
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM HUỲNH LAN VI
NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CHUYỂN
DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 12 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2006

1
LỜI MỞ ĐẦU
* Tính thiết thực của đề tài:
Ngày nay, bất kể quốc gia nào, theo thể chế chính trị gì, sau khi giành được độc
lập, tự do cho Tổ quốc đều tập trung cho phát triển kinh tế xã hội, đây là vấn đề cốt lõi
của mọi quốc gia. Đối với Việt nam, phát triển kinh tế – xã hội càng đặc biệt quan trọng
vì Đảng và nhân dân quyết tâm chọn con đường xây dựng CNXH trong điều kiện các
nước XHCN trên thế giới đang gặp nhiều khó khăn, khủng hoảng và chủ nghĩa đế quốc
luôn tìm mọi cách để xoá bỏ công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.
Với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” trong
điều kiện kinh tế còn nhiều lạc hậu, yếu kém, việc phát triển kinh tế xã hội ở nước ta là cả
một quá trình phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân. Để phát triển đất nước, Đảng đã nhận
thức vấn đề cốt lõi là phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tiễn đã chứng minh, với cơ cấu kinh tế hợp lý và
phù hợp, nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trong những năm qua.
* Mục đích của luận văn:
Quận 12 là một quận ven thành phố, được hình thành tháng 4 năm 1997 từ huyện
Hóc Môn tách ra, với tốc độ đô thị hoá khá nhanh, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, do đó Đại
hội Đại biểu Đảng bộ lần I (Nhiệm kỳ 1997 – 2000) và lần II (Nhiệm kỳ 2001 – 2005) đã
đề ra: “Thực hiện cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp – thương mại – dịch vụ, đồng thời
khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện để chuyển sang cơ cấu kinh tế công nghiệp – thương
mại – dịch vụ – nông nghiệp vào những năm sau”. Đến Đại hội Đại biểu Đảng bộ lần III
(Nhiệm kỳ 2006 – 2010) xác định: “ Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở khai
thác tốt nhất lợi thế của quận, thu hút đầu tư bên ngoài, thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp”. Thực hiện Nghị quyết của
Đảng, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân quận 12 đã cố gắng vượt qua những khó khăn về
cơ sở vật chất, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm, góp phần vào chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của quận. Tuy nhiện, bên cạnh những thành tựu đã đạt được về kinh tế,
cũng còn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn chế, cơ cấu kinh tế có chuyển dịch nhưng chưa
được rõ nét, chưa tạo được động lực để phát triển kinh tế bền vững. Vấn đề đặt ra là làm
thế nào để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn quận 12 theo hướng tích cực

2
. Đó chính là lý do và mục đích mà chúng tôi chọn đề tài luận văn “Những giải pháp góp
phần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn quận 12 đến năm 2010”.
* Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, thống kê mô tả và phân tích tổng hợp; quan điểm và đường lối của
Đảng về phát triển kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh nói chung và của quận 12 nói
riêng; những quy định của Luật và các văn bản dưới luật; những tài liệu chính thức của
phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Lao động thương binh xã hội, phòng Giáo dục,
Hội Nông dân và Uy ban nhân dân quận 12; những học thuyết kinh tế của Mác - Lê nin
vận dụng vào điều kiện thực tế ở Việt nam. Đặc biệt là phương pháp nghiên cứu trong
quản trị kinh doanh là môn học rất hữu ích giúp chúng tôi trong việc thu thập, phân loại,
xử lý số liệu, tài liệu và rút ra những nhận định, đánh giá và dự báo.
* Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn này đề cập đến tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn quận 12, từ đó
đưa ra những giải pháp cơ bản để thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế trên địa bàn quận 12 theo hướng tích cực.
* Kết quả nghiên cứu:
Hiện nay, đa số các địa phương trên phạm vi lãnh thổ Việt nam đều phát triển kinh
tế trên cơ sở hạ tầng thấp kém, diện tích đất nông nghiệp còn nhiều, việc chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế theo hướng tích cực còn diễn ra chậm. Vì vậy, chúng tôi mong muốn
qua luận văn này có thể chuyển tải một số nội dung quan trọng về cơ cấu ngành kinh tế,
từ việc phân tích đánh giá thực trạng kinh tế quận 12 để đưa ra một số giải pháp cơ bản,
cũng như những kiến nghị góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế của quận 12 nói riêng và kinh tế của các điạ phương nói chung theo hướng tích
cực.
Do phạm vi nghiên cứu và thời gian có hạn, bài viết khó tránh khỏi sai sót, chúng
tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành của quý thầy cô và các bạn.

3
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
1.1. KHÁI NIỆM VỀ CƠ CẤU KINH TẾ:
Cơ cấu (hay kết cấu) là một khái niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ
cách thức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua
lại vững chắc giữa các bộ phận đó.
Cơ cấu kinh là số lượng các ngành chuyên môn hoá và mối quan hệ tỷ lệ giữa các
ngành chuyên môn hoá với nhau của một nền kinh tế với những điều kiện kinh tế – xã hội
nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế không chỉ phản ánh sự phân chia tỷ lệ về lượng mà còn biểu hiện
sự khác nhau về chất của một nền kinh tế. Chẳng hạn, ở một nền kinh tế trong đó công
nghiệp chiếm tỷ trọng cao, thường cũng là nền kinh tế có năng suất và thu nhập bình
quân đầu người cao hơn một nền kinh tế có tỷ trọng công nghiệp thấp hơn. Mức độ liên
kết kinh tế giữa các bộ phận cũng là một tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển của một
nền kinh tế.
1.2. NỘI DUNG VỀ CƠ CẤU KINH TẾ:
Mỗi lọai cơ cấu kinh tế phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận và các cách
mà chúng quan hệ với nhau trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân. Trên bình
diện vĩ mô, có một số lọai cơ cấu sau:
1.2.1. Cơ cấu kinh tế được phân chia theo các quan hệ sản xuất trong nền kinh
tế: phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất xã hội, trong đó
nổi bật là quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất. Các mối quan hệ này biểu hiện ra bên
ngòai bề mặt xã hội với tư cách là các thành phần kinh tế khác nhau. Do đó người ta còn
gọi cơ cấu này là cơ cấu các thành phần khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Nghiên cứu
cơ cấu các quan hệ sản xuất sẽ cho thấy các xu hướng vận động của từng lọai thành phần
kinh tế trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội.
1.2.2. Cơ cấu kinh tế dựa trên nền tảng tái sản xuất xã hội: phản ánh mối quan
hệ của các bộ phận cấu thành quá trình tái sản xuất xã hội, bao gồm nhiều yếu tố, nhiều
quá trình, đó là các yếu tố đầu vào của sản xuất (sức lao động, đối tượng lao động, tư liệu
lao động) và các khâu trong vòng tuần hòan (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng).

4
Nếu cơ cấu các quan hệ sản xuất phản ánh mặt xã hội, thì cơ cấu tái sản xuất phản
ánh mặt vật chất, kỹ thuật của quá trình họat động kinh tế. Giả định trong điều kiện xã
hội về cơ bản là như nhau thì cơ cấu tái sản xuất sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế.
1.2.3. Cơ cấu kinh tế thể hiện ở mối quan hệ của tổ chức – quản lý nền kinh tế
quốc dân: phản ánh mối quan hệ của các hình thức tổ chức quản lý ở vi mô và vĩ mô của
các họat động kinh tế, bao gồm tập hợp các cấp quản lý, các cơ chế vận hành, các biện
pháp tổ chức và quản lý kinh tế. Nghiên cứu cơ cấu tổ chức – quản lý nền kinh tế thường
thông qua các chỉ tiêu tổng hợp để vạch ra một hệ thống tổ chức và quản lý kinh tế một
cách hợp lý cho mỗi giai đọan phát triển.
1.2.4. Cơ cấu kinh tế phân theo vùng – lãnh thổ: phản ánh những mối liên hệ
kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một đất nước trong họat động kinh tế. Thường người
ta phân tích những thế mạnh hiện thực và tiềm năng của từng vùng để từ đó hình thành
nên tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất nhằm phát huy tới mức cao nhất sức mạnh
kinh tế của từng vùng và tòan bộ nền kinh tế.
1.2.5. Cơ cấu kinh tế theo các ngành kinh tế: sự phát triển nền sản xuất xã hội từ
kinh tế tự nhiên tới kinh tế hàng hóa cũng có nghĩa là xuất hiện những ngành sản xuất
độc lập nhau, dựa trên những đối tượng sản xuất khác nhau. Cơ cấu ngành kinh tế biểu
hiện ra dưới các hình hình thức ngành lớn (ngành cấp I): nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ; các phân ngành (ngành cấp II): chăn nuôi, trồng trọt … trong nông nghiệp; cơ khí,
luyện kim, năng lượng … trong công nghiệp… Nghiên cứu lọai cơ cấu này nhằm tìm ra
những cách thức duy trì tính tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập
trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ để thúc đẩy sự phát triển của
tòan bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
1.2.6. Cơ cấu kinh tế được phân theo quy mô của các doanh nghiệp: phản ánh
những mối liên hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với nhau trong các hoạt động kinh tế,
bao gồm các doanh nghiệp có quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ.
Việc phân chia các lọai cơ cấu kinh tế như trên không phải là cách phân chia duy
nhất, lại càng không phải chỉ có từng ấy lọai cơ cấu kinh tế. Đối với đề tài này chúng tôi
chỉ tập trung vào những vấn đề của cơ cấu ngành kinh tế.
1.3. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ:
Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình làm thay đổi các lọai cơ
cấu kinh tế nói trên, kể cả những quan hệ tỷ lệ về số lượng lẫn chất lượng. Sự thay đổi về

