BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Ngọc Quyên
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đặng Thị Ngọc Quyên
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành
: Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các
số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận văn
ĐẶNG THỊ NGỌC QUYÊN
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả học tập ngày hôm nay, tôi xin chân thành bày tỏ
lòng biết ơn đến quý Thầy Cô giáo trường Đại học Sư phạm Tp. HCM. Tôi
xin gửi lời cảm ơn tới Phòng Sau đại học, Khoa Giáo dục Mầm non, Hội
đồng Khoa học thuộc trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, cùng quý Thầy
Cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS.
Trần Thị Thu Mai, người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành công trình
nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH và GV trường Mầm non Bé Ngoan,
trường Mầm non Hoa Mai, trường Mầm non Hoa Hồng đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh cổ vũ, động viên giúp tôi đạt
kết quả một cách tốt nhất.
HỌC VIÊN CAO HỌC
ĐẶNG THỊ NGỌC QUYÊN
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ
NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO
TRẺ 5-6 TUỔI ........................................................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................... 6
1.1.1. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi trên thế giới ................................... 6
1.1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam .................................. 10
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu ............................ 15
1.2.1. Kỹ năng ............................................................................................. 15
1.2.2. Cảm xúc, Trí tuệ cảm xúc, Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc .... 18
1.2.3. Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc ............. 25
1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi liên quan đến
việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ. ......... 26
1.2.5. Nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ ...... 31
1.2.6. Vai trò của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................................................. 33
1.2.7. Một số yếu tố ảnh hưởng lên quá trình phát triển kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi .............................................................. 35
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................... 37
Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ
NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO
TRẺ 5-6 TUỔI ........................................................................... 38
2.1. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 38
2.1.1. Đôi nét về khách thể nghiên cứu....................................................... 38
2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng. ..................... 40
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................. 41
2.1.3. Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc của trẻ 5-6 tuổi . ......................................................................... 45
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .............................................. 47
2.2.1. Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................ 47
2.2.3. Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ........................................................... 53
2.2.4. Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ. ..................................... 59
2.2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của
trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non tại TP.HCM ................................. 63
Tiểu kết chương 2. ......................................................................................... 69
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN
CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI ............................................ 71
3.1. Cơ sở đề xuất một số biện pháp ............................................................... 71
3.1.1. Dựa vào cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu ................................... 71
3.1.2. Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng .................................................. 71
3.2. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp ........................................................ 71
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và
lâu dài ................................................................................................ 71
3.2.2. Nguyên tắc tạo môi trường cảm xúc tích cực. .................................. 71
3.2.3. Nguyên tắc tôn trọng trẻ ................................................................... 72
3.2.4. Nguyên tắc khả thi ............................................................................ 72
3.3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi. ....................................................................................... 73
3.3.1. Biện pháp 1: Giáo viên được tập huấn đào tạo về nội dung,
phương pháp giảng dạy. .................................................................... 73
3.3.2. Biện pháp 2: Tạo môi trường học tập tích cực ................................. 73
3.3.3. Biện pháp 3: Có những tiết dạy riêng để giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ. .......................................................................... 75
3.3.4. Biện pháp 4: Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc
giáo dục kỹ năng NBVTHCX. .......................................................... 77
3.3.5. Biện pháp 5: GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ ....................... 79
3.3.6. Biện pháp 6: Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ. ............................... 80
3.4. Tổ chức khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trên ............... 82
3.4.1. Mục đích khảo sát .............................................................................. 82
3.4.2. Nội dung khảo sát .............................................................................. 82
3.4.3. Khách thể khảo sát ............................................................................. 82
3.4.4. Kết quả khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp ............................. 82
3.5. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ...................................................... 85
3.5.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................... 85
3.5.2. Nội dung thực nghiệm........................................................................ 85
3.5.3. Nhiệm vụ thực nghiệm ....................................................................... 85
3.5.4. Tổ chức thực nghiệm ......................................................................... 85
3.5.6. Kết quả thực nghiệm .......................................................................... 86
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 99
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
GV : Giáo viên
GVMN : Giáo viên Mầm non
NBVTHCX : Nhận biết và thể hiện cảm xúc
: Giáo dục GD
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
: Đối chứng ĐC
: Thực nghiệm TN
α=005 : Mức ý nghĩa
: Tần số quan sát n
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo sát. .................................. 38
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV ở các trường khảo sát. ..... 39
Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát. ........... 39
Bảng 2.4. Thống kê số lượng trẻ ở 3 trường khảo sát. ................................ 39
Bảng 2.5. Thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ................ 46
Bảng 2.6. Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ............................................................ 47
Bảng 2.7. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .................................................... 49
Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .................................................................... 51
Bảng 2.9. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận
biết và thể hiện cảm xúc của các trường hiện nay. ..................... 53
Bảng 2.10. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. .......................................... 60
Bảng 2.11. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở
3 trường thông qua sự đánh giá của người nghiên cứu. ............. 63
Bảng 2.12. Mức độ nhận thức về kỹ năng nhận biết cảm xúc bản thân và
người khác của trẻ 5-6 tuổi. ........................................................ 65
Bảng 2.13. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và
kiềm chế cơn giận dữ của trẻ 5-6 tuổi. ....................................... 66
Bảng 2.14. Nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự
đánh giá của GV ......................................................................... 67
Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất ............................... 83
Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất. ................................. 84
Bảng 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm ....... 87
Bảng 3.4. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm. .......... 89
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc .... 49
Biểu đồ 2.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo
dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi. ... 50
Biểu đồ 2.3. Hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ. ....................................................................................... 52
Biểu đồ 2.4. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. ................................................... 61
Biểu đồ 3.2. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực
nghiệm ....................................................................................... 88
Biểu đồ 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm. . 89
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dự đoán tốt nhất về thành công trong học tập và cuộc sống của một con
người là gì? Tại sao một số trẻ em khi lớn lên dễ dàng vượt qua những thách
thức và tạo được những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống? Trong khi những
trẻ có thành tích học tập tương tự lại phải đấu tranh trong sự nghiệp và xây dựng
các mối quan hệ? Chỉ số trí tuệ (Intelligent Quotient - IQ) có phải là chỉ số duy
nhất để dự đoán thành công của một con người?
Đôi khi chúng ta đã đồng nhất trí tuệ với chỉ số IQ. Đó là cách hiểu phiến
diện. Bởi vì, trí thông minh giúp con người nhận thức thế giới khách quan còn
trí tuệ cảm xúc giúp con người nhận thức và làm chủ cảm xúc của bản thân, xây
dựng các mối quan hệ tốt đẹp với những người xung quanh. Trong đó, kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc là một phần của trí tuệ cảm xúc mà chương trình
giáo dục mầm non đang hướng đến.
Mặt khác, trí tuệ cảm xúc trong đó có kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc không phải là một đại lượng bất biến, mà có thể thay đổi thông qua hoạt
động cá nhân [10]. Vì vậy, người ta có thể giáo dục trẻ em nâng cao EQ và giúp
các em sử dụng tốt hơn tiềm năng trí tuệ do di truyền.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp các em phát triển về mọi mặt: thể
chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách,
chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một …và phát triển những năng lực, phẩm chất mang
tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết [6]. Trong đó, kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc là một trong những mục tiêu quan trọng mà giáo dục mầm non
đang hướng đến.
Thời thơ ấu đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách
của con người. Giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc ở lứa tuổi mầm
non sẽ giúp trẻ phát triển tốt khả năng giao tiếp, biết quan tâm, chia sẻ, hòa đồng
với bạn bè và dễ dàng thích ứng nhanh với cuộc sống. Đặc biệt, trẻ MG 5-6 tuổi
2
được sống trong môi trường ngày càng phong phú và đa dạng, ngôn ngữ của trẻ
ngày một phát triển, mối quan hệ với bạn bè xung quanh càng được mở rộng.
Trẻ cần học cách xác định cảm xúc, hiểu tại sao chúng xảy ra và làm thế nào để
quản lý chúng một cách thích hợp. Sự chuẩn bị tốt về mặt cảm xúc ở giai đoạn
này sẽ giúp trẻ hình thành những kỹ năng quan trọng để hòa nhập vào môi
trường mới một cách tự tin, hòa đồng. Đặc biệt là khi các em bước vào lớp Một.
Do đó, vấn đề giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi là
điều cần thiết và đáng quan tâm hiện nay.
Tuy nhiên, nghiên cứu về vấn đề kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ Mầm non vẫn chưa được quan tâm và chú ý nhiều. Đặc biệt vấn đề biện
pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
Từ những lí do nêu trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Biện pháp
giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường
mầm non tại TP.HCM”.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM.Từ đó, đề
xuất một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
tại TP.Hồ Chí Minh.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi ở một số trường
mầm non tại TP.HCM có biểu hiện chưa cao. Nếu GV có những biện pháp giáo
3
dục hiệu quả thì có thể nâng cao kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ
5-6 tuổi.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM.
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
6. Giới hạn đề tài
6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc cho trẻ 5-6 tuổi trong lĩnh vực Trí tuệ cảm xúc, theo Chương trình giáo dục
Mầm non 2009, Bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi.
6.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho
trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non.
BGH và GV: 35 người.
- Khảo sát mức độ biểu hiện kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi tại 3
trường MN Bé Ngoan, MN Hoa Hồng, MN Hoa Mai.
Số lượng trẻ: 116
- Thực nghiệm ở trường MN Hoa Hồng, Q.Bình Tân –TP.HCM
Nhóm thực nghiệm : 22 trẻ
Nhóm đối chứng : 22 trẻ
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tri thức lý luận và thực tiễn có liên
quan đến vấn đề trí tuệ cảm xúc, biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
4
hiện cảm xúc nhằm viết cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và định hướng cho
việc nghiên cứu thực tiễn và thử nghiệm.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát một số hoạt động của cô và trẻ ở trường mầm non trong hoạt động
học tập, vui chơi để tìm hiểu mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ và thực trạng
biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho BGH, GVMN. Phiếu trưng
cầu ý kiến gồm 9 câu hỏi nhằm tìm hiểu nhận thức, thực trạng biện pháp, nội
dung, hình thức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi; Những khó khăn
trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX; đề xuất của BGH và GVMN.
Bên cạnh đó đề tài sử dụng bài tập tình huống qua tranh để đánh giá mức
độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Tiến hành phỏng vấn GV nhằm tìm hiểu nhận thức của GV về kỹ năng
NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi, các hình thức, biện pháp, những khó khăn GV gặp
phải khi giáo dục trẻ.
Tiến hành phỏng vấn trẻ sau những giờ chơi, giờ nghe kể chuyện với một
số câu hỏi như: Sau khi chơi trò chơi cùng cô và các bạn con cảm thấy như thế
nào? Trong câu chuyện con thích nhân vật nào? Con hãy giả bộ làm khuôn mặt
mà nhân vật đó cảm thấy ? Nếu con là nhân vật đó con sẽ làm gì? Khi có cảm
xúc giận dữ con cần làm gì để giữ bình tĩnh?
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm một số biện pháp đề xuất trên trẻ nhằm hỗ trợ việc kiểm
nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
Chọn 2 nhóm: nhóm thực nghiệm 22 trẻ và nhóm đối chứng 22 trẻ của
trường Mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP.HCM.
5
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:
Trong kế hoạch năm, tháng, tuần của GVMN ở các trường MN thuộc địa
bàn khảo sát.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Dùng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu thống kê thu được.
8. Đóng góp của đề tài
- Đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực trạng sử
dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục nhằm rèn luyện kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non
tại TP.HCM.
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có các phần sau:
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1 : Cơ sở lý luận về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
Chương 2 : Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5- 6 tuổi ở một số trường mầm non tại
TP.HCM.
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi trên thế giới
1.1.1.1. Các chương trình giáo dục liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc trên thế giới
Giáo dục cảm xúc có nguồn gốc từ phong trào “Giáo dục tình cảm” những
năm 1960. Khi đó người ta cho rằng về tâm lý và động cơ, trẻ em sẽ học tập tốt
hơn khi chúng áp dụng ngay những gì chúng đã học. Tại Neuva School một
trường tư thục ở Francisco, đã có những chương trình giáo dục trí tuệ cảm xúc
thông qua giáo trình Self - Science (Tự hiểu mình). Giáo trình này nói tới xúc
cảm đòi hỏi giáo viên và học sinh phải đặc biệt chú trọng tới bối cảnh của cuộc
sống. Phương pháp này đòi hỏi phải học về những căng thẳng và chấn thương
trong cuộc sống của trẻ em [10].
Ngoài ra, một số giáo trình như “Phát triển xã hội”, giáo trình “Năng lực
sống” hoặc giáo trình “Tập luyện xúc cảm xã hội” cũng được áp dụng ở các
trường học tại Mỹ. Các chương trình này đều nhằm mục đích khuyến khích sự
phát triển trí tuệ cảm xúc và xã hội của trẻ em trong khuôn khổ giảng dạy truyền
thống [10].
Bên cạnh đó, chương trình Roots of empathy (ROE) – Nguồn gốc của sự
đồng cảm, được sáng lập bởi bà Mary Gordon. Đây là một chương trình có ý
nghĩa đối với sự phát triển nhân cách của trẻ. Với tầm sứ mệnh mong muốn
mang đến cho trẻ sự yêu thương và quan tâm lẫn nhau và thể hiện sự đồng cảm
với những trẻ khác. Các nhà nghiên cứu tại viện nghiên cứu giáo dục Ontario tại
Đại học Toronto đã đánh giá ROE là một chương trình hiệu quả để phát triển
7
lĩnh vực học tập tình cảm xã hội. Chương trình hướng tới thúc đẩy sự phát triển
đồng cảm ở trẻ, giảm mức độ hành vi, hung hăng và bắt nạt ở trẻ, giúp trẻ tăng
cường hành vi ủng hộ xã hội (biết chia sẻ, giúp đỡ) tăng kiến thức về tình cảm
xã hội. Chương trình dành cho trẻ từ mẫu giáo đến lớp 8. Hiện nay chương trình
được phát triển ở các nước như Canada, Hoa Kỳ, Anh, Châu Âu NewZealand
[61].
Như vậy, có thể thấy giáo dục cảm xúc hay kỹ năng NBVTHCX đã được
phát triển ở rất nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt chương trình không chỉ dành cho
lứa tuổi học sinh mà còn dành cho trẻ em lứa tuổi mầm non.
1.1.1.2. Những tác phẩm có liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ năng
NBVTHCX
Bên cạnh các chương trình được đề cập ở trên, đã có nhiều tác phẩm nói về
vấn đề giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Chẳng hạn, cuốn sách “Teaching
Emotional Intelligence to Children” (Dạy trí tuệ cảm xúc cho trẻ) của tác giả
Lynne Namka chia sẻ cho phụ huynh và giáo viên những phương pháp dạy trẻ
cách nhận biết và chia sẻ cảm xúc, đồng thời phản ứng với cảm xúc một cách
phù hợp và tác giả đã cung cấp một số hoạt động giúp trẻ thể hiện cảm xúc
thông qua bài hát, nghệ thuật hoặc trò chơi [59].
Trong cuốn sách “The emotional development of young children” (Phát
triển cảm xúc cho trẻ) của tác giả Marilou Hyson đã cung cấp những thông tin
bổ ích cho GV và PH về những đặc điểm phát triển cảm xúc ở trẻ mầm non và
những phương pháp, mục tiêu, chiến lược và những ví dụ thực tế để nâng cao
nhận thức và thể hiện cảm xúc thích hợp của trẻ em lứa tuổi mầm non [60].
Cuốn sách “The Power of Guidance: Teaching Social-Emotional skills in
Early Childhood Classrooms” (Sức mạnh của sự hướng dẫn: Dạy kỹ năng cảm
xúc xã hội trong lớp học mầm non) của tác giả Dan Gartrell năm 2013, đã cung
cấp những thông tin bổ ích để giáo viên thúc đẩy sự phát triển và tương tác với
trẻ. Đặc biệt là trẻ trai, thường có những xung đột ở mức độ nhẹ hoặc nghiêm
8
trọng với bạn. Ngoài ra cuốn sách còn cung cấp những chiến lược giúp giáo viên
quản lý lớp học tốt hơn mà không sử dụng sự trừng phạt đối với trẻ [56].
Cuốn sách “The Heart of Parenting: Raising an Emotionally Intelligent
Child” (Trái tim của cha mẹ: Nâng cao trí thông minh cảm xúc cho trẻ) của nhà
tâm lý học John M. Gottman, năm 1998, cuốn sách là nguồn tư liệu quí giá để
cha mẹ và giáo viên hướng dẫn trẻ hiểu thế giới cảm xúc của mình. Tác giả nhấn
mạnh nâng cao trí tuệ cảm xúc sẽ giúp trẻ trở nên tự tin, khỏe mạnh về thể chất
và tinh thần, đạt hiệu quả tốt hơn trong học tập. Đặc biệt, ông đưa ra 5 bước
huấn luyện cảm xúc cho trẻ “Nhận biết cảm xúc của trẻ, công nhận cảm xúc của
trẻ xem đó là cơ hội để gần gũi và giảng dạy trẻ, đồng cảm và xác nhận cảm xúc
của trẻ, giúp trẻ dán nhãn cảm xúc, luôn hỗ trợ trẻ đưa ra những cách thích hợp
để giải quyết một vấn đề hoặc tính huống khi trẻ gặp phải những cảm xúc khó
chịu.” [58].
Hơn nữa, phát triển kỹ năng NBVTHCX nằm trong lĩnh vực phát triển tình
cảm - xã hội. Đây là lĩnh vực rất được quan tâm và phát triển mạnh ở các nước.
Trong giáo trình Me, You, Us Social-Emotional learning in preschool của tác
giả Ann S.Epstein đã cung cấp những nội dung và phương pháp giúp giáo viên
có được nguồn tư liệu quý giá để giáo dục trẻ những kỹ năng cảm xúc xã hội
quan trọng chẳng hạn như sự nhận thức bản thân, phát triển sự đồng cảm, kiểm
soát hành vi và các năng lực xã hội cần thiết [55].
1.1.1.3. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề giáo dục kỹ
năng NBVTHCX
Cuối những năm 1930, E.L.Thorndike quan niệm trí tuệ xã hội là năng lực
hiểu và điều khiển mà những người đàn ông, đàn bà, con trai và con gái sử dụng
để hành động một cách khôn ngoan, sáng suốt trong các mối quan hệ của con
người. Đây cũng là một quan niệm thể hiện khả năng kiểm soát của cá nhân đối
với người khác [45].
9
Năm 1960, Walter Mischel đã tiến hành trắc nghiệm để đo năng lực chế
ngự cảm xúc tại một nhà trẻ ở Trường Đại học Stanford. Trắc nghiệm này cho
phép thăm dò tâm lý một đứa trẻ xung đột giữa các xung lực và sự kiềm chế,
giữa ham muốn và sự chế ngự bản thân, giữa niềm thích thú tức khắc và sự
mong đợi [31].
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu của các nhà thần kinh học có liên
quan đến cảm xúc và não bộ cũng xuất hiện. Các công trình này một lần nữa
giúp con người khám phá ra sự liên hệ đặc biệt của não bộ đối với cảm xúc.
Chẳng hạn, vào năm 1992 nhà thần kinh học Josep Ledoux khẳng định mọi cảm
xúc vui, buồn, giận dữ đều được sinh ra từ hệ thống viền (limbic) [31].
Trong tạp chí khoa học, năm 1997 nhóm tác giả Denham, Susanne A .;
Mitchell-Copeland, Jennifer; Strandberg, Katherine; Auerbach, Sharon; Blair,
Kimberly đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cha mẹ một cách trực tiếp và gián
tiếp đến năng lực cảm xúc của trẻ mầm non. Kết quả cho thấy, cách mà cha mẹ
thể hiện và phản ứng với cảm xúc là những dự báo quan trọng về năng lực cảm
xúc của trẻ. Trẻ em có cha mẹ thể hiện cảm xúc tích cực sẽ có xu hướng thể hiện
cảm xúc tích cực với bạn bè. Trong khi trẻ em có cha mẹ thể hiện cảm xúc một
cách tiêu cực thì có năng lực xã hội thấp hơn. Kết quả nghiên cứu này cũng phù
hợp với những nghiên cứu trước đó, chỉ ra rằng cha mẹ đều có những tác động
đến năng lực cảm xúc-xã hội của trẻ ở nhà cũng như ở trường.
Năm 2007, Trong tạp chí giáo dục mầm non nhóm tác giả Hansen, C., &
Zambo, D. đã đề cập đến vấn đề “Loving and Learning with Wemberly and
David: Fostering Emotional Development in Early Childhood Education” (Yêu
thương và học tập với Wemberly và David: thúc đẩy sự phát triển cảm xúc trong
giáo dục mầm non). Nhóm tác giả chia sẻ những phương pháp, cách thức giúp
GV phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ trong những năm mẫu giáo. Và nhóm
tác giả nhấn mạnh việc dạy tác phẩm văn học là một trong những cách có ý
nghĩa để GVMN thúc đẩy sự phát triển cảm xúc cho trẻ một cách lành mạnh.
10
Đồng thời nhóm tác giả đã có những phân tích về mối liên hệ giữa phát triển
tình cảm và việc học chữ. Bên cạnh đó, nhóm tác giả gợi ý một số cuốn sách và
chiến lược sử dụng sách để phát triển năng lực cảm xúc cho trẻ MN.
Năm 2010, nhóm tác giả H. Elif Dağlioğlu, Ümit Deniz, Adnan Kan thuộc
trường đại học Gazi ở Ankara Thổ Nhĩ Kỳ đã công bố những nghiên cứu về chỉ
số cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi thông qua các tranh vẽ hình người. Dựa vào 5 loại
chỉ số cảm xúc của Koppitz. Kết quả nghiên cứu cho thấy trẻ trai thể hiện cảm
xúc: tính bốc đồng, bất an, lo lắng, nhút nhát, rụt rè và tức giận nhiều hơn
trẻ gái.
Ở Nga, Belarus và các nước cộng hòa thuộc Liên bang Nga, Trí tuệ cảm
xúc đã được sử dụng như một lựa chọn mới trong nội dung phát triển Tình cảm
và kỹ năng xã hội [1].
Ngoài ra, cách đây khoảng 8 thập kỷ nhà tâm lý LevVygotxky đã chú ý đến
lĩnh vực này khi ông nghiên cứu khủng hoảng lứa tuổi của trẻ lên bảy. Ông gọi
hiện tượng này là “Trí tuệ hóa cảm xúc”. Theo luận điểm của ông trẻ học cách ý
thức bản thân qua việc tương tác với người khác. Sau đó nhiều học trò của Lev
Vygotsky tiếp tục công việc của ông nhưng tất cả họ đều đi theo những hướng
nghiên cứu khác nhau. Kết quả là ý nghĩa của Trí tuệ cảm xúc chỉ được chú
trọng ở Mỹ cách đây khoảng 10 năm [1].
1.1.2. Một số nghiên cứu về biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở Việt Nam
1.1.2.1. Những chương trình và các tác phẩm có liên quan đến vấn đề giáo
dục kỹ năng NBVTHCX tại Việt Nam
Trong chương trình giáo dục mầm non mới của Bộ giáo dục và Đào tạo
Việt Nam ban hành ngày 25 tháng 7 năm 2009 đã đưa ra 5 mục tiêu phát triển \
cho trẻ bao gồm: Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và tình cảm xã hội.
Trong đó kỹ năng NBVTHCX nằm trong lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm
kỹ năng xã hội.
11
Những năm gần đây, chương trình giáo dục kỹ năng sống đã bắt đầu quan
tâm đến lĩnh vực phát triển cảm xúc cho trẻ MG 5-6 tuổi. Chẳng hạn trong giáo
trình “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Ngọc Bích,
Nxb GD năm 2009, trong lĩnh vực này tác giả tập trung vào hai nội dung giáo
dục kỹ năng này cho trẻ bao gồm: kỹ năng thể hiện sự đồng cảm và kỹ năng thể
hiện cảm xúc với những người xung quanh [3].
Bên cạnh đó, kỹ năng NBVTHCX cũng được nói tới trong “Chương trình
giáo dục giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến 7 tuổi,” của tác giả Diane Tillman
Diana Hsu của Nxb Trẻ, năm 2009. Bên cạnh các lĩnh vực khác, tác giả tập
trung giáo dục trẻ các bước giải quyết xung đột, giáo dục trẻ thể hiện sự yêu
thương, hạnh phúc và khoan dung thông qua các trò chơi và câu chuyện [11].
Ngoài ra, trong giáo trình “Các hoạt động giáo dục tình cảm và kỹ năng xã
hội cho trẻ mầm non” của tác giả Lương Thị Bình và Phan Lan Anh, do Nxb
Việt Nam phát hành năm 2011 đã cung cấp cho GV các trò chơi và phương pháp
tổ chức các hoạt động giáo dục tình cảm, xã hội cho lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo
[4].
Năm 2013, trong“Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm
non về lĩnh vực giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội” (dành cho GV)
của tác giả Lương Thị Bình –Kay Margetts đã cung cấp nội dung, cách thức
cũng như phương pháp để để hỗ trợ GV giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Đặc biệt,
trong lĩnh vực phát triển tình cảm tác giả chú trọng phát triển ba khía cạnh: nhận
biết và thể hiện cảm xúc, hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác, kiểm soát cảm
xúc của bản thân [5].
Bên cạnh các chương trình và giáo trình kể trên, cũng có nhiều tác phẩm
hữu ích hỗ trợ trẻ phát triển kỹ năng này. Năm 2001, Tác giả Isabelle Filliozat
trong cuốn sách “Thế giới cảm xúc của trẻ thơ” của Nxb Dân trí, đã chia sẻ
những thông tin hữu ích, đặc biệt là những cách cha mẹ có thể giúp con vượt
qua những cảm xúc khó chịu chẳng hạn như: sự đau khổ, cơn giận hay sự lo hãi.
12
Bên cạnh đó, tác giả đưa ra những gợi ý giúp cha mẹ tăng hứng thú và niềm vui,
hạnh phúc sống cùng con cái [24].
Tác giả Trần Đại Vi trong cuốn sách:“Bí quyết phát triển cảm xúc cho trẻ
khám phá tiềm năng nâng cao EQ” của Nxb Thời Đại năm 2010, đã hướng dẫn
trẻ các bí quyết để nâng cao chỉ số EQ, trong đó gồm có 5 chương: “Tự hiểu
mình”, “Tự quản lý mình", “Học để biết tự động viên khuyến khích mình”,
“Học để biết giao tiếp với mọi người”, “Làm cao thủ EQ”. Bên cạnh đó, tác giả
còn cung cấp những bài tập thực hành thú vị để trẻ luyện tập và nâng cao chỉ số
EQ của mình [52].
Trong cuốn sách “Những quy tắc để trẻ thông minh và hạnh phúc” của tác
giả John Medina, do Nxb Lao động – Xã hội, năm 2014 đã đưa ra những chỉ dẫn
giúp cha mẹ nuôi dạy nên những đứa con tuyệt vời. Đặc biệt ở chương “Bé hạnh
phúc” tác giả đưa ra những ví dụ cũng như những phương thức để cha mẹ xử trí
với những cảm xúc của trẻ một cách phù hợp. Tác giả nhấn mạnh đến việc giáo
dục sự thấu cảm, khả năng điều tiết và dãn nhãn cảm xúc cho trẻ [25].
1.1.2.1. Một số công trình nghiên cứu khoa học về biện pháp giáo dục kỹ
năng NBVTHCX ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, những công trình nghiên cứu về biện pháp giáo dục
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi vẫn còn hạn chế về số lượng. Tuy nhiên,
vấn đề kỹ năng NBVTHCX vẫn được đề cập trong một số công trình nghiên cứu
ở năng lực trí tuệ cảm xúc.
Chẳng hạn, năm 2013 trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại Học
Sư Phạm TPHCM của tác giả Lê Thị Ngọc Thương (chủ nhiệm) đã nghiên cứu
vấn đề “ Khảo sát năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi tại một số trường mầm non
trên địa bàn Tp.HCM”. Trên cơ sở phân tích các mô hình về năng lực trí tuệ
cảm xúc, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu 4 yếu tố phát triển năng lực cảm
xúc cho trẻ 4-5 tuổi bao gồm: Khả năng nhận biết, đánh giá và thể hiện cảm xúc
của bản thân; Khả năng nhận biết và đánh giá cảm xúc của người khác; Khả
13
năng điều chỉnh cảm xúc của bản thân và người khác; Khả năng sử dụng cảm
xúc để định hướng hành động. Bằng phương pháp trò chuyện và phương pháp
quan sát, nhóm tác giả đã đo năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi đạt ở mức độ
trung bình. Ngoài ra, nhóm tác giả khảo sát các biện pháp mà giáo viên sử dụng
để giáo dục trẻ. Trong đó có 3 biện pháp được giáo viên sử dụng nhiều nhất, bao
gồm: biện pháp dùng tình cảm, biện pháp sử dụng trò chơi và biện pháp làm
gương, khen trách phạt đúng mực, đúng lúc. Tuy nhiên, đề tài chỉ dừng lại ở
nghiên cứu các mức độ và khảo sát biện pháp GV sử dụng mà chưa có những tác
động sâu về những biện pháp nhằm thúc đẩy năng lực cảm xúc cho trẻ [47].
Bên cạnh đó cùng năm 2013, trong đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ tác
giả Ngô Thị Thạch Thảo đã có công trình nghiên cứu về đề tài: “Kỹ năng cảm
nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ 5 tuổi ở một số trường mầm non tại Tp.HCM”.
Dựa vào các phương pháp nghiên cứu tác giả đã có những kết luận sau: Kỹ năng
cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ đạt ở mức độ chưa cao; Ngoài ra, GV
chưa chú trọng phát triển kỹ năng này, hầu hết được rèn luyện lồng ghép trong
các hoạt động khác. Tác giả đã đề xuất một số biện pháp giáo dục trẻ và khảo sát
tính khả thi, trong đó biện pháp được giáo viên lựa chọn nhiều nhất là “Yêu
thương, quan tâm đến trẻ bằng hành vi cụ thể”. Tuy nhiên, đề tài cũng chưa có
những biện pháp tác động nhằm thúc đẩy kỹ năng này cho trẻ [41].
Bên cạnh các công trình nghiên cứu khoa học được đề cập ở trên, thì vấn
đề nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX đã được một số tác giả
đề cập trong một số tạp chí chẳng hạn như:
Năm 2003, Tác giả Ngô Công Hoàn với bài viết “Xúc cảm và giáo dục xúc
cảm đối với trẻ em lứa tuổi mầm non” trên tạp chí Tâm lý học, số 4. Tác giả đi
sâu về các hướng nghiên cứu khác nhau của cảm xúc, bên cạnh đó tác giả đưa ra
4 nội dung giáo dục cảm xúc cho trẻ em lứa tuổi mầm non. Bao gồm: giáo dục
tự ý thức cho trẻ, làm chủ được các xúc cảm của mình, giáo dục khả năng đồng
14
cảm với người khác, giáo dục khả năng hợp tác với mọi người. Ở mỗi nội dung
tác giả đều đi sâu phân tích và nêu lên ý nghĩa của chúng [18].
Năm 2005, Tác giả Trần Thị Hồng Sương cũng đã đề cập đến “Một số giờ
học phát triển xúc cảm cho trẻ 4-5 tuổi” trên tạp chí thông tin KH- GD Mầm
non. Thông qua 4 giờ học, tác giả đã tổ chức phát triển cảm xúc cho trẻ với nội
dung: giáo dục trẻ nhận biết về các cảm xúc vui, buồn , giận dữ, sợ hãi. Bên
cạnh đó tác giả đã tổ chức một số trò chơi và hoạt động để trẻ nhận biết và thể
hiện cảm xúc [39].
Ngoài ra năm 2006, tác giả Nguyễn Thu Hà với bài viết “Sự phát triển của
cảm xúc xấu hổ ở lứa tuổi mầm non” trên tạp chí giáo dục mầm non, Số 6. Tác
giả đã phân tích sự phát triển cảm xúc xấu hổ của trẻ ngày càng tăng theo lứa
tuổi đặc biệt là trẻ từ 3 tuổi trở lên. Sự phát triển cảm xúc xấu hổ của trẻ có liên
quan đến tình cảm khác như trách nhiệm, lòng nhân ái. Đặc biệt là nó ảnh hưởng
đến sự hình thành đạo đức cho trẻ. Vì vậy, GV và người lớn cần có sự quan tâm,
chú ý giáo dục cảm xúc này cho trẻ [13].
Năm 2009, trong kỉ yếu hội thảo của Trường cao đẳng sư phạm TW Tp.Hồ
Chí Minh tác giả Nguyễn Minh Anh đã có bài viết “Trí tuệ cảm xúc với nội
dung phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội của trẻ trong chương trình giáo dục
mầm non mới”. Trong bài báo tác giả đã nhấn mạnh đến sự phát triển trí tuệ cảm
xúc ở trẻ MGL gồm những thành tố sau:
- Định hướng chú ý: thế giới con người
- Định hướng quan tâm: người khác
- Tính đến cảm xúc của người khác trong hoạt động của mình.
Bên cạnh đó, tác giả đã có những đề xuất sử dụng truyện kể để phát triển trí
tuệ cảm xúc cho trẻ. Đặc biệt tác giả đã có những lưu ý cho các nhà giáo dục khi
tổ chức quá trình giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ, cần giúp trẻ nhận thức cảm
xúc của chính mình và cảm xúc của người khác. Giáo dục trẻ thể hiện lòng nhân
15
đạo với những người xung quanh như: sự quan tâm, tình yêu thương, chia sẻ,
biết giúp đỡ và có tinh thần đồng đội…[1].
Năm 2010, Tác giả Lê Thị Luận cũng đã đề cập đến vấn đề“Mức độ thể
hiện xúc cảm bản thân của trẻ 4-5 tuổi qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở
trường mầm non” trên tạp chí Tâm lý học, số 3. Qua phương pháp quan sát
cùng với sử dụng bài tập tình huống để đo mức độ biểu hiện xúc cảm của trẻ.
Tác giả đã có những kết quả nghiên cứu cho thấy cảm xúc tích cực và tiêu cực
của trẻ được thể hiện khá rõ trong trò chơi đóng vai theo chủ đề. Đồng thời tác
giả nhấn mạnh việc tạo điều kiện cho trẻ thể hiện cảm xúc bản thân hợp lí trong
trò chơi hoặc trong đời sống là điều cần thiết [23].
Năm 2013, Tác giả Lê Thị Thanh Thủy với bài viết “Một số hoạt động
giúp giáo viên mầm non tăng cường phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ” trên tạp
chí giáo dục mầm non. Trong bài báo tác giả tập trung vào phân tích 4 hoạt động
nhằm phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ bao gồm : giáo viên cần tạo môi trường
thân thiện, an toàn về cảm xúc trong lớp học và xác định mục tiêu định hướng
cho hoạt động giáo dục trí tuệ cảm xúc, ngoài ra GV cần tổ chức hoạt động dạy
học, giáo dục mang tính phát triển hướng vào trí tuệ cảm xúc và cuối cùng GV
cần xác định hiệu quả giáo dục TTCX [42].
Như vậy, đã có nhiều tác giả nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến lĩnh
vực giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ mầm non. Tuy nhiên, nghiên cứu biện
pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi vẫn chưa được quan tâm
nhiều. Vì vậy, nghiên cứu biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6
tuổi là việc làm cần thiết hiện nay.
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Kỹ năng
1.2.1.1. Khái niệm kỹ năng
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng. Quan niệm thứ nhất cho
rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật thao tác.
16
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,
con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng
[44].
Theo tác giả N.D.Levitovxam cho rằng kỹ năng gắn liền với kết quả hành
động. Người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng
đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông nhấn
mạnh, muốn hình thành kỹ năng con người vừa phải nắm vững lý thuyết về hành
động, vừa phải vận dụng lí thuyết đó vào thực tế [22].
Theo T.A.Ilina, “Kỹ năng là những hành động thực hành mà trẻ có thể thực
hiện được trên cơ sở những kiến thức thu nhận được và về sau những hành động
thực hành này lại giúp trẻ thu nhận những kiến thức mới” [40, tr.5].
Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa “kỹ năng là giai
đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên
một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ
tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo” [32, tr.376].
Quan niệm thứ hai xem kỹ năng như là một năng lực của con người:
A.V.Petrovski cho rằng kỹ năng là “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri
thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc
tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận
hay thực hành xác định” [38, tr.18].
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết
quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [37].
Tác giả Vũ Dũng đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả
những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện
những nhiệm vụ tương ứng” [12].
Như vậy, theo các quan niệm trên chúng ta thấy rằng:
- Kỹ năng giúp con người làm việc đạt hiệu quả hơn.
17
- Để có kỹ năng con người cần phải nắm vững lý thuyết, có mục đích hành
động và có khả năng vận dụng nó vào thực tiễn.
- Kỹ năng không tự nhiên mà có, nó phải thông qua luyện tập thường
xuyên mới có được.
Với những quan niệm trên chúng tôi cho rằng: Kỹ năng là khả năng vận
dụng tri thức, kinh nghiệm con người có được để hành động có kết quả và
hành động đó phải phù hợp với điều kiện cho phép.
1.2.1.2. Các giai đoạn hình thành kỹ năng
Khi phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng, các tác giả đã phân chia
thành các giai đoạn khác nhau.
Theo tác giả Hoàng Thị Oanh có 4 giai đoạn hình thành kỹ năng
+ Giai đoạn nhận thức: là giai đoạn con người nhận thức đầy đủ mục đích,
cách thức, điều kiện hành động. Giai đoạn này, con người cần nắm lý thuyết,
chưa hành động thực sự. Việc nắm lý thuyết có thể do tự học hoặc do người
khác hướng dẫn. Giai đoạn này rất quan trọng vì không nắm xác định được mục
đích thì sẽ không có hướng hành động và để hành động hiệu quả thì con người
phải thực hiện được các điều kiện cần thiết của hành động đó.
+ Giai đoạn làm thử: Là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động. Lúc này, trẻ hoàn
toàn có thể làm mẫu trên cơ sở nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức điều
khiển hành động hoặc trẻ có thể hành động theo hiểu biết của mình. Ở giai đoạn
này, hành động của trẻ vẫn còn nhiều sai sót, các thao tác còn lúng túng, hành
động có thể đạt được ở mức độ thấp hoặc không đạt kết quả.
+ Giai đoạn kỹ năng bắt đầu hình thành: là giai đoạn trẻ đã có thể hành
động độc lập, ít sai sót, các hành động thực hiện thuần thục hơn. Hành động đạt
kết quả trong những điều kiện quen thuộc.
+ Giai đoạn kỹ năng được hoàn thiện: là giai đoạn trẻ thực hiện hành động
có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong những hoàn cảnh
mới, các thao tác thành thục, các hành động đã có sự sáng tạo [35].
18
Theo Nguyễn Quang Uẩn sự hình thành kỹ năng chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Nắm vững các tri thức về hành động hay hoạt động
+ Giai đoạn 2: Thực hiện hành động theo các tri thức đó. Để thực hiện
được hành động có kết quả, tránh phương pháp thử và sai thì phải có sự tập
dượt, phải có sự quan sát mẫu, làm thử. Hành động càng phức tạp, sự tập dượt
càng phải nhiều. Muốn kỹ năng có sự ổn định và mềm dẻo có thể vận dụng vào
các điều kiện tương tự thì sự tập dượt càng đa dạng và kĩ càng. Sau này kỹ năng
ổn định có thể vận dụng được trong nhiều tình huống khác nhau [52].
Như vậy, theo cách phân tích trên để hình thành kỹ năng nào đó, con người
cần bắt đầu từ giai đoạn nắm được tri thức và sau đó là từ những kỹ năng chưa
hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Trong đề tài này, chúng tôi chọn cách phân lọai các giai đoạn hình thành kỹ
năng của tác giả Hoàng Thị Oanh để nghiên cứu đề tài của mình.
1.2.2. Cảm xúc, Trí tuệ cảm xúc, Kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
1.2.2.1. Cảm xúc
Khái niệm cảm xúc
Bàn về khái niệm cảm xúc đã có rất nhiều ý kiến khác nhau
Theo từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng, “Cảm xúc là sự phản ánh
tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan
hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình
thức những rung động trực tiếp” [12].
Từ điển tâm lý học của tác giả Nguyễn Khắc Viện đưa ra như sau “Cảm
xúc là sự phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất
hoặc một sự việc gồm hai mặt: những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật
như tim đập nhanh , toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt hoặc run
rẩy, lối loạn tiêu hóa. Phản ứng tâm lý qua những thái độ, lời nói, hành vi và
cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm
chế khó khăn” [53].
19
Theo giáo trình tâm lý học đại cương tác giả Huỳnh Văn Sơn (chủ biên)
“Xúc cảm là những rung động của con người đối với từng sự vật, hiện tượng
riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của người đó trong những tình
huống nhất định” [36].
Theo Caroll.E.Jzard định nghĩa về cảm xúc một cách đầy đủ phải chú ý 3
khía cạnh sau:
- Cảm giác này được thể nghiệm hay là được ý thức về cảm xúc.
- Các quá trình diễn ra trong hệ thần kinh, hệ nội tiết, hô hấp, tiêu hóa và
các hệ khác của cơ thể.
- Các phức hợp biểu cảm cảm xúc được đưa ra quan sát, đặc biệt là những
phức hợp phản ánh trên bộ mặt [9].
Như vậy, có thể thấy cảm xúc là một quá trình tâm lý, được thể hiện về mặt
rung động của con người, mang tính bản năng, gắn liền với phản xạ không điều
kiện, nó bị gây nên bởi những tác động của sự vật hiện tượng xung quanh.
Trong đề tài này, người nghiên cứu sử dụng khái niệm cảm xúc theo từ
điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng “Cảm xúc là sự phản ánh tâm lý về mặt ý
nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối quan hệ giữa các
thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của cơ thể, dưới hình thức
những rung động trực tiếp”
Phân loại cảm xúc
Theo R.Plutchik con người có tám loại cảm xúc cơ bản: vui – buồn, ngạc
nhiên – đề phòng, chấp nhận – ghê tởm, sợ hãi – giận dữ. Các cảm xúc cơ bản
kết hợp với nhau tạo ra các cảm xúc khác đa dạng hơn. Các cảm xúc cơ bản có
thể dễ phân biệt khi có cường độ cao và khó phân biệt khi có cường độ thấp [8].
C.Izard đưa ra mô hình gồm mười cảm xúc: vui, buồn, ngạc nhiên, giận dữ,
chán ghét, coi khinh, sợ hãi, hổ thẹn, tội lỗi, quan tâm. Các cảm xúc này khi tổ
hợp với nhau cũng tạo ra các cảm xúc khác [8].
20
Theo Lưu Hồng Khanh người Việt Nam theo truyền thống phương Đông
có bảy mối cảm xúc là “mừng, giận, buồn, sợ, ghét, yêu, thèm muốn”. Những
cảm xúc tích cực gồm: vui mừng, yêu thương, thèm muốn. Những cảm xúc tiêu
cực gồm: giận, buồn, sợ , ghét [28].
Sự biểu hiện của một xúc cảm, tình cảm.
Xúc cảm, tình cảm thường biểu hiện trên ba phương diện: sinh lý, hành vi,
cử chỉ, điệu bộ và nhận thức.
Những biểu hiện trên phương diện sinh lý
Là những thay đổi về thể chất, sinh lý hoặc thay đổi thành phần các chất
hóa học của máu, thần kinh, thể dịch trong cơ thể. Ví dụ: khi sợ hãi con người
thường biểu hiện: tim đập nhanh, toát mồ hôi, hơi thở ngắn, dạ dày co thắt
mạnh. Hoặc khi tức giận bàn tay nắm lại, tim đập nhanh, hơi thở gấp, mặt nóng
lên…Có thể tùy vào hoàn cảnh, cường độ cảm xúc mạnh nhẹ mà con người thể
hiện phản ứng cảm xúc có liên quan đến phương diện sinh lý, thể chất như trên.
Những thay đổi này cũng chính là kết quả phản ứng của hệ thần kinh tự động
điều khiển hoạt động của các tuyến nội tiết cơ và máu. Và khi con người ý thức
được những thay đổi bên trong cơ thể thì có thể điều chỉnh được.
Những biểu hiện trên phương diện hành vi, cử chỉ, điệu bộ.
Biểu hiện trên hành vi, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ chẳng hạn như khi vui
mừng có thể nhẫy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống,
nói chậm lại, khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại, những thể hiện xúc cảm
nét mặt thường mang tính chất bẩm sinh, tuy nhiên nó cũng ảnh hưởng bởi yếu
tố văn hóa.
Những biểu hiện trên phương diện nhận thức
Ngoài những thay đổi về thể chất và hành vi ra con người trải nghiệm xúc
cảm, tình cảm thông qua việc có thể ý thức được về nó và dùng ngôn ngữ để mô
tả lại những trải nghiệm đó của mình [36].
21
Theo William Hinds, có 8 loại cảm xúc chính yếu và thường có các biểu
hiện sau: [57, tr.82.]
Cảm xúc
Điều cảm xúc thực hiện
Điều gì xảy ra trên khuôn mặt
Các câu trả lời cảm xúc bị kích thích bởi tư vấn viên
Quan tâm, sợ hãi
Nỗi buồn – sự thống khổ
Dấu hiệu rút lui để bảo vệ Tìm kiếm sự giúp đỡ
Sợ hãi, đau buồn, giận dữ
Sự giận dữ - cơn thịnh nộ
Giúp chúng ta có được thứ mình muốn, đe dọa mọi người
Sợ hãi, khinh miệt
Bảo vệ chúng ta, giúp chúng ta tiến lên
Nỗi sợ hãi – sự kinh hoàng Tội lỗi – tủi thẹn
Bảo vệ chúng ta cho thấy sự quy phục
tởm,
Ghê khinh miệt
Chán ghét – sự khinh miệt
Bắt buộc hoặc từ chối (liên kết với mùi và vị)
Quan tâm, yêu thương
Thích thú – bất ngờ
Tập trung chú ý, định hướng chúng ta
Giải tỏa, căng thẳng
Hạnh phúc – hân hoan
Hạnh phúc – hân hoan
Lông mày sẽ chùn xuống và cùng nhau, tạo thành một “tam giác lo lắng”;gò má căng, những kiểu đường nét lo lắng Miệng và quai hàm rắn chắc, môi mỏng mắt thu hẹp, nhìn khó chịu, gầm gừ,môi kéo về phía sau để lộ răng nanh Lòng trắng hầu như toàn mắt, lông mày kết chặt, trán nhăn, miệng mở Đầu cúi, mắt chùng xuống, đỏ mặt, ngượng ngùng Khinh miệt: 1 góc của môi trên nhô lên; ghê tởm : cả hai góc của môi trên nhô lên Thích thú: chăm chú chú ý, tập trung Cười mỉm chi, cười lớn, lỗ mũi nở, gò mà nhô, kiểu “chân quạ”
ta
Quan tâm yêu thương
Quan tâm – yêu thương
Cái nhìn ngôi sao, nhìn vào mắt người khác, đôi mắt dịu dàng
Phục hồi lại chúng ta, tâm, ủng hộ, quan khiến chúng tập trung vào những điều bên ngoài
22
Việc nắm rõ những phương diện đặc điểm, biểu hiện về cảm xúc sẽ là sẽ
đóng vai trò quan trọng là cơ sở để giáo viên giáo dục trẻ nhận biết cảm xúc của
bản thân cũng như người khác trong công tác hoạt động giáo dục của mình.
1.2.2.2. Trí tuệ cảm xúc
Giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5- 6 tuổi là lĩnh vực tương đối mới,
chưa được quan tâm và nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Để nghiên cứu kỹ năng
này, chúng tôi dựa trên lý thuyết về sự phát triển trí tuệ cảm xúc. Thuật ngữ này
được biết đến đầu tiên, bởi hai nhà tâm lý học Mỹ Peter Salovey (Đại học Yale)
và John Mayer (Đại học Hampshire) sử dụng năm 1990. Theo hai ông Trí tuệ
cảm xúc được hiểu là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, thấu hiểu cảm xúc
của người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ
và hành động của bản thân [31, tr.175].
Howard Gardner đề cập trí tuệ cảm xúc là khả năng đọc cảm xúc (tôi đang
thực sự cảm thấy những cảm xúc gì?) và hiểu cảm xúc (tại sao tôi cảm thấy cảm
xúc này? Nó đang ở mức độ nào?) của bản thân hay của người khác [31].
- Những hiểu biết về cảm xúc của bản thân cũng như của người khác có thể
giúp:
+ Làm chủ cảm xúc của bản thân.
+ Tự tạo động lực hành động.
+ Cải thiện các mối quan hệ với người khác [45].
Năm 1995, Daniel Goleman cho rằng trí tuệ cảm xúc là khả năng giám sát
các cảm giác và cảm xúc của bản thân và của người khác, khả năng phân biệt
chúng và khả năng sử dụng các thông tin nhằm định hướng suy nghĩ và hành
động của mình [19, tr.175].
Tác giả Edward De Bono cho rằng: Trí tuệ cảm xúc “là loại trí tuệ giúp cá
nhân đi sâu phân tích, khám phá và làm bộc lộ cảm xúc của chủ thể ra ngoài”
[30].
23
Năm 1999, Boyatizis cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận biết
những tình cảm của mình và của người khác để tự thúc đẩy mình, kiểm soát,
điều khiển cảm xúc của mình và của người khác” [20, tr.22].
Những quan niệm trên là cách hiểu trí tuệ cảm xúc theo kiểu thuần năng
lực tâm thần. Ngoài ra, quan niệm về trí tuệ cảm xúc còn được hiểu theo kiểu
hỗn hợp như sau:
Theo Reuven. Bar–On: “Trí tuệ cảm xúc là một dãy các năng lực phi nhận
thức và những kỹ năng chi phối năng lực của cá nhân nhằm đương đầu hiệu quả
với những đòi hỏi của môi trường, hoàn cảnh”[35].
D.Goleman (1995) nhận định: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm các năng lực: tự
kiềm chế, kiểm soát, nhiệt tình và năng lực tự thôi thúc mình” [45].
Vào năm 1996, H.Steve cho rằng trí tuệ cảm xúc “là sự kết hợp giữa sự
nhạy cảm về cảm xúc có tính chất tự nhiên với các kỹ năng quản lý cảm xúc có
được do tự học hỏi, nhằm giúp con người đạt hạnh phúc trong cuộc sống”
[31, tr.176].
Nhìn chung, những quan niệm trên cho thấy trí tuệ cảm xúc có những điểm
chung sau:
- Có khả năng nhận biết cảm xúc của bản thân và người khác, khả năng
hiểu và kiểm soát cảm xúc.
- Biết định hướng và điều khiển cảm xúc để hướng dẫn suy nghĩ và hành
động.
- Có khả năng cải thiện các mối quan hệ, mang lại thành công và hạnh phúc
cho con người.
Từ những quan niệm trên, theo chúng tôi: Trí tuệ cảm xúc là khả năng
nhận biết cảm xúc của bản thân và người khác, phân biệt chúng và sử dụng
các thông tin để định hướng suy nghĩ và hành động. Nhằm xây dựng những
mối quan hệ tốt đẹp và đạt được thành công trong cuộc sống.
1.2.2.3. Khái niệm kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
24
Có thể thấy một trong những yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển
năng lực cảm xúc là khả năng trẻ nhận thức được cảm xúc của bản thân mình và
người khác, biết được bản thân đang có cảm xúc gì? Nên làm gì để đối phó với
chúng? Những điều trẻ làm sẽ mang lại cho người khác cảm xúc gì?
Theo hội đồng khoa học quốc gia – phát triển trẻ em (2005). Những đặc
điểm chính của phát triển cảm xúc bao gồm khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc
của bản thân, để nhận ra và hiểu một cách chính xác trạng thái cảm xúc của
người khác, quản lý những cảm xúc mạnh mẽ và thể hiện việc điều chỉnh hành
vi, để phát triển sự đồng cảm với người khác và thiết lập duy trì các mối quan hệ
[64].
Theo Salovey và John Mayer thì: Sự hiểu biết về cảm xúc đó là sự ý thức
về bản thân – có thể nhận biết cảm xúc của mình. Những người biết chắc về cảm
giác của mình sẽ có thể sống tốt hơn, cảm nhận chân thực và đúng đắn hơn về
các quyết định của mình [10].
Sự nhận biết cảm xúc có mối liên quan đến sự dán nhãn cảm xúc. Đây là sự
diễn đạt ngôn từ về cảm xúc có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh của trẻ.
Phát hiện này đã được đo lường trong phòng thí nghiệm [25].
Ví dụ: Khi một đứa trẻ đang rơi vào trạng thái thất vọng và tỏ ra hậm hực,
khó chịu khi bạn nó nhanh tay lấy món đồ chơi yêu thích của nó. Cô giáo đến
bên và nói “Cô biết rằng con đang rất thất vọng khi bạn lấy đồ chơi yêu thích
của con. Đây là một cảm xúc rất khó chịu phải không nào?”
Việc gọi tên và dán nhãn cảm xúc này có liên quan đến sự kết nối hệ thần
kinh. Đó là sự kết nối giữa hai hệ thần kinh giao tiếp ngôn từ và phi ngôn từ. Trí
não của trẻ kết nối hai hệ thống này chưa thật tốt. Cơ thể của trẻ có thể cảm nhận
được nỗi sợ hãi, gớm ghiếc và cả niềm vui trước khi bộ não nói về chúng. Điều
này có nghĩa là trẻ sẽ trải nghiệm những đặc tính sinh lý học cảm xúc trước khi
biết được cảm xúc ấy là gì. Như vậy, trẻ cần phải kết nối hai thần kinh này lại
với nhau. Các nhà nghiên cứu tin rằng học cách dán nhãn cảm xúc sẽ tạo ra sợi
25
dây kết nối. Sự kết nối này diễn ra càng sớm thì chúng ta sẽ chứng kiến những
lợi ích của chúng cũng như chứng kiến những hành vi tự xoa dịu của trẻ [25].
Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết cảm xúc là khả
năng trẻ nhận diện và gọi tên cảm xúc phù hợp với ngôn ngữ để mô tả trạng thái
cảm xúc của bản thân và người khác ra bên ngoài”.
Việc dạy trẻ nhận biết cảm xúc có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của trẻ.
Nghiên cứu cho thấy cảm xúc có tác động đến hành vi xã hội của trẻ. Ví dụ khả
năng dự đoán các vấn đề về cảm xúc có ý nghĩa trong cuộc sống của trẻ. Khi trẻ
gặp phải những vấn đề (chẳng hạn sự trêu chọc của bạn bè). Lúc này trẻ nhận
thức chính xác những cảm xúc đang xuất hiện và kiểm soát những kích động về
cảm xúc đó một cách hiệu quả. Sau đó trẻ bắt đầu suy nghĩ thấu đáo về vấn đề.
Sẽ cho trẻ những lựa chọn phù hợp và kiểm soát hành vi của mình. Điều này sẽ
giúp trẻ thể hiện cảm xúc một cách hiệu quả. Hơn nữa nhận biết cảm xúc sẽ giúp
trẻ ứng phó với cảm xúc người khác một cách phù hợp đặc biệt là khả năng
đồng cảm biết đặt mình vào vị trí của người khác. Nghiên cứu cho thấy trẻ hiểu
và điều chỉnh cảm xúc của bản thân, sẽ ứng xử phù hợp với cảm xúc của người
khác, học tập và hòa nhập với cộng đồng tốt hơn [10].
Từ những phân tích trên theo chúng tôi “Kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác,
trên cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện cho phép”.
1.2.3. Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý thì biện pháp là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. Như vậy, để giải quyết một vấn đề cần
phải chú ý đến các yếu tố bao gồm phương pháp, phương tiện, hình thức cách
thức thực hiện mà vấn đề đặt ra [54].
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là sự hình thành nhân cách được tổ chức một
cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà
26
giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh
những kinh nghiệm xã hội của loài người [65].
Theo Nguyễn Quan Uẩn GD (theo nghĩa rộng) là toàn bộ tác động của gia
đình, nhà trường, xã hội bao gồm cả dạy học và các tác động GD khác đến con
người. Theo nghĩa hẹp thì GD có thể xem như là quá trình tác động đến tư
tưởng, đạo đức, hành vi của người học (GD đạo đức, GD lao động, GD lối sống,
hành vi..) [50].
Biện pháp GD là cách thức tác động của người thầy lên người trò nhằm
mục đích thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của họ. Biện pháp GDMN được
hiểu là cách làm cụ thể trong HĐ hợp tác cùng nhau giữa GV với trẻ nhằm thực
hiện mục tiêu, nhiệm vụ GD đã đặt ra ở lứa tuổi MN [16].
Theo từ điển giáo dục học biện pháp giáo dục “là cách tác động có định
hướng, có chủ đích, phù hợp với tâm lý đến đối tượng giáo dục nhằm bồi dưỡng
hoặc làm thay đổi những phẩm chất và năng lực của đối tượng. Những biện
pháp giáo dục thường được áp dụng là giáo dục cá thể, giáo dục tập thể, giáo
dục phối hợp, giáo dục đồng đội, giáo dục đồng đẳng… Mỗi biện pháp giáo dục
đều có ưu điểm riêng của mình” [14].
Dựa vào cách hiểu trên, chúng tôi xác định khái niệm “Biện pháp giáo dục
kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi” như sau:
Biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX là cách thức cụ thể mà giáo viên
sử dụng để tác động đến trẻ nhằm giáo dục trẻ khả năng vận dụng những
kiến thức, kinh nghiệm để nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người
khác từ đó thể hiện những thái độ và hành vi một cách phù hợp vào trong
thực tiễn nhằm đạt kết quả mong đợi”.
1.2.4. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi liên quan đến
việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ
Theo quy luật phát triển thông thường tâm lý con người có ba mặt và có
mối liên hệ phát triển chặt chẽ với nhau đó là tình cảm – nhận thức và ý chí.
Thông thường nhận thức sẽ dẫn đến tình cảm sau đó sẽ dẫn đến hành động ý chí.
27
Ý chí cũng tác động ngược lại lĩnh vực tình cảm như kiềm hãm hoặc thúc đẩy
con người hành động [46].
Chính vì vậy, mọi tác động giáo dục lên lĩnh vực tình cảm của trẻ chỉ đạt
hiệu quả khi các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý nói chung cũng như
khả năng nhận thức và mặt ý chí của trẻ nói riêng theo từng độ tuổi. Như vậy,
các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi chỉ đạt hiệu quả khi
các nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lý cũng như khả năng nhận thức và
mặt ý chí của trẻ ở độ tuổi này.
1.2.4.1. Đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ 5-6 tuổi
Trí nhớ
Trí nhớ của trẻ 5-6 tuổi phát triển mạnh hơn so với lứa tuổi trước. Vào cuối
tuổi mẫu giáo trẻ hoạt động phức tạp hơn, giáo viên thường đưa ra những yêu
cầu cao buộc trẻ không chỉ định hướng vào hiện tại mà phải định hướng vào
tương lai cũng như quá khứ.Vì vậy, trí nhớ có chủ định của trẻ cũng bắt đầu
được hình thành và phát triển. Sự phát triển có chủ định đóng vai trò quan trọng
trong việc chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một. Vì vậy, khi tổ chức hoạt động giáo dục
giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ suy nghĩ, tìm hiểu về nội dung, ôn lại hành
động và những từ được ghi nhớ.
Ngoài ra, trí nhớ của trẻ mang tính trực quan hình tượng rõ nét. Những tài
liệu bằng học cụ trực quan được trẻ ghi nhớ tốt hơn so với tài liệu chỉ bằng ngôn
ngữ. Tuy nhiên, giai đoạn này trí nhớ ngôn ngữ của trẻ bắt đầu được hình thành.
Nhưng trẻ chỉ nhớ được những từ cụ thể hơn là những từ trừu tượng. Đặc biệt trẻ
ghi nhớ tốt những từ mô tả hình tượng hoặc mô tả có tính chất diễn cảm. Chẳng
hạn như những từ giàu hình tượng, nhịp điệu rõ ràng, giọng truyền cảm thì trẻ có
khả năng nhớ nhanh và lâu bền hơn. Bên cạnh đó, trẻ bắt đầu hình thành trí nhớ
logic. Trẻ không chỉ ghi nhớ máy móc mà còn có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa.
28
Tư duy
Tư duy của trẻ 5-6 tuổi đã có một bước ngoặc thay đổi lớn. Bắt đầu chuyển
từ tư duy trực quan hành động sang tư duy trực quan hình tượng. Trẻ sử dụng
loại tư duy này để giải các bài toán không chỉ được thực hiện bằng phép thử bên
ngoài mà được thực hiện bằng cả những phép ngầm trong óc dựa vào những
hình ảnh, những biểu tượng ở trong đầu, hay kinh nghiệm trẻ có được. Loại tư
duy này đặc biệt phát triển ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ. Và là điều kiện thuận lợi làm
nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng được phát triển ở giai
đoạn sau.
Ngoài ra, tư duy trực quan sơ đồ cũng bắt đầu xuất hiện ở trẻ 5-6 tuổi. Loại
tư duy này vẫn giữ tính hình tượng của sự vật nhưng chỉ giữ lại những nét chủ
yếu mang tính khái quát. Việc phát triển tư duy này rất có ý nghĩa với trẻ. Giúp
trẻ đi sâu vào những mối quan hệ phức tạp của sự vật và mở ra khả năng nhìn
thấy mặt bản chất của sự vật mà loại tư duy trước không có được. Đặc biệt, khi
trẻ biết sử dụng thành thục các vật thay thế, khi phát triển tốt chức năng kí hiệu
của ý thức. Trẻ sẽ hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào
đó bằng từ ngữ hay kí hiệu khác, khi giải những bài toán tư duy độc lập. Sự phát
triển này đóng vai trò quan trọng để xuất hiện một kiểu tư duy mới khác về chất
đó là tư duy logic, kiểu tư duy này sẽ được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở
giai đoạn học sinh.
Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của trẻ MG ngày càng phát triển : ngữ âm ngày càng hoàn thiện,
vốn từ được mở rộng tăng lên cả số lượng và chất lượng, trẻ sử dụng tương đối
đúng ngữ pháp tiếng mẹ đẻ. Nếu ngôn ngữ của trẻ ấu nhi sử dụng liên quan đến
cái đang tri giác thì trẻ 5-6 tuổi đã bắt đầu hiểu nghĩa các từ, biết sử dụng tiếng
mẹ đẻ thành thạo trong sinh hoạt hằng ngày. Vì vậy, trẻ có khả năng sử dụng
ngôn ngữ để giao tiếp làm thế nào để nói về điều trẻ cảm thấy và nhận được sự
giúp đỡ của người khác.
29
Bên cạnh đó, ngôn ngữ tình huống dần mất đi, trẻ bắt đầu xây dựng cho
mình một kiểu ngôn ngữ khác ít phụ thuộc vào tình huống hơn. Kiểu ngôn ngữ
này đòi hỏi trẻ phải nói năng sao cho người khác hiểu, hình dung được những
điều mình định mô tả mà không dựa vào tình huống trước mắt. Đây là ngôn ngữ
ngữ cảnh. Ngoài ra, ngôn ngữ giải thích của trẻ cũng phát triển mạnh. Trẻ có
mong muốn giải thích cho người lớn hiểu những điều trẻ muốn nói. Như vậy, trẻ
phải trình bày ý kiến theo một trình tự nhất định, nêu bật những điểm chủ yếu và
những mối quan hệ liên kết các sự vật và hiện tượng một cách hợp lí và điều này
cũng đã dẫn đến sự phát triển của ngôn ngữ mạch lạc. Loại ngôn ngữ này có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ. Vì khi sử dụng ngôn ngữ
mạch lạc thì những điều trẻ định nói ra cần được suy nghĩ rõ ràng, rành mạch
ngay từ trong đầu. Như vậy, cần phải có sự hỗ trợ của tư duy. Ngược lại, chính
ngôn ngữ mạch lạc là phương tiện cho tư duy của trẻ phát triển lên một chất
lượng mới, đó là nảy sinh các yếu tố của tư duy logic, nhờ đó trẻ 5-6 tuổi phát
triển mới, cao hơn so với lứa tuổi trước.
1.2.4.2. Đặc điểm phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi
Sự phát triển ý chí của trẻ 5-6 tuổi xuất hiện như là sự điều chỉnh có ý thức
đối với hành vi của bản thân. Trẻ đã biết chủ động điều khiển hành vi, hoạt động
tâm lý của mình từ chỗ không chủ định sang chủ định. Chẳng hạn, trẻ đã biết tập
trung quan sát sự vật hiện tượng nào đó, im lặng nghe cô kể chuyện, không đánh
bạn hoặc gây ồn ào trong lớp học.
Đặc biệt, sự phát triển ý chí của trẻ có quan hệ mật thiết với sự biến đổi các
động cơ hành vi. Nó có sự tác động qua lại của 3 mặt: đầu tiên là đặt ra mục
đích của hành động hoặc chấp nhận mục đích do người khác đặt ra; Thứ hai là
xác lập quan hệ giữa mục đích hành động và động cơ; Thứ ba là tăng cường vai
trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện những hành động.
Ví dụ: Em bé biết hôm nay là sinh nhật mẹ, mục đích em bé đặt ra là muốn
mua một món quà tặng mẹ. Động cơ khiến em bé làm việc này chính là tình yêu
30
dành cho mẹ. Để đạt mục đích nhất định em bé luôn nghĩ thầm trong óc là mình
sẽ mua tặng mẹ món quà để mẹ vui. Như vậy em bé đã dùng ngôn ngữ để điều
chỉnh hành vi của mình.
Ngoài ra, sự phát triển ý chí của trẻ không chỉ phụ thuộc vào động cơ nào
mạnh nhất mà là động cơ nào quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn và do trẻ ý thức
được. Ví dụ: Trong tình huống mẹ đang bị ốm, bạn đến rủ trẻ đi chơi. Trẻ giải
quyết tình huống phụ thuộc vào hai động cơ khác nhau: Trẻ ham thích đi chơi sẽ
đi cùng bạn hoặc sẽ ở nhà cùng mẹ. Nếu trẻ ở nhà cùng mẹ thì có thể ban đầu trẻ
cũng ham thích được đi chơi cùng bạn nhưng trẻ ý thức được mẹ đang ốm ở nhà
với mẹ sẽ vui hơn. Như vậy, trẻ đã có khả năng tự chủ, kiềm chế được mong
muốn, từ đó ý chí của trẻ cũng được hình thành và phát triển. Tuy nhiên không
phải trẻ MGL nào cũng kết thúc bằng giải pháp nghiêng về động cơ có ý nghĩa.
Điều đó còn phụ thuộc vào cách giáo dục của người lớn, có thể thông qua những
tình huống, những lời chỉ dẫn, sự quan tâm để giúp trẻ có những cách giải quyết
phù hợp mà qua đó ý chí được phát triển.
1.2.4.3. Đặc điểm phát triển cảm xúc – tình cảm của trẻ 5-6 tuổi
So với lứa tuổi trước, tình cảm của trẻ 5-6 tuổi thể hiện ngày càng mạnh mẽ
và sâu sắc. Trẻ luôn mong muốn được người thân và bạn bè quan tâm, yêu
thương và cũng rất sợ khi mọi người xa lánh. Đồng thời, trẻ đã biết thể hiện sự
quan tâm, chăm sóc khi người thân bị ốm. Biết đồng cảm và quan tâm tới bạn.
Khi bạn buồn thể hiện sự an ủi bằng cách sẵn sàng chia sẻ, nhường đồ chơi cho
bạn. Đặc biệt, trẻ đã bắt đầu tự ý thức về bản thân, có thể lĩnh hội các chuẩn
mực, quy tắc hành vi trong cuộc sống. Trẻ nhận ra những hành vi sai trái khi bị
người lớn la mắng. Trẻ có thể biết rằng mọi cảm xúc đều có thể được chấp nhận
ví dụ: tức giận. Nhưng một hành động không phù hợp thì không thể (ví dụ: đánh
bạn) và trẻ có thể lựa chọn cách tốt hơn để giải quyết vấn đề, có thể sử dụng lời
nói để diễn tả cảm xúc và giải quyết vấn đề của mình.
31
Theo V.X.Mukhina: “Một trong những phương hướng phát triển chủ yếu
tình cảm ở lứa tuổi mẫu giáo là sự tăng cường “tính hợp lý” của chúng gắn liền
với sự phát triển trí tuệ của trẻ em. Trẻ em mới bắt đầu nhận thức thế giới xung
quanh, tìm hiểu những hậu quả của những hành vi của mình, hiểu được cái gì là
tốt cái gì là xấu” [27, tr.117].
Trẻ ở lứa tuổi ấu nhi, cảm xúc thường gắn liền với cơ chế bẩm sinh của
não, còn mang tính không chủ định. Ngược lại, trẻ 5-6 tuổi đã biết kiềm chế
những cảm xúc mạnh mẽ và đột ngột của mình. Trẻ có thể điều khiển những
cảm xúc bột phát, đôi khi trẻ còn biết sử dụng tình cảm của mình để tác động
đến mọi người xung quanh nhằm thông báo cho họ biết về thái độ của mình về
việc làm đó. Ngoài ra, trẻ có khả năng bắt chước những biểu cảm tinh tế của
người lớn để vận dụng vào cuộc sống của mình. Biết nói những lời làm vui lòng
người thân, biết dùng lời khen ngợi và cỗ vũ bạn bè, hỏi thăm cha mẹ, tặng quà
cho người trẻ yêu mến.
Có thể thấy trẻ 5-6 tuổi thể hiện tình cảm phong phú và đa dạng. Đây cũng
là thời điểm mà nhân cách trẻ đang hình thành và phát triển. Đặc biệt ở tuổi này
trẻ thường trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau nhưng không phải luôn xác
định và kiểm soát được chúng. Vì vậy, giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa
quan trọng giúp trẻ nhận biết, thể hiện và đối phó với cảm xúc một cách lành
mạnh. Đồng thời phát triển kỹ năng này sẽ tạo cho trẻ có những mối quan hệ tốt
đẹp với bạn bè xung quanh, ổn định về mặt tâm lý và có khả năng học tập tốt
hơn ở những bậc học tiếp theo.
1.2.5. Nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6
tuổi.
Theo Dự án tăng cường khả năng sẵn sàng đi học cho trẻ mầm non về
lĩnh vực giáo dục tình cảm và kỹ năng xã hội. Phát triển tình cảm bao gồm các
nội dung sau:
- Nhận biết và thể hiện cảm xúc
32
- Hiểu và đáp lại cảm xúc của người khác
- Kiểm soát cảm xúc của bản than
Nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX trong chương trình chăm sóc
giáo dục mầm non [6].
- Nhận biết một số trạng thái cảm xúc (vui, buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc
nhiên, xấu hổ) qua nét mặt, cử chỉ, giọng nói, tranh ảnh, âm nhạc.
- Bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong
các tình huống giao tiếp khác nhau.
- Mối quan hệ giữa hành vi của trẻ và cảm xúc của người khác.
Nội dung phát triển kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ trong
Tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi [7].
Chuẩn 9: Trẻ biết thể hiện cảm xúc
Chỉ số 35. Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi,
tức giận, xấu hổ của người khác.
Nhận ra và nói được các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi,
tức giận, xấu hổ của người khác qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ khi tiếp xúc trực
tiếp hoặc qua tranh, ảnh.
Chỉ số 36.Bộc lộ cảm xúc của bản thân bằng lời nói, cử chỉ và nét mặt.
Thể hiện những trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,
xấu hổ phù hợp với tình huống qua lời nói, cử chỉ, nét mặt.
Chỉ số 37. Thể hiện sự an ủi, chia vui với người thân và bạn bè.
- Nhận ra tâm trạng của người thân, bạn bè (buồn hay vui).
- Biết an ủi, chia vui phù hợp với họ.
- An ủi người thân hay bạn bè khi họ ốm, mệt hoặc buồn rầu bằng lời nói,
cử chỉ.
- Chúc mừng, động viên, khen ngợi hoặc reo hò, cỗ vũ bạn, người thân khi
có niềm vui : ngày sinh nhật, có em bé mới sinh, có quần áo mới, chiến thắng
trong cuộc thi, hoàn thành một sản phẩm tạo hình...
33
Chỉ số 40. Thay đổi hành vi và thể hiện cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh
- Tự điều chỉnh hành vi, thái độ cảm xúc phù hợp với hoàn cảnh, ví dụ trẻ
đang nô đùa vui vẻ nhưng khi thấy bạn bị ngã đau trẻ sẽ dừng chơi , chạy lại hỏi
han, lo lắng, đỡ bạn vào lớp, hoặc trẻ đang thích thú chơi một đồ chơi mới ở
ngoài sân nhưng khi vào nhà trẻ sẽ đi lại nhẹ nhàng, không nói to vì mẹ bị ốm..
Chỉ số 41. Biết kiềm chế cảm xúc tiêu cực khi được an ủi, giải thích.
- Trấn tĩnh lại, hạn chế cảm xúc và những hành vi tiêu cực (như đánh bạn,
cào cấu, cắn, gào khóc, quăng quật đồ chơi…) khi được người khác an ủi, giải
thích, chia sẻ.
- Biết sử dụng lời nói diễn tả cảm xúc tiêu cực (khó chịu, tức giận..)của bản
thân khi giao tiếp với bạn bè, người thân.
Trên đây là một số nội dung của các chuẩn mà trẻ 5 tuổi cần đạt trong lĩnh
vực phát triển tình cảm và quan hệ xã hội.
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu KNNBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi
ở những biểu hiện sau:
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,
xấu hổ của người khác.
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,
xấu hổ của bản thân.
+ Thể hiện sự an ủi với người thân và bạn bè.
+ Thể hiện sự chia vui với người thân và bạn bè.
+ Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ
1.2.6. Vai trò của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi.
Charles Darwin là một trong những nhà khoa học nghiên cứu sớm nhất về
cảm xúc. Ông cho rằng, biểu lộ cảm xúc đóng vai trò quan trọng cho sự tồn tại
và an toàn của con người. Nếu chúng ta gặp một con vật đang phát ra âm thanh
gầm gừ hoặc rít lên vì giận dữ điều đó sẽ giúp ta tìm cách tự vệ và trốn thoát.
34
Tương tự như vậy, trong quá trình giao tiếp với những người xung quanh việc
nhận ra và hiểu cảm xúc của người khác có thể giúp chúng ta điều chỉnh và thể
hiện cảm xúc phù hợp, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với những người xung
quanh. Qua đó, con người có thể đối phó với các tình huống khác nhau trong
cuộc sống và đạt được những hiệu quả trong giao tiếp.
Sự phát triển kỹ năng NBVTHCX trong những năm đầu đời có ý nghĩa
quan trọng đối với một đứa trẻ. Là cơ sở hình thành những phẩm chất đạo đức
và nhân cách của một con người. Ngay từ bé, một đứa trẻ có khả năng
NBVTHCX sẽ dễ dàng đồng cảm với người khác, biết làm chủ cảm xúc của bản
thân, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với bạn bè và những người xung quanh.
Đồng thời, sẽ giúp trẻ phát triển những năng lực cá nhân, có được kỹ năng sống
cần thiết để hòa nhập với cộng đồng xã hội.
Phát triển kỹ năng NBVTHCX sẽ giúp trẻ hiểu cảm xúc ảnh hưởng đến
hành vi cá nhân và các mối quan hệ xã hội như thế nào. Ở trường, trẻ tương đối
gặp khó khăn trong mối quan hệ với bạn bè bởi vì trẻ không giống như người
lớn, trẻ không thể thành thạo để kiểm soát cảm xúc. Như vậy,sự xung đột và
hiểu lầm càng có cơ hội gia tăng khi trẻ đi học. Vì vây, sự hiểu biết về cảm xúc
càng cao thì trẻ càng kiểm soát các tình huống và thích ứng với chúng. Đồng
thời nó làm hạn chế những xung đột xảy ra giữa trẻ với bạn bè cùng trang lứa
qua đó sẽ giúp giáo viên quản lý lớp học tốt hơn.
Trẻ có kỹ năng NBVTHCX sẽ giúp giáo viên và người thân hiểu được cảm
xúc bên trong của trẻ. Khi trẻ giao tiếp tương tác với cô giáo, thông qua lời nói
hoặc những biểu hiện cảm xúc thể hiện trên nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, người lớn
có thể dễ dàng nhận thấy những cảm xúc trẻ đang trải qua. Từ đó sẽ kịp thời
chia sẻ, động viên, giúp trẻ đối phó một cách an toàn và lành mạnh.
Ngoài ra, thông minh cảm xúc sẽ giúp trẻ trở nên tự chủ, tự tin, nhạy cảm
với cảm xúc biết quan tâm tới những người thân yêu. Đặc biệt có thể phân biệt
hành vi tốt-xấu và lựa chọn cách ứng xử phù hợp. Khắc phục những nét tính
35
cách không hay như ích kỉ, thiếu tự tin…Trang bị cho trẻ những kỹ năng thiết
yếu để thành công trong học tập và cuộc sống như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
giải quyết vấn đề.
Như vậy, giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa quan trọng hình thành
giá trị nhân cách và góp phần quyết định thành công của một con người. Chúng
có thể thúc đẩy trẻ hành động theo những cách khác nhau và cung cấp cho trẻ
những công cụ hữu ích giúp trẻ cũng như người lớn xây dựng nên tình người, sự
vị tha lòng nhân ái trong xã hội đầy bạo lực và nhiều cám dỗ như hiện nay.
1.2.7. Một số yếu tố ảnh hưởng lên quá trình phát triển kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
Ngay từ khi mới ra đời, sự phát triển cảm xúc của trẻ đã bị ảnh hưởng bởi
nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng bao gồm sự khác biệt trong nhận thức, sự phát
triển ngôn ngữ và xã hội hóa.
Đầu tiên sự phát triển kỹ năng này bị ảnh hưởng bởi sự phát triển nhận thức
(tự ý thức và kiến thức). Sự phát triển nhận thức và cảm xúc có tác động qua lại
với nhau. Nhận thức điều chỉnh cảm xúc và cảm xúc cũng điều chỉnh lại nhận
thức. Ví dụ, cảm xúc tiêu cực khiến trẻ gặp khó khăn trong việc xử lý thông tin,
trong khi cảm xúc tích cực tạo điều kiện cho trẻ học tập tốt hơn. Trẻ có cảm xúc
tích cực sẽ kiên trì và bền bỉ hơn, thể hiện tốt hơn những trẻ có cảm xúc tiêu cực
[56]. Mặt khác, một số nhà tâm lý cho rằng cảm xúc chưa phải là nguyên nhân
chính của vấn đề về cảm xúc. Cảm xúc còn bị điều khiển bởi suy nghĩ [58]. Ví
dụ: Trong giờ học vẽ Cô yêu cầu trẻ vẽ về gia đình của mình, khi thu bài có một
em để giấy trắng. Lúc đó, Cô cảm thấy rất giận gọi trẻ lên và hỏi với giọng gay
gắt nhưng đứa trẻ vẫn im lặng lúc đó cơn giận của Cô càng tăng. Nhưng sau đó
Cô được biết gia đình trẻ không hạnh phúc bố mẹ trẻ đã ly thân nên trẻ ở với
ông bà. Từ cơn giận đến khi biết được nguyên nhân mọi suy nghĩ của Cô giáo đã
thay đổi và trở nên đồng cảm và yêu thương đứa trẻ hơn. Như vậy chúng ta thấy
rằng những suy nghĩ nhanh chóng làm thay đổi cảm xúc. Nhà tâm lý học Ellis
36
tin rằng ý nghĩ luôn luôn điều khiển cảm xúc; vì vậy suy nghĩ quan trọng hơn
cảm xúc vì nó là nguyên nhân dẫn đến vấn đề về cảm xúc [58].
Ngoài ra, sự phát triển ngôn ngữ cũng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát
triển kỹ năng này, thông qua việc phát triển vốn từ, giúp trẻ nhận diện và gọi tên
cảm xúc của mình một cách chính xác. Bắt đầu từ năm thứ hai trẻ đã sử dụng
ngôn ngữ bên trong để miêu tả cảm xúc của mình và người khác. Khả năng nhận
biết cảm xúc sẽ được tăng dần theo độ tuổi của trẻ, nó phụ thuộc vào cách người
lớn dạy dỗ và giúp trẻ gọi tên và nhận diện chúng.
Ví dụ: “Trong giờ học vẽ, Trevor đang chờ để được dùng tuýp màu đỏ và
bạn cậu nói “Hãy kiên nhẫn”, Trevor đáp lại “Bà tớ luôn nói “Hãy kiên nhẫn”
nhưng điều đó chỉ khiến tớ thêm ức chế mà thôi” [56, tr.58].
Hơn nữa, việc tăng vốn từ giúp trẻ tạo nên sự khác biệt trong các trạng thái
cảm xúc khác nhau, và khả năng hình thành những biểu hiện về mặt tinh thần
cho phép trẻ tưởng tượng và hành động một cách cảm tính [56, tr.58].
Cuối cùng sự phát triển kỹ năng này còn bị ảnh hưởng bởi tác nhân xã hội
hóa như một mô hình (cách trẻ quan sát người khác nhận biết và phản ứng với
cảm xúc của mình). Trẻ thường học cách phản ứng cảm xúc và hành vi của mình
qua việc quan sát người khác. Đặc biệt là những người thân như cha mẹ, GV và
bạn bè có ảnh hưởng trong việc phát triển kỹ năng này cho trẻ [56, tr.58].
Như vậy, có thể thấy sự phát triển kỹ năng NBVTHCX chịu sự tác động chi
phối của nhiều yếu tố: nhận thức, ngôn ngữ, xã hội hóa. Vì vậy, để thúc đẩy kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ cần phải chú ý phối hợp phát triển các yếu tố nhằm
nâng cao kỹ năng này cho trẻ.
37
Tiểu kết chương 1
Giáo dục kỹ năng NBVTHCX có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục
nhân cách cho trẻ, đồng thời giúp các em vượt qua những khó khăn về mặt cảm
xúc, nhận biết được cảm xúc của bản thân và người qua đó có những thái độ và
hành vi thể hiện ra bên ngoài một cách phù hợp. Các nước trên thế giới đã có
những chương trình giáo dục về lĩnh vực kỹ năng này cho trẻ ngay từ lứa tuổi
mầm non. Ở Việt Nam, nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX đã được đưa vào
Chương trình giáo dục mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi do Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu và tài liệu
biên soạn về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX ở Việt Nam vẫn còn hạn
chế về số lượng và chưa được nghiên cứu nhiều. Vì vậy, việc nghiên cứu về biện
pháp và hệ thống hóa các cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ
5-6 tuổi là điều cần thiết.
Trong chương này, đề tài làm rõ các khái niệm công cụ: kỹ năng, cảm xúc,
trí tuệ cảm xúc, kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc, biện pháp giáo dục kỹ
năng NBVTHCX, một số đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi có lien quan đến vấn
đề giáo dục kỹ năng NBVTHCX, nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX, vai
trò của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX, một số yếu tố ảnh hưởng lên quá
trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
Việc nghiên cứu nắm vững cơ sở lý luận và những nghiên cứu trên thế giới
và trong nước là điều kiện cần thiết và quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo
sát thực trạng và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ MG 5-6 tuổi ở những chương sau.
38
Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG BIỆN PHÁP GIÁO DỤC
KỸ NĂNG NHẬN BIẾT VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC
CHO TRẺ 5-6 TUỔI
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.1.1. Đôi nét về khách thể nghiên cứu
2.1.1.1. Địa bàn nghiên cứu
Để tìm hiểu nhận thức và thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi của BGH, GV và mức độ kỹ năng NBVTHCX của
trẻ 5-6 tuổi ở các trường Mầm non tại TP.HCM, chúng tôi tiến hành khảo sát số
lượng khách thể là cán bộ quản lý và giáo viên và trẻ như sau:
Danh sách 3 trường tiến hành khảo sát:
Bảng 2.1. Danh sách các trường Mầm non khảo sát
Số lượng
Stt Tên trường Ban giám Giáo Tổng hiệu viên
3 10 13 1 Trường Mầm non Hoa Hồng – Q.Bình Tân
3 10 13 2 Trường Mầm non Bé Ngoan – Q.1
3 6 9 3 Trường Mầm non Hoa Mai – Q.3
2.1.1.2. Khách thể nghiên cứu
9 26 35 TỔNG CỘNG
Giáo viên
a. Về trình độ chuyên môn
Nhìn vào bảng thống kê 2.2. ta thấy trình độ chuyên môn của GV và BGH
đạt tỉ lệ trên chuẩn khá cao. Trình độ Sau đại học chiếm 11.42%, trình độ Đại
học chiếm 57.14%, chiếm 22.85% ở trình độ Cao đẳng và trình độ Trung cấp đạt
tỉ lệ thấp nhất chiếm 8.57%.
39
Bảng 2.2. Trình độ chuyên môn của BGH, GV ở các trường khảo sát
Trình độ chuyên môn Số lượng Tỉ lệ %
Sau đại học 4 11.42
Đại học 20 57.14
Cao Đẳng 8 22.85
Trung Cấp 3 8.57
Tổng cộng 35 100.0
b. Về thâm niên công tác
Bảng 2.3. Thâm niên công tác của BGH, GV các trường khảo sát
Thâm niên công tác Số lượng Tỉ lệ %
Dưới 5 năm 6 17.14
Từ 5 – 10 năm 17 48.57
Trên 10 năm 12 34.28
Bảng 2.3 cho thấy, đa số BGH và GV có thâm niên công tác giảng dạy lâu
Tổng cộng 35 100.0
năm. Chiếm tỉ lệ cao nhất là 48.57% giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy từ 5-10
năm và trên 10 năm chiếm tỉ lệ 34.28%. Trong khi đó, chỉ có 17.74 % GV có
thâm niên công tác dưới 5 năm.
Số lượng trẻ
Bảng 2.4. Thống kê số lượng trẻ ở 3 trường khảo sát
Tên trường MN Bé Ngoan MN Hoa Mai MN Hoa Hồng
Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Giới tính
18 19 17 21 19 22 Số lượng
Tổng cộng 116
40
Qua bảng 2.4 ta thấy số lượng trẻ khảo sát ở 3 trường là gần tương đương
nhau. Trong đó số lượng trẻ ở trường MNHH chiếm nhiều nhất là 41 trẻ, tiếp
theo là trường MNHM là 38 trẻ và cuối cùng thấp nhất là trường MNBN 37 trẻ.
Về cơ sở vật chất, nhìn chung các trường đều có cơ sở vật chất khang trang,
lớp học được trang trí đẹp mắt, gọn gàng và sạch sẽ. Ở mỗi góc chơi đều có
không gian riêng cho trẻ hoạt động.
Tóm lại, theo chúng tôi địa bàn và số lượng mẫu khách thể khảo sát đã đảm
bảo về chất lượng và số lượng, mang tính đại diện để khảo sát thực trạng biện
pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
2.1.2. Khái quát về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.1.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi của giáo viên.
2.1.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng NBVTHCX cho
trẻ 5-6 tuổi.
- Thực trạng hình thức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
- Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
- Thực trạng những khó khăn khi sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận
biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
- Thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự
đánh giá của giáo viên và của người nghiên cứu.
Công cụ thực hiện khảo sát
- Phiếu quan sát các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6
tuổi.
- Phiếu trưng cầu ý kiến dành cho BGH, GVMN nhằm tìm hiểu nhận thức
và biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
41
- Phiếu phỏng vấn BGH,GVMN.
- Công cụ đánh giá: Người nghiên cứu sử dụng bài tập tình huống thông
qua tranh vẽ và quan sát hoạt động vui chơi và học tập của trẻ để đánh giá thực
trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi có sử dụng phối hợp nhiều phương pháp
khác nhau. Tất cả các phương pháp đều đóng vai trò quan trọng bỗ trợ tính
tường minh cho kết quả nghiên cứu.
2.1.2.1. Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn GV và Trẻ nhằm: Thu thập dữ liệu định tính nhằm
bổ sung thêm thông tin góp phần làm sáng tỏ quá trình nghiên cứu.
+ Tiến hành phỏng vấn GV để tìm hiểu nhận thức của GV về kỹ năng
NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi, các hình thức, biện pháp, những khó khăn GV gặp
phải khi giáo dục trẻ.
+ Tiến hành phỏng vấn trẻ sau những giờ chơi, giờ nghe kể chuyện với một
số câu hỏi như: Sau khi chơi cùng cô và các bạn con cảm thấy như thế nào?
Trong câu chuyện con thích nhân vật nào? Con hãy giả bộ làm khuôn mặt mà
nhân vật đó cảm thấy ? Nếu con là nhân vật đó con sẽ làm gì để bạn hết buồn?
Khi giận dữ con thường làm gì để giữ bình tĩnh?
2.1.2.2. Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát tiêu chí biểu hiện về kỹ năng NBVTHCX của
trẻ trong hoạt động học tập và hoạt động vui chơi hằng ngày. Dựa vào tiêu chí
đã xây dựng người nghiên cứu quan sát, ghi nhận và đánh dấu vào mức độ đạt
được của trẻ trong mỗi hoạt động.
Ngoài ra chúng tôi quan sát và ghi chép các biện pháp GV sử dụng để tổ
chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
42
2.1.2.3. Phương pháp điều tra
a. Quy trình thiết kế bảng khảo sát
Trước khi sử dụng phiếu điều tra chính thức, người nghiên cứu tiến hành
soạn thảo bảng thăm dò mở nhằm thu thập những ý kiến của GV và BGH. Sau
khi thu phiếu người nghiên cứu tiếp tục phân loại các câu trả lời trong từng vấn
đề theo phương pháp phân tích nội dung cũng như những câu hỏi phỏng vấn từ
GV và BGH. Từ đó người nghiên cứu tiến hành khảo sát phiếu điều tra chính
thức.
b.Tiến hành khảo sát chính thức
Tiến hành phát phiếu điều tra chính thức. Kết quả thu về cụ thể như sau:
+ Số phiếu phát ra : 35 phiếu
+ Số phiếu thu về : 35 phiếu
+ Số phiếu không hợp lệ : 0 phiếu
c. Mô tả chung về bảng hỏi chính thức:
Nội dung bảng hỏi chính thức bao gồm 3 phần, phần mở đầu : lời chào,
phần thứ 2: thông tin cá nhân, phần thứ 3: nội dung khảo sát.
+ Nội dung khảo sát:
Câu 1: Tìm hiểu quan điểm của GV về kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6
tuổi.
Câu 2: Tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
Câu 3, câu 4, câu 5, câu 6, câu 7: Tìm hiểu về hình thức, nội dung, biện
pháp, những khó khăn, mức độ cần thiết và kết quả đạt được trong quá trình tổ
chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi.
Câu 8: Đánh giá chung của GV về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ MG
5-6 tuổi.
Câu 9: Tìm hiểu những đề xuất của GV về nội dung giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi.
43
d. Cách thức chấm điểm ở bảng hỏi chính thức
Các câu hỏi có 5 mức độ được tính điểm như sau:
Ta có công thức tính giá trị trung bình đối với thang đo khoảng:
Giá trị khoảng cách = (5-1)/5 = 0.8
Điểm trung bình Mức độ
1-1.8 Không bao giờ
1.81-2.61 Hiếm khi
2.62-3.42 Thỉnh thoảng
3.43-4.23 Thường xuyên
4.24-5 Rất thường xuyên
Với câu hỏi ở 3 mức độ được cho điểm như sau:
Điểm trung bình Mức độ
1-1.6 Không khó khăn
1.61-2.21 Khó khăn
2.22-3 Rất khó khăn
2.1.2.4. Phương pháp thống kê toán học
a. Mục đích nghiên cứu
Xử lý tất cả các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ
sở để biện luận kết quả nghiên cứu.
b. Nội dung nghiên cứu
+ Thống kê mô tả: Tính tổng, trị số trung bình, tần số, tỷ lệ phần trăm.
+ So sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng
một chỉ báo nghiên cứu.
c. Cách thức tiến hành
Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS phiên bản 16.0 để xử lý các dữ
kiện thu được nhằm phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.
44
2.1.2.5. Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập để đánh giá mức độ kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. [Phụ lục 13]
Chúng tôi xây dựng thang đo mức độ kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
dựa theo tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi để quan
sát trẻ trong hoạt động vui chơi và học tập, trò chuyện với GV để đánh giá thực
trạng mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ MG 5-6 tuổi.
Biểu hiện 1. Nhận biết cảm xúc của người khác thông qua 6 bức tranh
Chúng tôi cho trẻ xem 6 bức tranh thể hiện 6 trạng thái cảm xúc: Vui, buồn,
giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ. Yêu cầu trẻ nhận diện lần lượt các biểu hiện
cảm xúc trên khuôn mặt 6 bức tranh.
Tiến hành: cho trẻ quan sát 6 bức tranh có in hình 6 trạng thái cảm xúc. Cô
chỉ vào tranh và hỏi trẻ. “Con thấy nét mặt trong hình này như thế nào? Con hãy
quan sát và nói cho Cô biết các bạn trong tranh đang có cảm xúc gì?”
Biểu hiện 2. Nhận biết 6 cảm xúc vui, buồn, giận dữ, sợ hãi, ngạc nhiên
của bản thân qua các câu hỏi sau:
1. Điều gì làm cho con cảm thấy vui? Con hãy kể câu chuyện mang lại cho
con niềm vui?
2. Điều gì làm cho con cảm thấy buồn? Con hãy kể câu chuyện làm cho
con buồn?
3. Điều gì làm cho con cảm thấy giận dữ? Khi giận dữ con thường làm gì?
4. Điều gì làm cho con cảm thấy xấu hổ? Khi xấu hổ con thường thể hiện
như thế nào?
5. Điều gì làm cho con cảm thấy ngạc nhiên? Tại sao con lại ngạc nhiên?
6. Điều gì làm cho con cảm thấy sợ hãi? Khi sợ hãi con thường thể hiện
như thế nào?
Sử dụng bài tập tình huống qua tranh để đo mức độ thể hiện sự an ủi,
chia vui, kiềm chế cơn giận dữ.
Biểu hiện 3. Thể hiện sự an ủi bạn
45
Ở lớp Lá 2 có bạn Bo đi cầu thang không cẩn thận nên bị thương ở tay,
đến lớp bạn chỉ ngồi một mình. Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem Bo đang có
cảm xúc gì? Nguyên nhân Bo buồn? Nếu con là các bạn trong lớp con sẽ những
cách nào để giúp bạn hết hết buồn?
Biểu hiện 4. Thể hiện chia vui cùng bạn:
Nhân dịp lễ Quốc Khánh nhà trường tổ chức cuộc thi vẽ tranh cho các bạn
lớp Lá. Với chủ đề “Biển đảo quê hương” bạn Lan đã giành giải nhất cuộc thi.
Cô và cả lớp vỗ tay tuyên dương bạn. Con hãy nhìn vào tranh đoán xem bạn
đang có cảm xúc gì? Vì sao? Con thể hiện chia vui với bạn như thế nào? Con
hãy kể những việc con đã từng làm để chia vui cùng bạn?
Biểu hiện 5. Thể hiện biết kiềm chế cảm xúc giận dữ:
Bạn Hoàng đang xây sở thú, Lâm lại chơi và chẳng may làm ngã sở thú của
Hoàng. Con nhìn vào tranh và đoán xem bạn Hoàng đang có cảm xúc gì? Vì
sao? Trong lúc đang giận dữ thì bạn Hoàng nên làm gì?
2.1.3. Tiêu chí và thang đánh giá kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc của trẻ MG 5-6 tuổi.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu KNNBVTHCX cho trẻ MG 5-6 tuổi ở
những biểu hiện sau:
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,
xấu hổ của người khác.
+ Nhận biết các trạng thái cảm xúc vui, buồn, ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận,
xấu hổ của bản thân.
+ Thể hiện sự an ủi với người thân và bạn bè.
+ Thể hiện sự chia vui với người thân và bạn bè.
+ Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ.
Từ các biểu hiện này, chúng tôi đưa ra thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ 5-6 tuổi như sau:
46
Bảng 2.5. Thang đánh giá kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi
Thang đánh giá
Biểu hiện Mức độ 1 Mức độ 2 Mức độ 3
(1 điểm ) (2 điểm ) (3 điểm )
Nhận biết cảm xúc của Nhận ra 1-2 Nhận ra 3-4 cảm Nhận ra 5 -6 cảm
người khác cảm xúc xúc xúc
Nhận ra 3-4 cảm Nhận biết cảm xúc của Nhận ra 1-2 Nhận ra 5- 6 cảm xúc bản thân cảm xúc xúc
Nhận ra cảm xúc Nhận ra cảm xúc, và nói được nói được nguyên Thể hiện sự chia vui Nhận ra nguyên nhân gây nhân và chọn cách với người khác cảm xúc nên cảm xúc giải quyết phù hợp
Nhận ra cảm xúc Nhận ra cảm xúc nói được nguyên Thể hiện sự an ủi Nhận ra và nói được nhân và chọn ra người khác cảm xúc nguyên nhân gây cách giải quyết phù nên cảm xúc hợp
Nhận ra cảm xúc
Nhận ra cảm xúc và nói được Biết kiềm chế cảm xúc Nhận ra và nói được nguyên nhân, đưa giận dữ cảm xúc nguyên nhân ra cách giải quyết
phù hợp
47
2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
2.2.1. Thực trạng nhận thức của BGH và GVMN về kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
2.2.1.1. Quan điểm của BGH, GVMN về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6
tuổi theo chuẩn 9 trong bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi
Sau khi thu thập phiếu thăm dò ý kiến chúng tôi tiến hành tổng hợp quan
điểm của GV và BGH về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi theo chuẩn 9
trong bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi. Và có được những kết quả như sau:
Bảng 2.6. Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc cho trẻ 5-6 tuổi
Quan điểm của giáo viên về kỹ năng nhận biết và Tần số Tỉ lệ (%) thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
a.Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những
người xung quanh. Biết kiềm chế và điều chỉnh cảm 7 20
xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.
b.Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân
và người khác, trên cơ sở đó có những thái độ và hành 4 11.43 vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh và điều
kiện cho phép.
c.Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận,
thích hay không thích của bản thân về vấn đề nào 23 65.71 đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành
động lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.
d.Ý kiến khác… 1 2.86
Tổng 35 100
48
Kết quả bảng 2.6 cho thấy, phần lớn giáo viên chưa hiểu đúng và đầy đủ về
nội dung kỹ năng này. Có 65.71% giáo viên cho rằng kỹ năng NBVTHCX của
trẻ 5-6 tuổi là “khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận, thích hay
không thích về vấn đề nào đó. Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành
động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.” Một số GV đưa ra ví dụ cụ
thể, trẻ có kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là “trẻ nghe nhạc vui sẽ biết
thể hiện cảm xúc vui, trẻ nghe nhạc buồn sẽ thể hiện cảm xúc buồn”. Như vậy,
GV hiểu “thể hiện” theo cách hiểu là thể hiện ra bên ngoài qua diện mạo, lời nói
phù hợp với cảm xúc bên trong của trẻ mà bỏ qua mặt trẻ nhận biết cảm xúc để
thể hiện thái độ và hành vi một cách phù hợp.
Ngoài ra, có 20% giáo viên cho rằng kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của trẻ 5-6 tuổi là “Khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người
xung quanh. Biết kiềm chế và tự điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn
cảnh”. Với cách hiểu này, GV chỉ nói về mặt nhận biết trạng thái của người
khác mà chưa đề cập đến khả năng nhận biết cảm xúc ở bản thân - đó là khả
năng tự nhận thức để có thể kiểm soát và điều chỉnh hành vi của bản thân. Việc
trẻ nhận biết cảm xúc bản thân là cơ sở để trẻ cảm nhận cảm xúc của người
khác. Qua đó trẻ sẽ biết được những cảm xúc vui, buồn của bạn để thể hiện sự
đồng cảm qua hành vi như an ủi, chia vui cùng bạn.
Chỉ có 11.43% giáo viên lựa chọn kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là
“khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên cơ sở đó
có những thái độ và hành vi thể hiện phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho
phép”. Đây cũng là quan điểm chúng tôi cho là phù hợp với nội dung nhất.
Bước đầu tiên trong kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc là trẻ nhận diện được
cảm xúc nghĩa là trẻ có khả năng gọi tên và mô tả được cảm xúc của bản thân và
người khác. Sau đó, dựa trên những suy nghĩ và nhận thức về cảm xúc trẻ sẽ
điều chỉnh thái độ hành vi một cách phù hợp. Tuy nhiên, với tỉ lệ lựa chọn rất
thấp này, một câu hỏi đặt ra. Liệu tính hiệu quả của biện pháp giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi sẽ ra sao? Khiến chúng ta phải tiếp tục suy nghĩ ?
49
A. Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người xung quanh.
Biết kiềm chế và điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.
B. Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên
cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện cho phép.
C. Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận, thích hay không thích
của bản thân về vấn đề nào đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành
động lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.
D.Ý kiến khác…
Biểu đồ 2.1. Nhận thức của GV về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
2.2.1.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
Bảng 2.7. Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
Đánh giá Số lượng Tỉ lệ %
Rất quan trọng 30 85.71
Quan trọng 5 14.29
Ít quan trọng 0 0.0
Không quan trọng 0 0.0
Tổng 35 100.0
50
Kết quả phiếu trưng cầu và phỏng vấn cho thấy BGH và GV có nhận thức
rất tốt về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
Có 85.71% số phiếu cho rằng “rất quan trọng”. Trong khi đó, chỉ có 14.29%
cho rằng “quan trọng” còn mức “ít quan trọng” và mức “không quan trọng”
thì không có lựa chọn nào. Như vậy, mặc dù còn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng
và thật tốt về kỹ năng này, nhưng phần lớn đều cho thấy họ nhận thức rất rõ về
tầm quan trọng của nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Cô N.K.H
(Giáo viên lớp Lá trường mầm non BN) đã chia sẻ: “Giáo dục kỹ năng
NBVTHCX rất có ý nghĩa với trẻ, đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi các em cần chuẩn bị
tốt về mặt tâm lý, biết tương tác giao tiếp với bạn để chuẩn bị vào bậc học tiếp
theo”. Cùng ý kiến trên cô T.T.L ban giám hiệu nhà trường cho rằng “ Đây là
nội dung quan trọng vì nó giúp trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc ở chính bản
thân mình từ đó giúp cho tâm lý trẻ thoải mái, học cách cư xử với bạn bè , hòa
nhập với bạn mới”.
Tuy nhiên, để đi sâu hơn về tỉ lệ của những lựa chọn này, chúng tôi rất
muốn làm rõ hơn liệu các kết quả về mặt nhận thức trên có gắn liền với việc
giáo viên có thường xuyên tổ chức giáo dục nội dung này hay không?
Biểu đồ 2.2. Nhận thức của BGH, GV về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
51
2.2.2. Thực trạng về hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổỉ
Bảng 2.8. Các hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi.
Số Tỉ lệ Đánh giá lượng %
a.Tổ chức một hoạt động dạy cụ thể 5 14.29
b. Lồng ghép các hoạt động tại lớp 24 68.57
c. Để trẻ tự phát triển 3 8.57
d. Cho trẻ đi học lớp kỹ năng NBVTHCX 1 2.86
e. Ý kiến khác 2 5.71
Tổng 35 100
Bảng 2.8 cho thấy BGH và GV đã có nhiều hình thức giáo dục kỹ năng
này cho trẻ. Trong đó, đa số chọn hình thức“Lồng ghép các hoạt động tại lớp”
chiếm tỉ lệ 68.57%, Các hình thức còn lại chiếm tỉ lệ rất thấp“Tổ chức một hoạt
động dạy cụ thể” chỉ chiếm tỉ lệ 8.57%, “Để trẻ tự phát triển” chiếm tỉ lệ
2.86%. Qua phỏng vấn cô P.H (GV lớp Lá trường mầm non HM) đã chia sẻ
“chúng tôi thường tổ chức lồng ghép là chủ yếu còn hình thức tổ chức hoạt động
dạy cụ thể sẽ rất khó, vì nội dung này trừu tượng, lại ít có tài liệu.” Ngoài ra,
hình thức cho trẻ đi học lớp kỹ năng NBVTHCX chiếm tỉ lệ thấp nhất 2.86%.
Cô N.H.V trường MN HH cho rằng lớp dạy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ bên
ngoài không có. Vì vậy, theo cô lựa chọn này là không cần thiết. Tuy nhiên, qua
tìm hiểu thực tế chúng tôi được biết hiện ở TP. HCM có hai trung tâm giáo dục
về lĩnh vực kỹ năng này cho trẻ. Như vậy, có thể thấy lĩnh vực phát triển cảm
xúc là vấn đề rất cần thiết và đã được xã hội quan tâm. Vì vậy, trường mầm non
cần có những cách tiếp cận và quan tâm sâu sắc hơn về lĩnh vực này cho trẻ.
52
Biểu đồ 2.3. Hình thức giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc cho trẻ
Ngoài ra, tổng hợp các phiếu trưng cầu ý kiến, BGH và GV các trường đã
có những kiến nghị như sau: Nên có những tài liệu hướng dẫn phương pháp
giảng dạy, tổ chức trò chơi cụ thể, tạo điều kiện cho trẻ có thêm những chuyến
dã ngoại, tham quan thực tiễn, đặc biệt là sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà
trường. Bên cạnh đó, một số kiến nghị mong muốn đảm bảo số trẻ theo qui định,
không nên quá đông trẻ GV sẽ không có thời gian quan tâm đến cảm xúc của
trẻ.
53
2.2.3. Thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
Bảng 2.9. Thực trạng mức độ sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận
biết và thể hiện cảm xúc của các trường hiện nay
STT Biện pháp Điểm trung bình Thứ hạng
1 Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ. 4.40 1
2 Sử dụng tình huống có vấn đề. 4.11 4
3.91 6 Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc 3
4.37 2 Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài hát. 4
4.03 5 Tận dụng cơ hội phát triển cảm xúc cho trẻ trong giờ sinh hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự do. 5
4.40 1 6 Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ em noi theo.
4.03 5 7 Tăng cường phối hợp giữa gia đình và nhà trường.
3.77 7 Tổ chức sự kiện, lễ hội, trãi nghiệm thực tế ở nhiều môi trường khác nhau. 8
4.11 4 Luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong sinh hoạt hằng ngày. 9
4.23 3 Tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, thân thiện cho trẻ tích cực bộc lộ cảm xúc một cách phù hợp 10
Điểm trung bình chung 4.13
Nhìn vào bảng 2.9 ta thấy, GV đã sử dụng đa dạng các biện pháp giáo dục
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đạt điểm trung bình chung là 4.13 thuộc khoảng
điểm 3.43 - 4.23 ở mức độ sử dụng “thường xuyên”.
Đặc biệt, trong đó có 3 biện pháp được sử dụng“rất thường xuyên” đạt
điểm trung bình cao nhất là 4.40. Bao gồm biện pháp “Đàm thoại, trò chuyện
54
cùng trẻ”. Có thể thấy, biện pháp trò chuyện, đàm thoại cùng trẻ thường diễn ra
hằng ngày. Đây là những lợi thế giúp GV thực hiện dễ dàng và thường xuyên vì
vậy sẽ mang lại hiệu quả tích cực khi sử dụng biện pháp này.Và biện pháp
“dùng tình cảm, làm gương cho trẻ noi theo”. Trẻ em học cách nhận biết cảm
xúc và làm thế nào để thể hiện chúng một cách phù hợp thông qua việc quan sát
người khác - đặc biệt là các bậc cha mẹ, giáo viên và bạn bè của mình.Vì vậy
đây là một trong những biện pháp chúng tôi rất chú trọng. Kết quả rất khả quan
khi GV sử dụng biện pháp này ở mức “rất thường xuyên”. Để kiểm tra mức độ
sử dụng biện pháp của GV qua thực tế. Chúng tôi tiến hành quan sát và nhận
thấy, GV chưa thực hiện tốt về biện pháp này. Cụ thể như sau, khi giận dữ GV
vẫn chưa biết điều chỉnh cảm xúc phù hợp. Một số Cô vẫn nổi nóng, la mắng và
quát tháo khi trẻ không im lặng hay không nghe lời. Một trường hợp đặc biệt ở
lớp Lá 3, trong giờ ăn trưa sau khi các bé đã ăn xong, và chuẩn bị sắp xếp chỗ
ngủ, hai bé trai mãi đùa nghịch ồn ào, Cô nhắc trẻ không nghe, làm Cô nổi giận
và cô đã dắt hai bé vào góc sau lớp và đánh. Tuy Cô đánh trẻ chỉ mang hình thức
dọa trẻ nhưng cách cô thể hiện cảm xúc giận dữ vẫn chưa là tấm gương cho các
em học tập và noi theo. Như vậy, chúng tôi mong muốn những biện pháp GV
lựa chọn sẽ được vận dụng vào thực tế để là tấm gương dạy các em cách bình
tĩnh mỗi khi nóng giận. Để các em kiểm soát cảm xúc tốt hơn ở những bậc học
tiếp theo.
Và biện pháp “sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện,
tranh ảnh, bài hát” cũng được sử dụng ở mức “rất thường xuyên” đạt mức điểm
4.37. Qua phỏng vấn Cô N.H chia sẻ “Trẻ thường dễ dàng bộc lộ cảm xúc ở các
hoạt động nghệ thuật đặc biệt là hoạt động nghe cô đọc thơ, kể chuyện và văn
nghệ. Vì vậy, GV thường lựa chọn những biện pháp này để giáo dục trẻ”.
Bên cạnh đó, các biện pháp được giáo viên sử dụng ở mức độ “thường
xuyên” bao gồm biện pháp “tạo môi trường vui vẻ, thoải mái, thân thiện cho trẻ
tích cực bộc lộ cảm xúc một cách phù hợp” đứng thứ hạng thứ 3 với điểm trung
55
bình là 4.23. Và hai biện pháp “Luyện tập hành vi ứng xử thường xuyên trong
sinh hoạt hằng ngày” và biện pháp “ Sử dụng tình huống có vấn đề” cùng đứng
thứ hạng thứ 4 với điểm trung bình là 4.11. Mặc dù đây là những biện pháp GV
lựa chọn sử dụng thường xuyên nhưng khi chúng tôi tiến hành quan sát và trò
chuyện GV chia sẻ họ thường giải quyết những tình huống trẻ tranh giành và
đánh bạn chứ chưa có nhiều thời gian tạo ra nhiều tình huống để trẻ thể hiện
cảm xúc một cách phù hợp.
Ngoài ra, hai biện pháp mà giáo viên ít sử dụng hơn, xếp theo thứ hạng thứ
5 là biện pháp “Tận dụng cơ hội phát triển cảm xúc và hành vi ứng xử cho trẻ
trong giờ sinh hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự do.” Mặc dù giáo viên lựa chọn
ở mức “thường xuyên” nhưng thực tế chúng tôi quan sát hoạt động trong các
trường chưa có những biện pháp cụ thể để giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Có thể
là do giáo viên chưa nhận thức đúng hoặc là GV chưa được tập huấn biện pháp
phương pháp cụ thể để giáo dục kỹ năng này cho trẻ và họ đã bỏ qua rất nhiều
cơ hội để giáo dục trẻ. Ví dụ: Chúng tôi quan sát tại giờ hoạt động góc các bé
trai đang chơi trò công nhân xây dựng. Số lượng mũ công nhân không đủ cho
các bé. Nam không có mũ cậu lại dành mũ của Huy, Huy một mực không cho,
ngay lập tức Nam nổi giận và đánh Huy. Huy khóc và chạy lại thưa cô giáo. Cô
gọi Nam lại và nói “Bạn lấy mũ trước sao con lại dành mũ và đánh bạn, như vậy
là con đã sai? Con phải xin lỗi bạn ” những tính huống trẻ bộc lộ cảm xúc và
đánh bạn rất thường xuyên xảy ra. Tuy nhiên, GV thường chú ý giáo dục hành
xử đúng sai của trẻ mà chưa chú ý giáo dục mặt cảm xúc cho trẻ. Hoặc khi
chúng tôi đưa ra câu hỏi phỏng vấn tình huống (Câu số 3, phụ lục 6) “Trong tình
huống trẻ A đang xây dựng sở thú. Để hoàn thành sản phẩm trẻ A cần một khối
gỗ hình chữ nhật. Sau một hồi tìm kiếm không thấy trẻ A trở nên nóng giận và
mất trật tự. Trẻ A phát hiện trẻ B đang có khối gỗ đó. Trẻ A hung hăng lại gần
và dành khối gỗ từ tay Trẻ B, Trẻ B dành lại và bị Trẻ B đánh”. Trong trường
hợp này Thầy (Cô) làm gì trước cảm xúc và hành vi của trẻ? Kết quả cho thấy
56
đa số GV đều dạy trẻ về khía cạnh chuẩn mực đạo đức là đúng sai “Các con
đánh bạn là sai” cách giải quyết này có thể giúp trẻ nhận thức được đánh bạn là
sai, nhưng nguyên nhân sâu xa khiến trẻ đánh bạn có thể do trẻ chưa kiếm soát
được cảm xúc nóng giận dẫn đến hành vi đánh bạn thì GV chưa quan tâm, chú
ý. Có 6/15 giáo viên giải quyết “con không được giận dữ”; 3/15 giáo viên “dạy
trẻ phải biết kiềm chế cơn giận” những cách cô giúp trẻ giận dữ là gì? Thì chúng
tôi chỉ nhận được câu trả lời chung chung mà không có giải pháp cụ thể 1/15
giáo viên chia sẻ đầu năm tôi đã đưa ra luật “ con nào vi phạm đánh bạn sẽ bị
khẽ vào tay” vì vậy bé vi phạm sẽ bị đánh. Như vậy cách giải quyết trên cho
thấy đa số GV chú trọng đến giáo dục hành vi của trẻ mà chưa chú ý đến mặt
giáo dục trẻ cách kiểm soát cảm xúc của mình.Và GV chưa có những cách thức
cụ thể để giúp trẻ kiểm soát cảm xúc của bản thân. Theo chúng tôi tình huống
trên diễn ra hằng ngày sẽ giúp trẻ nhớ lâu, dễ hiểu và tiết kiệm về mặt thời gian.
Đây cũng là cơ hội để GV giúp trẻ dán nhãn cảm xúc, việc diễn đạt ngôn từ về
cảm xúc sẽ có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh của trẻ [26, tr.316]. đồng
thời dạy trẻ về cách kiểm soát cảm xúc mỗi khi nóng giận. Tuy nhiên, kết quả
cho thấy hầu như giáo viên đều bỏ qua cơ hội này chưa có những giải pháp và
chú trọng về mặt kiểm soátcảm xúc của trẻ.
Ngoài ra, giờ chơi đóng vai theo cốt truyện là cơ hội để phát triển kỹ năng
này cho trẻ. Ở góc chơi gia đình, các cháu đang chơi trò chơi đóng vai gia đình
rất vui vẻ. Các cháu phân ra làm 3 gia đình: gia đình cháu L, cháu H và cháu N.
Gia đình nhà cháu “L” chăm búp bê là con đang bị ốm. Cháu L thể hiện cảm xúc
rất tốt, trẻ biểu lộ khuôn mặt buồn rầu và lo lắng, biết quan tâm con của mình và
sốt sắng hỏi con muốn ăn cái gì? Tuy nhiên, gia đình bé H và bé N vẫn làm việc
của mình không quan tâm đến gia đình nhà Cháu L nếu chú ý quan sát đây sẽ là
cơ hội rất tốt để Cô giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Ví dụ Cô có thể nhập vai chơi
và gợi ý cho trẻ biết quan tâm,chia sẻ cùng bạn. “À, hôm nay gia đình nhà bạn L
có con bị ốm, bạn L đang rất buồn và lo lắng cho con. Tôi có ý kiến là bây giờ
57
chúng mình cùng mua sữa và trái cây đến thăm gia đình bạn L. Các chị thấy
sao”. Tuy nhiên, thực tế khi chúng tôi quan sát thì các GV hầu như đều bỏ qua
cơ hội này. Đây là một điều rất đáng tiếc. Tận dụng được cơ hội trong hoạt động
vui chơi của trẻ GV sẽ không mất nhiều thời gian, đặc biệt những tình huống
này diễn ra trực tiếp nên trẻ sẽ nhớ rất nhanh. Hơn nữa, ở phần khó khăn GV có
chia sẻ là lớp quá đông nên điều này đã gây những cản trở khó khăn để giáo dục
trẻ. Tuy nhiên, nếu GV biết cách tận dụng cơ hội giáo dục trẻ như chúng tôi
trình bày ở trên thì tiết kiệm được rất nhiều thời gian.Vì vậy, chúng tôi rất đề
cao việc nâng cao nhận thức cho giáo viên trong việc phát triển kỹ năng này cho
trẻ, Đặc biệt là tận dụng những cơ hội giáo dục trong giờ chơi hoặc chế độ sinh
hoạt hằng ngày.
Và biện pháp “Tăng cường phối hợp giữa gia đình và nhà trường” được
GV sử dụng thường xuyên với điểm số trung bình là 4.03.
Sau cùng hai biện pháp được sử dụng ở mức thấp nhất là “Sử dụng các yếu
tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc”.
Và biện pháp “Tổ chức sự kiện, lễ hội, trãi nghiệm thực tế ở nhiều môi trường
khác nhau” .
Thực trạng sử dụng các biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ qua phân tích sản phẩm hoạt động của GV lớp 5-6
tuổi ở một số trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu
Để bổ trợ thêm những thông tin thu được từ các phiếu trưng cầu ý kiến về
thực trạng sử dụng biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi .
Chúng tôi đã tiến hành xem xét kế hoạch giáo dục năm của các trường. Nội
dung này nằm trong lĩnh vực phát triển tình cảm – xã hội. Tuy nhiên, trên kế
hoạch năm ở các trường đã có nội dung này nhưng không được tổ chức giờ học
chính thức mà chỉ lựa chọn lồng ghép trò chuyện trong giờ sinh hoạt hằng ngày.
Ngoài ra, ở lớp Lá 1 trường mầm non BN có dành ra một tuần giáo dục về kỹ
năng này vào tháng 10. (Phụ lục 5)
58
+ Chủ đề “Cảm xúc của bé” diễn ra trong 5 ngày tại lớp Lá 1. Vào giờ trò
chuyện buổi sáng cô cùng trẻ trò chuyện về cảm xúc “Hôm nay bạn cảm thấy
như thế nào?” để trò chuyện cùng trẻ. Còn lại trong tuần GV dành hai ngày dạy
trẻ về cảm xúc. Ngày thứ nhất GV cho trẻ xem tranh những trái cây ngộ nghĩnh
thể hiện những cảm xúc khác nhau và cùng chia sẻ cảm xúc với các bạn. Ngày
thứ hai tiếp tục cho trẻ quan sát hình ảnh khuôn mặt ngộ nghĩnh và sử dụng đất
nặn để tạo cho mình khuôn mặt và thể hiện cảm xúc của bản thân. Giờ chơi ở
hoạt động góc giáo viên cho trẻ sao chép các từ cảm xúc vui, buồn, giận, ngạc
nhiên, dễ thương. Những ngày còn lại giáo viên rèn kỹ năng khác, kết hợp tổ
chức trò chơi và kể chuyện cho trẻ nghe.
Như vậy có thể thấy hình thức Cô T.N giáo dục trẻ chủ yếu là trò chuyện ,
đàm thoại cùng trẻ vào buổi sáng, cho trẻ quan sát tranh về cảm xúc trái cây ngộ
nghĩnh, với mục đích giúp trẻ chia sẻ và nhận biết cảm xúc của bản thân. Mặc
dù nội dung giáo dục của Cô chưa chuyên sâu, chủ yếu dạy trẻ những cảm xúc
vui, buồn, yêu thương. Và thời gian còn hạn chế, nhưng qua đó cũng cho thấy cô
rất quan tâm trong việc giáo dục lĩnh vực kỹ năng này. Ngoài ra, Cô T.N trao
đổi thêm vào dịp lễ trung thu Cô vận động ba mẹ cùng các bé tổ chức nấu những
món ăn hoặc chuẩn bị những món quà nhỏ đem tặng các bạn khó khăn tại địa
phương. Bên cạnh đó, vào ngày lễ hội như 8/3 trước khi đến ngày lễ một tuần cô
đã bàn kế hoạch cho các bé cùng ba bí mật làm món quà tặng mẹ. Có thể thấy
những biện pháp Cô tổ chức đã giúp các bé thể hiện cảm xúc yêu thương, chia
vui với những người thân xung quanh.
Ngoài ra, ở lớp Cô N.H dạy lớp Lá A trường MNHM cũng đã tiến hành tổ
chức giáo dục trẻ ở hoạt động lồng ghép tích hợp theo chủ đề yêu thương hoặc
dạy giá trị sống cho trẻ. Cô đưa ra một số câu chuyện dạy trẻ “ Trái tim yêu
thương”, “ Ai đáng khen nhiều hơn”.
Tóm lại, qua quan sát và phỏng vấn ở 3 trường chúng tôi nhận thấy việc
giáo dục kỹ năng NBVTHCX ở các trường là có áp dụng. Trong đó lớp Cô T.N
59
và cô N.H có tổ chức giáo dục kỹ năng này cho trẻ theo chủ đề và lồng ghép các
hoạt động một cách cụ thể. Đa số GV lựa chọn giáo dục trẻ lồng ghép, tích hợp
lồng ghép vào các hoạt động học tập và vui chơi hằng ngày. Tuy nhiên, GV vẫn
chưa đưa ra những cách thức cụ thể cũng như trò chơi hay câu chuyện để giáo
dục kỹ năng này cho trẻ.
2.2.4. Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ
Kết quả thống kê ở bảng 2.10 cho thấy, trong quá trình giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ. BGH và GV đã gặp những khó khăn nhất định. Với điểm
chung bình chung là 2.19, thuộc khoảng 1.61 - 2.21 thuộc mức độ “khó khăn”.
Trong đó, có hai khó khăn lớn nhất là “Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực
hiện” và khó khăn “Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm xúc của trẻ” đạt
điểm trung bình 2.51. Để tìm hiểu sâu về vấn đề này, chúng tôi tiến hành trao
đổi trực tiếp với GV phụ trách các lớp, nhìn chung GV đều có ý kiến“ Nội dung
giáo dục cảm xúc khó thực hiện và rất trừu tượng, giáo viên lại ít có tài liệu.
Thêm vào đó, phụ huynh họ cũng không quan tâm vấn đề này”. Bên cạnh đó ,Cô
N.H.M. BGH trường MN HH chia sẻ công việc giáo viên quá nhiều và lớp học
quá đông trẻ nên giáo viên ít có thời gian quan tâm đến trẻ. Tuy nhiên, như phân
tích ở trên theo chúng tôi, nếu giáo viên có những biện pháp phù hợp cũng như
biết tận dụng những có hội giáo dục trẻ trong chế độ sinh hoạt hằng ngày cũng
không mất nhiều thời gian để giáo dục kỹ năng này cho trẻ.
60
Bảng 2.10. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
Điểm STT Những khó khăn Thứ hạng trung bình
Chưa được tập huấn về nội dung, phương
1 pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5 2.14 3
- 6 tuổi.
Lớp học đông trẻ 1.74 6 2
Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối 2.09 4 3 hợp
2.51 1 4 Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện
Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm 2.51 1 5 xúc của trẻ
Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên 2.37 2 6 còn hạn chế
Giáo viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo 2.37 2 7 dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần thiết.
Chương trình, tài liệu hướng dẫn về giáo
8 dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ mẫu giáo 2.06 5
trong chương trình còn ít
Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng 2.06 5 9 NBVTHCX cho trẻ còn hạn chế
Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu 2.09 4 10 thực hành kỹ năng NBVTHCX
Điểm trung bình chung 2.19
Khó khăn xếp vị trí thứ hai là “Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên
còn hạn chế” với điểm trung bình là 2.37. Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, Cô
61
N.H BGH trường MNHM chia sẻ: “Để giáo dục kỹ năng này đòi hỏi giáo viên
phải là người rất nhạy cảm, phải nắm được đặc điểm tâm lý cảm xúc ở trẻ.
Theo tôi đây là nội dung không phải giáo viên nào cũng làm được. Cần có sự
quan tâm chỉ đạo sâu sắc ở cấp trên”. Có thể nói để giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ, đòi hỏi GV không chỉ giỏi về mặt kiến thức khoa học mà
cần phải có một trái tim yêu thương, khả năng đồng cảm với trẻ. Chính vì những
khó khăn trên, việc nâng cao nhận thức cho GV về ý nghĩa cũng như phương
pháp giáo dục kỹ năng này là điều cần thiết hiện nay.
Biểu đồ 2.4. Những khó khăn trong quá trình giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
Và khó khăn cùng đứng vị trí thứ hai là“Giáo viên và phụ huynh chưa thấy
việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ là cần thiết”. Kết
quả này khá mâu thuẫn với câu hỏi ở mục 2.2.1.2 về nhận thức của BGH và GV
đối với tầm quan trọng trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX đạt tỉ lệ rất cao,
có 85.71% giáo viên cho rằng nội dung này rất quan trọng. Nhưng đến câu hỏi
này, giáo viên lại cho rằng khó khăn là giáo viên và phụ huynh chưa thấy được
62
sự cần thiết. Thực trạng này khiến chúng ta phải suy nghĩ đâu mới là câu trả lời
đúng? Hơn nữa, nếu giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng của nội dung này
thì chưa thể sử dụng biện pháp phối hợp với phụ huynh. Chính vì vậy, đây cũng
là nguyên nhân dẫn đến khó khăn thứ 4: “Giữa gia đình và nhà trường chưa có
sự phối hợp”. Cô N.H trường MNHH chia sẻ “Nội dung này còn khá mới đối
với PH nên họ chưa thấy được sự quan trọng. Đa số PH quan tâm đến vấn đề
ăn, ngủ hay kiến thức khoa học của con chứ ít ai quan tâm đến cảm xúc”. Đây
cũng là một thực trạng đáng báo động vì hiện nay cha mẹ thường ít dành thời
gian cho con, một số trẻ thường ở nhà với người giúp việc. Trẻ thường thiếu
thốn tình cảm yêu thương của người thân, ít người chuyện trò. Nên trẻ dễ mất
những bệnh về tâm lý như buồn, suy tư và rất dễ nổi giận. Vì vậy, gia đình và
nhà trường cần nhận thấy tầm quan trọng của nội dung này để cùng nhau phối
hợp giáo dục kỹ năng này cho trẻ.
Khó khăn thứ 3 “Chưa được tập huấn về nội dung, phương pháp giáo dục
kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5 - 6 tuổi”. Việc chưa được tập
huấn về nội dung giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6
tuổi sẽ khiến GV không nắm chắc nội dung giáo dục kỹ năng này cho trẻ. Dẫn
tới GV triển khai thiếu và bỏ lỡ những cơ hội hoặc chưa có những biện pháp hỗ
trợ kịp thời để nâng cao kỹ năng này cho trẻ.
Ngoài ra những khó khăn như:“Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu
thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc”và “Chương trình, tài liệu
hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo
trong chương trình còn ít”. “Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận
biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế”. “Lớp học đông trẻ”.Cũng là
nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc hiện nay ở các trường.
63
2.2.5. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng NBVTHCX của
trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non tại TP.HCM
2.2.5.1. Thực trạng nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông
qua sự đánh giá của người nghiên cứu
Qua tiến hành điều tra thực trạng nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ
5-6 tuổi ở 3 trường, bằng phương pháp bài tập đánh giá qua tranh cùng với
phương pháp trò chuyện, quan sát. Kết quả ở bảng 2.11 cho thấy, có sự chênh
lệch rõ giữa điểm trung bình giữa các biểu hiện. Biểu hiện nhận thức về khả
năng “thể hiện chia vui với bạn” đạt mức độ cao nhất với điểm trung bình là
2.47 xếp thứ hạng thứ nhất, 3 biểu hiện còn lại trẻ đạt ở mức trung bình (trong
khoảng điểm là từ 1.7 đến 2.3) đạt ở mức điểm trung bình. Xếp lần lượt là “thể
hiện an ủi bạn” điểm trung bình là 2.20, đứng thứ hạng thứ 2, biểu hiện “nhận
biết cảm xúc của người khác” đứng thứ hạng thứ 3, biểu hiện “thể hiện kiềm chế
cảm xúc giận dữ” điểm trung bình là 2.02, đứng thứ hạng thứ 4, biểu hiện thấp
nhất là “ nhận biết cảm xúc bản thân” thấp nhất với điểm trung bình là 1.78.
Bảng 2.11. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở 3
trường thông qua sự đánh giá của người nghiên cứu
Biểu hiện Điểm trung bình Thứ hạng
1.Nhận biết cảm xúc người khác 2.18 4
2. Nhận biết cảm xúc của bản thân 1.97 5
3. Thể hiện an ủi bạn 2.20 3
4. Thể hiện chia vui với bạn 2.47 1
5. Thể hiện sự kiềm chế cảm xúc giận dữ 2.02 2
Trung bình 2.17
64
2.2.5.2. Thực trạng về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi qua một
số biểu hiện
a. Mức độ nhận thức về kỹ năng NBVTHCX của người khác và bản thân
của trẻ 5-6 tuổi
Việc thiếu vốn từ về cảm xúc và khả năng nhận diện các cảm xúc sẽ gây
khó khăn để trẻ nhận biết cảm xúc của bản thân cũng như của người khác. Trẻ
em cũng giống như người lớn trẻ cũng sẽ trải qua rất nhiều cảm xúc khác nhau
nhưng nhiều khi trẻ không có vốn từ để gọi tên hoặc chưa biết cách nhận diện
chúng việc dạy trẻ về nhận diện cảm xúc là cần thiết. Khi nhận diện cảm xúc sẽ
giúp trẻ biết được mình đang trải qua cảm xúc gì và làm thế nào để kiểm soát
chúng. Đồng thời trẻ sẽ dễ dàng nhận biết được những cảm xúc của người thân
xung quanh để thể hiện sự đồng cảm, biết thể hiện sự quan tâm và chia sẻ cùng
họ. Tuy nhiên, nhìn vào bảng 2.12 cho thấy phần lớn kỹ năng nhận biết cảm xúc
của người khác và bản thân ở 6 cảm xúc, trẻ đạt ở mức trung bình. Cụ thể như
sau ở biểu hiện nhận biết cảm xúc của người khác. Mức Cao chỉ đạt tỉ lệ 19%
trong đó chỉ có 22 trẻ nhận biết được 5-6 cảm xúc. Mức trung bình chiếm tỷ lệ
nhiều nhất 63.8%, có 74 trẻ nhận biết được 3 đến 4 cảm xúc, còn lại mức thấp
chỉ có 20 trẻ nhận biết được 1-2 cảm xúc chiếm tỉ lệ 17.2% . Khi chúng tôi đưa
ra các bức tranh và yêu cầu trẻ quan sát và nói xem những người trong tranh
đang có cảm xúc gì đa phần trẻ nhận biết được các cảm xúc vui, buồn, giận mà
không trả lời được các cảm xúc như ngạc nhiên, sợ hãi, xấu hổ. Để tìm hiểu
nguyên nhân chúng tôi trực tiếp trao đổi với các GV và có được những chia sẻ
sau . Cô D.T.C cho rằng “những cảm xúc vui, buồn, giận dữ thường xảy ra ở
trẻ, diễn ra hằng ngày xung quanh trẻ, trong những câu chuyện. Nên trẻ dễ nhận
diện và hình dung. Còn những cảm xúc xấu hổ, sợ hãi, ngạc nhiên rất khó và
trừu tượng nên chúng tôi cũng không chú trọng, dạy chuyên sâu”, Cô N.T.N
trường MN BN chia sẻ thêm “thực tế ở nội dung này còn khá mới, một phần
cũng không được chú trọng nên chúng tôi cũng chưa có những phương pháp hay
để dạy.
65
Với đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi việc dạy trẻ nhận diện và gọi tên 6
cảm xúc không phải là khó. Điều này cũng cho thấy GV chưa có sự quan tâm
giáo dục đến lĩnh vực này. Đây là điều chúng ta cần quan tâm và suy xét.
Bảng 2.12. Mức độ nhận thức về kỹ năng nhận biết cảm xúc bản thân và
người khác của trẻ 5-6 tuổi
Các mức độ
Biểu hiện Cao 5-6 cx Trung bình 3-4 cx Thấp 1-2 cx
n % 19 22 n % % 63.8 20 17.2 n 74 Nhận biết cảm xúc người khác
71 Nhận biết cảm xúc của bản thân 18 15.5 61.2 27 23.3
Việc thiếu vốn từ vựng và khả năng nhận diện cảm xúc ở mức thấp sẽ gây
khó khăn nhất định để trẻ nhận biết cảm xúc ở bản thân mình. Vì vậy khi sử
dụng thang bài tập đánh giá trẻ ở mức độ nhận biết cảm xúc bản thân, đa số trẻ
chỉ nhận biết được 3 đến 4 cảm xúc mà trẻ nhận thức được như cảm xúc vui,
buồn và giận có 71 trẻ chiếm tỷ lệ 61.2%. Đứng vị trí thứ 2 là mức thấp chiếm
30.2 %. Trong đó nhận biết 5-6 cảm xúc ở bản thân trẻ đạt ở mức thấp nhất. Sau
khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn đa số trẻ nhận diện được cảm xúc vui, buồn,
giận dữ chứ không nhận ra được khi nào mình xấu hổ, ngạc nhiên hay sợ hãi.
Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành cho trẻ nghe một số bản nhạc vui, buồn và hỏi
trẻ con cảm thấy như thế nào khi nghe bản nhạc này. Hầu như trẻ nhận biết rất
tốt mình đang có cảm xúc gì. Còn cảm xúc ngạc nhiên, sợ hãi, xấu hổ chỉ một số
trẻ trả lời được những điều trẻ trải qua để mang lại cho trẻ cảm xúc đó. Nhiều
khi trẻ trải qua những cảm xúc đó nhưng trẻ không biết diễn tả hoặc thiếu vốn từ
vựng về cảm xúc để diễn tả nó.
Như vậy, qua mức độ thang đo ở biểu hiện trên có thể nhận thấy, mức độ
nhận biết cảm xúc của người khác và bản thân trẻ đạt ở mức trung bình. Đa phần
66
trẻ chỉ nhận biết được cảm xúc: vui, buồn, giận qua vui chơi, câu chuyện hoặc
tiếp xúc hằng ngày. Còn đa phần trẻ hạn chế về việc nhận biết cảm xúc ngạc
nhiên, xấu hổ và sợ hãi. trẻ được sự chú trọng quan tâm và giáo dục của Cô.
b. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và kiềm chế cơn
giận dữ của trẻ 5-6 tuổi.
Bảng 2.13. Mức độ nhận thức về kỹ năng thể hiện sự an ủi, chia vui và kiềm
chế cơn giận dữ của trẻ 5-6 tuổi
Các mức độ
Biểu hiện Cao Trung bình Thấp
n % n % n %
Thể hiện sự an ủi với bạn 45 38.8 46 39.7 26 22.4
Thể hiện sự chia vui cùng bạn 67 57.8 36 31 13 11.2
Thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ 40 34.5 59 50.9 17 14.7
Nhìn vào bảng 2.13 ta thấy, so với các biểu hiện sự an ủi và kiềm chế cơn
tức giận. Mức độ nhận thức về mặt thể hiện sự chia vui cùng bạn của trẻ đạt ở
mức cao với tỉ lệ là 57.8%. Trong quá trình phỏng vấn bài tập khi cô hỏi con sẽ
làm gì để chúc mừng bạn? Đa phần trẻ đều biết thể hiện theo những cách khác
nhau như con sẽ ôm bạn, con sẽ nói lời chúc mừng bạn. Song song đó chúng tôi
tiến hành quan sát trẻ thể hiện điều này rất tốt, trẻ rất vui khi hoàn thành xong
bức tranh với bạn, vui vẻ và nắm tay hát cùng bạn, sinh nhật trẻ cùng các bạn
vui vẻ hát chúc mừng sinh nhật bạn. Tham gia làm bài tập nhóm trẻ đoàn kết,
thỏa thuận cùng bạn. Ở biểu hiện “thể hiện sự an ủi bạn” chỉ có 45 trẻ đạt ở
mức 3 chiếm tỷ lệ 38.8%, mức trung bình có 46 trẻ đạt tỷ lệ 39.7%, mức thấp
chỉ có 26 trẻ chiếm tỷ lệ 22.4%. Biểu hiện “thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ”
đạt ở mức trung bình, có 40 trẻ đạt ở mức cao chiếm tỷ lệ 34.5%. Trong khi đó,
có 59 trẻ đạt ở mức trung bình ở tỷ lệ phần trăm cao nhất là 50.9%. Mức thấp
67
nhất là 17 trẻ chiếm tỷ lệ 14.7%. Để hiểu rõ hơn mặt nhận thức của trẻ ở biểu
hiện “thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ” chúng tôi trò chuyện với 5 trẻ trong lớp
thường thể hiện cảm xúc giận dữ và có hành vi đánh bạn. Với câu hỏi “Khi giận
dữ con thường làm gì để giữ bình tĩnh?” Thì không trẻ nào có câu trả lời phù
hợp. “Con thường giận dữ khi nào?” Thì chỉ có 3/5 trẻ trả lời được, còn lại các
trẻ khác im lặng và không có câu trả lời.
Từ những kết quả và phân tích trên cho thấy mức độ nhận thức về kỹ năng
NBVTHCX của trẻ MG 5-6 tuổi ở mức trung bình với điểm chung bình chung
là 2.17.
2.2.5.3. Thực trạng nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông
qua sự đánh giá của GV
Bảng 2.14. Nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi thông qua sự
đánh giá của GV
Các mức độ
Biểu hiện Trung bình Thấp Cao
Nhận biết cảm xúc của người khác 53.1 10.6 38.1
Nhận biết cảm xúc của bản thân 37.5 8.1 54.4
Thể hiện sự an ủi với bạn 47.5 11.3 41.2
Thể hiện sự chia vui cùng bạn 27.4 7.6 65
Thể hiện sự kiềm chế cơn giận dữ 45.6 17.7 36.7
Bên cạnh việc tiến hành đo mức độ kỹ năng NBVTHCX ở trẻ, đề tài cũng
tiến hành đo mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ MG 5-6 tuổi qua sự đánh giá
của GV. Nhìn vào bảng 2.14 cho thấy, mức độ biểu hiện kỹ năng NBVTHCX
của trẻ MG 5-6 tuổi cụ thể như sau. Có 65% GV đánh giá biểu hiện “thể hiện sự
chia vui cùng bạn” và 54.4% GV đánh giá “nhận biết cảm xúc của bản thân” đạt
mức độ cao. Kế đó 3 biểu hiện còn lại được GV đánh giá ở mức trung bình lần
lượt là “Nhận biết cảm xúc của người khác” đạt tỉ lệ 53.1%, biểu hiện “Thể hiện
68
sự an ủi với bạn” có tỉ lệ 47.5% và thấp nhất là biểu hiện “Thể hiện kiềm chế
cơn giận dữ” chiếm tỉ lệ 45.6%.
Qua kết quả đánh giá về mức độ của từng biểu hiện ở kỹ năng NBVTHCX
của trẻ 5-6 tuổi ở giáo viên trực tiếp dạy lớp Lá cho thấy, kết quả khá logic với
khảo sát thực tế ở trẻ. Tuy nhiên, ở biểu hiện “nhận biết cảm xúc của bản thân”
có số điểm tương đối khác giữa đánh giá của GV và người nghiên cứu. Để tìm
hiểu sự khác biệt này chúng tôi có tiến hành quan sát trẻ và trao đổi với GV, Cô
N.H.G cho biết “Đối với 3 cảm xúc vui, buồn, giận dữ trẻ nhận biết rất tốt vì đây
là những cảm xúc trẻ thường được nghe nói tới và gần gũi với trẻ. Còn những
cảm xúc xấu hổ, ngạc nhiên, sợ hãi không thường xuyên xảy ra nên trẻ rất ít cảm
nhận và biết tới”. Chúng tôi chủ yếu đánh giá trẻ nhận biết cảm xúc vui, buồn,
giận mà trẻ thường gặp phải. Vì vậy đã tạo nên sự khác biệt trong kết quả trên.
69
Tiểu kết chương 2
Kết quả khảo sát thực trạng giúp chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
Đa số BGH và GV các trường mầm non tham gia vào nghiên cứu đều có
cách hiểu chưa phù hợp về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6
tuổi. Chỉ có 11.43% GV có quan điểm đúng với nội dung giáo dục kỹ năng này.
Bên cạnh đó, về tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ
có 85.71% GV cho rằng rất quan trọng và 14.29% GV cho rằng quan trọng và
không có lựa chọn nào là ít quan trọng và không quan trọng. Tuy nhiên, qua quá
trình khảo sát thực tế kết hợp nhiều phương pháp khác nhau chúng tôi nhận
thấy. Việc giáo dục kỹ năng này cho trẻ chưa thực sự được quan tâm và chú
trọng. Cụ thể như sau:
1. Kết quả khảo sát về mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6
tuổi ở mức trung bình. Biểu hiện “Thể hiện chia vui với bạn” ở mức cao có điểm
trung bình cao nhất là 2.47. Riêng 3 biểu hiện còn lại trẻ đạt ở mức trung bình
xếp lần lượt theo thứ hạng từ thứ 2 đến cuối cùng là “Thể hiện sự an ủi bạn”,
“thể hiện sự kiềm chế cảm xúc giận dữ”, “Nhận biết cảm xúc của người khác
qua 6 cảm xúc”, thấp nhất là biểu hiện “nhận biết cảm xúc của bản thân qua 6
bức tranh”. Trong đó ở biểu hiện nhận biết cảm xúc bản thân và người khác hầu
như trẻ chỉ nhận biết được 3 cảm xúc: vui, buồn, giận. Vốn từ và khả năng nhận
biết 3 cảm xúc còn lại: sợ hãi, xấu hổ, ngạc nhiên là rất thấp. Về mặt thể hiện
cảm xúc trẻ thể hiện việc chia vui với bạn ở mức cao, riêng biểu hiện “thể hiện
sự an ủi với bạn” và biểu hiện “Thể hiện sự kiềm chế cảm xúc của trẻ” đều đạt ở
mức trung bình.Trẻ chưa biết dùng lời hoặc hành động để an ủi và những cách
để giữ bình tĩnh mỗi khi giận dữ.
2. GV thực hiện biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
chủ yếu là hình thức lồng ghép. Ba biện pháp được GV sử dụng rất thường
xuyên là “Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ”, “Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ
70
noi theo”, “Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài
hát.” Tuy nhiên, qua quá trình quan sát và phỏng vấn chúng tôi nhận thấy mức
độ sử dụng các biện pháp chưa được sử dụng ở mức “rất thường xuyên” như đã
lựa chọn. Bên cạnh đó, GV đã bỏ qua rất nhiều cơ hội để giáo dục trẻ đặc biệt là
trong hoạt động vui chơi. Khi được quan sát và trò chuyện với GV về những trò
chơi, câu chuyện GV đã tổ chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho thấy GV vẫn
còn hạn chế về trò chơi và câu chuyện nội dung chưa phong phú, đa dạng để
giáo dục trẻ.
3. Ngoài ra, trong quá trình tổ chức giáo dục kỹ năng này cho trẻ GV còn
gặp những khó khăn nhất định, trong đó GV có 4 khó khăn nổi bật là “Nội dung
giáo dục cảm xúc khó thực hiện”, “Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm
xúc của trẻ”, “Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên còn hạn chế, “Giáo
viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần
thiết”. Và những khó khăn khác như: “Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu
cầu thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc”và “Chương trình, tài liệu
hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo
trong chương trình còn ít”. “Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế”. “Lớp học đông trẻ”.
Từ việc khảo sát thực trạng giáo dục này, cùng với những buổi trò chuyện,
phỏng vấn với BGH và GV là những căn cứ thực tiễn làm tiền đề để chúng tôi
đề xuất các biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
71
Chương 3. ĐỀ XUẤT VÀ THỰC NGHIỆM MỘT SỐ
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KỸ NĂNG NHẬN BIẾT
VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
3.1. Cơ sở đề xuất một số biện pháp
3.1.1. Dựa vào cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Kỹ năng NBVTHCX không có sẵn mà được hình thành trong quá trình
giáo dục và luyện tập lâu dài. Vì vậy cần có những biện pháp hiệu quả nhằm
nâng cao kỹ năng này cho trẻ.
- Xuất phát từ lý luận dạy học hiện đại với xu hướng dạy học “Lấy người
học làm trung tâm”.
- Xuất phát từ chương trình giáo dục mầm non 2009 và Bộ chuẩn phát triển
trẻ em 5 tuổi do Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam ban hành vào năm 2010.
3.1.2. Dựa vào kết quả khảo sát thực trạng
- Biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi và thực trạng
mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở 3 trường.
3.2. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và lâu dài
Sự phát triển nhân cách và trí tuệ của trẻ mầm non đang ở giai đoạn vừa
mới hình thành. Do đó ,việc giáo dục trẻ phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ cái
đã biết đến cái chưa biết. Khi tổ chức giáo dục phải luôn dựa vào những tri thức,
kỹ năng, thói quen, những kinh nghiệm sống của trẻ để tiến hành giáo dục.
Trong suốt quá trình giáo dục, mỗi kỹ năng được hình thành phải được củng cố
và luyện tập thường xuyên. Từ đó, mới hình thành ở trẻ những thói quen, thuộc
tính vững chắc trong nhân cách của trẻ.
3.2.2. Nguyên tắc tạo môi trường cảm xúc tích cực
Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ MG là rất thích được yêu thương và
được quan tâm. Sự yêu thương của GV và những người thân xung quanh dành
72
cho trẻ sẽ hình thành ở trẻ những điều tốt đẹp, có được tâm lý vững vàng. Từ đó,
trẻ dễ dàng đáp ứng tình cảm yêu thương, quan tâm của mình đến với mọi
người. Vì vậy, trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX nguyên tắc tạo môi
trường cảm xúc tích cực, đầy yêu thương được coi là nguyên tắc chủ đạo xuyên
suốt trong quá trình giáo dục trẻ.
3.2.3. Nguyên tắc tôn trọng trẻ
Mỗi trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý phát triển khác nhau. Vì vậy
phải có định hướng giáo dục đối với sự phát triển cá tính riêng ở từng em. Trong
quá trình tổ chức giáo dục GV cần quan sát và trao đổi với phụ huynh để nắm rõ
đặc điểm tính cách từng em, chú ý đến trạng thái tâm lý, thể chất và tâm hồn của
mỗi trẻ. GV cần nhận biết trẻ trong những thời điểm nhất định với những đặc
điểm riêng, tôn trọng những đặc điểm tâm lý cá tính riêng cũng như những đặc
điểm về thể chất và tinh thần, những thói quen của trẻ. Nguyên tắc này rất quan
trọng đối với nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX Vì mỗi trẻ sẽ có nhu cầu
chia sẻ, trao đổi, thể hiện cảm xúc khác nhau có trẻ thích lắng nghe, có trẻ thích
ôm ấp. Nếu Cô nắm được đặc điểm cá nhân và thể hiện sự tôn trọng lắng nghe
trẻ sẽ góp phần mang lại hiệu quả cao trong giáo dục.
3.2.4. Nguyên tắc khả thi
Các biện pháp phải dựa trên cơ sở đặc trưng của việc hình thành kỹ năng
sống của trẻ mầm non cũng như các điều kiện thực tế tại mỗi vùng miền để đảm
bảo tính thực thi. Đồng thời có sự kết hợp có hệ thống, mềm dẻo, linh hoạt đảm
bảo trẻ được hoạt động trải nghiệm thể hiện được tính tích hợp đặc thù của
ngành Mầm non.
Tóm lại việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi cần thực hiện
nghiêm túc 4 nguyên tắc trên. Sự quán triển 4 nguyên tắc này sẽ là cơ sở đảm
bảo cho sự thành công trong việc giáo dục nâng cao kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ.
73
3.3. Một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho
trẻ 5-6 tuổi
3.3.1. Biện pháp 1: Tổ chức tập huấn đào tạo giáo viên về nội dung,
phương pháp giảng dạy.
a. Mục đích và ý nghĩa
Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy, đa phần GV chưa được tập huấn về
phương pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Bên cạnh đó, giáo viên chưa
có nhiều tài liệu và thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của nội dung. Do vậy,
việc cung cấp bồi dưỡng các phương pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho
GV là rất quan trọng. Bởi vì khi nắm được nội dung, ý nghĩa, phương pháp thì
GV mới có thể tổ chức hiệu quả biện pháp giáo dục kỹ năng này cho trẻ.
Dạy kỹ năng không chỉ làm cho người học hiểu mà cần phải biết vận dụng
trong cuộc sống. Do đó, nếu được tham gia đào tạo một cách bài bản và chuyên
nghiệp. Giúp cho người học luôn chủ động vận dụng được vào trong cuộc sống.
Như vậy dạy học mới có ý nghĩa đối với trẻ.
b. Nội dung và cách thực hiện.
- Xây dựng và xác định các tiêu chí của kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
- Tập huấn cho GVMN về nội dung và phương pháp giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ.
3.3.2. Biện pháp 2 : Tạo môi trường học tập tích cực
a. Mục đích và ý nghĩa
Trong công tác giáo dục, môi trường được ví như người thầy thứ hai trong
việc hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động và kích thích sự hứng thú tham
gia tích cực ở trẻ, nhằm rèn luyện các kỹ năng của mình.
Một môi trường học tập rộng mở, thoáng mát, với những đồ dùng, đồ chơi
an toàn, đa dạng, phong phú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào các
hoạt động học tập một cách tích cực. Đặc biệt, khi tổ chức trò chơi cảm xúc GV
74
chuẩn bị những đồ dùng đồ chơi đẹp mắt sẽ cuốn hút trẻ tham gia một cách tích
cực sẽ thúc đẩy trẻ phát triển các kỹ năng.
Ngoài ra, việc bố trí các góc chơi cần hợp lý, thuận tiện, sẽ tạo cho trẻ tâm
lý thoải mái, kích thích tính tích cực tham gia ở trẻ. Sẽ là điều kiện thuận lợi cho
trẻ được khám phá và phát triển tính sáng tạo trong hoạt động học tập của mình.
Khi tham gia hoạt động đòi hỏi trẻ tương tác, biết điều chỉnh cảm xúc, chia sẻ và
học cách lắng nghe trao đổi cùng bạn. Từ đó, hình thành cho trẻ sự tự tin và hòa
đồng và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.
Bên cạnh môi trường vật chất, môi trường tâm lý thân thiện, giàu tình yêu
thương, sự ấm áp giữa cô và trẻ, giữa trẻ và trẻ, giữa trẻ và môi trường xung
quanh sẽ tạo cơ hội cho trẻ được tương tác, tham gia nhiệt tình vào các hoạt
động với bạn bè. Sống trong bầu không khí tâm lý thoải mái, dễ chịu trẻ sẽ dễ
dàng hòa đồng, cởi mở và chia sẻ cảm xúc của mình cùng Cô và các bạn. Từ đó,
sẽ tạo cho trẻ phát huy những năng lực và tích cực rèn luyện các kỹ năng của
mình.
b. Nội dung và cách tiến hành
+ Tạo môi trường vật chất
GV cần bố trí không gian và tạo ra các góc chơi đảm bảo rộng rãi, thoáng
mát, vệ sinh phù hợp với các hoạt động của trẻ. Khi trang trí góc chơi cần chú ý
đến bố cục màu sắc, tính thẩm mỹ để thu hút và kích thích trẻ hứng thú hoạt
động.
Trong hoạt động giáo dục kỹ năng NBVTHCX, GV có thể tạo cho trẻ góc
hoạt động cảm xúc bằng những tranh vẽ khuôn mặt còn để trống để trẻ bộc lộ
cảm xúc lên tranh vẽ. Hoặc trên góc tường GV dán những tranh vẽ cảm xúc
hoặc hình chụp trẻ với nhiều cảm xúc khác nhau. Qua đó sẽ giúp trẻ nhận biết
cảm xúc của mình và của bạn. Ngoài ra, GV có thể tổ chức các hoạt động phong
phú, hấp dẫn kích thích trẻ rèn luyện và bộc lộ các kỹ năng. GV có thể chuẩn bị
những con rối búp bê với những khuôn mặt cảm xúc khác nhau để trẻ đóng vai
75
cùng bạn. Có thể nhập vai và tưởng tượng ra các câu chuyện cảm xúc trẻ và bạn
đã trải qua. Hoặc GV chuẩn bị sẵn các khuôn mặt cảm xúc để trẻ gắn tên lên
bảng cảm xúc của mình “Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?”. Để trẻ nhận
biết và kiểm soát cảm xúc của mình một cách phù hợp.
Việc bố trí đồ dùng, đồ chơi cần được sắp xếp thuận tiện cho trẻ dễ cất và
dễ lấy. Không gian trẻ di chuyển cần dễ dàng, khuyến khích trẻ tham gia hoạt
động cùng các nhóm chơi, tạo điều kiện để trẻ phát huy và bộc lộ các kỹ năng.
+ Tạo môi trường tâm lý thân thiện, giàu tình yêu thương và sự ấm áp.
Để trẻ tham gia tích cực trong lớp học GV tạo bầu không khí tích cực và
ấm áp. GVcần phải lắng nghe, tôn trọng, hiểu trẻ và thân thiện bằng cách tham
gia chơi cùng trẻ ủng hộ các ý tưởng của trẻ, trò chuyện cùng trẻ từ đó sẽ giúp
trẻ dễ mở lòng mình khi chia sẻ những cảm xúc. Ngoài ra, để tạo bầu không khí
vui vẻ trong lớp học GV tránh so sánh các trẻ với nhau, cư xử công bằng, nhẹ
nhàng đồng thời giúp trẻ có cơ hội sửa sai rút kinh nghiệm bài học cho chính
mình. Những trẻ được sống trong môi trường lớp học thân thiện, yêu thương
đoàn kết sẽ biết quan tâm và yêu thương các bạn. GV có thể sưu tầm, tổ chức
một số trò chơi tạo cho trẻ được thể hiện sự quan tâm và yêu thương lẫn nhau.
Chúng tôi đề xuất một số trò chơi GV có thể tổ chức trong lớp học tạo cho trẻ
được sống trong một môi trường đầy yêu thương và gắn bó cùng nhau
(Phụ lục 9).
3.3.3. Biện pháp 3: Xây dựng một số tiết dạy để giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ
a. Mục đích và ý nghĩa
Dạy học cho trẻ mẫu giáo là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và
người học được tổ chức có hệ thống, có kế hoạch, có mục đích nhằm hình thành
các năng lực nhận thức cho trẻ, trang bị cho trẻ hệ thống tri thức sơ đẳng, hình
thành các kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và trên cơ sở đó góp phần hình thành nhân
cách cho trẻ mẫu giáo.
76
Tùy theo mục đích dạy học GV có thể tổ chức dạy học cho trẻ dưới nhiều
hình thức khác nhau, trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng này, ngoài việc tổ chức
dạy trẻ mọi lúc mọi nơi, lồng ghép các hoạt động vui chơi hằng ngày. Chúng tôi
tiến hành dạy trẻ theo hình thức lên “tiết dạy”. Với mục đích qua những tiết dạy
GV giúp trẻ hệ thống và chính xác hóa những biểu tượng mà trẻ lĩnh hội trong
đời sống hằng ngày và tích lũy thêm những kiến thức mới để vận dụng vào trong
cuộc sống.
Hơn nữa, kết quả khảo sát chương 2 cho thấy, mức độ kỹ năng NBVTHCX
của trẻ 5-6 tuổi ở mức trung bình. Ở tiêu chí nhận biết cảm xúc của người khác
qua tranh, cho thấy vốn từ vựng về cảm xúc của trẻ ở mức thấp đa phần trẻ chỉ
nhận biết được 3 cảm xúc: vui, buồn, giận. Theo nghiên cứu cho thấy, việc diễn
đạt ngôn từ về cảm xúc có tác động xoa dịu đối với hệ thần kinh và giảm bớt các
phản ứng trong vùng hạch hạnh nhân của não và tăng các hoạt động ở vùng rìa
phải và giữa vỏ não từ đó sẽ giúp trẻ nhận thức được cảm xúc của mình và làm
giảm các hành vi ở trẻ. Qua những tiết dạy sẽ giúp trẻ có vốn từ vựng về cảm
xúc để mỗi khi trẻ trải qua các cảm xúc trẻ đều có thể gọi tên để nhận thức cảm
xúc từ đó có thể kiểm soát cảm xúc và đồng cảm với bạn [26, tr.316].
Bên cạnh đó, ở phần “Những khó khăn giáo viên gặp phải trong quá trình
giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ”. Yếu tố gây khó khăn đối với GV là “Nội
dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ khó thực hiện”. Với điểm trung bình
cao nhất là 2.51. Đồng thời GV chia sẻ nội dung giáo dục cảm xúc trừu tượng, ít
tài liệu nên đa số GV đã lựa chọn hình thức lồng ghép là chủ yếu.
Dựa trên cơ sở lý luận, chương trình Bộ giáo dục đào tạo và thực trạng biện
pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX. Chúng tôi đã soạn giáo án lên tiết dạy trẻ
qua 6 giờ dạy.
b. Nội dung và cách tiến hành
Nội dung chính của mỗi bài học giúp trẻ nhận diện 6 loại cảm xúc, đồng
thời dạy trẻ biết cảm nhận nỗi buồn và chia vui với bạn thông qua bài tập tình
huống tranh vẽ, trò chơi, câu chuyện.
77
Giờ học 1: Giới thiệu chung về cảm xúc.
Giờ học 2, giờ học 3, giờ học 4: Tập trung dạy trẻ nhận diện cảm xúc vui,
buồn, ngạc nhiên, sợ hãi và xấu hổ. Đồng thời phân tích tranh về tình huống, trẻ
thảo luận những cách chia sẻ và chia vui cùng bạn.
Giờ học 5 và giờ học 6: Dạy trẻ về cách nhận diện cảm xúc giận dữ và
cách giữ bình tĩnh bằng cách sử dụng “Kỹ thuật Rùa”. Với trẻ mầm non thường
có nhiều vấn đề (dành đồ chơi, trẻ chạm vào bạn, làm đổ khối lắp ghép của bạn)
khiến trẻ khó chịu có khi giận dữ và dẫn đến hành vi đánh bạn. Qua phần khảo
sát chúng tôi nhận thấy đa phần GV gặp khó khăn trong việc giúp trẻ kiểm soát
cơn giận dữ để điều chỉnh hành vi của trẻ. Thường thì GV sử dụng những câu
nói “Con hãy bình tĩnh”. Cách nói này thật khó để giúp trẻ kiểm soát và thay đổi
hành vi. Đôi khi nó có thể làm tăng thêm phản ứng tức giận của trẻ. Vì vậy,
chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật Rùa để cung cấp cho trẻ chiến lược để thay đổi
suy nghĩ của mình và thúc đẩy sự tự điều chỉnh. “Kỹ thuật Rùa” là một chiến
lược về sự thay đổi hành vi đã được sử dụng thành công trong giáo dục mầm
non ở độ tuổi mẫu giáo. Kỹ thuật Rùa ban đầu được phát triển để dạy người lớn
về kỹ năng quản lý cơn tức giận. Sau đó được điều chỉnh và tích hợp vào trong
chương trình kỹ năng xã hội cho trẻ mẫu giáo. Rùa mô tả một thời gian ông đã
thất vọng ở trường. Rùa đã chứng minh làm thế nào rùa nghĩ là tốt nhất cho
mình, Rùa suy nghĩ “dừng lại” sau đó đi vào vỏ bọc của mình và hít thở sâu ba
cái. Sau đó rùa tự suy nghĩ với chính mình, “Tôi có thể bình tĩnh lại và nghĩ một
số giải pháp để giải quyết vấn đề” Để có được mức độ hiệu quả cao giáo viên có
thể mời các em thực hành bí quyết của Rùa [62] (Phụ lục 12).
3.3.4. Biện pháp 4: Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc
giáo dục kỹ năng NBVTHCX
a. Mục đích và ý nghĩa
Nghiên cứu đã cho thấy, cách cha mẹ đối xử với con cái như nghiêm khắc,
thông cảm, dửng dưng hay yêu thương… đều có ảnh hưởng sâu sắc và lâu bền
78
đối với đời sống xúc cảm của trẻ. [10,tr.263] Gia đình là nơi trẻ nhận được sự
giáo dục cảm xúc đầu tiên. Ngay từ bé, đứa trẻ nhận được sự quan tâm, yêu
thương và gắn bó của cha mẹ sẽ có đời sống tâm lý ổn định và thể hiện cảm xúc
tốt hơn. Trẻ cảm nhận được những tình cảm sâu lắng sẽ dễ dàng học tập tốt và
mang lại cho người thân xung quanh sự vui vẻ và hạnh phúc. Sự phối hợp của
cha mẹ và nhà trường sẽ có ý nghĩa quan trọng để phát triển kỹ năng này cho trẻ.
Qua việc trao đổi với giáo viên sẽ giúp cha mẹ hiểu được con mình trong môi
trường lớp học cũng như thấy được sự cần thiết và phương pháp giáo dục trẻ. Từ
đó, cha mẹ sẽ hỗ trợ và mở rộng việc giáo dục cảm xúc cho trẻ tại nhà; ngược lại
qua trao đổi thông tin với gia đình sẽ giúp giáo viên nắm được đặc điểm tâm lý
của trẻ khi ở nhà. Việc dạy kỹ năng cho trẻ là một quá trình rèn luyện lâu dài sự
thống nhất trong giáo dục giữa gia đình và nhà trường sẽ tạo điều kiện phát triển
liên tục trong việc học tập và giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.Vì vậy sự
phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường sẽ là nền tảng quan trọng để nâng cao
sự phát triển kỹ năng này cho trẻ.
b. Nội dung và cách tiến hành
Trong những buổi họp hoặc khi đón trả trẻ GV có thể trao đổi với cha mẹ
về vai trò quan trọng của việc giáo dục cảm xúc cho con mình. Mời cha mẹ
tham gia vào hoạt động của trẻ tại trường (ngày 8/3, sinh nhật bạn, giúp đỡ các
bạn khó khăn..) nếu có thể cùng đi với trẻ đến các trường thăm các bạn khuyết
tật. Giúp cha mẹ nhận thấy được hình thức, phương pháp và các hoạt động tổ
chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX để giáo dục trẻ tại nhà. Sự có mặt tham gia
của cha mẹ sẽ làm tăng hứng thú và trẻ sẽ thấy được ý nghĩa trong mỗi hoạt
động.
Tuyên truyền cho cha mẹ tầm quan trọng cũng như biện pháp để giáo dục
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ ở nhà. Cha mẹ cần giáo dục trẻ bằng tình yêu
thương là tấm gương cho trẻ học tập và noi theo. Tận dụng cơ hội để trẻ nhận
biết cảm xúc và đối phó với cảm xúc của mình.
79
Cuối mỗi chủ đề, học kỳ GV trao đổi về kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc của trẻ và lắng nghe phụ huynh để điều chỉnh kế hoạch giáo dục trẻ, đề nghị
với phụ huynh những vấn đề cần phối hợp với trường mầm non.
3.3.5. Biện pháp 5: GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ
a. Mục đích và ý nghĩa
Theo quan điểm nhận thức xã hội của Albert Bandura “Trẻ em quan sát,
nhận thức hành vi của người khác để hình thành hành vi của trẻ em”. Trẻ em
thường nhạy cảm và dễ dàng học theo cách hành xử của những người thân xung
quanh trẻ. Ví dụ: Trẻ gái thường có những hành vi bắt chước mẹ như: mang giày
cao gót, bôi son còn trẻ trai thường bắt chước bố cạo râu. Hằng ngày khi đến
trường GVMN là người mà trẻ thường xuyên tiếp xúc. Vì vậy, có thể nói mọi
hành vi cử chỉ, lời nói và hành động của Cô đều có những tác động, ảnh hưởng
rất lớn đối với trẻ. Tuy nhiên, qua khảo sát thực trạng kết quả Chương 2 cho
thấy, GV vẫn chưa thực hiện tốt biện pháp này. Một số GV vẫn chưa kiểm soát
tốt cảm xúc giận dữ, khi giận dữ Cô vẫn thể hiện sự quát tháo, la mắng hay đánh
đập trẻ. Cách mà Cô thể hiện cảm xúc sẽ có thể để lại dấu ấn xấu trong lòng trẻ.
Khi lớn lên trẻ sẽ khó kiểm soát cảm xúc và có xu hướng bạo lực. Vì vậy, biện
pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX qua việc GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc
trẻ là cực kì quan trọng và có ý nghĩa.
b. Nội dung và cách thực hiện.
GV làm mẫu qua hành vi sẽ tạo ra một môi trường tích cực, giúp trẻ cảm
thấy an toàn, để có thể học hỏi và áp dụng các kỹ năng vào cuộc sống.
Trong quá trình chăm sóc, giảng dạy, có những lúc giáo viên cảm thấy giận
dữ hay phiền muộn về trẻ. Việc đầu tiên giáo viên cần làm là giữ bình tĩnh và
điều chỉnh cảm xúc của mình cho phù hợp. Giáo viên không nên thể hiện sự
giận dữ bằng lời nói gay gắt, khó chịu để la mắng hay trách phạt trẻ. Bằng cách
phù hợp nhất GV hãy giáo dục trẻ một cách nhẹ nhàng và đầy yêu thương. Để
trẻ học được cách phản ứng cảm xúc giận dữ của Cô. Mỗi sáng Cô có thể cho trẻ
80
ngồi thành vòng tròn và kể về những cách Cô đã làm khi Cô cảm thấy giận dữ.
Ví dụ: Cô đã cảm thấy giận dữ khi có ai đó vẽ bậy lên tường nhà Cô. Lúc đó, Cô
đã hít thở sâu ba cái và suy nghĩ về điều gì đó để thư giãn, khi cảm thấy bình
tĩnh Cô đã nghĩ ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề của mình. Hoặc Cô có
thể tạo tình huống từ câu chuyện hoặc tranh vẽ về những cách mà mọi người
xung quanh xử lý khi có cảm xúc tức giận. Những tình huống Cô lựa chọn để kể
thường là những chuyện gần gũi và gắn liền với đời sống mà trẻ thường gặp.
Ngoài ra, GV làm mẫu cho trẻ cách giáo viên chia sẻ niềm vui, nỗi buồn
với người khác. Trẻ mầm non không thể nhận thức đằng sau hành vi của giáo
viên. Qua mỗi việc làm giáo viên có thể kể lại những gì mình đã làm cho trẻ
khác hiểu và làm theo. Ví dụ: Cô đã trò chuyện và hát cho bạn Hoa nghe, bạn ấy
buồn vì chú chó của bạn đã bị bệnh mấy ngày qua. Việc giải thích của Cô sẽ
giúp trẻ hiểu và khơi gợi ở trẻ thái độ tích cực và lòng mong muốn băt chước
hành động đó.
3.3.6. Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ
a. Mục đích và ý nghĩa
Truyện kể vốn là nguồn suối mát nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ và cũng là lợi
thế để GV giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Mỗi khi Cô kể chuyện trẻ
thường tỏ ra rất yêu thích và chăm chú lắng nghe. Mỗi tình tiết câu chuyện đều
mang đến cho trẻ sự tò mò và trải nghiệm nhiều cảm xúc khác nhau. Có lúc, trẻ
đồng cảm với những cảm xúc nhân vật đang trải qua , có lúc trẻ không đồng tình
cách cư xử của các nhân vật. Từ những tình huống cảm xúc nhân vật gặp phải
trong câu chuyện khiến trẻ liên tưởng đến tình huống thực tế của bản thân. Từ
đó, sẽ giúp trẻ tăng thêm vốn từ vựng về cảm xúc và học cách thể hiện, phản
ứng với cảm xúc một cách phù hợp. Ngoài ra, trong quá trình kể chuyện những
câu hỏi đàm thoại, tình huống vấn đề cô đặt ra sẽ giúp trẻ phát triển khả năng
tưởng tượng, tư duy và năng lực đồng cảm khi đặt mình vào vị trí người khác để
giải quyết vấn đề. Sự kết hợp đàm thoại giữa Cô và trẻ, sẽ giúp Cô hiểu được
81
những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm và cách trẻ phản ứng trước những cảm xúc
khác nhau. Từ đó Cô sẽ có những điều chỉnh, định hướng giúp trẻ có những suy
nghĩ đúng đắn và thể hiện kỹ năng NBVTHCX một cách phù hợp
Như vậy, có thể thấy thông qua kể chuyện và đàm thoại có ý nghĩa quan
trọng để phát triển kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Về việc tăng vốn từ vựng và
cách thể hiện cảm xúc khác nhau. Từ đó sẽ giúp trẻ dễ dàng vận dụng vào trong
cuộc sống.
b. Nội dung và cách thức thực hiện
Nội dung các cuộc đàm thoại và câu chuyện cần liên quan đến những cảm
xúc nhân vật trải qua và cách nhân vật phản ứng với mỗi tình huống. Những câu
chuyện GV kể có thể là những câu chuyện GV sưu tầm hoặc những câu chuyện
kể sáng tạo được rút ra từ kinh nghiệm của bản thân. Trong mỗi câu chuyện kể
GV có thể kết hợp đàm thoại trước hoặc sau khi kể tùy theo mục đích cuộc đàm
thoại (để khơi gợi sự chú ý của trẻ, để trẻ phán đoán, bày tỏ cảm xúc). GV có
thể dừng lại khuyến khích trẻ chia sẻ cảm xúc của mình khi là nhân vật trong
câu chuyện. Đặc biệt những đoạn nhân vật thể hiện cảm xúc và những truyện có
kèm theo tranh ảnh, khi đó GV có thể hỏi trẻ Ví dụ “Các con hãy nhìn vào
khuôn mặt bạn heo trắng, trông bạn ấy thật sợ hãi khi bị sói đuổi theo”. Các câu
chuyện kể phải gần gũi với trẻ, có nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho
trẻ. Chuyện cần có bố cục rõ ràng, súc tích và hấp dẫn đối với trẻ. Chúng tôi đề
xuất một số câu chuyện kể cho trẻ nghe, nhằm mục đích giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ (Phụ lục 10).
Khi tổ chức kể truyện cho trẻ giáo viên cần lưu ý:
+ Chuẩn bị đồ dùng trực quan , thuộc nội dung chuyện và nhập tâm vào câu
chuyện kể (giọng nói, cử chỉ, điệu bộ…)
+ Khi đàm thoại giáo viên nên chú trọng giúp trẻ nhận biết và chú ý đến
những chi tiết về sự cảm xúc của các nhân vật. GV cần chú ý đến câu hỏi thảo
luận về cảm xúc. Đưa ra những câu hỏi trẻ có nhiều giải pháp để lựa chọn, có
82
thể là chia sẻ những kinh nghiệm mình đã trải qua. Đặc biệt là cho trẻ nêu lên ý
kiến của mình và tự đưa ra kết luận vấn đề. Qua những trao đổi thảo luận cảm
xúc về nhân vật sẽ giúp trẻ hiểu rõ hơn cảm xúc của bản thân mình và những
người xung quanh. Và trẻ sẽ học cách mà các nhân vật phản ứng phù hợp qua đó
giúp trẻ vận dụng vào cuộc sống.
GV có thể đàm thoại với trẻ với những câu hỏi sau.
1. Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
2. Con yêu ai nhất trong câu chuyện này? Tại sao?
3. Theo con nhân vật trong câu chuyện đang cảm thấy như thế nào?
4. Các con có đồng ý với cách thể hiện cảm xúc của bạn không?
5. Nếu là con, con sẽ cảm thấy như thế nào? Tại sao?
6. Qua câu chuyện chúng ta học được điều gì? Chúng ta nên làm gì?
3.4. Tổ chức khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trên
3.4.1. Mục đích khảo sát
Tìm ra một số biện pháp giáo dục tác động hiệu quả nhằm thúc đẩy kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
3.4.2. Nội dung khảo sát
Các biện pháp thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
3.4.3. Khách thể khảo sát
- 35 BGH và GV lớp 5-6 tuổi ở 3 trường Mầm non Hoa Hồng - Q.Bình
Tân; Trường Mầm non Bé Ngoan – Q.1; Trường Mầm non Hoa Mai – Q.3.
3.4.4. Kết quả khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp
Cách cho điểm ở mỗi mức độ được tính như sau:
Điểm trung bình Mức độ cần thiết Mức độ khả thi
1-1.6 Không cần thiết Không khả thi
1.61-2.21 Cần thiết Khả thi
2.22-3 Rất cần thiết Rất khả thi
83
3.4.4.1. Mức độ cần thiết của biện pháp đã đề xuất
Kết quả khảo sát ý kiến của GV và BGH về mức độ cần thiết của các biện
pháp nhằm thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi được thể hiện ở bảng
3.1 với điểm trung bình chung 2.28 cho thấy các biện pháp GV đều cho rằng ở
mức độ rất cần thiết. Trong đó chỉ có 1 biện pháp “Tổ chức tập huấn đào tạo
GV về nội dung, phương pháp giảng dạy” đạt ở mức cần thiết với điểm trung
bình 2.20. Các biện pháp còn lại đều xếp ở vị trí rất cần thiết bao gồm: “Phối
hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX” (TB
= 2.40, TH = 1), “Lập kế hoạch dạy học theo chủ đề” (TB = 2.34, TH =2), “Kể
chuyện và đàm thoại cùng trẻ” (TB = 2.29, TH = 3), “GV làm mẫu qua hành vi
chăm sóc trẻ” (TB = 2.26, TH = 4), “Tạo môi trường học tập tích cực” (TB =
2.23, TH = 5). Như vậy, với điểm trung bình trên cho thấy những biện pháp mà
GV và BGH đã lựa chọn đều có tác động tích cực đến trẻ.
Bảng 3.1. Mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
Mức độ cần thiết
STT Các biện pháp
Điểm trung bình Thứ hạng
2.20 6 1
Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương pháp giảng dạy.
2 Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục 2.34 2
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
2.40 1 3
Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX
4 Tạo môi trường học tập tích cực 2.23 5
5 GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ 2.26 4
6 Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ 2.29 3
Điểm trung bình chung 2.28
84
3.4.4.2. Khảo sát tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất
Kết quả khảo sát về tính khả thi của biện pháp ở bảng 3.2 cho thấy các biện
pháp được BGH và GV đánh giá ở mức rất khả thi với điểm trung bình chung là
2.23, bao gồm biện pháp “Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo
dục kỹ năng NBVTHCX” (TB = 2.4, TH = 1), “Kể chuyện và đàm thoại cùng
trẻ” (TB = 2.31, TH = 2), “Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương
pháp giảng dạy” (TB = 2.26, TH = 3), “Tạo môi trường học tập tích cực” (TB =
2.23, TH = 4). Đây là 5 biện pháp có vị trí xếp hạng từ 1 đến 5, có điểm trung
bình ở mức độ rất khả thi. 2 biện pháp còn lại được GV và BGH lựa chọn ở mức
độ khả thi đó là “ Xây dựng một số tiết dạy để giáo dục KNNBVHCX cho trẻ”
(TB = 2.17, TH = 5), “GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ” (TB = 2.06, TH =
6).
Bảng 3.2. Mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất.
Mức độ khả thi
STT Các biện pháp Điểm Thứ hạng trung bình
1 Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, 2.26 3
phương pháp giảng dạy.
2 Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục 2.17 5
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
3 Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong 2.40 1
việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX
4 Tạo môi trường học tập tích cực 2.23 4
5 GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ 2.06 6
6 Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ 2.31 2
Điểm trung bình chung 2.23
85
Nhìn chung kết quả thu được ở bảng 3.1 và 3.2 cho thấy 6 biện pháp người
nghiên cứu đưa ra được BGH và GV đánh giá ở mức rất cần thiết và có tính rất
khả thi. Vì vậy để thúc đẩy kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi cần tiến hành
đồng bộ các biện pháp trên.
3.5. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và
thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi
3.5.1. Mục đích thực nghiệm
Hỗ trợ việc kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất.
3.5.2. Nội dung thực nghiệm
Vì một số điều kiện về thời gian cùng với tính hiệu quả của biện pháp.
Chúng tôi lựa chọn biện pháp 1: “Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ” Biện pháp 2: “GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc
trẻ”. Biện pháp 3: “Tạo môi trường học tập tích cực”.
3.5.3. Nhiệm vụ thực nghiệm
- Ứng dụng các biện pháp trên xây dựng thành giáo án
- Tổ chức các hoạt động cho trẻ trải nghiệm
- Thu thập kết quả sau khi thử nghiệm
3.5.4. Tổ chức thực nghiệm
3.5.4.1. Mẫu thực nghiệm
* Nhóm đối chứng:
- Chọn ngẫu nhiên theo danh sách 22 trẻ có năm sinh 2008 đang học tại lớp
lá A, trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP. HCM
- 2 Giáo viên phụ trách lớp Lá A trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình
Tân, TP.HCM
*Nhóm thực nghiệm:
- Chọn ngẫu nhiên theo danh sách 22 trẻ có năm sinh 2008 đang học tại lớp
lá B, trường mầm non Hoa Hồng, Quận Bình Tân, TP.HCM
Sự khác biệt giữa nhóm ĐC và nhóm TN:
86
- Nhóm ĐC: GV tự soạn giáo án, tự chuẩn bị đồ dùng dạy học và tổ chức
HĐ với hình thức, phương pháp, biện pháp bình thường theo nội dung chương
trình qui định.
- Nhóm TN: GV soạn giáo án, lên kế hoạch và tổ chức với hình thức,
phương pháp, biện pháp theo nội dung chương trình TN.
3.5.4.2. Thời gian thực nghiệm
Băt đầu từ ngày 15 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5 năm 2014
+ Hoạt động lên tiết dạy 3 buổi một tuần, sáng lên lớp từ 9 giờ đến 10 giờ 15.
+ Kết hợp lồng ghép trong các hoạt động được diễn ra hằng ngày. (GV làm
mẫu qua hành vi, tổ chức hoạt động học tập tích cực).
3.5.4.3. Tiến hành thực nghiệm
- Bước 1 : Khảo sát mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc của trẻ trước thực nghiệm.
Sử dụng tranh vẽ - bài tập phỏng vấn và quan sát trẻ nhằm đánh giá mức độ
nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ trước thực nghiệm.
- Bước 2 : Tác động trực tiếp các biện pháp thông qua các giờ học và tiến
hành triển khai các hoạt động thực nghiệm.
- Bước 3 : Sử dụng tranh vẽ - bài tập phỏng vấn và quan sát các biểu hiện
của trẻ nhằm đánh giá kết quả của trẻ sau những tác động giáo dục.
3.5.6. Kết quả thực nghiệm
Thang đo sau thực nghiệm với các biểu hiện sau: [Phụ lục 14]
Biểu hiện 1: Nhận biết cảm xúc của người khác thông qua 6 bức tranh:
Sử dụng 6 bức tranh có cảm xúc: vui, buồn, giận, sợ hãi, xấu hổ, ngạc
nhiên. Sau đó, cho trẻ nhận biết cảm xúc người khác qua tranh và đoán xem
người đó đang có cảm xúc gì.
Biểu hiện 2: Nhận biết cảm xúc của bản thân với các câu hỏi sau
Sử dụng bảng điểm danh cảm xúc đã trò chuyện với trẻ vào mỗi buổi sáng.
Sau đó để trẻ sẽ gắn tên mình vào bảng tên cảm xúc. Chia sẻ cùng Cô trẻ đã có
87
những cảm xúc gì. Ngoài ra trong quá trình trẻ vui chơi trò chuyện chúng tôi đặt
câu hỏi và trò chuyện cùng trẻ.
Biểu hiện 3: Thể hiện sự an ủi với bạn
Bạn Hoa mới chuyển vào lớp Lá 3, bạn đang ngồi một chỗ nhìn các bạn
chơi. Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem bạn đang có cảm xúc gì? Vì sao bạn
lại có cảm xúc đó? Nếu con là các bạn trong lớp con sẽ làm gì khi bạn buồn?
Biểu hiện 4: Thể hiện sự chia vui cùng bạn
Sinh nhật Na ba mẹ mang bánh kem lên tổ chức cho bạn. Con hãy nhìn vào
tranh và đoán xem bạn đang có cảm xúc gì? Con sẽ làm gì để chia vui chúc
mừng sinh nhật bạn?
Biểu hiện 5: Biết kiềm chế cảm xúc giận dữ
Nam và Tuấn đang tập vẽ tranh, chẳng may Nam làm đổ màu lên tranh của
Tuấn ? Con hãy nhìn vào tranh và đoán xem Tuấn đang có cảm xúc gì? Khi giận
dữ bạn Tuấn nên làm gì?
3.5.6.1. Đánh giá mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của nhóm trước và sau thực nghiệm.
Chúng tôi tiến hành phân tích, mô tả, nhận xét, đánh giá mức độ phát triển
kỹ năng NBVTHCX qua tranh bài tập đánh giá cùng phương pháp quan sát, trò
chuyện dựa trên tiêu chí đã xác định.
Bảng 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
(Trước khi tiến hành thực nghiệm)
Lớp Số lượng
22 22
TĐC TTN Sig (2-talied) Mức độ biểu hiện của nội dung Biểu hiện 3 2.00 2.09 0.34 Biểu hiện 2 1.77 1.73 0.59 Biểu hiện 4 2.18 2.32 0.53 Biểu hiện 5 1.91 2.18 0.16 Biểu hiện 1 1.77 1.82 0.30 Điểm trung bình 1.92 2.02
88
Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi sử dụng tranh bài tập tình
huống đã tiến hành khảo sát ở chương 2, cùng với biện pháp quan sát trẻ trong
giờ học và giờ chơi để tiến hành đo mức độ nhóm trẻ thực nghiệm và nhóm đối
chứng trước thực nghiệm. Việc khảo sát này được thực hiện ở 22 trẻ trong lớp
thực nghiệm và 22 trẻ trong lớp đối chứng ở giai đoạn trước khi tiến hành thực
nghiệm. Kết quả cho thấy điểm trung bình 2.02 của nhóm trẻ thực nghiệm và
nhóm trẻ đối chứng 1.92 hầu như không có sự chênh lệch nhiều về mức độ kỹ
năng NBVTHCX giữa hai nhóm trẻ này trước thực nghiệm. Với kiểm nghiệm
Sig (2-talied) cho ra kết quả: Biểu hiện 1: Sig (2-talied) = 0.30>0.05; Biểu hiện
2: Sig (2-talied) =0.59>0.05; Biểu hiện 3: Sig (2-talied) = 0.34>0.05; Biểu hiện
4: Sig (2-talied) = 0.53>0.05; Biểu hiện 5: Sig (2-talied) = 0.16>0.05. Cho thấy
không có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận thức ở các biểu hiện của nhóm
đối chứng và thực nghiệm trước thực nghiệm.
Biểu đồ 3.2. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm
89
3.5.6.2. So sánh mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm
Bảng 3.4. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm.
(Sau khi tiến hành thực nghiệm)
Mức độ biểu hiện của nội dung Điểm Số Lớp trung Biểu Biểu Biểu Biểu Biểu lượng bình hiện 1 hiện 2 hiện 3 hiện 4 hiện 5
22 1.95 1.77 2.09 2.18 2.17 2.03 SĐC
22 2.36 2.23 2.45 2.55 2.41 2.4 STN
0.02 0.02 0.02 0.04 0.01 Sig (2-talied)
Biểu đồ 3.3. Mức độ nhận thức kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng sau thực nghiệm
Sau khi tiến hành thực nghiệm với các biện pháp tác động cho ra kết quả,
hầu hết các mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ ở nhóm thực nghiệm
tăng lên đáng kể với điểm trung bình là 2.4. Còn điểm trung bình của nhóm sau
đối chứng 2.03 cũng có sự tăng lên nhưng mức tăng này chưa đáng kể. Như vậy,
90
trẻ nhận thức được các nội dung về giáo dục kỹ năng NBVTHCX cũng như cách
ứng xử, thái độ hành vi tốt hơn so với trước thực nghiệm. Với kiểm nghiệm Sig
(2-talied) ở biểu hiện 1= 0.02 <0.05; biểu hiện 2 =0.02; biểu hiện 3=0.02; biểu
hiện 4=0.04; biểu hiện 5= 0.01<0.05 có sự khác biệt ý nghĩa về mức độ nhận
thức của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở các nội dung sau thực
nghiệm.
Kết quả cho thấy, các biện pháp tổ chức thực nghiệm đã có tác động mạnh
lên nhận thức của trẻ. Kết quả này không chỉ thể hiện rõ khi chúng tôi thực hiện
thang đo bài tập nhận thức mà còn qua quan sát, trò chuyện trong các hoạt động
diễn ra hằng ngày của trẻ. Vào mỗi buổi sáng, trong không khí vui vẻ và hòa
đồng giữa Cô và các bạn, Cô tổ chức cho trẻ ngồi thành vòng tròn cùng nhau
trao tặng bạn lời khen và những lời chúc tốt đẹp. Sau đó, Cô cho trẻ đặt tên vào
bảng cảm xúc “Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?” và cùng lắng nghe những
câu chuyện cảm xúc của trẻ. Trước khi tiến hành những buổi chia sẻ cảm xúc,
Cô cho trẻ học qui tắc không nói chuyện ồn ào, luôn tôn trọng và lắng nghe
những câu chuyện cảm xúc của bạn. Ban đầu, có nhiều trẻ còn rụt rè chưa dám
chia sẻ cùng Cô và các bạn. Sau một thời gian học về cảm xúc trẻ bắt đầu nhận
thức tốt hơn về cảm xúc của mình và đã mạnh dạn chia sẻ những cảm xúc và
những câu chuyện mình đã trải qua. Đặc biệt, mỗi khi bạn chia sẻ, trẻ đã biết
lắng nghe và đặt câu hỏi “Bạn cảm thấy như thế nào?” “Khi đó bạn đã làm gì?”.
Bên cạnh việc tổ chức lên tiết dạy, mục đích chúng tôi tổ chức những buổi chia
sẻ cảm xúc là trẻ nhận thức tốt hơn về cảm xúc của bản thân, biết rằng ai trong
chúng ta cũng có cảm xúc, đồng thời giúp trẻ biết quan tâm, đồng cảm và hiểu
được cảm xúc của người khác. Trong những giờ chia sẻ cảm xúc có một câu
chuyện đặc biệt của Nam, Nam đã bị chó cắn và khi đến lớp ở trong trạng thái
băng bó ở tay. Khi Nam đến lớp các trẻ khác tỏ vẻ ngạc nhiên và quan tâm lại
gần và hỏi thăm bạn “Bạn bị sao vậy? Sao bạn lại bị băng bó ở tay? Chắc bạn
đau lắm phải không?”. Trong giờ chia sẻ vòng tròn, Nam bắt đầu chia sẻ câu
91
chuyện của mình. (Trước khi tiến hành thực nghiệm chúng tôi quan sát và nhận
thấy Nam là cậu bé có thân hình nhỏ bé, tính tình khá rụt rè. Nhưng qua những
buổi học về cảm xúc, Nam trở nên tự tin và mạnh dạn hơn). Nam bắt đầu kể, vào
ngày thứ bảy Nam và mẹ vừa dừng ở nhà Bác thì bị chó chạy tới và tấn công,
lúc đó Nam đã cảm thấy sợ hãi và rất đau. Các bé xung quanh chăm chú lắng
nghe câu chuyện và khuôn mặt cũng biểu lộ sự sợ hãi, thể hiện sự quan tâm và
đồng cảm với bạn. Một số trẻ đặt câu hỏi “Giờ bạn còn đau không? Trưa nay
mình sẽ xúc cơm cho bạn ăn nghe?..” Bên cạnh đó chúng tôi đặt câu hỏi với các
trẻ. Khi bạn bị thương, bạn sẽ không được chơi trò chơi vận động nhiều như các
con, bạn chỉ có thể ngồi một chỗ theo các con bạn sẽ cảm thấy như thế nào?
Chúng ta có cách nào để giúp bạn cảm thấy tốt hơn? Khi chơi với bạn chúng ta
nên chơi như thế nào để bạn không bị thương? Hầu như các bé đưa ra những câu
trả lời rất tốt. Trong những giờ học sau chú ý quan sát, chúng tôi thấy các bé rất
quan tâm tới Nam, chơi nhẹ nhàng, không làm bạn bị thương. Đồng thời có
những hành vi giúp bạn: lấy cặp giúp bạn, những trẻ ăn nhanh chạy tới giúp bạn
xúc cơm. Ngoài ra, trước những ngày sinh nhật các trẻ trong lớp chúng tôi luôn
tạo cơ hội cho trẻ được chia vui và chúc mừng bạn, bằng cách có một buổi trò
chuyện với các bạn trong lớp “Trong lớp mình hầu như ai cũng có ngày sinh
nhật đúng không nào? Khi đến ngày sinh nhật các con thường có những cảm xúc
gì? À, ngày mai là sinh nhật bạn Hương, Cô sẽ hỏi bạn Hương có cảm xúc gì
nhé! Các con sẽ làm gì để chúc mừng bạn? Nếu trẻ chưa có ý tưởng, chúng tôi
đưa ra những gợi ý cho trẻ về những món quà (Tặng bạn tấm thiệp, vẽ một bức
tranh hoặc chuẩn bị một bài hát để tặng bạn). Hôm sau đến lớp, có trẻ mang
bimbim, tặng bạn bức tranh do mình vẽ, cùng nắm tay hát và múa tặng bạn.
Bên cạnh việc tổ chức cho trẻ trò chuyện chia sẻ cảm xúc GV đã tổ chức
cho trẻ chia sẻ cảm xúc của mình khi chia tay trường lớp trong tranh vẽ. Mỗi
tranh trẻ vẽ cho thấy, có những trẻ cảm thấy vui khi được vào trường mới, có trẻ
cảm thấy buồn khi xa Cô xa bạn bè và trường lớp…
92
Ở biện pháp làm gương cho trẻ noi theo, bước đầu GV đã có những cách cư
xử lịch sự với trẻ, GV đã hạn chế những lời la mắng trẻ. Khi trẻ ồn ào mặc dù
bực bội nhưng GV đã lựa chọn những cách hành xử hay hơn để thu hút trẻ. Sau
đó GV kể cho trẻ nghe về cảm xúc và cách giải quyết của mình. “Khi các con
mất trật tự cô đã rất giận, lúc đó Cô đã áp dụng 4 bước giữ bình tĩnh của Rùa,
để giữ bình tĩnh Cô đã không lựa chọn cách la hét hoặc đánh đập các con mà
Cô đã sử dụng tiếng vỗ tay hoặc mở một bài hát để thu hút các con về phía Cô”.
Ngoài ra, GV đã tổ chức trẻ thể hiện sự chia sẻ và quan tâm tới bạn trong trò
chơi đóng vai. Cô đã tham gia chơi cùng trẻ và tạo nhiều tình huống để trẻ thể
hiện sự quan tâm với bạn mình. Khi đóng vai bác sĩ, đối với bệnh nhân bị ốm
bác sĩ nên trò chuyện nhẹ nhàng, quan tâm hỏi thăm bệnh nhân. Khi làm nhân
viên bán hàng nói chuyện vui vẻ, lịch sự với khách hang, gia đình bạn nào có
người bị ốm Cô đóng vai người bạn trái cây, mời trẻ mua trái cây đến thăm gia
đình có người bị ốm. Bên cạnh đó GV tận dụng những cơ hội trong sinh hoạt
hằng ngày để giúp trẻ nhận diện cảm xúc. “Con hãy nhìn xem bạn Lan đã rất
buồn khi con chê bức tranh của bạn.”.
Trong hoạt động ở góc cảm xúc, GV dán những tranh ảnh với nhiều khuôn
mặt cảm xúc khác nhau. Trẻ tỏ ra rất tò mò và thường lại gần quan sát các cảm
xúc trong tranh và cùng trò chuyện với bạn về các tranh cảm xúc. Tận dụng
những lúc này,chúng tôi lại gần và trò chuyện cùng trẻ với những câu hỏi con đã
từng có cảm xúc này chưa? Chuyện đã xảy ra như thế nào? Con đã làm gì?. Qua
việc quan sát tranh, chia sẻ cảm xúc cùng bạn, sẽ giúp trẻ tích lũy được vốn từ
về cảm xúc và ôn lại các bước giữ bình tĩnh của Rùa. Trong việc vận dụng bí
quyết của Rùa chúng tôi thường tập trung quan sát những trẻ hay giận dữ và có
hành vi đánh bạn, mỗi khi chuẩn bị có xung đột chúng tôi lại gần và nói “Bây
giờ con đang cảm thấy như thế nào? Con hãy nhớ lại các bước giữ bình tĩnh của
Rùa khi giận dữ mình nên làm gì?” Dần dần qua những biện pháp này trẻ không
chỉ đạt được kết quả về mặt nhận thức mà trẻ còn thể hiện rất tốt qua hành vi của
93
mình. Ngoài ra, để khuyến khích trẻ vận dụng bí quyết của Rùa chúng tôi
khuyến khích trẻ chia sẻ những lần trẻ đã áp dụng bí quyết của Rùa, mỗi lần như
vậy trẻ sẽ được tặng một ngôi sao cuối tuần mang về tặng ba mẹ. Qua đó, đã
khuyến khích và cổ vũ trẻ rất nhiều trong việc nhận thức và vận dụng bí quyết
giữ bình tĩnh của Rùa.
Như vậy, bằng các biện pháp nghiên cứu, phương pháp đánh giá khác nhau.
Chúng tôi đã thu được kết quả khả quan và có thể khẳng định qua các biện pháp
tác động mức độ phát triển kỹ năng NBVTHCX của trẻ 5-6 tuổi ở nhóm thực
nghiệm tăng lên rõ rệt và cao hơn nhiều so với nhóm đối chứng.
Kết quả thực nghiệm đã chứng minh cho giả thuyết chúng tôi đưa ra là
đúng đắn, đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu của đề tài.
94
Tiểu kết chương 3
Xuất phát từ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và một số nguyên tắc: nguyên
tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục, thường xuyên và lâu dài; nguyên tắc tạo môi
trường cảm xúc tích cực; nguyên tắc tôn trọng trẻ; nguyên tắc khả thi. Chúng tôi
đề xuất một số biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi. Và tiến
hành khảo sát tính hiệu quả của các biện pháp trên BGH và GV các trường. Kết
quả cho thấy các biện pháp đề xuất đều rất cần thiết và rất khả thi có thể áp dụng
vào trong thực tiễn. Đó là các biện pháp:
1. Tổ chức tập huấn đào tạo GV về nội dung, phương pháp giảng dạy.
2. Xây dựng mộ số tiết dạy riêng để giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
3. Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng
NBVTHCX.
4. Tạo môi trường học tập tích cực.
5. GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ.
6. Kể chuyện và đàm thoại cùng trẻ.
Với mục đích hỗ trợ việc kiểm nghiệm tính hiệu quả của các biện pháp đề
xuất. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm một số biện pháp đề xuất trên trẻ. Bao
gồm các biện pháp: 1 “Xây dựng một số tiết dạy riêng để giáo dục cảm xúc cho
trẻ; 2. Tạo môi trường học tập tích cực; 3. GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc
trẻ”. Kết quả thực nghiệm cho thấy những biện pháp được đề xuất có ý nghĩa
tích cực đến quá trình hình thành và phát triển kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Có thể thấy, trẻ em ngày nay lớn lên trong một nền văn hóa ngày càng
đa dạng và phức tạp. Các điều kiện xã hội và nhu cầu học tập của trẻ đã thay đổi.
Điều này đã đặt ra cho trẻ những thách thức trong học tập và cuộc sống.Vì vậy,
trường học ngày nay không chỉ giúp các em đạt được kết quả tốt trong học tập
mà cần giúp các em sớm trở thành những công dân có ích, biết quan tâm, chăm
sóc, đóng góp cho cộng đồng và xã hội. Những năm gần đây, Ở Việt Nam lĩnh
vực phát triển trí tuệ cảm xúc hay kỹ năng NBVTHCX đã được lồng ghép trong
lĩnh vực phát triển tình cảm kỹ năng xã hội cho trẻ Mầm non. Tuy nhiên, những
lý luận và biện pháp ở lĩnh vực này vẫn còn hạn chế về số lượng và chưa được
quan tâm sâu sắc. Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng góp một
phần nhỏ trong việc thúc đẩy năng lực học tập cảm xúc xã hội ở trẻ. Để trong
tương lai giúp trẻ trở thành công dân có ích và sớm thành công trong học tập và
cuộc sống.
1.2. Kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi là khả năng nhận diện và hiểu
cảm xúc của bản thân và người khác, trên cơ sở đó có những thái độ và hành vi
thể hiện ra bên ngoài phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cho phép, biện pháp
giáo dục kỹ năng NBVTHCX là cách thức cụ thể mà GV sử dụng để tác động
đến trẻ nhằm giáo dục trẻ khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm để
nhận diện cảm xúc của bản thân và người khác trên cơ sở đó thể hiện những thái
độ và hành vi một cách phù hợp vào trong thực tiễn nhằm đạt kết quả mong đợi.
1.3. Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy, BGH và GV có cách nhìn nhận
chưa đúng về nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đa số hình thức
GV lựa chọn để tổ chức giáo dục kỹ năng này là lồng ghép vào các chủ đề, hoạt
động vui chơi, trò chuyện. Biện pháp được giáo viên sử dụng nhiều nhất là:
Dùng tình cảm, làm gương cho trẻ em noi theo; Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ;
96
Sử dụng phương pháp nghệ thuật: bài thơ, câu chuyện, tranh ảnh, bài hát. Tuy
nhiên, qua quan sát và phỏng vấn GV vẫn chưa thực hiện tốt ở những biện pháp
trên.Cụ thể: GV chưa kiểm soát tốt về cảm xúc, vẫn còn nóng giận có hành vi la
mắng và đánh trẻ, ngoài ra GV vẫn còn hạn chế trong việc tổ chức trò chơi và
câu chuyện giáo dục cảm xúc cho trẻ. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
thực trạng trên là do GV gặp những khó khăn nhất định : GV chưa thấy được
tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của nội dung, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với
PH; Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện, giáo viên lại ít có tài liệu; Khả
năng truyền đạt cảm xúc ở GV còn hạn chế; GV và PH chưa thấy việc giáo dục
kỹ năng NBVTHCX cho trẻ là cần thiết.
Ngoài ra, mức độ nhận thức kỹ năng NBVTHCX của trẻ ở 3 trường đạt
mức trung bình. Trong đó, ở biểu hiện nhận biết 6 cảm xúc: vui, buồn, giận dữ,
ngạc nhiên,sợ hãi ở bản thân và người khác, trẻ chỉ nhận biết được 3 cảm xúc :
vui, buồn, giận dữ. Các cảm xúc sợ hãi, ngạc nhiên, xấu hổ đạt ở mức độ thấp.
Các biểu hiện “thể hiện sự chia vui cùng bạn” trẻ đạt mức độ cao nhất, các biểu
hiện còn lại ở mức độ trung bình bao gồm: “thể hiện sự an ủi với bạn”, “thể hiện
sự kiềm chế cơn giận dữ”.
1.4. Dựa trên nghiên cứu lý luận và điều tra thực trạng sử dụng biện pháp
và những khó khăn GV gặp phải trong quá trình giáo dục kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ, chúng tôi đề xuất 6 biện pháp giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6
tuổi bao gồm: Nâng cao nhận thức về sự cần thiết và tập huấn đào tạo GV về nội
dung, phương pháp giảng dạy; Có những tiết dạy riêng để giáo dục trẻ; Phối hợp
giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX; Tạo môi
trường học tập tích cực; GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ; Kể chuyện và
đàm thoại cùng trẻ.
1.5. Khảo sát tính hiệu quả của biện pháp đề xuất trên BGH và GV các
trường mầm non cho thấy các biện pháp đều đạt ở mức hiệu quả có tính rất cần
thiết và rất khả thi, có thể vận dụng vào trong thực tế. Trong quá trình tổ chức
97
thực nghiệm các biện pháp: Tạo môi trường học tập tích cực; GV làm mẫu qua
hành vi chăm sóc trẻ; Có những tiết dạy riêng để giáo dục trẻ, cho thấy đã có sự
tăng lên về mức độ nhận thức cũng như thái độ và hành vi về kỹ năng
NBVTHCX của trẻ. Điều này có ý nghĩa thực tiễn, góp phần giúp GVMN có
thêm cơ sở lý luận và những biện pháp phát triển kỹ năng này cho trẻ.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Bộ giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức tập huấn hội thảo chuyên đề về phương pháp giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho BGH và GV các trường Mầm non.
- Cung cấp thêm cho các trường mầm non các phương tiện và tài liệu về
giáo dục kỹ năng NBVTHCX.
- Phân chia thời gian giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ cụ thể hơn trong
chương trình giáo dục.
- Có chính sách và chương trình đẩy mạnh các hoạt động phong trào, ngày
hội dành cho trẻ em. Chẳng hạn như tổ chức kỷ niệm các ngày lễ hội, các sự
kiện quan trọng trong năm có ý nghĩa nhằm giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho
trẻ.
- Đánh giá xây dựng bài giảng, phương pháp của giáo viên trong hoạt động
giảng dạy về kỹ năng NBVTHCX.
- Chương trình giáo dục mầm non cần phải cân bằng giữa phát triển nhận
thức và phát triển mặt tình cảm xã hội
2.2. Đối với BGH và GV các trường Mầm non
- Cần thống nhất và qui định cụ thể những giờ học giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ trong kế hoạch giáo dục nhà trường.
- Tạo điều kiện để GV được tham gia lớp tập huấn về các phương pháp
giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ MN.
- Tổ chức hướng dẫn tích hợp nội dung giáo dục kỹ năng NBVTHCX vào
những hoạt động học và vui chơi hằng ngày.
98
- Việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cần được giáo viên tận dụng cơ hội
giáo dục thường xuyên trong chế độ sinh hoạt hằng ngày.
- Sử dụng thống nhất các tác động giáo dục (Gia đình và nhà trường) và
việc luyện tập thường xuyên ứng xử trong sinh hoạt hằng ngày.
- Cần khuyến khích, động viên trẻ chia sẻ cảm xúc tạo điều kiện thuận lợi
giúp trẻ phát huy kỹ năng NBVTHCX bằng nhiều tình huống thực tế sinh động
khác nhau.
2.3. Đối với Gia đình
- Nhận thấy được tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ ở giai đoạn này.
- Phối hợp với nhà trường để rèn luyện và tạo điều kiện trẻ nhận biết và thể
hiện cảm xúc một cách phù hợp. Đồng thời cha mẹ cần nắm vững một số biện
pháp nhất là làm gương cho trẻ học tập và noi theo.
- Quan tâm nhiều hơn đến đời sống cảm xúc của trẻ, cùng trẻ vượt qua
những cảm xúc khó chịu luôn khen ngợi và động viên trẻ.
- Là tấm gương cho trẻ học tập và noi theo. Gia đình cần sắp xếp thời gian
rèn luyện kỹ năng NBVTHCX cho trẻ. Đồng thời kết hợp và trao đổi phương
pháp giáo dục với nhà trường để nâng cao mức độ kỹ năng NBVTHCX cho trẻ.
99
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Nguyễn Minh Anh (2009), Trí tuệ cảm xúc với nội dung phát triển tình cảm
và kĩ năng xã hội của trẻ trong chương trình giáo dục mầm non mới, Kỉ
yếu hội thảo của Trường Cao đẳng Sư phạm TW Tp. HCM.
2. Đào Thanh Âm (2008), Giáo dục học mầm non, Nxb Đại học Sư phạm.
3. Lê Ngọc Bích (2009), Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi, Nxb
Giáo dục.
4. Lương Thị Bình, Phan Lan Anh (2011), Các hoạt động giáo dục tình cảm và
kĩ năng xã hội cho trẻ mầm non, Nxb Giáo dục Việt Nam.
5. Lương Thị Bình, Kay Margetts (2013), Dự án tăng cường khả năng sẵn
sàng đi học cho trẻ mầm non, giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã
hội, Bộ giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 2013.
6. Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo
dục Việt Nam.
7. Bộ giáo dục và đào tạo, Hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển cho trẻ 5
tuổi, Hà Nội tháng 8/2010.
8. Lê Thị Bừng (2007), Những thuộc tính tâm lý điển hình của nhân cách, Nxb
Đại học Sư phạm.
9. Caroll E.Izard (1992), Những cảm xúc của người, Nxb Giáo dục.
10. Daniel Goleman (2011) , Trí tuệ xúc cảm – lý giải tại sao người kém thông
minh lại thành công hơn những người thông minh, Nguyễn Kiến Giang
dịch, Nxb Lao động Xã hội.
11. Diane Tillman Diana Hsu (2009), Những giá trị sống dành cho trẻ từ 3 đến
7 tuổi, Phạm Thị Sen dịch, Nxb Trẻ.
12. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb Khoa học Xã hội.
13. Nguyễn Thu Hà (2006), “Sự phát triển của cảm xúc xấu hổ ở lứa tuổi mầm
non”, Tạp chí Giáo dục Mầm non, (6).
100
14. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ
điển giáo dục học, Nxb từ điển Bách Khoa năm 2001.
15. Nguyễn Thị Thu Hiền (2008), Giáo trình phát triển và tổ chức thực hiện
Chương trình Giáo dục Mầm non, Nxb Giáo dục.
16. Nguyễn Thị Hòa (2011), Giáo trình GD học mầm non, Nxb Đại học Sư
phạm Hà Nội.
17. Lê Xuân Hồng, Lê Thị Khang, Hồ Lai Châu, Hoàng Mai (2000), Những kỹ
năng sư phạm Mầm non Cô giáo Mầm non với vai trò lập kế hoạch thực
hiện chương trình giáo dục, Nxb Giáo dục.
18. Ngô Công Hoàn (2003), “Xúc cảm và giáo dục xúc cảm đối với trẻ em lứa
tuổi mầm non”, Tạp chí Tâm lý học, (4)/2003.
19. Trương Thị Xuân Huệ (2014), Lý luận dạy học hiện đại, Nxb Lao Động
20. Trần Thanh Hùng (2005), Khảo sát mức độ biểu hiện trí tuệ cảm xúc của
các giáo viên mầm non ở Tp. HCM, khóa luận tốt nghiệp.
21. Lê Thu Hương (chủ biên) (2008), Tổ chức hoạt động giáo dục tình cảm xã
hội cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục.
22. Nguyễn Hữu Long (2010), Kỹ năng sống của học sinh trung học cơ sở
thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sĩ Tâm lí học, Đại học Sư phạm
Tp. HCM.
23. Lê Thị Luận (2010), “Mức độ thể hiện xúc cảm bản thân của trẻ 4-5 tuổi
qua trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non”, Tạp chí Tâm lý
học, (3).
24. Isabelle Filliozat (2010), Thế giới cảm xúc của trẻ thơ, Nguyễn Văn Sự
dịch, Nxb Dân Trí.
25. John J. Medina (2011), Những quy tắc để trẻ thông minh và hạnh phúc,
Nguyễn Kim Diệu dịch, Nxb Lao động Xã hội.
26. Châu Nguyệt Minh (2012), Trò chơi rèn luyện EQ và IQ cho trẻ, Nxb Văn
hóa – Thông tin.
101
27. Mukhina V.X (1981), Tâm lý học Mẫu giáo, Nxb Giáo dục.
28. Lưu Hồng Khanh (2005), Tương giao bất bạo động – ngôn ngữ của trung
thực và tâm cảm, Nxb Trẻ.
29. Vũ Thị Nho (2003), Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội.
30. Phan Trọng Nam (2007), Mức độ trí thông minh và trí tuệ cảm xúc của sinh
viên trường đại học sư phạm Đồng Tháp.
31. Phan Trọng Ngọ, Dương Diệu Hoa, Nguyễn Lan Anh (2001), Tâm lý học trí
tuệ, Nxb ĐHQG Hà Nội.
32. Phan Trọng Ngọ (2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb Đại học
Sư phạm Hà Nội.
33. Lê Bích Ngọc (2009), Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi, Nxb
Giáo dục.
34. Hoàng Thị Oanh (1996), Kỹ năng tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho
trẻ MG 5 tuổi của sinh viên trường CĐSP nhà trẻ mẫu giáo, Luận án
tiến sĩ.
35. Cao Văn Quang (2008), Tìm hiểu những biểu hiện trí tuệ cảm xúc của học
sinh một số trường trung học cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, Khóa luận
tốt nghiệp.
36. Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy (2012), Giáo
trình Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm Tp. HCM.
37. Huỳnh Văn Sơn (2009), Nhập môn kỹ năng sống, Nxb Giáo dục.
38. Huỳnh Văn Sơn (2012), Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên ĐHSP, Nxb
Giáo dục Việt Nam.
39. Trần Thị Hồng Sương (2005), Một số giờ học phát triển xúc cảm cho trẻ 4-
5 tuổi, Thông tin khoa học Giáo dục Mầm non.
40. T.A.Ilina (1978), Giáo dục học tập II, Nxb Giáo dục.
102
41. Ngô Thi Thạch Thảo (2013), Kỹ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc của trẻ
5 tuổi ở một số trường mầm non tại Tp. Hồ Chí Minh, Luận văn
thạc sĩ.
42. Lê Thị Thanh Thủy (2013), “Một số hoạt động giúp giáo viên mầm non
tăng cường phát triển trí tuệ cảm xúc cho trẻ”, Tạp chí Giáo dục
Mầm non.
43. Nguyễn Ánh Tuyết (2001), Giáo dục học, Nxb Giáo dục.
44. Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học lao động, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
45. Võ Hoàng Anh Thư (2010), Trí tuệ cảm xúc của học sinh Trung học Phổ
thông Thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học Sư phạm Tp. HCM.
46. Nguyễn Xuân Thức (2006), Giáo trình Tâm lí học đại cương, Nxb Đại học
Sư phạm.
47. Lê Thị Ngọc Thương (2013), Khảo sát năng lực cảm xúc của trẻ 4-5 tuổi tại
một số trường mầm non trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Đề tài khoa học
và công nghệ cấp trường.
48. Trần Thị Trọng (1983), Giáo dục đạo đức cho trẻ Mẫu giáo, Nxb Giáo dục.
49. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb
Từ điển Bách Khoa.
50. Nguyễn Quang Uẩn (2001), Tâm lý học đại cương, Nxb Quốc gia Hà Nội.
51. Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển tập nghiên cứu về Tâm lý – Giáo dục,
Nxb Đại học Sư phạm.
52. Trần Đại Vi (2010), Bí quyết phát triển cảm xúc cho trẻ, Nxb Thời Đại.
53. Nguyễn Khắc Viện (1991), Từ điển tâm lý, Nxb Ngoại Văn.
54. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin.
103
Tiếng Anh
55. Ann S.Epstein, PhD (2009), Me, You, Us Social-Emotional Learning In
Preschool, Published by HighScope Educational Research Foundation.
56. Dan Gartrell (2003), The Power of Guidance: Teaching Social-Emotional
Skills in Early Childhood Classrooms, Publisher Cengage Learning.
57. Everett L.Worthington, Jr, (1982), When someone asks for help (A Practical
Guide for Counseling), Publisher Inter Varsity.
58. John Gottman (1998), The Heart of Parenting: Raising an Emotionally
Intelligent Child, Publisher Simon & Schuster.
59. Lynne Namka, Ed.D. (2003), Teaching Emotional Intelligence to Children,
Published by Talk, Trust and Feel Therapeutics.
60. Marilou Hyson (2004), The emotional development of young children,
Published by Teachers College Press, 1234 Amsterdam Aventue, New
York, NY 10027.
Các trang web
61. http://www.rootsofempathy.org/
62. http://csefel.vanderbilt.edu/modules/module2/handout7.pdf
63. http://csefel.vanderbilt.edu/index.html
64. http://nieer.org/resources/policyreports/report7.pdf
65. http://giaoduchoconline.com
66. http://csefel.vanderbilt.edu/modules/module2/handout6.pdf
PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Phiếu thăm dò ý kiến
Phần 1: Thông tin cá nhân
- Qúy cô là : Hiệu trưởng Phó hiệu trưởng Giáo viên
- Giáo viên lớp:…………………………………Trường……………….
- Trình độ chuyên môn
Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
- Thâm niên công tác
Dưới 5 năm Từ 5-10 năm Trên 10 năm
Phần 2 : Nội dung câu hỏi
Câu 1. Theo quý cô, thế nào là kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi?
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
Câu 2. Theo quý cô, biểu hiện của kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
của trẻ 5-6 tuổi gồm các yếu tố nào?
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
Câu 3. Theo quý cô, kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6
tuổi ở trường cô đang công tác, nhìn chung ở mức độ:
Cao
Trung bình
Thấp
Câu 4. Sự quan tâm của quý cô đối với việc giáo dục kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc của trẻ
Rất quan tâm
Quan tâm
Chưa quan tâm
Câu 5. Những biện pháp nào quý cô đã sử dụng để giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
Câu 6. Trong những biện pháp kể trên, xin cô vui lòng chọn 2 đến 3 biện
pháp cô cho là quan trọng nhất và cho biết lý do vì sao?
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
Câu 7. Quý cô gặp khó khăn nào trong việc rèn luyện kỹ năng nhận biết
và thể hiện cảm xúc của trẻ ? (Nêu nguyên nhân về những khó khăn đó)
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
.....................................................................................................................
Phụ lục 2. Phiếu trưng cầu ý kiến
Phần 1: Thông tin cá nhân
Qúy cô là : Hiệu trưởng Phó hiệu trưởng Giáo viên
- Giáo viên lớp:…………………
- Trình độ chuyên môn
Sơ cấp Trung cấp Cao đẳng Đại học Sau đại học
- Thâm niên công tác
Dưới 5 năm Từ 5-10 năm Trên 10 năm
Phần 2 : Nội dung câu hỏi (Quý Thầy (Cô) vui lòng khoanh tròn hoặc ghi
những đáp án cô cho là đúng )
Câu 1 : Theo quan điểm của quý Thầy (Cô) Kỹ năng nhận biết và thể hiện
cảm xúc :
a. Là khả năng nhận biết trạng thái cảm xúc của những người xung quanh.
Biết tự kiềm chế và tự điều chỉnh cảm xúc cho phù hợp với hoàn cảnh.
b. Là khả năng nhận diện và hiểu cảm xúc của bản thân và người khác, trên
cơ sở đó có những thái độ và hành vi thể hiện ra bên ngoài phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện cho phép.
c. Là khả năng nhận ra những cảm xúc vui, buồn, giận dữ, thích hay không
thích… về vấn đề nào đó.Và thể hiện cảm xúc đó ra bên ngoài qua hành
động, lời nói, cử chỉ, điệu bộ cho người khác biết.
d. Ý kiến khác ..............................................................................................
Câu 2 : Xin quý Thầy (Cô) cho biết tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ
năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
a. Rất quan trọng
b. Quan trọng
c. Ít quan trọng
d. Không quan trọng
Câu 3 : Theo quý Thầy (Cô), các hình thức nào có thể giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ?
a. Tổ chức một hoạt động dạy cụ thể
b. Lồng ghép trong các hoạt động tại lớp
c. Để trẻ tự phát triển
d. Ý kiến khác……………………………………………………………
Câu 4. Hiện nay, nhà trường dạy những nội dung nào về kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi.
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Câu 5. Qúy Thầy (Cô) thường sử dụng biện pháp nào để giáo dục kỹ năng
nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi.
Mức độ
Biện pháp
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
Rất thường xuyên
1. Đàm thoại, trò chuyện cùng trẻ
2. Sử dụng tình huống có vấn đề
3. Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi đơn giản để kích thích trẻ nhận biết và thể hiện cảm xúc
4. Sử dụng phương pháp nghệ
thuật : bài thơ, câu chuyện,
tranh ảnh,bài hát.
5. Tận dụng cơ hội phát triển
cảm xúc cho trẻ trong giờ sinh
hoạt hằng ngày hoặc giờ chơi tự
do.
6. Dùng tình cảm, làm gương
cho trẻ noi theo.
7. Tăng cường phối hợp giữa
gia đình và nhà trường.
8. Tổ chức sự kiện, lễ hội, trải
nghiệm thực tế ở nhiều môi
trường khác nhau.
9. Luyện tập hành vi ứng xử
thường xuyên trong sinh hoạt
hằng ngày.
10. Tạo môi trường vui vẻ, thoải
mái, thân thiện cho trẻ tích cực
bộc lộ cảm xúc một cách phù
hợp
Câu 6. Quý Thầy (Cô) đã gặp những khó khăn gì trong quá trình giáo dục kỹ
năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi.
Mức độ
STT
Những khó khăn
Khó khăn
Rất khó khăn
Không khó khăn
1
Chưa được tập huấn về nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ 5- 6 tuổi
2
Lớp học đông trẻ
3
Giữa gia đình và nhà trường chưa có sự phối hợp
4
Nội dung giáo dục cảm xúc khó thực hiện
5
Giáo viên ít có thời gian quan tâm đến cảm xúc của trẻ.
6
Khả năng truyền đạt cảm xúc của giáo viên còn hạn chế
7
Giáo viên và phụ huynh chưa thấy việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ là cần thiết.
8
Chương trình, tài liệu hướng dẫn về giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ còn hạn chế.
9
Thời gian dành cho việc giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ mẫu giáo trong chương trình còn ít.
10 Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu thực hành kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc.
Câu 7 : Xin quý Thầy (Cô), vui lòng đánh dấu vào mức độ cần thiết và kết
quả đạt được của những biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm
xúc sau.
Mức độ cần thiết
Kết quả đạt được
STT
Điều kiện
Cần thiết
Không khả thi
Khả thi
Không cần thiết
Rất khả thi
Rất cần thiết
1
Giáo viên được tập huấn đào tạo về nội dung, phương pháp giảng dạy.
2
Tạo môi trường cho trẻ tích cực
3
Có những tiết dạy riêng để giáo dục cảm xúc cho trẻ.
4
Phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX
5
GV làm mẫu qua hành vi chăm sóc trẻ.
6. Kể chuyện và đàm thoại
cùng trẻ.
Câu 8. Đánh giá của quý Thầy (Cô) về mức độ kỹ năng NBVTHCX của trẻ
như sau:
Mức độ
Nội dung
Cao
Trung bình
Thấp
Nhận biết 6 cảm xúc của người khác
Nhận biết cảm xúc bản thân
Thể hiện an ủi bạn
Thể hiện chia vui với bạn
Thể hiện kiềm chế
Câu 9: Để giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc của trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi đạt hiệu quả, Quý Cô có những đề xuất gì?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Phụ lục 3. Biên bản quan sát biện pháp giáo dục kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi của Giáo viên mầm non
Người quan sát: .....................................................................................................
GV được quan sát: .................................................................................................
Ngày quan sát: .......................................................................................................
Hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng: ....................................................................
NỘI DUNG QUAN SÁT BIỆN PHÁP CỤ THỂ NHẬN XÉT
Chuẩn bị của giáo viên mầm non
Nội dung hoạt động
Cách hướng dẫn hoạt động
Kết thúc hoạt động
Phụ lục 4. Biên bản quan sát mức độ biểu hiện kỹ năng nhận biết và thể
hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi.
Người quan sát: .....................................................................................................
Trường: ..................................................................................................................
Họ tên trẻ: ..............................................................................................................
Giới tính: ...............................................................................................................
Ngày quan sát: .......................................................................................................
Biểu hiện GHI CHÉP NHẬN XÉT
Nhận biết cảm xúc
người khác
Nhận biết cảm xúc
của bản thân
Thể hiện sự chia
vui cùng bạn
Thể hiện sự an ủi
bạn
Thể hiện sự kiềm
chế cơn giận dữ.
Phụ lục 5. Kế hoạch giáo dục kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc cho
trẻ 5-6 tuổi lớp lá a trường mầm non bé ngoan
LẬP KẾ HOẠCH TUẦN
Chủ đề: CẢM XÚC CỦA BÉ (22/10 – 26/10)
NGÀY 1 NGÀY 2 NGÀY 3 HOẠT ĐỘNG NGÀY 4 NGÀY 5
Tự sắp xếp đồ dùng cá nhân vào ngăn tủ của mình. Đón trẻ
bảng " Hôm nay bạn cảm thấy như thế nào?" Trò chuyện sáng:
Tên
Tâm trạng của bé như thế nào? Những khuôn mặt ngộ nghĩnh Làm quen a,ă,â Bò dích dắc qua 7 m.
Đếm đến 6, nhận biết các nhóm có 6 đối tượng, nhận biết số 6
BTPT chung Hoạt động1
Luyện tập biết nhận nhóm có số lượng là 5 Làm quen chữ cái a, ă, â Giờ học Trẻ kể lại cảm xúc của trong mình ngày hôm nay. Quan sát các ảnh hình ngộ nghĩnh qua poiwerpoint
Hoạt động2
Trò chơi với các chữ cái Tạo nhóm có 6 đố vật. đếm đến 6. Nhận biết số 6 Thực hiện vận động cơ bản
Cho trẻ xem một số hình ảnh thể hiện cảm xúc của trái những ngộ cây nghĩnh.
Mỗi bé sử dụng đất nặn để tạo cho mình một khuôn mặt ngộ nghĩnh và thể hiện cảm xúc của bản than.
Trẻ chia sẻ Trò cảm xúc với Hoạt Nhận biết số chơi Giờ các bạn (cô động lượng 6 vận học ghi nhận lại 3 động các ý kiến)
Quan sát: Quan sát : - Chơi Cảm giác Điều gì làm với cát, khó chịu Trò bạn vui nước như thế nào? chơi: Chạy nhanh tưới Hoạt động Đoán TCDG: TCVĐ: 18m cây ngoài trời xem ai Trò chơi " trong vào. Kéo co Chật mà vườn vui" trường
Chơi tự do Chơi tự do
Mô hình hài hoà cân đối về bố cục, màu sắc, kích thước và
hình dạng của chi tiết.
Thoả thuận về trò chơi. Chuẩn bị đồ chơi, nơi chơi. Chơi góc
Tiếp tục sao chép các từ Vui, buồn, giận, Làm rối các nhân
ngạc nhiên, dễ thương. vật trong chuyện.
Vệ sinh – ăn – ngủ
Trò chơi " Lớp chúng mình đoàn Hoạt động Đọc chuyện "Ba chú gấu" kết" chiếu
Vệ sinh trả Cất lọ sao vào ngăn tủ cá nhân. trẻ
Phụ lục 6. Biên bản phỏng vấn Giáo viên mầm non
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA GIÁO DỤC – MẦM NON
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài “Biện pháp giáo dục kỹ năng nhận
biết và thể hiện cảm xúc cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại
TP.HCM”. Từ kinh nghiệm dạy học và thực tiễn của mình, xin Qúy Thầy (Cô) Vui
lòng trả lời câu hỏi sau. Ý kiến quý báu của Qúy Thầy Cô sẽ giúp đỡ chúng tôi rất
nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Câu 1. Theo quý Thầy (Cô) việc giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
có quan trọng không? Vì sao?
Câu 2. Qúy Thầy (Cô) đã tổ chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ dưới
những hình thức nào? Bao lâu một tuần?
Câu 3. Trong tình huống trẻ A đang xây dựng sở thú. Để hoàn thành sản phẩm
trẻ A cần một khối gỗ hình chữ nhật. Sau một hồi tìm kiếm không thấy A trở
nên nóng giận và mất trật tự. A phát hiện B đang có khối gỗ đó. A hung hăng
lại gần và dành khối gỗ từ tay B, B dành lại và bị A đánh. Trong trường hợp
này cô sẽ xử lý thế nào trước hành vi đánh bạn và cảm xúc của trẻ?
Câu 4. Thầy (Cô) vui lòng gợi ý cho chúng tôi vài biện pháp Thầy (Cô) đã tổ
chức giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi đạt hiệu quả.
Câu 5. Những khó khăn Thầy (Cô) gặp phải khi giáo dục kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ 5-6 tuổi?
Phụ lục 7. Kế hoạch giáo án giảng dạy
CHỦ ĐỀ: CẢM XÚC CỦA BÉ
Giờ học 1:
Đề tài : Bé tìm hiểu về cảm xúc
Lứa tuổi: 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Cảm xúc ở bên trong nhưng được thể hiện ra bên ngoài.
- Có rất nhiều cảm xúc và mọi người ai cũng có cảm xúc.
- Mọi cảm xúc đều được chấp nhận.
Kỹ năng:
- Trẻ chia sẻ cảm xúc bản thân và lắng nghe cảm xúc của mình và bạn.
- Rèn khả năng ghi nhớ, chú ý.
Thái độ:
- Trẻ vui vẻ và yêu thích khi được chia sẻ cảm xúc cùng bạn.
2. Chuẩn bị:
- Tranh cho Cô và Loto cảm xúc cho trẻ khuôn mặt cảm xúc: vui, buồn,
tức giận, ngạc nhiên, sợ hãi, mắc cỡ.
- Rubic 6 mặt cảm xúc
3. Tiến trình bài học:
Hoạt động mở đầu:
- Trẻ ngồi thành vòng tròn hát một bài hát và trao tặng bạn những lời
khen.
Cô hỏi trẻ: Khi được bạn khen các con cảm thấy như thế nào?
Ngoài ra, có những chuyện nào làm cho các con cảm thấy vui?
Hoạt động trọng tâm
Vừa rồi, các con đã cùng Cô và các bạn chia sẻ những câu chuyện mang
lại cho chúng ta nhiều cảm xúc khác nhau đúng không nào. Có bạn kể rằng khi
được mẹ cho đi chơi bạn cảm thấy vui, có lúc bạn không ngoan mẹ bắt ở nhà
bạn cảm thấy buồn.
- Vậy vui, buồn là gì?
- Gọi chung là cảm xúc.
- Đã bạn nào được nhìn thấy cảm xúc chưa?
- Khi Cô giận dữ Cô cảm thấy bên trong nóng ran, tim Cô đập nhanh,
như vậy cảm xúc ở đâu? (nó ở bên trong chúng ta). Nhưng được thể
hiện ra bên ngoài bằng giọng nói, cử chỉ, điệu bộ. Chẳng hạn khi giận
dữ cô thể hiện là nghiến răng, hai tay Cô nắm lại.
Cô làm mẫu, sau đó cho trẻ ngồi đối diện với nhau, cùng nhau thể hiện
cảm xúc ra bên ngoài và cho bạn đoán.
Cô cho trẻ cùng nhau nhắc lại: “Cảm xúc là ở bên trong, nhưng được thể
hiện ra bên ngoài”.
Hoạt động 2: Có rất nhiều cảm xúc và mọi người ai cũng có cảm xúc
Cô chia trẻ làm 4 nhóm. Phát cho mỗi nhóm các bức tranh thể hiện cảm
xúc khác nhau. Yêu cầu trẻ thảo luận và chia sẻ những điều trẻ nhìn thấy trong
bức tranh. Mời trẻ trong nhóm đứng lên chia sẻ những gì trẻ nhìn thấy trong
tranh
Với câu hỏi:
- Các bạn trong tranh đang cảm thấy như thế nào?
- Hãy đoán xem vì sao bạn cảm thấy như vậy?
- Con cảm thấy cảm xúc đó khi nào?
Nãy giờ các bạn đã mô tả về mỗi cảm xúc khác nhau. Vậy theo các con có
bao nhiêu cảm xúc?
Có rất nhiều cảm xúc và ai trong chúng ta cũng có cảm xúc đúng không
nào.
Ngoài ra, một bạn nhỏ nói với Cô là bạn đang cảm thấy tức giận. Vậy theo
các con cảm xúc tức giận có xấu không?
Mọi cảm xúc đều được chấp nhận. Không có cảm xúc xấu. Vì vậy,
chúng ta hãy chia sẻ và lắng nghe cảm xúc của những người thân xung
quanh chúng ta.
Cô cho trẻ ôn lại những điều đã học
Hoạt động kết thúc
Chơi trò chơi: Bé và cảm xúc
Chuẩn bị : Khối hình vuông, gồm 6 bề mặt thể hiện cảm xúc khác nhau:
vui, buồn, tức giận, sợ hãi, mắc cỡ, ngạc nhiên.
Cách chơi : Trẻ ngồi vòng tròn, lần lượt từng trẻ tung rubic sau đó gọi tên
cảm xúc được thể hiện trên bề mặt rubic và chia sẻ cho cô và các bạn khi nào
trẻ có cảm xúc đó.
Giờ học 2. Đề tài : Bé và cảm xúc Vui, Buồn
Lứa tuổi : 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Trẻ gọi tên và nhận diện tư thế dáng người liên quan đến cảm xúc
vui, buồn
- Biết rằng chúng ta có thể mang lại cho người khác những cảm xúc
khác nhau.
- Nói được những lời an ủi và chia vui với bạn cùng bạn
Kỹ năng
- Chia sẻ và lắng nghe những điều trẻ và bạn cảm thấy vui hoặc buồn
- Có kỹ năng thể hiện và đoán cảm xúc của mình và bạn.
Thái độ
- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn
- Biết trân trọng và yêu quí sản phẩm mình tạo ra
2. Chuẩn bị:
- Thẻ cảm xúc vui, buồn
3. Tiến trình bài học
Hoạt động mở đầu
+ Nghe cô kể chuyện
Câu chuyện : “Chiếc Ấm Trà”
Chuyện kể rằng, có một chiếc Ấm Trà bị mất quai, mẹ đem bỏ vào kho.
Một hôm, Lan đang chơi ngoài sân, nghe tiếng khóc thút thít. Lan bèn dừng lại
hỏi:
- Ôi tiếng khóc của ai thế nhỉ? Lan tiến lại gần, thì ra là bạn Ấm Trà.
- Sao bạn lại khóc?
- Hu hu!Những ngày qua tôi rất cô đơn, không có ai chơi với tôi cả.
(GV: Lúc này bạn ấm trà đang cảm thấy như thế nào các con ?
Đoạn này kể giọng chậm và buồn kèm theo đó chúng tôi mở nhạc buồn
cho trẻ nghe
Nếu các con là Lan các con sẽ làm gì khi bạn ấm trà buồn?)
Nghe vậy, Lan liền đến bên cạnh Ấm Trà và nói.
- Bạn đừng khóc, nếu không có ai chơi với bạn thì từ nay chúng ta sẽ là
bạn của nhau nhé.
Nghe Lan nói vậy, Ấm Trà vui lắm và ôm Lan vào lòng. Sau đó, Lan
mang ấm trà vào nhà. Và bạn nảy ra một ý tưởng sẽ trồng hoa trong Ấm Trà.
Ngày ngày, Lan đều tưới nước cho cây và trò chuyện với Ấm Trà.
(Bây giờ Ấm Trà đang cảm thấy như thế nào?
Tại sao Ấm Trà lại cảm thấy như vậy?)
Chẳng lâu sau, cây lớn nhanh và nở hoa rất đẹp. Ai đi qua cũng trầm trồ
khen ngợi, ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp được trồng trong môt Ấm Trà
rất sáng tạo. Thấy vậy, Lan và Ấm Trà vui lắm hai bạn nắm tay nhau và hát
vang cả ngôi nhà.
Đàm thoại cùng trẻ về nội dung câu chuyện:
1. Câu chuyện kể về những nhân vật nào?
2. Vì sao bạn Ấm Trà lại khóc? Bạn ấy đã cảm thấy như thế nào?
(cho trẻ làm khuôn mặt buồn)
3. Đã có bạn nào cảm thấy buồn giống như bạn Ấm Trà?
4. Khi Lan đồng ý làm bạn, Ấm Trà cảm thấy như thế nào?
(cho trẻ làm khuôn mặt vui)
5. Nếu Lan không đồng ý các con hãy đoán xem bạn Ấm Trà sẽ cảm thấy
như thế nào?
Giúp bé rút ra kết luận: chúng ta có thể mang lại niềm vui và nổi buồn cho
người khác.
Hoạt động trọng tâm:
+ Bé nhận biết cảm xúc vui, buồn
Vừa rồi lớp mình được nghe Cô kể chuyện về bạn Ấm Trà và bạn đã trải
qua những cảm xúc gì?
Cô và trẻ cùng thảo luận.
Khi nào con cảm thấy vui, buồn? Lúc đó con đã làm gì?
Cô cho trẻ xem tranh và cùng phân tích những biểu hiện cảm xúc vui và
buồn.
Cảm xúc vui:
- Chỉ ra nét mặt và biểu hiện cơ thể, giọng nói khi người ta cảm thấy
vui (miệng cười tươi, mắt long lanh, có thể cười thành tiếng, nhảy
cẫng lên, chạy thật nhanh)
Sau đó cô vẽ cảm xúc vui lên bảng.
Cho cả lớp làm khuôn mặt vui. Trẻ cùng nhau chia sẻ với câu nói:
“ Con cảm thấy vui khi…”
Cảm xúc buồn:
Khi ta buồn lông mày ta chùng xuống, mắt nhìn xuống, có thể có nước
mắt nữa, khóe miệng ta chùng xuống (dùng tay kéo miệng xuống) có khi ta còn
khóc nữa.
Cô vừa miêu tả vừa minh họa trên khuôn mặt cô, rồi vẽ từng nét.
Cô cho cả lớp cùng làm khuôn mặt buồn.
Các con cảm thấy buồn khi nào? (Khi được ăn bánh sinh nhật ta cảm thấy
vui, khi không có ai chơi ta cảm thấy buồn.)
+ Chúng ta có thể mang lại cho người khác cảm xúc vui, cảm xúc buồn.
Các con thích cảm xúc vui vẻ hay cảm xúc buồn phiền.
Vậy làm cách nào khi ta đang buồn trở nên vui vẻ (làm những điều mà
chúng ta yêu thích: đi chơi, xem phim, vẽ những màu sắc tươi tắn.)
Cô và trẻ cùng phân tích tranh qua tình huống .
Tranh 1: Các con hãy đoán xem bạn Bo đang có cảm xúc gì? Và đoán xem vì
sao bạn buồn? Chúng ta có thể làm gì để giúp bạn vui?
Giúp trẻ rút ra kết luận: Những điều chúng ta làm cũng có thể đem đến cho
người khác cảm xúc vui hoặc cảm xúc buồn.
Tranh 2: Các con hãy nhìn xem bạn Lan đang có cảm xúc gì? Và đoán xem vì
sao bạn vui? Chúng ta sẽ làm gì để chia vui cùng bạn?
Hoạt động kết thúc
Cô trẻ đóng vai theo tranh. Bạn nhỏ đến lớp không có ai chơi nên rất
buồn. Các bạn còn lại sẽ chia nhóm và bàn bạc xem có những cách gì giúp bạn
vui hơn. Mỗi câu trả lời hay cô sẽ tặng một ngôi sao.
Giờ học 3: Đề tài : Bé và Cảm xúc sợ hãi
Lứa tuổi: 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Trẻ nhận diện, gọi tên , tư thế dáng người liên quan đến cảm xúc sợ
hãi
Kỹ năng
- Có kỹ năng vẽ các nét cơ bản cảm xúc sợ hãi
Thái độ
- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn
- Biết trân trọng và yêu quí sản phẩm mình tạo ra
2. Chuẩn bị:
- Tranh cảm xúc sợ hãi
- Khuôn mặt trống để vẽ cảm xúc sợ hãi
3. Tiến trình bài học
Hoạt động mở đầu
Trẻ tung rubic gọi tên và chia sẻ cảm xúc cùng cô và các bạn.
Hoạt động trọng tâm:
+ Hoạt động 1: Cô kể cho cả lớp nghe câu chuyện sợ hãi mà bạn Thỏ mới
chia sẻ với cô.
Hôm ấy, mẹ Thỏ đi làm dặn thỏ ở nhà không được đi đâu chơi xa. Nhưng
ở nhà một mình buồn quá, thế là Thỏ chạy ra ngoài chơi. Mãi ngắm hoa đuổi
bướm đến chiều tối Thỏ quên cả đường về. Lúc ấy Thỏ cảm thấy sợ lắm tim
đập nhanh như trống đánh.
Bạn thỏ con đã cảm thấy gì?
Các bạn đã bao giờ có cảm xúc này chưa?
Đã vậy, Thỏ còn gặp một con Nhện thật là to. Thỏ hét lên cứu cứu. May
có bác Gấu đen đi qua đã dẫn Thỏ về nhà gặp mẹ. Thỏ xin lỗi mẹ và cảm ơn
bác Gấu rối rít. Từ đó, Thỏ vâng lời mẹ không dám đi chơi xa nữa..
+ Hoạt động 2: Cho trẻ xem tranh khuôn mặt sợ hãi
Các con đã bao giờ cảm thấy sợ hãi như bạn Thỏ chưa?
Bây giờ Cô và các Con sẽ chơi trò chơi tưởng tượng mình là bạn Thỏ và
cùng làm khuôn mặt sợ hãi giống cô nào (hai đầu gối run lên, miệng mở to..)
Các con làm khuôn mặt sợ hãi rất giỏi, bây giờ chúng ta hãy cùng xem
bức tranh những người đang cảm thấy sợ hãi. Chỉ vào đặc điểm sợ hãi(mắt
hoảng sợ, miệng mở to, lông mày cong lên)
Đoán xem hình một số bạn đang có cảm xúc sợ hãi
Bạn Lan đang sợ hãi vì bạn Nam bỏ con sâu lên người bạn Lan.
Bạn trai đang sợ hãi vì phải ở trong nhà một mình.
Em nhỏ đang sợ hãi vì học lớp có nhiều anh chị lớn.
Cho trẻ chia sẻ những lần mình cảm thấy sợ hãi.
Các con có thích cảm xúc sợ hãi không?
Rút ra : Tất cả mọi người đều có cảm xúc sợ hãi. Khi sợ hãi chúng ta cố
gắng vượt qua, có thể là nhờ người lớn giúp. Và không nên trêu chọc làm cho
bạn mình sợ hãi.
Bây giờ Cô sẽ vẽ khuôn mặt sợ hãi và các con nhìn và vẽ theo Cô nhé.
Hoạt động kết thúc:
Cô cho trẻ vẽ tranh khuôn mặt cảm xúc sợ hãi.
Giờ học 4. Đề tài : Bé và cảm xúc Ngạc nhiên, Xấu hổ
Lứa tuổi: 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Trẻ nhận diện và gọi tên cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ
Kỹ năng
- Chia sẻ và lắng nghe những điều trẻ và bạn chia sẻ
- Có kỹ năng thể hiện và đoán cảm xúc của mình và bạn.
Thái độ
- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn
2. Chuẩn bị:
- Tranh cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ
3. Tiến trình bài học
Hoạt động mở đầu
Cô mở nhạc cho trẻ nghe và vận động theo nhạc bài hát “If You're Happy And
You Know It”
Hoạt động trọng tâm
+ Cảm xúc ngạc nhiên
Các con ơi vừa rồi các con vận động với nhạc bài hát “If You're Happy
And You Know It” các con cảm thấy như thế nào?
À, hầu như các con đều cảm thấy vui phải không nào. Bây giờ Cô muốn
mang đến cho các con một cảm xúc nữa. Nào các con hãy cũng xem đoạn
video sau (Cô chuẩn bị video chú hề biểu diễn xiếc).
Sau khi xem video xong các con cảm thấy như thế nào?
À có bạn cảm thấy vui, có bạn thì cảm thấy bất ngờ.
Vì sao các con cảm thấy ngạc nhiên và vui?
Hôm nay cô sẽ dạy cho các con cảm xúc bất ngờ hay còn gọi là ngạc
nhiên.
Khi ngạc nhiên khuôn mặt chúng ta sẽ như thế nào?
Cô cho trẻ xem tranh các bạn đang thể hiện khuôn mặt ngạc nhiên.
Trẻ cùng thảo luận và đoán xem các bạn đang có cảm xúc gì? Cùng đoán
xem sao bạn lại cảm thấy như vậy
Cô phân tích cảm xúc ngạc nhiên
+ Ngạc nhiên: lông mày nâng lên, mắt mở to và miệng mở rộng.
Cô vẽ cảm xúc ngạc nhiên lên bảng.
Ai có thể chia sẻ với cô một lần con cảm thấy ngạc nhiên.
+ Cảm xúc xấu hổ
Cho trẻ xem tranh thể hiện nhiều cảm xúc xấu hổ khác nhau.
Cô cho trẻ xem tranh khuôn mặt xấu hổ và cùng thảo luận những biểu
hiện của khuôn mặt xấu hổ
Và đoán xem vì sao bạn cảm thấy xấu hổ.
Cho trẻ nói về những lần mình cảm thấy xấu hổ.
Phân tích trẻ thấy biểu hiện khuôn mặt mắc cỡ đỏ mặt, đôi mắt nhìn
xuống, tư thế chùng, cúi đầu.
Cô phân tích tranh một bạn mập chạy thể dục cùng các bạn, nhưng vì bạn
mập nên bạn chạy chậm hơn các bạn. Thế là bị các bạn lêu lêu. Bạn mập đỏ
mặt cuối thấp người xuống, không dám nhìn ai.
Bạn mập cảm thấy thế nào khi chạy chậm và bị các bạn lêu lêu?
Chúng ta làm thế nào để bạn hết xấu hổ (không cười bạn mà cỗ vũ bạn cố
gắng chạy)
Hoạt động kết thúc:
Cho trẻ ngồi vòng tròn hát và chuyền bóng cho nhau. Bóng dừng đến bạn
nào bạn đó sẽ đứng lên làm khuôn mặt cảm xúc ngạc nhiên, xấu hổ hoặc những
cảm xúc lần trước cho các bạn đoán.
Giờ học 5. Đề tài: Cảm xúc giận dữ
Lứa tuổi: 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Trẻ gọi tên, nhận diện được tư thế và dáng người liên quan đến cảm
xúc giận dữ.
- Cảm xúc giận dữ được chấp nhận nhưng hành vi “xấu” thì không
được chấp nhận.
Kỹ năng
- Nhận biết và đoán được cảm xúc của mình và bạn.
Thái độ
- Trẻ quan tâm và chia sẻ cùng bạn.
2. Chuẩn bị:
- Tranh cảm xúc giận dữ.
- Tình huống trẻ giận dữ và đánh bạn
3. Tiến trình bài học
Hoạt động mở đầu: Tạo tình huống
Sơn đang xây dựng sở thú thật đẹp, Lâm đến phá sở thú của Sơn. Sơn thể
hiện sự giận dữ tay run lên, mặt nóng bừng bừng. Và hét lên: “Cậu phá hỏng sở
thú của tớ rồi” Sơn giận và đánh Lâm.
Hoạt động trọng tâm
+ Nhận diện cảm xúc giận dữ
Vừa rồi xem tình huống bạn Sơn và bạn Lâm đóng các con có suy nghĩ gì?
Cô cho trẻ thảo luận và đặt ra những câu hỏi gợi ý:
Khi bị bạn Lâm phá sở thú bạn Sơn đã cảm thấy như thế nào các con?
(À bạn đã rất giận dữ.)
Bạn thể hiện như thế nào? (Cho trẻ nói và mô tả lại cho cả lớp xem).
Tức tối, giận dữ là cảm xúc mà ai trong chúng ta cũng gặp. Cô rất giận dữ
khi lớp mình ồn ào. Bạn Sơn rất giận dữ khi bạn Lâm phá sở thú của Sơn. Các
con thường giận dữ khi nào?
Khi đó các con cảm thấy như thế nào ?
Khi giận dữ các con thường biểu hiện như thế nào?
Chỉ ra đặc điểm của giận dữ (Răng nghiến lại, miệng căng ra, lông mày
chùng xuống, ánh mắt giận dữ, nắm tay siết chặt, giọng nói to gắt gỏng..)
Cho trẻ xem tranh thảo luận những người cảm thấy giận dữ theo tư thế
khác nhau.
Trẻ bắt cặp với bạn làm khuôn mặt giận dữ và thể hiện giọng nói giận dữ.
+ Cảm xúc giận dữ thì được chấp nhận nhưng hành vi xấu thì không được
chấp nhận
Các con có thích cảm xúc giận dữ không? Vì sao?
Sẽ có bạn không thích cảm xúc giận dữ đúng không nào, cảm xúc giận dữ
thường mang đến cho chúng ta sự khó chịu bên trong. Nhưng cảm xúc thì
không xấu khi giận dữ các con nên chia sẻ cho Cô và các bạn.
Nhưng khi giận dữ các con thường làm gì? (Có bạn thì đánh và la hét
những người xung quanh).Giống như bạn Sơn khi giận dữ đã đánh bạn Lâm
như vậy có được không?
Cảm xúc giận dữ giống như quả bóng đang căng phồng lên và có thể nổ
bất cứ lúc nào. Giống như khi chúng ta giận dữ, ta cảm thấy khó chịu, muốn la
hét và có nhiều hành vi xấu như : đánh bạn, la hét… Cô minh họa bằng quả
bóng bay đang thổi phồng lên và nó có thể nổ.
Khi giận dữ các con nên làm gì?
Các con hãy về nhà suy nghĩ câu hỏi của Cô nhé vào giờ học hôm sau Cô
sẽ kể cho các con nghe một bạn có bí quyết rất hay khi giận dữ nhé.
Giờ học 6. Đề tài: Bí quyết của Rùa
Lứa tuổi: 5-6 tuổi
1. Mục tiêu:
Kiến thức:
- Nắm được các bước giữ bình tĩnh của Rùa.
Kỹ năng
- Rèn kỹ năng ghi nhớ, tập trung chú ý
Thái độ
- Trẻ quan tâm, chia sẻ và đoàn kết cùng bạn.
2. Chuẩn bị:
- Powerpoit câu chuyện bí quyết của Rùa
3. Tiến trình bài học:
Hoạt động mở đầu
Trẻ cùng nhau hát bài hát yêu thích. Khi cô giơ hình đến khuôn mặt cảm xúc
nào trẻ sẽ hát bài hát với giọng cảm xúc đó. Cảm xúc vui trẻ sẽ hát với giọng
vui, cảm xúc buồn trẻ sẽ hát với giọng buồn, cảm xúc giận dữ trẻ sẽ hát với
giọng giận dữ.
Hoạt động trọng tâm
Các con ơi lần trước các con còn nhớ chuyện gì xảy ra với bạn Sơn và bạn
Lâm không nào?(Lúc đó bạn Sơn cảm thấy như thế nào? Bạn Sơn đã có hành
động gì?)
Chúng ta có chấp nhận cảm xúc giận dữ của bạn Sơn không? Và các con
không chấp nhận điều gì?
Lần trước Cô đặt ra cho lớp mình câu hỏi “Khi giận dữ chúng ta nên làm
gì? Bạn nào đã có câu trả lời hãy chia sẻ cho cả lớp cùng biết nào?”.
Hôm nay cô sẽ cho lớp mình nghe câu chuyện của một bạn, bạn ấy cũng
đã có lúc tức giận như bạn Sơn. Nhưng bạn đã được Cô giáo chia sẻ một bí
quyết mỗi khi bạn giận dữ. Các con hãy cùng xem bạn đã làm như thế nào mỗi
khi giận dữ nhé.
Cho trẻ xem powerpoint câu chuyện “Bí quyết của Rùa” [phụ lục… ]
Đàm thoại:
Trong câu chuyện có những nhân vật nào?
Trong đó, bạn Rùa là người như thế nào?
Khi tức giận Rùa thường làm gì với bạn bè của mình?
Lúc đó các bạn của Rùa cảm thấy như thế nào?
Sau đó Rùa đã nghĩ ra cách gì để giải quyết rắc rối của mình?
Cho trẻ nhìn tranh và nhắc lại theo Cô
Bước 1: Công nhận cảm xúc của bản thân
Bước 2 : Suy nghĩ “ dừng lại”
Bước 3 : Chui vào bên trong vỏ và hít thở sâu 3 cái
Bước 4: Quay lại khi bình tĩnh và nghĩ ra giải pháp
Các bạn đã cảm thấy như thế nào khi Rùa đã biết giữ bình tĩnh mỗi khi tức
giận và dùng lời nói để giải quyết vấn đề của mình?
Cô cho trẻ chia nhóm thực hiện bí quyết của Rùa.
Hoạt động kết thúc:
Cô mời bạn Sơn và Lâm lên đóng tình huống và thực hiện theo các bước của
Rùa.
Phụ lục 8. Một số hình ảnh trong quá trình tổ chức giáo dục kỹ năng
NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
Bé tập đóng kịch và luyện tập bí quyết của Rùa
Bé chia sẻ cảm xúc trong tranh vẽ
Góc hoạt đông cảm xúc của bé
Bé và chơi trò chơi cảm xúc cùng bạn
Phụ lục 9. Giáo dục kỹ năng NBVTHCX cho trẻ 5-6 tuổi
thông qua một số trò chơi
1. Trò chơi 1: “Trái tim quan tâm”
Giáo viên cần chuẩn bị những trái tim nhỏ bằng giấy với nhiều màu sắc
khác nhau. Và viết lên mỗi trái tim từ “quan tâm”, “yêu thương”. Giải thích
cho trẻ “Trong một tuần cô sẽ đặc biệt chú ý đến những bạn biết thể hiện hành
vi quan tâm, chăm sóc bạn của mình. Hành vi đó có thể là sự chia sẻ, giúp đỡ
bạn với một hoạt động nào đó. Hoặc thể hiện sự lịch sự, tôn trọng cô giáo và
bạn bè. Mỗi khi bạn nào thể hiện một hành động quan tâm, yêu thương cô sẽ
thưởng cho bạn đó một trái tim.” Vào cuối mỗi tuần, những trẻ nhận được ba
trái tim hoặc nhiều hơn cô có thể tuyên dương và thưởng một món quà cho trẻ đó.
2. Trò chơi 2: “Người bạn bí ẩn”
Trước khi tổ chức chơi, giáo viên viết tên trẻ trên một mảnh giấy nhỏ, gấp
chúng lại và đặt trong một chiếc mũ hoặc hộp quà. Vào đầu tuần, yêu cầu mỗi
trẻ chọn tên mỗi bạn từ chiếc mũ. Trẻ chọn được tên bạn nào sẽ trở thành
người bạn bí ẩn của bạn đó. Người bạn bí ẩn sẽ được giữ bí mật trong suốt một
tuần. Yêu cầu mỗi ngày người bạn bí ẩn làm điều gì đó đặc biệt cho người bạn
của mình,có thể là tặng những món quà nhỏ bí mật vào dịp sinh nhật bạn.Vào
cuối tuần trẻ đoán xem người bạn bí ẩn của mình là ai. Người bạn bí ẩn nào
được bạn đoán đúng sẽ nhận được sự tuyên dương của các bạn và cô giáo.
3. Trò chơi 3: “Búp bê yêu thương”
Giáo viên có thể tận dụng lõi giấy vệ sinh làm thành những nhân vật búp
bê thể hiện những khuôn mặt cảm xúc khác nhau. Sau đó, cho trẻ hóa thân
vào những nhân vật và tưởng tượng ra những câu chuyện hay trải nghiệm cảm
xúc trẻ gặp hằng ngày. Nếu trẻ chưa nghĩ ra những tình huống giáo viên có
thể gợi ý và tham gia chơi cùng trẻ. Những cảm xúc và tình huống trẻ đóng
vai, sẽ giúp trẻ nhận thức rất rõ về cảm xúc của mình và của bạn. Qua đó, trẻ
sẽ học được cách thể hiện sự yêu thương, quan tâm, biết đặt mình vào vị trí
người khác để xây dựng tình bạn tốt đẹp với những người xung quanh.
Phụ lục 10. Một số truyện kể giáo dục kỹ năng NBVTHCX
cho trẻ 5-6 tuổi
1. Câu chuyện : “Chiếc Ấm trà”
Chuyện kể rằng, có một chiếc Ấm trà bị mất quai, mẹ đem bỏ vào kho. Một
hôm, Lan đang chơi ngoài sân, nghe tiếng khóc thút thít. Lan bèn dừng lại hỏi:
- Ôi tiếng khóc của ai thế nhỉ? Lan tiến lại gần, thì ra là bạn Ấm trà.
- Sao bạn lại khóc?
- Hu hu Những ngày qua tôi rất cô đơn, không có ai chơi với tôi cả.Tôi cảm
thấy rất buồn.
Nghe vậy, Lan liền đến bên cạnh Ấm trà và nói.
Bạn đừng khóc, nếu bạn không có ai chơi thì từ nay chúng ta sẽ là bạn của
nhau nhé.
Nghe Lan nói vậy, Ấm trà vui lắm và ôm Lan vào lòng. Sau đó, Lan liền
mang ấm trà vào nhà. Và bạn nảy ra ý tưởng sẽ trồng hoa trong Ấm trà. Ngày
ngày, Lan đều tưới nước cho cây và trò chuyện với Ấm Trà.
Chẳng lâu sau, cây lớn nhanh và nở hoa rất đẹp. Ai đi qua cũng trầm trồ
khen ngợi, ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp được trồng trong môt Ấm trà
rất sáng tạo. Thấy vậy, Lan và Ấm Trà vui lắm hai bạn nắm tay nhau và hát
vang cả ngôi nhà.
2. Những miếng bọt biển hạnh phúc
Ngày xửa ngày xưa, ở một đại dương nọ, có những miếng bọt biển sống rất
hạnh phúc. Không phải là đại dương bình thường, mà là đại dương yêu thương.
Vì thế những miếng bọt biển này lúc nào cũng tràn đầy tình yêu thương.
Một lần miếng bọt biển quyết định vào bờ chơi. Nó cuộn tròn trên sóng
biển và vào đến bờ lúc nào không hay. Nó thấy gì trên bãi biển? Đó là một cô
bé đang ngồi trên cát.
Cô bé dường như không để ý gì đến đại dương xanh đẹp và cũng không
để ý gì đến bầu trời xanh trong. Cô bé chỉ cuối mặt xuống đất. Cô bé có vẻ
không hạnh phúc. Bọt biển ngạc nhiên khi nhìn vào khuôn mặt buồn bã của cô
bé. Nó không hiểu sao cô bé lại buồn chán dưới ánh nắng vàng đẹp như vậy.
Bọt biển lên tiếng: “Chào bạn, cô bé nhỏ! Sao vậy? Bạn có vẻ không vui. Mình
thường nghe nói đến những cô bé và cậu bé luôn cười cơ mà!.”
Cô bé miễn cưỡng đáp: “ Không đúng thế đâu. Ở đây có nhiều người buồn
lắm”. Cô ngước nhìn bọt biển một cách chăm chú và nói: “Mình rất ngạc nhiên
khi nhìn thấy một miếng bọt biển hạnh phúc như bạn. Mình chưa từng nhìn
thấy một khuôn mặt nào hạnh phúc như vậy. Sao bạn hạnh phúc thế?”.
Bọt biển mỉm cười: “Dễ lắm! Đây là đại dương tình yêu, nên những
miếng bọt biển chúng mình thường xuyên hút nước tình yêu vào mình. Sau đó
chúng mình chia sẻ tình yêu cho nhau. Có khi miếng bọt biển nào đó xao lãng
và quên nhận tình yêu, thì cũng có xảy ra một số tai nạn. Nghĩa là nó cũng cảm
thấy buồn phiền hay cáu giận”.
Cô bé rướn người, háo hức hỏi: “Khi đó các bạn làm gì?”. Bọt biển nhìn
cô bé dịu dàng trả lời: “Chúng mình sẽ đến bên miếng bọt biển đó!”. Cô bé
càng tò mò: “Rồi làm gì nữa”. “Tụi mình đã hút đầy nước yêu thương và vắt
nước yêu thương ấy cho bạn bọt biển buồn phiền hay cáu giận đó”, Bọt biển
nháy mắt: “Thế thôi, dễ lắm”.
Cô bé chân thành: “Bạn đúng là bạn của mình, Bọt biển ạ. Mình muốn
được như bạn. Những câu bé và cô bé chúng mình có thể hấp thụ yêu thương
và sẽ hạnh phúc như bạn không?”.
Bọt biển chắc chắn: “Dĩ nhiên là được”.
Cô bé chợt nhớ: “Mình không phải là bọt biển! Mình là một cô bé. Làm sao
mình có thể làm được?”.
Bọt biển tự tin: “Không sao! Chỉ cần bạn tin vào tình yêu. Bạn giống bọt
biển vì bạn có thể tự làm đầy mình bằng tình yêu thương và bạn có thể cho đi
tình yêu đó”.
Cô gái thốt lên vui vẻ: “Thật tuyệt vời! mình sẽ thử!”. Cô bé bắt đầu hít
thở thật sâu. Cô bé để ý hít vào tình yêu thương và thở ra. Cô bé mỉm cười
đồng ý: “Đúng thật! Mình thấy hạnh phúc hơn rồi!”
Bọt biển nói: “Thấy không, rất dễ. Đối với tình yêu, tất cả chúng ta đều
như nhau”.
3. Gấu con cô đơn
Gấu con mới chuyển đến làng động vật trong khu rừng. Bạn ấy không có
bố, cũng chẳng có mẹ, sống một mình rất cô đơn. Các con vật nhỏ biết vậy
thường đến chơi quây quần bên nhau cười đùa vui vẻ và kể chuyện cho gấu con
nghe. Đến tết trung thu, Gấu con ở nhà một mình, buồn quá Gấu con ngước
nhìn ánh trăng và bầu trời sao, òa khóc nức nở. Bỗng nhiên, gấu con nghe thấy
bên ngoài có tiếng gõ cửa. Thì ra là các bạn nhỏ đến vui tết trung thu cùng gấu.
Khỉ con còn mang cho Gấu con một hộp bánh trung thu xinh xắn. Gấu con cảm
động rớt nước mắt, xúc động nói: “Em cảm ơn mọi người, đây là ngày mà em
thấy vui nhất từ trước đến nay”.
4. Chú chim nhỏ với bông hoa bìm bìm
Chú chim nhỏ đáng yêu sống trên cây Đa bên bờ sông. Ngày ngày, chim
bay xuống nô đùa cùng hoa và cỏ dưới gốc cây. Một hôm, chim bị ốm, nó mệt
mỏi ủ rũ nằm trong tổ. Nó rất mong có một người bạn đến thăm và trò chuyện
cùng. Hoa Bìm bìm biết tin liền đến thăm chim nhỏ. Đêm đến, hoa Bìm bìm
leo lên cây đa. Nó miệt mài leo, đến sáng hôm sau thì leo đến cạnh tổ chim.
Lúc ấy, chim vẫn chưa ngủ dậy. Ánh mặt trời chiếu rọi vào tổ khiến nó bừng
tỉnh. Nó rất vui vì mở mắt ra thì thấy hoa Bìm bìm, cảm giác như bệnh cũng đỡ
hơn rất nhiều. Chim bay quanh hoa Bìm bìm và hát cho hoa nghe.
5. Tặng ngày sinh nhật cho mẹ
Hôm nay là sinh nhật Lan Phương. Mẹ tặng cho cô bé rất nhiều quà và nói:
“Chúc con gái sinh nhật vui vẻ”. Lan Phương hỏi mẹ: “Mẹ ơi sao con chẳng
thấy mẹ tổ chức sinh nhật bao giờ?”. Mẹ vừa quét nhà vừa nói: “Mẹ quên ngày
sinh của mình rồi”. Ăn sáng xong, mẹ xách túi chuẩn bị đi làm thì thấy túi rất
nặng. Mẹ mở ra xem thì thấy đó là những món quà mình vừa tặng con gái. Lúc
ấy, Lan Phương đến bên mẹ và nói: “Mẹ ơi, con tặng ngày sinh nhật của con
cho mẹ. Hôm nay là sinh nhật mẹ. Đây là những món quà con dành cho mẹ”.
Mẹ ôm Lan Phương vào lòng và hỏi: “Con tặng sinh nhật cho mẹ thì con tổ
chức sinh nhật làm sao được?”. Lan Phương đáp: “Mẹ tặng ngày sinh nhật của
mẹ cho con là được ạ”. Mẹ xoa đầu Lan Phương xúc động nói: “Con gái của
mẹ đã lớn rồi”.
6. Bạn thân
Khỉ con, gà con và chó con là ba người bạn thân thiết. Chúng thay phiên
nhau chơi xích đu rất vui vẻ. Đến lượt chó con và khỉ con đu xích đu, gà con
ngồi trên cười khúc khích. Đang lúc chơi vui thì khỉ con đẩy một cái rất mạnh
vào người gà con. Gà con đứng không vững nên ngã lộn xuống đất. Đầu gà con
lập tức sưng tấy lên. Chó con và khỉ con vội đưa gà con về nhà. Khỉ con thấy
có lỗi nên mấy ngày sau không dám đi tìm gà con. Hôm ấy, khỉ con lấy hết
dũng khí đến gặp gà con và nói: “Gà con, tớ muốn xin lỗi cậu”. Gà con nói:
“Không sao, cậu không cố ý mà. Chúng mình vẫn là bạn tốt của nhau nhé!”.
Khỉ con tươi cười nói: “Đúng vậy, chúng mình mãi là bạn tốt của nhau”.
7. Nhím con mời khách
Hằng ngày, nhím con rất ngoan và không gây ồn ào. Hôm nay là sinh nhật
mẹ nên có rất nhiều khách đến chơi, không khí trong nhà thật náo nhiệt. Vì quá
vui nên Nhím con đã cắm hết hoa quả mời khách vào lông sắc nhọn trên người
mình khiến mọi người cười ầm lên. Nhím con hứng trí chạy lên bàn nhảy múa.
Mẹ lấy bánh ga tô và nói với nhím con: “Con trật tự một chút”. Nhím con vui
vẻ nói: “Vâng ạ”. Vừa nói dứt lời, nhím con vội chạy đi lấy bánh ga tô, kết quả
làm rơi bánh ga tô xuống đất. Chiếc áo mới của mẹ cũng bị dính đầy kem. Mọi
người đều lắc đầu thở dài, ngồi chơi một lúc rồi ra về.
Nhím mẹ rất buồn và tức giận. Ngày sinh nhật mẹ mà mẹ phải khóc. Nhím con
biết mình sai, buồn rầu đến bên cạnh mẹ. Nó vô cùng ân hận và xin lỗi mẹ vì
những gì đã làm.
8. Trời mưa
Thỏ con đang nô đùa nhảy nhót trên bãi cỏ thì trời bỗng đổ cơn mưa. Nó vội
ngắt một tàu lá to che lên đầu.
Gà con đi ngang qua, vừa đi vừa rên rỉ: “Lạnh quá! Lạnh chết đi được”. Thỏ
con gọi gà con: “Gà con ơi! Lại đây trú mưa với tớ”. Gà con nói: “Cảm ơn
cậu”.
Mèo con đi tới: “Meo, meo, meo, lạnh quá!”. Thỏ con và gà con nói: “Mèo con
ơi, mau đến chỗ bọn tớ trú mưa”. Mèo con nói: “Cảm ơn hai cậu”. Ba người
bạn thân cùng trú mưa.
Một lúc sau trời tạnh, thỏ con , gà con và mèo con cùng chơi đùa rất vui vẻ.
Phụ lục 11. Một số hình ảnh dạy trẻ về cảm xúc
Cảm xúc Vui
Cảm xúc Buồn
Cảm xúc Xấu hổ
Cảm xúc Ngạc nhiên
Cảm xúc Giận dữ
Cảm xúc Sợ hãi
Thất vọng Xấu hổ Buồn
Hôm nay
bạn cảm
Giận Căng thẳng
thấy như
thế nào!
Hạnh phúc Tự hào
Sợ Yêu thương Cô đơn
Tranh vẽ khuôn mặt cảm xúc
Phụ lục 12: Câu chuyện bí quyết của Rùa.
Phụ lục 13. Tranh thang đo mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi ở phần khảo sát chương 2
Hình 1. Cảm xúc Vui
Hình 2. Cảm xúc Buồn
Hình 3. Cảm xúc Giận dữ
Hình 4 Cảm xúc Xấu hổ
Hình 5. Cảm xúc Ngạc nhiên
Hình 6. Cảm xúc Sợ hãi
Phụ lục 14. Tranh thang đo mức độ kỹ năng nhận biết và thể hiện cảm xúc
cho trẻ 5-6 tuổi ở phần tác động thực nghiệm chương 3
Hình 1. Cảm xúc Vui
Hình 2. Cảm xúc Buồn
Hình 3. Cảm xúc Giận dữ
Hình 4. Cảm xúc Xấu hổ
Hình 5. Cảm xúc Ngạc nhiên
Hình 6. Cảm xúc Sợ hãi

