BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Kiều Oanh
PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đỗ Thị Kiều Oanh
PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ
TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CẢM ƠN
-------
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã dành nhiều
thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Tổ Ngôn Ngữ, các thầy
cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm TPHCM. Xin cảm ơn Phòng Sau đại học
trường Đại học sư phạm TPHCM.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tận tình góp ý, giúp
đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.
Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 03 năm 2012
Người viết luận văn
Đỗ Thị Kiều Oanh
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng
công bố ở các công trình khác.
Người viết luận văn
Đỗ Thị Kiều Oanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
0.1.Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1
0.2.Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 1
0.3.Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 2
0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ ...................................................................... 2
0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian ............................... 3
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
0.5.Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5
0.6.Tư liệu nghiên cứu ...................................................................................... 5
0.7.Đóng góp của luận văn ............................................................................... 6
0.8.Bố cục của luận văn .................................................................................... 6
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ THUYẾT .................................................................... 7
1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ ......................................................... 7
1.1.1 Khái niệm phương ngữ ........................................................................ 7
1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt ....................................................... 8
1.1.3Phương ngữ Nam Bộ ............................................................................ 9
1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ ........................................................ 9
1.2 Văn học dân gian Nam Bộ ........................................................................ 11
1.3.Văn hóa Nam Bộ ...................................................................................... 13
1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa ................................................. 13
1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ ................................................... 13
1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ ............................................................... 14
1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian 16
CHƯƠNG 2.TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM
BỘ ...................................................................................................................... 19
2.1. Kết quả khảo sát ....................................................................................... 19
2.2. Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa .............................................. 22
2.2.1. Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng ........................................................... 23
2.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất ....................................... 64
2.2.3. Từ ngữ xưng hô ................................................................................ 73
CHƯƠNG 3.NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT MANG MÀU SẮC NAM BỘ
............................................................................................................................ 79
3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm ........................ 79
3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh ................................................................. 89
3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc ..................... 92
3.4. Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca
Nam Bộ ........................................................................................................... 98
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 109
NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT ................................................................. 116
1
MỞ ĐẦU
0.1.Lí do chọn đề tài
Về phương ngữ Nam Bộ, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình
nghiên cứu. Xuất phát từ các góc độ, khuynh hướng và phương pháp tiếp cận khác
nhau, những bài viết, những công trình đó đã cung cấp cái nhìn mới mẻ, toàn diện
hơn về phương ngữ Nam Bộ. Có thể thấy, đây là vấn đề thu hút được đông đảo các
nhà ngôn ngữ học - đặc biệt là những nhà nghiên cứu từng được sinh ra và trưởng
thành trên mảnh đất Nam Bộ. Thế nhưng, theo chúng tôi, việc khảo sát từ ngữ địa
phương trong văn học dân gian Nam Bộ vẫn có thể bàn luận thêm, nghiên cứu sâu
hơn và toàn diện hơn.
Khác với văn học viết, văn học dân gian là văn học truyền miệng, là sáng tác
của tập thể nhân dân lao động. Văn học dân gian phản ánh những gì gần gũi nhất với
con người. Từ ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học dân gian phản ánh lối
nói của từng địa phương, mang dấu ấn của từng vùng, từng miền. Nghiên cứu từ ngữ
địa phương trên cứ liệu văn học dân gian của một vùng, miền nào đó không chỉ làm
sáng tỏ những đặc điểm của từ ngữ vùng, miền ấy mà còn thấy được nếp sống, nếp
nghĩ của người dân nơi đó.
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phương ngữ Nam Bộ
trong văn học dân gian” với mong muốn góp phần tìm hiểu thêm nét đặc sắc của
phương ngữ Nam Bộ, của văn hóa Nam Bộ biểu hiện qua văn học dân gian; phân tích
giá trị biểu đạt, hiệu quả biểu đạt của các yếu tố mang tính địa phương trong văn học
dân gian Nam Bộ.
0.2.Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian”, người viết
hướng đến những mục đích sau:
- Khảo sát và phân loại các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương
trong văn học dân gian Nam Bộ
- Miêu tả và phân tích các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ
ngữ địa phương, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian
2
Nam Bộ. Từ đó góp phần làm rõ vai trò của các yếu tố địa phương trong văn học dân
gian Nam Bộ.
0.3.Lịch sử vấn đề
0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ
Phương ngữ là vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm từ rất sớm. Từ
những năm 1958 -1959, loạt bài “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc [39] đăng
trên tạp chí Bách khoa nhiều số liền đã sưu tầm và giải thích tiếng địa phương Nam
Bộ. Từ đó đến nay, phương ngữ đã được nghiên cứu toàn diện hơn, cả về ngữ âm, từ
vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, chức năng văn hóa - xã hội... Các công trình mang tính
chất dẫn luận từ vựng học của Đỗ Hữu Châu [6], Nguyễn Thiện Giáp [18] hay tu từ
học của Cù Đình Tú [91] đều có một phần nói về phương ngữ hoặc từ ngữ địa
phương. Trong đó đáng chú ý nhất là công trình
“Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu [9], công trình này đề cập
đến những vấn đề cơ bản nhất của phương ngữ học và các vùng phương ngữ của
tiếng Việt.
Về phương ngữ Nam Bộ, ngoài loạt bài của Bình Nguyên Lộc như đã nêu trên,
có nhiều công trình, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến vấn đề
này từ nhiều góc độ khác nhau.
Trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, tác giả Hoàng Thị Châu có đề cập
đến phương ngữ Nam Bộ. Trong đó, tác giả chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm, cụ thể
là “dựa vào những phương pháp của ngôn ngữ học và phương ngữ học để miêu tả,
phân tích, giới thiệu với bạn đọc những biến thể địa phương của tiếng Việt, lí giải
các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó”
[8;5-6]. Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy và thể hiện lịch sử phát
triển của tiếng Việt.
“Phương ngữ Nam Bộ” [33] của Trần Thị Ngọc Lang là công trình khoa học
nghiên cứu tương đối toàn diện về phương ngữ Nam Bộ. Trong công trình này, tác
giả đã miêu tả, so sánh rất tỉ mỉ và tinh tế sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của
phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ. Trần Thị Ngọc Lang cũng là tác giả
3
của nhiều bài báo bàn về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp, từ láy…
của phương ngữ Nam Bộ [31,32,34,35,36]
Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả như : Hoàng Xuân Phương [61], Nguyễn
Thanh Nhàn [48], Nguyễn Thanh Lợi [40], Nguyễn Thị Hai [20,21], Lê Trung Hoa
[26,27,28] bàn về địa danh Nam Bộ; Cao Xuân Hạo [23], Nguyễn Hoài Nguyên [47]
bàn về đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ; Hồ Xuân Tuyên [94,95,96,97,98],
Huỳnh Công Tín [68,69,70,71,72], Nguyễn Đức Dân [12], Nguyễn Thị Thanh
Phượng [62], Nguyễn Kim Thản [76], Mai Thanh Thắng [78,79], Hoàng Vũ [99] bàn
về đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ …
0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian
Điểm qua lịch sử nghiên cứu, có thể thấy phương ngữ Nam Bộ đã được nghiên
cứu khá toàn diện. Tuy nhiên bàn về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian chỉ
có một số bài viết của các tác giả Lê Xuân Bột [4], Trần Văn Nam [45], Bùi Mạnh
Nhị [49], Trịnh Sâm [66], Nguyễn Văn Nở [51], Nguyễn Thế Truyền [88].
Trong bài viết “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao – dân ca” [88], tác
giả Nguyễn Thế Truyền đã trình bày một cách khá đầy đủ những đặc trưng của
phương ngữ Nam Bộ. Tác giả nhận thấy trong ca dao – dân ca Nam Bộ đặc biệt rất
hay gặp các từ ngữ địa phương và cách phát âm địa phương. Tác giả đã liệt kê các từ
ngữ Nam Bộ xuất hiện trong một số câu ca dao, đồng thời phân tích màu sắc địa
phương của các từ ngữ đó. Tác giả cho rằng từ ngữ được phản ánh trong ca dao – dân
ca phần lớn đều là những từ quan trọng nhất biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt
động, tính chất… rất quen thuộc, gần gũi trong đời sống của người dân địa phương.
Trong khuôn khổ một bài báo, tác giả chỉ khai thác màu sắc địa phương Nam Bộ ở
một số từ ngữ hạn chế. Tuy nhiên, bài viết đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về
ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ.
Trong bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ” [49], tác giả
Bùi Mạnh Nhị cũng bàn đến từ ngữ địa phương trong ca dao – dân ca Nam Bộ. Tác
giả cho rằng văn học dân gian Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền
thống của ngôn ngữ ca dao – dân ca dân tộc mà cha ông từ các miền ngoài mang vào,
đồng thời đó cũng là kết quả của quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của
4
cuộc sống mới. Với lập luận đó, tác giả đi đến khẳng định từ ngữ sử dụng trong ca
dao – dân ca Nam Bộ ngoài những từ ngữ toàn dân còn có những từ ngữ nảy sinh tại
địa phương. Tác giả đã nêu ra những từ ngữ địa phương phản ánh đời sống tình cảm
của nhân dân trên sông nước, những từ gọi tên cây trái, những môtíp quen thuộc… tất
cả đều gắn chặt với cách phát âm, cách nói, với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh
hoạt hằng ngày của người dân Nam Bộ. Từ đó, tác giả nhận thấy ngôn ngữ, cách nói
của ca dao – dân ca Nam Bộ thường biểu hiện ở hai cực. Một cực là nhỏ nhẹ, hiền
lành, dễ thương…Cực thứ hai là chất xông xáo, phóng túng, trẻ trung. Điều này xuất
phát từ hoàn cảnh sống, tâm trạng, tính cách, phong cách sinh hoạt của người dân nơi
đây. Người dân Nam Bộ vốn yêu ra yêu, ghét ra ghét cộng với cách nói thẳng thắn,
bộc trực nên mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ rất cao. Bên cạnh
đó, do không bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ nên văn học dân gian
Nam Bộ có khả năng rộng mở để tạo nên và sử dụng những từ ngữ đầy sáng tạo.
Những đóng góp của tác giả bài viết là rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu,
tìm hiểu về sắc thái địa phương trong ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ nói riêng và
ngôn ngữ Nam Bộ nói chung.
Mở đầu bài viết “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương” [66], tác giả
Trịnh Sâm mong muốn mọi người phải tôn trọng ngôn ngữ địa phương trong quá
trình sưu tầm, hiệu đính ca dao – dân ca. Bởi vì, theo tác giả, nếu tìm hiểu ca dao dân
ca mà tách rời hoàn cảnh sống có nghĩa là tước bỏ đi một phần tinh hoa vốn có của
nó, đồng thời còn đánh mất một tiên chí nhận diện xuất xứ cũng như phân loại ca
dao – dân ca. Tác giả đã dẫn một số ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa các phương ngữ
và giữa phương ngữ với tiếng Việt toàn dân. Trong đó, tác giả có nêu một số đặc
điểm của phương ngữ Nam Bộ như hiện tượng vần uân chuyển thành ưa, về thường
đọc là dìa, cách phát âm bùn thành bùng, cách đọc vần úc và út giống nhau… Từ đó,
tác giả kết luận: Phương ngữ Nam Bộ là hệ thống từ ngữ xù xì, ngồn ngộn, đầy sức
sống. Bài viết đã cung cấp những hiểu biết nhất định về phương ngữ, đồng thời còn
gợi ý một số vấn đề nghiên cứu thú vị.
Nhìn chung, hầu hết các bài viết chủ yếu nói đến từ ngữ địa phương trong ca
dao dân ca Nam Bộ, chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chi
5
tiết các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ. Trước tình hình nghiên
cứu như trên, chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ bàn đến phương ngữ Nam Bộ
trong văn học dân gian một cách toàn diện và có hệ thống, trên cơ sở kế thừa những
thành tựu nghiên cứu của người đi trước.
0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Do đặc điểm của đề tài, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không đặt vấn
đề tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ ở mọi thể loại văn học dân gian mà chỉ giới hạn tìm
hiểu phương ngữ Nam bộ trong các thể loại sau:
- Truyện cười
- Tục ngữ
- Ca dao – dân ca
0.5.Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cấu tạo từ
ngữ, các cách biểu đạt mang màu sắc địa phương.
- Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích đặc
trưng ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa
phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Để làm rõ nét đặc sắc của phương ngữ
Nam Bộ, luận văn có đối chiếu phương ngữ Nam Bộ với ngôn ngữ toàn dân để thấy
được sự khác biệt, nét riêng của từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương
trong văn học dân gian Nam Bộ.
Các phương pháp này có tầm quan trọng như nhau và được vận dụng xuyên
suốt luận văn.
0.6.Tư liệu nghiên cứu
Tài liệu mà chúng tôi sử dụng để khảo sát các yếu tố phương ngữ trong văn
học dân gian Nam Bộ là bộ tài liệu sưu tầm điền dã của Khoa Văn học và Ngôn ngữ,
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
6
Minh. Tài liệu đã được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản.
Đó là những tuyển tập do Chu Xuân Diên chủ biên:
0. Văn học dân gian Sóc Trăng (2002);
1. Văn học dân gian Bạc Liêu (2005);
Và cuốn Văn học dân gian An Giang (tài liệu sưu tầm điền dã lưu hành nội
bộ, 2010).
0.7.Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và thực tiễn như sau:
- Đóng góp vào việc tìm hiểu đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ thông qua
việc tìm hiểu từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân
gian Nam Bộ
- Thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương, góp
phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ
- Đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ,
cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ
- Tập hợp một khối lượng lớn, bao quát hơn về từ ngữ địa phương Nam Bộ,
phục vụ cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu phương ngữ và văn học dân gian
Nam Bộ
0.8.Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các nội dung chính như sau:
Chương một trình bày các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài: phương ngữ,
phương ngữ Nam Bộ, văn học dân gian Nam Bộ, mối quan hệ giữa phương ngữ và
văn học, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.
Chương hai trình bày các vấn đề liên quan đến từ địa phương trong văn học
dân gian Nam Bộ. Thông qua kết quả khảo sát về từ địa phương được sử dụng trong
văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đi sâu miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, giá
trị tu từ và đặc điểm văn hóa của từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ
Chương ba miêu tả, phân tích giá trị tu từ, đặc trưng văn hóa Nam Bộ của các
cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ.
7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ
Phương ngữ là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ lâu. Tuy nhiên,
cho đến nay khi bàn về phương ngữ vẫn còn những quan điểm chưa thống nhất, đặc
biệt là trong các vấn đề như sự phân vùng phương ngữ, vị trí của phương ngữ trong
quan hệ với ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ và việc chuẩn hóa ngôn ngữ. Trong
khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi sâu bàn bạc những vấn đề đó mà chỉ tập
trung vào các khái niệm làm cơ sở để tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ như: khái niệm
phương ngữ, sự phân vùng phương ngữ, đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ.
1.1.1 Khái niệm phương ngữ
Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn,
“phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng
biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ; là hệ
thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là
ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương,
phương ngôn) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [100;232]
. Hoàng Thị Châu định nghĩa phương ngữ một cách ngắn gọn hơn:
“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ
toàn ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn
dân hay với một phương ngữ khác” [8;24]
Ở đây, chúng tôi nhận thấy cần phân biệt ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ.
Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên, phương ngữ cũng là một
hệ thống hoàn chỉnh riêng của nó chứ không phải là “một cái nhánh tách ra từ thân
cây” [8;54] ngôn ngữ toàn dân. Chính vì vậy mà không thể cho rằng ngôn ngữ toàn
dân là cái trừu tượng còn phương ngữ là cái cụ thể, “phương ngữ cũng như ngôn ngữ
toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể” [8;54].
8
1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt
Phân vùng phương ngữ là vấn đề phức tạp. Có nhiều quan điểm khác nhau bàn
về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vùng phương ngữ nào cả,
chỉ có một ngôn ngữ Việt mà thôi; có quan điểm cho rằng tiếng Việt có hai, ba, bốn
hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ. Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể các quan điểm
này [ 8;85 - 88]
- Người đưa ra quan điểm không chia vùng phương ngữ tiếng Việt là
S.C.Thomson.
- Các tác giả sau có cùng quan điểm là chia tiếng Việt thành hai vùng phương
ngữ:
+ H. Maspéro, M.V.Gordina và I.S.Bustrov chia phương ngữ Việt thành
phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung (tiếng miền Nam giống phương ngữ Bắc).
+ Hoàng Phê chia phương ngữ Việt thành tiếng miền Bắc (Hà Nội),
tiếng miền Nam (TP HCM), khu vực giữa là vùng chuyển tiếp.
- Có nhiều nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ, trong đó
tiêu biểu là Hoàng Thị Châu. Các tác giả này phân chia ranh giới các vùng phương
ngữ như sau: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ
An đến Đà Nẵng), phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào)
- Quan điểm chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ có những tác giả sau:
+ Nguyễn Kim Thản chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc (Bắc
Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía nam Thanh Hóa đến Bình
Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ
Nam (từ Thuận Hải trở vào).
+ Nguyễn Văn Ái chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc Bộ (từ
các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa), phương ngữ Bắc Trung bộ (từ Quảng
Nam – Đà Nẵng đến Thuận Hải), phương ngữ Nam Bộ (từ Đồng Nai, Sông Bé đến
mũi Cà Mau).
- Nguyễn Bạt Tụy chia phương ngữ Việt thành năm vùng phương ngữ: phương
ngữ Bắc (Bắc bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Quảng Trị),
9
phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới
(từ Bình Định đến Bình Tuy), phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào).
Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách phân chia các vùng phương
ngữ tiếng Việt của Nguyễn Văn Ái. Theo đó, vùng phương ngữ Nam Bộ được xác
định trùng với vùng địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình
Phước đến mũi Cà Mau.
1.1.3Phương ngữ Nam Bộ
1.1.3.1Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ
Vùng phương ngữ Nam bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Tuy
nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách xác định khác nhau.
Hoàng Phê gọi tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng
miền Nam, nơi có Sài Gòn (TP HCM) là trung tâm [57]; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn
Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam [77;51-69]. Tiếng Việt ở vùng
địa lí từ Bình Tuy trở vào được Nguyễn Bạt Tụy gọi là phương ngữ Nam [93]. Tiếng
Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam Tổ quốc, Hoàng Thị Châu gọi
là phương ngữ Nam [8;90]. Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao
Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [24;120-121].
Từ TK XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí từ Đồng
Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau. Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn Văn Ái [1;10],
Trần Thị Ngọc Lang [33;7], Hồ Lê [38;229-230], Bùi Khánh Thế [82;77], Cao Xuân
Hạo [24;120] gọi là phương ngữ Nam Bộ.
Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ Nam được các
tác giả xác định khá rộng. Không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định
hẹp hơn. Ở đây chúng tôi chọn cách xác định vùng phương ngữ Nam Bộ như sau:
Ranh giới phương ngữ Nam bộ trùng với ranh giới địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ
Bình Dương, Bình Phước đến Cà Mau.
1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ
Bất cứ một phương ngữ nào cũng có những nét đặc trưng về ngữ âm, từ vựng –
ngữ nghĩa, ngữ pháp so với các phương ngữ khác. “Một phương ngữ được xác định
bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng – ngữ
10
nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [8;90]. Phương ngữ Nam Bộ cũng không nằm
ngoài quy luật trên.
Trước hết, Nam Bộ là nơi có điều kiện giao thông thuận tiện. Đồng thời cũng
là nơi phát triển kinh tế hàng hóa sớm hơn các vùng khác của đất nước nên phương
ngữ Nam Bộ đã có ảnh hưởng trên một vùng dân cư rộng lớn. “Một đặc điểm nổi bật
của phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ rộng
lớn” [82;77].
Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số đặc điểm chính của phương ngữ Nam
Bộ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
- Về ngữ âm:
+ Thanh điệu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang,
huyền, hỏi, sắc, nặng (Phương ngữ Nam Bộ không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã).
+ Phụ âm đầu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ có 19 phụ âm, không có 3 phụ âm
cong lư ỡi /ş,
+ Vần: Trong phương ngữ Nam Bộ, âm đệm /- w-/ hoặc bị lược bỏ (luyến
liến) hoặc được nhấn mạnh thành âm chính (loan lon). Các nguyên âm đôi /ie, ,
uo/ khi đi với /- m, -p / cuối thì mất yếu tố sau (tiêm tim, lượm lựm). Các âm
đơn / ɔ, / đứng trước phụ âm cuối /-p, -m / đều thành /o/ (nom, nơm nôm).
Âm chính /ă/ trong vần “ay” đọc thành “ai” (tay tai).
+ Phụ âm cuối: Người Nam Bộ phát âm không phân biệt /-n/ với /-/ (tan –
tang), /- t/ với /-k/ (tắc – tắt).
- Về từ vựng – ngữ nghĩa:
Ngoài những khác biệt về ngữ âm, ở Nam Bộ còn có rất nhiều từ ngữ mang sắc
thái địa phương dùng để định danh cây cỏ, cầm thú, hoa trái; công cụ, phương tiện
sinh hoạt và lao động; địa hình; từ xưng hô; từ chỉ không gian, thời gian; từ ngữ liên
quan đến sông nước; tiếng lóng, từ mượn gốc khác như Khmer, Hoa, Pháp, Anh…
Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của phương
ngữ Nam Bộ ở chương sau.
11
- Về ngữ pháp:
Giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ về cơ bản không khác nhau nhiều.
Chính sự thống nhất về ngữ pháp giữa các phương ngữ với nhau và với ngôn ngữ
toàn dân nên tiếng Việt mới đảm bảo được tính thống nhất trên toàn quốc. “Khi việc
miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với
ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng” [8;21]. Tuy nhiên, nói như vậy
không có nghĩa là không có trường hợp khác nhau. Trong phương ngữ Nam Bộ, có
một số đặc điểm ngữ pháp khác với ngôn ngữ toàn dân. Chính những đặc điểm này
tạo nên nét riêng của phương ngữ Nam Bộ. Phần này cũng sẽ được chúng tôi trình
bày cụ thể ở những chương sau.
1.1.3.3 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ
Trong một xã hội có nhiều cộng đồng người nói nhiều ngôn ngữ khác nhau
cùng sinh sống thì sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ là điều tất yếu. Khi tiếp xúc sẽ có
hiện tượng giao thoa, vay mượn thậm chí là đồng hóa một số yếu tố giữa các ngôn
ngữ.
Trong tiến trình khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc, người Việt đã
mang theo mang theo nét văn hóa, vốn ngôn ngữ từ cội nguồn phía Bắc đến với vùng
đất mới. Do đó, trong phương ngữ Nam Bộ, dấu vết của tiếng nói cội nguồn vẫn còn.
ẳng h Ch
bị phát âm lẫn lộn thành /s, z, t/.
Ngoài lưu dân từ Bắc Bộ, Trung Bộ, vùng đất Nam Bộ còn là nơi quần cư của
các dân tộc anh em khác như: Khmer, Chăm, Hoa…Vậy nên, trong phương ngữ Nam
Bộ có các yếu tố vay mượn ngôn ngữ của các dân tộc này là điều dễ hiểu. Khảo sát
phương ngữ Nam Bộ, ta sẽ bắt gặp nhiều yếu tố văn hóa thú vị thể hiện qua cách vay
mượn ngôn ngữ của người dân Nam Bộ.
1.2 Văn học dân gian Nam Bộ
Văn học dân gian Nam Bộ có đầy đủ các loại thể như văn học dân gian các
vùng miền khác trên cả nước: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười,
câu đố, tục ngữ, ca dao dân ca. Để thực hiện đề tài, luận văn chỉ tập trung khảo sát sự
thể hiện của phương ngữ Nam Bộ ở các thể loại truyện cười, tục ngữ, ca dao dân ca.
12
Có thể thấy trong các thể loại mà chúng tôi chọn để khảo sát, ca dao dân ca là bộ
phận có số lượng nhiều nhất. Do vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số
nét về ca dao, dân ca và ca dao, dân ca Nam Bộ.
Trong văn học dân gian, ca dao, dân ca là bộ phận được sáng tác bằng các thể
thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh
khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất,
tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác.
Về đại thể, ca dao, dân ca có thể chia thành ba bộ phận:
+ Thơ ca nghi lễ: Đây là thể loại sáng tác dân gian có nguồn gốc rất cổ,
nảy sinh trong quá trình lao động, sinh hoạt, gắn chặt với thế giới quan của người
nguyên thủy cũng như ý thức tôn giáo ở các giai đoạn sau. Thơ ca nghi lễ khi diễn
xướng sẽ kèm theo các hành động nghi lễ. Loại thơ ca này phản ánh kinh nghiệm lao
động, biểu thị những khát vọng, ước mơ của nhân dân cũng như tài nghệ sử dụng
tiếng mẹ đẻ. Ở Nam Bộ, loại thơ ca này chưa được sưu tầm nhiều. Trong ngữ liệu
khảo sát của chúng tôi chỉ có 3 bài thơ ca nghi lễ nằm trong tuyển tập văn học dân
gian Sóc Trăng.
+ Dân ca lao động: Đây là những bài ca được hò hát trong lao động với
điều kiện là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cường độ và cách thức của
nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó. Hò lao động là
hình thức chủ yếu của thể loại này.
+ Ca dao – dân ca trữ tình: Đây là những bài ca mà nội dung và hình thức
diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có
tính chất nghi lễ. Những bài ca này vẫn được hát trong lao động, nhưng nội dung cơ
bản của nó là nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình.
Văn học dân gian sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với văn học dân gian ở các
miền khác của đất nước. Tuy nhiên, văn học dân gian Nam Bộ là bộ phận sáng tác rất
trẻ của dân tộc. Nó gắn liền với quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ. Vì vậy, những
yếu tố đặc trưng ở vùng đất Nam Bộ (điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người….) đã
ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ.Việc tìm hiểu màu sắc địa
13
phương trong văn học dân gian sẽ chỉ ra nét độc đáo, sự đóng góp riêng của từng địa
phương.
Văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân lao động, thế nên bản thân nó chứa
đựng những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân dân. Việc tìm hiểu phương ngữ
trong văn học dân gian của một vùng miền không chỉ giúp ta nhận thức sâu hơn về
ngôn ngữ của vùng miền mà còn giúp ta thấy được nét đặc trưng, cái hay, cái đẹp của
văn học dân gian vùng miền ấy.
1.3.Văn hóa Nam Bộ
1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa
- Khái niệm văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và
tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong
sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình”
[84;25].
- Theo Trần Ngọc Thêm [84;28-29], văn hóa gồm bố thành tố sau: văn hóa
nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (tận
dụng và đối phó với môi trường) và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
- “Văn hóa vùng là một phạm vi, một khu vực địa lí – văn hóa có đặc điểm và
bản sắc riêng” [81;5]. Như vậy, Nam bộ là một vùng văn hóa.
1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ
Những khám phá khảo cổ học cho chúng ta biết từ xa xưa, ít nhất là cách nay
từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có mặt trên vùng đất Nam Bộ. Họ có mặt đầu
tiên ở vùng phù sa cổ (tức là vùng Đông Nam Bộ) ngày nay, sau đó mới tiếp tục hành
trình xuống vùng phù sa mới (tức là vùng Tây Nam Bộ ngày nay).
Chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam, người Chân Lạp.
Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chủ nhân ban đầu của vùng đất Nam Bộ là người Phù
Nam mà sách Tấn thư của Trung Hoa mô tả là “đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi
đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp” với hoạt động nông nghiệp và
giao thông đường thủy rất phát triển. Rồi đến TK VI thì Phù Nam nông nghiệp đã bị
người Chân Lạp dương tính hơn thôn tính” [81;603].
14
Từ TK XVII trở đi, Nam Bộ xuất hiện người Việt. Người Việt là những lưu
dân từ miền Bắc, miền Trung vào. Đây là những người bần cùng hoặc muốn tránh
cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn lúc bấy giờ mà vào Nam. Họ ra đi để kiếm sống và
cũng mong được an thân. Mặt khác, có một lớp nông dân nghèo cũng tiến vào Nam
theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn. “Trong sự nghiệp 300 năm mở mang,
khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất
sinh tụ lâu đời của mình là vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển
miền Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam Bộ
ngày nay” [38;3]. Ngoài ra, thời kì này còn có lính tráng, các tội đồ bị triều đình bắt
buộc vào Nam lập đồn điền, bảo vệ biên cương phía Nam của đất nước.
Những người dân nghèo này chinh phục vùng đất phía Nam bằng bàn tay, bằng
khối óc, bằng sự cần cù, chăm chỉ: “Nam Kì được chinh phục không phải bằng thanh
gươm, vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày, đôi trâu đi từng bước
một” [50;60].
TK XVII, XVIII, người Hoa từ các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,
Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) dắt díu nhau vào khu vực đồng bằng sông Cửu
Long lập nghiệp. Cả người Pháp, Anh, Mã Lai, Ấn Độ cũng có mặt ở Nam Bộ.
TK XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía Nam sông Hậu. Họ đã
chinh phục vùng đất mới, biến một vùng hoang dại thành vùng đất trù phú, cây trái
sum sê.
Tóm lại, Nam Bộ là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em: người Việt, người
Hoa, người Chăm, người Khmer…Lớp dân cư đông nhất là người Việt. Nơi tập trung
đông nhất của họ là những vùng đất dễ làm, có nước ngọt, thuận lợi cho việc trồng
lúa nước. Người Khmer là dân tộc đông thứ hai ở Nam Bộ. Họ thường định cư, canh
tác trên những vùng đất cao, màu mỡ. Các dân tộc lập làng, dựng nhà cạnh nhau,
đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống . Tuy nhiên, dân tộc nào theo
phong tục của dân tộc đó, tuy có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhiều.
1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ
Khi tiến vào vùng đất phía Nam, người Việt đã mang theo mình một nền văn
hóa Việt. Trước điều kiện sống mới, con người đã có những cách ứng xử mới cho
15
phù hợp. Chính vì vậy mà văn hóa Việt truyền thống đã được người Việt ở phương
Nam vận dụng linh hoạt hơn. Từ đó, hình thành một vùng văn hóa Nam Bộ có bản
sắc riêng, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam nói chung.
Có thể phác thảo vài nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ như sau: “Vùng văn hóa
Nam Bộ có hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ (lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn)
và Tây Nam Bộ (lưu vực sông Cửu Long), với khí hậu hai mùa (mưa – khô), với
mênh mông sông nước và kênh rạch. Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã
nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Mạ,
Stiêng, Chơro, Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn
giàu thủy sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng, tôn giáo hết sức
phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với
văn hóa phương Tây…”[84;63].
Trong cách ứng xử với tự nhiên, người Việt ở Nam bộ vẫn giữ được nếp sống
hòa hợp và tôn trọng. Sinh hoạt và sản xuất ở Nam bộ luôn gắn với những thay đổi,
biến động của con nước, của dòng sông và thủy triều. Những biểu hiện của văn minh
sông nước thể hiện rõ trong phương thức lao động, trong nhịp sống sinh hoạt, trong
tín ngưỡng, trong phong tục và ngôn ngữ.
Trong lối ứng xử xã hội, người Việt phương Nam vẫn giữ được sự mềm dẻo,
hiền hòa của con người gốc nông nghiệp. Họ thích ứng với môi trường linh hoạt hơn,
ít câu nệ, thiết lập những quan hệ được quy định bởi điều kiện sống. Làng Nam Bộ
“ở tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện làm ăn”, “làng xã Nam Bộ không
có những thiết chế quá chặt chẽ (nhiều làng không có hương ước, thần tích, thần
phả)” [84;198]. Thôn ấp thuở ban đầu có đặc điểm là “dễ hợp dễ tan”. Những người
tứ phương đến lập làng lập ấp, thấy làm ăn khó thì lại tìm nơi khác. Do đó, “thành
phần dân cư Nam Bộ thường hay biến động, người dân không bị gắn chặt với quê
hương như ở làng Bắc Bộ” [84;198].
Tính cách con người Nam Bộ là sự biểu hiện của con người Việt Nam trong
những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nhất định. Đó là đức cần cù, là sự đoàn kết giúp
đỡ thương yêu nhau. “Dù làm ăn dễ dãi, người nông dân Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù.
Dù kinh tế hàng hóa phát triển, người Việt ở Nam Bộ vẫn coi trọng tính cộng đồng”
16
[84;199]. Đặt chân đến vùng đất mới, những lưu dân đã nhanh chóng kết thành chòm
xóm. Họ dựa vào nhau làm ăn, sinh sống, chống lại thú dữ, chống lại cường hào ác
bá… Người Nam Bộ can trường, gan góc, không lùi bước trước bất kì trở ngại nào
của tự nhiên cũng như những bất công, vô lí của xã hội.
Trong giao tiếp, người Nam Bộ bộc trực, chất phác, thẳng thắn, ít nói văn hoa,
rào đón. “Người dân đồng bằng sông Cửu Long – Đồng Nai vẫn chân thật, trung tín,
cởi mở, bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên thủy), xử sự với người ngay
một cách không suy tính thiệt hơn. Họ cũng đòi hỏi kẻ khác cũng như vậy đối với họ”
[50;161-162].
Người Nam Bộ ít chịu sự ràng buộc của đạo đức Khổng – Mạnh, ít thuần phục
quyền uy phong kiến. Một quá khứ với bao khuôn phép gò bó, những quan niệm cổ
hủ đã được họ “cởi bỏ lại đằng sau để sáng tạo ra một phong cách sống tự do, phóng
khoáng hơn và làm cho nền đạo lí giàu tính nhân ái của dân tộc ánh lên những sắc
màu độc đáo. Họ không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng cứu khốn phò nguy,
sống cái đạo làm người “kiến ngãi bất vi vô dũng dã”” [38;68].
1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian
- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa:
Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ. Ngôn ngữ là công cụ của
văn hóa vì không có ngôn ngữ thì không có một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra
được. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.
Đỗ Hữu Châu viết: “Văn hóa là một tổng thể gồm nhiều hợp phần nên ngôn ngữ phục
vụ mỗi hợp phần theo những cách thức khác nhau” [7;2]. Hồ Lê khẳng định: “Trên
lĩnh vực văn hóa bao la thì ngôn ngữ là một bộ phận. Trước hết ngôn ngữ là sản
phẩm do loài người tạo ra và vì thế nó cũng được loài người nhận thức, được nhận
thức ngay trong quá trình nó được tạo ra và được nhận thức ngày càng sâu hơn
trong quá trình nó tồn tại và phát triển” [38;333].
Trên phương diện giao tiếp, ngôn ngữ được xem là hình thức biểu hiện của văn
hóa. Ngôn ngữ trực tiếp biểu hiện những, tình cảm, cách nghĩ, nếp sống hằng ngày
của con người. Trong quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa cá nhân với
17
cộng đồng, ngôn ngữ đã trở thành một chiếc cầu nối, trở thành một phương tiện biểu
hiện cách ứng xử văn hóa.
Tuy nhiên, ngôn ngữ không chỉ là hình thức biểu hiện của văn hóa mà còn là
một hợp phần của văn hóa. “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa nhưng đồng thời nó
cũng là một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hóa” [7;2].
Bàn về mối quan hệ này, Cao Xuân Hạo viết:“Những ảnh hưởng của các nhân tố văn
hóa đối với cấu trúc của một ngôn ngữ là điều khó có thể hồ nghi, tuy không phải bao
giờ cũng dễ chứng minh. Và do đó, ít ra cũng có thể tìm thấy những sự kiện ngôn ngữ
nào đó có thể cắt nghĩa được bằng những sự kiện thuộc bản sắc văn hóa của khối
cộng đồng nói thứ tiếng hữu quan, và đến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể
gợi cho ta những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ đấy về nền
văn hóa của họ” [24;289].
Mặt khác, nhìn từ góc độ tri nhận, có thể nói “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn
ngữ đều phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa
– bản ngữ đó, thường được gọi là mô hình thế giới, bức tranh thế giới, hình ảnh thế
giới hay biểu tượng về thế giới…” [80].
Tóm lại, “ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó với nhau, không thể
tách rời nhau. Ngôn ngữ là chất liệu truyền tải văn hóa, văn hóa là cái hàm chứa
trong ngôn ngữ . Sự sáng tạo về văn hóa thường không thể tách rời khỏi ngôn ngữ,
còn sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với sự biến đổi
và phát triển của văn hóa” [59]. Đồng thời, “hệ thống từ ngữ của một ngôn ngữ là
một cuốn bách khoa toàn thư văn hóa của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định” [7;2].
Như vậy, việc tìm hiểu ngôn ngữ của một vùng miền nào đó không chỉ cung
cấp cho ta những hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ của vùng miền mà còn cho ta
thấy đặc trưng văn hóa của vùng miền ấy.
TIỂU KẾT
Nam Bộ là vùng đất mới, nằm ở phía Nam Tổ quốc, được xác định ranh giới
địa lí từ Bình Dương, Bình Phước đến mũi Cà Mau. Tuy còn rất trẻ nhưng Nam Bộ
cũng đã kịp hình thành những nét văn hóa đặc trưng, phân biệt với văn hóa các vùng
18
khác. Ngôn ngữ và văn hóa lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì thế mà tìm hiểu
phương ngữ Nam Bộ cũng góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa Nam Bộ.
Văn học dân gian Nam Bộ nằm trong mạch chảy của văn học dân gian dân tộc.
Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên đặc thù, hoàn cảnh lịch sử đặc thù mà văn học dân
gian Nam Bộ có những nét khác biệt nhất định so với văn học dân gian các vùng
khác. Một trong những biểu hiện của sự khác biệt đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sử
dụng trong văn học dân gian Nam Bộ không chỉ thể hiện thói quen sử dụng ngôn ngữ
của người dân Nam Bộ mà còn thể hiện tính cách, tâm tình của người Nam Bộ.
19
CHƯƠNG 2
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG
TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM BỘ
2.1. Kết quả khảo sát
Để tìm hiểu từ ngữ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đã
tiến hành khảo sát từ ngữ địa phương Nam Bộ trong các tài liệu sau:
(1) Văn học dân gian Bạc Liêu, 2002, NXB Văn nghệ TPHCM
(2)Văn học dân gian Sóc Trăng, 2005, NXB Văn nghệ TPHC
(3)Văn học dân gian An Giang, 2010, Tài liệu điền dã lưu hành nội bộ
Tất cả các tuyển tập trên đều là kết quả điền dã của Khoa Văn học và Ngôn
ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM.
Ba tuyển tập có 971 tục ngữ, 2355 bài ca dao dân ca, 463 truyện cười. Trong
luận văn này, chúng tôi tập hợp các từ ngữ mang màu sắc Nam Bộ gồm: những từ
riêng có ở Nam Bộ, những từ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng được người dân
Nam Bộ sử dụng không hoàn toàn giống với cách dùng trong ngôn ngữ toàn dân,
những biến thể ngữ âm của từ, những danh từ riêng (cụ thể là địa danh ở Nam Bộ),
những cách diễn đạt mang màu sắc Nam Bộ. Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận
thấy các yếu tố của phương ngữ xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam
Bộ. Đồng thời, chính những yếu tố phương ngữ ấy đã góp phần làm nên bản sắc rất
riêng của văn học dân gian Nam Bộ.
Dưới đây là bảng thống kê các từ ngữ địa phương xuất hiện với tần số cao
trong nguồn ngữ liệu khảo sát:
20
Bảng 2.1
Số lần Từ ngữ Stt xuất Nghĩa địa phương hiện
Từ ngữ biến âm
so với ngôn ngữ
toàn dân
1 Biểu 25 (1)Bảo, nói điều gì với ai đó
(2)Sai khiến người khác làm một điều
gì
2 Dìa 15 Về, di chuyển trở lại chỗ ở trước đó
của mình
3 Đương 15 Đang, biểu thị sự việc, hiện tượng
diễn ra, chưa kết thúc
4 Thiệt 10 (1) Thật, đúng với tên gọi, khái niệm
(2) Ngay thẳng, có thế nào bộc lộ thế
ấy
5 Tui 30 Tôi, cách xưng hô của người nói khi
tiếp chuyện với những đối tượng
ngang hàng hoặc nhỏ hơn
Từ ngữ có trong
ngôn ngữ toàn
dân nhưng mang
ý nghĩa khác
6 Đau 10 Bệnh, ốm, ở trạng thái ở trạng thái cơ
thể hoạt động không bình thường
7 Lội 8 (1) Bơi, di chuyển trong nước hoặc
nổi trên nước bằng cử động của thân
21
thể
(2) Di chuyển, có thể bằng phương
tiện nhưng thường là bằng chân
8 Thương 145 Yêu, có tình cảm thắm thiết giữa hai
người khác giới
Từ ngữ chỉ có ở
Nam Bộ
9 Bậu 65 Tiếng gọi người tiếp chuyện với mình,
khác giới tính, có ý thương mến, thân
mật
Đạt tiêu chuẩn, đạt yêu cầu, làm cho 10 Đặng 1 50
có thể hài lòng, hoặc đủ điều kiện để
thực hiện
Để, để mà; từ biểu thị điều sắp nói là Đặng 2 20 11
mục đích mà người nói muốn đạt tới
Ao được đào sâu có bờ chắn giữ nước Đìa 15 12
để nuôi cá
Từ người lớn dùng để tự xưng một Qua 75 13
cách thân mật với người nhỏ, hoặc
cách tự xưng có đôi chút tính chất
khách quan nhưng thân tình
Cha, cách xưng gọi người đàn ông có Tía 40 14
con, trong quan hệ cha con
Yêu, chấp nhận lấy làm chồng vợ Ưng 25 15
Tổng cộng 548 lần
Với một số từ ngữ hạn hẹp được nêu ở bảng trên, ta đã thấy từ ngữ địa phương
xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam Bộ (548 lần), chưa kể đến hàng
loạt các địa danh, tên các sản vật chỉ riêng có ở Nam Bộ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng
văn học dân gian Nam Bộ là kho tư liệu phong phú để tìm hiểu cả phương ngữ Nam
22
Bộ lẫn văn hóa Nam Bộ. Đồng thời, khi làm sáng tỏ các đặc điểm về từ địa phương
và văn hóa Nam Bộ cũng có thể góp phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian
Nam Bộ.
2.2. Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa
Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Từ địa phương là
những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương, từ địa phương là một
dạng biến thể của vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc” [18;292]. Từ địa phương phát
sinh do khoảng cách địa lí, điều kiện tự nhiên, sự kiện lịch sử, phong tục, tập quán
của một cộng đồng người. Vì vậy, từ địa phương mang đậm dấu ấn văn hóa nơi sinh
ra nó. Đồng thời, nó cũng có những khác biệt nhất định về ý nghĩa, sắc thái biểu cảm
so với từ toàn dân.
Ngoài ra, trong ngôn ngữ học, từ là kết quả của hoạt động định danh. Hiện thực
thường được gọi tên theo cách tri nhận của con người. Sự gọi tên này đã tạo ra các từ
và các đơn vị tương đương. Từ là kết quả của hoạt động phân cắt hiện thực của con
người. Phân cắt hiện thực là biểu hiện đặc trưng văn hóa của từng dân tộc. Mỗi dân
tộc sống trong một môi trường tự nhiên khác nhau, tuy quy luật tư duy của các dân
tộc trong quá trình nhận thức là giống nhau nhưng cảm nhận, phân tích, gọi tên các
hiện tượng thiên nhiên lại không hoàn toàn giống nhau. Khả năng quan sát cùng với
thói quen, phong tục tập quán làm cho mỗi cộng đồng có cách định danh khác nhau.
Vì vậy, ý nghĩa của từ không chỉ lưu giữ kinh nghiệm, tri thức mà nó còn lấp lánh
trong đó một nền văn hóa. “Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con
người đã thu nhận, tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan (…).
Ngoài ra, trong ý nghĩa của từ cũng còn ghi lại cả những yếu tố văn hóa dân tộc như:
các hình ảnh, cách so sánh truyền thống, sự biểu trưng…” [85;62]. Cùng một đối
tượng có thể được gọi tên khác nhau tùy thuộc vào tâm lí của cộng đồng, văn hóa
cũng như điều kiện tự nhiên xã hội của mỗi vùng.
Nam Bộ là vùng đất phía Nam của Tổ quốc. Vùng đất này có lịch sử, điều kiện
thiên nhiên khác với các vùng khác. Chính môi trường thiên nhiên, điều kiện sống đã
tạo nên một vùng văn hóa rất đặc trưng. Các từ địa phương trong văn học dân gian
Nam Bộ góp phần thể hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng.
23
2.2.1. Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng
2.2.1.1. Từ ngữ chỉ địa danh
Địa danh là các danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ vị trí địa lí, các đơn vị được
xác định trong tổ chức hành chính, quân sự, xã hội. Việc đặt tên các địa danh chịu sự
chi phối của lịch sử, xã hội, văn hóa.
Việc định danh trong địa danh không hoàn toàn võ đoán mà gắn với một vùng
hạn định nào đó. Vì vậy, địa danh chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, lịch sử,
văn hóa…
Trong hoạt động xã hội, việc đặt tên cho một vùng địa lí, một đơn vị hành
chính là nhu cầu tất yếu. Địa danh vừa là hiện tượng của ngôn ngữ học vừa là một
hình thức thể hiện văn hóa của cộng đồng cư dân đã từng hiện diện trong vùng lãnh
thổ tương ứng.
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều địa danh được nhắc
đến trong văn học dân gian Nam Bộ.
a) Địa danh Hán Việt
Từ nguồn ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thống kê được 22 địa danh Hán Việt, với
tần số xuất hiện là 58 lần.
Trong các địa danh Hán Việt, người Nam Bộ thường lựa chọn các yếu tố Hán
Việt mang ý nghĩa những điều tốt lành để đặt tên cho một vùng đất nào đó.
+ Phú( giàu có): An Phú, Phú Quốc, Thạnh Phú
Ai qua sông Đốc Thị Tam
Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên
+ Phước (tốt lành, giàu sang): Thường Phước, Phước Long
Tàu vượt Phước Long, tàu chạy về Phụng Hiệp
Em đưa anh về cho kịp chuyến đi
Anh đi bảo vệ quê nhà
Thương về Ninh Hóa xã nhà quê em
+ Thạnh (thịnh vượng): Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Phong
Ai về Thạnh Phú, Thạnh Phong
Nhắn anh chiến sĩ biên phòng nhớ thương
24
+ Vĩnh (lâu dài): Vĩnh Hưng, Vĩnh An, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Vĩnh Mỹ,
Vĩnh Thông
Sông Vĩnh An tuy dài mà hẹp
Gái Vĩnh An không đẹp mà duyên
+ An (êm đềm): An Giang, An Phú, Vĩnh An, An Bình, An Phú, Hòa An
Muốn ăn cơm trắng cá mè
Muốn đội nón lá thì về An Giang
+ Mỹ (đẹp): Thạnh Mỹ, Mỹ Lồng, Vĩnh Mỹ, Long Mỹ, Mỹ Thuận, Bình Mỹ
Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu
Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam
+ Long (con rồng, tốt thịnh): Long Điền, Phước Long, Long Mỹ
Long Điền, chợ Thủ quê anh
Trai chuyên nghề tủ, gái sành cửi canh
+ Bình (bằng phẳng, yên ổn, hòa hảo): Vĩnh Bình, Hòa Bình, An Bình,
Bình Mỹ
Anh đi ghe từ Vĩnh Long đi Vĩnh Mỹ
Xuống tàu thủy đi tuốt Vĩnh Bình
Trước là thăm viếng gia đình
Sau nhờ mai mối cho hai đứa mình kết duyên
Trong số các yếu tố Hán Việt chỉ những điều tốt lành thì yếu tố vĩnh và an có
tần số xuất hiện cao nhất (6 lần), sau đó là các yếu tố bình và mỹ (3 lần), thạnh (2
lần).
Từ những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ, ta thấy được ước nguyện của cha ông
thời mở đất. Trước hết, đó là mơ ước có một cuộc sống yên ổn, tốt lành, sau đó là mơ
ước có được cuộc sống sung túc và thịnh vượng. Cuộc sống tốt lành, thịnh vượng
không chỉ là mơ ước của riêng người dân Nam Bộ, tuy nhiên, đối với người dân Nam
Bộ, mơ ước ấy thường trực hơn và cháy bỏng hơn. Những người đầu tiên khai phá
vùng đất Nam Bộ, họ phải đối mặt với vô vàn khó khăn: vùng đất này hoàn toàn mới
mẻ và xa lạ, thiên nhiên mênh mông và hoang sơ. Con người đã gắng hết sức chinh
25
phục thiên nhiên đồng thời không ngừng mơ đến một cuộc sống sung túc ở tương lai.
Điều này thể hiện rõ trong hàng loạt những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ.
b) Địa danh thuần Việt
* Địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người
Bảng 2.2.1.1a
Địa danh có nguồn gốc từ ngôn Stt Số lần xuất hiện ngữ các dân tộc ít người
1 Bạc Liêu 10
2 Cà Mau 6
3 Cần Thơ 5
4 Mĩ Tho 2
5 Sa Đéc 1
6 Sóc Trăng 4
7 Trà Cú 1
8 Trà Kha 2
9 Trà Ôn 2
10 Trà Sô 2
11 Trà Vinh 4
Tổng cộng 39 lần
Chúng tôi xếp những địa danh trên vào loại địa danh thuần Việt vì trong quá
trình sử dụng các địa danh này đã được Việt hóa. Các địa danh kiểu này ưu tiên cho
mục đích giao tiếp. Người sử dụng không cần phải tìm hiểu xem địa danh đó có
nguồn gốc từ đâu và phát âm thế nào cho đúng. Địa danh Cần Thơ là địa danh quen
thuộc đến nỗi không còn ai nhận ra nguồn gốc Khmer của nó. Cần Thơ có gốc là từ
Kìn Tho (cá sặt rằn) trong tiếng Khmer. Đây là cách đặt tên địa danh theo kiểu lấy tên
loài động vật có nhiều ở một vùng đất nào đó để đặt tên cho vùng đất ấy.
Các địa danh Khmer được Việt hóa xuất hiện nhiều trong văn học dân gian Sóc
Trăng, nơi có nhiều người Khmer sinh sống. Điều này, xét ở góc độ văn hóa, cho
thấy người Việt rất tôn trọng các cư dân khác. Người Việt đối xử với người Khmer
26
như một trong những chủ nhân của vùng đất mới này. Những địa danh Khmer được
Việt hóa còn cho thấy nét văn hóa đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư sống xen kẽ
nhau.
* Địa danh gốc Việt
Dưới đây là bảng thống kê những địa danh gốc Việt xuất hiện trong văn học
dân gian Nam Bộ:
Bảng 2.2.1.1b
STT Địa danh thiên nhiên Số lần xuất hiện
1 Ba Gáo 1
2 Bảy Núi 4
3 Cái Bè 1
4 Cái Dầu 1
5 Cái Ngang 1
6 Cái Răng 2
7 Cái Thia 1
8 Cầu Sập 1
9 Chốn Ba Dừa 1
10 Chợ Đáy 3
11 Chợ Giồng 2
12 Chợ Lớn 5
13 Chợ Mới 4
14 Cồn Cát 4
15 Cồn Tiên 1
16 Cù lao Ông Chưởng 3
17 Cửa Tùng 1
18 Giồng Giữa 2
19 Gò Công 3
20 Kinh Cùng 2
21 Kinh Đào 2
27
22 Kinh Một 1
23 Kinh Ông Huyện 2
24 Kinh Vĩnh Tế 3
25 Núi Cấm 2
26 Núi Sam 6
27 Rạch Cỏ Thum 1
28 Rạch Giá 4
29 Sông Cái 1
30 Sông Đốc Thị Tam 1
31 Sông Tiền 2
32 Vàm kênh Ba Láng 5
33 Vàm Lau 1
34 Vàm Nao 3
35 Vàm xáng Phong Điền 5
36 Xứ Bạc 4
37 Xứ Cây Bàng 1
Tổng cộng 96 lần
Có một số địa danh bắt đầu bằng những từ có gốc thuộc ngôn ngữ khác như
vàm, cù lao thế nhưng chúng tôi vẫn xếp chúng vào loại địa danh gốc Việt. Đó là vì
mức độ Việt hóa của các từ trên rất cao, chúng được người dân ở Nam Bộ nhận thức
và sử dụng như những đơn vị thuần Việt.
Các địa danh loại này có đặc điểm cấu tạo chung như sau:
(1)Yếu tố đứng trước chỉ các vật thể tự nhiên:
+ Sông:Sông Cái, Sông Tiền, sông Hậu
Đưa tay phân chứng với trời
Người này gá nghĩa ở đời với tôi
Nước ròng sông Hậu chảy xuôi
Trời đã xây định mình với tôi vợ chồng
+ Rạch: Rạch Cỏ Thum, Rạch Giá
28
Anh đi Rạch Giá qua truông
Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em
+ Cù lao: Cù lao Ông Chưởng
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm
+ Cồn: Cồn Tiên, Cồn Cát
Tàu Nam Giang chạy ngang cồn Cát
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga
Thấy em có một mẹ già
Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không?
+ Giồng: Giồng Giữa, giồng Cồn Tiên
Ai qua sông Đốc Thị Tam
Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên
+ Kinh: Kinh Ông Huyện, Kinh Đào, Kinh Cùng, Kinh Một
Ai đi kinh Xáng, kinh Cùng
Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi
+ Núi: Núi Sam, Núi Sập
Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu
Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam
+ Vàm: Vàm Nao, Vàm Lau
Thuyền trôi Châu Đốc thả xuống Vàm Nao
Thẳng tới Ba Sào coi chừng con nước nổi
(2)Yếu tố đứng sau chỉ tên một loài động thực vật hoặc tên một nhân vật:
+ Thực vật, động vật: vàm Lau, rạch Cỏ Thum, Rạch Giá
+ Tên một nhân vật: cù lao Ông Chưởng, kinh Ông Huyện, kinh Vĩnh Tế,
sông Đốc Thị Tam
Qua các địa danh gốc Việt ở Nam Bộ, ta thấy được khung cảnh sinh hoạt của
người dân trên một vùng địa lí có núi, có sông, có những vùng đất nổi lên giữa dòng
sông được người dân gọi là cù lao, cồn, bãi. Đó là một vùng địa lí có cấu trúc địa
hình rất phong phú, chủ yếu là gắn với sông nước.
29
Ngoài ra, Nam Bộ là vùng đất nông nghiệp trù phú. Vì thế mà nhiều sản vật
nông nghiệp hay những loài cây cỏ gắn bó với đời sống nông nghiệp của địa phương
được đưa vào địa danh: giá, dừa, gáo, lau, cỏ thum …Việc gọi tên xứ sở mình đang
sống bằng chính sản vật của địa phương, bằng những gì gần gũi nhất vừa thể hiện
niềm tự hào của người dân về nơi mình sinh sống vừa thể hiện tấm lòng tri ân của
người dân đối với thiên nhiên.
Xét ở khía cạnh khác, văn học dân gian là tác phẩm của nhân dân lao động nên
những mảng hiện thực nào gần gũi nhất với đời sống người dân sẽ được đưa vào văn
học một cách tự nhiên nhất, không cần dụng công nhiều. Điều này giúp ta giải thích
được vì sao trong văn học dân gian Nam Bộ, những địa danh nôm na, bình dị xuất
hiện với tần số cao hơn các địa danh có yếu tố Hán Việt (địa danh thuần Việt xuất
hiện 96 lần, trong khi địa danh Hán Việt xuất hiện 58 lần), đặc biệt là các địa danh
bắt đầu bằng những từ chỉ địa hình như vàm, kinh, cù lao, ngã ba, giồng, chợ, cầu.
Điều này đã trở thành đặc điểm đặc trưng của tiếng Việt ở Nam Bộ như nhà nghiên
cứu Đào Thản đã nhận xét: “Tiếng Việt Nam Bộ có xu hướng ưu tiên chọn lựa những
yếu tố nôm na, gốc rễ hơn là đi vay mượn chữ nghĩa. Việc đặt tên đất, tên người ở
đây phản ánh xu hướng đó” [75]. Qua các địa danh gốc Việt trong văn học dân gian,
ta có thể hình dung được quang cảnh tự nhiên, nếp sinh hoạt của người dân Nam Bộ.
Đó là vùng đất có nhiều sông ngòi, kênh rạch; làng xóm được xây dựng dọc theo hai
bờ sông; việc có nhiều sông ngòi và nếp sinh hoạt gắn với sông nước đã làm cho
người dân có ý thức phân biệt rất rõ các loại địa hình tự nhiên gắn với sông nước như
vàm, xẻo, gành, cù lao….
Địa danh gốc Việt ở Nam Bộ còn thường được bắt đầu bằng yếu tố cái: Cái Bè,
Cái Thia, Cái Ngang, Cái Dầu, Cái Răng..
Khen ai khéo bắt Cầu Kè
Cái Thia đi xuống, Cái Bè đi lên
Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em thì sắm một chiếc đò
Để đường qua lại em mua cò gửi thư
30
Cái ở đây vốn có nghĩa là sông nước. Nếu những địa danh bắt đầu bằng kẻ là
đặc trưng của địa danh phía Bắc thì những địa danh bắt đầu bằng cái là đặc trưng của
địa danh vùng đất Nam Bộ. Những địa danh bắt đầu bằng cái mang đậm màu sắc
Nam Bộ, khó có thể lẫn lộn với nơi khác vì nó nảy sinh từ điều kiện tự nhiên đặc
trưng của vùng – nhiều sông ngòi chằng chịt nhưng tất cả các sông, ngòi, kinh, rạch
nhỏ thường đổ về một sông lớn gọi là sông cái.
Có một số địa danh mang tên người ở Nam Bộ xuất hiện trong văn học dân
gian. Tên người được lấy làm địa danh thường là những người có công lao đối với
vùng đất ấy. Kinh Vĩnh Tế là con kênh nối liền Châu Đốc và Hà Tiên. Đây là công
trình của Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh - Thoại Ngọc Hầu. Địa danh kinh Vĩnh Tế được
đặt theo tên phu nhân của ông là bà Châu Thị Tế thuộc dòng họ Châu Vĩnh.
Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên
Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền
Có những địa danh, trong cấu tạo, tên người không trực tiếp xuất hiện nhưng
lại gắn với một câu chuyện kể về một nhân vật cụ thể nào đó. Địa danh Cao Lãnh gắn
với câu chuyện về ông bà Đỗ Công Tường, có tục danh là Lãnh. Dân gian kể rằng,
năm 1820 (Canh Thìn), ở vùng đất nọ, nạn dịch tả hoành hành dữ dội. Dân chúng bị
bệnh, nhiều người chết, làng xóm tiêu điều. Ông Lãnh đã lập bàn thờ khấn vái trời
đất, nguyện thế mạng mình để cầu cho dân chúng thoát cảnh đau thương. Mấy ngày
sau, ông bà mắc bệnh qua đời. đồng thời, nạn dịch tả cũng hết. Từ đó, người dân đã
lấy tên tục của ông bà, cùng với chức vụ của ông bà (câu đương) để đặt tên cho vùng
đất đó là Câu Lãnh. Sau này đọc chệch thành Cao Lãnh.
Đường nào sang cho bằng đường Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Cái Răng
Như vậy, có thể thấy, các địa danh gắn liền với tên người thể hiện lòng tri ân
đối với người có công. Đồng thời, chúng cũng góp phần ghi lại một giai đoạn lịch sử
của vùng đất ấy. Nó còn đọng lại dấu ấn của một thời vất vả, gian nan, con người tìm
mọi cách để khắc phục, chế ngự thiên nhiên. Đồng thời, các địa danh này còn thể
31
hiện truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: uống nước nhớ nguồn, nghĩa tình,
thủy chung.
Các địa danh chỉ các công trình do con người xây dựng ở Nam Bộ cũng có
những đặc điểm khó lẫn lộn với nơi khác. Các địa danh chỉ các công trình do con
người xây dựng chỉ một nơi chốn có tính chất định vị để phân biệt với các vị trí khác
nhưng không gian được định vị hẹp hơn. Ở Nam Bộ, trong loại này, những địa danh
bắt đầu bằng yếu tố “cầu” và “chợ” chiếm đa số.
Ở Nam Bộ, nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hóa xuất hiện sớm. “Từ cuối TK
XVI, khi người Việt đến đây khai phá, lập nghiệp thì cũng chính là lúc phương Tây
nhòm ngó và đặt chân vào, cho nên dễ hiểu là tại sao Đàng Trong lại chịu ảnh hưởng
kinh tế hàng hóa tiểu tư sản cao hơn Đàng Ngoài” [84;603]. Vì vậy, chợ xuất hiện
nhiều ở các khu vực dân cư, nghề buôn bán rất phát triển. “Trong khi người dân ở
Bắc Bộ coi buôn bán là nghề xấu thì người Việt ở Nam Bộ không những đã chấp
nhận mà còn coi buôn là một “đạo”, còn là một “đạo” vui” [84;199]. Chợ Lớn ở
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi buôn bán sầm uất nhất khu vực miền
Nam lúc bấy giờ.
Chợ ở Nam Bộ vẫn gắn liền với hệ thống kênh rạch, gắn liền với sông nước.
Cách đặt tên chợ cũng để lại dấu ấn của những con người chất phác, không ưa cầu kì,
thích cái giản dị và mộc mạc: một chợ mới được thành lập người ta thường gọi tắt là
chợ Mới và lâu dần thành địa danh; chợ buôn bán sầm uất thì được gọi ngắn gọn là
Chợ Lớn. Một chữ lớn ngắn gọn nhưng thể hiện đầy đủ các yếu tố như diện tích, quy
mô của chợ, số lượng người buôn bán, số lượng mặt hàng buôn bán…; tất cả đều
không nhỏ.
Do địa hình có nhiều kênh rạch nên mật độ cầu ở Nam Bộ rất dày. Tên cầu
thường là những cái tên dân dã, mang dáng dấp của nền văn hóa nông nghiệp. Ngoài
ra, người Nam Bộ còn lấy ngay vật liệu làm cầu để gọi tên: cầu Ván, cầu Sắt; lấy
phương thức xây dựng để đặt tên cầu: cầu Đúc; đôi khi nó là một tên gọi bình dị đến
bất ngờ: cầu Sập. Tên cầu đặt theo kiểu này rất phổ biến ở làng, xã Nam Bộ; vì vậy
rất dễ bị trùng tên nên nó chỉ có tác dụng phân biệt vị trí ở vùng không gian nhỏ hẹp.
32
Các địa danh khi xuất hiện trong văn học dân gian không chỉ đơn thuần là tên
gọi một vùng đất, nó trở thành đối tượng nhận thức đồng thời là nơi nhân dân gửi
gắm tình cảm của mình. Những câu ca dao có địa danh xuất hiện thường là những
câu nói bày tỏ niềm tự hào, thể hiện sự gắn bó yêu thương đối với vùng đất ấy.
Gắn với một địa danh thường là đặc điểm nổi bật để nhận dạng vùng đất mà
địa danh ấy gọi tên. Đó có thể là những cánh đồng lúa bạt ngàn, những dòng sông đầy
tôm cá:
Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm
Mỹ Hòa, Mỹ Quới, Mỹ Đông
Xứ nào cũng đẹp, cũng mênh mông lúa vàng
Đó còn là những sản vật, nghề nghiệp, đặc điểm đặc trưng nhất của địa
phương:
Ai về chợ Vạn thì về
Chợ Vạn có nghề cất rượu nuôi heo
Ai đi Kinh Xáng, Kinh Cùng
Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi
Tiếng đồn Châu Đốc mắm ngon
Tân Châu lụa tốt mãi còn âm vang
An Bình đất mẹ cù lao
Thêm hương hoa bưởi ngọt ngào thanh long
Khách về nhớ mãi trong lòng
Nhớ cù lao nhỏ bên dòng An Giang
Bạc Liêu là xứ quê mùa
Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu
33
Ai về tới xứ cây Bàng
Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh
Đi đôi với tên đất, tên làng, ta thấy toát lên niềm tự hào, kiêu hãnh của con
người sống trên mảnh đất đó. Họ tự hào về quê hương, làng xóm; tự hào về sự giàu
có, trù phú của ruộng đồng:
Bạc Liêu giàu lúa, ngô, khoai
Giàu cô gái đẹp, giàu trai anh hùng
Bạc Liêu nắng bụi mưa sình
Muối mặn, nhãn ngọt đậm tình quê hương
Long Điền gạo trắng nước trong
Ai đi đến đó thời không muốn về
Đẹp sao miền đất Châu Thành
Lúa xanh trải khắp ruộng đồng quê ta
Hòa Bình vang mãi lời ca
Đẹp mùa lúa chín, đầy mùa cá tôm
An Giang nước ngọt giồng vàng
Ai đi tới đó lòng không muốn về
An Giang gạo chợ nước sông
Ai mà về đó thong dong cuộc đời
Họ tự hào về lời ca, tiếng hát của quê hương:
Đất Năm Căn sóng bủa láng cò
Anh thương em vì bởi câu hò có duyên
Họ còn tự hào về con người ở xứ sở mình:
Trai nào thanh bằng trai Nhơn Ái
34
Gái nào lịch bằng gái Tân Châu
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Thờ cha dưỡng mẹ quản bao nhọc nhằn
Chính những đặc điểm ấy khiến người đi xa nhớ về quê hương xứ sở của mình
– một nỗi nhớ không trừu tượng, chung chung mà rất cụ thể, gần gũi, thân thương:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ sông Châu Đốc, nhớ người An Giang
Sông An Giang tràn đầy ước hẹn
Người An Giang trọn vẹn thủy chung
Anh đi anh nhớ quê mình
Nhớ tô bún cá đậm tình Long Xuyên
Xa quê anh nhớ mẹ hiền
Xa Long Điền nhớ bánh chuối chiên
Tóm lại, hệ thống địa danh trong văn học dân gian Nam Bộ, tuy không thể hiện
hết các đặc điểm của địa danh ở vùng đất này, nhưng đã thể hiện được những nét đặc
trưng về văn hóa Nam Bộ.
+ Qua các địa danh gốc Việt, ta nhận thấy một vùng đất với hệ thống sông
ngòi, kênh rạch chằng chịt; giao thông, buôn bán bằng đường thủy rất nhộn nhịp.
Người Nam Bộ làm ăn, buôn bán, sinh hoạt đều gắn liền với sông nước.
+Qua các địa danh Hán Việt, ta thấy được ước vọng của nhân dân Nam
Bộ. Là những người đi khai phá vùng đất mới, họ lạ lẫm với mọi thứ, có phần lo sợ
trước thiên nhiên hoang sơ, mỗi địa danh là một niềm mong ước: ước được cuộc sống
an lành, sung túc, hạnh phúc và thịnh vượng.
+ Các địa danh mang tên người thể hiện sự tri ân đối với những người có
công khai phá và xây dựng vùng đất mới. Các địa danh này cho thấy tinh thần “uống
nước nhớ nguồn” – một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
+ Các địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người tồn tại ở
Nam Bộ có số lượng không nhỏ. Nhưng ngày nay, những địa danh ấy đã được Việt
35
hóa đến mức khó có thể nhận ra được nguồn gốc xa xưa của nó. Điều này cho thấy ở
Nam Bộ, nhiều dân tộc cùng sinh sống một cách hòa bình, trong đó người Việt
chiếm đa số và có ảnh hưởng lớn trong vùng.
+ Đằng sau mỗi địa danh xuất hiện trong văn học dân gian là cả tấm lòng
của người dân dành cho quê hương, xứ sở của mình. Họ yêu thương, trân trọng và rất
đỗi tự hào về quê hương mình – một miền quê giàu có, trù phú, con người vừa đảm
đang, tháo vát lại vừa thân thiện, hiếu khách.
2.2.1.2. Từ ngữ liên quan đến sông nước
Khảo sát văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi thấy có rất nhiều từ ngữ liên
quan đến sông nước xuất hiện trong ca dao, tục ngữ. Bao gồm các từ ngữ sau:
+ Từ chỉ vùng đất nổi trên mặt nước
+ Từ chỉ vùng nước ngập đọng
+ Từ chỉ đường nước chảy
+ Từ chỉ hiện tượng thủy triều
Bảng 2.2.1.2a
Từ ngữ chỉ Số lần vùng đất Stt xuất Nghĩa nổi trên hiện mặt nước
1 Bưng 7 Vùng đất thấp, quanh năm có bùn lầy, là
nơi có nhiều tôm cá
2 Cồn 4 Đám đất thường do phù sa bồi đắp, nổi
lên ở giữa sông hay dọc theo sông, nhỏ
hơn cù lao
3 Cù lao 5 Chỗ đất nổi lên giữa dòng sông, có diện
tích rộng và có người sinh sống
4 Gành 2 Chỗ đất ở bờ sông hay bờ biển, nhô ra
phía trước thuận tiện cho thuyền bè cập
36
bến
5 Giồng 8 Chỗ đất cao hơn ruộng, nơi con người
chọn làm nhà cửa và trồng trọt sinh sống
Tổng cộng 26 lần
Bảng 2.2.1.2b
Từ ngữ chỉ Số lần
vùng nước xuất Nghĩa Stt
ngập đọng hiện
Bàu Ao sâu giữa đồng mọc nhiều cỏ, bèo, lác 3 1
Đầm Chỗ trũng có nước quanh năm, thường là 2 2
chỗ tận cùng của dòng sông hoặc chỗ lở
của một dòng nước xoáy
Đìa 2 Ao nước do con người đào sâu để nuôi cá 3
Tổng cộng 8 lần
Bảng 2.2.1.2c
Từ ngữ chỉ Số lần
đường xuất Nghĩa Stt
nước chảy hiện
Lạch 5 Dòng nước chảy tự nhiên, có thể nhỏ hoặc 1
lớn
Chỗ đất thấp bên đường nước chảy, do Láng 4 2
nước tràn lên làm ngập
Đường nước chảy do con người tạo nên Mương 11 3
Đường nước chảy do tự nhiên mà có; là Rạch 10 4
37
đường nước lớn có tàu ghe qua được
Vàm 10 Cửa sông hay cửa rạch 5
Xẻo 2 Đường nước chảy do tự nhiên mà có; là 6
đường nước nhỏ, tàu ghe không qua được
Tổng cộng 35 lần
Bảng 2.2.1.2d
Từ ngữ chỉ Số lần
Stt hiện tượng xuất Nghĩa
thủy triều hiện
1 Nước đứng 2 Nước đang rút rồi dừng lại chuyển sang
trạng thái nước lớn
Nước hồi 1 Nước bất chợt đổi hướng, đang lớn thì 2
ròng hoặc ngược lại
Nước lớn 20 Nước lên cao mỗi ngày 3
Nước nổi Nước lớn ngập đồng ruộng trong nhiều 2 4
ngày
Nước rong Nước lên quá mức bình thường 3 5
Nước ròng Nước xuống mỗi ngày 18 6
Nước ương Nước lềnh bềnh không chịu rút 3 7
Tổng cộng 50 lần
Nhóm từ ngữ liên quan đến sông nước xuất hiện trong văn học dân gian Nam
Bộ với tần số khá cao (118 lần). Có thể thấy các nhóm từ ngữ trên là cách định danh
riêng của người dân Nam Bộ về các sự vật, hiện tượng gần gũi trong cuộc sống của
họ.
Cuộc sống ở vùng đồng bằng phì nhiêu gắn bó với sông nước đã làm cho
người dân phân biệt rất tỉ mỉ các từ ngữ chỉ địa hình gắn với sông nước. Các từ chỉ
38
địa hình gắn với sông nước này là những từ riêng có của Nam Bộ. Có một số từ vay
mượn của tiếng Khmer như vàm (piam), bưng (bâng), vay mượn tiếng Mã Lai như cù
lao (pulaw), còn lại là những từ thuần Việt. Người dân Nam Bộ phân biệt những
vùng đất nổi trên mặt nước bằng các tiêu chí như:
+ Vị trí, diện tích: Cồn có diện tích nhỏ hơn cù lao, rạch và xẽo cùng là
đường nước chảy do tự nhiên mà có nhưng rạch là đường nước lớn hơn xẽo.
+ Nguồn gốc: Rạch là đường nước do tự nhiên mà có còn mương là
đường nước do con người đào, bàu là ao nước do tự nhiên mà có còn đìa là ao nước
do con người đào
+ Có hay không có cá tôm sinh sống: bàu là ao có nhiều cỏ, lác ít có cá
tôm còn bưng là nơi có rất nhiều tôm cá.
Có thể thấy mức độ phong phú về tên gọi thể hiện sự phong phú về địa hình.
Còn mức độ phong phú về tiêu chí phân loại các địa hình cho thấy sự quan sát tinh tế
và gắn bó mật thiết của người dân đối với vùng đất mình sinh sống. Tất cả những
điều đó phần nào giúp ta hình dung những khó khăn, vất vả của con người trong buổi
đầu khai phá vùng đất mới, khám phá và chinh phục thiên nhiên.
Những từ chỉ địa hình liên quan đến sông nước, khi xuất hiện trong ca dao,
không chỉ là dấu hiệu chỉ ra xuất xứ của câu ca dao ấy mà còn gợi được cái hồn của
cảnh vật, thiên nhiên, con người Nam Bộ:
Biển cạn láng khô, ghe vô không được
Phải trở lộn về đi ngược lòng em
Chừng nào cho sóng bỏ gành,
Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em
Gắn liền với kinh rạch là hình ảnh con nước chảy. Vì vậy, hiện tượng thủy
triều (sự thay đổi của con nước) cũng được cư dân Nam Bộ quan sát kĩ lưỡng và định
danh rất cụ thể. Điều này cũng là điều dễ giải thích vì đây là vùng địa hình nhiều
sông, gần biển nên sự thay đổi của mực mước hằng ngày ảnh hưởng trực tiếp đến đời
sống của người dân. Việc quan sát tỉ mỉ hiện tượng thủy triều cũng là một trong
những biện pháp thích nghi với điều kiện sống của một vùng đất mới. Vì chú trọng
39
đến tính chất và sự vận động của dòng nước nên những cái tên chỉ những vật vô tri lại
trở nên sinh động, có hồn, gần gũi và giàu chất Nam Bộ:
Bìm bịp kêu nước lớn em ơi
Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê
Khi xuất hiện trong văn học dân gian, những từ chỉ hiện tượng thủy triều
không chỉ đơn thuần là miêu tả sự vận động của dòng nước mà còn được dùng để
diễn tả tâm trạng, tình cảm của con người. Trong ca dao, tâm sự của những chàng
trai, cô gái thường được gửi gắm cùng với dòng nước chảy:
Nước ròng chảy xuống Nam Vang
Mần thơ để lại em khoan lấy chồng
Nước ròng chảy thấu Nam Vang
Mù u chín rụng sao chàng bặt tin
Nhìn diễn biến của con nước mà nghĩ đến tâm trạng con người, đó là một trong
những cách thức diễn đạt đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ, không bắt gặp
trong văn học dân gian các vùng khác.
2.2.1.3. Từ ngữ chỉ không gian
Ngoài những từ ngữ chỉ không gian dùng trong tiếng toàn dân, ở Nam Bộ có
những từ ngữ chỉ không gian đặc trưng, chỉ riêng có vùng này. Đồng thời, người Nam
Bộ còn có những từ ngữ thể hiện cách xác định không gian rất đặc trưng như: xác
định không gian bằng nơi sinh sống, xác định không gian bằng phương hướng.
Bảng 2.2.1.3a
Số lần Từ chỉ Stt Nghĩa xuất không gian hiện
1 3 Chốn Chỉ vùng không gian hẹp hơn xứ, thường
là một địa phương nhỏ
2 3 Miệt biển Chỉ các địa phương liền kề biển
40
3 Miệt vườn Chỉ các địa phương có nghề làm vườn 8
4 Xứ Chỉ vùng không gian lớn thường là trùng 5
với ranh giới tỉnh
Tổng cộng 19 lần
Người Nam Bộ dùng từ miệt để chỉ một vùng không gian lớn, gồm nhiều tỉnh,
các tỉnh này thường có chung một đặc điểm nào đó. Miệt biển chỉ những tỉnh giáp
biển. Miệt vườn chỉ những tỉnh trồng nhiều cây ăn quả.
Anh ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn
Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ
Cách thêm xứ hoặc chốn trước một địa danh là cách xác định không gian riêng
của người Nam Bộ, đây là cách nói khó có thể lẫn lộn với địa phương khác:
Thạnh Mỹ là xứ quê mùa
Năm năm tháng tháng đào trùn giăng câu
Tiện tặn con cá, lá rau
Làm ăn kĩ lưỡng ngày sau đạt thànhh
Sông dài nước chảy chia đôi
Ai về xứ Bạc cùng tôi thì về
Ai qua lộ bốn về chốn Ba Dừa
Thấy chăng tàu chuối đong đưa
Nặng tình quê mẹ trước giờ tiến công
Có nhiều từ ngữ gọi tên nơi mình sinh ra, lớn lên và gắn bó, người Nam Bộ chỉ
gọi bằng một từ vừa chung chung lại vừa cụ thể: xứ tui.
Con mèo trèo lên cây táo
Mẹ chồng láu kháu đánh chửi nàng dâu
Bà ơi tui không sợ bà đâu
Hồi nào bà cưới bà xin tui về
41
Bây giờ bà nhún bà trề
Sai con bà đuổi tui về xứ tui
Xứ tui, không xác định cụ thể địa điểm nhưng chắc chắn đó là nơi vô cùng thân
thiết, gắn bó với tui. Trong câu ca dao trên, xứ tui lại hàm chứa một cái gì thân
thương, trìu mến, là nơi mà những người đi xa có thể quay về bất cứ lúc nào. Từ xứ
bạn cũng được người Nam Bộ dùng một cách rất riêng:
Chim đa đa đậu nhánh đa đa
Bạn về xứ bạn bỏ ta một mình
Xứ bạn là nơi gắn bó, gần gũi với bạn nhưng lại có phần xa cách với tui. Một
cách nói vô cùng ngắn gọn, bộc trực, không hoa mỹ. Chính vì vậy mà nó càng đậm
đà màu sắc Nam Bộ.
Người Nam Bộ còn phân biệt không gian bằng nơi sinh sống:
Bảng 2.2.1.3b
Từ ngữ chỉ vùng Số lần không gian được Stt xuất Nghĩa phân biệt bằng hiện nơi sinh sống
Nơi sinh sống của những người làm Chợ 1 3 nghề buôn bán, có ý chỉ thành thị
Nơi sinh sống của những người làm Đồng 2 2 nghề nông, có ý chỉ nông thôn
3 Rẫy Nơi sinh sống của những người trồng 3 lúa hoặc hoa màu
4 Ruộng Nơi sinh sống của những người làm 5 nghề nông ( chủ yếu là trồng lúa)
5 Vườn Nơi sinh sống của những người trồng 7 cây ăn quả
42
Tổng cộng 20 lần
Khi xác định không gian, trong tâm thức của người Nam Bộ có sự đối lập giữa
các vùng mưu sinh gắn với nghề nghiệp đặc trưng của vùng đó, người dân Nam Bộ
thường gọi ngắn gọn là dân chợ, dân rẫy, dân vườn… Trong đó, chợ được người
Nam Bộ xem là thuộc thành thị đối lập với ruộng, rẫy, đồng thuộc nông thôn (xem
bảng 2.2.1.3b).
Tàu Sài Gòn lòng xanh mũi đỏ
Còn chiếc tàu Gia Định nọ lòng đỏ mũi xanh
Em ơi! Em ở chi đất rẫy hôi phèn
Theo anh về chợ Lớn mà coi đèn sáng trưng
Bậu chê qua ở rẫy ăn còng
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm tôm
Sự phân biệt này hết sức chi tiết và cụ thể. Nó cho thấy một trong những đặc
điểm tư duy của người Nam Bộ: tính cụ thể. Khi phân biệt các sự vật, hiện tượng,
người Nam Bộ thường chia đối tượng thành nhiều yếu tố nhỏ, phân biệt nhau bằng
những tiêu chí rất cụ thể và tinh tế.
Trong ca dao, người Nam Bộ nhận thấy những người ở rẫy, ở đồng có cuộc
sống vất vả, lam lũ. Còn những người ở chợ, ở vườn lại có cuộc sống sung túc, an
nhàn. Thế nhưng, khi chọn lựa người yêu, tiêu chuẩn của họ không phải là sự giàu
sang, sung túc mà quan trọng là phải biết lao động, biết kiếm sống bằng chính sức lực
của mình:
Gái Ba Xuyên tuy quê mùa dân dã
Tóc dài bỏ xõa áo vải bà ba
Nắng táp mưa sa mà mịn da dài tóc
Không đẹp bằng ai nhưng vừa vóc
Tuy quê quýt nhưng không thích trai vườn
Trai mà dở dở ương ương
43
Ngồi không hái trái hết đường tương lai
Đây là lời nhắn nhủ tương tự:
Anh ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn
Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ
Ngoài cách xác định không gian bằng nơi sinh sống, người Nam Bộ còn xác
định không gian bằng phương hướng.
Bảng 2.2.1.3c
Vùng không gian Số lần được STT xuất Nghĩa xác định theo hiện phương hướng
1 Bển 3 Từ chỉ vị trí được đề cập đến, khác với
vị trí người đang nói
2 Ngoải 2 Từ chỉ vị trí bên ngoài cụ thể, đang
được người nói đề cập tới
3 Trển 3 Từ chỉ vị trí cao hơn nơi đã được xác
định
4 Trỏng 2 Từ chỉ vị trí bên trong cụ thể, đang được
người nói đề cập tới
Tổng cộng 10 lần
Tất cả những từ trên đều là cách nói rút gọn: bển – bên ấy, ngoải – ngoài ấy,
trỏng – trong ấy, trển – trên ấy.
Chào anh ở trỏng mới ra
Nên anh mới biết em đà có con
44
Mình về ở bển xa xui
Thôi thì ghé lại nhà tui cho gần
Trển xuống đây cách ba ngàn thước
Trời mưa đất ướt, dẫu lần từng bước em cũng ráng lòng
Dù khổ đau bao nhiêu em cũng chịu , mà sao chốn loan phòng lẻ loi?
Cách nói rút gọn kiểu này không chỉ được người Nam Bộ dùng trong các từ chỉ
không gian mà còn được dùng cả trong những từ xưng hô. Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề
này ở phần sau. Ở đây, có thể thấy, kiểu nói rút gọn này tô đậm thêm tính cách phóng
khoáng của người Nam Bộ, không thích dài dòng, hoa mỹ, ưa sự thẳng thắn và đơn
giản.
2.2.1.4. Từ ngữ chỉ thời gian
Khi nói về thời gian, người Nam Bộ ít khi dùng những từ ngữ toàn dân như:
khi, lúc mà thay vào đó là những từ ngữ mới, mang đậm màu sắc địa phương.
Người Nam Bộ thường dùng hồi thay cho khi, lúc.
Hồi thương nước đục cũng trong
Hồi ghét nước chảy giữa dòng cũng dơ
Người Việt ở Nam Bộ còn phân biệt rõ giữa hồi hôm và hồi hôm qua: hồi hôm
chỉ đêm trước, còn hồi hôm qua là chỉ ngày hôm trước.
Người Nam Bộ chia thời gian một ngày ra làm năm giác: giác sáng, giác trưa,
giác chiều, giác tối, giác khuya. Thời gian của từng giác không được quy định một
cách chính xác. Xác định một thời điểm thuộc giác nào trong ngày là tùy thuộc vào
cảm nhận chủ quan của người nói. Điều này cũng cho thấy đặc điểm tính cách người
Nam Bộ: phóng khoáng. Họ không cần dùng đến những cách đo lường chính xác
tuyệt đối chỉ cốt làm sao nói được điều mình muốn nói, đồng thời người nghe cũng
nhận biết điều đó là được.
Trong ca dao Nam Bộ, chúng tôi còn thấy tác giả dân gian còn dùng các từ ngữ
sau để xác định thời gian: con bóng, con trăng, con nước.
Anh gặp em đây con bóng đương trưa
Trên rưng rưng nước mắt, dưới tay đưa miếng trầu
45
Khuyên em đừng thảm đừng sầu
Gối loan chẳng đặng giao đầu thì thôi
Trái dưa hấu ngoài xanh trong đỏ
Hai đứa mình còn nhỏ lắm anh ơi
Nếu thương em xin ráng đợi chờ
Chờ thêm con nước mới đặng lòng theo anh.
Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo
Trái thầu đâu trong héo ngoài tươi
Anh thương em suốt mấy năm trời
Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng.
Con bóng thường để chỉ những khoảng thời gian khác nhau trong ngày, trong
ca dao con bóng dùng để chỉ buổi trưa xuất hiện nhiều nhất. Con trăng chỉ khoảng
thời gian tương đương một tháng. Con nước chỉ khoảng thời gian tương đối, có thể là
một hay vài tháng. Có thể thấy đây là cách xác định thời gian của người bình dân,
không mang tính chính xác tuyệt đối. Họ quan sát những sự vật gần gũi nhất và dùng
nó để xác định thời gian. Cách xác định thời gian có phần thơ ngộ này đã góp phần
làm nên nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian.
2.2.1.5. Từ ngữ chỉ các loại động, thực vật
Số lượng chủng loại động vật, thực vật ở Nam Bộ rất phong phú. Chúng tôi chỉ
thống kê những tên gọi động thực vật nào chỉ riêng có ở Nam Bộ, hoặc có trong ngôn
ngữ toàn dân nhưng đó chính là các từ Nam Bộ thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân.
Bảng 2.2.1.5a
Số
Từ ngữ lần STT Nghĩa chỉ động vật xuất
hiện
46
Cá buôi Loại cá biển, lớn con, có tập tính lội ngược 1 3
dòng
Loại cá biển, vẩy trắng, thịt nhiều xương 2 Cá duồn 1
Cá biển, có hai hàm răng sắc nhọn như đao 3 Cá đao 2
Loại cá nước ngọt thường có màu vàng, có 4 Cá he 2
hình dạng tựa cá chép
Loại cá nhỏ ở biển, thường sống trên mặt 5 Cá liệt 2
biển
Cá có vẩy bạc, lớn từ một tới hai ngón tay, cá 6 Cá linh 8
lớn lên chỉ trong một mùa nước
Loại cá sặt, mình có sọc ngang 7 Cá lò tho (sặt 8
rằn)
Cá quả, cá có thân tròn dài, vẩy lớn và dày, 8 Cá lóc 8
lưng màu đen, bụng màu ngà, phóng giỏi và
lóc đi trên cạn rất nhanh
Cá to ở biển, bơi rất nhanh 9 Cá nược 1
Cá mình dẹp, có hai sợi râu dưới bụng, 10 Cá sặt 5
thường sống ở ao, mương có cỏ, sậy
Cá lớn bằng bàn tay, mình và đầu dẹp, thịt 11 Cá thác lác 2
được cạo nhuyễn, vò thành viên để nấu
Cá trê nhỏ con, thân màu vàng sậm 12 Cá trê vàng 7
Loại cá tra lớn con, đầu to dẹp, không vẩy, 13 Cá vồ 5
lưng đen, bụng trắng, ăn tạp
Chim khuyên, chim nhỏ thuộc bộ sẻ, lông 14 Chim quyên 5
màu nhạt, ngoài mắt có vành lông trắng
Chuột lớn con có long xù xơ xác 15 Chuột xù 2
Loại cua nhỏ, sống ở ven biển 16 Còng 5
Cua đực lớn con, có đôi càng to 17 Cua kình càng 3
Loại chim thường làm tổ ở các nhánh cây 18 Dồng dộc nghệ 1
47
bần, tổ chim có hình như một cái túi có dây
rút kín
Gà tồ, loại gà trống to con 1 Gà trống cồ 19
Cá thia, loại cá nước ngọt, thân nhỏ có màu 4 Lia thia 20
xanh hoặc hoặc đen, có vây ngũ sắc, thường
chọi nhau
Con vật thường sống chui rúc trong bùn, Lịch 1 21
cùng họ với lươn nhưng nhỏ hơn
Ốc ở ao, ruộng, vỏ có dạng hình chóp 1 Ốc gạo 22
Loài bò sát có bốn chân như thạch sùng, thân 1 Rắn mối 23
có vẩy nhỏ bóng láng, lưng đen, bụng trắng,
to hơn thạch sùng nhiều lần
Cá lóc con, thân có màu vàng cam hoặc đỏ, 24 Ròng ròng 2
còn sống thành bầy dưới sự bảo vệ của cá mẹ
Loại tép trắng, mình dẹp, con bằng ngón tay 25 Tép bạc 6
út
Tép riu, loại tép nhỏ, mình tròn, con nhỏ 26 Tép trầu 2
bằng đầu đũa
Loại tôm nước ngọt, con lớn, có hai càng to Tôm càng 10 27
Loại tôm càng có màu xanh Tôm càng xanh 5 28
103 Tổng cộng lần
Nhìn vào bảng trên, ta dễ dàng nhận thấy tên những loài động vật sống dưới
nước, đầm lầy chiếm đa số (23/28, chiếm 82%). Điều này phản ánh môi trường sống
đặc trưng của vùng đất Nam Bộ là môi trường sông nước. Chiếm số lượng ít hơn là
những loài động vật sống trên cạn, trong rừng (5/28, chiếm 18%).
Hầu hết tên động vật ở Nam Bộ là từ thuần Việt. Trong đó, có một số từ vay
mượn, chủ yếu là vay mượn của Khmer, tuy nhiên đã được Việt hóa đến mức khó
48
nhận ra nguồn gốc của nó. Đó là trường hợp các từ như: cá linh (trây linh), cá lò tho
(trây cần thô).
Có những con vật được người Nam Bộ dùng một cách định danh khác với từ
toàn dân như: cá lóc – cá quả, thằn lằn – thạch sùng
Tên động vật ở Nam Bộ còn có những tên gọi hoàn toàn mới, không có trong
từ toàn dân. Đây là những từ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu phản ánh những
nhận thức mới của con người. Đến với một vùng đất mới, tiếp xúc với nhiều sự vật,
hiện tượng mới, con người cần gọi tên những sự vật, hiện tượng ấy, từ đó các từ mới
ra đời. Vì vậy, trong phương ngữ Nam Bộ vừa có tên những động vật thường gặp, có
trong ngôn ngữ toàn dân như: cọp, muỗi, ếch, rùa, rắn…; lại vừa có những tên động
vật hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ toàn dân: cá chốt, cá linh, cá lò tho, ròng ròng, cua
kình càng… Chính những tên gọi này làm nên đặc sắc của từ địa phương dùng trong
văn học dân gian Nam Bộ.
Con cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng
Con cá lìm kìm nhiều chuyện sứt môi
Con cua kình càng bò ngang đất sỏi
Đố chị Hai mày thoát khỏi tay tao
Người Nam Bộ thường tạo ra những tên gọi mới từ các tên gọi đã có và thêm
vào các yếu tố phụ sau, kiểu như tôm – tôm càng, tôm càng xanh; cua – cua kình, cua
kình càng; cá rô – cá rô biển, cá rô đồng. Có 39% tên động vật được cấu tạo theo kiểu
này. Đây cũng là một trong những đặc điểm tư duy của con người. Con người không
thể lĩnh hội được một cái gì đó tuyệt đối mới. Cái chưa biết sẽ được con người liên
tưởng đến một hiện tượng nào đó đã biết, căn cứ vào đó mà gọi tên đối tượng mới.
Người Nam Bộ thường dựa vào các đặc điểm sau để gọi tên động vật:
+ Đặc điểm về hình dạng: cá bã trầu, cá lưỡi trâu
Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng
Cá lìm kìm nhiều chuyện sứt môi
+ Đặc điểm về màu sắc: tôm bạc, tôm càng xanh, cá trê vàng
Đố ai tìm được cái vẩy con cá trê vàng
49
Tìm gan con tép bạc, mà em nguyền theo không
+ Đặc điểm về tiếng kêu: bìm bịp, cồng cộc
Bìm bịp kêu nước lớn em ơi
Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê
+ Đặc điểm cấu tạo cơ thể: tôm càng, cua kình càng
Ví dầu cá bống hai mang
Cá trê hai ngạnh, tôm càng sáu râu
Khi xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ, những từ ngữ chỉ động vật
mang đến những màu sắc riêng của vùng. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự trù
phú của một vùng quê nhiều sông ngòi; gắn liền với sông ngòi là số lượng các loài
động vật sống dưới nước và đầm lầy vô cùng phong phú.
Trong văn học dân gian, tác giả dân gian thường sử dụng biện pháp nhân hóa
cho những loài động vật gần gũi với họ. Vì vậy, khi xuất hiện trong ca dao, những
con vật ấy cũng có tính cách, tâm trạng như con người:
Con cá lí ngư sầu tư biếng lội
Con chim trên cành sầu cội biếng bay
Ai đành phụ nghĩa cùng ai
Để sầu li biệt để dài ngàn năm
Cá bống đi tu
Cá thu nó khóc
Cá lóc nó sầu
Phải chi ngoài biển có cầu
Anh ra đến đó giải sầu cho em.
Trong văn học dân gian Nam Bộ số lượng các từ ngữ chỉ thực vật cũng rất
phong phú:
50
Bảng 2.2.1.5b
Số lần
xuất Từ tương đương, ý nghĩa Stt Từ chỉ thực vật
hiện
1 Bần 20 Loại cây to mọc dọc theo bờ sông, có
rể phụ mọc ngược lên khỏi mặt bùn,
trái tròn dẹp, sống có vị chát, chín có vị
chua
Bình linh 2 2 Cây thân gỗ, lá nhỏ, trái dẹp, nhỏ và
dài, hạt có thể dùng thay trà, uống mát
Bồn bồn 4 2 Loại cây thân cỏ, dẹp, phần lá non ăn
được
Bông bí 5 4 Hoa của dây bí đỏ, được dùng làm thức
ăn
Bông bụp 6 2 Hoa của cây dâm bụt, một loại cây
thường được trồng làm hàng rào, hoa
loe màu đỏ, có nhụy dài
7 Bông súng 4 Loại cây mọc dưới ao hồ, lá lớn, tròn,
nằm trải trên mặt nước, cuống lá dài tới
đáy ao, màu nâu đỏ, ăn được, hoa nở
như hoa sen nhưng cánh hoa nhọn
Cây trôm 8 2 Cây trâm, cây to thân gỗ, lá dài mọc
đối, quả nhỏ ăn được
Chôm chôm 9 2 Một loại cây ăn trái, quả tròn nhỏ, vỏ
có tua gai mềm dài
10 Chuối dà 2 Loại chuối trái dài, cong, khi chín có
mùi thơm
11 Đậu phộng 2 Lạc, cây thuộc họ đậu, quả mọc cắm
xuống đất, có hạt bên trong, dùng để ăn
51
hoặc ép dầu
12 Điên điển 5 Cây điền thanh, loại cây hoang mọc ở
đồng có bông vàng, bông ăn được
13 Khổ qua 11 Mướp đắng, loại quả có hình dạng như
con thoi, có vị đắng, vỏ xù xì, bên
trong có nhiều hột
14 Lục bình 16 Bèo tây, một loại thực vật hoang dại
sống trên mặt nước, kết thành từng
mảng, lá hình tròn, hoa màu tím nhạt
15 Mãng cầu Na, cây ăn quả, vỏ có nhiều mắt, thịt 3
trắng, có hạt màu đen hoặc vàng
16 Mù u Cây to, thân thẳng, lá lớn, trồng lấy gỗ, 6
quả tròn, cứng, có thể ép lấy dầu để đốt
17 Mùng tơi Mồng tơi, cây trồng, thân leo, lá mềm, 5
có nhiều chất nhớt, hạt tròn trong hạt
có chất màu tím, lá và ngọn ăn được
18 Nhãn lồng 6 Lạc tiên, loại dây leo mọc hoang, trái
có lưới bao bên ngoài, trái và ngọn ăn
được
19 Rau dừa Loại rau sống trên mặt nước mương, 3
ao, lá tròn, thân có màu tim tím
20 Rau đắng 3 Cây cỏ nhỏ, mọc bò; lá nhỏ, mọc so le,
có bẹ chìa; có thể ăn được; thuộc họ rau
răm
21 Sầu đâu 3 Cây xoan, cây to, thân có đốm trắng, lá
kép có vị đắng
22 Sầu riêng 4 Cây ăn quả, thân to, lá có mặt xanh mặt
vàng, quả lớn và có gai nhọn, bên trong
có nhiều múi, cơm nhão, mùi thơm
52
23 So đũa 5 Cây cao, thẳng, không có cành to, thân
vỏ xù xì, lá kép nhỏ, hoa trắng hoặc
tím, thường dùng để nấu canh chua
Loại tre thân nhỏ, không gai, lóng dài 24 Tầm vông 1
và đặc ruột
Dưa bở, dưa quả to, quả chín có màu 25 Trái dưa gang 8
vàng nhạt, thịt bở có bột trắng, lạt,
dùng để ăn với đường
Loại xoài có trái to, hơi tròn, cơm dẽ, 26 Xoài cát 4
ngọt và thơm
Tổng cộng 125 lần
Người Việt ở Nam Bộ sử dụng nhiều đơn vị thuần Việt để gọi tên thực vật.
Đây đều là những loài thực vật tồn tại từ lâu đời và gắn bó với đời sống người nông
dân. Trong đó, cũng có một số từ vay mượn từ tiếng Khmer như: tầm vông (ping
pông), mù u.
Về cấu tạo từ, một số ít tên gọi thực vật có một tiếng: bần, xoài, bưởi. Đa số là
những tên gọi có nhiều tiếng được ghép theo kiểu chính phụ. Người Nam Bộ thường
gọi tên thực vật dựa vào các đặc điểm:
+ Hình dạng, kích cỡ, cấu tạo: cây so đũa
Cây so đũa lá cũng so đũa
Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi
Anh gặp em đây chẳng trao lời
Em ơi thuận buồm xuôi gió mà nhờ trời tính sau
53
+ Màu sắc: dưa hường
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
+ Mùi vị: rau đắng
Rau đắng nấu với cá trê
Ai về lục tỉnh thì mê món này
Các đặc điểm về hình dạng, kích cỡ, cấu tạo, màu sắc, mùi vị là những đặc
điểm dễ quan sát nhất của đối tượng. Vì vậy, khi con người nhận biết các đối tượng
thì các đặc điểm này được tri giác trước tiên. Cách định danh cụ thể, đơn giản, gần
gũi phản ánh đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của vùng: bình dị mà trong sáng.
Có một số từ chỉ thực vật ở Nam Bộ là những từ có từ tương đương trong ngôn
ngữ toàn dân nhưng đã được người Nam Bộ thay bằng một tên khác hoặc biến âm
thành từ khác. Đó là trường hợp các từ: khổ qua, hủ qua – mướp đắng, mùng tơi –
mồng tơi. Cách thay từ mới hay biến âm đều để lại dấu ấn địa phương trong từ. Khi
đọc các câu ca dao có những từ trên xuất hiện ta dễ dàng nhận ra xuất xứ của nó và
cảm nhận được cái không khí Nam Bộ mà các từ ấy mang lại.
Khổ qua rám nắng khổ qua đèo
Em nào chèo lái là mèo của anh
Hủ qua xanh, hủ qua trắng, mắc nắng hủ qua đèo
Muốn thương em nhưng tủi phận anh nghèo
Cấy cày ruộng rẫy đâu dám trèo đèo lên cao
Cây so đũa lá cũng so đũa
Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi
Anh gặp em đây chẳng trao lời
Em ơi thuận buồm xuôi gió mà nhờ trời tính sau
Đối với những loài thực vật riêng có ở Nam Bộ, người Nam Bộ đã gọi tên
chúng bằng những từ hoàn toàn mới, không có từ tương đương trong ngôn ngữ toàn
dân. Có thể kể hàng loạt những từ kiểu này như: chôm chôm, sầu riêng, điên điển, mù
54
u, so đũa, lục bình, bần, vẹt, bình linh,… So với những kiểu định danh đã nêu ở trên,
kiểu định danh này mang màu sắc địa phương Nam Bộ đậm đặc nhất.
Mù u bông trắng, lá quắn, nhị huỳnh
Anh thấy em đi cấy lội sình anh thương
Quê mình đẹp những dòng sông
Bưởi, cau, xoài cát, sầu riêng trĩu cành
Gió thổi hiu hiu
Lục bình trôi yêu yếu
Bảy ơi! Ở chi một mình
Ốm yếu ai nuôi
Số lượng tên gọi thực vật phong phú ở Nam Bộ cho ta thấy đây là một vùng
quê giàu đẹp, trù phú, có diện tích rừng và vườn cây ăn trái lớn. Những tên gọi này đã
ghi nhận lại một môi trường thiên nhiên sông nước rất đặc trưng của Nam Bộ.
Những từ ngữ chỉ thực vật giúp người đọc cảm nhận rõ hơn chất Nam Bộ trong
từng câu ca dao có chúng xuất hiện. Đặc biệt, khi chúng xuất hiện như một hình ảnh
so sánh, người đọc sẽ cảm được tâm tình của tác giả dân gian Nam Bộ gửi gắm vào
các hình ảnh ấy:
Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Thân em như trái mãng cầu
Ở trên bàn án hạc chầu lọng che
2.2.1.6. Từ ngữ chỉ công cụ lao động, phương tiện sản xuất và sinh hoạt
Do đặc thù về điều kiện tự nhiên, điều kiện sống và sinh hoạt, người Nam Bộ
đã sáng tạo ra nhiều công cụ để phục vụ cho lao động và sản xuất. Như đã trình bày ở
chương 1, Nam Bộ là vùng đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống hòa hợp. Vì vậy,
55
tiếng Việt ở Nam Bộ có nhiều từ chỉ công cụ lao động, sinh hoạt, sản xuất có nguồn
gốc từ ngôn ngữ của các dân tộc ít người khác cùng sinh sống trên mảnh đất này.
Bảng 2.2.1.6a
Từ ngữ chỉ
phương tiện Số lần
STT di chuyển, Nghĩa xuất
hiện sản xuất,
sinh hoạt
Bình tích 1 Ấm bằng sành, nhôm, có nhiều kích cỡ, 1
thường đựng nước uống
Nhẫn đeo ở ngón tay Cà rá 2 2
Bếp lò bằng đất nung, dạng dài, có phần Cà ràng 3 5
phụ để đặt củi
Nông cụ, có phần lưỡi dao hình như chiếc 4 Cái mác 2
lá, tra cán dài, thường dùng để vót tre,
phát cỏ
Vật dụng làm bằng tre nứa, hình tròn, 5 Cái rế 1
dùng để lót nồi, chảo
Nơi dùng để rửa ráy, tắm giặt, thường 6 Cái sàn láng 1
được đặt cạn bờ mương, rạch
Nồi làm bằng đất 7 Cái trách 2
Dĩa thật to, thường dùng để bày trái cây 8 Dĩa bàn than 2
trên bàn thờ
Loại dĩa hình elip, nhỏ 9 Dĩa bàn trứng 2
Cặp hoa tai dùng đeo ở tai người phụ nữ 10 Đôi bông 2
Đàn, nhạc cụ, vật dụng bằng dây để tạo ra 11 Đờn 5
âm thanh
Thuyền, phương tiện di chuyển trên sông 12 Ghe 15
nước, lớn hơn xuồng
56
13 Ghe bầu 8 Thuyền được đóng có phần giữa phình ra,
dùng đi lại trên sông, kênh lớn
Ghe hạng trung, có mui, được dùng để 14 Ghe hàng 2
buôn bán hàng hóa lưu động
Ghe dùng để chở lính tuần thời thực dân 15 Ghe lê 2
Pháp
Ghe hơi to, có mui vuông ở phía nửa sau 16 Ghe lồng 4
Ghe có thân nhỏ và dài, thường dùng để 17 Ghe lườn 7
chở khách
Kim cương, một dạng đá trong, óng ánh, 18 Hột xoàn 1
cứng, dùng làm trang sức của phụ nữ
Khăn thưa, có sọc ô vuông đen trắng hoặc 19 Khăn rằn 1
xanh dương, thường được quấn ở cổ
Trang sức đeo ở cổ người phụ nữ, có dạng 20 Kiềng vàng 1
tròn
Vật do con người tạo ra để ngắm, giải trí Kiểng 21 4
Lu có phần bụng phình ra, thường dùng Lu mái đầm 22 1
đựng nước
Máng hứng và dẫn nước nói chung Máng xối 23 1
Dây nhỏ, làm bằng chất liệu vải Nhợ 24 1
Phuy, thùng bằng kim loại có ba ngấn, Phi 25 1
dùng để đựng xăng dầu, nhiên liệu
Loại dao cùn, mòn Trành 26 1
Gỗ tròn, dài, nhọn đầu Xà no 27 1
Vật dụng bằng tre nứa, đan thưa, rộng Xề 28 1
miệng, nông
Thuyền nhỏ, phương tiện vận chuyển nhỏ 29 Xuồng 11
được dùng đi lại trên kênh rạch
Xuồng được đóng từ ba tấm ván ghép lại 30 Xuồng ba lá 2
57
31 Xuồng câu 5 Xuồng dùng để câu tôm
tôm
Tổng cộng 95 lần
Trong bảng thống kê trên, có một số từ vay mượn từ ngôn ngữ các dân tộc ít
người sinh sống ở Nam Bộ; vay mượn tiếng Khmer như: cà ràng, phảng; vay mượn
tiếng Hoa: tam bản (xam pản). Những từ còn lại đa số là từ thuần Việt, được người
Việt ở Nam Bộ gọi tên dựa trên các đặc điểm:
+ Hình dạng:
Hình dạng của công cụ, phương tiện được so sánh với hình dạng của sự vật
khác để gọi tên.
Ghe bầu: thuyền có chiều rộng ở phần lái, bầu bụng
Cô kia bới tóc cánh tiên
Ghe bầu lại cưới ba thiên tiền đò
+ Cấu tạo:
Xuồng ba lá: xuồng đóng bằng ba tấm ván ghép lại
Linh đinh một chiếc xuồng ba lá
Cảm thương nàng mẹ góa con côi
+ Công dụng:
Xuồng câu tôm: xuồng dùng để câu tôm
Tàu Nam Giang chạy ngang cồn cát
Xuồng câu tôm đậu sát mé nga
Thấy em còn chút mẹ già
Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không?
Trong số các từ gọi tên công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt nêu ở bảng
trên, các từ chỉ phương tiện đi lại bằng đường thủy và công cụ đánh bắt nuôi trồng
thủy sản chiếm số lượng lớn. Con người quan tâm tới hiện thực nào thì tên gọi ở lĩnh
vực đó sẽ xuất hiện nhiều. Người Nam Bộ sinh sống, làm ăn, đi lại đều liên quan đến
sông nước. Ghe, xuồng là phương tiện di chuyển thích hợp với điều kiện tự nhiên nơi
đây. Ghe, xuồng ở Nam Bộ được người dân coi là phương tiện “để làm chân” trong
58
việc đi lại. Ghe, xuồng gắn bó với mọi sinh hoạt của người dân, người ta dùng ghe,
xuồng để đi chợ, đi làm đồng, đi thăm viếng, đi rước dâu… Chủng loại ghe, xuồng ở
đây rất phong phú. Mỗi loại ghe, xuồng phù hợp với một mục đích và hoàn cảnh sử
dụng khác nhau.Vì vậy, nó không chỉ xuất hiện nhiều mà còn được định danh một
cách tỉ mỉ.
Đồng thời, ghe, xuồng còn là phương tiện chuyển tải những giá trị văn hóa tinh
thần của người dân Nam Bộ. Trong văn học dân gian, từ ngữ chỉ các loại ghe, xuồng
xuất hiện nhiều, với tần số cao. Ghe, xuồng trong ca dao Nam Bộ là nơi để trai gái
bày tỏ tình cảm, hẹn hò:
Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi
Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm
Đi đâu xuồng nhỏ bớ nàng
Duyên đây không kết mà kiếm đàng đi đâu?
Ghe, xuồng còn là phương tiện chở người thương nên chỉ nhìn hình ảnh chiếc
ghe, trai gái yêu nhau đã có thể vui, buồn, đau khổ…đủ mọi cung bậc cảm xúc của
người đang yêu:
Gió Nam non thổi lòn hang chuột
Thấy anh bơi xuồng đứt ruột đứt gan
Anh về nói với mẹ cha
Qua đây em ưng đại cho vừa lòng anh
Bữa nay sao bạn không vui
Hay là bạn thấy ghe lui bạn buồn?
Tâm tình của đôi lứa yêu nhau được gửi gắm vào hình ảnh chiếc ghe, chiếc
xuồng là một trong những nét đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ.
59
Bảng 2.2.1.6b
Nghĩa STT
Số lần xuất hiện Từ chỉ phương tiện, công cụ lao động
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Đăng Đó Lọp Lờ Lưỡi hái Nọc cấy Nơm Phảng Vó Xáng 4 6 5 5 1 2 2 4 2 9 Đồ đan bằng tre dùng chắn ngang dòng nước và quây bắt cá Đồ đan bằng tre nứa, hình ống, dùng để bắt cá, tôm, tép Dụng cụ đan bằng tre để bắt cá, có mồi bên trong, đặt dưới đáy nước Đồ đan bằng tre, đặt ở chỗ nước đứng để nhử bắt cá tôm Liềm, nông cụ, gồm một lưỡi sắt hình vòng cung, khứa chân chấu, tra cán ngắn, dùng để cắt lúa, cắt cỏ Cây gỗ có một đầu vót nhọn dùng để cắm vào đất để có lỗ cấy mạ Đồ đan bằng tre, đan thưa, hình cái chuông dùng để chụp bắt cá, tôm Công cụ có lưỡi bằng sắt to bản, được uốn cong ở phần cán, dùng để phát hoang cỏ ruộng Dụng cụ bắt cá gồm một lưới, bốn góc mắc vào bốn đầu gọng để kéo Phương tiện di chuyển dưới nước, dùng để đào kênh, vét bùn, có bộ phận hút rất mạnh
Tổng cộng 40 lần
Trong bảng trên, loại công cụ phục vụ cho việc trồng lúa và đánh bắt tôm cá
chiếm đa số. Tất cả đều là những công cụ lao động thô sơ. Điều này cho thấy trong
công cuộc khai phá vùng đất mới, để thích ứng với địa hình và thiên nhiên hoang sơ
buổi đầu, người Nam Bộ đã sáng tạo ra những công cụ thô sơ để kiếm sống và tồn tại.
60
Công cụ lao động, phương tiện sinh hoạt của nghề nông không chỉ phản ánh trí thông
minh của những con người đã trụ lại được trên mảnh đất vừa màu mỡ nhưng cũng
không kém phần nghiệt ngã, mà còn phản ánh một thời kì canh tác nông nghiệp chủ
yếu là thủ công của người dân. Qua đó, chúng đã gợi lên một phần những gian nan,
vất vả của cha ông thuở ấy.
Trong văn học dân gian Nam Bộ, lao động cũng là môi trường để trai gái hẹn
hò, tìm hiểu lẫn nhau:
Tay cầm nọc cấy lẳng lơ
Tay sang nắm mạ đợi chờ chị em
Công dài cấy lối đau lưng
Ai vô cấy thế tui ưng làm chồng
Ví dầu đổ lúa vô xay
Trai anh hùng đứng cối, gái thuyền quyên đứng hò
Hình ảnh những chàng trai, cô gái Nam Bộ vừa hăng say lao động vừa vui vẻ
hò đối đáp với nhau là một trong những nét đặc sắc văn hoá của vùng đồng bằng phì
nhiêu này. Lao động cũng chính là môi trường diễn xướng của hàng loạt những câu
hò đối đáp của người dân Nam Bộ.
2.2.1.7. Từ ngữ chỉ những sản phẩm nông nghiệp gần gũi
Trong văn học dân gian Nam Bộ, đặc biệt là ca dao dân ca, xuất hiện nhiều
món ăn dân dã của người Nam Bộ. Những món ăn dân dã làm từ những sản phẩm
nông nghiệp thu hoạch hằng ngày của bà con giúp người đọc nhận ra màu sắc địa
phương trong văn học dân gian Nam Bộ.
Chúng tôi thống kê có những món ăn dân dã sau xuất hiện trong văn học dân
gian Nam Bộ:
Bồng bồng nấu canh tôm:
Bồng bồng mà nấu canh tôm
Ăn vào mát ruột đến non lại bồng
61
Canh chua:
Canh chua điên điển cá linh
Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon
Canh chua nấu cá rô đồng
Nửa đêm thức giấc thương chồng đi xa
Thương chồng thương cả quê chồng
Thương bông điên điển, cá rô đồng nấu chua
Bông bí, dưa hường:
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Mắm kho:
Rau dừa chấm với mắm kho
Việc đời nó tới thì lo làm gì
Nước mắm kho và cùng rau đắng
Hương thơm, vị mặn, nhẫn nhẫn tuyệt vời
Cá trắng, rau cần:
Anh muốn ăn cá trắng nấu lộn với rau cần
Nên anh về Châu Đốc cho gần mẹ cha
Cá trê, rau đắng:
Rau đắng nấu với cá trê
Ai về lục tỉnh thì mê món này
Lá giang, cua kình:
Anh thương em bất luận xấu xinh
Lá giang nấu với cua kình cũng ngon
Canh rau ngổ:
Canh nào ngon bằng canh rau ngổ
62
Gái nào khổ cho bằng gái thôn điền
Cá trê nấu với bầu:
Cá trê nấu với ruột bầu
Thương em nên lá sầu đâu đắng hoài
Canh bầu nấu với cá trê
Anh ăn một miếng anh mê tới già
Rau cải nấu gừng:
Rau cải mà nấu với gừng
Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê bai
Những món ăn trên tuy dân dã, quê mùa nhưng đã trở thành đặc sản của vùng
quê này. Chúng gắn bó mật thiết với những người nông dân chân lấm tay bùn. Chính
vì vậy, khi nói về những món ăn dân dã ấy, tác giả dân gian không giấu được vẻ tự
hào, niềm yêu mến.
Có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều loại lâm sản, thủy
sản, nông sản quý hiếm, người Nam Bộ đã khéo léo chế biến ra nhiều loại sản phẩm
phục vụ cho nhu cầu của đời sống. Chúng tôi thống kê được tên một số loại bánh xuất
hiện trong văn học dân gian Nam Bộ ở bảng sau, tất nhiên nó không thể bao quát hết
tất cả các sản phẩm chế biến từ nông nghiệp nhưng nó cũng giúp ta hình dung được
sự phong phú của loại sản phẩm này ở Nam Bộ.
Bảng 2.2.1.7
Từ chỉ sản phẩm Số lần
Stt chế biến từ nông Nghĩa xuất
nghiệp hiện
1 Bánh bò bông 5 Bánh hấp bằng bột trộn với đường cát
trắng, mềm xốp thường có hình tròn,
thường có màu trắng trong, có thể có
nhiều màu khác
63
Bánh bọc đường Bánh có lớp đường bên ngoài màu trắng 3 2
Bánh làm từ đường, bột, trứng, đánh lên
cho nổi, đem nướng Bánh bông lan 2 3
Thức ăn làm bằng bột nhào kĩ rồi cắt
thành sợi Bánh canh 7 4
Bánh canh có sợi màu ngà vàng, nấu
với đường chảy hoặc đường thốt nốt Bánh canh ngọt 6 5
Bánh canh có sợi màu trắng, nấu với
tôm, thịt Bánh canh trắng 8 6
Làm bằng bột gạo, có nhân ( thường là
nhân đậu xanh), hình chóp, gói bằng lá Bánh ít 2 7
chuối, hấp chín
Bánh làm bằng nếp hoặc khoai mì, trộn
với đường sữa, cán mỏng thành hình 8 Bánh phồng 1
tròn, khi nướng chín sẽ phồng lên
Bánh làm bằng bột khoai mì, xắt thành
cọng, trộn với đường và dừa 9 Bánh tầm xe 3
Bánh được tráng mỏng, đem phơi khô,
dùng ăn sống hoặc nướng chín 10 Bánh tráng 2
Bánh làm bằng bột pha nghệ, được đổ
tráng trên chảo nóng, có thoa mỡ, tạo 11 Bánh xèo 2
thành tiếng xèo, ăn với nước mắm, rau
sống
Tổng cộng 41
Tên các loại bánh nêu ở bảng trên hầu hết là từ thuần Việt. Người Nam Bộ đã
dựa vào nhiều đặc điểm khác nhau để gọi tên các loại bánh:
+ Quy trình chế biến, động tác: bánh tráng
+ Hình dáng: bánh phồng
64
Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc
+ Màu sắc: bánh bò bông, bánh canh trắng
Hò ơi, tiếng anh ăn học cũng thông
Vào đây em hỏi bánh bò bông bột gì?
+ Vị: Bánh canh ngọt
Bánh canh trắng con vắn, con dài
Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai
Tên các loại bánh đã phản ánh đời sống ẩm thực có phần tinh tế của người
Nam Bộ, phản ánh nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng của vùng. Đồng thời, ngay
trong tên gọi cũng đã thể hiện phương thức chế biến, nguyên liệu chế biến và cả sự
khéo léo của người Nam Bộ, đặc biệt là phụ nữ.
2.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất
Bên cạnh hàng loạt từ ngữ chỉ sự vật hiện tượng mang màu sắc địa phương,
trong văn học dân gian Nam Bộ còn có hàng loạt từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính
chất cũng đậm đà màu sắc Nam Bộ.
Bảng 2.2.2
Từ chỉ hoạt động, Số lần
STT trạng thái, tính Nghĩa xuất
chất hiện
Bảnh 1 5 (1)Tài giỏi, cừ khôi, có khả năng hoàn
hảo, vượt trội
(2) Đẹp, duyên dáng, xinh xắn
Biểu 2 28 Bảo, sai khiến người khác làm gì đó
Bịnh 3 7 Bệnh, trạng thái cơ thể hoạt động
không bình thường
Bợ 4 2 Dùng bàn tay ngửa đỡ phía dưới mà
nâng lên
Bu 5 6 Xúm lại, tụ tập lại một nơi với số
lượng lớn
65
Bự Lớn, to quá kích cỡ vốn có 6 5
Bứng Dùng lực di chuyển đi 7 1
Câu mâu Bắt bẻ, chú ý bắt lỗi từ những việc nhỏ 8 3
nhặt
Chàng ràng Quanh quẩn ở bên, không rời, đeo bám 9 1
theo xung quanh đối tượng mà mình
thích, gây cảm giác vướng bận
10 Chơm bơm 3 Chờm bờm, tóc dài và rối không được
gọn gàng
11 Coi 29 Xem, nhận biết bằng mắt
12 Cua 2 Tán tỉnh, làm quen được với người
khác phái
13 Day 4 Quay, xoay qua một hướng nhìn khác
Liên tục, không dứt, không ngưng
14 2 Dầm dề nghỉ
Lùi, chạy lui, di chuyển theo hướng
15 De 2 ngược với tầm nhìn tới
Về, di chuyển trở lại chỗ ở trước đó
16 Dìa 25 của mình
Nhìn, trông một cách chú ý
17 Dòm 7 Biến đi, chạy mất, rời khỏi nơi nào đó
18 Dông 6 Đập thẳng và mạnh
Dùng dằng, lưỡng lự ở tình trạng chưa
19 Dộng 4 nhất trí, nửa muốn nửa không
20 Dục dặc 1 Chùng, không căng, ở trạng thái không
được kéo ra cho thẳng theo bề dài
21 2 Dùng Được, có khả năng hiểu hoặc tiếp nhận
một điều gì
Để mà, từ biểu thị điều sắp nói là mục
66
Đặng 1 50 đích mà người nói muốn đạt tới 22
Mù, không nhìn thấy, có thể có hàm ý
Đặng 2 20 coi thường 23
Gặp phải một cách bất ngờ
Đui Giả vờ, làm ra vẻ bề ngoài vậy nhưng 24 2
không phải vậy
25 Đụng Kéo một vật về phía mình 2
26 Giả đò May, gặp vận đỏ, gặp thuận lợi 4
Hết cả, hết sạch không còn gì
27 Giựt Giống, có nét tương tự nhau về hình 2
28 Hên dạng, tính chất 3
29 Hết trơn, hết trọi Tìm, cố làm sao cho thấy ra được 8
30 In Từ biệt ra về 1
Lác đác, ít ỏi, có nhưng chưa nhiều
31 Kiếm Nhanh nhẹn trong ứng xử, hành động 9
32 Kiếu Có tính cách không nghiêm túc, ăn nói 1
33 Lai rai và hành xử một cách tùy tiện 3
Lanh 34 Dần, từ từ, từng ít một của quá trình, 6
sự việc
35 Láu kháu Dần dà, loay hoay mà hết thời gian 3
Nhiều đến độ đặc sệt, chen chúc nhau
36 Lần Dùng lực của tay để đẩy vật đi nhanh 7
và mạnh
37 Lần quần Hiu hiu, lay động khẽ, có vẻ yếu ớt 1
38 Lền Cởi, bỏ ra khỏi người cái đang mang, 3
đang mặc hoặc đang đội
39 Liệng (1) Có màu nhạt hơn mức bình thường 4
(2) Không còn mặn mà, thắm thiết nữa
40 Liu ríu, riu ríu Rời khỏi vị trí đến để về lại vị trí đi 6
67
41 Lột Dồi dào, nhiều quá mức quy định 3
Buông tuồng, không có sự chừng mực
42 Lợt Do dự, không dứt khoát, kéo dài thời 3
gian để suy nghĩ
Phát sinh ra, từ chỉ tâm lí được hình
thành ở con người do một nguyên
43 Lui nhân nào đó tác động 6
44 Lung Bắt đền, phải bồi thường hay làm lại 2
45 Luông tuồng những gì mình đã gây thiệt hại cho 1
người khác
46 Lương khương (1)Làm, dùng công sức vào những việc 1
thuộc một nghề nào đó để sinh sống
47 Mắc (2)Làm những việc thuộc nhiệm vụ 7
hoặc quyền hạn gắn với tư cách, địa
vị, chức vụ nào đó
48 Mắc thường 2 Mếch lòng, gây phật ý, phiền lòng,
điều không vui cho người khác
Thường xuyên, đều đặn không gián
49 Mần 20 đoạn
Ở thế không biết phải xử sự như thế
nào cho được, hoặc gặp sự việc không
như ý muốn
Xem, nhìn, trông; đưa mắt về một
hướng nào đó để quan sát
50 Mích lòng 2 Nhại, bắt chước giọng con vật hoặc
tiếng nói, điệu bộ người khác
51 Năng 26 Nhiều, vô số kể, có số lượng lớn
không thể đếm hết được
52 Ngặt 2 Nhổ cây cắm giữ ghe xuồng để di
68
chuyển đến nơi khác
Vứt bỏ đi, ném đi không dùng nữa
Ngó 19 Cố gắng, tập trung sức lực, trí tuệ để 53
làm cho kì được một điều gì
Ở trong tình trạng kéo dài, lâu dứt 54 Nhái 1
Sờ, dùng tay chạm trên vật để nhận
biết 55 Nhóc 3
Lỏng, không chặt, không còn khớp với
nhau 56 Nhổ sào 2
Rộng hoác, có hiện tượng rộng quá so
với mức bình thường 57 Quăng 2
Liền một mạch, không có sự lừng 58 Ráng 9
khừng, ngập ngừng
Tách ra, xé ra, làm cho thành đôi teo 59 Rề rề 1
11 chiều dọc 60 Rờ
Bồi hồi, khắc khoải, có tâm trạng buồn
Sếu sáo nhớ, trông đợi, bồn chồn không yên 61 1
Thật, đúng với tên gọi, khái niệm
Tà la Yêu, có tình cảm thắm thiết giữa hai 62 1
người khác giới
63 Te tét, te te Tằn tiện, tự hạn chế những việc chi 1
dùng hoang phí
Tét Có tính tình xấu, thường dùng để chỉ 64 2
những người có quan hệ tình cảm
65 Thắt thẻo, thắt théo 10 không đứng đắn
Mong, ở trạng thái trông ngóng, đợi
Thiệt chờ điều gì đó sẽ xảy ra
Thương 10 Có tính chất gom lại thành một khối 66
145 nhỏ 67
69
Tiện tặn Tung tóe, văng ra nhiều nơi, nhiều
phía 1 68
Đồng ý, chấp nhận lấy làm chồng vợ Trắc nết
Tán tỉnh, có hành động, cử chỉ lời nói 1 69
để làm xiêu lòng cô gái mà người con
trai muốn có quan hệ tình cảm, yêu Trông
đương 8 70
Vào, di chuyển từ vị trí bên ngoài đến Tum húm
vị trí bên trong 1 71
Tùm lum
3 72
Ưng
21 73
Ve
2 74
Vô
28 75
Tổng cộng 636 lần
Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất mang màu sắc Nam Bộ có số lượng
lớn nhất trong số các lớp từ mà chúng tôi khảo sát được (75 từ với tần số xuất hiện
636 lần). Có nhiều hoạt động đặc trưng ở Nam Bộ đòi hỏi người dân phải sáng tạo ra
từ mới vì không có từ trong ngôn ngữ toàn dân để diễn tả. Nhìn vào bảng trên, chúng
tôi nhận thấy một điều thú vị. Những từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất người
Nam Bộ ưa dùng nhất là từ đơn tiết: ưng, đặng, ráng, nhóc, lền, dông, ve, cua, bảnh,
bu, tét, năng, ngặt, ngó, hên, lội, mần… Tiếp đó, nếu có dùng từ song tiết thì người
Nam Bộ ưu tiên lựa chọn từ láy: chàng ràng, luông tuồng, liu riu, riu ríu, lai rai, sếu
sáo, chơm bơm, tùm lum, lương khương, láu kháu, thắt thẻo, dục dặc, tum húm, tà la,
70
rề rề, câu mâu… Điều này cho thấy, trong việc sử dụng ngôn ngữ, người Nam Bộ có
hai xu hướng gắn liền nhau: vừa ngắn gọn lại vừa mang giá trị biểu cảm cao.
Những cách phổ biến để tạo ra các từ ngữ mang màu sắc Nam Bộ là:
+ Biến âm:
Dìa – về
Công anh đốn nhánh thả đìa
Ngày mai cá cựa biết dìa tay ai
Biểu – bảo
Biểu đừng nghi bảy nghi ba
Không tin bậu cứ hỏi kẻ xa người gần.
Bịnh – bệnh
Ghe anh lui về Gia Định
Em thọ bịnh đau liền
Không tin anh hỏi lại xóm giềng có không.
Hun – hôn
Có chồng mặc kệ có chồng
Anh thương, anh ẵm, anh bồng, anh hun
Gập ghình – gập ghềnh
Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Chờm – chồm
Gối rơm thì phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chờm lên cao
Giật – giựt
Bậu về nhắn với ông câu
Cá ăn thời giựt để lâu hết mồi
Hiện tượng biến âm của từ ngữ Nam Bộ khi xuất hiện trong ca dao, trong nhiều
trường hợp, không chỉ có giá trị trong việc gợi tả màu sắc Nam Bộ mà còn có giá trị
trong việc hiệp vần tạo nên những câu lục bát mượt mà. Vì vậy, tác giả Trịnh Sâm
71
[66] đã rất có lí khi cho rằng ta phải “trung thực” khi sưu tầm, hiệu đính văn học dân
gian.
+ Sử dụng từ ngữ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng với ý nghĩa rộng hơn
hoặc hẹp hơn
Thương được dùng với nghĩa gộp của thương và yêu trong ngôn ngữ toàn dân:
Anh thương em bất luận xa gần
Cầu không tay vịn cũng lần mà đi
Lội được dùng với với nghĩa của từ bơi trong ngôn ngữ toàn dân vừa thêm ý
nghĩa di chuyển trên bộ bằng chân:
Trắng da vì bởi má cưng
Đen da vì bởi lội bưng, lội sình
Từ đụng được dùng ngoài nghĩa “có chỗ sát chạm vào nhau do dời chỗ” còn
được người Nam Bộ dùng với nét nghĩa mới: gặp để kết thành vợ chồng:
Chồng nghèo thì vợ cũng nghèo
Hai đứa cùng nghèo đụng lại với nhau
+ Tạo ra từ ngữ mới có ý nghĩa tương đương với từ đã có trong ngôn ngữ toàn
dân
Mần được dùng với nghĩa tương đương như làm trong ngôn ngữ toàn dân:
Hàm răng em trắng
Lông mày em ngay ngắn như sợi chỉ giăng
Anh vô mần rể kẻ đón người ngăn khó lòng
Ưng được dùng với nghĩa tương đương như đồng ý, chấp nhận trong ngôn ngữ
toàn dân:
Trách ông tơ sao xe hoài xe hủy
Trách bà tơ sao xe chỉ lộn vòng
Chỗ em không ưng thì bà muốn
Chỗ em bằng lòng thì bà lại xe rơi
Ve, cua được dùng với nghĩa tương đương với tán tỉnh trong ngôn ngữ toàn
dân:
72
Hò ơ, gió đưa bụi chuối sau hè
Bụi tre trước cửa cây xoài cà lăm
Cà lăm trổ trái xoài chua
Ông thầy ve gái bỏ chùa ai coi
Bảnh được dùng với nghĩa đẹp, tài giỏi, cừ khôi:
Đường nào sang cho bằng đường Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Cái Răng
Để, rẫy được dùng với nghĩa bỏ hoặc li dị:
Bậu về bậu giả đò điên
Chồng bậu nó phiền nó để bậu ra
Có thể thấy, các từ được tạo ra theo phương thức này có số lượng nhiều nhất.
Đây cũng là phương thức tạo ra các từ mang màu sắc Nam Bộ đậm đặc nhất. Trong
câu ca dao:
Gà nào bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
Khó có thể thay thế từ bảnh bằng một từ toàn dân nào khác mang đầy đủ các ý
nghĩa: đẹp, duyên dáng và tài giỏi. Chính điều đó đã làm nên nét độc đáo cũng như
sức sống lâu dài của phương ngữ Nam Bộ. Đồng thời tạo nên màu sắc địa phương
khó lẫn lộn của ca dao, dân ca Nam Bộ. Chính vì nét độc đáo đó mà rất nhiều từ ngữ
Nam Bộ đã ảnh hưởng đến các phương ngữ, thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân.
Khi đọc những câu ca dao có các từ ngữ địa phương xuất hiện, người đọc phải
có vốn hiểu biết nhất định về từ ngữ địa phương Nam Bộ thì mới hiểu và cảm hết cái
ý vị của tác giả dân gian gửi gắm trong từng câu ca dao ấy.
Ngoài ra, trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi thống kê được nhiều từ
ngữ chỉ mức độ cao như: ngọt ngay, thơm nức, sáng ngời, sáng rỡ, sáng lòa, sáng
trưng, sáng lừng, vàng rộm, dai nhách, trả phức, nói phức, trắng xác, chát ngầm,
thẳng băng, nhỏ nghiến, trụi lủi, bóng láng, chua lét, cao nghêu, rối nùi, nhỏ thó, bự
chảng, khô rang, nổi phình. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi rất khó tìm thấy trong
văn học dân gian Nam Bộ những từ ngữ chỉ mức độ thấp. Điều này xuất phát từ tính
cách người Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn bộc trực, ngay thẳng, nói điều gì là phải nói
73
cho hết ý, hết mức, hết cỡ. Họ không thích diễn đạt theo kiểu trung tính, ôn hòa, nhàn
nhạt. Không dùng to mà dùng bự, riêng từ bự đã thấy nét xù xì, gân guốc nhưng với
người Nam Bộ thì bự chảng mới là hết ý. Vẫn dùng từ nhỏ xíu với nghĩa rất nhỏ,
nhưng nếu muốn nhấn mạnh hơn nữa mức độ nhỏ thì phải dùng nhỏ thó. Hai vần o
liền nhau trong nhỏ thó có mức độ gợi tả cao hơn nhiều so với nhỏ xíu.
Thấy em nhỏ thó lại có chiếc vòng
Anh muốn kêu bằng vợ mà sợ chồng em ghen
2.2.3. Từ ngữ xưng hô
Cách xưng hô của người Nam Bộ có một số nét khác biệt so với cách xưng hô
của các vùng miền khác. Những khác biệt này làm nên màu sắc Nam Bộ trong các từ
ngữ xưng hô.
Ở Nam Bộ, con cái thường gọi cha mẹ là ba – má, hoặc tía – má:
Tường cao hàng rào tứ phía
Muốn vô thăm nàng sợ tía với má nàng hay
Cách gọi cha là tía xuất phát từ các địa phương có người Triều Châu sinh sống,
từ đó lan ra các vùng khác. Đây là cách xưng gọi hết sức gần gũi, thân tình:
Con cò nó mổ con lươn
Bớ chị ghe lườn muốn tía tui không
Tía tui lịch sự quá chừng
Cái lưng mốc thích, cái đầu chơm bơm
Người Nam Bộ còn có cách nói rút gọn ổng – ông ấy, bả - bà ấy, cổ - cô ấy:
Tiếc công anh lau dĩa chùi bình
Cậy mai dong tới ba má nhìn bà con
Trời mưa nhà thiếc dột lon ton
Ổng bả không thương nên nói vậy, chứ bà con đâu mà nhìn
Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ
Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui
74
Cách xưng gọi này cho thấy ở Nam Bộ người ta xưng hô với nhau có xu hướng
gần gũi, thân tình và có phần bình đẳng, không câu nệ vai vế, tuổi tác, nghề nghiệp,
địa vị xã hội.
Đến đây, ta đã nhận thấy một vài điểm khác biệt trong cách xưng hô của người
Việt ở Nam Bộ. Xưng hô trong gia đình người Việt truyền thống thường theo trật tự,
tôn ti. Trật tự đó thường được xây dựng trên cơ sở giới tính, thứ bậc trong gia đình và
xã hội. Tuy nhiên, xưng hô còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác. Xưng hô của
người Việt ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng bởi tính bình dị của người nông dân, không
thích khách khí. Ngoài ra, cách xưng hô ở Nam Bộ còn chịu sự tác động của tinh thần
dân chủ, ít chịu sự trói buộc của kiểu cách, hình thức. Đó chính là tình cảm tôn trọng
đối tượng trong xưng hô và cái cốt lõi tạo nên đặc điểm này là sự bình đẳng, tính
cách bình dân; trong đó sự bình đẳng được tạo nên nhờ sự đồng cam cộng khổ, chia
sẻ những khó khăn vất vả trong buổi đầu chinh phục vùng đất mới.
Ngoài ra, người Nam Bộ còn lấy vai vế, thứ tự trong gia đình để xưng hô. Chỉ
mới gặp nhau, người Nam Bộ đã có thể thân mật gọi người tiếp chuyện là cô Hai, cô
Ba hay anh Hai, anh Ba hoặc nếu người nói chọn cách gọi thân mật nhưng có chút
trêu đùa thì gọi bằng em Hai:
Bên đây cái đình Cá Cỏ
Bên kia cái cửa ngõ thằng cai
Thấy nhà em Hai cửa đóng then cài
Biết làm sao đặng, anh đứng ngoài ngó vô.
Đây là cách xưng gọi thân tình chứ không câu nệ sự chính xác, nếu người tiếp
chuyện không phải thứ hai thì cũng không lấy đó làm phiền lòng.
Anh Ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn
Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ
Trong giao tiếp, người Nam Bộ thậm chí có thể xưng hô với chỉ một từ chỉ thứ
như bảy, tư:
Nước sôi bớ Bảy súc bình
Pha trà cho đậm để bạn chung tình uống chơi
75
Một trong những ảnh hưởng lớn của văn hóa nông nghiệp đối với tính cách con
người là lối sống trọng tình nghĩa. Lối sống trọng tình được biểu hiện trong xưng hô
bằng cách lấy các từ xưng hô trong gia đình làm những từ xưng hô ngoài xã hội.
Không kể thân hay sơ, khi giao tiếp mọi người thường cư xử như quan hệ trong cùng
gia đình huyết tộc.
Trong những bài ca dao, đặc biệt là chủ đề tình yêu nam nữ, có rất nhiều từ
ngữ xưng hô đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Người con trai thường xưng là qua (75
lần), gọi người con gái là bậu (65 lần):
Ví dầu tình bậu muốn thôi
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Chim kêu dưới suối, vượn hú trên nhành
Qua không bỏ bậu, bậu đành bỏ qua
Cách xưng hô qua, bậu là cách xưng hô chỉ có ở văn học dân gian Nam Bộ,
không tìm thấy trong văn học dân gian các vùng khác.
Trong ca dao về tình yêu nam nữ ở Nam Bộ, trai gái yêu nhau còn gọi nhau
bằng vô số những từ khác, đều là những từ chỉ riêng có ở Nam Bộ: con nhạn, con
bạn, con bạn vàng, người nghĩa, con bậu, em bậu, bạn, cô bạn, người thương, cô bạn
mình, chung tình…
Ngộ bất cập mà anh mới gặp người nghĩa thình lình
Phải chi anh có giấy viết mực trong mình
Anh họa hình người nghĩa mà để dành phòng loan
Trách mẹ trách cha ai mà trách bạn
Bởi cha mẹ ham giàu gả bạn đi xa
Bạn vàng sao khéo làm lơ
Lật trong bâu áo còn bốn câu thơ em đề
Tay em bưng chén thuốc
76
Vuốt ngực chung tình
Chung tình ơi!
Uống vô một miếng mà ở đời với em.
Đêm khuya hò giọng đợi chờ
Bạn lang dứt mối bao giờ không hay.
Nghiêng tai nghe bạn ngọc có chồng
Thân anh chưa vợ nước mắt ròng tuôn rơi
Theo cảm nhận của chúng tôi, các từ ngữ người Nam Bộ dùng để gọi người
yêu ẩn chứa sắc thái yêu quý, tôn trọng chứ không trung tính hoặc chỉ đơn giản là thể
hiện sự dịu dàng, trìu mến như cách xưng gọi anh và nàng. Điều này xuất phát từ tính
cách người Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn giàu tình cảm, lại thẳng thắn và bộc trực,
trung thực và hồn nhiên trong suy nghĩ và hành động. Vì vậy, họ yêu ra yêu, ghét ra
ghét. Đã yêu thì phải làm sao bộc lộ cho hết tình cảm đang chất chứa trong lòng.
Cũng vì vậy mà ngay trong cách gọi ta đã thấy chất chứa nhiều tình cảm. Đó là một
trong những nét tính cách rất đáng yêu và thậm chí là đáng khâm phục của người
Nam Bộ.
77
TIỂU KẾT
Từ ngữ địa phương xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ với tần số cao.
Mỗi nhóm từ ngữ địa phương đem lại một màu sắc riêng. Tất cả làm nên đặc trưng
của văn học dân gian Nam Bộ, gợi những nét văn hóa đặc sắc của văn hóa Nam Bộ
và tính cách con người Nam Bộ.
+ Nhóm từ ngữ chỉ địa danh giúp người đọc hình dung ước vọng thời mở đất
của những lưu dân đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ. Nó còn cho thấy sự ảnh hưởng,
tinh thần đoàn kết của các dân tộc anh em cùng sinh sống trên mảnh đất này. Đồng
thời, những từ ngữ chỉ địa danh khi xuất hiện trong ca dao, dân ca luôn gắn với tình
yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước.
+ Nhóm từ ngữ liên quan đến sông nước vẽ lại khung cảnh thiên nhiên và nếp
sinh hoạt của người dân ở Nam Bộ. Đó là một vùng sông ngòi chằng chịt, đi kèm với
nhiều loại địa hình do sông nước tạo thành. Sông nước không chỉ là sự ưu ái của thiên
nhiên ban tặng cho người dân nơi đây mà còn mang đến không ít khó khăn. Người
dân gắn bó mật thiết với sông nước nên quan sát tì mỉ, tinh tế từng chuyển động của
con nước. Xuất hiện trong văn học dân gian, tất cả các từ ngữ này không còn là
những từ chỉ những sự vật vô tri vô giác mà còn mang dáng dấp, tình cảm, tính cách
của con người.
+ Nhóm từ ngữ chỉ không gian, thời gian cho thấy cách định danh không gian,
thời gian đặc trưng của người Nam Bộ. Đó là cách định danh ngắn gọn mà vẫn đầy
đủ ý nghĩa – đúng với tính cách người Nam Bộ. Khi xuất hiện trong văn học dân
gian, nhóm từ ngữ này là cơ sở để người đọc nhận ra xuất xứ của tác phẩm dân gian,
đồng thời cảm nhận được màu sắc địa phương trong tác phẩm ấy.
+ Nhóm từ chỉ các loài động thực vật xuất hiện trong văn học dân gian Nam
Bộ là nhóm từ rất phong phú. Trong đó, những từ ngữ chỉ các loài động thực vật có
đời sống gắn với sông nước, đầm lầy chiếm đa số. Nó cho thấy sự giàu có, trù phú
của vùng đất này. Trong văn học dân gian, những từ ngữ chỉ các loài động thực vật
vừa gợi quang cảnh thiên nhiên vùng đất Nam Bộ vừa mang dáng dấp và tâm tình của
người dân Nam Bộ.
78
+ Nhóm từ chỉ công cụ lao động, phương tiện sản xuất và sinh hoạt giúp hình
dung công việc mưu sinh và những sinh hoạt hằng ngày của người Nam Bộ. Đó là
vùng đất nông nghiệp với những công cụ và phương tiện sản xuất thô sơ. Nó gợi
được không khí Nam Bộ khi xuất hiện trong ca dao, dân ca. Đặc biệt là hình ảnh ghe
xuồng khi xuất hiện trong ca dao, dân ca luôn gợi được nét Nam Bộ rất đặc trưng.
Ghe, xuồng cũng là phương tiện chuyên chở tình cảm, suy nghĩ, những lo toan bộn bề
của người dân Nam Bộ.
+ Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất thể hiện rất rõ đặc trưng của
phương ngữ Nam Bộ. Đặc biệt những từ ngữ mới do người Nam Bộ tạo ra có cái gì
đó xù xì, gần gũi và đầy sức sống. Khi xuất hiện trong văn học dân gian, nó làm toát
lên đặc trưng và vẻ đẹp của văn học dân gian Nam Bộ. Rất nhiều trường hợp nó được
dùng rất “đắt” làm người đọc không khỏi trầm trồ, thán phục vì nghiệm ra những điều
thú vị ẩn sau cách dùng từ ngữ của tác giả dân gian.
+ Nhóm từ ngữ xưng hô cho thấy cách xưng hô bình dân, mộc mạc, bình đẳng,
không câu nệ, vai vế, tuổi tác… của người Nam Bộ. Nó góp phần làm rõ nét tính
cách phóng khoáng, thoát khỏi những lễ nghi ràng buộc thường tình của người Nam
Bộ. Những từ ngữ để gọi người yêu trong ca dao, dân ca là một nét đặc trưng của ca
dao, dân ca Nam Bộ. Lớp từ ngữ này không chỉ phong phú về số lượng mà còn ẩn
chứa nhiều ý nghĩa. Nó chứa đựng cả tấm lòng - một tình cảm chân thành, mộc mạc
mà không kém phần sâu sắc. Nó vẽ thêm một nét đẹp trong tính cách cũng như cách
sử dụng ngôn ngữ của người Nam Bộ.
79
CHƯƠNG 3
NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT
MANG MÀU SẮC NAM BỘ
3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm
Màu sắc Nam Bộ trong văn học dân gian không chỉ thể hiện qua từ ngữ. Chúng
còn được biểu hiện qua những cách biểu đạt mang màu sắc riêng. Văn học dân gian
Nam Bộ mang màu sắc bình dân, mộc mạc và dí dỏm trong diễn đạt. Để thấy được sự
chất phác, mộc mạc trong cách diễn đạt của người Nam Bộ, ta cần phải so sánh với
cách diễn đạt của các vùng khác.
Ca dao Việt Nam có câu:
Gặp em anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này có lấy anh không
Nếu lời tỏ tình của người con trai trong câu ca dao trên rất ý tứ, tế nhị thì lời tỏ
tình của người Nam Bộ có phần táo bạo hơn:
Con cò nó mổ con lươn
Bớ chị ghe lườn muốn tía tui không
Cách dùng từ bớ và muốn cho thấy ngay ý định của người nói. Cái ý định ấy
được nói huỵch toẹt, không cần giấu giếm, cũng không cần trau chuốt. Ngoài cái ý
hơi sỗ sàng, ẩn đằng sau câu chữ là một sự thẳng thắn đến táo bạo.
Để thể hiện lời thề nguyền, lời nhắn nhủ của người con gái đối với người con
trai khi chia tay, ca dao Bắc Bộ có lối diễn đạt vần điệu với các từ ngữ trau chuốt, gọt
giũa:
Anh về em nắm cổ tay
Em dặn câu này anh chớ có quên
Đôi ta đã trót lời nguyền
Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng
80
Cũng là lời nhắn đó nhưng người con gái Nam Bộ lại có lối diễn đạt mộc mạc,
giản dị, ngắn gọn mà vẫn rất chân tình:
Anh thương em cho chắc cho bền
Dù ai xe cát đúc nền cũng đừng ham
Cùng là lời ca của cô gái lúc chia tay, tiễn dặn người thương nhưng ca dao mỗi
miền lại có cách diễn đạt khác nhau.
Đây là lời của cô gái ở miền Bắc:
Chàng về em chẳng cho về
Em nắm vạt áo, em đề câu thơ
Câu thương, câu nhớ, câu đợi, câu chờ.
Đọc câu ca dao, ta có thể thấy, tác giả dân gian đã khéo chọn lựa từ ngữ. Giữa
hai từ gần nghĩa “chẳng” và “không”, tác giả dân gian đã chọn “chẳng”. Vì “chẳng”
được đánh dấu biểu cảm rõ nét, có vẻ nũng nịu dễ thương còn từ “không” lại mang vẻ
trung tính lạnh lùng. Rõ ràng, đặt trong hoàn cảnh chia tay từ “chẳng” là một lựa
chọn hoàn hảo. Điệp ngữ kết hợp với biện pháp tách từ làm cho câu thơ cuối có màu
sắc của một lời thề hẹn thủy chung. Bài ca dao đã kết thúc nhưng người đọc vẫn cảm
thấy nằng nặng trong lòng, nặng vì tình cảm cô gái gửi gắm trong bài ca dao quá thiết
tha.
Trong khi đó, cũng đau đáu, bồi hồi một nỗi thương yêu nhưng cô gái cở miền
Trung có phần tỉnh táo hơn:
Chàng về em chẳng cho về
Em nắm vạt áo em đề câu thơ
Thơ đề ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung em để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình.
Cô gái đã làm một phép phân chia rạch ròi: trung, hiếu, tình. Thế nhưng, sự
phân chia đó chỉ là cái cớ. Câu ca dao dồn sức nặng vào bốn chữ cuối. Cái nặng của
thanh huyền, của vần bằng và âm vang đọng lại trong chữ tình đã cộng hưởng thêm
cho cái nặng của tình yêu đôi lứa.
81
Cô gái miền Nam lại có cách thổ lộ của riêng mình:
Chàng về em nắm vạt áo em la làng
Bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em.
Không phải lời tình tứ thiết tha mang âm sắc dịu dàng, nữ tính mà là lời bộc
trực, táo bạo, quyết liệt đến bất ngờ dồn vào một dòng thơ chín chữ. Một loạt yếu tố
đồng nghĩa, gần nghĩa như kêu, gọi, nhắn…không được sử dụng, tác giả dân gian đã
chọn “la”, mà “la làng” là ở bậc cao nhất. Thương và nhớ được tách đôi, câu thơ như
trào ra do không thể kìm nén dưới sức mạnh của niềm yêu thương mãnh liệt. Niềm
yêu thương được bộc lộ hồn nhiên không giấu giếm: em đã thương anh rồi, sao anh
nỡ về bỏ em bơ vơ. Nam Bộ là vậy. Không triết lí sâu sắc, không nhẹ nhàng tinh tế
mà vẫn cảm được sức nặng của tình yêu.
Người Nam Bộ trọng nội dung, ít chú ý đến hình thức, cốt sao nói được hết ý,
không trau chuốt bay bướm. Trong khẩu ngữ, khi muốn diễn đạt điều gì thì đi thẳng
vào vấn đề. Trong ca dao dân ca thì ít chú ý tới vần điệu mà tập trung cho ý. Trong
2355 bài ca dao, dân ca trong nguồn ngữ liệu khảo sát chỉ 779 bài là những câu lục
bát hoàn chỉnh chiếm 33%, còn lại 1576 bài là những câu lục bát biến thể chiếm 67%.
Những câu lục bát biến thể này khi thì thay đổi về số tiếng trong một dòng (có dòng
lên đến 18 tiếng), lúc thay đổi về số dòng trong một bài (có bài lên đến 15 dòng). Một
câu ca dao quen thuộc có thể được tác giả dân gian Nam Bộ kéo dài ra hay rút ngắn
lại một cách thoải mái. Cũng chính vì vậy mà, khi khảo sát ngữ liệu, chúng tôi đôi lần
không tránh khỏi giật mình trước sự kết thúc đột ngột của một câu ca dao nào đó.
Không chú ý tới vần điệu vừa là điểm hạn chế nhưng cũng là yếu tố tạo nên
đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ. Nó nói lên tính phóng khoáng trong diễn đạt
và hơn thế nữa đằng sau câu chữ còn là cá tính của cư dân một vùng đất. Tác giả dân
gian ít chú ý đến hình thức diễn đạt mà cốt sao chuyển tải được nội dung; từ ngữ giản
dị, ít gọt giũa, trau chuốt, ít chú ý đến cú pháp chuẩn. Điều này xuất phát từ tính cách
phóng khoáng, chân thật, giản dị, ít chú ý tới hình thức bên ngoài trong cuộc sống đời
thường của người nông dân. Chất thơ phảng phất trong không khí của đồng quê,
trong chất liệu của hương đồng gió nội có những chỗ không đúng theo quy định của
vần điệu truyền thống nhưng lại là nét đáng quý của cách viết không chuộng trau
82
chuốt mà cốt hồn nhiên. Nét đẹp của văn học dân Nam Bộ một phần nằm ở cách diễn
đạt ấy.
Người Nam Bộ thường có cách nói phóng đại, cường điệu. Lối nói này mang ý
nghĩa biểu cảm cao đồng thời cũng góp phần tạo nên sự dí dỏm và hài hước. Nó giúp
người nói biểu đạt suy nghĩ, tình cảm ở những mức độ khác nhau: mừng- mừng trong
bụng, mừng như mở cờ trong bụng; cười – cười bể bụng, chạy – chạy té khói, chạy
thục mạng; ghét – ghét quá chừng, ghét hết vừa bà vừa con;… Đây đều là những
cách biểu đạt mang ý nghĩa mức độ cao, nó vừa có tính hình ảnh vừa có giá trị biểu
cảm cao:
Chỗ anh chí quyết mà cha mẹ biểu đừng
Chỗ ghét quá chừng ba mẹ biểu ưng
Phụ mẫu đánh em quật quà quật quại treo tại nhành dương
Phụ mẫu biểu em từ ai thì em từ được chứ biểu từ người thương em không từ
Để biểu thị những cung bậc tình cảm khác nhau trong tình cảm yêu đương,
người Nam Bộ có rất nhiều cách nói khác nhau. Những cách biểu đạt này phong phú
đến mức chúng tôi phải dùng một bảng riêng để thống kê những cụm từ kiểu “thương
+ bổ ngữ”.
Bảng 3.1
Số lần xuất hiện Stt Thương + bổ ngữ
1 Thương đến ông trời 1
2 Thương quằn thương quại 1
3 Thương dại thương dột 3
4 Thương lột da cóc 3
5 Thương tróc da đầu 3
6 Thương đứt ruột 3
7 Thương ruột gan thắt thẻo 5
8 Thương thắt théo ruột gan 4
83
9 Thương chết nửa thân mình 1
10 Thương ruột héo gan rầu 4
11 Thương ruột thắt gan bào 5
12 Thương nước mắt sụt sùi 1
13 Thương ruột gan héo bầm 3
14 Thương ruột thắt gan đau 4
15 Thương ruột thắt chín tầng đành đoạn héo hon 1
16 Thương rớt lụy, can tràng quặn đau 1
17 Thương thảm thiết vô cùng 1
Tổng cộng 44 lần
Trong bảng trên có đến 18 cách diễn đạt mức độ yêu thương khác nhau với tần
số xuất hiện 44 lần. Trong đó, hầu hết các cách biểu đạt đều là kết quả của sự cường
điệu, phóng đại. Tác giả dân gian đã phóng đại mức độ thương kiểu như:
Thương lột da cóc, thương tróc da đầu:
Anh thương em, thương dại thương dột
Thương lột da cóc, thương tróc da đầu
Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương
Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ
Hỡi ông trời, mới ngộ lại xa
Thật là một cách thể hiện tình cảm độc đáo mang đậm màu sắc Nam Bộ. Nghe
xong lời tâm sự, ta không khỏi mỉm cười, cười vì hiểu được tấm chân tình mộc mạc
được thổ lộ một cách vô cùng tự nhiên của chàng trai ấy.
Sự phóng đại ở đây không phải sự lộng ngôn. Nó là cách để nhân vật trữ tình
bộc lộ tình cảm của mình, đó là thứ tình cảm vô cùng thắm thiết, nồng nàn mà những
cách diễn đạt thông thường khó mà lột tả được hết.
Để diễn tả cho kì được tấm chân tình của mình, tác giả dân gian Nam Bộ còn
dùng chính những bộ phận của cơ thể mình để biểu đạt.
Thương đứt ruột:
Đũa vàng dộng xuống mâm son
Anh thương em đứt ruột vội từ hôn sao đành
84
Thương đứt ruột, đứt gan:
Gió năm non thổi lòn hang chuột
Thấy em bơi xuồng anh đứt ruột đứt gan
Thương chết nửa thân mình:
Anh bước xuống xuồng nhỏ
Anh gõ nhẹ một cái cộc
Anh lượm được cục ngọc thủy tinh
Anh thương em chết nửa thân mình
Mà em ngơ ngẩn như mình thương ai
Thương đến mức muốn cắt ruột cho người tình:
Một tiếng than đôi ba tiếng vãn, năm bảy tiếng tình
Thiếu điều anh cắt ruột bỏ qua mình, anh về không.
Đối với người Việt, ruột, gan thường được dùng để biểu đạt ý chí, tình cảm
của con người. Từ ruột được người Việt dùng để chỉ huyết thống, đặc biệt là quan hệ
huyết thống trực tiếp. Quan hệ huyết thống là cơ sở quan trọng để tạo ra tình cảm
giữa những người trong gia đình, dòng tộc. Ngoài ra, ý nghĩa biểu trưng của ruột còn
được mở rộng để chỉ lí trí và tâm trạng con người. Tác giả dân gian Nam Bộ không
dùng ruột để chỉ tâm trạng hạnh phúc, thỏa mãn mà thường dùng để chỉ tâm trạng
đau khổ.
Ruột thắt chín tầng:
Chiều chiều chim vịt kêu chiều
Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau
Ruột thắt gan đau vì nghèo mới xa cô bạn
Ruột thắt chín tầng đành đoạn héo hon
Ruột bầm như dưa:
Anh đi không lẽ em cầm
Chấp tay đưa bạn ruột bầm như dưa
Gan trong cách nói của người Việt biểu trưng cho tinh thần, ý chí, cho tính
cách con người. Trong ca dao, dân ca Nam Bộ, gan thường biểu trưng cho tâm trạng
85
buồn khổ. Khi biểu đạt tâm trạng buồn khổ, gan thường đi liền với ruột trong một
cụm từ có tính thành ngữ.
Ruột gan thắt thẻo:
- Ai mà lạc lối thuyền tình
Nào khi thề thốt đinh ninh
Theo dòng nước chảy một mình quạnh hiu
- Nghe em than, ruột gan thắt thẻo
Lòng anh không bạc bẽo sao em khéo rầy rà
Anh nguyền trọn dạ đến già chẳng phai
Ruột gan héo bầm:
Bây giờ giấy trắng, mực đen
Em xin viết giấy làm tờ cam đoan
Em đứng giữa trời em chẳng nói gian
Em xa người nghĩa mà ruột gan héo bầm.
Ruột héo gan rầu:
Ngó lên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Lau
Thấy buồm bạn chạy sóng bủa theo sau
Anh thương em ruột héo gan rầu
Biết em thương lại được chút nào hay không.
Ruột thắt gan bào:
Ngó lên trời thấy mây vần vũ
Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan
Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ phết vàng
Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ
Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao
Anh thương em ruột thắt gan bào
Biết em có thương lại chút nào hay không?
Đôi khi ruột, gan được tách thành hai vế đối xứng nhằm nhấn mạnh nỗi niềm:
86
Thương em đất lở tự trầm
Gan thâm từng lá, ruột bầm từng cơn
Ngoài ra, gan còn được dùng để biểu đạt trạng thái tức giận:
Ngọn dền tía, ngọn bần cũng tía
Ngọn lang giâm, ngọn nứa cũng giâm
Thấy em tốt mã anh lầm
Bây giờ so lại giận bầm lá gan.
Hay tâm trạng bồi hồi, tương tư:
Chim trên rừng nó kêu dội suối
Gà dưới núi nó gáy chày đôi
Đêm năm canh thức dậy em ngồi
Lòng thương quân tử bồi hồi lá gan.
Như vậy, ruột, gan trong ca dao, dân ca Nam Bộ gắn với khuynh hướng biểu
đạt tâm trạng đau buồn, mang sắc thái biểu cảm âm tính. Điều này, có lẽ xuất phát từ
nguyên tắc sống hết mình của người dân Nam Bộ. Vì sống hết mình nên trong tình
yêu bao giờ người Nam Bộ cũng muốn nói tận đáy lòng, nói cho đối tượng hiểu được
bụng dạ của mình, phơi bày cả ruột gan mình ra. Đây cũng là một nét đặc sắc trong
văn học dân gian Nam Bộ nói chung và ca dao, dân ca Nam Bộ nói riêng.
Người Nam Bộ tính vốn thẳng thắn, bộc trực, không bị gò ép bởi lễ giáo phong
kiến. Vì vậy, ngay cả phụ nữ trong tình yêu cũng táo bạo và dí dỏm không kém nam
giới:
Thương anh vô giá quá chừng
Trèo tường quên mệt, ngậm gừng quên cay
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng ớt ngọt ngay như đường.
Khó có thể tin được tình yêu sẽ làm vị giác của con người bị lẫn lộn giữa vị
cay và vị ngọt. Thế nhưng, lời cô gái vẫn nhận được sự đồng cảm từ những tâm hồn
đang yêu bởi vì họ hiểu cách nói đó cũng là một trong nhiều cách biểu đạt tình yêu
vậy.
Nếu không lấy đặng cô này
87
Tui thề chèo ghe ra biển cả, nước lớn đầy …tui chèo vô.
Câu tôm, câu vớt, câu vợt, câu cần
Câu doi, câu vịnh, câu lần tới em.
Cách nói khoa trương, phóng đại cũng góp phần tạo nên phong cách diễn đạt dí
dỏm, hài hước của người Nam Bộ. Dù thiên nhiên có phần ưu đãi, điều kiện tự nhiên
thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế nhưng người Nam Bộ cũng
gặp không ít khó khăn, thử thách, nhất là trong buổi đầu khai phá vùng đất này. Họ
đã phải chế ngự những nỗi buồn len lỏi trong tâm tư của những người xa quê, nỗi
buồn lúc mất mùa, bệnh tật. Họ lấy tiếng cười làm phương thuốc để tự động viên
mình, động viên người bên cạnh. Trong lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ thường có
những ý tứ gây cười. Trong những lúc vất vả, khó khăn nhất, tiếng cười lại xuất hiện
càng nhiều.
Khi miêu tả thiên nhiên hoang sơ, người Nam Bộ có câu ca dao nổi tiếng:
Xứ nào bằng xứ Cạnh Đền
Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lền tợ bánh canh
Có thể thấy, các tính chất, trạng thái được miêu tả phóng đại giúp người nói đi
sâu vào mô tả bản chất sự vật. Đồng thời, người nghe cũng hình dung được sự vật
một cách cụ thể hơn. Câu ca dao miêu tả một hoàn cảnh sống không thuận lợi thậm
chí là có phần khắc nghiệt, vậy mà ta không tìm thấy ở đó sự than thở hay trách móc.
Câu ca dao còn có phần dí dỏm nhờ vào các hình ảnh so sánh: muỗi kêu – sáo thổi,
đĩa – bánh canh. Từ đó, toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời đáng quý của người Nam
Bộ.
Ngay cả trong tình yêu - lĩnh vực mà ai cũng nghĩ cần phải nghiêm túc - thì
người Nam Bộ cũng có thể bông đùa được:
Anh có tiền dư cho em một đồng
Em về mua gan công mật cóc thuốc chồng rồi theo anh
Thế nhưng, sự bông đùa ấy vẫn ẩn chứa tình cảm chân thành, mộc mạc. Chính
vì vậy, những câu ca dao như thế mới giữ được sức sống lâu dài.
88
Nỗi lo cơm áo gạo tiền luôn là gánh nặng của con người. Thế nhưng, sự đối lập
giàu nghèo trong cách nói của người Nam Bộ trở nên rất nhẹ nhàng:
Người ta giàu người ta nấu đầy nồi
Mình nghèo nấu ít, ăn rồi mình nấu thêm
Người ta giàu người ta ngủ thẳng đêm
Mình nghèo ngủ ít, ngủ thêm ban ngày
Có thể nói, lạc quan yêu đời và dí dỏm, hài hước là các đặc điểm hay đi liền
với nhau. Trong môi trường có phần khó khăn, khắc nghiệt thì tiếng cười cũng là một
vũ khí để chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng bản thân mình.
Trong những câu chuyện cười, đặc biệt là câu chuyện về Bác Ba Phi, lối nói
phóng đại đạt đến đỉnh cao. Các sự vật được kể trong chuyện Bác Ba Phi đều được
cường điệu về độ phong phú của số lượng. Đây là câu chuyện bác Ba Phi đi bắt rùa:
“Ngồi trên ghe, bác thấy con nào lớn thì bắt bỏ lên ghe, nhỏ thì hất xuống sông. Đầy
ghe bác nhổ sào ra về. Không ngờ, những chú rùa con bị hất xuống, bám theo hai
bên ghe đông nghịt. Bọn chúng một tay bám, một tay bơi nên bác Ba không phải chèo
xuồng mà chỉ việc ngồi kèm lái. Những con rùa bám hai bên ghe càng sợ rơi càng
bơi dữ khiến chiếc ghe của bác chạy nhanh như bo bo”.
Có những câu chuyện tác giả dân gian phóng đại độ lớn của loài vật: “Một lần,
bác Ba Phi kể rằng, nhà bác có nuôi một con vịt xiêm, nó lớn rất nhanh và cao to. Có
người đi qua chuồng làm náo động khiến con vịt cất cánh bay tung lên làm sập mười
căn nhà ở xung quanh. Người ta bắt bác phải bồi thường thiệt hại. Bác liền gọi thằng
nhỏ đi bắt cá bán để lấy tiền đền cho người ta. Cá ở ao nhà bác rất to, thằng nhỏ
không dám lội xuống bắt vì sợ nó ăn thịt. Nó dùng cần câu, cá cắn câu mà không thể
kéo lên bờ được còn bị nó lôi xuống ao. Bỗng nhiên, cá quẫy đuôi một cái, nó lại bị
bắn lên bờ, văng ra xa hơn mười công đất”.
Không khó để tìm những cách phóng đại như trên trong truyện cười Nam Bộ.
Qua lối diễn đạt cường điệu, phóng đại, người Nam Bộ thể hiện tình yêu, sự gắn bó
và niềm tự hào đối với quê hương. Việc dùng nhiều lối nói phóng đại còn thể hiện lối
sống lạc quan pha chút lãng mạn vô tư của người lao động.
89
Tính dí dỏm, hài hước ở Nam Bộ thường nhằm mục đích vui cười hả hê, giải
trí chứ không sâu sắc, thâm thúy như tiếng cười trong văn học dân gian ở các vùng
khác. Sự khác biệt này không thể hiện sự khác biệt về khả năng tư duy mà thuộc về
tính cách con người được thể hiện qua lối tư duy. Nó xuất phát từ lối tư duy lạc
quan,yêu đời, yêu cuộc sống của người Nam Bộ.
3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh
So sánh là biện pháp được hình thành dựa trên việc liên tưởng đến nét tương
đồng giữa hai đối tượng khác nhau, trong đó hai đối tượng đều được nêu ra một cách
công khai. Trong văn học dân gian, tác giả dân gian thường so sánh đối chiếu đời
sống tình cảm, tâm trạng con người và hình ảnh thiên nhiên; tức là thông qua hình
ảnh thiên nhiên, tác giả dân gian muốn nói lên số phận, tâm tư, tình cảm của con
người. “Hình ảnh thiên nhiên và trạng thái con người tình cảm của con người được
đối chiếu với nhau trong những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, cái này gợi ý về cái
kia, và đích miêu tả cuối cùng là trạng thái tình cảm của con người” [49]. Với biện
pháp so sánh, cách nói sẽ hình ảnh hơn, sinh động hơn, tạo được cảm xúc thẩm mỹ
trong nhận thức của người tiếp nhận.
Để chỉ những người hay ăn mà lại lười biếng làm việc, ở Nam Bộ có thành
ngữ:
Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi
Hay:
Ăn như xáng thổi, làm như chổi cùn
Đối tượng được đem ra so sánh bao giờ cũng là những sự vật, hiện tượng quen
thuộc.
Sự giàu có về sản vật (như tôm, cá, các loại trái cây) của vùng đất Nam Bộ
chính là cơ sở hình thành những hình ảnh để đem so sánh trong ca dao dân ca. Người
Nam Bộ đã lựa chọn những hình ảnh về các loại sản vật để nói lên thân phận, phẩm
chất của con người Nam Bộ:
Sen mọc giữa đồng lòng sen trong trắng
Sen Tháp Mười mưa nắng vẫn tươi
Bông sen như nết con người
90
Đẹp như con gái Tháp Mười quê ta
Nói đến cảnh sum họp của đôi lứa, ca dao Nam Bộ có câu:
Đôi ta như cá ở đìa
Ngày ăn tản lạc tối dìa đủ đông
Cá ở đìa là một hiện thực rất gần gũi với người dân vùng sông nước, vì thế khi
liên tưởng đến hoàn cảnh của con người hình ảnh cá ở đìa đã đi vào ca dao một cách
rất tự nhiên, không hề gượng ép.
Hoàn cảnh người con gái có chồng được tác giả dân gian Nam Bộ so sánh với
một hình ảnh đặc trưng của vùng đất này:
Bậu có chồng như cá vô lờ
Tương tư nhớ bậu dật dờ năm canh.
Nỗi vui mừng của cô gái khi gặp người yêu cũng mang đậm chất Nam Bộ,
không lẫn vào đâu được:
Gặp anh đây mừng đã quá mừng
Giả như bông lúa trổ mà nửa chừng mắc mưa.
Người Nam Bộ sống rất mạnh mẽ nên những hình ảnh họ đem ra so sánh
thường cụ thể, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Cách nói, cách sử dụng những
hình ảnh mạnh mẽ đã tạo cho ca dao, dân ca Nam Bộ một âm hưởng riêng:
Kẻ trắng như bông lòng anh không chuộng
Đen như cục than hầm, làm ruộng anh lại thương.
Những hình ảnh so sánh vừa dứt khoát, không mập mờ, trung tính lại vừa có
tính gợi hình, biểu cảm: trắng thì phải trắng như bông, đen thì phải đen như cục than
hầm. Thế mới là cực độ của trắng và đen. Thế mới thấy được tấm chân tình thiết tha
của chàng trai trong câu ca.
Ngoài ra, ca dao, dân ca Nam Bộ còn có những hình ảnh so sánh mang tính dí
dỏm. Điều này xuất phát từ tính cách vui vẻ, lạc quan của người Nam Bộ.
Gái chưa chồng trong lòng hớn hở
Trai chưa vợ ruột thắt tợ trái chanh
Hay:
Em tròn như quả quýt,
91
Em ngọt như trái cam sành
Tình thương em không chia sớt, em để dành cho ai.
Những hình ảnh về thiên nhiên, về sinh hoạt lao động, về sản vật của quê
hương đã trở thành những hình ảnh so sánh quen thuộc trong ca dao, dân ca; qua đó
nói lên tâm trạng, tình cảm, thân phận con người.
Khi nói đến thân phận người phụ nữ, ca dao dân ca Nam Bộ có những hình ảnh
riêng: trái bần trôi, hạt gạo, cái chuông vàng, cái sạp vàng, đóa sen, cá rô mề, trái
chanh, trái mãng cầu, chiếc thuyền be. Tất cả những hình ảnh trên đều là những sự
vật quen thuộc, gần gũi trong đời sống hằng ngày của người nông dân Nam Bộ.
Chúng vừa có giá trị gợi hình, biểu cảm vừa mang đậm màu sắc địa phương.
Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Thân em hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm
Thà rằng chẳng biết cho xong
Biết rồi như xúc,, như đong lấy sầu.
Thân em như tấm lụa đào
Kẻ ưa người chuộng biết vào tay ai
Thân em như tấm lụa điều
Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương
Thân em như cái chuông vàng
Ở trong thành nội có ngàn lính canh
Thân em như cái sạp vàng
Anh như chiếu rách bên đàng bỏ quên
92
Thân em như thể đóa sen
Anh như bèo bọt chẳng chen được vào
Thân em như trái xoài trên cây
Gió đông, gió nam, gió tây, gió bắc
Nó đánh lúc la lúc trên cành.
Thân em như cá rô mề
Kẻ nom người xúc biết về tay ai.
Em như bông cải tháng mười
Rần rần nở rộ người người đón đưa.
Thân em như trái mãng cầu
Ở trên bàn án hạc chầu lọng che
Thân em như thể trái chanh
Lắc lẻo trên cành nhiều kẻ ước mơ.
Thân em như chiếc thuyền be
Sợ e sóng trước lại dè sóng sau.
3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc
Hình ảnh biểu trưng thường được tạo nên nhờ biện pháp ẩn dụ. Ẩn dụ là biện
pháp mượn đối tượng này để nói đến đối tượng khác dựa trên nét tương đồng giữa hai
đối tượng, trong đó có một đối tượng không được nêu ra mà ẩn đi để người đọc tự
suy ra đối tượng kia. Đây là biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong ca dao dân ca.
Tùy vào cách liên tưởng, cách lựa chọn hình ảnh của tác giả mà người tiếp nhận suy
ra ý nghĩa hàm ẩn, ý nghĩa tiềm tàng trong câu ca dao. Để có được cách hiểu đúng,
người tiếp nhận phải có một vốn hiểu biết nhất định về điều kiện tự nhiên, văn hóa,
93
con người… của nơi hình thành nên câu ca dao đó. Như vậy, các hình ảnh biểu trưng
cũng mang đậm dấu ấn địa phương - nơi sản sinh ra nó.
Những hình ảnh biểu trưng trong ca dao dân ca Nam Bộ đều xuất phát từ
những yếu tố liên quan đến vùng đất và con người Nam Bộ. Khi nói về người con
gái, người Nam Bộ sử dụng các hình ảnh như : lê, lựu, mãng cầu, cây bần, bông
trang, trái xoài, cá rô mề… Điểm qua danh sách các hình ảnh, ta dễ dàng nhận thấy
màu sắc địa phương Nam Bộ trong những hình ảnh ấy. Tùy vào tính chất, đặc điểm
của những hình ảnh được sử dụng mà tác giả có thể liên tưởng đến phẩm chất , tính
tình, hoặc nêu lên những suy nghĩ của mình về người con gái:
Cây bần ơi hỡi cây bần
Lá xanh bông trắng lại gần không thơm
Hình ảnh cây bần với lá xanh bông trắng nhưng “không thơm” gợi cho ta cách
nghĩ: người con gái trong câu ca dao chỉ có vẻ đẹp bên ngoài mà thiếu mất vẻ đẹp
tâm hồn bên trong.
Trong chủ đề tình yêu đôi lứa, những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng đã thể
hiện được tâm trạng, thái độ, tình cảm của đôi lứa yêu nhau một cách sâu sắc. Tác giả
dân gian Nam Bộ đã nói lên quan niệm lựa chọn người yêu như sau:
Quýt rụng bờ ao ngọt ngào anh chuộng
Trái cam hồng đào rụng cuống anh chê
Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm
Ngọt như cam sành úng cuống anh chê.
Chàng trai sẵn sàng chọn cô gái tuy nhan sắc không đẹp (quýt rụng bờ ao)
nhưng phẩm chất tốt đẹp (ngọt ngào), chứ không bằng lòng chọn cô gái có nhan sắc
(trái cam hồng đào) nhưng lại không có đức hạnh (rụng cuống).
Trang ca dao, dân ca Nam Bộ có nhiều hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống khó
khăn, vất vả: chiếu lác, áo ngắn, vải bô. Đồng thời cũng có những hình ảnh biểu trưng
cho sự giàu có, sung túc: chăn gấm, áo dài, lãnh. Các hình ảnh này thường xuất hiện
sóng đôi trong cùng một câu ca dao, nhằm nói lên quan điểm sống của người dân
Nam Bộ:
94
Thà rằng chiếu lác có đôi
Còn hơn chăn gấm lẻ loi một mình.
Áo dài chớ tưởng là sang
Bởi không áo ngắn phải mang áo dài.
Áo dài chớ nệ quần thưa
Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm
Người Nam Bộ dùng hình ảnh hoa sen, cá rô đồng, bông lài để biểu trưng cho
những phẩm chất đáng quý của con người:
Đừng chê bông quế mà phế bông lài
Mai sau quế lụi bông lài còn thơm.
- Tuy anh với đó không quen
Nhưng anh thương xót cánh sen vùi bùn
- Vùi bùn sen vẫn là sen
Lục bình rau má khó chen được vào.
Buổi chợ đang đông con cá rô đồng anh chê lạt
Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh khen ngon.
Có những từ ngữ mang ý nghĩa biểu trưng đặc trưng cho ca dao, dân ca Nam
Bộ. Chúng cho phép người đọc nhận rõ xuất xứ của câu ca dao ấy:
Bậu chê qua ở rẫy ăn còng
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm
Muốn hiểu nội dung câu ca dao này, người đọc phải biết hiểu những cách nói
rất Nam Bộ như : “ở rẫy” là chỉ những người làm ruộng, ở thôn quê, “ở chợ” là
những người sống bằng nghề buôn bán, ở thành thị. Người con gái đã chọn người ở
thành thị. Nhưng cô đã sai lầm vì cuộc sống của người ở chợ cũng kham khổ chẳng
kém gì cuộc sống của người ở rẫy. Câu ca dao như một lời trách cứ nhẹ nhàng có
phần tiếc nuối của người con trai trước sự lựa chọn của cô gái.
95
Về nội dung tư tưởng, hai câu ca dao trên nằm trong sự thống nhất với ca dao
dân ca của dân tộc, tức là cũng đồng quan điểm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Tuy nhiên,
xét về cách nói thì có thể thấy, các hình ảnh được sử dụng đều là những sản vật riêng
có ở Nam Bộ, là các loại địa hình đặc trưng của Nam Bộ. Vì vậy, muốn hiểu được
dụng ý của các câu ca dao ấy, người tiếp nhận phải liên hệ đến phong tục tập quán và
cuộc sống của con người ở vùng đất Nam Bộ. Từ đó, người tiếp nhận sẽ nhận thức
được màu sắc địa phương Nam Bộ trong những câu ca dao ấy.
Ngoài ra, trong ca dao, dân ca Nam Bộ ta còn thấy xuất hiện một số điển tích,
điển cố mang tính chất biểu trưng. Trong đó có nhiều điển tích, điển cố có nguồn gốc
từ thi liệu, văn học Trung Quốc.
Ai xui kẻ Hán người Hồ
Đêm thương ngày nhớ, khó gần được nhau.
Câu ca dao gợi đến điển cố nàng Chiêu Quân cống Hồ. Khi vua Hán nhận ra vẻ
đẹp của nàng Chiêu Quân thì cũng chính là lúc nàng rời Hán sang Hồ dâng mình cho
vua Hung Nô để giữ tình hòa hiếu. Bài ca dao đã lấy ý của điền cố nhưng hoàn toàn
có thể tồn tại một cách độc lập. Người đọc có thể không hiểu nghĩa của điển cố
nhưng có thể hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của bài ca dao nhờ vào cách vận dụng thể
đăng đối “kẻ Hán người Hồ” đã tạo nên trường nghĩa về nỗi đau li biệt.
Theo thần thoại Trung Quốc, chim quạ (ô), chim khách (thước) khuân đá lấp
sông Ngân Hà tạo nên cầu Ô Thước để Chức Nữ sang gặp Ngưu Lang trong tiết thất
tịch (mùng 7 tháng 7). Từ đó, cầu Ô Thước biểu trưng cho sự gặp gỡ, nối kết đôi lứa:
Bậu đừng dứt nghĩa cầu Ô
Bởi qua đây không phụ Hớn, chuộng Hồ như ai
Biểu đừng nghi bảy nghi ba
Không tin bậu cứ hỏi kẻ xa người gần.
Cầu Ô Thước trăm năm giữ vẹn
Sông Ngân Hà giữ trọn đừng phai
Sợ anh ham chốn tiền tài
Dứt tình nhơn nghĩa mà đành quên em.
96
Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quặt
Bước xuống ghe, ghe lắc ghe nghiêng
Lữ Phụng Tiên sánh với Điêu Thuyền
Kiếp này không đặng xin nguyền kiếp sau.
Lữ Phụng Tiên tức Lữ Bố là con trai của Đổng Trác. Đây là hai nhân vật trong
“Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Lữ Bố và Đổng Trác cùng tranh giành
một cô gái là Điêu Thuyền. Trong câu ca dao trên, tác giả dân gian mượn điển tích
này để nói lên tình cảnh éo le, ngang trái.
“Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung là tác phẩm mà người dân Nam Bộ
vô cùng yêu thích. Đặc biệt, nhân vật Trương Phi với tính tình cương nghị, thẳng thắn
có phần nào tương đồng với tính cách người Nam Bộ. Chính vì vậy, nhân vật này đã
gây được thiện cảm với người dân nơi đây.
Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành
Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới đành xa em.
Câu chuyện về Tiết Đinh San và Phàn Lê Huê trong truyện cổ Trung Quốc
cũng được người Nam Bộ ghi nhớ và đưa vào ca dao một cách hóm hỉnh:
Trăng hỡi còn khuya đường về thăm thẳm
Đôi ta xứng lắm gặp em đây như kép gặp đào
Như Lê Huê gặp giặc lẽ nào anh tha.
Trong số các điển tích điển cố có nguồn gốc từ thi liệu văn học Trung Quốc,
hình ảnh ông Tơ, bà Nguyệt xuất hiện với tần số cao nhất. Trong văn học Trung
Quốc, điển Nguyệt Lão gắn với câu chuyện của một người tên Vi Cố đời Đường.
Nguyệt Lão là một cụ già chuyên lo xe kết lương duyên bằng sợi chỉ đỏ (tơ hồng, chỉ
hồng). Tuy nhiên, khi đi vào ca dao Nam Bộ hình ảnh này lại được cải biến khá thú
vị: Nguyệt Lão thành ông Tơ – bà Nguyệt, thậm chí đôi khi chỉ còn là bà Nguyệt:
Tìm nhà bà Nguyệt gạn thiệt cho rành
Vì đâu hoa nọ bỏ cành,
Nợ duyên sao sớm dứt tình hỡi em!
97
Ông tơ – bà Nguyệt còn là đối tượng để đôi lứa yêu nhau trách móc, oán than
khi tình duyên không trọn vẹn:
Quất ông Tơ một cái chót
Ông nhảy thót lên đọt bần
Trách ông xe quanh xe quất
Cái tuổi Tuất với tuổi Dần ông không xe
Bắt ông Tơ đánh sơ vài chục
Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên xe
Bên cạnh đó, trong ca dao, dân ca Nam Bộ còn có những điển cố có nguồn gốc
từ thi liệu và văn học Việt Nam.
Truyện Kiều của Nguyễn Du mặc dù là một truyện thơ bác học nhưng vẫn
được nhân dân yêu mến. Trong đó, tác giả dân gian chú ý nhiều nhất đến mối tình sâu
sắc của Thúy Kiều và Kim Trọng:
Sông Tiền Đường cá lội tới lui
Kiều thương Kim Trọng như tui thương mình.
Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là truyện Nôm được lưu truyền
rộng rãi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Một số chi tiết, nhân vật trong truyện đã
đi vào ca dao:
Người nào là vợ Vân Tiên
Nói cho tui biết tui chào liền chị dâu
Tấm lòng son sắt thủy chung của Nguyệt Nga đối với Vân Tiên đã trở thành
một kiểu mẫu mà người con gái Nam Bộ hướng tới:
Bông sen hết nhụy bông tàn
Em đâu giữ tiết như nàng Nguyệt Nga
Người Nam Bộ không có thói quen dùng nhiều điển cố, điển tích trong diễn
đạt. Điều này xuất phát từ tính cách giản dị, ưa sự đơn giản, mộc mạc của người nông
dân Nam Bộ. Vì vậy, nếu có dùng điển tích tác giả dân gian cũng chỉ dùng những
điển quen thuộc. Khi dùng điển, tác giả dân gian có những cách dùng riêng nhằm làm
98
cho điển tích trở nên gần gũi với người tiếp nhận. Điều này bổ sung thêm một nét đặc
sắc cho văn học dân gian Nam Bộ.
3.4. Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca
Nam Bộ
Ca dao, dân ca có nhiều yếu tố trùng lặp do truyền miệng. Vì vậy, khi tiếp xúc
với ca dao – dân ca, chúng ta thường có cảm giác là câu ca dao rất quen, dường như
đã đọc nhiều lần. Những yếu tố trùng lặp đó được gọi là những biểu thức ngôn ngữ.
Biểu thức ngôn ngữ là những đơn vị ngôn ngữ quen thuộc được hình thành do
việc sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, phản ánh tính truyền miệng, tính tập thể của văn
học dân gian. Biểu thức ngôn ngữ xuất hiện trong những câu ca dao khác nhau vẫn
giữ nguyên nội dung, ý nghĩa của nó. Chúng mang một ý nghĩa chung nhất mà dường
như các tác giả dân gian đã thống nhất ngầm với nhau. Khi muốn diễn đạt một ý
tưởng nào đó, họ chỉ cần sử dụng các biểu thức ngôn ngữ sẵn có là có thể diễn đạt
được điều muốn nói. Biểu thức ngôn ngữ có thể là một từ, một nhóm từ hay cả một
dòng thơ. Để trở thành công thức từ ngữ, đơn vị ngôn ngữ phải hội đủ những điều
kiện: phải được lặp đi lặp lại, phải có ý nghĩa tiêu biểu và điển hình, có khả năng tháo
- lắp.
Văn học dân gian Nam Bộ nói chung và ca dao dân ca Nam Bộ nói riêng mang
đậm đà màu sắc địa phương. Ta không chỉ bắt gặp màu sắc địa phương Nam Bộ trong
từ, cụm từ mà còn cả trong các biểu thức ngôn ngữ. Bên cạnh những biểu thức thức
quen thuộc, có tính chất chung của ca dao dân ca Việt Nam, ca dao, dân ca Nam Bộ
còn có những biểu thức riêng, đặc trưng cho vùng đất Nam Bộ. Đó là những biểu
thức có ý nghĩa phản ánh hiện thực khách quan, phản ánh văn hóa, phản ánh tính
cách …của vùng đất, của con người Nam Bộ. Vì thế, các biểu thức ngôn ngữ không
phải chỉ đơn thuần là sự tập hợp các từ ngữ được sử dụng nhiều lần trong các câu ca
dao mà nó còn là sự mã hóa các hiện tượng của cuộc sống vào trong các biểu thức.
Ca dao, dân ca Nam Bộ vốn nằm trong sự thống nhất của ca dao dân ca dân tộc
nên ca dao dân ca Nam Bộ đã kế thừa những biểu thức ngôn ngữ của ca dao, dân ca
các địa phương khác. Chẳng hạn, khi nói về thân phận người phụ nữ, ca dao, dân ca
Nam Bộ vẫn sử dụng kiểu mở đầu quen thuộc “thân em như…”; khi muốn nói về sự
99
nhớ nhung, sự cô đơn trông ngóng về quê nhà thì dùng nhóm chữ mở đầu là “chiều
chiều…”; khi nói về tình yêu quê hương đất nước thường mở đầu bằng “ai về…”, “ai
vô…”, “ai lên…”, “ai đi…”.
Bên cạnh việc sử dụng các biểu thức ngôn ngữ quen thuộc như trên, ca dao dân
ca Nam Bộ còn có một hệ thống biểu thức ngôn ngữ riêng nảy sinh từ cách nói, tính
cách, văn hóa…của người dân Nam Bộ.
Khi nói về sự giàu có, trù phú của quê hương, về lòng tự hào đối với một miền
quê giàu đẹp, ngoài cách sử dụng công thức mở đầu quen thuộc như đã kể trên, người
Nam Bộ còn có cách nói: “thiếu gì”, “mặc sức”, “có nhiều”, “mặc tình”:
Ruộng đồng mặc sức chim bay
Biển hồ lai láng mặc tình cá đua
Chim quyên hút mật bông quỳ
Nam Kì lục tỉnh thiếu gì cá tôm
Cách nói ngắn gọn, mạnh mẽ, dứt khoát phần nào đã nói lên được tính cách
thẳng thắn, bộc trực của người Nam Bộ. Đồng thời, còn thể hiện sự tự tin vào tính
chất trù phú của vùng đất Nam Bộ. Điều này không thể tìm thấy ở ca dao, dân ca các
vùng khác, nhất là những vùng có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.
Người Nam Bộ thường lấy những hình ảnh quen thuộc ở địa phương mình và
đưa vào trong ca dao một cách rất tự nhiên, mộc mạc. Hình ảnh con quạ, con diều
hâu xuất hiện nhiều trong ca dao Nam Bộ và đã trở thành hình ảnh phổ biến. Vì vậy,
chỉ cần thay đổi địa danh là có thể trở thành tiếng hát về quê hương của nhiều vùng
khác nhau. Từ đó, công thức từ ngữ “ba phen quạ nói với diều”, “chiều chiều quạ nói
với diều” đã trở thành một biểu thức quen thuộc trong mảng ca dao, dân ca về chủ đề
quê hương đất nước ở Nam Bộ:
Ba phen quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm
Chiều chiều quạ nói với diều
Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm
100
Chiều chiều quạ nói với diều
Ngã ba Kinh Chuối có nhiều cá tôm
Kiểu mở đầu câu ca dao bằng biểu thức ngôn ngữ “chiều chiều quạ nói với
diều”, “bao phen quạ nói với diều” thường đi kèm nhóm chữ “có nhiều” để khẳng
định sự giàu có về sản vật của vùng đất Nam Bộ; đồng thời nó đã tạo nên một sắc thái
riêng không thể lẫn lộn với các vùng khác.
Cách mở đầu bằng biểu thức ngôn ngữ “tiếng đồn” được người dân Nam Bộ
dùng để ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người ở địa phương:
Tiếng đồn con gái Thủ Biên
Bạc Liêu đi cưới một thiên cá mòi
Ngoài ra, cụm từ này còn được dùng để nói lên tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của
con người một cách dí dỏm, bộc trực:
Tiếng đồn cha mẹ anh giàu
Sao anh ăn mặc như tàu chuối te
Cũng như ca dao dân ca của các vùng khác, trong ca dao dân ca Nam Bộ, chủ
đề tình yêu được thể hiện khá tập trung. Vì vậy, những biểu thức ngôn ngữ ở mảng đề
tài này cũng vô cùng phong phú. Sống giữa môi trường sông nước, sông ngòi kênh
rạch chằng chịt, những hiện tượng nảy sinh từ môi trường sống đó đã được con người
ghi nhận, lựa chọn và đưa vào ca dao để bày tỏ tâm trạng, tình cảm của đôi lứa yêu
nhau.
Người dân Nam Bộ mượn hình ảnh ghe thuyền, sông nước để nói lên sự cách
trở, khó khăn trong tình yêu đôi lứa. Những câu cao dao có nội dung này thường mở
đầu bằng “biển cạn láng khô ghe vô không được” hoặc “biển cạn láng khô thuyền vô
không đặng”:
Biển cạn láng khô ghe vô không được
Phải trở lộn về đi ngược lòng em
Biển cạn láng khô bớ cô chèo lái
101
Phải được ở gần anh trai gái với cô.
Hình ảnh cây cầu là hình ảnh quen thuộc đối với người dân Nam Bộ. Trong
đời sống sinh hoạt, cầu là phương tiện giao thông quan trọng của người dân. Trong ca
dao dân ca Nam Bộ, kiểu mở đầu bằng “cầu cao ván yếu gió rung”, “bước xuống cầu
cầu quằn cầu quại” thường nói đến những trắc trở trong tình yêu, trong đó những
người yêu nhau vẫn luôn động viên, khuyên nhủ nhau phải vững lòng tin chờ đợi.
Cầu cao ván yếu gió rung
Em đi chẳng đặng cậy cùng có anh
Bước lên cầu cầu quằn cầu quại
Bước xuống tàu tàu chạy tàu ngiêng
Em ơi ở lại đừng phiền
Anh đi làm mướn kiếm tiền cưới em
Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quại
Bước xuống đò, đò lắc, đò nghiêng
Hai đứa mình duyên nợ không yên
Phải sao chịu vậy đừng phiền mẹ cha.
Kiểu mở đầu bằng “sông sâu sóng bủa láng cò”, “sông dài cá lội biệt
tăm”…là cách người Nam Bộ bộc lộ tâm tư tình cảm, suy nghĩ của mình. Hiện thực
khách quan đã tác động tới sự liên tưởng của con người. Dưới cái nhìn của người
Nam Bộ, những sự vật vô tri lại trở nên có ý nghĩa, nó có điểm gì đó tương đồng với
tâm trạng con người. Chính cách nói, cách liên tưởng này đã làm cho những câu ca
dao Nam Bộ giàu hình ảnh, sinh động; giúp người đọc có thể dễ dàng liên tưởng,
nhìn nhận vấn đề một cách cặn kẽ, thấu đáo hơn điều tác giả muốn nói.
Sông dài cá lội biệt tăm
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ
Sông dài cá lội biệt tăm
Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ
102
Sông sâu sóng bủa láng cò
Thương em vì bởi câu hò có duyên
Các bài ca dao có nhóm từ ngữ chỉ con nước chảy cũng trở thành công thức từ
ngữ quen thuộc trong ca da dân ca Nam Bộ. Sử dụng nhóm từ mở đầu này, tác giả
dân gian muốn thể hiện tâm trạng, cảm xúc của mình trước thực tại cuộc sống; hoặc
nói lên mơ ước của đôi lứa yêu nhau; hoặc là lời than trách cho sự chia lìa, tan rã:
Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược
Con cá vược lội theo
Anh than với em rằng phận anh nghèo
Có đâu dưới thấp mà trèo lên cao
Nước ròng chảy thấu Nam Vang
Mù u chín rụng sao chàng bặt tin
Nước ròng bỏ bãi xà cừ
Gặp em hỏi thử sao từ ngãi nhân?
Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ vốn rất phong phú và có mức độ đặc tả cao. Ngôn
ngữ đã phát huy một cách tài tình tác dụng của nó bằng cách: miêu tả một cách tỉ mỉ,
cụ thể và có hiệu quả những hình ảnh, âm thanh của tự nhiên. Kiểu câu mở đầu bằng
việc miêu tả âm thanh của gió, của nước với những từ láy gợi cảm xuất hiện nhiều
trong ca dao dân ca Nam Bộ. Những câu ca dao ấy, chủ yếu nói lên tâm trạng, suy
nghĩ, sự quan tâm, lo lắng cho nhau của các chàng trai, cô gái:
Gió hiu hiu chín chiều ruột thắt
Nhìn sao bên bắc nước chảy bên đông
Ai xui chi những vợ vợ chồng chồng
Không biết đây với đó dây tơ hồng có se?
Gió lao xao tàu cau ngã liệt
103
Anh xa em rồi rũ riệt tay chân
Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu
Anh đừng bận bịu bớ điệu chung tình
Nhạn bay cao khó bắn, cá ở ao huỳnh khó câu
Hình ảnh con nước chảy kết hợp với cách sử dụng từ láy đã diễn tả thành công
nỗi lòng, tâm trạng của con người. Hình ảnh con nước êm ả, với những chuyển động
chậm rãi phù hợp để diễn tả nỗi buồn của con người.
Nước chảy bon bon, cõng mẹ bồng con lên non hái trái
Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi
Nước chảy liu riu lục bình trôi liu ríu
Anh ở một mình ươn yếu ai nuôi
Nước chảy re re, con cá he nó xòe đuôi phụng
Em có chồng rồi trong bụng anh vẫn còn thương
Ca dao Nam Bộ có nhiều câu mở đầu bằng nhóm từ xưng hô. Đó thường là
những câu ca dao nói về tình yêu đôi lứa hay tình cảm gia đình. Nhóm chữ mở đầu
“hai đứa mình” thường được dùng để diễn tả những nỗi niềm xung quanh sự gắn bó
của đôi lứa:
Hai đứa mình ăn một trái cau
Giấu cha giấu mẹ ăn sau bóng đèn
Cụm từ mở đầu “má ơi” dùng để nói lên tình cảm của con cái đối với mẹ:
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Má ơi đừng đánh con đau
Để con hát bội làm đào má coi
Người Nam Bộ sống giàu tình cảm, họ đối xử với nhau tràn đầy tình yêu
thương, luôn giúp đỡ, đùm bọc nhau trong những lúc khó khăn. Vì vậy, ca dao Nam
104
Bộ có nhiều câu xuất hiện nhóm cụm từ “cảm thương”, “cảm thương người”. Công
thức từ ngữ này thể hiện sự quan tâm, đồng cảm giữa người và người:
Đêm trăng sáng chạnh lòng nhớ bạn
Cảm thương người hoạn nạn xiết bao
Gió đẩy đưa rau dừa quặn quịu
Anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên
Ngoài công thức từ ngữ mở đầu và nhóm câu mở đầu, kết cấu của các câu ca
dao cũng góp phần làm nên màu sắc Nam Bộ. Ca dao dân ca Nam Bộ có những
khung kết cấu có sẵn trong đó được lồng những hình ảnh có sẵn. Chẳng hạn:
Ngó lên đường Sài Gòn cây cao bóng mát
Ngó xuống đường Sa Đéc lắm cát dễ đi
Gái Tân Uyên nhiều đứa nhu mì
Đố trai Cao Lãnh bỏ thuốc gì cho nó mê
Cầu Cần Thơ ăn no nghỉ mát
Cầu Xẻo Mác đổ cát dễ đi
Gái Xẻo Mác rực rỡ như hoa quỳ
Đố trai tứ xứ bỏ thuốc gì cho gái Xẻo Mác mê
Có thể kể thêm một số kết cấu thường gặp trong ca dao dân ca Nam Bộ như:
Nha Mân đi dễ khó về
Trai đi có vợ, gái về có con
Nam Vang đi dễ khó về
Trai đi có vợ, gái về có con
Bạc Liêu đi dễ khó về
Trai đi có vợ, gái về có con
105
Hay:
Gà nào bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân
Gà nào bằng gà Vĩnh Thạnh
Gái nào bảnh bằng gái Vĩnh Hòa
Những kết cấu trên mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ, vì nó được hình
thành dựa trên những yếu tố điều kiện tự nhiên, văn hóa, tính cách của con người
Nam Bộ và vùng đất Nam Bộ.
106
TIỂU KẾT
Bên cạnh những từ ngữ địa phương thì những cách diễn đạt mang màu sắc địa
phương cũng góp phần làm nên đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ.
+ Văn học dân gian Nam Bộ chuộng cách nói mộc mạc có phần dí dỏm, hài hước. Vì
mộc mạc nên văn học dân gian Nam Bộ sử dụng từ ngữ, các cách diễn đạt chỉ cố làm
sao diễn tả được cái tình của người nói, chứ không gò ép vào khuôn mẫu hay không
chủ ý nêu lên những triết lí sâu sắc. Tính hài hước, dí dỏm được tác giả tạo nên nhờ
những liên tưởng độc đáo, gắn với hiện thực cuộc sống và lối tư duy của người Nam
Bộ. Ngoài ra, cách nói phóng đại cũng góp phần làm nên đặc sắc của văn học dân
gian Nam Bộ.
+ Cách diễn đạt bằng lối so sánh và các hình ảnh biểu trưng không phải là đặc điểm
chỉ riêng có ở văn học dân gian Nam Bộ. Tuy nhiên, cách sử dụng các hình ảnh so
sánh và hình ảnh biểu trưng của tác giả dân gian lại mang đậm chất Nam Bộ. Đó là
những hình ảnh đặc trưng cho một vùng đất nông nghiệp trù phú, sông ngòi chằng
chịt, nhiều sản vật, tôm cá…Tất cả những đặc điểm ấy đi vào ca dao một cách tự
nhiên, mang giá trị gợi hình, biểu cảm cao.
+ Các biểu thức ngôn ngữ quen thuộc được sử dụng nhiều lần trong ca dao của một
vùng đất nào đó cũng góp phần tạo nên nét đặc sắc của ca dao địa phương ấy. Ngoài
việc sử dụng những biểu thức ngôn ngữ quen thuộc của ca dao, dân ca Việt Nam, ca
dao, dân ca Nam Bộ còn có những biểu thức ngôn ngữ riêng, đặc trưng của vùng như:
cầu cao ván yếu gió rung, bước xuống cầu cầu quằn cầu quại, nước chảy bon bon,
nước chảy liu riu, nước ròng…Những biểu thức ngôn ngữ này vừa phản ánh điều
kiện tự nhiên của vùng đất Nam Bộ vừa gửi gắm tâm tình của người Nam Bộ.
107
KẾT LUẬN
Nam Bộ là vùng đất mới, nằm ở phía Nam Tổ quốc. Văn học dân gian Nam Bộ
ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử khai phá và xây dựng mảnh đất này. Do đó,
các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội, con người…đã chi phối
đến sự hình thành ngôn ngữ. Điều này không chỉ làm cho ngôn ngữ ở Nam Bộ đa
dạng, phong phú mà còn làm nên nét đặc sắc khó lẫn lộn của ngôn ngữ trong văn học
dân gian Nam Bộ. Màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ được thể hiện
rõ nhất ở cấp độ từ ngữ, sau đó là các cách thức biểu đạt.
Ở cấp độ từ ngữ, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ của người Nam Bộ có sự pha
trộn, vay mượn ngôn ngữ của cá dân tộc khác. Nhiều từ ngữ chỉ địa danh, từ ngữ chỉ
địa hình, một số từ ngữ chỉ phương tiện sinh hoạt và công cụ lao động ra đời trên cơ
sở đó. Ngoài ra, do điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa…người Nam Bộ đã sáng tạo
ra một lớp từ ngữ mới đáp ứng nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng ở vùng đất mới.
Lớp từ ngữ liên quan đến sông nước, từ ngữ chỉ động thực vật, từ ngữ chỉ phương
tiện sinh hoạt, công cụ lao động được hình thành theo kiểu này là những từ ngữ mang
đậm màu sắc Nam Bộ. Thêm vào đó, tính cách của người Nam Bộ cũng là một trong
những yếu tố làm cho ngôn ngữ Nam Bộ giàu sắ thái địa phương.
Những từ ngữ địa phương khi xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ gợi
được cái hồn của phong cảnh thiên nhiên Nam Bộ, gợi được nếp sống và nếp nghĩ
của người dân nơi đây. Gắn với mỗi địa danh xuất hiện trong văn học dân gian Nam
Bộ là đặc điểm của một vùng đất, là đặc sản của địa phương, là niềm tự hào, là niềm
thương nỗi nhớ được gửi gắm. Gắn với hình ảnh con sông, con nước, chiếc ghe, chiếc
xuồng là những nỗi lo toan vất vả của người dân Nam Bộ. Đồng thời, đó cũng là
những hình ảnh chuyên chở tâm tình của đôi lứa đang yêu. Gắn với những từ ngữ
xưng hô mộc mạc rất riêng của người Nam Bộ là tấm chân tình giữa người và người,
không câu nệ hình thức, vai vế, thành phần xã hội… Tất cả tạo nên màu sắc rất riêng
của văn học dân gian Nam Bộ.
Màu sắc địa phương Nam Bộ còn được biểu hiện ở những cách diễn đạt riêng.
Đó là cách diễn đạt ngắn gọn, mộc mạc, chất phác, mang chút hóm hỉnh, hài hước.
108
Sự mộc mạc thể hiện trong cách lựa chọn, sử dụng từ ngữ; trong cách lựa chọn các
hình ảnh so sánh gần gũi, thân thiết với người dân Nam Bộ. Sự hài hước thể hiện ở
cách nói khoa trương, phóng đại rất tự nhiên; thể hiện ở những liên tưởng, so sánh
độc đáo, bất ngờ. Điều này xuất phát từ tính cách bộc trực, thẳng thắn, phóng khoáng,
lạc quan, yêu đời của người Nam Bộ.
Trong ca dao, dân ca Nam Bộ còn có hàng loạt những biểu thức từ ngữ đặc
trưng cho ca dao, dân ca vùng đất này. Những biểu thức từ ngữ như: “cầu cao ván
yếu gió rung…”, “bước xuống cầu, cầu quằn cầu quại; bước xuống ghe, ghe ngả ghe
nghiêng…”, “bìm bịp kêu nước lớn…”, “nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu…”
đều là những biểu thức riêng có ở văn học dân gian Nam Bộ. Những biểu thức từ ngữ
đó kết hợp với các hình ảnh quen thuộc của vùng đất Nam Bộ tạo cho câu ca dao một
ý nghĩa biểu trưng mới, làm nên đặc sắc của ca dao, dân ca Nam Bộ.
Ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ mang đậm màu sắc địa phương. Nói như
thế không có nghĩa là ngôn ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ không nằm trong sự
phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ vừa kế thừa và
phát huy những đặc điểm của ngôn ngữ văn học dân gian dân tộc, vừa thể hiện và
làm phong phú thêm vốn từ ngữ mang sắc thái địa phương. Từ đó, nó góp phần làm
phong phú thêm kho từ vựng của tiếng Việt, góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu về sử
dụng ngôn ngữ trong quá trình diễn đạt của người dân. Có thể nói đây là một đóng
góp của ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ đối với tiếng nói dân tộc. Do vậy, cần có
sự quan tâm thích đáng đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu văn học dân gian Nam Bộ.
Dưới góc độ một giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông, người
viết nhận thấy văn học dân gian Nam Bộ hầu như vắng mặt ở chương trình học cấp
trung học phổ thông. Chúng tôi nghĩ chương trình Ngữ Văn ở cấp THPT cần có một
số câu ca dao Nam Bộ, đặc biệt là những câu ca dao than thân đậm đà màu sắc địa
phương Nam Bộ. Điều này góp phần làm cho tiếng nói người Nam Bộ trở nên gần
gũi, quen thuộc hơn với người dân các vùng khác. Từ đó, mọi người thêm yêu vẻ đẹp
của văn học dân gian Nam Bộ nói riêng và văn học dân gian dân tộc nói chung.
109
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Ái (chủ biên) (1994), Từ điển phương ngữ Nam Bộ, NXB
TPHCM, TP HCM.
2. Lâm Tiên Ba (2003), “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Tiều được sử
dụng trong tiếng Việt ở địa phương cực Tây Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số
8.
3. Lê Uyên Bá (2005), “Từ “ênh” trong phương ngữ Tây Nam Bộ có
nguồn gốc Khmer”, Ngôn ngữ & đời sống, số 5.
4. Lê Xuân Bột (2003), “Từ Hán Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở
Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 4.
5. Thái Văn Chải (1986), “Một số đặc điểm về tiếng Khmer Đồng bằng
sông Cửu Long”, Ngôn ngữ, số 2.
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, HN.
7. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ, số
10.
8. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, NXB
KHXH, HN.
9. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, NXB ĐHQG HN,
HN.
10. Nguyễn Văn Chiến (1991), “Sắc thái địa phương của các danh từ thân
tộc trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 2.
11. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Văn học, số 2.
12. Nguyễn Đức Dân (1998), “Từ láy đôi trong phương ngữ Nam Bộ-
sắc thái nghĩa và biến thể”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.
13. Hải Dân (1982), “Yếu tố cà trong phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn
ngữ, số 1.
14. Trần Phỏng Diều (2008), “Sự giao lưu về ngôn ngữ giữa các dân
tộc ở Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 2.
110
15. Hoàng Dũng (1997), “Quả với lại trái, tại sao?”, Ngôn ngữ & đời
sống, số 12.
16. Nguyễn Đức Dương (1974), “Về hiện tượng kiểu “ổng”, “chỉ”,
“ngoải” ”, Ngôn ngữ, số 1.
17. Trần Bạch Đằng (1986), Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm, NXB
TPHCM.
18. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB GD, HN.
19. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn
ngữ, NXB GD, HN.
20. Nguyễn Thị Hai (1997), “Một vài tên gọi trong tiếng Bạc Liêu”,
Ngôn ngữ & đời sống, số 12.
21. Nguyễn Thị Hai (1998), “Giồng Trôm và Bến Vượt”, Ngôn ngữ &
đời sống, số 3.
22. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB KHXH,
HN.
23. Cao Xuân Hạo (1988), “Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ
Nam bộ”, Ngôn ngữ, số 1.
24. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp,
ngữ nghĩa, NXB GD, HN.
25. Phạm Văn Hảo – Trần Thị Thìn (1994), “Mấy vấn đề về từ ngữ địa
phương trong việc sưu tầm, giới thiệu vốn tục ngữ, ca dao”, Văn hóa dân gian,
số 3.
26. Lê Trung Hoa (2002), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và
tiếng Việt văn học, NXB KHXH, HN.
27. Lê Trung Hoa (2003), Địa danh Khmer và gốc Khmer ở Nam Bộ,
Kỉ yếu khoa học ĐH KHXHNV, NXB TPHCM.
28. Lê Trung Hoa (2004), “Những nét đặc thù của địa danh hành chính
Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 12.
111
29. Nguyễn Thị Huyền (2007), “Về việc tạo nghĩa mới trong quá trình
thâm nhập của từ địa phương vào vốn từ vựng toàn dân”, Ngôn ngữ & đời
sống, số 5.
30. Nguyễn Thúy Khanh (2004), “Sự thâm nhập của từ ngữ địa phương
vào ngôn ngữ toàn dân”, Ngôn ngữ, số 7.
31. Trần Thị Ngọc Lang (1991), “Về các yếu tố chỉ mức độ của tính từ
trong phương ngữ Nam Bộ”, Khoa học xã hội, số 10.
32. Trần Thị Ngọc Lang (1992), “Từ láy tư trong phương ngữ Nam
Bộ”, Ngôn ngữ, số 3.
33. Trần Thị Ngọc Lang (1995), Phương ngữ Nam Bộ (những khác biệt
về từ vựng ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ), NXB
KHXH, HN.
34. Trần Thị Ngọc Lang (2002), “Vài điểm khác biệt về ngữ pháp của
phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ”, Ngôn ngữ, số 2.
35. Trần Thị Ngọc Lang (2002), “Sự khác biệt về ngữ nghĩa của một số
kiểu từ địa phương Nam Bộ so với từ toàn dân”, Ngôn ngữ, số 2.
36. Trần Thị Ngọc Lang (2009), “Chức năng văn hóa xã hội của tiếng
Việt ở Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 5.
37. Phạm Hải Lê (2007), “Ý tứ của câu ca dao ở ba miền đất nước”,
Ngôn ngữ & đời sống, số 8.
38. Hồ Lê (1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, NXB
KHXH, HN.
39. Bình Nguyên Lộc (1958 – 1859), “Tiếng địa phương”, Tạp chí
Bách khoa, số 37, 39, 40, 41,43,45,51,57.
40. Nguyễn Thanh Lợi (2005), “ Địa danh ở Bến Tre”, Ngôn ngữ, số 6.
41. Đặng Văn Lung (1979), “Về việc nghiên cứu và sưu tầm dân ca
Nam Bộ”, Văn học, số 6.
42. Đoàn Xuân Mỹ (1997), “Ca dao Nam Bộ - một cái nhìn gần”, Văn
học, số 4.
112
43. Trần Văn Nam (2004), “Từ “cá hóa rồng” đến hiện tượng “cù dậy”
trong tâm thức người Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.
44. Trần Văn Nam (2004), “Lia thia quen chậu”, Ngôn ngữ & đời
sống, số 5.
45. Trần Văn Nam (2004), “Thành ngữ “ruột thắt gan bào” trong ca dao
Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 11.
46. Lại Cao Nguyên (2004), “Tính chất ba vùng của đại từ tiếng Việt” ,
Ngôn ngữ, số 1.
47. Nguyễn Hoài Nguyên (2002), “Đặc trưng ngữ âm phần vần của
phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 7.
48. Nguyễn Thanh Nhàn (2006), “Những địa danh thuần Việt phản ánh
địa hình đặc thù của tỉnh Long An”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.
49. Bùi Mạnh Nhị (1984), “Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân
ca Nam Bộ”, Ngôn ngữ , số 1.
50. Nhiều tác giả (1999), Nam Bộ xưa và nay, NXB TPHCM, TPHCM.
51. Nguyễn Văn Nở (2000), “Hình ảnh “thân em...” trong ca dao trữ
tình Đồng bằng sông Cửu Long”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.
52. Nguyễn Văn Nở (2004), “Về nguồn gốc của thành ngữ “công tử
bột””, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.
53. Nguyễn Văn Nở (2004), “Từ “xài” trong phương ngữ Nam Bộ”,
Ngôn ngữ & đời sống, số 3.
54. Nguyễn Văn Nở (2005), “Môi trường tự nhiên, văn hóa và con
người trong thành ngữ, tục ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.
55. Vũ Ngọc Phan (1960), “Sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian là
một vấn đề cấp thiết”, Văn học, số 2.
56. Vũ Ngọc Phan (1963), “Đọc dân ca miền Nam Trung Bộ”, Văn học,
số 2.
57. Hoàng Phê (1973), “Ý kiến về một vấn đề nhỏ: ưu hay iu?”, Ngôn
ngữ, số 4.
113
58. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển
học – NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.
59. Tôn Diễn Phong (1999), “Vài nét về nghiên cứu ngôn ngữ qua văn
hóa”, Ngôn ngữ & đời sống, số 4.
60. Thạch Phương (1981), “Mấy suy nghĩ về ca dao của vùng đất mới”,
Văn học, số 6.
61. Hoàng Xuân Phương (1996), “Đi tìm nguồn gốc các từ cổ, kẻ, cà,
cái trong địa danh” , Ngôn ngữ & đời sống, số 3.
62. Nguyễn Thị Thanh Phượng (1997), “Từ ngữ sông và nước trong
tiếng Việt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 12.
63. Nguyễn Quang (1971), “Việc lựa chọn và giải thích từ ngữ miền
Nam trong một quyển từ điển loại phổ thông”, Ngôn ngữ, số 4.
64. Phan Quang (1985), Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Mũi Cà
Mau..
65. Nguyễn Hồng Quân (2006), “Địa danh gắn với nhân vật ở Cần
Thơ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 11.
66. Trịnh Sâm (1986), “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương”,
Văn học, số 5.
67. Trịnh Sâm (2003), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, NXB Trẻ, TP HCM.
68. Huỳnh Công Tín (1996), “Hiện tượng biến âm trong phương ngữ
Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 2.
69. Huỳnh Công Tín (1998), “Vài nét về sự hình thành phương ngữ Sài
Gòn”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.
70. Huỳnh Công Tín (2002), “Tiếng cười dân gian Nam Bộ”, Ngôn ngữ
& đời sống, số 1+2.
71. Huỳnh Công Tín (2006), “Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trong
phong cách diễn đạt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.
72. Huỳnh Công Tín (2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ, NXB KHXH,
HN.
114
73. Nguyễn Tài Thái-Phạm Văn Hảo (2004),“Sự thâm nhập của từ ngữ
địa phương miền Nam vào tiếng Việt toàn dân giai đoạn 1945 -1975”, Ngôn
ngữ & đời sống, số 4.
74. Cái Văn Thái (1998), “Những tiếng đệm phụ trong ca từ một số
điệu lí ở Đồng Tháp”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.
75. Đào Thản (2001), “Phương ngữ Nam Bộ - tiếng nói của quê hương
ở vùng cực nam của Tổ quốc”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.
76. Nguyễn Kim Thản (1964), “Thử bàn về một vài đặc điểm của
phương ngôn Nam Bộ”, Văn học, số 8.
77. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu (1982),
Tiếng Việt trên đường phát triển, NXB KHXH, HN.
78. Mai Thanh Thắng (2005), “ “Kia”, “kìa”, “kỉa”, “kịa” trong cách
nói của người Nam Bộ” , Ngôn ngữ & đời sống, số 9.
79. Mai Thanh Thắng (2005), “ “Bân”, “trân”, “trất”- những tiếng
riêng của phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 10.
80. Lí Toàn Thắng (2002), Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học
đề cương, NXB KHXH, HN.
81. Hồ Bá Thâm (2003), Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát triển, NXB
VHTT, TPHCM.
82. Bùi Khánh Thế (chủ nhiệm) và nhóm tác giả (2001), Mấy vấn đề
tiếng Việt hiện đại, ĐHQG TPHCM, TPHCM.
83. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD, HN.
84. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB
TPHCM, TPHCM.
85. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của
ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác),
NXB ĐHQG HN, HN.
86. Đoàn Thiện Thuật (1980), Ngữ âm tiếng Việt, NXB ĐH &THCN,
HN.
115
87. Lê Văn Trường (1982), “Nhân dịp kỉ niệm Nguyễn Đình Chiểu, bàn
về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa phương”, Ngôn ngữ, số 2.
88. Nguyễn Thế Truyền (1999), “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca
dao dân ca”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.
89. Nguyễn Thế Truyền (1999), “Cách xưng hô của người Nam Bộ”,
Ngôn ngữ & đời sống, số 10.
90. Nguyễn Thế Truyền (2002), “Người Nam Bộ xài từ” , Ngôn ngữ &
đời sống, số 12.
91. Cù Đình Tú (2002), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt,
NXB GD, HN.
92. Hoàng Tuệ (1982), “Bàn về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa
phương”, Ngôn ngữ, số 2.
93. Nguyễn Bạt Tụy (1961), “Ngữ Việt trên đất Việt”, Văn hóa nguyệt
san, số 64.
94. Hồ Xuân Tuyên (2001), “Về một số từ ngữ trong trường học ở Nam
Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 3.
95. Hồ Xuân Tuyên (2004), “ Ngôn ngữ vùng sông nước qua một cuốn
sách”, Ngôn ngữ & đời sống, số 3.
96. Hồ Xuân Tuyên (2004), “ Đơn vị cân, đo , đong, đếm trong phương
ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 8.
97. Hồ Xuân Tuyên (2007), “ Định danh thời gian trong phương ngữ
Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.
98. Hồ Xuân Tuyên (2008), “Một số phương thức định danh trong
phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 8.
99. Hoàng Vũ (1995), “Góp thêm tư liệu về các ngữ vị tình cảm và gợi
tả trong phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & Đời sống, số 3.
100. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ
ngôn ngữ học, NXB GD, HN.
116
NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT
Chu Xuân Diên (chủ biên) (2002), Văn học dân gian Sóc Trăng, 1.
NXB Văn nghệ TPHCM, TPHCM.
Chu Xuân Diên (chủ biên) (2005), Văn học dân gian Bạc Liêu, 2.
NXB Văn nghệ TPHCM, TPHCM.
Văn học dân gian An Giang (2010), Tài liệu điền dã lưu hành nội 3.
bộ.

