCM, thứ đến là các
khu vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam. Xa hơn nữa, CG có thể liên kết với
các vườn quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nơi có rừng ngập mặn nhằm học hỏi, trao đổi
thông tin, kinh nghiệm quản lý cũng như hợp tác về du lịch.
- Phát triển Thạnh An thành điểm DL nghỉ dưỡng của huyện
Thạnh An nằm hoàn toàn cách biệt với với các khu khác, ở đây hiện tại có một số điểm DL
nổi tiếng nhưng vẫn chưa xứng với tiềm năng của nó. Theo chúng tôi, nên biến nơi đây thành khu
nghỉ dưỡng, tham quan như xây nhà nghỉ cao cấp, lập công viên thú hoang, phát triển loại hình DL
thể thao nước….
Đặc biệt, cần xây dựng ngôi nhà dành cho các nhà khoa học, Nghiên cứu sinh, học viên
Cao học, sinh viên đến nghiên cứu khoa học. Trong phòng trang bị các phương tiện như: máy
vi tính, kính hiển vi, vợt bắt bướm, sách về rừng ngập mặn… để khi họ đến đây nghiên cứu thì
chỉ việc trả tiền thuê phòng và dịch vụ mà họ không cần phải mang theo những công cụ cần
thiết cho việc nghiên cứu. Giá thuê phòng phải rẻ và nên miễn phí, tài chợ cho những người có
ý tưởng độc đáo hay đóng góp ý kiến hữu ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội CG nói chung và
DLST nói riêng.
- Lập các tuor DL “ba lô” kết hợp với nông nghiệp sinh thái.
CG có các nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản rất phát triển, nhưng hiện nay các nghề
này hầu như chỉ phục vụ cho sản xuất vật chất mà chưa có sự kết hợp với DL. Nên chăng,
chúng ta thành lập phát triển các tuor cho DK thích kiểu DL “ba lô”, có nghĩa rằng, họ vừa có
thể tham quan vừa cùng dân địa phương đánh bắt thủy hải sản và tự tay mình chế biến những
món hải sản tươi sống theo sở thích của mình. Các tuor này nên thí điểm ở xã Long Hòa, vì tại
đó có thể kết hợp tham quan các điểm DL nổi tiếng và đánh bắt thủy hải sản với dân bản địa.
- Thành lập Văn phòng xúc tiến du lịch.
Thành lập Văn phòng xúc tiến DL ở các trung tâm DL lớn của cả nước như: Vũng Tàu, Phan
thiết, Nha Trang, Đà Lạt, Đà Nẵng… là thiết thực, để từ đó quảng bá sản phẩm DL của mình đến
DK trong, ngoài nước và hướng dẫn cho DK khi đến tham quan. Hiện nay, có nhiều DK muốn đến
CG nhưng không biết liên hệ ở đâu. Đành rằng, các công ty DL có thể giúp họ thực hiện nguyện
vọng đó, nhưng các hãng lữ hành này chỉ mong muốn làm thế nào mà mang lại lợi nhuận cao nhất
cho công ty mình chứ thực sự họ ít có trách nhiệm với nơi họ đưa khách đến. DK tự mình đến liên hệ
với Văn phòng xúc tiến thì chắc chắn niềm tin cao hơn và an tâm hơn. Vì những lý do trên, việc đặt
các Văn phòng xúc tiến trong tương lai ở các trung tâm du lịch lớn là cần thiết.
Tóm lại: Trong sự phát triển DLST của CG thì giai đoạn đầu là quá trình tích lũy về chất
tiến tới tích lũy về lượng nhằm thu hút khách tạo vốn cho giai đoạn sau. Chính lẽ đó, CG phải
tiến hành phân loại khách và xác định lại đối tượng khách hàng hiện tại để có chiến lược kinh
doanh hợp lý. Cụ thể, đối tượng phục vụ chủ yếu trong giai đoạn hiện nay của ngành DL huyện
nhà là khách loại 1 và 2. Như thế, huyện nên thay đổi lại chiến lược thị trường tức là nhanh
chóng làm ngay những việc trước mắt để phục vụ cho DK thuộc đối tượng trên.
Trong hoạt động du lịch, phải nắm bắt được nhu cầu DK, xu hướng phát triển của du lịch
và đề ra những giải pháp phù hợp mới có thể thu hút, đón đầu, chiếm lĩnh thị trường DL.
Phương châm cơ bản là: vui vẻ – bổ ích – rẻ tiền và không được để DK bơ vơ, lạc lõng, bị hắt
hủi… mà phải mang đến cho họ sự hài lòng nhất, thoải mái nhất, an tâm nhất.
Khi CG hội tụ tương đối đầy đủ các yếu tố, tiềm lực cần thiết về DL, có nghĩa rằng: có
điểm du lịch hấp dẫn, có tuyến, có tour, có loại hình phù hợp với mọi đối tượng, có món ăn độc
đáo, đội ngũ nhân viên lành nghề và quan trọng hơn là lượng khách và doanh thu ổn định thì
việc biến nơi đây thành trung tâm giải trí, an dưỡng tạo thói quen cho mọi đối tượng khách lữ
hành là điều khả thi.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Qua nội dung đã được thể hiện trong các chương trên đây, luận văn đã hoàn thành nhiệm
vụ đặt ra. Chúng tôi, có thể rút ra một số kết luận sau:
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các thành quả NCKH đã có, luận văn đã xây dựng được
cơ sở lý luận cho công trình nghiên cứu khoa học về việc tổ chức DLST ở CG.
Luận văn cũng đã làm rõ tiềm năng tự nhiên, kinh tế – xã hội và hiện trạng DLST CG.
Với tiềm năng tự nhiên, nhân văn phong phú đa dạng đã giúp cho CG sớm xác định DLST là
ngành mũi nhọn và đòn bẩy có khả năng thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo. Bởi
lẽ, phát triển DLST sẽ giải quyết việc làm, tăng thu nhập,... tiến tới nhanh chóng cải thiện chất
lượng cuộc sống cho dân bản địa vốn cách Tp. Hồ Chí Minh không xa song hiện nay vẫn nghèo
nàn lam lũ. Hơn nữa, phát triển DLST còn có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí
của người dân trong thời gian nhàn rỗi; tạo mối quan hệ giao lưu văn hóa giữa CG và các khu
vực khác nhau trên thế giới. Doanh thu từ hoạt động DL góp phần bảo vệ đa dạng sinh học,
khôi phục, duy trì hệ sinh thái, bảo tồn các hệ động vật quý hiếm đang cơ nguy cơ tuyệt chủng.
Đặc biệt, phát triển DLST còn có khả năng phổ biến những kiến thức cơ bản nhất về sinh thái
học rừng ngập mặn góp phần nâng cao trình độ hiểu biết cho DK cũng như dân bản địa. Từ
hiểu biết đó, họ sẽ bảo vệ tự nhiên trên cơ sở tự giác, tự nguyện và khoa học. Nhìn chung, trong
chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của huyện miền ven biển này cần đẩy mạnh phát triển
DLST hơn nữa, phát triển cành nhanh càng tốt. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận
văn đã đề ra một số giải pháp trước mắt và lâu dài. Cụ thể:
Giai đoạn đầu, cần thực hiện những giải pháp như: Hoàn thành tuyến đường Rừng Sác và
xây cầu Bình Khánh cũng như tuyến đường dẫn nước ngọt về CG, đào tạo tại chỗ hướng dẫn
viên DL,…. Tất cả các giải pháp phải tiến hành song song đồng thời và dựa trên 3 nguyên tắc
nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng DL, mang lại sự hài lòng nhất, thõa
mãn nhất cho DK, đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân bản địa.
Giai đoạn sau, chúng tôi đưa ra các giải pháp trên cơ sở CG đã chuẩn bị đầy đủ điều kiện
cần thiết như: đáp ứng nhu cầu nhà nghỉ, nhà trọ, đội ngũ hướng dẫn viên… và quan trọng hơn
là có lượng khách ổn định, nguồn vốn tương đối do hoạt động DL mang lại thì cần thực hiện
các giải pháp: hoàn thành các dự án của huyện đang tiến hành, lập thêm tuyến điểm DL mới….
tiến tới là điểm hẹn cho DK.
Tóm lại, đẩy mạnh phát triển DLST là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay cũng
như trong tương lai. Trên cơ sở xây dựng các giải pháp cho DLST CG chúng tôi đưa ra các kiến
nghị sau:
2. KIẾN NGHỊ
- Nhanh chóng hoàn thành tuyến đường bộ Rừng Sác và xây cầu Bình Khánh cũng như
hệ thống dẫn nước ngọt từ Tp. HCM về huyện.
- Đào tạo cấp tốc đội ngũ hướng dẫn viên du lịch ngay tại địa phương.
- Nhanh chóng thực hiện những việc cần làm ngay để đón tiếp đối tượng 1 như: cho nhân
viên đến trường học, công ty, cơ quan nhà nước tiếp thị liên hệ; Lập Văn phòng xúc tiến DL tại
khu vui chơi giải trí gần Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên Tp. HCM và thị trấn Cần Thạnh.
Đồng thời, làm nhà trọ tập thể tại địa điểm chọn làm Văn phòng xúc tiến DL cho đối tượng 1;
thành lập đội đàn ca tài tử và đội nhạc trẻ; lập các bến xe ôm, bến xe daihatsu, bến đò; Xây
dựng, cũng cố những tuyến đường đến các điểm du lịch, ít nhất xe gắn máy cũng vào được….
- Tiến hành thử nghiệm mô hình nuôi chim yến trên cơ sở nhân giống tại chỗ hoặc dẫn dụ
chúng đến sinh sống.
- Thành phố phải coi CG là điểm DL được ưu tiên phát triển, như vậy CG mới có điều
kiện phát triển, tiến tới là điểm hẹn của Đông Nam Bộ và Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Ngọc Ân (1998), Hệ sinh thái rừng ngập mặn CG và biện pháp quản lý phát
triển, Nxb Nông nghiệp Tp. HCM.
2. Lê Huy Bá (1997), Vài điểm lưu ý khi xây dựng rừng ngập mặn CG thành khu DLST, Viện
Tài nguyên và Môi trường, Nxb ĐHQG Tp. HCM.
3. Báo Sài Gòn giải phóng 2005, 2006, 2007.
4. Báo Thanh Niên 2005, 2006, 2007.
5. Phan Nguyên Hồng và Nnk (1998), Rừng ngập mặn, Tập 1, Nxb Nông nghiệp Tp. HCM.
6. Hoàng Văn Lễ (2006) Lịch sử phát triển xã hội huyện CG Tp. HCM thời đổi mới, Viện
Khoa học Xã hội vùng Đông Nam Bộ.
7. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên DL và Môi trường ở Việt Nam, Nxb Giáo dục.
8. Viên Ngọc Nam, Nguyễn Sơn Thụy (1993), Báo cáo thảm thực vật và tài nguyên rừng
huyện Nhà Bè và Cần Giờ Tp. HCM, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tp.
HCM.
9. Viên Ngọc Nam, Nguyễn Sơn Thụy (1999), Nhận biết cây rừng ngập mặn qua hình ảnh,
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
10. Sở Du lịch Tp. HCM (1999), Quy hoạch tổng thể phát triển DL Tp. HCM đến 2010.
11. Trần Văn Thông (1999), Bài giảng môn Quy hoạch vùng và quốc gia..
12. Trần Văn Thông (2000), DLST và quy hoạch DLST một xu hướng mới của Thế giới và
Việt Nam, Kỉ yếu hội thảo: Địa lý kinh tế – xã hội lý luận và thực tiễn, Đại học Quốc
gia Tp. HCM.
13. Lê Đức Tuấn và những người khác (2002), Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn CG,
Nhà xuất bản Nông nghiệp Tp. HCM.
14. Lê Đức Tuấn (2006), Nghiên cứu sinh thái nhân văn khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn
CG, Luận án Tiến sĩ Môi trường, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp. HCM.
15. Tổng cục DL (1999), Báo cáo chương trình hành động quốc gia về DL.
16. Tạp chí DL Tp. HCM 2005, 2006, 2007.
17. Thời báo Kinh tế Việt Nam 2005, 2006, 2007.
18. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (1999), Quản lý sử dụng bền vững tài
nguyên môi trường đất ngập nước ven biển, Hội thảo Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội.
19. UBND Tp. HCM (1999), Báo cáo kiểm kê rừng trên địa bàn Tp. HCM, Ban Quản lý Rừng
phòng hộ môi trường Tp. HCM.
20. UBND huyện CG, Báo cáo kinh tế – xã hội huyện CG 2006 và 2007.
21. UBND huyện CG (2007), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện quy hoạch phát triển DLST
2005 – 2008.
22. UBND huyện CG (2007), Báo cáo DL huyện CG.
23. UBND huyện CG (2008), Báo cáo thành tựu xây dựng và phát triển huyện CG sau 30 năm
CG sáp nhập về Tp. HCM.
24. UBND huyện CG (2008), Báo cáo tiềm năng, quy hoạch và các dự án đầu tư phát triển
DLST trên địa bàn huyện CG.
25. Lê Hải Yến (2005), Quy hoạch DL, Nxb Giáo dục.
26. Lê Thị Hải Yến (2006), Tuyến, điểm DL Việt Nam, Nxb Giáo dục.
Phụ lục 2
Thống kê hiện trạng rừng - đất rừng của 24 Tiểu khu RNM Cần Giờ
Tiểu khu
Rừng trồng (ha)
Rừng tự nhiên (ha)
Đất trống (ha)
Đất khác (ha)
Tổng diện tích (ha)
1
890,41
309,14
29,65
1.229,20
2
1.236,41
355,04
232,16
1.857,64
34,03
3
719,09
449,85
81,22
1.250,16
4
1.200,39
369,20
137,50
1.741,23
34,14
5
772,17
252,15
99,42
1.144,95
21,21
6
980,40
397,79
125,25
1.532,89
29,45
7
624,71
230,83
265,68
1.121,22
8
960,49
133,17
268,72
1.520,22
157,84
9
923,34
440,43
129,97
1.579,80
86,06
10
1.236,58
298,89
62,53
1.603,63
5,63
11
667,28
314,47
249,52
1.236,82
5,55
12
775,53
141,59
261,52
1.178,64
13
898,42
243,55
373,61
1.515,58
14
740,17
299,43
486,33
1.525,93
15
1.024,04
539,97
414,16
2.190,26
212,09
16
782,36
325,82
492,33
1.614,31
13,80
17
1.252,85
569,35
172,77
1.994,97
18
746,54
468,82
466,85
1.682,21
19
518,49
354,16
421,15
1.293,80
20
762,90
618,33
448,73
1.910,00
80,04
21
722,62
322,85
778,16
1.829,53
5,90
22
300,83
246,09
229,93
779,65
2,80
23
1.434,00
416,86
1.093,18
2.944,04
24
1.257,42
860,28
212,04
2.387,30
57,56
Tổng
746,10
21.427,44
8.958,06
7.532,38
38.663,98
Ghi chú: Đất khác gồm: diện tích sông rạch, bãi bồi, ruộng muối, bờ đề…
Phụ lục 3
DANH MỤC MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ Some of the fauna species in the Can Gio Mangrove Biosphere Reserve
TÊN VIỆT NAM Vietnamese Name
Tôm tích, Tôm bọ ngựa
Cua biển Họ Tôm be Tôm bạc thẻ đỏ đuôi Tôm bạc thẻ Tôm sú Bộ Đuôi kiếm Đuôi kiếm, Sam biển Tôm moi, Ruốc
Hầu cửa sông, Hàu
Sò huyết
Squillidae Squilla mantis (oratoria) Portindae Scylla serrata Penaeidae Penaeus indicus Penaeus merguinesis Penaeus monodon Xiphosura Limulus polyphemus Acetes sinensis Ostreidae Ostrea rivularis Arcacea Area granosa Corbiculidae Cyrena sumatrensis Veneridae
Vọp Họ Ngao Nghêu
STT TÊN KHOA HỌC № Scientific Name 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 Meretrix lyrata (Sowerby) 12 13 14 15
Portamididae Cerithdea eingulata Gmelin Octopodidae Octopus sp Englaulidae Coilia macrognathus Bleeker Plotosidae Lotosus anguillaris (Bloch) Schilbeidae
Ốc leng, ốc mút Họ Bạch tuộc Mực tua Họ Cá trỏng Cá mề gà, Cá mồng gà Họ Cá ngát Cá ngát Họ Cá tra
Pangasius polyuranodon Bleeker Sygnathidae Sygnathus schlegeli Bleeker Mugilidae
16 17 18 Mugil cephalus Liunaeus Centropomidae Lates calcarifer (Bloch) 19 Serranidae Epinephelus arecolatus (Forskal) 20 Periophthalmidae Periophthalmus schlosseri (pallas) 21 Apoerypteidae Boleophthalmus boddarti (Pallas) 22 Varanidae Varanus salvator (Laurenti, 1786) 23 Boidae Python molurus (Liunaeus, 1758) 24 Python reticulatus (Schneider, 1801) 25 Elapidae Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) 26 Naja naja (Linnaeus, 1758) 27 Ophiophagus hannah (Cantor, 1836) 28 Viperidae Trimere surus popeorum Smith, 1937 29 Crocodylidae Crocodylus porosus Schneider, 1801 30 Pelcanidae Pelecanus philippensis (Gmelin) 31
Cá dứa Họ Cá chìa vôi Cá chìa vôi thấp Họ Cá đối Cá đối mục Họ Cá sơn biển Cá chẽm Họ Cá mú Cá mú chấm Họ Cá thòi lòi Cá thòi lòi Họ Cá bống kèo Cá bống sao Họ Kỳ đà Kỳ đà nước Họ Trăn Trăn đất, Trăn mốc Trăn gấm Họ Rắn hổ Rắn cạp nong Rắn hổ mang Rắn hổ chúa Họ Rắn lục Rắn lục đầu vồ, lục xanh Họ Cá sấu Cá sấu hoa cà Họ Bồ Nông Bồ nông chân xám
Ardeidac Ardea cinerea (Gould) Egretta garzetta (Linnaeus) Nycticorax nycticorax (Linnaeus) Ciconiidae Leptoptilosjavanica
Anatidae Dendrocygna javanica (Horsfield) Rallidae Amauromis phoenicurus Columbidae Streptopelia chineusis (Temmincnk) Cuculidae Centropus sineusis (Hume) Vespertilionidae Scotophilus heathii (Horsfield, 1831) Cercopithecidae
32 33 34 35 36 Mycteria Leucocephala 37 38 39 40 41 42 Macaca fascicularis (Wroughton, 1815) 43 44 45 46
Mustelidae Lutra lutra (Linnaeus, 1758) Felidae Felis bengalensis Ken, 1972 Felis vivenina (Bennett, 1833) Suidae Sus scrofa (Linnaeus, 1758)
Họ Diệc Diệc xám Cò trắng, Cò cá Vạc Họ Hạc Già dẫy Cò lạo Ấn Độ, Giang sen Họ Vịt Le nâu, Le le Họ Gà nước Cuốc ngực trắng, Quốc Họ Bồ Câu Cu gáy, Cum cườm, Cu đất Họ Cu cu Bìm bịp lớn Họ Dơi muỗi Dơi nghệ Họ Khỉ Khỉ đuôi dài Họ Chồn Rái cá thường Họ Mèo Mèo rừng Mèo cá Họ Lợn Lợn rừng
Phụ lục 4
DANH MỤC MỘT SỐ LOÀI ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG THUỶ SINH TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RNM CẦN GIỜ (List of aquatic invertebrates in Can Gio Mangrove Biosphere Reserve)
TÊN VIỆT NAM Vietnamese Name
Ngành Chân khớp Lớp Giáp xác Bộ Bơi nghiêng
Arthropoda Crustacea Amphipodas Corycacidae
Hyalidae
Dedicerotidae
Gammaridae
Bộ Chân Miệng
Bộ Mười chân
Stomatopoda Squillidae Squilla mantis (oratoria) Decapoda Alpheidae
Cua biển
Tôm câng xanh
STT TÊN KHOA HỌC № Scientific Name 01 Corophrưm intemledium 02 Grandidirella bonnierri 03 Grandidirella lignorum 04 Hyale hyale hawaiiensis 05 Metoedicerpsis vietnamensis Dang 06 Melita vietmenica 07 08 Alpheus lottini Grapsidae 09 Varuna litterata Portindae Scylla senata 10 Portunnus sanguinolentus 11 Portunnus pelagicus 12 Palaemonidae 13 Macrobrachium rosenbergii 14 Macrobrachium mammilodactylus 15 Macrobrachium equidens
Tôm sắt
Họ Tôm he Tôm sú Tôm bạc thẻ Tôm bạc thẻ đỏ đuôi
Tôm rảo
Ngành phụ có kìm Lớp Giáp cổ Bộ Duôi kiếm Đuôi kiếm, Sam biển Chân chẻ
Parapenaeopsis hardwickii Parapenaeopsis gracillana Parapenaeopsis hungerfordi Parapenaeopsis sculptilis Luciferridae Lucifer pennillifer Chelicereta Merostomata or Palacostraca Xiphosura Limulus polyphemus Mysidacea Mysdae
Dibonidae Limnoithona sinensis
16 Macrobrachium mirabile Exopalaemon styliferus 17 Leptocarpus potamiscus 18 Penaeidae Penaeus monodon 19 Penaeus meguiensis 20 Penaeus indicus 21 22 Penaeus japonicus 23 Metapenaeus ensis 24 Metapenaeus lysianassa 25 Metapenaeus affmis 26 Metapenaeus brevicomis 27 28 29 30 31 32 33 Mesopodopsis slabberi Copepoda Pantellidae Labidocera euchaeta 34 Labidocera kroyeri 35 Paraneciidae Paracalanus parvus 36 Tachidiidae Euterpe acutifrons 37 Macrothricidae 38 Macrosetella gracilis 39 40 Dithona oithona
Pontellidae
Bộ Chân đèn
41 Calanopia thompsoni Pseudidiatomidae Schmackeria speciosa 42 Pseudodiaptomus indicus 43 Schmackeria garadiodes 44 Schmackeria garadubia 45 Eucamplaceae Euchata concina 46 Isopoda Corycacidae Tachaea chinensis 47 Anthuridae 48 Cyathuna truncata Phyllopoda Branchinectidae 49 Artmia salina Tanaidacea Apsedoidae 50 Apseudes vietnamensis Drilomorpha Sabellariidac Sabellania cementarium 51 Merimorpha Nerismopediaceae 52 Dendronereis aestuarina Annelides Oligobynephora Naidomapha Tubiflcidae 53 Branchiura sowerby Polyby menophora Amphipoda Amphilepiidac 54 Maldane sarsi 55 56
Chlamydoneschadaceae Strylaroides phumosa Sternaspaididae Stemaspis sculata Nerimopha
Nerishopediaceae
Ngành thân mềm Lớp vỏ hai mảnh Bộ Mang sợi
57 Namalycastis abiuna 58 Ceratonereis mirabilis Nephthydidae 59 Nephthys polybranchis 60 Nephthys eligobranchis 61 Nepthys califomiensis Phylopoda Goniadidae 62 Glycindae nipponica Phylludocidae 63 Etone (Mysta) omata Siganlionnidae Siganlio papillosum 64 Serpulimorpha Sabellariidae 65 Bispia polymorpha Potamilla leptocheta 66 Spiomorpha Aricidae Scolopos arimigar 67 Spirosioidae Prionospio japonicus 68 Cirratulidae 69 Chactozone setosa 70 Cossrura longgicinata 71 72 73
Terebellomorpha Trichobranchiidae Terebellides stroemi Nemathelninthes Rotatoria Mongonta Branchinetidae Branchionus phicatilis Mollusca Bivalvia Filibranchia Mytilidac limropema siamensis
Hầu, Hàu
Sò huyết Lớp chân bụng
Ngành Hàm tơ
74 Ostrea lugubris (O. cucullata) Protobranchia Arcacea 75 Arca granosa Gastropoda Protomonadina Thiaridae Sermyla torenatella 76 Chaetognatha Aphragscophosa Sagittoidae Sagittipulchra 77 Nguồn (Sources): Phạm Văn Miên et al. (1992) ; Phan Nguyên Hồng et el.(1996)
Bùi Lai (1997); Hoàng Đức Đạt (1997); Đỗ Văn Nhượng (2000)
Phụ lục 5
DANH MỤC MỘT SỐ LOÀI CÁ TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RỪNG NGẬP MẶN CẦN GIỜ
(List of fish in Can Gio Mangrove Biosphere Reserve)
TÊN VIỆT NAM Vietnamese Name
Albudidae
Conoriiychiformes Chanidae
Clupeiformes Clupeidae Dorosomatinae
Englanlidae Stolophorus commersonii (Lacepede, 1903) Stolophorus tri (Bleeker, 1852) Stolophorus beterolobus (Rupell, 1835) Lycothrissa crocodiles
STT TÊN KHOA HỌC № Scientific Name PISCES Ostheichthys Elopiformes Elopidae Elops sannus (Liunaeus, 1776) 01 Megalopidae 02 Megalops cyprinoids 03 Albula vulpes (Linnaeus, 1758) 04 Chanos chanos (Forskal, 1775) 05 Nomainlosa nasus (Bloch. 1795) Priscinasterinae 06 Hisha elongata (Bennett. 1830) 07 Hisha indiea (Swainson. 1839) 08 Hisha dussumieri (Cu & Va, 1847) Hishapristigatroides (Bleeker) 09 Alosinae 10 Hisha kamagurta (Bleeker) 11 Hisha toni (Cu & Va, 1847) 12 13 14 15 16 Cocoi liarayii Richardson, 1844
TỔNG LỚP CÁ Lớp Cá xương Bộ cá cháo biển Họ cá cháo biển Cá cháo biển Họ cá cháo lớn Cá cháo lớn Họ cá mòi dường Cá mòi dường Bộ cá sữa Họ cá măng biển Cá măng sữa Bộ cá trích Họ cá trích Họ phụ cá mòi Cá mòi mồm tròn Họ phụ cá bè Cá dé Cá bẹ Ấn Độ Cá bẹ lầm Cà bẹ Họ phụ cá cháy Cá cháy Nam Cá cháy bẹ Họ cá trông Cá cơm thường Cá cơm sọc tiêu Cá cơm mõm nhọn Cá lẹp sấu, Tốp xuôi Cá lành canh trắng
Myclophiformes Harpodontidae
Anguilliformes Maraenesocidae
Ophichthyidae Pisoodonphis boro (Hamilton & Buchanan) Pisoodonophis cancrivorus Richardson, 1844 Synbranchiformes Flutidae
Siluriformes Plotosidae Plotosus anguillaris (Bloch, 1797) Plotosus canius (Hamilton, 1822) Schilbeidae Pangasius krempfi (Fang & Chaux, 1942) Pangasius polyuranodon (Bleeker, 1852) Ariidae
17 Coilia mystax (Linnaeus, 1758) 18 Coilia dussumieri (Valenciennes) 19 Coilia macrognathus (Bleeker, 1852) 20 Harpodon naecherus (Hamilton-Buchanan) 21 Maraenesox cireneus (Forskal, 1775) 22 Maraenesox tabalon (Cantor, 1850) 23 Maraensox talabonoides (Bleeker, 1853) 24 25 26 Macrotrema caligans (Cantor, 1849) 27 28 29 30 31 Aris maculatus (Thumberg, 1792) 32 Aris sciurus (H.M. Smith, 1931) 33 Arius malacathus (H.M. Smith, 1945) Arius truncatus (Cuvier & Valenciennes, 1840) 34 35 Arius caclatus (Curiver & Valenciennes, 1840) 36 Arius sagor (Hamilton, 1822) Cyprinodontiformes Cyprinodontidae Strongylurus panchax (Hamilton, 1822) 37 Strongylurus strongylurus (Van Hasselt, 1823) 38 39 Strongylurus leiurus (Bleeker, 1850) 40 Xenentodon canciloides (Bleeker, 1853) 41 Ablennes annastomella (Cuvier & Valenciennes,
Cá lành canh đuôi phượng Cá lành canh chóp vàng Cá mề gà Bộ cá đèn lồng Họ cá khoai Cá khoai Bộ cá chình Họ cá dưa Cá dưa Cá lạt Cá lạc (Cá luỵ) Họ cá chình rắn Cá chệnh răng hạt Cá chệnh ăn cua Bộ lươn Họ lươn đồng Lịch sông Bộ cá nheo Họ cá ngát Cá ngát Cá ngát chó Họ cá tra Cá tra (bông lau) Cá dứa Họ cá úc Cá úc chấm Cá úc trắng Cá úc gai mềm Cá úc nghệ Cá úc quạt Cá vồ chó Bộ cá sóc Họ cá sóc Cá bạc đầu Cá nhái đuôi chấm Cá nhái xanh Cá nhái Cá quại mõm nhọn 1846)
Hemirhamphidae
Gasterosteiformes Sysnathoidei Sygnathidae Sygnathus schlegeli (Bleeker, 1853) Mugiliformes Sphyraenoidei Sphyraenoidae Sphyraenajello (Cuvier & valenciennes, 1829) Sphyraena langsar (Bleeker, 1803) Mugiloidei Mugilidae
Họ cá lìm kìm Cá kìm sông Cá kìm chấm Bộ cá gai Bộ phụ cá chìa vôi Họ cá chìa vôi Cá chìa vôi thấp Bộ cá đối Bộ phụ cá nhồng Họ cá nhồng Cá nhồng vằn Cá nhồng thường Bộ phụ cá đối Họ cá đối Cá đối mục Cá đối đất Cá đối đầu nhọn Cá đối cồi Cá đối gành Cá đối đuôi bằng Bộ phụ cá nhụ Họ cá nhụ Cá nhụ lớn Cá nhụ gộc Cá nhụ chấm Cá phèn vàng Bộ cá vược Bộ phụ cá vược Họ cá sơn biển Cá chẽm Cá vược mõm nhọn Cá sơn xương Cá sơn đầu tròn Cá sơn biển sọc bạc
Ambassis commersoni (Cuvier & Valenciennes, 1828)
42 Hyporhampus unifasciatus (Ranzai, 1812) 43 Hyporhampus far (Forskal, 1775) 44 45 46 47 Mugil cephalus (Linnaeus, 1785) 48 Mugil dussumieri (Cuvier & Valenciennes, 1836) 49 Mugil stronglocephalus (Richardson) 50 Mugil anpinensis (Oshima, 1922) Liza tade Forskal (1775) 51 Liza vaigiensis (Quoy & Gaimerd, 1825) 52 Polynemoidei Polynemidae Eleutheronema tetradactylus Shaw, 1804 53 Polynemus plebejus (Broussonet, 1788) 54 Polynemus sextarius (Bloch & Schneider, 1801) 55 Polynemus paradicus (Linnaeus, 1758) 56 Pereiformes Percoidei Centropomidae Lates calcarifer (Bloch, 1970) 57 58 Psammoperca waigiensis (Cuvier & Val.) 59 Chanda gynmocephala (Lacepede, 1802) 60 Ambassis gynmocephalus (Lacepede, 1802) 61 62 Ambassis urotacnia (Bleeker, 1852) 63 64
Serranidae Epinephelus arcolatus (Forskal, 1775) Epinephelus awoara (Temminck & Schlegel, 1842)
Cá sơn biển đuôi sọc Họ cá mú Cá mú chấm Cá sòng gio
Họ cá ông căng Cá căng vảy nhỏ Cá căng vảy to Cá căng cát Cá căng bốn sọc Họ cá liệt Cá liệt xanh Cá liệt vằn lưng Cá liệt sọc
Cá liệt chấm Cá liệt gai lưng dài Cá liệt lớn Cá liệt mõm ngắn
Theraponidae Therapon puta Cuvier & Valenciennes, 1829 Therapon theraps Cuvier & Valenciennes, 1829 Theraponjarbua (Forskal, 1775) Pelates quadrilincatus (Bloch, 1790) Leiognathidae Leiognathus splendens (Cuvier, 1829) Leiognathus ruconius (Hamilton, 1822) Leiognathus lincolatus (Cuvier & Valenciennes, 1835) Leiognathus insidiator (Bloch, 1787) Leiognathus fasciatus Lacepede, 1803 Leiognathus qquulus (Forskal, 1775) Leiognathus brevirostris (Cuvier & Valenciennes, 1835) Leiognathus daura (Cuvier, 1829) Leiognathus bindus (Cuvier & Valencieunes, 1835) Leiognathus clongatus (Gunther, 1874) Sparidae
Sciaenidae Pseudosciaena soldad (Lacepede, 1802) Scatophagidae Scatophagus argus (Linnaeus, 1758) Pormacentridae
65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 Crenidens carissphorus (Cantot, 1850) 80 81 82 Abudefdufbengalensis (Bloch, 1787) 83 Abudefduf aureus (Cuvier & Valenciennes, 1830) 84 Abudefduf bankieri (Richarson, 1846) 85 Abudefduf melas (Cuvier Valenciennes, 1830) 86 Abudefduf cyancus (Quoy & Gaimard, 1824) 87 Abudefdufcoclestinus (Cuvier & Valenciennes) 88 Abudefduf glaueus (Cuvier & Valenciennes, 1830) 89 Abudefdufcuracao (Bloch, 1787) 90 91 92
Abudefdufsaxatilis (Linnaeus, 1758) Siganidae Siganus fuscesceus Houttuyn Toxotidae Toxotes chatacus (Hamilton, 1822) Eleotridae
Cá liệt sọc vàng Cá liệt vây hồng Cá liệt dài Họ cá tráp Cá ướp bê ăng Họ cá đù Cá sửu Họ cá nâu Cá nâu Họ cá rô biển Cá thia băng gan Cá thia vàng Cá thia sành Cá thia đen Cá thia xanh Cá thia sáu sọc Cá thia hai châm Cá thia vảy chấm Cá thia năm sọc Họ cá dìa Cá dìa xám Họ cá mang rổ Cá mang rổ Họ cá bống đen
Stigmatogobius sadanundio (Hamilton, 1856)
Cá bống mọi Cá bống cau Cá bống dừa Họ cá bống Cá bống râu Cá bống trứng Cá bống răng vàng nhỏ Cá bống mít Cá bống vảy Cá bống lá tre
Valenciennes, 1837)
Periophthalmidae
Apocrypteidae
Golioididae
Pleuronectiformes Psettodidae
Soleidae
Cynoglossidae
Cá bống tròn Cá bống Gia nét Cá bống cát tố Cá bống cát trắng Cá bống điếu Họ cá thòi lòi Cá thòi lòi Họ cá bống kèo Cá bống kèo Cá bống xệ Cá bống sao Họ cá rễ cau Cá bống rễ cau Cá rễ cau viền đen Cá đèn cầy, Bống lỗ Bộ cá bơn Họ cá ngộ Cá ngộ Họ cá bơn Cá bơn sọc Cá lưỡi mèo Họ cá bơn cát Cá lưỡi trâu Cá bơn sọc dài Cá bơn lưỡi cát Cá bơn lưỡi trâu Cá bơn dẹp
Eleotris fucus (Bloch, 1801) 93 94 Butis butis (Hamilton, 1822) 95 Oxyeleotris siamenss Gobiidae Phonogobius planifrons (Day, 1873) 96 Pseudogobioptis oligastis (Bleeker, 1875) 97 98 Oxyurichthys microlepis (Bleeker, 1849) 99 100 Stigmatogobius javanicus (Bleeker, 1856) 101 Acentrogobius viridipunctatus (Cuvier & 102 Acentrogobius atripinnatus (H.M. Smith, 1931) 103 Aulopariajenetae H.M. Smith, 1945 104 Glossogobius giuris (hamilton, 1822) 105 Glossobius sparsipapillus 106 Brachygobius sua (H.M. Smith, 1931) 107 Periophthalmus schlossseri(Pallas, 1770) 110 Pseudoipocryptes lanceolatus (Bloch, 1801) 111 Parapocryptes serperaster (Richardson, 1846) 112 Boleophthalmus boddarti (Pallas, 1770) 116 Tacnioides gracilis (Cuvier & Valenciennes, 1837) 117 Tacnioides nigrimarginatus Hora 1924 118 Trypauchen vagina (Bloch, 1801) 119 Psettodes erumeri (Bloch & Schneider, 1801) 120 Zebrias zebra (Bloch, 1787) 121 Synaptưahannandi (Sauvage, 1878) 122 Paralagusia bilineata (Bloch, 1785) 123 Cynoglossus bilineatus (Lacepede, 1802) 124 Cynoglos sus macrolepido sta (Bleeker, 1850) 125 Cynoglossus lingua (Hamilton & Buchanan, 1822) 126 Cynoglossus cysnoglossus (Hamilton & buchanan
1822)
Tetraodontiformes
Tetraodontidae
Cá bơn diễm Cá bơn đầu chấm Cá bơn cát nhằng Cá bơn lưỡi kiếm Cá bơn lạ Bộ cá nóc Cá nóc chàng Cá nóc gan Họ cá nóc Cá nóc bầu Cá nóc xanh Cá nóc hột mít Cá nóc vàng Cá nóc đoi Cá nóc một mũi
Bùi Lai (1997); Hoàng Đức Đạt (1997); Đỗ Văn Nhượng (2000)
127 Cynoglossus puncticeps (Richardson, 1846) 128 Cynoglossus abbreviatus (Gray, 1834) 129 Cynoglossus gracilis Gunther, 1861 130 Cynoglossus xiphoideus (Gunther, 1861) 131 Cynoglossus wandersi (Bleeker, 1850) 132 Torqigener oblongus (Bloch, 1786) 133 Gastrophysus seleratưs (Gmelin, 1789) 134 Monotretus cutcutia (Hamilton - Buchanan) 135 Chelenodon fluviatilis (Hamilton, 1822) 136 Tetraodon palembagensia (Bleeker, 1852) 137 Tetraodon lorteli (Tirant, 1885) 138 Tetraodon lorirus (Bleeker) 139 Tetraodon sp Nguồn (Sources): Phạm Văn Miên et al. (1992) ; Phan Nguyên Hồng et el.(1996)
Phụ lục 6
DANH MỤC THỰC VẬT TRONG KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RNM CẦN GIỜ (List of flora in Can Gio Mangrove Biosphere Reserve)
TÊN VIỆT NAM Vietnamese Name
DẠNG SỐNG Phenology
CÁC LOÀI NGẬP MẶN CHỦ YẾU (True Mangrove Species)
DB DB
Cmn
C
G G
G G G
G
G/GB G/GB
G/GB
G G
GB GB
STT TÊN KHOA HỌC № Scientific Name 01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18
Acanthaceae Acanthus ebracteatus Vahl. Acanthus ilicifolius L. Aizoaceae Sesuvium portulacastrum L. Araceae Crytocoryne ciliata (Roxb.) Scott. Arecaceae = Palmea Nypany paticans Wurmb. Phoenix paludosa Roxb. Avicenneiaceae Avicennia alba Bl. Avicennia offlcinalis L. Avicennia lanata Ridley Bignoniaceae Dolichandrone spathacea (L.) K. Sch. Combretaceae Lumnitzera littorea (Jack) Voigt Lumnitzera racemosa Willd Euphorbiaceae Excoecaria agallocha L. Meliaceae Xylocarpus granatum Koen Xylocarpus moluccensis (Lam.) Roem Myrsinaceae Aegyceras comiculatum (L.) Blanco Aegyceras floridum Roem. & Schult. Pteridaceae Acrostichum aureum L.
Họ ô rô Ô rô trắng Ô rô (ô rô tím) Họ Rau dắng đất Sam biển Họ Ráy Mái dầm Họ Cau dừa Dừa nước, Dừa lá Chà là Họ Mấm Mấm trắng Mấm đen Mấm quăn Họ Dinh Quao nước Họ Bàng Cóc đỏ Cóc vàng, Cóc trắng Họ Ba mảnh vỏ Giá Họ Xoan Xu ổi Xu sung Họ Dơn nem Sú Sú Họ Ráng Ráng dại
Dx
G G/GN G
Họ Dước Vẹt trụ Vẹt dù Vẹt tách, Vẹt khang
G Gn Gn G G G G
B/GN
G G G
Vẹt đen Dà quánh Dà vôi Trang Đước vôi Đưng, Đước xanh Đước vòi Họ Cà phê Côi Họ Bần Bần trắng Bần chua Bần ổi Họ Trôm Cui biển
Rhizophoraceae Bruguiera cylindrica (L.) Blume Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lamk Bruguiera parvinora (Roxb. ) W. Am ex. Griff Bruguiera sexangula (Lour.) Poir. in Lamk Ceriops decandra (Griff.) dùng hoa Ceriops tagal (Pen) C.B. Rob Kandelia candel (L.) Druce Rhizophora apiculata Bl. Rhizophara mucronata Poir. In Lamk Rhixophara stylosa Griff Rubiaceae Scyphiphora hydrophyllacea Gaertn. f. Sonneraticeae Sonneratia alba Bl. J. E. Smith Sonneratia caseolaris (L.) Engler Sonneratia ovata Bak. Stereyculiaceae Heritiera littoralis Dryand
G
C
Gn
G
C C
DL DL DL
19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 CÁC LOÀl THAM GIA RỪNG NGẬP MẶN (Associate Species) Amaryllidaceae Cirinum asiaticum L. 34 Annonaceae Annona glabra L. 35 Apocynaceae Cerbera odollam Gaertn 36 Araceae Aglaodora grifflthii (Schou.) Schou 37 Lasia spinosa (L.) Thu. 38 Asclepiadaceae Finlaysona abovata Wall 39 Gymnanthera nitida R. Br. 40 Sarcolobus globosus Wall. 41 Asteraceae Pluchea indica (L.) Lees. 42 43 Tridax procumbeus L 44 Wedelia biflora (L.) ĐƯợC
Họ Thuỷ tiên Náng Họ Na Bình bát Họ Trúc Đào Mướp xác Họ Ráy Mái dầm Chốc gai. Mốp Họ Thiên lý Dây mủ Thiên lý dại Dây cám Họ Cúc Lức, Cúc tần Cỏ mui, Cúc mai Sơn cúc hai hoa
C C C
GB
G
C
G G
Họ Vòi voi Tâm mộc Nam bộ Họ Vang Gõ biển, Gõ nước Họ Rau muối Muối biển Họ Bàng Chưn bầu Bàng Họ Bìm bìm Muống biển
C
C C C C C C C C C
DL
DL
G
KS
G G
KS KS
Boruginaceae Cordia cochinchinensis Gaertn. 45 Caesalpiniaceae Intsia bijuga (Colebr.) O. Ktze 46 Chenopodiaceae Suaeda maritima (L.) Dum. 47 Combretaceae Combretum quadrangulare Kurz. 48 Terminalia catappa L. 49 Convolvulaceae Ipomoea pes-caprae (L.) Sw. subsp. 50 Brasiliense (L.) Ooststr. Cyperaceae Cyperus castaneus Willd. 51 Cyperus elatus L. 52 Cyperus malaccensis lam 53 54 Cyperus stoloniferus Vahl. 55 Cyperus tagetiformis Roxb. 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69
Fimbristylis ferruginea (L.) Vahl. Fimbristylis littoralis Fimbristylis milliacea (L.) Vahl. Fimbristylis subspicata Nees & Meg. Flagellariaceae Flagellaria ivdica L. Fabaceae Derris trifoliata Lour Guttiferae = Clusiaceae Calophyllum inophyllum L. Lauraceae Cassytha filiformis L. Lecythidaceae Barriintonia acutangula (L.) gaertn. Barringtonia asiatica (L.) Kutz. Baningtonia racemosa (L.) Spreng. Loranthaceae Dendropthoe pentandra (L.) Miq Viscum ovalifolium Willd. Malvaceae Hibiscus tiliaceus L
Họ Cói Cú rơm U du Cói, Lác nước Cú biển Lác chiếu, Lác gon Mạo thư sét Cỏ lông tượng Cỏ chát Mạo thư gié Họ Mây nước Mây nước Họ Đậu Cóc kèn Họ Măng Cụt Mù u Họ Long não Dây tơ xanh Họ Chiếc Chiếc Chiếc vàng, Bàng bí Tim lang Họ Tầm gửi Tầm gửi Tầm gửi lá dày Họ Bông Tra bụp
G
G
B
G/GB
G G
G
Tra lâm vồ Họ Mua Mua Họ Xoan Dái ngựa nước Họ Sim Trâm ổi Tràm chua Họ Dứa dại Dứa gai
C C C C C
DL
Họ Lúa Cỏ gà, Cỏ chỉ Cỏ lông công Cỏ san sát Sậy Cỏ gáy Họ Cà phê Lìm kìm Họ Gai me
DL
G
B Gn
DL
Pandanaceae Pandanus odoratissimus L. f. var Vietnamensis (Sy-John) Stones Poaceae = Graminae Cynodon dactylon (l. ) Pers. var. dactylon Diplachne fusca (L) Beauv. Paspalum vaginatum Swort Phragmitea vallatoria (L.) Veldk Sporobolus virginicus (L.) Kunth Rubiaceae Psychotria serpens Salvadoraceae Azima sarmentosa (Bl.) Benth. & Hook Chùm lé Styracaceac Styrax agrestis (Lour.) G. Don Verbenaceae Clerodendrum inemle (L.) Gaertn Premma integrifolia L Vitaceae Cayratis trifolia (L.) Domino
Họ Bồ đề Méc Họ Cỏ roi ngựa Ngọc nữ biển Cách, Vọng cách Họ Nho Dây vác
C C C C
Thespesia populnea (L.) Soland. ex. C 70 Melastomaceae 71 Melastomapolyanthus Meliaceae Amoora cucullata Roxb. 72 Myrtaceae 73 Eugenia jambolana 74 Melaleuca cajuputi Powell 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92
MỘT SỐ LOẠl NHẬP CƯ (some inmigrant species) Amaranthaceae ......................................Họ Dền Achyranthes aspera L. Altemanthera sessilis (L.) A. DC Amaranthus spinosus L. Amaranthus viridis L. Annonaceae Annona squamosa L. Annona muricata x A. Glabra Anacardiaceae
Cỏ xước Rau dệu Dền gai Dền xanh Họ Na G Mãng cầu ta Mãng cầu ghép Bình bát G Họ Xoài
Anacardium occidentale L. Lannea coromandelica (Houtt.) Merr.
G G G G
Spodiac pinnata (Koenig & L.f) Kurz Apocynaceae Catharanthus roseus (L.) G. Don
Điều Cóc chuột Xoài Cóc rừng Họ Trúc Đào Dừa cạn Lòng mức lông
C G
DL
var. cochinchinensis Pierre ex. Pit. Aganonerion polymorphum Piene Arecaceae – Palmea
Gt Gt
Lá dang Họ Cau dừa Dừa ăn trái Cọ dầu Họ Thiên Lý Cù mai
DL
Schult.
Rọ bầu dục
DL
Elliptica Asteraceae
C C C G
Bambusoidea
Gg Gg
Bignoniaceae
G
Bombacaceae
G G
Caesalpiniaceae
Gn G C G G G G
93 94 95 Mangifera inmdica L. 96 97 98 Wrightia tomentosa ro em. & Schult 99 100 Cocos nucifera L. 101 Elaeis guineensis Jacq Asclepiadaceae 102 Oxystelma esculentum (L.f) R.Br.ex 103 Secamone elliptica R. Br. Subsp. 104 Ageratum conyzoides L. 105 Eclipta alba (L.) Harsk 106 Eupatorium odoratum L 107 Vemonia cinera (L.) Less. 108 Bambusa sp 109 Bambusa sp 110 Oroxylom indicum (L.) Vent 111 Bombax anbidum Ggang 112 Ceiba pentandra (L.) Gaertn. 113 Bauhinia purpurea L. 114 Cassia fistula L. 115 Cassia tora L. 116 Ceasalpinia pulchemma Sw. 117 Delonix regia Raf 118 Peltophorum pterocarpum Bl 119 Tamarindus indica L. Capparaceae
Họ Cúc Cỏ cứt heo Cỏ mực Cỏ lào Bạch đầu ông Họ phụ tre trúc Tre gai Tre Họ Đinh Núc nác Họ Gòn Gòn rừng Gòn Họ Vang Móng bò Muống bò cạp Thảo quyết minh Kim phượng Phượng vĩ Lim xẹt Me chua Họ Cáp
B
Cauarinaceae
G
Commelinaceae
C C
Cyperaceae
C C C C C C C C C C C
B
Dioscoreaceae
Cáp gai nhỏ Họ Phi lao Phi lao Họ Rau trai Cỏ dầu rìu Rau trai Họ Cói Cú dẹp Cỏ tò ti, cỏ chao Cú rơm, U du rơm Cú rận Lác lông Cú ma Cú xạ Cỏ cú, Hương phụ Cú màu huyết Cương rìa Cỏ mây, Cương ruộng Họ Sổ Sổ bà Họ Khoai ngọt Khoai từ
D
Fasciculata Burk.
Từ nhám
D
Prain & Burk Euphorbiaceae
G C Gn C B
Fabaceae
120 Capparis micrantha DC. subsp. Micrantha 121 Casuarina equisetifolia J.R & G.Forst 122 Commelina bengalensis L. 123 Commelina communis L. 124 Cyperus compressus L 125 Cyperus difformis L 126 Cyperus halpan L. 127 Cyperus ria L. 128 Cyperus pilosus Vahl. 129 Cyperus polystachyos Rottb L 130 Cyperus radians Nees & Mey. ex Nees. 131 Cyperus rotundus L. 132 Cyperus sanguinulentus Vahl. 133 Scleria bancana Miq. 134 Scleria oblata S.T.Bl. Dilleniaceae 135 Dillenia indica L. 136 Dioscorea esculenta (Lour.) Burk.var. 137 Dioscorea triphylla L. var. reticulata 138 Antidesma ghaesembilla Gaertn. 139 Euphorbia hirta L. 140 Phyllanthus acidus (L.) Skeels 141 Phyllanthus urinaria L. 142 Manihot esculenta crantz 143 Asechynomene americana L. 144 Asechynomene aspera L. 145 Desneodium oblatum Bak. ex Kurz 146 Desmodum sp. 147 Erythrina variegata L. 148 Mecopus nidulans Benth. 149 Mucuna pruriens (L.) DC
Họ Thầu dầu Chòi mòi Cỏ sữa lông Chùm ruột Chó đẻ Sắn, Khoai mì Họ Đậu Điền ma quỹ Tổ đỉa Tràng quả Tràng quả Vông nem O chim Mắt mèo
C C D C G D D
B DL
Lauraceae
GN/B
Liliaceae
D
Malvaceae
C
B
G G
D
Mimosaceae
Điền thanh Dây dậu dại Họ Long não Bời lời Họ Bạch huệ Dây kim cang Họ Bông Bụp tía Họ Mua Mua Họ Xoan Xoan Xà cừ, sọ khỉ Họ Dây mối Dây hồ dắng lông Họ Trinh nữ
Keo tai tượng Sóng rắn Trinh nữ móc Trinh nữ nhọn Trinh nữ, Mắc cỡ
G G G B B C Gn Gn G
G G
Myrtaceae
G G G G G
Nyctaginaceae
D
Onagraceae
B
150 Sesbania sesban (L.) Men. 151 Vignaluteola (Jacq.) Benth 152 Litsea polyantha Juss 153 Smilax cambodiana Gagn 154 Hibiscus radiatus Cav. Melastomaceae 155 Melastoma affme D. Don. Meliaceae 156 Melia azedarach L. 157 Khaya senegalensis Juss Menispermaceae 158 Cissampelos pareira L. 159 Acacia auriculifolmis A. cuén. Ex Benth Keo lá tràm 160 Acacia manium Willd. 161 Albizia vialenea 162 Mimosa diplotricha C.W ex S. 163 Mimosa pigra L 164 Mimosa pudica L. 165 Leucoena leucocephala (Lamk.) de Wit Keo dậu Me keo 166 Pithecolobium dulce (Roxb.) Benth. Me tây 167 Samanea sa man (Jacq.) Men Họ Dâu tằm Moraceae Đa bồ dề 168 Ficus religiosa L. Mít 169 Artocarpus heterophyllus Lamk. Họ Sim Trâm gối, Trâm mốc 170 Eugeniajambolana Lam. Bạch đàn 171 Eucalytus sp. Bạch đàn trắng 172 Eucalyptus camaldulensis Dehnhart Bạch đàn 173 Eucalyptưs tereticomis J.E.Sm. Ổi 174 Psidium guiava L. Họ Bông phấn Bông giấy 175 Bougainvillea spectabilis Willd Họ Rau mương Rau mương thon 176 Ludwigia hyssopifolia (G. Don) Excell Họ Me dất
Oxalidaceae
G
Dx
Poaceae = Granminae
C C C C C C Hook. f C C C C C C C C C C
Polygonaceae
Gn
Rhamnaceae
B B
G
B B
Sapindaceae
Gn
Sapotaceae
G-B
Schizeaceae
Khế Họ Gạt nai Ráng gạt nai Họ Hoà bản Cỏ lá gừng Cước Lục lông Cỏ may Cỏ chân gà Cỏ mần trầu Tình thảo tích lan Cỏ tranh Cỏ bấc, Cỏ lúa Lúa Cỏ ống Cỏ trứng ếch Cỏ trứng rận Đuôi chồn râu Cỏ lá tre Họ Rám Nghe Họ Tảo Tảo gai Tảo Họ Đước Săng mà Họ Cà phê Cóc mẫn An điền sớm Họ Bồ hòn Nhan Họ Vú sữa Gàng néo Họ bòng bong Bòng bong Bòng bong
D D
177 Averrhoa carambola L. Parkeriaceae 178 Ceratopteris thalictroides (L.) Brongn 179 Axonopus compressus (Sw.) P. Beauv. 180 Cenchrus inflexus R. Br 181 Chloris barbata Sw 182 Chrysopogon aciculatus (Retz.) Trin 183 Dactyloctenium acgyptiacum 184 Eleusine indiea (L.) Geartn 185 Eragrostis clongata non Jacq. Stapf in Ischaemum ciliare Retz 186 187 Imperata cylindrica P.B 188 Leersia hexaudra Swarts 189 Oryza sativa L. 190 Panicum repens L. 191 Paspalum scrobiculatum L. 192 Poa amabilis Wight 193 Setaria aurea A. Br. 194 Setaria barbata (Lam.) Kunth 195 Setaria palmifolia (Koen.) Stapf 196 Polygonnum barbatum L. 197 Zizyphus ocnoplia (L.) Mill 198 Zizyphus mauritiana L. Rhixophoraceae 199 Carallia sp. Rubiaceae 200 Hedyotis corymlosa (L.) Lam 201 Oldenlandia preeox (Pit.) Phamhoang 202 Euphoria longan (Lour.) Steud 203 Manilkara hexandra (Roxb.) Dub. 204 Lygodium scandens (L.) Sw. 205 Lygodiumjaponieum (Thunb.) Sw.
D
B
G
Tiliaceae
B Gn/GB
Verbenaceae
Họ Hoa mõm chó Cam thảo nam Họ Cà Thù lù Họ Trôm Trôm đơn, Ngô đồng Họ Day Cò ke Họ Cỏ roi ngựa Bình linh xanh Bình linh ba lá
Gn/GB Gn/Gb
Nguyễn Bội Quỳnh (1997); Trương Thanh Tùng (1999).
: cây gỗ (tree)
DL : dây leo (vine) : cỏ (grass) C
Gn : cây gỗ nhỏ (smal tree) GB : cây gỗ dạng bụi (shrubby tree) DX : dương xỉ (fern) B
: cây bụi (shrub)
KS : ký sinh (parasite)
Scrophulariaceae 206 Scoparia dulcis L. Solanaceae 207 Physalis angvlata L. Sterculiaceae 208 Firmania simplex (L.) W.F.Wright 209 Colona nubea Gagang 210 Grewia sp. 211 Verbena pubescens Vahl. 212 Vitex pienei Craib Nguồn (Source): Viên Ngọc Nam ( 1 993) ; Phan Nguyên Hồng (1997, 1999); Ghi chú (note): G
Bến đò Đông Hòa (xã Long Hòa)
Lăng Ông Thủy Tướng (thị trấn Cần Thạnh)
Xã đảo Thạnh An
Du lịch cùng thuyền buồm trên sông Lòng Tàu
Bãi biển 30/4 (xã Long Hòa)
Resort 3 sao nằm kề bãi biển 30/4
Hoàng hôn ở sân chim Vàm Sát
Chim non ở sân chim Vàm Sát
Du thuyền câu cá sấu tại Vàm Sát
Tháp Tang Bồng tại Vàm Sát
Đàn dơi quạ đang đu mình trên ngọn cây (Vàm Sát)
Du thuyền vào tham quan Đầm Dơi (Vàm Sát)
DK cho khỉ ăn tại Lâm viên Cần Giờ
Lâm viên Cần Giờ (Đảo Khỉ)
Nhà nghỉ của Trung tâm dã ngoại
Trung tâm dã ngoại Thanh thiếu niên Tp. HCM
Rừng tái sinh nhân tạo ven đường Rừng Sác
Cổng chào Khu du lịch 30/4

