BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Ngọc Quyên

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT

VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đặng Thị Ngọc Quyên

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT

VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành

: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)

Mã số

: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. TRẦN THỊ THU MAI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các

số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong

bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Tác giả luận văn

ĐẶNG THỊ NGỌC QUYÊN

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả học tập ngày hôm nay, tôi xin chân thành bày tỏ

lòng biết ơn đến quý Thầy Cô giáo trường Đại học Sư phạm Tp. HCM. Tôi

xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Mầm non, Hội

đồng Khoa học thuộc trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, cùng quý Thầy

Cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS.

Trần Thị Thu Mai, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành công trình

nghiên cứu khoa học.

Tôi xin chân thành cảm ơn BGH và GV trường Mầm non Bé Ngoan,

trường Mầm non Hoa Mai, trường Mầm non Hoa Hồng đã tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.

Cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh cổ vũ, động viên giúp tôi đạt

kết quả một cách tốt nhất.

HỌC VIÊN CAO HỌC

ĐẶNG THỊ NGỌC QUYÊN

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ

NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO

TRẺ 5-6 TUỔI ........................................................................... 6

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 6

1.1.1. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi trên thế giới ................................... 6

1.1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam .................................. 10

1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ............................ 15

1.2.1. Kỹ năng ............................................................................................. 15

1.2.2. Cảm xúc, Trí tuệ cảm xúc, Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc .... 18

1.2.3. Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc ............. 25

1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi liên quan đến

việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ. ......... 26

1.2.5. Nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ ...... 31

1.2.6. Vai trò của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................................................. 33

1.2.7. Một số yếu tố ảnh hưởng lên quá trình phát triển kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi .............................................................. 35

Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 37

Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ

NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO

TRẺ 5-6 TUỔI ........................................................................... 38

2.1. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 38

2.1.1. Đôi nét về khách thể nghiên cứu....................................................... 38

2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng. ..................... 40

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 41

2.1.3. Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc của trẻ 5-6 tuổi . ......................................................................... 45

2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .............................................. 47

2.2.1. Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................ 47

2.2.3. Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ........................................................... 53

2.2.4. Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ. ..................................... 59

2.2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của

trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non tại TP.HCM ................................. 63

Tiểu kết chương 2. ......................................................................................... 69

Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP

GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN

CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI ............................................ 71

3.1. Cơ sở đề xuất một số biện pháp ............................................................... 71

3.1.1. Dựa vào cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ................................... 71

3.1.2. Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng .................................................. 71

3.2. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp ........................................................ 71

3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và

lâu dài ................................................................................................ 71

3.2.2. Nguyên tắc tạo môi trường cảm xúc tích cực. .................................. 71

3.2.3. Nguyên tắc tôn trọng trẻ ................................................................... 72

3.2.4. Nguyên tắc khả thi ............................................................................ 72

3.3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi. ....................................................................................... 73

3.3.1. Biện pháp 1: Giáo viên được tập huấn đào tạo về nội dung,

phương pháp giảng dạy. .................................................................... 73

3.3.2. Biện pháp 2: Tạo môi trường học tập tích cực ................................. 73

3.3.3. Biện pháp 3: Có những tiết dạy riêng để giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ. .......................................................................... 75

3.3.4. Biện pháp 4: Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc

giáo dục kỹ năng NBVTHCX. .......................................................... 77

3.3.5. Biện pháp 5: GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ ....................... 79

3.3.6. Biện pháp 6: Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ. ............................... 80

3.4. Tổ chức khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trên ............... 82

3.4.1. Mục đích khảo sát .............................................................................. 82

3.4.2. Nội dung khảo sát .............................................................................. 82

3.4.3. Khách thể khảo sát ............................................................................. 82

3.4.4. Kết quả khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp ............................. 82

3.5. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ...................................................... 85

3.5.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................... 85

3.5.2. Nội dung thực nghiệm........................................................................ 85

3.5.3. Nhiệm vụ thực nghiệm ....................................................................... 85

3.5.4. Tổ chức thực nghiệm ......................................................................... 85

3.5.6. Kết quả thực nghiệm .......................................................................... 86

Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 99

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGH : Ban giám hiệu

GV : Giáo viên

GVMN : Giáo viên Mầm non

NBVTHCX : Nhận biết và thể hiện cảm xúc

: Giáo dục GD

TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh

: Đối chứng ĐC

: Thực nghiệm TN

α=005 : Mức ý nghĩa

: Tần số quan sát n

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo sát. .................................. 38

Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV ở các trường khảo sát. ..... 39

Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát. ........... 39

Bảng 2.4. Thống kê số lượng trẻ ở 3 trường khảo sát. ................................ 39

Bảng 2.5. Thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ................ 46

Bảng 2.6. Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ............................................................ 47

Bảng 2.7. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .................................................... 49

Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .................................................................... 51

Bảng 2.9. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận

biết và thể hiện cảm xúc của các trường hiện nay. ..................... 53

Bảng 2.10. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .......................................... 60

Bảng 2.11. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở

3 trường thông qua sự đánh giá của người nghiên cứu. ............. 63

Bảng 2.12. Mức độ nhận thức về kỹ năng nhận biết cảm xúc bản thân và

người khác của trẻ 5-6 tuổi. ........................................................ 65

Bảng 2.13. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và

kiềm chế cơn giận dữ của trẻ 5-6 tuổi. ....................................... 66

Bảng 2.14. Nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự

đánh giá của GV ......................................................................... 67

Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất ............................... 83

Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất. ................................. 84

Bảng 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm ....... 87

Bảng 3.4. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm. .......... 89

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc .... 49

Biểu đồ 2.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo

dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ... 50

Biểu đồ 2.3. Hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ. ....................................................................................... 52

Biểu đồ 2.4. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................... 61

Biểu đồ 3.2. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực

nghiệm ....................................................................................... 88

Biểu đồ 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm. . 89

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Dự đoán tốt nhất về thành công trong học tập và cuộc sống của một con

người là gì? Tại sao một số trẻ em khi lớn lên dễ dàng vượt qua những thách

thức và tạo được những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống? Trong khi những

trẻ có thành tích học tập tương tự lại phải đấu tranh trong sự nghiệp và xây dựng

các mối quan hệ? Chỉ số trí tuệ (Intelligent Quotient - IQ) có phải là chỉ số duy

nhất để dự đoán thành công của một con người?

Đôi khi chúng ta đã đồng nhất trí tuệ với chỉ số IQ. Đó là cách hiểu phiến

diện. Bởi vì, trí thông minh giúp con người nhận thức thế giới khách quan còn

trí tuệ cảm xúc giúp con người nhận thức và làm chủ cảm xúc của bản thân, xây

dựng các mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh. Trong đó, kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc là một phần của trí tuệ cảm xúc mà chương trình

giáo dục mầm non đang hướng đến.

Mặt khác, trí tuệ cảm xúc trong đó có kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc không phải là một đại lượng bất biến, mà có thể thay đổi thông qua hoạt

động cá nhân [10]. Vì vậy, người ta có thể giáo dục trẻ em nâng cao EQ và giúp

các em sử dụng tốt hơn tiềm năng trí tuệ do di truyền.

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp các em phát triển về mọi mặt: thể

chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,

chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một …và phát triển những năng lực, phẩm chất mang

tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết [6]. Trong đó, kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc là một trong những mục tiêu quan trọng mà giáo dục mầm non

đang hướng đến.

Thời thơ ấu đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách

của con người. Giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc ở lứa tuổi mầm

non sẽ giúp trẻ phát triển tốt khả năng giao tiếp, biết quan tâm, chia sẻ, hòa đồng

với bạn bè và dễ dàng thích ứng nhanh với cuộc sống. Đặc biệt, trẻ MG 5-6 tuổi

2

được sống trong môi trường ngày càng phong phú và đa dạng, ngôn ngữ của trẻ

ngày một phát triển, mối quan hệ với bạn bè xung quanh càng được mở rộng.

Trẻ cần học cách xác định cảm xúc, hiểu tại sao chúng xảy ra và làm thế nào để

quản lý chúng một cách thích hợp. Sự chuẩn bị tốt về mặt cảm xúc ở giai đoạn

này sẽ giúp trẻ hình thành những kỹ năng quan trọng để hòa nhập vào môi

trường mới một cách tự tin, hòa đồng. Đặc biệt là khi các em bước vào lớp Một.

Do đó, vấn đề giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi là

điều cần thiết và đáng quan tâm hiện nay.

Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ Mầm non vẫn chưa được quan tâm và chú ý nhiều. Đặc biệt vấn đề biện

pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

Từ những lí do nêu trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Biện pháp

giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường

mầm non tại TP.HCM”.

2. Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM.Từ đó, đề

xuất một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

tại TP.Hồ Chí Minh.

4. Giả thuyết nghiên cứu

Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi ở một số trường

mầm non tại TP.HCM có biểu hiện chưa cao. Nếu GV có những biện pháp giáo

3

dục hiệu quả thì có thể nâng cao kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ

5-6 tuổi.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM.

- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

6. Giới hạn đề tài

6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc cho trẻ 5-6 tuổi trong lĩnh vực Trí tuệ cảm xúc, theo Chương trình giáo dục

Mầm non 2009, Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi.

6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho

trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non.

BGH và GV: 35 người.

- Khảo sát mức độ biểu hiện kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi tại 3

trường MN Bé Ngoan, MN Hoa Hồng, MN Hoa Mai.

Số lượng trẻ: 116

- Thực nghiệm ở trường MN Hoa Hồng, Q.Bình Tân –TP.HCM

Nhóm thực nghiệm : 22 trẻ

Nhóm đối chứng : 22 trẻ

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tri thức lý luận và thực tiễn có liên

quan đến vấn đề trí tuệ cảm xúc, biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

4

hiện cảm xúc nhằm viết cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và định hướng cho

việc nghiên cứu thực tiễn và thử nghiệm.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1. Phương pháp quan sát

Quan sát một số hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non trong hoạt động

học tập, vui chơi để tìm hiểu mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ và thực trạng

biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho BGH, GVMN. Phiếu trưng

cầu ý kiến gồm 9 câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức, thực trạng biện pháp, nội

dung, hình thức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi; Những khó khăn

trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX; đề xuất của BGH và GVMN.

Bên cạnh đó đề tài sử dụng bài tập tình huống qua tranh để đánh giá mức

độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi.

7.2.3. Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện

Tiến hành phỏng vấn GV nhằm tìm hiểu nhận thức của GV về kỹ năng

NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi, các hình thức, biện pháp, những khó khăn GV gặp

phải khi giáo dục trẻ.

Tiến hành phỏng vấn trẻ sau những giờ chơi, giờ nghe kể chuyện với một

số câu hỏi như: Sau khi chơi trò chơi cùng cô và các bạn con cảm thấy như thế

nào? Trong câu chuyện con thích nhân vật nào? Con hãy giả bộ làm khuôn mặt

mà nhân vật đó cảm thấy ? Nếu con là nhân vật đó con sẽ làm gì? Khi có cảm

xúc giận dữ con cần làm gì để giữ bình tĩnh?

7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm một số biện pháp đề xuất trên trẻ nhằm hỗ trợ việc kiểm

nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.

Chọn 2 nhóm: nhóm thực nghiệm 22 trẻ và nhóm đối chứng 22 trẻ của

trường Mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP.HCM.

5

7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Trong kế hoạch năm, tháng, tuần của GVMN ở các trường MN thuộc địa

bàn khảo sát.

7.3. Phương pháp thống kê toán học

Dùng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu thống kê thu được.

8. Đóng góp của đề tài

- Đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sử

dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non

tại TP.HCM.

9. Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm có các phần sau:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1 : Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

Chương 2 : Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM

Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5- 6 tuổi ở một số trường mầm non tại

TP.HCM.

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

6

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC

CHO TRẺ 5-6 TUỔI

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi trên thế giới

1.1.1.1. Các chương trình giáo dục liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc trên thế giới

Giáo dục cảm xúc có nguồn gốc từ phong trào “Giáo dục tình cảm” những

năm 1960. Khi đó người ta cho rằng về tâm lý và động cơ, trẻ em sẽ học tập tốt

hơn khi chúng áp dụng ngay những gì chúng đã học. Tại Neuva School một

trường tư thục ở Francisco, đã có những chương trình giáo dục trí tuệ cảm xúc

thông qua giáo trình Self - Science (Tự hiểu mình). Giáo trình này nói tới xúc

cảm đòi hỏi giáo viên và học sinh phải đặc biệt chú trọng tới bối cảnh của cuộc

sống. Phương pháp này đòi hỏi phải học về những căng thẳng và chấn thương

trong cuộc sống của trẻ em [10].

Ngoài ra, một số giáo trình như “Phát triển xã hội”, giáo trình “Năng lực

sống” hoặc giáo trình “Tập luyện xúc cảm xã hội” cũng được áp dụng ở các

trường học tại Mỹ. Các chương trình này đều nhằm mục đích khuyến khích sự

phát triển trí tuệ cảm xúc và xã hội của trẻ em trong khuôn khổ giảng dạy truyền

thống [10].

Bên cạnh đó, chương trình Roots of empathy (ROE) – Nguồn gốc của sự

đồng cảm, được sáng lập bởi bà Mary Gordon. Đây là một chương trình có ý

nghĩa đối với sự phát triển nhân cách của trẻ. Với tầm sứ mệnh mong muốn

mang đến cho trẻ sự yêu thương và quan tâm lẫn nhau và thể hiện sự đồng cảm

với những trẻ khác. Các nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu giáo dục Ontario tại

Đại học Toronto đã đánh giá ROE là một chương trình hiệu quả để phát triển

7

lĩnh vực học tập tình cảm xã hội. Chương trình hướng tới thúc đẩy sự phát triển

đồng cảm ở trẻ, giảm mức độ hành vi, hung hăng và bắt nạt ở trẻ, giúp trẻ tăng

cường hành vi ủng hộ xã hội (biết chia sẻ, giúp đỡ) tăng kiến thức về tình cảm

xã hội. Chương trình dành cho trẻ từ mẫu giáo đến lớp 8. Hiện nay chương trình

được phát triển ở các nước như Canada, Hoa Kỳ, Anh, Châu Âu NewZealand

[61].

Như vậy, có thể thấy giáo dục cảm xúc hay kỹ năng NBVTHCX đã được

phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt chương trình không chỉ dành cho

lứa tuổi học sinh mà còn dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non.

1.1.1.2. Những tác phẩm có liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng

NBVTHCX

Bên cạnh các chương trình được đề cập ở trên, đã có nhiều tác phẩm nói về

vấn đề giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Chẳng hạn, cuốn sách “Teaching

Emotional Intelligence to Children” (Dạy trí tuệ cảm xúc cho trẻ) của tác giả

Lynne Namka chia sẻ cho phụ huynh và giáo viên những phương pháp dạy trẻ

cách nhận biết và chia sẻ cảm xúc, đồng thời phản ứng với cảm xúc một cách

phù hợp và tác giả đã cung cấp một số hoạt động giúp trẻ thể hiện cảm xúc

thông qua bài hát, nghệ thuật hoặc trò chơi [59].

Trong cuốn sách “The emotional development of young children” (Phát

triển cảm xúc cho trẻ) của tác giả Marilou Hyson đã cung cấp những thông tin

bổ ích cho GV và PH về những đặc điểm phát triển cảm xúc ở trẻ mầm non và

những phương pháp, mục tiêu, chiến lược và những ví dụ thực tế để nâng cao

nhận thức và thể hiện cảm xúc thích hợp của trẻ em lứa tuổi mầm non [60].

Cuốn sách “The Power of Guidance: Teaching Social-Emotional skills in

Early Childhood Classrooms” (Sức mạnh của sự hướng dẫn: Dạy kỹ năng cảm

xúc xã hội trong lớp học mầm non) của tác giả Dan Gartrell năm 2013, đã cung

cấp những thông tin bổ ích để giáo viên thúc đẩy sự phát triển và tương tác với

trẻ. Đặc biệt là trẻ trai, thường có những xung đột ở mức độ nhẹ hoặc nghiêm

8

trọng với bạn. Ngoài ra cuốn sách còn cung cấp những chiến lược giúp giáo viên

quản lý lớp học tốt hơn mà không sử dụng sự trừng phạt đối với trẻ [56].

Cuốn sách “The Heart of Parenting: Raising an Emotionally Intelligent

Child” (Trái tim của cha mẹ: Nâng cao trí thông minh cảm xúc cho trẻ) của nhà

tâm lý học John M. Gottman, năm 1998, cuốn sách là nguồn tư liệu quí giá để

cha mẹ và giáo viên hướng dẫn trẻ hiểu thế giới cảm xúc của mình. Tác giả nhấn

mạnh nâng cao trí tuệ cảm xúc sẽ giúp trẻ trở nên tự tin, khỏe mạnh về thể chất

và tinh thần, đạt hiệu quả tốt hơn trong học tập. Đặc biệt, ông đưa ra 5 bước

huấn luyện cảm xúc cho trẻ “Nhận biết cảm xúc của trẻ, công nhận cảm xúc của

trẻ xem đó là cơ hội để gần gũi và giảng dạy trẻ, đồng cảm và xác nhận cảm xúc

của trẻ, giúp trẻ dán nhãn cảm xúc, luôn hỗ trợ trẻ đưa ra những cách thích hợp

để giải quyết một vấn đề hoặc tính huống khi trẻ gặp phải những cảm xúc khó

chịu.” [58].

Hơn nữa, phát triển kỹ năng NBVTHCX nằm trong lĩnh vực phát triển tình

cảm - xã hội. Đây là lĩnh vực rất được quan tâm và phát triển mạnh ở các nước.

Trong giáo trình Me, You, Us Social-Emotional learning in preschool của tác

giả Ann S.Epstein đã cung cấp những nội dung và phương pháp giúp giáo viên

có được nguồn tư liệu quý giá để giáo dục trẻ những kỹ năng cảm xúc xã hội

quan trọng chẳng hạn như sự nhận thức bản thân, phát triển sự đồng cảm, kiểm

soát hành vi và các năng lực xã hội cần thiết [55].

1.1.1.3. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ

năng NBVTHCX

Cuối những năm 1930, E.L.Thorndike quan niệm trí tuệ xã hội là năng lực

hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng

để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con

người. Đây cũng là một quan niệm thể hiện khả năng kiểm soát của cá nhân đối

với người khác [45].

9

Năm 1960, Walter Mischel đã tiến hành trắc nghiệm để đo năng lực chế

ngự cảm xúc tại một nhà trẻ ở Trường Đại học Stanford. Trắc nghiệm này cho

phép thăm dò tâm lý một đứa trẻ xung đột giữa các xung lực và sự kiềm chế,

giữa ham muốn và sự chế ngự bản thân, giữa niềm thích thú tức khắc và sự

mong đợi [31].

Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà thần kinh học có liên

quan đến cảm xúc và não bộ cũng xuất hiện. Các công trình này một lần nữa

giúp con người khám phá ra sự liên hệ đặc biệt của não bộ đối với cảm xúc.

Chẳng hạn, vào năm 1992 nhà thần kinh học Josep Ledoux khẳng định mọi cảm

xúc vui, buồn, giận dữ đều được sinh ra từ hệ thống viền (limbic) [31].

Trong tạp chí khoa học, năm 1997 nhóm tác giả Denham, Susanne A .;

Mitchell-Copeland, Jennifer; Strandberg, Katherine; Auerbach, Sharon; Blair,

Kimberly đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cha mẹ một cách trực tiếp và gián

tiếp đến năng lực cảm xúc của trẻ mầm non. Kết quả cho thấy, cách mà cha mẹ

thể hiện và phản ứng với cảm xúc là những dự báo quan trọng về năng lực cảm

xúc của trẻ. Trẻ em có cha mẹ thể hiện cảm xúc tích cực sẽ có xu hướng thể hiện

cảm xúc tích cực với bạn bè. Trong khi trẻ em có cha mẹ thể hiện cảm xúc một

cách tiêu cực thì có năng lực xã hội thấp hơn. Kết quả nghiên cứu này cũng phù

hợp với những nghiên cứu trước đó, chỉ ra rằng cha mẹ đều có những tác động

đến năng lực cảm xúc-xã hội của trẻ ở nhà cũng như ở trường.

Năm 2007, Trong tạp chí giáo dục mầm non nhóm tác giả Hansen, C., &

Zambo, D. đã đề cập đến vấn đề “Loving and Learning with Wemberly and

David: Fostering Emotional Development in Early Childhood Education” (Yêu

thương và học tập với Wemberly và David: thúc đẩy sự phát triển cảm xúc trong

giáo dục mầm non). Nhóm tác giả chia sẻ những phương pháp, cách thức giúp

GV phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ trong những năm mẫu giáo. Và nhóm

tác giả nhấn mạnh việc dạy tác phẩm văn học là một trong những cách có ý

nghĩa để GVMN thúc đẩy sự phát triển cảm xúc cho trẻ một cách lành mạnh.

10

Đồng thời nhóm tác giả đã có những phân tích về mối liên hệ giữa phát triển

tình cảm và việc học chữ. Bên cạnh đó, nhóm tác giả gợi ý một số cuốn sách và

chiến lược sử dụng sách để phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ MN.

Năm 2010, nhóm tác giả H. Elif Dağlioğlu, Ümit Deniz, Adnan Kan thuộc

trường đại học Gazi ở Ankara Thổ Nhĩ Kỳ đã công bố những nghiên cứu về chỉ

số cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi thông qua các tranh vẽ hình người. Dựa vào 5 loại

chỉ số cảm xúc của Koppitz. Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ trai thể hiện cảm

xúc: tính bốc đồng, bất an, lo lắng, nhút nhát, rụt rè và tức giận nhiều hơn

trẻ gái.

Ở Nga, Belarus và các nước cộng hòa thuộc Liên bang Nga, Trí tuệ cảm

xúc đã được sử dụng như một lựa chọn mới trong nội dung phát triển Tình cảm

và kỹ năng xã hội [1].

Ngoài ra, cách đây khoảng 8 thập kỷ nhà tâm lý LevVygotxky đã chú ý đến

lĩnh vực này khi ông nghiên cứu khủng hoảng lứa tuổi của trẻ lên bảy. Ông gọi

hiện tượng này là “Trí tuệ hóa cảm xúc”. Theo luận điểm của ông trẻ học cách ý

thức bản thân qua việc tương tác với người khác. Sau đó nhiều học trò của Lev

Vygotsky tiếp tục công việc của ông nhưng tất cả họ đều đi theo những hướng

nghiên cứu khác nhau. Kết quả là ý nghĩa của Trí tuệ cảm xúc chỉ được chú

trọng ở Mỹ cách đây khoảng 10 năm [1].

1.1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam

1.1.2.1. Những chương trình và các tác phẩm có liên quan đến vấn đề giáo

dục kỹ năng NBVTHCX tại Việt Nam

Trong chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và Đào tạo

Việt Nam ban hành ngày 25 tháng 7 năm 2009 đã đưa ra 5 mục tiêu phát triển \

cho trẻ bao gồm: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và tình cảm xã hội.

Trong đó kỹ năng NBVTHCX nằm trong lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm

kỹ năng xã hội.

11

Những năm gần đây, chương trình giáo dục kỹ năng sống đã bắt đầu quan

tâm đến lĩnh vực phát triển cảm xúc cho trẻ MG 5-6 tuổi. Chẳng hạn trong giáo

trình “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Ngọc Bích,

Nxb GD năm 2009, trong lĩnh vực này tác giả tập trung vào hai nội dung giáo

dục kỹ năng này cho trẻ bao gồm: kỹ năng thể hiện sự đồng cảm và kỹ năng thể

hiện cảm xúc với những người xung quanh [3].

Bên cạnh đó, kỹ năng NBVTHCX cũng được nói tới trong “Chương trình

giáo dục giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến 7 tuổi,” của tác giả Diane Tillman

Diana Hsu của Nxb Trẻ, năm 2009. Bên cạnh các lĩnh vực khác, tác giả tập

trung giáo dục trẻ các bước giải quyết xung đột, giáo dục trẻ thể hiện sự yêu

thương, hạnh phúc và khoan dung thông qua các trò chơi và câu chuyện [11].

Ngoài ra, trong giáo trình “Các hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã

hội cho trẻ mầm non” của tác giả Lương Thị Bình và Phan Lan Anh, do Nxb

Việt Nam phát hành năm 2011 đã cung cấp cho GV các trò chơi và phương pháp

tổ chức các hoạt động giáo dục tình cảm, xã hội cho lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo

[4].

Năm 2013, trong“Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm

non về lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội” (dành cho GV)

của tác giả Lương Thị Bình –Kay Margetts đã cung cấp nội dung, cách thức

cũng như phương pháp để để hỗ trợ GV giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Đặc biệt,

trong lĩnh vực phát triển tình cảm tác giả chú trọng phát triển ba khía cạnh: nhận

biết và thể hiện cảm xúc, hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác, kiểm soát cảm

xúc của bản thân [5].

Bên cạnh các chương trình và giáo trình kể trên, cũng có nhiều tác phẩm

hữu ích hỗ trợ trẻ phát triển kỹ năng này. Năm 2001, Tác giả Isabelle Filliozat

trong cuốn sách “Thế giới cảm xúc của trẻ thơ” của Nxb Dân trí, đã chia sẻ

những thông tin hữu ích, đặc biệt là những cách cha mẹ có thể giúp con vượt

qua những cảm xúc khó chịu chẳng hạn như: sự đau khổ, cơn giận hay sự lo hãi.

12

Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những gợi ý giúp cha mẹ tăng hứng thú và niềm vui,

hạnh phúc sống cùng con cái [24].

Tác giả Trần Đại Vi trong cuốn sách:“Bí quyết phát triển cảm xúc cho trẻ

khám phá tiềm năng nâng cao EQ” của Nxb Thời Đại năm 2010, đã hướng dẫn

trẻ các bí quyết để nâng cao chỉ số EQ, trong đó gồm có 5 chương: “Tự hiểu

mình”, “Tự quản lý mình", “Học để biết tự động viên khuyến khích mình”,

“Học để biết giao tiếp với mọi người”, “Làm cao thủ EQ”. Bên cạnh đó, tác giả

còn cung cấp những bài tập thực hành thú vị để trẻ luyện tập và nâng cao chỉ số

EQ của mình [52].

Trong cuốn sách “Những quy tắc để trẻ thông minh và hạnh phúc” của tác

giả John Medina, do Nxb Lao động – Xã hội, năm 2014 đã đưa ra những chỉ dẫn

giúp cha mẹ nuôi dạy nên những đứa con tuyệt vời. Đặc biệt ở chương “Bé hạnh

phúc” tác giả đưa ra những ví dụ cũng như những phương thức để cha mẹ xử trí

với những cảm xúc của trẻ một cách phù hợp. Tác giả nhấn mạnh đến việc giáo

dục sự thấu cảm, khả năng điều tiết và dãn nhãn cảm xúc cho trẻ [25].

1.1.2.1. Một số công trình nghiên cứu khoa học về biện pháp giáo dục kỹ

năng NBVTHCX ở Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay, những công trình nghiên cứu về biện pháp giáo dục

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi vẫn còn hạn chế về số lượng. Tuy nhiên,

vấn đề kỹ năng NBVTHCX vẫn được đề cập trong một số công trình nghiên cứu

ở năng lực trí tuệ cảm xúc.

Chẳng hạn, năm 2013 trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại Học

Sư Phạm TPHCM của tác giả Lê Thị Ngọc Thương (chủ nhiệm) đã nghiên cứu

vấn đề “ Khảo sát năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi tại một số trường mầm non

trên địa bàn Tp.HCM”. Trên cơ sở phân tích các mô hình về năng lực trí tuệ

cảm xúc, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu 4 yếu tố phát triển năng lực cảm

xúc cho trẻ 4-5 tuổi bao gồm: Khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện cảm xúc

của bản thân; Khả năng nhận biết và đánh giá cảm xúc của người khác; Khả

13

năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác; Khả năng sử dụng cảm

xúc để định hướng hành động. Bằng phương pháp trò chuyện và phương pháp

quan sát, nhóm tác giả đã đo năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi đạt ở mức độ

trung bình. Ngoài ra, nhóm tác giả khảo sát các biện pháp mà giáo viên sử dụng

để giáo dục trẻ. Trong đó có 3 biện pháp được giáo viên sử dụng nhiều nhất, bao

gồm: biện pháp dùng tình cảm, biện pháp sử dụng trò chơi và biện pháp làm

gương, khen trách phạt đúng mực, đúng lúc. Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở

nghiên cứu các mức độ và khảo sát biện pháp GV sử dụng mà chưa có những tác

động sâu về những biện pháp nhằm thúc đẩy năng lực cảm xúc cho trẻ [47].

Bên cạnh đó cùng năm 2013, trong đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ tác

giả Ngô Thị Thạch Thảo đã có công trình nghiên cứu về đề tài: “Kỹ năng cảm

nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại Tp.HCM”.

Dựa vào các phương pháp nghiên cứu tác giả đã có những kết luận sau: Kỹ năng

cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ đạt ở mức độ chưa cao; Ngoài ra, GV

chưa chú trọng phát triển kỹ năng này, hầu hết được rèn luyện lồng ghép trong

các hoạt động khác. Tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục trẻ và khảo sát

tính khả thi, trong đó biện pháp được giáo viên lựa chọn nhiều nhất là “Yêu

thương, quan tâm đến trẻ bằng hành vi cụ thể”. Tuy nhiên, đề tài cũng chưa có

những biện pháp tác động nhằm thúc đẩy kỹ năng này cho trẻ [41].

Bên cạnh các công trình nghiên cứu khoa học được đề cập ở trên, thì vấn

đề nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX đã được một số tác giả

đề cập trong một số tạp chí chẳng hạn như:

Năm 2003, Tác giả Ngô Công Hoàn với bài viết “Xúc cảm và giáo dục xúc

cảm đối với trẻ em lứa tuổi mầm non” trên tạp chí Tâm lý học, số 4. Tác giả đi

sâu về các hướng nghiên cứu khác nhau của cảm xúc, bên cạnh đó tác giả đưa ra

4 nội dung giáo dục cảm xúc cho trẻ em lứa tuổi mầm non. Bao gồm: giáo dục

tự ý thức cho trẻ, làm chủ được các xúc cảm của mình, giáo dục khả năng đồng

14

cảm với người khác, giáo dục khả năng hợp tác với mọi người. Ở mỗi nội dung

tác giả đều đi sâu phân tích và nêu lên ý nghĩa của chúng [18].

Năm 2005, Tác giả Trần Thị Hồng Sương cũng đã đề cập đến “Một số giờ

học phát triển xúc cảm cho trẻ 4-5 tuổi” trên tạp chí thông tin KH- GD Mầm

non. Thông qua 4 giờ học, tác giả đã tổ chức phát triển cảm xúc cho trẻ với nội

dung: giáo dục trẻ nhận biết về các cảm xúc vui, buồn , giận dữ, sợ hãi. Bên

cạnh đó tác giả đã tổ chức một số trò chơi và hoạt động để trẻ nhận biết và thể

hiện cảm xúc [39].

Ngoài ra năm 2006, tác giả Nguyễn Thu Hà với bài viết “Sự phát triển của

cảm xúc xấu hổ ở lứa tuổi mầm non” trên tạp chí giáo dục mầm non, Số 6. Tác

giả đã phân tích sự phát triển cảm xúc xấu hổ của trẻ ngày càng tăng theo lứa

tuổi đặc biệt là trẻ từ 3 tuổi trở lên. Sự phát triển cảm xúc xấu hổ của trẻ có liên

quan đến tình cảm khác như trách nhiệm, lòng nhân ái. Đặc biệt là nó ảnh hưởng

đến sự hình thành đạo đức cho trẻ. Vì vậy, GV và người lớn cần có sự quan tâm,

chú ý giáo dục cảm xúc này cho trẻ [13].

Năm 2009, trong kỉ yếu hội thảo của Trường cao đẳng sư phạm TW Tp.Hồ

Chí Minh tác giả Nguyễn Minh Anh đã có bài viết “Trí tuệ cảm xúc với nội

dung phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội của trẻ trong chương trình giáo dục

mầm non mới”. Trong bài báo tác giả đã nhấn mạnh đến sự phát triển trí tuệ cảm

xúc ở trẻ MGL gồm những thành tố sau:

- Định hướng chú ý: thế giới con người

- Định hướng quan tâm: người khác

- Tính đến cảm xúc của người khác trong hoạt động của mình.

Bên cạnh đó, tác giả đã có những đề xuất sử dụng truyện kể để phát triển trí

tuệ cảm xúc cho trẻ. Đặc biệt tác giả đã có những lưu ý cho các nhà giáo dục khi

tổ chức quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ, cần giúp trẻ nhận thức cảm

xúc của chính mình và cảm xúc của người khác. Giáo dục trẻ thể hiện lòng nhân

15

đạo với những người xung quanh như: sự quan tâm, tình yêu thương, chia sẻ,

biết giúp đỡ và có tinh thần đồng đội…[1].

Năm 2010, Tác giả Lê Thị Luận cũng đã đề cập đến vấn đề“Mức độ thể

hiện xúc cảm bản thân của trẻ 4-5 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở

trường mầm non” trên tạp chí Tâm lý học, số 3. Qua phương pháp quan sát

cùng với sử dụng bài tập tình huống để đo mức độ biểu hiện xúc cảm của trẻ.

Tác giả đã có những kết quả nghiên cứu cho thấy cảm xúc tích cực và tiêu cực

của trẻ được thể hiện khá rõ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. Đồng thời tác

giả nhấn mạnh việc tạo điều kiện cho trẻ thể hiện cảm xúc bản thân hợp lí trong

trò chơi hoặc trong đời sống là điều cần thiết [23].

Năm 2013, Tác giả Lê Thị Thanh Thủy với bài viết “Một số hoạt động

giúp giáo viên mầm non tăng cường phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ” trên tạp

chí giáo dục mầm non. Trong bài báo tác giả tập trung vào phân tích 4 hoạt động

nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ bao gồm : giáo viên cần tạo môi trường

thân thiện, an toàn về cảm xúc trong lớp học và xác định mục tiêu định hướng

cho hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc, ngoài ra GV cần tổ chức hoạt động dạy

học, giáo dục mang tính phát triển hướng vào trí tuệ cảm xúc và cuối cùng GV

cần xác định hiệu quả giáo dục TTCX [42].

Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến lĩnh

vực giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ mầm non. Tuy nhiên, nghiên cứu biện

pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi vẫn chưa được quan tâm

nhiều. Vì vậy, nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6

tuổi là việc làm cần thiết hiện nay.

1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Kỹ năng

1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng. Quan niệm thứ nhất cho

rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác.

16

Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,

con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng

[44].

Theo tác giả N.D.Levitovxam cho rằng kỹ năng gắn liền với kết quả hành

động. Người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng

đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông nhấn

mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành

động, vừa phải vận dụng lí thuyết đó vào thực tế [22].

Theo T.A.Ilina, “Kỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực

hiện được trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động

thực hành này lại giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [40, tr.5].

Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “kỹ năng là giai

đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên

một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ

tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [32, tr.376].

Quan niệm thứ hai xem kỹ năng như là một năng lực của con người:

A.V.Petrovski cho rằng kỹ năng là “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri

thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc

tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận

hay thực hành xác định” [38, tr.18].

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết

quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh

nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [37].

Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả

những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện

những nhiệm vụ tương ứng” [12].

Như vậy, theo các quan niệm trên chúng ta thấy rằng:

- Kỹ năng giúp con người làm việc đạt hiệu quả hơn.

17

- Để có kỹ năng con người cần phải nắm vững lý thuyết, có mục đích hành

động và có khả năng vận dụng nó vào thực tiễn.

- Kỹ năng không tự nhiên mà có, nó phải thông qua luyện tập thường

xuyên mới có được.

Với những quan niệm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận

dụng tri thức, kinh nghiệm con người có được để hành động có kết quả và

hành động đó phải phù hợp với điều kiện cho phép.

1.2.1.2. Các giai đoạn hình thành kỹ năng

Khi phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng, các tác giả đã phân chia

thành các giai đoạn khác nhau.

Theo tác giả Hoàng Thị Oanh có 4 giai đoạn hình thành kỹ năng

+ Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mục đích,

cách thức, điều kiện hành động. Giai đoạn này, con người cần nắm lý thuyết,

chưa hành động thực sự. Việc nắm lý thuyết có thể do tự học hoặc do người

khác hướng dẫn. Giai đoạn này rất quan trọng vì không nắm xác định được mục

đích thì sẽ không có hướng hành động và để hành động hiệu quả thì con người

phải thực hiện được các điều kiện cần thiết của hành động đó.

+ Giai đoạn làm thử: Là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động. Lúc này, trẻ hoàn

toàn có thể làm mẫu trên cơ sở nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức điều

khiển hành động hoặc trẻ có thể hành động theo hiểu biết của mình. Ở giai đoạn

này, hành động của trẻ vẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành

động có thể đạt được ở mức độ thấp hoặc không đạt kết quả.

+ Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: là giai đoạn trẻ đã có thể hành

động độc lập, ít sai sót, các hành động thực hiện thuần thục hơn. Hành động đạt

kết quả trong những điều kiện quen thuộc.

+ Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: là giai đoạn trẻ thực hiện hành động

có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những hoàn cảnh

mới, các thao tác thành thục, các hành động đã có sự sáng tạo [35].

18

Theo Nguyễn Quang Uẩn sự hình thành kỹ năng chia làm 2 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1: Nắm vững các tri thức về hành động hay hoạt động

+ Giai đoạn 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó. Để thực hiện

được hành động có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập

dượt, phải có sự quan sát mẫu, làm thử. Hành động càng phức tạp, sự tập dượt

càng phải nhiều. Muốn kỹ năng có sự ổn định và mềm dẻo có thể vận dụng vào

các điều kiện tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng và kĩ càng. Sau này kỹ năng

ổn định có thể vận dụng được trong nhiều tình huống khác nhau [52].

Như vậy, theo cách phân tích trên để hình thành kỹ năng nào đó, con người

cần bắt đầu từ giai đoạn nắm được tri thức và sau đó là từ những kỹ năng chưa

hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.

Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách phân lọai các giai đoạn hình thành kỹ

năng của tác giả Hoàng Thị Oanh để nghiên cứu đề tài của mình.

1.2.2. Cảm xúc, Trí tuệ cảm xúc, Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

1.2.2.1. Cảm xúc

Khái niệm cảm xúc

Bàn về khái niệm cảm xúc đã có rất nhiều ý kiến khác nhau

Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “Cảm xúc là sự phản ánh

tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan

hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình

thức những rung động trực tiếp” [12].

Từ điển tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện đưa ra như sau “Cảm

xúc là sự phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất

hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật

như tim đập nhanh , toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt hoặc run

rẩy, lối loạn tiêu hóa. Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và

cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm

chế khó khăn” [53].

19

Theo giáo trình tâm lý học đại cương tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên)

“Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng

riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình

huống nhất định” [36].

Theo Caroll.E.Jzard định nghĩa về cảm xúc một cách đầy đủ phải chú ý 3

khía cạnh sau:

- Cảm giác này được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc.

- Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và

các hệ khác của cơ thể.

- Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được đưa ra quan sát, đặc biệt là những

phức hợp phản ánh trên bộ mặt [9].

Như vậy, có thể thấy cảm xúc là một quá trình tâm lý, được thể hiện về mặt

rung động của con người, mang tính bản năng, gắn liền với phản xạ không điều

kiện, nó bị gây nên bởi những tác động của sự vật hiện tượng xung quanh.

Trong đề tài này, người nghiên cứu sử dụng khái niệm cảm xúc theo từ

điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng “Cảm xúc là sự phản ánh tâm lý về mặt ý

nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các

thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình thức

những rung động trực tiếp”

Phân loại cảm xúc

Theo R.Plutchik con người có tám loại cảm xúc cơ bản: vui – buồn, ngạc

nhiên – đề phòng, chấp nhận – ghê tởm, sợ hãi – giận dữ. Các cảm xúc cơ bản

kết hợp với nhau tạo ra các cảm xúc khác đa dạng hơn. Các cảm xúc cơ bản có

thể dễ phân biệt khi có cường độ cao và khó phân biệt khi có cường độ thấp [8].

C.Izard đưa ra mô hình gồm mười cảm xúc: vui, buồn, ngạc nhiên, giận dữ,

chán ghét, coi khinh, sợ hãi, hổ thẹn, tội lỗi, quan tâm. Các cảm xúc này khi tổ

hợp với nhau cũng tạo ra các cảm xúc khác [8].

20

Theo Lưu Hồng Khanh người Việt Nam theo truyền thống phương Đông

có bảy mối cảm xúc là “mừng, giận, buồn, sợ, ghét, yêu, thèm muốn”. Những

cảm xúc tích cực gồm: vui mừng, yêu thương, thèm muốn. Những cảm xúc tiêu

cực gồm: giận, buồn, sợ , ghét [28].

Sự biểu hiện của một xúc cảm, tình cảm.

Xúc cảm, tình cảm thường biểu hiện trên ba phương diện: sinh lý, hành vi,

cử chỉ, điệu bộ và nhận thức.

 Những biểu hiện trên phương diện sinh lý

Là những thay đổi về thể chất, sinh lý hoặc thay đổi thành phần các chất

hóa học của máu, thần kinh, thể dịch trong cơ thể. Ví dụ: khi sợ hãi con người

thường biểu hiện: tim đập nhanh, toát mồ hôi, hơi thở ngắn, dạ dày co thắt

mạnh. Hoặc khi tức giận bàn tay nắm lại, tim đập nhanh, hơi thở gấp, mặt nóng

lên…Có thể tùy vào hoàn cảnh, cường độ cảm xúc mạnh nhẹ mà con người thể

hiện phản ứng cảm xúc có liên quan đến phương diện sinh lý, thể chất như trên.

Những thay đổi này cũng chính là kết quả phản ứng của hệ thần kinh tự động

điều khiển hoạt động của các tuyến nội tiết cơ và máu. Và khi con người ý thức

được những thay đổi bên trong cơ thể thì có thể điều chỉnh được.

 Những biểu hiện trên phương diện hành vi, cử chỉ, điệu bộ.

Biểu hiện trên hành vi, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ chẳng hạn như khi vui

mừng có thể nhẫy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống,

nói chậm lại, khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại, những thể hiện xúc cảm

nét mặt thường mang tính chất bẩm sinh, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng bởi yếu

tố văn hóa.

 Những biểu hiện trên phương diện nhận thức

Ngoài những thay đổi về thể chất và hành vi ra con người trải nghiệm xúc

cảm, tình cảm thông qua việc có thể ý thức được về nó và dùng ngôn ngữ để mô

tả lại những trải nghiệm đó của mình [36].

21

Theo William Hinds, có 8 loại cảm xúc chính yếu và thường có các biểu

hiện sau: [57, tr.82.]

Cảm xúc

Điều cảm xúc thực hiện

Điều gì xảy ra trên khuôn mặt

Các câu trả lời cảm xúc bị kích thích bởi tư vấn viên

Quan tâm, sợ hãi

Nỗi buồn – sự thống khổ

Dấu hiệu rút lui để bảo vệ Tìm kiếm sự giúp đỡ

Sợ hãi, đau buồn, giận dữ

Sự giận dữ - cơn thịnh nộ

Giúp chúng ta có được thứ mình muốn, đe dọa mọi người

Sợ hãi, khinh miệt

Bảo vệ chúng ta, giúp chúng ta tiến lên

Nỗi sợ hãi – sự kinh hoàng Tội lỗi – tủi thẹn

Bảo vệ chúng ta cho thấy sự quy phục

tởm,

Ghê khinh miệt

Chán ghét – sự khinh miệt

Bắt buộc hoặc từ chối (liên kết với mùi và vị)

Quan tâm, yêu thương

Thích thú – bất ngờ

Tập trung chú ý, định hướng chúng ta

Giải tỏa, căng thẳng

Hạnh phúc – hân hoan

Hạnh phúc – hân hoan

Lông mày sẽ chùn xuống và cùng nhau, tạo thành một “tam giác lo lắng”;gò má căng, những kiểu đường nét lo lắng Miệng và quai hàm rắn chắc, môi mỏng mắt thu hẹp, nhìn khó chịu, gầm gừ,môi kéo về phía sau để lộ răng nanh Lòng trắng hầu như toàn mắt, lông mày kết chặt, trán nhăn, miệng mở Đầu cúi, mắt chùng xuống, đỏ mặt, ngượng ngùng Khinh miệt: 1 góc của môi trên nhô lên; ghê tởm : cả hai góc của môi trên nhô lên Thích thú: chăm chú chú ý, tập trung Cười mỉm chi, cười lớn, lỗ mũi nở, gò mà nhô, kiểu “chân quạ”

ta

Quan tâm yêu thương

Quan tâm – yêu thương

Cái nhìn ngôi sao, nhìn vào mắt người khác, đôi mắt dịu dàng

Phục hồi lại chúng ta, tâm, ủng hộ, quan khiến chúng tập trung vào những điều bên ngoài

22

Việc nắm rõ những phương diện đặc điểm, biểu hiện về cảm xúc sẽ là sẽ

đóng vai trò quan trọng là cơ sở để giáo viên giáo dục trẻ nhận biết cảm xúc của

bản thân cũng như người khác trong công tác hoạt động giáo dục của mình.

1.2.2.2. Trí tuệ cảm xúc

Giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5- 6 tuổi là lĩnh vực tương đối mới,

chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Để nghiên cứu kỹ năng

này, chúng tôi dựa trên lý thuyết về sự phát triển trí tuệ cảm xúc. Thuật ngữ này

được biết đến đầu tiên, bởi hai nhà tâm lý học Mỹ Peter Salovey (Đại học Yale)

và John Mayer (Đại học Hampshire) sử dụng năm 1990. Theo hai ông Trí tuệ

cảm xúc được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc

của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ

và hành động của bản thân [31, tr.175].

Howard Gardner đề cập trí tuệ cảm xúc là khả năng đọc cảm xúc (tôi đang

thực sự cảm thấy những cảm xúc gì?) và hiểu cảm xúc (tại sao tôi cảm thấy cảm

xúc này? Nó đang ở mức độ nào?) của bản thân hay của người khác [31].

- Những hiểu biết về cảm xúc của bản thân cũng như của người khác có thể

giúp:

+ Làm chủ cảm xúc của bản thân.

+ Tự tạo động lực hành động.

+ Cải thiện các mối quan hệ với người khác [45].

Năm 1995, Daniel Goleman cho rằng trí tuệ cảm xúc là khả năng giám sát

các cảm giác và cảm xúc của bản thân và của người khác, khả năng phân biệt

chúng và khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành

động của mình [19, tr.175].

Tác giả Edward De Bono cho rằng: Trí tuệ cảm xúc “là loại trí tuệ giúp cá

nhân đi sâu phân tích, khám phá và làm bộc lộ cảm xúc của chủ thể ra ngoài”

[30].

23

Năm 1999, Boyatizis cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết

những tình cảm của mình và của người khác để tự thúc đẩy mình, kiểm soát,

điều khiển cảm xúc của mình và của người khác” [20, tr.22].

Những quan niệm trên là cách hiểu trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng

lực tâm thần. Ngoài ra, quan niệm về trí tuệ cảm xúc còn được hiểu theo kiểu

hỗn hợp như sau:

Theo Reuven. Bar–On: “Trí tuệ cảm xúc là một dãy các năng lực phi nhận

thức và những kỹ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu hiệu quả

với những đòi hỏi của môi trường, hoàn cảnh”[35].

D.Goleman (1995) nhận định: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: tự

kiềm chế, kiểm soát, nhiệt tình và năng lực tự thôi thúc mình” [45].

Vào năm 1996, H.Steve cho rằng trí tuệ cảm xúc “là sự kết hợp giữa sự

nhạy cảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có

được do tự học hỏi, nhằm giúp con người đạt hạnh phúc trong cuộc sống”

[31, tr.176].

Nhìn chung, những quan niệm trên cho thấy trí tuệ cảm xúc có những điểm

chung sau:

- Có khả năng nhận biết cảm xúc của bản thân và người khác, khả năng

hiểu và kiểm soát cảm xúc.

- Biết định hướng và điều khiển cảm xúc để hướng dẫn suy nghĩ và hành

động.

- Có khả năng cải thiện các mối quan hệ, mang lại thành công và hạnh phúc

cho con người.

Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi: Trí tuệ cảm xúc là khả năng

nhận biết cảm xúc của bản thân và người khác, phân biệt chúng và sử dụng

các thông tin để định hướng suy nghĩ và hành động. Nhằm xây dựng những

mối quan hệ tốt đẹp và đạt được thành công trong cuộc sống.

1.2.2.3. Khái niệm kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

24

Có thể thấy một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển

năng lực cảm xúc là khả năng trẻ nhận thức được cảm xúc của bản thân mình và

người khác, biết được bản thân đang có cảm xúc gì? Nên làm gì để đối phó với

chúng? Những điều trẻ làm sẽ mang lại cho người khác cảm xúc gì?

Theo hội đồng khoa học quốc gia – phát triển trẻ em (2005). Những đặc

điểm chính của phát triển cảm xúc bao gồm khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc

của bản thân, để nhận ra và hiểu một cách chính xác trạng thái cảm xúc của

người khác, quản lý những cảm xúc mạnh mẽ và thể hiện việc điều chỉnh hành

vi, để phát triển sự đồng cảm với người khác và thiết lập duy trì các mối quan hệ

[64].

Theo Salovey và John Mayer thì: Sự hiểu biết về cảm xúc đó là sự ý thức

về bản thân – có thể nhận biết cảm xúc của mình. Những người biết chắc về cảm

giác của mình sẽ có thể sống tốt hơn, cảm nhận chân thực và đúng đắn hơn về

các quyết định của mình [10].

Sự nhận biết cảm xúc có mối liên quan đến sự dán nhãn cảm xúc. Đây là sự

diễn đạt ngôn từ về cảm xúc có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh của trẻ.

Phát hiện này đã được đo lường trong phòng thí nghiệm [25].

Ví dụ: Khi một đứa trẻ đang rơi vào trạng thái thất vọng và tỏ ra hậm hực,

khó chịu khi bạn nó nhanh tay lấy món đồ chơi yêu thích của nó. Cô giáo đến

bên và nói “Cô biết rằng con đang rất thất vọng khi bạn lấy đồ chơi yêu thích

của con. Đây là một cảm xúc rất khó chịu phải không nào?”

Việc gọi tên và dán nhãn cảm xúc này có liên quan đến sự kết nối hệ thần

kinh. Đó là sự kết nối giữa hai hệ thần kinh giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ. Trí

não của trẻ kết nối hai hệ thống này chưa thật tốt. Cơ thể của trẻ có thể cảm nhận

được nỗi sợ hãi, gớm ghiếc và cả niềm vui trước khi bộ não nói về chúng. Điều

này có nghĩa là trẻ sẽ trải nghiệm những đặc tính sinh lý học cảm xúc trước khi

biết được cảm xúc ấy là gì. Như vậy, trẻ cần phải kết nối hai thần kinh này lại

với nhau. Các nhà nghiên cứu tin rằng học cách dán nhãn cảm xúc sẽ tạo ra sợi

25

dây kết nối. Sự kết nối này diễn ra càng sớm thì chúng ta sẽ chứng kiến những

lợi ích của chúng cũng như chứng kiến những hành vi tự xoa dịu của trẻ [25].

Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết cảm xúc là khả

năng trẻ nhận diện và gọi tên cảm xúc phù hợp với ngôn ngữ để mô tả trạng thái

cảm xúc của bản thân và người khác ra bên ngoài”.

Việc dạy trẻ nhận biết cảm xúc có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của trẻ.

Nghiên cứu cho thấy cảm xúc có tác động đến hành vi xã hội của trẻ. Ví dụ khả

năng dự đoán các vấn đề về cảm xúc có ý nghĩa trong cuộc sống của trẻ. Khi trẻ

gặp phải những vấn đề (chẳng hạn sự trêu chọc của bạn bè). Lúc này trẻ nhận

thức chính xác những cảm xúc đang xuất hiện và kiểm soát những kích động về

cảm xúc đó một cách hiệu quả. Sau đó trẻ bắt đầu suy nghĩ thấu đáo về vấn đề.

Sẽ cho trẻ những lựa chọn phù hợp và kiểm soát hành vi của mình. Điều này sẽ

giúp trẻ thể hiện cảm xúc một cách hiệu quả. Hơn nữa nhận biết cảm xúc sẽ giúp

trẻ ứng phó với cảm xúc người khác một cách phù hợp đặc biệt là khả năng

đồng cảm biết đặt mình vào vị trí của người khác. Nghiên cứu cho thấy trẻ hiểu

và điều chỉnh cảm xúc của bản thân, sẽ ứng xử phù hợp với cảm xúc của người

khác, học tập và hòa nhập với cộng đồng tốt hơn [10].

Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác,

trên cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với

hoàn cảnh và điều kiện cho phép”.

1.2.3. Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách

làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. Như vậy, để giải quyết một vấn đề cần

phải chú ý đến các yếu tố bao gồm phương pháp, phương tiện, hình thức cách

thức thực hiện mà vấn đề đặt ra [54].

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là sự hình thành nhân cách được tổ chức một

cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà

26

giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh

những kinh nghiệm xã hội của loài người [65].

Theo Nguyễn Quan Uẩn GD (theo nghĩa rộng) là toàn bộ tác động của gia

đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động GD khác đến con

người. Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là quá trình tác động đến tư

tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động, GD lối sống,

hành vi..) [50].

Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nhằm

mục đích thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ. Biện pháp GDMN được

hiểu là cách làm cụ thể trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực

hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt ra ở lứa tuổi MN [16].

Theo từ điển giáo dục học biện pháp giáo dục “là cách tác động có định

hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng

hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng. Những biện

pháp giáo dục thường được áp dụng là giáo dục cá thể, giáo dục tập thể, giáo

dục phối hợp, giáo dục đồng đội, giáo dục đồng đẳng… Mỗi biện pháp giáo dục

đều có ưu điểm riêng của mình” [14].

Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi xác định khái niệm “Biện pháp giáo dục

kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi” như sau:

Biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX là cách thức cụ thể mà giáo viên

sử dụng để tác động đến trẻ nhằm giáo dục trẻ khả năng vận dụng những

kiến thức, kinh nghiệm để nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người

khác từ đó thể hiện những thái độ và hành vi một cách phù hợp vào trong

thực tiễn nhằm đạt kết quả mong đợi”.

1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi liên quan đến

việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ

Theo quy luật phát triển thông thường tâm lý con người có ba mặt và có

mối liên hệ phát triển chặt chẽ với nhau đó là tình cảm – nhận thức và ý chí.

Thông thường nhận thức sẽ dẫn đến tình cảm sau đó sẽ dẫn đến hành động ý chí.

27

Ý chí cũng tác động ngược lại lĩnh vực tình cảm như kiềm hãm hoặc thúc đẩy

con người hành động [46].

Chính vì vậy, mọi tác động giáo dục lên lĩnh vực tình cảm của trẻ chỉ đạt

hiệu quả khi các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý nói chung cũng như

khả năng nhận thức và mặt ý chí của trẻ nói riêng theo từng độ tuổi. Như vậy,

các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi chỉ đạt hiệu quả khi

các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý cũng như khả năng nhận thức và

mặt ý chí của trẻ ở độ tuổi này.

1.2.4.1. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuổi

 Trí nhớ

Trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh hơn so với lứa tuổi trước. Vào cuối

tuổi mẫu giáo trẻ hoạt động phức tạp hơn, giáo viên thường đưa ra những yêu

cầu cao buộc trẻ không chỉ định hướng vào hiện tại mà phải định hướng vào

tương lai cũng như quá khứ.Vì vậy, trí nhớ có chủ định của trẻ cũng bắt đầu

được hình thành và phát triển. Sự phát triển có chủ định đóng vai trò quan trọng

trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một. Vì vậy, khi tổ chức hoạt động giáo dục

giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ suy nghĩ, tìm hiểu về nội dung, ôn lại hành

động và những từ được ghi nhớ.

Ngoài ra, trí nhớ của trẻ mang tính trực quan hình tượng rõ nét. Những tài

liệu bằng học cụ trực quan được trẻ ghi nhớ tốt hơn so với tài liệu chỉ bằng ngôn

ngữ. Tuy nhiên, giai đoạn này trí nhớ ngôn ngữ của trẻ bắt đầu được hình thành.

Nhưng trẻ chỉ nhớ được những từ cụ thể hơn là những từ trừu tượng. Đặc biệt trẻ

ghi nhớ tốt những từ mô tả hình tượng hoặc mô tả có tính chất diễn cảm. Chẳng

hạn như những từ giàu hình tượng, nhịp điệu rõ ràng, giọng truyền cảm thì trẻ có

khả năng nhớ nhanh và lâu bền hơn. Bên cạnh đó, trẻ bắt đầu hình thành trí nhớ

logic. Trẻ không chỉ ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa.

28

 Tư duy

Tư duy của trẻ 5-6 tuổi đã có một bước ngoặc thay đổi lớn. Bắt đầu chuyển

từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng. Trẻ sử dụng

loại tư duy này để giải các bài toán không chỉ được thực hiện bằng phép thử bên

ngoài mà được thực hiện bằng cả những phép ngầm trong óc dựa vào những

hình ảnh, những biểu tượng ở trong đầu, hay kinh nghiệm trẻ có được. Loại tư

duy này đặc biệt phát triển ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ. Và là điều kiện thuận lợi làm

nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng được phát triển ở giai

đoạn sau.

Ngoài ra, tư duy trực quan sơ đồ cũng bắt đầu xuất hiện ở trẻ 5-6 tuổi. Loại

tư duy này vẫn giữ tính hình tượng của sự vật nhưng chỉ giữ lại những nét chủ

yếu mang tính khái quát. Việc phát triển tư duy này rất có ý nghĩa với trẻ. Giúp

trẻ đi sâu vào những mối quan hệ phức tạp của sự vật và mở ra khả năng nhìn

thấy mặt bản chất của sự vật mà loại tư duy trước không có được. Đặc biệt, khi

trẻ biết sử dụng thành thục các vật thay thế, khi phát triển tốt chức năng kí hiệu

của ý thức. Trẻ sẽ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào

đó bằng từ ngữ hay kí hiệu khác, khi giải những bài toán tư duy độc lập. Sự phát

triển này đóng vai trò quan trọng để xuất hiện một kiểu tư duy mới khác về chất

đó là tư duy logic, kiểu tư duy này sẽ được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở

giai đoạn học sinh.

 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của trẻ MG ngày càng phát triển : ngữ âm ngày càng hoàn thiện,

vốn từ được mở rộng tăng lên cả số lượng và chất lượng, trẻ sử dụng tương đối

đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ của trẻ ấu nhi sử dụng liên quan đến

cái đang tri giác thì trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu hiểu nghĩa các từ, biết sử dụng tiếng

mẹ đẻ thành thạo trong sinh hoạt hằng ngày. Vì vậy, trẻ có khả năng sử dụng

ngôn ngữ để giao tiếp làm thế nào để nói về điều trẻ cảm thấy và nhận được sự

giúp đỡ của người khác.

29

Bên cạnh đó, ngôn ngữ tình huống dần mất đi, trẻ bắt đầu xây dựng cho

mình một kiểu ngôn ngữ khác ít phụ thuộc vào tình huống hơn. Kiểu ngôn ngữ

này đòi hỏi trẻ phải nói năng sao cho người khác hiểu, hình dung được những

điều mình định mô tả mà không dựa vào tình huống trước mắt. Đây là ngôn ngữ

ngữ cảnh. Ngoài ra, ngôn ngữ giải thích của trẻ cũng phát triển mạnh. Trẻ có

mong muốn giải thích cho người lớn hiểu những điều trẻ muốn nói. Như vậy, trẻ

phải trình bày ý kiến theo một trình tự nhất định, nêu bật những điểm chủ yếu và

những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lí và điều này

cũng đã dẫn đến sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc. Loại ngôn ngữ này có ý

nghĩa quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Vì khi sử dụng ngôn ngữ

mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần được suy nghĩ rõ ràng, rành mạch

ngay từ trong đầu. Như vậy, cần phải có sự hỗ trợ của tư duy. Ngược lại, chính

ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện cho tư duy của trẻ phát triển lên một chất

lượng mới, đó là nảy sinh các yếu tố của tư duy logic, nhờ đó trẻ 5-6 tuổi phát

triển mới, cao hơn so với lứa tuổi trước.

1.2.4.2. Đặc điểm phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi

Sự phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi xuất hiện như là sự điều chỉnh có ý thức

đối với hành vi của bản thân. Trẻ đã biết chủ động điều khiển hành vi, hoạt động

tâm lý của mình từ chỗ không chủ định sang chủ định. Chẳng hạn, trẻ đã biết tập

trung quan sát sự vật hiện tượng nào đó, im lặng nghe cô kể chuyện, không đánh

bạn hoặc gây ồn ào trong lớp học.

Đặc biệt, sự phát triển ý chí của trẻ có quan hệ mật thiết với sự biến đổi các

động cơ hành vi. Nó có sự tác động qua lại của 3 mặt: đầu tiên là đặt ra mục

đích của hành động hoặc chấp nhận mục đích do người khác đặt ra; Thứ hai là

xác lập quan hệ giữa mục đích hành động và động cơ; Thứ ba là tăng cường vai

trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện những hành động.

Ví dụ: Em bé biết hôm nay là sinh nhật mẹ, mục đích em bé đặt ra là muốn

mua một món quà tặng mẹ. Động cơ khiến em bé làm việc này chính là tình yêu

30

dành cho mẹ. Để đạt mục đích nhất định em bé luôn nghĩ thầm trong óc là mình

sẽ mua tặng mẹ món quà để mẹ vui. Như vậy em bé đã dùng ngôn ngữ để điều

chỉnh hành vi của mình.

Ngoài ra, sự phát triển ý chí của trẻ không chỉ phụ thuộc vào động cơ nào

mạnh nhất mà là động cơ nào quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn và do trẻ ý thức

được. Ví dụ: Trong tình huống mẹ đang bị ốm, bạn đến rủ trẻ đi chơi. Trẻ giải

quyết tình huống phụ thuộc vào hai động cơ khác nhau: Trẻ ham thích đi chơi sẽ

đi cùng bạn hoặc sẽ ở nhà cùng mẹ. Nếu trẻ ở nhà cùng mẹ thì có thể ban đầu trẻ

cũng ham thích được đi chơi cùng bạn nhưng trẻ ý thức được mẹ đang ốm ở nhà

với mẹ sẽ vui hơn. Như vậy, trẻ đã có khả năng tự chủ, kiềm chế được mong

muốn, từ đó ý chí của trẻ cũng được hình thành và phát triển. Tuy nhiên không

phải trẻ MGL nào cũng kết thúc bằng giải pháp nghiêng về động cơ có ý nghĩa.

Điều đó còn phụ thuộc vào cách giáo dục của người lớn, có thể thông qua những

tình huống, những lời chỉ dẫn, sự quan tâm để giúp trẻ có những cách giải quyết

phù hợp mà qua đó ý chí được phát triển.

1.2.4.3. Đặc điểm phát triển cảm xúc – tình cảm của trẻ 5-6 tuổi

So với lứa tuổi trước, tình cảm của trẻ 5-6 tuổi thể hiện ngày càng mạnh mẽ

và sâu sắc. Trẻ luôn mong muốn được người thân và bạn bè quan tâm, yêu

thương và cũng rất sợ khi mọi người xa lánh. Đồng thời, trẻ đã biết thể hiện sự

quan tâm, chăm sóc khi người thân bị ốm. Biết đồng cảm và quan tâm tới bạn.

Khi bạn buồn thể hiện sự an ủi bằng cách sẵn sàng chia sẻ, nhường đồ chơi cho

bạn. Đặc biệt, trẻ đã bắt đầu tự ý thức về bản thân, có thể lĩnh hội các chuẩn

mực, quy tắc hành vi trong cuộc sống. Trẻ nhận ra những hành vi sai trái khi bị

người lớn la mắng. Trẻ có thể biết rằng mọi cảm xúc đều có thể được chấp nhận

ví dụ: tức giận. Nhưng một hành động không phù hợp thì không thể (ví dụ: đánh

bạn) và trẻ có thể lựa chọn cách tốt hơn để giải quyết vấn đề, có thể sử dụng lời

nói để diễn tả cảm xúc và giải quyết vấn đề của mình.

31

Theo V.X.Mukhina: “Một trong những phương hướng phát triển chủ yếu

tình cảm ở lứa tuổi mẫu giáo là sự tăng cường “tính hợp lý” của chúng gắn liền

với sự phát triển trí tuệ của trẻ em. Trẻ em mới bắt đầu nhận thức thế giới xung

quanh, tìm hiểu những hậu quả của những hành vi của mình, hiểu được cái gì là

tốt cái gì là xấu” [27, tr.117].

Trẻ ở lứa tuổi ấu nhi, cảm xúc thường gắn liền với cơ chế bẩm sinh của

não, còn mang tính không chủ định. Ngược lại, trẻ 5-6 tuổi đã biết kiềm chế

những cảm xúc mạnh mẽ và đột ngột của mình. Trẻ có thể điều khiển những

cảm xúc bột phát, đôi khi trẻ còn biết sử dụng tình cảm của mình để tác động

đến mọi người xung quanh nhằm thông báo cho họ biết về thái độ của mình về

việc làm đó. Ngoài ra, trẻ có khả năng bắt chước những biểu cảm tinh tế của

người lớn để vận dụng vào cuộc sống của mình. Biết nói những lời làm vui lòng

người thân, biết dùng lời khen ngợi và cỗ vũ bạn bè, hỏi thăm cha mẹ, tặng quà

cho người trẻ yêu mến.

Có thể thấy trẻ 5-6 tuổi thể hiện tình cảm phong phú và đa dạng. Đây cũng

là thời điểm mà nhân cách trẻ đang hình thành và phát triển. Đặc biệt ở tuổi này

trẻ thường trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau nhưng không phải luôn xác

định và kiểm soát được chúng. Vì vậy, giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa

quan trọng giúp trẻ nhận biết, thể hiện và đối phó với cảm xúc một cách lành

mạnh. Đồng thời phát triển kỹ năng này sẽ tạo cho trẻ có những mối quan hệ tốt

đẹp với bạn bè xung quanh, ổn định về mặt tâm lý và có khả năng học tập tốt

hơn ở những bậc học tiếp theo.

1.2.5. Nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6

tuổi.

Theo Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non về

lĩnh vực giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội. Phát triển tình cảm bao gồm các

nội dung sau:

- Nhận biết và thể hiện cảm xúc

32

- Hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác

- Kiểm soát cảm xúc của bản than

Nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX trong chương trình chăm sóc

giáo dục mầm non [6].

- Nhận biết một số trạng thái cảm xúc (vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc

nhiên, xấu hổ) qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói, tranh ảnh, âm nhạc.

- Bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong

các tình huống giao tiếp khác nhau.

- Mối quan hệ giữa hành vi của trẻ và cảm xúc của người khác.

 Nội dung phát triển kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ trong

Tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi [7].

Chuẩn 9: Trẻ biết thể hiện cảm xúc

Chỉ số 35. Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi,

tức giận, xấu hổ của người khác.

Nhận ra và nói được các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi,

tức giận, xấu hổ của người khác qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi tiếp xúc trực

tiếp hoặc qua tranh, ảnh.

Chỉ số 36.Bộc lộ cảm xúc của bản thân bằng lời nói, cử chỉ và nét mặt.

Thể hiện những trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,

xấu hổ phù hợp với tình huống qua lời nói, cử chỉ, nét mặt.

Chỉ số 37. Thể hiện sự an ủi, chia vui với người thân và bạn bè.

- Nhận ra tâm trạng của người thân, bạn bè (buồn hay vui).

- Biết an ủi, chia vui phù hợp với họ.

- An ủi người thân hay bạn bè khi họ ốm, mệt hoặc buồn rầu bằng lời nói,

cử chỉ.

- Chúc mừng, động viên, khen ngợi hoặc reo hò, cỗ vũ bạn, người thân khi

có niềm vui : ngày sinh nhật, có em bé mới sinh, có quần áo mới, chiến thắng

trong cuộc thi, hoàn thành một sản phẩm tạo hình...

33

Chỉ số 40. Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh

- Tự điều chỉnh hành vi, thái độ cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh, ví dụ trẻ

đang nô đùa vui vẻ nhưng khi thấy bạn bị ngã đau trẻ sẽ dừng chơi , chạy lại hỏi

han, lo lắng, đỡ bạn vào lớp, hoặc trẻ đang thích thú chơi một đồ chơi mới ở

ngoài sân nhưng khi vào nhà trẻ sẽ đi lại nhẹ nhàng, không nói to vì mẹ bị ốm..

Chỉ số 41. Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích.

- Trấn tĩnh lại, hạn chế cảm xúc và những hành vi tiêu cực (như đánh bạn,

cào cấu, cắn, gào khóc, quăng quật đồ chơi…) khi được người khác an ủi, giải

thích, chia sẻ.

- Biết sử dụng lời nói diễn tả cảm xúc tiêu cực (khó chịu, tức giận..)của bản

thân khi giao tiếp với bạn bè, người thân.

Trên đây là một số nội dung của các chuẩn mà trẻ 5 tuổi cần đạt trong lĩnh

vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội.

Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu KNNBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi

ở những biểu hiện sau:

+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,

xấu hổ của người khác.

+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,

xấu hổ của bản thân.

+ Thể hiện sự an ủi với người thân và bạn bè.

+ Thể hiện sự chia vui với người thân và bạn bè.

+ Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ

1.2.6. Vai trò của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi.

Charles Darwin là một trong những nhà khoa học nghiên cứu sớm nhất về

cảm xúc. Ông cho rằng, biểu lộ cảm xúc đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại

và an toàn của con người. Nếu chúng ta gặp một con vật đang phát ra âm thanh

gầm gừ hoặc rít lên vì giận dữ điều đó sẽ giúp ta tìm cách tự vệ và trốn thoát.

34

Tương tự như vậy, trong quá trình giao tiếp với những người xung quanh việc

nhận ra và hiểu cảm xúc của người khác có thể giúp chúng ta điều chỉnh và thể

hiện cảm xúc phù hợp, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với những người xung

quanh. Qua đó, con người có thể đối phó với các tình huống khác nhau trong

cuộc sống và đạt được những hiệu quả trong giao tiếp.

Sự phát triển kỹ năng NBVTHCX trong những năm đầu đời có ý nghĩa

quan trọng đối với một đứa trẻ. Là cơ sở hình thành những phẩm chất đạo đức

và nhân cách của một con người. Ngay từ bé, một đứa trẻ có khả năng

NBVTHCX sẽ dễ dàng đồng cảm với người khác, biết làm chủ cảm xúc của bản

thân, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè và những người xung quanh.

Đồng thời, sẽ giúp trẻ phát triển những năng lực cá nhân, có được kỹ năng sống

cần thiết để hòa nhập với cộng đồng xã hội.

Phát triển kỹ năng NBVTHCX sẽ giúp trẻ hiểu cảm xúc ảnh hưởng đến

hành vi cá nhân và các mối quan hệ xã hội như thế nào. Ở trường, trẻ tương đối

gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè bởi vì trẻ không giống như người

lớn, trẻ không thể thành thạo để kiểm soát cảm xúc. Như vậy,sự xung đột và

hiểu lầm càng có cơ hội gia tăng khi trẻ đi học. Vì vây, sự hiểu biết về cảm xúc

càng cao thì trẻ càng kiểm soát các tình huống và thích ứng với chúng. Đồng

thời nó làm hạn chế những xung đột xảy ra giữa trẻ với bạn bè cùng trang lứa

qua đó sẽ giúp giáo viên quản lý lớp học tốt hơn.

Trẻ có kỹ năng NBVTHCX sẽ giúp giáo viên và người thân hiểu được cảm

xúc bên trong của trẻ. Khi trẻ giao tiếp tương tác với cô giáo, thông qua lời nói

hoặc những biểu hiện cảm xúc thể hiện trên nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, người lớn

có thể dễ dàng nhận thấy những cảm xúc trẻ đang trải qua. Từ đó sẽ kịp thời

chia sẻ, động viên, giúp trẻ đối phó một cách an toàn và lành mạnh.

Ngoài ra, thông minh cảm xúc sẽ giúp trẻ trở nên tự chủ, tự tin, nhạy cảm

với cảm xúc biết quan tâm tới những người thân yêu. Đặc biệt có thể phân biệt

hành vi tốt-xấu và lựa chọn cách ứng xử phù hợp. Khắc phục những nét tính

35

cách không hay như ích kỉ, thiếu tự tin…Trang bị cho trẻ những kỹ năng thiết

yếu để thành công trong học tập và cuộc sống như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng

giải quyết vấn đề.

Như vậy, giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa quan trọng hình thành

giá trị nhân cách và góp phần quyết định thành công của một con người. Chúng

có thể thúc đẩy trẻ hành động theo những cách khác nhau và cung cấp cho trẻ

những công cụ hữu ích giúp trẻ cũng như người lớn xây dựng nên tình người, sự

vị tha lòng nhân ái trong xã hội đầy bạo lực và nhiều cám dỗ như hiện nay.

1.2.7. Một số yếu tố ảnh hưởng lên quá trình phát triển kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

Ngay từ khi mới ra đời, sự phát triển cảm xúc của trẻ đã bị ảnh hưởng bởi

nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng bao gồm sự khác biệt trong nhận thức, sự phát

triển ngôn ngữ và xã hội hóa.

Đầu tiên sự phát triển kỹ năng này bị ảnh hưởng bởi sự phát triển nhận thức

(tự ý thức và kiến thức). Sự phát triển nhận thức và cảm xúc có tác động qua lại

với nhau. Nhận thức điều chỉnh cảm xúc và cảm xúc cũng điều chỉnh lại nhận

thức. Ví dụ, cảm xúc tiêu cực khiến trẻ gặp khó khăn trong việc xử lý thông tin,

trong khi cảm xúc tích cực tạo điều kiện cho trẻ học tập tốt hơn. Trẻ có cảm xúc

tích cực sẽ kiên trì và bền bỉ hơn, thể hiện tốt hơn những trẻ có cảm xúc tiêu cực

[56]. Mặt khác, một số nhà tâm lý cho rằng cảm xúc chưa phải là nguyên nhân

chính của vấn đề về cảm xúc. Cảm xúc còn bị điều khiển bởi suy nghĩ [58]. Ví

dụ: Trong giờ học vẽ Cô yêu cầu trẻ vẽ về gia đình của mình, khi thu bài có một

em để giấy trắng. Lúc đó, Cô cảm thấy rất giận gọi trẻ lên và hỏi với giọng gay

gắt nhưng đứa trẻ vẫn im lặng lúc đó cơn giận của Cô càng tăng. Nhưng sau đó

Cô được biết gia đình trẻ không hạnh phúc bố mẹ trẻ đã ly thân nên trẻ ở với

ông bà. Từ cơn giận đến khi biết được nguyên nhân mọi suy nghĩ của Cô giáo đã

thay đổi và trở nên đồng cảm và yêu thương đứa trẻ hơn. Như vậy chúng ta thấy

rằng những suy nghĩ nhanh chóng làm thay đổi cảm xúc. Nhà tâm lý học Ellis

36

tin rằng ý nghĩ luôn luôn điều khiển cảm xúc; vì vậy suy nghĩ quan trọng hơn

cảm xúc vì nó là nguyên nhân dẫn đến vấn đề về cảm xúc [58].

Ngoài ra, sự phát triển ngôn ngữ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát

triển kỹ năng này, thông qua việc phát triển vốn từ, giúp trẻ nhận diện và gọi tên

cảm xúc của mình một cách chính xác. Bắt đầu từ năm thứ hai trẻ đã sử dụng

ngôn ngữ bên trong để miêu tả cảm xúc của mình và người khác. Khả năng nhận

biết cảm xúc sẽ được tăng dần theo độ tuổi của trẻ, nó phụ thuộc vào cách người

lớn dạy dỗ và giúp trẻ gọi tên và nhận diện chúng.

Ví dụ: “Trong giờ học vẽ, Trevor đang chờ để được dùng tuýp màu đỏ và

bạn cậu nói “Hãy kiên nhẫn”, Trevor đáp lại “Bà tớ luôn nói “Hãy kiên nhẫn”

nhưng điều đó chỉ khiến tớ thêm ức chế mà thôi” [56, tr.58].

Hơn nữa, việc tăng vốn từ giúp trẻ tạo nên sự khác biệt trong các trạng thái

cảm xúc khác nhau, và khả năng hình thành những biểu hiện về mặt tinh thần

cho phép trẻ tưởng tượng và hành động một cách cảm tính [56, tr.58].

Cuối cùng sự phát triển kỹ năng này còn bị ảnh hưởng bởi tác nhân xã hội

hóa như một mô hình (cách trẻ quan sát người khác nhận biết và phản ứng với

cảm xúc của mình). Trẻ thường học cách phản ứng cảm xúc và hành vi của mình

qua việc quan sát người khác. Đặc biệt là những người thân như cha mẹ, GV và

bạn bè có ảnh hưởng trong việc phát triển kỹ năng này cho trẻ [56, tr.58].

Như vậy, có thể thấy sự phát triển kỹ năng NBVTHCX chịu sự tác động chi

phối của nhiều yếu tố: nhận thức, ngôn ngữ, xã hội hóa. Vì vậy, để thúc đẩy kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ cần phải chú ý phối hợp phát triển các yếu tố nhằm

nâng cao kỹ năng này cho trẻ.

37

Tiểu kết chương 1

Giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục

nhân cách cho trẻ, đồng thời giúp các em vượt qua những khó khăn về mặt cảm

xúc, nhận biết được cảm xúc của bản thân và người qua đó có những thái độ và

hành vi thể hiện ra bên ngoài một cách phù hợp. Các nước trên thế giới đã có

những chương trình giáo dục về lĩnh vực kỹ năng này cho trẻ ngay từ lứa tuổi

mầm non. Ở Việt Nam, nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX đã được đưa vào

Chương trình giáo dục mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi do Bộ

Giáo dục và Đào tạo ban hành. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và tài liệu

biên soạn về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX ở Việt Nam vẫn còn hạn

chế về số lượng và chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, việc nghiên cứu về biện

pháp và hệ thống hóa các cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ

5-6 tuổi là điều cần thiết.

Trong chương này, đề tài làm rõ các khái niệm công cụ: kỹ năng, cảm xúc,

trí tuệ cảm xúc, kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc, biện pháp giáo dục kỹ

năng NBVTHCX, một số đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi có lien quan đến vấn

đề giáo dục kỹ năng NBVTHCX, nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX, vai

trò của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX, một số yếu tố ảnh hưởng lên quá

trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

Việc nghiên cứu nắm vững cơ sở lý luận và những nghiên cứu trên thế giới

và trong nước là điều kiện cần thiết và quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo

sát thực trạng và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ MG 5-6 tuổi ở những chương sau.

38

Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC

KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC

CHO TRẺ 5-6 TUỔI

2.1. Tổ chức nghiên cứu

2.1.1. Đôi nét về khách thể nghiên cứu

2.1.1.1. Địa bàn nghiên cứu

Để tìm hiểu nhận thức và thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi của BGH, GV và mức độ kỹ năng NBVTHCX của

trẻ 5-6 tuổi ở các trường Mầm non tại TP.HCM, chúng tôi tiến hành khảo sát số

lượng khách thể là cán bộ quản lý và giáo viên và trẻ như sau:

Danh sách 3 trường tiến hành khảo sát:

Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo sát

Số lượng

Stt Tên trường Ban giám Giáo Tổng hiệu viên

3 10 13 1 Trường Mầm non Hoa Hồng – Q.Bình Tân

3 10 13 2 Trường Mầm non Bé Ngoan – Q.1

3 6 9 3 Trường Mầm non Hoa Mai – Q.3

2.1.1.2. Khách thể nghiên cứu

9 26 35 TỔNG CỘNG

 Giáo viên

a. Về trình độ chuyên môn

Nhìn vào bảng thống kê 2.2. ta thấy trình độ chuyên môn của GV và BGH

đạt tỉ lệ trên chuẩn khá cao. Trình độ Sau đại học chiếm 11.42%, trình độ Đại

học chiếm 57.14%, chiếm 22.85% ở trình độ Cao đẳng và trình độ Trung cấp đạt

tỉ lệ thấp nhất chiếm 8.57%.

39

Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV ở các trường khảo sát

Trình độ chuyên môn Số lượng Tỉ lệ %

Sau đại học 4 11.42

Đại học 20 57.14

Cao Đẳng 8 22.85

Trung Cấp 3 8.57

Tổng cộng 35 100.0

b. Về thâm niên công tác

Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát

Thâm niên công tác Số lượng Tỉ lệ %

Dưới 5 năm 6 17.14

Từ 5 – 10 năm 17 48.57

Trên 10 năm 12 34.28

Bảng 2.3 cho thấy, đa số BGH và GV có thâm niên công tác giảng dạy lâu

Tổng cộng 35 100.0

năm. Chiếm tỉ lệ cao nhất là 48.57% giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy từ 5-10

năm và trên 10 năm chiếm tỉ lệ 34.28%. Trong khi đó, chỉ có 17.74 % GV có

thâm niên công tác dưới 5 năm.

 Số lượng trẻ

Bảng 2.4. Thống kê số lượng trẻ ở 3 trường khảo sát

Tên trường MN Bé Ngoan MN Hoa Mai MN Hoa Hồng

Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Giới tính

18 19 17 21 19 22 Số lượng

Tổng cộng 116

40

Qua bảng 2.4 ta thấy số lượng trẻ khảo sát ở 3 trường là gần tương đương

nhau. Trong đó số lượng trẻ ở trường MNHH chiếm nhiều nhất là 41 trẻ, tiếp

theo là trường MNHM là 38 trẻ và cuối cùng thấp nhất là trường MNBN 37 trẻ.

Về cơ sở vật chất, nhìn chung các trường đều có cơ sở vật chất khang trang,

lớp học được trang trí đẹp mắt, gọn gàng và sạch sẽ. Ở mỗi góc chơi đều có

không gian riêng cho trẻ hoạt động.

Tóm lại, theo chúng tôi địa bàn và số lượng mẫu khách thể khảo sát đã đảm

bảo về chất lượng và số lượng, mang tính đại diện để khảo sát thực trạng biện

pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.1.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi của giáo viên.

2.1.2.2. Nội dung khảo sát

- Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng NBVTHCX cho

trẻ 5-6 tuổi.

- Thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

- Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

- Thực trạng những khó khăn khi sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận

biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

- Thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự

đánh giá của giáo viên và của người nghiên cứu.

 Công cụ thực hiện khảo sát

- Phiếu quan sát các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6

tuổi.

- Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho BGH, GVMN nhằm tìm hiểu nhận thức

và biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

41

- Phiếu phỏng vấn BGH,GVMN.

- Công cụ đánh giá: Người nghiên cứu sử dụng bài tập tình huống thông

qua tranh vẽ và quan sát hoạt động vui chơi và học tập của trẻ để đánh giá thực

trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi.

2.1.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi có sử dụng phối hợp nhiều phương pháp

khác nhau. Tất cả các phương pháp đều đóng vai trò quan trọng bỗ trợ tính

tường minh cho kết quả nghiên cứu.

2.1.2.1. Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn GV và Trẻ nhằm: Thu thập dữ liệu định tính nhằm

bổ sung thêm thông tin góp phần làm sáng tỏ quá trình nghiên cứu.

+ Tiến hành phỏng vấn GV để tìm hiểu nhận thức của GV về kỹ năng

NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi, các hình thức, biện pháp, những khó khăn GV gặp

phải khi giáo dục trẻ.

+ Tiến hành phỏng vấn trẻ sau những giờ chơi, giờ nghe kể chuyện với một

số câu hỏi như: Sau khi chơi cùng cô và các bạn con cảm thấy như thế nào?

Trong câu chuyện con thích nhân vật nào? Con hãy giả bộ làm khuôn mặt mà

nhân vật đó cảm thấy ? Nếu con là nhân vật đó con sẽ làm gì để bạn hết buồn?

Khi giận dữ con thường làm gì để giữ bình tĩnh?

2.1.2.2. Phương pháp quan sát

Chúng tôi tiến hành quan sát tiêu chí biểu hiện về kỹ năng NBVTHCX của

trẻ trong hoạt động học tập và hoạt động vui chơi hằng ngày. Dựa vào tiêu chí

đã xây dựng người nghiên cứu quan sát, ghi nhận và đánh dấu vào mức độ đạt

được của trẻ trong mỗi hoạt động.

Ngoài ra chúng tôi quan sát và ghi chép các biện pháp GV sử dụng để tổ

chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

42

2.1.2.3. Phương pháp điều tra

a. Quy trình thiết kế bảng khảo sát

Trước khi sử dụng phiếu điều tra chính thức, người nghiên cứu tiến hành

soạn thảo bảng thăm dò mở nhằm thu thập những ý kiến của GV và BGH. Sau

khi thu phiếu người nghiên cứu tiếp tục phân loại các câu trả lời trong từng vấn

đề theo phương pháp phân tích nội dung cũng như những câu hỏi phỏng vấn từ

GV và BGH. Từ đó người nghiên cứu tiến hành khảo sát phiếu điều tra chính

thức.

b.Tiến hành khảo sát chính thức

Tiến hành phát phiếu điều tra chính thức. Kết quả thu về cụ thể như sau:

+ Số phiếu phát ra : 35 phiếu

+ Số phiếu thu về : 35 phiếu

+ Số phiếu không hợp lệ : 0 phiếu

c. Mô tả chung về bảng hỏi chính thức:

Nội dung bảng hỏi chính thức bao gồm 3 phần, phần mở đầu : lời chào,

phần thứ 2: thông tin cá nhân, phần thứ 3: nội dung khảo sát.

+ Nội dung khảo sát:

Câu 1: Tìm hiểu quan điểm của GV về kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6

tuổi.

Câu 2: Tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

Câu 3, câu 4, câu 5, câu 6, câu 7: Tìm hiểu về hình thức, nội dung, biện

pháp, những khó khăn, mức độ cần thiết và kết quả đạt được trong quá trình tổ

chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi.

Câu 8: Đánh giá chung của GV về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ MG

5-6 tuổi.

Câu 9: Tìm hiểu những đề xuất của GV về nội dung giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi.

43

d. Cách thức chấm điểm ở bảng hỏi chính thức

Các câu hỏi có 5 mức độ được tính điểm như sau:

Ta có công thức tính giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:

Giá trị khoảng cách = (5-1)/5 = 0.8

Điểm trung bình Mức độ

1-1.8 Không bao giờ

1.81-2.61 Hiếm khi

2.62-3.42 Thỉnh thoảng

3.43-4.23 Thường xuyên

4.24-5 Rất thường xuyên

Với câu hỏi ở 3 mức độ được cho điểm như sau:

Điểm trung bình Mức độ

1-1.6 Không khó khăn

1.61-2.21 Khó khăn

2.22-3 Rất khó khăn

2.1.2.4. Phương pháp thống kê toán học

a. Mục đích nghiên cứu

Xử lý tất cả các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ

sở để biện luận kết quả nghiên cứu.

b. Nội dung nghiên cứu

+ Thống kê mô tả: Tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm.

+ So sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng

một chỉ báo nghiên cứu.

c. Cách thức tiến hành

Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS phiên bản 16.0 để xử lý các dữ

kiện thu được nhằm phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.

44

2.1.2.5. Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập để đánh giá mức độ kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. [Phụ lục 13]

Chúng tôi xây dựng thang đo mức độ kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

dựa theo tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi để quan

sát trẻ trong hoạt động vui chơi và học tập, trò chuyện với GV để đánh giá thực

trạng mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ MG 5-6 tuổi.

Biểu hiện 1. Nhận biết cảm xúc của người khác thông qua 6 bức tranh

Chúng tôi cho trẻ xem 6 bức tranh thể hiện 6 trạng thái cảm xúc: Vui, buồn,

giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ. Yêu cầu trẻ nhận diện lần lượt các biểu hiện

cảm xúc trên khuôn mặt 6 bức tranh.

Tiến hành: cho trẻ quan sát 6 bức tranh có in hình 6 trạng thái cảm xúc. Cô

chỉ vào tranh và hỏi trẻ. “Con thấy nét mặt trong hình này như thế nào? Con hãy

quan sát và nói cho Cô biết các bạn trong tranh đang có cảm xúc gì?”

Biểu hiện 2. Nhận biết 6 cảm xúc vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên

của bản thân qua các câu hỏi sau:

1. Điều gì làm cho con cảm thấy vui? Con hãy kể câu chuyện mang lại cho

con niềm vui?

2. Điều gì làm cho con cảm thấy buồn? Con hãy kể câu chuyện làm cho

con buồn?

3. Điều gì làm cho con cảm thấy giận dữ? Khi giận dữ con thường làm gì?

4. Điều gì làm cho con cảm thấy xấu hổ? Khi xấu hổ con thường thể hiện

như thế nào?

5. Điều gì làm cho con cảm thấy ngạc nhiên? Tại sao con lại ngạc nhiên?

6. Điều gì làm cho con cảm thấy sợ hãi? Khi sợ hãi con thường thể hiện

như thế nào?

Sử dụng bài tập tình huống qua tranh để đo mức độ thể hiện sự an ủi,

chia vui, kiềm chế cơn giận dữ.

Biểu hiện 3. Thể hiện sự an ủi bạn

45

Ở lớp Lá 2 có bạn Bo đi cầu thang không cẩn thận nên bị thương ở tay,

đến lớp bạn chỉ ngồi một mình. Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem Bo đang có

cảm xúc gì? Nguyên nhân Bo buồn? Nếu con là các bạn trong lớp con sẽ những

cách nào để giúp bạn hết hết buồn?

Biểu hiện 4. Thể hiện chia vui cùng bạn:

Nhân dịp lễ Quốc Khánh nhà trường tổ chức cuộc thi vẽ tranh cho các bạn

lớp Lá. Với chủ đề “Biển đảo quê hương” bạn Lan đã giành giải nhất cuộc thi.

Cô và cả lớp vỗ tay tuyên dương bạn. Con hãy nhìn vào tranh đoán xem bạn

đang có cảm xúc gì? Vì sao? Con thể hiện chia vui với bạn như thế nào? Con

hãy kể những việc con đã từng làm để chia vui cùng bạn?

Biểu hiện 5. Thể hiện biết kiềm chế cảm xúc giận dữ:

Bạn Hoàng đang xây sở thú, Lâm lại chơi và chẳng may làm ngã sở thú của

Hoàng. Con nhìn vào tranh và đoán xem bạn Hoàng đang có cảm xúc gì? Vì

sao? Trong lúc đang giận dữ thì bạn Hoàng nên làm gì?

2.1.3. Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc của trẻ MG 5-6 tuổi.

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu KNNBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi ở

những biểu hiện sau:

+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,

xấu hổ của người khác.

+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,

xấu hổ của bản thân.

+ Thể hiện sự an ủi với người thân và bạn bè.

+ Thể hiện sự chia vui với người thân và bạn bè.

+ Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ.

Từ các biểu hiện này, chúng tôi đưa ra thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ 5-6 tuổi như sau:

46

Bảng 2.5. Thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi

Thang đánh giá

Biểu hiện Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3

(1 điểm ) (2 điểm ) (3 điểm )

Nhận biết cảm xúc của Nhận ra 1-2 Nhận ra 3-4 cảm Nhận ra 5 -6 cảm

người khác cảm xúc xúc xúc

Nhận ra 3-4 cảm Nhận biết cảm xúc của Nhận ra 1-2 Nhận ra 5- 6 cảm xúc bản thân cảm xúc xúc

Nhận ra cảm xúc Nhận ra cảm xúc, và nói được nói được nguyên Thể hiện sự chia vui Nhận ra nguyên nhân gây nhân và chọn cách với người khác cảm xúc nên cảm xúc giải quyết phù hợp

Nhận ra cảm xúc Nhận ra cảm xúc nói được nguyên Thể hiện sự an ủi Nhận ra và nói được nhân và chọn ra người khác cảm xúc nguyên nhân gây cách giải quyết phù nên cảm xúc hợp

Nhận ra cảm xúc

Nhận ra cảm xúc và nói được Biết kiềm chế cảm xúc Nhận ra và nói được nguyên nhân, đưa giận dữ cảm xúc nguyên nhân ra cách giải quyết

phù hợp

47

2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

2.2.1. Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

2.2.1.1. Quan điểm của BGH, GVMN về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6

tuổi theo chuẩn 9 trong bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi

Sau khi thu thập phiếu thăm dò ý kiến chúng tôi tiến hành tổng hợp quan

điểm của GV và BGH về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi theo chuẩn 9

trong bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi. Và có được những kết quả như sau:

Bảng 2.6. Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc cho trẻ 5-6 tuổi

Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và Tần số Tỉ lệ (%) thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

a.Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những

người xung quanh. Biết kiềm chế và điều chỉnh cảm 7 20

xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.

b.Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân

và người khác, trên cơ sở đó có những thái độ và hành 4 11.43 vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh và điều

kiện cho phép.

c.Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận,

thích hay không thích của bản thân về vấn đề nào 23 65.71 đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành

động lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.

d.Ý kiến khác… 1 2.86

Tổng 35 100

48

Kết quả bảng 2.6 cho thấy, phần lớn giáo viên chưa hiểu đúng và đầy đủ về

nội dung kỹ năng này. Có 65.71% giáo viên cho rằng kỹ năng NBVTHCX của

trẻ 5-6 tuổi là “khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận, thích hay

không thích về vấn đề nào đó. Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành

động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.” Một số GV đưa ra ví dụ cụ

thể, trẻ có kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là “trẻ nghe nhạc vui sẽ biết

thể hiện cảm xúc vui, trẻ nghe nhạc buồn sẽ thể hiện cảm xúc buồn”. Như vậy,

GV hiểu “thể hiện” theo cách hiểu là thể hiện ra bên ngoài qua diện mạo, lời nói

phù hợp với cảm xúc bên trong của trẻ mà bỏ qua mặt trẻ nhận biết cảm xúc để

thể hiện thái độ và hành vi một cách phù hợp.

Ngoài ra, có 20% giáo viên cho rằng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của trẻ 5-6 tuổi là “Khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người

xung quanh. Biết kiềm chế và tự điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn

cảnh”. Với cách hiểu này, GV chỉ nói về mặt nhận biết trạng thái của người

khác mà chưa đề cập đến khả năng nhận biết cảm xúc ở bản thân - đó là khả

năng tự nhận thức để có thể kiểm soát và điều chỉnh hành vi của bản thân. Việc

trẻ nhận biết cảm xúc bản thân là cơ sở để trẻ cảm nhận cảm xúc của người

khác. Qua đó trẻ sẽ biết được những cảm xúc vui, buồn của bạn để thể hiện sự

đồng cảm qua hành vi như an ủi, chia vui cùng bạn.

Chỉ có 11.43% giáo viên lựa chọn kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là

“khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên cơ sở đó

có những thái độ và hành vi thể hiện phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho

phép”. Đây cũng là quan điểm chúng tôi cho là phù hợp với nội dung nhất.

Bước đầu tiên trong kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là trẻ nhận diện được

cảm xúc nghĩa là trẻ có khả năng gọi tên và mô tả được cảm xúc của bản thân và

người khác. Sau đó, dựa trên những suy nghĩ và nhận thức về cảm xúc trẻ sẽ

điều chỉnh thái độ hành vi một cách phù hợp. Tuy nhiên, với tỉ lệ lựa chọn rất

thấp này, một câu hỏi đặt ra. Liệu tính hiệu quả của biện pháp giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi sẽ ra sao? Khiến chúng ta phải tiếp tục suy nghĩ ?

49

A. Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người xung quanh.

Biết kiềm chế và điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.

B. Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên

cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn

cảnh và điều kiện cho phép.

C. Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận, thích hay không thích

của bản thân về vấn đề nào đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành

động lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.

D.Ý kiến khác…

Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

2.2.1.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

Bảng 2.7. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

Đánh giá Số lượng Tỉ lệ %

Rất quan trọng 30 85.71

Quan trọng 5 14.29

Ít quan trọng 0 0.0

Không quan trọng 0 0.0

Tổng 35 100.0

50

Kết quả phiếu trưng cầu và phỏng vấn cho thấy BGH và GV có nhận thức

rất tốt về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

Có 85.71% số phiếu cho rằng “rất quan trọng”. Trong khi đó, chỉ có 14.29%

cho rằng “quan trọng” còn mức “ít quan trọng” và mức “không quan trọng”

thì không có lựa chọn nào. Như vậy, mặc dù còn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng

và thật tốt về kỹ năng này, nhưng phần lớn đều cho thấy họ nhận thức rất rõ về

tầm quan trọng của nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Cô N.K.H

(Giáo viên lớp Lá trường mầm non BN) đã chia sẻ: “Giáo dục kỹ năng

NBVTHCX rất có ý nghĩa với trẻ, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi các em cần chuẩn bị

tốt về mặt tâm lý, biết tương tác giao tiếp với bạn để chuẩn bị vào bậc học tiếp

theo”. Cùng ý kiến trên cô T.T.L ban giám hiệu nhà trường cho rằng “ Đây là

nội dung quan trọng vì nó giúp trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc ở chính bản

thân mình từ đó giúp cho tâm lý trẻ thoải mái, học cách cư xử với bạn bè , hòa

nhập với bạn mới”.

Tuy nhiên, để đi sâu hơn về tỉ lệ của những lựa chọn này, chúng tôi rất

muốn làm rõ hơn liệu các kết quả về mặt nhận thức trên có gắn liền với việc

giáo viên có thường xuyên tổ chức giáo dục nội dung này hay không?

Biểu đồ 2.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

51

2.2.2. Thực trạng về hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổỉ

Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi.

Số Tỉ lệ Đánh giá lượng %

a.Tổ chức một hoạt động dạy cụ thể 5 14.29

b. Lồng ghép các hoạt động tại lớp 24 68.57

c. Để trẻ tự phát triển 3 8.57

d. Cho trẻ đi học lớp kỹ năng NBVTHCX 1 2.86

e. Ý kiến khác 2 5.71

Tổng 35 100

Bảng 2.8 cho thấy BGH và GV đã có nhiều hình thức giáo dục kỹ năng

này cho trẻ. Trong đó, đa số chọn hình thức“Lồng ghép các hoạt động tại lớp”

chiếm tỉ lệ 68.57%, Các hình thức còn lại chiếm tỉ lệ rất thấp“Tổ chức một hoạt

động dạy cụ thể” chỉ chiếm tỉ lệ 8.57%, “Để trẻ tự phát triển” chiếm tỉ lệ

2.86%. Qua phỏng vấn cô P.H (GV lớp Lá trường mầm non HM) đã chia sẻ

“chúng tôi thường tổ chức lồng ghép là chủ yếu còn hình thức tổ chức hoạt động

dạy cụ thể sẽ rất khó, vì nội dung này trừu tượng, lại ít có tài liệu.” Ngoài ra,

hình thức cho trẻ đi học lớp kỹ năng NBVTHCX chiếm tỉ lệ thấp nhất 2.86%.

Cô N.H.V trường MN HH cho rằng lớp dạy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ bên

ngoài không có. Vì vậy, theo cô lựa chọn này là không cần thiết. Tuy nhiên, qua

tìm hiểu thực tế chúng tôi được biết hiện ở TP. HCM có hai trung tâm giáo dục

về lĩnh vực kỹ năng này cho trẻ. Như vậy, có thể thấy lĩnh vực phát triển cảm

xúc là vấn đề rất cần thiết và đã được xã hội quan tâm. Vì vậy, trường mầm non

cần có những cách tiếp cận và quan tâm sâu sắc hơn về lĩnh vực này cho trẻ.

52

Biểu đồ 2.3. Hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc cho trẻ

Ngoài ra, tổng hợp các phiếu trưng cầu ý kiến, BGH và GV các trường đã

có những kiến nghị như sau: Nên có những tài liệu hướng dẫn phương pháp

giảng dạy, tổ chức trò chơi cụ thể, tạo điều kiện cho trẻ có thêm những chuyến

dã ngoại, tham quan thực tiễn, đặc biệt là sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà

trường. Bên cạnh đó, một số kiến nghị mong muốn đảm bảo số trẻ theo qui định,

không nên quá đông trẻ GV sẽ không có thời gian quan tâm đến cảm xúc của

trẻ.

53

2.2.3. Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

Bảng 2.9. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận

biết và thể hiện cảm xúc của các trường hiện nay

STT Biện pháp Điểm trung bình Thứ hạng

1 Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ. 4.40 1

2 Sử dụng tình huống có vấn đề. 4.11 4

3.91 6 Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc 3

4.37 2 Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài hát. 4

4.03 5 Tận dụng cơ hội phát triển cảm xúc cho trẻ trong giờ sinh hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự do. 5

4.40 1 6 Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ em noi theo.

4.03 5 7 Tăng cường phối hợp giữa gia đình và nhà trường.

3.77 7 Tổ chức sự kiện, lễ hội, trãi nghiệm thực tế ở nhiều môi trường khác nhau. 8

4.11 4 Luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. 9

4.23 3 Tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, thân thiện cho trẻ tích cực bộc lộ cảm xúc một cách phù hợp 10

Điểm trung bình chung 4.13

Nhìn vào bảng 2.9 ta thấy, GV đã sử dụng đa dạng các biện pháp giáo dục

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đạt điểm trung bình chung là 4.13 thuộc khoảng

điểm 3.43 - 4.23 ở mức độ sử dụng “thường xuyên”.

Đặc biệt, trong đó có 3 biện pháp được sử dụng“rất thường xuyên” đạt

điểm trung bình cao nhất là 4.40. Bao gồm biện pháp “Đàm thoại, trò chuyện

54

cùng trẻ”. Có thể thấy, biện pháp trò chuyện, đàm thoại cùng trẻ thường diễn ra

hằng ngày. Đây là những lợi thế giúp GV thực hiện dễ dàng và thường xuyên vì

vậy sẽ mang lại hiệu quả tích cực khi sử dụng biện pháp này.Và biện pháp

“dùng tình cảm, làm gương cho trẻ noi theo”. Trẻ em học cách nhận biết cảm

xúc và làm thế nào để thể hiện chúng một cách phù hợp thông qua việc quan sát

người khác - đặc biệt là các bậc cha mẹ, giáo viên và bạn bè của mình.Vì vậy

đây là một trong những biện pháp chúng tôi rất chú trọng. Kết quả rất khả quan

khi GV sử dụng biện pháp này ở mức “rất thường xuyên”. Để kiểm tra mức độ

sử dụng biện pháp của GV qua thực tế. Chúng tôi tiến hành quan sát và nhận

thấy, GV chưa thực hiện tốt về biện pháp này. Cụ thể như sau, khi giận dữ GV

vẫn chưa biết điều chỉnh cảm xúc phù hợp. Một số Cô vẫn nổi nóng, la mắng và

quát tháo khi trẻ không im lặng hay không nghe lời. Một trường hợp đặc biệt ở

lớp Lá 3, trong giờ ăn trưa sau khi các bé đã ăn xong, và chuẩn bị sắp xếp chỗ

ngủ, hai bé trai mãi đùa nghịch ồn ào, Cô nhắc trẻ không nghe, làm Cô nổi giận

và cô đã dắt hai bé vào góc sau lớp và đánh. Tuy Cô đánh trẻ chỉ mang hình thức

dọa trẻ nhưng cách cô thể hiện cảm xúc giận dữ vẫn chưa là tấm gương cho các

em học tập và noi theo. Như vậy, chúng tôi mong muốn những biện pháp GV

lựa chọn sẽ được vận dụng vào thực tế để là tấm gương dạy các em cách bình

tĩnh mỗi khi nóng giận. Để các em kiểm soát cảm xúc tốt hơn ở những bậc học

tiếp theo.

Và biện pháp “sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện,

tranh ảnh, bài hát” cũng được sử dụng ở mức “rất thường xuyên” đạt mức điểm

4.37. Qua phỏng vấn Cô N.H chia sẻ “Trẻ thường dễ dàng bộc lộ cảm xúc ở các

hoạt động nghệ thuật đặc biệt là hoạt động nghe cô đọc thơ, kể chuyện và văn

nghệ. Vì vậy, GV thường lựa chọn những biện pháp này để giáo dục trẻ”.

Bên cạnh đó, các biện pháp được giáo viên sử dụng ở mức độ “thường

xuyên” bao gồm biện pháp “tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, thân thiện cho trẻ

tích cực bộc lộ cảm xúc một cách phù hợp” đứng thứ hạng thứ 3 với điểm trung

55

bình là 4.23. Và hai biện pháp “Luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong

sinh hoạt hằng ngày” và biện pháp “ Sử dụng tình huống có vấn đề” cùng đứng

thứ hạng thứ 4 với điểm trung bình là 4.11. Mặc dù đây là những biện pháp GV

lựa chọn sử dụng thường xuyên nhưng khi chúng tôi tiến hành quan sát và trò

chuyện GV chia sẻ họ thường giải quyết những tình huống trẻ tranh giành và

đánh bạn chứ chưa có nhiều thời gian tạo ra nhiều tình huống để trẻ thể hiện

cảm xúc một cách phù hợp.

Ngoài ra, hai biện pháp mà giáo viên ít sử dụng hơn, xếp theo thứ hạng thứ

5 là biện pháp “Tận dụng cơ hội phát triển cảm xúc và hành vi ứng xử cho trẻ

trong giờ sinh hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự do.” Mặc dù giáo viên lựa chọn

ở mức “thường xuyên” nhưng thực tế chúng tôi quan sát hoạt động trong các

trường chưa có những biện pháp cụ thể để giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Có thể

là do giáo viên chưa nhận thức đúng hoặc là GV chưa được tập huấn biện pháp

phương pháp cụ thể để giáo dục kỹ năng này cho trẻ và họ đã bỏ qua rất nhiều

cơ hội để giáo dục trẻ. Ví dụ: Chúng tôi quan sát tại giờ hoạt động góc các bé

trai đang chơi trò công nhân xây dựng. Số lượng mũ công nhân không đủ cho

các bé. Nam không có mũ cậu lại dành mũ của Huy, Huy một mực không cho,

ngay lập tức Nam nổi giận và đánh Huy. Huy khóc và chạy lại thưa cô giáo. Cô

gọi Nam lại và nói “Bạn lấy mũ trước sao con lại dành mũ và đánh bạn, như vậy

là con đã sai? Con phải xin lỗi bạn ” những tính huống trẻ bộc lộ cảm xúc và

đánh bạn rất thường xuyên xảy ra. Tuy nhiên, GV thường chú ý giáo dục hành

xử đúng sai của trẻ mà chưa chú ý giáo dục mặt cảm xúc cho trẻ. Hoặc khi

chúng tôi đưa ra câu hỏi phỏng vấn tình huống (Câu số 3, phụ lục 6) “Trong tình

huống trẻ A đang xây dựng sở thú. Để hoàn thành sản phẩm trẻ A cần một khối

gỗ hình chữ nhật. Sau một hồi tìm kiếm không thấy trẻ A trở nên nóng giận và

mất trật tự. Trẻ A phát hiện trẻ B đang có khối gỗ đó. Trẻ A hung hăng lại gần

và dành khối gỗ từ tay Trẻ B, Trẻ B dành lại và bị Trẻ B đánh”. Trong trường

hợp này Thầy (Cô) làm gì trước cảm xúc và hành vi của trẻ? Kết quả cho thấy

56

đa số GV đều dạy trẻ về khía cạnh chuẩn mực đạo đức là đúng sai “Các con

đánh bạn là sai” cách giải quyết này có thể giúp trẻ nhận thức được đánh bạn là

sai, nhưng nguyên nhân sâu xa khiến trẻ đánh bạn có thể do trẻ chưa kiếm soát

được cảm xúc nóng giận dẫn đến hành vi đánh bạn thì GV chưa quan tâm, chú

ý. Có 6/15 giáo viên giải quyết “con không được giận dữ”; 3/15 giáo viên “dạy

trẻ phải biết kiềm chế cơn giận” những cách cô giúp trẻ giận dữ là gì? Thì chúng

tôi chỉ nhận được câu trả lời chung chung mà không có giải pháp cụ thể 1/15

giáo viên chia sẻ đầu năm tôi đã đưa ra luật “ con nào vi phạm đánh bạn sẽ bị

khẽ vào tay” vì vậy bé vi phạm sẽ bị đánh. Như vậy cách giải quyết trên cho

thấy đa số GV chú trọng đến giáo dục hành vi của trẻ mà chưa chú ý đến mặt

giáo dục trẻ cách kiểm soát cảm xúc của mình.Và GV chưa có những cách thức

cụ thể để giúp trẻ kiểm soát cảm xúc của bản thân. Theo chúng tôi tình huống

trên diễn ra hằng ngày sẽ giúp trẻ nhớ lâu, dễ hiểu và tiết kiệm về mặt thời gian.

Đây cũng là cơ hội để GV giúp trẻ dán nhãn cảm xúc, việc diễn đạt ngôn từ về

cảm xúc sẽ có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh của trẻ [26, tr.316]. đồng

thời dạy trẻ về cách kiểm soát cảm xúc mỗi khi nóng giận. Tuy nhiên, kết quả

cho thấy hầu như giáo viên đều bỏ qua cơ hội này chưa có những giải pháp và

chú trọng về mặt kiểm soátcảm xúc của trẻ.

Ngoài ra, giờ chơi đóng vai theo cốt truyện là cơ hội để phát triển kỹ năng

này cho trẻ. Ở góc chơi gia đình, các cháu đang chơi trò chơi đóng vai gia đình

rất vui vẻ. Các cháu phân ra làm 3 gia đình: gia đình cháu L, cháu H và cháu N.

Gia đình nhà cháu “L” chăm búp bê là con đang bị ốm. Cháu L thể hiện cảm xúc

rất tốt, trẻ biểu lộ khuôn mặt buồn rầu và lo lắng, biết quan tâm con của mình và

sốt sắng hỏi con muốn ăn cái gì? Tuy nhiên, gia đình bé H và bé N vẫn làm việc

của mình không quan tâm đến gia đình nhà Cháu L nếu chú ý quan sát đây sẽ là

cơ hội rất tốt để Cô giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Ví dụ Cô có thể nhập vai chơi

và gợi ý cho trẻ biết quan tâm,chia sẻ cùng bạn. “À, hôm nay gia đình nhà bạn L

có con bị ốm, bạn L đang rất buồn và lo lắng cho con. Tôi có ý kiến là bây giờ

57

chúng mình cùng mua sữa và trái cây đến thăm gia đình bạn L. Các chị thấy

sao”. Tuy nhiên, thực tế khi chúng tôi quan sát thì các GV hầu như đều bỏ qua

cơ hội này. Đây là một điều rất đáng tiếc. Tận dụng được cơ hội trong hoạt động

vui chơi của trẻ GV sẽ không mất nhiều thời gian, đặc biệt những tình huống

này diễn ra trực tiếp nên trẻ sẽ nhớ rất nhanh. Hơn nữa, ở phần khó khăn GV có

chia sẻ là lớp quá đông nên điều này đã gây những cản trở khó khăn để giáo dục

trẻ. Tuy nhiên, nếu GV biết cách tận dụng cơ hội giáo dục trẻ như chúng tôi

trình bày ở trên thì tiết kiệm được rất nhiều thời gian.Vì vậy, chúng tôi rất đề

cao việc nâng cao nhận thức cho giáo viên trong việc phát triển kỹ năng này cho

trẻ, Đặc biệt là tận dụng những cơ hội giáo dục trong giờ chơi hoặc chế độ sinh

hoạt hằng ngày.

Và biện pháp “Tăng cường phối hợp giữa gia đình và nhà trường” được

GV sử dụng thường xuyên với điểm số trung bình là 4.03.

Sau cùng hai biện pháp được sử dụng ở mức thấp nhất là “Sử dụng các yếu

tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc”.

Và biện pháp “Tổ chức sự kiện, lễ hội, trãi nghiệm thực tế ở nhiều môi trường

khác nhau” .

 Thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ qua phân tích sản phẩm hoạt động của GV lớp 5-6

tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu

Để bổ trợ thêm những thông tin thu được từ các phiếu trưng cầu ý kiến về

thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi .

Chúng tôi đã tiến hành xem xét kế hoạch giáo dục năm của các trường. Nội

dung này nằm trong lĩnh vực phát triển tình cảm – xã hội. Tuy nhiên, trên kế

hoạch năm ở các trường đã có nội dung này nhưng không được tổ chức giờ học

chính thức mà chỉ lựa chọn lồng ghép trò chuyện trong giờ sinh hoạt hằng ngày.

Ngoài ra, ở lớp Lá 1 trường mầm non BN có dành ra một tuần giáo dục về kỹ

năng này vào tháng 10. (Phụ lục 5)

58

+ Chủ đề “Cảm xúc của bé” diễn ra trong 5 ngày tại lớp Lá 1. Vào giờ trò

chuyện buổi sáng cô cùng trẻ trò chuyện về cảm xúc “Hôm nay bạn cảm thấy

như thế nào?” để trò chuyện cùng trẻ. Còn lại trong tuần GV dành hai ngày dạy

trẻ về cảm xúc. Ngày thứ nhất GV cho trẻ xem tranh những trái cây ngộ nghĩnh

thể hiện những cảm xúc khác nhau và cùng chia sẻ cảm xúc với các bạn. Ngày

thứ hai tiếp tục cho trẻ quan sát hình ảnh khuôn mặt ngộ nghĩnh và sử dụng đất

nặn để tạo cho mình khuôn mặt và thể hiện cảm xúc của bản thân. Giờ chơi ở

hoạt động góc giáo viên cho trẻ sao chép các từ cảm xúc vui, buồn, giận, ngạc

nhiên, dễ thương. Những ngày còn lại giáo viên rèn kỹ năng khác, kết hợp tổ

chức trò chơi và kể chuyện cho trẻ nghe.

Như vậy có thể thấy hình thức Cô T.N giáo dục trẻ chủ yếu là trò chuyện ,

đàm thoại cùng trẻ vào buổi sáng, cho trẻ quan sát tranh về cảm xúc trái cây ngộ

nghĩnh, với mục đích giúp trẻ chia sẻ và nhận biết cảm xúc của bản thân. Mặc

dù nội dung giáo dục của Cô chưa chuyên sâu, chủ yếu dạy trẻ những cảm xúc

vui, buồn, yêu thương. Và thời gian còn hạn chế, nhưng qua đó cũng cho thấy cô

rất quan tâm trong việc giáo dục lĩnh vực kỹ năng này. Ngoài ra, Cô T.N trao

đổi thêm vào dịp lễ trung thu Cô vận động ba mẹ cùng các bé tổ chức nấu những

món ăn hoặc chuẩn bị những món quà nhỏ đem tặng các bạn khó khăn tại địa

phương. Bên cạnh đó, vào ngày lễ hội như 8/3 trước khi đến ngày lễ một tuần cô

đã bàn kế hoạch cho các bé cùng ba bí mật làm món quà tặng mẹ. Có thể thấy

những biện pháp Cô tổ chức đã giúp các bé thể hiện cảm xúc yêu thương, chia

vui với những người thân xung quanh.

Ngoài ra, ở lớp Cô N.H dạy lớp Lá A trường MNHM cũng đã tiến hành tổ

chức giáo dục trẻ ở hoạt động lồng ghép tích hợp theo chủ đề yêu thương hoặc

dạy giá trị sống cho trẻ. Cô đưa ra một số câu chuyện dạy trẻ “ Trái tim yêu

thương”, “ Ai đáng khen nhiều hơn”.

Tóm lại, qua quan sát và phỏng vấn ở 3 trường chúng tôi nhận thấy việc

giáo dục kỹ năng NBVTHCX ở các trường là có áp dụng. Trong đó lớp Cô T.N

59

và cô N.H có tổ chức giáo dục kỹ năng này cho trẻ theo chủ đề và lồng ghép các

hoạt động một cách cụ thể. Đa số GV lựa chọn giáo dục trẻ lồng ghép, tích hợp

lồng ghép vào các hoạt động học tập và vui chơi hằng ngày. Tuy nhiên, GV vẫn

chưa đưa ra những cách thức cụ thể cũng như trò chơi hay câu chuyện để giáo

dục kỹ năng này cho trẻ.

2.2.4. Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ

Kết quả thống kê ở bảng 2.10 cho thấy, trong quá trình giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ. BGH và GV đã gặp những khó khăn nhất định. Với điểm

chung bình chung là 2.19, thuộc khoảng 1.61 - 2.21 thuộc mức độ “khó khăn”.

Trong đó, có hai khó khăn lớn nhất là “Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực

hiện” và khó khăn “Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm xúc của trẻ” đạt

điểm trung bình 2.51. Để tìm hiểu sâu về vấn đề này, chúng tôi tiến hành trao

đổi trực tiếp với GV phụ trách các lớp, nhìn chung GV đều có ý kiến“ Nội dung

giáo dục cảm xúc khó thực hiện và rất trừu tượng, giáo viên lại ít có tài liệu.

Thêm vào đó, phụ huynh họ cũng không quan tâm vấn đề này”. Bên cạnh đó ,Cô

N.H.M. BGH trường MN HH chia sẻ công việc giáo viên quá nhiều và lớp học

quá đông trẻ nên giáo viên ít có thời gian quan tâm đến trẻ. Tuy nhiên, như phân

tích ở trên theo chúng tôi, nếu giáo viên có những biện pháp phù hợp cũng như

biết tận dụng những có hội giáo dục trẻ trong chế độ sinh hoạt hằng ngày cũng

không mất nhiều thời gian để giáo dục kỹ năng này cho trẻ.

60

Bảng 2.10. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

Điểm STT Những khó khăn Thứ hạng trung bình

Chưa được tập huấn về nội dung, phương

1 pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5 2.14 3

- 6 tuổi.

Lớp học đông trẻ 1.74 6 2

Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối 2.09 4 3 hợp

2.51 1 4 Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện

Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm 2.51 1 5 xúc của trẻ

Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên 2.37 2 6 còn hạn chế

Giáo viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo 2.37 2 7 dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần thiết.

Chương trình, tài liệu hướng dẫn về giáo

8 dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ mẫu giáo 2.06 5

trong chương trình còn ít

Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng 2.06 5 9 NBVTHCX cho trẻ còn hạn chế

Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu 2.09 4 10 thực hành kỹ năng NBVTHCX

Điểm trung bình chung 2.19

Khó khăn xếp vị trí thứ hai là “Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên

còn hạn chế” với điểm trung bình là 2.37. Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, Cô

61

N.H BGH trường MNHM chia sẻ: “Để giáo dục kỹ năng này đòi hỏi giáo viên

phải là người rất nhạy cảm, phải nắm được đặc điểm tâm lý cảm xúc ở trẻ.

Theo tôi đây là nội dung không phải giáo viên nào cũng làm được. Cần có sự

quan tâm chỉ đạo sâu sắc ở cấp trên”. Có thể nói để giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ, đòi hỏi GV không chỉ giỏi về mặt kiến thức khoa học mà

cần phải có một trái tim yêu thương, khả năng đồng cảm với trẻ. Chính vì những

khó khăn trên, việc nâng cao nhận thức cho GV về ý nghĩa cũng như phương

pháp giáo dục kỹ năng này là điều cần thiết hiện nay.

Biểu đồ 2.4. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

Và khó khăn cùng đứng vị trí thứ hai là“Giáo viên và phụ huynh chưa thấy

việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ là cần thiết”. Kết

quả này khá mâu thuẫn với câu hỏi ở mục 2.2.1.2 về nhận thức của BGH và GV

đối với tầm quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX đạt tỉ lệ rất cao,

có 85.71% giáo viên cho rằng nội dung này rất quan trọng. Nhưng đến câu hỏi

này, giáo viên lại cho rằng khó khăn là giáo viên và phụ huynh chưa thấy được

62

sự cần thiết. Thực trạng này khiến chúng ta phải suy nghĩ đâu mới là câu trả lời

đúng? Hơn nữa, nếu giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng của nội dung này

thì chưa thể sử dụng biện pháp phối hợp với phụ huynh. Chính vì vậy, đây cũng

là nguyên nhân dẫn đến khó khăn thứ 4: “Giữa gia đình và nhà trường chưa có

sự phối hợp”. Cô N.H trường MNHH chia sẻ “Nội dung này còn khá mới đối

với PH nên họ chưa thấy được sự quan trọng. Đa số PH quan tâm đến vấn đề

ăn, ngủ hay kiến thức khoa học của con chứ ít ai quan tâm đến cảm xúc”. Đây

cũng là một thực trạng đáng báo động vì hiện nay cha mẹ thường ít dành thời

gian cho con, một số trẻ thường ở nhà với người giúp việc. Trẻ thường thiếu

thốn tình cảm yêu thương của người thân, ít người chuyện trò. Nên trẻ dễ mất

những bệnh về tâm lý như buồn, suy tư và rất dễ nổi giận. Vì vậy, gia đình và

nhà trường cần nhận thấy tầm quan trọng của nội dung này để cùng nhau phối

hợp giáo dục kỹ năng này cho trẻ.

Khó khăn thứ 3 “Chưa được tập huấn về nội dung, phương pháp giáo dục

kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 - 6 tuổi”. Việc chưa được tập

huấn về nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6

tuổi sẽ khiến GV không nắm chắc nội dung giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Dẫn

tới GV triển khai thiếu và bỏ lỡ những cơ hội hoặc chưa có những biện pháp hỗ

trợ kịp thời để nâng cao kỹ năng này cho trẻ.

Ngoài ra những khó khăn như:“Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu

thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc”và “Chương trình, tài liệu

hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo

trong chương trình còn ít”. “Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận

biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế”. “Lớp học đông trẻ”.Cũng là

nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc hiện nay ở các trường.

63

2.2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của

trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non tại TP.HCM

2.2.5.1. Thực trạng nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông

qua sự đánh giá của người nghiên cứu

Qua tiến hành điều tra thực trạng nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ

5-6 tuổi ở 3 trường, bằng phương pháp bài tập đánh giá qua tranh cùng với

phương pháp trò chuyện, quan sát. Kết quả ở bảng 2.11 cho thấy, có sự chênh

lệch rõ giữa điểm trung bình giữa các biểu hiện. Biểu hiện nhận thức về khả

năng “thể hiện chia vui với bạn” đạt mức độ cao nhất với điểm trung bình là

2.47 xếp thứ hạng thứ nhất, 3 biểu hiện còn lại trẻ đạt ở mức trung bình (trong

khoảng điểm là từ 1.7 đến 2.3) đạt ở mức điểm trung bình. Xếp lần lượt là “thể

hiện an ủi bạn” điểm trung bình là 2.20, đứng thứ hạng thứ 2, biểu hiện “nhận

biết cảm xúc của người khác” đứng thứ hạng thứ 3, biểu hiện “thể hiện kiềm chế

cảm xúc giận dữ” điểm trung bình là 2.02, đứng thứ hạng thứ 4, biểu hiện thấp

nhất là “ nhận biết cảm xúc bản thân” thấp nhất với điểm trung bình là 1.78.

Bảng 2.11. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở 3

trường thông qua sự đánh giá của người nghiên cứu

Biểu hiện Điểm trung bình Thứ hạng

1.Nhận biết cảm xúc người khác 2.18 4

2. Nhận biết cảm xúc của bản thân 1.97 5

3. Thể hiện an ủi bạn 2.20 3

4. Thể hiện chia vui với bạn 2.47 1

5. Thể hiện sự kiềm chế cảm xúc giận dữ 2.02 2

Trung bình 2.17

64

2.2.5.2. Thực trạng về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi qua một

số biểu hiện

a. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của người khác và bản thân

của trẻ 5-6 tuổi

Việc thiếu vốn từ về cảm xúc và khả năng nhận diện các cảm xúc sẽ gây

khó khăn để trẻ nhận biết cảm xúc của bản thân cũng như của người khác. Trẻ

em cũng giống như người lớn trẻ cũng sẽ trải qua rất nhiều cảm xúc khác nhau

nhưng nhiều khi trẻ không có vốn từ để gọi tên hoặc chưa biết cách nhận diện

chúng việc dạy trẻ về nhận diện cảm xúc là cần thiết. Khi nhận diện cảm xúc sẽ

giúp trẻ biết được mình đang trải qua cảm xúc gì và làm thế nào để kiểm soát

chúng. Đồng thời trẻ sẽ dễ dàng nhận biết được những cảm xúc của người thân

xung quanh để thể hiện sự đồng cảm, biết thể hiện sự quan tâm và chia sẻ cùng

họ. Tuy nhiên, nhìn vào bảng 2.12 cho thấy phần lớn kỹ năng nhận biết cảm xúc

của người khác và bản thân ở 6 cảm xúc, trẻ đạt ở mức trung bình. Cụ thể như

sau ở biểu hiện nhận biết cảm xúc của người khác. Mức Cao chỉ đạt tỉ lệ 19%

trong đó chỉ có 22 trẻ nhận biết được 5-6 cảm xúc. Mức trung bình chiếm tỷ lệ

nhiều nhất 63.8%, có 74 trẻ nhận biết được 3 đến 4 cảm xúc, còn lại mức thấp

chỉ có 20 trẻ nhận biết được 1-2 cảm xúc chiếm tỉ lệ 17.2% . Khi chúng tôi đưa

ra các bức tranh và yêu cầu trẻ quan sát và nói xem những người trong tranh

đang có cảm xúc gì đa phần trẻ nhận biết được các cảm xúc vui, buồn, giận mà

không trả lời được các cảm xúc như ngạc nhiên, sợ hãi, xấu hổ. Để tìm hiểu

nguyên nhân chúng tôi trực tiếp trao đổi với các GV và có được những chia sẻ

sau . Cô D.T.C cho rằng “những cảm xúc vui, buồn, giận dữ thường xảy ra ở

trẻ, diễn ra hằng ngày xung quanh trẻ, trong những câu chuyện. Nên trẻ dễ nhận

diện và hình dung. Còn những cảm xúc xấu hổ, sợ hãi, ngạc nhiên rất khó và

trừu tượng nên chúng tôi cũng không chú trọng, dạy chuyên sâu”, Cô N.T.N

trường MN BN chia sẻ thêm “thực tế ở nội dung này còn khá mới, một phần

cũng không được chú trọng nên chúng tôi cũng chưa có những phương pháp hay

để dạy.

65

Với đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi việc dạy trẻ nhận diện và gọi tên 6

cảm xúc không phải là khó. Điều này cũng cho thấy GV chưa có sự quan tâm

giáo dục đến lĩnh vực này. Đây là điều chúng ta cần quan tâm và suy xét.

Bảng 2.12. Mức độ nhận thức về kỹ năng nhận biết cảm xúc bản thân và

người khác của trẻ 5-6 tuổi

Các mức độ

Biểu hiện Cao 5-6 cx Trung bình 3-4 cx Thấp 1-2 cx

n % 19 22 n % % 63.8 20 17.2 n 74 Nhận biết cảm xúc người khác

71 Nhận biết cảm xúc của bản thân 18 15.5 61.2 27 23.3

Việc thiếu vốn từ vựng và khả năng nhận diện cảm xúc ở mức thấp sẽ gây

khó khăn nhất định để trẻ nhận biết cảm xúc ở bản thân mình. Vì vậy khi sử

dụng thang bài tập đánh giá trẻ ở mức độ nhận biết cảm xúc bản thân, đa số trẻ

chỉ nhận biết được 3 đến 4 cảm xúc mà trẻ nhận thức được như cảm xúc vui,

buồn và giận có 71 trẻ chiếm tỷ lệ 61.2%. Đứng vị trí thứ 2 là mức thấp chiếm

30.2 %. Trong đó nhận biết 5-6 cảm xúc ở bản thân trẻ đạt ở mức thấp nhất. Sau

khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn đa số trẻ nhận diện được cảm xúc vui, buồn,

giận dữ chứ không nhận ra được khi nào mình xấu hổ, ngạc nhiên hay sợ hãi.

Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành cho trẻ nghe một số bản nhạc vui, buồn và hỏi

trẻ con cảm thấy như thế nào khi nghe bản nhạc này. Hầu như trẻ nhận biết rất

tốt mình đang có cảm xúc gì. Còn cảm xúc ngạc nhiên, sợ hãi, xấu hổ chỉ một số

trẻ trả lời được những điều trẻ trải qua để mang lại cho trẻ cảm xúc đó. Nhiều

khi trẻ trải qua những cảm xúc đó nhưng trẻ không biết diễn tả hoặc thiếu vốn từ

vựng về cảm xúc để diễn tả nó.

Như vậy, qua mức độ thang đo ở biểu hiện trên có thể nhận thấy, mức độ

nhận biết cảm xúc của người khác và bản thân trẻ đạt ở mức trung bình. Đa phần

66

trẻ chỉ nhận biết được cảm xúc: vui, buồn, giận qua vui chơi, câu chuyện hoặc

tiếp xúc hằng ngày. Còn đa phần trẻ hạn chế về việc nhận biết cảm xúc ngạc

nhiên, xấu hổ và sợ hãi. trẻ được sự chú trọng quan tâm và giáo dục của Cô.

b. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và kiềm chế cơn

giận dữ của trẻ 5-6 tuổi.

Bảng 2.13. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và kiềm

chế cơn giận dữ của trẻ 5-6 tuổi

Các mức độ

Biểu hiện Cao Trung bình Thấp

n % n % n %

Thể hiện sự an ủi với bạn 45 38.8 46 39.7 26 22.4

Thể hiện sự chia vui cùng bạn 67 57.8 36 31 13 11.2

Thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ 40 34.5 59 50.9 17 14.7

Nhìn vào bảng 2.13 ta thấy, so với các biểu hiện sự an ủi và kiềm chế cơn

tức giận. Mức độ nhận thức về mặt thể hiện sự chia vui cùng bạn của trẻ đạt ở

mức cao với tỉ lệ là 57.8%. Trong quá trình phỏng vấn bài tập khi cô hỏi con sẽ

làm gì để chúc mừng bạn? Đa phần trẻ đều biết thể hiện theo những cách khác

nhau như con sẽ ôm bạn, con sẽ nói lời chúc mừng bạn. Song song đó chúng tôi

tiến hành quan sát trẻ thể hiện điều này rất tốt, trẻ rất vui khi hoàn thành xong

bức tranh với bạn, vui vẻ và nắm tay hát cùng bạn, sinh nhật trẻ cùng các bạn

vui vẻ hát chúc mừng sinh nhật bạn. Tham gia làm bài tập nhóm trẻ đoàn kết,

thỏa thuận cùng bạn. Ở biểu hiện “thể hiện sự an ủi bạn” chỉ có 45 trẻ đạt ở

mức 3 chiếm tỷ lệ 38.8%, mức trung bình có 46 trẻ đạt tỷ lệ 39.7%, mức thấp

chỉ có 26 trẻ chiếm tỷ lệ 22.4%. Biểu hiện “thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ”

đạt ở mức trung bình, có 40 trẻ đạt ở mức cao chiếm tỷ lệ 34.5%. Trong khi đó,

có 59 trẻ đạt ở mức trung bình ở tỷ lệ phần trăm cao nhất là 50.9%. Mức thấp

67

nhất là 17 trẻ chiếm tỷ lệ 14.7%. Để hiểu rõ hơn mặt nhận thức của trẻ ở biểu

hiện “thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ” chúng tôi trò chuyện với 5 trẻ trong lớp

thường thể hiện cảm xúc giận dữ và có hành vi đánh bạn. Với câu hỏi “Khi giận

dữ con thường làm gì để giữ bình tĩnh?” Thì không trẻ nào có câu trả lời phù

hợp. “Con thường giận dữ khi nào?” Thì chỉ có 3/5 trẻ trả lời được, còn lại các

trẻ khác im lặng và không có câu trả lời.

Từ những kết quả và phân tích trên cho thấy mức độ nhận thức về kỹ năng

NBVTHCX của trẻ MG 5-6 tuổi ở mức trung bình với điểm chung bình chung

là 2.17.

2.2.5.3. Thực trạng nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông

qua sự đánh giá của GV

Bảng 2.14. Nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự

đánh giá của GV

Các mức độ

Biểu hiện Trung bình Thấp Cao

Nhận biết cảm xúc của người khác 53.1 10.6 38.1

Nhận biết cảm xúc của bản thân 37.5 8.1 54.4

Thể hiện sự an ủi với bạn 47.5 11.3 41.2

Thể hiện sự chia vui cùng bạn 27.4 7.6 65

Thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ 45.6 17.7 36.7

Bên cạnh việc tiến hành đo mức độ kỹ năng NBVTHCX ở trẻ, đề tài cũng

tiến hành đo mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ MG 5-6 tuổi qua sự đánh giá

của GV. Nhìn vào bảng 2.14 cho thấy, mức độ biểu hiện kỹ năng NBVTHCX

của trẻ MG 5-6 tuổi cụ thể như sau. Có 65% GV đánh giá biểu hiện “thể hiện sự

chia vui cùng bạn” và 54.4% GV đánh giá “nhận biết cảm xúc của bản thân” đạt

mức độ cao. Kế đó 3 biểu hiện còn lại được GV đánh giá ở mức trung bình lần

lượt là “Nhận biết cảm xúc của người khác” đạt tỉ lệ 53.1%, biểu hiện “Thể hiện

68

sự an ủi với bạn” có tỉ lệ 47.5% và thấp nhất là biểu hiện “Thể hiện kiềm chế

cơn giận dữ” chiếm tỉ lệ 45.6%.

Qua kết quả đánh giá về mức độ của từng biểu hiện ở kỹ năng NBVTHCX

của trẻ 5-6 tuổi ở giáo viên trực tiếp dạy lớp Lá cho thấy, kết quả khá logic với

khảo sát thực tế ở trẻ. Tuy nhiên, ở biểu hiện “nhận biết cảm xúc của bản thân”

có số điểm tương đối khác giữa đánh giá của GV và người nghiên cứu. Để tìm

hiểu sự khác biệt này chúng tôi có tiến hành quan sát trẻ và trao đổi với GV, Cô

N.H.G cho biết “Đối với 3 cảm xúc vui, buồn, giận dữ trẻ nhận biết rất tốt vì đây

là những cảm xúc trẻ thường được nghe nói tới và gần gũi với trẻ. Còn những

cảm xúc xấu hổ, ngạc nhiên, sợ hãi không thường xuyên xảy ra nên trẻ rất ít cảm

nhận và biết tới”. Chúng tôi chủ yếu đánh giá trẻ nhận biết cảm xúc vui, buồn,

giận mà trẻ thường gặp phải. Vì vậy đã tạo nên sự khác biệt trong kết quả trên.

69

Tiểu kết chương 2

Kết quả khảo sát thực trạng giúp chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:

Đa số BGH và GV các trường mầm non tham gia vào nghiên cứu đều có

cách hiểu chưa phù hợp về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6

tuổi. Chỉ có 11.43% GV có quan điểm đúng với nội dung giáo dục kỹ năng này.

Bên cạnh đó, về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ

có 85.71% GV cho rằng rất quan trọng và 14.29% GV cho rằng quan trọng và

không có lựa chọn nào là ít quan trọng và không quan trọng. Tuy nhiên, qua quá

trình khảo sát thực tế kết hợp nhiều phương pháp khác nhau chúng tôi nhận

thấy. Việc giáo dục kỹ năng này cho trẻ chưa thực sự được quan tâm và chú

trọng. Cụ thể như sau:

1. Kết quả khảo sát về mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6

tuổi ở mức trung bình. Biểu hiện “Thể hiện chia vui với bạn” ở mức cao có điểm

trung bình cao nhất là 2.47. Riêng 3 biểu hiện còn lại trẻ đạt ở mức trung bình

xếp lần lượt theo thứ hạng từ thứ 2 đến cuối cùng là “Thể hiện sự an ủi bạn”,

“thể hiện sự kiềm chế cảm xúc giận dữ”, “Nhận biết cảm xúc của người khác

qua 6 cảm xúc”, thấp nhất là biểu hiện “nhận biết cảm xúc của bản thân qua 6

bức tranh”. Trong đó ở biểu hiện nhận biết cảm xúc bản thân và người khác hầu

như trẻ chỉ nhận biết được 3 cảm xúc: vui, buồn, giận. Vốn từ và khả năng nhận

biết 3 cảm xúc còn lại: sợ hãi, xấu hổ, ngạc nhiên là rất thấp. Về mặt thể hiện

cảm xúc trẻ thể hiện việc chia vui với bạn ở mức cao, riêng biểu hiện “thể hiện

sự an ủi với bạn” và biểu hiện “Thể hiện sự kiềm chế cảm xúc của trẻ” đều đạt ở

mức trung bình.Trẻ chưa biết dùng lời hoặc hành động để an ủi và những cách

để giữ bình tĩnh mỗi khi giận dữ.

2. GV thực hiện biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

chủ yếu là hình thức lồng ghép. Ba biện pháp được GV sử dụng rất thường

xuyên là “Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ”, “Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ

70

noi theo”, “Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài

hát.” Tuy nhiên, qua quá trình quan sát và phỏng vấn chúng tôi nhận thấy mức

độ sử dụng các biện pháp chưa được sử dụng ở mức “rất thường xuyên” như đã

lựa chọn. Bên cạnh đó, GV đã bỏ qua rất nhiều cơ hội để giáo dục trẻ đặc biệt là

trong hoạt động vui chơi. Khi được quan sát và trò chuyện với GV về những trò

chơi, câu chuyện GV đã tổ chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho thấy GV vẫn

còn hạn chế về trò chơi và câu chuyện nội dung chưa phong phú, đa dạng để

giáo dục trẻ.

3. Ngoài ra, trong quá trình tổ chức giáo dục kỹ năng này cho trẻ GV còn

gặp những khó khăn nhất định, trong đó GV có 4 khó khăn nổi bật là “Nội dung

giáo dục cảm xúc khó thực hiện”, “Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm

xúc của trẻ”, “Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên còn hạn chế, “Giáo

viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần

thiết”. Và những khó khăn khác như: “Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu

cầu thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc”và “Chương trình, tài liệu

hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo

trong chương trình còn ít”. “Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế”. “Lớp học đông trẻ”.

Từ việc khảo sát thực trạng giáo dục này, cùng với những buổi trò chuyện,

phỏng vấn với BGH và GV là những căn cứ thực tiễn làm tiền đề để chúng tôi

đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

71

Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT

VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI

3.1. Cơ sở đề xuất một số biện pháp

3.1.1. Dựa vào cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

- Kỹ năng NBVTHCX không có sẵn mà được hình thành trong quá trình

giáo dục và luyện tập lâu dài. Vì vậy cần có những biện pháp hiệu quả nhằm

nâng cao kỹ năng này cho trẻ.

- Xuất phát từ lý luận dạy học hiện đại với xu hướng dạy học “Lấy người

học làm trung tâm”.

- Xuất phát từ chương trình giáo dục mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển

trẻ em 5 tuổi do Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam ban hành vào năm 2010.

3.1.2. Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng

- Biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi và thực trạng

mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường.

3.2. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp

3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và lâu dài

Sự phát triển nhân cách và trí tuệ của trẻ mầm non đang ở giai đoạn vừa

mới hình thành. Do đó ,việc giáo dục trẻ phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cái

đã biết đến cái chưa biết. Khi tổ chức giáo dục phải luôn dựa vào những tri thức,

kỹ năng, thói quen, những kinh nghiệm sống của trẻ để tiến hành giáo dục.

Trong suốt quá trình giáo dục, mỗi kỹ năng được hình thành phải được củng cố

và luyện tập thường xuyên. Từ đó, mới hình thành ở trẻ những thói quen, thuộc

tính vững chắc trong nhân cách của trẻ.

3.2.2. Nguyên tắc tạo môi trường cảm xúc tích cực

Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ MG là rất thích được yêu thương và

được quan tâm. Sự yêu thương của GV và những người thân xung quanh dành

72

cho trẻ sẽ hình thành ở trẻ những điều tốt đẹp, có được tâm lý vững vàng. Từ đó,

trẻ dễ dàng đáp ứng tình cảm yêu thương, quan tâm của mình đến với mọi

người. Vì vậy, trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX nguyên tắc tạo môi

trường cảm xúc tích cực, đầy yêu thương được coi là nguyên tắc chủ đạo xuyên

suốt trong quá trình giáo dục trẻ.

3.2.3. Nguyên tắc tôn trọng trẻ

Mỗi trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý phát triển khác nhau. Vì vậy

phải có định hướng giáo dục đối với sự phát triển cá tính riêng ở từng em. Trong

quá trình tổ chức giáo dục GV cần quan sát và trao đổi với phụ huynh để nắm rõ

đặc điểm tính cách từng em, chú ý đến trạng thái tâm lý, thể chất và tâm hồn của

mỗi trẻ. GV cần nhận biết trẻ trong những thời điểm nhất định với những đặc

điểm riêng, tôn trọng những đặc điểm tâm lý cá tính riêng cũng như những đặc

điểm về thể chất và tinh thần, những thói quen của trẻ. Nguyên tắc này rất quan

trọng đối với nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX Vì mỗi trẻ sẽ có nhu cầu

chia sẻ, trao đổi, thể hiện cảm xúc khác nhau có trẻ thích lắng nghe, có trẻ thích

ôm ấp. Nếu Cô nắm được đặc điểm cá nhân và thể hiện sự tôn trọng lắng nghe

trẻ sẽ góp phần mang lại hiệu quả cao trong giáo dục.

3.2.4. Nguyên tắc khả thi

Các biện pháp phải dựa trên cơ sở đặc trưng của việc hình thành kỹ năng

sống của trẻ mầm non cũng như các điều kiện thực tế tại mỗi vùng miền để đảm

bảo tính thực thi. Đồng thời có sự kết hợp có hệ thống, mềm dẻo, linh hoạt đảm

bảo trẻ được hoạt động trải nghiệm thể hiện được tính tích hợp đặc thù của

ngành Mầm non.

Tóm lại việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi cần thực hiện

nghiêm túc 4 nguyên tắc trên. Sự quán triển 4 nguyên tắc này sẽ là cơ sở đảm

bảo cho sự thành công trong việc giáo dục nâng cao kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ.

73

3.3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho

trẻ 5-6 tuổi

3.3.1. Biện pháp 1: Tổ chức tập huấn đào tạo giáo viên về nội dung,

phương pháp giảng dạy.

a. Mục đích và ý nghĩa

Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy, đa phần GV chưa được tập huấn về

phương pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Bên cạnh đó, giáo viên chưa

có nhiều tài liệu và thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của nội dung. Do vậy,

việc cung cấp bồi dưỡng các phương pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho

GV là rất quan trọng. Bởi vì khi nắm được nội dung, ý nghĩa, phương pháp thì

GV mới có thể tổ chức hiệu quả biện pháp giáo dục kỹ năng này cho trẻ.

Dạy kỹ năng không chỉ làm cho người học hiểu mà cần phải biết vận dụng

trong cuộc sống. Do đó, nếu được tham gia đào tạo một cách bài bản và chuyên

nghiệp. Giúp cho người học luôn chủ động vận dụng được vào trong cuộc sống.

Như vậy dạy học mới có ý nghĩa đối với trẻ.

b. Nội dung và cách thực hiện.

- Xây dựng và xác định các tiêu chí của kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.

- Tập huấn cho GVMN về nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ.

3.3.2. Biện pháp 2 : Tạo môi trường học tập tích cực

a. Mục đích và ý nghĩa

Trong công tác giáo dục, môi trường được ví như người thầy thứ hai trong

việc hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động và kích thích sự hứng thú tham

gia tích cực ở trẻ, nhằm rèn luyện các kỹ năng của mình.

Một môi trường học tập rộng mở, thoáng mát, với những đồ dùng, đồ chơi

an toàn, đa dạng, phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các

hoạt động học tập một cách tích cực. Đặc biệt, khi tổ chức trò chơi cảm xúc GV

74

chuẩn bị những đồ dùng đồ chơi đẹp mắt sẽ cuốn hút trẻ tham gia một cách tích

cực sẽ thúc đẩy trẻ phát triển các kỹ năng.

Ngoài ra, việc bố trí các góc chơi cần hợp lý, thuận tiện, sẽ tạo cho trẻ tâm

lý thoải mái, kích thích tính tích cực tham gia ở trẻ. Sẽ là điều kiện thuận lợi cho

trẻ được khám phá và phát triển tính sáng tạo trong hoạt động học tập của mình.

Khi tham gia hoạt động đòi hỏi trẻ tương tác, biết điều chỉnh cảm xúc, chia sẻ và

học cách lắng nghe trao đổi cùng bạn. Từ đó, hình thành cho trẻ sự tự tin và hòa

đồng và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

Bên cạnh môi trường vật chất, môi trường tâm lý thân thiện, giàu tình yêu

thương, sự ấm áp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ, giữa trẻ và môi trường xung

quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được tương tác, tham gia nhiệt tình vào các hoạt

động với bạn bè. Sống trong bầu không khí tâm lý thoải mái, dễ chịu trẻ sẽ dễ

dàng hòa đồng, cởi mở và chia sẻ cảm xúc của mình cùng Cô và các bạn. Từ đó,

sẽ tạo cho trẻ phát huy những năng lực và tích cực rèn luyện các kỹ năng của

mình.

b. Nội dung và cách tiến hành

+ Tạo môi trường vật chất

GV cần bố trí không gian và tạo ra các góc chơi đảm bảo rộng rãi, thoáng

mát, vệ sinh phù hợp với các hoạt động của trẻ. Khi trang trí góc chơi cần chú ý

đến bố cục màu sắc, tính thẩm mỹ để thu hút và kích thích trẻ hứng thú hoạt

động.

Trong hoạt động giáo dục kỹ năng NBVTHCX, GV có thể tạo cho trẻ góc

hoạt động cảm xúc bằng những tranh vẽ khuôn mặt còn để trống để trẻ bộc lộ

cảm xúc lên tranh vẽ. Hoặc trên góc tường GV dán những tranh vẽ cảm xúc

hoặc hình chụp trẻ với nhiều cảm xúc khác nhau. Qua đó sẽ giúp trẻ nhận biết

cảm xúc của mình và của bạn. Ngoài ra, GV có thể tổ chức các hoạt động phong

phú, hấp dẫn kích thích trẻ rèn luyện và bộc lộ các kỹ năng. GV có thể chuẩn bị

những con rối búp bê với những khuôn mặt cảm xúc khác nhau để trẻ đóng vai

75

cùng bạn. Có thể nhập vai và tưởng tượng ra các câu chuyện cảm xúc trẻ và bạn

đã trải qua. Hoặc GV chuẩn bị sẵn các khuôn mặt cảm xúc để trẻ gắn tên lên

bảng cảm xúc của mình “Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?”. Để trẻ nhận

biết và kiểm soát cảm xúc của mình một cách phù hợp.

Việc bố trí đồ dùng, đồ chơi cần được sắp xếp thuận tiện cho trẻ dễ cất và

dễ lấy. Không gian trẻ di chuyển cần dễ dàng, khuyến khích trẻ tham gia hoạt

động cùng các nhóm chơi, tạo điều kiện để trẻ phát huy và bộc lộ các kỹ năng.

+ Tạo môi trường tâm lý thân thiện, giàu tình yêu thương và sự ấm áp.

Để trẻ tham gia tích cực trong lớp học GV tạo bầu không khí tích cực và

ấm áp. GVcần phải lắng nghe, tôn trọng, hiểu trẻ và thân thiện bằng cách tham

gia chơi cùng trẻ ủng hộ các ý tưởng của trẻ, trò chuyện cùng trẻ từ đó sẽ giúp

trẻ dễ mở lòng mình khi chia sẻ những cảm xúc. Ngoài ra, để tạo bầu không khí

vui vẻ trong lớp học GV tránh so sánh các trẻ với nhau, cư xử công bằng, nhẹ

nhàng đồng thời giúp trẻ có cơ hội sửa sai rút kinh nghiệm bài học cho chính

mình. Những trẻ được sống trong môi trường lớp học thân thiện, yêu thương

đoàn kết sẽ biết quan tâm và yêu thương các bạn. GV có thể sưu tầm, tổ chức

một số trò chơi tạo cho trẻ được thể hiện sự quan tâm và yêu thương lẫn nhau.

Chúng tôi đề xuất một số trò chơi GV có thể tổ chức trong lớp học tạo cho trẻ

được sống trong một môi trường đầy yêu thương và gắn bó cùng nhau

(Phụ lục 9).

3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng một số tiết dạy để giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ

a. Mục đích và ý nghĩa

Dạy học cho trẻ mẫu giáo là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và

người học được tổ chức có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích nhằm hình thành

các năng lực nhận thức cho trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình

thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân

cách cho trẻ mẫu giáo.

76

Tùy theo mục đích dạy học GV có thể tổ chức dạy học cho trẻ dưới nhiều

hình thức khác nhau, trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng này, ngoài việc tổ chức

dạy trẻ mọi lúc mọi nơi, lồng ghép các hoạt động vui chơi hằng ngày. Chúng tôi

tiến hành dạy trẻ theo hình thức lên “tiết dạy”. Với mục đích qua những tiết dạy

GV giúp trẻ hệ thống và chính xác hóa những biểu tượng mà trẻ lĩnh hội trong

đời sống hằng ngày và tích lũy thêm những kiến thức mới để vận dụng vào trong

cuộc sống.

Hơn nữa, kết quả khảo sát chương 2 cho thấy, mức độ kỹ năng NBVTHCX

của trẻ 5-6 tuổi ở mức trung bình. Ở tiêu chí nhận biết cảm xúc của người khác

qua tranh, cho thấy vốn từ vựng về cảm xúc của trẻ ở mức thấp đa phần trẻ chỉ

nhận biết được 3 cảm xúc: vui, buồn, giận. Theo nghiên cứu cho thấy, việc diễn

đạt ngôn từ về cảm xúc có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh và giảm bớt các

phản ứng trong vùng hạch hạnh nhân của não và tăng các hoạt động ở vùng rìa

phải và giữa vỏ não từ đó sẽ giúp trẻ nhận thức được cảm xúc của mình và làm

giảm các hành vi ở trẻ. Qua những tiết dạy sẽ giúp trẻ có vốn từ vựng về cảm

xúc để mỗi khi trẻ trải qua các cảm xúc trẻ đều có thể gọi tên để nhận thức cảm

xúc từ đó có thể kiểm soát cảm xúc và đồng cảm với bạn [26, tr.316].

Bên cạnh đó, ở phần “Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình

giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ”. Yếu tố gây khó khăn đối với GV là “Nội

dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ khó thực hiện”. Với điểm trung bình

cao nhất là 2.51. Đồng thời GV chia sẻ nội dung giáo dục cảm xúc trừu tượng, ít

tài liệu nên đa số GV đã lựa chọn hình thức lồng ghép là chủ yếu.

Dựa trên cơ sở lý luận, chương trình Bộ giáo dục đào tạo và thực trạng biện

pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX. Chúng tôi đã soạn giáo án lên tiết dạy trẻ

qua 6 giờ dạy.

b. Nội dung và cách tiến hành

Nội dung chính của mỗi bài học giúp trẻ nhận diện 6 loại cảm xúc, đồng

thời dạy trẻ biết cảm nhận nỗi buồn và chia vui với bạn thông qua bài tập tình

huống tranh vẽ, trò chơi, câu chuyện.

77

Giờ học 1: Giới thiệu chung về cảm xúc.

Giờ học 2, giờ học 3, giờ học 4: Tập trung dạy trẻ nhận diện cảm xúc vui,

buồn, ngạc nhiên, sợ hãi và xấu hổ. Đồng thời phân tích tranh về tình huống, trẻ

thảo luận những cách chia sẻ và chia vui cùng bạn.

Giờ học 5 và giờ học 6: Dạy trẻ về cách nhận diện cảm xúc giận dữ và

cách giữ bình tĩnh bằng cách sử dụng “Kỹ thuật Rùa”. Với trẻ mầm non thường

có nhiều vấn đề (dành đồ chơi, trẻ chạm vào bạn, làm đổ khối lắp ghép của bạn)

khiến trẻ khó chịu có khi giận dữ và dẫn đến hành vi đánh bạn. Qua phần khảo

sát chúng tôi nhận thấy đa phần GV gặp khó khăn trong việc giúp trẻ kiểm soát

cơn giận dữ để điều chỉnh hành vi của trẻ. Thường thì GV sử dụng những câu

nói “Con hãy bình tĩnh”. Cách nói này thật khó để giúp trẻ kiểm soát và thay đổi

hành vi. Đôi khi nó có thể làm tăng thêm phản ứng tức giận của trẻ. Vì vậy,

chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật Rùa để cung cấp cho trẻ chiến lược để thay đổi

suy nghĩ của mình và thúc đẩy sự tự điều chỉnh. “Kỹ thuật Rùa” là một chiến

lược về sự thay đổi hành vi đã được sử dụng thành công trong giáo dục mầm

non ở độ tuổi mẫu giáo. Kỹ thuật Rùa ban đầu được phát triển để dạy người lớn

về kỹ năng quản lý cơn tức giận. Sau đó được điều chỉnh và tích hợp vào trong

chương trình kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo. Rùa mô tả một thời gian ông đã

thất vọng ở trường. Rùa đã chứng minh làm thế nào rùa nghĩ là tốt nhất cho

mình, Rùa suy nghĩ “dừng lại” sau đó đi vào vỏ bọc của mình và hít thở sâu ba

cái. Sau đó rùa tự suy nghĩ với chính mình, “Tôi có thể bình tĩnh lại và nghĩ một

số giải pháp để giải quyết vấn đề” Để có được mức độ hiệu quả cao giáo viên có

thể mời các em thực hành bí quyết của Rùa [62] (Phụ lục 12).

3.3.4. Biện pháp 4: Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc

giáo dục kỹ năng NBVTHCX

a. Mục đích và ý nghĩa

Nghiên cứu đã cho thấy, cách cha mẹ đối xử với con cái như nghiêm khắc,

thông cảm, dửng dưng hay yêu thương… đều có ảnh hưởng sâu sắc và lâu bền

78

đối với đời sống xúc cảm của trẻ. [10,tr.263] Gia đình là nơi trẻ nhận được sự

giáo dục cảm xúc đầu tiên. Ngay từ bé, đứa trẻ nhận được sự quan tâm, yêu

thương và gắn bó của cha mẹ sẽ có đời sống tâm lý ổn định và thể hiện cảm xúc

tốt hơn. Trẻ cảm nhận được những tình cảm sâu lắng sẽ dễ dàng học tập tốt và

mang lại cho người thân xung quanh sự vui vẻ và hạnh phúc. Sự phối hợp của

cha mẹ và nhà trường sẽ có ý nghĩa quan trọng để phát triển kỹ năng này cho trẻ.

Qua việc trao đổi với giáo viên sẽ giúp cha mẹ hiểu được con mình trong môi

trường lớp học cũng như thấy được sự cần thiết và phương pháp giáo dục trẻ. Từ

đó, cha mẹ sẽ hỗ trợ và mở rộng việc giáo dục cảm xúc cho trẻ tại nhà; ngược lại

qua trao đổi thông tin với gia đình sẽ giúp giáo viên nắm được đặc điểm tâm lý

của trẻ khi ở nhà. Việc dạy kỹ năng cho trẻ là một quá trình rèn luyện lâu dài sự

thống nhất trong giáo dục giữa gia đình và nhà trường sẽ tạo điều kiện phát triển

liên tục trong việc học tập và giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.Vì vậy sự

phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao

sự phát triển kỹ năng này cho trẻ.

b. Nội dung và cách tiến hành

Trong những buổi họp hoặc khi đón trả trẻ GV có thể trao đổi với cha mẹ

về vai trò quan trọng của việc giáo dục cảm xúc cho con mình. Mời cha mẹ

tham gia vào hoạt động của trẻ tại trường (ngày 8/3, sinh nhật bạn, giúp đỡ các

bạn khó khăn..) nếu có thể cùng đi với trẻ đến các trường thăm các bạn khuyết

tật. Giúp cha mẹ nhận thấy được hình thức, phương pháp và các hoạt động tổ

chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX để giáo dục trẻ tại nhà. Sự có mặt tham gia

của cha mẹ sẽ làm tăng hứng thú và trẻ sẽ thấy được ý nghĩa trong mỗi hoạt

động.

Tuyên truyền cho cha mẹ tầm quan trọng cũng như biện pháp để giáo dục

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ ở nhà. Cha mẹ cần giáo dục trẻ bằng tình yêu

thương là tấm gương cho trẻ học tập và noi theo. Tận dụng cơ hội để trẻ nhận

biết cảm xúc và đối phó với cảm xúc của mình.

79

Cuối mỗi chủ đề, học kỳ GV trao đổi về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc của trẻ và lắng nghe phụ huynh để điều chỉnh kế hoạch giáo dục trẻ, đề nghị

với phụ huynh những vấn đề cần phối hợp với trường mầm non.

3.3.5. Biện pháp 5: GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ

a. Mục đích và ý nghĩa

Theo quan điểm nhận thức xã hội của Albert Bandura “Trẻ em quan sát,

nhận thức hành vi của người khác để hình thành hành vi của trẻ em”. Trẻ em

thường nhạy cảm và dễ dàng học theo cách hành xử của những người thân xung

quanh trẻ. Ví dụ: Trẻ gái thường có những hành vi bắt chước mẹ như: mang giày

cao gót, bôi son còn trẻ trai thường bắt chước bố cạo râu. Hằng ngày khi đến

trường GVMN là người mà trẻ thường xuyên tiếp xúc. Vì vậy, có thể nói mọi

hành vi cử chỉ, lời nói và hành động của Cô đều có những tác động, ảnh hưởng

rất lớn đối với trẻ. Tuy nhiên, qua khảo sát thực trạng kết quả Chương 2 cho

thấy, GV vẫn chưa thực hiện tốt biện pháp này. Một số GV vẫn chưa kiểm soát

tốt cảm xúc giận dữ, khi giận dữ Cô vẫn thể hiện sự quát tháo, la mắng hay đánh

đập trẻ. Cách mà Cô thể hiện cảm xúc sẽ có thể để lại dấu ấn xấu trong lòng trẻ.

Khi lớn lên trẻ sẽ khó kiểm soát cảm xúc và có xu hướng bạo lực. Vì vậy, biện

pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX qua việc GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc

trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa.

b. Nội dung và cách thực hiện.

GV làm mẫu qua hành vi sẽ tạo ra một môi trường tích cực, giúp trẻ cảm

thấy an toàn, để có thể học hỏi và áp dụng các kỹ năng vào cuộc sống.

Trong quá trình chăm sóc, giảng dạy, có những lúc giáo viên cảm thấy giận

dữ hay phiền muộn về trẻ. Việc đầu tiên giáo viên cần làm là giữ bình tĩnh và

điều chỉnh cảm xúc của mình cho phù hợp. Giáo viên không nên thể hiện sự

giận dữ bằng lời nói gay gắt, khó chịu để la mắng hay trách phạt trẻ. Bằng cách

phù hợp nhất GV hãy giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng và đầy yêu thương. Để

trẻ học được cách phản ứng cảm xúc giận dữ của Cô. Mỗi sáng Cô có thể cho trẻ

80

ngồi thành vòng tròn và kể về những cách Cô đã làm khi Cô cảm thấy giận dữ.

Ví dụ: Cô đã cảm thấy giận dữ khi có ai đó vẽ bậy lên tường nhà Cô. Lúc đó, Cô

đã hít thở sâu ba cái và suy nghĩ về điều gì đó để thư giãn, khi cảm thấy bình

tĩnh Cô đã nghĩ ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề của mình. Hoặc Cô có

thể tạo tình huống từ câu chuyện hoặc tranh vẽ về những cách mà mọi người

xung quanh xử lý khi có cảm xúc tức giận. Những tình huống Cô lựa chọn để kể

thường là những chuyện gần gũi và gắn liền với đời sống mà trẻ thường gặp.

Ngoài ra, GV làm mẫu cho trẻ cách giáo viên chia sẻ niềm vui, nỗi buồn

với người khác. Trẻ mầm non không thể nhận thức đằng sau hành vi của giáo

viên. Qua mỗi việc làm giáo viên có thể kể lại những gì mình đã làm cho trẻ

khác hiểu và làm theo. Ví dụ: Cô đã trò chuyện và hát cho bạn Hoa nghe, bạn ấy

buồn vì chú chó của bạn đã bị bệnh mấy ngày qua. Việc giải thích của Cô sẽ

giúp trẻ hiểu và khơi gợi ở trẻ thái độ tích cực và lòng mong muốn băt chước

hành động đó.

3.3.6. Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ

a. Mục đích và ý nghĩa

Truyện kể vốn là nguồn suối mát nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ và cũng là lợi

thế để GV giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Mỗi khi Cô kể chuyện trẻ

thường tỏ ra rất yêu thích và chăm chú lắng nghe. Mỗi tình tiết câu chuyện đều

mang đến cho trẻ sự tò mò và trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau. Có lúc, trẻ

đồng cảm với những cảm xúc nhân vật đang trải qua , có lúc trẻ không đồng tình

cách cư xử của các nhân vật. Từ những tình huống cảm xúc nhân vật gặp phải

trong câu chuyện khiến trẻ liên tưởng đến tình huống thực tế của bản thân. Từ

đó, sẽ giúp trẻ tăng thêm vốn từ vựng về cảm xúc và học cách thể hiện, phản

ứng với cảm xúc một cách phù hợp. Ngoài ra, trong quá trình kể chuyện những

câu hỏi đàm thoại, tình huống vấn đề cô đặt ra sẽ giúp trẻ phát triển khả năng

tưởng tượng, tư duy và năng lực đồng cảm khi đặt mình vào vị trí người khác để

giải quyết vấn đề. Sự kết hợp đàm thoại giữa Cô và trẻ, sẽ giúp Cô hiểu được

81

những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm và cách trẻ phản ứng trước những cảm xúc

khác nhau. Từ đó Cô sẽ có những điều chỉnh, định hướng giúp trẻ có những suy

nghĩ đúng đắn và thể hiện kỹ năng NBVTHCX một cách phù hợp

Như vậy, có thể thấy thông qua kể chuyện và đàm thoại có ý nghĩa quan

trọng để phát triển kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Về việc tăng vốn từ vựng và

cách thể hiện cảm xúc khác nhau. Từ đó sẽ giúp trẻ dễ dàng vận dụng vào trong

cuộc sống.

b. Nội dung và cách thức thực hiện

Nội dung các cuộc đàm thoại và câu chuyện cần liên quan đến những cảm

xúc nhân vật trải qua và cách nhân vật phản ứng với mỗi tình huống. Những câu

chuyện GV kể có thể là những câu chuyện GV sưu tầm hoặc những câu chuyện

kể sáng tạo được rút ra từ kinh nghiệm của bản thân. Trong mỗi câu chuyện kể

GV có thể kết hợp đàm thoại trước hoặc sau khi kể tùy theo mục đích cuộc đàm

thoại (để khơi gợi sự chú ý của trẻ, để trẻ phán đoán, bày tỏ cảm xúc). GV có

thể dừng lại khuyến khích trẻ chia sẻ cảm xúc của mình khi là nhân vật trong

câu chuyện. Đặc biệt những đoạn nhân vật thể hiện cảm xúc và những truyện có

kèm theo tranh ảnh, khi đó GV có thể hỏi trẻ Ví dụ “Các con hãy nhìn vào

khuôn mặt bạn heo trắng, trông bạn ấy thật sợ hãi khi bị sói đuổi theo”. Các câu

chuyện kể phải gần gũi với trẻ, có nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho

trẻ. Chuyện cần có bố cục rõ ràng, súc tích và hấp dẫn đối với trẻ. Chúng tôi đề

xuất một số câu chuyện kể cho trẻ nghe, nhằm mục đích giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ (Phụ lục 10).

Khi tổ chức kể truyện cho trẻ giáo viên cần lưu ý:

+ Chuẩn bị đồ dùng trực quan , thuộc nội dung chuyện và nhập tâm vào câu

chuyện kể (giọng nói, cử chỉ, điệu bộ…)

+ Khi đàm thoại giáo viên nên chú trọng giúp trẻ nhận biết và chú ý đến

những chi tiết về sự cảm xúc của các nhân vật. GV cần chú ý đến câu hỏi thảo

luận về cảm xúc. Đưa ra những câu hỏi trẻ có nhiều giải pháp để lựa chọn, có

82

thể là chia sẻ những kinh nghiệm mình đã trải qua. Đặc biệt là cho trẻ nêu lên ý

kiến của mình và tự đưa ra kết luận vấn đề. Qua những trao đổi thảo luận cảm

xúc về nhân vật sẽ giúp trẻ hiểu rõ hơn cảm xúc của bản thân mình và những

người xung quanh. Và trẻ sẽ học cách mà các nhân vật phản ứng phù hợp qua đó

giúp trẻ vận dụng vào cuộc sống.

GV có thể đàm thoại với trẻ với những câu hỏi sau.

1. Trong câu chuyện có những nhân vật nào?

2. Con yêu ai nhất trong câu chuyện này? Tại sao?

3. Theo con nhân vật trong câu chuyện đang cảm thấy như thế nào?

4. Các con có đồng ý với cách thể hiện cảm xúc của bạn không?

5. Nếu là con, con sẽ cảm thấy như thế nào? Tại sao?

6. Qua câu chuyện chúng ta học được điều gì? Chúng ta nên làm gì?

3.4. Tổ chức khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trên

3.4.1. Mục đích khảo sát

Tìm ra một số biện pháp giáo dục tác động hiệu quả nhằm thúc đẩy kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

3.4.2. Nội dung khảo sát

Các biện pháp thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

3.4.3. Khách thể khảo sát

- 35 BGH và GV lớp 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non Hoa Hồng - Q.Bình

Tân; Trường Mầm non Bé Ngoan – Q.1; Trường Mầm non Hoa Mai – Q.3.

3.4.4. Kết quả khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp

Cách cho điểm ở mỗi mức độ được tính như sau:

Điểm trung bình Mức độ cần thiết Mức độ khả thi

1-1.6 Không cần thiết Không khả thi

1.61-2.21 Cần thiết Khả thi

2.22-3 Rất cần thiết Rất khả thi

83

3.4.4.1. Mức độ cần thiết của biện pháp đã đề xuất

Kết quả khảo sát ý kiến của GV và BGH về mức độ cần thiết của các biện

pháp nhằm thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi được thể hiện ở bảng

3.1 với điểm trung bình chung 2.28 cho thấy các biện pháp GV đều cho rằng ở

mức độ rất cần thiết. Trong đó chỉ có 1 biện pháp “Tổ chức tập huấn đào tạo

GV về nội dung, phương pháp giảng dạy” đạt ở mức cần thiết với điểm trung

bình 2.20. Các biện pháp còn lại đều xếp ở vị trí rất cần thiết bao gồm: “Phối

hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX” (TB

= 2.40, TH = 1), “Lập kế hoạch dạy học theo chủ đề” (TB = 2.34, TH =2), “Kể

chuyện và đàm thoại cùng trẻ” (TB = 2.29, TH = 3), “GV làm mẫu qua hành vi

chăm sóc trẻ” (TB = 2.26, TH = 4), “Tạo môi trường học tập tích cực” (TB =

2.23, TH = 5). Như vậy, với điểm trung bình trên cho thấy những biện pháp mà

GV và BGH đã lựa chọn đều có tác động tích cực đến trẻ.

Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất

Mức độ cần thiết

STT Các biện pháp

Điểm trung bình Thứ hạng

2.20 6 1

Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương pháp giảng dạy.

2 Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục 2.34 2

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

2.40 1 3

Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX

4 Tạo môi trường học tập tích cực 2.23 5

5 GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ 2.26 4

6 Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ 2.29 3

Điểm trung bình chung 2.28

84

3.4.4.2. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất

Kết quả khảo sát về tính khả thi của biện pháp ở bảng 3.2 cho thấy các biện

pháp được BGH và GV đánh giá ở mức rất khả thi với điểm trung bình chung là

2.23, bao gồm biện pháp “Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo

dục kỹ năng NBVTHCX” (TB = 2.4, TH = 1), “Kể chuyện và đàm thoại cùng

trẻ” (TB = 2.31, TH = 2), “Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương

pháp giảng dạy” (TB = 2.26, TH = 3), “Tạo môi trường học tập tích cực” (TB =

2.23, TH = 4). Đây là 5 biện pháp có vị trí xếp hạng từ 1 đến 5, có điểm trung

bình ở mức độ rất khả thi. 2 biện pháp còn lại được GV và BGH lựa chọn ở mức

độ khả thi đó là “ Xây dựng một số tiết dạy để giáo dục KNNBVHCX cho trẻ”

(TB = 2.17, TH = 5), “GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ” (TB = 2.06, TH =

6).

Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất.

Mức độ khả thi

STT Các biện pháp Điểm Thứ hạng trung bình

1 Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, 2.26 3

phương pháp giảng dạy.

2 Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục 2.17 5

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

3 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong 2.40 1

việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX

4 Tạo môi trường học tập tích cực 2.23 4

5 GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ 2.06 6

6 Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ 2.31 2

Điểm trung bình chung 2.23

85

Nhìn chung kết quả thu được ở bảng 3.1 và 3.2 cho thấy 6 biện pháp người

nghiên cứu đưa ra được BGH và GV đánh giá ở mức rất cần thiết và có tính rất

khả thi. Vì vậy để thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi cần tiến hành

đồng bộ các biện pháp trên.

3.5. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và

thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi

3.5.1. Mục đích thực nghiệm

Hỗ trợ việc kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất.

3.5.2. Nội dung thực nghiệm

Vì một số điều kiện về thời gian cùng với tính hiệu quả của biện pháp.

Chúng tôi lựa chọn biện pháp 1: “Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ” Biện pháp 2: “GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc

trẻ”. Biện pháp 3: “Tạo môi trường học tập tích cực”.

3.5.3. Nhiệm vụ thực nghiệm

- Ứng dụng các biện pháp trên xây dựng thành giáo án

- Tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm

- Thu thập kết quả sau khi thử nghiệm

3.5.4. Tổ chức thực nghiệm

3.5.4.1. Mẫu thực nghiệm

* Nhóm đối chứng:

- Chọn ngẫu nhiên theo danh sách 22 trẻ có năm sinh 2008 đang học tại lớp

lá A, trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP. HCM

- 2 Giáo viên phụ trách lớp Lá A trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình

Tân, TP.HCM

*Nhóm thực nghiệm:

- Chọn ngẫu nhiên theo danh sách 22 trẻ có năm sinh 2008 đang học tại lớp

lá B, trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP.HCM

Sự khác biệt giữa nhóm ĐC và nhóm TN:

86

- Nhóm ĐC: GV tự soạn giáo án, tự chuẩn bị đồ dùng dạy học và tổ chức

HĐ với hình thức, phương pháp, biện pháp bình thường theo nội dung chương

trình qui định.

- Nhóm TN: GV soạn giáo án, lên kế hoạch và tổ chức với hình thức,

phương pháp, biện pháp theo nội dung chương trình TN.

3.5.4.2. Thời gian thực nghiệm

Băt đầu từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 năm 2014

+ Hoạt động lên tiết dạy 3 buổi một tuần, sáng lên lớp từ 9 giờ đến 10 giờ 15.

+ Kết hợp lồng ghép trong các hoạt động được diễn ra hằng ngày. (GV làm

mẫu qua hành vi, tổ chức hoạt động học tập tích cực).

3.5.4.3. Tiến hành thực nghiệm

- Bước 1 : Khảo sát mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc của trẻ trước thực nghiệm.

Sử dụng tranh vẽ - bài tập phỏng vấn và quan sát trẻ nhằm đánh giá mức độ

nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ trước thực nghiệm.

- Bước 2 : Tác động trực tiếp các biện pháp thông qua các giờ học và tiến

hành triển khai các hoạt động thực nghiệm.

- Bước 3 : Sử dụng tranh vẽ - bài tập phỏng vấn và quan sát các biểu hiện

của trẻ nhằm đánh giá kết quả của trẻ sau những tác động giáo dục.

3.5.6. Kết quả thực nghiệm

Thang đo sau thực nghiệm với các biểu hiện sau: [Phụ lục 14]

Biểu hiện 1: Nhận biết cảm xúc của người khác thông qua 6 bức tranh:

Sử dụng 6 bức tranh có cảm xúc: vui, buồn, giận, sợ hãi, xấu hổ, ngạc

nhiên. Sau đó, cho trẻ nhận biết cảm xúc người khác qua tranh và đoán xem

người đó đang có cảm xúc gì.

Biểu hiện 2: Nhận biết cảm xúc của bản thân với các câu hỏi sau

Sử dụng bảng điểm danh cảm xúc đã trò chuyện với trẻ vào mỗi buổi sáng.

Sau đó để trẻ sẽ gắn tên mình vào bảng tên cảm xúc. Chia sẻ cùng Cô trẻ đã có

87

những cảm xúc gì. Ngoài ra trong quá trình trẻ vui chơi trò chuyện chúng tôi đặt

câu hỏi và trò chuyện cùng trẻ.

Biểu hiện 3: Thể hiện sự an ủi với bạn

Bạn Hoa mới chuyển vào lớp Lá 3, bạn đang ngồi một chỗ nhìn các bạn

chơi. Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem bạn đang có cảm xúc gì? Vì sao bạn

lại có cảm xúc đó? Nếu con là các bạn trong lớp con sẽ làm gì khi bạn buồn?

Biểu hiện 4: Thể hiện sự chia vui cùng bạn

Sinh nhật Na ba mẹ mang bánh kem lên tổ chức cho bạn. Con hãy nhìn vào

tranh và đoán xem bạn đang có cảm xúc gì? Con sẽ làm gì để chia vui chúc

mừng sinh nhật bạn?

Biểu hiện 5: Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ

Nam và Tuấn đang tập vẽ tranh, chẳng may Nam làm đổ màu lên tranh của

Tuấn ? Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem Tuấn đang có cảm xúc gì? Khi giận

dữ bạn Tuấn nên làm gì?

3.5.6.1. Đánh giá mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của nhóm trước và sau thực nghiệm.

Chúng tôi tiến hành phân tích, mô tả, nhận xét, đánh giá mức độ phát triển

kỹ năng NBVTHCX qua tranh bài tập đánh giá cùng phương pháp quan sát, trò

chuyện dựa trên tiêu chí đã xác định.

Bảng 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm

(Trước khi tiến hành thực nghiệm)

Lớp Số lượng

22 22

TĐC TTN Sig (2-talied) Mức độ biểu hiện của nội dung Biểu hiện 3 2.00 2.09 0.34 Biểu hiện 2 1.77 1.73 0.59 Biểu hiện 4 2.18 2.32 0.53 Biểu hiện 5 1.91 2.18 0.16 Biểu hiện 1 1.77 1.82 0.30 Điểm trung bình 1.92 2.02

88

Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi sử dụng tranh bài tập tình

huống đã tiến hành khảo sát ở chương 2, cùng với biện pháp quan sát trẻ trong

giờ học và giờ chơi để tiến hành đo mức độ nhóm trẻ thực nghiệm và nhóm đối

chứng trước thực nghiệm. Việc khảo sát này được thực hiện ở 22 trẻ trong lớp

thực nghiệm và 22 trẻ trong lớp đối chứng ở giai đoạn trước khi tiến hành thực

nghiệm. Kết quả cho thấy điểm trung bình 2.02 của nhóm trẻ thực nghiệm và

nhóm trẻ đối chứng 1.92 hầu như không có sự chênh lệch nhiều về mức độ kỹ

năng NBVTHCX giữa hai nhóm trẻ này trước thực nghiệm. Với kiểm nghiệm

Sig (2-talied) cho ra kết quả: Biểu hiện 1: Sig (2-talied) = 0.30>0.05; Biểu hiện

2: Sig (2-talied) =0.59>0.05; Biểu hiện 3: Sig (2-talied) = 0.34>0.05; Biểu hiện

4: Sig (2-talied) = 0.53>0.05; Biểu hiện 5: Sig (2-talied) = 0.16>0.05. Cho thấy

không có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận thức ở các biểu hiện của nhóm

đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm.

Biểu đồ 3.2. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm

89

3.5.6.2. So sánh mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Bảng 3.4. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm.

(Sau khi tiến hành thực nghiệm)

Mức độ biểu hiện của nội dung Điểm Số Lớp trung Biểu Biểu Biểu Biểu Biểu lượng bình hiện 1 hiện 2 hiện 3 hiện 4 hiện 5

22 1.95 1.77 2.09 2.18 2.17 2.03 SĐC

22 2.36 2.23 2.45 2.55 2.41 2.4 STN

0.02 0.02 0.02 0.04 0.01 Sig (2-talied)

Biểu đồ 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của

nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm

Sau khi tiến hành thực nghiệm với các biện pháp tác động cho ra kết quả,

hầu hết các mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ ở nhóm thực nghiệm

tăng lên đáng kể với điểm trung bình là 2.4. Còn điểm trung bình của nhóm sau

đối chứng 2.03 cũng có sự tăng lên nhưng mức tăng này chưa đáng kể. Như vậy,

90

trẻ nhận thức được các nội dung về giáo dục kỹ năng NBVTHCX cũng như cách

ứng xử, thái độ hành vi tốt hơn so với trước thực nghiệm. Với kiểm nghiệm Sig

(2-talied) ở biểu hiện 1= 0.02 <0.05; biểu hiện 2 =0.02; biểu hiện 3=0.02; biểu

hiện 4=0.04; biểu hiện 5= 0.01<0.05 có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận

thức của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở các nội dung sau thực

nghiệm.

Kết quả cho thấy, các biện pháp tổ chức thực nghiệm đã có tác động mạnh

lên nhận thức của trẻ. Kết quả này không chỉ thể hiện rõ khi chúng tôi thực hiện

thang đo bài tập nhận thức mà còn qua quan sát, trò chuyện trong các hoạt động

diễn ra hằng ngày của trẻ. Vào mỗi buổi sáng, trong không khí vui vẻ và hòa

đồng giữa Cô và các bạn, Cô tổ chức cho trẻ ngồi thành vòng tròn cùng nhau

trao tặng bạn lời khen và những lời chúc tốt đẹp. Sau đó, Cô cho trẻ đặt tên vào

bảng cảm xúc “Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?” và cùng lắng nghe những

câu chuyện cảm xúc của trẻ. Trước khi tiến hành những buổi chia sẻ cảm xúc,

Cô cho trẻ học qui tắc không nói chuyện ồn ào, luôn tôn trọng và lắng nghe

những câu chuyện cảm xúc của bạn. Ban đầu, có nhiều trẻ còn rụt rè chưa dám

chia sẻ cùng Cô và các bạn. Sau một thời gian học về cảm xúc trẻ bắt đầu nhận

thức tốt hơn về cảm xúc của mình và đã mạnh dạn chia sẻ những cảm xúc và

những câu chuyện mình đã trải qua. Đặc biệt, mỗi khi bạn chia sẻ, trẻ đã biết

lắng nghe và đặt câu hỏi “Bạn cảm thấy như thế nào?” “Khi đó bạn đã làm gì?”.

Bên cạnh việc tổ chức lên tiết dạy, mục đích chúng tôi tổ chức những buổi chia

sẻ cảm xúc là trẻ nhận thức tốt hơn về cảm xúc của bản thân, biết rằng ai trong

chúng ta cũng có cảm xúc, đồng thời giúp trẻ biết quan tâm, đồng cảm và hiểu

được cảm xúc của người khác. Trong những giờ chia sẻ cảm xúc có một câu

chuyện đặc biệt của Nam, Nam đã bị chó cắn và khi đến lớp ở trong trạng thái

băng bó ở tay. Khi Nam đến lớp các trẻ khác tỏ vẻ ngạc nhiên và quan tâm lại

gần và hỏi thăm bạn “Bạn bị sao vậy? Sao bạn lại bị băng bó ở tay? Chắc bạn

đau lắm phải không?”. Trong giờ chia sẻ vòng tròn, Nam bắt đầu chia sẻ câu

91

chuyện của mình. (Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi quan sát và nhận

thấy Nam là cậu bé có thân hình nhỏ bé, tính tình khá rụt rè. Nhưng qua những

buổi học về cảm xúc, Nam trở nên tự tin và mạnh dạn hơn). Nam bắt đầu kể, vào

ngày thứ bảy Nam và mẹ vừa dừng ở nhà Bác thì bị chó chạy tới và tấn công,

lúc đó Nam đã cảm thấy sợ hãi và rất đau. Các bé xung quanh chăm chú lắng

nghe câu chuyện và khuôn mặt cũng biểu lộ sự sợ hãi, thể hiện sự quan tâm và

đồng cảm với bạn. Một số trẻ đặt câu hỏi “Giờ bạn còn đau không? Trưa nay

mình sẽ xúc cơm cho bạn ăn nghe?..” Bên cạnh đó chúng tôi đặt câu hỏi với các

trẻ. Khi bạn bị thương, bạn sẽ không được chơi trò chơi vận động nhiều như các

con, bạn chỉ có thể ngồi một chỗ theo các con bạn sẽ cảm thấy như thế nào?

Chúng ta có cách nào để giúp bạn cảm thấy tốt hơn? Khi chơi với bạn chúng ta

nên chơi như thế nào để bạn không bị thương? Hầu như các bé đưa ra những câu

trả lời rất tốt. Trong những giờ học sau chú ý quan sát, chúng tôi thấy các bé rất

quan tâm tới Nam, chơi nhẹ nhàng, không làm bạn bị thương. Đồng thời có

những hành vi giúp bạn: lấy cặp giúp bạn, những trẻ ăn nhanh chạy tới giúp bạn

xúc cơm. Ngoài ra, trước những ngày sinh nhật các trẻ trong lớp chúng tôi luôn

tạo cơ hội cho trẻ được chia vui và chúc mừng bạn, bằng cách có một buổi trò

chuyện với các bạn trong lớp “Trong lớp mình hầu như ai cũng có ngày sinh

nhật đúng không nào? Khi đến ngày sinh nhật các con thường có những cảm xúc

gì? À, ngày mai là sinh nhật bạn Hương, Cô sẽ hỏi bạn Hương có cảm xúc gì

nhé! Các con sẽ làm gì để chúc mừng bạn? Nếu trẻ chưa có ý tưởng, chúng tôi

đưa ra những gợi ý cho trẻ về những món quà (Tặng bạn tấm thiệp, vẽ một bức

tranh hoặc chuẩn bị một bài hát để tặng bạn). Hôm sau đến lớp, có trẻ mang

bimbim, tặng bạn bức tranh do mình vẽ, cùng nắm tay hát và múa tặng bạn.

Bên cạnh việc tổ chức cho trẻ trò chuyện chia sẻ cảm xúc GV đã tổ chức

cho trẻ chia sẻ cảm xúc của mình khi chia tay trường lớp trong tranh vẽ. Mỗi

tranh trẻ vẽ cho thấy, có những trẻ cảm thấy vui khi được vào trường mới, có trẻ

cảm thấy buồn khi xa Cô xa bạn bè và trường lớp…

92

Ở biện pháp làm gương cho trẻ noi theo, bước đầu GV đã có những cách cư

xử lịch sự với trẻ, GV đã hạn chế những lời la mắng trẻ. Khi trẻ ồn ào mặc dù

bực bội nhưng GV đã lựa chọn những cách hành xử hay hơn để thu hút trẻ. Sau

đó GV kể cho trẻ nghe về cảm xúc và cách giải quyết của mình. “Khi các con

mất trật tự cô đã rất giận, lúc đó Cô đã áp dụng 4 bước giữ bình tĩnh của Rùa,

để giữ bình tĩnh Cô đã không lựa chọn cách la hét hoặc đánh đập các con mà

Cô đã sử dụng tiếng vỗ tay hoặc mở một bài hát để thu hút các con về phía Cô”.

Ngoài ra, GV đã tổ chức trẻ thể hiện sự chia sẻ và quan tâm tới bạn trong trò

chơi đóng vai. Cô đã tham gia chơi cùng trẻ và tạo nhiều tình huống để trẻ thể

hiện sự quan tâm với bạn mình. Khi đóng vai bác sĩ, đối với bệnh nhân bị ốm

bác sĩ nên trò chuyện nhẹ nhàng, quan tâm hỏi thăm bệnh nhân. Khi làm nhân

viên bán hàng nói chuyện vui vẻ, lịch sự với khách hang, gia đình bạn nào có

người bị ốm Cô đóng vai người bạn trái cây, mời trẻ mua trái cây đến thăm gia

đình có người bị ốm. Bên cạnh đó GV tận dụng những cơ hội trong sinh hoạt

hằng ngày để giúp trẻ nhận diện cảm xúc. “Con hãy nhìn xem bạn Lan đã rất

buồn khi con chê bức tranh của bạn.”.

Trong hoạt động ở góc cảm xúc, GV dán những tranh ảnh với nhiều khuôn

mặt cảm xúc khác nhau. Trẻ tỏ ra rất tò mò và thường lại gần quan sát các cảm

xúc trong tranh và cùng trò chuyện với bạn về các tranh cảm xúc. Tận dụng

những lúc này,chúng tôi lại gần và trò chuyện cùng trẻ với những câu hỏi con đã

từng có cảm xúc này chưa? Chuyện đã xảy ra như thế nào? Con đã làm gì?. Qua

việc quan sát tranh, chia sẻ cảm xúc cùng bạn, sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn từ

về cảm xúc và ôn lại các bước giữ bình tĩnh của Rùa. Trong việc vận dụng bí

quyết của Rùa chúng tôi thường tập trung quan sát những trẻ hay giận dữ và có

hành vi đánh bạn, mỗi khi chuẩn bị có xung đột chúng tôi lại gần và nói “Bây

giờ con đang cảm thấy như thế nào? Con hãy nhớ lại các bước giữ bình tĩnh của

Rùa khi giận dữ mình nên làm gì?” Dần dần qua những biện pháp này trẻ không

chỉ đạt được kết quả về mặt nhận thức mà trẻ còn thể hiện rất tốt qua hành vi của

93

mình. Ngoài ra, để khuyến khích trẻ vận dụng bí quyết của Rùa chúng tôi

khuyến khích trẻ chia sẻ những lần trẻ đã áp dụng bí quyết của Rùa, mỗi lần như

vậy trẻ sẽ được tặng một ngôi sao cuối tuần mang về tặng ba mẹ. Qua đó, đã

khuyến khích và cổ vũ trẻ rất nhiều trong việc nhận thức và vận dụng bí quyết

giữ bình tĩnh của Rùa.

Như vậy, bằng các biện pháp nghiên cứu, phương pháp đánh giá khác nhau.

Chúng tôi đã thu được kết quả khả quan và có thể khẳng định qua các biện pháp

tác động mức độ phát triển kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm thực

nghiệm tăng lên rõ rệt và cao hơn nhiều so với nhóm đối chứng.

Kết quả thực nghiệm đã chứng minh cho giả thuyết chúng tôi đưa ra là

đúng đắn, đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu của đề tài.

94

Tiểu kết chương 3

Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và một số nguyên tắc: nguyên

tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và lâu dài; nguyên tắc tạo môi

trường cảm xúc tích cực; nguyên tắc tôn trọng trẻ; nguyên tắc khả thi. Chúng tôi

đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. Và tiến

hành khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp trên BGH và GV các trường. Kết

quả cho thấy các biện pháp đề xuất đều rất cần thiết và rất khả thi có thể áp dụng

vào trong thực tiễn. Đó là các biện pháp:

1. Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương pháp giảng dạy.

2. Xây dựng mộ số tiết dạy riêng để giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

3. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng

NBVTHCX.

4. Tạo môi trường học tập tích cực.

5. GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ.

6. Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ.

Với mục đích hỗ trợ việc kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đề

xuất. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm một số biện pháp đề xuất trên trẻ. Bao

gồm các biện pháp: 1 “Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục cảm xúc cho

trẻ; 2. Tạo môi trường học tập tích cực; 3. GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc

trẻ”. Kết quả thực nghiệm cho thấy những biện pháp được đề xuất có ý nghĩa

tích cực đến quá trình hình thành và phát triển kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

95

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

1.1. Có thể thấy, trẻ em ngày nay lớn lên trong một nền văn hóa ngày càng

đa dạng và phức tạp. Các điều kiện xã hội và nhu cầu học tập của trẻ đã thay đổi.

Điều này đã đặt ra cho trẻ những thách thức trong học tập và cuộc sống.Vì vậy,

trường học ngày nay không chỉ giúp các em đạt được kết quả tốt trong học tập

mà cần giúp các em sớm trở thành những công dân có ích, biết quan tâm, chăm

sóc, đóng góp cho cộng đồng và xã hội. Những năm gần đây, Ở Việt Nam lĩnh

vực phát triển trí tuệ cảm xúc hay kỹ năng NBVTHCX đã được lồng ghép trong

lĩnh vực phát triển tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ Mầm non. Tuy nhiên, những

lý luận và biện pháp ở lĩnh vực này vẫn còn hạn chế về số lượng và chưa được

quan tâm sâu sắc. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng góp một

phần nhỏ trong việc thúc đẩy năng lực học tập cảm xúc xã hội ở trẻ. Để trong

tương lai giúp trẻ trở thành công dân có ích và sớm thành công trong học tập và

cuộc sống.

1.2. Kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi là khả năng nhận diện và hiểu

cảm xúc của bản thân và người khác, trên cơ sở đó có những thái độ và hành vi

thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho phép, biện pháp

giáo dục kỹ năng NBVTHCX là cách thức cụ thể mà GV sử dụng để tác động

đến trẻ nhằm giáo dục trẻ khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để

nhận diện cảm xúc của bản thân và người khác trên cơ sở đó thể hiện những thái

độ và hành vi một cách phù hợp vào trong thực tiễn nhằm đạt kết quả mong đợi.

1.3. Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy, BGH và GV có cách nhìn nhận

chưa đúng về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đa số hình thức

GV lựa chọn để tổ chức giáo dục kỹ năng này là lồng ghép vào các chủ đề, hoạt

động vui chơi, trò chuyện. Biện pháp được giáo viên sử dụng nhiều nhất là:

Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ em noi theo; Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ;

96

Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài hát. Tuy

nhiên, qua quan sát và phỏng vấn GV vẫn chưa thực hiện tốt ở những biện pháp

trên.Cụ thể: GV chưa kiểm soát tốt về cảm xúc, vẫn còn nóng giận có hành vi la

mắng và đánh trẻ, ngoài ra GV vẫn còn hạn chế trong việc tổ chức trò chơi và

câu chuyện giáo dục cảm xúc cho trẻ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến

thực trạng trên là do GV gặp những khó khăn nhất định : GV chưa thấy được

tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của nội dung, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với

PH; Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện, giáo viên lại ít có tài liệu; Khả

năng truyền đạt cảm xúc ở GV còn hạn chế; GV và PH chưa thấy việc giáo dục

kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần thiết.

Ngoài ra, mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ ở 3 trường đạt

mức trung bình. Trong đó, ở biểu hiện nhận biết 6 cảm xúc: vui, buồn, giận dữ,

ngạc nhiên,sợ hãi ở bản thân và người khác, trẻ chỉ nhận biết được 3 cảm xúc :

vui, buồn, giận dữ. Các cảm xúc sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ đạt ở mức độ thấp.

Các biểu hiện “thể hiện sự chia vui cùng bạn” trẻ đạt mức độ cao nhất, các biểu

hiện còn lại ở mức độ trung bình bao gồm: “thể hiện sự an ủi với bạn”, “thể hiện

sự kiềm chế cơn giận dữ”.

1.4. Dựa trên nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng sử dụng biện pháp

và những khó khăn GV gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ, chúng tôi đề xuất 6 biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6

tuổi bao gồm: Nâng cao nhận thức về sự cần thiết và tập huấn đào tạo GV về nội

dung, phương pháp giảng dạy; Có những tiết dạy riêng để giáo dục trẻ; Phối hợp

giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX; Tạo môi

trường học tập tích cực; GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ; Kể chuyện và

đàm thoại cùng trẻ.

1.5. Khảo sát tính hiệu quả của biện pháp đề xuất trên BGH và GV các

trường mầm non cho thấy các biện pháp đều đạt ở mức hiệu quả có tính rất cần

thiết và rất khả thi, có thể vận dụng vào trong thực tế. Trong quá trình tổ chức

97

thực nghiệm các biện pháp: Tạo môi trường học tập tích cực; GV làm mẫu qua

hành vi chăm sóc trẻ; Có những tiết dạy riêng để giáo dục trẻ, cho thấy đã có sự

tăng lên về mức độ nhận thức cũng như thái độ và hành vi về kỹ năng

NBVTHCX của trẻ. Điều này có ý nghĩa thực tiễn, góp phần giúp GVMN có

thêm cơ sở lý luận và những biện pháp phát triển kỹ năng này cho trẻ.

2. Kiến nghị

2.1. Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo

- Tổ chức tập huấn hội thảo chuyên đề về phương pháp giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho BGH và GV các trường Mầm non.

- Cung cấp thêm cho các trường mầm non các phương tiện và tài liệu về

giáo dục kỹ năng NBVTHCX.

- Phân chia thời gian giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ cụ thể hơn trong

chương trình giáo dục.

- Có chính sách và chương trình đẩy mạnh các hoạt động phong trào, ngày

hội dành cho trẻ em. Chẳng hạn như tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự

kiện quan trọng trong năm có ý nghĩa nhằm giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho

trẻ.

- Đánh giá xây dựng bài giảng, phương pháp của giáo viên trong hoạt động

giảng dạy về kỹ năng NBVTHCX.

- Chương trình giáo dục mầm non cần phải cân bằng giữa phát triển nhận

thức và phát triển mặt tình cảm xã hội

2.2. Đối với BGH và GV các trường Mầm non

- Cần thống nhất và qui định cụ thể những giờ học giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ trong kế hoạch giáo dục nhà trường.

- Tạo điều kiện để GV được tham gia lớp tập huấn về các phương pháp

giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ MN.

- Tổ chức hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX vào

những hoạt động học và vui chơi hằng ngày.

98

- Việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cần được giáo viên tận dụng cơ hội

giáo dục thường xuyên trong chế độ sinh hoạt hằng ngày.

- Sử dụng thống nhất các tác động giáo dục (Gia đình và nhà trường) và

việc luyện tập thường xuyên ứng xử trong sinh hoạt hằng ngày.

- Cần khuyến khích, động viên trẻ chia sẻ cảm xúc tạo điều kiện thuận lợi

giúp trẻ phát huy kỹ năng NBVTHCX bằng nhiều tình huống thực tế sinh động

khác nhau.

2.3. Đối với Gia đình

- Nhận thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ ở giai đoạn này.

- Phối hợp với nhà trường để rèn luyện và tạo điều kiện trẻ nhận biết và thể

hiện cảm xúc một cách phù hợp. Đồng thời cha mẹ cần nắm vững một số biện

pháp nhất là làm gương cho trẻ học tập và noi theo.

- Quan tâm nhiều hơn đến đời sống cảm xúc của trẻ, cùng trẻ vượt qua

những cảm xúc khó chịu luôn khen ngợi và động viên trẻ.

- Là tấm gương cho trẻ học tập và noi theo. Gia đình cần sắp xếp thời gian

rèn luyện kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đồng thời kết hợp và trao đổi phương

pháp giáo dục với nhà trường để nâng cao mức độ kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.

99

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Nguyễn Minh Anh (2009), Trí tuệ cảm xúc với nội dung phát triển tình cảm

và kĩ năng xã hội của trẻ trong chương trình giáo dục mầm non mới, Kỉ

yếu hội thảo của Trường Cao đẳng Sư phạm TW Tp. HCM.

2. Đào Thanh Âm (2008), Giáo dục học mầm non, Nxb Đại học Sư phạm.

3. Lê Ngọc Bích (2009), Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi, Nxb

Giáo dục.

4. Lương Thị Bình, Phan Lan Anh (2011), Các hoạt động giáo dục tình cảm và

kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam.

5. Lương Thị Bình, Kay Margetts (2013), Dự án tăng cường khả năng sẵn

sàng đi học cho trẻ mầm non, giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã

hội, Bộ giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2013.

6. Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo

dục Việt Nam.

7. Bộ giáo dục và đào tạo, Hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển cho trẻ 5

tuổi, Hà Nội tháng 8/2010.

8. Lê Thị Bừng (2007), Những thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, Nxb

Đại học Sư phạm.

9. Caroll E.Izard (1992), Những cảm xúc của người, Nxb Giáo dục.

10. Daniel Goleman (2011) , Trí tuệ xúc cảm – lý giải tại sao người kém thông

minh lại thành công hơn những người thông minh, Nguyễn Kiến Giang

dịch, Nxb Lao động Xã hội.

11. Diane Tillman Diana Hsu (2009), Những giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến

7 tuổi, Phạm Thị Sen dịch, Nxb Trẻ.

12. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb Khoa học Xã hội.

13. Nguyễn Thu Hà (2006), “Sự phát triển của cảm xúc xấu hổ ở lứa tuổi mầm

non”, Tạp chí Giáo dục Mầm non, (6).

100

14. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ

điển giáo dục học, Nxb từ điển Bách Khoa năm 2001.

15. Nguyễn Thị Thu Hiền (2008), Giáo trình phát triển và tổ chức thực hiện

Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo dục.

16. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình GD học mầm non, Nxb Đại học Sư

phạm Hà Nội.

17. Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Những kỹ

năng sư phạm Mầm non Cô giáo Mầm non với vai trò lập kế hoạch thực

hiện chương trình giáo dục, Nxb Giáo dục.

18. Ngô Công Hoàn (2003), “Xúc cảm và giáo dục xúc cảm đối với trẻ em lứa

tuổi mầm non”, Tạp chí Tâm lý học, (4)/2003.

19. Trương Thị Xuân Huệ (2014), Lý luận dạy học hiện đại, Nxb Lao Động

20. Trần Thanh Hùng (2005), Khảo sát mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của

các giáo viên mầm non ở Tp. HCM, khóa luận tốt nghiệp.

21. Lê Thu Hương (chủ biên) (2008), Tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm xã

hội cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục.

22. Nguyễn Hữu Long (2010), Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở

thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ Tâm lí học, Đại học Sư phạm

Tp. HCM.

23. Lê Thị Luận (2010), “Mức độ thể hiện xúc cảm bản thân của trẻ 4-5 tuổi

qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non”, Tạp chí Tâm lý

học, (3).

24. Isabelle Filliozat (2010), Thế giới cảm xúc của trẻ thơ, Nguyễn Văn Sự

dịch, Nxb Dân Trí.

25. John J. Medina (2011), Những quy tắc để trẻ thông minh và hạnh phúc,

Nguyễn Kim Diệu dịch, Nxb Lao động Xã hội.

26. Châu Nguyệt Minh (2012), Trò chơi rèn luyện EQ và IQ cho trẻ, Nxb Văn

hóa – Thông tin.

101

27. Mukhina V.X (1981), Tâm lý học Mẫu giáo, Nxb Giáo dục.

28. Lưu Hồng Khanh (2005), Tương giao bất bạo động – ngôn ngữ của trung

thực và tâm cảm, Nxb Trẻ.

29. Vũ Thị Nho (2003), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.

30. Phan Trọng Nam (2007), Mức độ trí thông minh và trí tuệ cảm xúc của sinh

viên trường đại học sư phạm Đồng Tháp.

31. Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Nguyễn Lan Anh (2001), Tâm lý học trí

tuệ, Nxb ĐHQG Hà Nội.

32. Phan Trọng Ngọ (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học

Sư phạm Hà Nội.

33. Lê Bích Ngọc (2009), Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi, Nxb

Giáo dục.

34. Hoàng Thị Oanh (1996), Kỹ năng tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho

trẻ MG 5 tuổi của sinh viên trường CĐSP nhà trẻ mẫu giáo, Luận án

tiến sĩ.

35. Cao Văn Quang (2008), Tìm hiểu những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của học

sinh một số trường trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, Khóa luận

tốt nghiệp.

36. Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy (2012), Giáo

trình Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm Tp. HCM.

37. Huỳnh Văn Sơn (2009), Nhập môn kỹ năng sống, Nxb Giáo dục.

38. Huỳnh Văn Sơn (2012), Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên ĐHSP, Nxb

Giáo dục Việt Nam.

39. Trần Thị Hồng Sương (2005), Một số giờ học phát triển xúc cảm cho trẻ 4-

5 tuổi, Thông tin khoa học Giáo dục Mầm non.

40. T.A.Ilina (1978), Giáo dục học tập II, Nxb Giáo dục.

102

41. Ngô Thi Thạch Thảo (2013), Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ

5 tuổi ở một số trường mầm non tại Tp. Hồ Chí Minh, Luận văn

thạc sĩ.

42. Lê Thị Thanh Thủy (2013), “Một số hoạt động giúp giáo viên mầm non

tăng cường phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ”, Tạp chí Giáo dục

Mầm non.

43. Nguyễn Ánh Tuyết (2001), Giáo dục học, Nxb Giáo dục.

44. Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học lao động, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội.

45. Võ Hoàng Anh Thư (2010), Trí tuệ cảm xúc của học sinh Trung học Phổ

thông Thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại

học Sư phạm Tp. HCM.

46. Nguyễn Xuân Thức (2006), Giáo trình Tâm lí học đại cương, Nxb Đại học

Sư phạm.

47. Lê Thị Ngọc Thương (2013), Khảo sát năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi tại

một số trường mầm non trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học

và công nghệ cấp trường.

48. Trần Thị Trọng (1983), Giáo dục đạo đức cho trẻ Mẫu giáo, Nxb Giáo dục.

49. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb

Từ điển Bách Khoa.

50. Nguyễn Quang Uẩn (2001), Tâm lý học đại cương, Nxb Quốc gia Hà Nội.

51. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển tập nghiên cứu về Tâm lý – Giáo dục,

Nxb Đại học Sư phạm.

52. Trần Đại Vi (2010), Bí quyết phát triển cảm xúc cho trẻ, Nxb Thời Đại.

53. Nguyễn Khắc Viện (1991), Từ điển tâm lý, Nxb Ngoại Văn.

54. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin.

103

Tiếng Anh

55. Ann S.Epstein, PhD (2009), Me, You, Us Social-Emotional Learning In

Preschool, Published by HighScope Educational Research Foundation.

56. Dan Gartrell (2003), The Power of Guidance: Teaching Social-Emotional

Skills in Early Childhood Classrooms, Publisher Cengage Learning.

57. Everett L.Worthington, Jr, (1982), When someone asks for help (A Practical

Guide for Counseling), Publisher Inter Varsity.

58. John Gottman (1998), The Heart of Parenting: Raising an Emotionally

Intelligent Child, Publisher Simon & Schuster.

59. Lynne Namka, Ed.D. (2003), Teaching Emotional Intelligence to Children,

Published by Talk, Trust and Feel Therapeutics.

60. Marilou Hyson (2004), The emotional development of young children,

Published by Teachers College Press, 1234 Amsterdam Aventue, New

York, NY 10027.

Các trang web

61. http://www.rootsofempathy.org/

62. http://csefel.vanderbilt.edu/modules/module2/handout7.pdf

63. http://csefel.vanderbilt.edu/index.html

64. http://nieer.org/resources/policyreports/report7.pdf

65. http://giaoduchoconline.com

66. http://csefel.vanderbilt.edu/modules/module2/handout6.pdf

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Phiếu thăm dò ý kiến

Phần 1: Thông tin cá nhân

- Qúy cô là : Hiệu trưởng  Phó hiệu trưởng  Giáo viên 

- Giáo viên lớp:…………………………………Trường……………….

- Trình độ chuyên môn

 Sơ cấp Trung cấp  Cao đẳng  Đại học  Sau đại học 

- Thâm niên công tác

 Dưới 5 năm  Từ 5-10 năm  Trên 10 năm

Phần 2 : Nội dung câu hỏi

Câu 1. Theo quý cô, thế nào là kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi?

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

Câu 2. Theo quý cô, biểu hiện của kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

của trẻ 5-6 tuổi gồm các yếu tố nào?

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

Câu 3. Theo quý cô, kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6

tuổi ở trường cô đang công tác, nhìn chung ở mức độ:

 Cao

 Trung bình

 Thấp

Câu 4. Sự quan tâm của quý cô đối với việc giáo dục kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc của trẻ

 Rất quan tâm

 Quan tâm

 Chưa quan tâm

Câu 5. Những biện pháp nào quý cô đã sử dụng để giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

Câu 6. Trong những biện pháp kể trên, xin cô vui lòng chọn 2 đến 3 biện

pháp cô cho là quan trọng nhất và cho biết lý do vì sao?

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

.......................................................................................................................

Câu 7. Quý cô gặp khó khăn nào trong việc rèn luyện kỹ năng nhận biết

và thể hiện cảm xúc của trẻ ? (Nêu nguyên nhân về những khó khăn đó)

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

.....................................................................................................................

Phụ lục 2. Phiếu trưng cầu ý kiến

Phần 1: Thông tin cá nhân

Qúy cô là : Hiệu trưởng  Phó hiệu trưởng  Giáo viên 

- Giáo viên lớp:…………………

- Trình độ chuyên môn

 Sơ cấp Trung cấp  Cao đẳng  Đại học Sau đại học

- Thâm niên công tác

 Dưới 5 năm  Từ 5-10 năm  Trên 10 năm

Phần 2 : Nội dung câu hỏi (Quý Thầy (Cô) vui lòng khoanh tròn hoặc ghi

những đáp án cô cho là đúng )

Câu 1 : Theo quan điểm của quý Thầy (Cô) Kỹ năng nhận biết và thể hiện

cảm xúc :

a. Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người xung quanh.

Biết tự kiềm chế và tự điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.

b. Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên

cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với

hoàn cảnh và điều kiện cho phép.

c. Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận dữ, thích hay không

thích… về vấn đề nào đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành

động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.

d. Ý kiến khác ..............................................................................................

Câu 2 : Xin quý Thầy (Cô) cho biết tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ

năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

a. Rất quan trọng 

b. Quan trọng 

c. Ít quan trọng 

d. Không quan trọng 

Câu 3 : Theo quý Thầy (Cô), các hình thức nào có thể giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ?

a. Tổ chức một hoạt động dạy cụ thể 

b. Lồng ghép trong các hoạt động tại lớp 

c. Để trẻ tự phát triển 

d. Ý kiến khác……………………………………………………………

Câu 4. Hiện nay, nhà trường dạy những nội dung nào về kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

Câu 5. Qúy Thầy (Cô) thường sử dụng biện pháp nào để giáo dục kỹ năng

nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.

Mức độ

Biện pháp

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Hiếm khi

Không bao giờ

Rất thường xuyên

1. Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ

2. Sử dụng tình huống có vấn đề

3. Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc

4. Sử dụng phương pháp nghệ

thuật : bài thơ, câu chuyện,

tranh ảnh,bài hát.

5. Tận dụng cơ hội phát triển

cảm xúc cho trẻ trong giờ sinh

hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự

do.

6. Dùng tình cảm, làm gương

cho trẻ noi theo.

7. Tăng cường phối hợp giữa

gia đình và nhà trường.

8. Tổ chức sự kiện, lễ hội, trải

nghiệm thực tế ở nhiều môi

trường khác nhau.

9. Luyện tập hành vi ứng xử

thường xuyên trong sinh hoạt

hằng ngày.

10. Tạo môi trường vui vẻ, thoải

mái, thân thiện cho trẻ tích cực

bộc lộ cảm xúc một cách phù

hợp

Câu 6. Quý Thầy (Cô) đã gặp những khó khăn gì trong quá trình giáo dục kỹ

năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi.

Mức độ

STT

Những khó khăn

Khó khăn

Rất khó khăn

Không khó khăn

1

Chưa được tập huấn về nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5- 6 tuổi

2

Lớp học đông trẻ

3

Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối hợp

4

Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện

5

Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm xúc của trẻ.

6

Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên còn hạn chế

7

Giáo viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ là cần thiết.

8

Chương trình, tài liệu hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế.

9

Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo trong chương trình còn ít.

10 Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc.

Câu 7 : Xin quý Thầy (Cô), vui lòng đánh dấu vào mức độ cần thiết và kết

quả đạt được của những biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm

xúc sau.

Mức độ cần thiết

Kết quả đạt được

STT

Điều kiện

Cần thiết

Không khả thi

Khả thi

Không cần thiết

Rất khả thi

Rất cần thiết

1

Giáo viên được tập huấn đào tạo về nội dung, phương pháp giảng dạy.

2

Tạo môi trường cho trẻ tích cực

3

Có những tiết dạy riêng để giáo dục cảm xúc cho trẻ.

4

Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX

5

GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ.

6. Kể chuyện và đàm thoại

cùng trẻ.

Câu 8. Đánh giá của quý Thầy (Cô) về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ

như sau:

Mức độ

Nội dung

Cao

Trung bình

Thấp

Nhận biết 6 cảm xúc của người khác

Nhận biết cảm xúc bản thân

Thể hiện an ủi bạn

Thể hiện chia vui với bạn

Thể hiện kiềm chế

Câu 9: Để giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6

tuổi đạt hiệu quả, Quý Cô có những đề xuất gì?

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

...............................................................................................................................

Phụ lục 3. Biên bản quan sát biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi của Giáo viên mầm non

Người quan sát: .....................................................................................................

GV được quan sát: .................................................................................................

Ngày quan sát: .......................................................................................................

Hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng: ....................................................................

NỘI DUNG QUAN SÁT BIỆN PHÁP CỤ THỂ NHẬN XÉT

Chuẩn bị của giáo viên mầm non

Nội dung hoạt động

Cách hướng dẫn hoạt động

Kết thúc hoạt động

Phụ lục 4. Biên bản quan sát mức độ biểu hiện kỹ năng nhận biết và thể

hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi.

Người quan sát: .....................................................................................................

Trường: ..................................................................................................................

Họ tên trẻ: ..............................................................................................................

Giới tính: ...............................................................................................................

Ngày quan sát: .......................................................................................................

Biểu hiện GHI CHÉP NHẬN XÉT

Nhận biết cảm xúc

người khác

Nhận biết cảm xúc

của bản thân

Thể hiện sự chia

vui cùng bạn

Thể hiện sự an ủi

bạn

Thể hiện sự kiềm

chế cơn giận dữ.

Phụ lục 5. Kế hoạch giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho

trẻ 5-6 tuổi lớp lá a trường mầm non bé ngoan

LẬP KẾ HOẠCH TUẦN

Chủ đề: CẢM XÚC CỦA BÉ (22/10 – 26/10)

NGÀY 1 NGÀY 2 NGÀY 3 HOẠT ĐỘNG NGÀY 4 NGÀY 5

Tự sắp xếp đồ dùng cá nhân vào ngăn tủ của mình. Đón trẻ

bảng " Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?" Trò chuyện sáng:

Tên

Tâm trạng của bé như thế nào? Những khuôn mặt ngộ nghĩnh Làm quen a,ă,â Bò dích dắc qua 7 m.

Đếm đến 6, nhận biết các nhóm có 6 đối tượng, nhận biết số 6

BTPT chung Hoạt động1

Luyện tập biết nhận nhóm có số lượng là 5 Làm quen chữ cái a, ă, â Giờ học Trẻ kể lại cảm xúc của trong mình ngày hôm nay. Quan sát các ảnh hình ngộ nghĩnh qua poiwerpoint

Hoạt động2

Trò chơi với các chữ cái Tạo nhóm có 6 đố vật. đếm đến 6. Nhận biết số 6 Thực hiện vận động cơ bản

Cho trẻ xem một số hình ảnh thể hiện cảm xúc của trái những ngộ cây nghĩnh.

Mỗi bé sử dụng đất nặn để tạo cho mình một khuôn mặt ngộ nghĩnh và thể hiện cảm xúc của bản than.

Trẻ chia sẻ Trò cảm xúc với Hoạt Nhận biết số chơi Giờ các bạn (cô động lượng 6 vận học ghi nhận lại 3 động các ý kiến)

Quan sát: Quan sát : - Chơi Cảm giác Điều gì làm với cát, khó chịu Trò bạn vui nước như thế nào? chơi: Chạy nhanh tưới Hoạt động Đoán TCDG: TCVĐ: 18m cây ngoài trời xem ai Trò chơi " trong vào. Kéo co Chật mà vườn vui" trường

Chơi tự do Chơi tự do

Mô hình hài hoà cân đối về bố cục, màu sắc, kích thước và

hình dạng của chi tiết.

Thoả thuận về trò chơi. Chuẩn bị đồ chơi, nơi chơi. Chơi góc

Tiếp tục sao chép các từ Vui, buồn, giận, Làm rối các nhân

ngạc nhiên, dễ thương. vật trong chuyện.

Vệ sinh – ăn – ngủ

Trò chơi " Lớp chúng mình đoàn Hoạt động Đọc chuyện "Ba chú gấu" kết" chiếu

Vệ sinh trả Cất lọ sao vào ngăn tủ cá nhân. trẻ

Phụ lục 6. Biên bản phỏng vấn Giáo viên mầm non

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM

KHOA GIÁO DỤC – MẦM NON

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận

biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại

TP.HCM”. Từ kinh nghiệm dạy học và thực tiễn của mình, xin Qúy Thầy (Cô) Vui

lòng trả lời câu hỏi sau. Ý kiến quý báu của Qúy Thầy Cô sẽ giúp đỡ chúng tôi rất

nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu.

Xin chân thành cảm ơn!

Câu 1. Theo quý Thầy (Cô) việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

có quan trọng không? Vì sao?

Câu 2. Qúy Thầy (Cô) đã tổ chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ dưới

những hình thức nào? Bao lâu một tuần?

Câu 3. Trong tình huống trẻ A đang xây dựng sở thú. Để hoàn thành sản phẩm

trẻ A cần một khối gỗ hình chữ nhật. Sau một hồi tìm kiếm không thấy A trở

nên nóng giận và mất trật tự. A phát hiện B đang có khối gỗ đó. A hung hăng

lại gần và dành khối gỗ từ tay B, B dành lại và bị A đánh. Trong trường hợp

này cô sẽ xử lý thế nào trước hành vi đánh bạn và cảm xúc của trẻ?

Câu 4. Thầy (Cô) vui lòng gợi ý cho chúng tôi vài biện pháp Thầy (Cô) đã tổ

chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi đạt hiệu quả.

Câu 5. Những khó khăn Thầy (Cô) gặp phải khi giáo dục kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ 5-6 tuổi?

Phụ lục 7. Kế hoạch giáo án giảng dạy

CHỦ ĐỀ: CẢM XÚC CỦA BÉ

Giờ học 1:

Đề tài : Bé tìm hiểu về cảm xúc

Lứa tuổi: 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Cảm xúc ở bên trong nhưng được thể hiện ra bên ngoài.

- Có rất nhiều cảm xúc và mọi người ai cũng có cảm xúc.

- Mọi cảm xúc đều được chấp nhận.

 Kỹ năng:

- Trẻ chia sẻ cảm xúc bản thân và lắng nghe cảm xúc của mình và bạn.

- Rèn khả năng ghi nhớ, chú ý.

 Thái độ:

- Trẻ vui vẻ và yêu thích khi được chia sẻ cảm xúc cùng bạn.

2. Chuẩn bị:

- Tranh cho Cô và Loto cảm xúc cho trẻ khuôn mặt cảm xúc: vui, buồn,

tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, mắc cỡ.

- Rubic 6 mặt cảm xúc

3. Tiến trình bài học:

 Hoạt động mở đầu:

- Trẻ ngồi thành vòng tròn hát một bài hát và trao tặng bạn những lời

khen.

Cô hỏi trẻ: Khi được bạn khen các con cảm thấy như thế nào?

Ngoài ra, có những chuyện nào làm cho các con cảm thấy vui?

 Hoạt động trọng tâm

Vừa rồi, các con đã cùng Cô và các bạn chia sẻ những câu chuyện mang

lại cho chúng ta nhiều cảm xúc khác nhau đúng không nào. Có bạn kể rằng khi

được mẹ cho đi chơi bạn cảm thấy vui, có lúc bạn không ngoan mẹ bắt ở nhà

bạn cảm thấy buồn.

- Vậy vui, buồn là gì?

- Gọi chung là cảm xúc.

- Đã bạn nào được nhìn thấy cảm xúc chưa?

- Khi Cô giận dữ Cô cảm thấy bên trong nóng ran, tim Cô đập nhanh,

như vậy cảm xúc ở đâu? (nó ở bên trong chúng ta). Nhưng được thể

hiện ra bên ngoài bằng giọng nói, cử chỉ, điệu bộ. Chẳng hạn khi giận

dữ cô thể hiện là nghiến răng, hai tay Cô nắm lại.

Cô làm mẫu, sau đó cho trẻ ngồi đối diện với nhau, cùng nhau thể hiện

cảm xúc ra bên ngoài và cho bạn đoán.

Cô cho trẻ cùng nhau nhắc lại: “Cảm xúc là ở bên trong, nhưng được thể

hiện ra bên ngoài”.

Hoạt động 2: Có rất nhiều cảm xúc và mọi người ai cũng có cảm xúc

Cô chia trẻ làm 4 nhóm. Phát cho mỗi nhóm các bức tranh thể hiện cảm

xúc khác nhau. Yêu cầu trẻ thảo luận và chia sẻ những điều trẻ nhìn thấy trong

bức tranh. Mời trẻ trong nhóm đứng lên chia sẻ những gì trẻ nhìn thấy trong

tranh

Với câu hỏi:

- Các bạn trong tranh đang cảm thấy như thế nào?

- Hãy đoán xem vì sao bạn cảm thấy như vậy?

- Con cảm thấy cảm xúc đó khi nào?

Nãy giờ các bạn đã mô tả về mỗi cảm xúc khác nhau. Vậy theo các con có

bao nhiêu cảm xúc?

 Có rất nhiều cảm xúc và ai trong chúng ta cũng có cảm xúc đúng không

nào.

Ngoài ra, một bạn nhỏ nói với Cô là bạn đang cảm thấy tức giận. Vậy theo

các con cảm xúc tức giận có xấu không?

 Mọi cảm xúc đều được chấp nhận. Không có cảm xúc xấu. Vì vậy,

chúng ta hãy chia sẻ và lắng nghe cảm xúc của những người thân xung

quanh chúng ta.

Cô cho trẻ ôn lại những điều đã học

 Hoạt động kết thúc

Chơi trò chơi: Bé và cảm xúc

Chuẩn bị : Khối hình vuông, gồm 6 bề mặt thể hiện cảm xúc khác nhau:

vui, buồn, tức giận, sợ hãi, mắc cỡ, ngạc nhiên.

Cách chơi : Trẻ ngồi vòng tròn, lần lượt từng trẻ tung rubic sau đó gọi tên

cảm xúc được thể hiện trên bề mặt rubic và chia sẻ cho cô và các bạn khi nào

trẻ có cảm xúc đó.

Giờ học 2. Đề tài : Bé và cảm xúc Vui, Buồn

Lứa tuổi : 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Trẻ gọi tên và nhận diện tư thế dáng người liên quan đến cảm xúc

vui, buồn

- Biết rằng chúng ta có thể mang lại cho người khác những cảm xúc

khác nhau.

- Nói được những lời an ủi và chia vui với bạn cùng bạn

 Kỹ năng

- Chia sẻ và lắng nghe những điều trẻ và bạn cảm thấy vui hoặc buồn

- Có kỹ năng thể hiện và đoán cảm xúc của mình và bạn.

 Thái độ

- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn

- Biết trân trọng và yêu quí sản phẩm mình tạo ra

2. Chuẩn bị:

- Thẻ cảm xúc vui, buồn

3. Tiến trình bài học

 Hoạt động mở đầu

+ Nghe cô kể chuyện

Câu chuyện : “Chiếc Ấm Trà”

Chuyện kể rằng, có một chiếc Ấm Trà bị mất quai, mẹ đem bỏ vào kho.

Một hôm, Lan đang chơi ngoài sân, nghe tiếng khóc thút thít. Lan bèn dừng lại

hỏi:

- Ôi tiếng khóc của ai thế nhỉ? Lan tiến lại gần, thì ra là bạn Ấm Trà.

- Sao bạn lại khóc?

- Hu hu!Những ngày qua tôi rất cô đơn, không có ai chơi với tôi cả.

(GV: Lúc này bạn ấm trà đang cảm thấy như thế nào các con ?

Đoạn này kể giọng chậm và buồn kèm theo đó chúng tôi mở nhạc buồn

cho trẻ nghe

Nếu các con là Lan các con sẽ làm gì khi bạn ấm trà buồn?)

Nghe vậy, Lan liền đến bên cạnh Ấm Trà và nói.

- Bạn đừng khóc, nếu không có ai chơi với bạn thì từ nay chúng ta sẽ là

bạn của nhau nhé.

Nghe Lan nói vậy, Ấm Trà vui lắm và ôm Lan vào lòng. Sau đó, Lan

mang ấm trà vào nhà. Và bạn nảy ra một ý tưởng sẽ trồng hoa trong Ấm Trà.

Ngày ngày, Lan đều tưới nước cho cây và trò chuyện với Ấm Trà.

(Bây giờ Ấm Trà đang cảm thấy như thế nào?

Tại sao Ấm Trà lại cảm thấy như vậy?)

Chẳng lâu sau, cây lớn nhanh và nở hoa rất đẹp. Ai đi qua cũng trầm trồ

khen ngợi, ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp được trồng trong môt Ấm Trà

rất sáng tạo. Thấy vậy, Lan và Ấm Trà vui lắm hai bạn nắm tay nhau và hát

vang cả ngôi nhà.

 Đàm thoại cùng trẻ về nội dung câu chuyện:

1. Câu chuyện kể về những nhân vật nào?

2. Vì sao bạn Ấm Trà lại khóc? Bạn ấy đã cảm thấy như thế nào?

(cho trẻ làm khuôn mặt buồn)

3. Đã có bạn nào cảm thấy buồn giống như bạn Ấm Trà?

4. Khi Lan đồng ý làm bạn, Ấm Trà cảm thấy như thế nào?

(cho trẻ làm khuôn mặt vui)

5. Nếu Lan không đồng ý các con hãy đoán xem bạn Ấm Trà sẽ cảm thấy

như thế nào?

Giúp bé rút ra kết luận: chúng ta có thể mang lại niềm vui và nổi buồn cho

người khác.

 Hoạt động trọng tâm:

+ Bé nhận biết cảm xúc vui, buồn

Vừa rồi lớp mình được nghe Cô kể chuyện về bạn Ấm Trà và bạn đã trải

qua những cảm xúc gì?

Cô và trẻ cùng thảo luận.

Khi nào con cảm thấy vui, buồn? Lúc đó con đã làm gì?

Cô cho trẻ xem tranh và cùng phân tích những biểu hiện cảm xúc vui và

buồn.

Cảm xúc vui:

- Chỉ ra nét mặt và biểu hiện cơ thể, giọng nói khi người ta cảm thấy

vui (miệng cười tươi, mắt long lanh, có thể cười thành tiếng, nhảy

cẫng lên, chạy thật nhanh)

Sau đó cô vẽ cảm xúc vui lên bảng.

Cho cả lớp làm khuôn mặt vui. Trẻ cùng nhau chia sẻ với câu nói:

“ Con cảm thấy vui khi…”

Cảm xúc buồn:

Khi ta buồn lông mày ta chùng xuống, mắt nhìn xuống, có thể có nước

mắt nữa, khóe miệng ta chùng xuống (dùng tay kéo miệng xuống) có khi ta còn

khóc nữa.

Cô vừa miêu tả vừa minh họa trên khuôn mặt cô, rồi vẽ từng nét.

Cô cho cả lớp cùng làm khuôn mặt buồn.

Các con cảm thấy buồn khi nào? (Khi được ăn bánh sinh nhật ta cảm thấy

vui, khi không có ai chơi ta cảm thấy buồn.)

+ Chúng ta có thể mang lại cho người khác cảm xúc vui, cảm xúc buồn.

Các con thích cảm xúc vui vẻ hay cảm xúc buồn phiền.

Vậy làm cách nào khi ta đang buồn trở nên vui vẻ (làm những điều mà

chúng ta yêu thích: đi chơi, xem phim, vẽ những màu sắc tươi tắn.)

Cô và trẻ cùng phân tích tranh qua tình huống .

Tranh 1: Các con hãy đoán xem bạn Bo đang có cảm xúc gì? Và đoán xem vì

sao bạn buồn? Chúng ta có thể làm gì để giúp bạn vui?

Giúp trẻ rút ra kết luận: Những điều chúng ta làm cũng có thể đem đến cho

người khác cảm xúc vui hoặc cảm xúc buồn.

Tranh 2: Các con hãy nhìn xem bạn Lan đang có cảm xúc gì? Và đoán xem vì

sao bạn vui? Chúng ta sẽ làm gì để chia vui cùng bạn?

 Hoạt động kết thúc

Cô trẻ đóng vai theo tranh. Bạn nhỏ đến lớp không có ai chơi nên rất

buồn. Các bạn còn lại sẽ chia nhóm và bàn bạc xem có những cách gì giúp bạn

vui hơn. Mỗi câu trả lời hay cô sẽ tặng một ngôi sao.

Giờ học 3: Đề tài : Bé và Cảm xúc sợ hãi

Lứa tuổi: 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Trẻ nhận diện, gọi tên , tư thế dáng người liên quan đến cảm xúc sợ

hãi

 Kỹ năng

- Có kỹ năng vẽ các nét cơ bản cảm xúc sợ hãi

 Thái độ

- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn

- Biết trân trọng và yêu quí sản phẩm mình tạo ra

2. Chuẩn bị:

- Tranh cảm xúc sợ hãi

- Khuôn mặt trống để vẽ cảm xúc sợ hãi

3. Tiến trình bài học

 Hoạt động mở đầu

Trẻ tung rubic gọi tên và chia sẻ cảm xúc cùng cô và các bạn.

 Hoạt động trọng tâm:

+ Hoạt động 1: Cô kể cho cả lớp nghe câu chuyện sợ hãi mà bạn Thỏ mới

chia sẻ với cô.

Hôm ấy, mẹ Thỏ đi làm dặn thỏ ở nhà không được đi đâu chơi xa. Nhưng

ở nhà một mình buồn quá, thế là Thỏ chạy ra ngoài chơi. Mãi ngắm hoa đuổi

bướm đến chiều tối Thỏ quên cả đường về. Lúc ấy Thỏ cảm thấy sợ lắm tim

đập nhanh như trống đánh.

Bạn thỏ con đã cảm thấy gì?

Các bạn đã bao giờ có cảm xúc này chưa?

Đã vậy, Thỏ còn gặp một con Nhện thật là to. Thỏ hét lên cứu cứu. May

có bác Gấu đen đi qua đã dẫn Thỏ về nhà gặp mẹ. Thỏ xin lỗi mẹ và cảm ơn

bác Gấu rối rít. Từ đó, Thỏ vâng lời mẹ không dám đi chơi xa nữa..

+ Hoạt động 2: Cho trẻ xem tranh khuôn mặt sợ hãi

Các con đã bao giờ cảm thấy sợ hãi như bạn Thỏ chưa?

Bây giờ Cô và các Con sẽ chơi trò chơi tưởng tượng mình là bạn Thỏ và

cùng làm khuôn mặt sợ hãi giống cô nào (hai đầu gối run lên, miệng mở to..)

Các con làm khuôn mặt sợ hãi rất giỏi, bây giờ chúng ta hãy cùng xem

bức tranh những người đang cảm thấy sợ hãi. Chỉ vào đặc điểm sợ hãi(mắt

hoảng sợ, miệng mở to, lông mày cong lên)

Đoán xem hình một số bạn đang có cảm xúc sợ hãi

Bạn Lan đang sợ hãi vì bạn Nam bỏ con sâu lên người bạn Lan.

Bạn trai đang sợ hãi vì phải ở trong nhà một mình.

Em nhỏ đang sợ hãi vì học lớp có nhiều anh chị lớn.

Cho trẻ chia sẻ những lần mình cảm thấy sợ hãi.

Các con có thích cảm xúc sợ hãi không?

Rút ra : Tất cả mọi người đều có cảm xúc sợ hãi. Khi sợ hãi chúng ta cố

gắng vượt qua, có thể là nhờ người lớn giúp. Và không nên trêu chọc làm cho

bạn mình sợ hãi.

Bây giờ Cô sẽ vẽ khuôn mặt sợ hãi và các con nhìn và vẽ theo Cô nhé.

 Hoạt động kết thúc:

Cô cho trẻ vẽ tranh khuôn mặt cảm xúc sợ hãi.

Giờ học 4. Đề tài : Bé và cảm xúc Ngạc nhiên, Xấu hổ

Lứa tuổi: 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Trẻ nhận diện và gọi tên cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ

 Kỹ năng

- Chia sẻ và lắng nghe những điều trẻ và bạn chia sẻ

- Có kỹ năng thể hiện và đoán cảm xúc của mình và bạn.

 Thái độ

- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn

2. Chuẩn bị:

- Tranh cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ

3. Tiến trình bài học

 Hoạt động mở đầu

Cô mở nhạc cho trẻ nghe và vận động theo nhạc bài hát “If You're Happy And

You Know It”

 Hoạt động trọng tâm

+ Cảm xúc ngạc nhiên

Các con ơi vừa rồi các con vận động với nhạc bài hát “If You're Happy

And You Know It” các con cảm thấy như thế nào?

À, hầu như các con đều cảm thấy vui phải không nào. Bây giờ Cô muốn

mang đến cho các con một cảm xúc nữa. Nào các con hãy cũng xem đoạn

video sau (Cô chuẩn bị video chú hề biểu diễn xiếc).

Sau khi xem video xong các con cảm thấy như thế nào?

À có bạn cảm thấy vui, có bạn thì cảm thấy bất ngờ.

Vì sao các con cảm thấy ngạc nhiên và vui?

Hôm nay cô sẽ dạy cho các con cảm xúc bất ngờ hay còn gọi là ngạc

nhiên.

Khi ngạc nhiên khuôn mặt chúng ta sẽ như thế nào?

Cô cho trẻ xem tranh các bạn đang thể hiện khuôn mặt ngạc nhiên.

Trẻ cùng thảo luận và đoán xem các bạn đang có cảm xúc gì? Cùng đoán

xem sao bạn lại cảm thấy như vậy

Cô phân tích cảm xúc ngạc nhiên

+ Ngạc nhiên: lông mày nâng lên, mắt mở to và miệng mở rộng.

Cô vẽ cảm xúc ngạc nhiên lên bảng.

Ai có thể chia sẻ với cô một lần con cảm thấy ngạc nhiên.

+ Cảm xúc xấu hổ

Cho trẻ xem tranh thể hiện nhiều cảm xúc xấu hổ khác nhau.

Cô cho trẻ xem tranh khuôn mặt xấu hổ và cùng thảo luận những biểu

hiện của khuôn mặt xấu hổ

Và đoán xem vì sao bạn cảm thấy xấu hổ.

Cho trẻ nói về những lần mình cảm thấy xấu hổ.

Phân tích trẻ thấy biểu hiện khuôn mặt mắc cỡ đỏ mặt, đôi mắt nhìn

xuống, tư thế chùng, cúi đầu.

Cô phân tích tranh một bạn mập chạy thể dục cùng các bạn, nhưng vì bạn

mập nên bạn chạy chậm hơn các bạn. Thế là bị các bạn lêu lêu. Bạn mập đỏ

mặt cuối thấp người xuống, không dám nhìn ai.

Bạn mập cảm thấy thế nào khi chạy chậm và bị các bạn lêu lêu?

Chúng ta làm thế nào để bạn hết xấu hổ (không cười bạn mà cỗ vũ bạn cố

gắng chạy)

 Hoạt động kết thúc:

Cho trẻ ngồi vòng tròn hát và chuyền bóng cho nhau. Bóng dừng đến bạn

nào bạn đó sẽ đứng lên làm khuôn mặt cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ hoặc những

cảm xúc lần trước cho các bạn đoán.

Giờ học 5. Đề tài: Cảm xúc giận dữ

Lứa tuổi: 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Trẻ gọi tên, nhận diện được tư thế và dáng người liên quan đến cảm

xúc giận dữ.

- Cảm xúc giận dữ được chấp nhận nhưng hành vi “xấu” thì không

được chấp nhận.

 Kỹ năng

- Nhận biết và đoán được cảm xúc của mình và bạn.

 Thái độ

- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn.

2. Chuẩn bị:

- Tranh cảm xúc giận dữ.

- Tình huống trẻ giận dữ và đánh bạn

3. Tiến trình bài học

 Hoạt động mở đầu: Tạo tình huống

Sơn đang xây dựng sở thú thật đẹp, Lâm đến phá sở thú của Sơn. Sơn thể

hiện sự giận dữ tay run lên, mặt nóng bừng bừng. Và hét lên: “Cậu phá hỏng sở

thú của tớ rồi” Sơn giận và đánh Lâm.

 Hoạt động trọng tâm

+ Nhận diện cảm xúc giận dữ

Vừa rồi xem tình huống bạn Sơn và bạn Lâm đóng các con có suy nghĩ gì?

Cô cho trẻ thảo luận và đặt ra những câu hỏi gợi ý:

Khi bị bạn Lâm phá sở thú bạn Sơn đã cảm thấy như thế nào các con?

(À bạn đã rất giận dữ.)

Bạn thể hiện như thế nào? (Cho trẻ nói và mô tả lại cho cả lớp xem).

Tức tối, giận dữ là cảm xúc mà ai trong chúng ta cũng gặp. Cô rất giận dữ

khi lớp mình ồn ào. Bạn Sơn rất giận dữ khi bạn Lâm phá sở thú của Sơn. Các

con thường giận dữ khi nào?

Khi đó các con cảm thấy như thế nào ?

Khi giận dữ các con thường biểu hiện như thế nào?

Chỉ ra đặc điểm của giận dữ (Răng nghiến lại, miệng căng ra, lông mày

chùng xuống, ánh mắt giận dữ, nắm tay siết chặt, giọng nói to gắt gỏng..)

Cho trẻ xem tranh thảo luận những người cảm thấy giận dữ theo tư thế

khác nhau.

Trẻ bắt cặp với bạn làm khuôn mặt giận dữ và thể hiện giọng nói giận dữ.

+ Cảm xúc giận dữ thì được chấp nhận nhưng hành vi xấu thì không được

chấp nhận

Các con có thích cảm xúc giận dữ không? Vì sao?

Sẽ có bạn không thích cảm xúc giận dữ đúng không nào, cảm xúc giận dữ

thường mang đến cho chúng ta sự khó chịu bên trong. Nhưng cảm xúc thì

không xấu khi giận dữ các con nên chia sẻ cho Cô và các bạn.

Nhưng khi giận dữ các con thường làm gì? (Có bạn thì đánh và la hét

những người xung quanh).Giống như bạn Sơn khi giận dữ đã đánh bạn Lâm

như vậy có được không?

Cảm xúc giận dữ giống như quả bóng đang căng phồng lên và có thể nổ

bất cứ lúc nào. Giống như khi chúng ta giận dữ, ta cảm thấy khó chịu, muốn la

hét và có nhiều hành vi xấu như : đánh bạn, la hét… Cô minh họa bằng quả

bóng bay đang thổi phồng lên và nó có thể nổ.

Khi giận dữ các con nên làm gì?

Các con hãy về nhà suy nghĩ câu hỏi của Cô nhé vào giờ học hôm sau Cô

sẽ kể cho các con nghe một bạn có bí quyết rất hay khi giận dữ nhé.

Giờ học 6. Đề tài: Bí quyết của Rùa

Lứa tuổi: 5-6 tuổi

1. Mục tiêu:

 Kiến thức:

- Nắm được các bước giữ bình tĩnh của Rùa.

 Kỹ năng

- Rèn kỹ năng ghi nhớ, tập trung chú ý

 Thái độ

- Trẻ quan tâm, chia sẻ và đoàn kết cùng bạn.

2. Chuẩn bị:

- Powerpoit câu chuyện bí quyết của Rùa

3. Tiến trình bài học:

 Hoạt động mở đầu

Trẻ cùng nhau hát bài hát yêu thích. Khi cô giơ hình đến khuôn mặt cảm xúc

nào trẻ sẽ hát bài hát với giọng cảm xúc đó. Cảm xúc vui trẻ sẽ hát với giọng

vui, cảm xúc buồn trẻ sẽ hát với giọng buồn, cảm xúc giận dữ trẻ sẽ hát với

giọng giận dữ.

 Hoạt động trọng tâm

Các con ơi lần trước các con còn nhớ chuyện gì xảy ra với bạn Sơn và bạn

Lâm không nào?(Lúc đó bạn Sơn cảm thấy như thế nào? Bạn Sơn đã có hành

động gì?)

Chúng ta có chấp nhận cảm xúc giận dữ của bạn Sơn không? Và các con

không chấp nhận điều gì?

Lần trước Cô đặt ra cho lớp mình câu hỏi “Khi giận dữ chúng ta nên làm

gì? Bạn nào đã có câu trả lời hãy chia sẻ cho cả lớp cùng biết nào?”.

Hôm nay cô sẽ cho lớp mình nghe câu chuyện của một bạn, bạn ấy cũng

đã có lúc tức giận như bạn Sơn. Nhưng bạn đã được Cô giáo chia sẻ một bí

quyết mỗi khi bạn giận dữ. Các con hãy cùng xem bạn đã làm như thế nào mỗi

khi giận dữ nhé.

Cho trẻ xem powerpoint câu chuyện “Bí quyết của Rùa” [phụ lục… ]

Đàm thoại:

Trong câu chuyện có những nhân vật nào?

Trong đó, bạn Rùa là người như thế nào?

Khi tức giận Rùa thường làm gì với bạn bè của mình?

Lúc đó các bạn của Rùa cảm thấy như thế nào?

Sau đó Rùa đã nghĩ ra cách gì để giải quyết rắc rối của mình?

Cho trẻ nhìn tranh và nhắc lại theo Cô

Bước 1: Công nhận cảm xúc của bản thân

Bước 2 : Suy nghĩ “ dừng lại”

Bước 3 : Chui vào bên trong vỏ và hít thở sâu 3 cái

Bước 4: Quay lại khi bình tĩnh và nghĩ ra giải pháp

Các bạn đã cảm thấy như thế nào khi Rùa đã biết giữ bình tĩnh mỗi khi tức

giận và dùng lời nói để giải quyết vấn đề của mình?

Cô cho trẻ chia nhóm thực hiện bí quyết của Rùa.

Hoạt động kết thúc:

Cô mời bạn Sơn và Lâm lên đóng tình huống và thực hiện theo các bước của

Rùa.

Phụ lục 8. Một số hình ảnh trong quá trình tổ chức giáo dục kỹ năng

NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

Bé tập đóng kịch và luyện tập bí quyết của Rùa

Bé chia sẻ cảm xúc trong tranh vẽ

Góc hoạt đông cảm xúc của bé

Bé và chơi trò chơi cảm xúc cùng bạn

Phụ lục 9. Giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi

thông qua một số trò chơi

1. Trò chơi 1: “Trái tim quan tâm”

Giáo viên cần chuẩn bị những trái tim nhỏ bằng giấy với nhiều màu sắc

khác nhau. Và viết lên mỗi trái tim từ “quan tâm”, “yêu thương”. Giải thích

cho trẻ “Trong một tuần cô sẽ đặc biệt chú ý đến những bạn biết thể hiện hành

vi quan tâm, chăm sóc bạn của mình. Hành vi đó có thể là sự chia sẻ, giúp đỡ

bạn với một hoạt động nào đó. Hoặc thể hiện sự lịch sự, tôn trọng cô giáo và

bạn bè. Mỗi khi bạn nào thể hiện một hành động quan tâm, yêu thương cô sẽ

thưởng cho bạn đó một trái tim.” Vào cuối mỗi tuần, những trẻ nhận được ba

trái tim hoặc nhiều hơn cô có thể tuyên dương và thưởng một món quà cho trẻ đó.

2. Trò chơi 2: “Người bạn bí ẩn”

Trước khi tổ chức chơi, giáo viên viết tên trẻ trên một mảnh giấy nhỏ, gấp

chúng lại và đặt trong một chiếc mũ hoặc hộp quà. Vào đầu tuần, yêu cầu mỗi

trẻ chọn tên mỗi bạn từ chiếc mũ. Trẻ chọn được tên bạn nào sẽ trở thành

người bạn bí ẩn của bạn đó. Người bạn bí ẩn sẽ được giữ bí mật trong suốt một

tuần. Yêu cầu mỗi ngày người bạn bí ẩn làm điều gì đó đặc biệt cho người bạn

của mình,có thể là tặng những món quà nhỏ bí mật vào dịp sinh nhật bạn.Vào

cuối tuần trẻ đoán xem người bạn bí ẩn của mình là ai. Người bạn bí ẩn nào

được bạn đoán đúng sẽ nhận được sự tuyên dương của các bạn và cô giáo.

3. Trò chơi 3: “Búp bê yêu thương”

Giáo viên có thể tận dụng lõi giấy vệ sinh làm thành những nhân vật búp

bê thể hiện những khuôn mặt cảm xúc khác nhau. Sau đó, cho trẻ hóa thân

vào những nhân vật và tưởng tượng ra những câu chuyện hay trải nghiệm cảm

xúc trẻ gặp hằng ngày. Nếu trẻ chưa nghĩ ra những tình huống giáo viên có

thể gợi ý và tham gia chơi cùng trẻ. Những cảm xúc và tình huống trẻ đóng

vai, sẽ giúp trẻ nhận thức rất rõ về cảm xúc của mình và của bạn. Qua đó, trẻ

sẽ học được cách thể hiện sự yêu thương, quan tâm, biết đặt mình vào vị trí

người khác để xây dựng tình bạn tốt đẹp với những người xung quanh.

Phụ lục 10. Một số truyện kể giáo dục kỹ năng NBVTHCX

cho trẻ 5-6 tuổi

1. Câu chuyện : “Chiếc Ấm trà”

Chuyện kể rằng, có một chiếc Ấm trà bị mất quai, mẹ đem bỏ vào kho. Một

hôm, Lan đang chơi ngoài sân, nghe tiếng khóc thút thít. Lan bèn dừng lại hỏi:

- Ôi tiếng khóc của ai thế nhỉ? Lan tiến lại gần, thì ra là bạn Ấm trà.

- Sao bạn lại khóc?

- Hu hu Những ngày qua tôi rất cô đơn, không có ai chơi với tôi cả.Tôi cảm

thấy rất buồn.

Nghe vậy, Lan liền đến bên cạnh Ấm trà và nói.

Bạn đừng khóc, nếu bạn không có ai chơi thì từ nay chúng ta sẽ là bạn của

nhau nhé.

Nghe Lan nói vậy, Ấm trà vui lắm và ôm Lan vào lòng. Sau đó, Lan liền

mang ấm trà vào nhà. Và bạn nảy ra ý tưởng sẽ trồng hoa trong Ấm trà. Ngày

ngày, Lan đều tưới nước cho cây và trò chuyện với Ấm Trà.

Chẳng lâu sau, cây lớn nhanh và nở hoa rất đẹp. Ai đi qua cũng trầm trồ

khen ngợi, ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp được trồng trong môt Ấm trà

rất sáng tạo. Thấy vậy, Lan và Ấm Trà vui lắm hai bạn nắm tay nhau và hát

vang cả ngôi nhà.

2. Những miếng bọt biển hạnh phúc

Ngày xửa ngày xưa, ở một đại dương nọ, có những miếng bọt biển sống rất

hạnh phúc. Không phải là đại dương bình thường, mà là đại dương yêu thương.

Vì thế những miếng bọt biển này lúc nào cũng tràn đầy tình yêu thương.

Một lần miếng bọt biển quyết định vào bờ chơi. Nó cuộn tròn trên sóng

biển và vào đến bờ lúc nào không hay. Nó thấy gì trên bãi biển? Đó là một cô

bé đang ngồi trên cát.

Cô bé dường như không để ý gì đến đại dương xanh đẹp và cũng không

để ý gì đến bầu trời xanh trong. Cô bé chỉ cuối mặt xuống đất. Cô bé có vẻ

không hạnh phúc. Bọt biển ngạc nhiên khi nhìn vào khuôn mặt buồn bã của cô

bé. Nó không hiểu sao cô bé lại buồn chán dưới ánh nắng vàng đẹp như vậy.

Bọt biển lên tiếng: “Chào bạn, cô bé nhỏ! Sao vậy? Bạn có vẻ không vui. Mình

thường nghe nói đến những cô bé và cậu bé luôn cười cơ mà!.”

Cô bé miễn cưỡng đáp: “ Không đúng thế đâu. Ở đây có nhiều người buồn

lắm”. Cô ngước nhìn bọt biển một cách chăm chú và nói: “Mình rất ngạc nhiên

khi nhìn thấy một miếng bọt biển hạnh phúc như bạn. Mình chưa từng nhìn

thấy một khuôn mặt nào hạnh phúc như vậy. Sao bạn hạnh phúc thế?”.

Bọt biển mỉm cười: “Dễ lắm! Đây là đại dương tình yêu, nên những

miếng bọt biển chúng mình thường xuyên hút nước tình yêu vào mình. Sau đó

chúng mình chia sẻ tình yêu cho nhau. Có khi miếng bọt biển nào đó xao lãng

và quên nhận tình yêu, thì cũng có xảy ra một số tai nạn. Nghĩa là nó cũng cảm

thấy buồn phiền hay cáu giận”.

Cô bé rướn người, háo hức hỏi: “Khi đó các bạn làm gì?”. Bọt biển nhìn

cô bé dịu dàng trả lời: “Chúng mình sẽ đến bên miếng bọt biển đó!”. Cô bé

càng tò mò: “Rồi làm gì nữa”. “Tụi mình đã hút đầy nước yêu thương và vắt

nước yêu thương ấy cho bạn bọt biển buồn phiền hay cáu giận đó”, Bọt biển

nháy mắt: “Thế thôi, dễ lắm”.

Cô bé chân thành: “Bạn đúng là bạn của mình, Bọt biển ạ. Mình muốn

được như bạn. Những câu bé và cô bé chúng mình có thể hấp thụ yêu thương

và sẽ hạnh phúc như bạn không?”.

Bọt biển chắc chắn: “Dĩ nhiên là được”.

Cô bé chợt nhớ: “Mình không phải là bọt biển! Mình là một cô bé. Làm sao

mình có thể làm được?”.

Bọt biển tự tin: “Không sao! Chỉ cần bạn tin vào tình yêu. Bạn giống bọt

biển vì bạn có thể tự làm đầy mình bằng tình yêu thương và bạn có thể cho đi

tình yêu đó”.

Cô gái thốt lên vui vẻ: “Thật tuyệt vời! mình sẽ thử!”. Cô bé bắt đầu hít

thở thật sâu. Cô bé để ý hít vào tình yêu thương và thở ra. Cô bé mỉm cười

đồng ý: “Đúng thật! Mình thấy hạnh phúc hơn rồi!”

Bọt biển nói: “Thấy không, rất dễ. Đối với tình yêu, tất cả chúng ta đều

như nhau”.

3. Gấu con cô đơn

Gấu con mới chuyển đến làng động vật trong khu rừng. Bạn ấy không có

bố, cũng chẳng có mẹ, sống một mình rất cô đơn. Các con vật nhỏ biết vậy

thường đến chơi quây quần bên nhau cười đùa vui vẻ và kể chuyện cho gấu con

nghe. Đến tết trung thu, Gấu con ở nhà một mình, buồn quá Gấu con ngước

nhìn ánh trăng và bầu trời sao, òa khóc nức nở. Bỗng nhiên, gấu con nghe thấy

bên ngoài có tiếng gõ cửa. Thì ra là các bạn nhỏ đến vui tết trung thu cùng gấu.

Khỉ con còn mang cho Gấu con một hộp bánh trung thu xinh xắn. Gấu con cảm

động rớt nước mắt, xúc động nói: “Em cảm ơn mọi người, đây là ngày mà em

thấy vui nhất từ trước đến nay”.

4. Chú chim nhỏ với bông hoa bìm bìm

Chú chim nhỏ đáng yêu sống trên cây Đa bên bờ sông. Ngày ngày, chim

bay xuống nô đùa cùng hoa và cỏ dưới gốc cây. Một hôm, chim bị ốm, nó mệt

mỏi ủ rũ nằm trong tổ. Nó rất mong có một người bạn đến thăm và trò chuyện

cùng. Hoa Bìm bìm biết tin liền đến thăm chim nhỏ. Đêm đến, hoa Bìm bìm

leo lên cây đa. Nó miệt mài leo, đến sáng hôm sau thì leo đến cạnh tổ chim.

Lúc ấy, chim vẫn chưa ngủ dậy. Ánh mặt trời chiếu rọi vào tổ khiến nó bừng

tỉnh. Nó rất vui vì mở mắt ra thì thấy hoa Bìm bìm, cảm giác như bệnh cũng đỡ

hơn rất nhiều. Chim bay quanh hoa Bìm bìm và hát cho hoa nghe.

5. Tặng ngày sinh nhật cho mẹ

Hôm nay là sinh nhật Lan Phương. Mẹ tặng cho cô bé rất nhiều quà và nói:

“Chúc con gái sinh nhật vui vẻ”. Lan Phương hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao con chẳng

thấy mẹ tổ chức sinh nhật bao giờ?”. Mẹ vừa quét nhà vừa nói: “Mẹ quên ngày

sinh của mình rồi”. Ăn sáng xong, mẹ xách túi chuẩn bị đi làm thì thấy túi rất

nặng. Mẹ mở ra xem thì thấy đó là những món quà mình vừa tặng con gái. Lúc

ấy, Lan Phương đến bên mẹ và nói: “Mẹ ơi, con tặng ngày sinh nhật của con

cho mẹ. Hôm nay là sinh nhật mẹ. Đây là những món quà con dành cho mẹ”.

Mẹ ôm Lan Phương vào lòng và hỏi: “Con tặng sinh nhật cho mẹ thì con tổ

chức sinh nhật làm sao được?”. Lan Phương đáp: “Mẹ tặng ngày sinh nhật của

mẹ cho con là được ạ”. Mẹ xoa đầu Lan Phương xúc động nói: “Con gái của

mẹ đã lớn rồi”.

6. Bạn thân

Khỉ con, gà con và chó con là ba người bạn thân thiết. Chúng thay phiên

nhau chơi xích đu rất vui vẻ. Đến lượt chó con và khỉ con đu xích đu, gà con

ngồi trên cười khúc khích. Đang lúc chơi vui thì khỉ con đẩy một cái rất mạnh

vào người gà con. Gà con đứng không vững nên ngã lộn xuống đất. Đầu gà con

lập tức sưng tấy lên. Chó con và khỉ con vội đưa gà con về nhà. Khỉ con thấy

có lỗi nên mấy ngày sau không dám đi tìm gà con. Hôm ấy, khỉ con lấy hết

dũng khí đến gặp gà con và nói: “Gà con, tớ muốn xin lỗi cậu”. Gà con nói:

“Không sao, cậu không cố ý mà. Chúng mình vẫn là bạn tốt của nhau nhé!”.

Khỉ con tươi cười nói: “Đúng vậy, chúng mình mãi là bạn tốt của nhau”.

7. Nhím con mời khách

Hằng ngày, nhím con rất ngoan và không gây ồn ào. Hôm nay là sinh nhật

mẹ nên có rất nhiều khách đến chơi, không khí trong nhà thật náo nhiệt. Vì quá

vui nên Nhím con đã cắm hết hoa quả mời khách vào lông sắc nhọn trên người

mình khiến mọi người cười ầm lên. Nhím con hứng trí chạy lên bàn nhảy múa.

Mẹ lấy bánh ga tô và nói với nhím con: “Con trật tự một chút”. Nhím con vui

vẻ nói: “Vâng ạ”. Vừa nói dứt lời, nhím con vội chạy đi lấy bánh ga tô, kết quả

làm rơi bánh ga tô xuống đất. Chiếc áo mới của mẹ cũng bị dính đầy kem. Mọi

người đều lắc đầu thở dài, ngồi chơi một lúc rồi ra về.

Nhím mẹ rất buồn và tức giận. Ngày sinh nhật mẹ mà mẹ phải khóc. Nhím con

biết mình sai, buồn rầu đến bên cạnh mẹ. Nó vô cùng ân hận và xin lỗi mẹ vì

những gì đã làm.

8. Trời mưa

Thỏ con đang nô đùa nhảy nhót trên bãi cỏ thì trời bỗng đổ cơn mưa. Nó vội

ngắt một tàu lá to che lên đầu.

Gà con đi ngang qua, vừa đi vừa rên rỉ: “Lạnh quá! Lạnh chết đi được”. Thỏ

con gọi gà con: “Gà con ơi! Lại đây trú mưa với tớ”. Gà con nói: “Cảm ơn

cậu”.

Mèo con đi tới: “Meo, meo, meo, lạnh quá!”. Thỏ con và gà con nói: “Mèo con

ơi, mau đến chỗ bọn tớ trú mưa”. Mèo con nói: “Cảm ơn hai cậu”. Ba người

bạn thân cùng trú mưa.

Một lúc sau trời tạnh, thỏ con , gà con và mèo con cùng chơi đùa rất vui vẻ.

Phụ lục 11. Một số hình ảnh dạy trẻ về cảm xúc

Cảm xúc Vui

Cảm xúc Buồn

Cảm xúc Xấu hổ

Cảm xúc Ngạc nhiên

Cảm xúc Giận dữ

Cảm xúc Sợ hãi

Thất vọng Xấu hổ Buồn

Hôm nay

bạn cảm

Giận Căng thẳng

thấy như

thế nào!

Hạnh phúc Tự hào

Sợ Yêu thương Cô đơn

Tranh vẽ khuôn mặt cảm xúc

Phụ lục 12: Câu chuyện bí quyết của Rùa.

Phụ lục 13. Tranh thang đo mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi ở phần khảo sát chương 2

Hình 1. Cảm xúc Vui

Hình 2. Cảm xúc Buồn

Hình 3. Cảm xúc Giận dữ

Hình 4 Cảm xúc Xấu hổ

Hình 5. Cảm xúc Ngạc nhiên

Hình 6. Cảm xúc Sợ hãi

Phụ lục 14. Tranh thang đo mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc

cho trẻ 5-6 tuổi ở phần tác động thực nghiệm chương 3

Hình 1. Cảm xúc Vui

Hình 2. Cảm xúc Buồn

Hình 3. Cảm xúc Giận dữ

Hình 4. Cảm xúc Xấu hổ

Hình 5. Cảm xúc Ngạc nhiên

Hình 6. Cảm xúc Sợ hãi