BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thùy Duyên
MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ
TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Trần Thị Thùy Duyên
MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ
TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH
Chuyên ngành
: Văn học Việt Nam
Mã số
: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ, ủng hộ nhiệt tình từ thầy cô, gia đình và bạn bè. Tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành đến:
Quý thầy cô trong khoa Ngữ văn và phòng Sau đại học trường Đại học Sư
phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi thực hiện đề tài
này.
Cô Phan Thị Thu Hiền, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình tôi trong
suốt quá trình tôi thực hiện đề tài. Qua đây, tôi xin gửi tới cô lời biết ơn chân thành
và sâu sắc nhất.
Gia đình, bạn bè, người thân luôn hỗ trợ, động viên tôi trong quá trình thực
hiện đề tài.
Với việc thực hiện một đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian và khả năng
còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được sự
góp ý từ quý thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2013
Trần Thị Thùy Duyên
3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ......................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU ................................................................................................................................. 6
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................. 7
3. Mục đích nghiên cứu .................................................................................................... 13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 13
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................................. 13
6. Đóng góp mới của luận văn ......................................................................................... 14
7. Kết cấu luận văn ........................................................................................................... 14
Chương 1. TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC KINH VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MOTIF ........................................................................ 16
1.1. Truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ................................................... 16
1.1.1. Truyền thuyết ....................................................................................................... 16
1.1.2. Truyện cổ tích ...................................................................................................... 18
1.1.3. Khái quát truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ............................... 22
1.2. Motif và phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích ......... 24
1.2.1. Khái niệm motif ................................................................................................... 24
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích ................ 25
Tiểu kết .............................................................................................................................. 30
Chương 2. PHÂN LOẠI MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ
TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH .............................................................................. 31
2.1. Xét từ nhân vật thi tài ................................................................................................ 31
2.1.1. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyền thuyết ...................................................... 31
2.1.2. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyện cổ tích ..................................................... 38
2.2. Xét từ hình thức thi tài .............................................................................................. 48
4
2.2.1. Các hình thức thi tài trong truyền thuyết ........................................................... 49
2.2.2. Các hình thức thi tài trong truyện cổ tích ........................................................... 55
2.3. Xét từ nguyên nhân thắng cuộc thi tài ..................................................................... 63
2.3.1. Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyền thuyết ................................... 63
2.3.2 Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyện cổ tích .................................... 68
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA THỂ HIỆN CỦA MOTIF THI TÀI TRONG
TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC KINH ......................... 75
3.1. Chức năng của hoạt động thi tài ............................................................................... 75
3.1.1. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyền thuyết ........................................ 76
3.1.2. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyện cổ tích ....................................... 80
3.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài .............................................................................. 85
3.2.1. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyền thuyết ......................................... 85
3.2.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyện cổ tích ........................................ 95
3.3. So sánh motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc người Kinh với
một vài tộc người khác .................................................................................................... 102
3.3.1. So sánh với dân tộc Khmer ................................................................................ 102
3.3.2. So sánh với dân tộc Chăm ................................................................................ 104
3.3.3. So sánh với vài dân tộc ít người khác................................................................ 106
KẾT LUẬN ......................................................................................................................... 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 113
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 119
Phụ lục 1: ............................................................................................................................. 119
Phụ lục 2: ............................................................................................................................. 126
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngay từ buổi bình minh của loài người, văn học dân gian đã trở thành chiếc cầu kì
diệu nối liền đời sống thực tế và đời sống tinh thần của con người. Truyện cổ dân gian có
nhiều thể loại phong phú, đa dạng. Vì vậy, muôn mặt tâm hồn của nhân dân- chủ nhân của
những câu chuyện cổ được thể hiện hết sức chân thật, sinh động. Nhờ đó, những thế hệ sau
mới có thể tìm hiểu, cảm nhận về một thời kì không bao giờ quay trở lại của nhân loại.
Những câu chuyện cổ, nhất là thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích chính là tấm gương
thần kì thể hiện ước mơ, gìn giữ những nét đẹp đáng quý của con người bấy giờ với sự cần
cù, khéo léo, tài hoa, thông minh, tài trí, khỏe mạnh, hào hiệp, trượng nghĩa,…mà muôn đời
sau còn lưu truyền. Những lớp trầm tích này được vùi sâu rất kín đáo, trở nên bền chặt và
vĩnh hằng.
Truyền thuyết và truyện cổ tích là một trong những phương tiện tái hiện và phản ánh
cuộc sống với những phức tạp, mâu thuẫn về tình yêu, hôn nhân, quyền lực, lãnh
thổ,…Truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng, văn học dân gian nói chung không chỉ tái
hiện mà còn đề xuất cách giải quyết hòa bình, hữu nghị và đầy tính nhân văn: thi tài để giải
quyết vấn đề. Vì vậy, rõ ràng, vấn đề thi tài trong văn học dân gian nói chung và trong
truyền thuyết, truyện cổ tích nói riêng là một vấn đề rất đáng quan tâm, tìm hiểu. Bởi nó
không chỉ thể hiện tinh thần hữu hảo, nhân đạo mà còn ca ngợi tài năng và phẩm chất của
con người.
Do đó, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi quyết định chọn vấn đề nghiên
cứu về motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích, hai trong trong số các thể loại
phong phú của truyện kể dân gian. Về mặt chủ thể sáng tạo, chúng tôi chọn dân tộc Kinh -
dân tộc đông nhất và có khối lượng truyện kể đồ sộ nhất để làm rõ hơn những đặc điểm và ý
nghĩa thể hiện của motif này. Chúng tôi tin rằng motif này sẽ là phương tiện đắc lực giúp
chúng tôi tìm hiểu bước đầu về nội dung, ý nghĩa, giá trị của những câu chuyện dân gian
trong các sáng tác của dân tộc Kinh. Qua đó, chúng tôi có thể tìm về với cuộc sống và tâm
hồn của ông cha, để thêm yêu, thêm quý, thêm tự hào về truyền thống nghìn năm của dân
tộc.
6
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi bao quát được, các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước đã phân tích khá nhiều khía cạnh vấn đề liên quan gián tiếp hoặc trực tiếp đến đề
tài luận văn của chúng tôi.
* Các tài liệu nghiên cứu về truyền thuyết và truyện cổ tích
Nghiên cứu về các phương diện tiêu biểu, nổi bật của thể loại truyền thuyết
Thể loại truyền thuyết được giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm nhiều nhất bắt đầu
từ những năm 60, 70. Trong hai thập kỉ này, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu chủ yếu
xoay quanh truyền thuyết về thời đại của Hùng Vương, An Dương Vương.
Trước hết là một loạt bài viết xoay quanh một văn bản cụ thể: truyền thuyết về An
Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy và truyền thuyết thời đại vua Hùng nói chung. Các
tác giả Phan Nhân, Trần Nghĩa, Trần Quốc Vượng, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Từ Chi đã sử
dụng các phương pháp đa dạng và phong phú khi xem xét các khía cạnh vấn đề có liên quan
trong việc nghiên cứu nhóm truyền thuyết này. Phan Nhân mở đầu cho loạt bài nghiên cứu
này vào 1961 bằng bài viết “ Mấy ý kiến về vấn đề khai thác truyện dân gian và cải biên
truyền thuyết Mị Châu- Trọng Thủy”. Bằng phương pháp thi pháp học, tác giả đã nêu vấn
đề đâu là chuẩn mực chung khi cải biên một tác phẩm văn học dân gian. Trong cuộc tranh
luận này, các nhà nghiên cứu đòi hỏi phải xác minh được đâu là cốt truyện hợp lí của truyền
thuyết Trọng Thủy- Mị Châu, xác định chủ đề tư tưởng, cải biên truyền thuyết này và phải
sử dụng vốn cổ ra sao. Nếu Phan Nhân chọn giải quyết vấn đề thứ ba thì Trần Nghĩa với “
Truyền thuyết Mị Châu- Trọng Thủy phát triển qua các thời đại” vào 1965 chọn giải quyết
vấn đề đầu tiên dựa vào các tài liệu cổ, từ góc nhìn dân tộc học.
Từ các bài viết của các nhà nghiên cứu đi trước, Đinh Gia Khánh đã có cái nhìn khái
quát hơn, rộng lớn hơn khi đặt ra vấn đề “ Xác định giá trị của truyền thuyết đối với việc tìm
hiểu lịch sử thời đại Hùng Vương” vào 1969. Ông nhận định “ truyền thuyết biến đổi dần
theo không gian và thời gian, nhưng dầu cho cơ cấu bên trong và diện mạo bên ngoài của
truyền thuyết có ít nhiều bị thay đổi thì nội dung chính lúc đầu vẫn không bị mai một mà
trái lại vẫn giữ nguyên tính chất hạt nhân trung tâm”. Vì thế, ông khẳng định giá trị của
truyền thuyết trong việc tìm hiểu lịch sử dân tộc là rất to lớn. Đây là một bài viết có tầm
khái quát lớn, bao trùm những vấn đề lớn của truyền thuyết như vấn đề nhân vật, cốt truyện,
vấn đề thái độ và tình cảm của nhân dân,…Thi pháp học được tác giả sử dụng như kim chỉ
7
nam trong việc nghiên cứu những vấn đề mang tính chất vĩ mô trong văn học dân gian.[
Đinh Gia Khánh, 2003, tr. 656,660].
Ngoài ra, vào 1969, Trần Quốc Vượng tiếp tục đóng góp cho chủ đề này bài viết
nghiên cứu về tên riêng của các nhân vật ở các truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương: “
Từ việc nghiên cứu tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kì dựng nước”. Với phương
pháp nghiên cứu ngữ âm lịch sử, tiếp thu tinh thần nghiên cứu của Đinh Gia Khánh trong “
Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số truyện cổ tích” và Hoàng Thị Châu
trong “ Tìm hiểu từ “ phụ đạo” trong truyền thuyết về Hùng Vương”, tác giả đã bước đầu
tìm hiểu về các tên riêng của các nhân vật chính trong Lí Ông Trọng, Trầu Cau, Thánh
Gióng, An Dương Vương.
Đến 1971, chuyên luận của Trần Quốc Vượng và Nguyễn Từ Chi kết thúc loạt bài
viết xoay quanh truyền thuyết An Dương Vương: “ Vua Chủ”. Các tác giả đã đi tìm xuất
thân của Vua Chủ, tên gọi dân gian của An Dương Vương Thục Phán. Đồng thời, các tác
giả cũng đi vào tìm hiểu con đường mà tác giả dân gian sáng tạo nên truyền thuyết về thành
Cổ Loa. Đi theo hướng nghiên cứu văn học dân gian bằng nhân học văn hóa, các tác giả đã
nghiên cứu về sự tái tạo, bồi đắp, khử dần,…để tạo nên diện mạo của truyền thuyết này hôm
nay.
Các nhà nghiên cứu tìm hiểu về truyền thuyết thời đại Hùng Vương tiêu biểu là nhà
nghiên cứu Cao Huy Đỉnh trong công trình “ Người anh hùng làng Dóng” (1969). Tác giả
đã tiến hành nghiên cứu truyền thuyết Thánh Gióng trên diện rộng từ điền dã, diễn xướng,
truyện kể,…đến các thư tịch cổ ghi chép sử ca, sách sử…để thấy được đặc trưng điển hình
của loại truyện cổ- anh hùng ca của tác phẩm Ông Dóng. Hướng tiếp cận theo nhân học văn
hóa được tác giả vận dụng thuần thục ở chuyên luận này.
Gần đây, văn học so sánh ngày một phát triển mạnh mẽ. Đó là biểu hiện của sự phát
triển văn học Việt Nam trong việc vươn xa ra thế giới, giao lưu và hội nhập mạnh mẽ. Các
tác giả bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu nhiều văn bản truyền thuyết có mối liên quan
với nhau trong thế so sánh chúng.
Hồ Quốc Hùng (2000) trong bài viết: “Về sự tái sinh của nhóm truyền thuyết anh
hùng bộ lạc ở vùng Thuận Hóa” đã đặt vấn đề về sự tái sinh của nhóm truyền thuyết về
những người anh hùng thời bộ lạc, hậu thân của anh hùng làng Gióng ở vùng đất Thuận Hóa
xưa. Bằng thao tác so sánh các bản kể, tác giả đã phác họa nên diện mạo của nhóm truyện
mang đậm tính địa phương này.
8
Trên con đường này, chúng ta bắt gặp được những tương đồng giữa các tác phẩm của
văn học Việt Nam và nước ngoài. Nguyên nhân là sự tương thích về mặt văn hóa, lịch sử,
địa lí, tâm lí nhân loại,…Phan Thị Thu Hiền với “Truyền thuyết Man Nương của Việt Nam
và vu ca Tanggeum Aegi của Korea (Nghiên cứu so sánh)” (2012) đã cho thấy điều đó. Bài
viết đi vào so sánh hai tác phẩm của Việt Nam và Korea, tìm ra những nét tương đồng cũng
như khác biệt giữa hai tác phẩm, hạt nhân cơ bản làm nên bản sắc văn hóa của hai dân tộc.
Bên cạnh đó, phương pháp phê bình cổ mẫu cũng được áp dụng rộng rãi trong văn học dân
gian tiêu biểu là Trần Thị An với “ Những biểu tượng không gian thiêng trong truyền thuyết
dân gian người Việt”(2001). Tác giả đã tiến hành “khảo sát thái độ tinh thần đặc thù đối với
không gian của tác giả dân gian trong mối liên hệ với những trầm tích văn hóa của những
thời đại sản sinh ra truyền thuyết”. Tác giả đã đề cập đến những biểu tượng trong truyền
thuyết dân gian người Việt và lí giải chúng dựa trên cơ sở là Từ điển biểu tượng văn hóa thế
giới. [Trần Thị An, 2003, tr.725, 726 ]
Ngoài ra, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam với bộ “ Tổng tập Văn học dân gian
người Việt”, tập 4: Truyền thuyết dân gian người Việt ( 2004) trong phần Khải Luận đã nêu
lên quá trình hình thành khái niệm truyền thuyết, vấn đề phân loại, đặc điểm nghệ thuật, tư
tưởng- thẩm mĩ của thể loại truyền thuyết.
Nghiên cứu về các phương diện tiêu biểu, nổi bật trong thể loại truyện cổ tích
Công trình đầu tiên mang tính chất tiên phong dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu
truyện cổ tích là công trình “ Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện
Tấm Cám” của nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh vào năm 1968. Trong công trình này, ông
đã bước đầu sử dụng phương pháp nghiên cứu theo type và motif của trường phái địa lí –
lịch sử để giới thiệu một cách chi tiết các bản kể của type truyện Tấm Cám trên thế giới.
Sau Đinh Gia Khánh, các nhà nghiên cứu bắt đầu đi vào nghiên cứu các motif nổi bật
trong một nhóm truyện. Đây cũng là một hướng vận dụng phương pháp nghiên cứu ảnh
hưởng của trường phái địa lí – lịch sử. Trước hết, Nguyễn Thị Huế viết “Người mang lốt-
motip đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về nhân vật xấu xí mà tài ba” (1997). Đến 1998,
Nguyễn Bích Hà với công trình “ Thạch Sanh và kiểu truyện dũng sĩ trong truyện cổ Việt
Nam và Đông Nam Á” (1998). Đến năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc viết “ Từ truyện Kajong và
Halêk của người Chăm đến type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á” trong quyển “Truyện kể
dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF”. Bài viết đã đi vào so sánh các bản kể khác nhau
thuộc nhiều dân tộc của type truyện Tấm Cám phổ biến.
9
Hưởng ứng khuynh hướng nghiên cứu mới: nghiên cứu văn học dân gian theo hướng
nghiên cứu kết cấu truyện, Tăng Kim Ngân đã vận dụng lí thuyết về 31 chức năng của
Propp trong “ Cổ tích thần kì người Việt- đặc điểm cốt truyện” ( 1994). Tiếp đó, đến 2006,
cũng vận dụng phương pháp hình thái học của V.Ia. Propp, Đỗ Bình Trị cũng đi vào nghiên
cứu một số truyện cổ tích thần kì và truyền thuyết Việt trong chuyên luận “Truyện cổ tích
thần kì Việt đọc theo Hình thái học của truyện cổ tích của V.Ia.Propp”. Đây được xem là
một công trình có dạng tương tự như công trình “Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và
MOTIF” của Nguyễn Tấn Đắc, cái khác biệt là lí thuyết về phương pháp mà tác giả sử dụng.
Loại phương pháp thứ ba được các nhà văn học dân gian áp dụng trong lĩnh vực
nghiên cứu là thi pháp học trên cơ sở so sánh văn học viết và văn học dân gian. Trước hết,
Hoàng Tiến Tựu với công trình “ Bình giảng truyện dân gian”(1998) đã tiến hành bình một
số truyền thuyết, truyện cổ tích tiêu biểu. Năm 2010, Nguyễn Định với “Yếu tố thần kỳ
trong truyền thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ” đã tiến hành thống kê và
lí giải về yếu tố thần kì trong truyền thuyết và truyện cổ tích của người Việt ở khu vực này.
Đến năm 2011, Nguyễn Xuân Đức đã đóng góp cho làng nghiên cứu khoa học về
truyện cổ tích công trình “ Thi pháp truyện cổ tích thần kì người Việt”. Công trình này chủ
yếu đề cập đến những đặc điểm thi pháp của truyện cổ tích thần kì người Việt trong quan hệ
đối sánh với văn học viết là chủ yếu. Công trình “Những vấn đề thi pháp văn học dân gian”
của Nguyễn Xuân Đức vào năm 2011 cũng có nhiều đóng góp về mặt thi pháp văn học dân
gian nói chung và thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích nói riêng. Công trình đã đề cập
nhiều vấn đề như tiêu chí phân loại thần thoại, truyền thuyết và truyện cổ tích dựa theo chức
năng, đặc trưng thi pháp của chúng.
Đặc biệt, nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên với chuyên luận “ Truyện cổ tích dưới mắt
các nhà khoa học” ( 1989) đã từng bước khái quát các trào lưu nghiên cứu truyện cổ tích
của các nhà folklore thế giới và Việt Nam nhằm tiến tới khẳng định một cách nhìn toàn diện
về lịch sử nghiên cứu và phân loại truyện cổ tích. Trong chuyên luận này, tác giả đi vào các
vấn đề cơ bản của thể loại này như khái niệm, vấn đề nguồn gốc và nghiên cứu lịch sử
truyện cổ tích, mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực và việc nghiên cứu thi pháp
truyện cổ tích. Phương pháp cấu trúc- chức năng là phương pháp chủ yếu trong chuyên luận
này. Thể nghiệm phương pháp nghiên cứu cấu trúc- chức năng, Chu Xuân Diên viết “ Về
cái chết của mẹ con người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám” vào 1999. Tác giả đã lí giải một
cách lí thú về vấn đề nguồn gốc và sự biến đổi ý nghĩa của một số motif tạo thành đoạn kết
10
truyện cổ tích Tấm Cám. Thông qua đó, nhà nghiên cứu đưa ra một hướng tiếp cận mới đối
với truyện cổ dân gian, tránh đi cái nhìn xã hội học đang là khuynh hướng tranh luận chủ
yếu đối với đoạn kết của type truyện phổ biến này. Hướng tiếp cận này sẽ là hướng tiếp cận
chính của người nghiên cứu trong công trình luận văn này trong việc thử lí giải nguồn gốc
và sự biến đổi về các phương diện như nội dung, hình thức, chức năng,…của motif thi tài.
Tiếp theo là “Những nhận định khái quát về truyện cổ tích Việt Nam” (1982) …trong
“Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi. Trong công trình này, tác giả
cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu theo type và motif của trường phái địa lí – lịch sử đi
vào đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam và nguồn gốc của truyện cổ tích Việt Nam. Tuy
ngay từ đầu, tác giả đã thu hút cả thể loại truyền thuyết với tên gọi cổ tích lịch sử vào thể
loại truyện cổ tích nhưng nhờ vào nguồn tài liệu khảo dị phong phú thuộc nhiều dân tộc
khác nhau, từ Á đến Âu nên tác giả vẫn đưa ra được những nhận định sắc sảo, lí thú trong
các luận điểm của mình.
Ngoài ra, ở tập 6 của bộ “Tổng tập Văn Học Dân Gian người Việt”( 2004): Truyện cổ
tích thần kì, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam trong phần Khải luận đã bước đầu khái quát
lịch sử sưu tầm nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam. Tương tự như phần Khải luận của tập
4, các tác giả cũng tiến hành tổng kết các cách phân loại truyện cổ tích và đưa ra quan điểm
chung nhất về cách phân truyện cổ tích thành ba loại được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận
nhất.
Các tài liệu nghiên cứu này đóng vai trò hỗ trợ người viết về mặt phương pháp
nghiên cứu chuyên luận này. Tùy theo đặc điểm riêng cũng như những mặt khả thủ và bất
cập của từng phương pháp mà người viết vận dụng từng phương pháp hoặc vận dụng kết
hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu. Mặt khác, các tài liệu này cũng cung cấp
nhiều tri thức về dân tộc học, xã hội học, văn hóa,…hỗ trợ người viết trong việc ứng dụng
phương pháp liên ngành để giải thích các hiện tượng, quy luật xuất hiện trong chuyên luận.
* Các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến motif thi tài
Có thể xem Nguyễn Tấn Đắc là người đầu tiên đề cập đến motif thi tài trong nghiên
cứu văn học dân gian. Công trình đầu tiên của tác giả mang tên “Những truyện kể của Vê-
ta- la” (1986), những câu chuyện cổ Ấn Độ. Ở phần cuối của sách, tác giả tiến hành thống
kê các motif chính trong các truyện được chọn in. Theo đó, motif thi tài xuất hiện với tư
cách là một trong các motif chính trong các truyện. Tác giả không đi vào phân tích, lí giải
11
chúng. Đây là một trong những thể nghiệm của tác giả trong việc cố gắng hệ thống các
chuyện kể thành các motif và type.
Đến năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc cho ra đời “Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và
MOTIF”. Trong bài viết “Đọc lại Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh” của công trình này, motif
thi tài giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh (dựa vào bản kể trong Lĩnh Nam chích quái) được tác
giả xác định là một trong những motif chính của truyện. Nó được sử dụng để làm tiền đề
giải thích motif đánh nhau mà theo tác giả đó là “những cuộc chiến tranh cướp đoạt đàn
bà”[ Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr.122] . Bên cạnh đó, Nguyễn Tấn Đắc cũng nói đến cuốn
Motif – Index of Folk- Literature của Stith Thompson. Ở đó, các chương chia theo thứ tự A,
B, C, D,…X ,trong đó có motif A85 là cuộc thi sáng tạo giữa thần nam chồng và thần nữ
vợ. Như vậy, ở đây, motif thi tài được tác giả nhắc đến khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một
tác phẩm văn học dân gian cụ thể. Thông qua việc nghiên cứu motif thi tài, tác giả lí giải,
làm sáng rõ nội dung cũng như thể loại của tác phẩm. Đây là tài liệu quan trọng hàng đầu
đối với người viết trong luận văn này.
Ngoài ra, motif thi tài chủ yếu được đề cập đến trong các luận án, luận văn nghiên
cứu về truyện cổ Chăm.
Đầu tiên là công trình của Nguyễn Thị Thu Vân: “Khảo sát đặc điểm truyện cổ dân
tộc Chăm” (Luận án tiến sĩ 2005). Trong chương 2, tác giả đã có một mục dành riêng để
khảo sát các motif chính ( 9 motif ). Tác giả đã xác định motif thi tài mà cụ thể là motif thi
xây tháp là một motif khá đặc trưng của tộc người Chăm.
Thứ hai, Kiều Thị Sopri: “Truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm tại vùng đất Ninh
Thuận, Bình Thuận” (Luận văn thạc sĩ 2011) đã đề cập đến motif thi tài trong mục các motif
trong truyền thuyết Chăm. Tác giả luận văn khẳng định motif thi tài có hai dạng là thi xây
tháp và thi đào mương. Tác giả đã đi vào khái quát các dạng thức cơ bản của hai dạng này
và đưa ra nhận định về ý nghĩa của hai dạng này. Theo đó, theo tác giả dạng thi tài xây tháp
là một cách để tôn vinh người anh hùng dân tộc Po Klong Garai. Còn motif thi đào mương
chủ yếu lí giải tục ở rễ . Đặc biệt, motif thi đào mương được xác định là motif sáng tạo riêng
của dân tộc Chăm thể hiện tinh thần thi đua lao động.
Nhìn chung, motif thi tài không phải là motif mới. Nó xuất hiện rất nhiều trong các
thể loại thần thoại, truyền thuyết,…Các tác giả chỉ nêu tên, thống kê, lí giải motif này đồng
thời với các motif khác hoặc phạm vi nghiên cứu chủ yếu ở truyền thuyết của các tộc người
khác cụ thể là tộc người Chăm. Việc khảo sát motif này trong một hệ thống cụ thể, thống kê,
12
phân loại một cách khái quát theo tiêu chí thể loại của tộc người Kinh đến giờ vẫn còn bỏ
ngỏ, chưa được đặt thành một vấn đề nghiên cứu riêng biệt.
3. Mục đích nghiên cứu
Trước hết, người viết tìm ra những tương đồng và dị biệt của hai thể loại truyền
thuyết và truyện cổ tích.
Từ đó, người viết nêu ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong cốt truyện truyền thuyết
và truyện cổ tích. Thông qua đó, chúng tôi tiến hành nhận diện quan niệm, ước mơ, đặc
điểm tư duy,…của con người thời xưa nói chung và người Kinh nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích
Phạm vi: chủ yếu là truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh ở các vùng
miền Việt Nam. Truyền thuyết và truyện cổ tích của các dân tộc khác được đối chiếu, so
sánh nhằm làm nổi bật đặc trưng của truyền thuyết và truyện cổ tích tộc Kinh.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình: nghiên cứu theo đặc trưng loại hình của truyền thuyết và
truyện cổ tích.
Phương pháp nghiên cứu type và motif: nghiên cứu các kiểu truyện có xuất hiện
motif thi tài, lí giải những ý nghĩa mà motif thi tài thể hiện.
Phương pháp thực chứng: từ các số liệu đã thu được trong quá trình thống kê tài liệu,
chúng tôi đưa ra những nhận định về các đặc điểm, ý nghĩa,…của vấn đề cần nghiên cứu.
Phương pháp so sánh: nghiên cứu những tương đồng và dị biệt của motif thi tài ở
từng thể loại, cụ thể là truyền thuyết và truyện cổ tích. Bước đầu lí giải chúng dựa vào lí
thuyết loại hình, đặc trưng thi pháp của từng thể loại.
Phương pháp hệ thống: nghiên cứu motif thi tài từ nhiều góc độ khác nhau, trong mối
tương quan với hệ thống thể loại truyện cổ dân gian.
Phương pháp liên ngành: sử dụng các phương pháp bổ trợ từ các ngành khoa học
khác như ngành tâm lí học (Phương pháp tâm lí học tiếp nhận, phương pháp phê bình cổ
mẫu) trong việc tiếp cận motif thi tài qua những đặc trưng về mặt biểu tượng, tư duy, tình
cảm,…của chủ thể trong quá trình tiếp nhận, lưu truyền và biến đổi hay ngành dân tộc học
(Phương pháp dân tộc học) để lí giải những vấn đề có liên quan đến motif thi tài dựa vào
13
những đặc điểm dân tộc học của tộc người, chỉ ra được những đặc trưng của motif thi tài
trong truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc người Kinh.
* Nguồn tư liệu
Trước hết, chúng tôi sử dụng tư liệu sưu tầm và biên soạn riêng biệt cho từng thể loại
là bộ Tổng tập văn học dân gian người Việt (2004), tập 4, 5 ( thể loại truyền thuyết) và tập
6, 7 ( thể loại truyện cổ tích).
Ngoài ra, các tư liệu khác có sự pha trộn của nhiều thể loại cũng được chúng tôi sử
dụng ở đây. Các tư liệu như Văn nghệ dân gian Quảng Nam –Đà Nẵng ( 1984). Những truyện
kể của Vua Vêtala (1986), Truyện kể dân gian Nam Bộ (1987), Văn học Đồng bằng sông Cửu
Long (1997), Văn học dân gian Tây Sơn (1999), Chuyện kể địa danh Việt Nam (2000), Truyện
kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF (2001), Lĩnh Nam chích quái: truyện cổ dân gian sưu
tập biên soạn ở thế kỷ XV (2001), Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc miền Trung ( 2001),
Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam ( 5 tập)(2008) , , Đặc khảo Văn học dân gian Thừa Thiên
Huế (2010),Văn học dân gian Châu Đốc (2010), Văn nghệ dân gian Bạc Liêu (2011).
6. Đóng góp mới của luận văn
Nghiên cứu về motif thi tài theo một hệ thống hoàn chỉnh ở thể loại truyền thuyết và
truyện cổ tích của dân tộc Kinh. Qua đó, người viết khám phá về ý nghĩa thể hiện về nhiều
phương diện của motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích trong văn hóa dân gian
người Kinh.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương với những nội
dung như sau:
Ở chương một “Truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh và phương pháp nghiên
cứu motif ”, chúng tôi đi vào trình bày khái quát lí thuyết loại hình về thể loại truyền thuyết
và truyện cổ tích, việc nghiên cứu hai thể loại này từ phương pháp nghiên cứu motif. Đây sẽ
cơ sở lí luận làm nền tảng cho hai chương sau.
Trong chương hai “Phân loại motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích dân
tộc Kinh”, người viết tiến hành thống kê, phân loại motif thi tài trong hai thể loại này. Từ
đó, người viết có thể tìm hiểu được ý nghĩa cũng như chức năng của motif này ở chương
cuối.
Ở Chương ba “Chức năng và ý nghĩa thể hiện của motif thi tài qua thể loại truyền
thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh”, chúng tôi đi vào phân tích, lí giải về chức năng
14
và ý nghĩa thể hiện của motif này trong mối quan hệ với văn hóa đời sống tinh thần của chủ
thể sáng tạo cũng như tiếp nhận.
15
Chương 1. TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN
TỘC KINH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MOTIF
1.1. Truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh
1.1.1. Truyền thuyết
1.1.1.1. Khái niệm
Truyền thuyết là một thể loại lớn trong văn học dân gian, đã hình thành, vận động và
phát triển lâu đời. Nó là thể loại có sự giao thoa với thần thoại, cổ tích. Vì vậy, việc đưa ra
định nghĩa về truyền thuyết vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.
Kiều Thu Hoạch cho rằng:
“ Truyền thuyết là một thể tài truyện kể truyền miệng, nằm trong loại hình tự sự dân
gian; nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích
nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân; biện pháp nghệ thuật
phổ biến của nó là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo,
thần kì như cổ tích và thần thoại…”[Kiều Thu Hoạch, Bùi Mạnh Nhị ( chủ biên), 1999,
tr.141]
Theo Bùi Mạnh Nhị:
“Truyền thuyết là truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện lịch sử, thể hiện
cách đánh giá của nhân dân về những nhân vật và sự kiện đó. Truyền thuyết thường có yếu
tố tưởng tượng kì ảo”. [ Bùi Mạnh Nhị, 2012, tr.5].
Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết là một thể loại dân gian có những đặc
điểm khái quát sau: truyền thuyết là những sáng tác tự sự dân gian; có sự hiện diện của yếu
tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường; truyện kể về nhân vật và sự kiện lịch sử đã xảy ra
trong quá khứ; truyện gắn liền với nhiều chứng tích văn hóa còn lưu cho đến nay.
1.1.1.2. Đặc trưng thi pháp thể loại
* Về yếu tố kì diệu
Truyền thuyết thường có cốt lõi là sự thật lịch sử được bao bọc thêm bên ngoài bằng
các yếu tố kì diệu, hoang đường. Tuy nhiên, yếu tố kì diệu ở đây chủ yếu chỉ mang tính chất
thi vị, làm tăng vẻ đẹp, sự oai hùng của nhân vật mà nhân dân kính trọng, tạo nên sự linh
thiêng của các chứng tích vật chất, văn hóa.[Lê Chí Quế, 2001, tr.64]
*Về thời gian
Thời gian trong truyền thuyết là thời gian quá khứ- xác định. Truyền thuyết nào cũng
kể về chuyện đã xảy ra và vào một thời kì lịch sử nhất định nào đó.Tuy nhiên, khoảng cách
16
thời gian sự kiện và thời gian sáng tạo tác phẩm là một khoảng cách có thể rất gần nhưng
cũng có thể rất xa, rất khó xác định .[Lê Chí Quế, 2001, tr.64]
* Về không gian
Cũng như thời gian, không gian trong truyền thuyết thường mang tính cụ thể, xác
định. Đó là những di tích vật chất như gò, đồi, sông, suối,…hay các di tích văn hóa như đền,
đình, tháp,… Chúng thường được gán cho những tính chất mang tính thiêng gắn liền với
nhân vật lịch sử hoặc với chứng tích lịch sử, địa danh,… .[Lê Chí Quế, 2001, tr. 64-65]
Bên cạnh đó, Trần Thị An khi tìm hiểu riêng về tính thiêng trong không gian cho
rằng không gian thiêng trong truyền thuyết vốn có tiền thân từ sự sùng bái tự nhiên, gán cho
không gian những giá trị tinh thần đượm màu sắc huyền thoại của con người cổ đại. Thế
giới của truyền thuyết vốn là thế giới của thần thiêng nên không gian tồn tại trong truyền
thuyết tất yếu cũng là không gian mang tính linh thiêng. [Trần Thị An, 2001, tr.725].
Không gian trong truyền thuyết còn gắn liền với phạm vi hoạt động của các nhân vật
trong truyện. Đó cũng là nơi lưu truyền và gìn giữ những câu chuyện truyền thuyết thông
qua các phong tục và lễ hội, tạo nên tính địa phương và tính dân tộc sâu sắc của thể loại
truyền thuyết.
* Về nhân vật
Nhân vật trong truyền thuyết thường được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau
như phân chia theo tuyến thành nhân vật chính và nhân vật phụ. Các nhân vật chính trong
truyền thuyết thường là bán thần và người.
Về nhân vật là thần ( hoặc bán thần), các nhân vật này thường là nhân vật khởi
nguyên tạo nên nguồn gốc các thị tộc, bộ lạc, gia tộc. Họ thường là nhân vật có nét nhân
cách thì người nhưng hành động, hình dáng thì lại là thần. Đây là nhân vật mang ảnh hưởng
kiểu nhân vật thần thoại. Ngoài ra, loại nhân vật này còn xuất hiện với tư cách là trợ thủ
thần kì cho nhân vật chính.
Về nhân vật là người trong truyền thuyết lịch sử, theo Lê Chí Quế, chủ yếu họ là
những anh hùng lịch sử. Một số người được chính sử ghi nhận như Bùi Thị Xuân, Nguyễn
Hiền,… một số người tuy không xuất hiện trong chính sử nhưng lại được nhân dân tin yêu,
kính trọng và “ thiêng hóa” họ thành nhân vật truyền thuyết như các nhân vật anh hùng
nông dân. Có điều, kết cuộc của nhân vật trong truyền thuyết luôn mang tính chất “mở”.
Nhân vật phần nhiều phải chịu tuẫn tiết, hy sinh, “ ngài hóa” vào hồn thiêng sông núi .[Lê
Chí Quế, 2001, tr. 60]
17
Các nhân vật trong các loại truyền thuyết khác, thường là những con người vô danh
nhưng nhờ vào tài năng, sự khéo léo, chăm chỉ, trung thực và nhất là sự thông minh đã tạo
nên những kì tích, những chiến công, gặt hái được thành công nên cũng được vinh danh, ca
ngợi. Đó là các danh nhân văn hóa, các nhân vật tôn giáo,… [Lê Chí Quế, 2001, tr. 62- 63]
Ngoài ra, các nhân vật trong truyền thuyết còn xuất hiện theo nhóm truyện, hệ thống
truyện. Ví dụ, nhóm truyền thuyết về anh hùng áo vải Quang Trung, nhóm truyền thuyết về
việc xây thành giành đất... Chính sự hiện diện của nhân vật trong tác phẩm đã giúp các
truyền thuyết rời rạc kết dính với nhau thành từng mảng, nhóm truyện. Nhờ đó, truyền
thuyết luôn có số lượng phong phú và tồn tại theo hệ thống.
* Về kết cấu văn bản
Ở truyền thuyết, kết cấu văn bản theo Lê Chí Quế thường là kết cấu trực tuyến,
không có đồng hiện và sự quay trở lại. Sự việc trong truyền thuyết không đầy đủ như chính
sử. Đặc biệt, phần giới thiệu lai lịch nhân vật và kết thúc câu chuyện thường được hư cấu
theo nguyên tắc kì diệu và thiêng hóa. [Lê Chí Quế, 2001, tr.64]
* Thái độ tiếp nhận truyền thuyết
Đối với truyền thuyết, niềm tin, đức tin trở thành cốt lõi của tác phẩm.
Truyền thuyết là sự đánh giá của tác giả dân gian về các nhân vật và sự kiện lịch sử
trên quan điểm của nhân dân. Nguyễn Xuân Đức đã khẳng định rằng người nghe (đọc)
truyền thuyết đều muốn tin câu chuyện là thật. Còn người kể thì chủ yếu muốn tạo niềm tin
nơi người nghe ( đọc) còn bản thân anh ta không hẳn đã tin hoặc nếu có tin thì niềm tin ấy
cũng không mang tính tuyệt đối như thần thoại. [Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr.46-47].
Chính điều đó đã tạo nên chức năng giáo dục ý thức cộng đồng thiên về nhận thức lí
tính. Sự gắn kết nhân vật truyền thuyết với địa phương, với phong vật đã dần dần trở thành
một tâm thức phổ biến, để dẫn đến hình thành một quy luật tâm lý phổ biến trong đời sống
nhân dân: thấy vật nhớ đến người, nghĩ đến người nhớ vật. Điều này dẫn đến hệ quả là
truyền thuyết luôn gắn liền với nghi lễ và lễ hội.
1.1.2. Truyện cổ tích
1.1.2.1. Khái niệm
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, Lê Chí Quế trình bày khái niệm
“truyện cổ tích” thông qua việc xác định bản chất thể loại của nó. Theo Lê Chí Quế:
“Truyện cổ tích là sáng tác dân gian trong loại hình tự sự mà thuộc tính của nó là
xây dựng trên những cốt truyện; truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật được xây dựng thông
18
qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ; truyện cổ tích là một thể loại hoàn chỉnh của văn học dân
gian, được hình thành một cách lịch sử...”. [Lê Chí Quế, 2001, tr. 107]
Đặc biệt, Chu Xuân Diên, trong chuyên luận “Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa
học”, đã phân tích khá sâu sắc nội hàm khái niệm “cổ tích”. Ông viết:
“Cổ tích là một từ Hán Việt. “Cổ” có nghĩa là xưa, cũ. Ta có khái niệm “truyện cổ”
(hoặc “truyện cổ dân gian”), “truyện đời xưa” dùng để chỉ nhiều loại truyện dân gian khác
nhau, trong đó có truyện cổ tích… các loại truyện cổ khác nữa (cả thành văn lẫn dân
gian)”.[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 230]
Sau khi diễn giải, Chu Xuân Diên nhấn mạnh, khái niệm “truyện cổ tích” bao hàm ba
yếu tố nghĩa: “truyện cổ tích là truyện kể; truyện kể này có quan hệ với thời quá khứ xa xưa
cả về nội dung lẫn nguồn gốc phát sinh; dấu tích của truyện kể này vẫn còn lại cho đến
nay.”[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 230- 231]
Từ những phát biểu trên, chúng tôi nhận thấy truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân
gian có những đặc điểm khái quát sau: truyện cổ tích là những sáng tác tự sự dân gian, có
cốt truyện hoàn chỉnh; chủ yếu dựa trên nhiều yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo, hoang đường;
truyện kể về những sự tích đời xưa và dấu tích truyện kể còn lưu cho đến nay.
1.1.2.2. Đặc trưng thi pháp thể loại
* Yếu tố kì diệu
Yếu tố kì diệu, hoang đường đóng vai trò quan trọng trong truyện cổ tích. Nó là thủ
pháp nghệ thuật để xây dựng cốt truyện. Yếu tố kì diệu có nguồn gốc từ tín ngưỡng, phong
tục cổ như tín ngưỡng tổ tiên, vật linh luận, tục hiến tế,…Về sau này, yếu tố kì diệu còn có
thêm sự xuất hiện của các yếu tố tôn giáo như sự xuất hiện của Bụt, Phật ( Phật giáo), Tiên (
Đạo giáo) nhưng đã được dân gian hóa. Yếu tố kì diệu thể hiện ở loài vật ( chim, cá,…), sự
vật ( niêu cơm ăn không hết, cây đàn thần,…) và nhân vật (Tiên, Phật,…).[ Lê Chí Quế,
2001, tr. 132]
Tuy nhiên, yếu tố kì diệu tuy là do trí tưởng tượng phong phú của nhân dân sáng tạo
nên nhưng nó cũng phải phục tùng luận lí thông thường tức là nó không thể vượt quá phạm
vi những điều kiện nhất định cho phép.
* Về thời gian
Lê Chí Quế khẳng định thời gian trong truyện cổ tích là thời gian quá khứ phiếm
định. Truyện cổ tích luôn mở đầu bằng những câu “ ngày xửa ngày xưa”… [ Lê Chí Quế,
2001, tr. 132]
19
* Về không gian
Theo Propp, không gian trong truyện cổ tích giữ vai trò hai mặt. Một mặt, nó là một
thành phần cấu trúc quan trọng, mặt khác, dường như nó ít được quan tâm. Sự thay đổi về
mặt không gian là cơ sở cho việc phát triển các tình tiết của cốt truyện. Bên cạnh đó, truyện
cổ tích chối bỏ việc gia công tỉ mỉ khi xây dựng thủ pháp không gian truyện cổ tích. Cũng
như thời gian, trong cổ tích, không gian mang tính phiếm định, ước lệ. Không gian thường
là ở một làng nọ, vùng nọ, vương quốc nọ,…ít khi nói đến một địa danh cụ thể. Nhân vật cổ
tích đến các không gian như thế nào không quan trọng mà cái quan trọng là cách thức họ
vượt qua nó. Có thể họ xuất hiện tại một không gian mới bằng viên ngọc ước, bó củi thần,…
Không gian chủ yếu chỉ được xây dựng như những điểm dừng, những khoảng cách xa như
các giai đoạn của nghi lễ.[ Propp, 2003, tr. 235].
Không gian trong cổ tích, do không mang tính cụ thể, xác định nên không chịu sự
gán ghép, đặt để, kết dính với bất cứ một địa phương nào. Tuy nhiên, nó lại là thể loại mang
tầm quốc tế. Nói theo Chu Xuân Diên, “Tính chất quốc tế rõ ràng là một hiện tượng độc
đáo nổi bật của truyện cổ tích. Truyện cổ tích có khả năng di chuyển từ dân tộc này sang
dân tộc khác, vượt qua mọi ranh giới về ngôn ngữ, về lãnh thổ... của các quốc gia”.[Chu
Xuân Diên, 2001, tr. 224]
* Về nhân vật
Theo Lê Chí Quế, nhân vật chính trong cổ tích, là con người của đời thường, trong
một xã hội phân chia giai cấp. Đó là những nhân vật bất hạnh như đứa con mồ côi, đứa con
riêng, người con út, người đi ở, nhân vật xấu xí..., nhân vật dũng sĩ và người có tài năng kì
lạ, nhân vật thông minh hay ngốc nghếch, nhân vật là động vật biết nói năng, hành động như
con người. Mỗi nhân vật trong truyện cổ tích luôn thuộc về một kiểu nhân vật nào đó (người
mồ côi, người em út, người xấu xí mà tài ba...). [ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132]
Cũng đồng ý kiến với Lê Chí Quế, Đinh Gia Khánh cho rằng nhân vật chính của cổ
tích là người, “ lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người. Nếu có một số nhân vật một số là
thần linh hoặc được xây dựng trên cơ sở nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên thì đó
cũng chỉ là nhân vật phụ” [ Đinh Gia Khánh, 1998, tr. 295].
Ngoài ra, theo Nguyễn Xuân Đức, các nhân vật trong truyện cổ tích là những nhân
vật cực tuyến và phân cực rõ rệt về mặt nhân cách. Tuy nhiên, các nhân vật này vẫn chưa
thể vừa mang tính khái quát vừa mang tính cá thể rõ nét. [ Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr. 45-
54].
20
*Về kết cấu văn bản
Kết cấu một văn bản cổ tích nhìn chung ổn định và theo công thức. Theo Propp, kết
cấu của truyện cổ tích là hành trình các nhân vật thực hiện các chức năng đã được định sẵn
như nhân vật chính từ giã nhà mình, nhân vật bị thử thách, bị gạn hỏi, bị tra khảo và điều đó
chuẩn bị cho anh ta có được phương tiện thần kì hay người giúp đỡ,…[Propp, 2003, tr.185].
Theo Đinh Gia Khánh, trong cổ tích, “để thỏa mãn được yêu cầu truyền khẩu,
Truyện cổ tích thường cấu tạo theo đường thẳng. Cốt truyện xây dựng theo trình tự thông
thường, việc gì xảy ra trước, kể trước, việc gì xảy ra sau, kể sau…Cốt truyện phát triển theo
một mạch tình tiết chính”.[Đinh Gia Khánh, 1998, tr. 335].
Trong cổ tích, kết thúc tác phẩm thường bao giờ cũng có “hậu”. Nhân vật bao giờ
cũng được đền bù xứng đáng cho những bất hạnh, những thử thách nghiệt ngã mà mình phải
gánh chịu, phải vượt qua ( ngoại trừ một số truyện cổ tích sinh hoạt)
* Thái độ tiếp nhận truyện cổ tích
Nếu như trong thần thoại, cả người kể lẫn người nghe đều tin tưởng tuyệt đối vào
điều được kể thì trong cổ tích, người kể hết sức tỉnh táo để bịa ra chuyện. Còn bản thân
người nghe lại ở trong trạng thái si mê tạo nên “trường cổ tích”.
Người kể cổ tích rất có ý thức trong việc sử dụng các yếu tố hư cấu nghệ thuật nhất là
yếu tố kì diệu để tạo ra một thế giới kì diệu, hoang đường, lãng mạn nhằm tạo hứng thú cho
người nghe.
Ia.V.Propp đã nhận định “ Các sự kiện được kể ra dị thường đến mức không bao giờ
có thể xảy ra trong thực tiễn và chính nhờ điều đó mà cổ tích tạo ra sự hứng thú”.[Nguyễn
Xuân Đức, 2011, tr. 42] Đó chính là hành động sáng tạo lại những câu chuyện “ đời xưa”
nhưng lại tạo nên sức hấp dẫn kì lại nơi người nghe tạo nên một trạng thái “ trường cổ tích”.
Thật vậy, “trường cổ tích” là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của thể loại cổ tích.
Theo cách lí giải của Nguyễn Xuân Đức, chúng tôi hiểu “ trường cổ tích” là một cái khung
bao gồm hai hệ tọa độ là không- thời gian truyện cổ tích và người nghe với những cảm xúc
thẩm mĩ bị tác động khi tiếp nhận truyện cổ tích là những điểm nằm trong hệ tọa độ đó.
“Trường cổ tích” có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới cổ tích. Thế giới cổ tích thuộc
về phương diện nội dung của truyện cổ tích, là một không gian đặc thù bao chứa sự tưởng
tượng về sự tồn tại của những điều li kì khác với thế giới hiện thực. Trong khi đó, “trường
cổ tích” lại thuộc về phương thức nghệ thuật tạo ra sự hấp dẫn nơi người nghe. Nhưng để
tạo nên được sự hấp dẫn người nghe thì thế giới cổ tích với những hư cấu kì diệu đóng vai
21
trò rất to lớn. Như vậy, thế giới cổ tích nằm trong tập hợp các yếu tố góp phần tạo nên
“trường cổ tích”.
“Trường cổ tích” được tạo ra chủ yếu nhờ vào cách tạo ra một không- thời gian cổ
tích mà chúng tôi đã bàn ở phần trên.. Chúng đã đưa người nghe vào một trạng thái tinh
thần đặc thù. Người nghe lúc này hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài, đắm chìm vào
một thế giới cổ tích đầy cái Đẹp và cái Thiện. Người nghe đã “ ly thân” ( Chữ dùng của
Nguyễn Xuân Đức) khỏi con người lí tính bình thường. Để kết thúc truyện, truyện cổ tích
thường kết thúc bằng những hiện tượng thường gặp trong cuộc sống để tạo mối liên kết, một
“chiếc cầu” đưa người đọc (nghe) trở về hiện thực. Đó chính là các giai đoạn để tạo ra
“trường cổ tích”: nhập trường, tạo trường và giải trường.
1.1.3. Khái quát truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh
Người Kinh hay còn gọi là người Việt là dân tộc chiếm ưu thế nhất về mặt số lượng
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Họ đã tạo nên một nền văn minh rực rỡ ven sông
Hồng với sự phát triển vượt bậc, đặc biệt là hệ thống truyền thuyết và truyện cổ tích.
Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, hệ thống truyền thuyết và truyện cổ
tích dân tộc Kinh là lăng kính phản ánh những vấn đề cốt yếu nhất của xã hội lúc bấy giờ.
Xã hội càng phát triển thì mối quan hệ giữa người và người cũng phức tạp, mâu thuẫn cũng
bộc lộ rõ hơn. Mâu thuẫn nổi bật nhất là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân. Các truyền
thuyết về những cuộc khởi nghĩa của nông dân cũng phát triển mạnh mẽ như “Chàng Lía”,
“Cố Bu”, “Ba Vành”, “Hầu Tạo”,… Qua đó, truyền thuyết và truyện cổ tích thể hiện sự
phản kháng, lên án, tố cáo bộ mặt của xã hội lúc bấy giờ. Cũng phản ánh mâu thuẫn xã hội
nhưng trong truyện cổ Chăm lại là mâu thuẫn về đẳng cấp bởi thiết chế xã hội Chăm chịu
ảnh hưởng từ Đạo Bà La Môn.
Cùng là nền nông nghiệp lúa nước nhưng dân tộc Kinh có những bước phát triển
khác hẳn so với tộc Khmer và Chăm. Ở tộc Kinh, dấu vết của chế độ mẫu hệ đã mờ nhạt,
chế độ phụ hệ phát triển mạnh mẽ. Type truyện Tấm Cám thể hiện rất rõ điều này. Trong
“Tấm Cám” của người Việt, mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng là mâu thuẫn chủ yếu. Đây chính
là hệ quả của chế độ phụ hệ. Trong khi đó, ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ còn rất sâu đậm
trong truyện cổ Khmer và Chăm. Tấm Cám của dân tộc Chăm lại phản ánh mối quan hệ con
ruột- con nuôi do sự ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ. Hay trong các câu chuyện truyền thuyết
của Khmer, nhân vật phụ nữ là nhân vật chính chiếm số lượng phổ biến như “Sự tích ao Bà
Om”, “Sự tích núi Bà Đen”, “Sự tích núi Bà đội om”,…
22
Theo Nguyễn Khánh Toàn trong Văn học dân gian Việt Nam- một biểu hiện độc đáo
và xuất sắc sức sống mãnh liệt của dân tộc, trong những thời kì đấu tranh gay gắt giữa nông
dân và phong kiến, tầng lớp trí thức phong kiến có sự phân hóa ngày càng sâu sắc, những
nho sĩ sống ở nông thôn đã hòa mình vào nhân dân, dùng văn học dân gian làm vũ khí đấu
tranh chống chế độ áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến và đã góp phần đáng kể làm cho
vốn văn học dân gian thêm giàu và tinh vi.[Nguyễn Khánh Toàn, 2003,106]
Thật vậy, về lực lượng sáng tác, truyền thuyết và truyện cổ tích vốn được sáng tác và
lưu truyền ở cửa miệng nhân dân. Tuy nhiên, trong thời kì phong kiến, ở xã hội người Kinh,
hầu như ở làng quê nào cũng có các thầy đồ. Họ mở lớp dạy chữ nghĩa cho trẻ con, thanh
niên. Nhiều vị quan tài cao học rộng, hiểu biết uyên bác khi về ở ẩn, vui thú điền viên cũng
mở lớp dạy học. Vì vậy, truyền thuyết và truyện cổ tích chịu ảnh hưởng của tầng lớp nho sĩ
rất lớn. Không chỉ vậy, nhiều nơi, chùa chính là nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của dân
chúng. Các nhà sư cũng là những vị trí thức uyên bác mở lớp dạy học cho dân chúng. Do
đó, cả nho sĩ và các nhà sư cùng đóng vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần của dân chúng.
Các câu chuyện truyền thuyết và truyện cổ tích, món ăn tinh thần của dân chúng đương
nhiên cũng chịu ảnh hưởng về tư tưởng của nho sĩ và nhà sư. Chúng được các nhà nho, nhà
sư ghi chép thành văn bản lưu hành ở các đình, đền, miếu, chùa,…và được các vương triều
biên soạn thành thần tích, ngọc phả. Vì vậy, việc quan điểm người ghi chép ảnh hưởng ít
nhiều đến bản kể là điều khó tránh. Các tác phẩm như Báo cực truyện, Ngoại sử kí của Đỗ
Thiện, Việt Điện U Linh ( thế kỉ XIV), Trần Thế Pháp ( thế kỉ XIV), Lĩnh Nam chích quái
của Vũ Quỳnh, Kiều Phú ( thế kỉ XV) hay các bộ sử như Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ
Liên ( thế kỉ XV) biên soạn trên cơ sở xem trọng thần thoại và truyền thuyết lịch sử là
những tác phẩm sớm nhất được ghi nhận.
Nhân dân và tầng lớp nho sĩ cũng đồng thời là tầng lớp thưởng thức các tác phẩm
truyền thuyết và truyện cổ tích. Những câu chuyện được lưu hành trong cộng đồng cư dân
Kinh ở các làng xã. Như đã trình bày ở trên, các tác phẩm truyền thuyết và truyện cổ tích
chịu ảnh hưởng to lớn về tư tưởng không chỉ của dân chúng mà còn của nho sĩ và nhà sư. Vì
vậy, khi lưu truyền, các văn bản được nhuận sắc này lại ảnh hưởng ngược trở lại lời kể dân
gian. Cứ thế, truyền thuyết lưu truyền trên cơ sở chịu sự ảnh hưởng của cả dân chúng và
tầng lớp nho sĩ, các nhà sư.
Do có sự ảnh hưởng sâu sắc từ tầng lớp nho sĩ, truyền thuyết và truyện cổ tích của
dân tộc Kinh mang chất trí tuệ sâu sắc qua các truyện kể. Các câu chuyện về các vị trạng
23
nguyên như Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm…,những
vị sư có học vấn uyên bác như Minh Không, Vạn Hạnh,…cô gái thôn quê nhưng thông
minh, hay chữ như “Nàng Xuân Hương”, “Nữ hành giành bạc”,…đều có nội dung mang
tính chất bác học như đối câu, làm thơ, hò đối đáp, câu đố,…tạo nên giá trị to lớn về mặt
nhận thức cũng như tạo nên diện mạo rất riêng của truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc
Kinh. Các câu chuyện truyền thuyết và truyện cổ tích của các dân tộc anh em khác như
Khmer, Thái,…thường ít chất trí tuệ hơn hẳn. Đa số, các truyện kể của các tộc anh em khác
đơn giản, chân chất và gần gũi với thể loại thần thoại hơn về nhân vật, cốt truyện,…
Bên cạnh đó, truyền thuyết và truyện cổ tích do chịu sự chi phối chủ thể sáng tạo và
lưu truyền nên đã hấp thụ vào rất nhiều yếu tố từ bên ngoài. Trước hết đó là ảnh hưởng của
Nho giáo. Các nhân vật như anh học trò, thầy đồ,…xuất hiện rất phổ biến trong các câu
chuyện. Hay ảnh hưởng của Phật giáo như quan niệm luân hồi, nghiệp báo, …trong các câu
chuyện cổ tích. Đạo giáo xuất hiện trong truyện cổ Kinh qua các nhân vật như đạo sĩ,
tiên,…Tuy nhiên, sự cải biến này vẫn mang những nét đặc trưng riêng của cộng đồng Kinh
so với các cộng đồng khác. Cả ba yếu tố này cùng dung hòa với tín ngưỡng bản địa như tín
ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng vạn vật hữu linh,…tạo nên bộ mặt phong phú và đa dạng cho
truyện cổ Kinh. Trong khi đó, xã hội Chăm là sự thống trị của Bà La Môn giáo. Câu chuyện
về “Chàng Dạ Xoa” trong truyện cổ Chăm là ví dụ tiêu biểu cho sự thống trị về mặt tinh
thần này. Truyện là bài ca chiến công của hoàng tử Rama, hiện thân của vị thần Bà La Môn
Vishnu. Còn ở xã hội Khmer lại là sự thống trị độc tôn của Phật giáo. Nói về Phật giáo,
dòng Phật ở xã hội dân tộc Kinh là Đại thừa, vốn ảnh hưởng từ Trung Hoa, ở xã hội Khmer
là Phật giáo Tiểu thừa được truyền từ Campuchia sang. Các câu chuyện về tiền kiếp của
Đức Phật như “Sự tích lễ hội Oc- Om- Bok”, “Sự tích con thỏ và mặt trăng”,…là những ví
dụ tiêu biểu.
Ngày nay, văn học dân gian của tộc Kinh vẫn tiếp tục phát triển nhất là thể loại
truyền thuyết và truyện cổ tích. Nó tiếp tục dung nạp nhiều nội dung mới của xã hội đương
đại, làm phong phú thêm bộ mặt của văn học dân gian dân tộc.
1.2. Motif và phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích
1.2.1. Khái niệm motif
Theo Từ điển Văn học ( Bộ mới):
24
“Motif trong tiếng Pháp là motif, tiếng Đức là motive, tiếng Latinh là moveo có
nghĩa là chuyển động. Còn trong tiếng Trung Quốc là mẫu đề, từ ngữ chỉ thành tố bền vững
mang tính hình thức và nội dung của văn bản văn học.[Lại Nguyên Ân, 2004, tr. 1013]
Về mặt nguồn gốc, motif xuất hiện lần đầu trong Từ điển âm nhạc của Broxa và được
Goethe đưa vào văn học ( Về thi ca tự sự và thi ca kịch nghệ).
Trong văn học dân gian, motif là yếu tố không thể phân chia nhỏ hơn của văn bản,
ngôn bản, là những sự vật, hình ảnh, đơn vị nhỏ nhất của cốt truyện dân gian.
Các motif thường chuyển dịch theo thời gian, thay đổi hàm nghĩa qua từng thời đại.
Các motif văn học, gần giống motif thần thoại luôn đi vào kinh nghiệm tinh thần của văn
học nhân loại.
Theo Nguyễn Tấn Đắc, Stith Thompson đã viết trong Standard Dictionary of
Folklore: “motif là thuật ngữ chỉ bất kì một phần nào mà ở một tiết ( item) có thể phân tích
ra được. Trong nghệ thuật dân gian có motif của hình phác họa ( deign), là những hình mẫu
thường lặp lại hoặc kết hợp với những hình mẫu khác theo một kiểu cách riêng biệt nào đó.
Trong âm nhạc và bài hát dân gian cũng có những khuôn nhạc giống nhau thường trở lại
luôn. Lĩnh vực mà motif được nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể
dân gian như các loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad. [ Nguyễn Tấn Đắc,
2001, tr.26-27]
Motif truyện kể đôi khi là những khái niệm rất đơn giản, thường gặp trong truyện kể
truyền thống. Bản thân của một motif cũng có thể là một mẫu kể ngắn và đơn giản, một sự
việc đủ gây ấn tượng hoặc làm vui thích cho người nghe. Thuật ngữ motif muốn trở thành
một phần thật sự của truyện thì bản thân nó phải làm cho người ta nhớ và lặp đi lặp lại, nó
phải khác với cái chung chung.
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu motif trong truyền thuyết và truyện cổ tích
* Trường phái Phần Lan và phương pháp biên soạn tư liệu về truyện dân gian theo
type và đặc biệt là motif.
Trường phái Phần Lan (Finnish Method) là trường phái chuyên nghiên cứu folklore
( từ đây thuật ngữ folklore được chúng tôi dùng với nghĩa là “ văn hóa dân gian”), được
khởi xướng bởi các nhà nghiên cứu folklore Phần Lan là Julius Leopold Fredrik Krohn
(1835-1888), giáo sư văn học Phần Lan ở Đại học Tổng hợp Helsinki. Con ông, Kaarle
Krohn (1863-1933), giáo sư ngành Folklore so sánh của trường Đại học Tổng hợp Helsinki,
25
Chủ tịch Hội Văn học Phần Lan đã kế thừa phương pháp so sánh của cha mình vào việc
nghiên cứu truyện cổ tích.
Năm 1887, Kaarle Krohn bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về đề tài “ Con gấu (
hoặc chó sói) và con cáo”. Trong luận án này, ông đã khảo sát về cốt truyện về con gấu (
sói) dùng đuôi để câu cá trong hố băng. Ông đã đối chiếu so sánh tất cả các dị bản của
truyện, xem xét tỉ mỉ mỗi motif của truyện. Từ đó, ông tái lập nguyên bản của nó, xác lập
quê hương của cốt truyện này là Bắc Âu. Ông khẳng định dân tộc nào cũng có khả năng
sáng tạo truyện cổ tích đặc trưng của mình.
Năm 1901, Kaarle Krohn tham gia sáng lập Hiệp hội quốc tế các nhà folklore học.
Công trình Phương pháp nghiên cứu folklore được xem là tôn chỉ của hội. Năm 1910, Anti
Aarne (1867-1925), học trò của Kaarle Krohn đã áp dụng phương pháp của thầy mình tiếp
tục nghiên cứu sâu hơn về truyện cổ tích, xuất bản Sách tra cứu về các kiểu truyện dân
gian.
Năm 1927, trường phái này khi du nhập vào Mĩ đã phát triển mạnh mẽ nhờ Stith
Thompson (1885-1976), giáo sư tiếng Anh của trường đại học Indiana, người có công thành
lập Viện Folklore đầu tiên ở nước Mỹ thuộc trường đại học Indiana vào năm 1942. Ông đã
mở rộng bảng tra type được lập nên bởi Antti Aarne, xuất bản năm 1910 thành Những kiểu
truyện cổ tích dân gian. Ông đã lập nên được một bảng phân loại các motif trong 23 chương
từ A đến Z. Trong bảng phân loại của công trình type truyện mà Thompson phát triển từ A.
Aarne, có thể thấy rõ bước tiến của Thompson trong ý đồ tìm tòi những quy luật của truyền
thống tự sự của văn học thế giới được hình thành từ văn học dân gian.
Về phương pháp nghiên cứu theo type và motif, theo Lê Chí Quế giới thiệu trong
“Trường phái VHDG Phần Lan-những nguyên tắc lí luận và khả năng ứng dụng”, các nhà
nghiên cứu theo trường phái này đã tiến hành sưu tầm càng nhiều càng tốt các dị bản truyện
từ các tài liệu văn học cổ đại, trung đại, các văn bản truyện dân gian đã sưu tầm và công bố
ở các nước. Họ lập nên bảng tra rồi tiến hành so sánh, phân tích tài liệu để tìm ra bản cổ
nhất. Đối tượng phân tích của các nhà nghiên cứu này là cốt truyện với các thao tác phân
tích các thành phần hợp thành của cốt truyện, các motif và các biến dạng của các thành phần
đó. Trên cơ sở đó, họ xác định được nơi phát tích của một truyện cổ và vạch ra con đường
địa lí của sự lưu truyền truyện cổ ấy. Họ đã tạo nên một phương pháp nghiên cứu folklore
mới: phương pháp địa lí- lịch sử (Historic- geographic Method).
* Những ưu điểm của phương pháp địa lí- lịch sử
26
Trong việc nghiên cứu truyện kể trên phạm vi toàn thế giới như thế thì motif có ích
dụng hơn những type truyện trọn vẹn vì những type truyện thường giới hạn trong một vùng
địa lí hẹp hơn là các motif của truyện kể. Trong việc nghiên cứu, so sánh về motif không hề
bao hàm quan hệ về lịch sử. Quan hệ về lịch sử có khi có, khi không. Mặt khác việc nghiên
cứu một type truyện trọn vẹn luôn liên quan đến việc khẳng định hay phủ định mối liên hệ
lịch sử giữa các dị bản biến thể.
Theo Nguyễn Tấn Đắc, mặc dù mọi motif đều thuộc về một type truyện riêng biệt và
việc tìm tòi lịch sử của các motif trước khi chúng xuất hiện trong những truyện kể dân gian
riêng biệt đôi lúc là vô ích nhưng hiện nay một sự nghiên cứu sâu các motif cũng có thể rọi
chút ánh sáng vào cái tiền sử của type truyện. Một số motif rõ ràng có tính phổ biến và là
nguyên liệu để xây dựng các type truyện, một số motif chuyên biệt trong những type truyện
mà chúng là một phần gắn liền. [ Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr.26-29]
Đối với người nghiên cứu muốn tìm hiểu rộng ra nhiều nền văn hóa khác nhau thì
việc nghiên cứu motif rất quan trọng để chỉ ra mối quan hệ quốc tế. Đôi khi chúng chỉ có
tính chất logic, chẳng qua là do quá trình tư duy giống nhau giữa các nơi trên thế giới mà
thôi. Đôi khi chúng có tính chất lịch sử và cho thấy được con đường dẫn dắt từ truyện này
đến truyện khác hoặc là chúng có một nguồn gốc chung. Bảng tra type và motif tựa như một
tấm bản đồ, chỉ ra lối đi nhanh chóng để có cái nhìn tổng quát về một vùng miền đặc biệt,
một dân tộc hay một vùng nhỏ hẹp nào đó. Các nhà folklore ở mỗi nước có thể hệ thống
hóa, lập một “bản đồ” văn học dân gian nước mình, trên cơ sở đó chỉ ra sự tương đồng và
khác biệt của văn học dân gian từng khu vực với văn học dân gian thế giới.
* Những hạn chế của phương pháp địa lí- lịch sử
Phương pháp địa lí- lịch sử chủ yếu là xem xét, nghiên cứu, so sánh các văn bản đã
được công bố. Song văn học dân gian nói riêng, văn hóa dân gian nói chung luôn tồn tại và
vận động không ngừng theo thời gian và không gian, đặc biệt là những biến chuyển trong xã
hội con người. Văn học dân gian vẫn sống trong lòng cuộc sống hôm nay, trong những xã
hội tiền công nghiệp, trong lễ hội, tín ngưỡng, diễn xướng,… Đồng thời, phương pháp này
chủ yếu thành công khi nghiên cứu các nền văn minh nguyên thủy. Chính vì thế nó khá
khiên cưỡng khi áp dụng vào việc nghiên cứu văn học dân gian trong xã hội công nghiệp
hiện đại. Vì vậy, cách nghiên cứu này còn mang nặng tính siêu hình, tĩnh tại.
Ngoài ra, theo Chu Xuân Diên, cách xác định vùng địa lí của sự hình thành cốt
truyện cũng chưa hợp lí. Trường phái này nhận định rằng quê hương cốt truyện được căn cứ
vào số lượng cao nhất của dị bản ở một dân tộc nào đó. Tuy nhiên, số lượng dị bản sưu tầm
27
được lại phụ thuộc vào tình hình sưu tầm, điền dã nên nó không thể phản ánh chính xác
được.[ Chu Xuân Diên, 2001, tr. 254].
Mặt khác, trong khi ứng dụng thành tựu của phương pháp này để biên soạn tài liệu
truyện cổ của nước mình, bên cạnh việc thừa nhận “sự chỉ đường” của nó, một số nhà
nghiên cứu đã nhận thấy nhiều “vênh lệch” khi lấy khung chuẩn A-T lắp vào kho tư liệu địa
phương. Bởi như Kaarle Krohn đã nói rằng bất kể dân tộc nào cũng có khả năng sáng tạo
nên những câu truyện cổ tích của riêng mình. Vì vậy, một “cái khuôn” không thể vừa với tất
cả các sự vật dù là cùng loại, cùng nguồn gốc. Đồng thời, cốt truyện không thể được hình
thành hoàn chỉnh chỉ tại một địa điểm, một thời gian xác định. Nó có khả năng hình thành
một cách độc lập với nhau ở những nơi có điều kiện tương đồng với nhau ( về mặt tự nhiên,
xã hội, sản xuất, văn hóa,…), chưa nói đến khả năng một cốt truyện này vốn có nguồn gốc
ban đầu từ một cốt truyện khác được tách ra.
* Phương pháp nghiên cứu motif ( gắn liền với type) trong truyền thuyết và truyện cổ
tích nói riêng và văn học dân gian nói chung hiện nay
Là một trong những đại diện tiêu biểu của trường phái Phần Lan, S. Thompson đã thể
hiện bước chuyển biến quan trọng từ một nhà cổ tích học tiến tới nhà tự sự học. Ông không
chỉ dừng lại nghiên cứu truyện cổ tích từ góc độ cấu trúc ngôn từ (type, motif) mà đã hướng
tới nghiên cứu nó từ góc độ nguyên tắc tổ chức văn bản (tự sự học) và trong một chừng mực
nào đó, còn từ phương diện văn hóa học. Nghiên cứu sự vận động này, Thompson chỉ ra sự
đan xen các thể loại, trong đó, truyện cổ tích đóng vai trò là nhân vật trung tâm. Và cuối
cùng, theo sở trường của mình, ông quay về cốt truyện để nghiên cứu chứ không phải là đặc
trưng thể loại. Bởi vì theo ông, vấn đề thể loại chỉ mang tính tương đối. Và trong thực tế,
những văn bản không thuộc về hoàn toàn một thể loại nào mà mang nhiều đặc trưng thể
hiện sự giao thoa thể loại, khó xác định được đặc trưng chính, chi phối tác phẩm. Truyện cổ
tích trở thành thần thoại, thành truyện động vật, hoặc có khi lại trở thành truyền thuyết. Bởi
vì các câu chuyện được lưu truyền từ nhiều thời đại khác nhau, từ nhiều nơi khác nhau,
truyền từ thời cổ đại đến với chúng ta ngày nay hay từ chúng ta lại trở về thời nguyên thủy
và khi di chuyển, chúng thường thay đổi về phong cách và mục đích. Và bởi vì cấu trúc cốt
truyện (plot structure) của truyện kể bền vững hơn và ổn định hơn là hình thức của chúng.
Bên cạnh đó, ông cũng chỉ ra việc cần nghiên cứu chức năng của truyện kể trong đời sống
của những người kể chúng và nghe chúng; nghiên cứu bản chất của nghệ thuật này ở nhiều
thời điểm khác nhau của nhiều vùng miền khác nhau.
Như vậy, phương pháp này đã bắt đầu thay đổi về quy trình và về chất. Trước tiên,
chúng ta cần tiến hành nghiên cứu các hình thức tự sự của văn bản để chỉ ra những sự điểm
28
giao nhau về thể loại của văn bản. Sau đó, quay về nghiên cứu cốt truyện cũng như các
thành tố tạo nên cốt truyện mà tiêu biểu là motif. Cuối cùng nhà nghiên cứu tiến hành vận
dụng nghiên cứu các motif này trong môi trường tồn tại của nó- môi trường diễn xướng ở
các vùng thuộc trung tâm và ngoại vi của cốt truyện. Theo đó,các nhà nghiên cứu chủ yếu
coi văn bản như một yếu tố tham chiếu chứ không phải là toàn bộ tư liệu nghiên cứu.
Từ đó, có thể thấy, phương pháp nghiên cứu văn học dân gian nói chung và truyền
thuyết, truyện cổ tích nói riêng theo type và motif không còn dựa vào cơ sở duy nhất là
phương pháp địa lí- lịch sử. Các nhà nghiên cứu ngày nay thường ứng dụng thao tác liên
ngành trong nghiên cứu lĩnh vực này.
Trước hết, nghiên cứu truyền thuyết và truyện cổ tích cần sử dụng kết hợp phương
pháp nghiên cứu dưới ánh sáng của trường phái thi pháp lịch sử ( école poétique-
historique). Đại diện tiêu biểu cho trường phái này là nhà ngữ văn học A.N. Vêxêlôpxki.
Vêxêlôpxki đã tiến hành nghiên cứu về “ song hành tâm lí” ( mối quan hệ giữa tâm trạng
con người và các hiện tượng tự nhiên). Cơ sở của biện pháp nghệ thuật này là sự cảm nhận
thế giới có tính vật linh luận của người nguyên thủy. Ông xác định nhiều motif và cốt truyện
có liên hệ chặt chẽ với sự nhận thức thế giới và đời sống của người nguyên thủy như vật
linh luận, totem giáo, hôn nhân ngoại tộc, chế độ mẫu hệ và phụ hệ, thiết chế quyền em
út,…). Đây là một sự kết hợp hợp lí giữa văn học dân gian, văn học viết và dân tộc học.
Tác phẩm văn học dân gian vốn là một sáng tác nghệ thuật ngôn từ. Vì vậy, dùng hệ
thống thi pháp của văn học viết soi rọi vào tác phẩm văn học dân gian là điều khiên cưỡng
chứ không phải là không thể. Vấn đề là nhà nghiên cứu phải thật thận trọng trong thao tác
và quá trình xem xét, nghiên cứu các đặc trưng chung của văn học dân gian và văn học viết,
đồng thời tỉnh táo nhận ra những đặc trưng riêng biệt của văn học dân gian. Từ đó có những
sự ứng dụng hợp lí, chừng mực. Theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, Propp khẳng định “
việc phân tích văn học chỉ có thể xác định được các hiện tượng và tính quy luật của thi pháp
folklore chứ không có hiệu lực gì trong việc giải thích các hiện tượng và quy luật ấy” [ Chu
Xuân Diên, 2001, tr. 67].
Tuy nhiên, cũng theo Propp, việc áp dụng nghiên cứu folklore bằng thi pháp học chỉ
chủ yếu hỗ trợ cho nhà nghiên cứu trong việc mô tả, phân tích các dữ kiện. Để có thể giúp
cho nhà nghiên cứu có thể giải thích các hiện tượng và quy luật của folklore, chúng ta phải
sử dụng đến tri thức về dân tộc học. Đặc biệt là đối với việc nghiên cứu motif, dân tộc học
càng đóng vai trò quan trọng. Các dữ liệu dân tộc học về những quan niệm và thực hành
29
nghi lễ chính là cơ sở, nền tảng nảy sinh của các motif như motif hóa thân, motif trợ thủ
thần kì,…Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu những hình thái đầu tiên
của motif, các tài liệu này còn là nền tảng để nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá về quá trình
biến đổi của motif nói riêng và các phương diện nghiên cứu khác như thể loại, chủ đề,..nói
chung. Theo Chu Xuân Diên, Propp đã khẳng định “ dân tộc học là cái nền của việc nghiên
cứu folklore, và không có cái nền ấy thì việc nghiên cứu folklore sẽ như treo lơ lửng trong
không khí” [ Chu Xuân Diên, 2001, tr.69].
Song cần chú ý, folklore không phản ánh các dữ liệu dân tộc học này một cách trực
tiếp, dung tục mà giữa chúng có những quy luật chuyển hóa lẫn nhau theo cả hai chiều tác
động qua lại. Cơ chế chuyển hóa của chúng chính là mục đích cần hướng tới khi phân tích
các dữ liệu dân tộc học có liên quan đến việc nghiên cứu văn học dân gian nói chung và
motif nói riêng.
Tiểu kết
Nhìn chung, hai thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích là hai thể loại đã được quan
tâm và nghiên cứu ở nhiều phương diện. Từ định nghĩa thể loại cho đến các vấn đề thi pháp
cũng như phương pháp luận nghiên cứu. Về mặt này, đáng chú ý hơn cả là vấn đề tiếp nhận
truyện kể cũng như nhân vật người kể chuyện, vấn đề “trường”. Đồng thời, người viết cũng
khái quát lại hai thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh. Qua đó, bước đầu
nhân diện được diện mạo đặc trưng của truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh so với
các dân tộc khác mà tiêu biểu là hai dân tộc có dân số khá đông là dân tộc Chăm và Khmer.
Đó là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân, chất trí tuệ sâu sắc và sự pha trộn giữa tín
ngưỡng bản địa với Nho- Phật- Đạo. Về mặt phương pháp nghiên cứu motif thi tài của hai
thể loại trên, người viết đề cập đến lịch sử, quá trình phát triển và đổi mới của chúng trên
quan điểm thừa nhận những hạn chế cũng như cố gắng phát huy những thuận lợi của nó.
Những nội dung này sẽ là nền tảng cơ sở về mặt lí luận cho việc triển khai nội dung ở
chương sau.
30
Chương 2. PHÂN LOẠI MOTIF THI TÀI TRONG TRUYỀN
THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH
Ở chương này, chúng tôi sẽ tiến hành nhận diện motif thi tài trong truyền thuyết và
truyện cổ tích dân tộc Kinh từ cái nhìn hệ thống với nhân vật thi tài, nội dung thi tài và kết
quả thi tài trong mối tương quan với cốt truyện của truyền thuyết và truyện cổ tích tộc Kinh.
Nhờ đó, chúng tôi sẽ có được cái nhìn toàn diện hơn về motif thi tài. Đồng thời chúng tôi
cũng khám phá được những đặc điểm riêng biệt của các nội dung này ở mỗi thể loại.
2.1. Xét từ nhân vật thi tài
Nhân vật thi tài là chủ thể của hành động thi tài. Các loại nhân vật thi tài trong truyền
thuyết và truyện cổ tích được chúng tôi phân loại nghiên cứu theo đặc trưng thi pháp của hai
Bảng 2.1. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh
thể loại này. Các loại nhân vật thi tài với nhau được phân loại theo bảng thống kê sau:
Số lượng Tỉ lệ phần Số lượng bản Tỉ lệ phần bản kể trăm trong kể trong trăm trong trong Các kiểu nhân vật thi tài truyền truyền thuyết truyện cổ truyện cổ thuyết / 23 bản tích tích / 26 bản
Thần ( bán thần) thi tài với 4 17% 0 0% nhau
Thần ( bán thần) thi tài với 2 8,5% 0 0% người
66% Người thi tài với nhau 15 16 61,5%
Người và vật thi tài với nhau 2 8,5% 1 3.8%
Loài vật thi tài với nhau 0 0% 9 34.7%
2.1.1. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyền thuyết
* Thần hoặc bán thần thi tài với nhau
Loại nhân vật thi tài này chiếm số lượng ít trong tổng số truyền thuyết có motif thi
tài, chiếm 17% trên tổng số bản kể. so với truyện cổ tích, nhân vật thần hay bán thần xuất
hiện chủ yếu trong thể loại truyền thuyết nên loại nhân vật thi tài dạng này cũng là đặc trưng
của thể loại truyền thuyết. Trong các cơ tầng văn hóa lắng đọng ở truyền thuyết, loại nhân
31
vật thần hay bán thần thuộc về tầng sâu nhất. Chính vì vậy, loại nhân vật thi tài này chiếm
số lượng ít là điều dễ hiểu.
Bảng 2.2. Nhân vật thần và bán thần thi tài với nhau trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Dấu chân người xưa Các chàng Khổng Lồ
2 Giếng Tiên Tiên Ông- Tiên Bà
3 Sơn Tinh, Thủy Tinh Sơn Tinh- Thủy Tinh
4 Sự tích ba ông đá Tiên Nam- Tiên Nữ
Các nhân vật loại này là những nhân vật có nguồn gốc từ thần thoại nên còn mang
những nét chất phác, đơn giản. Họ ít được khắc họa về mặt ngoại hình mà chủ yếu là ở hành
động. Họ thường có những hành động gần gũi về mặt tính chất với con người.
Nhân vật Thủy Tinh và Sơn Tinh trong truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh” thi tài
với nhau để tranh giành nàng Mị Nương xinh đẹp. Cả hai cùng ngang tài. Cuối cùng, đáp
ứng đầy đủ điều kiện sính lễ vua Hùng đưa ra, lại mang đến sớm nhất, Sơn Tinh cưới được
vợ. Thần Biển Thủy Tinh tức giận, đem quân đuổi theo, gây nên trận lũ lụt nhấn chìm kinh
đô Phong Châu. Lại thất bại trước Sơn Tinh, Thủy Tinh nuôi hận nên năm nào cũng dâng
nước gây lũ. Là một vị thần những rõ ràng ngài cũng ghen tuông, căm hờn, nuôi hận thù
như một con người thực thụ trong chuyện tình cảm lứa đôi.
Truyền thuyết về những chàng trai Khổng Lồ thi nhau ném đá, kiến tạo nên địa hình
vùng Tây Sơn trong “Dấu chân người xưa” cũng mang tính chất rất “người”. Họ cùng khao
khát cưới được người con gái Ba-na đẹp nhất nên không ngại khó khăn, vất vả ném đá. Dù
không biết rõ, sau cùng ai là người chiến thắng nhưng khát vọng hạnh phúc lứa đôi của trần
thế vẫn cháy bỏng bên trong những vị thần Khổng Lồ bước ra từ tru này.
Cũng là cuộc thi tài xây dựng, kiến tạo địa hình, các vị Tiên Nam trong “Sự tích ba
ông đá” lại lười biếng không hoàn thành nhiệm vụ. Các chàng đều ỷ lại vào sức mạnh của
mình nên chểnh mảng trong khi các Tiên Nữ lại chăm chỉ, hoàn thành nhiệm vụ đúng hạn
và quay về Trời. Lúc này các Tiên Nam mới bối rối, xây dựng địa hình cẩu thả, qua loa,
chiếu lệ. Vì thế địa hình vùng Châu Đốc mới có ngọn Thất Sơn hùng vĩ bên cạnh những
ngọn đồi, mỏm đá lỏm chỏm. Bản tính lười biếng, chủ quan, cẩu thả của con người trần thế
được thể hiện thật sinh động và chân thật.
Hay dù là những vị thần tiên trên trời nhưng Tiên Ông và Tiên Bà trong truyền thuyết
“Giếng Tiên” cũng cãi nhau vì những chuyện vặt vãnh thường ngày. Tiên Bà giặt lụa than
32
phiền trâu của Tiên Ông làm bẩn dòng sông, Tiên Ông cũng chẳng phải tay vừa, ông đổ tội
tại Tiên Bà giặt lụa nên trâu của ông không có chỗ uống nước. Cả hai không ai chịu nhường
ai nên Ngọc Hoàng phải ra lệnh hai Tiên cùng thi tài đào giếng. Ở đây, hình ảnh của những
con người thôn quê ngày ngày chăn trâu, dẫn trâu ra bờ sông uống nước, giặt áo dường như
đã đi vào trong truyện kể, trở thành những vị Tiên Ông, Tiên Bà trên thiên giới.
Nhân vật bán thần này thường có nguồn gốc từ nhân vật trong thần thoại với đặc
trưng tiêu biểu là thi tài trong việc kiến tạo tự nhiên. Thần thoại dân tộc Kinh đã ghi lại cuộc
thi tài của “Tứ Tượng và Nữ Oa” trong việc đắp núi. Hay các nhân vật Ải Lậc Cậc, Ông
Đùng Bà Đùng,…trong thần thoại của các tộc người thiểu số. Theo thời gian, các nhân vật
thần thoại này đã mang những nét tính cách của con người trong hình hài nhân vật truyền
thuyết.
Khi nghiên cứu về nhóm truyền thuyết này, các nhà nghiên cứu thường có nhiều ý
kiến khác nhau về việc xếp các văn bản này vào thể loại thần thoại hay truyền thuyết. Đơn
cử ở đây xin đưa ra trường hợp về văn bản “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Nguyễn Tấn Đắc trong
“Đọc lại Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh xác định văn bản này là thần thoại, tái hiện “những
cuộc chiến tranh cướp đoạt đàn bà” thời cổ [ Nguyễn Tấn Đắc, 2001, tr.122]. Nhân vật
chính trong truyện này là hai vị thần núi và thần biển. Tuy nhiên, khi xét về mặt không gian
và thời gian trong truyện thì văn bản này thể hiện rõ đặc trưng thi pháp của truyền thuyết.
Thời gian được xác định cụ thể là thời vua Hùng Vương XVIII, không gian ở đây là Phong
Châu ( kinh đô của nước Văn Lang). Như vậy, truyện có sự xuất hiện của vua Hùng Vương
XVIII, một nhân vật lịch sử. Hay xét về mặt hệ thống truyện, văn bản này nằm trong hai hệ
thống truyện. Thứ nhất là hệ thống truyện về thời đại các vua Hùng. Thứ hai là hệ thống
truyện về Tản Viên Sơn Thánh, một anh hùng chiến đấu, bảo vệ cho cộng đồng người Kinh
lúc bấy giờ. Tính “kết chuỗi” là một đặc điểm thường gặp của truyền thuyết. Truyện Sơn
Tinh, Thủy Tinh có những đặc điểm thi pháp của truyền thuyết nên văn bản này được xem
là truyền thuyết. Như vậy, bởi đây là những truyền thuyết ra đời sớm, có các nhân vật chính
là thần (bán thần) nên sự nhập nhằng giữa thể loại thần thoại và truyền thuyết là điều dễ
hiểu. Tuy nhiên, dù mang đặc điểm của cả hai thể loại nhưng các văn bản này thể hiện đặc
điểm của truyền thuyết trội hơn. Các truyền thuyết còn lại thể hiện rõ đặc điểm của truyền
thuyết hơn hẳn( so với thần thoại). “ Giếng Tiên” giải thích tên gọi của giếng không bao giờ
cạn ở vùng Châu Đốc, “ Sự tích ba ông đá” giải thích địa hình ở vùng Thất Sơn, Châu Đốc,
33
“ Dấu chân người xưa” giải thích nguồn gốc địa hình ở vùng Tây Sơn. Cho nên, dù có nhân
vật chính là thần nhưng các truyện này vẫn là truyền thuyết thật sự.
* Thần và người thi tài với nhau
Nhân vật thi tài là thần và người thi tài với nhau chiếm số lượng khá khiêm tốn
(8,5%) trên tổng số bản kể nhưng loại nhân vật thi tài này cũng là loại nhân vật thi tài đặc
trưng của thể loại truyền thuyết. Truyền thuyết kể về cuộc thi tài giữa thần và người cũng
được xem là câu chuyện mang tính chất giao thoa giữa thần thoại và truyền thuyết. Lúc này,
các vị thần đã bị kéo lại gần con người hơn. Còn con người bắt đầu mang tầm vóc cao lớn
hơn, có thể sánh ngang với thần linh. Nhân vật con người được khắc họa với những phẩm
chất tài năng về trí tuệ, nghị lực phi thường. Họ luôn chiến thắng thần linh trong cuộc đua
tài. Điều đó thể hiện nhân sinh quan mới của con người lúc bấy giờ. Họ không còn nhân
cách hóa tự nhiên, khiếp sợ, thần phục trước tự nhiên mà dám vươn vai, ngẩng đầu trước
các thế lực siêu nhiên này. Thủ pháp mà các tác giả dân gian sử dụng khi xây dựng hình
tượng con người ở đây là vũ trụ hóa con người. Chỉ có hai bản kể loại này.
Bảng 2.3. Nhân vật thần và người thi tài với nhau trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Truyền thuyết Bà Chúa Xứ Thoại Ngọc Hầu- Bà Chúa Xứ
2 Vua Bà Nhữ Nương- con út vua Thủy Tề
Câu chuyện thứ nhất kể về vị quan thông minh Thoại Ngọc Hầu thi tài với Bà Chúa
Xứ để mang lại bình yên cho người dân. Nhân vật Bà Chúa Xứ ở đây được khắc họa với
bản tính nóng nảy, gắt gỏng như một người phụ nữ khó tính . Còn nhân vật Thoại Ngọc Hầu
thông minh, luôn quan tâm và giúp đỡ người dân. Cuối cùng, Thoại Ngọc Hầu đã chiến
thắng Bà Chúa Xứ. ( “Truyền thuyết Bà Chúa Xứ”)
Câu chuyện thứ hai kể về hai nhân vật là nàng Nhữ Nương và chàng trai vốn là con
út của vua Thủy Tề. Nhữ Nương giỏi tài ca hát, nổi tiếng cả một vùng, đến nỗi thần linh
cũng nghe tiếng, tìm đến thi tài. Sau say mê giọng hát của nàng, vị thần trẻ tuổi cầu hôn.
Nàng Nhữ Nương bối rối không biết làm sao. Nàng bối rối không phải vì khiếp sợ vị thần
mà bởi tình cảm của vị thần trong vẻ ngoài là chàng trai trẻ làm nàng xao xuyến. Ít lâu sau,
nàng đồng ý, họ thành vợ chồng. ( “Vua Bà”) Như vậy, ở đây con người mới là nhân vật
chính được ca ngợi và khẳng định trong khi thần linh lại bị kéo xuống, không còn vẻ uy
nghi, xa cách với con người. Ngoài ra, trong câu chuyện này, nhân vật thi tài là cô gái và
một vị thần nước. Hai nhân vật này gợi nhắc đến tục hiến sinh của người nguyên thủy. Họ
34
thường hiến tế người ( thường là cô gái) cho thần nước lấy làm vợ để cầu mong được mưa
thuận gió hòa. Rõ ràng tục hiến tế này đã bị phủ lên một lớp ý nghĩa mới: cuộc hôn nhân
của cô gái và vị thần say mê tiếng hát của cô.
* Người thi tài với nhau
Nhân vật thi tài là người thi tài với nhau là loại nhân vật chiếm số lượng nhiều nhất (
15 bản) là 66 %. Bởi truyền thuyết là những câu chuyện về những con người trong giai đoạn
lịch sử phong kiến của dân tộc, phản ánh quan niệm của nhân dân về những con người bình
thường nhưng mang tầm vóc của thần linh với sức khỏe phi thường, thông minh tột bậc. Vì
vậy, số lượng nhân vật vô cùng đông đảo và phong phú từ những vị anh hùng lưu danh
trong chính sử cho đến những tập thể, cá nhân vô danh.
Bảng 2.4. Nhân vật người thi tài với nhau trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
Ba ông thợ thổ hay Sự tích Tục 1 Ba anh em chạy hồi loan
2 Bánh chưng-Bánh giầy Lang Liêu - các lang khác
3 Bố Cái đại vương Phùng Hãi - một cô gái anh thư
Gốc tích ruộng thác đao hay là 4 Lê Phụng Hiểu - ông Tuấn (Vồm) truyện - Lê Phụng Hiểu
5 Mạc Đỉnh Chi Mạc Đỉnh Chi - người Tàu
6 Nguyễn Hiền Nguyễn Hiền- Đặng Tính
7 Người thợ mộc Nam Hoa Ông Chuẩn - nhóm xây đình
8 Nữ tướng họ Bùi Bùi Thị Xuân - Trần Quang Diệu
9 Phạm Ngũ Lão Phạm Ngũ Lão - những vệ sĩ
10 Sự tích núi Ông Sập Ông Sập- người đàn bà
11 Sự tích tháp Nhạn Người Việt - người Chiêm
12 Sự tích thành Lồi Người Việt - người Chiêm
13 Sự tích tháp Chàm Người Việt - chúa đất người Chiêm
Khảo dị Sự tích thành Lồi ở Quảng 14 Người Việt - người Chiêm Bình-Thừa Thiên
Tại sao những người già được sống 15 Anh thanh niên - vua nước láng giềng lâu
35
Trước hết là nhóm nhân vật là những bậc kì tài về trí tuệ, thể lực, nghệ thuật và sự
khéo léo. Nhóm các nhân vật này chủ yếu nằm trong loại truyền thuyết lịch sử và truyền
thuyết thần tổ các ngành nghề. Các nhân vật thường được khắc họa chủ yếu về mặt tài năng.
Truyền thuyết “Bánh chưng, bánh giầy” kể về nhân vật Lang Liêu- một vị hoàng tử
của Hùng Vương. Tuy là một hoàng tử nhưng Lang Liêu hoàn toàn xa lạ với cách sống
thông thường của các vị hoàng tử mà chúng ta thường thấy trong những câu chuyện cổ.
Lang Liêu không sống nơi cung điện xa hoa, có kẻ hầu người hạ, chàng sống nơi ruộng
đồng, làm bạn với củ khoai, hạt lúa, với những người bạn nông dân chân chất. Chàng chăm
chỉ trồng lúa, trồng khoai như một người nông dân thực thụ. Chính sự khác biệt này là yếu
tố báo trước sự trợ giúp của trợ thủ thần kì. Dù phải nhờ sự giúp sức của trợ thủ thần kì
nhưng về cơ bản, nhờ những đức tính tốt đẹp vốn có của mình, Lang Liêu mới giành được
chiến thắng đó.
Hay trong câu chuyện về Nguyễn Hiền ( “Nguyễn Hiền”), Mạc Đỉnh Chi ( “Mạc
Đỉnh Chi”), yếu tố tài năng được thể hiện ở đây là tài năng về văn chương, cụ thể là làm
thơ. Trong truyền thuyết về Nguyễn Hiền- vị trạng nguyên trẻ tuổi nhất nước ta, Đặng Tính
là một anh chàng giỏi tài thơ phú nghe danh cậu bé thần đồng đã tìm đến để so tài. Chỉ qua
một câu đối, cậu bé đã làm chàng ta phải tâm phục khẩu phục. Hay Mạc Đỉnh Chi tuy vẻ
ngoài xấu xí nhưng lại vô cùng tài năng. Khi đoàn đi sứ của ông đến trễ, không thể qua cổng
thành, người Tàu đã ra một câu đối. Nếu ông đối được thì họ sẽ mở cổng thành nghênh đón.
Chỉ trong thời gian cực ngắn, ông đối được, khiến cho người Tàu phải khâm phục và đành
chịu mở cổng thành. Các nhân vật này là những nhân vật tài ba theo quan niệm của Nho
giáo. Có thể thấy, nhân dân ca ngợi những con người tài ba của Nho giáo cho thấy được sự
ảnh hưởng, tác động cũng như vai trò to lớn của Nho giáo trong đời sống tinh thần con
người bấy giờ.
Câu chuyện về Phùng Hãi trong “Bố Cái Đại Vương”, Bùi Thị Xuân -Trần Quang
Diệu trong “Nữ tướng họ Bùi”, yếu tố tài năng ở đây là võ nghệ. Phùng Hãi thi tài võ nghệ
cùng với cô gái có chí lớn muốn giết giặc, giành độc lập cho đất nước. Về sau, cả hai thành
vợ chồng, cùng nhau đuổi giặc. Còn Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu cũng thi tài với
nhau. Nhưng không phải để thử tài như Phùng Hãi và cô gái mà họ so tài nhau trong cuộc
thi kén rể của Bùi Thị Xuân. Truyện “Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng
Hiểu” cũng là một cuộc thi tài về thể chất giữa Lê Phụng Hiểu và ông Tuần Vồm. Ở đây,
chúng ta thấy có sự tương đồng với truyện “Nguyễn Hiền”. Ông Tuấn Vồm là một người
36
khỏe mạnh, nghe danh Phụng Hiểu giỏi về môn vật liền tìm đến thi tài. Kết quả, Phụng Hiểu
thắng. Nhân vật Lê Phụng Hiểu được xây dựng như một chàng võ sĩ có thể lực phi thường,
nổi danh xa gần. Nhân vật ông Sập thi tài đắp núi với người đàn bà trong “Sự tích núi Sập”
cũng là một nhân vật đáng chú ý. Việc khi thua cuộc, ông đạp đổ núi của mình thành núi
Sập như ngày nay cho thấy ông cũng là người có sức khỏe phi thường nên có thể “đạp đổ”
cả ngọn núi. Cách xây dựng nhân vật như vậy có thể vốn xuất phát từ cách xây dựng hình
tượng người khổng lồ trong thần thoại, người dũng sĩ trong sử thi chăng?
Gần gũi hơn, nhân vật thi tài chỉ là một ông Chuẩn khéo léo trong việc chạm khắc (
“Người thợ mộc Nam Hoa”). Ông Chuẩn sau một thời gian học hỏi nghề chạm khắc bên
ngoài đã trở về quê hương. Ông thi tài xây đình với nhóm thợ ở tại địa phương. Bằng niềm
đam mê học hỏi không ngừng nghỉ, thêm vào đó là sự khéo léo, ông đã chiến thắng. Con
người ở đây không chỉ được khắc họa về mặt tài năng, sự khéo léo trong lĩnh vực nghề
nghiệp mà còn được nhìn nhận ở sự ca ngợi lòng đam mê, ham học hỏi trong cuộc sống.
Bên cạnh đó là nhóm các nhân vật vô danh, thường ở dạng tập thể đoàn kết với nhau
tạo nên thành công. Nhóm các nhân vật này thường xuất hiện ở loại truyền thuyết địa danh,
truyền thuyết phong vật. Những tập thể nhân vật này có thể là đại diện cho cả tộc người
Kinh trong việc giành đất, mở mang bờ cõi trong cuộc Nam tiến thông qua các cuộc thi xây
tháp, xây thành với tộc người Chăm ( “Sự tích thành Lồi”, “Sự tích tháp Chàm”,…). Nhóm
truyện này kể lại cuộc thi tài xây tháp, đôi khi là xây thành, trồng tre và điêu khắc con bò
bằng đá…trong cuộc xung đột về lãnh thổ với tộc người Chăm. Nhóm nhân vật là tộc người
Kinh luôn thể hiện sự ranh mãnh, mưu mẹo trong cuộc thi tài. Chính sự ma mãnh này đã
giúp họ luôn là người chiến thắng. Còn nhóm nhân vật tộc người Chăm luôn được khắc họa
là những con người trung thực, chăm chỉ. Họ nghiêm chỉnh tiến hành phần thi của mình,
không dùng mưu chước nên bị thất bại. Với cách khắc họa nhân vật như vậy, nhân dân đã
cho chúng ta thấy cái nhìn thẳng thắn, trung thực khi đánh giá về bản thân (dân tộc Kinh) là
kẻ ranh mãnh và người anh em (tộc người Chăm) là những người chân thành, có trách
nhiệm với công việc của mình.
Ngoài ra các nhân vật thi tài còn là những cá nhân thi tài với nhau. Ba anh em chạy
thi với nhau trong “Ba ông thợ thổ hay Sự tích Tục chạy hồi loan” xem ai về đến nhà trước
thì được giữ thanh gươm báu. Đây chính là biểu hiện sinh động của tình anh em yêu thương
và nhường nhịn lẫn nhau. Bởi ai cũng nhường nhau quyền sở hữu thanh gươm báu nên cuối
cùng họ nảy ra ý định chạy thi để phân xử. Tuy họ là những người vô danh nhưng lòng dũng
37
cảm, nghị lực, thông minh và tinh thần mến chuộng hòa bình, giải quyết tranh chấp, mâu
thuẫn bằng con đường hữu nghị luôn là tấm gương sáng, tạo nên chức năng giáo dục của
truyền thuyết.
* Nhân vật người và vật thi tài với nhau
Bảng 2.5. Nhân vật người thi tài với vật trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Ngư thần Võ Cố Võ Cố- con giải
2 Trạng Vật Lành- con voi của vua
Ở truyền thuyết, nhân vật thi tài là con vật thường là loài vật thần kì hay ít nhất cũng
là loài vật có linh tính, thi tài với con người, chiếm 8,5 %. Song nhân vật chính là con
người, nhân vật là con vật tuy mang tính chất thần kì nhưng chỉ đóng vai trò là đòn bẩy
nhằm nâng cao nhân vật thi tài là con người. Yếu tố ca ngợi con người ở loại truyền thuyết
này rất rõ nét. Họ thường được ca ngợi với những phẩm chất cao quý của người anh hùng
như yêu thương con người, giàu nghị lực, có lòng tự trọng và tính kiên nhẫn. Chàng Võ Cố
(“Ngư thần Võ Cố”) vì xót thương dân làng nên không ngại hiểm nguy chiến đấu với con
giải. Chàng không ngại gian khó, kiên trì thi bơi cùng nó suốt nhiều tháng trời và sau cùng
chiến thắng. Nhờ tài bơi lội đã được tôi luyện cùng con giải, chàng đi theo Sơn Tinh chống
giặc. Sau khi “ngài hóa”, Võ Cố được phong làm Ngư thần. Hay Lành trong “Trạng Vật” vì
tức giận con voi của vua kiêu căng, hống hách với con người nên quyết chí ra tay trừng trị.
Chàng thi đấu với con voi suốt nhiều ngày liền. Cuối cùng, chàng Lành chiến thắng, được
phong Trạng Vật từ đó.
*Nhân vật là loài vật thi tài với nhau
Trong truyền thuyết, loại nhân vật là loài vật thi tài với nhau không xuất hiện.
* Nhận xét:
Trong truyền thuyết, kiểu nhân vật thi tài giữa người và người là loại nhân vật thi tài
chiếm tỉ lệ cao nhất là 66%. Nhân vật là loài vật thi tài với nhau không xuất hiện trong thể
loại truyền thuyết.
2.1.2. Các kiểu nhân vật thi tài trong truyện cổ tích
* Nhân vật thần (bán thần) thi tài với nhau
Trong thể loại truyện cổ tích, kiểu nhân vật thần (bán thần) không xuất hiện.
* Nhân vật thần ( bán thần) và người thi tài với nhau
Nhân vật thần và người thi tài với nhau không xuất hiện trong thể loại truyện cổ tích.
*Nhân vật người thi tài với nhau
38
Đầu tiên, chúng tôi tiến hành khảo sát kiểu nhân vật các chàng trai tài ba thi tài với
nhau.
Bảng 2.6. Nhân vật người thuộc kiểu các chàng trai tài ba thi tài với nhau
trong thể loại truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
Ba chàng trai giỏi bắn cung, bơi lội, thầy 1 Ba chàng trai tài ba thuốc
2 Cái trống của Thần Nông Ba chàng trai bắn nỏ, khâu vá, chạy nhanh
Bốn chàng hay chữ, giỏi võ, đan giỏi và 3 Một cuộc tranh tài chàng nông dân
4 Người đầy tớ và người ăn trộm Trần Lực và Lê Đô
Hình tượng các chàng trai tài ba là một trong những tiểu loại nhân vật của kiểu nhân
vật dũng sĩ trong truyện cổ tích. Loại nhân vật này thường thể hiện những biệt tài riêng rất
phong phú, có thể thiên về thể chất, trí thông minh hoặc sự khéo léo,…
Ở đây, dường như nhân vật có biệt tài này đã thâu tóm hầu hết các đặc điểm thường
gặp ở kiểu nhân vật dũng sĩ: biệt tài về thể chất như chạy, bắn cung, tài năng về mặt trí tuệ
như hay chữ, giỏi nghề thuốc, biệt tài về khả năng thuần thục, khéo léo trong một lĩnh vực,
ngành nghề như thợ đan nong, …trong các câu chuyện như “Cái trống của Thần Nông”,
“Một cuộc tranh tài”,… “Cái trống của Thần Nông” kể về ba chàng trai giỏi bắn nỏ, khâu
vá và chạy nhanh. Cả ba anh chàng cùng thể hiện biệt tài cảu mình. Ai hoàn thành phần thi
của mình trước sẽ được cưới cô gái đẹp làm vợ. Hai anh chàng bắn nỏ và khâu vá thực hiện
tại nhà cô gái, riêng anh chàng chạy nhanh phải sang một nơi xa xôi mua cái trống của Thần
Nông. Anh ta cố chạy nhanh hết sức để hoàn thành nhiệm vụ. Giữa đường, anh gặp một bà
lão, anh vui vẻ giúp đỡ bà, xong việc thì đã muộn, anh buồn bã. Bà lão hóa thành bà tiên và
tặng anh chiếc trống. Anh chàng có biệt tài chạy nhanh thắng cuộc. “Một cuộc tranh tài” kể
về bốn anh chàng hay chữ, giỏi võ, đan giỏi và chàng nông dân. Ba anh chàng đầu tiên sẽ
thể hiện biệt tài của mình trong các lĩnh vực mà mình thuần thục, riêng chàng nông dân phải
đi mua cái trống ở bên Tàu. Chàng nông dân cố chạy thật nhanh nhưng vẫn không kịp nên
ngồi khóc. Mọi người thấy vậy liền mua tặng anh ta cái trống. Anh ta thắng cuộc.
Đặc biệt, “Người đầy tớ và tên ăn trộm” là những nhân vật khá đặc biệt trong kiểu
nhân vật thi tài này. Đây là câu chuyện dí dỏm về cuộc thi tài của hai chàng trai cùng muốn
lấy một cô gái làm chồng. Cả hai chàng đều là những con người thông minh: chàng ăn trộm
thiên về sự lươn lẹo, ranh mãnh, còn chàng đầy tớ là người thông minh, tinh ý. Chàng ăn
39
trộm lừa lấy được cái áo của một cô dâu mới về nhà chồng. Chàng đầy tớ lừa được chủ
mình cho chàng ăn trộm một bữa rượu thịt no say. Đúng là kẻ tám lạng, người nửa cân. Hai
nhân vật này là loại nhân vật trung gian giữa kiểu nhân vật có biệt tài và kiểu nhân vật thông
minh mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
Hình tượng các chàng trai tài ba đã xuất hiện từ rất sớm trong thể loại thần thoại
thông qua hình tượng khổng lồ. Theo sự biến đổi của xã hội loài người, hình tượng khổng lồ
trong thần thoại dần chuyển thành hình tượng người dũng sĩ trong sử thi và truyền thuyết. Ở
đây, thủ pháp chủ yếu là vũ trụ hóa con người, tức là nâng tầm vóc con người ngang với
thần linh, con người là trung tâm của vũ trụ.
Tóm lại, điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là hình tượng dũng sĩ đã xuất hiện từ rất
sớm với các chàng dũng sĩ như Hercules, Rama,…Ở đây có một sự chuyển hóa giữa các thể
loại với nhau. Bên cạnh đó, kiểu nhân vật này thể hiện sự vận động của quan niệm về người
chiến thắng trong các nhiệm vụ: không nhất thiết phải có sức khỏe, nguồn gốc thần kì mới
hoàn thành nhiệm vụ mà chỉ cần sự thành thạo, tinh thông về một lĩnh vực ngành nghề nào
đó cũng đủ làm nên sức mạnh, giúp họ có thể thực hiện những việc làm có ích, việc làm
nghĩa hiệp giúp đỡ cho mọi người, thực hiện vai trò và chức năng của mình. Quan niệm này
xuất hiện khi trình độ sản xuất xã hội đã phát triển đến giai đoạn cao hơn, các ngành nghề
thủ công, y đã phát triển mạnh, phổ biến trong đời sống. Vì vậy, hình tượng nhân vật các
chàng trai tài ba xuất hiện muộn hơn các kiểu nhân vật dũng sĩ khác.
Thứ hai, chúng tôi khảo sát kiểu nhân vật thi tài thuộc kiểu nhân vật bất hạnh , nhân
vật chính thi tài với các nhân vật phụ
Bảng 2. 7. Nhân vật thi tài là người thuộc kiểu nhân vật bất hạnh và không bất hạnh trong
truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
Chàng đốn củi Chàng đốn củi- các hoàng tử khác 1
Chuyện Nàng Út Nàng Út- các nàng dâu khác 2
3 Mũi dài Đê - lũ bạn
4 Nàng Út Nàng Út- vợ các hoàng tử khác
5 Người lấy cóc Cóc- các cô vợ của bạn chồng
6 Phò mã bị tật Hai người- một người bị tật
7 Tấm Cám Tấm - Cám
40
Trước tiên, các nhân vật bất hạnh là những người có hình dạng xấu xí như người
mang lốt vật, người có ngoại hình nhỏ bé,….trong “Người lấy cóc”, “Nàng Út”, “Chuyện
nàng Út”. Vì vậy, họ thường phải đối mặt với những sự kì thị, khinh thường và xa lánh của
xã hội ngay từ lúc sinh ra. Nàng Cóc bị cha mẹ toan ném đi, lớn lên cha mẹ bắt đi trông
ruộng lúa; nàng Út thì bị bỏ mặc trong rừng dưới hình thức trông dưa cho gia đình. Những
nhân vật này đã bắt gặp được hạnh phúc một cách ngẫu nhiên. Nàng Cóc sống hạnh phúc
với chàng học trò chân thật, nàng Út trở thành vợ hoàng tử. Tuy nhiên, họ phải trải qua cuộc
thi tài nấu cỗ, may áo và nhất là thi sắc đẹp với các nhân vật bình thường khác. Tuy nhiên,
thông qua những thử thách này, họ khẳng định được tài năng của mình khi có thể thắng
cuộc, đánh thắng giặc, nối ngôi vua hay trở thành vợ hoàng tử hoặc một hạnh phúc mộc mạc
hơn là được làm một người vợ đúng nghĩa. Đó cũng chính là thái độ của nhân dân với loại
nhân vật này.
Những nhân vật này có nguồn gốc từ quan niệm sùng bái loài vật của tín ngưỡng tô
tem vật tổ thời nguyên thủy. Đó là quan niệm cho rằng dân tộc mình vốn có nguồn gốc từ
một loài động, thực vật nào đó. Người Kinh cho rằng mình vốn có nguồn gốc từ con rồng,
chim lạc. Còn người Thái, Mường, Dao,..lại tôn sùng quả bầu (bí) và xem loài thực vật này
chính là nguồn gốc ban đầu của dân tộc mình. Hay như hình tượng con cóc trong quan niệm
cổ vốn là loài vật linh thiêng: “ Con cóc là cậu ông Trời. Ai mà đánh nó thì Trời đánh cho”.
Chúng ta chẳng ngạc nhiên khi con cóc trở thành biểu tượng Nhân Nghĩa trong tranh Đông
Hồ cổ truyền của dân tộc Kinh.
Trải qua các cuộc thi tài, những nhân vật này đều chiến thắng. Nhưng quan trọng hơn
hết, họ hầu hết đều biến hình thành một người bình thường. Sự biến đổi này chính là hình
thức biến thể của những nghi thức cổ xưa hay tín ngưỡng ma thuật, những tập tục thờ cúng
những tấm da động vật mà con người săn bắn được từ thời nguyên thủy.
Ngoài ra, nhân vật bất hạnh còn là những con người mồ côi, nghèo khổ phải đi ở, đốn
củi,…Các nhân vật này là con đẻ đặc trưng của xã hội mà truyện cổ tích được sinh thành.
Đó là một xã hội phân hóa sâu sắc về tư liệu sản xuất, về giai cấp giàu – nghèo. Khi đó,
những con người mồ côi không còn được cộng đồng, thị tộc của mình đùm bọc, chăm sóc,
họ trở thành đối tượng bị khinh thường, rẻ rúng. Để mưu sinh, họ phải bán sức lao động của
mình thành người đày tớ giúp việc, kiếm củi trên rừng nguy hiểm, nặng nhọc, vất vả như
các nhân vật trong “Chàng đốn củi”, “Mũi dài”, “Tấm Cám”,…Chàng đốn củi sống một
mình, mưu sinh bằng nghề đốn củi. Anh chàng Đê trong “Mũi dài” là đày tớ nhà phú hộ,
41
làm mất trâu nên phải bị đánh đập, nhốt trong kho, không được ăn uống. Còn Tấm phải làm
việc quần quật, bị mắng chửi khác nào người ăn kẻ ở trong khi Cám được nâng niu, chiều
chuộng. Bởi theo sự phát triển của xã hội, chế độ hôn nhân nội tộc cũng tan rã, hôn nhân
ngoại tộc phát triển và dần thay thế hình thức hôn nhân cũ. Nhân vật người con riêng của
chồng cũng trở thành đối tượng chịu sự hà khắc, ghét bỏ của người vợ mới.
Các nhân vật đáng thương này chỉ có thể nhờ vào các cuộc thi tài để thay đổi số
phận. Tuy nhiên, dù thắng cuộc nhờ vào đức tính chăm chỉ, tài năng thật sự nhưng cuối
cùng họ vẫn phải gánh chịu sự thiệt thòi. Hoặc họ bị lừa cướp hết thành quả, trở thành kẻ
thua cuộc tạm thời. Trong “Tấm Cám”, Cám đã dùng mưu lấy hết tôm tép mà Tấm bắt
được, giành lấy cái yếm đỏ mà bất cứ cô gái Kinh nào cũng ao ước sở hữu. Hay họ bị đuổi
đi cùng vợ trong cuộc kén rể. Truyện “Chàng đốn củi” là một câu chuyện buồn : chàng trai
thắng cuộc nhưng bởi xuất thân nghèo hèn nên không được vua cha yêu quý, còn bị đuổi
khỏi hoàng cung. Chỉ khi trải qua nhiều thử thách sau này thì họ mới được những phần
thưởng đích đáng, Tấm trở thành hoàng hậu, chàng đốn củi được nối ngôi vua.
Thứ ba, chúng tôi khảo sát kiểu nhân vật thông minh và nhân vật ngốc nghếch.
Bảng 2.8. Nhân vật thi tài là người thuộc kiểu nhân vật thông minh
và ngốc nghếch trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Anh chàng may mắn Anh chàng và hai người học trò
2 Chuyện Ông Trượng- Tiên Bửu Ông Trượng- Tiên Bửu
3 Nữ hành giành bạc Người vợ- chàng học trò
Loại nhân vật thi tài thông minh là biểu tượng của trí thông minh bình dân đối sánh
với tiểu loại truyền thuyết về các nhân vật lịch sử mà cụ thể là các nhân vật thể hiện tài năng
về văn chương. Các nhân vật này thường là những con người tầm thường: một cô gái hay
chữ chốn thôn quê ( “Nữ hành giành bạc”), một cô lái đò nơi bến nước ( “Ông Trượng và
Tiên Bửu”),…Vì thế sự thông minh của họ bộc lộ ở tính “lém lỉnh” là chủ yếu, khác hẳn với
sự uyên bác thể hiện trong các truyền thuyết về các nhân vật lịch sử giỏi về văn chương.
“Nữ hành giành bạc” là câu chuyện bi thương về một cô gái nổi tiếng thông minh, hay chữ.
Trong đêm tân hôn, cô đòi chồng phải đối được câu đối của mình mới cho vào phòng.
Chồng không đối được, nhờ thầy giúp, bị người khác nghe lén. Kẻ nghe lén đến trước, đối
được, lừa nàng. Khi biết bị lừa, nàng cắn lưỡi tự tử. Cùng là người hay chữ nhưng số phận
cô lái đò trong “Ông Trượng và Tiên Bửu” có số phận may mắn hơn. Cô vui vẻ, hoạt bát,
nghịch ngợm nên lọt vào mắt của nhiều chàng trai. Một hôm, cô gặp Ông Trượng là một lão
42
ăn mày già đòi nên duyên cùng cô. Cả hai thi tài cao thấp. Cô thua cuộc nên nhận lời lấy
ông lão. Về sau, họ thành tiên, về trời. Nhân vật cô lái đò và ông lão ở đây cùng bộc lộ kiến
thức vô cùng uyên thâm về hò đối đáp. Đây là tiểu loại phổ biến, đặc trưng cho thể loại trữ
tình dân gian. Với người bình dân, đây chính là phương tiện để thể hiện tư duy, tình cảm
phong phú, sâu sắc của mình.
Cũng trong loại nhân vật thông minh này, chúng ta thấy xuất hiện nhân vật học trò,
thầy giáo. Đây là nét tương đồng với các nhân vật là Trạng nguyên trong truyền thuyết. Các
nhân vật này thể hiện rõ nét ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội nước ta bấy giờ nói
chung và truyện cổ tích nói riêng.
Trái ngược hẳn với sự thông minh của hai cô gái trong hai câu chuyện trên, anh
chàng nông dân trong “Anh chàng may mắn” chỉ là một kẻ ngốc nghếch. Nghe tin có nhà
giàu kia đang kén rể, anh chàng hăm hở đi ngay. Dọc đường gặp hai người học trò, nghe
lỏm những câu thơ của họ. Đến nhà cô gái, anh dùng lại những câu thơ này, lọt vào mắt cô
gái. Thế là anh chàng dốt bỗng chốc trở thành chồng cô gái nổi tiếng hay chữ. Với những
kiểu nhân vật ngốc nghếch, nhân dân thường thể hiện thái độ hai chiều: vừa chế giễu vừa
thương xót. Những trò lố của nhân vật này trở thành đối tượng trêu đùa của nhân dân, thể
hiện tinh thần hội hè vui nhộn khi trà dư tửu hậu. Đồng thời, nhân dân cũng thể hiện sự
đồng cảm, thương xót cho những nhân vật này.
Các kiểu nhân vật khác được xem xét trong bảng thống kê sau
Bảng 2.9. Nhân vật thi tài là người thuộc các kiểu nhân vật khác trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Rạch đùi giấu ngọc Điền Chi - vua
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay 2 Thạch Sùng - quận công là sự tích con mối
Các nhân vật này đa số đều là kẻ tham lam, giàu có thi tài với nhau chủ yếu để khoe
mẻ giàu có như Điền Chi trong “Rạch đùi giấu ngọc”, Thạch Sùng trong “Thạch Sùng còn
thiếu mẻ kho”. Các nhân vật này thường gặp kết cục bất hạnh do chính sự huênh hoang,
khoe khoang của cải của mình. Thạch Sùng là kẻ tham lam, ham giàu phụ nghĩa nên cuối
cùng bị chính sự bất nghĩa đó làm cho nhà tan cửa nát, uất nghẹn mà chết. Hắn xuất thân từ
kẻ ăn mày, làm bạn cùng người vợ xấu xí, với cái mẻ kho cũ kĩ. Khi trở nên giàu sang, hắn
đập bỏ tất cả cái mẻ kho, phụ rẫy người vợ thuở hàn vi. Cuối cùng, hắn bị thua trong cuộc
thi tài về gia sản với quận công bởi thiếu cái mẻ kho. Cũng là thi tài về gia sản, Điền Chi
43
bởi khoe khoang mình giàu nhất nước mới khơi dây lòng tự tôn của nhà vua. Vua bắt thi tài
phát chẩn cho dân trong ba ngày. Điền Chi thua cuộc. Qua đó, các nhân vật thể hiện sự phê
phán, đả kích của nhân dân ta đối với những loại người tham lam, kiêu ngạo. Đồng thời, nó
còn là sự thể hiện kín đáo một nụ cười khinh bỉ, ghê tởm đối với những kẻ giàu sang, dư ăn
dư mặc, rảnh rỗi làm việc không đâu trong khi nhiều người đang tất tả, vất vả ngược xuôi
lao động kiếm sống.
* Nhân vật người thi tài với vật
Bảng 2.10. Nhân vật người thi tài với vật trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Tại sao cọp ăn thịt người Cọp - người
Khác với truyền thuyết, mối quan hệ giữa con người và loài vật trong cuộc thi tài ở
truyện cổ tích là mối quan hệ bình đẳng. Loại nhân vật này chiếm tỉ lệ rất nhỏ, chỉ 4 % so
với các loại nhân vật thi tài khác. Chúng có thể giao tiếp với con người và thông thường
luôn bị con người lừa. Trong truyện cổ tích “Tại sao cọp ăn thịt người”, người và cọp thi
tài ăn nâu, ăn thịt của chính mình. Con người luôn chiếm ưu thế nhờ bản tính thông minh
nhưng ranh mãnh của mình, biết dùng mẹo lừa lấy khoai thay củ nâu, lấy thịt heo buộc vào
người giả làm thịt của mình. Vai trò này của con người về sau sẽ bị thay thế bằng hình
tượng một con vật khác như con cóc, con thỏ, con khỉ hay con cáo. Loại nhân vật thi tài này
chính là tiếng vọng còn sót lại của thời kì con người bắt thú về nuôi làm gia súc mà chúng
tôi sẽ trình bày chi tiết hơn ở phần Nội dung thi tài.
* Nhân vật là loài vật thi tài với nhau
Bảng 2.11. Nhân vật loài vật thi tài với nhau trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Nhân vật thi tài
1 Cá chép hóa rồng Cá chép- cá rô- tôm
2 Con cò đi thi kêu Cò - các loài chim khác
3 Con hổ, con cóc tía và con khỉ Cóc- hổ
4 Con hổ, cóc tía, rùa Cóc- hổ
5 Cô mèo Mèo- hổ
6 Hổ và các con vật bé nhỏ Hổ- cua - sẻ- tê tê
7 Sự tích con trâu III Trâu- ngựa
8 To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn Voi- hổ
44
9 Trâu và ngựa Trâu- ngựa
Trong tiểu loại cổ tích về loài vật này, nhân vật là các con vật sống trong rừng, dưới
nước và trên không như hổ, trâu, bò, cá chép, cò, cóc, tê tê,... chiếm 34,7% trong tổng số các
bản kể truyện cổ tích có motif thi tài. Còn các con vật gần gũi với con người do đã được con
người thuần dưỡng nên không còn thi tài với nhau để tranh cao thấp hay để bảo vệ mạng
sống của mình như các con thú hoang trong rừng.
Trước hết, nổi bật trong nhóm nhân vật thi tài này là nhân vật con vật thông minh.
Thông thường, con vật thông minh là con thỏ, cáo,…Tuy nhiên, nhân vật thi tài trong nhóm
truyện này lại là con cóc, ngựa, voi, tê tê, cua, sẻ,…Các con vật thông minh này được người
bình dân ca ngợi. Chúng tuy nhỏ bé hoặc chậm chạp hơn so với đối thủ nhưng bằng mưu
mẹo, chúng đã chiến thắng con vật to lớn, nhanh nhẹn hơn mình. Con vật to lớn ở đây chủ
yếu là con hổ. Trong truyện “Hổ và các con vật nhỏ bé”, “Cô mèo”, “Con hổ, con cóc tía
và con khỉ (hay con rùa)”, con hổ luôn bị con vật thông minh chơi xỏ. Con hổ bị thương, bị
người bắt và thậm chí mất mạng. Đôi khi con hổ cũng bị chơi xỏ bắt nguồn từ cuộc thi tài
để thỏa mãn bản tính tham lam của mình. Trong truyện “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn”,
hổ vì quá tham lam muốn chén thịt voi, bắt voi phải thi tài. Hổ thắng cuộc. Nhưng thỏ ra tay
giúp đỡ voi nên dù thắng cuộc, hổ vẫn bị phen hú vía. Nhân vật hổ thể hiện cái nhìn phê
phán, đả kích, chế giễu của nhân dân đối với những kẻ quen dùng sức mạnh để hiếp đáp,
xem thường người khác. Đối với những loại người này, trí thông minh chính là biện pháp
hữu hiệu nhất để chống lại chúng.
Bên cạnh đó, nhóm các nhân vật bản tính hiền lành lại thi tài với nhau để tranh giành
hàm răng trong “Trâu và ngựa”, “Sự tích con trâu III” hay đơn giản chỉ vì muốn tranh cao
thấp trong “Con cò đi thi kêu”. Trong “Trâu và ngựa”, “Sự tích con trâu III”, nhân vật ngựa
mang bản tính láu cá, lừa gạt trâu để lấy hàm răng trên. Nếu ở nhóm nhân vật thông minh,
thái độ của dân chúng là ca ngợi thì ở đây con ngựa lại bị người dân phê phán bởi sự ranh
mãnh của mình.
Đặc biệt, trong truyện cổ tích “Cá chép hóa rồng”, tín ngưỡng tô tem thể hiện rất sâu
đậm. Các loài vật đều muốn trở thành rồng nên tranh nhau đi thi hóa rồng. Rồng được xem
là vật tổ của nhiều dân tộc châu Á, trong đó có dân tộc Kinh. Cuối cùng, chỉ có cá chép
trong sạch, thanh khiết mới vượt được ba vòng vũ môn hóa rồng. Mặt khác, việc cá chép có
thể vượt ba vòng vũ môn xuất phát từ đặc điểm thực tế của loài cá chép. Loại cá này thường
hay nhảy lên mặt nước, có khi cao trên hai mét. Cá chép hay nhảy lên mặt nước nhất là khi
45
gặp chướng ngại vật trước mặt. Chính đặc điểm này đã tạo cảm hứng cho nhân dân sáng tạo
nhân vật cá chép, loài cá có thể hóa rồng.
Nguồn gốc của các con vật biết nói, biết suy nghĩ và hành động như con người này
có thể là dư âm của nguồn truyện kể có tính chất thần thoại về loài vật của người săn bắt và
chăn nuôi thời cổ. Từ thời xã hội nguyên thủy, con người đã biết săn bắt để làm thức ăn.
Trong quá trình săn bắt, con người đã quan sát, tìm hiểu về các đặc điểm, sở trường của loài
vật để thuận tiện cho việc nâng cao trình độ săn bắn, cải thiện đời sống. Quá trình này về lâu
dài đã biến đổi, đi vào các nghi lễ liên quan đến việc săn bắn, trồng trọt và nhất là được
phản ánh vào truyện cổ tích, trở thành một mảng quan trọng của truyện cổ tích: truyện cổ
tích loài vật. Hoặc cũng có thể là dấu vết của tín ngưỡng tô tem (Vật tổ) (như sự sợ hãi
tôtem, sự sùng bái tôtem,…) dù đã trở nên hết sức mờ nhạt hoặc đã bị hiểu lại như “Cá chép
hóa rồng”, “Hổ và các con vật bé nhỏ”,…
Các nhân vật này còn là hình ảnh khúc xạ của thế giới con người thông qua tấm
gương là thế giới của các con vật. Môi trường sống trong rừng chính là hình ảnh cuộc sống
con người với kẻ mạnh, kẻ láu cá, người thật thà. Các con vật cũng biết sợ hãi, lo lắng và
cũng biết “ láu cá” để đạt được mục đích của mình. Những truyện cổ tích này bị kéo lại khá
gần với thể loại ngụ ngôn. Đây là thể loại mà các nhân vật chính thường là các con vật ( vẫn
có các truyện kể về con người hoặc các bộ phận của con người). Qua đó, chúng ám chỉ xã
hội con người với những bài học nhân sinh trong mối quan hệ cư xử giữa con người với
nhau.
Theo giáo sư Lê Chí Quế, trong truyện cổ tích động vật có ba lớp chính. Thứ nhất,
lớp truyện hình thành sớm nhất là những truyện vật tổ, gắn với tín ngưỡng tô tem của người
nguyên thủy. Chúng ta chỉ thấy thấp thoáng bóng dáng của nó qua những mẫu chuyện
về rồng trong “Cá Gáy hóa Rồng” của người Việt. Thứ hai là lớp truyện tương đối phổ biến
về những tri thức về thế giới tự nhiên để nhằm chinh phục nó, sử dụng nó phục vụ cuộc
sống của con người. Đó là truyện giải thích tại sao Trâu lại chỉ có một hàm răng. Đặc biệt là
lớp truyện thứ ba. Lớp thứ ba của truyện cổ tích động vật là những truyện đồ chiếu quan hệ
của xã hội loài người vào các quan hệ của các con vật. Lớp truyện này xuất hiện muộn hơn,
có thể là khi xã hội đã phân chia giai cấp. Ở truyện cổ tích của người Kinh, lớp truyện này
thường có xu hướng ngụ ngôn hóa và phát triển ở người Việt Nam nhiều hơn ở các dân tộc
thiểu số.[ Lê Chí Quế, 2001, tr. 115-119]
46
Như vậy, truyện ngụ ngôn và truyện cổ tích loài vật ở lớp thứ ba tuy cùng kể về các
con vật và qua đó thể hiện các mối quan hệ của thế giới con người nhưng chức năng và đặc
điểm thể loại thì hoàn toàn khác nhau. Truyện cổ tích loài vật thường hướng về loài vật, coi
loài vật là đối tượng thẩm mĩ trực tiếp, đối tượng chủ yếu là nhận thức và lí giải. Còn truyện
ngụ ngôn chủ yếu dùng loài vật làm phương tiện để nhận thức và lí giải những vấn đề của
con người và xã hội loài người và đưa ra những bài học kinh nghiệm.
* Nhận xét:
Trong truyện cổ tích, nhân vật thi tài chiếm tỉ lệ cao nhất là nhân vật con người thi tài
với nhau, chiếm 61,5%. Các kiểu nhân vật thi tài là thần ( bán thần) thi tài với nhau, thi tài
với con người không xuất hiện. Riêng kiểu nhân vật là loài vật xuất hiện trong truyện cổ tích
với tỉ lệ cao (34,7%).
Tóm lại:
Nếu xét từ tổng thể các mô hình thi tài của các kiểu nhân vật thi tài trong cả hai thể
loại truyền thuyết và truyện cổ tích thì nhân vật thi tài chính là con người chiếm số lượng ưu
thế .
Trong thể loại truyền thuyết, nhân vật chính trong cuộc thi tài là con người chiếm
83% ( 8,5+ 66+8,5=83%) so với nhân vật thần (bán thần) và loài vật. Từ đó cho chúng ta
thấy rõ trong truyền thuyết, trọng tâm là con người. Đây là điểm khác biệt của truyền thuyết
so với thể loại thần thoại. Vì vậy, dù có nhiều văn bản có sự giao thoa với thần thoại nhưng
đặc điểm cơ bản của chúng vẫn là truyền thuyết.
Trong thể loại truyện cổ tích, nhân vật chính trong cuộc thi tài là con người chiếm
65,3% ( 61,5+3,8=65,3%) so với nhân vật thần (bán thần) và loài vật. Truyện cổ tích chủ
yếu là quan hệ nhân sinh nên hoàn toàn không có thần (bán thần) nhưng có nhân vật là loài
vật. Điều này chính là đặc trưng của truyện cổ tích so với thể loại truyền thuyết. Các nhân
vật loài vật này có một bộ phận rất gần với thể loại ngụ ngôn bởi chúng cũng phản ánh, thể
hiện những vấn đề nhân sinh. Tuy nhiên chúng vẫn là truyện cổ tích như chúng tôi đã trình
bày ở trên.
Các nhân vật chính trong các cuộc thi tài là con người chiếm ưu thế tuyệt đối so với
thần (bán thần) và loài vật cho chúng ta nhận thấy được khuynh hướng thế tục hóa cả trong
truyền thuyết và truyện cổ tích, con người bắt đầu chiếm vị trí trung tâm trong thế giới nhân
vật của truyền thuyết và truyện cổ tích.
47
2.2. Xét từ hình thức thi tài
Hình thức thi tài là một trong những phương diện quan trọng trong việc nghiên cứu
các cuộc thi tài.
Bảng 2.12. Các nội dung thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích
Số lượng Tỉ số phần Số lượng bản kể Tỉ số phần bản kể trăm truyền Hình thức thi tài truyền thuyết / trăm truyện truyện cổ thuyết 23 bản cổ tích tích / 26 bản
Thi tài xây dựng 9 39 % 0 0%
Thi tài văn 3 13 % 3 11,5 % chương- nghệ thuật
Thi tài về thể chất 9 39% 15 57,7 %
Thi tài nấu ăn-may 0 0 % 3 11,5% áo- sắc đẹp
Các hình thức thi 2 8,5% 5 19,3 % tài khác
48
2.2.1. Các hình thức thi tài trong truyền thuyết
* Sức mạnh thể chất
Bảng 2.13. Các hình thức thi tài về sức mạnh thể chất trong truyền thuyết
STT Tên truyện Hình thức thi tài
1 Ba ông thợ thổ hay Sự tích Tục chạy hồi loan Chạy
(Khảo dị) 2 Võ nghệ Bố Cái đại vương
Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lệ 3 Vật Phụng Hiểu
4 Ngư thần Võ Cố Bơi
5 Nữ tướng họ Bùi Võ nghệ
6 Phạm Ngũ Lão Vật
7 Tại sao những người già được sống lâu Chọi trâu
8 Trạng Vật Vật
9 (Khảo dị )Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ Chạy
Trước hết, các hình thức thi tài loại này lấy sức mạnh về thể chất làm nòng cốt hạt
nhân như là bơi, chạy, vật, đấu võ. Đây là loại hình thức thi tài phổ biến nhất, chiếm 39%.
Sức mạnh thể chất này được đẩy lên cực độ đến mức dị thường, mang dáng dấp sức mạnh
của các bán thần trong thần thoại. Từ đó, các biệt tài này tô đậm bản chất thần thoại của
nhân vật thi tài.. Hình thức thi tài này gắn liền với đời sống hiện thực, mang tính chất thể
thao nhưng được đẩy lên đến mức thần kì như cuộc thi tài vật giữa chàng Lê Phụng Hiểu và
Tuấn Vồm trong “ Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng Hiểu”, Phạm Ngũ Lão
và các võ sĩ trong truyện “Phạm Ngũ Lão”,...
Đặc biệt, trong truyền thuyết “Tại sao người già được sống lâu”, hình thức thi tài ở
đây là chọi trâu. Đây là hình thức thi tài về thể chất của loài vật duy nhất ở thể loại truyền
thuyết. Trong câu chuyện này, nguyên nhân là do chàng trai muốn cứu cha mình thoát khỏi
lệ người già bị giết nên đã đồng ý tham gia cuộc thi tài. Phong tục giết người già là một
phong tục cổ đã từng tồn tại. Ở đây, người già đã được giải thoát nhờ kinh nghiệm từng trải
của mình. Có sự chiêm nghiệm lại phong tục trong truyện. Nói cách khác, đây là sự đảo
nghịch phong tục mà Propp đã đề cập. Ngoài ra, theo Lê Chí Quế trong Văn hóa dân gian-
khảo sát và nghiên cứu, “lễ hội chọi trâu là sự bồi đắp của ba lớp văn hóa: tục hiến tế thần
49
biển, tinh thần thượng võ của nhân dân và văn hóa- văn minh nông nghiệp” [Lê Chí Quế,
2001, Văn hóa dân gian- khảo sát và nghiên cứu, 83]. Như vậy, hình thức thi tài này mang
dấu vết của nhiều phong tục cổ còn tồn tại đến ngày nay.
* Xây dựng
Bảng 2.14. Các nội dung thi tài về lĩnh vực xây dựng
trong truyền thuyết
STT Tên truyện Hình thức thi tài
Ném đá tạo núi đồi 1 Dấu chân người xưa
2 Giếng Tiên Đào giếng
3 Người thợ mộc Nam Hoa Xây đình
4 Sự tích ba ông đá Đắp núi
5 Sự tích núi Ông Sập Đắp núi
6 Sự tích thành Lồi Xây thành
Khảo dị Sự tích thành Lồi ở Quảng Tạc bò bằng đá - trồng tre trở gốc lên 7 Bình-Thừa Thiên trời
8 Sự tích tháp Chàm Xây tháp
9 Sự tích tháp Nhạn Xây tháp
Các hình thức thi tài trong lĩnh vực xây dựng là nội dung nổi bật nhất của thể loại
truyền thuyết. Loại hình thức thi tài này chiếm 39% trong tổng số các loại nội dung thi tài.
Đầu tiên, hình thức thi đắp núi, ném đá, đào giếng là motif cổ nhất trong nội dung thi
tài trong lĩnh vực xây dựng. Các truyện “Sự tích ba ông đá”, “Sự tích núi Sập”, “Giếng
Tiên” tiêu biểu cho hình thức thi tài này. Trong truyện “Sự tích ba ông đá”, các Tiên Nam
thi tài đắp núi cùng với các Tiên Nữ để kiến tạo địa hình vùng Châu Đốc, An Giang. Còn
trong truyện “Sự tích núi Sập”, ông Sập thi tài đắp núi với một người đàn bà và bị thua
cuộc. Tức giận, ông đạp đổ núi của mình nên người ta gọi ngọn núi của ông là núi ông Sập.
Cũng là kiến tạo địa hình nhưng ở truyện “Giếng Tiên” lại là cuộc thi đào giếng, mang nước
ngọt cho dân, đồng thời cũng để giải quyết mâu thuẫn giữa Tiên Ông và Tiên Bà. Khác với
ba truyện trên, “Dấu chân người xưa” là cuộc thi tài giữa các chàng Khổng Lồ bằng nội
dung ném đá, kiến tạo địa hình để lấy được con gái tù trưởng.
Motif đắp núi rất gần gũi với motif kiến tạo Trời Đất trong thần thoại. Nội dung này
chỉ xuất hiện trong thể loại truyền thuyết, chiếm 17%. Hình ảnh Thần Trụ Trời, Ải Lậc
50
Cậc,..trong thần thoại dùng sức mạnh của mình đắp núi, chống trời, tạo biển,…chính là tiền
thân của motif đắp núi- đào giếng này. Motif này không còn có mặt trong truyền thuyết của
tộc người Kinh ở trung tâm nền văn hóa là Bắc Bộ nữa mà chỉ có ở vùng đất mới mang tính
chất ngoại vi Nam Bộ với ảnh hưởng giao lưu văn hóa Việt- Chăm- Khmer- Hoa sâu sắc và
rộng khắp.
Motif đào giếng cũng là motif có tính chất xa xưa. Giếng nước này không phải là
giếng nước bình thường mà là giếng nước không bao giờ cạn. Đây là một loại nước thần kì.
Tính chất thần kì cổ xưa nhất của nước là nước trường sinh bất tử. Các huyền thoại về nước
trường sinh này phổ biến khắp nơi trên thế giới. Theo thời gian, nước trường sinh đã trở
thành nước giếng không bao giờ cạn. Nó chính là hình ảnh của sự sống, sự ban phát sự sống
cho tất cả muôn loài.
Thứ hai là cuộc thi tài xây tháp của người Kinh và người Chăm trong truyện “Sự tích
tháp Nhạn”, “Sự tích tháp Chàm”. Cả hai câu chuyện đều kể về việc thi tài xây tháp giữa
cộng đồng Chăm và cộng đồng Kinh. Nhờ mưu mẹo, tộc Kinh luôn chiến thắng tộc Chăm
chân thật, trọng chữ tín. Trong văn hóa dân tộc Chăm, tháp có một vai trò vô cùng to lớn so
với văn hóa dân tộc Kinh ( chúng tôi sẽ trình bày chi tiết ở chương sau). Việc xây tháp là vô
cùng quan trọng, là điều kiện cần thiết để củng cố, khẳng định ngôi vua trong văn hóa
Chăm. Vì vậy, chắc chắn motif xây tháp này vốn có nguồn gốc từ nhóm truyền thuyết thi tài
xây tháp của tộc người Chăm mà cụ thể là nhóm truyền thuyết về vua Po Klaung Garai với
các ngọn tháp Hòa Lai, Bánh Ít, Po Dam,…mà chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau.
Bên cạnh motif xây tháp, motif xây thành được xem như mắt xích thứ hai. Truyện
“Sự tích thành Lồi” kể lại cuộc chiến giành đất đai của người Chăm và Việt bằng nội dung
xây thành. Ngang tài ngang sức, hai bên thi xây thành để phân cao thấp. Cuối cùng, người
Kinh thắng nhờ mưu mẹo. Motif này đã có nhiều biến thể trong quá trình lưu hành ở các địa
phương. Một trong những biến thể đó là câu chuyện về cuộc thi tài của hai dân tộc: Chăm:
tạc bò bằng đá biết đi, Việt: trồng tre trở gốc lên trời. Người Việt lại tiếp tục dùng mưu lừa
người Chăm nên lại chiến thắng. Còn rất nhiều biến thể khác của motif này nhưng đã mờ đi
yếu tố thi tài nên chúng tôi không tiếp tục khảo sát ở đây.
Cũng là cuộc thi tài giữa hai bên nhưng lại là cuộc thi mỗi bên xây một nửa cái đình
trong “Người thợ mộc Nam Hoa” ở truyện kể người Kinh . Người thợ mộc sau bao năm lưu
lạc làm ăn ở phương xa, nay trở về với ngón nghề chạm khắc. Như vậy, có thể thấy việc ông
Chuẩn có tay nghề cao cũng là học hỏi ở bên ngoài. Mặt khác, đình cũng được xem là nơi
51
tôn nghiêm thờ thành hoàng, nơi diễn ra các ngày lễ, hội. Có thể nói, trong tâm thức của
người Kinh, đình là nơi lưu giữ cốt cách tâm hồn dân tộc ngày xưa. Vì vậy, nếu đối với dân
tộc Chăm, xây tháp là vô cùng quan trọng, thiêng liêng thì xây đình đối với dân tộc Kinh
cũng là chuyện trọng đại phải xem phong thủy, xem ngày giờ, dù tốn hao bao nhiêu cũng
không tiếc, thậm chí nếu không có đình thì có phải tốn bao vàng bạc đút cho quan để xây
đình họ cũng không ngại.
Có thể thấy ở đây có một sự biến đổi từ việc thi xây tháp- thi xây thành- thi xây đình.
Dường như đây là cả một cuộc hành trình dài từ lúc người Kinh Nam tiến về phía Champa,
xảy ra xung đột với dân bản địa. Họ cùng nhau giải quyết tranh chấp trong hòa bình. Người
bình dân khát khao hòa bình nhưng các thế lực phong kiến nắm quyền lại xử sự theo hướng
tiêu cực, muốn khẳng định uy quyền và tiềm lực về quân sự của mình bằng cách khơi mào
chiến tranh. Chiến tranh xảy ra vì khao khát mở rộng đất đai, lãnh thổ của giai cấp cầm
quyền, cuộc thi tài xây thành bắt đầu ươm mầm từ đây. Bình định xong, những người Kinh
trở về quê cũ, mang theo những tinh hoa của người bạn mới mà mình vừa tiếp xúc về phục
vụ, làm mới quê hương thông qua cuộc thi xây dựng ngôi đình to và đẹp. Bởi dân tộc Chăm
vốn nổi tiếng về nghề chạm khắc. Những ngọn tháp của tộc Chăm đã thể hiện không chỉ sự
tài hoa về nghệ thuật kiến trúc cổ ( cho đến nay kĩ thuật xây tháp của dân tộc Chăm vẫn là
một bí ẩn) mà còn là một biểu hiện của một thời quá khứ hoàng kim. Từ đó, có thể thấy
được sự giao lưu văn hóa sâu sắc giữa tộc người Chăm và người Kinh trong quá trình xung
đột cho đến lúc hòa hợp cùng chung sống trong hòa bình, hữu nghị.
* Nữ công gia chánh
Hình thức thi tài về nữ công gia chánh không xuất hiện trong truyền thuyết.
*Văn chương- nghệ thuật
Bảng 2.15. Thi tài văn chương- nghệ thuật trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nội dung thi tài
1 Mạc Đỉnh Chi Làm thơ
2 Nguyễn Hiền Làm thơ
3 Vua Bà Hát Quan họ
Trong truyền thuyết, hình thức thi tài làm thơ chiếm số lượng ít trong tổng số 11,5%,
chủ yếu xuất hiện trong các câu chuyện về các nhân vật văn hóa. Văn chương được sử dụng
khắp mọi nơi và cho mọi người. Làm thơ văn, giải câu đố...như là thang giá trị để đánh giá
tài năng của con người. Đây là cách để thầy đồ đánh giá tâm tính - lực học của sĩ tử, là cách
52
triều đình thử thách sĩ tử để tuyển chọn nhân tài (“Nguyễn Hiền”) thậm chí là cách kết giao
bạn bè giữa các bậc tài tử, giai nhân. Hình thức thi tài này mang ảnh hưởng Nho giáo khá
sâu đậm.
Bên cạnh đó, truyền thuyết của người Kinh kể lại cuộc thi tài ca hát giữa những cô
nàng say mê ca hát và những chàng trai là những vị thần từ thế giới thủy cung ( “Vua Bà”).
Cuộc thi tài này đã trở thành giai thoại đẹp và trở thành truyền thuyết được nhiều thế hệ ca
ngợi: cô gái hát hay nhất trở thành thần tổ nghề của bộ môn hát Quan họ này.
Thi tài ca hát là motif thi tài về mặt nghệ thuật gắn liền với những bài ca nghi lễ
trong những nghi lễ cổ xưa của người nguyên thủy ca ngợi, tôn vinh các vị thần phù hộ cho
mùa màng, thời tiết,... Đã từng có cuộc thi tài về thổi sáo, đánh đàn giữa thần Pan và thần
Apollo trong thần thoại Hy Lạp. Từ đó có thể thấy được vai trò to lớn của nghệ thuật như
tiếng hát, đàn, sáo,…trong đời sống của người nguyên thủy.
Theo thời gian, những bài ca nghi lễ này chuyển hóa một bộ phận vào tín ngưỡng,
tôn giáo, một bộ phận tiếp tục lưu hành và phát triển trong đời sống người bình dân trở
thành những bộ môn nghệ thuật thực thụ.
* Các hình thức thi tài khác
Bảng 2.16. Các hình thức thi tài khác trong truyền thuyết
STT Tên truyện Hình thức thi tài
Bánh chưng- Bánh giầy Dâng lễ vật cúng tổ tiên 1
2 Sơn Tinh, Thủy Tinh Biểu diễn tài phép thuật, dâng lễ vật thành hôn
Các hình thức thi tài khác ở truyền thuyết chủ yếu là truyền thuyết về thời kì Hùng
Vương. Có lẽ do là truyền thuyết xuất hiện trong thời kì đầu nên nội dung thi tài này không
còn lặp lại trong các truyền thuyết xuất hiện muộn hơn ( chiếm 8,5%)
Motif thi tài phép thuật được xem là một trong những motif “cổ xưa” nhất trong các
truyền thuyết có motif thi tài của tộc người Kinh. Chỉ có duy nhất một cốt truyện về motif
này là “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Phép thuật vốn là một yếu tố thần kì dạng vô hình trung gian,
phương tiện tạo nên tất cả mọi thứ mà con người chưa có, mong muốn được có.
Hình thức thi tài loại này bắt nguồn từ quan niệm thế giới quan thần linh của người
nguyên thủy bấy giờ. Họ với quan niệm sùng bái những thế lực tự nhiên huyền bí, xa lạ, bí
ẩn, đáng sợ đối với họ đã tạo ra các nghi lễ và việc thực hành ma thuật, hệ thống truyện kể
thần thoại. Phép thuật chính là tàn dư còn sót lại của quan niệm này. Thi tài phép thuật xuất
hiện trong hệ thống thần thoại ra đời ở giai đoạn xã hội muộn như Thần thoại Hy Lạp. Tuy
53
nhiên, ở dân tộc khác, phép thuật bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn của truyền thuyết. Điều này
chỉ có thể giải thích do đặc điểm riêng của xã hội đó đã thất lạc những truyện thần thoại ra
đời ở giai đoạn muộn sau này. Vì ra đời muộn nên một bộ phận thần thoại loại này đã truyền
thuyết hóa, trở thành truyền thuyết.
Thi tài phép thuật không giải quyết được vấn đề, Sơn Tinh, Thủy Tinh tiếp tục thi tài
dâng lễ vật cầu hôn: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, voi chín ngà, gà chín
cựa, ngựa chín hồng mao. Hai lễ vật đầu rất bình thường, các lễ vật sau là cả một vấn đề lớn
với Thủy Tinh. Bởi dù là thần nhưng những thứ này chỉ có ở trên cạn, cụ thể là ở vùng núi,
vùng đất Sơn Tinh ngự trị. Làm sao Thủy Tinh đến lãnh địa của Sơn Tinh để tìm lễ vật bởi
Thủy Tinh là Thần Biển? Dường như ngay từ đầu, vua Hùng đã cố tình thiên vị Sơn Tinh?
Cũng là một truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, “Bánh chưng, bánh giầy” lại là
cuộc thi tài dâng lễ vật cúng Tiên Vương. Nội dung thi tài này thể hiện tinh thần dân chủ
của nhân dân thời đại này. Việc nối ngôi vua phải là người hiền đức, gần gũi và tôn trọng
ông bà, tổ tiên, người dân lao động. Đồng thời, nó cũng thể hiện tinh thần hiếu thảo của ông
cha ta trong tập tục thờ cúng ông bà tổ tiên. Nó đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của
dân tộc ta cho đến ngày nay.
* Nhận xét:
Hình thức thi tài xuất hiện nhiều nhất trong truyền thuyết là thi tài trong lĩnh vực xây
dựng và thi tài về thể chất, cùng chiếm 39%. HÌnh thức thi tài về nữ công gia chánh không
xuất hiện trong truyền thuyết. Cuộc thi tài về xây dựng là biểu hiện của nhóm truyền thuyết
về địa danh. Còn hình thức thi tài thể chất hầu như gắn liền với những truyền thuyết về các
nhân vật lịch sử.
54
2.2.2. Các hình thức thi tài trong truyện cổ tích
* Sức mạnh thể chất
Bảng 2.17. Thi tài về sức mạnh thể chất trong truyện cổ tích
STT Tên truyện HÌnh thức thi tài
1 Ba chàng trai tài ba Chạy
2 Cá chép hóa rồng Nhảy
Cái trống của Thần Nông Bắn nỏ, khâu vá, chạy nhanh 3
4 Chàng đốn củi Bắn cung
5 Con cò đi thi kêu Kêu
6 Con hổ, con cóc tía và con khỉ Nhảy
7 Con hổ, cóc tía, rùa Chạy
8 Cô mèo Leo trèo
9 Hổ và các con vật bé nhỏ Chạy, xô đổ cây, dọa người
10 Một cuộc tranh tài Chữ, võ nghệ, đan nong, mua trống
11 Mũi dài Bơi
12 Phò mã bị tật Chạy
13 Sự tích con trâu III Chạy
14 Trâu và ngựa Chạy
15 To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn Nhảy
Các hình thức thi tài bằng thể chất như chạy, bơi, bắn cung, nhảy…thể hiện biệt tài
của các nhân vật, chiếm 58%.
Trong các câu chuyện thi tài về thể chất của con người, mỗi chàng trai đều có biệt tài
riêng của mình. Dùng biệt tài của mình, các chàng thi tài với nhau để cưới được cô gái đẹp,
thường là công chúa hoặc cô gái con nhà giàu. Các truyện như “Cái trống của Thần Nông”,
“Một cuộc tranh tài”, “Ba chàng trai tài ba”, “Chàng đốn củi”, “Phò mã bị tật” thuộc loại
nội dung thi tài này.
Trong các biệt tài, biệt tài về khả năng thiện xạ là biệt tài đáng chú ý đầu tiên. Trong
“Cái trống của Thần Nông”, “Chàng đốn củi”, biệt tài bắn cung, bắn nỏ đều xuất hiện.
Motif bắn cung là một motif có lịch sử rất lâu dài trong nền văn hóa nhân loại. Không phải
ngẫu nhiên mà người nguyên thủy sinh sống bằng nghề săn bắn và hái lượm. Thậm chí
trong thần thoại, hình tượng các vị thần mang cung và tên không hề xa lạ từ Kama trong
55
thần thoại Ấn Độ đến Eros, Apollo, Artemis trong thần thoại Hy Lạp, chàng dũng sĩ giương
cung bắn tan nhiều mặt trời chỉ chừa lại một trong thần thoại Chăm,…
Biệt tài bơi là một biệt tài đặc biệt, đảm bảo cho nhân vật nào sở hữu tài năng này sẽ
lấy được vợ trong cuộc thi tài kén rể. Trong “Ba chàng tài ba”, điều kiện thi tài là hễ ai ôm
được cô gái trước sẽ thắng cuộc. Và “ nhờ sự sắp đặt vô tình” mà chàng trai có biệt tài bơi
lội ôm được cô gái ( cứu cô khỏi dòng nước) và trở thành chồng cô. Biệt tài này chính là
biểu hiện của quan niệm thẩm mĩ của nhân dân về mối quan hệ vợ chồng như chúng tôi đã
trình bày ở phần trên. Song nó đã bị phủ lên trên một tầng nghĩa mới: khẳng định những
người tốt bụng, chân thật, dũng cảm sẽ có được hạnh phúc. Dấu ấn của Phật giáo thể hiện
khá rõ nét ở đây. Ngoài ra, biệt tài bơi còn xuất hiện trong truyện “Mũi dài”. Biệt tài này
không đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tình tiết truyện. Nó chỉ đóng vai trò làm tình
tiết mở đầu cho các tình tiết, sự kiện tiếp theo. Bởi Đê quá ham mê chiến thắng trong cuộc
thi bơi cùng lũ bạn nên để mất trâu. Quá buồn bã, anh nằm như chết, gặp bầy quạ đang sà
xuống định ăn thịt anh, được viên ngọc ước. Tất cả mọi chuyện xảy ra trong cuộc đời Đê
đều bắt đầu từ cuộc thi tài bơi định mệnh ấy.
Các biệt tài này cũng xuất hiện trong truyền thuyết nhưng nếu truyền thuyết phản ánh
các cuộc thi tài như một phương tiện, cách thức để khẳng định tài năng và phẩm chất của
nhân vật thi tài thì trong truyện cổ tích lại hoàn toàn khác hẳn. Truyện cổ tích về các anh
chàng thi tài với nhau để cưới được cô vợ luôn có một anh chàng phải dùng sức lực của
mình chạy thật nhanh để mua được cái trống không nhằm mục đích ca ngợi phẩm chất, tài
năng của anh ta mà nó mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Nhưng tại sao lại là cái trống mà
không phải là một vật khác? Trong văn hóa vùng Đông Nam Á, phía Nam Trung Quốc,
trống đồng không chỉ có chức năng nhạc khí mà còn có những chức năng khác như làm biểu
tượng cho quyền lực, tôn giáo... Trống được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong lễ hội, và
trong chiến tranh khi người thủ lĩnh bộ lạc kêu gọi mọi người từ khắp nơi tụ về để cùng
chiến đấu. Trống thường thuộc về những người thủ lĩnh và là biểu tượng của quyền lực.
Người thủ lĩnh có quyền lực càng lớn thì trống càng to và đẹp. Trống đồng cũng được coi là
một tài sản quí, và được chôn theo khi người chủ qua đời. Vì vậy, việc người nông dân, anh
chàng chạy nhanh sẽ lấy được cô gái đã được định trước khi ông bố vợ yêu cầu anh ta phải
có được chiếc trống.
Cái trống thường ở một nơi rất xa (bên Tàu, nước láng giềng) nên nhân vật phải chạy
thật nhanh để mua được cái trống. Như vậy ở đây có sự di chuyển không gian của nhân vật
56
chính để thực hiện chức năng của mình. Và luôn có nhân vật trợ thủ giúp đỡ nhân vật chính
hoàn thành nhiệm vụ này. Họ là người thuộc một thế giới khác như bà tiên. Về sau, nhân vật
bà tiên này biến đổi thành những người dân làng tốt bụng. Các nhân vật trợ thủ này làm nổi
bật tính chất thần kì của cuộc thi.
Trong các tư liệu cổ xưa, các cuộc thi chạy nhanh để giành lấy cô gái đẹp rất phổ
biến. Theo Rôđê ( dẫn theo Propp), các cuộc thi tài nhất là thi chạy thường diễn ra bên mộ
người chết không chỉ có ở dân tộc Hi Lạp mà còn cả các dân tộc khác thể hiện dạng cổ sơ
nhất của quan niệm sùng bái linh hồn: người chết cũng tham gia vào cuộc thi. Cuộc thi cũng
chính là con đường đưa linh hồn người chết về thế giới mới của anh ta. [ Propp, 2003, tr.
715]
Mặt khác, cho đến ngày nay, trong các dịp lễ tang, trống là một vật không thể thiếu.
Cái trống là công cụ để thông báo có người qua đời với mọi người xung quanh. Nhưng nó
cũng có thể là công cụ, phương tiện giúp linh hồn người mới mất liên lạc, giao tiếp với thế
giới khác. Từ đó, cuộc thi tài chạy nhanh để mua chiếc trống của nhân vật có thể là dạng
biến thể sau này của việc đi tới một thế giới khác của người chết.
Hình thức thi tài này đã xuất hiện trong bộ sử thi vĩ đại Mahabharata. Trong bộ sử
thi vĩ đại này, một trong năm anh Pandara- Arijuna đã mang nàng Đrôpađi về ra mắt mẹ là
bà Kunti. Khi chàng nói với mẹ là mang về cho mẹ một vật báu thì bà không ngẩng lên nhìn
mà vội nói là hãy chia nhau đồng đều. Lời nói đã thốt ra, không lấy lại được. Thế là nàng
Đrôpađi trở thành vợ của cả năm anh em Panđara.
Theo sự phát triển của trình độ nhận thức con người, nó trở thành type cổ tích phân
xử tài tình trong việc kén rể. Cổ tích Ấn Độ ( “Nhà vua đã bối rối như thế nào trước 4
người cầu hôn con gái”, “Cô gái đã chọn chồng trong 3 người cầu hôn như thế nào”,…),
cổ tích Việt Nam (“Tứ hải giai huynh đệ”, “Ba chàng trai và cô gái đẹp trên mặt trăng”,..)
đều có những câu chuyện thuộc type truyện này. Cốt truyện này là sự ảnh hưởng của truyện
cổ Ấn Độ sang đất nước ta là điều dễ hiểu bởi sự ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ đối với
văn hóa các dân tộc khác đã là điều được thừa nhận trong nhiều trường hợp. Song bằng con
đường nào thì lại là một vấn đề khác cần được nghiên cứu riêng trong những công trình
khoa học sau.
Các chàng trai ở đây không thi tài với nhau mà luôn có một “ đối thủ” khác chi phối,
tạo điều kiện, hoàn cảnh để các chàng bộc lộ tài năng của mình như cô gái bị bệnh chết, cô
gái bị quỷ, đại bàng bắt,…. Sau đó, các chàng trai dựa vào biệt tài của mình, họp sức cứu
57
được cô gái. Khi đó, tùy theo quan niệm thẩm mĩ xã hội của từng dân tộc mà sẽ xuất hiện
một “vị quan tòa” phân xử tương ứng. Trong hệ thống type này thuộc các dân tộc ở Việt
Nam, hầu hết đều chọn chàng trai nào có sự “ tiếp xúc” với thân thể cô gái sẽ được phân xử
làm chồng của cô. Trong nội dung thi tài tương tự dân tộc Kinh, truyện cổ tích dân tộc
Chăm chọn cách phân xử tất cả kết nghĩa làm anh em. Nói tóm lại dù cho có dựa trên cơ sở
tư tưởng xã hội khác nhau nhưng các bản kể này đều có điểm giao thoa gặp gỡ về quan
niệm về tình cảm vợ chồng. Đó là tình đầu ấp tay gối, chăm sóc, ôm ấp và có sự gần gũi,
đụng chạm về mặt thân xác. Với tư tưởng “nam nữ thụ thụ bất thân” của Nho giáo, dân tộc
Kinh cũng không ngoại lệ. Như vậy từ một câu chuyện trong sử thi, câu chuyện này đã đi
vào cổ tích với sự phân xử phù hợp với trình độ phát triển của xã hội hơn: hôn nhân đa phu
trở thành hôn nhân đối ngẫu.
Motif này đã được biến đổi thành motif thi tài giữa các chàng trai trong cuộc kén rể.
Các “đối thủ” biến mất, các chàng trai trở thành đối thủ của nhau. Thậm chí, vị quan tòa
đứng ra phân xử cũng biến mất. Do đó, quan niệm thẩm mĩ của nhân dân ta về tình nghĩa
vợ chồng đầu ấp tay gối cũng bị phủ dưới những lớp nghĩa mới, để phù hợp với sự e dè,
ngại ngùng khi nói đến những vấn đề mang tính “phồn thực” của quan hệ nam- nữ, quan hệ
vợ- chồng của xã hội phong kiến ngày càng cực đoan, khe khắt.
Ngoài ra, trong truyện cổ tích còn có thêm hình thức thi tài về thể chất ở loài vật. Các
nội dung thi tài như nhảy, gầm, …là những nội dung phổ biến (chiếm 33%), gắn liền với
đặc điểm của các loài thú. Các loài thú thường thi tài chạy nhiều nhất ( 6 bản kể), tiếp đến là
nhảy (3 bản kể). Các cuộc thi chạy này luôn là cuộc thi tài không cân sức. Trong các truyện
như “Con hổ, cóc tía, rùa”, “Con hổ, cóc tía và rùa”, “Hổ và các con vật nhỏ bé”, hổ
thường lợi dụng khả năng chạy săn mồi mình để bắt buộc các con vật thi tài với mình. Nếu
thua, các con vật như cóc tía, rùa, voi, tê tê, cua sẽ bị hổ ăn thịt. Nhưng nếu không thi tài,
các con vật bé nhỏ này cũng sẽ bị hổ ăn thịt. Hay trong “Trâu và ngựa”, “Sự tích con trâu
III”, ngựa luôn thắng cuộc nhờ tài chạy nhanh của mình. Các cuộc thi tài giữa các con vật
hiền lành này thường diễn ra vì những lí do cũng rất hiền lành. Ngựa thi tài với trâu vì muốn
có hàm răng của trâu.
Trong lịch sử thời xa xưa, con người sinh sống bằng hái lượm và săn bắn. Nhưng các
câu chuyện cổ tích thường kể về các cuộc đi săn hoặc những việc có liên quan đến khu
rừng, nơi thường diễn ra các cuộc săn bắn nhiều hơn. Chẳng hạn nơi nàng Út trồng dưa là ở
trong rừng (“Nàng Út”), chàng đốn củi đi đốn củi, gặp được bà tiên, được tặng bó củi thần
58
kì cũng ở trong rừng ( “Chàng đốn củi”) ,…Có thể thấy, không gian khu rừng gắn bó với
con người rất mật thiết. Khu rừng đã trở thành một kí ức loài sâu đậm trong tâm lí của con
người.
Khu rừng cũng là môi trường sinh sống, kiếm ăn của các loài thú. Chính tại nơi đây,
con người đã quan sát, tìm hiểu về các đặc điểm, sở trường của loài vật để thuận tiện cho
việc nâng cao trình độ săn bắn, cải thiện đời sống. Không chỉ săn bắt động vật để làm thức
ăn, con người còn bắt đầu quá trình thuần hóa động vật để phục vụ cho cuộc sống của mình
như thuần hóa chó để giữ nhà, mèo để bắt chuột, bò, trâu để lấy thịt và sức kéo,…
Quá trình này về lâu dài đã biến đổi, đi vào các nghi lễ liên quan đến việc săn bắn,
trồng trọt và nhất là được phản ánh vào truyện cổ tích, trở thành một mảng quan trọng của
truyện cổ tích: truyện cổ tích loài vật. Các câu chuyện cổ tích loài vật theo đó đã tái hiện
sinh động các đặc trưng, thế mạnh của từng loài quen thuộc. Các nội dung thi tài dựa trên
các đặc trưng thế mạnh của từng loài là một trong những nội dung đặc sắc của truyện cổ tích
loài vật.
Nói tóm lại, các hình thức thi tài về thể chất của loài vật chính là kết quả của sự quan
sát lâu dài, tỉ mỉ về thế giới loài vật trong cuộc hành trình tìm hiểu về loài vật, thuần hóa,
nuôi dưỡng chúng của loài người ngay từ buổi đầu lịch sử.
* Xây dựng
Hình thức thi tài về xây dựng không xuất hiện trong thể loại truyện cổ tích.
* Nữ công gia chánh
Hình thức thi tài này chỉ xuất hiện ở thể loại truyện cổ tích, chiếm tỉ lệ 11,5%.
Bảng 2.18. Thi tài về nữ công gia chánh trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Nội dung thi tài
1 Nàng Út Dọn cỗ, may áo, sắc đẹp
2 Chuyện Nàng Út Thi tài sắc đẹp, làm bánh
3 Người lấy cóc Dọn cỗ, may áo, sắc đẹp
Trước hết, các cuộc thi tài thường xuất hiện trong cùng một truyện với hình thức
phép bội tam tức là ba cuộc thi liên tiếp nhau: thi nấu cỗ- may quần áo- sắc đẹp, chiếm 11,5
%. Đây là ba hình thức thi tài luôn gắn liền với nhau trong loại truyện cổ tích về nhân vật
bất hạnh như người mang lốt, người có hình dạng xấu xí ( “Lấy vợ Cóc”, “Nàng Út”). Các
hình thức thi tài này đều thể hiện quan niệm về người phụ nữ của nhân dân: khéo léo, chăm
chỉ và xinh đẹp. Chỉ khi hoàn thành ba thử thách này, người phụ nữ mới được công nhận.
59
Trong truyện cổ tích “Người lấy cóc”, “Chuyện nàng Út”, sau khi lấy nhau, mọi
người đều không thừa nhận tư cách người vợ của nàng Cóc, nàng Út. Vì vậy, họ bày ra cuộc
thi như một phương tiện, cái cớ để từ chối. Cuộc thi thường mang nội dung về phương diện
nữ công gia chánh: nấu cỗ, may quần áo, làm bánh và thi sắc đẹp. Các nội dung này thể hiện
quan niệm về người phụ nữ thời đại bấy giờ. Trong “Người lấy cóc”, các bạn của anh học
trò bày ra cuộc thi mang cỗ đến nhà thầy, may quần áo cho thầy không cần đo và thi sắc
đẹp. Cũng tương đồng hoàn toàn về nội dung thi tài này trong “Chuyện nàng Út”, chỉ có
điều, lúc này nhà vua là người chê nàng Út nên ra điều kiện thi tài để cố từ chối công nhận
nàng dâu này. Truyện “Nàng Út” thì lại khác. Nàng Út thi tài để được lấy hoàng tử. Vợ các
hoàng tử khác là người đề ra cuộc thi tài.
Xét về mặt dân tộc học, ba hình thức thi tài này được xem là thử thách giúp nhân vật
mang lốt hoặc có hình dạng xấu xí thoát khỏi cái vỏ bọc xấu xí hay đó chính là cách thức,
phương tiện giúp nhân vật hóa giải ma thuật phù phép biến hình đối với mình. Hay nói cách
khác, câu chuyện về người mang lốt vật hoặc hình dạng xấu xí trong cổ tích vốn là câu
chuyện về cuộc hành trình giải phù phép biến hình của nhân vật chính.
* Thi tài về văn chương- nghệ thuật
Thi tài làm thơ văn, làm câu đối là nét văn hóa của một đất nước trọng văn. Chính
hình thức thi tài này làm nên chất trí tuệ sâu sắc của truyện cổ dân tộc Kinh so với các dân
tộc khác.
Bảng 2.19. Thi tài về văn chương- nghệ thuật trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Hình thức thi tài
1 Anh chàng may mắn Làm thơ
2 Nữ hành giành bạc Làm thơ
3 Ông Trượng- Tiên Bửu Hò đối đáp
Trong truyện cổ tích cũng xuất hiện hình thức thi tài đối câu, chỉ có ba bản kể về nội
dung thi tài này ( chiếm 11,5%). Tuy nhiên, khác với thể loại truyền thuyết, nội dung này kể
về những con người bình dân, không tên trong xã hội. Cuộc thi tài trong “ Nữ hành giành
bạc” không mang lại vinh quang cho nhân vật chính như trong truyền thuyết, trái lại nó còn
mang đến tai họa sát thân cho nhân vật. Thông qua nội dung thi tài này, tác giả dân gian
không chủ tâm ca ngợi tài năng của nhân vật một cách hoàn toàn, cái mà tác giả muốn thể
hiện ở đây là sự răn đe nghiêm khắc đối với cái Ác, sự tham lam, phản ánh sự suy đồi về
mặt đạo đức, nhân cách của con người kể cả những kẻ mang danh giữ gìn đạo đức xã hội.
60
Cũng là hình thức thi tài liên quan đến Nho giáo, câu chuyện “Anh chàng may mắn”
kể về cuộc thi kén chồng của cô gái con nhà phú hộ hay chữ. Nàng muốn tìm một người
chồng tài giỏi về văn chương nên mở hội kén chồng. Anh chàng khờ khạo nhờ học lóm
được câu nói của người khác, vận dụng đúng hoàn cảnh nên lọt vào mắt xanh của cô gái.
Nhờ vậy, anh chàng khờ lấy được vợ.
Tuy không kể về hình thức thi tài liên quan đến đạo Nho mà quay trở về với thể loại
trữ tình dân gian: hò đối đáp nhưng câu chuyện “Ông Trượng- Tiên Bửu” cũng là câu
chuyện về những con người bình dân thông minh, dí dỏm. Một ông lão ăn mày thi tài hò
cùng cô lái đò xinh đẹp, thông minh. Ông lão thắng cuộc, lấy được cô làm vợ.
* Các hình thức thi tài khác
Bảng 2.20. Các hình thức thi tài khác trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Hình thức thi tài
1 Người đầy tớ và tên ăn trộm Ăn trộm; lừa chủ của mình
2 Rạch đùi giấu ngọc Thi về số lượng tài sản
Ăn nâu; ăn thịt của mình; ăn “của quý” 3 Tại sao cọp ăn thịt người của mình
4 Tấm Cám Bắt cá, tôm tép
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay 5 Sở hữu báu vật đặc biệt là sự tích con mối
Các hình thức thi tài này là những hình thức thi tài riêng lẻ, chiếm 19% so với các
hình thức thi tài khác. Trước hết, về hình thức thi tài của cải, truyện “Rạch đùi giấu ngọc”
kể về cuộc thi tài của nhà vua và anh chàng Điền Chi giàu có nhờ may mắn nhặt được viên
ngọc, được trả ơn bằng nhiều của cải. Cuộc thi diễn ra chỉ vì sự huênh hoang của anh chàng
chạm vào lòng tự tôn của nhà vua. Cuối cùng, anh chàng Điền Chi thua chỉ vì nguyên nhân
khách quan là anh ta phát chẩn sau nhà vua nên phải phát cho nhiều người hơn. Anh ta bị xử
tội chết. Cũng cùng là hình thức thi tài của cải nhưng ở truyện cổ tích “ Thạch Sùng còn
thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối” lại có tình tiết phức tạp hơn hẳn. Hai nhân vật cùng thi
tài, ngang tài nhau. Một bên phải dùng mưu mẹo mới chiến thắng được. Sự dụng công trong
việc xây dựng cốt truyện thể hiện rất rõ ở đây.
Đến hình thức thi tài trong truyện cổ tích “Người đầy tớ và người ăn trộm”, yếu tố
mưu mẹo được đưa lên hàng đầu. Đây là cuộc thi tài mang tính dí dỏm của hai anh chàng để
lấy được cô gái. Đây là hình thức thi tài xuất hiện muộn hơn các hình thức thi tài khác. Bởi
61
ở đây, yếu tố mưu mẹo không còn đóng vai trò “trợ thủ” cho các nhân vật thi tài trong các
hình thứcthi tài mà đã trở thành nội dung thi tài chính.
Hình thức thi tài ăn củ nâu, ăn thịt của mình trong “Tại sao cọp ăn thịt người” là một
hình thức rất đặc biệt. Người rủ cọp thi tài ăn củ nâu và ăn thịt của chính mình. Người dùng
thịt lợn giả làm củ nâu, bắp đùi của mình và của quý của mình. Hổ thật tình ăn củ nâu, ăn
thịt của mình. Khi biết bị người lừa, cọp tức giận nên từ đấy ăn thịt của người. Việc ăn thịt
của chính mình là một hình tượng tư duy thuần túy, có liên quan mật thiết đến nghi lễ
trưởng thành. Trong nghi lễ trưởng thành, có một giai đoạn người chịu lễ thể hiện bằng điệu
bộ việc chết đi và sau đó sống lại. Vì vậy nên người và cọp thi tài ăn thịt của chính mình mà
không sợ bắt nguồn từ tư duy của con người về các nghi lễ trưởng thành. Mặt khác, hình
thức thi tài ở đây còn bao gồm cả ăn “của quý”. Nội dung này mang đậm tín ngưỡng phồn
thực của dân gian. Đó là biểu hiện của nguyên lí chết đi, bỏ đi để từ đó sinh thành ra cái mới
với sức sống mới mạnh mẽ hơn.
Ngoài ra, hình thức thi tài bắt tôm, tép, cá trong “Tấm Cám” cũng là nội dung thi tài
khá đặc biệt. Tấm và Cám thi tài bắt cá , tôm, tép để giành cái yếm đỏ. Nó có thể liên quan
đến các nghi lễ trong nông nghiệp. Các nghi lễ này thường tổ chức vào đầu mùa khô. Ngày
nay, cư dân ở Mali ( Tây Phi) vẫn còn tồn tại lễ hội bắt cá. Hay ở Việt Nam, lễ hội bắt cá ở
Đồng Hoa, Hà Tây và Phú Thọ cũng mang tính chất tương tự. Nếu ai bắt được con cá to
nhất, gia đình người đó sẽ gặp được nhiều may mắn suốt cả năm. Nghi lễ này đã chuyển hóa
vào trong truyện cổ tích mà cụ thể là nội dung thi tài bắt cá, tôm, tép.
* Nhận xét:
Trong truyện cổ tích, hình thức thi tài nhiều nhất là thi tài về thể chất, chiếm 58%.
Nội dung này thường thể hiện dấu vết của những nghi lễ, phong tục thời cổ còn vang vọng
đến hôm nay. Thi tài về xây dựng không xuất hiện trong thể loại truyện cổ tích.
Tóm lại
Hình thức thi tài về thể chất là nội dung chiếm tỉ lệ cao nhất ở cả hai thể loại. Trong
thể loại truyền thuyết, nội dung này vẫn là thi tài về thể chất của chủ thể là con người với
nhau, chiếm 39%. Còn ở thể loại truyện cổ tích, hình thức thi tài về thể chất ngoài chủ thể là
con người còn có thêm chủ thể thi tài là các con vật nên nội dung này chiếm đến 58%. Từ
đây có thể thấy, hình thức thi tài về thể chất là hình thức thi tài có tính chất cổ xưa hơn cả
(Ngay từ thời Hi Lạp cổ đại, hình thức thi tài chạy đua đã xuất hiện và tạo nên thế vận hội
Olympic còn tồn tại đến ngày hôm nay).
62
2.3. Xét từ nguyên nhân thắng cuộc thi tài
Kết quả thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích được quyết định nhờ vào các
nhân tố trong bảng thống kê sau:
Bảng 2.21. Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyền thuyết và cổ tích
Tỉ lệ phần Tỉ lệ phần Số lượng bản Số lượng bản trăm Nguyên nhân thắng trăm truyền kể truyện cổ kể truyền truyện cổ cuộc thi tài thuyết tích / 26 bản thuyết / 23 bản tích
Bên chiến thắng nhờ vào 3 13% 6 23% trợ thủ
Bên chiến thắng nhờ vào 5 22% 6 23% mưu mẹo
Bên chiến thắng nhờ vào
phẩm chất, tài năng bản 11 48% 11 42,5%
thân.
Các kết quả khác 4 17% 3 11,5%
2.3.1. Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyền thuyết
* Bên chiến thắng nhờ vào trợ thủ
Bảng 2.22. Bên chiến thắng nhờ vào trợ thủ trong truyền thuyết
STT Tên truyện Trợ thủ
Bánh chưng, bánh giầy Thần báo mộng 1
Sơn Tinh, Thủy Tinh Sơn Tinh dùng phép thuật 2
Sự tích tháp Nhạn Đạo sĩ hóa phép 3
Nhân vật thi tài chiến thắng dựa vào trợ thủ không phổ biến trong truyền thuyết, chỉ
có ba bản kể, chiếm 13%, gồm “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, “Bánh chưng, bánh giầy” và “Sự
tích tháp Nhạn”. Trong truyện “Bánh chưng bánh giầy”, sự giúp đỡ của trợ thủ là thần
thông qua giấc mơ. Khi Hùng Vương ra cuộc thi tài dâng lễ vật làm điều kiện nối ngôi,
Lang Liêu là người lo lắng nhất bởi chàng không người giúp đỡ, lại không giàu có. Một
đêm, thần xuất hiện và chỉ Lang Liêu cách làm hai thứ bánh dâng lễ. Nhờ vậy, Lang Liêu
được nối ngôi. Truyện “Sự tích tháp Nhạn”, một đạo sĩ đã xuất hiện, hóa phép tạo ra một
cái tháp chỉ trong một đêm. Nhờ vậy, tộc Kinh thắng cuộc trong cuộc thi tài với dân tộc
Chăm. Riêng truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, Sơn Tinh chiến thắng. Trợ thủ giúp đỡ chàng ở
63
đây chính là bản thân Sơn Tinh. Sơn Tinh vừa là nhân vật chính vừa là trợ thủ của mình nhờ
tài năng phép thuật.
Trợ thủ trong truyền thuyết ở đây là trợ thủ thần kì. Trợ thủ trong truyền thuyết mang
ý nghĩa khác hẳn với cổ tích. Trợ thủ thần kì ở đây không phải là biểu hiện lòng nhân hậu
của nhân dân trước sự bất hạnh của nhân vật. Sự giúp đỡ ở đây thể hiện sự tôn vinh, bình
giá nhân vật của nhân dân đối với các nhân vật này.
64
* Bên chiến thắng nhờ vào mưu mẹo
Bảng 2.23. Bên chiến thắng nhờ vào mưu mẹo trong truyền thuyết
STT Tên truyện Yếu tố mưu mẹo
Sự tích thành Lồi Xây thành giả bằng phên, nan tre 1
Khảo dị Sự tích thành Lồi Trồng tre thật, lấy rễ cây quấn lên ngọn tre giả làm 2 ở Quảng Bình-Thừa rễ cây thành Cây tre có gốc trở lên trời vẫn sống Thiên
3 Sự tích tháp Chàm Xây tháp giả bằng rơm, tre
Tại sao những người già Lấy trâu con còn bú sữa đeo bám làm trâu đực bỏ 4 được sống lâu chạy
Truyền thuyết về Bà Chúa Dùng mưu lừa hổ trắng vốn là “tinh” của Bà Chúa 5 Xứ Xứ
Yếu tố mưu mẹo vốn là motif quen thuộc của truyện cổ dân gian. Trong các cuộc thi
tài ở truyền thuyết, bên có sử dụng mưu mẹo luôn chiến thắng, chiếm 22%.
Trong nhóm truyền thuyết giành đất, mưu mẹo được xem là yếu tố quyết định kết
quả thi tài. Trong “Sự tích tháp Chàm”, trong cuộc thi tài giành đất, người Kinh đã lừa
người Chăm bằng ngôi tháp rơm và tre. Còn trong “Sự tích thành Lồi” là một dãy thành
bằng tre, phên được sơn phết như cái thành thật lừa được quân của người Chăm.. Mẹo lừa
này biến thể thành mẹo lừa lấy rễ cây quấn lên ngọn tre, giả làm rễ tre trong cuộc thi tài oái
oăm: Người Chăm phải tạc con bò biết đi, người Kinh phải trồng được cây tre trở gốc lên
trời vẫn sống. Mẹo lừa trong nhóm truyền thuyết bộc lộ dấu vết của tư duy huyền thoại,
chưa phân biệt rõ ràng bản chất của các sự vật với nhau. Vì vậy, họ có thể nhầm lẫn tre,
rơm, phên, rễ cây giả với gạch, đất, rễ tre thật.
Bên cạnh đó, mẹo lừa còn thể hiện một cách dí dỏm trong truyền thuyết “Tại sao
người già được sống lâu” với chiêu dùng trâu non để đeo bám trâu trưởng thành. Mẹo lừa ở
đây là kết quả của quá trình quan sát, tích lũy kinh nghiệm trong đời sống của con người
trong mối quan hệ với con vật, cây cỏ,…
Mẹo lừa thể hiện đặc điểm tư duy của người Việt. Họ thường hay trêu đùa nhau theo
kiểu “ Xỏ lá ba que”, “Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo”. Lém lỉnh, lươn lẹo, đôi
lúc còn tinh ranh thể hiện trí thông minh bình dân. Sự thông minh này được thể hiện như sự
đối lập, phản kháng với sự xảo huyệt của giai cấp đối kháng. Song yếu tố mẹo lừa ở đây còn
65
đơn giản, chưa bộc lộ tính phức tạp, hệ thống so với mẹo lừa trong các thể loại truyện cổ
muộn hơn về sau.
* Bên chiến thắng nhờ vào phẩm chất, tài năng bản thân
Bảng 2.24: Bên chiến thắng nhờ vào phẩm chất, tài năng bản thân
trong truyền thuyết
STT Tên truyện Phẩm chất, tài năng bản thân
1 Giếng Tiên Chăm chỉ
Gốc tích ruộng thác đao hay là 2 Sức khỏe phi thường truyện Lệ Phụng Hiểu
3 Mạc Đỉnh Chi Thông minh
4 Nguyễn Hiền Thông minh
5 Ngư thần Võ Cố Sức khỏe phi thường
6 Người thợ mộc Nam Hoa Khéo léo
7 Nữ tướng họ Bùi Võ nghệ tài giỏi
8 Phạm Ngũ Lão Sức khỏe phi thường
9 Sự tích núi ông Sập Chăm chỉ
10 Khảo dị Sự tích ba ông đá Chăm chỉ
11 Trạng Vật Sức khỏe phi thường
Nguyên nhân thắng cuộc thi tài loại này chiếm tỉ lệ cao nhất 48%. Các phẩm chất
được tác giả dân gian ca ngợi ở đây rất đa dạng và phong phú. Chúng có thể là những tài
năng mang tính chất “bác học” như sự thông minh, nhanh nhạy trong cuộc thi tài đối câu.
Các truyền thuyết “Nguyễn Hiền”, “Mạc Đỉnh Chi”, nhân vật chính được ca ngợi ở phương
diện này. Nguyễn Hiền thi tài đối câu cùng Đặng Tính, Mạc Đỉnh Chi thi tài cùng người
Tàu. Hoặc các phẩm chất mang tính chất “thể thao” như vật, đấu võ trong các truyền thuyết
“Phạm Ngũ Lão”, “ Trạng Vật”. Hay đó là những phẩm chất khác như khéo léo, chăm chỉ
trong các truyền thuyết “ Người thợ mộc Nam Hoa”.
Bên cạnh đó, nữ giới thường giành chiến thắng trong các cuộc thi tài giữa hai giới
tính nam và nữ nhờ đức tính chăm chỉ, cần cù, chịu thương chịu khó trong truyền thuyết như
“Sự tích ba ông đá”, “ Sự tích núi Sập”, “ Giếng Tiên”. Các cuộc thi này đều là cuộc thi
giữa hai nhóm nam và nữ. “Sự tích ba ông đá” là cuộc thi tài giữa Tiên Nam và Tiên Nữ.
“Sự tích núi Sập” lại là cuộc thi tài giữa ông Sập và người đàn bà. “Giếng Tiên” lại là cuộc
66
tranh tài giữa Tiên Ông và Tiên Bà. Tất nhiên, cả ba truyện đều là sự chiến thắng của nữ
giới.
Cuộc thi tài loại này mang nhiều dấu ấn của những cuộc thi tài giữa hai thần nam và
thần nữ trong thần thoại cổ xưa như “Tứ Tượng và Nữ Oa”. …Tuy nhiên nó đã sớm phai
nhạt theo sự phát triển của chế độ xã hội phụ quyền, phi bình đẳng nam nữ trong hệ thống
truyền thuyết của người Kinh ở vùng trung tâm của nền văn hóa Đại Việt. Hình thức này chỉ
còn tồn tại ở vùng ngoại vi xa xôi như Nam Bộ vốn vẫn còn lưu giữ những tàn tích xưa.
Song song đó dưới sự ảnh hưởng của giao lưu văn hóa Kinh- Khmer, hình thức này mới còn
tồn tại đến hôm nay ( chúng tôi sẽ trở lại làm rõ nội dung này ở chương sau). Chúng chính
là dấu vết của chế độ mẫu hệ, tín ngưỡng thờ mẫu trong quan hệ gia đình và dòng họ của
con người trong thời kì thị tộc. Thêm vào đó, tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp ở
Việt Nam với đặc trưng trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ đã
khiến cho những dấu vết này có sức sống đặc biệt lâu bền.
* Nguyên nhân thắng cuộc thi tài khác
Bảng 2.25. Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài khác trong truyền thuyết
STT Tên truyện Nguyên nhân thắng cuộc thi tài
Ba ông thợ thổ hay Sự tích tục 1 Không rõ chạy hồi loan
( Khảo dị ) Ngang tài 2 Bố Cái đại vương
3 Dấu chân người xưa Không rõ
4 Vua Bà Ngang tài
Đôi lúc các cuộc thi tài mang đến kết quả ngang tài ngang sức hoặc không rõ ai là
người chiến thắng ( chiếm 17%). Các motif thi tài loại này thường không nhằm mục đích
thử tài hơn kém thực sự mà vẫn chủ yếu là khẳng định tài năng của cả hai nhân vật chính thi
tài. “Ba ông thợ thổ hay Sự tích tục chạy hồi loan”, “ Dấu chân người xưa”, “Vua Bà”,
“Bố Cái đại vương”( Khảo dị) đều thuộc loại motif thi tài này. Kết quả thi tài này thường
mang tính chất đòn bẩy, là nguyên cớ cho các diễn biến, tình tiết tiếp theo của cốt truyện.
Trong “Ba ông thợ thổ hay Sự tích tục chạy hồi loan”, ba anh em thi tài chạy nhanh về làng.
Kết quả không rõ ai chiến thắng, chỉ biết tục chạy hồi loan có từ khi đó. Hay trong truyện
“Dấu chân người xưa”, các chàng Khổng Lồ thi ném đá để được lấy con gái tù trưởng xinh
đẹp. Không rõ ai chiến thắng nhưng cuộc thi này đã tạo nên hình thế núi non ở vùng Tây
Sơn. Truyện “Bố Cái đại vương” là cuộc thi tài võ nghệ của em trai Phùng Hưng và cô gái.
67
Hai bên đấu võ với nhau bất phân thắng bại. Nhờ cuộc thi tài này mà về sau, họ nên duyên
vợ chồng.
* Nhận xét:
Nguyên nhân thắng cuộc thi tài loại này chiếm tỉ lệ cao nhất 48%. Như chúng tôi đã
trình bày ở các phần trên, kết quả thi tài loại này chủ yếu nhằm ca ngợi, tôn vinh tài năng
của nhân vật chính. Đây cũng là chức năng chính của truyền thuyết nên việc nó chiếm số
lượng nhiều nhất là điều hợp lí.
2.3.2 Các nguyên nhân thắng cuộc thi tài trong truyện cổ tích
* Bên chiến thắng nhờ vào trợ thủ
Bảng 2.26. Bên chiến thắng nhờ vào trợ thủ trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Trợ thủ
Cái trống của Thần Nông 1 Bà tiên
Chuyện nàng Út 2 Các nàng tiên
Một cuộc tranh tài 3 Người dân
Nàng Út 4 Các nàng tiên
Người lấy cóc 5 Các nàng tiên, Cóc
6 Nữ hành giành bạc Thầy giáo của anh học trò
Kết quả thi tài chịu sự chi phối của trợ thủ chiếm tỉ lệ khá lớn (23%) trong các truyện
cổ tích có motif thi tài.
Trước hết, cũng như truyền thuyết, trợ thủ trong truyện cổ tích là yếu tố thần kì.
Trong cổ tích có tiểu loại cổ tích thần kì nên việc xuất hiện yếu tố thần kì trợ giúp cho nhân
vật chính vượt qua khó khăn, thử thách ( ở đây là cuộc thi tài) là điều đương nhiên. Để đạt
tới khát vọng hạnh phúc, công bằng giữa một xã hội có giai cấp, phân hóa giàu nghèo bắt
đầu sâu sắc thì việc giải quyết sự việc phải có sự giúp sức của yếu tố thần kì mới thành công
là điều hợp lí.
Trợ thủ thần kì ở đây có thể ở dạng hữu hình như các tiên nữ ( “Nàng Út”, “Chuyện
nàng Út”), bà tiên ( “Cái trống của Thần Nông”). Trong “Nàng Út”, “Chuyện nàng Út”,
nàng lập bàn thờ, khấn và lập tức các nàng Tiên xuất hiện giúp nàng làm cỗ, may áo. Cuối
cùng nàng thắng cuộc. Còn trong “Cái trống của Thần Nông”, bà Tiên trong hình dạng của
một bà lão nghèo khổ để thử thách chàng trai nông dân. Nhờ đức tính tốt bụng, chàng đã
vượt qua thử thách, được bà tặng cho cái trống mà mình cần. Chàng thắng cuộc. Các trợ thủ
thần kì đều chọn giúp đỡ cho những nhân vật bất hạnh, chịu sự phù phép bất thường hoặc
68
những người hiền lành, chân thật. Đôi lúc nhân vật thi tài đồng thời là trợ thủ thần kì cho
chính mình như nàng Cóc ( “Người lấy cóc”). Nàng Cóc tự mình hóa phép ra các mâm cỗ,
hóa phép may áo vừa vặn mà không cần đo và tự lột bỏ cái lốt cóc xấu xí của mình. Nàng đã
trở thành người vợ thật sự của anh học trò. Điều này cũng tương đồng như nhân vật Sơn
Tinh trong truyền thuyết.
Khi xã hội phát triển đến một trình độ mới, nhận thức của nhân dân về lực lượng siêu
nhiên thần bí cũng không còn tuyệt đối như trước, trợ thủ thần kì theo đó cũng mờ nhạt dần
trong truyện cổ tích. Các trợ thủ biến thành những con người bình thường. Trong “Nữ hành
giành bạc”, trợ thủ giúp anh học trò vượt qua thử thách của người vợ mới là thầy giáo của
anh. Còn trong “Một cuộc tranh tài”, tương tự như “ Cái trống của Thần Nông”, cũng là
cuộc thi kén rể giữa các chàng trai. Cũng có một anh chàng phải chạy thật nhanh để mua
được cái trống. Tuy nhiên, lúc này trợ thủ lại là những dân làng tốt bụng. Nhân vật thần kì là
bà tiên biến mất. Họ trông thấy anh chàng chạy nhanh khóc nức nở, liền gom tiền mua tặng
cho anh cái trống. Nhờ vậy, anh chàng thắng cuộc thi kén rể.
Các kết quả thi tài có sự trợ giúp của các trợ thủ chính là biểu hiện sống động cho
lòng nhân ái, vị tha, cho khát vọng hạnh phúc, công bằng của những người bình dân mọi
thời đại. Dấu vết của đạo Phật rất rõ nét ở đây. Đó là quy luật về luân hồi, nghiệp báo trong
Phật giáo. Những con người có đạo đức, tốt bụng luôn gặp được may mắn và hạnh phúc.
* Bên chiến thắng nhờ vào mưu mẹo
Bảng 2.27. Bên chiến thắng nhờ vào mưu mẹo trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Yếu tố mưu mẹo
Con hổ, cóc tía, rùa Cóc tía ngậm đuôi hổ 1
Con hổ, con cóc tía và 2 Cóc tía ngậm đuôi hổ con khỉ
Cua lấy càng kẹp vào đuôi hổ; sẻ làm cành non 3 Hổ và các con vật bé nhỏ chuyển động; tê tê cuộn tròn lăn xuống núi
Người dùng thịt thay củ nâu; thịt lợn giả làm thịt
4 Tại sao cọp ăn thịt người đùi mình; thịt lợn giả làm bộ phận sinh dục của
mình.
5 Tấm Cám Lừa Tấm đi gội đầu ở dưới sông
Thạch Sùng còn thiếu mẻ 6 Lấy mẻ kho làm báu vật kho hay là sự tích con mối
69
Cũng như truyền thuyết, mưu mẹo đóng vai trò quan trọng trong các yếu tố chi phối
kết quả của cuộc thi tài chiếm 23%. Khác với truyền thuyết, mưu mẹo ở đây đã mang tính
tinh vi hơn. Nó không còn là sản phẩm của tư duy huyền thoại đơn giản. Mẹo lừa ở đây rất
phong phú về nội dung từ những mẹo lừa đơn giản đến những mẹo lừa liên hoàn thú vị. Ở
đây, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ của ba mươi sáu kế ( một tác phẩm kinh điển về mưu
mẹo trong chiến lược quân sự) để hình dung, phân tích các mưu mẹo được sử dụng trong
các cuộc thi tài này.
Trong “Tấm Cám”, mẹo lừa được sử dụng là “ Vô sinh trung hữu” tạo tin đồn giả để
lừa gạt đối thủ. Cám bảo Tấm rằng đầu Tấm bị bẩn, bảo Tấm đi gội sạch, nếu không về sẽ
bị dì mắng. Tấm vừa thật thà lại sợ dì nên đi ngay. Khi Tấm vừa đi khỏi, Cám liền tiến hành
“ Thuận thủ khiên dương” thừa cơ chiếm đoạt hết cá, tép trong giỏ của Tấm rồi nhanh
chóng về nhà trước.
Hay trong “Tại sao cọp ăn thịt người”, mẹo lừa được dùng là “ Thâu long chuyển
phượng” nhằm tráo đổi vật này thành vật khác trong cuộc thi tài giữa cọp và người. Người
lừa cọp ăn củ nâu đắng còn mình ăn thịt lợn vờ là củ nâu, người lại lừa cọp ăn thịt của mình,
còn mình vẫn ăn thịt lợn. Đến khi cọp không muốn ăn của quý của mình trước, người lại
dùng thịt heo, giấu trong quần, vờ là của quý của mình, lấy ra ăn ngay trước mặt cọp. Cọp
sợ quá chạy mất.
Trong “Con hổ, con cóc tía và con khỉ”, “Con hổ, con cóc tía và rùa”, “ Hổ và các
con vật bé nhỏ”, mẹo lừa chung được dùng là “ Hư trương thanh thế” tạo uy danh, thanh thế
gấp nhiều lần thực tế để khủng bố tinh thần hổ của cóc. Cóc nhả ra một nắm lông, bảo là
lông cọp, làm cọp run sợ, mất cảnh giác. Sau đó, cóc lại “ Tá đao sát nhân”, mượn đuôi của
chính hổ để chiến thắng hổ trong cuộc thi nhảy. Hổ trong “Hổ và các con vật bé nhỏ” bị lừa
bởi một loạt các mưu kế. Cua dùng mưu của cóc trong “Con hổ, con cóc tía và con khỉ”, “
Con hổ, con cóc tía và con rùa” để lừa hổ. Sẻ và tê tê dùng mưu mẹo mà người đã sử dụng
trong “Tại sao cọp ăn thịt người” lừa hổ, trừng trị hổ một trận nên thân. Sẻ làm cành cây
non chuyển động khiến hổ ngỡ cây sắp ngả thật. Sợ quá, hổ bỏ chạy. Tê tê lăn tròn xuống
núi làm người ngỡ đá rơi, chạy mất. Hổ làm theo, bị người bắt, đánh cho một trận suýt mất
mạng.
Những mưu mẹo này có đôi lúc trò đùa ranh mãnh, đùa nhại, hài hước đó thể hiện
tinh thần hội hè vui nhộn của nhân dân lúc bấy giờ như trò trêu chọc của người đối với cọp.
Mặt khác, chúng cũng thể hiện sự phát triển mạnh về tư duy duy lí của trí thông minh dân
70
gian. Song vì chúng cũng chưa được hệ thống hóa, khái quát hóa nên có những mưu mẹo
còn giản đơn, chân chất như mẹo lừa của Cám.
Ngoài ra, mẹo lừa trong “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối” là
mẹo lừa ít phức tạp nhất. Nhân vật Quận công dùng món báu vật là mẻ kho, một vật vô
cùng tầm thường mà chỉ nhà nghèo mới dùng làm Thạch Sùng thua cuộc trong nỗi uất ức
đến hóa thành con mối.
* Bên chiến thắng nhờ vào phẩm chất, tài năng bản thân
Bảng 2.28. Bên chiến thắng nhờ vào phẩm chất, tài năng bản thân
trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Tài năng bản thân
1 Ba chàng trai tài ba Bơi giỏi
2 Cá chép hóa rồng Nhảy cao
3 Chàng đốn củi Bắn cung giỏi
Ông Trượng- Tiên Bửu Hò đối đáp nhanh nhẹn, thông minh 4
5 Cô mèo Leo trèo giỏi
6 Mũi dài Bơi giỏi
7 Người đầy tớ và người ăn trộm Thông minh, lém lỉnh
8 Phò mã bị tật Chạy nhanh
9 Sự tích con trâu III Chạy nhanh
10 To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn Nhảy xa
11 Trâu và ngựa Chạy nhanh
Nhân vật chiến thắng trong các cuộc thi ở truyện cổ tích không nhờ sự giúp sức của
trợ thủ thần kì mà nhờ vào tài năng bản thân thường là lớp truyện cổ tích ra đời muộn,
chiếm tỉ lệ 42,5%. Kết quả thi tài loại này nhìn bề ngoài có vẻ tương đồng với kết quả thi tài
cùng loại trong truyền thuyết. Tuy nhiên, bản chất của chúng là hoàn toàn khác nhau.
Nếu ở truyền thuyết, sự chiên thắng được quyết định nhờ vào tài năng thực sự của
nhân vật thi tài thể hiện sự tôn vinh, khẳng định tài năng của nhân vật thì ở truyện cổ tích lại
là chuyện khác. Trong truyện cổ tích, kết quả thi tài được quyết định nhờ vào tài năng bản
thân là do ảnh hưởng của trình độ nhận thức của con người về xã hội. Lúc này, xã hội đã ổn
định, sự hiểu biết tự nhiên của con người đã phát triển nên tính chất hiện thực lấn át tính
chất hoang đường, kì ảo. Do vậy, con người không còn phải nhờ vào sự giúp sức của trợ thủ
thần kì.
71
Trong truyện cổ tích “Chàng đốn củi”, nhân vật chính nhờ vào tài bắn cung của mình
mà chiến thắng các hoàng tử khác, lấy được công chúa. Trong “Phò mã bị tật”, cũng lấy
được nàng công chúa, anh chàng bị tật đã chiến thắng các anh chàng khác trong cuộc thi
chạy. “Ba chàng trai tài ba” lại là sự chiến thắng của anh chàng bơi giỏi. Khi cô gái bị rơi
xuống biển, anh đã bơi đến, ôm cô gái lên bờ. Nhờ tài bơi, tiếp xúc thân thể với cô gái, anh
được phân xử làm chồng cô. Đặc biệt, tuy cùng mục đích thi tài để lấy vợ nhưng câu chuyện
“Người đầy tớ và tên ăn trộm” lại là cuộc thi tài về trí thông minh, lém lỉnh. Người đầy tớ
lừa chủ mình leo lên mái nhà hai lần. Tên ăn trộm dùng mưu, lẻn vào phòng cô dâu mới
cưới của hàng xóm, trộm được chiếc áo của cô. Hai bên cùng lém lỉnh như nhau, bất phân
thắng bại. Cuối cùng, họ phải nhờ thầy đồ phân xử: người đầy tớ thắng nhờ sự lém lỉnh hơn.
Hay truyện “Ông Trượng- Tiên Bửu” mang đậm tính giai thoại. Đó là cuộc thi tài hò đối
đáp giữa ông lão ăn mày và cô lái đò xinh đẹp, lanh lợi. Trái với vẻ ngoài xấu xí, chậm
chạp, ông lão lại là một người vui tính, thông minh và rất nhanh nhạy. Bằng cá tính này, ông
đã chiến thắng cô gái, chinh phục được trái tim cô.
Tiểu loại truyện cổ tích loài vật bên cạnh những cuộc thi tài có dùng mưu mẹo,
những cuộc thi tài bằng chính tài năng của mình và chiến thắng vẫn khá nhiều. Trước hết là
chuyện “Cá chép hóa rồng” ( cá gáy). Câu chuyện là cuộc thi tài nhảy cao của các loài vật ở
Vũ Môn để hóa rồng. Cá chép với khả năng nhảy cao của mình đã chiến thắng. Trong “Sự
tích con trâu III”, “Trâu và ngựa”, nhân vật ngựa đã vin vào khả năng chạy nhanh bẩm
sinh của mình chiến thắng trong các cuộc đua tài. Tuy không phải lúc nào chiến thắng ấy
cũng đại diện lẽ phải. Trong “Sự tích con trâu III”, “Trâu và ngựa”, ngựa đóng vai kẻ khoe
khoang, thất hứa, lừa gạt bạn mình để chiếm hữu hàm răng hay để thỏa tính sĩ diện hảo.
Ngoài ra, truyện “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn” lại là cuộc thi tài giữa voi và hổ. Hổ
bằng sức khỏe của mình đã chiến thắng voi trong cuộc thi nhảy xa. Tuy nhiên, hổ lại chịu
thua mèo trong cuộc thi leo trèo ( “Cô mèo”). Như vậy, hổ tuy mạnh, nhanh và dữ nhưng lại
ít khi chiến thắng trong các cuộc đua. Qua đó, nó cho ta thấy được triết lí lấy nhu chế
cương thâm thúy của nhân dân ta mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
* Các kết quả thi tài khác
72
Bảng 2.29. Các kết quả thi tài khác trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Kết quả thi tài
1 Anh chàng may mắn Anh chàng thắng nhờ may mắn
2 Con cò đi thi kêu Thua cuộc
3 Rạch đùi giấu ngọc Điền Chi thua do phát chẩn sau
Trong truyện cổ tích, các cuộc thi tài mà nhân vật chính thua cuộc hoặc chiến thắng
nhờ sự may mắn chiếm số lượng không nhiều, chỉ 11,5%. Truyện “Rạch đùi giấu ngọc” là
câu chuyện về anh chàng Điền Chi dám thi tài phát chẩn với vua nước mình. Kết quả, nhà
vua thắng. Song yếu tố giúp nhà vua chiến thắng ở đây là thời gian. Nhà vua phát chẩn
trước, người dân chưa biết nhiều nên số lượng người đến nhận chẩn còn ít. Điền Chi phát
chẩn sau, nhiều người hay tin, kéo đến quá đông nên chàng thua cuộc. Trong “Con cò đi thi
kêu”, nhân vật chính là cò cũng thất bại trong cuộc thi kêu do Ngọc Hoàng tổ chức. May
mắn hơn, anh chàng trong “Anh chàng may mắn” vốn là một chàng ngốc, ít học. Nhờ tài
học lỏm, anh được cô gái nhà giàu để ý và chọn làm chồng trong cuộc thi kén rể.
Các kết quả thi tài loại này phản ánh thái độ của nhân dân ta đối với loại người khoe
khoang như Điền Chi, chế giễu lẫn thương xót đối với những con người ít học, ngốc nghếch
nhưng hiền lành như anh chàng trong “Anh chàng may mắn” hoặc đơn giản chỉ là giải thích
một đặc điểm nào đó của một loài vật như việc con cò ít khi kêu thành tiếng trong “Con cò
đi thi”.
* Nhận xét
Trong truyện cổ tích, nhân vật chính chiến thắng nhờ vào phẩm chất và tài năng của
mình cũng chiếm tỉ lệ cao nhất 42,5%. Các yếu tố thần kì bắt đầu nhạt dần và biến mất. Con
người đã bắt đầu xử lí những mâu thuẫn của xã hội nói chung và cá nhân mình nói riêng
bằng chính sức lực và tài năng của mình.
Tóm lại:
Trong truyền thuyết và truyện cổ tích, nhân vật chính chiến thắng trong cuộc thi tài
nhờ vào phẩm chất, tài năng của bản thân chiếm số lượng nhiều nhất. Điều này thể hiện
trình độ nhận thức ngày càng cao của nhân dân, thế giới quan thần bí đang mờ dần, nhạt
dần.
* Tiểu kết:
Tóm lại, trong chương hai, motif thi tài được khảo sát, thống kê thông qua ba tiêu chí
nhân vật, nội dung và kết quả thi tài. Nhờ vậy, diện mạo của truyền thuyết và truyện cổ tích
73
tộc Kinh được bước đầu khái quát. Ở cả ba phương diện này trong truyền thuyết lẫn truyện
cổ tích đều nổi bật lên các phương diện liên quan đến con người là chủ yếu. Các yếu tố thần
kì như thần, vật thần kì,…chỉ chiếm số lượng rất ít. Qua đó cho ta thấy được đặc điểm của
truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh nhìn từ motif thi tài là tính xã hội đậm đặc, chất
tư duy cao. Đây chính là đặc trưng của truyền thuyết và truyện cổ tích Kinh.
Bên cạnh đó, ở mỗi thể loại, motif thi tài cũng bộc lộ những điểm khác biệt. Trong
truyền thuyết, do sự chi phối của chức năng giáo dục nên những cuộc thi tài chủ yếu là đơn
giản, bộc lộ sự khẳng định, ca ngợi đối với những nhân vật thi tài trong nội dung thi tài đặc
trưng của thời đại, tầng lớp mà họ sinh sống. Còn truyện cổ tích, chức năng chủ yếu của nó
là giải trí nên những cuộc thi tài cũng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và phức tạp hơn. Từ đó,
nó cho ta thấy được những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội bấy giờ và quan niệm về người
chiến thắng của nhân dân trong việc giải quyết những mâu thuẫn đó ở cả hai thể loại. Từ
đây, dựa vào những phương diện được xem xét trên cơ sở cốt truyện ở chương này, người
viết sẽ đi vào tìm hiểu, lí giải ý nghĩa của chúng trong chương tiếp theo.
74
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA THỂ HIỆN CỦA MOTIF THI
TÀI TRONG TRUYỀN THUYẾT VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA
DÂN TỘC KINH
Trong chương này, người viết sẽ tiến hành nghiên cứu về các chức năng của motif thi
tài trong hai thể loại từ cái nhìn của nhân vật thi tài. Thông qua đó, người viết đi tìm hiểu
bước đầu về ý nghĩa thế giới quan và nhân sinh quan của con người thời đại bấy giờ. Người
viết sẽ tìm hiểu về thế giới tự nhiên, xã hội, tư duy và những phẩm chất của con người qua
cái nhìn của chủ thể sáng tạo. Ngoài ra, người viết mở rộng nghiên cứu về motif thi tài ở hai
thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích trong mối tương quan so sánh với dân tộc Khmer,
Chăm và một vài dân tộc ít người khác. Từ đây, người viết sẽ có cái nhìn đa diện hơn về
diện mạo và cả ý nghĩa bên trong của motif thi tài.
3.1. Chức năng của hoạt động thi tài
Bảng 3.1.Các chức năng của hoạt động thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích
Số lượng Tỉ lệ phần Tỉ lệ phần Số lượng bản Chức năng của hoạt bản kể trăm trăm truyền kể truyền động thi tài truyện cổ truyện cổ thuyết thuyết / 23 bản tích / 26 bản tích
Giành đất 4 17% 0 0%
Thiết lập hôn nhân. 5 22% 12 46%
Bảo vệ 9 39% 11 42%
Các chức năng khác 5 22% 3 12%
75
3.1.1. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyền thuyết
* Giành đất
Bảng 3.2. Kết quả giành đất trong truyền thuyết
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
1 Sự tích thành Lồi
Khảo dị Sự tích thành Lồi ở 2 Quảng Bình-Thừa Thiên Giành đất giữa tộc Kinh và Chăm
3 Sự tích tháp Chàm
4 Sự tích tháp Nhạn
Truyền thuyết là dã sử kể về những câu chuyện có liên quan đến lịch sử nên các cuộc
thi tài để giành đất (chiếm 17%) là một lăng kính phản ánh hiện thực lúc bấy giờ, chỉ có ở
thể loại truyền thuyết. Đó là những cuộc chiến tranh giành đất đai giữa người Kinh và người
Chăm trong “Sự tích thành Lồi”. Sau khi vua Trần gả Công chúa Huyền Trân cho vua
Champa Chế Mân, Đại Việt được thêm hai châu Ô, Lý (Rí). Sau khi Huyền Trân về lại
Thăng Long, không hỏa thiêu theo nghi lễ của Champa khi Chế Mân mất, Champa và Đại
Việt bất hòa, Champa đã đòi lại “sính lễ”. Đương nhiên là Đại Việt không đồng ý nên chiến
tranh giành lãnh thổ đã diễn ra. Nhưng sau một thời gian, hai bên bất phân thắng bại nên
tướng Lồi ở quân Chăm đã đề nghị thi xây thành. Nhờ mưu mẹo nên bên người Kinh thắng.
Mặt khác, là hai nước láng giềng nên việc chung sống trên cùng một mảnh đất giữa
hai tộc người là điều bình thường. Khi đó sự tranh giành đất đai để canh tác, ở,…là điều
thường xuyên diễn ra bên cạnh sự hòa hợp giữa hai cộng đồng. Tuy nhiên, khi mâu thuẫn
xảy ra, họ đã dùng cuộc thi tài để giải quyết mâu thuẫn. Các truyền thuyết “Sự tích tháp
Chàm”, “Sự tích tháp Nhạn”, (Khảo dị) “Sự tích thành Lồi” đều mang nội dung này. Tuy
hình thức thi tài khác nhau nhưng các truyền thuyết này đều có điểm chung là nhằm tranh
giành đất đai và cuối cùng người Kinh chiến thắng nhờ mưu mẹo hoặc trợ thủ. Nhưng xét
cho cùng đây vẫn là một việc làm mang đầy tinh thần hữu nghị, hòa bình và mang đầy tính
nhân văn của hai cộng đồng người.
* Thiết lập hôn nhân
Hôn nhân là hai từ được dùng để chỉ cha mẹ của cô dâu và chú rể. Hôn nhân là việc
cha mẹ đôi bên lấy vợ gả chồng cho con. Hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì,
củng cố và phát triển gia đình. Nó vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh
hưởng trực tiếp thường xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động
76
sắc thái của văn hóa tộc người. Vì vậy, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp
của quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa-xã hội khác.
Bảng 3.3. Kết quả thiết lập hôn nhân trong truyền thuyết
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
( Khảo dị) Phùng Hãi – cô gái anh thư 1 Bố Cái đại vương
Các chàng khổng lồ - con gái tù trưởng 2 Dấu chân người xưa Thiết lập Bana hôn nhân 3 Nữ tướng họ Bùi Trần Quang Diệu - Bùi Thị Xuân
4 Sơn Tinh, Thủy Tinh Sơn Tinh - Mị Nương
5 Vua Bà Chàng con út vua Thủy Tề - Nhữ Nương
Hoạt động thi tài để thiết lập hôn nhân trong truyền thuyết không chiếm tỉ lệ cao (
17%). Trước hết, cuộc thi tài kén rể của Hùng Vương thứ mười tám trong “ Sơn Tinh, Thủy
Tinh” là cuộc thi tài sớm nhất trong lịch sử truyền thuyết. Tuy nhìn bề ngoài có sự tương
đồng với chức năng thi tài của cổ tích nhưng khi xem xét nội hàm bên trong, chúng ta có sự
khác biệt so với truyện cổ tích. Việc thi tài ở đây nhằm thiết lập hôn nhân của công chúa.
Bên cạnh đó, Hùng Vương không có con trai nên phò mã tương lai sẽ trở thành người kế vị
ngôi vàng. Vì vậy, việc kén rể rất thu hút các chàng trai. Đây mới là nguyên nhân thật sự.
Còn việc cô công chúa này xinh đẹp như hoa chỉ là yếu tố hình thức bề ngoài, xuất hiện
muộn về sau. Đến đây, nếu câu chuyện kết thúc, nó sẽ hoàn toàn tương đồng với truyện cổ
tích. Nhưng cuộc thi tài này lại dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai chàng trai kiệt xuất. Kết
quả, Sơn Tinh chiến thắng hay nói đúng hơn vị thần núi mà ngay từ đầu nhân dân “ thiên
vị” đã chiến thắng. Nhân dân ngay từ ban đầu đã chọn những sính lễ mà chỉ ở trên cạn mới
có: cơm nếp, bánh chưng, voi, gà, ngựa. Thử hỏi Thủy thần lấy đâu ra những thứ ấy? Nhưng
Sơn thần lại tìm hết sức dễ dàng. Rõ ràng nhân dân đã thể hiện thái độ ca ngợi, tôn sùng vị
thần núi nên chắc chắn với sính lễ đó Sơn Tinh sẽ chiến thắng. Như vậy, cuộc thi tài này
không phải là cái đích cuối cùng mà tác giả dân gian muốn hướng tới. Cuộc thi tài nhằm
thiết lập hôn nhân chỉ là đòn bẩy thể hiện thái độ ca ngợi, bênh vực, tôn sùng đối với vị thần
núi. Cũng mang chức năng tương tự, “Dấu chân người xưa” là cuộc thi tài giữa các chàng
Khổng Lồ để lấy được con gái tù trưởng. Ở đây, hôn nhân với con gái tù trưởng đồng nghĩa
với việc được thừa kế quyền lực của tù trưởng trong tương lai. Nhưng nhờ cuộc thi tài này
mà địa hình vùng Tây Sơn được hình thành.
77
Hay cuộc thi tài của Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cũng là một cuộc thi tài võ
nghệ để kén rể, thiết lập hôn nhân. Song cuộc thi tài cũng mang mục đích thật sự là ca ngợi
và khẳng định tài năng phi thường của nhân vật chính: cặp vợ chồng anh hùng Trần Quang
Diệu và Bùi Thị Xuân. Cuộc thi tài của Phùng Hãi và cô gái tuy chưa thiết lập được hôn
nhân ngay mà phải đợi sau này họ mới lấy nhau. Nhưng xét cho cùng, cuộc thi tài này vẫn
là tiền đề tạo nên hôn nhân của họ. Cuộc thi tài của nàng Nhữ Nương và chàng con trai
Thủy Tề là một cuộc hôn nhân kì diệu. Tài năng ca hát xuất chúng của nàng Nhữ Nương
đến độ làm thần linh cũng điêu đứng mới là chức năng thật sự đằng sau việc thiết lập hôn
nhân giữa thần linh và con người. Qua đó, tầm vóc của con người cũng được nâng lên
ngang hàng cùng thần linh. Nhưng mặt khác, như chúng tôi đã trình bày ở phần Nhân vật thi
tài, cuộc thi tài này cũng có thể là lớp nghĩa mới được bồi tụ bên trên tục hiến sinh, tục hiến
tế phụ nữ cho thần sông để mong mưa thuận gió hòa.
Loại truyền thuyết thực hiện chức năng này ngày nay vẫn còn tồn tại. Chẳng hạn như
lễ hội kén chồng của bà Lê Hoa, nữ tướng của Hai Bà Trưng vẫn tồn tại sống động ở làng
Đường Yên, một trong những lễ hội dân gian độc đáo của vùng Kinh Bắc ngày xưa nói
chung và huyện Đông Anh ngày nay nói riêng. Lễ hội có các trò như thi tài bắt cá, bắt
ếch,…
* Bảo vệ
Kết quả thi tài bảo vệ ở đây bao gồm các hoạt động như bảo vệ quyền lợi, danh dự,
địa vị, tính mạng bản thân ( hay một bộ phận cơ thể).
Bảng 3.4. Kết quả bảo vệ trong truyền thuyết
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
Gốc tích ruộng thác đao
Danh dự 1 hay là truyện Lê Phụng
Hiểu
2 Giếng tiên Quyền lợi
3 Mạc Đỉnh Chi Danh dự Bảo vệ 4 Ngư thần Võ Cố Tính mạng
5 Nguyễn Hiền Danh dự
6 Phạm Ngũ Lão Danh dự
Tại sao những người già 7 Tính mạng được sống lâu
78
8 Trạng Vật Danh dự
(Khảo dị )
9 Truyền thuyết về Bà Chúa Tính mạng
Xứ
Hoạt động thi tài nhằm bảo vệ của nhân vật chiến thắng chiếm tỉ lệ nhiều nhất 39%.
Trước hết, các nhân vật thi tài như Võ Cố trong “Ngư thần Võ Cố”, Thoại Ngọc Hầu
trong Khảo dị “Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ”, anh chàng thanh niên trong “Tại sao những
người già được sống lâu” đều thi tài để bảo vệ tính mạng cho mình, cho người thân và mọi
người xung quanh. Võ Cố bảo vệ tính mạng của dân làng trước sự quấy phá của con giải
khổng lồ. Thoại Ngọc Hầu thi tài cùng Bà Chúa Xứ để ngăn không cho Bà “vật” dân làng
và quân lính của ông. Còn anh thanh niên chấp nhận thi tài chọi trâu để bảo vệ đất nước
khỏi sự xâm lược của nước láng giềng. Qua đó, anh gián tiếp bảo vệ được tính mạng cho
bản thân, cha và tất cả mọi người. Nhờ cuộc thi của mình, anh đã giúp cho những người già
được sống và chết bình thường, tự nhiên. Các hoạt động thi tài này thể hiện sự dũng cảm,
tấm lòng hiếu thảo, nhân hậu và vị tha của nhân vật thi tài nói riêng và nhân dân nói chung.
Bên cạnh chức năng bảo vệ tính mạng, hoạt động thi tài trong truyền thuyết còn thực
hiện chức năng bảo vệ danh dự. Tiên Ông và Tiên Bà trong “Giếng Tiên” thi tài với nhau để
bảo vệ quyền lợi của mình trong việc sử dụng dòng sông trên Tiên giới. Lê Phụng Hiểu
trong “Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lê Phụng Hiểu”, Nguyễn Hiền, Mạc Đỉnh
Chi, Phạm Ngũ Lão trong truyền thuyết cùng tên, Lành trong “Trạng Vật” đều thi tài để
khẳng định tài năng của bản thân trước sự xem thường của người khác. Lê Phụng Hiểu thi
tài cùng Tuấn Vồm để bảo vệ danh dự của mình, bảo vệ danh tiếng sức khỏe phi thường của
bản thân. Nguyễn Hiền cũng vậy khi thi tài đối câu cùng Đặng Tính bảo vệ danh tiếng thông
minh xuất chúng của mình. Hay Phạm Ngũ Lão thi tài cùng các võ sĩ của vua để khẳng định
tài năng của bản thân, danh dự của mình trong việc được phong làm võ sĩ dù xuất thân hèn
kém. Đặc biệt, Mạc Đỉnh Chi thi tài với người Tàu không chỉ bảo vệ danh dự bản thân, bắt
người Tàu phải mở cổng thành đón tiếp mà nó còn là hoạt động nhằm bảo vệ danh dự quốc
gia, lòng tự tôn của dân tộc.
Bảo vệ danh dự là sản phẩm của một xã hội đã phát triển về trình độ nhận thức. Các
cuộc thi tài nhằm bảo vệ danh dự ở truyền thuyết thường thực hiện bằng cách thi tài làm
thơ. Hệ tư tưởng chi phối nội dung thi tài này là hệ tư tưởng thời kì trung đại thuộc chế độ
phong kiến, có sự pha trộn nhiều yếu tố văn hóa, trong đó, Nho giáo đóng vai trò chủ chốt.
79
Theo quan niệm của Nho giáo đồng thời cũng là quan niệm của xã hội bấy giờ, những ai có
khả năng thông hiểu Tứ thư, Ngũ kinh, biết làm thơ được xem là người tài giỏi. Việc thi tài
làm thơ sẽ bảo vệ được danh tiếng của họ. Bên cạnh đó, các hoạt động thi tài về thể chất
như đấu võ, vật, bơi,…cũng mang chức năng bảo vệ danh dự của chủ thể thi tài. Qua đó,
chủ thể thi tài đã bộc lộ những phẩm chất cao đẹp như lòng dũng cảm, tính kiên trì, chăm
chỉ trong việc rèn luyện thể lực, võ nghệ để thi đấu. Ở đây là thi đấu chứ không phải chiến
đấu. Vì vậy, ý nghĩa nhân văn cũng được thể hiện rõ nét trong các cuộc thi đấu này.
* Các kết quả khác
Bảng 3.5. Các kết quả khác trong truyền thuyết
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
Ba ông thợ thổ hay sự tích tục chạy 1 Giữ gươm báu hồi loan
2 Bánh chưng- bánh giầy Nối ngôi vua
3 Người thợ mộc Nam Hoa Giành quyền xây đình
4 Sự tích ba ông đá Không rõ
5 Sự tích núi Ông Sập Không rõ
Hoạt động thi tài còn có nhiều kết quả khác, chiếm 22%. Lang Liêu vất vả trong cuộc
chạy đua giành quyền nối ngôi vua bằng lễ vật cúng tiên vương trong “Bánh chưng, bánh
giầy”. Cuộc thi tài giữa ba anh em trong “Ba ông thợ thổ hay Sự tích tục chạy hồi loan”
nhằm mục đích quyết định ai sẽ là người giữ thanh gươm thần. Hay cuộc thi tài của ông
Chuẩn và tốp thợ làng trong việc giành quyền xây đình làng ở “Người thợ mộc Nam Hoa”.
Mặt khác, có những cuộc thi tài không rõ về kết quả như “Sự tích núi Sập”. Ông Sập
thi tài với một người phụ nữ vô danh. Thua cuộc, ông tức giận đạp đổ núi của mình thành
ngọn núi thấp mang tên ông như ngày nay. Hay đơn giản hơn là cuộc đua đắp núi ở vùng
Châu Đốc của các Tiên Nam và Tiên Nữ trong Khảo dị “ Sự tích ba ông đá”.
* Nhận xét:
Trong truyền thuyết, kết quả bảo vệ chiếm tỉ lệ cao nhất. Như vậy dù không dành
mối quan tâm cho những mối quan hệ nhân sinh nhưng thế giới con người với những mâu
thuẫn vẫn là mối quan tâm hàng đầu của truyền thuyết.
3.1.2. Các kết quả của hoạt động thi tài trong truyện cổ tích
* Giành đất
Kết quả này không xuất hiện trong thể loại truyện cổ tích.
80
* Thiết lập hôn nhân
Bảng 3.6. Kết quả thiết lập hôn nhân trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
Anh chàng may mắn - cô gái 1 Anh chàng may mắn nhà giàu, đẹp
Chàng bơi giỏi - cô gái nhà 2 Ba chàng trai tài ba giàu, đẹp
Cái trống của Thần Chàng chạy nhanh- cô gái 3 Nông nhà giàu, đẹp
4 Chàng đốn củi Chàng đốn củi - công chúa
5 Chuyện Nàng Út Nàng Út - hoàng tử
Chuyện Ông Trượng- 6 Ông Trượng - Tiên Bửu đẹp Tiên Bửu Thiết lập hôn nhân Chàng nông dân - cô gái nhà 7 Một cuộc tranh tài giàu, đẹp
Người đầy tớ và người
8 ăn trộm Người đầy tớ - cô gái
9 Người lấy cóc Nàng Cóc- chàng học trò
10 Nàng Út Nàng Út- hoàng tử
11 Nữ hành giành bạc Cô gái – chàng học trò
Anh chàng có tật chân- công 12 Phò mã bị tật chúa
Như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, motif thi tài để kết hôn là một motif có lịch sử
lâu đời. Ở một nhánh rẽ khác với truyền thuyết, nó đã tự hình thành ở truyện cổ tích một tiểu
loại truyện riêng, chiếm 46%.
Các chàng trai cùng nhau thi tài bằng biệt tài để có được cô gái làm vợ. Các truyện “Một
cuộc tranh tài”, “Cái trống của thần Nông”, “Ba chàng trai tài ba”, “Người đầy tớ và người
ăn trộm”, “Chàng đốn củi”, “Anh chàng may mắn”, đều cùng mang chức năng này. Bốn
truyện đầu tiên, hoạt động thi tài gồm nhiều nhân vật có biệt tài tham gia. Trong các truyện sau,
các nhân vật thi tài bị mờ nhạt, chỉ còn xuất hiện nhân vật chính- người thắng cuộc. Hoạt động
thi tài để thiết lập hôn nhân ở đây mang ý nghĩa là phần thưởng cho nhân vật chính, thường là
81
anh chàng mồ côi, nghèo khổ trong “Chàng đốn củi” hay người có hình dạng xấu xí như anh
chàng bị tật trong “Phò mã bị tật”.
Việc thiết lập hôn nhân ở đây mang tính xây dựng và củng cố quyền lực của người đàn
ông trong quan niệm xã hội lúc bấy giờ. Sự tranh chấp về mặt hôn nhân giữa các chàng trai thực
chất là sự tranh chấp về quyền lực và đàn bà trong xã hội: người nào sở hữu được càng nhiều tài
sản và phụ nữ thì càng thể hiện được quyền lực của mình. Mặt khác, nó cũng là phương thức
khẳng định sự trưởng thành, chín chắn, phẩm chất tài năng của người đàn ông. Khi hoàn thành
được thử thách trong cuộc thi tài, chiến thắng và thiết lập được hôn nhân với cô gái, chàng trai
mới được cộng đồng thừa nhận tư cách thành viên chính thức của mình.
Các phụ nữ cũng phải thi tài với các phụ nữ khác để củng cố, bảo vệ mối quan hệ hôn
nhân của mình hay nói cách khác, đó là sự “tái lập hôn nhân”[ Đỗ Bình Trị, 2006, tr. 197] (
“Người lấy cóc”, “Nàng Út”, “Chuyện nàng Út”). Cũng bình đẳng như người đàn ông, người
phụ nữ cũng phải vượt qua thử thách là cuộc thi tài. Khi thực hiện được điều này, cô ta mới
xứng đáng được hạnh phúc, được công nhận và giải được lời nguyền của mình, trở thành con
người thật sự. Nàng Cóc, nàng Út phải vượt qua cuộc thi tài nấu cỗ, may áo quần, làm bánh mới
trở thành con người bình thường, được hưởng hạnh phúc vợ chồng thật sự với anh học trò,
hoàng tử.
Cũng có khi, chính phụ nữ lấy việc thi tài để xác lập hôn nhân cho mình. Cô vợ trong
“Nữ hành giành bạc” đòi thi tài làm thơ với chồng. Nếu không sẽ không thừa nhận hôn nhân
với anh. Hay truyện “Ông Trưởng- Tiên Bửu”, cả hai thi tài hò đối đáp. Hoạt động thi tài này
làm Tiên Bửu xiêu lòng trước sự thông minh, hóm hỉnh của ông lão ăn mày và đồng ý lấy ông.
Nếu không có hoạt động thi tài này, hôn nhân của họ đã không được thiết lập.
Theo thời gian và trình độ phát triển của xã hội, motif thi tài trước hôn lễ đã biến
dạng, hòa tan vào motif thách cưới với nội dung thử thách về mặt tài năng, vật chất của
người đi hỏi vợ ( bắt chồng), không còn là cuộc thi tài đơn thuần mà đã mang ý nghĩa kinh
tế - văn hóa- xã hội.
Thật vậy, hôn nhân là một trong những phương tiện và cách thức giúp người đàn ông
khẳng định quyền lực của mình. Motif thi tài để thiết lập hôn nhân đã xuất hiện từ lâu trong
thần thoại của các dân tộc, đặc biệt là tộc người Kinh. Cuộc thi tài đắp núi của “Tứ Tượng
và Nữ Oa” chính là vì Tứ Tượng muốn cưới Nữ Oa. Bà đồng ý với điều kiện phải thắng
được bà trong việc đắp núi. Mặt khác, chúng tôi tin rằng đây cũng là một phong tục dân tộc
học lâu đời. Điều này trái ngược với nhận định của Nguyễn Tấn Đắc khi ông phủ nhận điều
này trong bài viết “Đọc lại Truyện Sơn Tinh- Thủy Tinh”. Tuy ngày nay hình thức hôn nhân
82
này không còn tồn tại nhưng dư âm của nó vẫn còn. Chẳng hạn như ở dân tộc Thái, người
con trai phải biết đan lát, con gái phải biết dệt khăn phêu thì mới được lấy vợ ( chồng). Đây
chính là một biến thể của tục lệ thi tài trước hôn nhân.
* Bảo vệ
Bảng 3.7. Kết quả bảo vệ trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
1 Con hổ, con cóc tía và con khỉ Tính mạng
2 Con hổ, cóc tía, rùa Tính mạng
3 Cô mèo Tính mạng
4 Hổ và các con vật bé nhỏ Tính mạng
5 Mũi dài Danh dự
6 Rạch đùi giấu ngọc Địa vị Bảo vệ 7 Sự tích con trâu III Hàm răng trên
8 Tại sao cọp ăn thịt người Địa vị
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho 9 Địa vị hay là sự tích con mối
10 Trâu và ngựa Hàm răng trên
11 To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn Tính mạng
Hoạt động thi tài nhằm bảo vệ danh dự, địa vị, tính mạng chiếm 42% trong truyện cổ
tích. Trước hết, hoạt động thi tài để bảo vệ danh dự và địa vị của con người chiếm số lượng
ít nhất ( 3 bản kể). Các nhân vật Điền Chi trong “Rạch đùi giấu ngọc”, Thạch Sùng trong
“Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối” thi tài với nhà vua, viên quận công
nhằm thỏa mãn cái tôi cá nhân ích kỉ, muốn xác lập địa vị cao nhất, duy nhất của mình về
mặt tài sản, vật chất. Còn Đê trong “Mũi dài” thi tài để bảo vệ danh dự của mình, muốn
chứng tỏ tài năng của mình trong cuộc thi bơi cùng lũ bạn.
Bên cạnh đó, hoạt động thi tài của các con vật còn thể hiện sự bảo vệ tính mạng bản
thân hay bảo vệ một phần cơ thể của mình. Các truyện “To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn”,
“Con hổ, con cóc tía và con khỉ”, “Con hổ, cóc tía, rùa”, “Hổ và các con vật bé nhỏ”, “Sự
tích con trâu III”, “Trâu và ngựa” thực hiện chức năng này. Trọng tâm của nhóm truyện
này là cuộc thi tài của con vật hùng mạnh nhưng hung ác là hổ và các con vật hiền lành như
voi hay nhỏ bé như cua, cóc, sẻ, tê tê. Nếu thua cuộc, các con vật hiền lành và nhỏ bé này sẽ
bị hổ ăn thịt. Qua đó, chức năng này thể hiện quy luật sống của xã hội loài vật bề nổi và bề
sâu là quy luật để tồn tại của xã hội loài người bấy giờ: kẻ mạnh luôn ức hiếp kẻ yếu. Để
83
bảo vệ sự sinh tồn của mình, kẻ yếu buộc phải chịu sự chi phối của kẻ mạnh và cần phải có
sự thông minh, khôn khéo để không bị tiêu diệt. Ngoài ra, trâu phải thi tài với ngựa để bảo
vệ hàm răng trên của mình. Quá thật thà lại chậm chạp, trâu đành để mất hàm răng về tay
ngựa. Trong cuộc sống, đôi lúc “ thật thà là cha thằng dại”. Kẻ thật thà, khờ khạo sẽ chịu lép
vế trước người nhanh nhạy, thông minh, lươn lẹo. Đó là quy luật sống mà nhân dân ta muốn
thể hiện qua hai câu chuyện này.
Đặc biệt, trong truyện cổ tích loài vật cũng xuất hiện kết quả thi tài để bảo vệ địa vị
của mình. Đó là cuộc thi tài của con người và cọp trong “Tại sao cọp ăn thịt người”. Người
chủ động rủ cọp thi ăn nâu, người dùng thịt lợn thay thế củ nâu. Cọp ăn nâu, méo cả miệng,
tức giận. Lần khác, người lại rủ cọp thi ăn thịt chính mình. Cọp lại bị một phen đau đớn.
Lần cuối, người thách cọp ăn của quý chính mình, cọp sợ, bỏ chạy. Người bèn rượt theo,
phang một gậy vào cọp. Cuộc thi này chính là hình ảnh sống động của quá trình con người
chiếm lĩnh khu rừng trong các cuộc săn bắn. Cọp vốn là chúa tể sơn lâm, nắm quyền ở rừng
rậm. Khi con người bắt đầu tiến vào sâu trong rừng, săn bắt các loài thú xưa nay vốn là con
mồi của cọp. Với hành động này, con người bắt đầu xâm lấn lãnh thổ của cọp, chiếm nguồn
thức ăn của nó. Con người bắt đầu làm chủ tự nhiên, bắt tự nhiên phải phục vụ cho mình.
Mặt khác, nó cũng thể hiện sự thông minh, mưu trí của nhân dân trước những kẻ mạnh hơn
mình nhưng ngốc nghếch, khờ khạo.
* Các kết quả khác
Bảng 3.8. Các kết quả khác trong truyện cổ tích
STT Tên truyện Kết quả của hoạt động thi tài
1 Tấm Cám Giành cái yếm đỏ
2 Cá chép hóa rồng Mang lại địa vị, danh dự
3 Con cò đi thi kêu Mang lại danh dự
Hoạt động thi tài khác chiếm 12% trên tổng số bản kể. Cũng như con người, loài vật
cũng thi tài để mang lại danh dự cho mình. “Con cò thi kêu” thể hiện khá rõ chức năng này.
Cò muốn xác lập vị thế của mình trước muôn loài trong cuộc thi kêu. Hay cá chép trong
“Cá chép hóa rồng” thì lại thi tài nhằm tạo dựng danh dự, tiếng tăm cho bản thân, mong
muốn được công nhận về tài năng, về sự tồn tại của cá thể mình. Đó còn là ước ao được
vươn tới một vị trí mới: trở thành một loài vật cao quý, được con người tôn sùng, thờ phụng.
Ngoài ra, cuộc thi tài giữa Tấm và Cám trong “ Tấm Cám” lại mang chức năng đặc
biệt: giành yếm đỏ. Yếm đỏ là biểu tượng cho cái đẹp của người phụ nữ dân tộc Kinh. Có
84
thể nói đây là đặc trưng riêng về mặt thẩm mĩ của tộc Kinh so với các tộc người khác. Type
truyện Tấm Cám là một type truyện mang tính nhân loại. Các nhân vật thi tài với nhau vì
nhiều mục đích. Trong truyện của tộc Chăm, tộc người Thái, Khmer, Xơ – rê, kết quả của
hoạt động thi tài là để phân định ai làm chị, ai làm em vì cả hai đều cùng tuổi nhau, giống
nhau như hệt. Ở đây, trong truyện của người Kinh lại là cái yếm đỏ. Như vậy, kết quả của
cuộc thi tài trong Tấm Cám của người Kinh đã bị thay đổi theo xu hướng dân tộc hóa khi
lấy cái yếm đỏ, một vật dùng riêng của người Kinh làm đối tượng.
* Nhận xét:
Khác với truyền thuyết, sự thiết lập hôn nhân chiếm tỉ lệ cao nhất, 46%. Truyện cổ
tích quan tâm đến con người và mối quan hệ của con người, trong đó mối quan hệ hôn nhân
được chú ý nhiều nhất. Các cuộc thi tài trong truyện cổ tích nhằm phục vụ cho mục đích
thiết lập hôn nhân vì vậy cũng chiếm ưu thế.
Tóm lại:
Bảo vệ là kết quả thi tài chiếm ưu thế nhiều nhất ở thể loại truyền thuyết. Kết quả
này bao gồm việc bảo vệ tính mạng, danh dự, quyền lợi và địa vị của các nhân vật thi tài.
Qua đó, nó khắc họa nên hình tượng cao đẹp, linh thiêng của các nhân vật, sự vật, hiện
tượng được nhân dân đề cao, ca ngợi.
Ở truyện cổ tích, thiết lập hôn nhân là kết quả chiếm tỉ lệ cao nhất. Truyện cổ tích
phản ánh những mối quan hệ nhân sinh. Nên mối quan hệ về mặt hôn nhân là mục đích chủ
yếu của hoạt động thi tài. Thông qua đó, vai trò và địa vị của các chủ thể thi tài sẽ được xác
lập, được cộng đồng thừa nhận tư cách thành viên của mình. Thiết lập hôn nhân cả về mặt
xã hội lẫn sinh vật đều có vai trò vô cùng quan trọng, Đây là một trong những mối quan hệ
có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội về mặt số lượng (sinh sôi,
nảy nở) lẫn chất lượng ( trình độ phát triển xã hội).
3.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài
3.2.1. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyền thuyết
* Ý nghĩa thế giới quan
Thứ nhất, motif thi tài trong truyền thuyết thể hiện cái nhìn của chủ thể sáng tạo về
thế giới tự nhiên.
Trước hết, hình tượng “ Bánh chưng, bánh giầy” là một hình tượng đặc biệt, thể hiện
cái nhìn triết học của nhân dân về thế giới: Trời tròn – Đất vuông. Tính đối xứng nhị nguyên
thể hiện rõ nét ở đây. Bánh chưng là biểu tượng của Đất, bánh giầy là biểu tượng của Trời.
Cả hai biểu tượng Đất và Trời đã xuất hiện từ rất lâu trong kí ức nhân loại. Trời và Đất luôn
85
nối liền với nhau trong huyền thoại khai mở thế giới. Sau đó sẽ xuất hiện một vị thần hoặc
một ánh sáng tách đôi Trời và Đất, nâng Trời lên cao để ánh sáng và sự sống xuất hiện. Đất
là một trong những cổ mẫu lâu đời nhất trong kí ức nhân loại. Không phải ngẫu nhiên mà
hành tinh chúng ta đang sống được gọi là Trái Đất, Quả Đất. Đất mang tính chất cứng cáp,
đục thô, ổn định, rộng rãi, ngập tràn cây cối, nuôi sống muôn loài. Đất như người Mẹ có sức
sản sinh và tái sinh, bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm và bao dung. Trong thần thoại của
hầu hết các dân tộc đều xem Đất là Mẹ như thần thoại Việt ( mẹ Âu Cơ), thần thoại Hy Lạp
( thần Gaia),…Đất thường mang khuôn mặt Núi Non, Hang Vực, Gò, Đống, Đá…Còn Trời
chính là nơi cao nhất, ban phát ánh sáng cho muôn loài, là nơi thần linh ngự trị. Đất- Trời là
cặp phạm trù đối lập nhưng thống nhất, tương ứng Âm- Dương, Mẹ- Cha. Đây cũng là quan
niệm về thế giới quan khởi thủy của người Kinh cổ.
Bên cạnh đó, hình tượng Núi – Nước được nhắc tới khá nhiều trong các cuộc thi tài.
Những ngọn núi như núi Tản Viên, nơi Sơn Tinh chiếm lĩnh, khi thi tài cùng Thủy Tinh, núi
Sam, nơi ngự của Bà Chúa Xứ khi thi tài cùng Thoại Ngọc Hầu, …đều là nơi thần linh trú
ngụ. Bên cạnh đó, núi cũng là một sản phẩm của thần linh tạo tác từ các cuộc thi tài với
nhau. Ngọn Thất Sơn, núi Sập, núi ở vùng Tây Sơn,… cũng do các vị Tiên Nam, Tiên Nữ (
“Sự tích ba ông đá”), các chàng trai Khổng Lồ (“Dấu chân người xưa”) tạo nên khi thi tài
với nhau. Vì thế, những ngọn núi này cũng mang linh khí của thần thánh. Chúng là hiện
thân của thần thánh. Núi là biểu tượng của nơi tận cùng thế giới, ranh giới giữa thế giới vô
hình và hữu hình. Đây là nơi các thần linh ngự trị, quan sát và cai quản thế gian. Thần thoại
Hi Lạp có đỉnh Olympus, thần thoại Ấn Độ có đỉnh Meru,…Huyền thoại Việt có núi Nùng,
trên đỉnh có lỗ thông hơi với các hồ ao và núi nên được xem là rốn rồng, là nơi có đền thờ
thần Long Đỗ. Có thể thấy những ngọn núi trong thế giới quan của con người thời đại
truyền thuyết đều mang dấu tích của thần linh. Nếu núi là nơi thần linh trú ngụ, là sản phẩm
của các cuộc thi tài giữa các thần linh thì mang phạm vi bé nhỏ hơn, đá là nơi trú ngụ của
linh hồn. Vì thế mà một tượng đá vô tri vô giác nhưng trong tâm trí của nhân dân lại vô
cùng thiêng liêng và mầu nhiệm. Các pho tượng thờ thần thường khắc bằng đá, thậm chí họ
cho rằng những pho tượng làm bằng đá này là sản phẩm thiên tạo. Tượng Bà Chúa Xứ ở núi
Sam chính là biểu tượng tiêu biểu mà không ai dù là số lượng đông đến độ nào có thể nhấc
nổi, chỉ khi Bà linh ứng, đòi chín cô gái đồng trinh khiêng thì lại thành công. Mặt khác, đá
còn là kết tinh của những linh hồn tạo nên một cộng đồng lớn mạnh. Đá được xếp lại thành
đống chính là hiện thân của niềm tin này. Ba ông đá ở Châu Đốc tuy chưa là núi nhưng
86
cũng được xem là nơi hiển linh, phù hộ cho nhân dân. Ba ông đá này chính là tạo tác của
thần linh trong cuộc thi tài kiến tạo địa hình với nhau. Hay đá được thể hiện qua hiện tượng
núi đùn thành mộ gọi là mộ kết hay thiên táng. Truyền thuyết về Mạc Đỉnh Chi cũng có
hình tượng này. Theo nhân dân đó chính là cơ sở, cội rể tạo nên sự thông minh một nhân vật
lịch sử tài ba, luôn chiến thắng trong các cuộc thi tài đến triều đình phong kiến phương Bắc
cũng phải bội phục. Đá là biến thể của hình tượng Núi trong tư duy của chủ thể sáng tạo.
Bởi Đá chính là cái tạo nên Núi. Tuy quy mô nhỏ hơn núi nhưng nó cũng mang vai trò,
chức năng tương tự như Núi.
Các cuộc thi tài không chỉ có sự xuất hiện của Núi mà còn có sự xuất hiện hình tượng
Nước. Thần Tản Viên Sơn Thánh ( Sơn Tinh) là một vị thần bước ra từ thần thoại, trở thành
một vị anh hùng văn hóa trong thời kì Hùng Vương. Thần thi tài cùng vị thần biển cả Thủy
Tinh để tranh giành công chúa Mị Nương. Chính vì cuộc thi tài này không phân định được
thắng thua nên mới dẫn tới hậu quả thành Phong Châu nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Hiện
tượng lũ lụt hàng năm ở Đồng bằng sông Hồng đã được thiêng hóa thành cơn giận vì ghen
của Thần Nước Thủy Tinh. ( “Sơn Tinh, Thủy Tinh”). Hay câu chuyện Tiên Ông chăn trâu
và Tiên Bà giặt lụa cùng nhau thi tài đào giếng ( “Giếng Tiên”). Hai giếng nước này quanh
năm luôn có nước trong và ngọt. Vì tính chất diệu kì này nên nhân dân mới sáng tạo nên
cuộc thi tài giữa hai vị tiên. Trong tâm thức của nhân dân, chỉ có những thần linh mới tạo
nên được những vật kì lạ như vậy. Cuộc thi tài giữa họ đã thổi vào hai cái giếng nước ngọt
sự thần kì, tựa như nguồn nước trường sinh trong thần thoại mang lại sức sống cho vùng
đất. Sông, biển, giếng là hiện thân của Nước, một cổ mẫu tự nhiên có nguồn gốc xa xưa
trong lịch sử nhân loại. Nước là cơn đại hồng thủy tiêu diệt thế giới loài người lớp đầu tiên (
thế giới hiện tại được cho là lớp người thứ hai). Đó là kí ức loài của nhân loại về việc tan
băng ở cuối kỉ Băng hà, nguồn gốc của huyền thoại lụt nhân loại. Nước mang cả hai thái cực
Âm Dương đối lập với nhau. Vì thế nó được xem là nguồn sống của vũ trụ. Nước trong đời
sống nhân loại thường quy về ba chủ đề lớn: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và trung tâm
tái sinh. Nước chính là mầm sống của mọi mầm sống. Từ trong sâu xa, chính Nước đã làm
nên vũ trụ bởi chức năng duy trì sự sống và vai trò tạo ra mùa màng, phúc lộc sinh sôi nảy nở
cho muôn loài trên mặt đất. Con người tìm về với Nước cũng đồng nghĩa tìm về nguồn cội.
Dòng sông cũng là nơi mẹ của “Ngư thần Võ Cố” được nhận lọ nước thần, sinh ra Võ Cố;
nơi giải thần dạy Võ Cố bơi. Nước là bản thể diệu kì tạo nên sự sống cho con người. Mặt
khác, nước cũng bộc lộ bản thể hung bạo, trở thành kẻ đến sau, luôn luôn tìm cách tái hợp
87
với Đất nhưng lại mang bộ mặt kẻ phá hoại trong hình tượng Thủy Tinh. Vị thần Biển thua
cuộc nên năm nào cũng dâng lũ đánh Sơn Tinh trong “Sơn Tinh, Thủy Tinh”. Hai hình
tượng Núi- Nước này cũng tạo nên cái nhìn lưỡng phân lưỡng hợp trong tư duy của người
Kinh cổ.
Bên cạnh hình tượng Núi- Nước, hình tượng Đất- Nước cũng là một cặp đôi thường
gặp trong truyền thuyết. Chàng con trai út vua Thủy Tề yêu thầm Nhữ Nương trong “Vua
Bà”đến từ thế giới của Sông, Nước. Nhữ Nương là một cô gái bình thường, sống trên cạn,
tức là trên mặt đất. Hai con người đến từ hai thế giới khác nhau, thậm chí là đối lập với nhau
đã tạo nên một cuộc lương duyên truyền kì, mang đến ý nghĩa sinh sôi nảy nở cho con
người. Phải chăng đó chính là cuộc tái hợp giữa Đất và Nước từ sau ngày Lạc Long Quân
và Âu Cơ chia tay nhau?
Như vậy, ở đây, trong cái nhìn của chủ thể sáng tạo về vũ trụ đã xuất hiện sự sóng
đôi của Đất- Nước ( “ Vua Bà”), Đất- Trời ( “Bánh chưng, bánh giầy”), Núi – Sông ( “Sơn
Tinh, Thủy Tinh”) và các biến thể của chúng như đá, giếng, biển,…
Thứ hai, các cuộc thi tài còn phản ánh dấu vết của tín ngưỡng và tôn giáo trong đời
sống của cộng đồng Kinh.
Trước khi các tôn giáo được du nhập, cư dân Kinh chịu ảnh hưởng của các tín
ngưỡng bản địa như tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, thờ phụng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực
và tín ngưỡng thờ mẫu. Cư dân Kinh thờ các vị thần như thần Núi (Sơn Tinh), Biển ( Thủy
Tinh) trong “ Sơn Tinh, Thủy Tinh”, thần Sông ( “Vua Bà”). Thần Núi được cư dân Kinh tôn
sùng, kính yêu hơn cả. Còn thần Biển tuy được nhân dân tôn thờ nhưng nhân dân luôn nhìn
vị thần này bằng cái nhìn sợ hãi, khiếp đảm. Có lẽ do ngay từ buổi đầu định cư trên đồng
bằng sông Hồng, những cơn lũ lụt ở đây đã tạo nên những thiệt hại, mất mát to lớn cho
người Kinh. Vì thế, họ vừa căm ghét nhưng lại vừa khiếp sợ vị thần Nước này. Tục hiến tế
người cho thần nước cũng xuất hiện. Tuy nhiên, theo thời gian, tục này biến thành cuộc hôn
nhân của nàng Nhữ Nương và con Út của vua Thủy Tề trong “ Vua Bà”. Cư dân Kinh còn
có tục thờ phụng ông bà tổ tiên ( “Bánh chưng, bánh giầy”). Lang Liêu, vị vua Hùng thứ
bảy mang dáng dấp của vị anh hùng văn hóa, đã sáng tạo nên hai loại bánh của ngày Tết,
dâng cúng ông bà, tổ tiên. Nhờ cuộc thi tài giữa các vị lang mà hai loại bánh ý nghĩa được ra
đời. Từ hai loại bánh tầm thường, được làm từ nguyên liệu mộc mạc, gần gũi với người
nông dân được thiêng hóa trở thành đại diện cho phong tục cổ truyền quan trọng hàng đầu
vào dịp Tết của người Kinh. ( “Bánh chưng, bánh giầy”). Hai loại bánh này chính là hiện
88
thân cho truyền thống Uống nước nhớ nguồn, trọng Nông của dân tộc Kinh. Thông qua
phong tục cổ truyền này, người Kinh bộc lộ quan niệm về thế giới của con người sau khi
chết. Theo người Kinh, “chết là hóa thân vào kiếp khác, vẫn tiếp tục lao động và hưởng thụ
như khi đang còn sống”[ Nguyễn Khắc Thuần, 2010, tr. 75]. Như vậy, rõ ràng trong quan
niệm của người Kinh, luôn có những thế giới khác. Từ thế giới linh thiêng của các vị thần
trên núi, dưới nước đến thế giới của người chết dưới đất, tất cả đều tồn tại và song hành với
thế giới của người sống. Bên cạnh phong tục thờ cúng ông bà, tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực
cũng là một sản phẩm tinh thần đặc trưng của nền văn minh lúa nước, trong đó có nền văn
minh của dân tộc Kinh. Tín ngưỡng phồn thực thờ sinh thực khí của hai giới tính nam và nữ.
Các biểu tượng sinh thực khí này gồm Linga, biểu hiện bằng khối tròn tượng trưng cho dương
vật (đực) và yoni, biểu hiện bằng khối vuông tượng trưng cho âm vật (cái). Tín ngưỡng phồn
thực mang ý nghĩa tươi tốt, vạn vật sinh sôi, nảy nở và phát triển không ngừng. Hình tượng
bánh chưng hình vuông có sự tương đồng với hình tượng yoni và hình tượng bánh giầy hình
tròn có sự tương đồng với hình tượng linga. Vì vậy, thông qua hình tượng hai loại bánh này,
tín ngưỡng phồn thực được lồng ghép một cách tinh vi, kín đáo. Ngoài ra, tín ngưỡng thờ
mẫu cũng là một trong những tín ngưỡng cổ xưa của cư dân nông nghiệp. Tín ngưỡng này
thờ các vị nữ thần hộ mệnh của cộng đồng cư dân bản địa. Trong truyền thuyết “Truyền
thuyết về Bà Chúa Xứ”, cư dân Kinh vùng đất Nam Bộ tôn thờ Bà Chúa Xứ ở vùng núi
Sam, Châu Đốc, An Giang. Tín ngưỡng này là dấu vết của xã hội thị tộc cổ xưa. Câu
chuyện kể về cuộc thi tài của vị quan Thoại Ngọc Hầu với Bà Chúa Xứ. Qua đó, nhân dân
thể hiện cái nhìn vừa tôn kính vừa gần gũi với vị nữ thần nổi tiếng linh nghiệm này.
Theo trình độ phát triển của nhân loại về mặt xã hội và tư duy, các tôn giáo lớn xuất
hiện và tiến hành truyền bá tư tưởng của mình đến các quốc gia và vùng lãnh thổ. Cộng
đồng Kinh bắt đầu tiếp xúc với các tôn giáo từ bên ngoài du nhập vào. Từ Ấn Độ, Đạo Phật
du nhập vào cộng đồng Kinh. Đạo Phật đã mang theo thế giới quan rộng lớn, có cấu trúc cụ
thể. Theo quan niệm của Phật giáo, vũ trụ là vô thủy vô chung, được vận hành bởi quy luật
nhân quả chứ không do đấng siêu nhiên nào sáng tạo nên cả. Theo đó, ý niệm về có và
không chỉ là tương đối. Vạn vật là vô thường, chỉ có sự vận hành giữa nhân và quả mới là
vĩnh cửu. Về mặt định vị luận, thế giới của Phật giáo vô cùng rộng lớn, thế giới mà chúng ta
đang sống chỉ là một hạt cát nhỏ. Bên cạnh đó, từ Trung Hoa, Đạo Lão du nhập vào cộng
đồng Kinh. Đạo Lão quan niệm thế giới khởi nguyên từ Đạo. Đạo là cái vô lượng, vận hành
không ngừng, đến thật xa rồi quay trở lại. Tuy nhiên, không rộng lớn như Phật giáo, thế giới
89
của Đạo bé nhỏ hơn. Khái niệm thế giới của Đạo giáo chỉ tương đương với một thế giới
trong số hằng hà sa số thế giới của Phật giáo. Cũng từ Trung Hoa du nhập vào cộng đồng
người Kinh, Nho giáo không có hệ thống vũ trụ quan hoàn chỉnh và chặt chẽ như Phật giáo
và Đạo giáo. Trong Kinh Dịch của Nho giáo, khởi thủy của vũ trụ chỉ là một khối hỗn
mang. Trong khối hỗn mang ấy có cái gọi là Thái cực, vô hình nhưng linh diệu. Thái cực
sinh ra Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tú tượng sinh Bát quái. Lưỡng nghi là
một khái niệm rộng lớn, dùng để chỉ tất cả những gì trái ngược nhau, vừa có thể tương tác,
vừa có thể làm biến đổi nhau sinh ra Tứ tượng. Tứ tượng gồm có Thiếu dương, Thiếu âm và
Thái dương, Thái âm sinh ra Bát quái. Bát quái là tám quẻ của Trời Đất. Tuy nhiên, cái mà
Nho giáo đề cập nhiều nhất về mặt thế giới quan chính là Trời và Mệnh Trời. Hiểu được sự
biến hóa linh diệu của vũ trụ chính là thông hiểu được Mệnh Trời. Từ đó, con người biết
sống thuận theo ý Trời.
Khi du nhập vào cộng đồng Kinh, các tôn giáo này đã tiếp biến với tín ngưỡng bản
địa tạo nên những sắc thái mới, mang tính địa phương cao. Chúng hòa quyện vào nhau, tạo
nên một thể thống nhất mới. Phật- Đạo- Nho cùng với tín ngưỡng bản địa tạo nên một vũ trụ
quan mới. Vũ trụ quan này tuy chịu ảnh hưởng từ nhiều phía nhưng không hề mâu thuẫn với
nhau mà cùng tồn tại thống nhất bên cạnh nhau. Trong truyền thuyết, vũ trụ quan của chủ
thể sáng tạo chủ yếu chịu ảnh hưởng của vũ trụ quan Đạo giáo. Nhắc đến vũ trụ quan Đạo
giáo là nhắc đến hệ thống thần thánh đa dạng. Hệ thống thần thánh này được thờ trong các
miếu, đạo quán ở giai đoạn đầu du nhập vào cộng đồng Kinh. Đến giai đoạn sau, hệ thống
thần thánh này bị thay thế bởi các vị anh hùng chống ngoại xâm, các danh nhân văn hóa,
thần tổ các ngành nghề của cư dân Kinh. Đây là quá trình địa phương hóa hệ thống thần
thánh của Đạo giáo. Các truyền thuyết Kinh phản ánh khá rõ nét nội dung này thông qua các
câu chuyện về các vị anh hùng có công chống giặc ngoại xâm như Võ Cố trong “ Ngư thần
Võ Cố” đã tự nguyện tòng quân dưới trướng Sơn Tinh đánh giặc, Phạm Ngũ Lão trong “
Phạm Ngũ Lão” theo Trần Hưng Đạo đánh giặc Nguyên, đôi vợ chồng Bùi Thị Xuân- Trần
Quang Diệu theo Nguyễn Huệ chống quân Thanh ( “ Nữ tướng họ Bùi”). Các danh nhân văn
hóa lỗi lạc như Nguyễn Hiền ( “ Nguyễn Hiền”), Mạc Đĩnh Chi ( “ Mạc Đĩnh Chi) hay các
vị thần tổ các ngành nghề như ông Chuẩn- tổ nghề chạm khắc trong “ Người thợ mộc Nam
Hoa”, Nhữ Nương- tổ nghề hát Quan họ trong “ Vua Bà” cũng được ngợi ca, tôn thờ trong
các đền, miếu, đình,... Ngoài ra, các nhân vật Tiên như Tiên Ông, Tiên Bà trong “ Giếng
Tiên”, Đạo sĩ trong “ Sự tích tháp Nhạn” cũng xuất hiện trong truyền thuyết Kinh.
90
Đạo giáo có vai trò vô cùng to lớn trong đời sống tinh thần của chủ thể sáng tạo. Nó
góp phần hình thành nên quan điểm nhận thức thế giới của người Kinh. Đạo giáo vốn là một
tôn giáo vừa duy vật lại vừa duy tâm. Bởi nó quan niệm thế giới không do bất kì một đấng
siêu nhiên nào tạo ra mà là một cái gì đó vô lượng, luôn vận hành không ngừng, đi thật xa
rồi quay trở lại ( Đạo). Qua đó, nó thể hiện cái nhìn biện chứng thô sơ về thế giới. Tuy
nhiên, Đạo giáo lại chủ trương vô vi, yếm thế, thủ tiêu chí tiến thủ của con người. Nên nó
cũng mang cái nhìn siêu hình, tĩnh tại. Quan niệm về thế giới quan này tuy có mặt tích cực
lẫn tiêu cực nhưng vai trò ảnh hưởng của nó đến hệ tư tưởng của cư dân Kinh vẫn vô cùng
to lớn. Hệ thống thần tiên, thánh của Đạo giáo ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan hữu
thần của người Kinh với ba tầng: tầng Trời, tầng Đất và tầng Nước.
Bên cạnh thế giới quan Đạo giáo, thế giới quan Bà La Môn giáo cũng xuất hiện trong
truyền thuyết Kinh thông qua giao lưu văn hóa với tộc người Chăm. Thế giới quan của tôn
giáo này thể hiện thông qua hình tượng tháp. Trong quá trình giao lưu và hòa hợp của Chăm
và Kinh, cả hai cộng đồng đã thi tài xây tháp ( “Sự tích tháp Chàm”,” Sự tích tháp Nhạn”).
Tuy đến cuối cùng những ngọn tháp đó chỉ còn là phế tích nhưng với nhân dân thời ấy, đó là
một cuộc hành trình dang dở đi tìm, tạo ra cái thiêng nơi cuộc sống. Xây tháp chính là xây
cầu lên thế giới thần linh. Nhưng cái linh thiêng luôn ở xa và cao hơn cuộc sống nên tất yếu
công cuộc này phải bỏ dở giữa chừng. Tháp được gọi là hà lằn hay mun hà lằn có nghĩa là
lăng. Điều này đồng nghĩa với việc tháp không chỉ là nơi thờ các vị thần linh ( tương đồng
với văn hóa tộc người Kinh ở điểm này) mà còn là lăng mộ của các triều đại vua chúa
Champa. Đó chính là biểu hiện của truyền thống hòa nhập vương quyền và thần quyền trong
Ấn Giáo của người Chăm cổ. Việc xây tháp là vô cùng quan trọng, là điều kiện cần thiết để
củng cố, khẳng định ngôi vua. Tháp chính là biến thể của ngọn núi thông thiên, cầu nối của
thế giới thần linh và con người mà chúng tôi đã trình bày ở trên. Những ngọn tháp như tháp
Nhạn, tháp Chàm được truyền thuyết hóa ở đây chính là “đỉnh Meru” của người Chăm. Bởi
văn hóa Ấn Độ chính là hạt nhân nòng cốt trong nền văn hóa Chăm, thậm chí về mặt tín
ngưỡng, thiết chế xã hội, văn hóa dân gian,…cũng mang “hình hài” của Ấn Độ dù về mặt
“linh hồn”, “hơi thở” đã được cải biến cho phù hợp với văn hóa bản địa. Với hình tượng
những ngọn tháp thi gan với mưa nắng, dân tộc Chăm đã thể hiện không chỉ sự tài hoa về
nghệ thuật kiến trúc cổ ( cho đến nay kĩ thuật xây tháp của dân tộc Chăm vẫn là một bí ẩn
đến ngay cả Pháp bắt đầu tìm hiểu kĩ thuật này từ thế kỉ XVI vẫn bó tay) mà còn là một biểu
hiện của một thời quá khứ hoàng kim. Theo thời gian, cuộc thi tài xây tháp đã biến thành
cuộc thi tài chạm khắc đình làng của một người thợ lành nghề và một nhóm thợ bình thường
91
(“Người thợ mộc Nam Hoa”) trong truyền thuyết Kinh. Cuộc thi này biểu hiện vai trò quan
trọng của đình làng trong văn hóa Kinh. Xây dựng nơi linh thiêng này cần phải có những tài
năng thật sự xuất chúng để xứng với tầm vóc to lớn của ngôi đình. Vì vậy, thi tài sẽ là cách
thức tốt nhất để tìm người giỏi nhất. Người giỏi nhất mới có thể có đủ tư cách xây dựng, tạo
tác không gian thiêng này. Nếu dân tộc Chăm xem tháp là không gian linh thiêng nhất của
thần thánh thì đình cũng mang chức năng tương tự trong văn hóa Kinh. Đình luôn gắn liền
với làng, là không gian diễn ra các lễ, hội. Đình đóng vai trò là cái nôi nâng đỡ về mặt tinh
thần của người Kinh. Đình là nơi thờ Thành hoàng, vị thần riêng của làng chuyên chăm lo,
phù hộ cho người trong làng. Bởi làng vốn là một cộng đồng người mang tính hướng nội
sâu sắc. Nó khép kín đến độ “ Phép vua thua lệ làng”. Bên cạnh đó, cuộc sống của người
nông dân chốn thôn quê chẳng hề dễ dàng, đất đai hạn hẹp, người thì không ngừng tăng.
Cuộc sống vốn đã một nắng hai sương lại càng khốn khó hơn. Khi đó, lễ luôn gắn liền với
hội trở thành nơi vui chơi, thư giãn tinh thần cho người bình dân, tạo nên sức sống nội tại to
lớn trong họ, giúp họ có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc sống gian khó của mình. Lễ và hội
thường diễn ra ở đình làng. Sau phần lễ tế, bao giờ cũng có hội với các trò chơi dân gian mà
cho đến ngày nay vẫn giữ nguyên vai trò, chức năng của mình.
* Ý nghĩa nhân sinh quan
Truyền thuyết người Kinh quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ. Xu hướng
kéo thần linh về gần thế giới của con người cũng là một biểu hiện của việc lấy con người
làm trung tâm. Trong các cuộc thi tài với thần linh và loài vật, con người luôn luôn chiến
thắng. Đây cũng chính là biểu hiện của quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ. Truyền
thuyết về cuộc thi tài của Thoại Ngọc Hầu với Bà Chúa Xứ ( “ Truyền thuyết về Bà Chúa
Xứ”), cuộc thi tài của Võ Cố với giải thần ( “ Ngư thần Võ Cố”),…là những truyền thuyết
tiêu biểu.
Bên cạnh đó, truyền thuyết còn thể hiện quan niệm của chủ thể sáng tạo về bản chất
và giá trị của con người. Trước tiên, đó là quan niệm giữa diện mạo bên ngoài và tính cách
bên trong. Giá trị của con người không nằm ở diện mạo bên ngoài mà do những phẩm chất
bên trong quyết định. Mạc Đỉnh Chi trong truyền thuyết “ Mạc Đỉnh Chi” tuy hình hài xấu
xí, nhỏ bé nhưng lại là người cực kì thông minh. Trong cuộc thi tài với người Tàu, Mạc
Đỉnh Chi đối đáp nhanh chóng và chính xác, được phong Lưỡng quốc trạng nguyên. Thứ
hai, chủ thể sáng tạo còn thể hiện quan niệm giữa sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần.
Trong quan niệm về chiến thắng, người Kinh cổ thường thiên về sức mạnh tinh thần nhiều
hơn. Trong các cuộc tranh tài, chủ thể thi tài có nhiều mưu mẹo luôn giành chiến thắng. Các
92
truyền thuyết như “ Sự tích thành Lồi”, “ Sự tích tháp Chàm”, “ Tại sao người già được
sống lâu”,...là các ví dụ tiêu biểu. Đặc điểm này có thể là do sự ảnh hưởng của vị thế cộng
đồng Kinh đối với các cộng đồng xung quanh nhất là với cộng đồng Hán ở phía Bắc. Ngay
từ thời mới dựng nước, cộng đồng Kinh đã phải đương đầu với giặc ngoại xâm. Là một
cộng đồng nhỏ bé so với tộc người Hán ở phía bắc, người Kinh ý thức rất rõ chỉ có dùng sức
mạnh tinh thần mới có thể chống chọi lại sự mạnh vật chất của ngoại xâm. Lòng yêu nước
nồng nàn, ý chí quật cường, lòng kiên trì, bền bỉ,...chính là nhân tố tinh thần to lớn giúp
người Kinh giữ gìn cương thổ, bảo vệ độc lập và tự do. Thứ ba đó là quan niệm về trí tuệ và
tâm hồn. Người Kinh cổ luôn gắn kết chặt chẽ giữa trí tuệ và tâm hồn. Những vị anh hùng,
danh nhân văn hóa có tài luôn là những người có Đức, có Tâm. Cái Tài của họ luôn đi liền
với những phẩm chất tốt đẹp. Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Hiền, Mạc Đỉnh Chi, Lê Phụng
Hiểu,... đều là những người hết lòng vì nước vì dân. Tất cả những quan niệm về Tài và Sắc,
Tài và Sức, Tài và Trí, Tài và Tâm được thể hiện hết sức sinh động và cụ thể.
Đặc biệt, những mối quan hệ nhân sinh được phản ánh trong truyền thuyết hết sức
phong phú và đa dạng. Qua đó, chúng thể hiện qua cái nhìn của chủ thể sáng tạo về các mối
quan hệ giữa người và người trong gia đình và xã hội.
Trong gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái được thể hiện trong “ Tại sao
người già được sống lâu” hết sức cảm động. Người con sợ cha mình đã già nên sẽ bị giết
chết theo luật lệ, bèn giấu cha mình dưới hang sâu. Lòng hiếu thảo của anh được đền đáp
nhờ khi anh thắng cuộc thi chọi trâu, nhà vua đã bãi bỏ luật lệ hà khắc này. Về quan hệ vợ-
chồng, trong quan niệm của người Kinh, mối quan hệ này được thể hiện theo quan niệm “
thuận vợ thuận chồng” là chủ yếu. Các cuộc hôn nhân trong truyền thuyết đều là những
cuộc hôn nhân tự nguyện, xuất phát từ hai phía, xa lạ với kiểu hôn nhân “cha mẹ đặt đâu
ngồi đó” hay “ chồng chúa vợ tôi” của Nho giáo. Cuộc hôn nhân giữa Nhữ Nương và chàng
con út vua Thủy Tề ( “ Vua Bà”) hay cuộc tình duyên giữa Bùi Thị Xuân và Trần Quang
Diệu cũng do hai người tạo nên ( “ Nữ tướng họ Bùi”). Chúng đều bắt đầu từ những cuộc thi
tài ca hát, đánh võ công bằng và nhân văn. Trong quan niệm về anh- em trong gia đình, sự
hòa thuận, nhường nhịn lẫn nhau là điều quan trọng nhất. Trong truyền thuyết “ Ba ông thợ
thổ hay Sự tích tục chạy hồi loan”, cả ba anh em ai cũng nhường nhau thanh gươm thần.
Cuối cùng, họ đã nghĩ ra cuộc thi tài chạy nhanh để quyết định ai sẽ sở hữu thanh gươm.
Đây là một câu chuyện đẹp về tình anh em, luôn yêu thương và nhường nhịn lẫn nhau.
93
Trong mối quan hệ giữa quan với dân, truyền thuyết phản ánh cái nhìn ca ngợi đối
với những vị quan thanh liêm, tài giỏi, luôn lo lắng cho người dân. Vị quan Thoại Ngọc Hầu
vì tính mạng của nhân dân và binh sĩ mới bạo gan thi tài cùng vị thần linh mà ai cũng khiếp
sợ trong “ Truyền thuyết Bà Chúa Xứ” hay Võ Cố vì bảo vệ làng xóm mà mạo hiểm thi bắt
giải thần trong “ Ngư thần Võ Cố” đều được nhân dân hết lòng ngợi ca và thờ phụng sau khi
họ mất. Mối quan hệ giữa cá nhân và làng xóm luôn được thể hiện theo khuynh hướng vì
cộng đồng. Vì làng của mình, ông Chuẩn mới cố công xây đình, bất chấp phải gây hiềm
khích với các người thợ khác. Ông sẵn sàng thi chạm khắc đình với cả một nhóm đông
người thợ. Mục đích cuối cùng không phải để khoe khoang tài nghệ mà chỉ vì muốn đem tài
năng, công sức để phục vụ cho làng xóm, cho cộng đồng ( “ Người thợ mộc Nam Hoa”).
Những con người vì cộng đồng mà lao động, chiến đấu luôn được cộng đồng vinh danh, tôn
sùng, ca ngợi. Khi mất đi, họ hóa thân vào hồn thiêng sông núi, thành thần, thành thánh.
Nhân dân cũng đề cao những người anh hùng áo vải ngay cả khi sa cơ như Nữ tướng Bùi
Thị Xuân và những anh hùng khác như Phạm Ngũ Lão, Lê Phụng Hiểu,...các danh nhân văn
hóa như Mạc Đỉnh Chi, Nguyễn Hiền. Trong mối quan hệ với các dân tộc xung quanh, dân
tộc Kinh luôn thể hiện tinh thần hòa hiếu, mến chuộng hòa bình. Là những con người có
cách cư xử nhân văn, họ đã chọn cách thi tài để giải quyết những mâu thuẫn. Thi tài tức là
hai bên thi đua với nhau về mặt thể chất, tài năng, tay nghề,…Bên nào thua phải chấp nhận
điều kiện đã giao ước ngay từ đầu, bên thắng được cuộc. Như vậy, không có tổn thất về
nhân mạng khi giải quyết mâu thuẫn bằng phương thức này. Chẳng hạn như cuộc thi tài
giành đất giữa tộc Kinh và tộc Chăm, hai bên vì không muốn tiếp tục giết chóc nên họ đã thi
tài xây tháp, xây thành ( “Sự tích tháp Nhạn”, “Sự tích thành Lồi”). Và khi có kết quả, bên
thua đã lặng lẽ rút quân đi như lời giao ước, không bội tín hay trở mặt. Đó chính là biểu
hiện của một tinh thần yêu chuộng hòa bình, thể hiện tấm lòng nhân ái của nhân dân trong
mối quan hệ giữa người- người.
Tóm lại thông qua các mối quan hệ nhân sinh, truyền thuyết Kinh thể hiện sự tiếp
biến ảnh hưởng Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trên nền tảng truyền thống dân tộc, luôn nhấn
mạnh cộng đồng hơn cá nhân, nhấn mạnh tình nghĩa, nhân nghĩa, vị tha, hòa hợp, hòa hiếu,
khoan dung hơn cạnh tranh.
Từ đó, các truyền thuyết này đã góp phần hình thành nên hệ thống giá trị đạo đức của
dân tộc. Đó là niềm tin vào cái Thiện, vào Lẽ Phải. Nhân dân luôn tin vào quan niệm “
94
Thiện giả thiện lai, ác giả ác báo”. Nên họ luôn luôn khuyến thiện trừng ác, theo thiện tránh
ác.
Qua cả vũ trụ quan, nhân sinh quan đều thấy thể hiện triết lí âm dương, tư duy cặp
đôi, lưỡng phân lưỡng hợp. Tư duy cặp đôi là biểu hiện của sự liên tưởng bằng đối ứng, vốn
là một đặc tính phổ quát của tư duy con người. Do đó, ta phân biệt cao/thấp, mạnh/yếu,
đen/trắng, đêm/ngày, nóng/lạnh, đông/hè, đực/cái... Hệ thống hơn, tổng quát hơn, người
Trung Hoa và người Việt cổ quy kết vào hai nguyên lý ÂM/DƯƠNG. Tất cả những mâu
thuẫn đối nghịch này đều bao hàm trong cái TOÀN THỂ, cái MỘT, hay như các nhà tư
tưởng Trung Hoa gọi, là Thái Cực, là Đạo v.v.... Như vậy tư duy lưỡng phân lưỡng hợp là
một cách giải quyết đặc biệt một vấn đề tổng quát: Làm sao cố vượt mâu thuẫn để đi đến
tổng hợp? Các cặp đôi này vừa đối lập, vừa thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau: Trời- Đất,
nam- nữ, sáng- tối, cao- thấp, sinh- tử, lành- dữ, thiện- ác, tốt- xấu…Ở đây trong các truyền
thuyết có sử dụng motif thi tài, tư duy lưỡng phân lưỡng hợp biểu hiện trong cái nhìn sóng
đôi hình tượng Đất- Trời, Núi- Nước, Đất- Nước. Trong các mối quan hệ nhân sinh, tư duy
cặp đôi thể hiện trong các cặp phạm trù Tài – Sắc, Tài- Sức, Tài- Trí, Tài- Tâm. Có những
cặp phạm trù đối lập với nhau như Tài- Sắc, Tài – Sức nhưng cũng có những cặp phạm trù
tương quan với nhau, bổ sung cho nhau như Tài- Trí, Tài- Tâm. Chúng tạo thành những cặp
đôi vừa đối lập với nhau, vừa tương đồng với nhau trong một thể thống nhất quan niệm của
nhân dân về vũ trụ, về cái Tài trong các mối quan hệ giữa người – người.
* Nhận xét
Motif thi tài trong truyền thuyết thể hiện quan niệm của người Kinh về mặt thế giới
quan và nhân sinh quan. Thế giới quan và nhân sinh quan trong truyền thuyết Kinh là thế
giới của tư duy lưỡng phân lưỡng hợp. Trong thế giới quan, những hình tượng sóng đôi về
mặt tự nhiên là biểu hiện chủ yếu. Nhân sinh quan trong truyền thuyết là thế giới của những
quan niệm nhân sinh giữa Tài và Đức, Tài và Sức, Tài và Sắc. Qua đó, nhân dân thể hiện
thái độ ca ngợi những con người cao cả, hết lòng vì người khác, nhân ái, yêu chuộng hòa
bình.
3.2.2. Ý nghĩa thể hiện của motif thi tài trong truyện cổ tích
* Ý nghĩa thế giới quan
Truyện cổ tích là thể loại tự sự dân gian, phản ánh các mối quan hệ nhân sinh. Nên
mâu thuẫn trong truyện cổ tích chủ yếu là mâu thuẫn trong xã hội nhất là đối với các truyện
95
cổ tích có sử dụng motif thi tài. Vì vậy, ở đây, ý nghĩa về thế giới quan khá nhạt nhòa, thậm
chí nhòe dần so với ý nghĩa nhân sinh quan.
Cũng như truyền thuyết, trước khi các tôn giáo du nhập vào cộng đồng Kinh, cư dân
ở đây cũng chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng bản địa, liên quan chặt chẽ đến văn hóa lúa
nước. Người Kinh cho rằng mình là con cháu của Rồng và Tiên. Tâm thức này vẫn tồn tại
đến ngày hôm nay. Rồng là loài vật trong tưởng tượng của nhân loại, là kết quả của tư duy
tổng hợp từ nhiều loài vật: mình rắn, vảy cá, sừng hươu, …Rồng vừa ở dưới nước, cũng có
thể ở trên cạn. Sự lưỡng phân lưỡng hợp của đặc tính về môi trường sống của rồng là do ảnh
hưởng của tư duy sóng đôi ở người thời cổ. Tín ngưỡng thờ tô tem ( rồng ) trong “ Cá chép
hóa rồng” là cuộc thi tài để được hóa rồng của muôn loài. Người Kinh cổ cũng thờ sinh
thực khí của nam và nữ. Tín ngưỡng phồn thực trong “ Tại sao cọp ăn thịt người” biểu hiện
thông qua nội dung thi tài ăn “ của quý” của chính mình giữa cọp và người. Hay trong câu
chuyện “ To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn”, sinh thực khí của nam cũng được đề cập đến
ngay ở tên truyện. Khi đề cập đến “hạ bộ”, nhân dân muốn kéo tất cả xuống Đất để tất cả
cùng sinh sôi, nảy nở, không ngừng sản sinh cái mới. Ngoài ra, các nghi lễ trước lễ cưới
cũng được đề cập trong các câu chuyện “ Người lấy cóc”, “Nàng Út”, “ Một cuộc tranh
tài”,…. Trước lễ cưới, cô dâu (chú rể) phải vượt qua các thử thách để chứng tỏ bản thân.
Đồng thời, tư cách thành viên của họ cũng được cộng đồng thừa nhận sau khi vượt qua thử
thách.
Như chúng tôi đã trình bày ở truyền thuyết, sau khi du nhập vào cộng đồng dân tộc
Kinh, các tôn giáo Nho- Phật- Đạo ảnh hưởng không nhỏ đến thế giới quan của chủ thể sáng
tạo trên nền tảng những tín ngưỡng bản địa. Quan niệm về thế giới của chủ thể sáng tạo tập
trung chủ yếu thông qua yếu tố thần kì. Yếu tố thần kì có nguồn gốc từ thế giới quan thần
linh hay từ những quan niệm huyễn hoặc về thực tại của người nguyên thủy. Đó là cái nhìn
hoang đường, kì ảo về các sự vật, hiện tượng. Bó củi thần kì giúp anh chàng đốn củi bay
đến kinh thành, cứu nguy cho vua cha trong “ Chàng đốn củi” hay cành hoa trắng, cành hoa
đỏ kì diệu có khả năng làm mũi dài ra hay ngắn lại trong “ Mũi dài”,…là các yếu tố thể hiện
quan niệm về thế giới quan kì ảo, hoang đường của truyện cổ tích. Bên cạnh đó, yếu tố thần
kì còn là ông Bụt nhân từ giúp cô Tấm vượt qua khó khăn trong “ Tấm Cám”, các nàng Tiên
giúp đỡ nàng cóc ( “ Người lấy cóc”), nàng Út ( “ Nàng Út”). Các nhân vật thần kì này
chính là dấu vết của thế giới quan hữu thần trong Phật giáo ( Bụt), Đạo giáo ( Tiên). Đạo
Nho ít ảnh hưởng chủ thể sáng tạo về mặt thế giới quan.
96
Tuy nhiên, sự kì diệu hóa các sự vật, hiện tượng trong truyện cổ tích khác hẳn với
truyền thuyết. Ở đây không có sự ca ngợi, tôn sùng các yếu tố tự nhiên như trong truyền
thuyết. Trong truyện cổ tích, các yếu tố thần kì này chỉ là những phương tiện, cách thức
phục vụ cho con người trong việc lí tưởng hóa xã hội.
Thông qua yếu tố thần kì hay nói đúng hơn là thông qua vũ trụ quan hữu thần, nhân
dân thể hiện cái nhìn lãng mạn đối với thế giới. Quan điểm này chi phối chủ thể sáng tạo khi
sáng tác các câu chuyện cổ tích. Sự lãng mạn này vô cùng cần thiết đối với truyện cổ tích.
Bởi truyện cổ tích chủ yếu phản ánh mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn trong thực tế xã hội
bấy giờ là bằng các biện pháp thực tế là điều không hề dễ dàng. Lúc này yếu tố thần kì là
phương pháp giải quyết nhanh nhất ngay cả khi nó chỉ thực hiện được trong những câu
chuyện cổ tích. Nó đã tạo nên niềm tin cho con người trong cuộc sống.
* Ý nghĩa nhân sinh quan
Truyện cổ tích quan niệm con người là trung tâm của vũ trụ. Các nhân vật là thần hay
bán thần không còn là mối quan tâm của truyện cổ tích ( so với thần thoại). Các nhân vật
chính sau khi mất đi, không hóa thân thành thần như trong truyền thuyết. Truyện cổ tích
hoàn toàn là chuyện của con người nơi trần thế. Dù trong cổ tích có nói về chuyện của loài
vật nhưng xét cho cùng, chúng cũng từ con người mà có, là ánh sáng phức xạ của loài người
cũng như xã hội loài người.
Bên cạnh đó, truyện cổ tích còn thể hiện quan niệm của chủ thể sáng tạo về bản chất
và giá trị của con người. Trước tiên, đó là quan niệm giữa diện mạo bên ngoài và tính cách
bên trong. Giá trị của con người không nằm ở diện mạo bên ngoài mà do những phẩm chất
bên trong quyết định. Nàng cóc (“ Người lấy cóc”, nàng Út (“ Chuyện nàng Út), chàng phò
mã tật nguyền ( “ Chàng phò mã bị tật”) tuy bề ngoài xấu xí, nhỏ bé, tật nguyền nhưng bên
trong lại là những người phụ nữ đảm đang, tháo vát, là chàng rể hiếu thảo. Chủ thể sáng tạo
còn thể hiện quan niệm về sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Quan niệm này thể
hiện thật sinh động trong loạt truyện về con hổ ( cọp) như “Hổ và các con vật bé nhỏ”, “ To
đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn”, “ Con hổ, con cóc tía và con khỉ”, “ Con hổ, cóc tía và
rùa”, “ Cô mèo”, “ Tại sao cọp ăn thịt người” . Con hổ là chúa tể rừng xanh, có sức khỏe
phi thường, muôn loài đều kinh sợ. Tuy nhiên, nó lại là kẻ hữu dũng vô mưu. Hổ luôn thua
cuộc trong các lần thi tài với đối thủ nhỏ bé hơn tầm vóc của mình. Rõ ràng có sức mạnh
chưa phải là tất cả. Thông qua đó, chủ thể sáng tạo cũng bộc lộ quan niệm của mình về Tài
và Trí: Tài luôn đi liền với Trí. Ngoài ra, chủ thể sáng tạo còn thể hiện quan niệm về tài
97
năng và tâm hồn. Hai yếu tố này cũng luôn sánh đôi, gắn bó mật thiết với nhau như trong
truyền thuyết. Chàng trai nghèo đốn củi không những giỏi tài bắn cung mà còn là chàng rể
hiếu thảo ( “ Chàng đốn củi”). Ở đây tất cả những quan niệm về Tài và Sắc, Tài và Sức, Tài
và Trí, Tài và Tâm đều được thể hiện sóng đôi với nhau theo quan hệ đối lập lẫn tương
đồng.
Truyện cổ tích phản ánh các mối quan hệ giữa con người và con người mà chủ yếu là
mâu thuẫn. Trong mối quan hệ người- người, mâu thuẫn là điều hết sức bình thường nhất là
trong xã hội tư hữu, phân chia giai cấp, phân hóa giàu nghèo. Xã hội trong truyện cổ tích có
đầy đủ những đặc điểm này.
Trong gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ- con cái được phản ánh chủ yếu ở phương
diện mâu thuẫn. Tấm và người dì mâu thuẫn với nhau theo kiểu mẹ ghẻ- con chồng ( “Tấm
Cám”). Trong các câu chuyện “ Người lấy cóc”, “ Nàng Út”, cha mẹ của nàng cóc, cha mẹ
của nàng Út cũng chẳng yêu thương con. Cha mẹ cóc đã toan vứt nàng đi, cha mẹ nàng Út
bỏ con ở trong rừng chẳng thèm đoái hoài đến. Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa anh em trong
gia đình cũng được thể hiện ở khía cạnh đối lập. Hoàng tử và nàng Út phải đối mặt với vợ
chồng hai người anh đầy lòng ghen tỵ và ganh ghét.
Tuy nhiên, bên cạnh những mâu thuẫn, truyện cổ tích cũng thể hiện những nét đẹp
trong mối quan hệ giữa con người với nhau. Mối quan hệ vợ- chồng đặc biệt nổi bật trong
truyện cổ tích. Chàng học trò hết lòng yêu thương nàng cóc, sẵn sàng lấy nàng dù cho nàng
là Cóc. Đổi lại, nàng cóc cũng hết lòng vì chồng. Vì danh dự của anh, nàng sẵn sàng tham
gia vào cuộc thi tài khó khăn ( “ Người lấy cóc”). Nhân sinh quan của Nho giáo được thể
hiện sinh động ở đây. Tuy nhiên, nhân sinh quan này đã được cải biến trên nền tảng văn hóa
truyền thống của dân tộc Kinh. Đó không chỉ là quan niệm “ Xuất giá tòng phu” dành cho
phụ nữ mà còn là sự yêu thương, quan tâm từ phía người chồng. Nhân dân khi tiếp nhận đạo
Nho đã biết gạn đục, khơi trong, làm giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống của dân
tộc.
Trong xã hội được phản ánh trong truyện cổ tích, mối quan hệ giữa quan với dân lại
là mối quan hệ đối kháng. Nhân dân dành cho giai cấp này cái nhìn phê phán, đả kích. Bởi
trong con mắt nhân dân, chúng là những tên quan tham lam, giàu có luôn ức hiếp dân lành.
Thạch Sùng cho dân vay tiền lãi cao. Người dân không tiền trả, hắn lấy ruộng đất của họ.
Bằng cách đó, hắn ngày càng giàu có. Hắn dùng tiền mua chức quan. Trở thành quan lại,
hắn càng lên mặt, hiếp đáp dân lành nhiều hơn. Nhân dân không thể tha cho những kẻ như
98
hắn. Họ lấy “gậy ông đập lưng ông” để trừng trị hắn. ( “ Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay
là sự tích con mối”). Đặc biệt, truyện cổ tích còn đề cập đến mối quan hệ giữa chủ nhà và
người làm công. Chủ nhà ở đây thường là giai cấp địa chủ, giàu có nhất nhì ở làng xã.
Người làm công đa phần là nông dân mất ruộng, người mồ côi, nghèo khổ. Trong mối quan
hệ này, chủ nhà luôn ức hiếp, bóc lột, hà khắc với người làm công. Chàng Đê vì quá mê thi
bơi lội cùng lũ bạn, làm mất trâu chủ nhà. Tên địa chủ liền sai người đánh đập anh tàn nhẫn,
nhốt vào nhà kho, bỏ đói. Nếu không có viên ngọc ước, có lẽ anh đã gặp kết cục vô cùng thê
thảm. Nhân dân cũng không thể tha cho loại người này. Họ bắt hắn phải bị dài mũi, mất tiền
chữa chạy cũng không khỏi. Cuối cùng nhờ anh Đê cho ngửi cành hoa trắng thần, hắn và cả
nhà mới trở lại bình thường ( “ Mũi dài”). Luôn dành tình cảm, yêu thương, đau xót và
bênh vực những người mồ côi, bất hạnh, nghèo khổ, nhân dân đã thể hiện tấm lòng nhân ái
của mình trong mối quan hệ nhân sinh. Ở đây nhân sinh quan của Phật giáo thể hiện rất rõ
nét. Đó là tinh thần từ bi, hỉ xả, bát ái, bình đẳng đối với con người.
Nguồn gốc của mâu thuẫn xã hội và gia đình trong truyện cổ tích chủ yếu là xung đột
về quyền lợi. Mâu thuẫn vì tranh giành quyền lực trong xã hội như cuộc so tài xem ai giàu
hơn trong “Rạch đùi giấu ngọc”, “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối”.
Hay mâu thuẫn với nhau giữa các chàng trai khi cùng tranh giành một cô gái đẹp. Sự tranh
giành này bắt nguồn từ quan niệm của xã hội lúc bấy giờ. Đó chính là quan niệm về việc
người nào sở hữu được càng nhiều tài sản và phụ nữ thì càng thể hiện được quyền lực của
mình trong xã hội.( “Ba chàng trai tài ba”, “Một cuộc tranh tài”, “Cái trống của Thần
Nông”)
Bên cạnh đó, truyện cổ tích còn thể hiện mâu thuẫn trong tư duy. Truyện cổ tích là sự
kết hợp của tư duy hồn nhiên và tính thâm trầm sâu sắc của những trí tuệ khôn ngoan, dày
dạn kinh nghiệm sống. Thật vậy, trong bản thân mỗi cốt truyện đều hàm chứa cả hai ý nghĩa
tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng thật ra bên trong lại hoàn toàn thống nhất. Chẳng hạn
như câu chuyện về các anh chàng thi tài kén rể. Những anh chàng tài giỏi, khéo léo lại thua
anh chàng chân thật, chất phác vì tính kiêu ngạo, chủ quan (“Anh chàng may mắn”). Đương
nhiên, trong cuộc sống, kẻ huênh hoang, kiêu ngạo thường gặp thất bại do thiếu sự cẩn
trọng, suy tính cặn kẽ. Nên, kẻ quá thật thà đến mức khờ khạo lại có thể chiến thắng. Tất cả
nhờ vào một “ bà tiên”. Cách xử lí này chính là niềm tin ngây thơ vào sự thần kì, điều may
mắn, kì diệu trên thế gian.
99
Trong xã hội phân hóa giai cấp, mâu thuẫn giữa người- người thâm nhập đến từng
ngõ ngách trong xã hội từ phạm vi giai cấp rộng lớn đến từng gia đình, từng mối quan hệ cụ
thể của từng cá nhân. Việc giải quyết các mâu thuẫn này chỉ thông qua các cuộc thi tài chính
là biểu hiện rõ rệt nhất tinh thần lạc quan của người lao động. Các cuộc thi tài giành vợ,
giành quyền sinh tồn,…được giải quyết hết sức đơn giản và mang tính lạc quan sâu sắc. Họ
tin rằng chỉ bằng sự trung thực mà anh chàng trong “Cái trống Thần Nông”, “Một cuộc
tranh tài” chiến thắng; tin rằng cô Tấm sau khi thua cuộc sẽ được Bụt giúp đỡ, vượt trội
hơn Cám ( “Tấm Cám”), tin chàng trai bị tật nguyền sẽ chiến thắng trong cuộc thi chạy
giành công chúa ( “Phò mã bị tật”),...Trên thực tế, mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn
thường dẫn đến cái kết không có hậu. Mặc dù truyện cổ tích có tiểu loại truyện cổ tích thế
sự cũng đôi khi mang đến kết cuộc không có hậu, nhưng tựu trung, truyện cổ tích đều là
khúc ca của hạnh phúc. Trong đó, người nghèo khổ, người tốt bụng, hiền lành, người xấu
xí,…đều có kết cục viên mãn và hạnh phúc.
Qua đó, các tác giả dân gian đã thể hiện triết lí “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. Đây là
nguyên tắc mang tính cốt lõi, là khởi nguồn mọi sự sáng tạo nên các câu chuyện truyện cổ
tích. Các nhân vật hiền lành, mồ côi, có ngoại hình xấu xí tuy gặp nhiều khó khăn, thử thách
ở giai đoạn đầu nhưng đến sau cùng họ luôn gặp được kết cục có hậu. Cô Tấm được làm
hoàng hậu ( “Tấm Cám”), Anh chàng có tật được làm phò mã, nối ngôi vua ( “ Phò mã bị
tật”),…Các nhân vật phản diện đến cuối cùng phải gánh chịu hậu quả chết trong nước sôi
như Cám trong “ Tấm Cám”, nhà vua thoái vị, sống lênh đênh trên sông trong “ Phò mã có
tật”, chết hóa thành con mối như Thạch Sùng trong “ Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay sự
tích con mối”.
Bên cạnh đó, truyện cổ tích còn thể hiện các quy luật của cuộc sống con người.
Trước hết đó là nguyên tắc lấy nhu chế cương. Trong cuộc sống đầy rẫy bất công, kẻ mạnh,
giàu thường cậy thế hiếp đáp kẻ yếu hơn mình, để tồn tại, kẻ yếu phải dùng mưu mới chiến
thắng, bảo vệ bản thân mình. Trong cuộc sống, nếu xảy ra mâu thuẫn, kẻ yếu hơn phải biết
thông minh, đề nghị thi tài. Bởi bản chất của việc thi tài là mang đến cách giải quyết mâu
thuẫn trong hòa bình, hữu hảo. Các cuộc thi tài không cân sức vẫn an toàn hơn là một cuộc
chiến đấu một mất một còn. Khi đó, kẻ yếu hoặc hai bên ngang tài ngang sức cần phải có trí
tuệ, thông minh, lém lỉnh mới có thể giành chiến thắng. Những nhân vật như con cóc (“
Con hổ, con cóc tía và con khỉ”, “Con hổ, cóc tía, rùa”), con người (“Tại sao cọp ăn thịt
100
người” ) trong tiểu loại truyện cổ tích loài vật chính là những biểu hiện sinh động cho quy
luật sinh tồn này.
Phải biết chia sẻ để cùng nhau phát triển là một nguyên tắc sống cần thiết. Đó là hình
thức cộng sinh trong cuộc sống, các bên cùng giúp đỡ lẫn nhau. Các nhân vật trong “Một
cuộc tranh tài” đã thể hiện sinh động nguyên tắc sống này. Các anh chàng đan nong, hay
chữ, giỏi võ chỉ biết giấu giếm tài năng của mình, sợ người khác học lỏm. Vì vậy, họ bị thất
bại trong cuộc thi tài. Còn anh chàng nông dân thật thà lại biết giúp đỡ người khác thắng
cuộc.
Nguyên tắc “tham thì thâm” là một nguyên tắc thể hiện cái nhìn đả kích, phê phán
của nhân dân đối với những kẻ giàu có huênh hoang. Trong khi nhân dân phải lao động vất
vả để có cuộc sống ấm no thì những kẻ giàu sang lại huênh hoang, hợm hĩnh. Chúng lại tổ
chức thi tài xem ai giàu có hơn. Thông qua những cuộc thi tài như thế, bọn chúng đều bị “
gậy ông đập lưng ông”. Chúng bị chính những kẻ như chúng trừng trị. Nhân dân đóng vai
trò người bên ngoài cười chê, mỉa mai, thỏa thích. Nhân vật Điền Chi trong “Rạch đùi giấu
ngọc”, Thạch Sùng trong “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay Sự tích con mối”.
Từ đó, các truyện cổ tích này đã góp phần hình thành nên hệ thống giá trị đạo đức
của dân tộc. Đó là niềm tin vào cái Thiện, vào Lẽ Phải. Nhân dân luôn tin vào quan niệm “
Thiện giả thiện lai, ác giả ác báo”. Nên họ luôn luôn khuyến thiện trừng ác, theo thiện tránh
ác.
* Nhận xét
Truyện cổ tích có sử dụng motif thi tài thể hiện ý nghĩa về mặt nhân sinh quan là chủ
yếu, ý nghĩa về thế giới quan khá mờ nhạt. Nhân sinh quan trong truyện cổ tích có motif thi
tài là cái nhìn về con người và những mối quan hệ của họ trong xã hội. Từ những mâu thuẫn
mang tính chất đối kháng trong xã hội cho đến những mâu thuẫn trong tư duy. Qua đó,
chúng thể hiện những quy luật trong cuộc sống, khắc họa đủ mọi hạng người trong xã hội.
Qua cả vũ trụ quan, nhân sinh quan, truyện cổ tích cho ta thấy được sự ảnh hưởng
của triết lí âm dương, tư duy cặp đôi, lưỡng phân lưỡng hợp. Các cặp đôi này vừa đối lập,
vừa thống nhất, chuyển hóa lẫn nhau: nam- nữ, sáng- tối, cao- thấp, sinh- tử, lành- dữ, thiện-
ác, tốt- xấu…
Tóm lại:
101
Motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích thể hiện quan niệm của con người
đối với tự nhiên, xã hội và tư duy. Nếu truyền thuyết thể hiện cả ý nghĩa thế giới quan và
nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo thì truyện cổ tích lại thiên về ý nghĩa nhân sinh quan
nhiều hơn. Điều này thể hiện rõ đặc trưng thể loại của hai đối tượng nghiên cứu này. Truyền
thuyết phản ánh sự vật, hiện tượng và con người, thể hiện thái độ ngợi ca, tôn sùng là chủ
yếu. Trong khi đó, truyện cổ tích lại nghiêng về phản ánh con người và các mối hệ giữa
người- người trong xã hội.
Hầu hết các cuộc thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích đều mang ý nghĩa tích
cực ( trừ “Rạch đùi giấu ngọc” và“Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay Sự tích con mối”).
Trong truyền thuyết, chủ thể thi tài được nhân dân hết lòng ca ngợi, tôn trọng. Còn trong
truyện cổ tích, chủ thể thi tài chiến thắng bao giờ cũng là người hiền lành, tốt bụng, tài năng.
Qua đó, chúng thể hiện tâm hồn nhân hậu, vị tha của nhân dân thời đại bấy giờ.
Thông qua motif thi tài, truyền thuyết và truyện cổ tích Kinh đã thể hiện tư duy
lưỡng phân lưỡng hợp. Đó là cái nhìn của nhân dân về sự sóng đôi của những sự vật, hiện
tượng trong tự nhiên lẫn trong xã hội và tư duy của con người. Cái nhìn này đã chi phối
mạnh mẽ việc hình thành các giá trị văn hóa của cộng đồng Kinh nói riêng và con người nói
chung. Hay nói đúng hơn, đây chính là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hình
thành nên nền văn hóa Kinh tiên tiến mà vẫn đậm đà bản sắc riêng.
3.3. So sánh motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc người Kinh với
một vài tộc người khác
3.3.1. So sánh với dân tộc Khmer
* Truyền thuyết
Trước hết, motif thi tài cũng xuất hiện trong truyền thuyết của tộc Khmer. Cuộc thi
tài thường được chia làm hai bên theo sự phân biệt giới tính nam nữ. Các cuộc thi tài này
thường mang chức năng thiết lập hôn nhân, cải tạo thiên nhiên để phục vụ cho đời sống của
nhân dân. Cuộc thi tài giữa hai nhóm nam- nữ là dạng thi tài quen thuộc của nền văn hóa
Khmer với các truyền thuyết như “Sự tích ao Bà Om” ( thi đào ao), “Sự tích núi Bà Đen” (
thi đắp núi). Các câu chuyện này đều có chung cốt truyện hai nhóm nam nữ thi tài để quyết
định xem phái nào sẽ đi cưới phái nào, riêng Sự tích ao Bà Om có thêm lí do mang nước
ngọt lại cho phum sóc.
Motif thi tài là một motif được mang từ cội nguồn văn hóa Campuchia sang Nam Bộ.
Trong truyện cổ Campuchia, dạng thi tài này thể hiện ở dạng thi tài đắp núi. Truyền thuyết
102
“Sự tích núi đàn ông và đàn bà” kể rằng: Sau khi nữ hoàng Srey Actya cưới một chàng trai
làm chồng, đất nước từ đó cũng hình thành lệ đàn bà phải đi cưới đàn ông. Tuy nhiên, sau
khi bà mất, phần lớn phụ nữ không muốn giữ tục lệ cũ nên họ đã thách đàn ông thi đắp núi
trong một đêm.
Thật vậy, khi nói đến truyền thuyết, chúng ta luôn nói đến mối quan hệ giữa hiện
thực xã hội và truyền thuyết. Vào cuối thế kỉ X cho đến thế kỉ XV, người Khmer xuôi theo
dòng Cửu Long về đồng bằng sông Cửu Long ngày càng đông và họ đã mang theo không
chỉ hành lí, người thân mà họ còn mang theo cả một nền văn hóa đặc sắc của mình bao gồm
các nghi lễ, thần thoại, lễ hội,…và đương nhiên là trong đó có cả những truyền thuyết.
Những chi tiết trong truyền thuyết này cũng theo đó đi vào truyền thuyết địa danh ở quê
hương mới của họ
Hiện thực xã hội luôn bị lắng lại trong các truyền thuyết. Lí do dẫn đến cuộc thi tài
chính là biểu hiện của hiện thực đó. Trong lịch sử khai hoang vùng Đồng bằng sông Cửu
Long, người Khmer luôn chọn những giồng đất cát cao để xây dựng phum, sóc. Mặt khác,
những vùng nước ngọt thường là tập trung những người giàu có, những địa chủ và phú
nông, vùng cư dân không bị chiến tranh tàn phá. Vì vậy việc thiếu nước ngọt ở những vùng
đất cao rất trầm trọng. Như chúng ta đã biết, đại bộ phận người Khmer đều là những người
nghèo khổ, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách khắc nghiệt trong thời kì đầu
khai hoang. Chính tâm lí làm sao để tồn tại đã giúp cho người Khmer mau chóng thích nghi
với điều kiện mới. Trường hợp “Sự tích đua ghe Ngo” là một điển hình cho tư duy nhạy bén
ở người Khmer. Theo đó, tâm lý bám đất, bám phum, bám sóc, gắn bó máu thịt với mảnh
đất mình đã dày công tạo dựng đã khiến họ tìm mọi cách cải thiện tình trạng thiếu nước này
và đào ao trữ nước ngọt là một trong những giải pháp tối ưu. Truyền thuyết đã phản ánh tình
trạng này một cách sinh động thông qua motip thi tài. Câu chuyện đã thể hiện được tình
trạng thiếu nước ngọt gay gắt và khí thế lao động hăng say đào lấy nước hoặc trữ nước của
nông dân Khmer. Bên cạnh đó, motif này cũng phản ánh một thực tại khác: thực tại xã hội
của người Khmer: nghi lễ hôn nhân như việc lo phí tổn, tổ chức cưới, quà tặng, con sẽ theo
họ mẹ hay cha,…
Khi vào Nam Bộ, những truyền thuyết của người Khmer đã tiếp biến với truyền
thuyết của những người Kinh mới di cư vào, góp phần hình thành nên một bộ phận truyền
thuyết về địa danh như “Sự tích núi Ông Sập”, “Giếng Tiên”,…Các câu chuyện truyền
thuyết này đều mang một đặc điểm chung: thi tài đắp núi, đào giếng ( gần với đào ao) giữa
103
hai nhóm nam nữ, đồng thời giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực liên quan đến yếu tố hôn
nhân.
Bởi những lưu dân người Kinh này vốn là những người mang tính phiêu lưu, phóng
khoáng, đôi khi cũng ít học. Nếu không như thế, họ đã chẳng dám rời bỏ làng xóm, tổ tiên
của mình. Đây là một việc làm cấm kị đối với cư dân người Kinh ( điều cấm kị này đã dẫn
đến hiện tượng các vị anh hùng bộ lạc ra đi đánh giặc đều không được về lại quê hương mà
lại chết hoặc ngài hóa ở gần quê hương). Vì vậy, họ ít câu nệ, cố chấp truyền thống cũ, sẵn
sàng tiếp nhận những nhân tố mới mẻ ở vùng đất mới.
* Truyện cổ tích
Dân tộc Khmer cũng có cùng cốt truyện về những chàng trai và một cô gái đẹp như
truyện cổ tích của dân tộc Kinh. Cốt truyện này vốn có nguồn gốc từ Ấn Độ (đã trình bày ở
các phần trước). Dân tộc Kinh có cốt truyện về các anh chàng có biệt tài cùng cầu hôn một
cô gái. Khi đó, có một thử thách xuất hiện, có thể là cô gái bị bệnh chết hoặc bị đại bàng tha
đi (“ Ba chàng thiện nghệ”). Theo thời gian, các thử thách bên ngoài biến mất, các chàng
trai này phải thi tài với nhau để lấy được cô gái. Truyện cổ tích của dân tộc Khmer cũng có
cốt truyện này nhưng chúng vẫn ở giai đoạn đầu, yếu tố thi tài chưa xuất hiện. Truyện kể về
bốn anh chàng cũng có biệt tài về thiên văn bói toán, dùng vũ khí, bơi, cải tử hoàn sinh cũng
muốn lấy cô gái đẹp. Điều đáng lưu ý ở đây là dấu vết của Phật giáo tiểu Thừa rất sâu đậm
trong cốt truyện này. Vị Bồ tát chính là quan tòa phân xử chàng trai nào sẽ được cưới cô gái.
Rõ ràng nếu xét các bản kể của Ấn Độ thì dân tộc Khmer đã có sự biến đổi câu chuyện cổ
tích khi tiếp nhận chúng.
3.3.2. So sánh với dân tộc Chăm
* Truyền thuyết
Mang nhiều nét tương đồng về mặt văn hóa như dân tộc Khmer, dân tộc Chăm cũng
có nhóm truyện về motif thi tài giữa hai nhóm nam nữ nhưng lại là thi tài đào mương. Cuộc
thi tài này cũng giải quyết vấn đề ai sẽ đi hỏi cưới ai. Điểm tương đồng này do sự tương
đồng về mặt văn hóa giữa hai dân tộc. Cho đến ngày nay, người Chăm vẫn theo chế độ mẫu
hệ. Người phụ nữ nắm vai trò chính trong gia đình. Trong gia đình, người đàn bà, gọi là Mẹ
cả, đảm nhiệm vai trò chọn người kế thừa, bàn thảo tương lai con cái, chọn chồng cho con
gái, đứng ra cưới hỏi, gìn giữ bàn thờ tổ tiên, giữ gìn hương hỏa. Vì vậy, cuộc thi tài này
vẫn là nữ giới chiến thắng. Cuộc thi đào mương này chính là ánh xạ của quá trình xây dựng
con kênh Chakling ( Nha Trinh) với con mương Cái ( do phụ nữ đắp) và con mương Đực (
104
do đàn ông đắp). Người Chăm rất giỏi về làm về thủy lợi. Điều này cũng để phục vụ cho
nông nghiệp, nhất là vườn cây ăn trái. Truyền thuyết này nằm trong nhóm truyền thuyết về
vua Po Kơlong Garai. Vị vua này là nhân vật chính trong các cuộc thi tài nhưng chủ yếu là
thi tài xây tháp.
Thật vậy, bên cạnh thi tài đào mương để khai thông nguồn nước tưới tiêu cho làng
xóm, thi xây tháp mới chính là đặc trưng của motif thi tài trong truyện cổ dân tộc Chăm. Ở
truyện cổ Chăm, chúng ta có thể nhìn thấy biểu hiện của motip thi tài trong nhóm truyền
thuyết thi xây tháp Bánh Ít, tháp Hòa Lai,…của Po Klong Garai.
Chính motif thi tài xây tháp đã được truyền thuyết người Kinh tiếp nhận và cải biến
cho phù hợp với truyền thống văn hóa của mình. Truyền thuyết Kinh đã cải biến thành cuộc
thi tài xây thành bằng giấy, tre, phên trong “Sự tích thành Lồi”, thi tài xây đình trong
“Người thợ mộc Nam Hoa”.
Việc giao lưu, tiếp biến về văn hóa giữa dân tộc Kinh và dân tộc Chăm là kết quả của
quá trình cộng cư lâu dài giữa cư dân Champa và Đại Việt. Vào khoảng 1306, những người
Kinh Bắc Trung Bộ ngày nay đã bắt đầu di dân đến Thuận Hóa và sống cộng cư với cư dân
bản địa người Chăm. Họ đã lập làng, khai hoang, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới. Mặt
khác, như chúng tôi đã trình bày ở phần trên, trong quá khứ, Đại Việt và Champa đã không
ít lần xung đột. Triều đình phong kiến hai bên thường dùng quân sự để giải quyết xung đột.
Chiến tranh đã xảy ra rất nhiều lần. Tuy nhiên, nhân dân của cả hai dân tộc lại có cái nhìn
khác về quá trình lịch sử này. Với họ, những mâu thuẫn này đã được giải quyết bằng con
đường thi tài xây dựng, một giải pháp hòa bình, mang đầy tính nhân văn cao đẹp của nhân
dân hai dân tộc. Nhóm truyền thuyết giành đất ở vùng đất này chính là hình bóng lịch sử xã
hội dân gian, tình cảm, tư tưởng của cư dân Kinh và Chăm.
* Truyện cổ tích
Truyện cổ tích Chăm có truyện “Ba chàng trai và cô gái đẹp trên mặt trăng”. Cốt
truyện của câu chuyện này cũng tương đồng với truyện cổ tích của dân tộc Kinh như “Cái
trống của thần Nông”, “Một cuộc thi tài”, “Ba chàng trai tài ba”. Tuy nhiên, ở đây không
xuất hiện motif thi tài. Bên cạnh đó, kết quả tất cả các chàng trai và cô gái lại kết nghĩa làm
anh em. Đây chính là nét độc đáo của truyện. Ở truyện của người Kinh và người Khmer đều
xuất hiện nhân vật xử kiện dựa trên đặc điểm riêng về văn hóa. Truyện của người Kinh là
ông bố với ảnh hưởng của Nho giáo, quan niệm “nam nữ thụ thụ bất tương thân”. Anh
chàng bơi chạm vào cô gái nên được cưới cô gái. Cũng đồng kết quả như thế nhưng quan
105
tòa lại là vị Bồ tát ở truyện của Khmer. Chúng ta thử liên hệ đến câu chuyện “Kajong và
Halêk”, một truyện cổ tích thuộc type truyện “Tấm Cám”. Tất nhiên, truyện cổ tích này
tương đồng với truyện cổ tích Tấm Cám của người Kinh, cũng có motif thi tài bắt cá để
phân định ai làm chị, ai làm em, nhưng điều này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu như
Nguyễn Tấn Đắc đề cập đến khi nghiên cứu về type truyện Tấm Cám ở Việt Nam và Đông
Nam Á nên ở đây chúng tôi không bàn luận thêm về nó. Cái mà chúng tôi quan tâm đến ở
đây là mối quan hệ giữa hai chị em này không phải là mối quan hệ con chung- con riêng
như truyện cổ tích “Tấm Cám” của người Kinh, mà lại là mối quan hệ con ruột- con nuôi.
Như vậy, nếu xét trên mối quan hệ tổng thể, so sánh giữa các truyện cổ của Chăm với các
dân tộc khác, điển hình là dân tộc Kinh thì truyện cổ của Chăm luôn có sự biến đổi. Tộc
người Chăm đã thay đổi kết cục của câu chuyện để phù hợp với nhu cầu tiếp nhận về mặt
tinh thần cũng như giá trị thẩm mĩ của mình. Đó có thể là sự khác biệt từ thiết chế xã hội,
chế độ mẫu hệ nên không có con riêng của chồng. Đó cũng có thể là đặc trưng văn hóa, tính
cách dân tộc: sự ôn hòa, tinh thần hòa hiếu, cố gắng dung hòa những mâu thuẫn, không để
ai phải phiền lòng.
3.3.3. So sánh với vài dân tộc ít người khác
* Truyền thuyết
Truyền thuyết Tày kể rằng ở vùng Lạng Sơn xưa có một gia đình dòng dõi nhà quan
có một người con gái đẹp tên A Nàng. Nàng yêu chàng Kẻn khỏe mạnh nhưng nghèo. Bố
mẹ nàng không ưng nhưng đành nhượng bộ bằng cách tổ chức cuộc thi vượt con dốc giữa
các chàng trai. Chàng Kẻn thắng nhưng đứt ruột chết. Nàng thắt cổ chết theo nên từ đó
người ta gọi dốc đó là dốc A Nàng ( “Dốc A Nàng”). Truyền thuyết này mang đậm tính thế
sự, thể hiện sự giao thoa với thể loại cổ tích. Tuy nhiên, chức năng chính của nó vẫn là giải
thích tên gọi địa danh nên ta vẫn xem chúng thuộc về thể loại truyền thuyết. Nhìn từ góc độ
chủ thể thi tài, truyền thuyết còn thể hiện chức năng thi tài để thiết lập hôn nhân. Chức năng
này tương tự như truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh của người Kinh.
Truyền thuyết Mảng thì lại kể về cuộc thi tài để phân định ranh giới. Truyền thuyết
“Núi Vắc Ui- Suối Gium A Tèn” kể từ thời xưa lắm, họ Chìn và họ Anh cùng sống hòa
thuận bên bờ suối Gium Bai. Do người càng lúc một đông nên 1 ngày kia, họ cãi nhau về
đất ở và đất trồng. Cuối cùng họ mở cuộc thi tài đắp chặn, tát cạn một khúc suối rồi nướng
các con vật dưới suối. Bên nào chín trước, bên đó thắng. Họ Chìn thắng nhờ bắt được cá ma
tảm mau chín hơn. Họ Chìn thắng. Họ bắt đầu chia đất, chia núi ( núi Vắc Ui). Sau đó thấy
106
họ Anh ít đất nên họ Chìn nhường lại cho họ Anh một phần. Họ lại cùng nhau bới đất thành
con suối phân chia gọi là suối Gium À Tèn ( Bù Đất). Ở đây, hai họ cũng có sự mâu thuẫn
về đất đai, lãnh thổ. Họ cùng giải quyết mâu thuẫn này bằng con đường hòa bình: thi tài bắt
chặn. Đặc biệt, họ còn có một hành động mang đầy chất nhân văn cao đẹp: nhường lại một
phần đất cho bên thua cuộc. Đây là điểm khác biệt với các truyền thuyết về đề tài giành đất
của người Kinh. Họ không lươn lẹo, dùng mưu mẹo để chiến thắng mà còn nhường một
phần cho đối phương. Điều này thể hiện đặc điểm tư duy hiền lành, chất phác của nhân dân
tộc Mảng.
Truyền thuyết Thái cũng kể về cuộc tranh chấp đất. Đất Mường Xang thuở ấy có
người Lếm Lé và người Thái do Nhọt Chom Cằm đứng đầu tranh chấp đất. Họ bèn tổ chức
thi tài bắn tên vào vách đá. Ai thắng làm chủ đất. Người Thái dùng nỏ có mũi tên tre bịt sáp
ong nên thắng. Bên Lếm Lé tiếp tục thách thi làm lễ cúng “ ma mường”. Người Thái giả ma
mường nên thắng. Nhọt Chom Cằm làm chúa đất, ông tổ của họ Sa ở Mộc Châu, đã đặt tên
vách đá là “Vách đá Sáp Ong”. Ở truyền thuyết của người Thái có thêm sự tham gia của yếu
tố mưu mẹo. Có thể thấy đây là một bước phát triển của truyền thuyết các dân tộc ít người
trong cuộc tranh tài giành đất: đã có sự lém lỉnh về mặt tư duy như trong truyền thuyết
người Kinh.
Ngoài ra, dân tộc Cà Tu đặc biệt có cuộc thi tài leo cây lon- chơ- lăng để được có họ.
Chàng trai nghèo được thần mách dùng đất bôi vào lòng bàn tay, bàn chân và nhịn ăn nên
chiến thắng. Chàng được mang họ là trol-trial có nghĩa là trèo giỏi. Về sau, họ này đọc
chệch thành họ Tơ- ngôl ( “Sự tích họ Tơ Ngôl”). Đây là truyền thuyết phổ hệ, thể hiện nét
đặc sắc về văn hóa của dân tộc Cà Tu mà dân tộc Kinh đã đánh mất trong quá trình hiện đại
hóa nền văn hóa của mình.
Như vậy, qua khảo sát ngẫu nhiên, chúng ta thấy motif thi tài không chỉ có ở các dân
tộc có sự giao lưu với tộc Kinh mà còn tồn tại ở các tộc anh em khác. Các tộc người này
cũng sử dụng phương thức thi tài để giải quyết mâu thuẫn đất đai, thiết lập hôn nhân như tộc
Kinh và các tộc người có giao lưu, tiếp biến văn hóa với tộc Kinh. Tuy nhiên, có thể thấy,
truyền thuyết của các tộc người còn ít nhiều đơn giản, gần gũi với thần thoại ( truyền thuyết
phổ hệ). Sự tương thích này là do sự tương đồng về mặt tư duy của nhân loại. Trong những
trường hợp lịch sử, xã hội tương đồng với nhau sẽ nảy sinh văn hóa trong đó có văn học dân
gian có nhiều đặc điểm giống nhau.
* Truyện cổ tích
107
Dân tộc Tày cũng có cốt truyện cổ tương tự như cốt truyện cổ tích của Kinh đặc biệt
là câu chuyện “Cái trống của Thần Nông”, “Một cuộc tranh tài”. Các chàng trai cũng thi
tài với nhau, một chàng trai đảm nhận việc mua trống. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là
cuối cùng, không một chàng trai nào hoàn thành nhiệm vụ. Tất cả đều không cưới được cô
gái. Bên cạnh đó, truyện cổ Tày lại mang chức năng của truyền thuyết là giải thích địa danh
(“ Những địa danh quanh cánh đồng Tổng Chúp”). Có thể thấy đây chính là một truyện cổ
tích đã bị truyền thuyết hóa.
Ngoài ra, các dân tộc Phù Lá, Hà Nhì, Thái,…cũng xuất hiện motif thi tài trong
truyện cổ tích. Các dân tộc cùng có chung cốt truyện về cuộc thi tài của các chàng trai khỏe.
Họ cùng nhau lập công giết yêu tinh bảo vệ xóm làng. Ở đây, dấu vết của nhân vật anh hùng
sử thi còn rất đậm. Các chàng trai này cũng khỏe mạnh như Đam San, Xinh Nhã. Họ cũng
tiêu diệt yêu tinh bảo vệ bình yên cho cộng đồng. Tóm lại, motif thi tài ở đây dù xuất hiện
trong truyện cổ tích nhưng lại mang chức năng của truyền thuyết là tôn vinh, ca ngợi tài
năng của nhân vật. ( “Ba chàng trai khỏe ”, “ Ba anh em khỏe”, “ U Thềm”).
* Tiểu kết:
Có thể thấy motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích mang các chức năng và
ý nghĩa vô cùng to lớn. Trong truyền thuyết, do đặc trưng thể loại nên các chức năng như
giành đất, bảo vệ xuất hiện nhiều nhất. Nên quan hệ của con người đối với con người cũng
như đối với các hiện tượng tự nhiên đều có tầm quan trọng như nhau. Điều này dẫn đến ý
nghĩa về thế giới quan và nhân sinh được thể hiện khá rõ nét trong truyền thuyết. Về thế giới
quan, truyền thuyết là thế giới của cái linh thiêng. Về nhân sinh quan, truyền thuyết là nơi
cái anh hùng chiếm ưu thế. Còn trong truyện cổ tích, quan hệ nhân sinh là mối quan hệ chủ
yếu nên chức năng thiết lập hôn nhân chiếm tỉ lệ cao nhất. Nó phản ánh nhân sinh quan
phong phú, đa dạng của chủ thể sáng tạo. Đó là cái nhìn tràn đầy niềm tin, sự lạc quan vào
cuộc sống. Đồng thời, nó cũng thể hiện sự thâm thúy, sâu sắc về mặt tư duy được đúc kết từ
cuộc sống nhập nhằng, phức tạp. Ý nghĩa về thế quan trong truyện cổ tích vì thế cũng mờ
nhạt hẳn, chỉ còn chút tàn dư còn sót lại từ thế giới quan của thần thoại là quan niệm về
những điều thần kì trong cuộc sống.
Như vậy, thông qua motif này, muôn mặt tâm hồn, tình cảm lẫn tư duy của con người
Kinh được thể hiện sinh động, tinh tế và không kém phần sâu sắc. Về mặt tình cảm, motif
này thể hiện tinh thần nhân đạo, vị tha, khát khao hòa bình, hữu nghị và hòa hợp dân tộc của
108
dân tộc Kinh. Mặt khác, nó cũng thể hiện tư duy duy lí nhưng còn ở trình độ chất phác, đơn
giản của tộc Kinh nói riêng và con người nói chung.
Ngoài ra, do có mối quan hệ về mặt địa lí, lịch sử dẫn đến những giao thoa về mặt
văn hóa nên motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích tộc người Kinh có sự tương
đồng với truyền thuyết và truyện cổ tích của tộc Chăm, Khmer và các tộc ít người khác. Bên
cạnh đó, sự tương đồng này còn do các quy luật tư duy, các kí ức loài thuở bình minh của
nhân loại chi phối, tác động. Nhưng các truyện kể này vẫn thể hiện sự khác biệt ở từng tộc
người. Sự khác biệt này chịu sự tác động của tín ngưỡng, đặc điểm xã hội đặc trưng của
từng tộc người. Ở tộc Kinh là chất trí tuệ thâm thúy, sâu sắc. trong khi ở các tộc người khác
là sự đơn giản, chất phác.
109
KẾT LUẬN
1. Truyền thuyết và truyện cổ tích Kinh là một trong những tài sản to lớn và vô cùng
quý báu của dân tộc. Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Kinh chiếm số lượng
đông nhất. Hệ thống truyền thuyết và truyện cổ tích cũng xếp vào loại có số lượng nhiều
nhất. Các câu chuyện cổ đã góp phần thể hiện tư duy, tính cách của con người dân tộc Kinh
nói riêng và nền văn hóa Kinh nói chung. Các truyện kể này luôn đi đầu, đóng vai trò hạt
nhân, nòng cốt trong hệ thống các truyền thuyết và truyện cổ tích các dân tộc Việt Nam.
Mỗi một câu chuyện đều có vai trò, nhiệm vụ làm giàu, làm đẹp thêm cho con người nhất là
về tâm hồn. “Thi tài” là một trong những nét đẹp tâm hồn đáng quý đó. Bởi “ Thi tài” là một
nội dung ứng xử mang đầy chất nhân văn của con người. Đó cũng là tiêu chí quan trọng
phân biệt giữa con người và con vật: thi tài để giải quyết mâu thuẫn, xung đột, không gây
ảnh hưởng đến tính mạng. Vì vậy, motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích là một
nội dung đáng chú ý, cần thiết trong việc nghiên cứu về truyền thuyết và truyện cổ tích.
2. Motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích đều có những điểm tương đồng
và khác biệt. Tuy nhiên, những điểm tương đồng của motif thi tài ở hai thể loại này vẫn chỉ
mang tính bề nổi của “tảng băng trôi”, về thực chất sâu bên dưới vẫn thể hiện những điểm
khác biệt. Ở truyền thuyết, các chủ thể thi tài xuất hiện các nhân vật là thần (bán thần) tạo
nên tính linh thiêng ở truyền thuyết. Bên cạnh, do chức năng giáo dục chi phối nên các nhân
vật lịch sử, tổ nghề,…xuất hiện với tần suất cao. Qua đó, nhân dân thể hiện sự ca ngợi, tôn
sùng và kính trọng. Như vậy, có thể thấy trong mô hình thi tài về mặt nhân vật, nội dung,
kết quả và chức năng ở truyền thuyết, các hiện tượng tự nhiên và con người đều được phản
ánh. Điều này đã tạo nên ý nghĩa thế giới và nhân sinh quan đặc trưng của truyền thuyết.
Thể loại truyện cổ tích do phản ánh các mối quan hệ nhân sinh nên từ chủ thể thi tài đến nội
dung, kết quả và chức năng đều thiên về lĩnh vực xã hội. Theo đó, ý nghĩa thế giới quan của
truyện cổ tích mờ nhạt hơn so với ý nghĩa nhân sinh quan. Vì vậy, có thể thấy tuy cùng sử
dụng motif thi tài nhưng ở mỗi thể loại, do đặc trưng về nội dung, thi pháp, chức năng đều
có sự thể hiện khác nhau. Sự khác nhau đó đã tạo nên diện mạo rất riêng cho từng thể loại.
3. Song dù mang chức năng, vai trò, nội dung,…khác nhau nhưng tựu chung motif
thi tài trong cả hai thể loại này đều cùng thể hiện tư duy, tâm hồn, tình cảm của cư dân cộng
đồng người Kinh. Các đặc trưng về mặt tư duy của tộc người Kinh được thể hiện một cách
sinh động qua các cuộc thi tài mà chủ yếu là các cuộc thi tài có sử dụng mưu mẹo. Từ
110
những mưu mẹo còn đơn giản, phản ánh dấu vết của tư duy nguyên thủy cho đến những
mưu mẹo phức tạp, mang tính liên hoàn trong truyện cổ tích. Qua đó, sự lươn lẹo, tinh ranh,
hay “xỏ lá ba que”, trêu đùa vui nhộn trong tính cách người Kinh được thể hiện hết sức đặc
sắc. Tinh thần hội hè, lễ hội dân gian theo đó cũng được biểu hiện, lồng ghép một cách tinh
vi, sắc sảo. Về mặt tình cảm, qua motif thi tài, họ bộc lộ mình là những con người chân
thực, thẳng thắn, giàu lòng vị tha, nhân hậu và mến chuộng hòa bình. Ngoài ra, các cuộc thi
tài còn thể hiện sự giao thoa của văn học dân gian và văn học bác học thông qua các cuộc
thi tài có liên quan đến các nhân vật về văn hóa của dân tộc vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của
tư tưởng Nho giáo. Tính trí tuệ ở truyện kể của tộc người Kinh vì vậy cũng đậm đặc hơn so
với các tộc người khác xét ở góc độ tộc người. Xét trong mối quan hệ với truyện cổ tích,
truyền thuyết thể hiện chất trí tuệ hơn hẳn. Có thể thấy thông qua lăng kính của motif thi tài,
muôn mặt tâm hồn ông cha ta được tái hiện một cách chân thực và gần gũi hơn bao giờ hết.
4. Ngoài ra, motif thi tài góp phần thể hiện những quan niệm của con người thời cổ
về ma thuật, cái chết, vương quốc của người chết, tín ngưỡng thờ mẫu,…Đó là những lớp
trầm tích văn hóa thời đại cổ bị những lớp văn hóa mới hơn bao phủ bên ngoài. Các nhân
vật thi tài là thần ( bán thần), các trợ thủ thần kì giúp đỡ cho các nhân vật thi tài, … chính là
dấu vết của tư tưởng huyễn hoặc về thực tại, quan niệm vạn vật hữu linh của con người thời
cổ đại. Hay các cuộc thi chạy nhanh để đem về cái trống lại là biểu hiện của quan niệm về
cái chết và vương quốc của người chết cổ xưa. Hoặc là sự chiến thắng của nữ giới trong các
cuộc thi tài phản ánh tiếng vọng còn sót lại của thời kì mẫu hệ, tính chất âm tính của nền
văn minh lúa nước thông qua tục thờ mẫu. Ngoài ra, các nghi lễ cổ như lễ hội chọi trâu, lễ
hội bắt cá, tục hiến sinh, nghi lễ trưởng thành, … cũng được phản ánh trong mô hình thi tài
ở cả thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích. Motif thi tài là một lối nhỏ hé mở con đường
tìm về với cội nguồn văn hóa của những cư dân cộng đồng người Kinh cổ nói riêng và nhân
loại nói chung.
5. Trong thời đại ngày nay, motif thi tài trong truyền thuyết và truyện cổ tích có một
ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó là một trong những nhân tố góp phần giữ gìn, bảo vệ truyền
thống của dân tộc. Hệ thống các giá trị văn hóa của dân tộc cũng được lưu giữ ở đây. Từ
phong tục cổ truyền tốt đẹp như tục thờ phụng ông bà tổ tiên cho đến các quan niệm về đạo
đức xã hội như lòng hiếu thảo, sự thủy chung, tinh thần yêu thương, đùm bọc lẫn nhau,...của
cư dân Kinh cổ. Các giá trị này đang bị lung lay trước cuộc sống hiện đại, làn sóng Âu hóa
tiêu cực. Hơn lúc nào hết các giá trị quý báu này cần được giữ gìn và phát huy mạnh mẽ.
111
6. Motif thi tài là một motif phổ biến trong truyện cổ các dân tộc trên thế giới. Mở
rộng phạm vi nghiên cứu về tộc người Khmer, Chăm, các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên,
vùng trung du và vùng núi phía Bắc,…hay về thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ
tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười sẽ cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, tổng quát hơn
về vấn đề nghiên cứu này. Xét về phương diện mở rộng phạm vi nghiên cứu về tộc người,
do đối tượng nghiên cứu của luận văn này là tộc người Kinh nói chung, chú trọng vùng địa
lí phía Bắc Việt Nam, cái nôi của nền văn hóa Kinh là chủ yếu nên khi mở rộng nghiên cứu
về tộc người, chúng ta sẽ có vô vàn hướng đi mới. Chúng ta có thể nghiên cứu về motif thi
tài trong một thể loại truyện cổ ở một tộc người cụ thể. Về mặt thể loại, chúng ta có thể tập
trung nghiên cứu về motif thi tài ở một thể loại cụ thể nhưng phải phù hợp, tùy vào tình hình
tư liệu (số lượng văn bản, chất lượng, ý nghĩa,...). . Mặt khác, chúng ta cũng có thể nghiên
cứu theo hướng văn học so sánh khi đi vào so sánh motif thi tài trong các thể loại, các tộc
người khác nhau. Về mặt so sánh giữa các tộc người, chúng ta cũng có thể tập trung nghiên
cứu về môtif thi tài ở một thể loại cụ thể của người Kinh ở khu vực phía Nam, xem xét các
đặc điểm của motif thi tài này ở vùng đất ngoại vi so với người Kinh ở trung tâm văn hóa là
đồng bằng sông Hồng. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu vấn đề này trong mối tương quan
các tộc người sống lân cận với nhau, có giao lưu về văn hóa với nhau như Kinh (Nam Bộ)-
Chăm- Khmer- Hoa. Chúng ta cũng có thể nghiên cứu về motif thi tài ở các tộc người có
quan hệ với nhau về nguồn gốc như hệ thống tộc người thuộc ngữ hệ Đa Đảo trong mối
tương quan với các dân tộc ở Inđônêxia, Malayxia,...Xét về phương diện mở rộng tộc người
kết hợp mở rộng thể loại trong văn học so sánh, chúng ta có thể đi vào nghiên cứu thêm thần
thoại hay truyện ngụ ngôn, truyện cười như một chuỗi dài các mắt xích nối liền nhau liên
tiếp. Điều này sẽ dễ dàng giúp người nghiên cứu có cái nhìn biện chứng về quá trình hình
thành và phát triển, biến đổi của motif thi tài. Các thể loại này được xem xét so sánh với
nhau ở tộc người này so với tộc người khác. Từ đó, chúng ta có thể không chỉ khái quát,
nhận diện đặc trưng riêng của motif thi tài ở mỗi thể loại, nhận diện đặc trưng thể loại mà
còn nghiên cứu được đặc trưng của một tộc người về đặc điểm tư duy, tình cảm và các giá
trị văn hóa truyền thống làm nên mỗi con người thời bấy giờ.
112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Huy Bỉnh (2009), “Truyền thuyết dân gian xứ Bắc về các thần tự nhiên”, TC.
Nghiên cứu Văn học số 4.
2.Charles Perrault; Nguyễn Thị Huế, Lê Thị Phong Tuyết (dịch) (2000),Truyện cổ tích, Nxb
Đà Nẵng, Đà Nẵng.
3. Nguyễn Đổng Chi (2008), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam ( 5 tập), Nxb Trẻ, Tp. Hồ
Chí Minh.
4. Cẩn Chí ( 1999), Tam thập lục kế, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai.
5. Nguyễn Hữu Chúc, Ninh Viết Giao, Trần Hoàng ( 2001), Truyện cổ các dân tộc miền núi
Bắc miền Trung, Nxb Thuận Hóa, Huế.
6. Đào Ngọc Chương ( 2009), Phê bình huyền thoại, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ
Chí Minh, Hồ Chí Minh.
7. Lê Văn Chưởng ( 2010), Đặc khảo Văn học dân gian Thừa Thiên Huế, Nxb Trẻ, Tp. Hồ
Chí Minh.
8. Nguyễn Thị Bạch Cúc, Sử Văn Ngọc, Trương Tôn (2000), Truyện dân gian Chăm, Nxb
Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
9. Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh ( 1977), Lịch sử văn học Việt Nam. Tập 2 : Văn học
dân gian, ĐH và THCN.
10. Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế (1998), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam : Truyện cổ tích
người Việt - Lần 3, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội.
11. Chu Xuân Diên (2001) , Văn hóa dân gian: Mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên
cứu thể loại , Nxb Giáo dục, Hà Nội.
12. Chu Xuân Diên ( 2008), Nghiên cứu văn hóa dân gian: Phương pháp - Lịch sử - Thể
loại , Nxb Giáo dục, Hà Nội.
13. Ngô Văn Doanh ( 1995), Truyện cổ Đông Nam Á- Campuchia, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
14. Nguyễn Tấn Đắc (1986), Những truyện kể của vua Vê-ta-la , Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội.
15. Nguyễn Tấn Đắc (2001), Truyện kể dân gian đọc bằng TYPE và MOTIF, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
16. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa Học
Xã Hội, Hà Nội.
113
17. Cao Huy Đỉnh (2009), Người anh hùng làng Dóng, trong Lễ hội Thánh Gióng, Nxb.
Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
18. Nguyễn Xuân Đức (2002), Vấn đề phân loại truyện dân gian, Thông báo
Văn hóa dân gian, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
19. Emily A.Schultz, Robert H.Lavenda (2002), Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân
sinh. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
20. E.M. Melitinsky ( 2004), Thi pháp của huyền thoại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
21. Ninh Viết Giao (1993), Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ, Hội Văn nghệ dân gian
Nghệ An.
22. Ninh Viết Giao ( 2004), Về Văn học dân gian xứ Nghệ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
23. Nguyễn Bích Hà (1997), “Motip “ Sự ra đời thần kì” trong truyện Thạch Sanh”, TC.
Văn hóa dân gian, số 2, trang 24-27.
24. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2010), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
25. Phan Thị Thu Hiền (2012), “Truyền thuyết Man Nương của Việt Nam và vu
ca Tanggeum Aegi của Korea (Nghiên cứu so sánh)”. TC Văn học nước ngoài, số 7,
tr 120-135.
26. Nguyễn Hữu Hiếu ( 1987), Truyện kể dân gian Nam Bộ, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ
Chí Minh.
27. Kiều Thu Hoạch (Chủ biên) ( 2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam. Tập 1, Văn học dân
gian , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
28. Kiều Thu Hoạch (chủ biên), Trần Thị An, Mai Ngọc Hồng (biên soạn) ( 2009), Truyền
thuyết dân gian người Việt , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
29. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nguyễn Định ( 2010), Yếu tố thần kỳ trong truyền
thuyết và truyện cổ tích người Việt ở Nam Trung Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
30. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nguyễn Xuân Đức ( chủ biên) (2011), Những vấn đề
thi pháp văn học dân gian, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
31. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Chu Xuân Diên( chủ biên) (2011), Văn học dân gian
Bạc Liêu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
32. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Ngô Văn Trụ, Bùi Văn Thành ( 2011), Di sản văn
học dân gian Bắc Giang, Nxb Thanh niên, Hồ Chí Minh.
33. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nguyễn Xuân Đức ( chủ biên) ( 2011), Thi pháp
truyện cổ tích thần kì người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
114
34. Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Nguyễn Xuân Đức ( chủ biên) (2011), Những vấn đề
thi pháp văn học dân gian, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
35. Nguyễn Thị Huế (1997), “Người mang lốt- motip đặc trưng của kiểu truyện cổ tích về
nhân vật xấu xí mà tài ba”, TC. Văn học, số 3, tr. 55-62.
36. Nguyễn Thị Huế (chủ biên),Trần Thị An (biên soạn) (2009), Truyện cổ tích loài vật và
sinh hoạt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
37. Nguyễn Thị Huế (chủ biên), Trần Thị An (biên soạn) (2009), Truyện cổ tích thần kỳ ,
Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
38. Nguyễn Thị Huế (2011), Những xu hướng biến đổi văn hóa các dân tộc miền núi phía
bắc Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
39. Hồ Quốc Hùng (2000), “Về sự tái sinh của nhóm truyền thuyết anh hùng bộ lạc ở vùng
Thuận Hóa”, TC.Văn học số 11.
40. Hồ Quốc Hùng (2003), Truyền thuyết Việt Nam & vấn đề thể loại, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí
Minh.
41. Jean Chevalier, Alain Gheerbrant ( 1997), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà
Nẵng, Đà Nẵng.
42. Đinh Gia Khánh ( 1993), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông
Nam Á , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
43. Đinh Gia Khánh ( 1995), Văn hóa dân gian Việt Nam với sự phát triển của xã hội Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
44. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998), Văn học dân gian Việt Nam
, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
45. Đinh Gia Khánh ( 1999), Sơ bộ những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám,
Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
46. Đinh Gia Khánh; Đinh Thị Minh Hằng (tuyển chọn) (2007), Đinh Gia Khánh: Tuyển
tập. Tập 3, Văn hóa dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
47. Vũ Ngọc Khánh ( 2000), Chuyện kể địa danh Việt Nam, Nxb Thanh Niên,
Hà Nội.
48. Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyên Vũ ( 2000), Từ điển văn hóa dân gian, Nxb
Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
49. Khoa Ngôn ngữ và Văn học ( 2007), Huyền thoại và Văn học, Nxb Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.
50. Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Đức Diệu, Kiều Thu Hoạch...(2004), Tổng tập văn học dân
gian người Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội
115
51. Nguyễn Xuân Kính (chủ biên), Vũ Quang Dũng, Phan Thị Hoa Lý (biên soạn) (2009),
Truyện ngụ ngôn. Quyển1, 2, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
52. Khoa Ngữ Văn, Đại học Cần Thơ ( 1997), Văn học Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
53. Hà Liên, Anh Thư (2002), Truyện cổ chọn lọc các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn
hóa dân tộc, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây.
54. Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc ( 1957), Truyện cổ nước Nam, Nxb Thăng Long,
Hà Nội.
55. Tăng Kim Ngân ( 1994), Cổ tích thần kì người Việt- đặc điểm cốt truyện, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội.
56. Nguyễn Xuân Nhân ( 1999), Văn học dân gian Tây Sơn, Nxb Trẻ,Hồ Chí Minh.
57. Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) – Hồ Quốc Hùng – Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Văn học
dân gian những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
58. Bùi Mạnh Nhị (2012), Phân tích tác phẩm văn học dân gian trong nhà trường, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
59. Thạch Phương ( 1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội.
60. Nguyễn Ngọc Quang ( 2010) , Văn học dân gian Châu Đốc, Nxb Dân trí,
Hà Nội.
61. Nhiều tác giả (2004); Từ điển văn học (bộ mới); Nxb Thế Giới, Hà Nội.
62. Vũ Quỳnh, Kiều Phú; Đinh Gia Khánh (chủ biên), Nguyễn Ngọc San (giới thiệu)
(2001), Lĩnh nam chích quái: Truyện cổ dân gian sưu tập biên soạn ở thế kỷ XV,
Nxb Văn học, Hà Nội.
63. Lê Chí Quế ( 2001), Văn hóa dân gian khảo sát và nghiên cứu, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
64. Lê Chí Quế (chủ biên), Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ (2004),Văn học dân gian
Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
65. Kiều Thị Sopri, Truyền thuyết liên quan đến tháp Chăm tại vùng đất Ninh Thuận, Bình
Thuận (Luận văn thạc sĩ 2011), trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh,
Tp. Hồ Chí Minh.
66. Nguyễn Phương Thảo (1994), Huyền thoại miệt vườn: Truyện cổ dân gian các dân tộc
Nam Bộ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
67. Trần Ngọc Thêm ( 1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Tp. Hồ
Chí Minh
116
68. Ngô Đức Thịnh (đồng chủ biên) (2005), Folklore - một số thuật ngữ đương đại, Nxb
Khoa hoc Xã hội, Hà Nội.
69. Nguyễn Khắc Thuần ( 2010), Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỉ XIX,
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
70. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Hữu Sơn, Trịnh Bá Dĩnh. ( 1999), Tuyển tập 40 năm tạp
chí Văn học (1960-1999). Tập 1, Văn học dân gian, Nxb Tp. HCM, Tp. Hồ Chí
Minh.
71. Lâm Tuyền Tĩnh ( 1987), Sự tích Langbian: truyện cổ các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng,
Sở Văn hóa thông tin Lâm Đồng, Lâm Đồng.
72. Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường ( 1992), Nghìn năm bia miệng tập 1, Nxb Tp.
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.
73. Đỗ Bình Trị (1978), Bước đầu nghiên cứu tiến trình lịch sử văn học dân gian Việt
Nam, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
74. Đỗ Bình Trị (2006), Truyện cổ tích thần kì Việt đọc theo Hình thái học của truyện cổ
tích của V.Ia.Propp, Nxb Thanh Niên, Tp. HCM.
75. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia ( 2003), Tổng tập văn học dân gian
người Việt, tập 19, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
76. Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Lạc ( 1993), Giảng văn: Văn học dân gian Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội
77. Hoàng Tiến Tựu (1990), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội
78. Hoàng Tiến Tựu (1998), Bình giảng truyện dân gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
79. Hoàng Tiến Tựu ( 2007), Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy nghiên cứu văn học dân
gian, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
80. Ty Văn hóa Nghĩa Bình (1980), Truyện cổ miền núi Nghĩa Bình.
81. Nguyễn Thị Thu Vân, Khảo sát truyện cổ dân tộc Chăm( luận án Tiến sĩ 2005) , Trường
Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
82.V. Ia.Propp (2003), Tuyển tập V.Ia.Propp. (tập 1), Nxb Văn hóa dân tộc, TC. Văn hóa
nghệ thuật, Hà Nội.
83.V. Ia.Propp (2004), Tuyển tập V.Ia.Propp. (tập 2), Nxb Văn hóa dân tộc, TC. Văn hóa
nghệ thuật, Hà Nội.
84. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2004), Tổng tập Văn học dân gian người Việt tập
4,5,6,7, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
85. Viện Khoa học xã hội, Viện văn hóa dân gian ( 1990), Văn hóa dân gian, những phương
pháp nghiên cứu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
117
86. Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Ngô Đức Thịnh ( chủ biên) (1993), Văn hóa vùng và
phân vùng văn hóa ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
118
PHỤ LỤC
Phụ lục 1:
BẢNG TÓM TẮT CỐT TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT DÂN TỘC KINH CÓ MOTIF
THI TÀI ( kể cả các dị bản của các truyện)
1. Ba ông thợ thổ hay Sự tích Tục chạy hồi loan (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Ở vùng Liễu Đôi xưa có ba anh em tài khỏe lạ lùng. Họ quyết tâm đào đất vượt thổ
lập làng.
- Công đức của họ vang đến Trời nên được một vị thần ban cho hai chiếc mai đào nhẹ
như không. Riêng em út được ban cho đôi bàn tay có sức mạnh bê nghìn cân mà vẫn nhẹ
như lá. Từ đó, họ tạo được làng xóm rộng lớn, muôn người mang ơn.
- Một hôm, ba người đào được một thanh gươm quý. Hai người anh tranh nhau. Cuối
cùng anh cả được gươm. Anh phải nhờ cậu em út có bàn tay thần nâng lên giúp vì gươm
quá nặng.
- Nhưng từ đó, hai người anh nghi kị em út vì sợ em lấy mất gươm thần.
- Ít lâu sau, giặc ngoài tràn vào, hai người anh nhỏ nhen chỉ cho em út- người duy nhất
dùng nổi gươm thần làm quân tốt hầu hạ. Giữa trận đánh, nghĩa quân gặp nguy, người em út
vội chạy đến giật gươm thần, đánh tan giặc. Hai người anh hối hận, tôn em làm tướng.
- Giặc tan, ba người trở về quê. Người em út trả lại gươm cho anh cả nhưng hai anh
không dám nhận.
- Người em út nảy ra ý cùng chạy đua về đống ( làng) vào mỗi năm. Ai về đích trước
sẽ được giữ gươm năm đó. Cả hai anh đồng ý.
- Về sau khi ba ông mất, dân làng vẫn giữ lệ thi chạy vào ngày rằm tháng hai gọi là
“chạy hồi loan” từ chùa Ba Chạ.
2. Bánh chưng- Bánh giầy (Lĩnh Nam chích quái)
- Hùng Vương thứ sáu về già muốn truyền ngôi
- Vua ra cuộc thi tài: dâng lễ vật cúng Tiên Vương vừa ý vua sẽ được truyền ngôi.
- Lang Liêu được thần giúp, tạo ra bánh chưng, bánh giầy từ gạo, đậu, thịt mỡ vừa ý
vua.
- Lang Liêu được nối ngôi.
3. (Khảo dị) Bố Cái đại vương (Tổng tập VHDG người Việt, tập 4)
- Theo thần tích thôn Kim Mã ( khu Ba Đình), khoảng thời Đại Lịch nhà Đường có
anh em họ Phùng nổi lên chống giặc nối chí Mai Thúc Loan.
119
- Một hôm, Phùng Hưng gặp trời tối, xin vào nghỉ đêm ở một nhà nọ, chỉ gặp một cô
gái anh thư, can trường, dũng cảm.
- Hôm sau, Hưng cho em mình là Hãi giả vờ trêu chọc để thử tài cô gái.
- Cuối cùng hai bên thi tài đấu kiếm cho đến khi Hưng tìm đến can ngăn, nói rõ sự
thật. - Về sau, cô gái lấy Hãi.
- Khi Phùng Hưng mất, triều đình do anh em Hưng lập nên lục đục nên vợ chồng Hãi
bỏ đi mất tích.
4. Dấu chân người xưa ( Văn học dân gian Tây Sơn)
- Thần Trụ Trời cử Khổng Lồ mang theo các chàng trai khổng lồ đi về phía Nam.
- Các chàng trai khổng lồ muốn cưới con gái tù trưởng Bah Nar.
- Tù trưởng không biết gả con cho ai nên tổ chức cuộc thi ném đá.
- Không biết kết quả ra sao nhưng các chàng trai đã tạo nên địa thế núi sông vùng đất
Tây Sơn.
5. Giếng tiên ( Truyện kể dân gian Nam Bộ)
- Ngày xưa, có hai vị Tiên thi tài đào giếng
- Tiên Bà chăm chỉ đào nên giếng sâu.
- Tiên Ông vì mải mê nhìn các Tiên Bà nên giếng lớn nhưng cạn.
- Kết quả, Tiên Ông thua.
6. Gốc tích ruộng thác đao hay là truyện Lệ Phụng Hiểu ( Kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam) ( Người viết tự xếp thể loại)
- Lê Phụng Hiểu nhà ở Thanh Hóa, nổi tiếng khỏe mạnh, giỏi võ, vật
- Một hôm, Tuấn ( ông Vồm) ở Đông Sơn nghe danh đến thi tài.
- Hai người thi tài vật. Hiểu thắng.
- Hiểu giúp dân làng Cổ Bi đánh thắng trong trận giành đất với làng Đàm xá.
- Hiểu về sau làm quan, lập nhiều công lớn được ban cho nhiều ruộng đất ( ném đao
làm ranh giới).
7. Mạc Đỉnh Chi (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Tục truyền, mẹ Chi vào rừng bị con hầu lớn cưỡng hiếp sinh ra cậu. Vì thế, Chi thân
hình nhỏ, mặt mũi xấu xí.
- Từ nhỏ, Chi thông minh hơn người.
- Năm 20 tuổi, cậu đỗ trạng nguyên với bài phú “ Sen trong giếng ngọc”.
- Vua sai đi sứ sang nhà Nguyên.
120
- Cậu thi tài đối với người Tàu, buộc họ phải mở cổng thành.
- Nhờ tài thông minh, Chi đối đáp, xử lí các tình huống oái oăm do vua quan nhà
Nguyên đặt ra một cách trôi chảy, được phong Lưỡng quốc trạng nguyên.
- Khi Mạc Đăng Dung ( cháu bảy đời Mạc Đỉnh Chi) lên ngôi, ông được truy phong
làm Việt Linh Thánh Đại Dương.
8. Nguyễn Hiền (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Nguyễn Hiền quê ở Hải Dương, Nam Định nổi tiếng thông minh từ nhỏ.
- Một hôm, có người học trò Kinh Bắc tên Đặng Tính đến thách thi tài học với Hiền.
- Tính ra một bài phú, Hiền đối lại được ngay. Tính phục tài từ đó.
- Năm ấy, Nguyễn Hiền đỗ trạng. Cậu là trạng nguyên trẻ tuối nhất nước ta.
9. Người thợ mộc Nam Hoa ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam) ( Người viết tự xếp
thể loại)
- Ông Chuẩn thuở trẻ theo học nghề của một ông già
- Ông lưu lạc khắp nơi hành nghề.
- Ông về quê thi tài xây nửa cái đình với các thợ và thắng.
10. Ngư thần Võ Cố (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Xưa ở làng Võ Giang có một bà góa chồng tốt bụng nên được thần Hà Bá thưởng cho
lọ nước thần.
- Bà uống vào, thụ thai, ba năm sau sinh được một cậu bé hình thù kì lạ, đặt tên là Cố.
- Cậu bé mình có vảy, thích nước, bơi lội giỏi.
- Một ngày kia, ở làng xuất hiện con giải quấy rối dân làng. Cậu bèn đuổi bắt nó.
- Đến một ngày, con giải thách cậu thi bơi lội với nó. Hai bên ngang tài.
- Gần trưa, cậu vươn lên, sắp bắt được con vật thì nó biến mất. Hóa ra con giải vâng
mệnh Long Vương dạy cậu bơi lội.
- Về sau, Võ Cố lập được nhiều công lao dưới trướng Lê Lợi và hi sinh anh dũng trong
chiến đấu. Vua Lê Thái Tổ phong chàng là Ngư thần và sai lập đền thờ ở quê nhà.
11. Nữ tướng họ Bùi (Văn học dân gian Tây Sơn)
- Bùi Thị Xuân quê huyện Tuy Viễn nổi tiếng thông minh, xinh đẹp và giỏi võ nghệ.
- Một hôm, bà đi săn, gặp một tráng sĩ đang đánh nhau với cọp, bà đã giúp đỡ và cứu
chữa.
- Đến tuổi lấy chồng, bà mở võ đài thi tài đấu võ.
- Tráng sĩ năm xưa thi tài cùng bà và chiến thắng. Đó là Trần Quang Diệu.
121
- Về sau, hai người đi theo Nguyễn Huệ, lập nhiều chiến công. Triều Tây Sơn mất, hai
người cũng hi sinh oanh liệt.
12. Phạm Ngũ Lão (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5)
- Phạm Ngũ Lão nhờ tinh thông binh pháp, hết lòng lo nghĩ cho đất nước nên được
Hưng Đạo Vương trọng dụng.
- Nhưng những vệ sĩ thấy ông là người hàn vi mới hiển đạt nên lấy làm khinh, thách
thi tài võ nghệ với ông.
- Ông nhận lời, về nhà chăm chỉ tập luyện nên thi tài đấu võ với họ.
- Kết quả, họ đều thua trận trước võ nghệ của Phạm Ngũ Lão.
- Phạm Ngũ Lão tiếp tục lập được nhiều công trạng hiển hách, phong làm Thượng
đẳng phúc thần khi mất.
13. Sự tích thành Lồi ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam) ( Người viết tự xếp thể loại)
- Vua Trần gả công chúa Huyền Trân cho vua Chăm Chế Mân đổi hai châu Ô, Lý.
- Chế Mân chết, nhà Trần cứu công chúa khỏi bị thiêu theo tục lệ Chăm nên gây xung
đột.
- Sau một thời gian giao chiến, người Chăm đề nghị thi xây thành
- Người Chăm đào đất, nung gạch xây thành. Việt dùng mưu chẻ tre đan những tấm
phên lớn, sơn rồi kết chúng lại.
- Người Chăm thua nên nhổ trại bỏ đi.
- Đoạn thành người Chăm xây gọi là thành Lồi.
14. ( Khảo dị) Sự tích thành Lồi ở Quảng Bình-Thừa Thiên ( Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam) ( Người viết tự xếp thể loại)
- Người Việt và người Chiêm thi tài
- Người Chiêm phải tạc con bò bằng đá biết đi.
- Người Việt phải trồng tre trở gốc lên trời còn sống. Việt dùng mưu giả làm gốc tre
bao quanh ngọn tre nên tre vẫn sống.
- Chiêm thua.
15. Sự tích tháp Chàm ( Văn nghệ dân gian Quảng Nam- Đà Nẵng)
- Người Việt thi tài xây tháp với chúa đất người Chiêm độc ác
- Việt xây tháp bằng rơm, tre. Chăm xây tháp bằng gạch nên lâu hơn, bị thua.
- Chúa đất người Chăm phải nhường lại đất cho người Việt và người Chăm nghèo.
16. Sự tích tháp Nhạn ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam) ( Người viết tự xếp thể loại)
122
- Năm Mậu Dần, chúa Nguyễn cử Lương Văn Chánh vào Phú Yên để dẹp loạn Chiêm
Thành và phá thành Hồ.
- Tướng bên Chiêm Thành thách thi xây tháp.
- Bên Việt khôn khéo xây tháp bằng tre rồi dán giấy phết màu gạch lên nên 1 đêm thì
xong. Bên Chiêm đào đất, đúc gạch làm tháp.
- Người Việt thắng.
- Việt sợ lộ nên thách đốt tháp nhanh nhất thì thắng.
- Bên Việt thắng còn tháp của Chiêm càng đốt càng chắc.
- Chiêm đành giao Phú Yên.
- Dấu tích tháp ấy gọi là tháp Nhạn.
17. Sơn Tinh, Thủy Tinh ( Lĩnh Nam chích quái)
- Hùng Vương thứ mười tám có công chúa tên Mị Nương, rất xinh đẹp ra tuyên bố kén
rể.
- Một hôm, Sơn Tinh và Thủy Tinh đến cầu hôn.
- Vua Hùng truyền tỉ thí
- Hai chàng thi tài bằng phép thuật. Ngang tài với nhau.
- Vua Hùng ra điều kiện ai mang sính lễ đến trước được vợ.
- Sơn Tinh đến trước, Thủy Tinh đến sau, tức giận, đánh Sơn Tinh.
- Thủy Tinh thua nhưng ôm hận nên năm nào cũng đánh Sơn Tinh tạo ra hiện tượng lũ
lụt
18. ( Khảo dị ) Sự tích ba ông đá ( Văn học dân gian Châu Đốc)
- Thuở khai thiên lập địa, Ngọc Hoàng sai bảy cặp nam nữ xuống trần tạo núi.
- Bảy Tiên Nữ chăm chỉ đắp núi ở phía Nam
- Bảy Tiên Nam lười biếng đánh cờ, không đắp núi ở phía Bắc.
- Kết quả, bảy Tiên Nữ tạo ra ngọn Thất Sơn hùng vĩ, bảy Tiên Nam chỉ đắp được
những ngọn núi nhỏ hơn
19. Sự tích núi Ông Sập (Văn nghệ dân gian Bạc Liêu).
- Thuở trước, ông Sập cùng người đàn bà thi đắp núi.
- Ông đắp sáu ngày đêm chưa xong. Còn người đàn bà đắp được ngọn núi cao cả
thước.
- Ông tức giận đạp cho ngọn núi mình đắp sập xuống.
- Từ đó, núi này mang tên là núi Ông Sập.
123
20. Tại sao những người già được sống lâu ( Văn học dân gian Châu Đốc)
- Ngày xưa, ở nước nọ, nhà vua ra lệnh giết những người già khi họ 60 tuổi.
- Vua nước láng giềng thách thi tài chọi trâu, thua bị mất nước.
- Có một anh nông dân có cha già, sợ cha bị giết, anh giấu cha đi.
- Nghe tin, anh theo lời dạy của cha, đến hiến kế dùng trâu non chọi với trâu đối
phương.
- Kết quả, nhà vua thắng. Vua hỏi chuyện biết là công lao của người cha.
- Từ đó, nhà vua bỏ sắc lệnh giết người già.
21. Trạng Vật (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Ngày xưa ở Nam Sách có một nhà nghèo sinh được một con trai tên Lành khỏe mạnh
hơn người nhất là môn vật.
- Lành cũng học giỏi. Chàng đỗ trạng nguyên.
- Một hôm, Lành và con voi già lập nhiều chiến công của vua đánh nhau. Vua bèn cho
hai bên thi tài đấu sức với nhau.
- Hai bên chiến đấu ròng rã hai ngày đêm.
- Cuối cùng, voi đuối sức ngã xuống. Lành được phong trạng Vật từ đó.
22. ( Khảo dị )Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ ( Văn học dân gian Châu Đốc)
- Tương truyền, tượng Bà nằm trên đỉnh núi Sam, bị bọn Tây ném đá nên Bà bảo dân
khiêng xuống núi.
- Dân dùng chín cô gái đồng trinh khiêng bà đến nơi bây giờ là miếu Bà thì không đi
được nên dân lập luôn miếu thờ ở đấy.
- Tướng Thoại Ngọc Hầu có nhiều tên lính ăn ở không phải đạo, bị Bà vật chết.
- Thoại Ngọc Hầu thi tài với bà ( con cọp bạch) bằng ngựa ô.
- Thoại tướng quân lừa cọp bạch đeo chuông to. Cọp không ăn được nên chết. Bà thua.
- Từ đó, Bà không vật người nữa.
23. Vua Bà (Tổng tập VHDG người Việt, tập 5 )
- Tục truyền ở vùng đất Quan họ có nàng Nhữ Nương tuy thấp người, đen đúa nhưng
giỏi tài hát, nổi tiếng cả một vùng.
- Một hôm, Nhữ Nương và các bạn đang hát mải mê ở bến sông bỗng gặp ba chàng
thanh tú. Hai bên thi tài hát đối.
124
- Đến ngày thứ chín, một chàng trai thú nhận mình là con út vua Thủy Tề vì quá mê
say giọng hát của nàng nên tìm đến, đêm nay là đêm cuối của chàng. Nhữ Nương xao động
trước lời tha thiết, chân thành của chàng.
- Ít lâu sau, đám cưới của họ diễn ra. Dân làng tôn Nhữ Nương làm Vua Bà.
125
Phụ lục 2:
BẢNG TÓM TẮT CỐT TRUYỆN TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN TỘC KINH CÓ
MOTIF THI TÀI ( kể cả các dị bản của các truyện)
1. Anh chàng may mắn (Văn học dân gian Châu Đốc)
- Có nhà phú nông mở cuộc thi kén rể: ai ứng thí giỏi được cô gái thưởng ba hồi trống
thắng cuộc.
- Một chàng nông dân nhờ nghe lỏm các câu đối của người khác nên thắng cuộc.
2. Ba chàng trai tài ba (Văn học dân gian Châu Đốc)
- Ngày xưa, có một nhà nọ có một con gái xinh đẹp nên muốn kén cho con một người
chồng xứng đáng.
- Một hôm, có ba chàng trai lần lượt đến hỏi cưới với các biệt tài: bắn cung, bơi lặn,
chữa bệnh.
- Ông bố tổ chức thi chạy với điều kiện ai ôm cô gái trước sẽ thắng.
- Cô gái bị đại bàng bắt. Chàng thợ săn giương cung bắn đại bàng; chàng bơi lội cứu
cô khỏi biển; chàng thầy thuốc cứu cô sống lại.
- Cuối cùng, theo điều kiện ban đầu, chàng bơi lội cưới được cô gái.
3. Cá chép hóa rồng (Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Trời mở cuộc thi tài hóa rồng
- Nhiều loài vật nô nức tham gia như cá rô, tôm nhưng đều thất bại
- Cá chép dự thi và chiến thắng, được hóa rồng.
4. Cái trống của Thần Nông (Tổng tập VHDG người Việt, tập 6)
- Ngày xưa có 2 vợ chồng ông lão nọ sinh được 1 cô con gái xinh đẹp. Khi cô đến tuổi
lấy chồng, cha mẹ mở cuộc thi tài kén rể.
- Có ba chàng trai xin dự thi: bắn nỏ, khâu vá, chạy nhanh. Anh thứ nhất phải bắn đổ
cây đào trước sân, chàng thứ hai phải khâu xong một trăm bộ quần áo, chàng thứ ba phải
sang nước láng giềng mượn cái trống Thần Nông về. Ai xong trước sẽ được lấy cô gái làm
vợ.
- Chàng thứ ba đang chạy thì gặp một bà lão mù làm rơi mất gậy xuống sông, anh liền
tìm giúp. Tìm mãi không thấy, trời đã xế chiều, anh biết đã lỡ cuộc thi.
- Buồn rầu, anh định đưa bà lão về nhà mình thì bà lão hóa thành bà tiên tặng anh
chiếc trống vì lòng tốt của mình.
- Anh mang trống về trước hai chàng kia chỉ trong gang tấc và cưới được vợ.
5. Chàng đốn củi (Tổng tập VHDG người Việt, tập 6)
126
- Ngày xưa, ở khu vườn nọ có một chàng thanh niên làm nghề đốn củi.
- Một hôm, anh cứu một bà lão bị ngã vào vũng bùn, cho bà ăn. Bà tặng anh phép là
ngồi lên bó củi nó sẽ bay lên, đưa anh về tận nhà.
- Nhà vua có công chúa xinh đẹp nên mở cuộc thi tài đấu kiếm, cung. Công chúa đang
xem thì bị ác điểu tha về hang.
- Chàng trai đang bay, liền cướp lại công chúa. Công chúa cảm kích muốn lấy chàng.
- Nhà vua liền thách chàng thi tài bắn cung với các hoàng tử khác và chiến thắng.
- Vua đành đồng ý nhưng bắt họ đi khỏi kinh thành bằng một chiếc bè.
- Giặc đến, vua thua trận, định treo cổ tự vẫn. Chàng tiều phu và công chúa nhờ có bó
củi thần cứu được kinh thành.
- Nhà vua ân hận, nhường ngôi cho chàng.
6. Chuyện Ông Trượng- Tiên Bửu (Văn học dân gian Châu Đốc)
- Ngày xưa, Ông Trượng và Tiên Bửu là hai vị tiên mắc nạn bị đày xuống trần
- Một hôm, Ông Trượng lúc bấy giờ là lão ăn mày gặp được Tiên Bửu, một cô lái đò
xinh đẹp
- Ông thi tài hò cùng cô gái. Ông thắng, cưới được cô.
- Về sau, cả hai cùng về trời.
7. Chuyện Nàng Út (Văn học dân gian Châu Đốc)
- Ngày xưa, có hai vợ chồng nhà nọ sinh một người con gái xấu xí, nhỏ bé
- Người cha thấy vậy, mang cô lên rẫy cho khuất mắt.
- Một hôm, hoàng tử đi qua, ăn khoai mì, khoai lang của cô, cảm mến nên xin cưới cô
làm vợ.
- Các nàng dâu khác ganh ghét xin mở cuộc thi tài sắc đẹp và làm bánh
- Nhờ bà tiên giúp, Út thắng, hoàng tử được nối ngôi.
8. Chuyện người lấy cóc (Tổng tập VHDG người Việt, tập 6)
- Ngày xưa có hai vợ chồng sinh ra một con cóc.
- Lớn lên, cóc đi trông lúa gặp một anh học trò nghèo đang cắn chắt lúa nhà mình. Cóc
nhỏ nhẹ, dịu dàng, chân thật làm anh học trò phải lòng và cưới cóc.
- Bạn học của anh dè bỉu và làm khó anh bằng cách tổ chức cuộc thi nấu cỗ, thi may
áo, thi sắc đẹp.
- Nhờ phép thuật bản thân và các nàng tiên, Cóc thắng.
9. Con cò đi thi kêu (Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
127
- Ngọc Hoàng mở cuộc thi kêu cho loài chim ở trên trần gian.
- Cò hăm hở đi thi kêu nhưng kêu nhỏ quá nên bị Ngọc Hoàng quở trách
- Từ đó, cò xấu hổ nên ít khi kêu.
10. Con hổ, con cóc tía và con khỉ ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
- Cóc thi nhảy với hổ
- Cóc lừa cắn đuôi hổ nên khi hổ nhảy làm cóc văng ra xa hơn.
- Cóc lại há miệng toàn lông hổ, lừa hổ. Sợ bị cóc ăn thịt, hổ chạy.
- Hổ gặp khỉ, khỉ dẫn hổ đi tìm cóc.
- Thấy hổ và khỉ, cóc lừa bảo khỉ nợ mười hổ sao chỉ dẫn đến một.
- Hổ sợ quá, chạy làm khỉ lúc này bị buộc trên lưng hổ chết nhăn răng.
11. Con hổ, cóc tía và rùa ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
- Cóc thi chạy với hổ
- Cóc lừa cắn đuôi hổ nên khi hổ nhảy làm cóc văng ra xa hơn. Hổ thua.
- Hổ gặp và được rùa mách dùng đá buộc vào đuôi.
- Hổ lại thi tài với cóc, hổ bị đá kéo xuống vực.
12. Cô mèo (Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Mèo và cọp vốn là hai cô cháu
- Một hôm, cọp bắt được heo, mèo lén ăn hết. Hổ biết được, hai con cãi nhau, quyết
định thi tài hơn kém
- Mèo và cọp thi tài leo lên cây nhưng hòa nhau
- Mèo và cọp lại thi tài leo xuống. Mèo thắng.
- Cọp tức giận, bảo sẽ ăn thịt mèo không chừa cả cứt.
- Mèo sợ quá nên từ đó luôn giấu cứt đi.
13. Hổ và các con vật bé nhỏ (Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Xưa có một con hổ hung dữ ở Ba Vì
- Một hôm, hổ gặp rùa, toan ăn thịt, rùa khạc ra mộc nhĩ nhưng lại bảo là gan voi. Hổ
sợ quá, bỏ chạy.
- Hổ gặp cua, thi chạy đua với cua. Cua lấy càng cặp vào đuôi hổ nên cua thắng
- Hổ gặp sẻ, lại rủ sẻ thi xô đổ cây. Sẻ làm các cành non chuyển động. Hổ sợ nên bỏ
chạy
128
- Hổ gặp tê tê, rủ tê tê thi làm những người trồng sắn hoảng sợ. Tê tê cuộn tròn lăn
xuống núi, người ngỡ đá rơi nên chạy đi. Hổ bắt chước thì bị người vây đánh chết. Tê tê
cười đến rụng hết răng.
14. Một cuộc tranh tài ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Làng nọ có cô gái xinh đẹp
- Có ba chàng trai: văn hay chữ tốt, võ nghệ cao cường, giỏi nghề đan bện và chàng
trai nông dân được cô gái yêu.
- Cha cô mở cuộc thi tài: dùng biệt tài của mình. Ai xong trước được vợ, riêng chàng
nông dân được giao sang Tàu mua trống.
- Hai chàng văn võ chỉ lo bàn luận, chàng đan nia giấu nghề nên đem vào buồng đan.
Chàng nông dân cố sức quá nên choáng đầu, ngã ao, mọi người thương biếu chàng chiếc
trống mới mua đem về.
- Khi gần tới, nông dân thúc liên hồi làm hai chàng văn võ quýnh quáng, không làm gì
được, chàng đan nia bị vướng cửa buồng.
- Chàng nông dân thắng cuộc được vợ
15. Mũi dài ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
- Ngày xưa có anh chàng nhà nghèo phải làm đày tớ nhà phú hộ tên Đê.
- Một hôm, Đê thi tài bơi lội với các bạn, làm mất trâu.
- Đê buồn quá, nằm trên bờ, lũ quạ tưởng xác chết liền bu lại.
- Đê tỉnh dậy, bắt được một con. Nó liền cầu xin tha, đổi bằng viên ngọc ước gì được
nấy.
- Nhờ đó, Đê trở nên giàu có và lấy được vợ.
- Vợ trộm ngọc, bỏ về nhà mẹ
- Đê được thần rượu tặng một cành hoa trắng, một cành hoa đỏ.
- Cả nhà vợ ngửi hoa đỏ, mũi bị dài ra, viên ngọc cũng không hiệu nghiệm.
- Họ đành trả lại ngọc cho Đê nên được ngửi hoa trắng, trở lại bình thường.
- Từ đó, vợ chồng Đê sống hòa thuận với nhau.
16. Nàng Út (Tổng tập VHDG người Việt, tập 6)
- Ngày xưa có hai vợ chồng sinh được một đứa con gái chỉ bé bằng ngón tay út.
- Cô bị cha lừa ở lại canh rẫy dưa.
- Hoàng tử ăn dưa, cô ăn chỗ còn lại và sinh ra một đứa con trai.
129
- Hoàng tử trở lại rừng ăn dưa và gặp cậu bé. Chàng mang họ về cung. Út làm vợ
hoàng tử.
-Vua không đồng ý, mở cuộc thi thử áo có cỡ lạ, nấu ăn và sắc đẹp.
- Nàng Út thắng nhờ lập bàn hương án cầu khấn thần linh.
17. Người đầy tớ và người ăn trộm ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Hai chàng trai: Trần Lực làm đầy tớ và Lê Đô làm ăn trộm cùng muốn cưới một cô
gái.
- Hai chàng thi tài: nếu người này nhận người kia giỏi hơn thi phải tự rút lui.
- Lê Đô trổ tài ăn trộm cái áo của cô dâu và thành công.
- Trần Lực lừa chủ mình leo lên leo xuống hai lần và tiếp đãi Lê Đô tử tế.
- Hai người nhờ một ông đồ phân xử: mèo ăn trộm hàng xóm và mèo ăn trộm của nhà,
con nào tài hơn: mèo nhà.
- Nên cuối cùng, Lê Đô nhận Trần Lực giỏi hơn.
18. Nữ hành giành bạc ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
- Ngày xưa, có một cô gái hay chữ, lúc lấy chồng, cô ra vế đối thi tài với chồng, nếu
thắng mới được vào phòng cô.
- Chồng nhờ thầy học giúp đỡ, bị một người bạn khác nghe được.
- Tên nghe lén liền về đối lại với cô gái. Cô cho vào phòng. Sau đó, hắn lẻn về.
- Lúc sau, người chồng thật mới về tới và trả lời cô
- Biết mình bị lừa, cô tự tử.
- Thầy đồ dùng mưu bắt được kẻ nghe lén, giải lên quan.
- Hắn bị xử tội, phải đền một giành bạc cho người chồng.
19. Phò mã bị tật (Văn học dân gian Châu Đốc)
- Nhà vua nọ mở cuộc thi tài chạy kén rể
- Ba người xin dự thi, có một người bị tật, nhưng sau lại chiến thắng
- Vua gả công chúa
- Nước có giặc, chàng lên đường đánh trận, chiến thắng.
20. Rạch đùi giấu ngọc ( Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam)
- Vua có viên ngọc bị bay về phương Nam
- Điển Chi bắt được ngọc quý, giấu trong đùi
- Vua sai người tìm
- Vua đổi viên ngọc bằng tiền
130
- Vua ở nước của Điển Chi thấy chàng giàu có gả công chúa
- Điển Chi khoe khoang làm công chúa bực tức mách vua
- Vua thi tài phát chẩn cho dân với Chi
- Chi thua bị xử bêu đầu. Công chúa hối hận đi tu.
21. Sự tích con trâu III ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Ngày xưa, trâu có đủ hai hàm răng, ngựa chỉ có một hàm
- Ngựa mượn hàm trên của trâu để tổ chức sinh nhật mình cho ra dáng. Trâu đồng ý.
- Xong việc, ngựa không trả lại, rủ trâu chạy thi: nếu thắng, trâu lấy lại được hàm răng,
thua thì mất hàm răng. Trâu đồng ý.
- Trâu thua nên mất luôn hàm răng đến giờ.
22. Tại sao cọp ăn thịt người ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Ngày xưa, cọp không ăn thịt người mà kết bạn cùng người.
- Một người có phép biến hình hay lừa cọp
- Rủ cọp thi ăn nâu: cọp ăn nâu, người ăn thịt. Cọp biết mắc lừa.
- Rủ cọp thi ăn thịt lẫn của nhau: cho thịt lợn vào tay áo, ống quần trước giả xẻo từng
miếng. Cọp phải móc thịt chân cho người ăn. Cọp biết mắc lừa.
- Rủ cọp thi ăn của báu của nhau: Lấy thịt lợn buộc vào giữa hai đùi, cọp sợ không
dám cắt nên người thiến của cọp. Cọp đau, bỏ chạy.
- Người đuổi theo, vờ quan tâm rồi phang luôn cây nứa vào.
- Từ đó, cọp thù người, chỉ chực ăn thịt.
23. Tấm Cám ( Truyện con Tấm và con Cám) (Tổng tập VHDG người Việt, tập 6)
- Tấm và Cám là hai chị em. Tấm con vợ lớn ( đã mất), Cám con vợ kế.
- Một hôm, người dì sai hai chị em đi bắt cá thi, ai thắng được yếm đỏ
- Không bắt được cá, Cám lừa Tấm, trút hết giỏ cho mình. Tấm khóc, Bụt giúp Tấm
tìm thấy cá bống.
- Mẹ con Cám lừa bắt Bống ăn. Bụt mách nhặt xương, chôn bốn chân giường.
- Làng mở hội, mẹ Cám trộn gạo lẫn thóc, bắt Tấm nhặt để không đi hội được. Bụt cho
chim sẻ nhặt giúp, mách Tấm đào xương Bống lấy quần áo, giày đi hội.
- Tấm đánh rơi giày, vua nhặt được, ra lệnh ai ướm vừa sẽ lấy.
- Tấm thử vừa, thành hoàng hậu.
- Tấm về nhà giỗ bố, bị hoàng hậu lừa trèo cau, té xuống ao chết do cau bị chặt. Cám
vào cung thay Tấm
131
- Tấm hóa thành vàng anh, xoan đào, khung cửi đều bị Cám giết.
- Tấm hóa thành trái thị được bà lão mang về nuôi
- Vua đến hàng nước bà lão, nhận ra cánh trầu Tấm têm, vợ chồng sum họp.
- Tấm sai quân sĩ giội nước sôi lên Cám theo lời Cám yêu cầu.
- Cám chết. Tấm sai làm mắm gửi mẹ Cám. Bà ta lăn đùng ra chết khi biết chuyện.
24. Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối ( Kho tàng truyện cổ tích Việt
Nam)
- Thạch Sùng là tên ăn xin sống cùng vợ trong hẻm núi
- Thấy hai trâu thần ở dưới nước húc nhau, biết sắp có lụt nên dốc tiền mua gạo
- Bán gạo giá đắt nên giàu có
- Cho vay, buôn bán
- Thi tài khoe tài sản với em hoàng hậu
- Thiếu mẻ kho nên mất hết tài sản.
25. To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Hổ thi tài nhảy qua ngòi với voi, bên thua bị ăn thịt. Voi thua.
- Voi gặp thỏ, thỏ đồng ý giúp.
- Voi vờ nằm chết, thỏ vờ ăn thịt voi, lừa được hổ.
- Hổ gặp khỉ, khỉ đòi giúp
- Khỉ buộc mình vào chân sau của hổ làm tin rồi cùng trở lại tìm voi.
- Thỏ nhanh trí mắng khỉ còn thiếu mình mười hổ
- Hổ tưởng thật, bỏ chạy làm khỉ chết nhăn răng.
26. Trâu và ngựa ( Tổng tập VHDG người Việt, tập 7)
- Ngày xưa, trâu có đủ hai hàm răng, ngựa chỉ có một hàm
- Ngựa được mời ăn cỗ, mượn răng của trâu
- Trâu đòi, ngựa không trả, ngựa rủ trâu chạy thi đến chỗ ăn cỗ, ai chạy nhanh đến
trước thì được.
- Trâu thua cuộc, mất răng.
- Voi thắng cuộc làm ngựa hết huênh hoang.

