BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Cao Quốc Tuân
TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH AN GIANG
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành
: Địa lí học
Mã số
: 603195
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐÀO NGỌC CẢNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng công
bố ở các công trình khác.
Tác giả luận văn
Cao Quốc Tuân
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn cao học, tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn
Khoa Địa lý, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học trường Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu
và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Đồng thời tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy
hướng dẫn TS. Đào Ngọc Cảnh - người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình
làm luận văn, bằng tất cả sự tận tâm và lòng nhiệt tình của một người thầy. Bên cạnh
đó tác giả cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các anh chị cán bộ của Sở Văn hóa,
thể thao, du lịch tỉnh An Giang đã hỗ trợ và cung cấp một số tài liệu để tác giả có thể
hoàn thành được luận văn này.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ban Tổng Giám đốc, anh chị em
các Phòng, Ban của Công ty cổ phần Sách và Thiết bị Giáo dục Cửu Long - Nhà xuất
bản Giáo dục Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian trong suốt quá trình làm
đề tài.
Cuối cùng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân và các bạn
trong lớp Cao học Địa K18 đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả. Đó là nguồn động lực
rất lớn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................... 2
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................................. 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................................. 7
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................................. 8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ ..................................................... 9
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 10
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................... 10
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài........................................................................... 10
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................... 11
3.1. Mục tiêu của đề tài ............................................................................... 11
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................... 11
4. Giới hạn - phạm vi nghiên cứu của đề tài ........................................................ 11
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài .......................................... 12
5.1. Quan điểm nghiên cứu.......................................................................... 12
5.2. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 12
6. Cấu trúc luận văn ............................................................................................. 13
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG .......................................................................................... 15
1.1. Du lịch và vai trò của du lịch ........................................................................ 15
1.1.1. Khái niệm du lịch .............................................................................. 15
1.1.2. Vai trò của du lịch .............................................................................. 15
1.1.3. Các loại hình du lịch .......................................................................... 16
1.2. Tổ chức lãnh thổ du lịch ................................................................................ 17
1.2.1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch .............................................. 17
1.2.2. Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch ................................................... 18
1.2.3. Mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch ............................................... 19
1.3. Các nhân tố ảnh hưỏng tới tổ chức lãnh thổ du lịch ..................................... 20
1.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên ................................................................ 20
1.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ............................................................. 23
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật ........................................... 27
1.3.3.1. Cơ sở hạ tầng.............................................................................. 27
1.3.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật ............................................................... 28
1.3.4. Nhân tố chính trị ................................................................................ 30
1.3.5. Đường lối, chính sách ........................................................................ 32
1.3.6. Một số nhân tố khác .......................................................................... 32
1.4. Phát triển du lịch bền vững ........................................................................... 33
1.4.1 Phát triển bền vững ............................................................................. 33
1.4.2. Phát triển du lịch bền vững ................................................................ 34
1.4.2.1. Khái niệm ................................................................................... 34
1.4.2.2. Những nguyên tắc của du lịch bền vững.................................... 35
1.4.2.3. Các biện pháp nhằm đạt đến sự bền vững trong du lịch ............ 36
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN GIANG .............................................................................. 38
2.1. Khái quát chung về tỉnh An Giang ................................................................ 38
2.1.1. Vị trí địa lí ......................................................................................... 38
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên ............................................................................. 39
2.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội ..................................................................... 39
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang ................... 40
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ............................................................... 40
2.2.1.1. Địa hình và đất đai ..................................................................... 40
2.2.1.2. Tài nguyên khí hậu ..................................................................... 42
2.2.1.3. Tài nguyên nước......................................................................... 42
2.2.1.4. Tài nguyên sinh vật .................................................................... 42
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn ............................................................. 43
2.2.2.1. Các di tích lịch sử, văn hóa ........................................................ 43
2.2.2.2. Các lễ hội ................................................................................... 46
2.2.2.3. Các nghề và làng nghề thủ công truyền thống ........................... 47
2.2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật ............................................ 48
2.2.3.1. Cơ sở hạ tầng.............................................................................. 48
2.2.3.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật ............................................................... 50
2.2.4. Đánh giá về tài nguyên du lịch và sự phân bố tài nguyên du lịch ở An Giang ........................................................................................................... 55
2.3. Hiện trạng phát triển du lịch An Giang ......................................................... 57
2.3.1. Hiện trạng khách du lịch ................................................................... 57
2.3.2. Các khu du lịch ở An Giang .............................................................. 58
2.3.3. Các tuyến du lịch điển hình ............................................................... 61
2.3.4. Doanh thu du lịch và đầu tư phát triển du lịch .................................. 62
2.3.5. Lao động du lịch ................................................................................ 65
2.3.6. Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch An Giang ............................... 65
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN GIANG THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG .......................................... 68
3.1. Cơ sở để tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang ................................................. 68
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch bền vững Đồng bằng sông Cửu Long68
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh An Giang .................................... 69
3.2. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh An Giang ..................................... 71
3.2.1. Xây dựng các trung tâm, tuyến, điểm du lịch ................................... 71
3.2.2. Thị trường và sản phẩm du lịch ......................................................... 73
3.2.3. Xây dựng và phát triển các loại hình du lịch ..................................... 75
3.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật ................................ 75
3.2.5. Liên kết du lịch trong và ngoài tỉnh .................................................. 76
3.3. Giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tỉnh An Giang theo hướng bền vững .............................................................................................................................. 78
3.3.1. Quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch ........................ 78
3.3.2. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng phục vụ du lịch ........ 78
3.3.3. Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư du lịch ........................... 79
3.3.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch ........................... 79
3.3.5. Bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch .............................................. 80
3.3.6. Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ du lịch ............................. 81
3.3.7. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển du lịch ............................................................................ 81
3.3.8. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch ........................... 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................................... 83
1. Kết luận ............................................................................................................ 83
2. Kiến nghị .......................................................................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 86
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSVCKTDL : Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
VH – TT – DL : Văn hóa – Thể thao – Du lịch
ODA : Official Development Assistance
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
8
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình vẽ, bản đồ, biểu đồ
Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang
Hình 2.2: Biểu đồ số lượng cơ sở lưu trú và cơ sở lưu trú được xếp sao ở An
Giang
Hình 2.3: Bản đồ hiện trạng phân bố tài nguyên du lịch tỉnh An Giang
Hình 2.4: Biểu đồ thu nhập du lịch An Giang từ 2005 – 2009
Hình 3.1: Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
9
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì du lịch đã
dần trở thành một ngành quan trọng, giữ vị trí then chốt mang lại hiệu quả kinh tế - xã
hội và môi trường ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam nói chung và
tỉnh An Giang nói riêng.
An Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có thế mạnh về tài
nguyên tự nhiên và nhân văn, nguồn lao động, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật, An
Giang đã tận dụng được nguồn tài nguyên về du lịch để phát triển mạnh các loại hình
du lịch trong thời gian gần đây và đã đạt được kết quả đáng kể trong lĩnh vực này,
đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế của An Giang. Bên cạnh những mặt mạnh
khai thác được, việc tổ chức lãnh thổ du lịch của An Giang vẫn còn nhiều tiềm năng
chưa khai thác hết cũng như tồn tại nhiều hạn chế trong quá trình phát triển du lịch.
Trước thực trạng trên tôi quyết định chọn đề tài: "Tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
theo hướng phát triền bên vững" làm luận văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Tổ chức là một du lịch là một khái niệm còn khá mới mẻ nhưng đã được chú ý
rất nhiều trong thời gian gần đây. Vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch sao cho khai thác du
lịch nhằm mục đích bảo tồn và phát triển bền vững, đồng thời cải thiện đời sống nhân
dân địa phương trong đó hoạt động giáo dục môi trường là yếu tố cơ bản. Trong những
năm gần đây khách du lịch quốc tế thường nhắm đến các nước nhiệt đới với mục đích
hướng về tự nhiên. Năm 1995, Viện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam đã thực
hiện đề tài "Hiện trạng và những định hướng cho công tác quy hoạch phát triển du
lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long", nghiên cứu này căn cứ vào tiềm năng du lịch đã
đề xuất các loại hình du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long như: du lịch sông nước,
tham quan miệt vườn, vui chơi giải trí và du lịch vùng biển,... Năm 1998, công trình
nghiên cứu của Phan Huy Xu và Trần Văn Thành về "Đánh giá tài nguyên du lịch tự
nhiên và định hướng khai thác du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long",
công trình này xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế các tuyến điểm, cụm du lịch
10
sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu Long. Các đề tài nghiên cứu trên về cơ bản đã
định hình được việc tổ chức lãnh thổ du lịch ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tại An
Giang việc tổ chức rà soát, đánh giá tiềm năng du lịch của tỉnh cũng đã được tiến hành
nhằm thống kê tài nguyên du lịch của tỉnh và đã đề ra các giải pháp tổ chức lãnh thổ
cho phù hợp với tài nguyên của tỉnh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục tiêu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các tiềm năng phát triển du lịch của tỉnh An Giang,
trong đó đi sâu vào tìm hiểu thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh An Giang trên
cơ sở đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát để tổ chức lãnh thổ du lịch của
tỉnh theo hướng phát triển bền vững.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở có chọn lọc những vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ du lịch và phát
triển bền vững làm cơ sở cho việc thực hiện đề tài. Phân tích thực trạng phát triển du
lịch cũng như thực trạng tổ chức lãnh thổ, đề xuất các định hướng và giải pháp để tổ
chức lãnh thổ du lịch An Giang trong tương lai, nhằm phát huy tiềm năng du lịch của
tỉnh.
4. Giới hạn - phạm vi nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ thực tiễn tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh, phạm vi nghiên cứu của
đề tài chủ yếu tập trung ở các nội dung sau:
- Cơ sở lí luận về tổ chức lãnh thổ và phát triển bền vững;
- Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang;
- Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo hướng phát
triển bền vững.
Về mặt lãnh thổ, đề tài được nghiên cứu chủ yếu trên địa bàn tỉnh An Giang, tập
trung vào các điểm, khu du lịch, bên cạnh đó còn tìm hiểu mối quan hệ với các tỉnh
khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh tiếp giáp.
11
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm tổng hợp: đây là quan điểm nhằm nghiên cứu một cách tổng hợp tất
cả các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, nghiên cứu mối quan
hệ tác động của các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch, các nhân tố kinh tế xã hội
và sự biến động của chúng đối với tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, từ đó có thể đưa
ra những định hướng và giải tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang một cách hợp lí và hiệu
quả.
- Quan điểm lịch sử viễn cảnh: trong quá trình nghiên cứu cần chú ý đến nguồn
gốc lịch sử đối tượng mà đề tài nghiên cứu, từ đó lý giải được sự hình thành phát triển
của đối tượng, mà cụ thể ở đây là xem xét việc tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang trong
quá khứ, thực trạng phát triển hiện tại và đề ra những định hướng phát triển trong
tương lai.
- Quan điểm sinh thái: bản chất của tổ chức lãnh thổ du lịch là dựa trên môi
trường tự nhiên, trong quá trình nghiên cứu phải hết sức chú ý tới mối tương tác của
hoạt động du lịch và môi trường sinh thái. Phải xem xét một cách toàn diện tác động
của môi trường đến tổ chức lãnh thổ du lịch và ảnh hưởng của hoạt động của tổ chức
lãnh thổ du lịch. Dự báo được những nguy cơ, tác hại hoạt động du lịch có thể gây ra
cho môi trường để từ đó có những biện pháp bảo vệ môi trường đảm bảo cho hoạt
động du lịch An Giang phát triển.
- Quan điểm phát triển du lịch bền vững: du lịch dù có phát triển đến đâu cũng
cần mang tính bền vững. Trong quá trình nghiên cứu phải xem du lịch bền vững còn
có ý nghĩa rộng hơn cả việc bảo vệ môi trường thiên nhiên đó là phải xem xét một
cách hợp lí nhất, thỏa đáng nhất các yếu tố về con người, cộng đồng dân cư, văn hóa,
phong tục tập quán, lối sống,... đảm bảo cho du lịch phát triển cả trong hiện tại và
tương lai.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp đánh giá tổng hợp so sánh: trong hầu hết các tài liệu có được đều
liên quan đến vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang, hầu như các tài liệu đều rất
12
rộng và khó có được cụ thể cho một đề tài nghiên cứu nên dựa vào những tài liệu này
phân tích, tổng hợp, so sánh và rút ra những gì cần thiết và quan trọng cho đề tài, sắp
xếp lại theo trình tự một cách khoa học và logic.
- Phương pháp thống kê, biểu đồ: khi thu thập tài liệu liên quan đến tổ chức lãnh
thổ du lịch An Giang, nguồn tư liệu rất đa dạng và phong phú nên phương pháp này
giúp lựa chọn, xử lý thiết lập thành hệ thống để phục vụ cho việc nghiên cứu. Nguồn
thông tin, số liệu được thu thập từ nhiều nguồn tư liệu: cơ quan thống kê, sách báo, các
bài nghiên cứu khoa học, mạng internet,... để đảm bảo khối lượng thông tin đầy đủ,
chính xác đáp ứng cho việc nghiên cứu đề tài. Bên cạnh đó cũng sử dụng phương pháp
biểu đồ, dựa vào nguồn số liệu thống kê để xây dựng thành các biểu đồ, thể hiện các
con số một cách trực quan, sinh động, dễ nhìn ra vấn đề và cũng để minh họa cho vấn
đề.
- Phương pháp bản đồ: đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống trong Địa lý,
phản ánh những đặc điểm không gian, sự phân bố các tài nguyên du lịch, cơ sở hạ
tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Sử dụng các bản đồ thể hiện địa hình, thổ
nhưỡng, hành chính đến các bản đồ du lịch, là cơ sở để phân tích và phát hiện quy luật
hoạt động của hệ thống lãnh thổ du lịch, trên cơ sở đó đưa ra định hướng phát triển và
tổ chức hoạt động du lịch trong tương lai.
- Phương pháp thực địa: đây là một phương pháp cần thiết cho một nghiên cứu
về tổ chức lãnh thổ du lịch ở một vùng cụ thể, bên cạnh đó có thể kết hợp với phương
pháp điều tra xã hội học nghiên cứu nhu cầu của du khách, nắm bắt được sở thích thị
hiếu của du khách qua hình thức phỏng vấn, điều tra. Phương pháp này giúp nắm bắt
được thị trường tiềm năng, thị trường mục tiêu, nắm bắt được nguyện vọng không chỉ
của khách du lịch mà ngay cả những người làm công tác phục vụ du lịch và quản lí du
lịch.
Ngoài ra còn sử dụng nhiều phương pháp: trao đổi, phỏng vấn thầy cô, bạn bè, sử
dụng các phần mềm trong địa lí để thành lập bản đồ cần thiết.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lí luận về tổ chức lãnh thổ và phát triển bền vững.
13
- Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh
An Giang.
- Chương 3: Định hướng và giải pháp tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang theo
hướng phát triển bền vững.
14
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC
LÃNH THỔ DU LỊCH VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
1.1. Du lịch và vai trò của du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật
ngữ này được latinh hóa thành tornus và sau đó thành touriste (tiếng Pháp), tourism
(tiếng Anh). Theo Robert Lanquar từ touriste lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh
vào khoảng năm 1800.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ touriste được dịch thông qua tiếng Hán. Du nghĩa là
đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải.
Du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép. Một mặt nó mang ý nghĩa thông
thường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí... Mặt khác,
du lịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với những kết
quả kinh tế (sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra.
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi, liên quan tới sự di
chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi chữa
bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể
thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa (I.I
Pirogionic-1985).
1.1.2. Vai trò của du lịch
- Giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho du khách.
Du lịch còn đáp ứng được nhu cầu về vui chơi, giải trí, tìm hiểu thiên nhiên, xã
hội, nâng cao trình độ hiểu biết, khả năng học hỏi của con người. Nhiều công trình
nghiên cứu Y - Sinh học cho thấy: nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch tối ưu, bệnh tật của
dân cư trung bình giảm 30%, bệnh hô hấp giảm 40%, bệnh tim mạch giảm 50%, bệnh
thần kinh giảm 30%, bệnh về đường tiêu hóa giảm 20%... Đồng thời, du lịch là cơ sở
giúp người ta bảo tồn các nền văn hóa, tôn tạo lại các di tích lịch sử, các công trình văn
hóa, phục hồi các khu phố cổ, phục chế các di phẩm văn hóa... Qua việc tiếp xúc với
15
những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, du lịch làm tăng thêm
lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất đạo đức tốt đẹp, góp
phần hoàn thiện nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội.
- Đẩy mạnh phát triển ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và cơ cấu lao động.
Nhiều quốc gia, khu vực thông qua việc thỏa mãn thị trường hàng hóa và dịch vụ
du lịch đối với du khách đã có cơ hội làm giàu. Vì vậy, du lịch đã kích thích sự phát
triển của sản xuất, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia. Các quốc gia càng
phát triển thì vai trò của ngành du lịch càng lớn, chiếm tỷ trọng càng nhiều trong cơ
cấu nền kinh tế.
- Góp phần sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Nhờ sự phát triển của du lịch mà nhiều giá trị về tự nhiên, nhân văn được tái phát
hiện, được tôn tạo, được bảo tồn và phát triển, được biến thành các giá trị kinh tế. Rất
nhiều vùng núi, ven biển không thuận lợi cho phát triển và phân bố các ngành công
nghiệp hay nông nghiệp, nhưng cảnh quan thiên nhiên lại rất độc đáo, môi trường
không bị ô nhiễm, đó là những địa điểm lí tưởng cho du lịch.
Việc làm quen với các danh thắng và môi trường thiên nhiên bao quanh trong quá
trình du lịch còn tạo điều kiện cho du khách hiểu biết sâu sắc về tự nhiên, hình thành
quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên. Như vậy nó đã góp phần giáo dục cho du
khách về mặt sinh thái học.
- Du lịch như là một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc
tế, mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia.
Thông qua việc giao lưu, tìm hiểu về thiên nhiên, xã hội, các nét đẹp văn hóa...
của dân cư ở các vùng, miền khác nhau trên thế giới làm cho con người sống ở các
quốc gia, các châu lục khác nhau hiểu biết nhau và xích lại gần nhau hơn.
1.1.3. Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch đa dạng và phong phú, có thể chia thành các loại hình sau:
- Theo nhu cầu của khách: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi, du lịch văn hóa,
du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thể thao...
- Theo phạm vi lãnh thổ: du lịch trong nước, du lịch quốc tế...
16
- Theo vị trí địa lí của các cơ sở du lịch: du lịch biển, du lịch núi.
- Theo thời gian cuộc hành trình: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày.
- Theo hình thức tổ chức: du lịch có tổ chức, du lịch cá nhân.
- Theo phương tiện sử dụng: du lịch ô tô, du lịch xe đạp, du lịch máy bay, du lịch
tàu thủy...
1.2. Tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.1. Quan niệm về tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ xã hội gồm hai hình thức chủ yếu: tổ chức lãnh thổ nền sản xuất
xã hội và tổ chức lãnh thổ địa bàn cư trú con người.
Tổ chức lãnh thổ nền sản xuất xã hội bao gồm hàng loạt các hình thức tổ chức
lãnh thổ cấp thấp hơn với tư cách là các ngành kinh tế như: tổ chức lãnh thổ công
nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp... Các hình thức này nếu được tổ chức hợp lí thì
sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội.
Du lịch được hiểu "là một dạng hoạt động của cư dân trong thời gian nhàn rỗi,
liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm
nghỉ ngơi chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức và
văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên kinh tế và văn
hóa" (I.I.Pirôgiônic, 1985). Là một dạng hoạt động của con người, du lịch cũng có các
chức năng: chính trị, kinh tế, xã hội, sinh thái.
Trong nghiên cứu du lịch, tổ chức lãnh thổ là một trong những vấn đề được quan
tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động du lịch nếu
không xem xét khía cạnh không gian lãnh thổ của nó, để hoạt động du lịch phát triển
hiệu quả, vừa mang tính chất nghỉ ngơi, chữa bệnh... vừa là một ngành kinh tế mũi
nhọn của nhiều nước trên thế giới, tổ chức lãnh thổ du lịch phải hợp lí khoa học.
Thực tế, tổ chức lãnh thổ du lịch chính là sự phân hóa không gian của du lịch căn
cứ trên các điều kiện tài nguyên du lịch, hiện trạng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ
thuật và lao động ngành cùng các mối liên hệ với điều kiện phát sinh của ngành với
các ngành khác, với các địa phương khác và rộng hơn là mối liên hệ với các nước
trong khu vực và trên thế giới.
17
Sơ đồ 1.1: Vị trí tổ chức lãnh thổ du lịch trong tổ chức lãnh thổ xã hội
Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống
liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa
trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn nhân), kết cấu
hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất
1.2.2. Vai trò của tổ chức lãnh thổ du lịch
Việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch và xây dựng các hình thức tổ chức theo
không gian hợp lí giúp cho hoạt động du lịch có điều kiện để sử dụng hợp lí và khai
thác có hiệu quả các nguồn lực vốn có của cả nước nói chung và từng địa phương nói
riêng. Sự hình thành các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch phù hợp chính là chìa khóa
để sử dụng hợp lí và hiệu quả hơn các nguồn du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch -
điều kiện cần thiết để phát triển du lịch.
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch tạo điều kiên đẩy mạnh chuyên môn hóa du
lịch. Khi nền sản xuất đã phát triển, nhu cầu du lịch càng cao thì sự chuyên môn hóa
du lịch càng sâu sắc, thông thường ngành du lịch có 4 hướng chuyên môn hóa sau:
Chuyên môn hóa theo loại hình dịch vụ.
Chuyên môn hóa theo du lịch.
Chuyên môn hóa theo giai đoạn của quá trình du lịch.
Chuyên môn hóa theo các công đoạn sản xuất dịch vụ du lịch.
18
Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch nói chung và vạch ra các tuyến, điểm du lịch
trên một đơn vị lãnh thổ nói riêng, góp phần quan trọng trong việc tạo ra những sản
phẩm du lịch đặc sắc có khả năng thu hút khách du lịch, nhằm tăng khả năng cạnh
tranh. Tài nguyên du lịch chỉ được khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra
những sản phẩm du lịch đáp ứng yêu cầu khi có sự tổ chức lãnh thổ du lịch và việc xây
dựng các tuyến, điểm du lịch hợp lí.
Việc tổ chức lãnh thổ du lịch tốt không những góp phần làm ra lợi ích, làm thay
đổi bộ mặt kinh tế của mỗi vùng và cộng đồng, mà còn thúc đẩy vấn đề kiểm soát môi
trường, bảo tồn di sản văn hóa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở cả những nơi không
phong phú tài nguyên. Tổ chức lãnh thổ du lịch cũng tạo sự thúc đẩy con người và các
quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau, làm cho du lịch có tính trao đổi xuyên văn
hóa.
Tuy nhiên, tổ chức lãnh thổ du lịch không có tính thống nhất và khoa học sẽ gây
ra nhiều thiệt hại như làm mất đi những lợi ích kinh tế tiềm năng, suy giảm môi
trường, làm mất đi sự thống nhất bản sắc văn hóa.
Vì vậy, để đạt được lợi ích du lịch và hạn chế tối đa những vấn đề nảy sinh, việc
tổ chức tốt và quản lí có hiệu quả du lịch là rất cần thiết.
1.2.3. Mục tiêu của tổ chức lãnh thổ du lịch
Tổ chức lãnh thổ du lịch có thể cung cấp một sự cải thiện về du lịch nếu như nó
hướng trực tiếp đến hàng loạt các mục tiêu chủ yếu. Ở đây những mục tiêu được xác
định dựa trên sự khác nhau của các đối tượng du lịch. Các đối tượng du lịch đó phải
thật sự cụ thể, rõ ràng để công tác tổ chức du lịch được diễn ra một cách thuận lợi và
đồng bộ trong một thời gian nhất định. Những mục tiêu này là tiền đề đối với sự hình
thành ý tưởng cũng như xác định mục đích và cung cấp một nền tảng thống nhất cho
sự xác nhận của các chính sách du lịch. Theo Clare A.Gunn (1993) có 4 mục tiêu cơ
bản khi tiến hành công tác tổ chức lãnh thổ du lịch:
+ Đáp ứng sự hài lòng và thỏa mãn của khách du lịch.
+ Đạt được những thành quả về kinh doanh và kinh tế.
+ Bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch.
+ Sự thống nhất ở vùng du lịch và cộng đồng.
19
Các mục tiêu trên phải được xem như là những động cơ thúc đẩy đối với tất cả
những nhà nghiên cứu, các cơ quan hữu quan tham gia vào dự án phát triển du lịch có
tính chiến lược và đối sách cần thiết nhằm thực hiện được chúng, đối với cả nước nói
chung và từng địa phương nói riêng.
1.3. Các nhân tố ảnh hưỏng tới tổ chức lãnh thổ du lịch
1.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự
nhiên xung quanh chúng ta được lôi cuốn vào việc phục vụ cho mục đích du lịch.
Các thành phần tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch có tác động mạnh nhất
đến hoạt động này là địa hình, khí hậu, nước, động - thực vật.
- Địa hình:
Ảnh hưởng quan trọng của địa hình đến du lịch là các đặc điểm hình thái của địa
hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn du khách.
Về mặt hình thái của địa hình, với các dạng địa hình cơ bản là: đồng bằng, địa
hình đồi và địa hình miền núi.
Địa hình đồng bằng do đơn điệu về hình thái, ít hấp dẫn khách du lịch. Nhưng
đây lại là địa bàn kinh tế xã hội phát triển và lâu đời. Thông qua các hoạt động sản
xuất, văn hóa xã hội của con người, miền địa hình này có ảnh hưởng gián tiếp đến du
lịch.
Địa hình vùng đồi thường là nơi có không gian thoáng đãng thích hợp cho các
hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan,…Nơi đây cũng có truyền thống sản xuất lâu
đời, dân cư tập trung đông đúc; thường là nơi có nhiều di tích khảo cổ, tài nguyên văn
hóa lịch sử độc đáo, phát triển loại hình du lịch tham quan theo chuyên đề.
Miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch. Khu vực này thuận lợi cho nghỉ
ngơi, an dưỡng, tổ chức hoạt động thể thao mùa đông. Miền núi còn là tập trung nhiều
loài động thực vật, cùng với cảnh quan địa hình tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có
giá trị cho phát triển du lịch.
Các dạng địa hình đặc biệt hấp dẫn du khách nhất là địa hình karstơ và địa hình
ven biển.
20
+ Địa hình karstơ là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong
các đá dễ hòa tan (đá vôi, đôlômit, thạch cao...). Ở nước ta chủ yếu là đá vôi. Một
trong những dạng địa hình karstơ được quan tâm nhất đối với du lịch là các hang động
karstơ. Trên thế giới có khoảng 650 hang động với 25 hang dài nhất, 25 hang sâu nhất.
Điển hình có: Hang Sistema de Trave (Tây Ban Nha) sâu 1380 m, hang Flint
Mammauth Cave System (Hoa Kì) dài 530 km, hang Optimistices Kaya (Ucraina)...
Ở nước ta, hang động karstơ tuy không sâu, không dài, nhưng phong cảnh rất
đẹp. Động Phong Nha (Bố Trạch - Quảng Bình) dài gần 8 km, cao 10 m là hang nước
đẹp vào loại bậc nhất thế giới. Ngoài ra phải kể đến Bích động (Ninh Bình), Hương
Tích (Hà Tây), hang Bồ Nâu, hang Luồn (Quảng Ninh), vịnh Hạ Long...
+ Địa hình ven biển có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch, có thể khai thác để
phát triển nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ mát, tắm biển, thể thao dưới
nước, tham quan hệ sinh thái đảo ven bờ... Để đánh giá mức độ thuận lợi cho du lịch
của các bãi biển, có nhiều tiêu chí như: dài, rộng, độ mịn của cát, độ dốc, độ mặn, độ
trong của nước... Du lịch biển là loại hình thu hút du khách đông nhất. Ở Việt Nam
những bãi tắm đẹp nhất kéo dài liên lục từ Đại Lãnh đến Nha Trang. Đây là tiềm năng
to lớn để phát triển du lịch biển có khả năng cạnh tranh với các nước trong du lịch.
- Khí hậu:
Khí hậu cũng là một tài nguyên du lịch khá quan trọng. Trong đó hai yếu tố của
khí hậu: nhiệt độ và độ ẩm không khí là quan trọng nhất. Ngoài ra gió, áp suất khí
quyển, số giờ nắng, sự phân mùa và các hiện tượng thời tiết đặc biệt có tác động đến tổ
chức du lịch.
Đặc biệt là sự phân mùa của khí hậu làm cho du lịch có tính mùa rõ rệt. Các vùng
khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu.
Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc chỉ
một số tháng.
+ Mùa đông: là mùa du lịch trên núi, đặc biệt là loại hình du lịch thể thao.
+ Mùa hè: là mùa du lịch quan trọng nhất vì có thể phát triển nhiều loại hình du
lịch, đặc biệt là du lịch biển, trên núi, các loại hình du lịch ngoài trời.
+ Mùa du lịch cả năm: thích hợp với du lịch núi, nước khoáng chữa bệnh. Các
vùng khí hậu nhiệt đới và xích đạo mùa du lịch hầu như là cả năm.
21
Đối với tổ chức các dịch vụ du lịch, các tuyến du lịch cần chú ý đến các hiện
tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở kế hoạch du lịch như bão, gió mùa, gió phơn, lũ lụt,
mùa mưa.
Thông thường du khách thường ưa thích những điểm du lịch không quá nóng,
quá lạnh, quá ẩm, quá khô hay nhiều gió.
- Nguồn nước:
Tài nguyên nước phục vụ du lịch gồm có nước trên bề mặt và nước dưới đất
(nước khoáng).
Tài nguyên nước trên bề mặt bao gồm mạng lưới sông ngòi, ao, hồ nước ngọt và
nước mặn. Nó có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp nước cho các khu du lịch, phát triển
các loại hình du lịch đa dạng như: hồ, sông nước...
Trong tài nguyên nước cần phải nói đến nước khoáng với giá trị chủ yếu cho du
lịch an dưỡng và chữa bệnh.
Nước khoáng là nước thiên nhiên có một số thành phần vật chất đặc biệt (các
nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố phóng xạ...) hoặc có một số tính chất vật lí
(nhiệt độ, độ pH...) có tác dụng đối với sức khỏe con người, đặc biệt là để chữa bệnh.
Các nguồn nước khoáng là cơ sở để phát triển du lịch chữa bệnh, an dưỡng.
Phân theo tác dụng chữa bệnh của các nguồn nước khoáng có các nhóm sau:
Nhóm nước khoáng cacbonic: là nhóm nước khoáng quý có công dụng giải khát,
chữa một số bệnh cao huyết áp, xơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh về thần kinh ngoại
biên. Tiêu biểu trên thế giới là nước khoáng Vichy của Pháp, nước ta có nước khoáng
Vĩnh Hảo (Ninh Thuận).
Nhóm nước khoáng silic: có tác dụng chữa một số bệnh về đường tiêu hóa, thần
kinh, thấp khớp, phụ khoa. Ở nước ta có nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), Hội Vân
(Bình Định)
Nhóm nước khoáng Brom - iot - bo: Có tác dụng chữa bệnh ngoài da, thần kinh,
phụ khoa...Việt Nam có nước khoáng Quang Hanh (Cẩm Phả - Quảng Ninh) và Tiên
Lãng (Hải Phòng).
Ngoài ra còn một số nhóm khác: sunfuahydro, asen - fluo, liti...cũng có giá trị với
du lịch - nghỉ ngơi, chữa bệnh.
22
- Sinh vật:
Tài nguyên sinh vật là loại hình du lịch sinh thái, trong đó các khu bảo tồn thiên
nhiên có vai trò quan trọng. Có những hệ sinh thái, sinh vật phục vụ cho tham quan du
lịch như: các thảm thực vật phong phú, độc đáo và điển hình (rừng nhiệt đới ẩm
thường xanh, rừng ngập mặn...) có các loài động vật quý hiếm (chim, thú...), các loài
đặc sản phục vụ cho ẩm thực hoặc các loài phổ biến có thể săn bắn... Ngoài ra, sinh vật
còn phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học như ở những khu bảo tồn thiên nhiên,
vườn quốc gia. Ở nước ta, điển hình có rừng Cúc Phương, Cát Bà, Cát Tiên, Kẻ Bàng,
Bà Nà...
Tài nguyên du lịch tự nhiên có tính chất tổng hợp và giá trị cao trong du lịch là
các Di sản thiên nhiên thế giới. Việt Nam có 2 di sản thiên nhiên thế giới là Vịnh Hạ
Long (Quảng Ninh), động Phong Nha (Quảng Bình).
Ngày nay thị hiếu về du lịch ngày càng đa dạng, con người hướng về thiên nhiên
nhiều hơn, thích du lịch sinh thái hơn. Do vậy tài nguyên du lịch sinh vật có ý nghĩa
rất quan trọng.
1.3.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
- Khái niệm:
Tài nguyên du lịch nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra
trong quá trình phát triển. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các
yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến
trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi
vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
- Đặc điểm:
+ Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn là giải trí.
+ Việc tìm hiểu diễn ra trong thời ngắn, do đó trong chuyến đi du lịch có thể đi
tham quan nhiều đối tượng tài nguyên.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các thành phố, ở các điểm
quần cư nên không cần xây dựng thêm cơ sở vật chất riêng.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn không có tính mùa vụ như tài nguyên du lịch tự
nhiên
23
+ Đối với tài nguyên du lịch nhân văn, khách quan tâm là những người có trình
độ văn hóa cao, có mức sống cao và hiểu biết rộng
+ Sở thích của người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn phụ thuộc vào độ tuổi,
trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, vốn trí thức của họ.
(Điều 13, chương II. Luật du lịch Việt Nam số 44/2005/QH 11 ngày 14 tháng 6
năm 2005).
Tài nguyên du lịch nhân văn được chia thành các loại sau:
- Các di tích lịch sử, văn hóa:
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, nó thể hiện truyền
thống tốt đẹp, tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị về văn hóa, nghệ thuật của mỗi quốc gia.
Nói một cách khác, di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách
quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, về văn hóa do con người sáng
tạo ra trong lịch sử để lại.
Ở Việt Nam theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng
cảnh, công bố ngày 4 tháng 4 năm 1984 được quy định:
" Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu
và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như văn hóa khác, hoặc
liên quan đến các sự kiện lịch sử, qua trình phát triển văn hóa - xã hội ".
" Danh lam thắng cảnh là những khu vực thiên nhiên hoặc có những công trình
cổ nổi tiếng ".
Do đó:
Chỉ những di tích nào có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, nghệ thuật mới được
coi là những di tích lịch sử văn hóa.
Cần đánh giá đúng giá trị của các di tích theo các thang giá trị khác nhau, những
di tích cũng được phân thành những cấp khác nhau: các di tích cấp quốc gia và cấp địa
phương, những di tích có giá trị đặc biệt được coi là di sản thế giới.
+ Các di tích lịch sử - văn hóa nói chung được phân chia thành:
Di tích khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về
thời kì lịch sử xa xưa.
24
Di tích lịch sử: là các di tích gắn với đặc điểm và quá tình phát triển của mỗi dân
tộc, mỗi quốc gia. Loại hình này gồm di tích ghi dấu về dân tộc học, di tích ghi dấu sự
kiện chính trị quan trọng, di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược, di tích ghi dấu sự
vinh quang trong lao động, di tích ghi dấu tội ác của các thế lực phản động.
Di tích văn hóa nghệ thuật: Là các di tích gắn với các công trình kiến trúc, có giá
trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật. Nó chứa đựng giá trị kiến trúc và giá trị
văn hóa tinh thần.
Các loại danh lam thắng cảnh: Phong cảnh đẹp hòa quyện với các công trình
mang tính chất văn hóa - lịch sử. Tại đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên mà còn có
giá trị nhân văn sâu sắc.
Các bảo tàng: bảo tàng là nơi lưu giữ các tài sản văn hóa dân tộc, truyền thụ tri
thức chấn hưng tinh hoa truyền thống.
+ Các di tích nhân văn có giá trị đặc biệt được xếp vào di sản của thế giới: 7 kỳ
quan thế giới (kim tự tháp Ai Cập; vườn treo Babilon; tượng khổng lồ Heliôt - trên đảo
Rôt; lăng mộ vua Mozon ở Halicacnasơ; đền thờ Actemic ở Ephedơ; tượng thần Dớt ở
Olempia và ngọn hải đăng Alexandria).
Ở Việt Nam có các di sản văn hóa được công nhận là di sản văn hóa thế giới: Cố
đô Huế, Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, nhã
nhạc Cung Đình Huế.
- Các lễ hội:
Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt văn
hóa tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền
thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ, khát khao mà
cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
Lễ hội gồm có hai phần: phần lễ và phần hội
Phần lễ: với những nghi thức trang nghiêm, trọng thể, mở đầu ngày hội, mang
tính tưởng niệm lịch sử, hướng về lịch sử hay một nhân vật lịch sử có ảnh hưởng lớn
đến sự phát triển xã hội. Nghi thức lễ hội nhằm bày tỏ tôn kính với các bậc thánh hiền
và thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh, hạnh phúc.
25
Phần hội: được diễn ra với các hoạt động điển hình, tượng trưng cho tâm trí cộng
đồng, văn hóa dân tộc, chứa đựng những quan niệm của dân tộc đó với lịch sử, xã hội
và thiên nhiên. Trong lễ hội thường có các trò chơi, thi hát... Đình làng thường là nơi
diễn ra các lễ hội, các lễ hội làng thường vào mùa xuân.
Từ rất lâu ngôi đình đã dựng mốc cho các chuẩn mực văn hóa, định hình cho đời
sống tâm linh và đạo đức của từng thành viên trong làng. Mỗi làng đều có đình thờ
Thành Hoàng làng. Những ngày mất, ngày sinh của Thành Hoàng trở thành ngày hội
để người dân nhớ ơn, tưởng niệm.
- Các nghề và làng nghề thủ công truyền thống:
+ Thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động
+ Thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người
+ Nước ta là nước có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc
đồng, nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt... mỗi nghề
đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo.
- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học:
Mỗi dân tộc có một điều kiện sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt
động sản xuất mang sắc thái riêng và có địa bàn cư trú nhất định. Khi khoảng cách về
không gian địa lí được rút ngắn rất nhiều nhờ những thành tựu trong lĩnh vực giao
thông, viễn thông và internet, trên Trái Đất không còn những nơi bí ẩn, những nơi
chưa được khám phá. Nhưng về nhiều mặt, các dân tộc vẫn còn xa lạ với nhau. Đó
chính là sức hút trong du lịch dân tộc học.
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục lạ về
cư trú, tổ chức xã hội, thói quen ăn uống, sinh hoạt, kiến trúc cổ, các nét truyền thống
trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc...
Trên thế giới, mỗi dân tộc đều thể hiện những sắc thái riêng của mình để thu hút
khách du lịch. Người Tây Ban Nha ở vùng biển Địa Trung Hải với nền văn hóa
Phlamango và truyền thống đấu bò là đối tượng hấp dẫn khách du lịch ở Châu Âu. Các
đất nước Italia, Hy lạp là những cái nôi của nền văn minh Châu Âu. Kho tàng văn hóa
phong phú, độc đáo là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển.
26
Việt Nam với 54 dân tộc vẫn giữ được những phong tục tập quán, hoạt động văn
hóa văn nghệ đặc sắc, những làng nghề truyền thống với những sản phẩm nổi tiếng
mang tính chất nghệ thuật cao, đặc biệt là các nghề trạm khắc, đúc đồng, dệt tơ lụa,
sơn mài, gốm sứ... Các món ăn dân tộc độc đáo với nghệ thuật cao về chế biến và nấu
nướng.
- Các đối tượng văn hóa - thể thao và hoạt động nhận thức khác:
Các đối tượng du lịch văn hóa - thể thao thường tập trung ở các thủ đô và các
thành phố lớn, đó là trung tâm của các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện
lớn và nổi tiếng, các trung tâm thường xuyên diễn ra liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện
ảnh, thể thao...
Đối tượng văn hóa - thể thao thu hút không chỉ khách tham quan nghiên cứu mà
còn lôi cuốn nhiều khách du lịch với mục đích khác. Khách du lịch có trình độ văn hóa
trung bình trở lên đều có thể thưởng thức các giá trị văn hóa của đất nước mà họ đến
tham quan. Do vậy, tất cả các thành phố có các đối tượng văn hóa, hoặc tổ chức các
hoạt động văn hóa - thể thao đều trở thành những trung tâm du lịch văn hóa.
1.3.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
1.3.3.1. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cũng như tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến. Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các
mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ
thống cấp thoát nước và xử lí rác thải... trong đó giao thông vận tải là nhân tố quan
trọng hàng đầu.
*Giao thông vận tải ảnh hưởng đến sự phát triển và phân vùng du lịch trên cả hai
phương diện: số lượng, chất lượng của các loại hình và phương tiện giao thông vận tải.
Do đặc thù của hoạt động du lịch là sự di chuyển của con người trên một khoảng cách
nhất định vì vậy nó phụ thuộc nhiều vào giao thông. Chiều dài của mạng lưới giao
thông vận tải chứng tỏ mức độ dễ hay khó trong việc tiếp cận điểm du lịch, số lượng
phương tiện giao thông vận tải chứng tỏ khả năng vận chuyển hành khách, số lượng
loại hình vận chuyển gia tăng sẽ làm cho hoạt động du lịch trở nên tiện lợi và linh
27
hoạt, có khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu của du khách, về mặt chất lượng vận
chuyển cần xét đến 4 khía cạnh là tốc độ, an toàn, tiện nghi và giá cả.
- Tốc độ vận chuyển: việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiết kiệm thời gian đi
lại và kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch.
- Đảm bảo an toàn vận chuyển: ngày nay, sự tiến bộ kỹ thuật đã làm tăng tính an
toàn trong vận chuyển hành khách và điều này sẽ thu hút được nhiều người tham gia
vào hoạt động du lịch.
- Đảm bảo tiện nghi của các phương tiện vận chuyển nhằm làm vừa lòng hành
khách.
- Vận chuyển có giá rẻ: giá cước vận tải có xu hướng giảm, hợp lí thì nhiều tầng
lớp nhân dân có thể tham gia vào hoạt động du lịch.
Nhìn chung mỗi loại hình giao thông có những ưu điểm riêng nên có những ảnh
hưởng nhất định phù hợp với địa điểm du lịch cũng như đối tượng du khách. Đặc biệt
sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển du
lịch ở cả mức độ quốc gia và quốc tế.
*Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du
lịch, là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc
tế. Đối với hoạt động du lịch, thông tin liên lạc không những đảm nhận việc chuyển
các tin tức một cách nhanh chóng, kịp thời góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa
các vùng, các quốc gia mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc quảng bá du lịch.
Thông tin, hình ảnh của các điểm du lịch được quảng bá rộng khắp sẽ tạo một lực hút,
kích thích nhu cầu của khách du lịch tiềm năng muốn khám phá vẻ đẹp và các giá trị
của điểm du lịch đó. Nhân tố này ngày càng có vai trò to lớn đối với sự phát triển của
ngành du lịch, đặc biệt là trong thời đại thông tin hiện nay.
*Hệ thống điện, thiết bị xử lí cấp thoát nước, xử lí rác thải vừa góp phần tạo ra
những điều kiện đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho du khách và các hoạt động du lịch vừa
tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách.
1.3.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (CSVCKTDL) bao gồm toàn bộ các phương tiện
dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.
28
CSVCKTDL là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung
cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch
nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí,
chữa bệnh, mua sắm. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKTDL của mỗi
vùng, mỗi quốc gia được xem như một trong những biểu hiện cho sự phát triển cũng
như hiệu quả của việc khai thác tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch tại
vùng, quốc gia đó. Sự kết họp hài hòa giữa tài nguyên du lịch và CSVCKTDL giúp
cho sự hoạt động có hiệu quả của cơ sở phục vụ du lịch, kéo dài thời gian sử dụng
chúng trong năm. Chính vị trí của tài nguyên du lịch là căn cứ để bố trí hợp lí
CSVCKT trên các vùng lãnh thổ và là tiền đề căn bản để hình thành các trung tâm du
lịch. Ngược lại, cơ sở phục vụ du lịch cũng có tác động nhất định tới mật độ sử dụng
tài nguyên du lịch, giữ gìn bảo vệ chúng và đến lượt mình, CSVCKTDL lại có thể tạo
ra, thực hiện các sản phẩm du lịch.
CSVCKTDL bao gồm nhiều thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác
nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú; mạng lưới cửa hàng thương nghiệp;
các cơ sở thể thao; cơ sở y tế, các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và
cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác. Có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của
CSVCKTDL đó là: Đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho nghỉ ngơi du lịch; Hiệu quả
kinh tế tối ưu trong xây dựng và khai thác; Thuận tiện cho du khách.
*Cơ sở phục vụ ăn uống lưu trú: là thành phần đặc trưng nhất trong toàn bộ hệ
thống CSVCKTDL gồm những công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn nghỉ và giải
trí cho khách du lịch. Đó là các cơ sở lưu trú du lịch xã hội, nhà hàng, khách sạn...
*Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: đáp ứng về nhu cầu hàng hóa của khách du
lịch thông qua việc bày bán các mặt hàng đặc trưng của du lịch, hàng thực phẩm và
các hàng hóa khác.
*Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm tăng hiệu
quả sử dụng của các cơ sở lưu trú, phục vụ ăn uống và làm phong phú thêm các loại
hình hoạt động du lịch.
*Cơ sở y tế: các cơ sở y tế nhằm phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ
bổ sung tại các điểm du lịch.
29
*Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa phục vụ du lịch nhằm mục
đích nâng cao, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội cho du khách cũng như giúp họ cảm
thấy thoải mái trong kỳ nghỉ của mình. Đó là các trung tâm văn hóa - thông tin, phòng
chiếu phim, phòng triển lãm, câu lạc bộ, nhà hát...
*Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu,
hiệu ảnh, bưu điện... là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để hơn tài
nguyên du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại điểm du lịch.
Như vậy, quá trình phát triển của ngành du lịch nói chung và tổ chức lãnh thổ du
lịch nói riêng chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố khác nhau. Du lịch chỉ có thể
phát sinh, phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh thuận lợi nhất định. Trong số
các nhân tố trên có những nhân tố tác động trực tiếp đến việc hình thành nhu cầu du
lịch và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch, bên cạnh đó có những nhân tố mang
tính phổ biến nằm trong các mặt của đời sống xã hội và cũng có những điều kiện gắn
liền với đặc điểm của từng khu vực địa lí. Tuy nhiên tất cả các nhân tố này đều có
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành môi trường cho sự phát
sinh, phát triển du lịch. Mặt khác, bản thân sự có mặt, sự phát triển của du lịch cũng
trở thành một nhân tố của môi trường đó và do vậy nó có thể tác động hoặc tích cực
hoặc ngược lại.
1.3.4. Nhân tố chính trị
Bất cứ một sự xáo động chính trị, xã hội nào dù lớn hay nhỏ cũng đều ảnh hưởng
trực tiếp đến hoạt động du lịch. Ổn định và an toàn là yếu tố có ý nghĩa to lớn đối với
du khách và cơ quan cung ứng du lịch. Theo Bậc thang nhu cầu của Maslow thì nhu
cầu được an toàn (không phải lo lắng, sợ hãi điều gì) là nhu cầu cơ bản xếp thứ hai sau
nhu cầu sinh học. Vì vậy, khi có một thông tin bất ổn về chính trị, xã hội xảy ra tại một
điểm du lịch nào đó thì khó có thể thu hút được khách du lịch tới điểm đó. Không khí
chính trị hòa bình đảm bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, khoa học kỹ
thuật, văn hóa chính trị giữa các dân tộc. Một khu vực, một quốc gia hay một vùng
lãnh thổ có bầu không khí chính trị hòa bình và ổn định kết hợp với các tài nguyên du
lịch sẵn có của lãnh thổ sẽ tạo nên sức hấp dẫn với đông đảo quần chúng nhân dân -
các khách du lịch tiềm năng. Tại những vùng không có những biến cố về chính trị,
quân sự họ cảm thấy yên ổn, tính mạng được coi trọng và họ có điều kiện đi lại tự do
30
mà không có cảm giác lo sợ, có thể gặp gỡ dân bản xứ, giao thiệp và làm quen với
phong tục tập quán của địa phương mà không bị cản trở bởi sự phân biệt chủng tộc và
tôn giáo nào. Do vậy, nhờ du lịch mà các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, gần gũi nhau hơn
và có khuynh hướng hòa bình hơn. Điều này giải thích tại sao các tổ chức quốc tế phát
động năm 1987 là năm du lịch quốc tế dưới khẩu hiệu "Du lịch là giấy thông hành của
hòa bình".
Ngược lại, sự phát triển của du lịch sẽ gặp khó khăn nếu tại phạm vi một lãnh thổ
nào đó xảy ra các sự kiện (như đảo chính, bất ổn chính trị, nội chiến, khủng bố...) làm
xấu đi tình hình chính trị, hòa bình và ổn định thì sẽ trực tiếp và gián tiếp làm giảm sức
hút du lịch, ảnh hưởng xấu đến lượng khách du lịch cũng như các công trình du lịch,
lưu thông và cả môi trường tự nhiên. Nam Tư, Ai Cập hay đất nước Thái Lan trong
những năm gần đây là những ví dụ về tác động của tình hình an ninh chính trị đến du
lịch. Trước thập kỷ 90, Nam Tư là một điểm sáng trên bản đồ du lịch thế giới nhưng
do tình trạng bất ổn chính trị, chiến tranh nên đến nay hoạt động du lịch ở Nam Tư
hoàn toàn trở nên mờ nhạt. Thái Lan, đất nước hàng năm thu hút một lượng khách du
lịch lớn với những dịch vụ du lịch độc đáo nhưng hiện nay do sự xung đột giữa các
đảng phái khiến cho lượng khách du lịch giảm một cách đáng kể. Ngành du lịch của
Thái Lan chiếm 5% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra 2 triệu việc làm, chiếm tới 7%
trong tổng số lực lượng lao động của cả nước. Theo chủ tịch Hiệp hội các công ty du
lịch Thái Lan Apichart Sankary, nhiều đoàn khách đã hủy chuyến đến Thái trong khi
những du khách đang ở Bangkok hối hả rời khỏi nơi này. Ông Kongkrit Hiranyakit,
chủ tịch Hội đồng du lịch Thái Lan, khẳng định tình hình căng thẳng trong những ngày
qua cùng với việc hai sân bay đóng cửa trước đây đã khiến doanh thu từ du lịch sụt
giảm 1/3, tương đương 4,2 tỉ USD. Tình trạng này có thể kéo theo 200.000 người
trong lĩnh vực khách sạn bị mất việc và các công ty kinh doanh liên quan đến ngành du
lịch - lĩnh vực tạo công ăn việc làm cho khoảng 2 triệu người Thái - bị ảnh hưởng
nghiêm trọng.
Như vậy, rõ ràng nhân tố chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng
thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch và đến lượt mình du lịch thực sự là
chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc trên thế giới, hiểu hơn về giá trị văn hóa, giúp
31
các dân tộc xích lại gần nhau hơn. Và hơn hết, thông qua hoạt động du lịch quốc tế con
người thể hiện khát vọng tạo lập và chung sống trong hòa bình.
1.3.5. Đường lối, chính sách
Trong những thập kỷ gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế lớn chiếm
vị trí quan trọng trên quy mô toàn cầu và ở nhiều quốc gia. Thực tế cho thấy, ở mỗi địa
phương, vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia du lịch có trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và
mang lại hiệu quả cao hay không thì ngoài tài nguyên du lịch sẵn có, nhân tố quyết
định là nhân tố con người và cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp cho sự phát triển
du lịch. Đường lối chính sách ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự phát triển du
lịch một quốc gia hoặc một đơn vị hành chính cụ thể. Ở các nước có ngành du lịch
phát triển đứng hàng đầu thế giới là những nước có nhiều chính sách quan tâm đầu tư
phát triển du lịch, có hệ thống văn bản pháp luật, quy phạm hoàn thiện làm hành lang
pháp lí cũng như sự điều chỉnh linh hoạt để thích ứng trong những điều kiện, hoàn
cảnh mới là nhân tố thúc đẩy du lịch phát triển.
Cơ chế chính sách phát triển du lịch có tác động đến tất cả các hoạt động du lịch
từ khai thác, bảo vệ tài nguyên du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, các hoạt động xúc tiến
phát triển du lịch, đầu tư quy hoạch du lịch, các hoạt động kinh doanh du lịch. Một đất
nước, một khu vực có tài nguyên du lịch phong phú, mức sống của người dân không
thấp nhưng chính quyền địa phương không yểm trợ cho các hoạt động du lịch thì hoạt
động này cũng không thể phát triển được. một số nước ở Đông Nam Á từ thập niên 80
của thế kỷ XX như Thái Lan, Malayxia, Xingapo... đã ban hành và thực hiện nhiều
chính sách phù hợp, đúng đắn, quan tâm đầu tư phát triển du lịch nên ngành du lịch đã
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và mang lại hiệu quả về nhiều mặt. Ngược lại, ở
nhiều nước có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn, đặc sắc thuận lợi cho
phát triển du lịch song do chưa có cơ chế, chính sách phù hợp như Ấn Độ, Braxin...
nên ngành du lịch còn hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.
1.3.6. Một số nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên thì tình hình thiên tai, dịch bệnh hay các cuộc khủng
hoảng kinh tế tài chính khu vực và quốc tế... có tác động xấu đến sự phát triển du lịch.
Đặc biệt các nhân tố này xuất hiện ngoài dự tính và tầm kiểm soát của con người gây
32
khó khăn không nhỏ đối với sự phát triển của ngành du lịch. Nó đe dọa đến sức khỏe,
an toàn tính mạng, tâm lí hay khả năng tài chính của người dân, là vấn đề rất nhạy cảm
với hoạt động du lịch, kìm hãm sự phát triển của du lịch ở một quốc gia, một vùng
lãnh thổ.
1.4. Phát triển du lịch bền vững
1.4.1 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm
bảo không làm tổn thương khả năng đáp ứng đòi hỏi của thế hệ tương lai…"
Trái ngược với hiểu biết phổ biến, phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được
hiểu là sự phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự nỗ
lực liên tục nhằm đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực. Phát triển bền vững
không được coi là một mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là một quá trình duy trì
sự cân bằng cơ học của đòi hỏi của con người với tính công bằng, sự phồn vinh, chất
lượng cuộc sống và tính bền vững của môi trường tự nhiên.
Phát triển bền vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi
lĩnh vực khi xã hội bước vào thế kỉ 21. Vấn đề ô nhiễm môi trường từng ngày trở
thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế. Thu
nhập của người dân ngày càng được cải thiện, mức sống được nâng dần lên cả ở thành
thị lẫn nông thôn, trong khi đó khoảng cách giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên rõ
rệt.
Vì vậy phát triển bền vững sẽ giúp mọi người trong xã hội đều có quyền bình
đẳng và luôn gắn phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững phải đảm bảo ba yếu tố cơ bản:
• Kinh tế bền vững
• Môi trường bền vững
• Xã hội bền vững
Khía cạnh môi trường trong phát triển bền vững đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân
bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên
phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài
33
nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống
cho con người và các sinh vật sống trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự
công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triến con người
và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện
sống chấp nhận được.
Yếu tố kinh tế đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền vững. Nó đòi
hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài
nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên
nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn
tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên
những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng
chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít,
trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền
cơ bản của con người.
1.4.2. Phát triển du lịch bền vững
1.4.2.1. Khái niệm
Khái niệm du lịch bền vững xuất hiện trên cơ sở cải tiến và nâng cấp khái niệm
về du lịch mềm của những năm 90 và thực sự gây được sự chú ý rộng rãi trong những
năm gần đây. Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế thì "Du lịch bền vững là việc
đáp ứng những nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những
khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai".
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lí tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó
để chúng có thể đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được
bản sắc văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống.
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường.
- Cải thiện tính công bằng trong xã hội.
- Cải thiện chất lượng cuốc sống của cộng đồng bản địa.
34
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách.
- Duy trì chất lượng môi trường.
Chiến lược để đạt đến du lịch bền vững chưa được xây dựng hoàn chỉnh, đang
cần cố gắng để chấp nhận rộng rãi. Mỗi một tình huống đòi hỏi những tiếp cận và giải
pháp khác nhau. Tuy nhiên, nếu thực sự du lịch đem lại lợi ích cho môi trường, tự
nhiên, xã hội và bền vững lâu dài thì tài nguyên không có quyền được sử dụng quá
mức. Tính đa dạng tự nhiên, xã hội và văn hóa phải được bảo vệ; phát triển du lịch
phải được lồng ghép vào chiến lược phát triển của địa phương và quốc gia, người địa
phương phải được tham gia vào việc hoạch định kế hoạch và triển khai hoạt động du
lịch, hoạt động nghiên cứu triển khai và giám sát cần được tiến hành. Những nguyên
tắc này của tính bền vững cần phải được triển khai trong toàn bộ lĩnh vực phát triển du
lịch.
1.4.2.2. Những nguyên tắc của du lịch bền vững
- Sử dụng tài nguyên một cách bền vững, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, xã
hội và văn hóa. Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc
phát triển du lịch lâu dài.
- Giảm tiêu thụ quá mức và xã thải nhằm giảm chi phí khôi phục các suy thoái
môi trường, đồng thời cũng nâng cao chất lượng du lịch.
- Duy trì tính đa dạng: duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và
văn hóa là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, tạo ra sức bật cho ngành du lịch.
- Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia.
- Hỗ trợ nền kinh tế địa phương. Du lịch phải hỗ trợ các hoạt động kinh tế địa
phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế bản địa cũng như
tránh gây hại cho môi trường.
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Điều này không chỉ đem lại lợi
ích cho cộng đồng, cho môi trường mà còn tăng cường đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của
du khách.
- Sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng, tư vấn giữa công nghiệp du
lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan là đảm bảo cho sự hợp tác lâu
dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh.
35
- Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến và giải pháp du
lịch bền vững nhằm cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch.
- Marketing du lịch một cách có trách nhiệm. Phải cung cấp cho du khách thông
tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường
tự nhiên, xã hội và văn hóa du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn nhu cầu của du khách.
- Triển khai các nghiên cứu nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề mang lại lợi ích
cho du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách.
1.4.2.3. Các biện pháp nhằm đạt đến sự bền vững trong du lịch
- Tiếp thị và nhãn sinh thái:
Chiến lược tiếp thị cho du lịch bền vững cung cấp đầy đủ và chân thực các thông
tin về sản phẩm du lịch, xác định, đánh giá và xem xét toàn diện về cung ứng các tài
nguyên thiên nhiên và văn hóa. Mục tiêu chính của quá trình tiếp thị là làm cho du
khách nhận thức rõ ràng những tác động có thể gây ra cho môi trường tự nhiên và văn
hóa xã hội, huấn luyện du khách trước khi họ lên đường, làm cho hoạt động du lịch
phù hợp với khả năng của du lịch về mặt quy mô, số lượng và loại hình du lịch.
Nhãn sinh thái của sản phẩm du lịch nhằm tăng cường chiến lược tiếp thị định
hướng vào bảo vệ chất lượng môi trường. Nguyên tắc của nhãn sinh thái dựa trên việc
xác định các tiêu chuẩn môi trường có thể ứng dụng cho sản phẩm và dịch vụ du lịch.
- Phát triển một số chính sách tiêu thụ có ý nghĩa môi trường:
Chính sách tiêu thụ xanh vừa mang lại lợi ích cho kinh doanh du lịch vừa cho
nền kinh tế địa phương. Nguyên tắc cơ bản của chính sách này là:
+ Tránh các sản phẩm sản xuất từ các nguyên liệu gây nguy hại cho môi trường
(thú nhồi bông, thịt thú rừng, vật lưu niệm làm từ san hô,...).
+ Chỉ mua những thứ thật sự cần và nên ở dạng hàng rời.
+ Tránh các hàng hóa quá nhiều bao bì.
+ Mua các sản phẩm tái chế hoặc có thể tái chế.
+ Mua các sản phẩm chất lượng tốt, dùng bền, có thể sửa chữa.
+ Mua các sản phẩm địa phương.
36
- Quản lí năng lượng:
Các tổ chức du lịch, đặc biệt là nhà hàng, khách sạn thường sử dụng nhiều năng
lượng, cần kiểm toán để phát hiện những điều kiện có thể tiết kiệm năng lượng (thay
của tự đóng mở bằng cửa mở bằng tay, có hệ thống tự ngắt điện khi khách ra khỏi
phòng, sử dụng năng lượng mặt trời để sản xuất nóng, nhất là hỗ trợ cắm trại,...).
- Tiết kiệm nước:
Sử dụng hiệu quả nước sinh hoạt, vừa có ý nghĩa môi trường vừa có ý nghĩa lợi
ích cho kinh doanh vì nhu cầu sử dụng nước ở khu du lịch thường là rất cao. Nơi có
khả năng tiết kiệm nước nhiều nhất là phòng nghỉ của khách, chỗ giặt giũ, nhà bếp, bể
bơi,...
- Quản lí chất thải:
Chiến lược 3R: Reuse (tái sử dụng); Reduce (giảm xả thải); Recycle (tái chế)
gồm các bước:
+ Kiểm kê chất thải trong khu du lịch, xem xét chi phí thu gom, lượng thải hàng
năm, kiểu loại các chất thải độc hại cần phải xử lí riêng.
+ Tìm cách giảm phát xả riêng cho từng loại: giảm lượng sử dụng, tăng cường tái
sử dụng, tái chế, xử lí rác hợp vệ sinh.
+ Xây dựng một chương trình hoạt động "ít xả thải", "Cái gì mang vào sẽ được
mang ra".
- Giao thông vận tải:
Tăng cường vận tải công cộng và các phương tiện vận tải mới đáp ứng nhu cầu
du khách (xe ngựa, xe trâu, thuyền chèo tay,...) nhưng tiết kiệm năng lượng và giảm
tác động xấu đến môi trường.
- Đào tạo:
Đào tạo cán bộ nhân viên du lịch là cốt lõi của sự thành công du lịch bền vững,
trong đó quan trọng nhất là chương trình lồng ghép mục tiêu môi trường vào hoạt động
kinh doanh du lịch. Phát triển những chương trình đào tạo mới nhằm tăng cường hiểu
biết về các đặc trưng văn hóa và thiên nhiên của địa phương, phổ cập các nguyên tắc
của du lịch bền vững và bảo tồn thiên nhiên là vấn đề bức xúc nhằm đào tạo các thế hệ
quản lí kinh doanh du lịch mới.
37
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆN
TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN
GIANG
2.1. Khái quát chung về tỉnh An Giang
2.1.1. Vị trí địa lí
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh An Giang
(Nguồn: Tác giả luận văn)
38
An Giang là tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, nằm về phía Tây Nam Tổ
Quốc, có tọa độ địa lý từ 10°54' đến 10°31' vĩ độ bắc; 104°46' đến 105°12' kinh độ
đông. Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia, Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang, phía
Nam giáp Thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp.
Các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh An Giang gồm có: thành phố Long Xuyên,
thị xã Châu Đốc và 9 huyện gồm: Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới, Phú Tân, Tân
Châu, An Phú, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, với 150 đơn vị hành chính cơ sở (trong
đó có 13 phường và 15 thị trấn, 122 xã, 114 khóm, 649 ấp).
2.1.2. Đặc điểm tự nhiên
An Giang, ngoài đồng bằng do phù sa sông Mê Kông trầm tích tạo nên, còn có
vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên. Do đó, địa hình An Giang có hai dạng chính là đồng
bằng và đồi núi.
- Đồng bằng: Ở An Giang có hai loại chính là đồng bằng phù sa và đồng bằng
ven núi. Đồng bằng phù sa ở đây là một bộ phận của Đồng bằng sông Cửu Long, có
nguồn gốc trầm tích lâu dài của phù sa sông Mê Kông. Đồng bằng ven núi ở An Giang
được chia làm hai kiểu là kiểu sườn tích và kiểu đồng bằng phù sa cổ.
- Đồi núi: Đồi núi An Giang gồm nhiều đỉnh có hình dạng, độ cao và độ dốc khác
nhau, phân bố theo vành đai cánh cung kéo dài gần 100km, khởi đầu từ xã Phú Hữu
huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích hai
huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn
Núi Sập huyện Thoại Sơn.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa bão tập trung từ tháng 5 đến
tháng 11, lũ hàng năm do sông Cửu Long tràn về ngập 70% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.132 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm cao nhất
là 37°C, thấp nhất là 23°C; hàng năm có hai tháng nhiệt độ trung bình là 27°C, tháng
lạnh nhất là tháng 12. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá vào tháng 5 và 6 hàng năm.
2.1.3. Đặc điểm kinh tế xã hội
- Sơ lược về xã hội:
Theo thống kê năm 2009 dân số của tỉnh An Giang là 2.170.095 người, với mật độ dân số khá cao khoảng 632 người/km2. Dân cư trong tỉnh gồm bốn dân tộc chủ yếu:
39
dân tộc Kinh chiếm 91%, dân tộc Hoa chiếm 4 - 5%, dân tộc Khơmer chiếm khoảng
4.31%, dân tộc Chăm chiếm khoảng 0.61%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác. Dân
tộc Hoa sống tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị, dân tộc Chăm sống chủ yếu ở hai
huyện Tân Châu và Phú Tân, một số ít ở huyện Châu Thành. Dân tộc Khơme sống tập
trung ở vùng núi thuộc hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn.
Thành phần tôn giáo ở An Giang rất đa dạng: đạo Phật chiếm tỷ lệ cao nhất với
44,66% dân số, đạo Hòa Hảo chiếm 42,68% dân số, đạo Cao Đài chiếm 3,85% dân số,
đạo Công giáo chiếm 3,18% dân số, đạo Hồi giáo chiếm 0,64% dân số, các đạo khác
chiếm 2,76% dân số. Riêng hộ không có đạo là chiếm 2,24% dân số. Một trong những
lợi thế của An Giang là có bề dày về văn hóa, lịch sử truyền thống, gắn liền với các
khu du lịch, di tích lịch sử, văn hóa, tập tục lễ hội cổ truyền.
- Sơ lược về kinh tế:
Kinh tế tăng trưởng khá nhanh, thu nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ mức
trung bình cả nước (trên 1.140 USD). Khu vực thương mại - dịch vụ tăng khá. Kinh tế
biên mậu và du lịch có bước phát triển, cây lúa, cá nước ngọt có giá trị và sản lượng
đứng hàng đầu khu vực và cả nước, nông nghiệp, nông thôn ngày càng đổi mới, đời
sống nhân dân từng bước được cải thiện.
Cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang năm 2009: khu vực I chiếm 33,46%, khu vực II
chiếm 12,82%, khu vực III chiếm 53,72%. Trong cơ cấu kinh tế tỉnh An Giang, khu
vực III chiếm một tỉ lệ lớn (hơn 50%) và không ngừng phát triển qua từng năm. Điều
này chứng minh rằng lĩnh vực du lịch đóng góp một phần rất lớn trong tổng thu nhập
của tỉnh.
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
2.2.1.1. Địa hình và đất đai
- Địa hình:
An Giang là một trong hai tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long có địa hình vừa
đồng bằng, vừa đồi núi.
Địa hình đồi núi có diện tích là 33 ha, chiếm gần 10% diện tích tự nhiên của tỉnh,
phân bố tập trung chủ yếu ở hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên. Địa hình đồi núi phân bố
40
về phía tây nam của tỉnh giáp với tỉnh Kiên Giang và thành phố cần Thơ. Trong dãy
địa hình đồi núi này nổi bật lên là các ngọn núi như: núi Sam, núi cấm, núi Sập, núi Cô
Tô... Các ngọn núi này được xem là nóc nhà của Đồng bằng sông Cửu Long. Nơi đây
còn được gọi là vùng Thất Sơn với bảy ngọn núi lớn: Núi cấm (Thiên Cẩm Sơn), Núi
Dài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), Núi Cô Tô (Phụng Hoàng Sơn), Núi Dài (Ngọa Long
Sơn), Núi Tượng (Liên Hoa Sơn), Núi Két (Anh Vũ Sơn), Núi Nước (Thủy Đài Sơn).
Nơi đây có những điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch. Thẩm thực vật trên các
ngọn núi rất đa dạng và là nơi có khí hậu rất trong lành, điều kiện này rất phù hợp để
phát triển du lịch sinh thái với các loại hình du lịch như: thưởng ngoạn phong cảnh
vùng núi, các môn thể thao như leo núi. Ngoài ra, vùng Bảy Núi còn là nơi có nhiều lễ
hội, phong tục... đặc thù của đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ, như lễ Chol Chnam
Thmay, lễ Pha Chum Bênh (tức lễ Đôn Ta)...và đặc biệt hơn cả là lễ hội Đua bò Bảy
Núi,...
Địa hình đồng bằng là toàn bộ phần đất còn lại với diện tích khoảng 305 nghìn
ha, chiếm gần 90% diện tích của tỉnh và được chia làm hai khu vực:
+ Cù lao: gồm bốn huyện nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu (An Phú, Tân
Châu, Phú Tân, Chợ Mới).
+ Vùng Tứ giác Long Xuyên: Bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc,
các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và phần đất thấp còn lại của hai huyện
Tri Tôn và Tịnh Biên.
Địa hình đồng bằng ở An Giang là một vùng lãnh thổ rộng lớn, trù phú và đông
dân, khí hậu ổn định và ít xảy ra thiên tai nên khu vực đồng bằng có nhiều tiềm năng,
lợi thế để phát triển du lịch. Trong đó, đáng kể là tiềm năng du lịch sinh thái dã ngoại,
cảnh quan thiên nhiên gắn với vùng sông nước miệt vườn; du lịch cộng đồng trên cơ
sở phát triển làng nghề cổ truyền với nhiều lễ hội truyền thống đặc trưng.
Vùng tứ giác Long Xuyên chịu ảnh hưởng của lũ nên cũng có những điều kiện
nhất định để phát triển du lịch. Vào mùa lũ, vùng này có tài nguyên sinh vật vô cùng
phong phú, đặc biệt là các loài thủy sản nước ngọt ở thượng nguồn đổ về. Với điều
kiện này là cơ sở quan trọng để phát triển du lịch mùa nước nổi.
- Đất đai An Giang được chia làm các nhóm chính: Đất phèn, đất phù sa, đất phù
sa cổ, đất thềm cao. Nhìn chung đất đai ở An Giang thuộc loại đất tương đối tốt, giàu
41
dinh dưỡng, có khả năng thích họp với nhiều loại cây trồng khác nhau. Ngoài chức
năng chính phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, dùng để làm nhà ở thì đất cũng có
vai trò quan trọng trong phát triển du lịch, là mặt bằng bố trí các khu du lịch, nối các
tuyến điểm với nhau.
2.2.1.2. Tài nguyên khí hậu
Giới hạn trong hệ tọa độ khoảng từ 10°12' đến 10°57' vĩ Bắc do đó An Giang có
khí hậu mang tính chất cận xích đạo với đặc điểm là nóng, ẩm quanh năm, nhiệt độ
trung bình là 27°C. Khí hậu được chia làm hai mùa: mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11).
Khí hậu An Giang là khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận xích đạo với
lượng mưa tương đối lớn, độ ẩm dồi dào. Mùa khô ở An Giang tuy kéo dài nhưng đó
là điều kiện thuận lợi để phơi sấy sản phẩm của ngành nông nghiệp. Đồng thời vào
mùa khô, khí hậu cũng thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Phần lớn khách du lịch
đến An Giang vào mùa khô. Các lễ hội lớn ở An Giang cũng diễn ra phần lớn vào mùa
khô.
2.2.1.3. Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Tài nguyên nước mặt có sông Tiền, sông Hậu với lưu lượng
khá lớn, đủ sức chuyển tải nguồn nước đến các vùng sâu thông qua mạng lưới kênh
rạch chằng chịt. Lưu lượng và trữ lượng nước mặt ở An Giang khá dồi dào, hàng năm
mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 - 8 khi nhiễu động nhiệt đới hoạt động gây ra mưa to và dài
ngày, làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa.
- Nước ngầm: Nước ngầm có trữ lượng dồi dào, toàn tỉnh có 7.133 giếng khoan
nước dưới đất hiện đang khai thác sử dụng.
Tài nguyên nước trên bề mặt bao gồm mạng lưới sông ngòi, ao, hồ nước ngọt và
nước mặn. Nó có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp nước cho các khu du lịch, phát triển
các loại hình du lịch đa dạng như du lịch xuồng, ghe, sông nước... Nguồn nước ngầm
cũng có tác dụng phục vụ khách du lịch, đặc biệt là tác dụng chữa bệnh.
2.2.1.4. Tài nguyên sinh vật
- Thực vật: Thảm thực vật ngập nước chiếm ưu thế là tràm, phát triển ở vùng
ngập nước, bưng trũng đất phèn và than bùn ở huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên.
42
Ngoài tràm, còn có hơn 100 loài thực vật thuộc các họ khác nhau, trong đó nhiều loài
có giá trị phát triển và khai thác như: chà là nước, mốp, trâm sẻ, trâm khế, sộp, mây
nước, nắp bình, bòng bòng, choại, bồn bồn.... Thảm thực vật đồi núi tập trung chủ yếu
ở vùng Bảy Núi thuộc huyện Tri Tôn, huyện Tịnh Biên và một phần thị xã Châu Đốc,
huyện Thoại Sơn. Thảm thực vật ở đây thuộc kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới
có cấu trúc ba tầng rõ rệt, phong phú về chủng loại, có nhiều loại cây quý hiếm như:
mật, căm xe, giáng hương, dầu, sao, tếch... Rừng Tràm Trà Sư là nơi lưu giữ sự đa
dạng sinh học của tỉnh. Đây cũng là khu bảo tồn thiên nhiên và là khu du lịch nổi tiếng
của tỉnh An Giang.
- Động vật: Hệ động vật ở An Giang rất phong phú. Ở các vùng ngập nước thì có
nhiều tôm cá và nhiều loài chim cò, đặc biệt có cả cá sấu, nhiều nhất là ở khu vực sông
Vàm Nao. Cùng loài bò sát với cá sấu, vùng nông thôn ngập nước ở An Giang còn có
nhiều loài rắn như rắn nước, rắn bông súng, rắn ri voi, ri cá, rắn râu, rắn mối, rắn trun,
rắn hổ, rắn lục, rắn máy gầm... Với những cánh đồng bạt ngàn, An Giang là nơi sinh
sống của nhiều loài chim hoang dã như: sẻ, chào mào, chích chòe, sậu, sáo, cồng cộc,
le le, vịt trời, cò trắng, cò ma, cò bộ, cò lửa, diệc, cuốc, trích...
Ở An Giang, khu bảo tồn rừng tràm Trà Sư là nơi có nhiều điều kiện phát triển du
lịch nhất nhờ tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng. Rừng tràm Trà Sư là điểm
đến lý tưởng đối với các nhà nghiên cứu và những người đam mê động vật hoang dã.
Ngoài ý nghĩa về mặt bảo tồn, rừng tràm Trà Sư còn chứa đựng những yếu tố văn hóa
tiềm ẩn rất độc đáo và phong phú. Quanh khu rừng có nhiều đồng bào Khmer và Kinh
sinh sống với các ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống như dệt thổ cẩm, lụa
Khmer, nấu đường thốt nốt, tinh cất tinh dầu tràm, nuôi mật ong...
2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.2.1. Các di tích lịch sử, văn hóa
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản quý giá của mỗi dân tộc, nó thể hiện truyền
thống tốt đẹp, tinh hoa trí tuệ, tài năng, giá trị về văn hóa, nghệ thuật của mỗi quốc gia.
Nói một cách khác, di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách
quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình về lịch sử, về văn hóa do con người sáng
tạo ra trong lịch sử để lại.
43
An Giang hiện có 1.198 di tích, trong đó có 26 di tích được công nhận cấp quốc
gia và 46 di tích được công nhận cấp tỉnh. Việc nghiên cứu và lưu trữ thông tin về di
tích đã được Bảo tàng An Giang thực hiện khá tốt, việc giới thiệu các di tích đến với
công chúng cũng đã được Sở Văn hóa - Thông tin chú trọng. Các di tích này là một
phần không thể thiếu trong các tuyến điểm du lịch ở An Giang.
Một số di tích văn hóa, lịch sử ở An Giang phân bố trên địa bàn tỉnh như sau:
- Bia Thoại Sơn: Nằm dưới chân núi Sập, trong đình Thoại Sơn thuộc thị trấn
Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên khoảng 28km.
Bia Thoại Sơn do Nguyễn Văn Thoại (Thoại Ngọc Hầu) dựng năm 1822 và là một
trong hai công trình di tích lịch sử và bia ký nổi tiếng ở Việt Nam dưới chế độ phong
kiến còn lưu lại đến ngày nay. Đây là một di tích lịch sử cấp quốc gia của tỉnh. Khi du
khách đến khu du lịch thoại sơn thì không thể không khám phá một di tích lịch sử có
giá trị này.
- Di tích Cột dây thép: Là một hệ thống gồm hai cột dây thép đứng đối xứng
nhau qua con sông Tiền, thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Đây là nơi được chọn
treo lá cờ Đảng đầu tiên tại An Giang. Cột Dây Thép phản ánh giá trị rất cao về lịch sử
đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Mới nói riêng và tỉnh An
Giang nói chung trong những ngày đầu thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam. Di tích
này cũng được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Nằm gần trung tâm huyện
Chợ Mới nên rất thuận tiện để tổ chức các tour du lịch tham quan di tích này.
- Di tích Quản cơ Trần Văn Thành: Đền thờ Quản cơ Trần Văn Thành nằm giữa
đồng lúa Lạng Vinh, thuộc xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Lễ vía
ông hàng năm được tổ chức long trọng vào ngày 21 và 22 tháng 2 âm lịch theo nghi
thức cổ truyền để tưởng niệm và ôn lại một thời chiến đấu oanh liệt của Đức cổ quản
và nghĩa quân. Di tích này được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia. Di tích chỉ
nằm cách thành phố Long Xuyên khoảng 50km nên rất thuận tiện cho việc tham quan,
nghiên cứu của khách du lịch.
- Khu di tích lịch sử Tức Dụp: Khu di tích lịch sử Tức Dụp thuộc địa phận thị
trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Tức Dụp là căn cứ địa vững chắc của quân
và dân An Giang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khu di tích đồi Tức Dụp là một di
44
tích lịch sử cấp quốc gia, nằm cách thị trấn Tri Tôn khoảng 18km nên rất thuận tiện
cho việc tham quan.
- Khu tưởng niệm Tôn Đức Thắng: Khu tưởng niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng
thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, trên cù lao Ông Hổ.
Tại đây có đền thờ, nhà lưu niệm và ngôi nhà gỗ cổ là nơi Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã
sống thời thơ ấu. Do nằm trong thành phố Long Xuyên và thuộc làng du lịch Mỹ Hòa
Hưng nên đây là điểm đến lý tưởng của du khách khi du lịch đến An Giang. Khu tưởng
niệm Tôn Đức Thắng có giá trị lịch sử rất lớn vì ông chính là một vị lãnh đạo của nước
ta và là bạn của chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Nhà bảo tàng An Giang: Nhà bảo tàng tỉnh An Giang tọa lạc bên đường Thoại
Ngọc Hầu, phường Mỹ Long, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nhà bảo tàng
tỉnh An Giang là nơi trưng bày các tài liệu, hiện vật và hình ảnh phản ánh lịch sử, văn
hóa và quá trình phát triển của tỉnh An Giang. Khi đến nhà bảo tàng, du khách sẽ được
tái hiện lại toàn bộ quá trình phát triển của tỉnh qua từng giai đoạn. Nhà bảo tàng là
điểm đến lí thú cho du khách muốn tiềm hiểu về những giá trị nổi bật của nhân dân và
lịch sử tỉnh An Giang.
- Nhà mồ Ba Chúc: Nhà mồ Ba Chúc nằm tại xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh
An Giang, cách biên giới Việt Nam - Campuchia khoảng 7km. Đây là một địa điểm
ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt chủng Pôn Pốt đã xâm lược và sát hại hàng ngàn
người dân Ba Chúc. Đây là khu vực được công nhận là Khu chứng tích tội ác diệt
chủng Pôn Pốt.
An Giang là một địa phương có nhiều di tích lịch sử, văn hóa gắn với truyền
thống hào hùng cho nên không chỉ phát huy tốt những giá trị truyền thống đó, tỉnh còn
đưa những di tích lịch sử, văn hóa này vào phát triển du lịch một cách tích cực và hiệu
quả. Hầu hết các di tích văn hóa lịch sử của tỉnh đều được đưa vào khai thác trong du
lịch, mỗi di tích đều có một thế mạnh riêng của nó và là một thành phần không thể
thiếu trong các tour du lịch. Các di tích được phân bố rộng khắp tại các khu du lịch,
các thị trấn của tỉnh nên cũng có những điều kiện thuận lợi khi tổ chức tham quan.
Hàng năm, An Giang thu hút một lượng khách lớn từ các nơi đổ về tham quan các di
tích lịch sử văn hóa, tạo cho du lịch một nguồn thu đáng kể, từ đó cho thấy tầm quan
trọng của những di tích này trong việc phát triển du lịch.
45
2.2.2.2. Các lễ hội
Lễ hội là một dạng tài nguyên nhân văn quan trọng, là loại hình sinh hoạt văn
hóa tổng hợp rất đa dạng và phong phú để con người hướng về tổ tiên, ôn lại truyền
thống, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, thể hiện những ước mơ, khát khao mà
cuộc sống thực tại chưa giải quyết được.
An Giang là tỉnh có 17 dân tộc anh em sinh sống. Mỗi dân tộc đều có nét văn hóa
và lễ hội riêng của mình. Một số lễ hội tiêu biểu như Lễ hội Bà Chúa Xứ, hội đền
Nguyễn Trung Trực, lễ hội Chol Chnam Thmay, lễ Đôn Ta, lễ hội Hát Gi, hội đua bò
dân tộc Khmer...
- Lễ hội Bà Chúa Xứ: được tổ chức hàng năm bắt đầu từ đêm 23/4 âm lịch đến
27/4 âm lịch. Lễ Vía Bà hằng năm thu hút rất đông khách thập phương đến, vừa để
tham dự lễ hội dân gian phong phú, xin cầu tài cầu lộc, đồng thời còn để du ngoạn,
chiêm ngưỡng cảnh trí thiên nhiên ở An Giang. Lễ hội Bà Chúa Xứ là một trong các lễ
hội lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đây cũng là lễ hội cấp quốc gia.
- Lễ hội Đua bò: An Giang là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử, danh thắng và lễ
hội mang đậm nét bản sắc văn hóa dân gian, trong đó có lễ hội đua bò kéo bừa truyền
thống là nét sinh hoạt văn hóa, là một môn thể thao độc đáo và đặc sắc của đồng bào
dân tộc Khơme vùng Bảy Núi An Giang. Lễ hội đua bò được tổ chức vào lễ "Đôn ta"
từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 10 âm lịch hàng năm.
- Hội đền Nguyễn Trung Trực: Đền Nguyễn Trung Trực (1837-1868) ở xã Long
Kiên, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thờ Nguyễn Trung Trực là thủ lĩnh nghĩa quân
chống Pháp ở Nam Bộ. Hội đền Nguyễn Trung Trực được tổ chức hàng năm vào các
ngày 8 và 9 tháng 12 (tức ngày 18 và 19 tháng 10 âm lịch).
- Lễ hội Hát Gi (Haji hay còn gọi là Roya Hadji): Là lễ hội của cộng đồng người
Chăm theo đạo Hồi ở các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thờ thượng đế Allah. Lễ
được tổ chức từ ngày 7 đến 10 tháng 12 (hồi lịch) tại các thánh đường Hồi giáo. Hàng
năm ở An Giang lễ hội Hát Gi diễn ra tại chùa Chăm Châu Giang xã Phú Hiệp, huyện
Phú Tân.
Trong tất cả các loại hình văn hóa thì lễ hội là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm
các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng
và đời thường. Ngoài ra, lễ hội còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đặc
46
biệt, có sức hấp dẫn và lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, trở thành một nhu cầu, một
món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của con người. Ở An Giang,
phần lớn các lễ hội đều có quy mô rất lớn, trong đó đáng chú ý nhất là lễ hội Bà Chúa
Xứ. Trong thời gian diễn ra lễ hội này, có hàng ngàn du khách khắp các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long và các vùng lân cận đến viếng bà và chiêm ngưỡng cảnh đẹp
vùng núi Sam.
2.2.2.3. Các nghề và làng nghề thủ công truyền thống
An Giang có nhiều nghề thủ công truyền thống: chạm khắc đá, nghề đúc đồng,
nghề kim hoàn, nghề gốm, nghề mộc, nghề mây tre đan, nghề dệt... mỗi nghề đều có
lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo. Toàn tỉnh hiện nay có 82 làng nghề truyền
thống gắn với dịch vụ phát triển du lịch. Một số làng nghề tiêu biểu như:
- Lụa Tân Châu: Từ xưa, Tân Châu đã nổi tiếng với nghề ươm tơ dệt lụa. Đây
cũng chính là nơi sáng tạo nên loại lụa Mỹ A nổi tiếng một thời. Lụa Tân Châu nổi
tiếng nhờ dệt bằng tơ tằm. Những sản phẩm bền và đẹp như hiện nay là kết quả của cả
một quá trình người làng nghề không ngừng học hỏi, đổi mới công nghệ và luôn tìm ý
tưởng sáng tạo nên những mẫu mã mới, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Chiếu Tân Châu: Từ rất lâu người dân Tân Châu đã dệt ra những manh chiếu
trắng dùng trong sinh hoạt. Chiếu này được dệt từ sợi lát, là loại chiếu có màu trắng
hình thức giản đơn, chất lượng trung bình.
- Làng dệt thổ cẩm Châu Phong: Dân tộc Chăm ở An Giang có trên 12.000
người, sống tập trung thành ấp hay liên ấp, xen kẽ trong những xã của người Kinh. Địa
bàn dân cư ấy trải dài từ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia đến ấp Phũm Soài,
xã Châu Phong, huyện Phú Tân, nằm bên kia sông ngang thị xã Châu Đốc. Tộc người
Chăm thường sống thành cụm ven sông. Đàn ông đánh bắt thủy sản, còn phụ nữ Chăm
do tục cấm cung nên thường ở nhà dệt vải. Sản phẩm của phụ nữ Chăm được dệt nên
bởi chất liệu tơ, sợi. Điểm nổi bật của sản phẩm dệt Chăm là nhuộm bằng chất liệu có
từ thiên nhiên như mủ cây, vỏ cây và trái cây.
- Làng nghề mộc Chợ Thủ, xã Long Điền A: Xã Long Điền A nằm giữa hai thị
trấn Chợ Mới và Mỹ Luông là hai đầu nối thuận lợi cho việc buôn bán và trao đổi hàng
hóa. Làng nghề mộc Chợ Thủ Xã Long Điền A tập trung ở 04 ấp là Long Bình, Long
Định, Long Thuận 1, Long Thuận 2 với 1.369 hộ tham gia nghề mộc. Sản phẩm của
47
làng nghề rất đa dạng kể cả đồ chạm trổ nói chung là đồ trang trí nội thất, gồm các
chủng loại gỗ khai thác từ rừng, gỗ công nghiệp, nhôm, mica và cimen...
Phát triển du lịch gắn với làng nghề không đơn thuần chỉ là trình diễn và bán sản
phẩm. Du lịch làng nghề phải gắn với không gian văn hóa của mỗi làng nghề, đó là các
phong tục, tín ngưỡng, lễ hội của cộng đồng dân cư sống trong làng nghề đó. Du khách
đến tham quan ngoài việc chiêm ngưỡng các quy trình để làm ra sản phẩm hoặc đích
thân tham gia vào quy trình sản xuất sẽ được hòa mình vào với không gian văn hóa,
kiến trúc của làng nghề để cảm nhận tận cùng những nét văn hóa ẩn chứa trong từng
sản phẩm.
Hiện tại, du lịch An Giang đã tận dụng tốt sự kết hợp này, đem những làng nghề
truyền thống vào phát triển du lịch, nhằm tạo việc làm cho người dân địa phương, thu
hút khách du lịch, đồng thời cũng là cơ hội để quảng bá hình ảnh du lịch của An Giang
đến với du khách, biết được những đặc trưng văn hóa, sinh hoạt sản xuất của người
dân. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát triển làng nghề phục vụ cho du lịch thì hoạt động
du lịch đôi khi cũng ảnh hưởng ngược trở lại, đó là do sự tập trung đông khách du lịch
vào các làng nghề, làm mất đi tính tự nhiên, hoặc do sự xuất hiện của các dịch vụ phục
vụ du khách làm cho các làng nghề truyền thống không còn mang tính đặc trưng riêng
của mỗi nghề.
2.2.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
2.2.3.1. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là nhân tố quan trọng tạo nên sức hấp dẫn cũng như tạo điều kiện
thuận lợi cho phát triển du lịch tại điểm đến. Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống các
mạng lưới và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, mạng lưới điện, hệ
thống cấp thoát nước và xử lí rác thải... trong đó giao thông vận tải là nhân tố quan
trọng hàng đầu. Ở An Giang, mạng lưới giao thông tương đối hoàn chỉnh với hệ thống
đường bộ, đường thủy,...
- Đường bộ: Tổng chiều dài 3.560 km, trong đó có 356 km đường nhựa. Mật độ
đường là 1,05 km/km2. Hệ thống đường bao gồm:
+ Quốc lộ 91 nối Cần Thơ với Long Xuyên, Châu Đốc và nối với quốc lộ 2 của
Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên. Quốc lộ 91 có chiều dài 91,3 km, đây là
48
tuyến giao thông huyết mạch, trọng yếu của tỉnh cả về kinh tế xã hội lẫn an ninh quốc
phòng.
+ Hệ thống tỉnh lộ với tổng chiều dài là 404 km, bao gồm:
Tuyến 941: bắt đầu từ ngã ba lộ Tẻ đi Tri Tôn.
Tuyến 942: bắt đầu từ phà Cao Lãnh (Đồng Tháp), phía An Giang đi dọc sông
Tiền xuyên suốt huyện Chợ Mới.
Tuyến 943: nối quốc lộ 91 tại thành phố Long Xuyên đi qua huyện Thoại Sơn
đến Tri Tôn.
Tuyến 953: nối Châu Đốc với Tân Châu, dài 17 km.
Tuyến 954: nối Phú Tân với Tân Châu, dài 40 km.
Tuyến 955A từ cửa khẩu Tịnh Biên đi qua thị trấn Kiên Lương (Kiên giang).
+ Tuyến giao thông nông thôn: Nhiều tuyến giao thông nông thôn đã và đang
được bê tông hóa hoặc tráng nhựa, giúp cho người dân đi lại thuận tiện và việc giao
lưu kinh tế, du lịch được dễ dàng.
- Đường sông: Toàn tỉnh có 541 tuyến đường sông, tổng chiều dài là 2504 km, mật độ đường là 0,73 km/km2. Tuyến đường sông Tiền, sông Hậu là tuyến giao thông
quan trọng, đảm bảo sự lưu thông trong và ngoài tỉnh, kể cả giao lưu với Campuchia.
Hoạt động bưu chính góp phần rút ngắn khoảng cách giữa tỉnh với các tỉnh, với
các huyện, xã, ấp... giúp cho người dân vùng nông thôn, vùng núi nắm bắt nhanh
những thông tin, chính sách của tỉnh, Nhà nước.
Hiện nay, mạng lưới bưu chính có mặt ở tất cả các huyện, xã trong tỉnh như bưu
điện có qui mô lớn nhất là bưu điện tỉnh An Giang, kế tiếp là hệ thống bưu điện của 11
huyện trong tỉnh và nhiều bưu điện của các xã.
Tuy nhiên, hoạt động bưu điện vẫn còn hạn chế: công nghệ nhìn chung còn lạc
hậu, qui trình nghiệp vụ ở các huyện, xã vẫn còn mang tính thủ công, một số xã ở các
huyện miền núi vẫn chưa có trạm bưu điện như ở huyện Tri Ôn, Tịnh Biên, Thoại
Sơn...
Mạng lưới viễn thông tương đối đa dạng và không ngừng phát triển bền vững,
Trong đó mạng điện thoại là phát triển mạnh nhất thể hiện ở số thuê bao điện thoại
không ngừng tăng qua các năm như: năm 2000 toàn tỉnh có 56 nghìn thuê bao đến năm
49
2009 là 175 nghìn thuê bao (chưa tính thuê bao di động). Ngoài ra mạng lưới internet,
Fax công cộng, mạng truyền trang báo trên kênh thông tin cũng được đưa vào sử dụng
rộng rãi trong đời sống người dân nhằm giảm cước phí vận chuyển và phát hành nhanh
tới vùng sâu, vùng xa.
2.2.3.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (CSVCKTDL) bao gồm toàn bộ các phương tiện
dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch.
CSVCKTDL là yếu tố có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và cung
cấp các sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch
nhằm đáp ứng các nhu cầu của du khách như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi, giải trí,
chữa bệnh, mua sắm. Chính vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKTDL được
xem như một trong những biểu hiện cho sự phát triển cũng như hiệu quả của việc khai
thác tài nguyên du lịch phục vụ cho hoạt động du lịch. CSVCKTDL bao gồm nhiều
thành phần với những chức năng và ý nghĩa khác nhau, bao gồm: cơ sở phục vụ ăn
uống, lưu trú, mạng lưới cửa hàng thương nghiệp, các cơ sở thể thao, cơ sở y tế, các
công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa và cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung
khác.
CSVCKTDL ở An Giang phát triển khá đồng bộ, bao gồm tất cả các dịch vụ
phục vụ cho ngành du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Hệ thống
cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch phân bố trên địa bàn như sau:
- Cơ sở phục vụ lưu trú:
+ Các khách sạn ở thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc: Phần lớn các
khách sạn lớn ở An Giang đều tập trung ở thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc.
Tuy nhiên, tại một vài khu du lịch vẫn có các khách sạn để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi
tại chỗ của du khách. Các khách sạn lớn ở Long Xuyên và Châu Đốc theo bảng sau.
50
Bảng 2.1: Các cơ sở lưu trú của An Giang từ năm 2005 - 2009
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
Hình 2.2: Biểu đồ số lượng cơ sở lưu trú và cơ sở lưu trú được xếp sao
ở An Giang
Số lượng cơ sở lưu trú ở An Giang luôn tăng lên qua các năm. Nếu như năm
2005 số lượng cơ sở lưu trú là 58 cơ sở với 1.403 phòng thì đến năm 2009 con số này
đã tăng lên đáng kể với 80 cơ sở lưu trú và 1.900 phòng. Bên cạnh số cơ sở lưu trú và
số lượng phòng tăng lên qua các năm thì chất lượng phòng cũng không ngừng được
cải thiện. Điều này được thể hiện rất rõ qua số cơ sở lưu trú được xếp sao. Nếu như
51
năm 2005 có 35 cơ sở với 846 phòng thì đến năm 2009 thì con số này đã tăng lên đáng
kể với 55 cơ sở và 1.150 phòng. Một số khách sạn lớn ở thành phố Long Xuyên và thị
xã Châu Đốc là:
Bảng 2.2: Khách sạn đang hoạt động ở Long Xuyên và Châu Đốc
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
Bên cạnh các cơ sở lưu trú không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng thì
số nhà hàng, cơ sở phục vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh cũng không ngừng phát triển.
Tuy nhiên nhịp độ phát triển còn chậm, năm 2005 có 17 nhà hàng với 1.700 chỗ ngồi
thì đến năm 2009 con số này đã tăng lên là 22 nhà hàng với 2.500 chỗ ngồi.
52
Bảng 2.3: Số nhà hàng và số chỗ ngồi tại các nhà hàng ở An Giang
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
Một số nhà hàng ở thành phố Long Xuyên và thị xã Châu Đốc:
Bảng 2.4: Nhà hàng đang hoạt động ở Long Xuyên và Châu Đốc
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
53
- Cơ sở thể thao:
Bảng 2.5: Số lượng một số cơ sở thể thao ở An Giang
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
Các cơ sở phục vụ thể dục thể thao của tỉnh cũng không ngừng tăng lên cả về số
lượng và chất lượng. Trong đó đáng kể nhất là số sân vận động phục vụ cho các môn
thể thao tiêu biểu như bóng đá, điền kinh,…
- Số cơ sở y tế cũng không ngừng phát triển trên tất cả các địa bàn, tính đến năm
2009, toàn tỉnh có 182 cơ sở y tế trong đó có 15 bệnh viện đa khoa.
Bảng 2.6: Số lượng các cơ sở y tế ở An Giang
(Nguồn: www.angiang.gov.vn)
- Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác như trạm xăng dầu, thiết bị cấp cứu,
hiệu ảnh, bưu điện… là điều kiện bổ sung giúp cho du khách sử dụng triệt để hơn tài
nguyên du lịch, tạo ra những thuận tiện khi họ đi lại và lưu trú tại điểm du lịch.
54
Hình 2.3: Bản đồ hiện trạng phân bố tài nguyên du lịch tỉnh An Giang
(Nguồn: Tác giả luận văn)
2.2.4. Đánh giá về tài nguyên du lịch và sự phân bố tài nguyên du
lịch ở An Giang
An Giang có thế mạnh về tự nhiên, với hệ thống kênh rạch chằng chịt, hệ thống
cồn dọc sông Hậu, với những vườn cây trái bốn mùa, những làng nghề đặc trưng Nam
Bộ, Ngoài ra, An Giang có thành phố Long Xuyên là một trong những thành phố lớn
trong khu vực, là trung tâm văn hóa, chính trị, khoa học - kỹ thuật..., chính vì thế An
Giang hoàn toàn có điều kiện để phát triển du lịch với nhiều loại hình du lịch khác
55
nhau. Tài nguyên du lịch An Giang có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong
việc tổ chức phát triển du lịch.
- Thuận lợi:
+ Tài nguyên tự nhiên An Giang có đặc điểm riêng biệt của một vùng sông nước
với hệ thống kênh rạch chằng chịt và những vườn cây trái trù phú, khí hậu mát mẽ, ít
gió to và không có bão, có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái. Địa hình
đồi núi là một thế mạnh của tỉnh, với hệ hống các núi như núi Sam, núi Cấm, núi Cô
Tô,... là điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch trên núi. Điều này rất lạ
và thú vị đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn cũng khá phong phú An Giang là nơi sinh sống
của các dân tộc anh em Kinh, Hoa, Khmer và có bề dày lịch sử trong các cuộc kháng
chiến của dân tộc nên đã để lại nhiều di tích lịch sử. Bên cạnh đó với quá trình khai
phá và sinh sống lâu đời nên đã hình thành nên các làng nghề truyền thống, văn hóa lễ
hội, văn hóa ẩm thực, văn hóa nghệ thuật... Với tài nguyên này là điều kiện không thể
thiếu để phát triển du lịch của tỉnh.
+ Về cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch ở An Giang cũng khá đồng
bộ, hệ thống giao thông đường thủy và đường bộ khá tốt. Tuy nhiên giao thông hàng
không chưa phát triển cũng ảnh hưởng phần nào đến sự phát triển chung của tỉnh. Hệ
thống nhà hàng khách sạn, khu vui chơi giải trí tương đối nhiều nhưng nhìn chung quy
mô còn rất nhỏ và chỉ tập trung chủ yếu ở thành phố Long Xuyên, những nơi còn lại
rất hạn chế, đặc biệt là những nơi có khác khu du lịch tương đối lớn.
- Khó khăn:
+ Mặc dù địa hình có cả đồng bằng phù sa màu mở và đồi núi rất thuận lợi cho
phát triển du lịch nhưng việc khai thác các tài nguyên này vẫn còn ở dạng tự phát,
chưa có những chiến lược đầu tư phát triển lâu dài. Ví dụ tại các khu du lịch như núi
Sam, núi Cấm, khách du lịch chỉ đông đúc vào mùa lễ hội. Điều này chứng tỏ vẫn
chưa tận dụng hết thế mạnh về mặt địa hình của tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long.
+ Đối với khu vực đồng bằng, đặc biệt là khu vực có các cồn phù sa nằm dọc
sông Hậu. Các hoạt động du lịch đơn thuần ở đây chỉ là dựa vào một số khu di tích và
tận dụng thế mạnh về các loại cây ăn trái để khai thác du lịch. Hoạt động kiểu này rất
56
giống với các tỉnh khác của Đồng bằng sông Cửu Long nên chưa tạo ra dấu nhấn riêng
cho tỉnh. Hơn nữa, ở khu vực này thường xuyên ngập nước trong mùa lũ nhưng vẫn
chưa có hình thức du lịch nào để khai thác thế mạnh này.
+ Nhìn chung, tài nguyên du lịch của tỉnh tương đối đa dạng nhưng phân bố rộng
khắp trên địa bàn tỉnh, những khu du lịch thường rất nhỏ lẻ và dịch vụ du lịch tại đây
chưa thật sự tốt. Các khu du lịch vùng núi thì có sự tương đồng nhau rất lớn nên khó
có thể tạo ra sức hấp dẫn trong các tour du lịch.
2.3. Hiện trạng phát triển du lịch An Giang
2.3.1. Hiện trạng khách du lịch
Tình hình khách du lịch đến với An Giang luôn tăng từ năm 2005 - 2009, mức
tăng cụ thể như sau:
Nhìn chung, số khách du lịch đến An Giang tăng đều qua từng năm kể cả khách
du lịch nội địa và khách quốc tế. Năm 2005 tổng lượng khách đến An Giang do các
hãng lữ hành phục vụ là 214.780 nhưng đến năm 2009 con số này là 322.730 du
khách.
Bảng 2.7: Lượng khách lưu trú các hãng lữ hành phục vụ từ 2005 - 2009
(Nguồn: Sở VH – TT – DL An Giang)
57
Khách quốc tế chủ yếu từ các quốc gia như Pháp, Mỹ, Úc và một vài nước khác
thuộc thị trường Châu Á.
Bảng 2.8: Lượng khách quốc tế đến An Giang
(Nguồn: Sở VH – TT – DL An Giang)
Phần lớn các du khách đến An Giang du lịch vì mục đích nghĩ dưỡng (chiếm
40%), kết hợp với công việc (chiếm 10%), thăm thân nhân (chiếm 10%) và mục đích
khác (chiếm 40%).
2.3.2. Các khu du lịch ở An Giang
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 5 khu, 4 điểm du lịch chính. Ở mỗi khu, điểm du
lịch có những sức hấp dẫn riêng.
- Khu du lịch Núi Sam:
Cách trung tâm tỉnh lỵ An Giang Thành phố Long Xuyên khoảng 60km đi về
hướng Tây theo Quốc lộ 91 là Núi Sam. Núi có diện tích khoảng 280ha, với độ cao
vừa phải (241m). Nơi đây tập trung nhiều công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa
58
được Bộ Văn Hóa – Thể Thao - Du Lịch công nhận xếp hạng như: Chùa Tây An, Miếu
Bà Chúa Xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu, chùa Hang... và nhiều thắng cảnh đẹp như đồi
Bạch Vân, vườn Tao Ngộ...
Khu du lịch Núi Sam gồm các điểm du lịch như Miếu bà Chúa Xứ Núi Sam,
Chùa Tây An, Chùa Hang, Lăng Thoại Ngọc Hầu. Đối tượng khách đến tham quan chủ
yếu là khách hành hương, tham quan lễ hội Miếu Bà Chúa Xứ và khách tìm hiểu về
văn hóa lịch sử. Hằng năm tại đây đón khoảng trên dưới 3 triệu lượt khách đến tham
quan du lịch.
- Khu du lịch Núi Cấm:
Núi Cấm hay Thiên Cấm Sơn là ngọn núi cao nhất, lớn nhất nằm trong dãy Thất
Sơn hùng vĩ thuộc xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Núi cấm cách trung
tâm Thành phố Long Xuyên khoảng 90km theo Quốc lộ 91 đến Châu Đốc rồi đi Tịnh
Biên. Dưới chân núi về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên Núi Cấm có diện tích
khoảng 100ha có các dịch vụ giải trí đa dạng, có nhà hàng Kaolin phục vụ các món ăn
đặc sản vùng sơn cước.
Hằng năm, khu du lịch Núi Cấm đón khoảng trên dưới 1 triệu lượt khách đến
tham quan du lịch. Đối tượng khách chủ yếu là khách du lịch hành hương, tham quan
du lịch, nghĩ dưỡng, cúng viếng chùa, vui chơi giải trí. Trong khuôn viên khu du lịch
có các điểm tham quan như: suối Thanh Long, Chùa phật lớn với tượng phật Di Lặc
cao lớn nhất Đông Nam Á, Chùa Linh Ứng với cảnh quan thật sự mát mẻ và thanh tịnh
thích hợp với khách du lịch hành hương và nghỉ dưỡng.
- Khu du lịch Đồi Tức Dụp:
Đồi Tức Dụp là một ngọn đồi của núi Cô Tô thuộc xã An Tức, huyện Tri Tôn.
Ngọn núi nằm trong dãy Thất sơn hùng vĩ. Đồi Tức Dụp cao 2l6m, diện tích trên 2km2. Ngọn đồi tuy nhỏ nhưng được thiên nhiên cấu trúc rất độc đáo, bao gồm hệ
thống nhiều hang sâu, động lớn, ngõ ngách chằng chịt như mạng nhện bởi các tảng đá
lớn nhỏ chồng chất lên nhau.
Đồi Tức Dụp được giữ gìn, tôn tạo và mở rộng để trở thành di tích lịch sử phục
vụ du lịch, đón khách đến tham quan, tìm hiểu những bí ẩn bên trong ngọn đồi, thư
giãn cùng cảnh quan đẹp, không khí trong lành, vui chơi giải trí, leo núi dã ngoại, xem
thú hoang dã, ăn uống đặc sản miền quê, nghe đơn ca tài tử...
59
- Khu du lịch sinh thái Rừng tràm Trà Sư:
Rừng tràm Trà Sư thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên có diện tích 845ha vùng
lõi và 643ha vùng đệm, nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng của Việt Nam và
được công nhận là khu bảo vệ cảnh quan vào năm 2005. Thảm thực vật rừng tràm có
đến 140 loài, trong đó có đến 79 loài dược liệu. Tuy nhiên, với quần thể thực vật thân
gỗ thì cây tràm chiếm vị trí độc tôn và quy tụ thành một cánh rừng mênh mông. Vào
mùa nước nổi, rừng tràm Trà Sư thu hút rất nhiều khách du lịch bởi nơi đây có những
dịch vụ phục vụ du khách đi xuyên qua rừng tràm để ngắm phong cảnh thiên nhiên của
vùng này.
- Khu du lịch Thoại sơn:
Khu du lịch Thoại Sơn có các điểm tham quan như Nhà trưng bày cổ vật ốc Eo,
hang Ông Hổ, Bàn Chân Tiên, Thạch Đại Đao, Linh Sơn tự. Trên đỉnh cao nhất của
dãy Ba Thê có tên Chót Ông Tà là nơi thờ Thần núi.
Ngoài ra còn có các hồ như hồ số 1, hồ số 2 và hồ ông Thoại. Tại đây, du khách
có thể bơi thuyền, thưởng ngoạn phong cảnh hùng vĩ của núi cao, hang sâu, hồ nước
xanh thẳm.
- Điểm du lịch Nhà Mồ Ba Chúc:
Nhà mồ Ba Chúc thuộc xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang cách biên giới
Việt Nam - Campuchia 7km, đây là một địa điểm ghi dấu tội ác man rợ của bọn diệt
chủng Pôn Pốt đã xâm lược và sát hại hàng ngàn người dân Ba Chúc.
Hàng năm vào những ngày giỗ kỷ niệm những người đã chết, nhân dân xã Ba
Chúc tập trung tại nhà mồ cúng tế và gọi đây là ngày hội căm thù. Nhiều đoàn khách
trong và ngoài nước khi đến thăm quan nhà mồ đều bùi ngùi cảm động thương tiếc
những người đã chết.
- Điểm du lịch Hồ Soài So:
Soài So là tên của một hồ nước rộng lớn, khoảng 5 ha, có dung tích khoảng 400.000m3 Soài So là một điểm tham quan du lịch vừa được tỉnh An Giang đưa vào
khai thác trong những năm gần đây. Điểm du lịch này thuộc huyện Tri Tôn, nằm trong
quần thể các khu du lịch nổi tiếng của Tri Tôn xưa và nay.
60
Hiện nay, khu du lịch Soài So là một trong những điểm tham quan lý tưởng được
nhiều du khách lựa chọn bởi ngoài phong cảnh hữu tình, sự hùng vĩ của thiên nhiên,
nơi đây còn có một bầu không khí trong lành, thuần khiết giúp du khách dễ dàng thư
giãn sau những ngày lao động mệt nhọc...
- Trung tâm thông tin du lịch cộng đồng Châu Phong và Mỹ Hòa Hưng: Trung
tâm Thông tin Du lịch cộng đồng người Kinh tại xã Mỹ Hòa Hưng có cảnh quan thiên
nhiên thơ mộng, hữu tình với môi trường trong lành và gắn liền với khuôn viên của
khu lưu niệm Bác Tôn nơi du khảo về nguồn lý tưởng. Từ lâu đã là địa chỉ du lịch nổi
tiếng với các dịch vụ "Homestay" (ở nhà dân) cùng ăn, cùng ở, cùng làm, một ngày
làm người dân bản xứ cùng tham gia làm cá, làm lúa, tham gia làm vườn, đi chợ làng
quê của người địa phương, tham quan làng bè, chợ nổi, hít thở không khí trong lành,
làng quê yên tĩnh, đạp xe đi quanh làng mạc thanh bình, thưởng thức những món ăn
dân dã địa phương, xem biểu diễn nghệ thuật dân tộc Kinh. Hiện nay loại hình du lịch
này hiện đang rất được du khách rất ưa chuộng.
- Khu lưu niệm Bác Tôn:
Khu lưu niệm Bác Tôn thuộc cù lao Ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long
Xuyên, An Giang. Đây là nơi lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn và các di vật ngày
xưa của Bác. Ngôi nhà được Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra quyết định công nhận là di
tích lịch sử cấp quốc gia năm 1984. Những năm gần đây, trung bình mỗi năm khu lưu
niệm Bác Tôn có hơn 200.000 lượt khách đến thăm viếng. Đây cũng là địa điểm các
cơ quan, đoàn thể tỉnh An Giang đến làm lễ dâng hương, báo công, kết nạp đảng viên,
đoàn viên... Hiện nay, Cù lao Ông Hổ đã trở thành một địa chỉ du lịch văn hóa, giáo
dục truyền thống về nguồn. Cứ đến dịp lễ, Tết, đặc biệt là vào những ngày tháng Tám
mùa thu, du khách khắp nơi lại nô nức xuống phà Ô Môi qua sông Hậu để đến với cù
lao Ông Hổ.
2.3.3. Các tuyến du lịch điển hình
Từ những khu và điểm du lịch trên, ngành du lịch An Giang đã tổ chức những
loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, kết hợp hội chợ mua sắm,... liên kết với các
tỉnh bạn Campuchia đã hình thành một số tuyến du lịch:
- Tuyến Long Xuyên - Núi Sam - Núi Cấm - Tức Dụp:
61
Các điểm tham quan: khu lưu niệm Bác Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà
Chúa Xứ, lâm viên núi Cấm, đồi Tức Dụp.
- Tuyến Long Xuyên - Châu Đốc - Hà Tiên:
Các điểm tham quan: khu lưu niệm Bác Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà
chúa Xứ, làng bè Châu Đốc, thị xã Hà Tiên.
- Tuyến Long Xuyên - Châu Đốc - Phnom Pênh:
Các điểm tham quan: khu lưu niệm Bác Tôn, lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà
Chúa Xứ, thành phố Phnom Pênh,...
- Tuyến Long Xuyên - Mỹ Hòa Hưng - Ba Thê:
Các điểm tham quan: khu lưu niệm Bác Tôn, trại cá sấu Long Xuyên, khu di chỉ
văn hóa Óc Eo.
- Tuyến Long Xuyên - Châu Đốc - Rừng tràm Trà Sư.
Các điểm tham quan: Khu lưu niệm Bác Tôn - làng du lịch sinh thái - làng bè Mỹ
Hòa Hưng, làng bè Châu Đốc, làng Chăm, chợ Châu Đốc, rừng tràm Trà Sư.
- Tuyến Núi Sam - Núi Cấm - Ba Chúc - Tức Dụp - Hồ Soài So - Óc Eo Ba Thê -
Núi Sập:
Các điểm tham quan: Lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa xứ, Tây An cổ tự,
chùa Hang, lâm viên Núi Cấm, nhà mồ Ba Chúc, đồi Tức Dụp, Linh Sơn Tự - Ba Thê,
các hồ Núi Sập.
- Tuyến Long Xuyên - cồn Mỹ Hòa Hưng - cồn Bà Quà:
Các điểm tham quan: vòng rạch Long Xuyên, chợ nổi Long Xuyên, khu lưu
niệm Bác Tôn, làng du lịch sinh thái - làng bè Mỹ Hòa Hưng, làng du lịch sinh thái
Bình Thạnh.
2.3.4. Doanh thu du lịch và đầu tư phát triển du lịch
- Doanh thu du lịch:
Doanh thu du lịch bao gồm các khoản do du khách chi trả, đó là nguồn thu từ lưu
trú, ăn uống, bán hàng, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ khác. Tuy nhiên, trên
thực tế các khoản thu này không chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều
ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch thu hoặc do người dân địa phương phục
vụ khách du lịch thu. Trong các năm qua, du lịch An Giang không ngừng phát triển.
62
Bảng 2.9: Thu nhập du lịch An Giang từ 2005 - 2009
(Nguồn: Viện NCPT Du lịch)
Hình 2.4: Biểu đồ thu nhập du lịch An Giang từ 2005 - 2009
Thu nhập du lịch An Giang qua các năm đều tăng đáng kể, trong vòng 5 năm thu
nhập tăng hơn gấp đôi, đây là một điều đáng ghi nhận cho ngành du lịch của tỉnh. Để
đạt được kết quả này trong thời gian qua du lịch An Giang đã có những nổ lực không
ngừng, đầu tư hợp tác phát triển ngành, luôn đổi mới và tạo ra những sản phẩm du lịch
đặc trưng, tránh sự trùng lắp với các tỉnh trong vùng, hơn nửa An Giang có tài nguyên
du lịch tự nhiên cũng như tài nguyên du lịch nhân văn đa dạng, phong phú, các sở,
ban, ngành đã tận dụng khai thác tốt nguồn tài nguyên này cho phát triển du lịch. Bên
cạnh đó tỉnh cũng chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
63
du lịch, đáp ứng tốt nhu cầu của du khách, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ
hướng dẫn viên, cán bộ quản lí điều hành du lịch.
- Đầu tư phát triển du lịch :
Trong thời gian qua, ngành du lịch đã tập trung đầu tư và kêu gọi đầu tư vào các
khu, điểm du lịch trọng điểm cũng như các dự án xây dựng khu kinh tế cửa khẩu, đầu
tư hệ thống giao thông đến các các khu, điểm du lịch. Trong giai đoạn 2006 - 2009 vốn
đầu tư phát triển 116.575 triệu đồng. Vốn đầu tư trên được đầu tư vào 17 dự án, các dự
án nói trên đều tập trung tại khu du lịch núi Cấm, khu du lịch lòng hồ số 2, cầu tàu du
lịch Châu Đốc, Trạm Kiểm soát Liên hợp cửa khẩu đường sông Quốc tế Vĩnh
Xương,...
Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch cho cán bộ quản lý du
lịch, hỗ trợ đào tạo cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch bao gồm: quản
trị nhà hàng - khách sạn, nghiệp vụ lễ tân, bàn, buồng, bếp, an ninh khách sạn, dẫn
chương trình hội nghị, thuyết minh viên, chăm sóc khách hàng, kỷ năng thu thập thông
tin - tuyên truyền và bảo vệ môi trường,... nhằm từng bước nâng cao chất lượng về
hình thức lẫn nội dung phục vụ khách du lịch.
Đồng thời cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá về hoạt động du lịch
thông qua các phóng sự, phim tư liệu, website, bản tin, bản đồ, ấn phẩm, tham dự hội
chợ, biển quảng cáo, tổ chức các đoàn Famtrip về An Giang.
Duy trì các lễ hội truyền thống và phát triển các loại hình văn hóa nghệ thuật của
các dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, Khơmer, du lịch mùa nước nổi, phát triển và duy trì mô
hình du lịch cộng đồng, nghiên cứu và phát triển thêm một số mô hình du lịch mới.
Các công việc trọng tâm đã tiến hành như: Tham gia sự kiện du lịch trong khuôn khổ
Năm du lịch quốc gia, gia cố và thay đổi hình ảnh du lịch của các biển quảng cáo
(Tịnh Biên, Vàm cống, Chợ Mới), tổ chức đoàn doanh nghiệp và cơ quan báo chí về
khảo sát các điểm tham quan du lịch tại Cù Lao Giêng - Chợ Mới (mô hình du lịch
mới), tham gia Hội chợ Du lịch Quốc tế (thành phố Hồ Chí Minh), tham gia Hội chợ
Du lịch Quốc tế (Campuchia), tiếp tục thực hiện Chương trình hợp tác với thành phố
Hồ Chí Minh, cần Thơ, tỉnh Kiên Giang, Đồng Tháp, Cà Mau và Hiệp hội Du lịch,
thực hiện chuyên đề Phát triển du lịch trên sóng truyền hình An Giang, chủ yếu cung
cấp thông tin hoạt động du lịch để mời gọi đầu tư, quảng bá hình ảnh du lịch An
64
Giang, ấn phẩm du lịch, ẩm thực, các hoạt động của doanh nghiệp du lịch trên các
phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các buổi hội thảo, hội chợ, lễ hội..., chú
trọng đến các sản phẩm du lịch mới như du lịch cộng đồng và du lịch mùa nước nổi.
2.3.5. Lao động du lịch
Số lượng và chất lượng lao động trong ngành du lịch đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch. Trong những năm gần đây, số
lượng lao động trong ngành du lịch An Giang gia tăng một cách đáng kể. Cùng với sự
gia tăng không ngừng về số lượng, chất lượng lao động cũng được nâng cao, trình độ
chuyên môn, ngoại ngữ, thái độ và khả năng giao tiếp của nhân viên phục vụ từng
bước được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của du khách.
Bảng 2.10: Nguồn nhân lực du lịch An Giang từ 2005 - 2009
(Nguồn: Viện NCPT Du lịch)
Nhìn chung nguồn nhân lực du lịch An Giang qua các năm đều có sự gia tăng,
tuy nhiên nguồn lao động chưa qua đào tạo lại chiếm số lượng cao trong tổng số, còn
lao động có trình độ đại học và trên đại học, cao đẳng lại không đáng kể, đây là mặt
bằng chung cho nguồn nhân lực du lịch của An Giang nói riêng và cả Đồng bằng sông
Cửu Long nói chung. Do từ trước đến nay mặt bằng dân trí của vùng còn thấp so với
cả nước nên kéo theo nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế cũng thấp, trong tương
lai An Giang muốn phát triển mạnh ngành du lịch cần phải đầu tư đào tạo nguồn nhân
lực từ các cấp một cách đồng bộ, có như vậy mới đem lại hiệu quả cao.
2.3.6. Đánh giá hiện trạng phát triển du lịch An Giang
Được thiên nhiên ưu đãi, cảnh quan đặc thù với núi rừng, sông nước và nhiều di
tích văn hóa lịch sử, lễ hội, làng nghề truyền thống, cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật
thuận lợi để phát triển du lịch. Với vị trí nằm ở thượng nguồn sông Mê Kông, giao
65
thông thủy bộ đều thuận tiện thông thương trong tỉnh và liên vùng, với nhiều danh lam
thắng cảnh đẹp, có các cửa khẩu quốc tế, là điều kiện để An Giang phát triển du lịch
thành ngành kinh tế mũi nhọn một cách toàn diện, trong tương lai An Giang sẽ là cầu
nối đồng thời là trung tâm để quan hệ với tiểu vùng sông Mê Kông gồm: Việt Nam,
Lào, Campuchia, Thái Lan và một số nước Đông Nam Á khác.
So với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, có thể nói An Giang đã và đang khai
thác những tiềm năng sẵn có của địa phương với những loại hình du lịch hấp dẫn để
thu hút du khách, riêng các tour, tuyến trên địa bàn đã được kết nối thành tour, tuyến
liên hoàn trong và ngoài tỉnh. Với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn và nhiều di tích gắn
liền với truyền thống văn hóa lịch sử, tập tục lễ hội cổ truyền dân tộc trải đều trên khắp
tỉnh đã được Bộ văn hóa công nhận và xếp hạng, với hệ thống sông ngòi chằng chịt là
điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sông nước, khám phá tập quán sinh hoạt trên
sông của dân bản địa.
Trong các năm qua lượng khách đến các khu, điểm du lịch đều tăng và duy trì ở
mức ổn định, lượt khách tham quan các khu, điểm du lịch trung bình hàng năm ước
tính khoảng 4 triệu lượt khách. Vì thế, trong những năm gần đây An Giang đã có nhiều
cố gắng, nổ lực để phát triển du lịch nhằm xây dựng An Giang trở thành điểm đến của
Đồng bằng sông Cửu Long đón chào khách du lịch trong và ngoài nước. Cụ thể, trong
thời gian qua các doanh nghiệp trên địa bàn đã quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp,
mở rộng qui mô kinh doanh của đơn vị, nhằm khai thác tiềm năng đặc trưng của cảnh
quan môi trường sinh thái, sinh hoạt văn hóa, thể thao, lễ hội truyền thống, các sự kiện
du lịch có qui mô lớn của tỉnh,...
Trên cơ sở xác định phát triển du lịch là một thế mạnh của tỉnh, nên An Giang đã
tập trung đầu tư, khai thác để phát triển rộng các khu di tích văn hóa lịch sử như: núi
Sam, núi Cấm, đồi Tức Dụp, khu lưu niệm Bác Tôn, khu du lịch sinh thái rừng tràm
Trà Sư,... Các hoạt động du lịch An Giang hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu hưởng
thụ ngày càng cao của du khách đến với tỉnh, đây là bước chuyển biến tích cực trong
hoạt động của ngành, đó là sự kết hợp hài hòa giữa văn hóa tự nhiên và văn hóa xã hội.
Tuy nhiên, điểm hạn chế là lao động du lịch còn chưa được đào tạo chuyên môn
nghiệp vụ, các doanh nghiệp chưa chủ động và có kế hoạch đào tạo cụ thể, chưa bồi
dưỡng tốt cho nguồn nhân lực du lịch. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ quản lý chuyên
66
môn nghiệp vụ còn yếu, thiếu, chưa theo kịp nhu cầu phát triển, bên cạnh đó các doanh
nghiệp du lịch chưa quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho nhân
viên làm công tác phục vụ khách du lịch. Một hạn chế khác là An Giang chưa thu hút
được sự đầu tư từ bên ngoài vào lĩnh vực du lịch do điều kiện về vị trí, cơ sở hạ tầng,
cơ chế, thủ tục hành chính,.. còn khó khăn.
67
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC
LÃNH THỔ DU LỊCH TỈNH AN GIANG THEO HƯỚNG
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
3.1. Cơ sở để tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch bền vững Đồng bằng sông
Cửu Long
Hội nhập kinh tế quốc tế chắc chắn đem đến cho du lịch Đồng bằng sông Cửu
Long nhiều cơ hội cho sự phát triển. Hội nhập quốc tế giai đoạn 2010 - 2020, cùng với
làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long, kèm theo
đó là số lượng khách quốc tế đến Việt Nam với nhiều mục đích khác nhau sẽ ngày một
gia tăng. Trong xu thế hội nhập, khi hàng không và hàng hải của Đồng bằng sông Cửu
Long được đáp ứng đầy đủ thì không gian phát triển kinh tế của Đồng bằng sông Cửu
Long sẽ không còn bó hẹp trong vùng Nam Bộ, các liên kết vùng không chỉ dừng lại ở
mối liên kết với Thành phố Hồ Chí Minh hay vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, mà
còn được mở ra không gian rộng lớn của khu vực ASEAN với 600 triệu dân, và rộng
hơn nữa, theo luồng hàng hải nối liền Đông - Tây, vành đai Thái Bình Dương...
Hướng tới mục tiêu phát triển một ngành du lịch bền vững mang thương hiệu
Việt Nam, Tổng cục Du lịch Việt Nam đang hoàn thiện đề án "Chiến lược phát triển
du lịch Việt Nam đến năm 2020 và Tầm nhìn 2030"; đề án "Phát triển du lịch cộng
đồng kết hợp xóa đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đến năm
2020". Theo đề án này ngành du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long được ưu tiên
phát triển hàng đầu, trong đó chú trọng phát triển du lịch bền vững. Bộ Văn hóa - Thể
thao - Du lịch đã thông qua quy hoạch phát triển du lịch chung cho cả vùng Đồng bằng
sông Cửu Long.
Theo định hướng các đề án trên, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện
để phát triển các loại hình du lịch sau:
- Du lịch sinh thái dã ngoại cảnh quan thiên nhiên gắn với vùng sông nước, miệt
vườn.
68
- Du lịch cộng đồng trên cơ sở phát triển làng nghề cổ truyền với nhiều lễ hội
truyền thống đặc trưng.
- Du lịch tìm hiểu các di tích văn hóa lịch sử, du lịch hành hương tín ngưỡng.
- Du lịch công vụ, thương mại, hội nghị, hội thảo, triển lãm.
Định hướng phát triển du lịch bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng tuân
theo nguyên tắc phát triển bền vững chung, đó là sự hài hòa giữa môi trường, kinh tế
và xã hội. Tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội toàn vùng một cách bền
vững.
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch tỉnh An Giang
Theo định hướng phát triển các ngành kinh tế của An Giang, tỉnh đã xác định:
"Phát triển du lịch An Giang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khai
thác có hiệu quả lợi thế và điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử.
Phát triển mạnh các sản phẩm du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch,
tăng cường hoạt động lữ hành, mở rộng tour tuyến để tăng nguồn thu cho ngành du
lịch. Đầu tư cơ sở hạ tầng, nhân lực để phát triển bền vững".
An Giang là thành phố lớn khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có tiềm năng du
lịch tương đối đa dạng và phong phú để phát triển du lịch. Ngành kinh tế du lịch An
Giang có điều kiện phát triển và đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thu ngoại tệ và tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Phát triển ngành du lịch An Giang trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài
phải dựa trên những định hướng phát triển chính sau:
- Phát huy tối đa tiềm năng và lợi thế để thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong và
ngoài nước đầu tư phát triển du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của
thành phố xứng đáng là trung tâm du lịch của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
- Đa dạng hóa các loại hình du lịch, phát triển du lịch An Giang trên quan điểm
bảo vệ cảnh quan, sinh thái, môi trường bền vững, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội kết hợp
với bảo vệ và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những tinh
hoa văn hóa nhân loại, tránh du nhập những văn hóa phẩm độc hại...
- Nhận thức đúng mức vị trí, tầm quan trọng của du lịch trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa của một thành phố lớn thuộc khu vực Đồng bằng
69
sông Cửu Long. Trên cơ sở đó, tăng cường đầu tư cả nhân lực, tài lực và cơ chế chính
sách để thu hút mạnh mẽ các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển
du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. Phát triển du lịch
bền vững, theo đúng quy hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.
Phát triển theo hướng du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch hội nghị hội
thảo, đi đôi với phát triển nhanh chóng các sản phẩm và dịch vụ du lịch hiện đại hấp
dẫn để thu hút du khách.
- Phát triển du lịch phải dựa trên mối liên hệ tương hỗ khăng khít, chặt chẽ với
các ngành kinh tế khác, tạo điều kiện để các ngành kinh tế khác phát triển.
- An Giang cần mở rộng các tuyến du lịch quốc tế thu hút khách thuộc khối
ASEAN, Tây Âu, Bắc Mỹ, Đông Á - Thái Bình Dương, xúc tiến du lịch, đa dạng hóa
các loại hình du lịch bao gồm du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn, du lịch văn hóa,
du lịch kết hợp hội nghị,...
- Với vị trí quan trọng về mặt địa lí cũng như vị trí trong nền kinh tế khu vực, tài
nguyên du lịch phong phú, An Giang cần tổ chức các loại hình du lịch chủ yếu như
sau:
+ Du lịch công vụ, thương mại, hội nghị, hội thảo, triển lãm.
+ Du lịch tham quan, nghiên cứu sông nước đồng bằng sông Cửu Long.
+ Du lịch văn hóa lễ hội và tâm linh.
+ Du lịch nghỉ dưỡng thể thao, vui chơi giải trí.
+ Du lịch mua sắm.
+ Du lịch sinh thái, cắm trại.
Như vậy, theo định hướng phát triển du lịch của vùng Đồng bằng sông cửu Long
và định hướng phát triển du lịch, kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang, có thể thấy các
định hướng này đều tập trung phát huy các thế mạnh của địa phương để xây dựng
chiến lược phát triển du lịch bền vững.
Dựa trên cơ sở các định hướng này, chúng tôi đề ra một số định hướng tổ chức
lãnh thổ du lịch và giải pháp để thực hiện các giải pháp này như sau.
70
3.2. Định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh An Giang
3.2.1. Xây dựng các trung tâm, tuyến, điểm du lịch
Để khai thác hết tất cả các tài nguyên du lịch của An Giang, cần tập trung phát
triển các khu du lịch sẵn có, đồng thời cũng phải phát triển các trung tâm du lịch, khu
du lịch mới.
Quy hoạch phát triển các trung tâm, khu du lịch mới dựa trên tiềm năng, thế
mạnh của từng khu. Hình thành các trung tâm và khu du lịch sau:
- Quy hoạch các trung tâm phát triển du lịch:
+ Trung tâm du lịch thành phố Long Xuyên: Nơi đây là trung tâm - kinh tế - văn
hóa - xã hội của tỉnh nên có nhiều điều kiện để phát triển mạnh ngành du lịch. Với vị
trí gần trung tâm và nằm trong vùng trọng điểm du lịch của Đồng bằng sông Cửu Long
nên có rất nhiều điều kiện để phát triển du lịch, là nơi trung chuyển của các tour du
lịch trong khu vực.
Trung tâm du lịch thành phố Long Xuyên sẽ là điểm đến đầu tiên của du khách
khi đến An Giang, vì vậy cần xây dựng mới, tu bổ hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật
chất kĩ thuật phục vụ cho ngành du lịch. Một số vấn đề cần được quan tâm như:
• Tu bổ lại hệ thống giao thông vận tải trong nội ô thành phố như đường bộ, hệ
thống các bến xe, bến tàu, sân bay. Bên cạnh đó nên phát triển một số phương tiện giao
thông mới đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và bảo vệ môi trường như: xích lô, xe
ngựa, xe đạp,...
• Nâng cấp và xây mới các khách sạn, nhà hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của du khách, trong đó đặc biệt chú ý xây dựng các khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc
tế để phục vụ tổ chức các hội nghị trong nước và quốc tế.
• Cần xây dựng các khu vui chơi, giải trí mang tầm cỡ khu vực và quốc gia. Đặc
biệt nên chú trọng đầu tư các khu tập luyện thể dục thể thao để phục vụ các đại hội thể
thao của khu vực.
+ Trung tâm du lịch thị xã Châu Đốc: Châu Đốc là trung tâm - kinh tế - văn hóa -
xã hội lớn thứ hai của An Giang, nơi đây cũng tập trung nhiều tài nguyên du lịch: khu
du lịch núi Sam, làng cá bè trên sông, làng chăm,... Bên cạnh đó, Châu Đốc nằm gần
71
biên giới CamPhuChia, có cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương nên rất thuận lợi cho phát
triển kinh tế cửa khẩu và xây dựng các tour du lịch trong và ngoài nước.
- Hình thành và phát triển hai khu du lịch mới là khu du lịch Cù Lao Giêng và
khu du lịch kinh tế cửa khẩu Vĩnh Xương. Cơ sở để xây dựng hai khu du lịch này là
dựa trên các tài nguyên du lịch vốn có ở khu vực này:
+ Khu du lịch Cù Lao Giêng: Nằm trên sông Tiền với chiều dài 12km, chiều rộng
7km thuộc xã Tấn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cảnh quan thiên nhiên đầy sức
quyến rũ của một vùng sông nước, nhiều tôm, cá và nhiều loại cây trái đặc sản của
miền phù sa nước ngọt, Cù Lao Giêng còn có những công trình văn hóa và mỹ thuật
tiêu biểu như Chùa Bà Lê (Phước Hội Tự), một di tích lịch sử cách mạng thuộc xã Hội
An, huyện Chợ Mới đã được Nhà nước công nhận di tích quốc gia.
+ Khu du lịch Vĩnh Xương: Khu kinh tế cửa khẩu Vĩnh Xương, thuộc huyện Tân
Châu, nằm phía bắc tỉnh An Giang, giáp ranh với huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp.
Nơi đây có những thuận lợi nhất định để phát triển du lịch như: có vị trí tiếp giáp với
Camphuchia, khu gian hàng thương mại, khu kho ngoại quan, khu quản lý cửa khẩu,
cảng sông, cửa hàng miễn thuế, trạm xăng, khu dịch vụ, khu trưng bày và giới thiệu
sản phẩm.
- Phát triển các tuyến du lịch trong tỉnh và liên kết với bên ngoài:
+ Các tuyến du lịch trong tỉnh:
• Tuyến Long Xuyên - Làng Du lịch Mỹ Hòa Hưng - Làng mộc Chợ Thủ với các
điểm tham quan chính: tham quan các di tích lịch sử thuộc thành phố Long Xuyên, đi
thuyền trên sông đến làng du lịch Mỹ Hòa Hưng, tham quan khu lưu niệm Bác Tôn, du
lịch miệt vườn, thăm làng mộc Chợ Thủ.
• Tuyến Long Xuyên - Khu du lịch Tức Dụp - Ba Chúc - Cửa khẩu Tịnh Biên -
Khu Du lịch Núi Cấm,... với các điểm tham quan du lịch chủ yếu: tham quan các di
tích lịch sử thuộc thành phố Long Xuyên, di tích lịch sử đồi Tức Dụp, Ba Chúc, tham
quan, mua sắm ở cửa khẩu Tịnh Biên, tổ chức các hoạt động leo núi trên Núi Cấm,...
• Tuyến Long Xuyên - Châu Đốc - Làng chăm Đa Phước - Làng dệt Châu Phong
- làng Chiếu Tân Châu - cửa khẩu Vĩnh Xương với các điểm tham quan: tham quan
các di tích lịch sử thuộc thành phố Long Xuyên, du ngoạn khu vực Núi Sam, thăm
72
làng bè Châu Đốc, tham quan các làng nghề truyền thống của người Chăm, Khơme và
mua sắm tại khu kinh tế cửa khẩu Vĩnh Xương.
+ Các tuyến du lịch liên kết với các tỉnh lân cận và quốc tế:
• Tuyến Long Xuyên - Châu Đốc - Pnom Penh với các điểm tham quan: kết hợp
tham quan tại Long Xuyên, Châu Đốc và đi thuyền du lịch ngược dòng MêKong đến
thành phố Pnom Penh.
• Tuyến Long Xuyên - Chợ Vàm và các điểm du lịch thuộc tỉnh Đồng Tháp. Một
số điểm tham quan chủ yếu như: kết hợp tham quan các điểm du lịch thuộc thành phố
Long Xuyên và các điểm du lịch thuộc tỉnh Đồng Tháp, đặc biệt là Vườn quốc gia
Tràm Chim.
• Tuyến Long Xuyên - Núi Sập các các điểm du lịch thuộc tỉnh Kiên Giang với
một số điểm tham quan như: kết hợp tham quan các điểm du lịch thuộc thành phố
Long Xuyên và các điểm du lịch thuộc tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là thành phố Rạch
Giá.
3.2.2. Thị trường và sản phẩm du lịch
Cần có định hướng và chính sách phù hợp cho từng thị trường, chủ động tìm
kiếm phát triển hợp tác và mở rộng thị trường.
Thị trường khách nội địa: Mãng du lịch nội địa trước đây chưa được chú ý
nghiên cứu nhiều để thỏa mãn nhu cầu của khách thì nay sẽ là điểm nhấn quan trọng
cho sự phát triển của du lịch An Giang, tập trung khai thác:
- Khách du lịch tham quan miệt vườn sông nước theo các chương trình tour của
các hãng lữ hành.
- Khách du lịch thương mại hội nghị, triển lãm, hội thảo,...
- Khách du lịch lễ hội tín ngưỡng.
- Khách nghỉ dưỡng cuối tuần và quá cảnh.
Thị trường inbound (đón khách nước ngoài vào): cần quan tâm đến nhu cầu đa
dạng của du khách để tập trung quảng bá phù hợp từng thị trường:
+ Thị trường Asean (Thái Lan, Campuchia, Singapore, Malaysia,...).
+ Thị trường Tây Âu (Pháp, Anh, Hà Lan, Đức,...).
73
+ Thị trường Bắc Mỹ (Mỹ, Canada,...).
+ Thị trường Đông Á, Thái Bình Dương (Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Úc, Đài
Loan,...).
Trên cơ sở nhu cầu của khách, phát triển các loại hình lưu trú và dịch vụ phù hợp,
ngoài ra cần có chính sách về các dịch vụ: ngân hàng, bảo hiểm, y tế, siêu thị, hàng lưu
niệm và các chương trình khuyến mãi... nhằm tạo môi trường du lịch thân thiện, thu
hút khách.
Thị trường outbound (đưa khách ra nước ngoài):
+ Thị trường ASEAN: Thái Lan, Malaysia, Singapore...
+ Thị trường Đông Á - Thái Bình Dương: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Hàn
Quốc...
Có thể thấy sản phẩm du lịch An Giang so với các tỉnh đồng bằng sông Cửu
Long khá trùng lấp, thiếu cái mới. Các sản phẩm du lịch này đang khai thác dưới dạng
"thô" chưa đầu tư nhiều "chất xám". Trong khi đó nhiều cái có sẵn nhưng chưa khai
thác được như: phát triển du lịch cộng đồng, đầu tư nâng cấp các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể của 4 dân tộc Kinh, Hoa, Khơmer, Chăm để phục vụ du lịch. Để du lịch
An Giang mang khuôn mặt mới, hấp dẫn hơn cần nâng cao tính chuyên nghiệp, dựa
trên thế mạnh tiềm năng, cơ sở hạ tầng và kinh nghiệm đã có, cần đa dạng hóa sản
phẩm du lịch An Giang thông qua các hình thức sau đây:
- Đẩy mạnh khai thác các sản phẩm du lịch truyền thống của An Giang như du
lịch sông nước, du lịch sinh thái vùng đồi núi, du lịch vườn, du lịch văn hóa truyền
thống, du lịch lễ hội kết hợp với loại hình du lịch hội nghị, hội thảo, khen thưởng...,
- Tổ chức lại để khai thác có hiệu quả hơn các dịch vụ tham quan, lưu trú, ăn
uống, vui chơi giải trí trên ở các khu du lịch lớn như Khu du lịch Núi Sam, núi Cấm,...
hệ thống các điểm khu du lịch vườn, khu vui chơi giải trí.
- Kết hợp với chính quyền và đoàn thể địa phương để có chính sách khuyến
khích đầu tư khôi phục nghề đan lợp, làm lưỡi câu, làm lưới cá,... ở các huyện Chợ
Mới, Châu Phú, Tân Châu, Phú Tân.
- Nghiên cứu đầu tư phát triển dịch vụ xe xích lô chất lượng cao phục vụ khách
du lịch tham quan vòng quanh thành phố Long Xuyên (city tour).
74
- Đầu tư và nâng cấp các di tích văn hóa lịch sử và các hoạt động du lịch sông
nước miệt vườn của thành phố như: ngồi du thuyền ngắm sông nước - nghe đơn ca tài
tử - tham quan chợ nổi trên sông - vườn cây ăn trái,... thành những sản phẩm du lịch
văn hóa đặc trưng của thành phố để thu hút khách.
3.2.3. Xây dựng và phát triển các loại hình du lịch
Dựa trên các tài nguyên du lịch hiện có của tỉnh, có thể xây dựng các loại hình du
lịch phù hợp để phát huy hết các lợi thế của tài nguyên này. Có thể chia thành các loại
hình du lịch sau đây:
+ Loại hình du lịch sinh thái tự nhiên với các khu, điểm du lịch: Khu lâm viên
núi Cấm, khu du lịch Núi Sam, khu du lịch Rừng tràm Trà Sư, Búng Bình Thiên,...
+ Loại hình du lịch sinh thái sông nước miệt vườn với các khu, điểm du lịch như:
làng du lịch Mỹ Hòa Hưng trên cù lao Ông Hổ, các miệt vườn thuộc huyện Chợ
Mới,...
+ Loại hình du lịch văn hóa, lễ hội với các khu, điểm du lịch: Thành cổ Óc Eo,
Khu du lịch núi Sam (miếu bà chúa Xứ, chùa Tây An, chùa Hang...), làng Chăm và
thánh đường hồi giáo Mubarak,...
+ Loại hình du lịch tham quan di tích lịch sử với các khu, điểm du lịch: Khu lưu
niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng, khu di tích lịch sử Tức Dụp, Nhà mồ Ba Chúc.
+ Loại hình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng với các địa điểm du lịch nổi tiếng như:
tượng Đức Phật Di Lặc cao 30m nặng gần 600 tấn trên đỉnh núi Cấm, lễ hội Ramadan
của người Hồi Giáo dân tộc Chăm thuộc xã Châu Phong, huyện Phú Tân, chùa Xà Tón
của người Khơme huyện Tri Tôn,...
+ Loại hình du lịch tham quan làng nghề truyền thống - ẩm thực với các khu,
điểm du lịch: Làng bè cá trên sông, làng mộc chợ Thủ, làng nghề dệt Thổ Cẩm của
người Khơme, người Chăm,...
3.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật
- Nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn,
ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh, trong thời gian tới tỉnh An Giang nên tập trung đầu
tư và phát triển các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: Xây dựng đề án phát triển du
lịch núi Sam, núi Cấm từng bước trở thành khu du lịch quốc gia. Ngoài ra, việc đầu tư
75
cho khu du lịch núi Sập - Óc Eo và khu du lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư phát triển
bền vững, hỗ trợ hoạt động hai khu du lịch cộng đồng Mỹ Hòa Hưng và Châu Phong.
Bên cạnh đó, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các loại hình du
lịch theo mô hình du lịch văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, du lịch thể
thao leo núi... Khẩn trương hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng để khai trương hoạt động "Du
lịch cộng đồng" tại xã Mỹ Hòa Hưng (Thành phố Long Xuyên) và xã Văn Giáo (huyện
Tịnh Biên) do Tổ chức Nông dân Hà Lan tài trợ thông qua Trung ương Hội Nông dân
Việt Nam, đây là mô hình liên kết với các công ty lữ hành để đón khách trong nước và
quốc tế.
- Xây dựng Siêu thị miễn thuế Châu Đốc: mua bán các mặt hàng miễn thuế từ
biên giới Campuchia, đặt gần khu du lịch núi Sam.
- Xây dựng Bảo tàng tôn giáo Việt Nam: lưu giữ và trưng bày các hiện vật,
nghiên cứu về nguồn gốc, đặc trưng và ảnh hưởng của các tôn giáo tại Việt Nam (đặc
biệt là đạo Hòa Hảo có xuất xứ từ An Giang) nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu về tôn
giáo của du khách (nhất là đối tượng khách hành hương).
- Bên cạnh việc xây dựng hạ tầng tại các khu, điểm du lịch, việc duy trì và cải
thiện các cơ sở dịch vụ cũng cần được quan tâm. Trong đó chú trọng vào việc cải tiến
chất lượng dịch vụ tại các nhà hàng, khách sạn, quán ăn và các công trình công cộng.
3.2.5. Liên kết du lịch trong và ngoài tỉnh
Ngành du lịch của tỉnh nên quan tâm khai thác hợp lý các nguồn lực phát triển du
lịch theo hướng phát triển bền vững, tạo động lực thúc đẩy cùng phát triển, như tiếp
tục duy trì việc hợp tác giữa các đơn vị: Kiên Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp và thành
phố Hồ Chí Minh về liên kết du lịch, liên kết phát triển tour tuyến du lịch trong thời
gian tới; mở rộng sự liên kết với các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long và
Thành phố Hồ Chí Minh hình thành các tuyến du lịch nối kết giữa An Giang với: Cần
Thơ - Kiên Giang - Đồng Tháp và với Tây Ninh - TP.Hồ Chí Minh - Phnom Penh...
Liên kết với các điểm du lịch của Kiên Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp... tạo thành các
tour du lịch hấp dẫn.
Xây dựng các tour du lịch theo chuyên đề như: Tìm hiểu về văn hóa, tìm hiểu tôn
giáo... của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Campuchia...
76
Tiếp tục hợp tác với ngành Du lịch của Vương quốc Campuchia để khai thác các
điểm đến và nguồn khách du lịch qua lại cửa khẩu của hai địa phương. Tổ chức đoàn
gồm các ngành, địa phương và doanh nghiệp tham quan học hỏi một số mô hình phát
triển du lịch của các tỉnh, thành bạn mà An Giang có lợi thế để phát triển
Đây là điều kiện để tạo nhiều sản phẩm du lịch mới, đa dạng, phong phú, phát
triển thêm các dịch vụ phụ trợ phục vụ du lịch cũng như phát triển mở rộng tour tuyến
mới trong hoạt động lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa.
Hình 3.1: Bản đồ định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch An Giang
(Nguồn: Tác giả luận văn)
77
3.3. Giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tỉnh An Giang theo
hướng bền vững
Để các định hướng tổ chức lãnh thổ du lịch của tỉnh An Giang phát huy tính hiệu
quả và phát triển bền vững, góp phần vào việc phát triển kinh tế của tỉnh thì cần tập
trung thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
3.3.1. Quy hoạch, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch
- Về quy hoạch:
+ Phối hợp với Viện Quy hoạch phát triển Du lịch (Tổng Cục Du lịch) tiến hành
rà soát, điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch An
Giang đến năm 2015, định hướng đến 2020.
+ Tiếp tục điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các quy hoạch phát triển du lịch đã
được phê duyệt.
+ Tăng cường vai trò, hiệu lực quản lý và tổ chức thực hiện tốt quy hoạch của các
cấp các ngành.
- Quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch:
Trên cơ sở các quy hoạch đã được phê duyệt, khẩn trương xây dựng các dự án
đầu tư phát triển du lịch; đồng thời, giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thành phố
và các đơn vị liên quan quản lý và tổ chức thực hiện tốt quy hoạch đã được phê duyệt.
3.3.2. Đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng phục vụ du
lịch
- Đào tạo nguồn nhân lực:
Du lịch tỉnh An Giang mới chỉ phát triển trong mấy năm gần đây nên đội ngũ cán
bộ nhân viên lao động vừa thiếu lại vừa yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là giải pháp ưu tiên đặc biệt nhằm tạo ra sự phát
triển vượt bậc trong chất lượng phục vụ du lịch. Đồng thời, cần có cơ chế thu hút các
chuyên gia, thợ lành nghề, cán bộ quản lý giỏi trong lĩnh vực du lịch đến công tác và
làm việc tại tỉnh. Phối hợp với các trường du lịch để đào tạo mới, đào tạo lại đội ngũ
cán bộ quản lý hiện đang thiếu và yếu nghiệp vụ, gắn đào tạo với việc trao đổi nghiệp
vụ, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các tỉnh bạn. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lễ tân,
78
bàn, buồng, chế biến món ăn cho đội ngũ nhân viên phục vụ khách sạn, nhà hàng.
Trong quá trình đào tạo cần chú trọng đến mãng kiến thức sinh thái, môi trường và
phát triển bền vững trong du lịch.
- Nâng cao chất lượng phục vụ du lịch:
Cần tập trung nâng cao chất lượng phục vụ tại các khu, điểm du lịch, trong các
khách sạn, nhà hàng, trong hoạt động lữ hành, hướng dẫn, vận chuyển khách du lịch,
trong đón tiếp và các dịch vụ khác. Đa dạng hóa các dịch vụ lưu trú, các tours, tuyến,
loại hình du lịch, hàng lưu niệm cung cấp cho khách du lịch gắn với việc giáo dục đạo
đức, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ trong ngành, tăng
cường khả năng hội nhập du lịch trong nước và quốc tế.
3.3.3. Xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư du lịch
Nhằm khai thác tốt tiềm năng thế mạnh về du lịch của tỉnh, cần đẩy mạnh công
tác xúc tiến đầu tư du lịch và khuyến khích phát triển du lịch. Cần dành quỹ đất thích
hợp xây dựng các khu du lịch kêu gọi đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng. Đẩy mạnh cải
cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi trong cấp phép đầu tư cho các nhà đầu tư
trong tỉnh, ngoài tỉnh và quốc tế. Xây dựng chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh
nghiệp trong, ngoài tỉnh và quốc tế, các thương nhân, cộng đồng dân cư đầu tư phát
triển du lịch.
3.3.4. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá du lịch
Tăng cường tuyên truyền quảng bá du lịch bằng nhiều hình thức thích hợp. Đối
với thị trường nước ngoài, chú trọng các thị trường truyền thống, các nước trong khu
vực trên tuyến hành lang Đông - Tây. Nâng cao hình ảnh du lịch An Giang, quảng bá
các sản phẩm độc đáo hấp dẫn, giới thiệu lịch sử anh hùng và văn hóa truyền thống
đặc sắc của địa phương để thu hút khách du lịch quốc tế. Đối với trong nước và trong
tỉnh, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và của toàn xã hội về vai trò của du
lịch - là ngành kinh tế quan trọng có tính đột phá trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nâng
cao ý thức trách nhiệm của toàn dân đối với việc bảo tồn văn hóa và môi trường.
- Hướng dẫn các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế chủ động làm tốt hơn
công tác tuyên truyền, quảng bá cho chính đơn vị mình, nhằm mở rộng thị trường và
góp phần nâng cao hiệu quả xúc tiến, quảng bá du lịch của địa phương.
79
- Hình thức tuyên truyền, quảng bá chủ yếu tập trung vào các loại hình như
Website, hội chợ - triển lãm trong nước và nước ngoài, thông qua tổ chức các lễ hội
truyền thống, các sự kiện văn hóa - du lịch, xây dựng các bảng quảng cáo lớn, các biển
chỉ dẫn tại sân bay, cửa khẩu Tịnh Biên, Vĩnh Xương và các khu, tuyến, điểm du lịch,
cung cấp thông tin miễn phí cho khách du lịch. Tranh thủ sự hỗ trợ của Chương trình
hành động quốc gia về du lịch để nâng cao hình ảnh của du lịch An Giang trên thị
trường trong nước và nước ngoài.
- Lồng ghép việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư địa phương về phát
triển du lịch (nhất là phát triển du lịch bền vững) vào các chương trình, dự án, các
chương trình tuyên truyền quảng bá du lịch. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức phi
chính phủ, các tổ chức quốc tế trong công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch ra nước
ngoài. Các địa phương cần xây dựng các dự án phát triển du lịch bền vững quy mô
nhỏ, dựa vào cộng đồng. Đây là giải pháp quan trọng để phát triển du lịch bền vững và
góp phần xóa đói giảm nghèo.
3.3.5. Bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch
- Tài nguyên, môi trường là yếu tố quyết định sống còn đối với các hoạt động du
lịch. Vì vậy, cần chú trọng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên, môi trường (môi trường tự
nhiên và môi trường xã hội) du lịch, tại các tuyến, điểm, khu du lịch, nhất là ở khu du
lịch sinh thái rừng tràm Trà Sư.
- Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc bảo vệ môi trường tại các khu du lịch
như núi Sam, núi Cấm, Mỹ Hòa Hưng và một số tuyến điểm du lịch khác trong tỉnh.
Có các biện pháp hữu hiệu thu gom và xử lý rác, nước thải tại các khu, tuyến, điểm du
lịch. Chú trọng công tác đánh giá tác động môi trường của các hoạt động du lịch, nhất
là những nơi nhạy cảm về môi trường.
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục để nâng cao nhận thức cho cộng
đồng dân cư và khách du lịch về bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch, bảo vệ văn hóa
truyền thống và các giá trị của di sản. Hưởng ứng tuần lễ môi trường du lịch hàng
năm, động viên mọi người quan tâm bảo vệ môi trường, tạo điều kiện phát triển du lịch
bền vững.
- Có giải pháp hữu hiệu chấm dứt nạn ăn xin, tình trạng chèo kéo, ép khách du
lịch để bán hàng hóa làm ảnh hưởng đến môi trường du lịch của tỉnh.
80
3.3.6. Phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ du lịch
- Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch:
+ Để du lịch trở thành khâu đột phá trong phát triển kinh tế, ngoài việc xây dựng
các chính sách khuyến khích hỗ trợ, tỉnh và các địa phương cần đầu tư hơn nữa cho du
lịch, nhất là trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch.
+ Đối với các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như thành phố Long Xuyên, thị xã
Châu Đốc, tỉnh nên ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau
như: Chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch của Tổng cục Du
lịch, ngân sách tỉnh, nguồn vốn ODA.
+ Đẩy mạnh công tác xã hội hóa du lịch nhằm huy động mọi nguồn lực trong
cộng đồng dân cư, các doanh nghiệp, thương nhân, các tổ chức để phát triển đa dạng
về du lịch.
- Các dịch vụ hỗ trợ du lịch:
Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương để đầu tư phát triển các dịch vụ hỗ trợ cho du
lịch phát triển như: hệ thống giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng. Chú
trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn để sản xuất tại chỗ các
hàng lưu niệm mang bản sắc của từng vùng, từng miền trong tỉnh phục vụ khách du
lịch, tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư.
3.3.7. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học và công
nghệ phục vụ phát triển du lịch
- Tăng cường công tác nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững. Chú trọng
đúng mức việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ du lịch; xây dựng
hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành du lịch, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển
kinh tế. Khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào hoạt động kinh doanh du lịch. Tăng cường
hợp tác với các tổ chức, cơ quan khoa học trong và ngoài nước để tranh thủ sự hỗ trợ
về kỹ thuật, kinh nghiệm, tiếp cận với những thành tựu khoa học công nghệ du lịch
mới, tiên tiến của quốc tế để áp dụng cho du lịch tỉnh nhà.
81
- Khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại,
công nghệ xanh trong các dự án đầu tư phát triển du lịch nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, tiết kiệm năng lượng.
3.3.8. Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước về du lịch
- Đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch; tăng cường sự phối
hợp giữa các cấp, các ngành trong quản lý hoạt động kinh doanh du lịch; tạo hành lang
pháp lý và môi trường thuận lợi để các thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh đúng
pháp luật, có hiệu quả.
- Tăng cường bộ máy quản lý nhà nước về du lịch đủ mạnh từ cấp tỉnh đến các
địa phương, nhất là tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan quản lý về du lịch cấp tỉnh
tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ của ngành kinh tế quan trọng có tính đột phá của
tỉnh.
- Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư du lịch, thanh tra du lịch.
- Cải cách hành chính trong cấp giấy phép đầu tư cũng như trong công tác đền bù
giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư phát triển du lịch, tạo điều kiện thuận lợi
cho các dự án được triển khai đúng tiến độ.
- Cương quyết thu hồi giấy phép đầu tư theo đúng quy định của pháp luật đối với
những dự án phát triển du lịch đã quá thời hạn nhưng không triển khai xây dựng.
82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Có thể thấy rằng An Giang có nhiều tài nguyên tự nhiên hơn các tỉnh khác trong
vùng, là một thành phố ven sông Hậu, có hệ thống cồn, hệ thống sông ngòi kênh rạch
chằng chịt, có màu xanh của những cánh đồng lúa mênh mông và vườn cây trái bốn
mùa trĩu quả đã tạo cho vùng đất này một cảnh quan thiên nhiên với một môi trường
sinh thái trong lành, thơ mộng. Ngoài những nét đặc trưng của vùng Đồng bằng sông
Cửu Long thì tỉnh An Giang cũng có một số tài nguyên du lịch đặc trưng mà không
phải tỉnh nào trong khu vực cũng có được. Đó là địa hình đồi núi, vị trí tiếp giáp biên
giới, ngập lũ vào mùa nước nổi,... Các yếu tố này đã tạo nên một nét rất riêng trong
phát triển du lịch của An Giang so với các tỉnh còn lại trong khu vực.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi khách quan lẫn chủ quan thì du lịch thì việc
tổ chức khai thác phát triển du lịch ở An Giang cũng còn một ít khó khăn. Nhiều tài
nguyên vẫn đang còn nằm trong dạng tiềm năng chưa được khai thác hết. Việc đầu tư
phát triển cơ sở vật chất cho ngành du lịch còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ các nhu
cầu của khách du lịch, nên sản phẩm du lịch sinh thái nhìn chung còn đơn điệu, trùng
lấp giữa các khu du lịch, dễ gây nhàm chán cho khách và khó có thể cạnh tranh được
với các tỉnh lân cận. Trình độ chuyên môn, quản lý của một số cán bộ chưa ngang tầm
với yêu cầu nhiệm vụ, đội ngũ hướng dẫn viên được đào tạo nghiệp vụ về du lịch thật
sự còn yếu và thiếu về chuyên môn, do đó chưa đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu ngày
càng cao của khách du lịch cũng như nhịp độ phát triển của ngành.
Du lịch tỉnh An Giang đã và đang thu hút nhiều khách du lịch nội địa cũng như
khách du lịch quốc tế dựa trên các tài nguyên du lịch đặc trưng. Với sự phát triển đó,
An Giang xứng đáng là một thành phố thuộc á vùng du lịch Nam Bộ, là trung tâm du
lịch của tiểu vùng du lịch Đồng bằng sông Cửu Long, giữ vai trò trung chuyển khách
từ các tỉnh, thành đến đồng bằng sông Cửu Long (từ thành phố Hồ Chí Minh đi các
tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Tóm lại, du lịch An Giang có nhiều tiềm năng cần đầu tư và phát triển, để thực
hiện được điều này cần có sự kết hợp nhiều biện pháp từ các sở, ban, ngành, cơ quan
83
chức năng và cộng đồng địa phương. Trong đó, đặc biệt lưu ý đảm bảo sự phát triển
bền vững không chỉ cho du lịch mà cả sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo
mối quan hệ giữa phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường, nếu thực hiện tốt
những điều này thì du lịch sẽ là một nguồn thu lớn cho tỉnh, đồng thời còn là nét đặc
trưng của tỉnh trong thời kỳ phát triển và hội nhập.
2. Kiến nghị
- Đối với Ủy Ban Nhân dân tỉnh An Giang: Mặc dù tỉnh đã xác định việc phát
triển du lịch là được ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong
những năm tới nhưng cần có những chính sách cụ thể hơn để các cơ quan ban ngành
của tỉnh phối hợp trong việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển du lịch của tỉnh.
Cần có những chính sách thu hút đầu tư du lịch nhiều hơn nữa để các thành phần kinh
tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực này.
- Đối với Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh An Giang: Nên tiến hành khảo sát
toàn diện các điểm du lịch, tài nguyên du lịch trong toàn tỉnh để có những thông tin
chính xác về nguồn tài nguyên, từ đó tổ chức đánh giá và hoạch định những chính sách
phát triển du lịch của tỉnh. Đây là cơ sở để kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước vào các
khu, điểm du lịch được quy hoạch phát triển.
- Đối với Sở Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với các cơ quan có liên quan
để tổ chức khảo sát và đưa ra những tiêu chí về môi trường tại các địa điểm phát triển
du lịch. Từ đó đưa ra các yêu cầu cơ bản nhất định trong việc quy hoạch, tổ chức khai
thác tại các điểm du lịch nhằm đạt đến mục tiêu phát triển bền vững tại các điểm du
lịch này.
- Đối với Sở Giao thông vận tải của tỉnh: cần có kế hoạch để nâng cấp các tỉnh lộ
đến các điểm du lịch của tỉnh, đặc biệt là các tỉnh lộ như: tỉnh lộ 955 nối liền huyện Tri
Tôn với huyện Tịnh Biên, tỉnh lộ 943 nối liền huyện Thoại Sơn với huyện Tri Tôn,...
Bên cạnh đó cần hoàn tất các thủ tục và kiến nghị Bộ Giao thông vận tải sớm tiến hành
xây dựng cầu Vàm Cống nối tỉnh An Giang và Đồng Tháp.
- Đối với các công ty du lịch tỉnh An Giang: Cần nghiên cứu tổ chức các tour,
tuyến du lịch nhằm vào các thế mạnh riêng của tỉnh. Ví dụ tại các vùng đồi núi nên có
các hình thức du lịch leo núi, khám phá thiên nhiên, xây dựng cáp treo,... Còn tại các
84
vùng sông nước như ở huyện Chợ Mới, Phú Tân nên tổ chức nhiều hơn các tour du
lịch bằng thuyền, tàu du lịch và phát triển nhiều hơn nữa loại hình du lịch Homestay
tại các huyện này. Đặc biệt cần có kế hoạch để đánh giá hết tiềm năng du lịch vào mùa
nước nổi và phát triển các hình thức du lịch nhằm tận dụng lợi thế không phải ở tỉnh
nào cũng có loại hình du lịch này.
85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Tài liệu
1. Bùi Thị Hải Yến, Tuyến điểm du lịch Việt Nam, NXB Giáo Dục Việt Nam
2. Lê Huy Bá, Du lịch sinh thái, NXB Khoa học kỹ thuật.
3. Trần Hồng Giáp (2002), Kinh tế du lịch, NXB Trẻ.
4. Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, ĐHQG
TPHCM.
Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, 5.
NXBGD.
Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái - Những vấn đề lý luận và 6.
thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXBGD.
7. Bửu Ngôn (2010), Du lịch ba miền, tập 1: Nam, NXB Thanh niên.
8. Trần Văn Thông (2006), Tồng quan du lịch, ĐHQG TPHCM.
9. Nguyễn Minh Tuệ (1996), Địa lí du lịch, NXB TPHCM.
10. Phan Huy Xu - Trần Văn Thành (1998), Đánh giá tài nguyên du lịch tự
nhiên và định hướng khai thác du lịch sinh thái vùng đồng bằng sông Cửu
Long, Báo cáo khoa học đề tài cấp trường, trường Đại học dân lập Văn
Lang TPHCM.
- Các website
1. www.angiang.gov.vn
2. www.angiangpromotion.vn
3. www.dulichvietnam.info
4. www.dulichvn.org.vn
http://www.itdr.org.vn 5.
http://svhttdlag.dyndns.org 6.
86