N G U Y Ễ N Đ Ă N G H Ư N G
C H U Y Ê N N G À N H Q U Ả N T R Ị K I N H D O A N H
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ------------------------------------- NGUYỄN ĐĂNG HƯNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH HÀ NỘI - 2013
K H O Á 2 0 1 1 - 2 0 1 3
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -------------------------------------
NGUYỄN ĐĂNG HƯNG PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA –
THÀNH PHỐ HÀ NỘI.
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI - 2013
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...................................................................................................5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ....................................................................6
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ....................................................................................7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ..........................................................................8
MỞ ĐẦU................................................................................................................9
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT ...........................................................................14
1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế .......................................................................14
1.1.1. Khái niệm về thuế .....................................................................................14
1.1.2. Chức năng của thuế ...................................................................................15
1.1.3. Phân loại thuế ............................................................................................15
1.2. Thuế giá trị gia tăng .....................................................................................16
1.2.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng ..................................................................16
1.2.2. Các yếu tố cấu thành thuế GTGT ..............................................................17
1.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT ...................................................................18
1.2.4. Quy trình kê khai nộp thuế GTGT ............................................................21
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế GTGT phải nộp trong kỳ của DN ......22
1.3. Quản lý thu thuế GTGT ...............................................................................23
1.3.1. Một số khái niệm chung về quản lý thuế GTGT ......................................23
1.3.2. Nội dung quản lý thuế GTGT ...................................................................29
1.3.2.1. Nội dung quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế ......................................29
1.3.2.2. Nội dung quản lý thuế GTGT đối với NNT ...........................................32
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thuế GTGT ........................................37
1.3.3.1. Người nộp thuế .......................................................................................37
1.3.3.2. Chính sách của Nhà nước về thuế ..........................................................37
1.3.3.3. Tổ chức quản lý thuế của cơ quan chức năng ........................................38
1 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
1.3.3.4. Môi trường quản lý thuế .........................................................................39
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
1.4. Nội dung phân tích quản lý thuế GTGT ......................................................40
1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế GTGT ..................................40
1.4.2. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các bước công việc ...........................43
1.4.2.1. Công tác lập kế hoạch quản lý thuế .......................................................43
1.4.2.2. Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế, thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế .........................................................45
1.4.3. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các yếu tố ảnh hưởng ........................47
1.4.3.1 Người nộp thuế ........................................................................................47
1.4.3.2 Hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế ........................47
1.4.3.3 Tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng ...........................................48
1.4.3.4 Môi trường kinh tế xã hội .......................................................................48
Kết luận chương 1 ...............................................................................................49
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT Ở CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP.HÀ NỘI ...........................................................50
2.1 Giới thiệu khái quát về Quận Đống Đa và Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP.Hà Nội ............................................................................................................50
2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của quận Đống Đa .................50
2.1.2. Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa ...............................51
2.2. Phân tích tình hình thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ...........55
2.2.1. Đánh giá khái quát công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ........................................................................................................................55
2.2.2. Kết quả thực hiện thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ..........56
2.2.3. Phân tích tình hình thu thuế GTGT theo nội dung công việc ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................60
2.2.3.1 Công tác lập kế hoạch .............................................................................60
2.2.3.2 Công tác đăng kí thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, thu nợ cưỡng chế và hỗ trợ NNT .....................................................................................................66
2.2.3.3 Công tác xử lý hoàn thuế ........................................................................70
2.2.3.4. Công tác kiểm tra thuế ...........................................................................71
2 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2.3. Phân tích tình hình thu thuế theo các yếu tố ảnh hưởng ..............................75
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
2.3.1. Tình hình về nhân lực ................................................................................75
2.3.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin ............................79
2.3.3. Phương pháp tổ chức quản lý thu thuế GTGT ..........................................80
2.3.4. Môi trường pháp lý ....................................................................................81
2.3.5. Đặc điểm của người nộp thuế ...................................................................82
2.3.6. Môi trường kinh tế xã hội .........................................................................84
2.4. Kết luận chương 2 ........................................................................................84
2.4.1 Những kết quả đạt được .............................................................................85
2.4.2 Hạn chế trong công tác quản lý thu thuế GTGT ........................................88
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý thu thuế GTGT ...............91
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP.HÀ NỘI .........................................................................................................95
3.1 Định hướng công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới .............................95
3.1.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác thu thuế GTGT ...............................95
3.1.2. Các quan điểm cơ bản trong công tác thu thuế GTGT .............................97
3.1.3. Định hướng hoàn thiện công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới .......98
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................................102
3.2.1. Giải pháp về cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng cao trình độ cán bộ công chức thuế .......................................................................................102
3.2.2. Giải pháp về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT .....................................103
3.2.3. Giải pháp về công tác kiểm tra quyết toán thuế ......................................105
3.2.4. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế ...................106
3.2.5. Giải pháp về công tác cải cách thủ tục hành chính Thuế và hiện đại hoá công tác quản lý thuế .........................................................................................107
3.3. Một số đề xuất hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa ............................................................................................................109
3.3.1. Đề xuất về chính sách, pháp luật thuế .....................................................109
3 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
3.3.2. Đề xuất với cơ quan chủ quản .................................................................115
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
KẾT LUẬN .......................................................................................................117
4 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................119
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP.Hà
Nội” này là công trình nghiên cứu của tôi và nó chưa hề được công bố, hoặc
trình bày trên bất kỳ bài báo hay tạp chí khoa học nào của các tác giả trong
nước.
Tác giả luận văn
5 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Nguyễn Đăng Hưng
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải nghĩa
GTGT Giá trị gia tăng
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNCN Thu nhập cá nhân
NNT Người nộp thuế
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
DN Doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
MST Mã số thuế
MSDN Mã số doanh nghiệp
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
KHĐT Kế hoạch đầu tư
QHS Quản lý hồ sơ
TT Thông tư
BTC Bộ Tài chính
QĐ Quyết định
TCT Tổng cục Thuế
NSNN Ngân sách Nhà nước
6 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
UBND Ủy ban nhân dân
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Tính thống nhất của các hoạt động quản lý .......................................29
Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy các Đội thuế tại Chi cục Thuế ...................55
Sơ đồ 2.2. Mô hình phân công quản lý theo khối ...............................................55
Sơ đồ 2.3. Mô hình phân công theo chức năng ...................................................56
Sơ đồ 2.4. Mô hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp ......................................57
7 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Sơ đồ 2.5. Công tác lập kế hoạch ........................................................................63
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Số lượng DN trên địa bàn Quận Đống Đa qua các năm .....................58
Bảng 2.2. Số lượng DN phân chia theo loại hình doanh nghiệp năm 2012 ........59
Bảng 2.3. Số thu thuế GTGT hàng năm và tỷ trọng thuế GTGT trên tổng số thu ngân sách .............................................................................................................60
Bảng 2.4. Kết quả thu thuế năm 2012 tại Chi cục thuế .......................................60
Bảng 2.5. Kết quả thu thuế năm 2012 tại các Đội thuế ......................................62
Bảng 2.6. Giao kế hoạch thu thuế .......................................................................65
Bảng 2.7. Kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ năm 2010 đến 2012 .............65
Bảng 2.8. Cấp và đóng MST cho NNT ...............................................................68
Bảng 2.9. Kết quả kiểm tra hoàn thuế và số thuế thu hồi ...................................73
Bảng 2.10. Số cán bộ vi phạm qua các năm .......................................................76
Bảng 2.11. Kiểm tra quyết toán và số thuế truy thu ............................................77
Bảng 2.12. Cơ cấu tổ chức tại Chi cục Thuế quận Đống Đa ..............................79
Bảng 2.13. Chi tiêu và kinh phí đào tạo ..............................................................80
Bảng 2.14. Chế độ tiền lương ..............................................................................81
Bảng 2.15. Nhiệm vụ quản lý NNT của công chức thuế ....................................81
Bảng 2.16. Trang bị máy tính cho cán bộ công chức thuế ..................................83
8 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Bảng 2.17. Kết quả thu thuế giá trị gia tăng qua các năm ..................................88
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Sự ra đời của thuế là một tất yếu khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của Nhà nước. Nhà nước xuất hiện đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm
bảo cho nhà nước tồn tại và thực hiện những chức năng nhiệm vụ của mình, vì
thế nhà nước phải sử dụng quyền lực vốn có để tập trung một bộ phận của cải xã
hội vào tay mình.
Để duy trì sự tồn tại của mình, Nhà nước cần có những nguồn tài chính để
chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương
đến địa phương thuộc phạm vi lãnh thổ mà Nhà nước đó đang cai quản; chi cho
các công việc thuộc chức năng của Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho
xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công
cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài.
Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, Nhà nước dùng quyền lực
chính trị buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách
Nhà nước. Hình thức Nhà nước dùng quyền lực chính trị buộc dân đóng góp để
đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình đó chính là thuế.
Ngành thuế Việt Nam luôn hoàn thành nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước
giao phó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm phối hợp chặt chẽ
của các ban ngành, đoàn thể và sự nỗ lực phấn đấu của các doanh nhân, doanh
nghiệp, hệ thống thuế ở nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt nhiều
9 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thành tựu quan trọng, đó là:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để trang trải các khoản chi
thường xuyên, kìm chế lạm phát và có tích lũy ngày một cao hơn.
- Bao quát được tất cả các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các
thu nhập phát sinh trong tiến trình phát triển kinh tế; mở rộng và đồng bộ hóa
các loại thị trường, vừa huy động đúng mức cho Nhà nước, vừa khuyến khích
tích tụ vốn tại doanh nghiệp và dân cư để đầu tư phát triển giải quyết việc làm,
thu nhập và góp phần tăng trưởng kinh tế.
- Phát huy vai trò thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với
nền kinh tế, khuyến khích đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế.
- Hệ thống thuế góp phần khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức,
cá nhân bỏ vốn đầu tư cho sản xuất; khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ sản xuất
trong nước; khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam;
thúc đẩy các doanh nghiệp lớn vươn lên giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân.
- Đảm bảo thực hiện nguyên tắc, công bằng, bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư trong các luật thuế.
- Luật hóa toàn bộ các hình thức thuế và quản lý thuế từng bước hiện đại
tiên tiến phù hợp với sự hội nhập sau rộng vào nền kinh tế thế giới.
Ở nước ta, Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) được thông qua tại kỳ họp
thứ 11 Quốc hội khóa IX ngày 10 tháng 5 năm 1997 và được chính thức áp dụng
từ 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu nhằm khắc phục nhược điểm
của thuế doanh thu. Luật thuế GTGT ra đời là kết quả của sự quyết tâm và nỗ
lực lớn của Đảng và Nhà nước ta, tạo ra bước đột phá có tính chất quyết định
của công cuộc cải cách thuế bước II của Việt Nam. Trước khi chuyển từ thuế
10 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
doanh thu sang áp dụng thuế GTGT, nhiều ý kiến cho rằng có thể xảy ra lạm
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
phát, giảm thu ngân sách Nhà nước cũng như các tác động xấu đến phát triển
sản xuất kinh doanh và xuất khẩu.
Đến nay, thuế GTGT đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, khắc
phục những nhuợc điểm của thuế doanh thu trước đây, không gây ra lạm phát,
với số thu thuế chiếm tỷ trọng lớn trong các loại thuế. Qua gần 15 năm thực
hiện, ngoài việc thể hiện vai trò vốn có, thuế GTGT còn góp phần hoàn thiện hệ
thống chính sách thuế ở nước ta, đưa hệ thống thuế ở nước ta từng bước phù hợp
với thông lệ quốc tế, thúc đẩy mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên cùng với những ưu việt của Luật thuế GTGT, quá trình thực
hiện một luật thuế mới và việc tổ chức quản lý thu thuế cũng bộc lộ rất nhiều
vấn đề liên quan đến cả chính sách thuế và đối tượng nộp thuế. Đặc biệt là đã
xuất hiện tình trạng quản lý chưa tốt, gian lận thuế GTGT tương đối nhiều gây
thất thu cho ngân sách nhà nước và bất bình trong dư luận xã hội. Đây là vấn đề
bức xúc trong quản lý thu thuế GTGT.
Trước những vấn đề đặt ra nêu trên, là người trực tiếp tham gia quản lý
thu thuế, tiếp cận với người nộp thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa – TP Hà
Nội, tôi lựa chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận Đống Đa – Hà Nội”
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục đích chủ yếu của luận văn là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và
thực tiễn của quản lý thu thuế GTGT, phân tích thực trạng công tác quản lý thu
thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa – Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác thu thuế GTGT trên địa bàn quận
Đống Đa – Hà Nội trong thời gian tới.
11 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Để đạt được mục tiêu đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Góp phần nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý thuế GTGT.
- Phân tích thực trạng của công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn
quận Đống Đa – Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường quản lý, chống gian lận
thuế GTGT, góp phần hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT trong thời
gian tới.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chủ thể và khách thể của quản lý
thuế GTGT, trọng tâm là nghiên cứu về việc tổ chức quản lý thu thuế GTGT
trên địa bàn quận Đống Đa – TP Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn từ khi thực hiện Luật thuế GTGT và
trên địa bàn quận Đống Đa do Chi cục Thuế quận Đống Đa trực tiếp quản lý.
Theo Luật Thuế GTGT quy định cho một số đối tượng do điều kiện chưa thể áp
dụng hình thức tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế thì áp dụng
hình thức tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp. Tuy nhiên, phương pháp
tính thuế GTGT trực tiếp không phải là phương pháp tính thuế điển hình, chỉ có
tính tạm thời, phạm vi áp dụng hẹp, số thuế GTGT thu theo phương pháp này
chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Do đó, trong phạm vi luận văn này không nghiên cứu đối
với phương pháp tính thuế trực tiếp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để
nghiên cứu, quan sát, nhìn nhận phân tích sự việc trong sự biến động gắn với
điều kiện lịch sử cụ thể, ngoài ra các phương pháp chuyên ngành cũng được sử
dụng trong quá trình nghiên cứu như thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn giải,
tiếp cận hệ thống.
12 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Luận văn góp phần phân tích làm rõ về lý luận công tác quản lý thu thuế
GTGT, các nguyên nhân và kết quả của công tác quản lý.
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận
Đống Đa – TP. Hà Nội và đề xuất các giải pháp có tính khả thi để tăng cường
công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa – TP. Hà Nội trong
thời gian tới.
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan hoạch định
chính sách thuế cũng như cơ quan quản lý thuế.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thuế giá trị gia tăng và quản lý thu thuế
GTGT.
Chương 2: Phân tích công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống
Đa – TP. Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở
13 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Chi cục Thuế quận Đống Đa – TP. Hà Nội.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ GTGT VÀ QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT
1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế
1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có từ
lâu đời. Khi Nhà nước ra đời, thuế trở thành công cụ để Nhà nước có được
nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Trải qua quá trình phát
triển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nuớc đều sử dụng thuế để phân phối các
khoản thu nhập và huy động nguồn thu cho Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của
thuế gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Do đó, thuế là một phạm trù
kinh tế, đồng thời là phạm trù lịch sử.
Với những quan điểm như trên cho thấy, Nhà nước và thuế là hai phạm
trù gắn bó hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo
điều kiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Thuế có thể thu
bằng tiền, hiện vật hoặc bằng ngày công lao động.
Xét về nội dung vật chất, thuế là một bộ phận của cải xã hội tập trung vào
quỹ ngân sách nhà nước, mà thực chất là một bộ phận của cải từ khu vực tư
được chuyển vào khu vực công, nhằm trang trải những kinh phí để duy trì sự tồn
tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và các chi phí công cộng.
Về bản chất kinh tế, thuế phản ánh quan hệ phân phối của cải xã hội dưới
hình thức giá trị giữa nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội. Các quan hệ
kinh tế này được nảy sinh một cách khách quan giữa nhà nước và các chủ thể
khác trong xã hội, đặc biệt là các pháp nhân và các thể nhân. Trong đó các pháp
14 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nhân, thể nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nước theo đúng quy định do chính nhà nước đề ra mà không gắn với bất kỳ một
ràng buộc nào về sự hoàn trả số thuế đã nộp, hoặc cung cấp trực tiếp hàng hoá
hay dịch vụ cho người nộp thuế từ phía nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu thuế là hình thức động viên bắt buộc của nhà nước
theo luật định, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập
của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước, để đáp ứng các nhu cầu
chi tiêu của nhà nước và phục vụ cho lợi ích công cộng, chính sách xã hội.
1.1.2. Chức năng của thuế
Thuế có ba chức năng cơ bản là:
- Công cụ chủ yếu trong việc tập trung nguồn lực vào ngân sách nhà nước
để đảm bảo cho chi tiêu của nhà nước.
- Công cụ điều tiết nền kinh tế thị trường góp phần bảo đảm sự phát triển
ổn định, cân đối của nền kinh tế.
- Công cụ quan trọng góp phần tái phân phối thu nhập nhằm thực hiện
công bằng xã hội.
1.1.3. Phân loại thuế
Số lượng các sắc thuế trong hệ thống thuế của các quốc gia là không
giống nhau, nó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu xây
dựng hệ thống thuế quốc gia trong giai đoạn cụ thể.
Tuy vậy, để phân tích tác động của thuế đến các quá trình kinh tế - xã hội
nhằm xây dựng điều chỉnh hệ thống thuế cho phù hợp người ta có thể lựa chọn
các tiêu thức khác nhau để phân loại:
- Phân loại theo tính chất chuyển giao thuế: Chuyển giao thuế là việc xác
định ai là người nộp thuế, ai là người thực sự phải gánh chịu thuế. Theo tiêu
15 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thức này thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Thuế trực thu là loại thuế xác định đối tượng chịu thuế đồng thời cũng
là đối tượng nộp thuế như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân,v.v..
+ Thuế gián thu là loại thuế mà đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế
khác nhau như: thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, v.v..
- Phân loại thuế theo đối tượng đánh thuế: Đối tượng đánh thuế là gì, thuế
đánh trên cái gì? Dựa vào đó, thuế được chia thành các loại:
+ Thuế tài sản là thuế đánh vào bản thân tài sản chứ không đánh vào phần
thu nhập phát sinh từ tài sản đó. Các loại thuế tài sản gồm: thuế nhà đất, thuế
chuyển nhượng tài sản (nhà cửa, xe cộ...).
+ Thuế đánh vào thu nhập là thuế chỉ đánh vào những đối tượng có thu
nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
+ Thuế tiêu dùng là loại thuế đánh vào phần thu nhập của người tiêu dùng
sản phẩm hàng hoá bị đánh thuế như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
xuất nhập khẩu.
+ Thuế đánh trên hoạt động là thuế đánh trên các hoạt động kinh tế như:
thuế môn bài đánh vào hoạt động kinh doanh.
1.2. Thuế giá trị gia tăng
1.2.1. Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng (Tiếng Anh là Value Added Tax -VAT) là loại thuế
được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh từ sản xuất, lưu
thông đến tiêu dùng. Chỉ người bán hàng hoá, dịch vụ lần đầu phải nộp thuế
GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ đó. Vì thuế GTGT được
16 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên đối tượng đánh thuế là
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
hàng hoá, dịch vụ. Đối tượng nộp thuế là cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ còn
đối tượng chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ đó.
Thuế GTGT được áp dụng ở một vài nước Tây Âu từ những năm 50 của
thế kỷ XX. Năm 1954, Chính phủ Pháp chính thức ban hành thuế GTGT nhằm
hạn chế việc thu thuế chồng chéo lên thuế, với thuế suất đồng loạt 20% và chỉ
khấu trừ thuế ở khâu trước đối với nguyên liệu, vật liệu. Đến năm 1966, các
nước châu Âu chính thức ban hành thuế GTGT thay thế một số sắc thuế gián
thu. Nếu như năm 1989 chỉ có 43 quốc gia áp dụng thuế GTGT thì đến năm
2012 đã có trên 150 nước áp dụng sắc thuế này và mức thuế suất dao động từ
5% – 25% tuỳ theo nền kinh tế mỗi quốc gia (Theo NHTG – 2012).
Ở Việt Nam, Luật thuế GTGT được thông qua lần đầu tại kỳ họp thứ 11
Quốc hội khóa IX ngày 10 tháng 5 năm 1997. Nay là Luật thuế GTGT số
13/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 03 tháng 6
năm 2008 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009, theo quy định tại Điều 2:
“Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh
trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Như vậy, Thuế GTGT có
tên gọi là cơ sở tính thuế, là loại thuế có đối tượng đánh thuế là hàng hoá, dịch
vụ. Tại mỗi khâu sản xuất, cung ứng dịch vụ, thuế GTGT chỉ tính trên giá trị
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu, mà không đánh vào phần giá trị đã
chịu thuế ở khâu trước nên cách tính thuế là rất khoa học, rất cần thiết đối với sự
phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phù hợp với yêu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Vì Thuế là công cụ rất quan trọng để Nhà nước
thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang
trong quá trình vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý cuả nhà nước, do
đó thuế giá trị gia tăng có vai trò rất quan trọng.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành thuế GTGT
17 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Thuế GTGT có các thành tố sau:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Tên gọi của Luật Thuế GTGT dựa trên cơ sở tính thuế là giá trị gia tăng
của hàng hoá dịch vụ qua mỗi khâu sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
- Cơ sở đánh thuế của Thuế GTGT là các đối tượng tiêu dùng hàng hoá
trong xã hội đều phải nộp một khoản thuế nhất định, khoản thuế này phải nộp
vào ngân sách nhà nước thông qua nhà sản xuất, cung ứng hàng hoá dịch vụ.
- Thuế suất thuế GTGT : Thuế GTGT là loại thuế có ít thuế suất và thuế
suất thấp, tuỳ theo chính sách thuế của từng quốc gia mà thuế suất thường giao
động từ 5% đến 20%.
- Đối tượng nộp thuế GTGT là nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ. Đối tượng
nộp thuế có nghĩa vụ thu số tiền thuế của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ để
nộp ngân sách nhà nước.
- Đối tượng chịu thuế GTGT là người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ. Mọi
tổ chức, cá nhân khi tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ thuộc diện tính thuế đều phải
trả ngay một khoản thuế khi thanh toán mua hàng, trừ một số đối tượng tiêu
dùng đặc biệt được miễn thuế.
- Đối tượng đánh thuế đối với thuế GTGT là hàng hoá và dịch vụ.
- Quy trình khai thuế và nộp thuế GTGT.
Việc kê khai nộp thuế GTGT được thực hiện khi phát sinh quan hệ mua
và bán hàng hoá chịu thuế GTGT. Tuy nhiên để đơn giản hoá thì thuế GTGT
thường được kê khai nộp vào một kỳ nhất định. Theo quy định của Luật thuế
GTGT Việt Nam là hàng tháng.
1.2.3. Phương pháp tính thuế GTGT
Thuế GTGT được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua
mỗi khâu sản xuất, cung cấp dịch vụ, ở đó doanh nghiệp phải xác định giá trị
18 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp thực hiện sản xuất, cung cấp
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
để kê khai nộp thuế. Để xác định được số thuế phải nộp trong từng kỳ, Luật
Thuế GTGT đã quy định cụ thể phương pháp tính cho các loại đối tượng nộp
thuế như sau:
- Phương pháp khấu trừ thuế.
Khấu trừ thuế GTGT thực chất là trừ đi số thuế GTGT mà cơ sở kinh
doanh đã trả khi mua hàng hoá, dịch vụ về để dùng cho hoạt động sản xuất kinh
doanh. Như vậy, số thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trong kỳ là số thuế
GTGT đầu ra tính theo doanh số doanh nghiệp bán ra và thuế suất trừ đi số thuế
GTGT doanh nghiệp đã nộp ở khâu trước thông qua việc thanh toán tiền hàng
cho người bán.
Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với cơ sở kinh doanh thực hiện
đầy đủ chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật về kế
toán, hoá đơn, chứng từ và đăng ký nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế,
trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT.
Xác định thuế GTGT phải nộp:
Thuế GTGT Thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào = - phải nộp đầu ra được khấu trừ
Trong đó thuế GTGT đầu ra là số thuế tính trên tổng giá bán (chưa bao
gồm thuế GTGT) hàng hoá, dịch vụ bán ra trong kỳ. Thuế GTGT đầu ra được
tính theo công thức sau:
Giá tính thuế Thuế suất
Thuế GTGT của hàng hoá, tương ứng của = x đầu ra dịch vụ chịu hàng hoá, dịch
19 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế bán ra vụ bán ra
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Thuế GTGT đầu vào là thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT khi mua hàng
hoá, dịch vụ hoặc số thuế ghi trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá, dịch
vụ nhập khẩu.
Thời điểm tính thuế GTGT đầu ra là thời điểm cơ sở kinh doanh chuyển
giao quyền sở hữu hàng hoá, dịch vụ đã hoàn thành không phân biệt người mua
đã trả tiền hay chưa trả tiền.
Trên cơ sở tính thuế phải nộp, sẽ xuất hiện những trường hợp số thuế phải
nộp âm thì sẽ được Nhà nước hoàn thuế đã nộp ở khâu trước. Căn cứ vào điều
kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ, Nhà nước quy định cụ thể điều kiện và thủ tục
hoàn thuế cho phù hợp.
- Phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên GTGT.
Trên thực tế có một số đối tượng kinh doanh không đáp ứng được yêu cầu
để áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, nên Luật thuế GTGT
đã quy định một phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.
Phương pháp này thực chất không hoàn toàn chính xác với giá trị tăng thêm tại
doanh nghiệp, nhưng trên cơ sở khảo sát toàn bộ ngành nghề kinh doanh trên thị
trường và xác định mức bình quân chung của xã hội, Nhà nước đã quy định cụ
thể đối với một số đối tượng cụ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh
tại Việt Nam không thực hiện theo luật đầu tư nước ngoài, cá nhân Việt Nam
sản xuất kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn
chứng từ để làm căn cứ tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và các cơ sở
mua bán vàng bạc đá quý, ngoại tệ.
Hoá đơn bán hàng cho các cơ sở tính thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp: Cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp sử dụng loại hoá
đơn khác (gọi là hoá đơn bán hàng), loại hoá đơn này không ghi số thuế GTGT
20 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
của hàng hoá trên đó mà giá bán hàng ghi trên hoá đơn là giá đã có thuế GTGT.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Xác định thuế GTGT phải nộp:
Giá trị gia tăng
Thuế suất của hàng hoá Thuế GTGT x = thuế GTGT dịch vụ chịu phải nộp tương ứng thuế GTGT
Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ được xác định như sau:
Doanh số của Giá vốn của hàng Giá trị gia tăng
- = hàng hoá dịch hoá, dịch vụ mua của hàng hoá,
vụ bán ra vào tương ứng dịch vụ
+ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện dầy đủ hoá đơn, chứng từ bán
hàng hoá, dịch vụ xác định được đúng doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ theo hoá
đơn bán hàng hoá, dịch vụ nhưng không đủ hoá đơn mua hàng hoá, dịch vụ thì
thuế GTGT được tính theo công thức sau:
Tỷ lệ % giá trị gia
Thuế GTGT Doanh thu tăng tính trên = x của hàng hoá, bán hàng hoá doanh thu hàng
dịch vụ dịch vụ hoá, dịch vụ
+ Đối với cá nhân kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ
chế độ hoá đơn mua, bán hàng hoá dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình
kinh doanh của từng cá nhân kinh doanh mà ấn định mức doanh thu tính thuế;
giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ % giá trị gia
tăng tính trên doanh thu.
1.2.4. Quy trình kê khai nộp thuế GTGT
Cơ sở kinh doanh phải đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế, cơ quan thuế
cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế và thực hiện các quy trình quản lý như
21 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
hỗ trợ, quản lý kê khai thuế, kiểm tra. Hàng tháng, cơ sở kinh doanh phải thực
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
hiện lập và gửi cho cơ quan thuế tờ khai tính thuế GTGT kèm theo bảng kê hàng
hoá, dịch vụ mua vào, bán ra. Cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, phải kê
khai nộp tờ khai thuế GTGT theo từng lần nhập khẩu.
Trên cơ sở tờ khai thuế GTGT nộp cho cơ quan thuế, cơ sở kinh doanh
nộp tiền vào ngân sách số thuế đã kê khai. Nếu số thuế GTGT phải nộp trong kỳ
là số âm mà không đủ điều kiện xin hoàn thuế thì cơ sở được trừ vào kỳ sau.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế GTGT phải nộp trong kỳ của
mỗi doanh nghiệp.
Theo nguyên lý và phương pháp tính thuế GTGT thì thuế GTGT của mỗi
doanh nghiệp phải nộp trong kỳ phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
- Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ do mỗi cơ sở sản xuất ra bao gồm:
Giá trị lao động sống doanh nghiệp đưa vào giá thành sản phẩm, dịch vụ; lợi
nhuận mà doanh nghiệp tạo ra từ việc sản xuất, cung cấp dịch vụ đó.
- Lao động quá khứ doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh nhưng đối tượng cung cấp chưa nộp thuế GTGT.
- Thuế suất của hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp ra thị trường
và thuế suất thuế GTGT của hàng hoá là nguyên vật liệu đã sử dụng trong quá
trình doanh nghiệp thực hiện sản xuất sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Nếu thuế
suất thuế GTGT nguyên vật liệu cao, thuế suất thuế GTGT của sản phẩm thấp
thì số thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trực tiếp ngân sách ít, thậm chí còn
được hoàn thuế và ngược lại.
- Ngoài các yếu tố trên, thuế GTGT doanh nghiệp phải nộp trong từng
thời kỳ còn phụ thuộc vào giá trị nguyên vật liệu tồn kho, trên dây truyền sản
xuất. Đây chính là vấn đề phức tạp của thuế GTGT mà việc kiểm soát trở nên
22 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
khó khăn hơn rất nhiều so với thuế doanh thu.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
1.3. Quản lý thu thuế GTGT
1.3.1. Một số khái niệm chung về quản lý thuế GTGT
+ Khái niệm quản lý thuế
“Quản lý thuế” là vấn đề đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đang
có nhiều cách quan niệm khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm đều đề cập đến sự
tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý bằng các phương thức,
phương tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý là Nhà nước
(mà trực tiếp là cơ quan thuế các cấp). Đối tượng bị quản lý là các doanh nghiệp
và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để đối tượng nộp thuế và
các đối tượng có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của
mình. Phương tiện quản lý là sử dụng các quy định như đăng ký thuế kê khai
thuế, kế hoạch thuế, kế toán, thống kê thuế.
Qua nghiên cứu có thể rút ra một số nội dung chính của khái niệm về
quản lý thuế như sau:
Quản lý phải gắn liền với một lĩnh vực, với một (hay một số) tổ chức nhất
định. “Thuế do Nhà nước tổ chức và dùng quyền lực để thu”. Cho nên, quản lý
thuế gắn liền với Nhà nước. Tuy nhiên, Nhà nước nói chung và những tổ chức
được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp “thu thuế” là hai khái niệm có sự phân
biệt.
“Quản lý nhà nước về thuế” là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu
lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế. Quản lý nhà nước về thuế là quản lý
nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Chủ thể quản lý nhà nước trong lĩnh
vực thuế là các cơ quan nhà nước có chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp
về thuế. Đối tượng của quản lý nhà nước về thuế là các quá trình xã hội, hành vi
của cá nhân và tổ chức xã hội trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, bản luận văn này
23 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
chỉ xét đến lĩnh vực quản lý thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nước,
thuộc lĩnh vực hành pháp và tư pháp về thuế của cơ quan thuế các cấp, với các
chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã
được cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ
chức thực hiện chính sách thuế của cơ quan thuế các cấp, là việc định ra một hệ
thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan
hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính
sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trường quản lý
luôn biến động.
Thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà
nước và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Do đó xét đến cùng, mục
đích của quản lý thuế là nhằm làm cho đối tượng nộp thuế thực hiện đầy đủ, kịp
thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình, đồng thời Nhà nước thực hiện
được các mục tiêu vốn có của mỗi sắc thuế.
Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công
việc qua những nỗ lực của người khác. Do đó, theo nghĩa rộng, công tác quản lý
thuế là hoạt động nhằm đảm bảo sự thực thi nghiêm chỉnh pháp luật về thuế của
các đối tượng nộp thuế qua sự tự giác của chính đối tượng nộp thuế và sự hỗ trợ
của cơ quan thuế và các cơ quan nhà nước có liên quan.
+ Vai trò của quản lý thuế
- Quản lý thuế là thực hiện một chức năng quan trọng của Nhà nước trong
lĩnh vực tài chính.
Kinh tế chính trị Mác-Lê nin đã chỉ ra “quan hệ sản xuất xã hội là quan hệ
kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội: sản
xuất-phân phối-trao đổi-tiêu dùng”. Quản lý nhà nước về thuế nói riêng quản lý
24 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nhà nước về tài chính nói chung là quản lý “quan hệ sản xuất xã hội” diễn ra
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
trong một khâu đặc biệt quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường – khâu
phân phối.
- Mục đích của chính sách thuế có được thực hiện hay không phụ thuộc
chủ yếu vào khâu thực hiện.
Hoạch định chính sách thuế và quản lý thuế là các khâu gắn liền với nhau
trong công tác quản lý nhà nước về thuế. Sau khi chính sách thuế được hoạch
định và được thông qua, cính sách đó được thực thi trong thực tế. Quản lý thuế
có vai trò quyết định trong việc đưa chính sách thuế vào cuộc sống.
+ Đối tượng quản lý thuế GTGT
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Như vậy,
quản lý là một hoạt động khách quan khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục
tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản
đến phức tạp. Trình độ xã hội hoá càng cao, yêu cầu quản lý càng cao và vai trò
của nó càng tăng lên.
Thuế là phạm trù pháp luật; luật thuế quy định quyền, nghĩa vụ của các
chủ thể tham gia thực hiện. Trong đó, cơ quan thuế có tư cách là chủ thể quản
lý nhà nước về thuế, người nộp thuế là đối tượng của quản lý. Luật thuế GTGT
nước Việt Nam quy định về đối tượng nộp thuế và chịu sự quản lý về thuế là:
Các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh
doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức cá nhân khác có nhập khẩu
hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập
khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT. Như vậy, đối tượng quản lý ở đây gồm
các tổ chức kinh doanh được thành lập theo luật doanh nghiệp; các tổ chức kinh
tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ
25 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
chức sự nghiệp và tổ khác; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt
Nam, các cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam; cá nhân, hộ
gia đình và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động kinh doanh, xuất nhập
khẩu.
+ Chủ thể quản lý thuế GTGT
Chủ thể quản lý ở đây là cơ quan thuế các cấp. Để thực hiện luật thuế
GTGT nói riêng và các luật thuế nói chung, nhà nước quyết định thành lập cơ
quan thuế theo mô hình.
TỔNG CỤC THUẾ
CỤC THUẾ TỈNH, THÀNH PHỐ
CHI CỤC THUẾ QUẬN, HUYỆN VÀ THỊ XÃ TRỰC THUỘC CỤC THUẾ
Chi cục Thuế quận, huyện và thị xã tại các tỉnh, thành phố (cơ quan thuế
địa phương) thực hiện quản lý nhà nước đối với các khoản thu nội địa với chức
năng, quyền hạn của Chi cục Thuế như sau:
- Tổ chức triển khai thực hiện thống nhất các văn bản qui phạm pháp luật
về thuế; quy trình, biện pháp nghiệp vụ quản lý thuế trên địa bàn;
- Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân
tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa
phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công
tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị
26 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, hướng dẫn, giải thích chính
sách thuế của Nhà nước; hỗ trợ người nộp thuế trên địa bàn thực hiện nghĩa vụ
nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật.
- Kiến nghị với Cục trưởng Cục Thuế những vấn đề vướng mắc cần sửa
đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, các quy trình chuyên môn
nghiệp vụ, các quy định quản lý nội bộ và những vấn đề vượt quá thẩm quyền
giải quyết của Chi cục Thuế.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc
phạm vi quản lý của Chi cục Thuế : đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ
khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền
phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo
qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp vụ của
ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào
ngân sách nhà nước.
- Quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông
tin về người nộp thuế trên địa bàn;
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kê khai thuế, hoàn thuế, miễn thuế,
giảm thuế, nộp thuế, quyết toán thuế và chấp hành chính sách, pháp luật thuế đối
với người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu thuế theo phân
cấp và thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế;
- Quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn, giảm,
hoàn thuế, gia hạn thời hạn khai thuế, gia hạn thời hạn nộp tiền thuế, truy thu
tiền thuế, xoá nợ tiền thuế, miễn xử phạt tiền thuế theo quy định của pháp luật;
- Được quyền yêu cầu người nộp thuế, các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức, cá nhân có liên quan cung cấp kịp thời các thông tin cần thiết phục vụ cho
27 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
công tác quản lý thu thuế; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý các tổ chức, cá
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nhân không thực hiện trách nhiệm trong việc phối hợp với cơ quan thuế để thực
hiện nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước;
- Được quyền ấn định thuế, thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành
quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật; thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người
nộp thuế;
- Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế do lỗi của cơ quan thuế, theo
quy định của pháp luật; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện thống kê, kế toán thuế, quản lý biên lai, ấn chỉ thuế;
lập báo cáo về tình hình kết quả thu thuế và báo cáo khác phục vụ cho việc chỉ
đạo, điều hành của cơ quan cấp trên, của Uỷ ban nhân dân đồng cấp và các cơ
quan có liên quan; tổng kết, đánh giá tình hình và kết quả công tác của Chi cục
Thuế.
- Tổ chức thực hiện kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và khiếu
nại, tố cáo liên quan đến việc thi hành công vụ của công chức, viên chức thuế
thuộc thẩm quyền quản lý của Chi cục trưởng Chi cục Thuế theo quy định của
pháp luật.
- Xử lý vi phạm hành chính về thuế, lập hồ sơ đề nghị cơ quan có thẩm
quyền khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật thuế theo quy định của
Luật quản lý thuế và pháp luật khác có liên quan.
- Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thực hiện nhiệm vụ cải cách hệ thống thuế theo mục tiêu nâng cao chất
28 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ quản lý thuế
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ cho người nộp thuế thực hiện
chính sách, pháp luật về thuế.
- Tổ chức tiếp nhận và triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
thông tin và phương pháp quản lý hiện đại vào các hoạt động của Chi cục Thuế.
- Quản lý bộ máy, biên chế, lao động; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
công chức, viên chức của Chi cục Thuế theo quy định của Nhà nước và của
ngành thuế.
- Quản lý kinh phí, tài sản được giao, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế
theo quy định của pháp luật và của ngành.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao.
1.3.2. Nội dung quản lý thuế GTGT
Những công việc cần phải làm của các chủ thể quản lý tại cơ quan thuế
trong quá trình quản lý chính là các chức năng quản lý. Các chức năng quản lý
thuế tại cơ quan thuế có thể xem xét theo hai cách chiều:
- Theo quá trình quản lý (xem xét theo “chiều dọc”).
- Theo hoạt động của cơ quan thuế (xem xét theo “chiều ngang”).
Theo quá trình “Quản lý”
Theo lĩnh vực
Sơ đồ 1.1. Tính thống nhất của các hoạt động quản lý
29 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
1.3.2.1. Nội dung quản lý thuế GTGT tại Chi cục Thuế
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Theo quá trình quản lý, nội dung cơ bản của quản lý thuế tại cơ quan thuế
bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, thanh tra kiểm tra thuế.
- Lập kế hoạch quản lý thuế.
Lập kế hoạch quản lý thuế là một chức năng của tất cả các chủ thể quản lý
trong công tác quản lý thuế. Lập kế hoạch quản lý thuế không chỉ là lập kế
hoạch “thu thuế”. Lập kế hoạch quản lý thuế cần được hiểu theo nghĩa rộng gồm
kế hoạch của cơ quan thuế trong mọi lĩnh vực quản lý. “Việc lập kế hoạch có 4
mục đích quan trọng: ứng phó với những bất định và thay đổi, tập trung sự chú
ý vào các mục tiêu, tạo khả năng tác nghiệp kinh tế, giúp cho các nhà quản lý
kiểm tra”. Tại cơ quan thuế hàng năm tiến hành lập các kế hoạch chủ yếu sau:
+ Kế hoạch thu thuế năm
+ Kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ NNT
+ Kế hoạch thanh tra, kiểm tra
+ Dự toán nguồn kinh phí hoạt động, kế hoạch đào tạo, nhân lực ….
- Tổ chức quản lý thuế.
Tổ chức công tác thu thuế tại cơ quan thuế là quá trình gắn kết, phân công
và phối hợp nhiều người vào làm việc cùng nhau nhằm thực hiện mục tiêu
chung. Trong đó, nội dung của chức năng tổ chức bao gồm tổ chức con người và
tổ chức công việc.
Tổ chức con người tại cơ quan thuế là việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu
tổ chức của cơ quan thuế trong từng thời kỳ cho phù hợp với chức năng nhiệm
vụ được giao
Tổ chức công việc tại cơ quan thuế được hiểu theo nghĩa rộng là tổ chức
30 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
công việc trong phạm vi toàn cơ quan và trong phạm vi toàn bộ phận. Mục đích
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
tổ chức công việc của mỗi bộ phận phải phù hợp với mục đích tổ chức công việc
toàn cơ quan thuế.
Tổ chức công việc tại các bộ phận trực tiếp liên quan đến quản lý NNT
bao gồm: xây dựng và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ thuế (như đăng ký và
cấp mã số thuế, xử lý tờ khai và chứng từ nộp thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế,
miễn giảm thuế, quản lý hồ sơ doanh nghiệp). Nội dung quan trọng nhất của các
quy trình nghiệp vụ thuế là các trình tự và thủ tục mà NNT và các bên liên quan
phải tuân theo trong mỗi giai đoạn của quá trình quản lý thuế, các biện pháp tác
động vào đối tượng bị quản lý để đạt mục tiêu của quản lý thuế.
Tổ chức công việc tại cơ quan thuế được hình thành trong mối liên hệ chặt
chẽ với vai trò của các chủ thể trong quản lý thuế, bao gồm: lãnh đạo các cấp,
các công chức thuế và đối tượng nộp thuế. Để làm tốt công tác tổ chức công việc
trong quản lý thuế phải luôn quan tâm đến quá trình nhân sự. Đó là các vấn đề
như: thiết kế và phân tích công việc, thu hút tuyển chọn nhân viên, đào tạo và
phát triển, đánh giá kết quả công việc…
- Lãnh đạo công tác quản lý thuế.
Sự lãnh đạo là khả năng tác động đến người khác để đạt được mục tiêu đã
đề ra. Lãnh đạo công tác thu thuế là quá trình thu hút, lôi cuốn, thuyết phục và
hướng dẫn các hoạt động có liên quan đến nhiệm vụ, nghĩa vụ của những thành
viên trong cơ quan thuế và các đối tượng nộp thuế. Nói cách khác, lãnh đạo là
quá trình tác động vào những con người khác nhau trong đối tượng nộp thuế và
cơ quan thuế để đạt được mục tiêu do người lãnh đạo đề ra. Các nguồn lực hình
thành quan hệ lãnh đạo bao gồm: quyền lực pháp lý-hành chính, quyền lực từ
góc độ lợi ích, quyền lực từ góc độ cưỡng chế, quyền lực từ góc độ chuyên gia-
chuyên môn, quyền lực từ tín nhiệm.
31 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Thanh tra, kiểm tra công tác quản lý thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Thanh tra, kiểm tra trong một tổ chức là hoạt động kiểm tra theo dõi các
hoạt động của tổ chức thông qua việc thiết lập hệ thống thông tin quản lý và thu
nhập các thông tin cần thiết.
Kiểm tra là quá trình trong đó các hành động được thực hiện để đảm bảo
rằng các mục tiêu về tổ chức và quản lý được thực hiện. Đó còn là quá trình
mang tính hệ thống trong đó các chủ thể quản lý điều tiết các hoạt động của tổ
chức cho phù hợp với kế hoạch, mục tiêu và các tiêu chuẩn đã được đặt ra.
1.3.2.2. Nội dung quản lý thuế đối với NNT
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế GTGT nói riêng bao gồm các nội
dung sau:
* Đăng ký thuế
- Đăng ký thuế: Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp: Hồ sơ đăng ký MST, MSDN nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế
hoạch đầu tư TP Hà Nội sau đó gửi tờ khai đăng ký thuế (theo mẫu số: 01-ĐK-
TCT của Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính) tới cơ
quan thuế nơi đóng trụ sở chính.
- Tiếp nhận đăng ký thuế: Đội Tuyên truyền (Bộ phận một cửa): Nhận tờ
khai đăng ký thuế, cập nhật thông tin hồ sơ nhận vào ứng dụng QHS sau đó
phân loại tờ khai đăng ký thuế theo từng đội kiểm tra và lập danh sách rồi
chuyển cho Đội kê khai ngay trong ngày.
Trường hợp hồ sơ đăng ký thuế chuyển đến cơ quan thuế qua Phòng
ĐKKD - Sở KHĐT, Đội Tuyên truyền (Bộ phận một cửa) tiếp nhận hồ sơ đăng
ký MSDN từ Sở KHĐT, đóng dấu, ghi ngày nhận vào hồ sơ đăng ký MSDN,
cập nhật thông tin hồ sơ nhận vào ứng dụng QHS và chuyển hồ sơ đăng ký
32 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
MSDN cho Đội kê khai ngay trong ngày.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Nhập, xử lý thông tin đăng ký thuế và truyền dữ liệu: Sau khi tiếp nhận
hồ sơ, Đội kê khai nhập, kiểm tra thông tin hồ sơ đăng ký thuế và truyền dữ liệu
đăng ký thuế của NNT về Cục Thuế để theo dõi.
Việc đăng ký thuế của NNT được thực hiện theo qui định tại Thông tư số
80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn Luật quản lý
thuế về đăng ký thuế và Qui trình quản lý đăng ký thuế ban hành kèm theo
Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009.
* Khai thuế, tính thuế:
- Đối với trường hợp NNT mới thành lập (mới được cấp MST/MSDN):
Đội tuyên truyền hướng dẫn NNT lập và khai thuế theo mẫu và gửi cơ quan thuế
theo đúng hạn quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi
hành.
- Tiếp nhận hồ sơ khai thuế: Đội tuyên truyền tiếp nhận hồ sơ khai thuế,
đóng dấu, phân loại, in danh sách NNT và chuyển đến các đội kê khai và các đội
kiểm tra thuế để kiểm tra, theo dõi.
- Kiểm tra hồ sơ khai thuế: Đội kê khai kiểm tra việc kê khai của NNT,
nếu phát hiện sai sót lập thông báo đề nghị NNT điều chỉnh và kê khai bổ sung.
Các đội kiểm tra thuế tiến hành kiểm tra đối chiếu nếu phát hiện kê khai sai, sử
dụng hoá đơn bất hợp pháp lập thông báo đề nghị NNT lên cơ quan thuế để
kiểm tra và xử phạt theo qui định tại Luật quản lý thuế và các văn bản hướng
dẫn thi hành.
Người nộp thuế phải tính số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước, trừ
trường hợp cơ quan thuế ấn định thuế hoặc tính thuế theo quy định tại Điều 37
33 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
và Điều 38 của Luật Quản lý thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung
trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp
đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế.
Việc khai thuế được thực hiện tại Luật quản lý thuế; Quy trình quản lý
khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế ban hành kèm theo Quyết định số 1864/QĐ-
TCT ngày 21/12/2011 của Tổng cục Thuế.
- Ấn định thuế: Đội kiểm tra thuế theo dõi NNT nếu trường hợp không
nộp hồ sơ khai thuế hoặc không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ
quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung
thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp thì thực hiện
việc ấn định thuế. Việc ấn định thuế được thực hiện tại Luật quản lý thuế và
Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính và các văn bản
hướng dẫn thi hành.
- Quản lý nợ thuế: Đội nợ Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm
nộp theo mẫu số 07/QLN, Sau khi phát hành Thông báo nếu NNT chưa nộp tiền
thuế nợ vào ngân sách nhà nước thì mời NNT đến làm việc tại trụ sở cơ quan
thuế hoặc làm việc trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế và lập biên bản ghi
nhận kết quả, đồng thời, tại biên bản phải yêu cầu NNT cam kết thực hiện nộp
thuế trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế. Đối với khoản tiền thuế
nợ trên 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, NNT có hành vi phát tán tài
sản, bỏ trốn, đội nợ lập thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nợ
thuế theo mẫu 09/CCNT. Việc quản lý nợ thuế được thực hiện tại Quyết định số
1395/QĐ-TCT ngày 14/10/2011 của Tổng cục Thuế.
- Xử phạt VPHC đối với NNT nộp HSKT chậm và chậm nộp tiền thuế
vào NSNN: Việc NNT chậm nộp HSKT được tính theo ngày chậm nộp theo qui
định và chậm nộp tiền thuế vào NSNN tính phạt 0,05% mỗi ngày trên số tiền
34 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế chậm nộp (không kể ngày lễ, ngày nghỉ).
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Nộp thuế: Thời hạn nộp thuế, NNT có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng
thời hạn vào NSNN tại Kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín
dụng khác và thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp
hồ sơ khai thuế.
* Hoàn thuế:
- NNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định và gửi đến cơ
quan thuế trực tiếp theo phương pháp hoàn trước kiểm tra sau hoặc kiểm tra
trước hoàn sau.
- Đội tuyên truyền (Bộ phận một cửa) nhận hồ sơ đề nghị hoàn thuế của
NNT và gửi cho Đội kê khai lập thủ tục trình Lãnh đạo chi cục và gửi toàn bộ hồ
sơ lên Cục Thuế để ra Quyết định hoàn thuế cho NNT.
Công việc này được thực hiện tại Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày
11/01/2012 của Bộ Tài chinh qui định về điều kiện, thủ tục hoàn thuế GTGT và
Qui trình hoàn thuế ban hành kèm theo quyết định số 905/QĐ-TCT ngày
01/7/2011 của Tổng cục Thuế.
* Miễn thuế, giảm thuế:
- Người nộp thuế thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo qui định
(gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn; bị tai nạn, mắc bệnh hiểm nghèo) phải lập
hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế và gửi tới cơ quan thuế.
Đội tuyên truyền (Bộ phận một cửa) nhận hồ sơ thuộc diện được miễn
thuế, giảm thuế theo qui định và gửi cho Đội kê khai lập thủ tục trình Lãnh đạo
chi cục và gửi toàn bộ hồ sơ lên Cục Thuế để ra Quyết định miễn thuế, giảm
thuế cho NNT.
Sau khi có Quyết định miễn thuế, giảm thuế, Đội kê khai điều chỉnh số
35 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế phải nộp từng kỳ của NNT và lưu hồ sơ.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế, các thông tư hướng
dẫn và Qui trình miễn thuế, giảm thuế ban hành kèm theo quyết định số
1444/QĐ-TCT ngày 24/10/2011 của Tổng cục Thuế.
* Kiểm tra thuế
- Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của NNT về tính đầy
đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân
thủ pháp luật về thuế của NNT.
Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế, các thông tư hướng
dẫn và Qui trình Kiểm tra thuế ban hành kèm theo quyết định số 528/QĐ-TCT
ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế.
* Quyết toán thuế:
Chi cục thuế giải quyết việc quyết toán thuế đối với trường hợp NNT có
rủi ro về thuế cao và NNT có nhu cầu sáp nhập, giải thể hoặc chia, tách.
- Trường hợp NNT có rủi ro về thuế cao, vào cuối mỗi năm đội kiểm tra
thuế lập danh sách các DN có rủi ro về thuế cao để lên kế hoạch kiểm tra quyết
toán thuế của năm sau, trình Lãnh đạo chi cục để báo cáo Cục thuế Hà Nội phê
duyệt; Căn cứ kế hoạch kiểm tra quyết toán thuế được phê duyệt các đội kiểm
tra lên kế hoạch kiểm tra quyết toán vào năm sau.
- Trường hợp NNT có nhu cầu sáp nhập, giải thể hoặc chia, tách thì NNT
có công văn gửi cơ quan thuế đề nghị xin kiểm tra quyết toán thuế, công văn này
được gửi tại Bộ phận một cửa thuộc Đội tuyên truyền đóng dấu nhận rồi gửi tới
Đội hành chính vào sổ công văn trình Lãnh đạo chi cục và được gửi tới đội kiểm
tra thuế lập danh sách và lên kế hoạch quyết toán thuế trình Lãnh đạo chi cục
phê duyệt.
36 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Xác định kết quả quyết toán thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Điều chỉnh thuế số thuế phải nộp vào tháng hoặc quý hiện tại.
- Lưu hồ sơ quyết toán: Đội kiểm tra thuế lưu vào hồ sơ doanh nghiệp.
Công việc này được thực hiện tại Luật quản lý thuế và các thông tư hướng
dẫn: Thông tư 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 của Bộ Tài chính.
1.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế GTGT
1.3.3.1. Người nộp thuế
- Khả năng nắm bắt chính sách pháp luật về thuế của các doanh nghiệp
còn yếu. Người làm chủ doanh nghiệp, làm kế toán về trình độ chuyên môn,
trình độ dân trí còn hạn chế, người dân không có thói quen lấy hoá đơn khi mua
hàng, không quan tâm đến kết cấu giá của hàng hoá phải thanh toán khi lấy hoá
đơn.
- Ham muốn lợi nhuận của nhà kinh doanh: mục đích kinh doanh và lợi
nhuận là một trong những phương pháp kiếm lời nhanh trong trong hoạt động
kinh doanh nếu có thể thực hiện được: Lòng ham muốn lợi nhuận thường xuyên
lôi cuốn, thôi thúc nhà doanh nghiệp tìm cách giảm số thuế phải nộp ngân sách
Nhà nước, có tư tưởng trốn tránh và xa rời sự quản lý của cơ quan thuế.
1.3.3.2. Chính sách của Nhà nước về thuế
Về lý thuyết, nếu thu thuế quá cao thường dẫn đến tình trạng trốn thuế;
thuế sẽ đạt mức tối ưu khi thuế suất ở mức độ phù hợp. Trong điều kiện thực tế
hiện nay ở nước ta với ba mức thuế suất thuế GTGT là 0%; 5%; 10% so sánh
với thuế suất của một số nước thì không phải là cao. Tuy nhiên, trong điều kiện
nền kinh tế đang phát triển và thu nhập của dân cư còn thấp, nếu có thể giảm
37 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế suất thì tình trạng trốn thuế sẽ được hạn chế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Chính sách thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung và thay đổi để phù
hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế nên doanh nghiệp có thể lợi dụng để
thực hiện hành vi lách luật. Từ đó gây nhiều khó khăn cho quản lý thu thuế.
- Chế tài xử lý các vi phạm pháp luật thuế không đủ mạnh để làm cho đối
tượng nộp thuế không dám thực hiện gian lận. Trong xã hội văn minh mọi hoạt
động của con người được điều chỉnh bằng pháp luật trong đó pháp luật quy định
những hình phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật. Hình phạt dùng để xử
lý các hành vi vi phạm đồng thời có tính giáo dục răn đe. Luật thuế không là
ngoại lệ, để đảm bảo thực hiện tốt luật thì phải có các chế tài xử lý nghiêm các
vi phạm pháp luật về thuế, đồng thời răn đe các đối tượng không dám làm sai
luật.
1.3.3.3. Tổ chức quản lý thuế của cơ quan chức năng
- Việc quản lý thu thuế có được giải quyết tốt hay không còn phụ thuộc
vào khả năng quản lý thuế của cơ quan thuế. Thuế là cơ quan hành pháp, được
Nhà nước giao quyền và có trách nhiệm thực hiện công tác quản lý nhà nước về
thuế. Nếu cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý tốt, mọi gian lân đều
được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh thì người nộp thuế không thể vi
phạm hoặc sẽ tự giác thực hiện tốt hơn pháp luật thuế. Ngược lại, nếu cơ quan
thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác quản lý không tốt thì sự vi phạm
pháp luật thuế sẽ phát triển mạnh. Trình độ quản lý của cơ quan thuế phụ thuộc
vào các yếu tố:
+ Điều kiện cơ sở vật chất: trụ sở làm việc, trang thiết bị văn phòng, máy
tính, phương tiện và công cụ công tác. Thực tế hiện nay điều kiện về cơ sở vật
chất chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ công tác quản lý.
+ Tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý thuế chưa đồng nhất do chính sách thuế
38 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thường xuyên điều chỉnh bổ sung và cùng một văn bản mới ở mỗi địa danh có
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
cách hiểu khác nhau. Thực tế hiện nay tổ chức ngành thuế đang được kiện toàn
từ việc sắp xếp lại các phòng ban chuẩn hoá cán bộ quản lý. Ngành thuế cũng
đang hoàn thiện xây dựng và triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
theo TCVN ISO 9001:2008 trong thời gian đến hết năm 2015.
+ Phương pháp quản lý thu thuế hiện tại chưa theo kịp với tốc độ phát
triển của nền kinh tế do vậy cần nghiên cứu cải tiến các quy trình quản lý sao
cho tiên tiến, khoa học, năng động và phù hợp cho tất cả các thành phần kinh tế.
1.3.3.4. Môi trường quản lý thuế
Bất kỳ một tổ chức nào, quá trình hoạt động đều gắn liền với các yếu tố
tác động nhất định. Mức độ và tính chất tác động của các yếu tố đó tuỳ thuộc
vào quy mô và tính chất hoạt động của tổ chức. Quản lý thuế luôn diễn ra trong
một môi trường nhất định và môi trường này luôn biến động.
Các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác động đến cơ quan thuế, trong
những điều kiện nhất định hợp thành môi trường ảnh hưởng tới cơ quan thuế.
Môi trường bên ngoài là các yếu tố tác động trên phạm vi rộng và thường
là không tác động một cách trực tiếp đến các hoạt động của cơ quan thuế. Các
yếu tố thuộc môi trường bên ngaòi bao gồm:
- Kinh tế: các yếu tố kinh tế được xem xét và đánh giá trên các chỉ tiêu
chung của một nền kinh tế như tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân, tình
hình giá cả và lạm phát, tình hình lao động và việc làm…
- Văn hoá: tập quán tiêu dùng, văn hoá kinh doanh…
- Xã hội: gồm các yếu tố chính như các yếu tố về nhân khẩu, tập quán và
39 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
truyền thống của từng cộng đồng dân cư, các giá trị xã hội…
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Chính trị: thể chế và xu thế chính trị của quốc gia, lập trường và thái độ
của Chính phủ trước các vấn đề kinh tế xã hội, tình trạng luật pháp và trật tự xã
hội.
- Kỹ thuật công nghệ: thực trạng trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật,
các xu hướng trang bị về kỹ thuật máy móc thiết bị.
Môi trường bên trong là các yếu tố thuộc về nội bộ cơ quan thuế như:
- Cán bộ công chức thuế là những người trực tiếp thực thi công vụ về
thuế. Trình độ và kỹ năng cũng như khả năng phát triển của họ trong tương lai,
tập quán, phong thái và thái độ trong quá trình làm việc sẽ tác động trực tiếp đến
hiệu quả của công tác quản lý thuế.
- Văn hoá công sở: Đây là các giá trị, niềm tin của mọi người trong cơ
quan thuế cùng chia sẻ để xác định đâu là cái đúng và đâu là điều sai đối với
từng hành vi của các cá nhân trong cơ quan thuế.
1.4. Nội dung phân tích quản lý thuế GTGT
1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý thuế GTGT
* Về kết quả công tác thu thuế là số thuế thu được tính trong một niên độ
nhất định (thường được tổng kết theo năm), bao gồm:
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu thuế.
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch = Số thu thực tế / Số thu kế hoạch
- Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm.
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm = Số thu năm nay / Số thu năm trước
- Tỷ lệ nợ thuế = Số phải thu nợ/Số nợ thuế
40 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
* Về hiệu quả công tác quản lý thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Hiệu quả là một chỉ tiêu quan trọng được sử dụng phổ biến ở nhiều lĩnh
vực. Muốn kiểm nghiệm hiệu quả cao hay thấp phải chú ý cả hai mặt số lượng
và chất lượng. Về số lượng, so sánh giữa chi phí và kết quả, về chất lượng, so
sánh giữa hành vi hành chính và mục tiêu có ích đối với xã hội đã đạt được. Tuy
nhiên hiệu quả quản lý của mỗi công chức thuế phải được xem xét trong một
điều kiện hoàn cảnh cụ thể.
Trong lĩnh vực thuế, hiệu quả công tác quản lý thuế không chỉ xét đơn
thuần theo giá trị bằng tiền. Hiệu quả công tác quản lý thuế là hiệu quả của việc
thực hiện chính sách thuế. Hiệu quả thực hiện chính sách thuế được xác định
qua việc so sánh các kết quả đạt được với toàn bộ các nguồn lực đã sử dụng.
Hiệu quả thể hiện ở kết quả đạt được là tối đa, chi phí thì tối thiểu. Đồng thời,
hiệu quả công tác quản lý thuế cũng là hiệu quả của công tác phục vụ đói tượng
nộp thuế trong quá trình chấp hành pháp luật thuế, hiệu quả của việc phát huy
các tác dụng vốn co của mỗi loại thuế đối với sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu
quả công tác quản lý thuế phải được xét ở các góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội và hiệu quả chính trị.
- Hiệu quả kinh tế: khai thác đầy đủ kịp thời các khoản thu Luật định về
thuế vào ngân sách nhà nước với chi phí thối thiểu.
- Hiệu quả xã hội: công tác quản lý thuế phải tích cực góp phần thực hiện
bình đẳng, công bằng xã hội.
- Hiệu quả chính trị: là hiệu quả thực hiện các chủ trương chính sách kinh
tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Hiệu quả quản lý thuế GTGT về cơ bản được thể hiện ở các nội dung:
- Đảm bảo số thu đầy đủ, kịp thời cho ngân sách nhà nước. NNT tự giác
41 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
cao trong chấp hành pháp luật thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Phát huy tác dụng thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực
sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tốc độ tăng vốn trong toàn xã hội, tăng cường
công tác hạch toán kế toán, nâng cao ý thức trong việc sử dụng hoá đơn chứng
từ ...
Một số tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác quản lý thuế.
Có nhiều căn cứ để đánh giá hiệu quả quản lý thuế. Dưới đây là một số
tiêu chuẩn đánh giá phổ biến (định tính, định lượng):
- Tỷ lệ số thu so với nguồn thu = số thuế thu được/khả năng thu được
thuế.
Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ số thu được so với tiềm năng và hiệu quả công
tác thu thuế.
- Chi phí thu thuế và tỷ lệ chi phí thu thuế so với số thuế thu được.
Chi phí thu thuế “là toàn bộ những chi phí cần cho thi hành nghiệp vụ
thuế như: chi phí nhân sự, chi phí đi lại, chi phí vật dụng ... được hạch toán tất
cả vào ngân sách chi hàng năm theo kế toán thông thường”. Theo Adam Smith,
chi phí phải bỏ ra để thu thuế bao gồm chi lương cho bộ máy thuế, xây dựng nơi
làm việc, đào tạo, ấn chỉ thuế, mua sắm trang thiết bị và dụng cụ làm việc.
Chi phí thu thuế trong một niên độ nhất định
Tỷ lệ chi phí thu thuế = Số thuế thu được trong một niên độ nhất định
Tỷ lệ chi phí thu thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thông thường là từ 3%
trở xuống. Tỷ lệ chi phí thu thuế có xu hướng giảm đi. Bởi vì nền kinh tế tăng
trưởng kéo theo các nguồn thu thuế tăng lên đáng kể, trong khi đó số nhân viên
thi hành thuế tăng chậm. “Hiệu quả của hệ thống thuế còn thể hiện ở chi phí
hành thu thấp. chi phí này không nên vượt 2% tổng số thu thuế”.
42 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Hiệu quả của lập kế hoạch thu:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Chất lượng của việc đánh giá là lập dự toán thu thể hiện ở độ sai số giữa
số liệu đánh giá, số liệu dự toán với số thực hiện. Theo Tổng cục Thuế, nếu sai
số thực hiện so với dự toán trong phạm vi bằng hoặc dưới 5% thì chất lượng dự
toán đạt cao, từ 5% đến 10% thì chất lượng trung bình và trên 10% thì việc lập
dự toán chưa sát.
Ngoài ra, về mặt định tính việc xây dựng (giao kế hoạch thu) cao hơn
nhiều so với nguồn thu, cơ quan thuế phải tìm mọi cách để hoàn thành sẽ dễ dẫn
đến các tác động tiêu cực đến quá trình “phát triển, nuôi dưỡng” nguồn thu cho
ngân sách nhà nước.
- Đánh giá công chức theo định kỳ (tháng, quý, năm…)
Việc xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả quản lý
thuế của cán bộ thuế và thường xuyên kiểm tra để thúc đẩy quản lý hiệu quả
hơn. Để có căn cứ đánh giá hiệu quả quản lý của cán bộ thuế thì cần phải nghiên
cứu, xây dựng thành tiêu chuẩn cho mỗi công việc, mỗi công đoạn trong quản lý
thuế để buộc cán bộ thuế thực hiện công việc đó, công đoạn đó phải thực hiện và
đạt được.
1.4.2. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các bước công việc
1.4.2.1. Công tác lập kế hoạch quản lý thuế
- Nội dung công tác lập kế hoạch quản lý thuế:
Lập kế hoạch là một quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện
pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Lập kế hoạch quản lý thuế là một
chức năng của tất cả các chủ thể quản lý trong công tác quản lý thuế. Việc lập kế
hoạch thu thuế là dựa theo dự toán được giao, phân tích tình hình sản xuất kinh
doanh và các biến động ảnh hưởng đến kết quả thu thuế, đánh giá dự báo khả
năng thu thuế, tiến độ thực hiện dự toán thuế, phối hợp các cấp, các ngành có
43 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
liên quan triển khai các biện pháp quản lý thu thuế trên địa bàn.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Để có căn cứ cho việc lập kế hoạch, hàng năm Chi cục Thuế phải thường
xuyên thực hiện việc khai thác hệ thống thông tin của Ngành và tập hợp các
thông tin từ báo chí, phản ánh qua đường dây nóng, từ các cơ quan bảo vệ pháp
luật.
Thông tin về tình hình quản lý NNT; tình hình thu nộp thuế; tình hình lập
và thực hiện dự toán thu Ngân sách; tình hình quản lý nợ thuế; kết quả thực hiện
thanh tra, kiểm tra NNT, thanh tra, kiểm tra nội bộ qua các năm; thông tin về
tình hình hoàn thuế, miễn giảm thuế, xoá nợ thuế; tình hình quản lý ấn chỉ thuế;
tình hình chấp hành pháp luật về công tác cán bộ, chi tiêu kinh phí, ...
Để phân tích, đánh giá xác định những nội dung quản lý thuế, về địa bàn,
đơn vị có doanh thu lớn, có khả năng rủi ro cao cần thiết phải thanh tra, kiểm tra
để đưa vào kế hoạch.
- Mục tiêu công tác lập kế hoạch quản lý thuế:
Việc lập kế hoạch quản lý thuế nhằm xác định hàng năm tại Chi cục Thuế
thu được bao nhiêu tiền thuế vào NSNN, trên cơ sở đó phải xác định được các
công việc cụ thể như sau:
+ Dự báo có bao nhiêu DN nộp thuế trên số lượng DN tại địa bàn Quận
đối với các sắc thuế, số lượng DN mới thành lập và số lượng DN ngừng hoạt
động kinh doanh;
+ Trên cơ sở tập hợp, phân tích thông tin và tình hình thực tế tại đơn vị,
bộ phận thanh tra, kiểm tra xác định cụ thể đối tượng, nội dung, thời kỳ cần đưa
vào kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm cho phù hợp với nguồn nhân lực và
đảm bảo tính khả thi của kế hoạch về số lượng và chất lượng các cuộc thanh tra,
44 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
kiểm tra.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Dự báo thời gian thu được thuế đối với các DN phải nộp thuế và tình
hình nợ đọng thuế để đôn đốc, thu hồi và xử lý các khoản tiền thuế nợ của NNT
có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.
+ Lập kế hoạch về kiểm tra hoàn thuế và số thuế truy hoàn.
+ Lập kế hoạch tuyên truyền hỗ trợ NNT về chính sách, pháp luật thuế, tổ
chức các lớp tập huấn.
+ Lập kế hoạch kiểm tra nội bộ: kiểm tra về việc tuân thủ pháp luật, tính
liêm chính của công chức thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo liên quan đến thực
thi công vụ của công chức thuế; và thanh tra NNT hàng năm, tiếp nhận yêu cầu
và hồ sơ đề nghị thanh tra NNT của các đội kiểm tra thuế và các đội khác
chuyển đến.
+ Lập dự toán nguồn kinh phí hoạt động, kế hoạch đào tạo, nhân lực.
- Đánh giá công tác lập kế hoạch quản lý thuế
Việc lập kế hoạch quản lý thuế tốt và sát với thực tế sẽ là cơ sở để mỗi
cán bộ công chức thuế thực hiện việc theo dõi quản lý và thu thuế được hiệu
quả.
1.4.2.2. Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán
thuế, thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế
- Đăng ký thuế: NNT đăng ký MST, MSDN tại Phòng đăng ký kinh
doanh - Sở Kế hoạch đầu tư TP Hà Nội sau đó gửi tờ khai đăng ký thuế (theo
mẫu số: 01-ĐK-TCT của Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ
Tài chính) tới cơ quan thuế nơi đóng trụ sở chính.
- Khai thuế, tính thuế: NNT lập và khai thuế phải chính xác, trung thực,
đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế với cơ quan thuế theo mẫu do Bộ Tài
45 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
chính quy định và nộp đủ các chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế,
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
và NNT phải tính số tiền thuế phải nộp ngân sách nhà nước theo phát sinh trên
tờ khai thuế.
- Ấn định thuế: Đội kiểm tra thuế theo dõi NNT nếu trường hợp không
nộp hồ sơ khai thuế hoặc không bổ sung hồ sơ khai thuế theo yêu cầu của cơ
quan quản lý thuế hoặc đã bổ sung hồ sơ khai thuế nhưng không đầy đủ, trung
thực, chính xác các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp thì thực hiện
việc ấn định thuế.
- Quản lý nợ thuế: Đội nợ Lập thông báo tiền thuế nợ và tiền phạt chậm
nộp vào NSNN và mời NNT đến làm việc tại trụ sở cơ quan thuế hoặc làm việc
trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế và lập biên bản ghi nhận kết quả, đồng
thời, tại biên bản phải yêu cầu NNT cam kết thực hiện nộp thuế trong thời hạn
qui định.
- Xử phạt VPHC đối với NNT nộp HSKT chậm và chậm nộp tiền thuế
vào NSNN: Việc NNT chậm nộp HSKT được tính trên ngày chậm nộp theo qui
định và chậm nộp tiền thuế vào NSNN tính phạt 0,05% mỗi ngày trên số tiền
thuế chậm nộp (không kể ngày lễ, ngày nghỉ).
- Nộp thuế: NNT có nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, đúng thời hạn vào NSNN
tại Kho bạc nhà nước, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác và thời hạn
nộp thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế.
- Hoàn thuế: NNT lập và gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế theo quy định, có
thể theo phương pháp hoàn trước kiểm tra sau hoặc kiểm tra trước hoàn sau.
- Miễn thuế, giảm thuế: NNT thuộc diện được miễn thuế, giảm thuế theo
qui định (gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn; bị tai nạn, mắc bệnh hiểm nghèo)
phải lập hồ sơ đề nghị miễn thuế, giảm thuế và gửi tới chi cục thuế.
Sau khi có Quyết định miễn thuế, giảm thuế, Chi cục thuế điều chỉnh số
46 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế phải nộp từng kỳ của NNT và lưu hồ sơ.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Tuyên truyền hỗ trợ NNT: Tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế,
hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ thuế. Tổ chức các buổi tập huấn, hội nghị đối
thoại để giải đáp vướng mắc, lắng nghe ý kiến phản ảnh của NNT về chính sách
chế độ thuế, thủ tục hành chính thuế.
- Kiểm tra thuế, Quyết toán thuế: tại trụ sở cơ quan thuế và tại trụ sở của
NNT về tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm
đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT.
Đánh giá: Công tác đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra quyết toán thuế,
thu nợ cưỡng chế, hỗ trợ NNT và xử lý hoàn thuế tại Chi cục Thuế quận Đống
Đa đã thực hiện theo đúng chức năng nhiệm vụ do Tổng cục Thuế giao và đồng
thời luôn thực hiện đúng các qui trình liên quan đến từng công việc cụ thể để
triển khai và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho NNT và luôn coi NNT là bạn đồng
hành trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.
1.4.3. Phân tích quản lý thuế GTGT theo các yếu tố ảnh hưởng
1.4.3.1 Người nộp thuế
- Khả năng nắm bắt chính sách pháp luật về thuế của các doanh nghiệp
còn yếu và trình độ chuyên môn còn hạn chế.
- Ham muốn lợi nhuận của doanh nghiệp: doanh nghiệp tìm cách giảm số
thuế phải nộp cho nhà nước, có tư tưởng trốn tránh và xa rời sự quản lý của cơ
quan thuế.
1.4.3.2 Hệ thống luật pháp và chính sách của nhà nước về thuế
- Chính sách thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung và thay đổi để phù
hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế nên doanh nghiệp có thể lợi dụng để
47 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thực hiện hành vi lách luật. Từ đó gây nhiều khó khăn cho quản lý thu thuế.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Chế tài xử lý các vi phạm pháp luật thuế không đủ mạnh để làm cho đối
tượng nộp thuế không dám thực hiện gian lận.
1.4.3.3 Tổ chức quản lý của các cơ quan chức năng
Việc quản lý thu thuế có được giải quyết tốt hay không còn phụ thuộc vào
khả năng quản lý thuế của cơ quan thuế và các cơ quan quản lý nhà nước khác
nó phụ thuộc vào các yếu tố:
- Điều kiện cơ sở vật chất: trụ sở làm việc, trang thiết bị làm việc, phương
tiện và công cụ công tác.
- Tổ chức cơ cấu bộ máy, trình độ cán bộ công chức, tư cách đạo đức
công chức ngành thuế.
- Phương pháp quản lý thu thuế hiện tại chưa theo kịp với tốc độ phát
triển của nền kinh tế.
1.4.3.4 Môi trường kinh tế xã hội
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cáo điều kiện sống về vật chất
và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ
xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá.
Nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006
đến 2010 trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi và thách thức do toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh.
Tuy nhiên từ giữa năm 2011 do sự suy giảm kinh tế toàn cầu nên các DN
bị ảnh hưởng do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu
chưa được giải quyết. Những bất lợi từ sự sụt giảm đó ảnh hưởng xấu đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và đời sống của dân cư trong nước. Thị trường tiêu
48 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thụ hàng hoá bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nợ xấu ngân hàng ở mức cao nên nhiều DN nhất là DN nhỏ và vừa phải thu hẹp
sản xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể vì vậy ảnh hưởng lớn đến số thu thuế.
Mặt khác do việc chi ngân sách của chúng ta chưa thật sự hiệu quả và gây
lãng phí lớn bởi các công trình công cộng, phúc lợi nên người dân thiếu sự tin
tưởng vào sự quản lý chi ngân sách do vậy cũng ảnh hưởng đến sự tự giác trong
việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
Kết luận chương 1:
Việc phân tích sâu sắc lý luận về thuế GTGT, vạch rõ cơ chế quản lý thu
thuế giá trị gia tăng với các phương thức, hình thức, nguyên nhân và những hậu
quả của nó giúp chúng ta có được tư duy và phương pháp khách quan, khoa học
trong việc nghiên cứu công tác quản lý thuế nói chung và nhìn nhận, đánh giá
thực trạng công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa trong
thời gian qua.
Từ những cơ sở lý luận được phân tích tại chương một, đối chiếu với thực
tiễn công tác quản lý thuế tại chương hai để có những giải pháp tăng cường công
49 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
tác quản lý thu thuế GTGT một cách hiệu quả hơn.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH CÔNG TÁC THU THUẾ GTGT
Ở CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA – TP HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu khái quát về Quận Đống Đa và Chi cục Thuế quận
Đống Đa – TP Hà Nội
2.1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Quận Đống Đa
Quận Đống Đa nằm ở trung tâm Thủ đô Hà Nội, cách Hồ Gươm 3,5 km
về phía Đông nam, tổng diện tích 9,96 km2, dân số khoảng 390 nghìn người,
mật độ dân số 35.341 người/km2. Từ tháng 8/2008 Thủ đô Hà Nội được mở
rộng nên việc giao thương buôn bán giữa Quận Đống Đa và các quận huyện nội
ngoại thành cũng phát triển nhanh chóng với các hoạt động kinh doanh đa dạng
và phức tạp, chủ yếu là thương mại và dịch vụ. Quận Đống Đa gồm 21 phường:
Cát Linh, Văn Miếu, Quốc Tử Giám, Hàng Bột, Ô Chợ Dừa, Kim Liên, Phương
Mai, Quang Trung, Nam Đồng, Thổ Quan, Văn Chương, Khâm Thiên, Trung
Phụng, Phương Liên, Trung Tự, Trung Liệt, Khương Thượng, Ngã Tư Sở,
Thịnh Quang, Láng Hạ, Láng Thượng.
Quận Đống Đa là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế của Thủ đô Hà Nội.
Với dân số chiếm khoảng 5,82% dân số Thủ đô nhưng Quận Đống Đa đã đóng
góp số thu lớn vào số thu của Thành phố Hà Nội. Nhìn lại 5 năm 2008 -2012,
kinh tế Quận Đống Đa phát triển nhanh và toàn diện, giá trị sản xuất công
nghiệp tăng bình quân 13,6%/năm, giá trị thương mại dịch vụ tăng 25,2%/năm.
Cơ cấu kinh tế Quận chuyển dịch theo xu thế tiên tiến, hiện đại hóa. Hoạt động
thương mại dịch vụ trên địa bàn được đẩy mạnh, hình thành một số trung tâm
buôn bán sôi động như: Chùa Bộc, Thái Hà, Giảng Võ, Xã Đàn... Tỷ trọng của
50 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
các khu vực đó trong GDP là: Thương mại - dịch vụ 67%, công nghiệp 33%.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của kinh tế Quận được tăng cường, đời
sống nhân dân được cải thiện đáng kể.
2.1.2. Giới thiệu khái quát về Chi cục Thuế quận Đống Đa
Năm 1990 cùng với việc hình thành hệ thống chính sách thuế áp dụng
thống nhất với các thành phần kinh tế, bộ máy quản lý thuế được hình thành
theo hệ thống ngành dọc trên toàn quốc. Chi cục Thuế quận Đống Đa được
thành lập trực thuộc Cục Thuế Thành phố Hà Nội theo Quyết định số 315/TC-
QĐ-TCCB ngày 21/8/1990 của Bộ Tài chính và Quyết định số 503/QĐ-TCT
ngày 29/3/2010 của Tổng cục Thuế Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Chi cục Thuế. Với chức năng quản lý thu thuế, phí, lệ phí
và các khoản thu khác của NSNN trên địa bàn quận Đống Đa.
Chi cục Thuế quận Đống Đa có trụ sở chính tại số 312B Tôn Đức Thắng,
quận Đống Đa – Hà Nội và được tổ chức thành 10 Đội thuế văn phòng và 09
Đội thuế liên phường trực thuộc, với tổng số 240 cán bộ công chức, nhân viên.
Tại văn phòng Chi cục Thuế quận Đống Đa có 190 cán bộ được tổ chức
thành các Đội chức năng và các Đội quản lý thu. Các Đội chức năng gồm: Đội
Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế và ấn chỉ; Đội Kê khai - kế toán thuế & Tin
học; Đội Hành chính - nhân sự - tài vụ; Đội Kiểm tra nội bộ; Đội Tổng hợp
nghiệp vụ dự toán; Đội Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Các Đội quản lý thu
gồm: Đội kiểm tra thuế số 1; Đội kiểm tra thuế số 2; Đội kiểm tra thuế số 3; Đội
trước bạ và thu khác.
Tại 21 phường, trong đó có 04 chợ lớn và 02 trung tâm thương mại trên
địa bàn, Chi cục Thuế có 50 cán bộ được tổ chức thành 09 đội thu thuế liên
phường, đảm nhiệm việc thu thuế tại các hộ kinh doanh cá thể.
Công tác tổ chức con người và tổ chức công việc trong công tác quản lý
51 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế ở Chi cục Thuế quận Đống Đa.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
* Tổ chức con người: Trong tổ chức bộ máy quản lý thuế GTGT, các Đội quản lý theo loại hình giữ vai trò trung tâm và thực hiện hầu hết các chức năng quản lý của các lĩnh vực (như lập kế hoạch thu, hỗ trợ NNT, đôn đốc, cưỡng
Lãnh đạo Chi cục Thuế (Chi cục Trưởng và các Phó Chi cục trưởng)
Các Đội thuế chức năng
Các Đội không trực tiếp
Các Đội quản lý doanh nghiệp
Các Đội quản lý thuế liên phường
Người nộp thuế (Doanh nghiệp và hộ KD cá thể...)
chế, kiểm tra…).
Sơ đồ 2.1. Mô hình tổ chức bộ máy các Đội thuế tại Chi cục Thuế
Đội trưởng
Đội phó
Đội phó
Cán bộ
Cán bộ
Cán bộ
Cán bộ
Các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình Công ty cổ phần - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình Công ty TNHH - Cán bộ quản lý các doanh nghiệp thuộc loại hình DNTN, Hợp tác xã - Cán bộ quản lý các hộ kinh doanh cá thể theo địa bàn phường.
Phân công quản lý thuế theo khối (nhân sự Đội quản lý)
52 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Sơ đồ 2.2. Mô hình phân công quản lý theo khối
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Phân công quản lý thuế theo chức năng
Theo mô hình phân công này, việc phân công các đội phó quản lý theo
chức năng cũng gần giống với việc tách 3 bộ phận trong mỗi đội. Việc huy động
cán bộ cho từng chức năng thì tương đối linh hoạt (có phân công cố định kết hợp
Đội trưởng
Đội phó phụ trách kiểm tra
Đội phó phụ trách kế hoạch
với điều chuyển đột xuất tuỳ tình hình cụ thể).
Đội phó phụ trách xử lý tờ khai
Các cán bộ, công chức thuế trong Đội
Người nộp thuế
Sơ đồ 2.3. Mô hình phân công theo chức năng
Trong cả hai mô hình nêu trên, thì mỗi cán bộ thuế đều “chuyên quản”
một số người nộp thuế nhất định.
53 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Mô hình chung quản lý thuế các doanh nghiệp, hộ kinh doanh
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Lãnh đạo Chi cục Thuế
Đội Hành chính Nhân sự Tài vụ
Đội Tuyên truyền hỗ trợ NNTvà ấn chỉ
Đội Kiểm tra, Đội thuế liên phường
Đội Kê khai kế toán thuế tin học và Đội THNV dự toán
Người nộp thuế
Sơ đồ 2.4. Mô hình quản lý thuế đối với doanh nghiệp
* Tổ chức công việc
Tổ chức công việc quản lý thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Đống Đa
bao gồm: xây dựng và hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ thuế trên cơ sở các
quy định của Tổng cục Thuế đã được ban hành thống nhất trong toàn ngành phù
hợp với điều kiện của Quận Đống Đa và nhiệm vụ thu thuế hàng năm được giao.
Việc phân công quản lý thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa được
thực hiện trên cơ sở phân loại loại hình người nộp thuế. Bao gồm: Công ty cổ
phần, Công ty TNHH, DNTN, Hợp tác xã, Hộ khấu trừ...
Về cơ bản, việc quản lý thuế đối với mỗi loại hình được giao cho một đội
thuộc khối văn phòng Chi cục Thuế (các Đội thuế phường chỉ quản lý thu thuế
hộ kinh doanh cá thể). Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế nói chung
và quản lý thu thuế GTGT nói riêng đối với từng thành phần kinh tế, Tổng cục
54 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Thuế đã ban hành nhiều quyết định về quy trình quản lý thuế áp dụng trong cả
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nước bao gồm các quy trình về kê khai thuế, hoàn thuế, miễn giảm thuế, kiểm
tra thuế, thu nợ thuế...
2.2. Phân tích tình hình thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống
Đa
2.2.1. Đánh giá khái quát công tác thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế
quận Đống Đa.
Cùng với tăng trưởng kinh tế, số người nộp thuế trên địa bàn Quận cũng
phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh. Nhưng do ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu từ giữa năm 2011 đến
nay, số NNT cũng bị ảnh hưởng và biến động nhưng không đáng kể. Cụ thể:
Bảng 2.1. Số lượng DN trên địa bàn Quận Đống Đa qua các năm
Số phát sinh Tỷ lệ tăng Năm Số lượng DN so với cùng kỳ so với cùng kỳ
2009 11.074
2010 14.814 3.740 1,33 lần
2011 17.222 2.408 1,16 lần
2012 19.725 2.503 1,14 lần
Mặc dù số NNT có biến động nhưng số thu ngân sách trên địa bàn Quận
cũng tăng trưởng đều, số thu năm sau cao hơn năm trước. Năm 2010 tổng số thu
ngân sách trên địa bàn Quận là 1.768 tỷ 747 triệu đồng, so với dự toán năm 2010
đạt 172,9% dự toán pháp lệnh (1.022 tỷ 710 triệu đồng), đạt 167,6% dự toán
phấn đấu (1.055 tỷ 088 triệu đồng), so với cùng kỳ năm 2009 đạt 179,2%; Năm
2011 tổng số thu ngân sách trên địa bàn Quận là 1.860 tỷ 282 triệu đồng, so với
dự toán năm 2011 đạt 117,9% dự toán pháp lệnh (1.583 tỷ 640 triệu đồng), đạt
55 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
108% dự toán phấn đấu (1.728 tỷ 2 triệu đồng), so với cùng kỳ năm 2010 đạt
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
105%. Năm 2012 tổng số thu ngân sách trên địa bàn Quận là 1.617 tỷ 968 triệu
đồng, so với dự toán năm 2012 đạt 76% dự toán pháp lệnh (2.126 tỷ 090 triệu
đồng), đạt 68% dự toán phấn đấu (2.366 tỷ 834 triệu đồng), so với cùng kỳ năm
2011 đạt 85%.
Qua số liệu trên cho thấy từ giữa năm 2011 do ảnh hưởng suy giảm kinh
tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát sinh doanh thu, thuế ghi thu giảm đáng kể.
Số lượng DN có số thuế GTGT phát sinh dương hàng tháng thấp. Đồng thời các
DN được miễn giảm và được gia hạn nộp thuế TNDN theo quyết định
21/2011/QĐ-TTg ngày 6/4/2011 của Chính phủ. Chính sách ưu đãi thuế TNDN,
GTGT, TNCN theo Nghị quyết số 08/2011/QH13 ngày 6/8/2011 của Quốc hội
về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN
và cá nhân.
Cơ cấu các doanh nghiệp đóng trên địa bàn Quận phân chia theo loại hình
doanh nghiệp như sau:
Bảng 2.2. Số lượng DN phân chia theo loại hình doanh nghiệp năm 2012
Công ty Công ty cổ Doanh nghiệp Hợp tác xã Tổng
TNHH phần tư nhân
10.780 8.482 414 49 19.725
2.2.2. Kết quả thực hiện thu thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống
Đa
Giai đoạn năm 2009 đến 2012, Chi cục Thuế Quận Đống Đa liên tục hoàn
thành vượt mức nhiệm vụ thu ngân sách và đạt được tốc độ tăng thu năm sau
cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên, từ giữa năm 2011 do ảnh hưởng suy giảm
kinh tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát sinh doanh thu, thuế ghi thu giảm
đáng kể. Kết quả thu thuế trên địa bàn Quận Đống Đa trong các năm 2010,
56 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2011, 2012 và dự kiến 2013 thể hiện ở biểu dưới đây:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.3. Số thu thuế GTGT hàng năm và tỷ trọng thuế GTGT trên tổng số thu ngân sách
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm tài chính Tổng số thu ngân sách Số thuế GTGT Tỷ trọng thuế GTGT/tổng thu (%) Tỷ trọng thuế GTGT so với năm trước (%)
2010 1.768.747 547.731 30,97%
2011 1.860.282 563.821 30,31% 102%
2012 1.617.968 606.507 37,49% 108%
2.303.740 756.810 32,85% 125% Dự kiến 2013
Trên địa bàn Quận Đống Đa có các khoản thu thường xuyên là: Thuế
GTGT; Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế thu nhập cá nhân; Lệ phí trước bạ;
Thuế tiêu thu đặc biệt; Thuế môn bài; Thuế nhà đất; Tiền thuê đất; Tiền sử dụng
đất; Thuế CQ sử dụng đất; Phí, lệ phí. Trong đó thuế GTGT luôn là khoản thu
chiếm tỉ trọng lớn trong các khoản thu, thuế GTGT chiếm khoảng 30% - 37%
tổng số thu trên địa bàn. Số liệu bảng thống kê trên đây cho thấy, thuế GTGT
luôn là khoản thu lớn nhất trong các khoản thu trên địa bàn quận Đống Đa (sau
thuế TNDN). Về chỉ tiêu chất lượng số thuế GTGT năm sau cao hơn năm trước.
Bảng 2.4 Kết quả thu thuế năm 2012 tại Chi cục thuế
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Số TT Kế hoạch pháp lệnh Thực hiện 2012 TH so với KH (%)
1.617.968 76% I Tổng thu 2.126.090
1 Thuế Ngoài quốc doanh 854.658 71% 1.203.744
2 Thuế Thu nhập cá nhân 197.843 89% 222.296
3 11.281 90% Phí, lệ phí 12.534
4 56.473 94% Tiền sử dụng đất 60.078
57 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
5 186.273 209% Tiền Thuê đất 89.126
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
6 1.678 18.290 109% Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
7 Lệ phí trước bạ 285.182 54% 528.115
8 Thuế CQSD đất 465 81% 574.07
9 Thu khác ngân sách 6.188 120% 5,156.67
10 Phí xăng dầu/thuế bảo vệ 1.301 85% 1,530.59 môi trường
Đánh giá về chỉ tiêu kết quả thu thuế năm 2012: Qua bảng trên cho thấy
về tổng thể Chi cục Thuế Quận Đống Đa chưa hoàn thành dự toán thu thuế năm
2012, chỉ có 3/10 khoản thu, sắc thuế hoàn thành vượt mức dự toán. Nguồn thu
từ các doanh nghiệp NQD vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thu ngân sách của Quận.
Mặc dù tình hình kinh tế năm 2012 có nhiều biến động khó khăn ảnh hưởng lớn
đến tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác thuế, đặc biệt là nhiệm vụ thu ngân sách
nhà nước nhưng số thu cả năm do Chi cục quản lý vẫn cao hơn so với mức bình
quân chung của khối các Chi cục trong toàn thành phố là 5% trong đó có những
khoản thu vượt dự toán như thuế Môn bài, thuế Tiêu thụ đặc biệt, thu khác
NQD, thuế SD đất PNN, thu tiền thuê đất, thuế NQD tăng 3% so cùng kỳ năm
trước. Kết thúc năm 2012, Cục thuế TP Hà Nội đánh giá Chi cục thuế Đống Đa
hoàn thành trong nhóm số 1 của khối các Chi cục (có 3 đơn vị là Hoàn Kiếm,
Hai Bà Trưng và Đống Đa).
Đánh giá về chỉ tiêu hiệu quả công tác lập kế hoạch thấy rằng:
- Chất lượng lập kế hoạch cao (sai số +,- 5%) có 01/13 sắc thuế, khu vực
- Chất lượng lập kế hoạch trung bình (sai số +,- 5% đến 10%) có 01/13
sắc thuế khu vực
- Chất lượng lập kế hoạch chưa sát (sai số +,->10%) có 08/13 sắc thuế,
58 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
khu vực
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Về tổng thể công tác lập kế hoạch ở mức chất lượng trung bình (sai số
9%). Tuy nhiên để đánh giá chính xác và khách quan công tác này thì còn căn
cứ vào một số nguyên nhân chủ quan và khách quan khác.
Tổng kết công tác thu thuế tại các đội thuế có 11/14 đơn vị thu hoàn thành
vượt mức dự toán thu ngân sách được giao trong đó có 3/14 đơn vị hoàn thành
thu vượt dự toán trên 10%. Số đội thuế không hoàn thành kế hoạch thu ngân
sách là 3/14 đơn vị nên số thu nhỏ không ảnh hưởng nhiều tới kế hoạch thu toàn
Chi cục Thuế.
Về chỉ tiêu chất lượng xây và giao kế hoạch thu thuế cho các đội thuế có
3/14 đơn vị đạt mức trung bình, 3/14 đơn vị chưa sát, 8/14 đơn vị đạt mức cao.
Việc xây dựng và giao kế hoạch thu thuế như vậy tương đối phù hợp.
Kết quả thu theo Đội thuế tại chi cục được thể hiện qua bảng sau
Bảng 2.5. Kết quả thu thuế năm 2012 tại các Đội thuế
Đơn vị tính: triệu đồng
Kế hoạch Thực hiện TH so với TT Chỉ tiêu pháp lệnh 2012 2012 KH (%)
Tổng số 1.457.590 1.223.368 84%
1 Các đội thuế liên phường 241.890 335.180 139%
2 Đội kiểm tra số 1 439.556 319.478 73%
3 Đội kiểm tra số 2 391.748 283.472 72%
4 Đội kiểm tra số 3 384.396 285.238 74%
59 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Nguồn: Chi cục Thuế quận Đống Đa.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
2.2.3. Phân tích tình hình thu thuế GTGT theo nội dung công việc ở
Chi cục Thuế quận Đống Đa.
2.2.3.1 Công tác lập kế hoạch
+ Trình tự xây dựng và giao kế hoạch năm như sau:
Sơ đồ 2.5. Công tác lập kế hoạch
Cục Thuế TP Hà Nội UBND Quận Đống Đa
Lãnh đạo Chi cục Thuế Quận Đống Đa
Đội Tổng hợp nghiệp vụ dự toán
60 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Các đội quản lý thuế
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Trình tự xây dựng và giao kế hoạch hàng năm đối với Chi cục Thuế quận
Đống Đa diễn ra lần lượt qua các khâu sau:
- Khoảng tháng 6 – 7 năm trước năm kế hoạch: Sở Tài chính – Cục Thuế
giao chỉ tiêu để kiểm tra.
- Trao đổi giữa Chi cục Thuế quận Đống Đa với Cục Thuế TP Hà Nội về
kế hoạch thu (qua 2 vòng làm việc).
- Bộ Tài chính – Tổng cục Thuế giao kế hoạch pháp lệnh cho từng Cục
Thuế địa phương.
- Cục Thuế TP Hà Nội xây dựng phương án kế hoạch cho từng khu vực
kinh tế và trình lên UBND TP Hà Nội, Tổng cục Thuế lập kế hoạch thu thuế đối
với các Chi cục Thuế thuộc tỉnh, thành phố.
- Căn cứ kết quả phê duyệt của Hội đồng nhân dân TP Hà Nội, UBND
Quận Đống Đa giao chính thức kế hoạch thu thuế trên địa bàn Quận Đống Đa
cho Chi cục Thuế Quận Đống Đa.
Trình tự xây dựng kế hoạch nêu trên áp dụng cho các khoản thu của Chi
cục Thuế Quận Đống Đa (có xây dựng chi tiết tới từng khoản mục). Kế hoạch
thu thuế GTGT là một phần trong kế hoạch năm tổng thể các khoản thu nêu trên.
+ Kế hoạch quý, tháng.
Căn cứ kế hoạch pháp lệnh được giao, Chi cục Thuế Quận Đống Đa
(Lãnh đạo Chi cục và Đội Tổng hợp NVDT) thực hiện việc phân bổ kế hoạch
thu cho từng Đội quản lý thuế có chi tiết tới từng khoản mục trên cơ sở cân đối
nguồn, khả năng thu.
Thực tế công tác xây dựng kế hoạch thu thuế năm 2013 tại Chi cục Thuế
Quận Đống Đa dựa trên cơ sở:
- Kết quả thực hiện năm 2012
61 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Tăng trưởng về thuế so với năm 2012
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Dự báo về phát triển kinh tế xã hội Quận và cả nước như số lượng doanh
nghiệp, cơ sở hạ tầng, đầu tư nước ngoài…
- Chỉ tiêu phấn đấu (thường tăng 5% so với kế hoạch)
Bảng 2.6: Giao kế hoạch thu thuế
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Kế hoạch pháp lệnh Thực hiện 2012 TH so với KH (%) Số TT
1.617.968 76% I Tổng thu 2.126.090
1 Thuế Ngoài quốc doanh 854.658 71% 1.203.744
2 Thuế Thu nhập cá nhân 197.843 89% 222.296
3 Phí, lệ phí 11.281 90% 12.534
4 Tiền sử dụng đất 56.473 94% 60.078
5 Tiền Thuê đất 186.273 209% 89.126
6 1.678 18.290 109% Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
7 Lệ phí trước bạ 285.182 54% 528.115
8 Thuế CQSD đất 465 81% 574.07
9 Thu khác ngân sách 6.188 120% 5,156.67
10 Phí xăng dầu/thuế bảo vệ 1.301 85% 1,530.59 môi trường
Dưới đây là bảng tham khảo về kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ
năm 2010 đến 2012:
Bảng 2.7: Kết quả thực hiện kế hoạch thu thuế từ năm 2010 đến 2012
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm tài chính Kế hoạch Thực hiện TH/KH (%)
2010 1.022.710 172,9% 1.768.747
2011 1.583.640 117% 1.860.282
62 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2012 2.126.090 76% 1.617.968
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Qua bảng thống kê trên thấy rằng Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phấn
đấu hoàn thành tốt chỉ tiêu kết quả công tác quản lý thu thuế và chỉ tiêu hiệu quả
trong việc xây dựng kế hoạch thu qua các năm từ 2010 đến năm 2011. Tuy
nhiên từ giữa năm 2011 do suy giảm kinh tế nên nhiều DN thua lỗ, không phát
sinh doanh thu, số lượng DN có số thuế GTGT phát sinh dương hàng tháng thấp
và đặc biệt là sự giảm sút khá mạnh của hoạt động chuyển nhượng bất động
sản. Bên cạnh ảnh hưởng tác động của yếu tố kinh tế, những chính sách hỗ trợ
cho doanh nghiệp của Chính phủ thông qua việc giải quyết miễn, giảm, gia
hạn nộp thuế đã ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện dự toán thu NSNN
trên địa bàn Quận trong năm 2012 theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày
10/5/2012 của Chính phủ.
2.2.3.2 Công tác đăng kí thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, thu nợ
cưỡng chế và hỗ trợ NNT
a. Đăng kí thuế:
Việc nhận diện, xác định đối tượng nộp thuế của cơ quan thuế hiện nay
được thực hiện thông qua mã số thuế (mã số thuế được cấp cho người nộp thuế
sử dụng trong suốt quá trình tồn tại, từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt hoạt
động).
- Đăng kí cấp mã số thuế (MST): Bộ phận một cửa liên thông Sở Kế
hoạch đầu tư nhận hồ sơ đăng kí mã số thuế của doanh nghiệp và lập phiếu hẹn
ngày trả kết quả (chậm nhất không quá 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ
đúng qui định). Sau đó nhập thông tin vào chương trình đăng kí tờ khai thuế trên
máy tính đồng thời chuyển dữ liệu cho Phòng Kê khai Cục Thuế TP Hà Nội để
kiểm tra tính duy nhất và hợp lệ của mã số thuế. Nếu kết quả được chấp nhận thì
in giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh trên đó số giấy chứng nhận ĐKKD đồng
thời là mã số doanh nghiệp, nếu không sẽ có thông báo cho doanh nghiệp biết lí
63 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
do không được cấp ĐKKD, mã số doanh nghiệp.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Đóng MST:
+ Đối với doanh nghiệp gửi hồ sơ đề nghị đóng MST: Hồ sơ đóng MST
hợp lệ gồm công văn đề nghị; Quyết toán hóa đơn; Quyết toán thuế. Đội Kê khai
- kế toán thuế và tin học sẽ nhập vào máy tính và đóng MST khi doanh nghiệp
đã thanh toán hết số thuế phải nộp và thanh toán hết hóa đơn. Sau khi đóng MST
Đội Kê khai - kế toán thuế và tin học sẽ thông báo cho doanh nghiệp đồng thời
thông báo công khai danh sách các doanh nghiệp đã đóng MST.
+ Đối với doanh nghiệp không tồn tại: sau 3 lần gửi thông báo đôn đốc kê
khai nộp thuế tới doanh nghiệp (khoảng cách giữa mỗi lần thông báo là 10 ngày)
nếu không có hồi âm cơ quan thuế sẽ phối hợp với chính quyền địa phương nơi
đơn vị đăng ký trụ sở lập biên bản xác minh việc không tồn tại của doanh
nghiệp. Đội kiểm tra trình công văn thông báo doanh nghiệp không tồn tại tại
địa điểm ĐKKD kèm theo các hóa đơn không còn giá trị sử dụng do Đội TTHT
và ấn chỉ (Bộ phận QLAC) cung cấp, chuyển toàn bộ hồ sơ sang Đội Kê khai -
kế toán thuế và tin học nhập thông tin vào máy tính và đóng MST.
- Đánh giá thực tế công tác cấp và đóng MST: Công tác đăng kí cấp MST
cho các doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực hiện từ năm
1999. Các trường hợp thành lập hoặc bổ sung thông tin doanh nghiệp được thực
hiện kịp thời đúng qui định.
- Để tăng cường công tác quản lý mã số thuế, Chi cục Thuế Quận Đống
Đa thực hiện theo Quyết định số 443/QĐ-TCT ngày 29/4/2009 của Tổng cục
Thuế V/v ban hành Qui trình quản lý đăng ký thuế.
Cấp mã số thuế cho NNT là một biện pháp quan trọng để theo dõi và quản
lý NNT. Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan cấp
64 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
ĐKKD (Sở KHĐT TP Hà Nội) để kịp thời cấp MST cho đối tượng kinh doanh.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Tình hình cấp và đóng MST cho NNT tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa qua các
năm:
Bảng 2.8: Cấp và đóng MST cho NNT
Thời điểm Cấp MST Tổng số NNT (gồm cả hộ kinh doanh) Đóng MST, đang giải thể, bỏ trốn
31/12/2010 36.754 6.419 7.459
31/12/2011 40.171 5.825 8.091
31/12/2012 44.669 5.001 9.507
Qua bảng số liệu trên cho thấy số NNT hàng năm có phát sinh với số
lượng lớn nhưng số NNT ở trạng thái ngừng kinh doanh, đóng MST, giải thể, bỏ
trốn… hàng năm tăng lên do sự suy giảm kinh tế toàn cầu. Do sự biến đổi về
NNT nên hàng năm gây ảnh hưởng lớn tới công tác quản lý một phần do cơ chế
quản lý chưa thay đổi kịp và đội ngũ cán bộ ít biến động cả về số lượng và chất
lượng.
b. Xử lí hồ sơ khai thuế và quyết toán thuế:
- Bộ phận một cửa (Đội TTHT và ấn chỉ) nhận hồ sơ khai thuế của NNT
đồng thời quét dữ liệu vào chương trình phần mềm quản lý thuế (QLT), sau đó
chuyển hồ sơ khai thuế cho Đội Kê khai - kế toán thuế và tin học. Trường hợp
có sai sót trong kê khai, Chi cục Thuế sẽ in thông báo gửi doanh nghiệp để
doanh nghiệp điều chỉnh.
- Bộ phận một cửa nhận hồ sơ Quyết toán thuế của NNT đồng thời quét
dữ liệu vào chương trình phần mềm quản lý thuế, sau đó chuyển tờ khai cho Đội
Kê khai - kế toán thuế và tin học. Chương trình phần mềm quản lý thuế sẽ hỗ trợ
kiểm tra các chỉ tiêu kê khai để phát hiện lỗi tính toán nếu có sẽ in thông báo gửi
65 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
doanh nghiệp yêu cầu điều chỉnh.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Quá trình nhận, xử lí hồ sơ khai thuế và quyết toán thuế Chi cục Thuế
Quận Đống Đa thực hiện theo Quyết định số 1864/QĐ-TCT ngày 21/12/2011
của Tổng Cục Thuế về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và
kế toán thuế.
- Đội kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu, phân tích số liệu trên báo cáo
quyết toán thuế và ghi phiếu nhận xét đánh giá với các mức độ: Doanh nghiệp
chưa có dấu hiệu vi phạm; Doanh nghiệp thể hiện một số chỉ tiêu chưa rõ ràng,
chưa đúng qui định; Doanh nghiệp có biểu hiện khai man trốn thuế cần kiểm tra
ngay. Công việc này được thực hiện theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày
29/5/2008 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành quy trình kiểm tra thuế.
- Căn cứ vào phân tích đánh giá quyết toán Đội kiểm tra đôn đốc doanh
nghiệp sửa chữa lỗi báo cáo, nộp thuế còn nợ đọng, đưa vào danh sách kiểm tra
bổ sung (đối với các doanh nghiệp chưa có trong kế hoạch kiểm tra) theo đúng
qui định kiểm tra.
- Đánh giá chung:
+ Việc kê khai của các DN về cơ bản đã đi vào ổn định.Việc chấp hành
thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của các DN tương đối tốt do tờ khai GTGT hàng
tháng qui định chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát
sinh nghĩa vụ thuế theo qui định tại điều 32 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11.
+ Các DN về cơ bản là nộp tiền thuế theo thời hạn nộp tờ khai theo qui
định tại điều 42 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11. Chương trình quản lý thuế
trên máy tính của Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã thực hiện tính phạt chậm nộp
tiền thuế GTGT. Số tiền chậm nộp được tính là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền
thuế chậm nộp (Tính cả ngày lễ, ngày nghỉ) theo qui định tại điều 12 Nghị định
66 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
số 98/2007/NĐ-CP ngày 07/6/2007 của Chính phủ.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Việc kiểm tra quyết toán thuế bước 1 (kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản
lý thuế) được thực hiện đúng qui định. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của giai đoạn
kiểm tra này còn hạn chế do cán bộ quản lý DN phải làm nhiều loại báo cáo.
+ Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã thực hiện đầy đủ các bước theo Quyết
định số 1864/QĐ-TCT ngày 21/12/2011 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành
Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế. Đồng thời Chi cục đang
tiến hành quản lý đăng ký sử dụng và khai thuế điện tử qua mạng (iHTKK) theo
Quyết định số 3645/QĐ-TCT ngày 13/10/2011 của Tổng Cục Thuế.
c. Quản lý thu nợ thuế:
Để tăng cường công tác quản lý về nợ đọng thuế và cưỡng chế thuế Chi
cục Thuế Quận Đống Đa thực hiện theo Quyết định số 1395/QĐ-TCT ngày
14/10/2011 của Tổng cục Thuế Về việc ban hành Quy trình quản lý nợ thuế.
* Mục đích:
- Đảm bảo thi hành tốt các luật thuế.
- Nâng cao năng lực quản lý có hiệu quả của CQ thuế theo pháp luật thuế.
- Qui định những bước công việc, thời gian thực hiện và mối quan hệ giữa
các bộ phận tại cơ quan thuế theo pháp luật thuế.
- Nâng cao tính tuân thủ của các tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc thực
hiện pháp luật thuế.
* Nội dung:
- Trong vòng 10 ngày đầu tháng Đội Quản lý nợ và cuỡng chế nợ thuế lập
danh sách các doanh nghiệp còn nợ thuế, phân tích tình trạng nợ của từng doanh
nghiệp và in thông báo phạt nộp chậm tiền thuế gửi doanh nghiệp.
- Thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ theo qui định đồng thời công
67 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
khai danh sách doanh nghiệp cố tình chây ỳ nợ thuế, lập danh sách hồ sơ chuyển
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Đội kiểm tra thực hiện biện pháp cưỡng chế về thuế hoặc chuyển hồ sơ gửi cơ
quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo pháp luật.
* Đánh giá chung: Bên cạnh những DN tự giác cao trong chấp hành luật
thuế thì cũng còn có không ít DN khác chây ỳ trong thu nộp ngân sách. Chi cục
Thuế Quận Đống Đa áp dụng các biện pháp như viết lệnh thu gửi tới ngân hàng,
tạm giữ hàng hóa, đình chỉ sử dụng hoá đơn… đối với DN nợ đọng thuế. Thực
tế về cơ bản ngành thuế áp dụng cưỡng chế ở biện pháp lệnh thu gửi tới ngân
hàng. Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của biện pháp này có lúc, có nơi còn hạn chế
bởi các DN đăng ký mở tài khoản tại nhiều ngân hàng nhưng không kê khai
trong đăng ký thuế.
Hiện tại có một số DN có nợ đọng do nhiều nguyên nhân, không đủ điều
kiện giải quyết khoanh nợ xóa nợ theo chính sách hiện hành, nhưng cũng không
có khả năng nộp. Việc phạt chậm nộp thuế GTGT đối với các doanh nghiệp đã
được triển khai. Số nợ thuế GTGT do máy tính theo dõi đối với không ít DN
hiện nay còn có nhầm lẫn chưa chính xác (vì lý do bù trừ giữa các loại thuế).
Chi cục đã áp dụng nhiều biện pháp tăng cường công tác quản lý nợ
nhằm giảm thiểu số nợ. Thực hiện phân loại nợ hộ doanh nghiệp, phân
công thu nợ đối với hộ kinh doanh, chuyển các đội thuế phường thực hiện
phân loại nợ hộ cá thể để phát hành thông báo, kết xuất báo cáo. Trong
năm 2012 đã ban hành 9.013 thông báo về việc sẽ áp dụng biện pháp
cưỡng chế nợ thuế mẫu 09/QLN. Thành lập các đoàn liên ngành đôn đốc
nợ thuế thực hiện theo Quyết định số 5666/QĐ-UBND ngày 2/11/2012
của UBND quận Đống Đa về việc thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công tác
đôn đốc thu nộp Ngân sách Nhà nước năm 2012. Đến 31/12/2012 tình hình
nợ đọng thuế luỹ kế được xác định là 750 tỷ 263 triệu đồng, chiếm 46,37% trong
tổng số nộp ngân sách năm 2012. Trong đó nợ đọng thuế GTGT luỹ kế năm
68 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2012 là 276 tỷ 725 triệu đồng.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Kết quả thu nợ trong năm 2012 được 122 tỷ 443 triệu đồng đạt 33,1%
dự toán thu nợ (369 tỷ 918 triệu đồng). Trong đó thu nợ thuế GTGT là 34 tỷ
284 triệu đồng, chiếm 28% kết quả thu nợ năm 2012.
d. Công tác Tuyên truyền hỗ trợ NNT.
Đội Tuyên truyền hỗ trợ NNT và ấn chỉ của Chi cục Thuế Quận Đống Đa
được thành lập theo Quyết định số 504/QĐ-TCT ngày 29/3/2010 của Tổng cục
Thuế nhằm thực hiện công tác tuyên truyền về chính sách pháp luật thuế; hỗ trợ
NNT và đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ và tạo thuận lợi cho NNT, góp
phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Công tác
hỗ trợ đang được Chi cục Thuế Quận Đống Đa triển khai chủ yếu là:
- Duy trì tổ chức hội nghị đối thoại với các tổ chức, cá nhân nộp thuế để
giải đáp vướng mắc, lắng nghe ý kiến phản ánh của người nộp thuế về chính
sách chế độ thuế, thủ tục hành chính thuế, thực thi công vụ của công chức thuế
- Tổ chức các cuộc tập huấn về chính sách chế độ thuế cho các DN
- Phối hợp với đài phát thanh, truyền hình thực hiện tuyên truyền về thuế
- Hỗ trợ NNT bằng điện thoại, bằng văn bản, trực tiếp tại cơ quan thuế…
Trong năm 2012 Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã Phối hợp các đội kiểm
tra thuế và các bộ phận liên quan triển khai các biện pháp nhận hồ sơ tại bộ phận
“một cửa”, hạn chế được ùn tắc trong những ngày cao điểm. Tăng cường công
tác tuyên truyền, hướng dẫn doanh nghiệp, đôn đốc doanh nghiệp nộp tờ khai.
Treo 60 băng rôn tuyên truyền 2 luật thuế mới: Thuế bảo vệ môi trường và Thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp trên các tuyến phố chính thuộc địa bàn quận. Phối
hợp cùng 21 phường trên địa bàn quận để phát thanh qua hệ thống loa phường
tuyên truyền Luật thuế tổ chức 3 lớp tập huấn về kê khai thuế qua mạng Internet
cho 1.800 doanh nghiệp và 9 lớp hướng dẫn chính sách thuế mới cho 8.090
69 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
doanh nghiệp. Tổ chức buổi đối thoại cho 120 doanh nghiệp trên địa bàn Quận.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Tổ chức hội nghị biểu dương 101 doanh nghiệp và 02 hộ cá thể tiêu biểu thực
hiện tốt chính sách thuế năm 2011. Thực hiện tốt công tác tiếp dân, hỗ trợ qua
đường dây nóng và cổng giao tiếp điện tử tại địa chỉ www.dongda.hanoi.gov.vn
2.2.3.3 Công tác xử lý hoàn thuế
- Bộ phận một cửa (Đội Tuyên truyền) nhận hồ sơ hoàn thuế của người
nộp thuế sau đó chuyển hồ sơ cho Đội Kê khai ngay trong ngày. Trường hợp có
sai sót trong kê khai, Chi cục Thuế sẽ in thông báo gửi doanh nghiệp để doanh
nghiệp điều chỉnh. Đội Kê khai xác định số thuế được hoàn, lập phiếu nhận xét
hồ sơ hoàn thuế và phiếu kết quả hoàn thuế, dự thảo tờ trình, quyết định hoàn
thuế trình lãnh đạo kí duyệt, thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ.
- Đối với doanh nghiệp cần kiển tra trước khi hoàn thuế (Doanh nghiệp
mới thành lập, doanh nghiệp đã có hành vi gian lận về thuế, doanh nghiệp có
xuất khẩu hàng hóa theo đường biên giới đất liền…) thì ra quyết định kiểm tra
trực tiếp tại doanh nghiệp. Căn cứ kết quả kiểm tra sẽ hoàn thuế cho doanh
nghiệp, thời gian không quá 60 ngày.
Hiện nay công tác hoàn thuế tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực
hiện theo Quyết định số 905/QĐ-TCT ngày 01/7/2011 của Tổng cục Thuế về
việc ban hành Quy trình hoàn thuế.
Bảng 2.9: Kết quả kiểm tra hoàn thuế và số thuế thu hồi
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm tài chính Số doanh nghiệp kiểm tra Số tiền hoàn thuế bị thu hồi
2010 43 5.647
2011 65 8.688
70 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2012 71 6.229
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Qua số liệu trên cho thấy, số tiền thuế GTGT đã bị các doanh nghiệp đề
nghị hoàn không đúng qui định của luật pháp và các doanh nghiệp lừa đảo
chiếm đoạt từ ngân sách là không nhỏ. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền từ ngân
sách nhà nước không những gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản nhà nước mà
còn gây bức xúc trong dân chúng, đặc biệt gây bất bình trong khối doanh
nghiệp.
Các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT chủ yếu xảy ra vào
các năm 2006, 2007 và năm 2008.
2.2.3.4. Công tác kiểm tra thuế
a. Quản lý lĩnh vực kiểm tra nội bộ
Công tác kiểm tra nội bộ áp dụng đối với các Đội quản lý thu tập trung
vào các nội dung sau:
- Việc theo dõi tình hình biến động về đối tượng nộp thuế, số ĐTNT phát
sinh, phá sản, giải thể, sáp nhập, liên doanh, liên kết; việc tham gia lập dự toán
thu, khai thác nguồn thu.
- Việc hướng dẫn ĐTNT về thủ tục kê khai đăng ký thuế, kê khai nộp
thuế, lập hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế và quyết toán thuế; Việc giải
đáp thắc mắc của ĐTNT liên quan đến việc tính thuế, thu nộp tiền thuế; Việc lập
và lưu trữ hồ sơ các ĐTNT.
- Việc kiểm tra các tờ khai tính thuế và thông báo đối tượng nộp thuế để
chỉnh sửa về các chỉ tiêu kê khai trên các tờ khai đăng ký kinh doanh, kê khai
nộp thuế, hồ sơ đề nghị miễn, giảm, hoàn, quyết toán thuế và lập các thủ tục
xem xét theo quy định.
- Việc kiểm tra các báo cáo quyết toán thuế hàng năm của ĐTNT nếu có
dấu hiệu nghi ngờ trên quyết toán thì bộ phận quản lý trực tiếp lập kế hoach
71 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
kiểm tra. Kiểm tra việc ấn định thuế cho các đối tượng có vi phạm như không
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nộp hoặc nộp chậm tờ khai thuế...về sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ mua bán
của các đối tượng có hiện tượng khai man trốn thuế, nợ đọng tiền thuế.
Từ khi thực hiện các luật thuế mới (GTGT, TNDN) đến nay, Chi cục
Thuế Quận Đống Đa công tác kiểm tra nội bộ tập trung chủ yếu vào khối ngoài
quốc doanh kết quả một vài năm:
- Năm 2009-2010: Tập trung kiểm tra nội bộ tại các Đội Thuế theo Quyết
định số 118/QĐ-TCT ngày 26/01/2011 của Tổng Cục Thuế về việc ban hành
Quy trình thanh tra, kiểm tra nội bộ ngành thuế và thực hiện quy trình quản
lý hộ kinh doanh cá thể theo qui định tại Quyết định số 1201QĐ/TCT-
TCCB ngày 26/01/2004 của Tổng cục Thuế về việc ban hành qui trình
quản lý thu thuế đối với hộ kinh doanh cá thể và Công văn số 891/CT-
THNVDT ngày 15/01/2010 của Cục Thuế Hà Nội về việc chấn chỉnh công
tác thu thuế khu vực cá thể; Quy trình kê khai thuế theo qui định tại Quyết
định số 422/QĐ-TCT ngày 22/4/2008 của Tổng Cục Thuế.
- Năm 2011-2012: Kiểm tra nội bộ về việc thực hiện quy trình quản lý
thuế hiện hành:
+ Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo qui định tại Quyết định số
2568/QĐ-TCT ngày 22/12/2010 của Tổng cục Thuế về việc ban hành qui trình
Tiếp công dân, nhận và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ
quan thuế các cấp.
+ Xây dựng kế hoạch kiểm tra nội bộ và thanh tra ĐTNT theo thông báo
giao nhiệm vụ của Tổng cục Thuế.
+ Xây dựng kế hoạch phòng chống tham nhũng và kiểm tra việc chấp
hành kỷ luật lao động, công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT...
Qua công tác kiểm tra nội bộ ngành thuế đã chấn chỉnh kịp thời các sai sót
72 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
khiếm khuyết trong quản lý đối tượng nộp thuế cũng như công tác quản lý cán
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
bộ. Những cán bộ vi phạm kỷ luật cũng đã bị xử lý nghiêm khắc. Việc xử lý cán
bộ vi phạm căn cứ vào các hành vi vi phạm xét theo văn bản nhà nước như Luật
cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008
và 10 điều kỷ luật của cán bộ thuế...
Bảng 2.10: Số cán bộ vi phạm qua các năm
Công tác xử lý cán bộ
Hình thức xử lý cán bộ Tổng số Năm cán bộ
bị xử lý Phê bình Khiển trách Cảnh cáo Cách chức Buộc thôi việc Hạ ngạch công chức
2010 7 5 - 1 - - 1
2011 4 3 - 1 - - -
2012 1 1 - - - - -
Tổng số 12 9 - 2 - - 1
b. Quản lý lĩnh vực kiểm tra đối tượng nộp thuế GTGT
Hàng năm, sau khi có sự chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo Chi cục Thuế,
các đội chức năng triển khai phối hợp với đội kiểm tra thuế xây dựng kế hoạch
kiểm tra quyết toán thuế đối với các doanh nghiệp. Việc phối hợp này cố gắng
đảm bảo tránh sự chồng chéo trong công tác kiểm tra ĐTNT. Hiện nay công tác
kiểm tra tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa được thực hiện theo Quyết định số
528/QĐ-TCT ngày 29/5/2008 của Tổng cục Thuế về việc ban hành quy trình
kiểm tra thuế. Mục đích kiểm tra:
73 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Chống thất thu ngân sách NN
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế của ngành thuế, nâng cao
năng lực của cơ quan thuế trong việc ngăn chặn và xử lý kịp thời các doanh
nghiệp, cá nhân có hành vi gian lận, trốn thuế.
- Tôn trọng và phát huy tính tự giác chấp hành và tự chịu trách nhiệm của
doanh nghiệp.
- Thực hiện cải cách và hiện đại hoá công tác thanh tra kiểm tra thuế, góp
phần tăng cường công tác quản lý cán bộ trong nội bộ ngành thuế.
Các biện pháp chống thất thu ngân sách trong quản lý thuế tại Chi cục
Thuế Quận Đống Đa được tập trung trước hết vào công tác kiểm tra quyết toán
thuế, kiểm tra hoàn thuế (nhất là các đơn vị trọng điểm) trên cơ sở kế hoạch
kiểm tra do lãnh đạo duyệt. Đây được coi là khâu quan trọng nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý thuế tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa. Để việc quyết toán được
tốt thì các đội quản lý đã tích cực đôn đốc NNT nộp báo cáo quyết toán và kiểm
tra báo cáo quyết toán bước 1. Ngoài ra, việc kiểm tra NNT trên cơ sở các đơn
thư khiếu tố cũng như các dấu hiệu khác cũng góp phần tăng thu cho ngân sách
nhà nước và kịp thời chấn chỉnh các vi phạm về thuế của các ĐTNT.
Bảng 2.11: Kiểm tra quyết toán và số thuế truy thu
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm
Số đối tượng kiểm tra Tổng số thuế truy thu tài chính Số thuế GTGT truy thu Tỷ lệ thuế GTGT/tổng số truy thu
2010 117 6.477 2.015 31%
2011 300 18.399 4.599 25%
2012 408 39.511 7.902 20%
Những số liệu ở bảng trên cho thấy hàng năm đã phát hiện, thu hồi hàng
74 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
tỷ đồng tiền thuế, trong đó số thuế GTGT chiếm tỷ trọng khá lớn. Số đối tượng
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
được kiểm tra và phải truy thu thuế nêu trên chỉ chiếm 20% tổng số doanh
nghiệp nên có thể nhận định rằng, số thuế mà thực tế doanh nghiệp đã thực hiện
trốn là không ít. Việc phát hiện và thu hồi được số thuế trốn lậu vào ngân sách là
phần nổi, còn thực tế số thuế các doanh nghiệp đã trốn được mà không bị phát
hiện thì không thể tổng kết được, song theo đánh giá sơ bộ trên cơ sở ước tính
thì số đó là không nhỏ.
Mặc dù Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã rất cố gắng nhưng số NNT hàng
năm được kiểm tra vẫn còn rất nhỏ, bằng khoảng 10% số đối tượng quản lý,
25% số doanh nghiệp do vậy còn tồn tại việc thất thu thuế và nợ đọng tiền thuế.
Đánh giá chung:
- Về cơ bản công tác kiểm tra ĐTNT là nhằm tăng thu để hoàn thành kế
hoạch thu được giao. Tỷ lệ doanh nghiệp được kiểm tra quyết toán thuế còn
thấp.
- Kiểm tra nhằm làm cho ĐTNT sẽ chấp hành pháp luật thuế một cách
nghiêm chỉnh hơn. Hầu như đơn vị nào được kiểm tra cũng phát hiện sai phạm ở
các mức độ khác nhau.
- Số truy thu, sai phạm bình quân về thuế ở các DN ngoài quốc doanh là
cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp Nhà nước. Có không ít DN qua kiểm tra
phải truy thu hàng trăm triệu đồng.
2.3. Phân tích tình hình thu thuế theo các yếu tố ảnh hưởng
2.3.1 Tình hình về nhân lực
* Số lượng và chất lượng công chức: Tổng số cán bộ toàn Chi cục Thuế
(Gồm khối văn phòng và các đội thu thuế) được phân loại theo chất lượng cán
75 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
bộ tại các bộ phân theo bảng:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Chia theo độ tuổi
Giới tính
Chia theo ngạch công chức
Bảng 2.12: Cơ cấu tổ chức tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa
Tổng
Chia theo trình độ lao động
Phân loại
số
lao động
S T T
Nam Nữ
Còn lại
Loại A
Loại B
Dưới 30
30- 50
Trên 50
131
CVC và TĐ 4
CV và TĐ 155
240
81
142
98
29
135
76
109
Tổng cộng
4
144
190
42
131
59
29
118
43
88
10 2
1 Văn phòng Chi cục Thuế
4
3
1
4
1
4
3
Lãnh đạo Chi cục
26
17
9
17
9
5
18
14
12
3
Đội TTHT&AC
29
20
9
20
9
11
16
10
19
2
Đội Kê khai - kế toán và tin học
21
13
13
10
12
8
8
6
5
9
Đội HC-NS-TV
12
1
9
2
10
2
7
9
3
5
Đội KT nội bộ
10
7
3
7
3
4
5
3
7
1
Đội THNVDT
10
9
1
9
1
3
5
4
6
2
Đội quản lý nợ và CCNT
12
7
5
7
5
6
7
5
6
Đội trước bạ và thu khác
22
22
16
6
19
7
15
3
Đội kiểm tra 1
21
21
16
5
18
9
12
3
Đội kiểm tra 2
23
23
17
6
18
9
14
5
50
11
11
17
29
39
39
33
21
Đội kiểm tra 3 2 Các Đội thuế liên phường
- Chất lượng công chức: Qua bảng trên cho thấy nhiệm vụ quản lý tại văn
phòng Chi cục chủ yếu đối với doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ phải có trình độ
chuyên môn cao loại A (thạc sỹ, đại học), ít loại B (cao đẳng, trung cấp) còn tại
các đội thuế phường thì trình độ cán bộ còn hạn chế. Số cán bộ công chức ở độ
tuổi trên 50 chiếm đa số đảm bảo có kinh nghiệm thực tế nhưng sẽ kém năng
76 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
động do vậy xu hướng cần phải trẻ hoá cán bộ. Theo phân cấp quản lý, văn
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
phòng Chi cục Thuế Quận Đống Đa thực hiện theo dõi quản lý thu của các
doanh nghiệp, các Đội thuế phường thực hiện theo dõi quản lý thu thuế của các
hộ cá thể theo phương pháp trực tiếp trên GTGT. Số thu ngân sách được tập
trung phần lớn tại văn phòng Chi cục chiếm khoảng 75%, bình quân hàng năm
số đối tượng quản lý chiếm khoảng 60%, trong đó số cán bộ theo dõi quản lý thu
của các doanh nghiệp là chủ yếu. Tại các Đội thuế số thu ngân sách chiếm
khoảng 25%, số đối tượng quản lý chiếm 80% và số cán bộ chiếm 25%. Theo
đánh giá thì phân bổ công chức hiện tại là hợp lý, nhưng tương lai do cải cách
quy trình quản lý thì chất lượng sẽ không đảm bảo cần có kế hoạch đào tạo tiếp.
Để đáp ứng đòi hỏi tăng cường công tác quản lý, công tác cải cách của
ngành thuế thì việc tổ chức cán bộ phải luôn được chú trọng. Việc tăng cường
nhân lực cả về số lượng và chất lượng là vấn đề được coi là cấp bách. Tuy nhiên
nó lại phụ thuộc vào một số yếu tố như kinh phí, chỉ tiêu... Xem xét thực tế công
tác đào tạo tại Chi cục Thuế Quận Đống Đa qua bảng thống kê dưới đây.
Năm
Chỉ tiêu đào tạo (người)
Kinh phí đào tạo (triệu đồng)
Tổng
Tổng
ĐH
ĐH
Nghi ệp vụ
QL NN
Tin học
Tin học
Nghiệ p vụ
QL NN
Sau ĐH
10
35
80
250
300
280
935
65
40
Sau ĐH 5
15
15
2011 về trước
1.000
1.000
20
40
145
20
25
40
200
200
2.460
60
Kế hoạch 2012
Bảng 2.13: Chi tiêu và kinh phí đào tạo
Qua số liệu trên cho thấy từ năm 2011 trở về trước công tác đào tạo cũng
chưa được chú trọng nhiều thể hiện con số khiêm tốn về số lượng và eo hẹp về
kinh phí. Tuy nhiên để phù hợp với lộ trình cải cách ngành thuế, từ năm 2012 về
sau này đã có sự thay đổi lớn với số kinh phí được duyệt nhiều hơn, nội dung
77 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
đào tạo được mở rộng và chất lượng đào tạo được nâng cao.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Bảng 2.14: Chế độ tiền lương
Năm Tổng thu nhập năm (triệu đồng) Hệ số bậc bình quân Lương BQ Hệ số lương
3,4 4,35 1,8 75,5 Thưởng năm (triệu đồng) 12,5 2010
3,7 4,75 1,8 72,7 11,7 2011
3,9 5,15 1,8 69,3 9,8 2012
Tổng kinh phí hoạt động của Chi cục Thuế được duyệt khoán chi hàng
năm hiện tại bằng 0,5% trên tổng số thu bao gồm các khoản chi lương, thưởng,
chi thường xuyên và không thường xuyên. Số quỹ lương cuối năm nếu còn hoặc
được duyệt thêm từ tiết kiệm chi sẽ dùng chi thưởng thêm hoặc động viên
khuyến khích các cá nhân xuất sắc, tập thể xuất sắc...
- Đánh giá chung: tiền lương, thưởng công chức hiện nay còn thấp so với
mặt bằng thủ đô Hà Nội (bình quân khoảng 4triệu đồng/người/tháng) và so với
áp lực công việc rất nặng, khối lượng công việc nhiều, cần cải cách để động viên
thích đáng và phù hợp hơn cho NLĐ. Đặc biệt từ năm 2010, Chính phủ yêu cầu
tiết kiệm chi thường xuyên 10%, do đó số thưởng năm cho cán bộ công nhân
viên thấp chỉ bằng 02 tháng lương cơ bản (bình quân năm là 3 tháng). Hiện nay
tại một số thành phố lớn của miền Nam, ngành thuế còn thiếu rất nhiều chỉ tiêu
biên chế do mức lương và đãi ngộ thấp không thu hút được người lao động.
Bảng 2.15: Nhiệm vụ quản lý NNT của công chức thuế
Đơn vị Số cán bộ quản lý Số DN quản lý
Đội kiểm tra số 1 22 4.078 Bình quân (DN/người) 185
Đội kiểm tra số 2 21 3.855 184
78 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Đội kiểm tra số 3 23 4.142 180
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Thực tế, công tác tổ chức vẫn còn vấn đề về phân bố lực lượng quản lý
thuế, hiện tại mỗi cán bộ thuế thực hiện kiểm tra khoảng 100 doanh nghiệp. Với
các nghiệp vụ kiểm tra tờ khai, xác minh hoá đơn, thực hiện đôn đốc thu nộp
đảm bảo kế hoạch thu, làm các báo cáo theo yêu cầu của công tác quản lý thuế...
chủ yếu bằng các phương pháp, phương tiện thủ công là chính. Với khối lượng
công việc lớn như vậy thì cán bộ thuế không có đủ quỹ thời gian để đảm bảo tốt
chất lượng công tác quản lý thuế, khó có thể phát hiện kịp thời tất cả các hành vi
vi phạm pháp luật thuế và do đó việc hoàn thành nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực lớn
của cán bộ.
2.3.2 Cơ sở vật chất kĩ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin
- Cơ sở vật chất Chi cục Thuế Quận Đống Đa chưa đảm bảo, văn phòng
làm việc của Chi cục Thuế đang phải đi thuê ở nhiều nơi. Diện tích phòng làm
việc rất hẹp, tại văn phòng Chi cục Thuế không đủ chỗ kê cho mỗi cán bộ một
bàn làm việc riêng, các Đội thuế liên phường, Đội TTHT và ấn chỉ, Đội thu thuế
trước bạ và thu khác, Đội kiểm tra nội bộ phải đi thuê địa điểm. Tình trạng đó
gây khó khăn cho công tác và cả cho việc quan hệ với NNT và các cơ quan có
liên quan.
- Việc áp dụng tin học trong công tác quản lý còn hạn chế.
Áp dụng tốt công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế giá trị
gia tăng là một trong những điều kiện để thực hiện thuế GTGT. Công nghệ tin
học sẽ thực hiện loại trừ các vi phạm đơn giản, đồng thời cung cấp các thông số
để có thể quản lý và thực hiện ngăn ngừa, chống các hành vi vi phạm có tính
chất phức tạp.
Bằng công nghệ tin học người ta có thể loại trừ toàn bộ các hành vi kê
khai trùng, kê khai khống và các hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để gian
79 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
lận thuế nếu thực hiện tốt việc lập cơ sở dữ liệu. Hiện nay, do điều kiện của các
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
đối tượng kinh doanh chưa đảm bảo để cơ quan thuế có thể áp dụng các công
nghệ thông tin tiên tiến, trong khi các hành vi gian lận thuế còn diễn ra tương
đối rộng nên khả năng phát hiện thấp.
Bảng 2.16: Trang bị máy tính cho cán bộ công chức thuế
Đơn vị Số người Số máy vi tính Bình quân (người/máy)
Văn phòng 190 160 1,19
Các Đội thuế 50 10 5
Cộng 240 170 1,41
Số lượng máy tính trang bị bình quân đầu người hiện nay còn ít. Mục tiêu
phấn đấu năm 2013 trang bị máy tính cho trên 80% cán bộ công chức trong đó
công chức tại văn phòng là 100%, tại các Đội thuế liên phường là 65%. Thực tế
hiện nay Chi cục Thuế đã đưa vào sử dụng các phần mềm ứng dụng phục vụ
công tác quản lý thuế như: Cấp đăng kí MST (TINCC); Hệ thống quản lý thuế
(QLT); Quản lý ấn chỉ (QLAC); Phân tích tình trạng thuế (QTT); Phân tích Báo
cáo tài chính (BCTC); Quản lý nợ thuế (QLN); Quản lý hồ sơ, văn bản (QHS)
thực trạng các hệ thống này do chính sách thuế thường xuyên thay đổi nên hay
gây tổng hợp sai số liệu trong công tác quản lý thuế. Mặt khác hệ thống mạng
nội bộ (LAN) vẫn trục trặc thường xuyên, chưa có hệ thống mạng đủ mạnh phục
vụ công tác quản lý đối tượng nộp thuế từ khi thành lập đến khi ngừng kinh
doanh.
2.3.3 Phương pháp tổ chức quản lý thu thuế GTGT
Nếu cơ cấu tổ chức bộ máy tốt và nguồn nhân lực có chất lượng sẽ ảnh
hưởng lớn đến hệ thống bộ máy quản lý thuế. Một trong những nguyên nhân dẫn
80 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
đến tình trạng gian lận thuế diễn ra trên phạm vi rộng, phức tạp trong thời gian
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
qua là do bộ máy quản lý thuế còn những yếu kém do có những vấn đề chưa phù
hợp, có thể đưa ra một số vấn đề về tổ chức quản lý, cụ thể là:
+ Tính đến thời điểm 2012 công tác tổ chức bộ máy quản lý là hợp lý và
đã giúp Chi cục Thuế Quận Đống Đa hoàn thành nhiệm vụ trong nhiều năm liên
tiếp. Tuy nhiên đã tiềm ẩn việc không thích ứng của phương pháp quản lý với
nhịp độ tăng trưởng về số lượng doanh nghiệp và chất lượng doanh nghiệp ra
kinh doanh đồng thời với việc quá tải của cán bộ quản lý trong công việc.
+ Tổ chức bộ máy quản lý thuế theo cơ chế quản lý đối tượng là chính,
chưa coi trọng công tác kiểm tra và tuyên truyền hỗ trợ. Trên địa bàn Quận
Đống Đa trong thời gian trước năm 2010, số lượng cán bộ thực hiện công tác
kiểm tra chỉ chiếm khoảng 5% tổng số cán bộ với trình độ chuyên môn nghiệp
vụ chưa cao. Với thực tế như vậy năng lực công tác kiểm tra còn rất hạn chế. Từ
năm 2010 đến nay, lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra và tuyên truyền hỗ
trợ đã tăng nhanh về số lượng và cả về chất lượng, chiếm khoảng 25%. Tuy
nhiên, nhìn tổng thể cơ quan thuế vẫn còn nặng nề trong công tác quản lý, chưa
thực sự linh hoạt.
+ Công tác thu nợ cưỡng chế thuế, tuyên truyền hỗ trợ đã có kết quả
nhưng thực chất chưa hiệu quả.
+ Quản lý hồ sơ NNT chủ yếu là thủ công con người là chính không có sự
trợ giúp của phương tiện hiện đại nên tốn công sức và không hiệu quả.
Từ những vấn đề nêu trên thấy rằng việc đổi mới, cải cách công tác thuế,
cải cách ngành thuế là cần thiết và tất yếu.
2.3.4 Môi trường pháp lý
Chính sách thuế hay các văn bản pháp quy về thuế và các đạo luật có liên
quan là cơ sở pháp lý để tất cả các thành viên trong xã hội phải tuân thủ theo
81 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
những quy định của nhà nước. Nếu các quy định luật pháp chặt chẽ, phù hợp
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
điều kiện kinh tế, xã hội thì sẽ được thực hiện một cách nghiêm túc. Ngược lại
chính sách, pháp luật không phù hợp thì hiệu lực của chính sách, pháp luật
không cao.
Luật thuế GTGT được chính thức áp dụng ở Việt Nam từ năm 1999 đã
phát huy được những ưu điểm rõ nét của phương pháp tính thuế tiên tiến. Tuy
nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện Luật thuế GTGT cũng đã bộc lộ một số
vấn đề cần quan tâm, đó là:
- Chính sách thiếu chặt chẽ nên đối tượng nộp thuế lợi dụng trốn thuế.
- Luật pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa thực sự rõ ràng.
Trong Luật Thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế
GTGT còn một số khái niệm, định nghĩa chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến việc hiểu
và áp dụng thuế suất thuế GTGT gặp nhiều khó khăn như chưa căn cứ vào công
dụng chủ yếu của sản phẩm hàng hóa để quy định thuế nên đối với loại sản
phẩm hàng hóa có nhiều công dụng thì có thể áp dụng các loại thuế suất khác
nhau. Ví dụ két sắt, van, vòi nước theo quy định là sản phẩm cơ khí được áp
dụng thuế suất 5%, nhưng nếu xét ở góc độ hàng tiêu dùng thì bị áp dụng thuế
suất 10%. Với những điểm lẫn lộn, thiếu chính xác như vậy đã gây khó khăn cho
việc áp dụng của đối tượng nộp thuế, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc áp
dụng của đối tượng nộp thuế, đồng thời cũng gây khó khăn cho công tác quản lý
thuế.
- Các quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm về thuế chưa cụ
thể, rõ ràng. Điều 19 Luật Thuế GTGT có quy định mức xử phạt từ 1 đến 5 lần
số thuế khai man, nhưng lại không quy định rõ khái niệm thế nào là khai man,
các hành vi nào là khai man trốn thuế.., dẫn đến việc xử lý gặp nhiều khó khăn,
các biện pháp trừng phạt bị hạn chế, làm giảm tính răn đe, phòng ngừa.
82 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
2.3.5. Đặc điểm của người nộp thuế
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Theo lý thuyết và kinh nghiệm thực tế áp dụng thuế GTGT ở các nước
tiên tiến có nền kinh tế phát triển ổn định, để áp dụng thành công thuế GTGT
nhà nước phải thực sự quản lý được nền kinh tế bằng pháp luật; các cơ sở kinh
doanh phải ghi chép đầy đủ sổ sách kế toán; các quan hệ thanh toán trong nền
kinh tế phải phát triển; trình độ nhận thức của dân cư và các thành phần kinh tế
phải cao; phải có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong quản lý.
Đối chiếu với thực tế kinh tế - xã hội nước ta cho thấy, các điều kiện kinh tế - xã
hội để thực hiện thuế GTGT còn nhiều vấn đề cần phải hoàn thiện. Những điểm
chưa hoàn thiện, cụ thể là:
- Người dân khi mua hàng hóa tiêu dùng không có thói quen lấy hóa đơn,
thậm chí các trường hợp phải có hóa đơn để thực hiện các quy định của pháp
luật khác thì người mua lại không quan tâm đến các nội dung về giá cả ghi trên
hóa đơn. Tình trạng đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực
hiện hành vi báo cáo kế toán sai, thực hiện các hành vi gian lận thuế như giảm
giá bán, giấu doanh thu để giảm thuế GTGT đầu ra, không ký hợp đồng nguyên
tắc nên không xác định được doanh thu phát sinh khi nào… và có thể cung cấp
hóa đơn bất hợp pháp cho đối tượng khác gian lận thuế.
- Hiện tại thanh toán qua tài khoản, qua thẻ của Việt Nam nói chung vẫn
hạn chế. Quan hệ thanh toán thông qua tiền mặt vẫn là chủ yếu, chiếm 70% tổng
mức thanh toán. Thanh toán bằng tiền mặt là điều kiện để các doanh nghiệp thực
hiện các hành vi vi phạm kế toán dẫn đến gian lận thuế như để ngoài sổ sách kế
toán, khai khống các chi phí và thuế GTGT.
- Do nền kinh tế thị trường ở nước ta mới hình thành với nhiều thành phần
kinh tế, các chuẩn mực kế toán đang trong giai đoạn hoàn thiện, nên các vi phạm
về kế toán còn nhiều. Việc quản lý, xử lý vi phạm gặp nhiều khó khăn nên các
hành vi gian lận thuế của đối tượng nộp thuế có thể thực hiện một cách không
83 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
mấy khó khăn.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Thực tế cho thấy, các cơ sở kinh doanh thực hiện ghi chép sổ sách kế toán
chưa tốt, đặc biệt với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số liệu kiểm tra các
năm cho thấy hầu hết số doanh nghiệp ngoài quốc doanh được kiểm tra đều có
vi phạm về kế toán, thuế.
2.3.6. Môi trường kinh tế xã hội
Từ giữa năm 2011 do sự suy giảm kinh tế toàn cầu nên các DN bị ảnh
hưởng do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa được
giải quyết. Những bất lợi từ sự sụt giảm đó ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản
xuất kinh doanh và đời sống của dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng
hoá bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu
ngân hàng ở mức cao nên nhiều DN nhất là DN nhỏ và vừa phải thu hẹp sản
xuất, ngừng hoạt động hoặc giải thể vì vậy ảnh hưởng lớn đến số thu thuế.
Mặt khác do việc chi ngân sách của chúng ta chưa thật sự hiệu quả và gây
lãng phí lớn bởi các công trình công cộng, phúc lợi nên người dân thiếu sự tin
tưởng vào sự quản lý chi ngân sách do vậy cũng ảnh hưởng đến sự tự giác trong
việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách.
2.4. Kết luận chương 2
Quận Đống Đa là trung tâm chính trị, kinh tế của thủ đô Hà Nội. Hàng
năm Quận Đống Đa đóng góp lớn vào số thu của thủ đô. Trong đó thu thuế
GTGT chiếm từ 15% đến 19% tổng thu ngân sách trên địa bàn Quận Đống Đa.
Nhận rõ tầm quan trọng của thuế GTGT đối với sự phát triển kinh tế - xã hội,
ngay từ những năm đầu áp dụng thuế GTGT, Chi cục Thuế Quận Đống Đa được
sự phối hợp của các cơ quan hữu quan ban ngành của Quận đã tổ chức quản lý
sắc thuế mới này một cách chặt chẽ với hiệu quả ngày càng cao, số thuế GTGT
84 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thu được của năm sau cao hơn năm trước.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Phần lớn các NNT trên địa bàn Quận Đống Đa đã nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật thuế GTGT, góp phần tạo nên những kết quả nói trên. Song,
không ít đối tượng đã vi phạm pháp luật thuế GTGT, gây nên những bức xúc
trong quản lý kinh tế, thách thức các cơ quan quản lý thuế và dư luận xã hội.
Qua nghiên cứu ở phần trên có thể đánh giá kết quả công tác thu thuế tại Quận
Đống Đa như sau:
2.4.1 Những kết quả đạt được
Chi cục Thuế Quận Đống Đa triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2012
nói riêng và giai đoạn 2009-2011 nói chung bên cạnh những thuận lợi của bối
cảnh kinh tế thế giới và trong nước. Tuy nhiên từ khoảng giữa năm 2011 do suy
giảm kinh tế cũng đã phần nào ảnh hưởng đến số thu vào NSNN. Kết thúc năm
2012, Cục Thuế TP Hà Nội đánh giá Chi cục Thuế Đống Đa hoàn thành trong
nhóm số 1 của khối các Chi cục (có 3 đơn vị là Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và
Đống Đa).
Đạt được kết quả trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự quan tâm
thường xuyên liên tục của lãnh đạo Cục thuế Hà Nội, Quận ủy, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo Chi cục và sự
cố gắng của cán bộ, công chức chi cục, sự hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của
các cấp, chính quyền địa phương với Chi cục trong việc tăng cường các biện pháp
quản lý thu, nhất là việc thành lập Ban chỉ đạo thu ngân sách đã góp phần quan
trọng, công tác chống thất thu, hạn chế nợ đọng thuế, kịp thời tăng nguồn thu cho
NSNN... do vậy công tác thuế trong năm 2012 và cả giai đoạn 2009-2011 đã đạt
được những kết quả quan trọng, số thu năm sau cao hơn năm trước.
85 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Bảng 2.17: Kết quả thu thuế giá trị gia tăng qua các năm
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Đơn vị tính: triệu đồng
Năm tài chính Tổng số thu ngân sách Số thuế GTGT Tỷ trọng thuế GTGT/tổng thu (%) Tỷ trọng thuế GTGT so với năm trước (%)
2010 1.768.747 547.731 30,97%
2011 1.860.282 563.821 30,31% 102%
2012 1.617.968 606.507 37,49% 108%
Đạt được những kết quả trên là do:
- UBND Quận đã thường xuyên quan tâm chỉ đạo đề ra nhiều chủ trương
giải pháp về cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư thúc
đẩy SXKD, kịp thời giải quyết khó khăn và vướng mắc, đồng thời chỉ đạo điều
hành quyết liệt, có hiệu quả thúc đẩy sự phát triển kinh tế tạo tiền đề cho việc
huy động và nuôi dưỡng nguồn thu NSNN.
- Hàng năm Chi cục đã thường xuyên phát động thi đua nêu cao tinh thần
trách nhiệm, tăng cường kỷ cương kỷ luật, đoàn kết nhất trí, quyết tâm phấn đấu,
vượt qua mọi khó khăn thách thức nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ thu ngân
sách đã được Cục Thuế TP Hà Nội và UBND Quận giao.
- Toàn Chi cục đã chủ động triển khai áp dụng đồng bộ và quyết liệt các
biện pháp quản lý thu, khai thác nguồn thu chống thất thu ngân sách cùng với
thực hiện cải cách thủ tục hành chính cụ thể là:
+ Công tác giao dự toán thu NSNN: Trên cơ sở dự toán Cục Thuế TP Hà
Nội giao và Nghị quyết HĐND Quận phê chuẩn, hàng năm Chi cục Thuế đã chủ
động phối hợp với Phòng Tài chính tham mưu cho UBND Quận giao dự toán
thu cho các Đội thuế xong trước ngày 31/12 năm trước và đảm bảo đúng quy
86 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
định của Luật NSNN. Số giao tăng để phấn đấu trên 5%.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế: Được xác định là một
khâu quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý theo cơ chế tự khai, tự nộp thuế;
giúp người nộp thuế chủ động và chịu trách nhiệm về việc xác định số thuế phải
nộp, hạn chế những vi phạm pháp luật về thuế do thiếu hiểu biết chính sách,
đồng thời hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế.
+ Công tác quản lý kê khai, kế toán thuế và tin học: Được xác định là
nguồn dữ liệu đầu vào quan trọng để xác định theo dõi và quản lý thu NS thông
qua việc quản lý số lượng người nộp thuế, tờ khai thuế, chứng từ thu nộp NS...
Chi cục Thuế quận Đống Đa đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác kê khai kế toán để công tác này ngày càng chặt chẽ, đem lại hiệu quả.
Tăng cường công tác rà soát tờ khai thuế của doanh nghiệp nhằm phát hiện ngay
các lỗi, các sai sót trong tờ khai có thể dẫn đến các hành vi vi phạm thuế như
cộng sai số học, kê trùng, kê sót...
+ Công tác kiểm tra thuế, xác minh hoá đơn: Chi cục đã tăng cường cán
bộ có trình độ, năng lực cho Đội kiểm tra. Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm
tra ngày càng nâng cao. Qua công tác kiểm tra đã phát hiện và chấn chỉnh kịp
thời các sai phạm của đơn vị như: bán hàng không lập hoá đơn, lập hoá đơn ít
hơn so với hàng hoá thực tế bán ra; kê khai sai, kê khai thiếu doanh số, phát hiện
các trường hợp sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, đưa chi phí không hợp lý, trích
khấu hao tài sản không phù hợp...Rà soát phát hiện các hóa đơn bất hợp pháp
được thực hiện kê khai thuế trên tờ khai của doanh nghiệp. Thực hiện xác minh
và trả lời xác minh hóa đơn GTGT nhằm phát hiện sớm các vi phạm trong việc
kê khai thuế của các doanh nghiệp.
+ Công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Đã thực hiện thành đầu mối
chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc đôn đốc thu nợ. Chi cục đã tập trung phân
loại nợ thuế, xây dựng kế hoạch thu nợ và giao chỉ tiêu thu nợ hàng năm cho các
87 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
Đội. Bám sát tình hình SXKD của các doanh nghiệp nợ đọng lớn để có biện
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
pháp đôn đốc thu nợ. Lập kế hoạch làm việc cụ thể với từng doanh nghiệp nợ
lớn để xác định nguyên nhân nợ và yêu cầu đơn vị cam kết thời gian nộp nợ
đọng.
+ Phối hợp liên ngành trong quản lý thuế GTGT đó là các công tác: Cung
cấp, trao đổi thông tin, tài liệu; Phối hợp thực hiện công tác thanh tra, điều tra.
Chi cục Thuế Quận Đống Đa đã phối hợp với các cơ quan điều tra công an Quận
thực hiện điều tra các vụ trọng điểm và phối hợp với thanh tra Quận.
Kết quả quan trọng nhất là sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan bảo vệ
pháp luật trong đấu tranh chống các hành vi vi phạm và tội phạm về thuế đã tạo
nên sức mạnh tổng hợp trấn áp tội phạm đồng thời răn đe các đối tượng, hạn chế
các hành vi gian lận thuế.
2.4.2 Hạn chế trong công tác quản lý thu thuế GTGT
Công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa những năm
qua tuy đã đạt được nhiều thành tích quan trọng song nghiêm túc mà xét thì
công tác này vẫn còn một số yếu kém, hạn chế cần sớm khắc phục. Những hạn
chế chủ yếu thể hiện trên những mặt sau:
-Về cơ chế chính sách : Còn có chỗ thiếu chặt chẽ, sơ hở; các văn bản
hướng dẫn chưa rõ ràng, cụ thể, các chính sách thuế hay thay đổi nên gây khó
khăn cho việc thực hiện của cả cơ quan thuế và NNT.
- Hệ thống quản lý còn hạn chế
+ Về tổ chức, hoạt động của bộ máy quản lý thuế còn tỏ ra chưa phù hợp
và chưa linh hoạt.
+ Năng lực và hiệu quả của công tác quản lý thuế nói chung và công tác
thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng còn hạn chế. Trong thời gian từ năm 2006 đến
2010 các vụ việc vi phạm pháp luật thuế, chiếm đoạt tiền hoàn thuế diễn ra rất
88 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nghiêm trọng; một số doanh nghiệp đã được thực hiện thanh tra sau hoàn thuế
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nhưng không thể kết luận được hành vi vi phạm của đối tượng, chỉ sau khi phối
hợp với các cơ quan điều tra thì các vi phạm mới được kết luận.
+ Không quản lý tốt doanh nghiệp nên không nắm được doanh nghiệp sau
khi thành lập có còn hoạt động hay đã ngừng, nghỉ kinh doanh, giải thể, phá sản.
Doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế và cũng là đối tượng gian lận thuế.
Nếu theo dõi chặt chẽ, nắm vững những doanh nghiệp đang hoạt động cũng như
những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, bỏ kinh doanh, giải thể, phá sản…thì
khả năng vi phạm pháp luật sẽ được hạn chế. Hiện nay, thực hiện chủ trương
khuyến khích đầu tư, các doanh nghiệp được thành lập một cách đơn giản. Do
đó đã có rất nhiều doanh nghiệp thành lập ra được một thời gian rất ngắn rồi bỏ
kinh doanh không báo cáo, không thực hiện các qui định của pháp luật; trong đó
có không ít những doanh nghiệp được thành lập ra chỉ với mục đích mua và bán
hóa đơn GTGT bất hợp pháp để kiếm lời.
+ Việc phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật còn chậm và xử lý không
nghiêm.
Các hành vi vi phạm pháp luật thuế đã và đang diễn biến phức tạp còn do
một nguyên nhân là, việc phát hiện các vi phạm chậm, vi phạm không bị xử lý
nghiêm minh. Theo qui định của Luật Thuế GTGT, việc kê khai được tiến hành
hàng tháng, nhưng trong quá trình quản lý, việc phát hiện sai phạm là rất hạn
chế, khi tiến hành thanh tra, kiểm tra thì các vi phạm đã được thực hiện quá lâu,
hơn nữa việc thanh tra lại kéo dài nên việc xử lý khó khăn dẫn đến tác dụng
ngăn ngừa, răn đe, giáo dục không còn phát huy tác dụng.
+ Không quản lý được hóa đơn là cơ sở để kê khai nộp thuế
Theo quy định hiện hành, hóa đơn đang là chứng từ quan trọng nhất, là
điều kiện để được kê khai khấu trừ thuế. Hầu hết các hành vi gian lận thuế đều
89 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
có liên quan đến vi phạm về hóa đơn. Thực tế, tại địa bàn Quận Đống Đa nói
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
riêng và trên toàn quốc nói chung, các hành vi vi phạm về hóa đơn dẫn đến gian
lận thuế đã và đang diễn ra vô cùng phức tạp, nhưng sự kiểm soát việc sử dụng
hóa đơn còn rất lúng túng, hạn chế. Đặc biệt từ khi Nghị định 51/2010/NĐ-CP
ngày 14/5/2010 của Chính phủ và Thông tư 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010
của Bộ Tài chính quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có hiệu
lực việc kiểm soát hoá đơn ngày càng phức tạp.
- Về công tác kiểm tra.
+ Số lượng NNT được kiểm tra chưa được nhiều.
Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ NNT được kiểm tra quyết toán thuế còn rất
thấp. Thực tế này đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng các vi phạm về thuế chưa
được phát hiện kịp thời. Cho nên, có thể nói hầu như ĐTNT nào bị kiểm tra là
chắc chắn có vi phạm không ít thì nhiều ở một mức độ nào đó. Số liệu về số thuế
truy thu và phạt khá lớn phản ánh nỗ lực chống thất thu của Chi cục Thuế quận
Đống Đa nhưng cũng phản ánh phần nào hậu quả của tỷ lệ số ĐTNT được kiểm
tra còn thấp. Đó là tình trạng ý thức tự giác chấp hành pháp luật thuế của các
NNT còn rất hạn chế. Số NNT chậm được kiểm tra quyết toán thuế sẽ làm cho
các vi phạm kéo dài và hậu quả lớn.
+ Cơ chế phối hợp giữa một số bộ phận chức năng chưa được cụ thể hóa.
Việc phối hợp giữa các bộ phận quan trọng quản lý thuế tại Chi cục Thuế
quận Đống Đa chưa được dựa trên một cơ chế rõ ràng thống nhất bằng văn bản.
Thực tế cho thấy hiệu quả phối hợp trong từng trường hợp cụ thể phụ thuộc vào
sự chỉ đạo của lãnh đạo Chi cục và trình độ năng lực của cán bộ trực tiếp thi
hành công vụ. Đôi lúc trong các tình huống giống nhau nhưng trình tự, thủ tục
90 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
xử lý lại khác nhau.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Cơ sở hạ tầng, điều kiện để áp dụng luật thuế GTGT còn yếu kém, chưa
hoàn thiện ở chỗ trình độ nhận thức của dân còn thấp, nền kinh tế còn chủ yếu
dùng tiền mặt, hệ thống ngân hàng, công nghệ thông tin đang phát triển…
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý thu thuế GTGT
Từ thực tế tổ chức thực hiện thuế GTGT trên địa bàn quận Đống Đa
những năm qua có thể rút ra một số nguyên nhân của những hạn chế trong quản
lý thu thuế GTGT, đó là:
- Nguyên nhân chủ quan
Việc phổ biến pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế
GTGT đối với NNT, cũng như tuyên truyền trong nhân dân về sắc thuế này còn
nhiều hạn chế. Như việc tuyên truyền các văn bản, chính sách mới ở phạm vi tại
Đội tuyên truyền hỗ trợ chưa phổ biến, tuyên truyền và qua loa phát thanh đến tổ
dân phố, UBND phường và đến từng người dân ở nơi cư trú. Cây kiosk thông tin
bị hỏng không hoạt động được để NNT đến giao dịch và tra cứu những thông tin
cần thiết về văn bản pháp luật, chính sách thuế và thông tin NNT.
NNT là chủ thể cơ bản để thực hiện chính sách thuế. Nếu đối tượng này
được tuyên truyền tốt, nắm vững chế độ, nghiêm túc thực hiện chính sách thì
công tác thuế sẽ thành công. Ngược lại, nếu NNT không tự giác thực hiện ở diện
rộng thì việc thực hiện nhiệm vụ công tác quản lý thu thuế, phòng, chống các
gian lận về thuế và khắc phục hậu quả sẽ rất khó khăn, phức tạp. Do chưa thật
chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật thuế, và việc tổ chức
tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế chưa đạt hiệu quả nên đã dẫn đến tình
trạng đối tượng nộp thuế vi phạm thuế một cách vô tình hoặc cố ý.
- Do bộ máy thu thuế chưa thật sự hoàn chỉnh, trình độ nghiệp vụ cán bộ
91 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế còn hạn chế, chưa đủ khả năng phát hiện nhanh các vi phạm; khi phát hiện
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
có dấu hiệu vi phạm thì khả năng xác minh, điều tra, kết luận còn hạn chế dẫn
đến tình trạng các vi phạm về thuế không được ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Cơ quan thuế là đơn vị có chức năng quản lý thuế trên toàn địa bàn có
nhiệm vụ tổ chức thu thuế và phát hiện,ngăn chặn các vi phạm về thuế. Nếu tổ
chức tốt bộ máy với những cán bộ thuế có đủ năng lực, phẩm chất và được trang
bị các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ sẽ phát hiện kịp thời các vi phạm về thuế, có
biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn các hành vi vi phạm, đảm bảo thực hiện tốt
chính sách thuế. Đồng thời, có khả năng đánh giá, dự báo các vi phạm có thể
xảy ra để có những biện pháp phòng, chống hữu hiệu. Sự quá tải trong nhiệm vụ
quản lý NNT cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý.
- Sự phối hợp giữa các cơ quan, đoàn thể trong quản lý thu thuế tuy đã
được chú trọng nhưng kết quả còn nhiều hạn chế; sự phối kết hợp vẫn còn tính
hình thức, lỏng lẻo ít có ràng buộc trách nhiệm của từng cơ quan, đoàn thể trong
công tác quản lý thu thuế GTGT.
Những năm qua trên địa bàn Quận Đống Đa có hơn 5.000 doanh nghiệp
được thành lập hoạt động bình thường nhưng có nhiều DN sau đó bỏ kinh doanh
bất hợp pháp đã bị cơ quan thuế phát hiện và ra thông báo doanh nghiệp bỏ trốn,
bỏ kinh doanh bất hợp pháp, nhưng ngay sau đó nhiều chủ doanh nghiệp mới vi
phạm luật doanh nghiệp lại được phép thành lập doanh nghiệp khác, thậm chí lại
bỏ kinh doanh bất hợp pháp… Như vậy việc quản lý của cơ quan quản lý nhà
nước đối với việc thành lập doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Đồng thời sự phối hợp
giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý doanh nghiệp còn nhiều lúng túng,
lỏng lẻo, để doanh nghiệp có thể vi phạm pháp luật rồi lại được cơ quan nhà
nước cho phép thành lập doanh nghiệp mới, rồi lại bỏ kinh doanh, hoặc chuyển
địa bàn này sang địa bàn khác.
92 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Nguyên nhân khách quan
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Về cơ chế chính sách: Việc ban hành chính sách, pháp luật thuế chặt chẽ
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội có tính chất quyết định đến việc chấp
hành Luật Thuế GTGT, ngăn chặn một cách có hiệu quả, xử lý một cách nghiêm
khắc các hành vi gian lận thuế GTGT. Thời gian qua, do chính sách thuế còn
những sơ hở, chưa thật minh bạch, văn bản hướng dẫn nhiều nhưng không đồng
bộ, đã là điều kiện để các hành vi vi phạm luật thuế được thực hiện và phát triển.
Trong các vi phạm về thuế đã được phát hiện trên địa bàn trong thời gian vừa
qua có nhiều vi phạm được xác định là do doanh nghiệp cố tình thực hiện các
hành vi trốn thuế, gian dối để được hoàn thuế trái qui định của pháp luật; ngoài
ra, cũng có nhiều doanh nghiệp do các qui định của pháp luật thuế chưa thật sự
rõ ràng, qui định ở nhiều văn bản khác nhau, mà doanh nghiệp không được
thông tin đầy đủ đã dẫn đến vi phạm hoặc thực hiện không đúng chính sách thuế
gây thất thu thuế. Việc xác định chính xác các vi phạm về thuế là do chủ quan
của doanh nghiệp hay do doanh nghiệp không nắm bắt kịp thời văn bản chính
sách thuế, là vấn đề rất khó khăn trong công tác quản lý thuế hiện nay. Đây là
một trong các điều kiện để các vi phạm về thuế phát triển và gia tăng.
- Chế tài xử lý đối với các hành vi gian lận thuế chưa đủ mạnh; Việc thực
hiện xử lý với các hành vi vi phạm thuế chưa nghiêm minh đã làm giảm tác
dụng trừng phạt, răn đe phòng ngừa các vi phạm về thuế. Nên cần hơn nữa sự
phối hợp giữa các cơ quan chức năng để giải quyết các vi phạm và truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với việc vi phạm pháp luật thuế và gây thất thu NSNN
đối với các trường hợp sử dụng hoá đơn bất hợp pháp, trốn thuế.
- Ý thức giác ngộ của NNT chưa cao, trình độ dân trí còn hạn chế nên
trong hoạt động mua bán, đặc biệt là những người nông dân trực tiếp bán sản
phẩm, hoặc những người tiêu dùng cuối cùng, do vô tình hoặc vì một chút lợi rất
93 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nhỏ đã tạo điều kiện tiếp tay cho các hành vi gian lận về thuế GTGT.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Cơ sở hạ tầng trong thanh toán của xã hội còn rất thấp, nền kinh tế tiền
mặt còn phổ biến trong xã hội, đây là điều kiện cho những hành vi vi phạm về
chế độ kế toán và cũng để che giấu những hành vi gian lận thuế GTGT.
Từ thực tế công tác quản lý thu thuế GTGT tại Quận Đống Đa, ở chương
2 đã phân tích, đánh giá những mặt được và những hạn chế của công tác quản lý
thu thuế GTGT, chỉ ra những nguyên nhân của sự hạn chế trong công tác quản
lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa trong những năm qua. Những kết
quả nghiên cứu đó là cơ sở để đề ra những giải pháp thực hiện công tác quản lý
94 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thu thuế GTGT một cách có hiệu quả hơn ở chương 3.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
CHƯƠNG 3:
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THU THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬN ĐỐNG ĐA
3.1 Định hướng công tác thu thuế GTGT trong thời gian tới
3.1.1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác thu thuế GTGT
Công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa đã đạt được
những thành tích đáng khích lệ trong những năm qua. Để thuế GTGT tiếp tục
phát huy tác dụng tích cực đối với đời sống kinh tế - xã hội thì một mặt phải tổ
chức thực hiện tốt hơn nữa Luật thuế GTGT, mặt khác phải đẩy mạnh công tác
phòng, chống gian lận thuế GTGT nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả của luật
thuế này. Yêu cầu đẩy mạnh công tác quản lý thu thuế GTGT trên địa bàn Quận
Đống Đa còn xuất phát từ những lý do quan trọng sau:
- Góp phần tăng thu cho ngân sách
Việc thực hiện nghiêm chỉnh Luật thuế GTGT vừa là nghĩa vụ vừa là
quyền lợi của mỗi công dân, tổ chức khi tham gia kinh doanh. Hành vi vi phạm
pháp luật thuế cũng như pháp luật khác là hành vi mà xã hội phải thực hiện các
biện pháp ngăn ngừa, phòng, chống và xử lý nghiêm minh.
Vi phạm pháp Luật thuế GTGT có khách thể là ngân sách nhà nước -
nguồn lực chủ yếu cho sự tồn tại của nhà nước; vi phạm pháp luật thuế làm thất
thu, thất thoát ngân sách nhà nước, gây ra những tác hại không nhỏ về kinh tế,
chính trị và xã hội. Việc phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật thuế nói
chung, thuế GTGT nói riêng là rất quan trọng và cấp thiết.
Hầu hết các nước trên thế giới đều phải thực hiện tổ chức công tác quản lý
95 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thu thuế, chống các hành vi gian lận thuế theo các cách khác nhau như tổ chức
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
cảnh sát thuế tại Nhật Bản, Hồng Kông, hay tổ chức cơ quan điều tra thuế tại
New Zealand…
- Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế GTGT hiện còn khá phổ biến và tinh
vi, phức tạp.
Thuế là hình thức phân phối của cải xã hội mà các chủ thể tham gia phân
phối là nhà nước và NNT. Trốn lậu thuế sẽ luôn là nguy cơ thường trực, trong
điều kiện có thể thực hiện được thì trốn lậu thuế sẽ phát sinh và phát triển. Trong
điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay các vi phạm về thuế GTGT còn đang
diễn ra tương đối phức tạp, ở nhiều nơi với các mức độ khác nhau, nhưng thất
thu thuế vẫn là vấn đề mà xã hội rất quan tâm.
Trong thời gian qua, các biện pháp tăng cường quản lý, thực hiện phòng,
chống gian lận thuế, đặc biệt là gian lận thuế GTGT trên địa bàn Quận Đống Đa
đã được triển khai rất tích cực và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song
hiện tại các vi phạm về thuế vẫn đang diễn ra rất phức tạp, gây thât thu không ít
cho ngân sách nhà nước, đồng thời gây những tác hại không nhỏ, làm ô nhiễm
môi trường kinh doanh, hạn chế tác dụng của chính sách nhà nước về thu hút
đầu tư nước ngoài và khuyến khích đầu tư trong nước.
Xuất phát từ lợi ích kinh tế của các đối tượng nộp thuế, cùng với điều kiện
kinh tế - xã hội, sự hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá thương mại khu vực và
toàn cầu; với sự liên doanh liên kết của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài
nước, các hành vi gian lận thuế sẽ ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn, diễn ra trên
phạm vi rộng hơn và ngày càng tinh vi, phức tạp với những phương thức, thủ
đoạn mới. Do đó, việc chủ động tăng cường các biện pháp quản lý nhằm ngăn
ngừa, phòng, chống các hành vi vi phạm về thuế là vô cùng cần thiết.
96 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Tăng cường sự tuân thủ tự nguyện của NNT:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Một nguyên tắc được áp dung rộng rãi trong quản lý thuế và là mục tiêu
cao nhất của bất kỳ cơ quan thuế nào đó là khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện
của NNT (tuân thủ nộp tờ khai đúng hạn và báo cáo đầy đủ thông tin thuế theo
yêu cầu, tự tính đúng số thuế phải nộp và nộp đúng hạn tất cả các khoản thuế mà
không cần hành vi chế tài nào). Để nâng cao sự tuân thủ tự nguyện của NNT thì
cơ quan thuế phải:
+ Tạo điều kiện cho việc tuân thủ: tuyên truyền và thực hiện các dịch vụ
hỗ trợ NNT nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho NNT về hệ thống thuế và nghĩa
vụ thuế của mình;
+ Giám sát việc tuân thủ: duy trì các tài khoản vãng lai của NNT và xây
dựng hệ thống thông tin về NNT;
+ Ngăn chặn việc không tuân thủ: xây dựng hệ thống thanh, kiểm tra có
hiệu quả và hệ thống xử phạt công bằng, nghiêm minh.
3.1.2. Các quan điểm cơ bản trong công tác thu thuế GTGT
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý để
DN kinh doanh tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo pháp luật, sự quản lý
của Nhà nước đối với DN là nhằm mục tiêu sắp xếp, đổi mới phát triển, nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DN để DN góp phần quan trọng đảm bảo các
sản phẩm, dịch vụ công ích cần thiết của xã hội và nhu cầu thiết yếu của quốc
phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền
tảng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng
XHCN.
Hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT trong giai đoạn tới tại Chi cục
Thuế Quận Đống Đa phải nhằm thực hiện định hướng chiến lược về quản lý
97 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế trong giai đoạn tới đã được xác định là “đổi mới phương thức thu thuế, đơn
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
giản hoá thủ tục hành chính. Đảm bảo thu đúng, thu đủ vào NSNN, chống thất
thu, lạm thu. Cơ quan thuế thực hiện chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm… nuôi
dưỡng nguồn thu và thu đúng, thu đủ theo quy định của pháp luật. Hiện đại hoá
công tác quản lý thuế của Nhà nước”.
Xuất phát từ những khó khăn, vướng mắc cụ thể, việc đề ra các giải pháp
hoàn thiện phải xuất phát từ tình hình thực tế, và trên những yêu cầu có tính
nguyên tắc sau đây:
- Nhận thức và vận dụng lý luận về chức năng phân theo quá trình trong
các lĩnh vực quản lý thuế một cách đúng bài bản, đúng với các phương pháp,
nguyên tắc quản lý và quản trị hiện đại trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam.
- Hoàn thiện công tác quản lý thuế nhằm đảm bảo thi hành đúng pháp luật
của Nhà nước về thuế, trên cơ sở đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu được giao.
Phải đưa khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” thành cơ
chế bắt buộc trong cán bộ, công chức thuế.
- Phải làm dần từng bước, nhưng phải kết hợp giữ tính kế thừa và tính đột
biến trong việc sử dụng đội ngũ công chức thuế. Xây dựng công chức thuế tận
tâm và chuyên nghiệp.
- Phải kết hợp giữa mục tiêu trước mắt (giải pháp tình thế) và mục tiêu lâu
dài (giải pháp chiến lược).
- Xây dựng quan điểm “Cơ quan Thuế và doanh nghiệp là bạn đồng hành”
trong công tác quản lý thuế.
- Hoàn thiện công tác quản lý thuế phải quan tâm đến phản ứng của người
nộp thuế trong từng giai đoạn thực hiện.
3.1.3. Định hướng hoàn thiện công tác thu thuế GTGT trong thời gian
98 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
tới.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta và đặc biệt trên địa bàn Quận Đống
Đa, việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thu thuế của cơ quan thuế cũng như các cơ
quan bảo vệ pháp luật khác là nhằm chấp hành tốt pháp luật nhà nước, thực hiện
vượt mức kế hoạch thu và tăng thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo khuyến
khích phát triển SXKD, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Với mục tiêu như
vậy, công tác quản lý thu thuế trong thời gian tới cần được tập trung vào các
hướng chủ yếu sau:
- Định hướng trước mắt: Tập trung vào những đối tượng, những khâu,
lĩnh vực hoạt động có phát sinh nguồn thu lớn.
Trên địa bàn Quận Đống Đa hiện có trên 20.000 đối tượng nộp thuế đang
hoạt động, trong đó có hơn 12.000 doanh nghiệp. Những đối tượng đó đều cần
có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước nói chung, cơ quan quản lý
thuế nói riêng. Song cần phải phân loại các đối tượng khác nhau để có biện pháp
quản lý phù hợp, có hiệu quả. Do nguồn lực và kinh phí của cơ quan thuế có
hạn, mà nhiệm vụ quản lý thuế ngày càng nặng nề (tăng về số lượng NNT, phạm
vi quy mô kinh doanh ngày càng phức tap…) nên cơ quan thuế không thể áp
dụng phương pháp truyền thống là kiểm tra tất cả các hồ sơ khai thuế, các
ĐTNT…. Để đảm bảo quản lý thuế công bằng và hiệu lực thì cơ quan thuế vẫn
phải phát hiện được và có biện pháp thích hợp đối với các trường hợp vi phạm
pháp luật về thuế. Cơ quan thuế nhấn mạnh hơn việc hỗ trợ người nộp thuế “làm
đúng” ngay từ đầu và tự nguyện chấp hành thông qua việc giáo dục, hỗ trợ có
trọng điểm và tăng tính rõ ràng của luật, thông qua các công văn hướng dẫn và
đơn giản hóa thì cơ quan thuế sử dụng phương pháp phân chia NNT thành các
nhóm hoặc bộ phận theo nhiều thuộc tính cho phép tập trung tốt hơn vào các
ĐTNT có rủi ro đến số thu thuế khá cao, còn các ĐTNT chấp hành tốt thì cơ
99 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
quan thuế không cần can thiệp nhiều.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Đối với khu vực kinh tế tư nhân, theo xu hướng và chủ trương của Nhà
nước thì đây là khu vực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và ngày càng chiếm tỷ
trọng cao trong thu ngân sách, việc trốn lậu thuế liên quan trực tiếp đến quyền
lợi của cá nhân chủ doanh nghiệp. Do trình độ quản lý chưa tốt, hệ thống sổ sách
kế toán còn yếu kém, ý thức chấp hành pháp luật thuế chưa cao…nên khu vực
này có nhiều điều kiện để trốn lậu thuế GTGT. Do đó, đây là khu vực cần chú
trọng thực hiện quản lý thu thuế GTGT.
Kinh tế nhà nước là khu vực kinh tế hiện đang có số thu về thuế GTGT
cao, với những trình độ quản lý cao hơn, các gian lận thuế không mang lại
quyền lợi trực tiếp cho chủ doanh nghiệp. Nhưng, với cơ chế tự chủ kinh doanh
các doanh nghiệp này sử dụng nhiều hình thức quản lý khác nhau như khoán
quản lý cho từng bộ phận, thu nhập của người lao động được hưởng trên cơ sở
hiệu quả kinh doanh; mặt khác, do còn có những hạn chế trong công tác quản lý
doanh nghiệp, sự cấu kết với các doanh nghiệp tư nhân và nạn tham nhũng…
nên các hành vi gian lận thuế cũng thường xuyên xảy ra, vì vậy đây cũng là khu
vực cần quan tâm trong việc quản lý thu thuế GTGT.
Về những khâu trọng yếu cần giải quyết trước mắt. Thất thu thuế GTGT
trên địa bàn Quận Đống Đ được thể hiện thông qua cả trốn thuế và hoàn thuế.
Tuy nhiên, đến năm 2012, trước sự đấu tranh mạnh của các cơ quan chức năng,
cùng với sự thay đổi chính sách thuế, vấn đề gian lận trong hoàn thuế GTGT cơ
bản đã được ngăn chặn. Hiện tại, việc gian lận thuế được thực hiện chủ yếu ở
dạng trốn thuế bằng việc sử dụng các phương tiện, thủ đoạn: sử dụng hoá đơn
bất hợp pháp, hạch toán kế toán không đúng với các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh… do đó công tác quản lý thu thuế GTGT phải được tập trung vào những
khâu này. Phải quản lý chặt chẽ hoá đơn GTGT, tổ chức quản lý chặt chẽ quy
trình khai báo và nộp thuế, nhất là việc kê khai nộp thuế GTGT của doanh
100 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nghiệp, kịp thời phát hiện các sai sót về kê khai tính toán thuế GTGT mà doanh
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nghiệp phải nộp mỗi kỳ, các vi phạm trong sử dụng hoá đơn chứng từ của doanh
nghiệp. Làm tốt việc này không những đảm bảo thu đúng, thu đủ thu kịp thời
thuế GTGT về Nhà nước mà còn ngăn chặn ý đồ gian lận của đối tượng nộp
thuế
Về các hoạt động, cần khuyến khích các hoạt động SXKD chính đáng
theo pháp luật, đồng thời tích cực đấu tranh chống các hoạt động SXKD bất hợp
pháp, buôn lậu, trốn thuế… Cần có biện pháp theo dõi chặt chẽ việc ngừng nghỉ
hoạt động, phá sản giải thể doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, nhằm
ngăn chặn, loại trừ mọi kẽ hở mà doanh nghiệp có thể lợi dụng để vi phạm hoặc
tiếp tay cho người khác vi phạm pháp luật thuế.
- Định hướng cơ bản và lâu dài của công tác quản lý thu thuế GTGT phải
là hoàn thiện cơ chế, chính sách thuế và tổ chức quản lý thuế.
Công tác quản lý thu thuế GTGT phải dựa trên và đi đôi với hoàn thiện hệ
thống chính sách thuế, tiến tới doanh nghiệp không thể làm, không dám làm và
không cần phải vi phạm pháp luật thuế.
Công tác quản lý thu thuế GTGT chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi dựa trên
sự quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước với việc áp dụng công nghệ
thông tin tiên tiến vào công tác quản lý thuế, trên cơ sở đối tượng nộp thuế có
nhận thức đúng đắn về thuế, có ý thức chấp hành tốt pháp luật, cơ sở hạ tầng
phát triển, nhân dân đồng tình giúp đỡ các cơ quan bảo vệ pháp luật, quản lý
kinh tế, hành vi và ý nghĩ về gian lận thuế bị dư luận xã hội lên án mạnh mẽ.
Công tác quản lý thu thuế GTGT phải dựa trên sự phối hợp có hiệu quả
của các cơ quan chức năng, cùng với việc áp dụng công nghệ quản lý tiên tiến.
Quản lý thu thuế GTGT là nhiệm vụ chung của toàn xã hội mà lực lượng nòng
cốt là cơ quan thuế, nên cần sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các cơ
101 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
quan bảo vệ pháp luật, cơ quan quản lý doanh nghiệp và sự ủng hộ của các cấp
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
chính quyền, của toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của những thành tựu của
khoa học công nghệ thông tin được áp dụng trong quản lý nhà nước với sự phối
hợp chặt chẽ của cơ quan quản lý nhà nước và sự ủng hộ của xã hội thì các hành
vi vi phạm pháp luật thuế sẽ được ngăn chặn. Do đó, vấn đề cơ bản là lâu dài
của công tác quản lý thu thuế là phải hoàn thiện cơ chế, chính sách, tổ chức tốt
công tác quản lý thuế và thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục
luật pháp trong nhân dân.
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục
Thuế quận Đống Đa.
3.2.1. Giải pháp về cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng cao
trình độ cán bộ công chức thuế.
- Cơ sở của giải pháp: Tổ chức bộ máy quản lý thuế đạt hiệu quả là một
đòi hỏi khách quan, vì đây là một vấn đề khó khăn, phức tạp nhưng có vai trò
đặc biệt quan trọng, bởi lẽ đối tượng của nó là những lao động quản lý có trình
độ cao, làm việc trong lĩnh vực quản lý. Mỗi hoạt động của họ gắn liền với quá
trình quản lý thuế và hiệu quả trong công tác thu thuế. Hiện tại số lượng DN trên
địa bàn Quận lớn nhưng đội ngũ cán bộ công chức còn hạn chế về số lượng và
trình độ so với sự phát triển của DN. Mặt khác do chính sách thuế thường xuyên
điều chỉnh bổ sung để phù hợp với sự phát triển của xã hội và sự hội nhập kinh
tế quốc tế nên tổ chức bộ máy quản lý chưa đáp ứng được kịp thời so với sự điều
chỉnh bổ sung. Các văn bản nhà nước về thuế áp dụng tại các địa phương được
hiểu theo cách khác nhau nên việc quản lý chưa đồng nhất. Số cán bộ công chức
ở độ tuổi trên 50 chiếm đa số đảm bảo có kinh nghiệm thực tế nhưng sẽ kém
năng động do vậy xu hướng cần phải trẻ hoá cán bộ công chức thuế và có kế
hoạch đào tạo để phù hợp với lộ trình cải cách qui trình quản lý thuế. Tuy nhiên
102 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
lại phụ thuộc vào một số yếu tố như kinh phí, chỉ tiêu.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Mục tiêu giải pháp: Việc cải tiến tổ chức bộ máy quản lý thuế và nâng
cao trình độ cán bộ công chức thuế để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
và sự thay đổi của chính sách thuế. Đảm bảo thực hiện các chức năng đạt hiệu
quả: kế hoạch, tổ chức, điều hành, kiểm tra. Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ
thuế có đủ năng lực trình độ, phẩm chất đạo đức, chuyên nghiệp và tận tâm, có
kỹ năng ứng xử, giao tiếp để tạo mọi thuận lợi cho người nộp thuế.
- Nội dung giải pháp:
+ Hoàn thiện bộ máy quản lý thuế cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của mỗi đội thuế sao cho tối ưu, tinh giảm, gọn nhẹ, tiết kiệm để
mang lại hiệu quả trong công tác thu thuế. `
+ Chuyển toàn bộ công tác phân công quản lý thuế sang mô hình quản lý
theo chức năng.
+ Tuyển dụng, sử dụng và đào tạo cán bộ công chức thuế có trình độ,
năng lực, phẩm chất đạo đức. Đồng thời cử đi học các lớp tập huấn bồi dưỡng về
chuyên môn nghiệp vụ thuế, về công nghệ thông tin và đi học cao học. Điều
động cán bộ công chức thuế có năng lực chuyên môn cho phù hợp với công
việc.
+ Bố trí cán bộ công chức tại các đội kiểm tra thuế, đội tuyên truyền hỗ
trợ người nộp thuế 100% có trình độ đại học, trên đại học và có phẩm chất đạo
đức tốt. Cơ quan thuế có chế độ đãi ngộ phù hợp cho công chức thuế thông qua
chế độ tiền lương hợp lý.
3.2.2. Giải pháp về công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT
- Cơ sở của giải pháp: Công tác tuyên truyền là lĩnh vực rất quan trọng đối
với Chi cục thuế để tuyên truyền hỗ trợ động viên NNT tuân thủ chính sách
pháp luật thuế, thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách nhà nước về thuế và tạo mọi
103 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
điều kiện tốt nhất cho NNT.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Nhưng hiện tại cán bộ công chức thuế tại đội tuyên truyền ở độ tuổi trên
50 chiếm đa số và trình độ còn hạn chế nên cần phải trẻ hoá cán bộ công chức
thuế và có kế hoạch đào tạo để phù hợp với sự phát triển của xã hội và tính đa
dạng, phức tạp của hoạt động kinh doanh đối với thuế GTGT (DN ngoài quốc
doanh).
Ngoài ra các trang thiết bị chưa đáp ứng được cho đội ngũ cán bộ công
chức thuế như máy tính, mạng internet. Cây Kiosk thông tin chưa hoạt động
hiệu quả để NNT tra cứu thông tin về nghĩa vụ thuế, các mẫu biểu báo cáo (do
các phần mềm kê khai thuế thường xuyên điều chỉnh bổ sung) và các chính sách
ưu đãi cho NNT như giãn, giảm.
Việc hỗ trợ NNT chỉ được thực hiện trong giờ hành chính, trong khi
những nghiệp vụ kinh doanh được diễn ra thường xuyên (kinh doanh từng phút,
từng giờ), không thể chậm chễ trong quyết định và mới chỉ hỗ trợ về chính sách
thuế, giải đáp bằng văn bản chủ yếu phục vụ cho công tác kê khai hoặc giải
quyết khi bị xử lý phạt,.. chưa thực sự tư vấn được cho NNT ngay từ khâu lên
phương án và quá trình hoạt động kinh doanh.
- Mục tiêu giải pháp:
NNT là chủ thể quan trọng nhất trong việc thực hiện chính sách pháp luật
thuế nên cần phải tăng cường công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT để đáp ứng
được nhu cầu nguyện vọng của NNT và đạt hiệu quả cao trong việc thực thi
chức năng nhiệm vụ của công chức thuế. Trên cơ sở đó NNT thực hiện đúng
quy định pháp luật thuế về quyền, nghĩa vụ của mình và hạn chế được hành vi vi
phạm pháp luật. Nên phụ thuộc rất lớn vào công tác tuyên truyền hỗ trợ NNT và
trực tiếp là cán bộ công chức thuế.
104 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
- Nội dung giải pháp:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
+ Điều động cán bộ công chức thuế còn trẻ, có đủ năng lực trình độ trên
đại học trở lên, có phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và tận tâm phục
vụ công tác tuyên truyền. Bổ sung thay thế máy tính có cấu hình thấp lên cấu
hình cao, nâng cấp đường truyền internet để phục vụ công việc.
+ Cơ quan thuế hỗ trợ NNT ngoài giờ hành chính bằng tổng đài trả lời tự
động và trả lời vướng mắc của người nộp thuế thông qua đường dây nóng, trả
lời trực tiếp, trả lời bằng văn bản (đảm bảo đúng thời hạn quy định), tuyên
truyền về thuế trên hệ thống truyền thanh cơ sở tổ dân phố, phường với thời
lượng 3 buổi/tuần để NNT hiểu rõ, nắm bắt được chính sách, pháp luật thuế và
nghĩa vụ của mình.
+ Phát triển thêm các kênh hỗ trợ mới như: trao đổi toạ đàm theo chuyên
đề, hỗ trợ qua trao đổi thư điện tử, qua các diễn đàn trên Website ngành thuế.
Triển khai thành công ứng dụng Kiosk thông tin tại Chi cục Thuế.
+ Hàng năm tổ chức hội nghị tuyên dương NNT nhằm động viên khích lệ
kịp thời NNT trong việc thực hiện chính sách pháp luật thuế.
3.2.3. Giải pháp về công tác kiểm tra quyết toán thuế
- Cơ sở của giải pháp: Việc kiểm tra quyết toán thuế thực hiện tốt, triệt để
sẽ phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, tăng nguồn thu thuế vào
NSNN. Nhưng hiện tại tỷ lệ và số lượng NNT được kiểm tra quyết toán thuế còn
thấp dẫn đến số thuế truy thu và phạt thu được sẽ ít (chiếm khoảng 10% số đối
tượng quản lý) nên sẽ làm cho các vi phạm kéo dài và gây hậu quả lớn. Lý do
một phần là số lượng DN trên địa bàn Quận nhiều (bình quân 185 DN/công
chức thuế) với nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau mặt khác do trình độ cán
bộ công chức thuế tại các đội kiểm tra thuế còn hạn chế. Bên cạnh đó công chức
thuế phải thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu là kiểm tra tờ khai, công tác xác minh
105 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
hóa đơn, thực hiện đôn đốc thu nộp để đảm bảo kế hoạch thu, làm thủ tục DN bỏ
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
trốn, làm các báo cáo theo yêu cầu của công tác quản lý thuế chủ yếu bằng
phương tiện thủ công nên chiếm nhiều quỹ thời gian.
- Mục tiêu giải pháp: Nhằm phát hiện nhanh, ngăn chặn kịp thời các hành
vi vi phạm pháp luật về thuế, chống thất thu thuế; đồng thời tổng kết các hành vi
vi phạm và nghiên cứu dự báo các hành vi vi phạm về thuế, đề ra các biện pháp
phòng ngừa. Qua đó làm cho NNT sẽ chấp hành pháp luật thuế một cách nghiêm
chỉnh hơn.
- Nội dung giải pháp:
+ Điều động cán bộ kiểm tra quyết toán thuế có trình độ từ đại học trở lên
và phải được đào tạo lại về nghiệp vụ kế toán, phân tích báo cào tài chính doanh
nghiệp và các kỹ năng phân tích các tình huống đã xảy ra trong thực tế; tổ chức
lực lượng trinh sát, có quỹ nghiệp vụ và đội ngũ cộng tác viên; cán bộ kiểm tra
thường xuyên tổ chức thi sát hạch để nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công tác
kiểm tra và thích ứng với xu thế phát triển của nền kinh tế và sự hội nhập kinh tế
quốc tế.
+ Do số lượng DN trên địa bàn nhiều nên các hành vi vi phạm thuế diễn
ra ở phạm vi rộng và phức tạp. Nên để công tác kiểm tra quyết toán thuế đạt
hiệu quả cao, cần thực hiện kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm vào các đối tượng
có nghi vấn vi phạm và có mức độ rủi ro cao (có số âm thuế GTGT lớn xin
hoàn, doanh thu lớn mà không nộp thuế TNDN, mua hoá đơn bỏ trốn, DN năm
năm chưa kiểm tra quyết toán thuế...).
3.2.4. Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế:
- Cơ sở của giải pháp: Hiện tại công nghệ thông tin đã và đang được triển
khai để thực hiện quản lý thuế, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.
Để có thể quản lý được thuế GTGT trong điều kiện số lượng doanh nghiệp tăng
106 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nhanh, số lượng cán bộ công chức thuế không thể tăng cùng với số lượng NNT
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
để theo dõi quản lý một cách xát sao và kịp thời được nên Chi cục thuế phải áp
dụng công nghệ tin học.
- Mục tiêu giải pháp: Việc ứng dụng công nghệ thông tin tốt trong quản lý
thuế sẽ tiết kiệm được nhân lực, giảm khối lượng công việc, giảm thời gian làm
việc và dễ tra cứu thông tin về NNT từ đó có thể phân tích, sàng lọc phát hiện
sớm các hiện tượng nghi ngờ vi phạm và thực hiện việc thanh tra, kiểm tra kịp
thời, tạo điều kiện phát hiện nhanh các hành vi vi phạm. Từ việc phát hiện nhanh
các hành vi vi phạm có điều kiện thực hiện các biện pháp cảnh báo, ngăn chặn
chính xác và có hiệu quả.
- Nội dung giải pháp:
+ Hiện đại hóa công nghệ thông tin để quét toàn bộ dữ liệu tờ khai thuế
GTGT trên bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào (Mẫu số 01-2/GTGT) bán ra
(Mẫu số 01-1/GTGT) vào hệ thống quản lý mã vạch để phục vụ công việc xác
minh hoá đơn được nhanh chóng và thuận lợi để chống gian lận thuế và kiểm
soát, phát hiện các hoá đơn bất hợp pháp.
+ Triển khai ứng dụng phần mềm có sự tích hợp cùng hệ thống Đăng ký
kinh doanh của Sở Kế hoạch đầu tư và hệ thống quản lý chứng minh thư của
Công an. Cơ sở thông tin của các ngành hữu quan được kết nối tự động với cơ
quan thuế, các thông tin này được xử lý tập trung tại trung ương và được chia sẻ
trên phạm vi toàn quốc để tăng cường quản lý và theo dõi NNT đối với trường
hợp DN có dấu hiệu vi phạm: trốn thuế, bỏ trốn mang theo hoá đơn.
3.2.5. Giải pháp về công tác cải cách thủ tục hành chính Thuế và hiện
đại hoá công tác quản lý thuế.
- Cơ sở của giải pháp: NNT là chủ thể quan trọng nhất trong việc thực
hiện chính sách thuế. Do đó NNT phải được hiểu rõ các cơ chế phân phối, các
107 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
nguyên lý, đạo lý của việc họ phải thực hiện nộp thuế; trên cơ sở hiểu được rõ
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
chính sách thì họ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ, cụ thể là sẵn sàng nộp vào ngân
sách nhà nước số tiền mà họ đã hiểu là phải làm nghĩa vụ vì lợi ích chung của
đất nước và của cộng đồng. Như vậy việc cải cách thủ tục hành chính Thuế và
hiện đại hoá công tác quản lý thuế là cần thiết và cấp thiết trong điều kiện nền
kinh tế thị trường tăng trưởng, phát triền và hội nhập hiện nay để NNT có thể
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách thuận lợi, không mất thời
gian và hiệu quả.
- Mục tiêu giải pháp: Nhằm rà soát các quy trình, thủ tục về thuế để sửa
đổi bổ sung cho phù hợp với thực tế, tạo điều kiện thuận lợi để NNT thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế.
Tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nghiệp vụ chuyên môn để
tăng cường công tác quản lý thuế.
- Nội dung giải pháp:
+ Thực hiện Đề án đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản
lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 ban hành kèm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg
ngày 10/01/2007của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Đề án 30) đảm bảo thời hạn
và chất lượng theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính và UBND Thành phố.
Ngày 10/08/2009, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ký ban hành Quyết định số
1902/QĐ-BTC về việc công bố bộ thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế bao gồm
330 thủ tục hành chính thuế, trong đó, 5 thủ tục hành chính do cấp Tổng cục Thuế
thực hiện, 172 thủ tục hành chính do cấp Cục Thuế thực hiện và 153 thủ tục hành
chính cấp Chi cục Thuế thực hiện và được công khai tại địa chỉ Website của Bộ Tài
chính là: www.mof.gov.vn, chuyên mục Bộ thủ tục hành chính; địa chỉ của Tổng
cục Thuế là: www.gdt.gov.vn\, chuyên mục Cải cách hành chính thuế .
+ Triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển ngành Thuế
108 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
giai đoạn 2011-2020 theo đúng kế hoạch đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
duyệt, Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 10/11/2011 của UBND TP Hà Nội, đảm
bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.
+ Triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2008 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Thuế, góp phần thúc
đẩy mạnh mẽ công tác cải cách hành chính theo Quyết định số 144/2006/QĐ-
TTg ngày 20/6/2006 của Chính phủ và Công văn số 2838/TCT-VP ngày
15/8/2011 của Tổng cục Thuế về việc triển khai xây dựng, áp dụng ISO
9001:2008.
3.3. Một số đề xuất hoàn thiện công tác thu thuế GTGT ở Chi cục
Thuế quận Đống Đa.
3.3.1. Đề xuất về chính sách, pháp luật thuế
Chính sách thuế GTGT là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế
GTGT trong quá trình hoạt động kinh doanh, cũng là cơ sở để các cơ quan quản
lý nhà nước xác định các hành vi vi phạm pháp luật thuế GTGT. Để đảm bảo
thực hiện công tác thu thuế GTGT đạt được kết quả tốt, khuyến khích sản xuất
phát triển, đảm bảo nguồn thu ngân sách thì chính sách thuế GTGT cần được
điều chỉnh nhằm đạt được các yêu cầu sau:
- Hệ thống chính sách thuế GTGT phải đảm bảo chặt chẽ, đơn giản dễ
hiểu, dễ tính toán và thực hiện, minh bạch, rõ ràng, công khai, và tách hẳn chính
sách thuế GTGT với chính sách xã hội. Chính sách thuế GTGT chặt chẽ, minh
bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ làm sẽ triệt tiêu những điều kiện vi phạm pháp luật
thuế, làm cho các đối tượng nộp thuế không thể thực hiện được các hành vi vi
phạm, cùng với việc tạo các điều kiện thuận lợi cho NNT thực hiện nghĩa vụ thì
các hành vi vi phạm luật thuế GTGT sẽ giảm.
- Chính sách thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng phải tạo môi trường
109 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
bình đẳng, công bằng, áp dụng thống nhất, không phân biệt giữa các thành phần
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
kinh tế cũng như doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Chính sách thuế phải thể hiện và tạo ra những nội dung cụ thể phù hợp
với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời đảm bảo được yêu cầu bảo hộ
có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện một cách hợp lý, tăng cường sức cạnh
tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo lợi ích quốc gia.
- Hệ thống chính sách thuế GTGT phải quy định rõ ràng trách nhiệm,
nghĩa vụ, quyền của các cơ sở kinh doanh, trách nhiệm của cơ quan thuế trong
quản lý thuế cũng như trách nhiệm của các tổ chức cá nhân có liên quan. Việc
quy định rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, của các cơ quan
có liên quan, và các chế tài xử lý cụ thể sẽ tạo nên áp lực tổng hợp của tất cả các
chủ đề liên quan trong thực hiện chính sách thuế. Với sự ràng buộc trách nhiệm
cụ thể thì các chủ thể không dám thực hiện các hành vi vi phạm và công tác
phòng, chống gian lận thuế được thực hiện tốt.
- Chính sách thuế GTGT và các sắc thuế khác phải đảm bảo tỷ lệ động
viên thích hợp vào ngân sách nhà nước, huy động đầy đủ các nguồn thu vào
ngân sách nhà nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước và dành một phần
cho nhu cầu tích luỹ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đảm bảo khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại để cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, góp phần
ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân. Với định hướng xác định tỷ lệ động
viên hợp lý vào ngân sách nhà nước sẽ đảm bảo sự phân phối hợp lý giữa đối
tượng nộp thuế và nhà nước, nhà nước đảm bảo quyền lợi thích đáng cho đối
tượng. Trong điều kiện phân phối xã hội công bằng, đời sống nhân dân ngày một
nâng cao thì các đối tượng nộp thuế sẽ không cần thực hiện các hành vi dẫn đến
trốn lậu thuế.
Để thực hiện tốt Luật thuế GTGT cần sớm hoàn thiện chính sách thuế
110 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
GTGT trên những nội dung cụ thể sau:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Cần tiếp tục hoàn thiện Luật thuế GTGT, cụ thể:
Một là, cần phải rà soát sửa đổi các quy định không đúng nguyên lý của
thuế GTGT, là khâu nào tạo ra GTGT thì khâu đó thực hiện kê khai nộp thuế
GTGT và đánh thuế vào loại mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng.
Theo quy định của Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thực hiện
hiện nay thì có nhiều trường hợp thuế GTGT quy định khâu nộp thuế không phải
là khâu tạo ra GTGT, như đối với các mặt hàng nông sản, thuỷ sản, sách báo,
đối tượng sản xuất trực tiếp là đối tượng tạo ra GTGT lớn nhất nhưng lại là đối
tượng không chịu thuế GTGT, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại các mặt
hàng này thì phải nộp thuế GTGT mà không được khấu trừ thuế đầu vào. Do đó
số thuế phải nộp rất lớn dẫn đến việc kinh doanh thương mại đối với các mặt
hàng này khó phát triển được, và nếu có hoạt động kinh doanh thì họ cũng tìm
mọi biện pháp, thủ đoạn để trốn thuế.
Cũng theo quy định của Luật Thuế GTGT hiện hành và các văn bản
hướng dẫn thi hành, có một số mặt hàng mà các quy định thuế suất vừa theo đối
tượng sản xuất vừa đối tượng tiêu dùng, các mặt hàng máy móc thiết bị nhập
trong nước không sản xuất được nếu nhập khẩu về để làm tài sản cố định hoặc
do trúng thầu thì không chịu thuế, nhưng những mặt hàng đó mua về kinh doanh
thì chịu thuế GTGT 5%. Với những quy định như vậy Luật Thuế GTGT đã trở
nên phức tạp, khó nhớ, khó làm, dễ dẫn đến các vi phạm.
Hai là, cần hạn chế số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế
GTGT. Theo văn bản thuế hiện hành quy định tại Thông tư 06/2012/TT-BTC
ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính có 26 nhóm mặt hàng thuộc đối tượng không
chịu thuế GTGT như: Sản phẩm trồng trọt, thiết bị máy móc chuyên dùng trong
nước chưa sản xuất được, hàng chuyển khẩu quá cảnh; chuyển giao công nghệ
và phần mềm máy tính… Việc hạn chế số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ không
111 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
chịu thuế GTGT sẽ tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế GTGT được
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
liên hoàn giữa các khâu trong quá trình SXKD, tạo ra sự rõ ràng, minh bạch của
thuế GTGT. Do hệ thống chính sách thuế thời gian qua vừa nhằm mục tiêu đảm
bảo nguồn thu ngân sách, vừa thực hiện chính sách xã hội, vừa đảm bảo ổn định,
không gây xáo trộn lớn khi áp dụng Luật Thuế GTGT phải có nhiều loại hàng
hoá không chịu thuế GTGT; các nhóm hàng hoá không chịu thuế GTGT phụ
thuộc vào đối tượng sử dụng hàng hoá… Với số lượng nhóm hàng hoá, dịch vụ
không chịu chịu thuế GTGT rộng như vậy các doanh nghiệp sản xuất loại hàng
hoá, dịch vụ này sẽ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và khi bán hàng
hoá, dịch vụ không phải kê khai thuế GTGT đầu ra, khi đó các doanh nghiệp này
phải tính toán phân bổ thuế GTGT đầu vào; những doanh nghiệp sử dụng các
loại hàng hoá, dịch vụ này để sản xuất kinh doanh thì không được ke khai khấu
trừ thuế GTGT nhưng khi bán sản phẩm của mình lại phải thực hiện kê khai thuế
GTGT đầu ra. Như vậy, việc thực hiện thuế GTGT đối với các loại sản phẩm
hàng hoá này thường bị đứt đoạn, không liên hoàn, nên số lượng hàng hoá, dịch
vụ không chịu thuế GTGT càng nhiều thì càng gây phức tạp cho Luật thuế, rất
dễ gây sai sót. Mặt khác, có nhiều trường hợp một số nhóm đối tượng không
chịu thuế lại căn cứ vào mục đích của hàng hoá như tài sản cố định trong nước
không sản xuất được mua về đầu tư tài sản cố định, hay hàng hoá chuyên phục
vụ an ninh quốc phòng không phải chịu thuế GTGT. Như vậy, đối với cũng loại
hàng hoá đó doanh nghiệp nhập khẩu về cơ quan quản lý thuế phải xác định có
đảm bảo các điều kiện để không phải chịu thuế hay không trong khi thực tế hàng
hoá đó còn nằm trên đường chưa xác định được cụ thể là có được dùng đúng
mục đích hay không. Như vậy đã gây rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý
thuế, gây ra những kẽ hở cho đối tượng nộp thuế có thể lợi dụng để không phải
nộp thuế khi nhập khẩu hàng hoá. Việc này không cần thiết khi luật thuế đã có
quy định chế độ hoàn thuế. Với những quy định như trên của luật thuế vừa gây
112 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
khó khăn cho công tác quản lý thuế vừa gây tâm lý hy vọng được hưởng ưu đãi
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
thuế khi thực hiện các hoạt động kinh doanh với những hàng hoá có những điều
kiện gần đến mức được ưu đãi thuế.
Ba là, cần sớm giảm bớt loại thuế suất về còn một loại thuế suất (ngoài
thuế suất 0% cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu) để đơn giản trong việc tính thuế,
đơn giản trong quản lý, tránh tình trạng nhầm lẫn và để người nộp thuế dễ chấp
hành. Trong trường hợp còn nhiều thuế suất cần đưa ra phương án phân loại đơn
giản, rõ ràng căn cứ theo đối tượng là hàng hoá dịch vụ (đối tượng đánh thuế);
không xác định thuế suất theo cả đối tượng đánh thuế và đối tượng chịu thuế vì
dễ dẫn đến trùng lắp, nhầm lẫn, khó có thể phân biệt được. Việc giảm bớt thuế
suất tạo ra sự đơn giản, công bằng, các đối tượng dễ nhớ, dễ làm, không có sự
nhầm lẫn sai sót, và cơ quan quản lý thuế cũng dễ phát hiện sai. Khi doanh
nghiệp biết chắc chắn về chính sách và cũng hiểu rõ rằng cơ quan quản lý rất dễ
phát hiện các sai sót về thuế suất thì đối tượng sẽ không thể thực hiện hành vi vi
phạm.
Bốn là, nên thu hẹp đối tượng thực hiện thuế GTGT. Hiện tại, Luật Thuế
GTGT quy định đối tượng nộp thuế là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh có
hoạt động cung ứng hàng hoá, dịch vụ với hai phương pháp tính thuế GTGT là
phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ. Trên thực tế, phương pháp tính
thuế GTGT trực tiếp chủ yếu áp dụng với cơ sở kinh doanh nhỏ để đảm bảo
nguồn thu ngân sách và đảm bảo ổn định của chính sách thuế trong giai đoạn
đầu mới chuyển đổi từ thuế doanh thu sang thuế GTGT, không gây tâm lý nặng
nề và những xáo trộn lớn đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ. Phương pháp tính
thuế GTGT trực tiếp chỉ có tính lý thuyết để chỉ rõ khâu nào tạo ra giá trị tăng
thêm của hàng hoá thì phải nộp thuế GTGT, còn về thực chất quản lý thu thuế
thì hầu hết các đối tượng này được thực hiện trên cơ sở ấn định thuế, khoán
thuế. Trên địa bàn Quận Đống Đa, đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp
113 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
trực tiếp là 8.904 hộ trên tổng số hơn 20.980 đối tượng nộp thuế; số thuế thu
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
được ở khu vực thu theo phương pháp trực tiếp chỉ chiếm khoảng 20% tổng số
thu trên địa bàn và sử dụng 26,3% số cán bộ thuế vào quản lý. Với mô hình thu
thuế như vậy cộng với sự thiếu chính xác của thu thuế khoán đối với đối tượng
này đã làm giảm tính tiên tiến của pháp luật thuế GTGT, gây tâm lý thiếu
nghiêm túc trong việc thực hiện Luật Thuế GTGT của các đối tượng thuộc khu
vực tính thuế theo phương pháp khấu trừ. Để chống gian lận thuế, chính sách
thuế có thể quy định thu thuế khoán đối với đối tượng này để tập trung lực
lượng cán bộ thuế cho các đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ, hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới cơ bản thực hiện một phương
pháp khấu trừ thuế.
Năm là, Quy định về ngưỡng doanh thu để áp dụng hình thức kê khai thuế
giá trị gia tăng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước và thông lệ quốc tế.
- Quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế GTGT cần cụ thể, rõ ràng.
Trong Luật Thuế GTGT hiện hành đã quy định các trường hợp bị xử lý
phạt vi phạm hành chính về thuế, thẩm quyền của cơ quan thuế trong xử lý vi
phạm, nhưng không quy định rõ khái niệm hành vi khai man thuế, hành vi trốn
thuế nên việc xử lý còn tuỳ tiện.
Việc xử lý vi phạm về thuế GTGT được điều chỉnh bởi Luật Thuế GTGT
và pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, trong đó có những quy định của hai hệ
thống văn bản pháp luật không thống nhất dẫn đến tình trạng khó khăn trong quá
trình xử lý các vi phạm về thuế GTGT.
Về mức phạt các hành vi trốn thuế thì Luật Thuế GTGT quy định ngoài
việc nộp đủ số thuế trốn còn bị xử phạt từ 1 đến 5 lần số thuế trốn, nhưng Luật
Thuế GTGT không nêu khái niệm trốn thuế và không quy định các hành vi trốn
114 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế đi với mức phạt, do đó việc xử lý rất khó khăn. Việc không xử phạt được
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
nghiêm minh các hành vi vi phạm đã làm mất ý nghĩa của các hình phạt đối với
vi phạm là trừng phạt với vi phạm và răn đe, ngăn ngừa để những người khác
không dám vi phạm. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến các hành vi
vi phạm về thuế GTGT vẫn đang tồn tại.
Cần quy định cụ thể các hành vi vi phạm và mức xử phạt vi phạm của
từng hành vi để việc xử lý phạt được thực hiện một cách nghiêm minh đối với
các vi phạm về thuế, khi đó sẽ có tác dụng răn đe, ngăn ngừa để các đối tượng
kiềm chế không dám vi phạm pháp luật thuế GTGT.
3.3.2. Đề xuất với cơ quan chủ quản
3.3.2.1. Đối với Cục Thuế TP Hà Nội:
- Về công tác tin học: Đề nghị Cục Thuế bổ sung máy tính, hiện nay
cán bộ vẫn thiếu máy làm việc, máy phần lớn đã cũ, cấu hình không cao
nên việc tra cứu, ứng dụng các phần mềm bị hạn chế. Bổ sung máy in
chuyên dụng tốc độc cao để trang bị cho đội Kê khai kế toán thuế, đội
Quản lý nợ do hàng tháng phải in thông báo thuế với số lượng lớn trong
thời gian ngắn.
- Về công tác lưu trữ hồ sơ, tài liệu: Đề nghị Cục Thuế cấp kinh phí
chỉnh lý tài liệu đưa vào lưu trữ từ những năm 2012 trở về trước do khối
lượng tài liệu phát sinh hàng năm lớn.
- Về giao chỉ tiêu kiểm tra quyết toán thuế hàng năm: Đề nghị
Ngành thuế thay đổi phương pháp giao chỉ tiêu kiểm tra quyết toán thuế
tại doanh nghiệp. Nên giao Chi cục đề xuất số lượng cho phù hợp.
- Về nhân sự: Đề nghị Cục thuế bổ sung thêm cán bộ cho Chi cục.
115 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
3.3.2.2. Đối với UBND các phường:
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
- Đề nghị UBND các phường tăng cường công tác tuyên truyền, chỉ đạo
Hội đồng tư vấn thuế đôn đốc thu thuế tháng, không để nợ đọng thuế, đặc biệt
thu thuế môn bài năm và quản lý các hộ mới ra kinh doanh và hoạt động xây
dựng nhà tư nhân.
- Phối hợp, rà soát hộ kinh doanh, đối chiếu với số liệu điều tra thống kê
để xác định nguyên nhân chênh lệch; đồng thời có biện pháp đấu tranh điều
chỉnh doanh thu hộ kinh doanh cho phù hợp thực tế kinh doanh để đảm bảo hoàn
thành dự toán giao.
- Tiếp tục củng cố HĐTVT và đội ngũ UNT để phối hợp thực hiện tốt
116 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
công tác thu nộp ngân sách.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
KẾT LUẬN
Thuế GTGT giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu thu ngân sách và ngày
càng chiếm tỷ trọng cao khi thuế xuất nhập khẩu bị cắt giảm, thuế thu nhập
doanh nghiệp giảm thuế suất (theo lộ trình đến 2015 còn 20%) và mở rộng miễn,
giảm thuế. Chính sách thuế ngày càng hoàn thiện nhằm phục vụ hài hòa lợi ích
của Nhà nước và mọi công dân trong đó Thuế GTGT là một sắc thuế hiện đại,
tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường và nó được lập ra để khắc phục những
nhược điểm của thuế doanh thu là “thuế chồng lên thuế”.
Luật thuế GTGT được áp dụng ở nước ta tuy muộn hơn nhiều so với các
nước có nền kinh tế thị trường trên thế giới và khu vực, nhưng qua thực tiễn gần
15 năm thi hành, thuế GTGT đã phát huy khá đầy đủ những ưu điểm của một
sắc thuế tiên tiến, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế, khuyến khích xuất khẩu, tạo ra nhiều công việc thu hút lao
động trong xã hội và có tác dụng lớn đối với đời sống kinh tế - xã hội, góp phần
hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là đã trở
thành một nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước để nhà nước thực hiện tốt chức
năng tổ chức quản lý quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Việc thực hiện Luật thuế GTGT ở Chi cục Thuế quận Đống Đa những
năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng và có những tác động tích cực cả
về kinh tế, chính trị, xã hội. Song việc áp dụng đòi hỏi nhiều điều kiện đồng bộ
nên trong quá trình triển khai thực hiện đã bộc lộ một số vấn đề phức tạp, đặc
biệt là hiện tượng gian lận thuế GTGT. Chi cục Thuế quận Đống Đa đã có
những biện pháp phòng, chống kịp thời, nhưng do nhiều nguyên nhân khách
quan và chủ quan, hiện tượng vi phạm luật thuế vẫn còn xảy ra ở nhiều lúc,
nhiều nơi, chưa được ngăn chặn kịp thời. Để việc quản lý thu thuế GTGT có
hiệu quả, góp phần thực hiện tốt pháp luật thuế nói chung, thuế GTGT nói riêng,
117 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
cần thực hiện đồng bộ các giải pháp.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
Luận văn được thực hiện và hoàn thành từ kết quả học tập và trau dồi kiến
thức, kỹ năng về kinh tế, quản trị kinh doanh một cách toàn diện trong quá trình
học tập tại lớp cao học – Ngành quản trị kinh doanh, do các thầy cô giáo khoa
Kinh tế - Quản lý – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội giảng dạy, đặc biệt là sự
- Trường đại học Bách khoa Hà Nội.
hướng dẫn của thầy giáo: PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn - Khoa Kinh tế & Quản lý
Trên đây là toàn bộ nội dung luận văn “Phân tích và đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện công tác thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục Thuế quận
Đống Đa – Hà Nội”. Mặc dù có nhiều cố gắng tìm tòi nghiên cứu, song vì trình
độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề án tốt nghiệp của tôi sẽ không
tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong thấy giáo hướng dẫn, Lãnh
đạo Chi cục Thuế quận Đống Đa và cùng toàn thể bạn đọc quan tâm, giúp đỡ,
đóng góp ý kiến để luận văn tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Ái Đoàn - Khoa Kinh tế & Quản lý - Trường đại học Bách
khoa Hà Nội và sự giúp đỡ tận tình của Ban lãnh đạo Chi cục cùng toàn thể cán
bộ công nhân viên Chi cục Thuế quận Đống Đa đã tạo điều kiện cho tôi hoàn
118 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thành luận văn tốt nghiệp này.
Luận văn thạc sỹ QTKD Khoa kinh tế và Quản lý – Trường ĐHBK Hà Nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 10
(2006), Luật quản lý Thuế số 78/2006/QH11.
Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 3 (2008),
Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12.
Chính phủ (2008), Nghị định số 123/2008/NĐ-CP, Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng.
Chính phủ (2011), Nghị định số 121/2011/NĐ-CP, Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 123/2008/NĐ-CP.
Bộ Tài chính (2011), Thông tư 28/2011/TT-BTC, Hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày
28/10/2010 của Chính phủ.
Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 06/2012/TT- BTC, Hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng, hướng dẫn thi hành Nghị định số
123/2008/NĐ-CP và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP.
Tổng cục Thuế (2008), Qui trình số 528/QĐ-TCT, Qui định về kiểm tra
thuế.
Tổng cục Thuế (2009), Qui trình số 443/QĐ-TCT, Qui định về quản lý
đăng ký thuế.
Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1864/QĐ-TCT, Qui định về quản lý
khai thuế, nộp thuế.
Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1395/QĐ-TCT, Qui định về quản lý
nợ thuế GTGT.
Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 905/QĐ-TCT, Qui định về điều kiện,
thủ tục hoàn thuế GTGT.
Tổng cục Thuế (2011), Qui trình số 1444/QĐ-TCT, Qui định về miễn
119 Học viên: Nguyễn Đăng Hưng Mã đề tài: QTKD11A-221
thuế, giảm thuế.

