BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Kiều Oanh

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ

TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Đỗ Thị Kiều Oanh

PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ

TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành

: Ngôn ngữ học

Mã số

: 60 22 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2012

LỜI CẢM ƠN

-------

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn cô Huỳnh Thị Hồng Hạnh đã dành nhiều

thời gian, công sức hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.

Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô Tổ Ngôn Ngữ, các thầy

cô Khoa Ngữ Văn trường Đại học sư phạm TPHCM. Xin cảm ơn Phòng Sau đại học

trường Đại học sư phạm TPHCM.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã tận tình góp ý, giúp

đỡ để tôi hoàn thành luận văn này.

Tp Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 03 năm 2012

Người viết luận văn

Đỗ Thị Kiều Oanh

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.

Các số liệu khảo sát, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng

công bố ở các công trình khác.

Người viết luận văn

Đỗ Thị Kiều Oanh

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

0.1.Lí do chọn đề tài ......................................................................................... 1

0.2.Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 1

0.3.Lịch sử vấn đề ............................................................................................. 2

0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ ...................................................................... 2

0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian ............................... 3

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5

0.5.Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5

0.6.Tư liệu nghiên cứu ...................................................................................... 5

0.7.Đóng góp của luận văn ............................................................................... 6

0.8.Bố cục của luận văn .................................................................................... 6

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ THUYẾT .................................................................... 7

1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ ......................................................... 7

1.1.1 Khái niệm phương ngữ ........................................................................ 7

1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt ....................................................... 8

1.1.3Phương ngữ Nam Bộ ............................................................................ 9

1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ ........................................................ 9

1.2 Văn học dân gian Nam Bộ ........................................................................ 11

1.3.Văn hóa Nam Bộ ...................................................................................... 13

1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa ................................................. 13

1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ ................................................... 13

1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ ............................................................... 14

1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian 16

CHƯƠNG 2.TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM

BỘ ...................................................................................................................... 19

2.1. Kết quả khảo sát ....................................................................................... 19

2.2. Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa .............................................. 22

2.2.1. Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng ........................................................... 23

2.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất ....................................... 64

2.2.3. Từ ngữ xưng hô ................................................................................ 73

CHƯƠNG 3.NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT MANG MÀU SẮC NAM BỘ

............................................................................................................................ 79

3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm ........................ 79

3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh ................................................................. 89

3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc ..................... 92

3.4. Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca

Nam Bộ ........................................................................................................... 98

KẾT LUẬN ...................................................................................................... 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 109

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT ................................................................. 116

1

MỞ ĐẦU

0.1.Lí do chọn đề tài

Về phương ngữ Nam Bộ, từ trước đến nay đã có rất nhiều bài viết, công trình

nghiên cứu. Xuất phát từ các góc độ, khuynh hướng và phương pháp tiếp cận khác

nhau, những bài viết, những công trình đó đã cung cấp cái nhìn mới mẻ, toàn diện

hơn về phương ngữ Nam Bộ. Có thể thấy, đây là vấn đề thu hút được đông đảo các

nhà ngôn ngữ học - đặc biệt là những nhà nghiên cứu từng được sinh ra và trưởng

thành trên mảnh đất Nam Bộ. Thế nhưng, theo chúng tôi, việc khảo sát từ ngữ địa

phương trong văn học dân gian Nam Bộ vẫn có thể bàn luận thêm, nghiên cứu sâu

hơn và toàn diện hơn.

Khác với văn học viết, văn học dân gian là văn học truyền miệng, là sáng tác

của tập thể nhân dân lao động. Văn học dân gian phản ánh những gì gần gũi nhất với

con người. Từ ngữ được sử dụng trong các tác phẩm văn học dân gian phản ánh lối

nói của từng địa phương, mang dấu ấn của từng vùng, từng miền. Nghiên cứu từ ngữ

địa phương trên cứ liệu văn học dân gian của một vùng, miền nào đó không chỉ làm

sáng tỏ những đặc điểm của từ ngữ vùng, miền ấy mà còn thấy được nếp sống, nếp

nghĩ của người dân nơi đó.

Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phương ngữ Nam Bộ

trong văn học dân gian” với mong muốn góp phần tìm hiểu thêm nét đặc sắc của

phương ngữ Nam Bộ, của văn hóa Nam Bộ biểu hiện qua văn học dân gian; phân tích

giá trị biểu đạt, hiệu quả biểu đạt của các yếu tố mang tính địa phương trong văn học

dân gian Nam Bộ.

0.2.Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài: “Phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian”, người viết

hướng đến những mục đích sau:

- Khảo sát và phân loại các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương

trong văn học dân gian Nam Bộ

- Miêu tả và phân tích các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ

ngữ địa phương, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian

2

Nam Bộ. Từ đó góp phần làm rõ vai trò của các yếu tố địa phương trong văn học dân

gian Nam Bộ.

0.3.Lịch sử vấn đề

0.3.1.Về phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ là vấn đề được các nhà Việt ngữ học quan tâm từ rất sớm. Từ

những năm 1958 -1959, loạt bài “Tiếng địa phương” của Bình Nguyên Lộc [39] đăng

trên tạp chí Bách khoa nhiều số liền đã sưu tầm và giải thích tiếng địa phương Nam

Bộ. Từ đó đến nay, phương ngữ đã được nghiên cứu toàn diện hơn, cả về ngữ âm, từ

vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp, chức năng văn hóa - xã hội... Các công trình mang tính

chất dẫn luận từ vựng học của Đỗ Hữu Châu [6], Nguyễn Thiện Giáp [18] hay tu từ

học của Cù Đình Tú [91] đều có một phần nói về phương ngữ hoặc từ ngữ địa

phương. Trong đó đáng chú ý nhất là công trình

“Phương ngữ học tiếng Việt” của Hoàng Thị Châu [9], công trình này đề cập

đến những vấn đề cơ bản nhất của phương ngữ học và các vùng phương ngữ của

tiếng Việt.

Về phương ngữ Nam Bộ, ngoài loạt bài của Bình Nguyên Lộc như đã nêu trên,

có nhiều công trình, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến vấn đề

này từ nhiều góc độ khác nhau.

Trong “Tiếng Việt trên các miền đất nước”, tác giả Hoàng Thị Châu có đề cập

đến phương ngữ Nam Bộ. Trong đó, tác giả chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm, cụ thể

là “dựa vào những phương pháp của ngôn ngữ học và phương ngữ học để miêu tả,

phân tích, giới thiệu với bạn đọc những biến thể địa phương của tiếng Việt, lí giải

các nguyên nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó”

[8;5-6]. Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy và thể hiện lịch sử phát

triển của tiếng Việt.

“Phương ngữ Nam Bộ” [33] của Trần Thị Ngọc Lang là công trình khoa học

nghiên cứu tương đối toàn diện về phương ngữ Nam Bộ. Trong công trình này, tác

giả đã miêu tả, so sánh rất tỉ mỉ và tinh tế sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa của

phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ. Trần Thị Ngọc Lang cũng là tác giả

3

của nhiều bài báo bàn về đặc điểm cấu tạo ngữ nghĩa, đặc điểm ngữ pháp, từ láy…

của phương ngữ Nam Bộ [31,32,34,35,36]

Ngoài ra, có thể kể đến một số tác giả như : Hoàng Xuân Phương [61], Nguyễn

Thanh Nhàn [48], Nguyễn Thanh Lợi [40], Nguyễn Thị Hai [20,21], Lê Trung Hoa

[26,27,28] bàn về địa danh Nam Bộ; Cao Xuân Hạo [23], Nguyễn Hoài Nguyên [47]

bàn về đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Nam Bộ; Hồ Xuân Tuyên [94,95,96,97,98],

Huỳnh Công Tín [68,69,70,71,72], Nguyễn Đức Dân [12], Nguyễn Thị Thanh

Phượng [62], Nguyễn Kim Thản [76], Mai Thanh Thắng [78,79], Hoàng Vũ [99] bàn

về đặc điểm từ vựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ …

0.3.2. Về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian

Điểm qua lịch sử nghiên cứu, có thể thấy phương ngữ Nam Bộ đã được nghiên

cứu khá toàn diện. Tuy nhiên bàn về phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian chỉ

có một số bài viết của các tác giả Lê Xuân Bột [4], Trần Văn Nam [45], Bùi Mạnh

Nhị [49], Trịnh Sâm [66], Nguyễn Văn Nở [51], Nguyễn Thế Truyền [88].

Trong bài viết “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca dao – dân ca” [88], tác

giả Nguyễn Thế Truyền đã trình bày một cách khá đầy đủ những đặc trưng của

phương ngữ Nam Bộ. Tác giả nhận thấy trong ca dao – dân ca Nam Bộ đặc biệt rất

hay gặp các từ ngữ địa phương và cách phát âm địa phương. Tác giả đã liệt kê các từ

ngữ Nam Bộ xuất hiện trong một số câu ca dao, đồng thời phân tích màu sắc địa

phương của các từ ngữ đó. Tác giả cho rằng từ ngữ được phản ánh trong ca dao – dân

ca phần lớn đều là những từ quan trọng nhất biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt

động, tính chất… rất quen thuộc, gần gũi trong đời sống của người dân địa phương.

Trong khuôn khổ một bài báo, tác giả chỉ khai thác màu sắc địa phương Nam Bộ ở

một số từ ngữ hạn chế. Tuy nhiên, bài viết đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về

ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ.

Trong bài “Một số đặc điểm ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ” [49], tác giả

Bùi Mạnh Nhị cũng bàn đến từ ngữ địa phương trong ca dao – dân ca Nam Bộ. Tác

giả cho rằng văn học dân gian Nam Bộ là một quá trình hội tụ, phát huy những truyền

thống của ngôn ngữ ca dao – dân ca dân tộc mà cha ông từ các miền ngoài mang vào,

đồng thời đó cũng là kết quả của quá trình sáng tạo liên tục trước những đòi hỏi của

4

cuộc sống mới. Với lập luận đó, tác giả đi đến khẳng định từ ngữ sử dụng trong ca

dao – dân ca Nam Bộ ngoài những từ ngữ toàn dân còn có những từ ngữ nảy sinh tại

địa phương. Tác giả đã nêu ra những từ ngữ địa phương phản ánh đời sống tình cảm

của nhân dân trên sông nước, những từ gọi tên cây trái, những môtíp quen thuộc… tất

cả đều gắn chặt với cách phát âm, cách nói, với hình ảnh tự nhiên và đời sống sinh

hoạt hằng ngày của người dân Nam Bộ. Từ đó, tác giả nhận thấy ngôn ngữ, cách nói

của ca dao – dân ca Nam Bộ thường biểu hiện ở hai cực. Một cực là nhỏ nhẹ, hiền

lành, dễ thương…Cực thứ hai là chất xông xáo, phóng túng, trẻ trung. Điều này xuất

phát từ hoàn cảnh sống, tâm trạng, tính cách, phong cách sinh hoạt của người dân nơi

đây. Người dân Nam Bộ vốn yêu ra yêu, ghét ra ghét cộng với cách nói thẳng thắn,

bộc trực nên mức độ đặc tả của ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ rất cao. Bên cạnh

đó, do không bị gò bó nhiều vào khuôn mẫu của những ước lệ nên văn học dân gian

Nam Bộ có khả năng rộng mở để tạo nên và sử dụng những từ ngữ đầy sáng tạo.

Những đóng góp của tác giả bài viết là rất cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu,

tìm hiểu về sắc thái địa phương trong ngôn ngữ ca dao – dân ca Nam Bộ nói riêng và

ngôn ngữ Nam Bộ nói chung.

Mở đầu bài viết “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương” [66], tác giả

Trịnh Sâm mong muốn mọi người phải tôn trọng ngôn ngữ địa phương trong quá

trình sưu tầm, hiệu đính ca dao – dân ca. Bởi vì, theo tác giả, nếu tìm hiểu ca dao dân

ca mà tách rời hoàn cảnh sống có nghĩa là tước bỏ đi một phần tinh hoa vốn có của

nó, đồng thời còn đánh mất một tiên chí nhận diện xuất xứ cũng như phân loại ca

dao – dân ca. Tác giả đã dẫn một số ví dụ cho thấy sự khác biệt giữa các phương ngữ

và giữa phương ngữ với tiếng Việt toàn dân. Trong đó, tác giả có nêu một số đặc

điểm của phương ngữ Nam Bộ như hiện tượng vần uân chuyển thành ưa, về thường

đọc là dìa, cách phát âm bùn thành bùng, cách đọc vần úc và út giống nhau… Từ đó,

tác giả kết luận: Phương ngữ Nam Bộ là hệ thống từ ngữ xù xì, ngồn ngộn, đầy sức

sống. Bài viết đã cung cấp những hiểu biết nhất định về phương ngữ, đồng thời còn

gợi ý một số vấn đề nghiên cứu thú vị.

Nhìn chung, hầu hết các bài viết chủ yếu nói đến từ ngữ địa phương trong ca

dao dân ca Nam Bộ, chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chi

5

tiết các yếu tố phương ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ. Trước tình hình nghiên

cứu như trên, chúng tôi mong muốn luận văn này sẽ bàn đến phương ngữ Nam Bộ

trong văn học dân gian một cách toàn diện và có hệ thống, trên cơ sở kế thừa những

thành tựu nghiên cứu của người đi trước.

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do đặc điểm của đề tài, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi không đặt vấn

đề tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ ở mọi thể loại văn học dân gian mà chỉ giới hạn tìm

hiểu phương ngữ Nam bộ trong các thể loại sau:

- Truyện cười

- Tục ngữ

- Ca dao – dân ca

0.5.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp

nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này được sử dụng để miêu tả cấu tạo từ

ngữ, các cách biểu đạt mang màu sắc địa phương.

- Phương pháp phân tích: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân tích đặc

trưng ngữ nghĩa, giá trị tu từ của các từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa

phương được sử dụng trong văn học dân gian Nam Bộ.

- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Để làm rõ nét đặc sắc của phương ngữ

Nam Bộ, luận văn có đối chiếu phương ngữ Nam Bộ với ngôn ngữ toàn dân để thấy

được sự khác biệt, nét riêng của từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương

trong văn học dân gian Nam Bộ.

Các phương pháp này có tầm quan trọng như nhau và được vận dụng xuyên

suốt luận văn.

0.6.Tư liệu nghiên cứu

Tài liệu mà chúng tôi sử dụng để khảo sát các yếu tố phương ngữ trong văn

học dân gian Nam Bộ là bộ tài liệu sưu tầm điền dã của Khoa Văn học và Ngôn ngữ,

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí

6

Minh. Tài liệu đã được Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản.

Đó là những tuyển tập do Chu Xuân Diên chủ biên:

0. Văn học dân gian Sóc Trăng (2002);

1. Văn học dân gian Bạc Liêu (2005);

Và cuốn Văn học dân gian An Giang (tài liệu sưu tầm điền dã lưu hành nội

bộ, 2010).

0.7.Đóng góp của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài có những ý nghĩa lí luận và thực tiễn như sau:

- Đóng góp vào việc tìm hiểu đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ thông qua

việc tìm hiểu từ ngữ, các cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân

gian Nam Bộ

- Thông qua việc tìm hiểu từ ngữ, cách diễn đạt mang màu sắc địa phương, góp

phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ

- Đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa Nam Bộ thông qua việc tìm hiểu từ ngữ,

cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

- Tập hợp một khối lượng lớn, bao quát hơn về từ ngữ địa phương Nam Bộ,

phục vụ cho việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu phương ngữ và văn học dân gian

Nam Bộ

0.8.Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm các nội dung chính như sau:

Chương một trình bày các cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài: phương ngữ,

phương ngữ Nam Bộ, văn học dân gian Nam Bộ, mối quan hệ giữa phương ngữ và

văn học, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

Chương hai trình bày các vấn đề liên quan đến từ địa phương trong văn học

dân gian Nam Bộ. Thông qua kết quả khảo sát về từ địa phương được sử dụng trong

văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đi sâu miêu tả đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa, giá

trị tu từ và đặc điểm văn hóa của từ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ

Chương ba miêu tả, phân tích giá trị tu từ, đặc trưng văn hóa Nam Bộ của các

cách diễn đạt mang màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ.

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1 Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ

Phương ngữ là vấn đề được các nhà ngôn ngữ học quan tâm từ lâu. Tuy nhiên,

cho đến nay khi bàn về phương ngữ vẫn còn những quan điểm chưa thống nhất, đặc

biệt là trong các vấn đề như sự phân vùng phương ngữ, vị trí của phương ngữ trong

quan hệ với ngôn ngữ toàn dân, phương ngữ và việc chuẩn hóa ngôn ngữ. Trong

khuôn khổ luận văn này, chúng tôi không đi sâu bàn bạc những vấn đề đó mà chỉ tập

trung vào các khái niệm làm cơ sở để tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ như: khái niệm

phương ngữ, sự phân vùng phương ngữ, đặc trưng của phương ngữ Nam Bộ.

1.1.1 Khái niệm phương ngữ

Theo Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn,

“phương ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng

biệt được sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ; là hệ

thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là

ngôn ngữ (cho toàn dân tộc), các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương,

phương ngôn) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng” [100;232]

. Hoàng Thị Châu định nghĩa phương ngữ một cách ngắn gọn hơn:

“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ

toàn ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn

dân hay với một phương ngữ khác” [8;24]

Ở đây, chúng tôi nhận thấy cần phân biệt ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ.

Phương ngữ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên, phương ngữ cũng là một

hệ thống hoàn chỉnh riêng của nó chứ không phải là “một cái nhánh tách ra từ thân

cây” [8;54] ngôn ngữ toàn dân. Chính vì vậy mà không thể cho rằng ngôn ngữ toàn

dân là cái trừu tượng còn phương ngữ là cái cụ thể, “phương ngữ cũng như ngôn ngữ

toàn dân đều có mặt trừu tượng và mặt cụ thể” [8;54].

8

1.1.2 Phân vùng phương ngữ tiếng Việt

Phân vùng phương ngữ là vấn đề phức tạp. Có nhiều quan điểm khác nhau bàn

về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng tiếng Việt không có vùng phương ngữ nào cả,

chỉ có một ngôn ngữ Việt mà thôi; có quan điểm cho rằng tiếng Việt có hai, ba, bốn

hoặc thậm chí là năm vùng phương ngữ. Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể các quan điểm

này [ 8;85 - 88]

- Người đưa ra quan điểm không chia vùng phương ngữ tiếng Việt là

S.C.Thomson.

- Các tác giả sau có cùng quan điểm là chia tiếng Việt thành hai vùng phương

ngữ:

+ H. Maspéro, M.V.Gordina và I.S.Bustrov chia phương ngữ Việt thành

phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung (tiếng miền Nam giống phương ngữ Bắc).

+ Hoàng Phê chia phương ngữ Việt thành tiếng miền Bắc (Hà Nội),

tiếng miền Nam (TP HCM), khu vực giữa là vùng chuyển tiếp.

- Có nhiều nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ, trong đó

tiêu biểu là Hoàng Thị Châu. Các tác giả này phân chia ranh giới các vùng phương

ngữ như sau: phương ngữ Bắc (Bắc Bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ

An đến Đà Nẵng), phương ngữ Nam (từ Đà Nẵng trở vào)

- Quan điểm chia tiếng Việt thành bốn vùng phương ngữ có những tác giả sau:

+ Nguyễn Kim Thản chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc (Bắc

Bộ và một phần Thanh Hóa), phương ngữ Trung Bắc (phía nam Thanh Hóa đến Bình

Trị Thiên), phương ngữ Trung Nam (từ Quảng Nam đến Phú Khánh), phương ngữ

Nam (từ Thuận Hải trở vào).

+ Nguyễn Văn Ái chia phương ngữ Việt thành phương ngữ Bắc Bộ (từ

các tỉnh biên giới phía Bắc đến Thanh Hóa), phương ngữ Bắc Trung bộ (từ Quảng

Nam – Đà Nẵng đến Thuận Hải), phương ngữ Nam Bộ (từ Đồng Nai, Sông Bé đến

mũi Cà Mau).

- Nguyễn Bạt Tụy chia phương ngữ Việt thành năm vùng phương ngữ: phương

ngữ Bắc (Bắc bộ và Thanh Hóa), phương ngữ Trung (từ Nghệ An đến Quảng Trị),

9

phương ngữ Trung giữa (từ Thừa Thiên đến Quảng Ngãi), phương ngữ Trung dưới

(từ Bình Định đến Bình Tuy), phương ngữ Nam (từ Bình Tuy trở vào).

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với cách phân chia các vùng phương

ngữ tiếng Việt của Nguyễn Văn Ái. Theo đó, vùng phương ngữ Nam Bộ được xác

định trùng với vùng địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ Đồng Nai, Bình Dương, Bình

Phước đến mũi Cà Mau.

1.1.3Phương ngữ Nam Bộ

1.1.3.1Xác định vùng phương ngữ Nam Bộ

Vùng phương ngữ Nam bộ được các nhà nghiên cứu quan tâm từ rất sớm. Tuy

nhiên, mỗi nhà nghiên cứu lại có một cách xác định khác nhau.

Hoàng Phê gọi tiếng Việt xuất hiện ở vùng địa lí từ Thuận Hải trở vào là tiếng

miền Nam, nơi có Sài Gòn (TP HCM) là trung tâm [57]; Nguyễn Kim Thản, Nguyễn

Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu gọi là phương ngữ Nam [77;51-69]. Tiếng Việt ở vùng

địa lí từ Bình Tuy trở vào được Nguyễn Bạt Tụy gọi là phương ngữ Nam [93]. Tiếng

Việt ở vùng địa lí trải dài từ đèo Hải Vân đến cực Nam Tổ quốc, Hoàng Thị Châu gọi

là phương ngữ Nam [8;90]. Tiếng Việt ở vùng địa lí từ Quảng Nam trở vào, Cao

Xuân Hạo cho là phương ngữ miền Nam [24;120-121].

Từ TK XVII, xuất hiện tiếng Việt ở địa phương Nam Bộ - vùng địa lí từ Đồng

Nai, Sông Bé đến mũi Cà Mau. Tiếng Việt ở vùng này được Nguyễn Văn Ái [1;10],

Trần Thị Ngọc Lang [33;7], Hồ Lê [38;229-230], Bùi Khánh Thế [82;77], Cao Xuân

Hạo [24;120] gọi là phương ngữ Nam Bộ.

Như vậy, không gian địa lí của tiếng miền Nam, phương ngữ Nam được các

tác giả xác định khá rộng. Không gian địa lí của phương ngữ Nam Bộ được xác định

hẹp hơn. Ở đây chúng tôi chọn cách xác định vùng phương ngữ Nam Bộ như sau:

Ranh giới phương ngữ Nam bộ trùng với ranh giới địa lí tự nhiên Nam Bộ, tức là từ

Bình Dương, Bình Phước đến Cà Mau.

1.1.3.2 Đặc điểm phương ngữ Nam Bộ

Bất cứ một phương ngữ nào cũng có những nét đặc trưng về ngữ âm, từ vựng –

ngữ nghĩa, ngữ pháp so với các phương ngữ khác. “Một phương ngữ được xác định

bằng một tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng – ngữ

10

nghĩa đối lập với phương ngữ khác” [8;90]. Phương ngữ Nam Bộ cũng không nằm

ngoài quy luật trên.

Trước hết, Nam Bộ là nơi có điều kiện giao thông thuận tiện. Đồng thời cũng

là nơi phát triển kinh tế hàng hóa sớm hơn các vùng khác của đất nước nên phương

ngữ Nam Bộ đã có ảnh hưởng trên một vùng dân cư rộng lớn. “Một đặc điểm nổi bật

của phương ngữ Nam Bộ là tính thống nhất cao của nó trên một vùng lãnh thổ rộng

lớn” [82;77].

Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày một số đặc điểm chính của phương ngữ Nam

Bộ về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.

- Về ngữ âm:

+ Thanh điệu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ sử dụng năm thanh điệu: ngang,

huyền, hỏi, sắc, nặng (Phương ngữ Nam Bộ không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã).

+ Phụ âm đầu: Phương ngữ Nam Bộ chỉ có 19 phụ âm, không có 3 phụ âm

cong lư ỡi /ş,

+ Vần: Trong phương ngữ Nam Bộ, âm đệm /- w-/ hoặc bị lược bỏ (luyến 

liến) hoặc được nhấn mạnh thành âm chính (loan  lon). Các nguyên âm đôi /ie, ,

uo/ khi đi với /- m, -p / cuối thì mất yếu tố sau (tiêm  tim, lượm  lựm). Các âm

đơn / ɔ, / đứng trước phụ âm cuối /-p, -m / đều thành /o/ (nom, nơm  nôm).

Âm chính /ă/ trong vần “ay” đọc thành “ai” (tay  tai).

+ Phụ âm cuối: Người Nam Bộ phát âm không phân biệt /-n/ với /-/ (tan –

tang), /- t/ với /-k/ (tắc – tắt).

- Về từ vựng – ngữ nghĩa:

Ngoài những khác biệt về ngữ âm, ở Nam Bộ còn có rất nhiều từ ngữ mang sắc

thái địa phương dùng để định danh cây cỏ, cầm thú, hoa trái; công cụ, phương tiện

sinh hoạt và lao động; địa hình; từ xưng hô; từ chỉ không gian, thời gian; từ ngữ liên

quan đến sông nước; tiếng lóng, từ mượn gốc khác như Khmer, Hoa, Pháp, Anh…

Chúng tôi sẽ trình bày cụ thể hơn về đặc điểm từ vựng – ngữ nghĩa của phương

ngữ Nam Bộ ở chương sau.

11

- Về ngữ pháp:

Giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ về cơ bản không khác nhau nhiều.

Chính sự thống nhất về ngữ pháp giữa các phương ngữ với nhau và với ngôn ngữ

toàn dân nên tiếng Việt mới đảm bảo được tính thống nhất trên toàn quốc. “Khi việc

miêu tả chỉ thu hẹp vào ngữ pháp mà thôi thì sự khác nhau giữa phương ngữ với

ngôn ngữ toàn dân thường không có gì quan trọng” [8;21]. Tuy nhiên, nói như vậy

không có nghĩa là không có trường hợp khác nhau. Trong phương ngữ Nam Bộ, có

một số đặc điểm ngữ pháp khác với ngôn ngữ toàn dân. Chính những đặc điểm này

tạo nên nét riêng của phương ngữ Nam Bộ. Phần này cũng sẽ được chúng tôi trình

bày cụ thể ở những chương sau.

1.1.3.3 Sự tiếp xúc ngôn ngữ ở Nam Bộ

Trong một xã hội có nhiều cộng đồng người nói nhiều ngôn ngữ khác nhau

cùng sinh sống thì sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ là điều tất yếu. Khi tiếp xúc sẽ có

hiện tượng giao thoa, vay mượn thậm chí là đồng hóa một số yếu tố giữa các ngôn

ngữ.

Trong tiến trình khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của Tổ quốc, người Việt đã

mang theo mang theo nét văn hóa, vốn ngôn ngữ từ cội nguồn phía Bắc đến với vùng

đất mới. Do đó, trong phương ngữ Nam Bộ, dấu vết của tiếng nói cội nguồn vẫn còn.

ẳng h Ch

bị phát âm lẫn lộn thành /s, z, t/.

Ngoài lưu dân từ Bắc Bộ, Trung Bộ, vùng đất Nam Bộ còn là nơi quần cư của

các dân tộc anh em khác như: Khmer, Chăm, Hoa…Vậy nên, trong phương ngữ Nam

Bộ có các yếu tố vay mượn ngôn ngữ của các dân tộc này là điều dễ hiểu. Khảo sát

phương ngữ Nam Bộ, ta sẽ bắt gặp nhiều yếu tố văn hóa thú vị thể hiện qua cách vay

mượn ngôn ngữ của người dân Nam Bộ.

1.2 Văn học dân gian Nam Bộ

Văn học dân gian Nam Bộ có đầy đủ các loại thể như văn học dân gian các

vùng miền khác trên cả nước: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười,

câu đố, tục ngữ, ca dao dân ca. Để thực hiện đề tài, luận văn chỉ tập trung khảo sát sự

thể hiện của phương ngữ Nam Bộ ở các thể loại truyện cười, tục ngữ, ca dao dân ca.

12

Có thể thấy trong các thể loại mà chúng tôi chọn để khảo sát, ca dao dân ca là bộ

phận có số lượng nhiều nhất. Do vậy, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số

nét về ca dao, dân ca và ca dao, dân ca Nam Bộ.

Trong văn học dân gian, ca dao, dân ca là bộ phận được sáng tác bằng các thể

thơ dân tộc kết hợp chặt chẽ với các làn điệu âm nhạc để diễn đạt những khía cạnh

khác nhau trong cảm nghĩ của con người về quê hương đất nước, lao động sản xuất,

tình duyên, gia đình, quan hệ bằng hữu và các vấn đề xã hội khác.

Về đại thể, ca dao, dân ca có thể chia thành ba bộ phận:

+ Thơ ca nghi lễ: Đây là thể loại sáng tác dân gian có nguồn gốc rất cổ,

nảy sinh trong quá trình lao động, sinh hoạt, gắn chặt với thế giới quan của người

nguyên thủy cũng như ý thức tôn giáo ở các giai đoạn sau. Thơ ca nghi lễ khi diễn

xướng sẽ kèm theo các hành động nghi lễ. Loại thơ ca này phản ánh kinh nghiệm lao

động, biểu thị những khát vọng, ước mơ của nhân dân cũng như tài nghệ sử dụng

tiếng mẹ đẻ. Ở Nam Bộ, loại thơ ca này chưa được sưu tầm nhiều. Trong ngữ liệu

khảo sát của chúng tôi chỉ có 3 bài thơ ca nghi lễ nằm trong tuyển tập văn học dân

gian Sóc Trăng.

+ Dân ca lao động: Đây là những bài ca được hò hát trong lao động với

điều kiện là tiết tấu, nhịp điệu, sắc thái biểu cảm, tốc độ, cường độ và cách thức của

nó phải gắn chặt với các quá trình của một công việc cụ thể nào đó. Hò lao động là

hình thức chủ yếu của thể loại này.

+ Ca dao – dân ca trữ tình: Đây là những bài ca mà nội dung và hình thức

diễn xướng của nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có

tính chất nghi lễ. Những bài ca này vẫn được hát trong lao động, nhưng nội dung cơ

bản của nó là nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình.

Văn học dân gian sưu tầm ở Nam Bộ thống nhất với văn học dân gian ở các

miền khác của đất nước. Tuy nhiên, văn học dân gian Nam Bộ là bộ phận sáng tác rất

trẻ của dân tộc. Nó gắn liền với quá trình khai khẩn vùng đất Nam Bộ. Vì vậy, những

yếu tố đặc trưng ở vùng đất Nam Bộ (điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người….) đã

ảnh hưởng đến ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ.Việc tìm hiểu màu sắc địa

13

phương trong văn học dân gian sẽ chỉ ra nét độc đáo, sự đóng góp riêng của từng địa

phương.

Văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân lao động, thế nên bản thân nó chứa

đựng những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân dân. Việc tìm hiểu phương ngữ

trong văn học dân gian của một vùng miền không chỉ giúp ta nhận thức sâu hơn về

ngôn ngữ của vùng miền mà còn giúp ta thấy được nét đặc trưng, cái hay, cái đẹp của

văn học dân gian vùng miền ấy.

1.3.Văn hóa Nam Bộ

1.3.1.Văn hóa và các thành tố của văn hóa

- Khái niệm văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và

tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong

sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội của mình”

[84;25].

- Theo Trần Ngọc Thêm [84;28-29], văn hóa gồm bố thành tố sau: văn hóa

nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên (tận

dụng và đối phó với môi trường) và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.

- “Văn hóa vùng là một phạm vi, một khu vực địa lí – văn hóa có đặc điểm và

bản sắc riêng” [81;5]. Như vậy, Nam bộ là một vùng văn hóa.

1.3.2 Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ

Những khám phá khảo cổ học cho chúng ta biết từ xa xưa, ít nhất là cách nay

từ 2500 đến 4000 năm, con người đã có mặt trên vùng đất Nam Bộ. Họ có mặt đầu

tiên ở vùng phù sa cổ (tức là vùng Đông Nam Bộ) ngày nay, sau đó mới tiếp tục hành

trình xuống vùng phù sa mới (tức là vùng Tây Nam Bộ ngày nay).

Chủ nhân đầu tiên của vùng đất Nam Bộ là người Phù Nam, người Chân Lạp.

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Chủ nhân ban đầu của vùng đất Nam Bộ là người Phù

Nam mà sách Tấn thư của Trung Hoa mô tả là “đen và xấu xí, tóc quăn, ở trần, đi

đất, tính tình mộc mạc, thẳng thắn, không trộm cắp” với hoạt động nông nghiệp và

giao thông đường thủy rất phát triển. Rồi đến TK VI thì Phù Nam nông nghiệp đã bị

người Chân Lạp dương tính hơn thôn tính” [81;603].

14

Từ TK XVII trở đi, Nam Bộ xuất hiện người Việt. Người Việt là những lưu

dân từ miền Bắc, miền Trung vào. Đây là những người bần cùng hoặc muốn tránh

cuộc phân tranh Trịnh – Nguyễn lúc bấy giờ mà vào Nam. Họ ra đi để kiếm sống và

cũng mong được an thân. Mặt khác, có một lớp nông dân nghèo cũng tiến vào Nam

theo chính sách đinh điền của nhà Nguyễn. “Trong sự nghiệp 300 năm mở mang,

khai phá vùng lãnh thổ phía Nam của đất nước, lớp lớp thế hệ người Việt từ vùng đất

sinh tụ lâu đời của mình là vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã và dải đất ven biển

miền Trung đã nối tiếp nhau đến lập nghiệp ngày càng đông tại địa bàn Nam Bộ

ngày nay” [38;3]. Ngoài ra, thời kì này còn có lính tráng, các tội đồ bị triều đình bắt

buộc vào Nam lập đồn điền, bảo vệ biên cương phía Nam của đất nước.

Những người dân nghèo này chinh phục vùng đất phía Nam bằng bàn tay, bằng

khối óc, bằng sự cần cù, chăm chỉ: “Nam Kì được chinh phục không phải bằng thanh

gươm, vó ngựa mỗi ngày đi hàng chục dặm mà bằng lưỡi cày, đôi trâu đi từng bước

một” [50;60].

TK XVII, XVIII, người Hoa từ các tỉnh Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông,

Quảng Tây, Hải Nam (Trung Quốc) dắt díu nhau vào khu vực đồng bằng sông Cửu

Long lập nghiệp. Cả người Pháp, Anh, Mã Lai, Ấn Độ cũng có mặt ở Nam Bộ.

TK XIX, lưu dân Việt có mặt ngày càng đông ở phía Nam sông Hậu. Họ đã

chinh phục vùng đất mới, biến một vùng hoang dại thành vùng đất trù phú, cây trái

sum sê.

Tóm lại, Nam Bộ là nơi quần cư của nhiều dân tộc anh em: người Việt, người

Hoa, người Chăm, người Khmer…Lớp dân cư đông nhất là người Việt. Nơi tập trung

đông nhất của họ là những vùng đất dễ làm, có nước ngọt, thuận lợi cho việc trồng

lúa nước. Người Khmer là dân tộc đông thứ hai ở Nam Bộ. Họ thường định cư, canh

tác trên những vùng đất cao, màu mỡ. Các dân tộc lập làng, dựng nhà cạnh nhau,

đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau trong cuộc sống . Tuy nhiên, dân tộc nào theo

phong tục của dân tộc đó, tuy có ảnh hưởng lẫn nhau nhưng không nhiều.

1.3.3 Đặc trưng văn hóa Nam Bộ

Khi tiến vào vùng đất phía Nam, người Việt đã mang theo mình một nền văn

hóa Việt. Trước điều kiện sống mới, con người đã có những cách ứng xử mới cho

15

phù hợp. Chính vì vậy mà văn hóa Việt truyền thống đã được người Việt ở phương

Nam vận dụng linh hoạt hơn. Từ đó, hình thành một vùng văn hóa Nam Bộ có bản

sắc riêng, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam nói chung.

Có thể phác thảo vài nét đặc trưng về văn hóa Nam Bộ như sau: “Vùng văn hóa

Nam Bộ có hai tiểu vùng: Đông Nam Bộ (lưu vực sông Đồng Nai và sông Sài Gòn)

và Tây Nam Bộ (lưu vực sông Cửu Long), với khí hậu hai mùa (mưa – khô), với

mênh mông sông nước và kênh rạch. Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá đã

nhanh chóng hòa nhập với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân bản địa (Khmer, Mạ,

Stiêng, Chơro, Mnông). Nhà ở có khuynh hướng trải dài ven kênh, ven lộ; bữa ăn

giàu thủy sản; tính cách con người ưa phóng khoáng; tín ngưỡng, tôn giáo hết sức

phong phú và đa dạng; sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với

văn hóa phương Tây…”[84;63].

Trong cách ứng xử với tự nhiên, người Việt ở Nam bộ vẫn giữ được nếp sống

hòa hợp và tôn trọng. Sinh hoạt và sản xuất ở Nam bộ luôn gắn với những thay đổi,

biến động của con nước, của dòng sông và thủy triều. Những biểu hiện của văn minh

sông nước thể hiện rõ trong phương thức lao động, trong nhịp sống sinh hoạt, trong

tín ngưỡng, trong phong tục và ngôn ngữ.

Trong lối ứng xử xã hội, người Việt phương Nam vẫn giữ được sự mềm dẻo,

hiền hòa của con người gốc nông nghiệp. Họ thích ứng với môi trường linh hoạt hơn,

ít câu nệ, thiết lập những quan hệ được quy định bởi điều kiện sống. Làng Nam Bộ

“ở tản ra dọc theo những con kênh, con lộ để tiện làm ăn”, “làng xã Nam Bộ không

có những thiết chế quá chặt chẽ (nhiều làng không có hương ước, thần tích, thần

phả)” [84;198]. Thôn ấp thuở ban đầu có đặc điểm là “dễ hợp dễ tan”. Những người

tứ phương đến lập làng lập ấp, thấy làm ăn khó thì lại tìm nơi khác. Do đó, “thành

phần dân cư Nam Bộ thường hay biến động, người dân không bị gắn chặt với quê

hương như ở làng Bắc Bộ” [84;198].

Tính cách con người Nam Bộ là sự biểu hiện của con người Việt Nam trong

những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội nhất định. Đó là đức cần cù, là sự đoàn kết giúp

đỡ thương yêu nhau. “Dù làm ăn dễ dãi, người nông dân Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù.

Dù kinh tế hàng hóa phát triển, người Việt ở Nam Bộ vẫn coi trọng tính cộng đồng”

16

[84;199]. Đặt chân đến vùng đất mới, những lưu dân đã nhanh chóng kết thành chòm

xóm. Họ dựa vào nhau làm ăn, sinh sống, chống lại thú dữ, chống lại cường hào ác

bá… Người Nam Bộ can trường, gan góc, không lùi bước trước bất kì trở ngại nào

của tự nhiên cũng như những bất công, vô lí của xã hội.

Trong giao tiếp, người Nam Bộ bộc trực, chất phác, thẳng thắn, ít nói văn hoa,

rào đón. “Người dân đồng bằng sông Cửu Long – Đồng Nai vẫn chân thật, trung tín,

cởi mở, bộc trực, tình cảm (lắm khi có tính chất nguyên thủy), xử sự với người ngay

một cách không suy tính thiệt hơn. Họ cũng đòi hỏi kẻ khác cũng như vậy đối với họ”

[50;161-162].

Người Nam Bộ ít chịu sự ràng buộc của đạo đức Khổng – Mạnh, ít thuần phục

quyền uy phong kiến. Một quá khứ với bao khuôn phép gò bó, những quan niệm cổ

hủ đã được họ “cởi bỏ lại đằng sau để sáng tạo ra một phong cách sống tự do, phóng

khoáng hơn và làm cho nền đạo lí giàu tính nhân ái của dân tộc ánh lên những sắc

màu độc đáo. Họ không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng cứu khốn phò nguy,

sống cái đạo làm người “kiến ngãi bất vi vô dũng dã”” [38;68].

1.3.4 Những tác động của văn hóa đối với ngôn ngữ và văn học dân gian

- Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa:

Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ chặt chẽ. Ngôn ngữ là công cụ của

văn hóa vì không có ngôn ngữ thì không có một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra

được. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa.

Đỗ Hữu Châu viết: “Văn hóa là một tổng thể gồm nhiều hợp phần nên ngôn ngữ phục

vụ mỗi hợp phần theo những cách thức khác nhau” [7;2]. Hồ Lê khẳng định: “Trên

lĩnh vực văn hóa bao la thì ngôn ngữ là một bộ phận. Trước hết ngôn ngữ là sản

phẩm do loài người tạo ra và vì thế nó cũng được loài người nhận thức, được nhận

thức ngay trong quá trình nó được tạo ra và được nhận thức ngày càng sâu hơn

trong quá trình nó tồn tại và phát triển” [38;333].

Trên phương diện giao tiếp, ngôn ngữ được xem là hình thức biểu hiện của văn

hóa. Ngôn ngữ trực tiếp biểu hiện những, tình cảm, cách nghĩ, nếp sống hằng ngày

của con người. Trong quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa cá nhân với

17

cộng đồng, ngôn ngữ đã trở thành một chiếc cầu nối, trở thành một phương tiện biểu

hiện cách ứng xử văn hóa.

Tuy nhiên, ngôn ngữ không chỉ là hình thức biểu hiện của văn hóa mà còn là

một hợp phần của văn hóa. “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa nhưng đồng thời nó

cũng là một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất của văn hóa” [7;2].

Bàn về mối quan hệ này, Cao Xuân Hạo viết:“Những ảnh hưởng của các nhân tố văn

hóa đối với cấu trúc của một ngôn ngữ là điều khó có thể hồ nghi, tuy không phải bao

giờ cũng dễ chứng minh. Và do đó, ít ra cũng có thể tìm thấy những sự kiện ngôn ngữ

nào đó có thể cắt nghĩa được bằng những sự kiện thuộc bản sắc văn hóa của khối

cộng đồng nói thứ tiếng hữu quan, và đến lượt nó, các sự kiện ngôn ngữ lại có thể

gợi cho ta những điều hữu ích về cách cảm nghĩ của người bản ngữ và từ đấy về nền

văn hóa của họ” [24;289].

Mặt khác, nhìn từ góc độ tri nhận, có thể nói “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn

ngữ đều phản ánh một cách hình dung về thực tại khách quan của cộng đồng văn hóa

– bản ngữ đó, thường được gọi là mô hình thế giới, bức tranh thế giới, hình ảnh thế

giới hay biểu tượng về thế giới…” [80].

Tóm lại, “ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ gắn bó với nhau, không thể

tách rời nhau. Ngôn ngữ là chất liệu truyền tải văn hóa, văn hóa là cái hàm chứa

trong ngôn ngữ . Sự sáng tạo về văn hóa thường không thể tách rời khỏi ngôn ngữ,

còn sự biến đổi và phát triển của ngôn ngữ lại luôn luôn đi song song với sự biến đổi

và phát triển của văn hóa” [59]. Đồng thời, “hệ thống từ ngữ của một ngôn ngữ là

một cuốn bách khoa toàn thư văn hóa của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định” [7;2].

Như vậy, việc tìm hiểu ngôn ngữ của một vùng miền nào đó không chỉ cung

cấp cho ta những hiểu biết về cách sử dụng ngôn ngữ của vùng miền mà còn cho ta

thấy đặc trưng văn hóa của vùng miền ấy.

TIỂU KẾT

Nam Bộ là vùng đất mới, nằm ở phía Nam Tổ quốc, được xác định ranh giới

địa lí từ Bình Dương, Bình Phước đến mũi Cà Mau. Tuy còn rất trẻ nhưng Nam Bộ

cũng đã kịp hình thành những nét văn hóa đặc trưng, phân biệt với văn hóa các vùng

18

khác. Ngôn ngữ và văn hóa lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Vì thế mà tìm hiểu

phương ngữ Nam Bộ cũng góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa Nam Bộ.

Văn học dân gian Nam Bộ nằm trong mạch chảy của văn học dân gian dân tộc.

Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên đặc thù, hoàn cảnh lịch sử đặc thù mà văn học dân

gian Nam Bộ có những nét khác biệt nhất định so với văn học dân gian các vùng

khác. Một trong những biểu hiện của sự khác biệt đó là ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sử

dụng trong văn học dân gian Nam Bộ không chỉ thể hiện thói quen sử dụng ngôn ngữ

của người dân Nam Bộ mà còn thể hiện tính cách, tâm tình của người Nam Bộ.

19

CHƯƠNG 2

TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG

TRONG VĂN HỌC DÂN GIAN NAM BỘ

2.1. Kết quả khảo sát

Để tìm hiểu từ ngữ địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi đã

tiến hành khảo sát từ ngữ địa phương Nam Bộ trong các tài liệu sau:

(1) Văn học dân gian Bạc Liêu, 2002, NXB Văn nghệ TPHCM

(2)Văn học dân gian Sóc Trăng, 2005, NXB Văn nghệ TPHC

(3)Văn học dân gian An Giang, 2010, Tài liệu điền dã lưu hành nội bộ

Tất cả các tuyển tập trên đều là kết quả điền dã của Khoa Văn học và Ngôn

ngữ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM.

Ba tuyển tập có 971 tục ngữ, 2355 bài ca dao dân ca, 463 truyện cười. Trong

luận văn này, chúng tôi tập hợp các từ ngữ mang màu sắc Nam Bộ gồm: những từ

riêng có ở Nam Bộ, những từ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng được người dân

Nam Bộ sử dụng không hoàn toàn giống với cách dùng trong ngôn ngữ toàn dân,

những biến thể ngữ âm của từ, những danh từ riêng (cụ thể là địa danh ở Nam Bộ),

những cách diễn đạt mang màu sắc Nam Bộ. Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận

thấy các yếu tố của phương ngữ xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam

Bộ. Đồng thời, chính những yếu tố phương ngữ ấy đã góp phần làm nên bản sắc rất

riêng của văn học dân gian Nam Bộ.

Dưới đây là bảng thống kê các từ ngữ địa phương xuất hiện với tần số cao

trong nguồn ngữ liệu khảo sát:

20

Bảng 2.1

Số lần Từ ngữ Stt xuất Nghĩa địa phương hiện

Từ ngữ biến âm

so với ngôn ngữ

toàn dân

1 Biểu 25 (1)Bảo, nói điều gì với ai đó

(2)Sai khiến người khác làm một điều

2 Dìa 15 Về, di chuyển trở lại chỗ ở trước đó

của mình

3 Đương 15 Đang, biểu thị sự việc, hiện tượng

diễn ra, chưa kết thúc

4 Thiệt 10 (1) Thật, đúng với tên gọi, khái niệm

(2) Ngay thẳng, có thế nào bộc lộ thế

ấy

5 Tui 30 Tôi, cách xưng hô của người nói khi

tiếp chuyện với những đối tượng

ngang hàng hoặc nhỏ hơn

Từ ngữ có trong

ngôn ngữ toàn

dân nhưng mang

ý nghĩa khác

6 Đau 10 Bệnh, ốm, ở trạng thái ở trạng thái cơ

thể hoạt động không bình thường

7 Lội 8 (1) Bơi, di chuyển trong nước hoặc

nổi trên nước bằng cử động của thân

21

thể

(2) Di chuyển, có thể bằng phương

tiện nhưng thường là bằng chân

8 Thương 145 Yêu, có tình cảm thắm thiết giữa hai

người khác giới

Từ ngữ chỉ có ở

Nam Bộ

9 Bậu 65 Tiếng gọi người tiếp chuyện với mình,

khác giới tính, có ý thương mến, thân

mật

Đạt tiêu chuẩn, đạt yêu cầu, làm cho 10 Đặng 1 50

có thể hài lòng, hoặc đủ điều kiện để

thực hiện

Để, để mà; từ biểu thị điều sắp nói là Đặng 2 20 11

mục đích mà người nói muốn đạt tới

Ao được đào sâu có bờ chắn giữ nước Đìa 15 12

để nuôi cá

Từ người lớn dùng để tự xưng một Qua 75 13

cách thân mật với người nhỏ, hoặc

cách tự xưng có đôi chút tính chất

khách quan nhưng thân tình

Cha, cách xưng gọi người đàn ông có Tía 40 14

con, trong quan hệ cha con

Yêu, chấp nhận lấy làm chồng vợ Ưng 25 15

Tổng cộng 548 lần

Với một số từ ngữ hạn hẹp được nêu ở bảng trên, ta đã thấy từ ngữ địa phương

xuất hiện với tần số cao trong văn học dân gian Nam Bộ (548 lần), chưa kể đến hàng

loạt các địa danh, tên các sản vật chỉ riêng có ở Nam Bộ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng

văn học dân gian Nam Bộ là kho tư liệu phong phú để tìm hiểu cả phương ngữ Nam

22

Bộ lẫn văn hóa Nam Bộ. Đồng thời, khi làm sáng tỏ các đặc điểm về từ địa phương

và văn hóa Nam Bộ cũng có thể góp phần làm rõ đặc trưng của văn học dân gian

Nam Bộ.

2.2. Màu sắc địa phương và đặc trưng văn hóa

Trong “Từ vựng học tiếng Việt”, Nguyễn Thiện Giáp viết: “Từ địa phương là

những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương, từ địa phương là một

dạng biến thể của vốn từ vựng của ngôn ngữ dân tộc” [18;292]. Từ địa phương phát

sinh do khoảng cách địa lí, điều kiện tự nhiên, sự kiện lịch sử, phong tục, tập quán

của một cộng đồng người. Vì vậy, từ địa phương mang đậm dấu ấn văn hóa nơi sinh

ra nó. Đồng thời, nó cũng có những khác biệt nhất định về ý nghĩa, sắc thái biểu cảm

so với từ toàn dân.

Ngoài ra, trong ngôn ngữ học, từ là kết quả của hoạt động định danh. Hiện thực

thường được gọi tên theo cách tri nhận của con người. Sự gọi tên này đã tạo ra các từ

và các đơn vị tương đương. Từ là kết quả của hoạt động phân cắt hiện thực của con

người. Phân cắt hiện thực là biểu hiện đặc trưng văn hóa của từng dân tộc. Mỗi dân

tộc sống trong một môi trường tự nhiên khác nhau, tuy quy luật tư duy của các dân

tộc trong quá trình nhận thức là giống nhau nhưng cảm nhận, phân tích, gọi tên các

hiện tượng thiên nhiên lại không hoàn toàn giống nhau. Khả năng quan sát cùng với

thói quen, phong tục tập quán làm cho mỗi cộng đồng có cách định danh khác nhau.

Vì vậy, ý nghĩa của từ không chỉ lưu giữ kinh nghiệm, tri thức mà nó còn lấp lánh

trong đó một nền văn hóa. “Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con

người đã thu nhận, tích lũy được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan (…).

Ngoài ra, trong ý nghĩa của từ cũng còn ghi lại cả những yếu tố văn hóa dân tộc như:

các hình ảnh, cách so sánh truyền thống, sự biểu trưng…” [85;62]. Cùng một đối

tượng có thể được gọi tên khác nhau tùy thuộc vào tâm lí của cộng đồng, văn hóa

cũng như điều kiện tự nhiên xã hội của mỗi vùng.

Nam Bộ là vùng đất phía Nam của Tổ quốc. Vùng đất này có lịch sử, điều kiện

thiên nhiên khác với các vùng khác. Chính môi trường thiên nhiên, điều kiện sống đã

tạo nên một vùng văn hóa rất đặc trưng. Các từ địa phương trong văn học dân gian

Nam Bộ góp phần thể hiện những nét văn hóa đặc trưng của vùng.

23

2.2.1. Từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng

2.2.1.1. Từ ngữ chỉ địa danh

Địa danh là các danh từ có nghĩa tổng quát để chỉ vị trí địa lí, các đơn vị được

xác định trong tổ chức hành chính, quân sự, xã hội. Việc đặt tên các địa danh chịu sự

chi phối của lịch sử, xã hội, văn hóa.

Việc định danh trong địa danh không hoàn toàn võ đoán mà gắn với một vùng

hạn định nào đó. Vì vậy, địa danh chịu sự chi phối của môi trường tự nhiên, lịch sử,

văn hóa…

Trong hoạt động xã hội, việc đặt tên cho một vùng địa lí, một đơn vị hành

chính là nhu cầu tất yếu. Địa danh vừa là hiện tượng của ngôn ngữ học vừa là một

hình thức thể hiện văn hóa của cộng đồng cư dân đã từng hiện diện trong vùng lãnh

thổ tương ứng.

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều địa danh được nhắc

đến trong văn học dân gian Nam Bộ.

a) Địa danh Hán Việt

Từ nguồn ngữ liệu khảo sát, chúng tôi thống kê được 22 địa danh Hán Việt, với

tần số xuất hiện là 58 lần.

Trong các địa danh Hán Việt, người Nam Bộ thường lựa chọn các yếu tố Hán

Việt mang ý nghĩa những điều tốt lành để đặt tên cho một vùng đất nào đó.

+ Phú( giàu có): An Phú, Phú Quốc, Thạnh Phú

Ai qua sông Đốc Thị Tam

Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên

+ Phước (tốt lành, giàu sang): Thường Phước, Phước Long

Tàu vượt Phước Long, tàu chạy về Phụng Hiệp

Em đưa anh về cho kịp chuyến đi

Anh đi bảo vệ quê nhà

Thương về Ninh Hóa xã nhà quê em

+ Thạnh (thịnh vượng): Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Phong

Ai về Thạnh Phú, Thạnh Phong

Nhắn anh chiến sĩ biên phòng nhớ thương

24

+ Vĩnh (lâu dài): Vĩnh Hưng, Vĩnh An, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Vĩnh Mỹ,

Vĩnh Thông

Sông Vĩnh An tuy dài mà hẹp

Gái Vĩnh An không đẹp mà duyên

+ An (êm đềm): An Giang, An Phú, Vĩnh An, An Bình, An Phú, Hòa An

Muốn ăn cơm trắng cá mè

Muốn đội nón lá thì về An Giang

+ Mỹ (đẹp): Thạnh Mỹ, Mỹ Lồng, Vĩnh Mỹ, Long Mỹ, Mỹ Thuận, Bình Mỹ

Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu

Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam

+ Long (con rồng, tốt thịnh): Long Điền, Phước Long, Long Mỹ

Long Điền, chợ Thủ quê anh

Trai chuyên nghề tủ, gái sành cửi canh

+ Bình (bằng phẳng, yên ổn, hòa hảo): Vĩnh Bình, Hòa Bình, An Bình,

Bình Mỹ

Anh đi ghe từ Vĩnh Long đi Vĩnh Mỹ

Xuống tàu thủy đi tuốt Vĩnh Bình

Trước là thăm viếng gia đình

Sau nhờ mai mối cho hai đứa mình kết duyên

Trong số các yếu tố Hán Việt chỉ những điều tốt lành thì yếu tố vĩnh và an có

tần số xuất hiện cao nhất (6 lần), sau đó là các yếu tố bình và mỹ (3 lần), thạnh (2

lần).

Từ những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ, ta thấy được ước nguyện của cha ông

thời mở đất. Trước hết, đó là mơ ước có một cuộc sống yên ổn, tốt lành, sau đó là mơ

ước có được cuộc sống sung túc và thịnh vượng. Cuộc sống tốt lành, thịnh vượng

không chỉ là mơ ước của riêng người dân Nam Bộ, tuy nhiên, đối với người dân Nam

Bộ, mơ ước ấy thường trực hơn và cháy bỏng hơn. Những người đầu tiên khai phá

vùng đất Nam Bộ, họ phải đối mặt với vô vàn khó khăn: vùng đất này hoàn toàn mới

mẻ và xa lạ, thiên nhiên mênh mông và hoang sơ. Con người đã gắng hết sức chinh

25

phục thiên nhiên đồng thời không ngừng mơ đến một cuộc sống sung túc ở tương lai.

Điều này thể hiện rõ trong hàng loạt những địa danh Hán Việt ở Nam Bộ.

b) Địa danh thuần Việt

* Địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người

Bảng 2.2.1.1a

Địa danh có nguồn gốc từ ngôn Stt Số lần xuất hiện ngữ các dân tộc ít người

1 Bạc Liêu 10

2 Cà Mau 6

3 Cần Thơ 5

4 Mĩ Tho 2

5 Sa Đéc 1

6 Sóc Trăng 4

7 Trà Cú 1

8 Trà Kha 2

9 Trà Ôn 2

10 Trà Sô 2

11 Trà Vinh 4

Tổng cộng 39 lần

Chúng tôi xếp những địa danh trên vào loại địa danh thuần Việt vì trong quá

trình sử dụng các địa danh này đã được Việt hóa. Các địa danh kiểu này ưu tiên cho

mục đích giao tiếp. Người sử dụng không cần phải tìm hiểu xem địa danh đó có

nguồn gốc từ đâu và phát âm thế nào cho đúng. Địa danh Cần Thơ là địa danh quen

thuộc đến nỗi không còn ai nhận ra nguồn gốc Khmer của nó. Cần Thơ có gốc là từ

Kìn Tho (cá sặt rằn) trong tiếng Khmer. Đây là cách đặt tên địa danh theo kiểu lấy tên

loài động vật có nhiều ở một vùng đất nào đó để đặt tên cho vùng đất ấy.

Các địa danh Khmer được Việt hóa xuất hiện nhiều trong văn học dân gian Sóc

Trăng, nơi có nhiều người Khmer sinh sống. Điều này, xét ở góc độ văn hóa, cho

thấy người Việt rất tôn trọng các cư dân khác. Người Việt đối xử với người Khmer

26

như một trong những chủ nhân của vùng đất mới này. Những địa danh Khmer được

Việt hóa còn cho thấy nét văn hóa đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư sống xen kẽ

nhau.

* Địa danh gốc Việt

Dưới đây là bảng thống kê những địa danh gốc Việt xuất hiện trong văn học

dân gian Nam Bộ:

Bảng 2.2.1.1b

STT Địa danh thiên nhiên Số lần xuất hiện

1 Ba Gáo 1

2 Bảy Núi 4

3 Cái Bè 1

4 Cái Dầu 1

5 Cái Ngang 1

6 Cái Răng 2

7 Cái Thia 1

8 Cầu Sập 1

9 Chốn Ba Dừa 1

10 Chợ Đáy 3

11 Chợ Giồng 2

12 Chợ Lớn 5

13 Chợ Mới 4

14 Cồn Cát 4

15 Cồn Tiên 1

16 Cù lao Ông Chưởng 3

17 Cửa Tùng 1

18 Giồng Giữa 2

19 Gò Công 3

20 Kinh Cùng 2

21 Kinh Đào 2

27

22 Kinh Một 1

23 Kinh Ông Huyện 2

24 Kinh Vĩnh Tế 3

25 Núi Cấm 2

26 Núi Sam 6

27 Rạch Cỏ Thum 1

28 Rạch Giá 4

29 Sông Cái 1

30 Sông Đốc Thị Tam 1

31 Sông Tiền 2

32 Vàm kênh Ba Láng 5

33 Vàm Lau 1

34 Vàm Nao 3

35 Vàm xáng Phong Điền 5

36 Xứ Bạc 4

37 Xứ Cây Bàng 1

Tổng cộng 96 lần

Có một số địa danh bắt đầu bằng những từ có gốc thuộc ngôn ngữ khác như

vàm, cù lao thế nhưng chúng tôi vẫn xếp chúng vào loại địa danh gốc Việt. Đó là vì

mức độ Việt hóa của các từ trên rất cao, chúng được người dân ở Nam Bộ nhận thức

và sử dụng như những đơn vị thuần Việt.

Các địa danh loại này có đặc điểm cấu tạo chung như sau:

(1)Yếu tố đứng trước chỉ các vật thể tự nhiên:

+ Sông:Sông Cái, Sông Tiền, sông Hậu

Đưa tay phân chứng với trời

Người này gá nghĩa ở đời với tôi

Nước ròng sông Hậu chảy xuôi

Trời đã xây định mình với tôi vợ chồng

+ Rạch: Rạch Cỏ Thum, Rạch Giá

28

Anh đi Rạch Giá qua truông

Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em

+ Cù lao: Cù lao Ông Chưởng

Chiều chiều quạ nói với diều

Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm

+ Cồn: Cồn Tiên, Cồn Cát

Tàu Nam Giang chạy ngang cồn Cát

Xuồng câu tôm đậu sát mé nga

Thấy em có một mẹ già

Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không?

+ Giồng: Giồng Giữa, giồng Cồn Tiên

Ai qua sông Đốc Thị Tam

Ai về An Phú ghé giồng Cồn Tiên

+ Kinh: Kinh Ông Huyện, Kinh Đào, Kinh Cùng, Kinh Một

Ai đi kinh Xáng, kinh Cùng

Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi

+ Núi: Núi Sam, Núi Sập

Ai về Bình Mỹ, Cái Dầu

Đi lên Châu Đốc phải đi về núi Sam

+ Vàm: Vàm Nao, Vàm Lau

Thuyền trôi Châu Đốc thả xuống Vàm Nao

Thẳng tới Ba Sào coi chừng con nước nổi

(2)Yếu tố đứng sau chỉ tên một loài động thực vật hoặc tên một nhân vật:

+ Thực vật, động vật: vàm Lau, rạch Cỏ Thum, Rạch Giá

+ Tên một nhân vật: cù lao Ông Chưởng, kinh Ông Huyện, kinh Vĩnh Tế,

sông Đốc Thị Tam

Qua các địa danh gốc Việt ở Nam Bộ, ta thấy được khung cảnh sinh hoạt của

người dân trên một vùng địa lí có núi, có sông, có những vùng đất nổi lên giữa dòng

sông được người dân gọi là cù lao, cồn, bãi. Đó là một vùng địa lí có cấu trúc địa

hình rất phong phú, chủ yếu là gắn với sông nước.

29

Ngoài ra, Nam Bộ là vùng đất nông nghiệp trù phú. Vì thế mà nhiều sản vật

nông nghiệp hay những loài cây cỏ gắn bó với đời sống nông nghiệp của địa phương

được đưa vào địa danh: giá, dừa, gáo, lau, cỏ thum …Việc gọi tên xứ sở mình đang

sống bằng chính sản vật của địa phương, bằng những gì gần gũi nhất vừa thể hiện

niềm tự hào của người dân về nơi mình sinh sống vừa thể hiện tấm lòng tri ân của

người dân đối với thiên nhiên.

Xét ở khía cạnh khác, văn học dân gian là tác phẩm của nhân dân lao động nên

những mảng hiện thực nào gần gũi nhất với đời sống người dân sẽ được đưa vào văn

học một cách tự nhiên nhất, không cần dụng công nhiều. Điều này giúp ta giải thích

được vì sao trong văn học dân gian Nam Bộ, những địa danh nôm na, bình dị xuất

hiện với tần số cao hơn các địa danh có yếu tố Hán Việt (địa danh thuần Việt xuất

hiện 96 lần, trong khi địa danh Hán Việt xuất hiện 58 lần), đặc biệt là các địa danh

bắt đầu bằng những từ chỉ địa hình như vàm, kinh, cù lao, ngã ba, giồng, chợ, cầu.

Điều này đã trở thành đặc điểm đặc trưng của tiếng Việt ở Nam Bộ như nhà nghiên

cứu Đào Thản đã nhận xét: “Tiếng Việt Nam Bộ có xu hướng ưu tiên chọn lựa những

yếu tố nôm na, gốc rễ hơn là đi vay mượn chữ nghĩa. Việc đặt tên đất, tên người ở

đây phản ánh xu hướng đó” [75]. Qua các địa danh gốc Việt trong văn học dân gian,

ta có thể hình dung được quang cảnh tự nhiên, nếp sinh hoạt của người dân Nam Bộ.

Đó là vùng đất có nhiều sông ngòi, kênh rạch; làng xóm được xây dựng dọc theo hai

bờ sông; việc có nhiều sông ngòi và nếp sinh hoạt gắn với sông nước đã làm cho

người dân có ý thức phân biệt rất rõ các loại địa hình tự nhiên gắn với sông nước như

vàm, xẻo, gành, cù lao….

Địa danh gốc Việt ở Nam Bộ còn thường được bắt đầu bằng yếu tố cái: Cái Bè,

Cái Thia, Cái Ngang, Cái Dầu, Cái Răng..

Khen ai khéo bắt Cầu Kè

Cái Thia đi xuống, Cái Bè đi lên

Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No

Anh có thương em thì sắm một chiếc đò

Để đường qua lại em mua cò gửi thư

30

Cái ở đây vốn có nghĩa là sông nước. Nếu những địa danh bắt đầu bằng kẻ là

đặc trưng của địa danh phía Bắc thì những địa danh bắt đầu bằng cái là đặc trưng của

địa danh vùng đất Nam Bộ. Những địa danh bắt đầu bằng cái mang đậm màu sắc

Nam Bộ, khó có thể lẫn lộn với nơi khác vì nó nảy sinh từ điều kiện tự nhiên đặc

trưng của vùng – nhiều sông ngòi chằng chịt nhưng tất cả các sông, ngòi, kinh, rạch

nhỏ thường đổ về một sông lớn gọi là sông cái.

Có một số địa danh mang tên người ở Nam Bộ xuất hiện trong văn học dân

gian. Tên người được lấy làm địa danh thường là những người có công lao đối với

vùng đất ấy. Kinh Vĩnh Tế là con kênh nối liền Châu Đốc và Hà Tiên. Đây là công

trình của Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh - Thoại Ngọc Hầu. Địa danh kinh Vĩnh Tế được

đặt theo tên phu nhân của ông là bà Châu Thị Tế thuộc dòng họ Châu Vĩnh.

Kinh Vĩnh Tế, biển Hà Tiên

Thuyền về xuôi ngược thông thiên hai miền

Có những địa danh, trong cấu tạo, tên người không trực tiếp xuất hiện nhưng

lại gắn với một câu chuyện kể về một nhân vật cụ thể nào đó. Địa danh Cao Lãnh gắn

với câu chuyện về ông bà Đỗ Công Tường, có tục danh là Lãnh. Dân gian kể rằng,

năm 1820 (Canh Thìn), ở vùng đất nọ, nạn dịch tả hoành hành dữ dội. Dân chúng bị

bệnh, nhiều người chết, làng xóm tiêu điều. Ông Lãnh đã lập bàn thờ khấn vái trời

đất, nguyện thế mạng mình để cầu cho dân chúng thoát cảnh đau thương. Mấy ngày

sau, ông bà mắc bệnh qua đời. đồng thời, nạn dịch tả cũng hết. Từ đó, người dân đã

lấy tên tục của ông bà, cùng với chức vụ của ông bà (câu đương) để đặt tên cho vùng

đất đó là Câu Lãnh. Sau này đọc chệch thành Cao Lãnh.

Đường nào sang cho bằng đường Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cái Răng

Như vậy, có thể thấy, các địa danh gắn liền với tên người thể hiện lòng tri ân

đối với người có công. Đồng thời, chúng cũng góp phần ghi lại một giai đoạn lịch sử

của vùng đất ấy. Nó còn đọng lại dấu ấn của một thời vất vả, gian nan, con người tìm

mọi cách để khắc phục, chế ngự thiên nhiên. Đồng thời, các địa danh này còn thể

31

hiện truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam: uống nước nhớ nguồn, nghĩa tình,

thủy chung.

Các địa danh chỉ các công trình do con người xây dựng ở Nam Bộ cũng có

những đặc điểm khó lẫn lộn với nơi khác. Các địa danh chỉ các công trình do con

người xây dựng chỉ một nơi chốn có tính chất định vị để phân biệt với các vị trí khác

nhưng không gian được định vị hẹp hơn. Ở Nam Bộ, trong loại này, những địa danh

bắt đầu bằng yếu tố “cầu” và “chợ” chiếm đa số.

Ở Nam Bộ, nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hóa xuất hiện sớm. “Từ cuối TK

XVI, khi người Việt đến đây khai phá, lập nghiệp thì cũng chính là lúc phương Tây

nhòm ngó và đặt chân vào, cho nên dễ hiểu là tại sao Đàng Trong lại chịu ảnh hưởng

kinh tế hàng hóa tiểu tư sản cao hơn Đàng Ngoài” [84;603]. Vì vậy, chợ xuất hiện

nhiều ở các khu vực dân cư, nghề buôn bán rất phát triển. “Trong khi người dân ở

Bắc Bộ coi buôn bán là nghề xấu thì người Việt ở Nam Bộ không những đã chấp

nhận mà còn coi buôn là một “đạo”, còn là một “đạo” vui” [84;199]. Chợ Lớn ở

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những nơi buôn bán sầm uất nhất khu vực miền

Nam lúc bấy giờ.

Chợ ở Nam Bộ vẫn gắn liền với hệ thống kênh rạch, gắn liền với sông nước.

Cách đặt tên chợ cũng để lại dấu ấn của những con người chất phác, không ưa cầu kì,

thích cái giản dị và mộc mạc: một chợ mới được thành lập người ta thường gọi tắt là

chợ Mới và lâu dần thành địa danh; chợ buôn bán sầm uất thì được gọi ngắn gọn là

Chợ Lớn. Một chữ lớn ngắn gọn nhưng thể hiện đầy đủ các yếu tố như diện tích, quy

mô của chợ, số lượng người buôn bán, số lượng mặt hàng buôn bán…; tất cả đều

không nhỏ.

Do địa hình có nhiều kênh rạch nên mật độ cầu ở Nam Bộ rất dày. Tên cầu

thường là những cái tên dân dã, mang dáng dấp của nền văn hóa nông nghiệp. Ngoài

ra, người Nam Bộ còn lấy ngay vật liệu làm cầu để gọi tên: cầu Ván, cầu Sắt; lấy

phương thức xây dựng để đặt tên cầu: cầu Đúc; đôi khi nó là một tên gọi bình dị đến

bất ngờ: cầu Sập. Tên cầu đặt theo kiểu này rất phổ biến ở làng, xã Nam Bộ; vì vậy

rất dễ bị trùng tên nên nó chỉ có tác dụng phân biệt vị trí ở vùng không gian nhỏ hẹp.

32

Các địa danh khi xuất hiện trong văn học dân gian không chỉ đơn thuần là tên

gọi một vùng đất, nó trở thành đối tượng nhận thức đồng thời là nơi nhân dân gửi

gắm tình cảm của mình. Những câu ca dao có địa danh xuất hiện thường là những

câu nói bày tỏ niềm tự hào, thể hiện sự gắn bó yêu thương đối với vùng đất ấy.

Gắn với một địa danh thường là đặc điểm nổi bật để nhận dạng vùng đất mà

địa danh ấy gọi tên. Đó có thể là những cánh đồng lúa bạt ngàn, những dòng sông đầy

tôm cá:

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh

Nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm

Mỹ Hòa, Mỹ Quới, Mỹ Đông

Xứ nào cũng đẹp, cũng mênh mông lúa vàng

Đó còn là những sản vật, nghề nghiệp, đặc điểm đặc trưng nhất của địa

phương:

Ai về chợ Vạn thì về

Chợ Vạn có nghề cất rượu nuôi heo

Ai đi Kinh Xáng, Kinh Cùng

Ghé xem ngô bắp một vùng xanh tươi

Tiếng đồn Châu Đốc mắm ngon

Tân Châu lụa tốt mãi còn âm vang

An Bình đất mẹ cù lao

Thêm hương hoa bưởi ngọt ngào thanh long

Khách về nhớ mãi trong lòng

Nhớ cù lao nhỏ bên dòng An Giang

Bạc Liêu là xứ quê mùa

Dưới sông cá chốt, trên bờ Tiều Châu

33

Ai về tới xứ cây Bàng

Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tợ bánh canh

Đi đôi với tên đất, tên làng, ta thấy toát lên niềm tự hào, kiêu hãnh của con

người sống trên mảnh đất đó. Họ tự hào về quê hương, làng xóm; tự hào về sự giàu

có, trù phú của ruộng đồng:

Bạc Liêu giàu lúa, ngô, khoai

Giàu cô gái đẹp, giàu trai anh hùng

Bạc Liêu nắng bụi mưa sình

Muối mặn, nhãn ngọt đậm tình quê hương

Long Điền gạo trắng nước trong

Ai đi đến đó thời không muốn về

Đẹp sao miền đất Châu Thành

Lúa xanh trải khắp ruộng đồng quê ta

Hòa Bình vang mãi lời ca

Đẹp mùa lúa chín, đầy mùa cá tôm

An Giang nước ngọt giồng vàng

Ai đi tới đó lòng không muốn về

An Giang gạo chợ nước sông

Ai mà về đó thong dong cuộc đời

Họ tự hào về lời ca, tiếng hát của quê hương:

Đất Năm Căn sóng bủa láng cò

Anh thương em vì bởi câu hò có duyên

Họ còn tự hào về con người ở xứ sở mình:

Trai nào thanh bằng trai Nhơn Ái

34

Gái nào lịch bằng gái Tân Châu

Tháng ngày dệt lụa trồng dâu

Thờ cha dưỡng mẹ quản bao nhọc nhằn

Chính những đặc điểm ấy khiến người đi xa nhớ về quê hương xứ sở của mình

– một nỗi nhớ không trừu tượng, chung chung mà rất cụ thể, gần gũi, thân thương:

Anh đi anh nhớ quê nhà

Nhớ sông Châu Đốc, nhớ người An Giang

Sông An Giang tràn đầy ước hẹn

Người An Giang trọn vẹn thủy chung

Anh đi anh nhớ quê mình

Nhớ tô bún cá đậm tình Long Xuyên

Xa quê anh nhớ mẹ hiền

Xa Long Điền nhớ bánh chuối chiên

Tóm lại, hệ thống địa danh trong văn học dân gian Nam Bộ, tuy không thể hiện

hết các đặc điểm của địa danh ở vùng đất này, nhưng đã thể hiện được những nét đặc

trưng về văn hóa Nam Bộ.

+ Qua các địa danh gốc Việt, ta nhận thấy một vùng đất với hệ thống sông

ngòi, kênh rạch chằng chịt; giao thông, buôn bán bằng đường thủy rất nhộn nhịp.

Người Nam Bộ làm ăn, buôn bán, sinh hoạt đều gắn liền với sông nước.

+Qua các địa danh Hán Việt, ta thấy được ước vọng của nhân dân Nam

Bộ. Là những người đi khai phá vùng đất mới, họ lạ lẫm với mọi thứ, có phần lo sợ

trước thiên nhiên hoang sơ, mỗi địa danh là một niềm mong ước: ước được cuộc sống

an lành, sung túc, hạnh phúc và thịnh vượng.

+ Các địa danh mang tên người thể hiện sự tri ân đối với những người có

công khai phá và xây dựng vùng đất mới. Các địa danh này cho thấy tinh thần “uống

nước nhớ nguồn” – một truyền thống đạo lí tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

+ Các địa danh có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc ít người tồn tại ở

Nam Bộ có số lượng không nhỏ. Nhưng ngày nay, những địa danh ấy đã được Việt

35

hóa đến mức khó có thể nhận ra được nguồn gốc xa xưa của nó. Điều này cho thấy ở

Nam Bộ, nhiều dân tộc cùng sinh sống một cách hòa bình, trong đó người Việt

chiếm đa số và có ảnh hưởng lớn trong vùng.

+ Đằng sau mỗi địa danh xuất hiện trong văn học dân gian là cả tấm lòng

của người dân dành cho quê hương, xứ sở của mình. Họ yêu thương, trân trọng và rất

đỗi tự hào về quê hương mình – một miền quê giàu có, trù phú, con người vừa đảm

đang, tháo vát lại vừa thân thiện, hiếu khách.

2.2.1.2. Từ ngữ liên quan đến sông nước

Khảo sát văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi thấy có rất nhiều từ ngữ liên

quan đến sông nước xuất hiện trong ca dao, tục ngữ. Bao gồm các từ ngữ sau:

+ Từ chỉ vùng đất nổi trên mặt nước

+ Từ chỉ vùng nước ngập đọng

+ Từ chỉ đường nước chảy

+ Từ chỉ hiện tượng thủy triều

Bảng 2.2.1.2a

Từ ngữ chỉ Số lần vùng đất Stt xuất Nghĩa nổi trên hiện mặt nước

1 Bưng 7 Vùng đất thấp, quanh năm có bùn lầy, là

nơi có nhiều tôm cá

2 Cồn 4 Đám đất thường do phù sa bồi đắp, nổi

lên ở giữa sông hay dọc theo sông, nhỏ

hơn cù lao

3 Cù lao 5 Chỗ đất nổi lên giữa dòng sông, có diện

tích rộng và có người sinh sống

4 Gành 2 Chỗ đất ở bờ sông hay bờ biển, nhô ra

phía trước thuận tiện cho thuyền bè cập

36

bến

5 Giồng 8 Chỗ đất cao hơn ruộng, nơi con người

chọn làm nhà cửa và trồng trọt sinh sống

Tổng cộng 26 lần

Bảng 2.2.1.2b

Từ ngữ chỉ Số lần

vùng nước xuất Nghĩa Stt

ngập đọng hiện

Bàu Ao sâu giữa đồng mọc nhiều cỏ, bèo, lác 3 1

Đầm Chỗ trũng có nước quanh năm, thường là 2 2

chỗ tận cùng của dòng sông hoặc chỗ lở

của một dòng nước xoáy

Đìa 2 Ao nước do con người đào sâu để nuôi cá 3

Tổng cộng 8 lần

Bảng 2.2.1.2c

Từ ngữ chỉ Số lần

đường xuất Nghĩa Stt

nước chảy hiện

Lạch 5 Dòng nước chảy tự nhiên, có thể nhỏ hoặc 1

lớn

Chỗ đất thấp bên đường nước chảy, do Láng 4 2

nước tràn lên làm ngập

Đường nước chảy do con người tạo nên Mương 11 3

Đường nước chảy do tự nhiên mà có; là Rạch 10 4

37

đường nước lớn có tàu ghe qua được

Vàm 10 Cửa sông hay cửa rạch 5

Xẻo 2 Đường nước chảy do tự nhiên mà có; là 6

đường nước nhỏ, tàu ghe không qua được

Tổng cộng 35 lần

Bảng 2.2.1.2d

Từ ngữ chỉ Số lần

Stt hiện tượng xuất Nghĩa

thủy triều hiện

1 Nước đứng 2 Nước đang rút rồi dừng lại chuyển sang

trạng thái nước lớn

Nước hồi 1 Nước bất chợt đổi hướng, đang lớn thì 2

ròng hoặc ngược lại

Nước lớn 20 Nước lên cao mỗi ngày 3

Nước nổi Nước lớn ngập đồng ruộng trong nhiều 2 4

ngày

Nước rong Nước lên quá mức bình thường 3 5

Nước ròng Nước xuống mỗi ngày 18 6

Nước ương Nước lềnh bềnh không chịu rút 3 7

Tổng cộng 50 lần

Nhóm từ ngữ liên quan đến sông nước xuất hiện trong văn học dân gian Nam

Bộ với tần số khá cao (118 lần). Có thể thấy các nhóm từ ngữ trên là cách định danh

riêng của người dân Nam Bộ về các sự vật, hiện tượng gần gũi trong cuộc sống của

họ.

Cuộc sống ở vùng đồng bằng phì nhiêu gắn bó với sông nước đã làm cho

người dân phân biệt rất tỉ mỉ các từ ngữ chỉ địa hình gắn với sông nước. Các từ chỉ

38

địa hình gắn với sông nước này là những từ riêng có của Nam Bộ. Có một số từ vay

mượn của tiếng Khmer như vàm (piam), bưng (bâng), vay mượn tiếng Mã Lai như cù

lao (pulaw), còn lại là những từ thuần Việt. Người dân Nam Bộ phân biệt những

vùng đất nổi trên mặt nước bằng các tiêu chí như:

+ Vị trí, diện tích: Cồn có diện tích nhỏ hơn cù lao, rạch và xẽo cùng là

đường nước chảy do tự nhiên mà có nhưng rạch là đường nước lớn hơn xẽo.

+ Nguồn gốc: Rạch là đường nước do tự nhiên mà có còn mương là

đường nước do con người đào, bàu là ao nước do tự nhiên mà có còn đìa là ao nước

do con người đào

+ Có hay không có cá tôm sinh sống: bàu là ao có nhiều cỏ, lác ít có cá

tôm còn bưng là nơi có rất nhiều tôm cá.

Có thể thấy mức độ phong phú về tên gọi thể hiện sự phong phú về địa hình.

Còn mức độ phong phú về tiêu chí phân loại các địa hình cho thấy sự quan sát tinh tế

và gắn bó mật thiết của người dân đối với vùng đất mình sinh sống. Tất cả những

điều đó phần nào giúp ta hình dung những khó khăn, vất vả của con người trong buổi

đầu khai phá vùng đất mới, khám phá và chinh phục thiên nhiên.

Những từ chỉ địa hình liên quan đến sông nước, khi xuất hiện trong ca dao,

không chỉ là dấu hiệu chỉ ra xuất xứ của câu ca dao ấy mà còn gợi được cái hồn của

cảnh vật, thiên nhiên, con người Nam Bộ:

Biển cạn láng khô, ghe vô không được

Phải trở lộn về đi ngược lòng em

Chừng nào cho sóng bỏ gành,

Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em

Gắn liền với kinh rạch là hình ảnh con nước chảy. Vì vậy, hiện tượng thủy

triều (sự thay đổi của con nước) cũng được cư dân Nam Bộ quan sát kĩ lưỡng và định

danh rất cụ thể. Điều này cũng là điều dễ giải thích vì đây là vùng địa hình nhiều

sông, gần biển nên sự thay đổi của mực mước hằng ngày ảnh hưởng trực tiếp đến đời

sống của người dân. Việc quan sát tỉ mỉ hiện tượng thủy triều cũng là một trong

những biện pháp thích nghi với điều kiện sống của một vùng đất mới. Vì chú trọng

39

đến tính chất và sự vận động của dòng nước nên những cái tên chỉ những vật vô tri lại

trở nên sinh động, có hồn, gần gũi và giàu chất Nam Bộ:

Bìm bịp kêu nước lớn em ơi

Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê

Khi xuất hiện trong văn học dân gian, những từ chỉ hiện tượng thủy triều

không chỉ đơn thuần là miêu tả sự vận động của dòng nước mà còn được dùng để

diễn tả tâm trạng, tình cảm của con người. Trong ca dao, tâm sự của những chàng

trai, cô gái thường được gửi gắm cùng với dòng nước chảy:

Nước ròng chảy xuống Nam Vang

Mần thơ để lại em khoan lấy chồng

Nước ròng chảy thấu Nam Vang

Mù u chín rụng sao chàng bặt tin

Nhìn diễn biến của con nước mà nghĩ đến tâm trạng con người, đó là một trong

những cách thức diễn đạt đặc trưng của văn học dân gian Nam Bộ, không bắt gặp

trong văn học dân gian các vùng khác.

2.2.1.3. Từ ngữ chỉ không gian

Ngoài những từ ngữ chỉ không gian dùng trong tiếng toàn dân, ở Nam Bộ có

những từ ngữ chỉ không gian đặc trưng, chỉ riêng có vùng này. Đồng thời, người Nam

Bộ còn có những từ ngữ thể hiện cách xác định không gian rất đặc trưng như: xác

định không gian bằng nơi sinh sống, xác định không gian bằng phương hướng.

Bảng 2.2.1.3a

Số lần Từ chỉ Stt Nghĩa xuất không gian hiện

1 3 Chốn Chỉ vùng không gian hẹp hơn xứ, thường

là một địa phương nhỏ

2 3 Miệt biển Chỉ các địa phương liền kề biển

40

3 Miệt vườn Chỉ các địa phương có nghề làm vườn 8

4 Xứ Chỉ vùng không gian lớn thường là trùng 5

với ranh giới tỉnh

Tổng cộng 19 lần

Người Nam Bộ dùng từ miệt để chỉ một vùng không gian lớn, gồm nhiều tỉnh,

các tỉnh này thường có chung một đặc điểm nào đó. Miệt biển chỉ những tỉnh giáp

biển. Miệt vườn chỉ những tỉnh trồng nhiều cây ăn quả.

Anh ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn

Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ

Cách thêm xứ hoặc chốn trước một địa danh là cách xác định không gian riêng

của người Nam Bộ, đây là cách nói khó có thể lẫn lộn với địa phương khác:

Thạnh Mỹ là xứ quê mùa

Năm năm tháng tháng đào trùn giăng câu

Tiện tặn con cá, lá rau

Làm ăn kĩ lưỡng ngày sau đạt thànhh

Sông dài nước chảy chia đôi

Ai về xứ Bạc cùng tôi thì về

Ai qua lộ bốn về chốn Ba Dừa

Thấy chăng tàu chuối đong đưa

Nặng tình quê mẹ trước giờ tiến công

Có nhiều từ ngữ gọi tên nơi mình sinh ra, lớn lên và gắn bó, người Nam Bộ chỉ

gọi bằng một từ vừa chung chung lại vừa cụ thể: xứ tui.

Con mèo trèo lên cây táo

Mẹ chồng láu kháu đánh chửi nàng dâu

Bà ơi tui không sợ bà đâu

Hồi nào bà cưới bà xin tui về

41

Bây giờ bà nhún bà trề

Sai con bà đuổi tui về xứ tui

Xứ tui, không xác định cụ thể địa điểm nhưng chắc chắn đó là nơi vô cùng thân

thiết, gắn bó với tui. Trong câu ca dao trên, xứ tui lại hàm chứa một cái gì thân

thương, trìu mến, là nơi mà những người đi xa có thể quay về bất cứ lúc nào. Từ xứ

bạn cũng được người Nam Bộ dùng một cách rất riêng:

Chim đa đa đậu nhánh đa đa

Bạn về xứ bạn bỏ ta một mình

Xứ bạn là nơi gắn bó, gần gũi với bạn nhưng lại có phần xa cách với tui. Một

cách nói vô cùng ngắn gọn, bộc trực, không hoa mỹ. Chính vì vậy mà nó càng đậm

đà màu sắc Nam Bộ.

Người Nam Bộ còn phân biệt không gian bằng nơi sinh sống:

Bảng 2.2.1.3b

Từ ngữ chỉ vùng Số lần không gian được Stt xuất Nghĩa phân biệt bằng hiện nơi sinh sống

Nơi sinh sống của những người làm Chợ 1 3 nghề buôn bán, có ý chỉ thành thị

Nơi sinh sống của những người làm Đồng 2 2 nghề nông, có ý chỉ nông thôn

3 Rẫy Nơi sinh sống của những người trồng 3 lúa hoặc hoa màu

4 Ruộng Nơi sinh sống của những người làm 5 nghề nông ( chủ yếu là trồng lúa)

5 Vườn Nơi sinh sống của những người trồng 7 cây ăn quả

42

Tổng cộng 20 lần

Khi xác định không gian, trong tâm thức của người Nam Bộ có sự đối lập giữa

các vùng mưu sinh gắn với nghề nghiệp đặc trưng của vùng đó, người dân Nam Bộ

thường gọi ngắn gọn là dân chợ, dân rẫy, dân vườn… Trong đó, chợ được người

Nam Bộ xem là thuộc thành thị đối lập với ruộng, rẫy, đồng thuộc nông thôn (xem

bảng 2.2.1.3b).

Tàu Sài Gòn lòng xanh mũi đỏ

Còn chiếc tàu Gia Định nọ lòng đỏ mũi xanh

Em ơi! Em ở chi đất rẫy hôi phèn

Theo anh về chợ Lớn mà coi đèn sáng trưng

Bậu chê qua ở rẫy ăn còng

Bậu về ở chợ ăn ròng mắm tôm

Sự phân biệt này hết sức chi tiết và cụ thể. Nó cho thấy một trong những đặc

điểm tư duy của người Nam Bộ: tính cụ thể. Khi phân biệt các sự vật, hiện tượng,

người Nam Bộ thường chia đối tượng thành nhiều yếu tố nhỏ, phân biệt nhau bằng

những tiêu chí rất cụ thể và tinh tế.

Trong ca dao, người Nam Bộ nhận thấy những người ở rẫy, ở đồng có cuộc

sống vất vả, lam lũ. Còn những người ở chợ, ở vườn lại có cuộc sống sung túc, an

nhàn. Thế nhưng, khi chọn lựa người yêu, tiêu chuẩn của họ không phải là sự giàu

sang, sung túc mà quan trọng là phải biết lao động, biết kiếm sống bằng chính sức lực

của mình:

Gái Ba Xuyên tuy quê mùa dân dã

Tóc dài bỏ xõa áo vải bà ba

Nắng táp mưa sa mà mịn da dài tóc

Không đẹp bằng ai nhưng vừa vóc

Tuy quê quýt nhưng không thích trai vườn

Trai mà dở dở ương ương

43

Ngồi không hái trái hết đường tương lai

Đây là lời nhắn nhủ tương tự:

Anh ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn

Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ

Ngoài cách xác định không gian bằng nơi sinh sống, người Nam Bộ còn xác

định không gian bằng phương hướng.

Bảng 2.2.1.3c

Vùng không gian Số lần được STT xuất Nghĩa xác định theo hiện phương hướng

1 Bển 3 Từ chỉ vị trí được đề cập đến, khác với

vị trí người đang nói

2 Ngoải 2 Từ chỉ vị trí bên ngoài cụ thể, đang

được người nói đề cập tới

3 Trển 3 Từ chỉ vị trí cao hơn nơi đã được xác

định

4 Trỏng 2 Từ chỉ vị trí bên trong cụ thể, đang được

người nói đề cập tới

Tổng cộng 10 lần

Tất cả những từ trên đều là cách nói rút gọn: bển – bên ấy, ngoải – ngoài ấy,

trỏng – trong ấy, trển – trên ấy.

Chào anh ở trỏng mới ra

Nên anh mới biết em đà có con

44

Mình về ở bển xa xui

Thôi thì ghé lại nhà tui cho gần

Trển xuống đây cách ba ngàn thước

Trời mưa đất ướt, dẫu lần từng bước em cũng ráng lòng

Dù khổ đau bao nhiêu em cũng chịu , mà sao chốn loan phòng lẻ loi?

Cách nói rút gọn kiểu này không chỉ được người Nam Bộ dùng trong các từ chỉ

không gian mà còn được dùng cả trong những từ xưng hô. Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề

này ở phần sau. Ở đây, có thể thấy, kiểu nói rút gọn này tô đậm thêm tính cách phóng

khoáng của người Nam Bộ, không thích dài dòng, hoa mỹ, ưa sự thẳng thắn và đơn

giản.

2.2.1.4. Từ ngữ chỉ thời gian

Khi nói về thời gian, người Nam Bộ ít khi dùng những từ ngữ toàn dân như:

khi, lúc mà thay vào đó là những từ ngữ mới, mang đậm màu sắc địa phương.

Người Nam Bộ thường dùng hồi thay cho khi, lúc.

Hồi thương nước đục cũng trong

Hồi ghét nước chảy giữa dòng cũng dơ

Người Việt ở Nam Bộ còn phân biệt rõ giữa hồi hôm và hồi hôm qua: hồi hôm

chỉ đêm trước, còn hồi hôm qua là chỉ ngày hôm trước.

Người Nam Bộ chia thời gian một ngày ra làm năm giác: giác sáng, giác trưa,

giác chiều, giác tối, giác khuya. Thời gian của từng giác không được quy định một

cách chính xác. Xác định một thời điểm thuộc giác nào trong ngày là tùy thuộc vào

cảm nhận chủ quan của người nói. Điều này cũng cho thấy đặc điểm tính cách người

Nam Bộ: phóng khoáng. Họ không cần dùng đến những cách đo lường chính xác

tuyệt đối chỉ cốt làm sao nói được điều mình muốn nói, đồng thời người nghe cũng

nhận biết điều đó là được.

Trong ca dao Nam Bộ, chúng tôi còn thấy tác giả dân gian còn dùng các từ ngữ

sau để xác định thời gian: con bóng, con trăng, con nước.

Anh gặp em đây con bóng đương trưa

Trên rưng rưng nước mắt, dưới tay đưa miếng trầu

45

Khuyên em đừng thảm đừng sầu

Gối loan chẳng đặng giao đầu thì thôi

Trái dưa hấu ngoài xanh trong đỏ

Hai đứa mình còn nhỏ lắm anh ơi

Nếu thương em xin ráng đợi chờ

Chờ thêm con nước mới đặng lòng theo anh.

Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo

Trái thầu đâu trong héo ngoài tươi

Anh thương em suốt mấy năm trời

Ôm duyên ngồi đợi chín mười con trăng.

Con bóng thường để chỉ những khoảng thời gian khác nhau trong ngày, trong

ca dao con bóng dùng để chỉ buổi trưa xuất hiện nhiều nhất. Con trăng chỉ khoảng

thời gian tương đương một tháng. Con nước chỉ khoảng thời gian tương đối, có thể là

một hay vài tháng. Có thể thấy đây là cách xác định thời gian của người bình dân,

không mang tính chính xác tuyệt đối. Họ quan sát những sự vật gần gũi nhất và dùng

nó để xác định thời gian. Cách xác định thời gian có phần thơ ngộ này đã góp phần

làm nên nét đặc sắc của phương ngữ Nam Bộ trong văn học dân gian.

2.2.1.5. Từ ngữ chỉ các loại động, thực vật

Số lượng chủng loại động vật, thực vật ở Nam Bộ rất phong phú. Chúng tôi chỉ

thống kê những tên gọi động thực vật nào chỉ riêng có ở Nam Bộ, hoặc có trong ngôn

ngữ toàn dân nhưng đó chính là các từ Nam Bộ thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân.

Bảng 2.2.1.5a

Số

Từ ngữ lần STT Nghĩa chỉ động vật xuất

hiện

46

Cá buôi Loại cá biển, lớn con, có tập tính lội ngược 1 3

dòng

Loại cá biển, vẩy trắng, thịt nhiều xương 2 Cá duồn 1

Cá biển, có hai hàm răng sắc nhọn như đao 3 Cá đao 2

Loại cá nước ngọt thường có màu vàng, có 4 Cá he 2

hình dạng tựa cá chép

Loại cá nhỏ ở biển, thường sống trên mặt 5 Cá liệt 2

biển

Cá có vẩy bạc, lớn từ một tới hai ngón tay, cá 6 Cá linh 8

lớn lên chỉ trong một mùa nước

Loại cá sặt, mình có sọc ngang 7 Cá lò tho (sặt 8

rằn)

Cá quả, cá có thân tròn dài, vẩy lớn và dày, 8 Cá lóc 8

lưng màu đen, bụng màu ngà, phóng giỏi và

lóc đi trên cạn rất nhanh

Cá to ở biển, bơi rất nhanh 9 Cá nược 1

Cá mình dẹp, có hai sợi râu dưới bụng, 10 Cá sặt 5

thường sống ở ao, mương có cỏ, sậy

Cá lớn bằng bàn tay, mình và đầu dẹp, thịt 11 Cá thác lác 2

được cạo nhuyễn, vò thành viên để nấu

Cá trê nhỏ con, thân màu vàng sậm 12 Cá trê vàng 7

Loại cá tra lớn con, đầu to dẹp, không vẩy, 13 Cá vồ 5

lưng đen, bụng trắng, ăn tạp

Chim khuyên, chim nhỏ thuộc bộ sẻ, lông 14 Chim quyên 5

màu nhạt, ngoài mắt có vành lông trắng

Chuột lớn con có long xù xơ xác 15 Chuột xù 2

Loại cua nhỏ, sống ở ven biển 16 Còng 5

Cua đực lớn con, có đôi càng to 17 Cua kình càng 3

Loại chim thường làm tổ ở các nhánh cây 18 Dồng dộc nghệ 1

47

bần, tổ chim có hình như một cái túi có dây

rút kín

Gà tồ, loại gà trống to con 1 Gà trống cồ 19

Cá thia, loại cá nước ngọt, thân nhỏ có màu 4 Lia thia 20

xanh hoặc hoặc đen, có vây ngũ sắc, thường

chọi nhau

Con vật thường sống chui rúc trong bùn, Lịch 1 21

cùng họ với lươn nhưng nhỏ hơn

Ốc ở ao, ruộng, vỏ có dạng hình chóp 1 Ốc gạo 22

Loài bò sát có bốn chân như thạch sùng, thân 1 Rắn mối 23

có vẩy nhỏ bóng láng, lưng đen, bụng trắng,

to hơn thạch sùng nhiều lần

Cá lóc con, thân có màu vàng cam hoặc đỏ, 24 Ròng ròng 2

còn sống thành bầy dưới sự bảo vệ của cá mẹ

Loại tép trắng, mình dẹp, con bằng ngón tay 25 Tép bạc 6

út

Tép riu, loại tép nhỏ, mình tròn, con nhỏ 26 Tép trầu 2

bằng đầu đũa

Loại tôm nước ngọt, con lớn, có hai càng to Tôm càng 10 27

Loại tôm càng có màu xanh Tôm càng xanh 5 28

103 Tổng cộng lần

Nhìn vào bảng trên, ta dễ dàng nhận thấy tên những loài động vật sống dưới

nước, đầm lầy chiếm đa số (23/28, chiếm 82%). Điều này phản ánh môi trường sống

đặc trưng của vùng đất Nam Bộ là môi trường sông nước. Chiếm số lượng ít hơn là

những loài động vật sống trên cạn, trong rừng (5/28, chiếm 18%).

Hầu hết tên động vật ở Nam Bộ là từ thuần Việt. Trong đó, có một số từ vay

mượn, chủ yếu là vay mượn của Khmer, tuy nhiên đã được Việt hóa đến mức khó

48

nhận ra nguồn gốc của nó. Đó là trường hợp các từ như: cá linh (trây linh), cá lò tho

(trây cần thô).

Có những con vật được người Nam Bộ dùng một cách định danh khác với từ

toàn dân như: cá lóc – cá quả, thằn lằn – thạch sùng

Tên động vật ở Nam Bộ còn có những tên gọi hoàn toàn mới, không có trong

từ toàn dân. Đây là những từ được tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu phản ánh những

nhận thức mới của con người. Đến với một vùng đất mới, tiếp xúc với nhiều sự vật,

hiện tượng mới, con người cần gọi tên những sự vật, hiện tượng ấy, từ đó các từ mới

ra đời. Vì vậy, trong phương ngữ Nam Bộ vừa có tên những động vật thường gặp, có

trong ngôn ngữ toàn dân như: cọp, muỗi, ếch, rùa, rắn…; lại vừa có những tên động

vật hoàn toàn xa lạ với ngôn ngữ toàn dân: cá chốt, cá linh, cá lò tho, ròng ròng, cua

kình càng… Chính những tên gọi này làm nên đặc sắc của từ địa phương dùng trong

văn học dân gian Nam Bộ.

Con cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng

Con cá lìm kìm nhiều chuyện sứt môi

Con cua kình càng bò ngang đất sỏi

Đố chị Hai mày thoát khỏi tay tao

Người Nam Bộ thường tạo ra những tên gọi mới từ các tên gọi đã có và thêm

vào các yếu tố phụ sau, kiểu như tôm – tôm càng, tôm càng xanh; cua – cua kình, cua

kình càng; cá rô – cá rô biển, cá rô đồng. Có 39% tên động vật được cấu tạo theo kiểu

này. Đây cũng là một trong những đặc điểm tư duy của con người. Con người không

thể lĩnh hội được một cái gì đó tuyệt đối mới. Cái chưa biết sẽ được con người liên

tưởng đến một hiện tượng nào đó đã biết, căn cứ vào đó mà gọi tên đối tượng mới.

Người Nam Bộ thường dựa vào các đặc điểm sau để gọi tên động vật:

+ Đặc điểm về hình dạng: cá bã trầu, cá lưỡi trâu

Cá lưỡi trâu sầu ai méo miệng

Cá lìm kìm nhiều chuyện sứt môi

+ Đặc điểm về màu sắc: tôm bạc, tôm càng xanh, cá trê vàng

Đố ai tìm được cái vẩy con cá trê vàng

49

Tìm gan con tép bạc, mà em nguyền theo không

+ Đặc điểm về tiếng kêu: bìm bịp, cồng cộc

Bìm bịp kêu nước lớn em ơi

Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê

+ Đặc điểm cấu tạo cơ thể: tôm càng, cua kình càng

Ví dầu cá bống hai mang

Cá trê hai ngạnh, tôm càng sáu râu

Khi xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ, những từ ngữ chỉ động vật

mang đến những màu sắc riêng của vùng. Qua đó, người đọc cảm nhận được sự trù

phú của một vùng quê nhiều sông ngòi; gắn liền với sông ngòi là số lượng các loài

động vật sống dưới nước và đầm lầy vô cùng phong phú.

Trong văn học dân gian, tác giả dân gian thường sử dụng biện pháp nhân hóa

cho những loài động vật gần gũi với họ. Vì vậy, khi xuất hiện trong ca dao, những

con vật ấy cũng có tính cách, tâm trạng như con người:

Con cá lí ngư sầu tư biếng lội

Con chim trên cành sầu cội biếng bay

Ai đành phụ nghĩa cùng ai

Để sầu li biệt để dài ngàn năm

Cá bống đi tu

Cá thu nó khóc

Cá lóc nó sầu

Phải chi ngoài biển có cầu

Anh ra đến đó giải sầu cho em.

Trong văn học dân gian Nam Bộ số lượng các từ ngữ chỉ thực vật cũng rất

phong phú:

50

Bảng 2.2.1.5b

Số lần

xuất Từ tương đương, ý nghĩa Stt Từ chỉ thực vật

hiện

1 Bần 20 Loại cây to mọc dọc theo bờ sông, có

rể phụ mọc ngược lên khỏi mặt bùn,

trái tròn dẹp, sống có vị chát, chín có vị

chua

Bình linh 2 2 Cây thân gỗ, lá nhỏ, trái dẹp, nhỏ và

dài, hạt có thể dùng thay trà, uống mát

Bồn bồn 4 2 Loại cây thân cỏ, dẹp, phần lá non ăn

được

Bông bí 5 4 Hoa của dây bí đỏ, được dùng làm thức

ăn

Bông bụp 6 2 Hoa của cây dâm bụt, một loại cây

thường được trồng làm hàng rào, hoa

loe màu đỏ, có nhụy dài

7 Bông súng 4 Loại cây mọc dưới ao hồ, lá lớn, tròn,

nằm trải trên mặt nước, cuống lá dài tới

đáy ao, màu nâu đỏ, ăn được, hoa nở

như hoa sen nhưng cánh hoa nhọn

Cây trôm 8 2 Cây trâm, cây to thân gỗ, lá dài mọc

đối, quả nhỏ ăn được

Chôm chôm 9 2 Một loại cây ăn trái, quả tròn nhỏ, vỏ

có tua gai mềm dài

10 Chuối dà 2 Loại chuối trái dài, cong, khi chín có

mùi thơm

11 Đậu phộng 2 Lạc, cây thuộc họ đậu, quả mọc cắm

xuống đất, có hạt bên trong, dùng để ăn

51

hoặc ép dầu

12 Điên điển 5 Cây điền thanh, loại cây hoang mọc ở

đồng có bông vàng, bông ăn được

13 Khổ qua 11 Mướp đắng, loại quả có hình dạng như

con thoi, có vị đắng, vỏ xù xì, bên

trong có nhiều hột

14 Lục bình 16 Bèo tây, một loại thực vật hoang dại

sống trên mặt nước, kết thành từng

mảng, lá hình tròn, hoa màu tím nhạt

15 Mãng cầu Na, cây ăn quả, vỏ có nhiều mắt, thịt 3

trắng, có hạt màu đen hoặc vàng

16 Mù u Cây to, thân thẳng, lá lớn, trồng lấy gỗ, 6

quả tròn, cứng, có thể ép lấy dầu để đốt

17 Mùng tơi Mồng tơi, cây trồng, thân leo, lá mềm, 5

có nhiều chất nhớt, hạt tròn trong hạt

có chất màu tím, lá và ngọn ăn được

18 Nhãn lồng 6 Lạc tiên, loại dây leo mọc hoang, trái

có lưới bao bên ngoài, trái và ngọn ăn

được

19 Rau dừa Loại rau sống trên mặt nước mương, 3

ao, lá tròn, thân có màu tim tím

20 Rau đắng 3 Cây cỏ nhỏ, mọc bò; lá nhỏ, mọc so le,

có bẹ chìa; có thể ăn được; thuộc họ rau

răm

21 Sầu đâu 3 Cây xoan, cây to, thân có đốm trắng, lá

kép có vị đắng

22 Sầu riêng 4 Cây ăn quả, thân to, lá có mặt xanh mặt

vàng, quả lớn và có gai nhọn, bên trong

có nhiều múi, cơm nhão, mùi thơm

52

23 So đũa 5 Cây cao, thẳng, không có cành to, thân

vỏ xù xì, lá kép nhỏ, hoa trắng hoặc

tím, thường dùng để nấu canh chua

Loại tre thân nhỏ, không gai, lóng dài 24 Tầm vông 1

và đặc ruột

Dưa bở, dưa quả to, quả chín có màu 25 Trái dưa gang 8

vàng nhạt, thịt bở có bột trắng, lạt,

dùng để ăn với đường

Loại xoài có trái to, hơi tròn, cơm dẽ, 26 Xoài cát 4

ngọt và thơm

Tổng cộng 125 lần

Người Việt ở Nam Bộ sử dụng nhiều đơn vị thuần Việt để gọi tên thực vật.

Đây đều là những loài thực vật tồn tại từ lâu đời và gắn bó với đời sống người nông

dân. Trong đó, cũng có một số từ vay mượn từ tiếng Khmer như: tầm vông (ping

pông), mù u.

Về cấu tạo từ, một số ít tên gọi thực vật có một tiếng: bần, xoài, bưởi. Đa số là

những tên gọi có nhiều tiếng được ghép theo kiểu chính phụ. Người Nam Bộ thường

gọi tên thực vật dựa vào các đặc điểm:

+ Hình dạng, kích cỡ, cấu tạo: cây so đũa

Cây so đũa lá cũng so đũa

Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi

Anh gặp em đây chẳng trao lời

Em ơi thuận buồm xuôi gió mà nhờ trời tính sau

53

+ Màu sắc: dưa hường

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh

+ Mùi vị: rau đắng

Rau đắng nấu với cá trê

Ai về lục tỉnh thì mê món này

Các đặc điểm về hình dạng, kích cỡ, cấu tạo, màu sắc, mùi vị là những đặc

điểm dễ quan sát nhất của đối tượng. Vì vậy, khi con người nhận biết các đối tượng

thì các đặc điểm này được tri giác trước tiên. Cách định danh cụ thể, đơn giản, gần

gũi phản ánh đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của vùng: bình dị mà trong sáng.

Có một số từ chỉ thực vật ở Nam Bộ là những từ có từ tương đương trong ngôn

ngữ toàn dân nhưng đã được người Nam Bộ thay bằng một tên khác hoặc biến âm

thành từ khác. Đó là trường hợp các từ: khổ qua, hủ qua – mướp đắng, mùng tơi –

mồng tơi. Cách thay từ mới hay biến âm đều để lại dấu ấn địa phương trong từ. Khi

đọc các câu ca dao có những từ trên xuất hiện ta dễ dàng nhận ra xuất xứ của nó và

cảm nhận được cái không khí Nam Bộ mà các từ ấy mang lại.

Khổ qua rám nắng khổ qua đèo

Em nào chèo lái là mèo của anh

Hủ qua xanh, hủ qua trắng, mắc nắng hủ qua đèo

Muốn thương em nhưng tủi phận anh nghèo

Cấy cày ruộng rẫy đâu dám trèo đèo lên cao

Cây so đũa lá cũng so đũa

Cây mùng tơi lá cũng mùng tơi

Anh gặp em đây chẳng trao lời

Em ơi thuận buồm xuôi gió mà nhờ trời tính sau

Đối với những loài thực vật riêng có ở Nam Bộ, người Nam Bộ đã gọi tên

chúng bằng những từ hoàn toàn mới, không có từ tương đương trong ngôn ngữ toàn

dân. Có thể kể hàng loạt những từ kiểu này như: chôm chôm, sầu riêng, điên điển, mù

54

u, so đũa, lục bình, bần, vẹt, bình linh,… So với những kiểu định danh đã nêu ở trên,

kiểu định danh này mang màu sắc địa phương Nam Bộ đậm đặc nhất.

Mù u bông trắng, lá quắn, nhị huỳnh

Anh thấy em đi cấy lội sình anh thương

Quê mình đẹp những dòng sông

Bưởi, cau, xoài cát, sầu riêng trĩu cành

Gió thổi hiu hiu

Lục bình trôi yêu yếu

Bảy ơi! Ở chi một mình

Ốm yếu ai nuôi

Số lượng tên gọi thực vật phong phú ở Nam Bộ cho ta thấy đây là một vùng

quê giàu đẹp, trù phú, có diện tích rừng và vườn cây ăn trái lớn. Những tên gọi này đã

ghi nhận lại một môi trường thiên nhiên sông nước rất đặc trưng của Nam Bộ.

Những từ ngữ chỉ thực vật giúp người đọc cảm nhận rõ hơn chất Nam Bộ trong

từng câu ca dao có chúng xuất hiện. Đặc biệt, khi chúng xuất hiện như một hình ảnh

so sánh, người đọc sẽ cảm được tâm tình của tác giả dân gian Nam Bộ gửi gắm vào

các hình ảnh ấy:

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

Thân em như trái mãng cầu

Ở trên bàn án hạc chầu lọng che

2.2.1.6. Từ ngữ chỉ công cụ lao động, phương tiện sản xuất và sinh hoạt

Do đặc thù về điều kiện tự nhiên, điều kiện sống và sinh hoạt, người Nam Bộ

đã sáng tạo ra nhiều công cụ để phục vụ cho lao động và sản xuất. Như đã trình bày ở

chương 1, Nam Bộ là vùng đất có nhiều dân tộc cùng sinh sống hòa hợp. Vì vậy,

55

tiếng Việt ở Nam Bộ có nhiều từ chỉ công cụ lao động, sinh hoạt, sản xuất có nguồn

gốc từ ngôn ngữ của các dân tộc ít người khác cùng sinh sống trên mảnh đất này.

Bảng 2.2.1.6a

Từ ngữ chỉ

phương tiện Số lần

STT di chuyển, Nghĩa xuất

hiện sản xuất,

sinh hoạt

Bình tích 1 Ấm bằng sành, nhôm, có nhiều kích cỡ, 1

thường đựng nước uống

Nhẫn đeo ở ngón tay Cà rá 2 2

Bếp lò bằng đất nung, dạng dài, có phần Cà ràng 3 5

phụ để đặt củi

Nông cụ, có phần lưỡi dao hình như chiếc 4 Cái mác 2

lá, tra cán dài, thường dùng để vót tre,

phát cỏ

Vật dụng làm bằng tre nứa, hình tròn, 5 Cái rế 1

dùng để lót nồi, chảo

Nơi dùng để rửa ráy, tắm giặt, thường 6 Cái sàn láng 1

được đặt cạn bờ mương, rạch

Nồi làm bằng đất 7 Cái trách 2

Dĩa thật to, thường dùng để bày trái cây 8 Dĩa bàn than 2

trên bàn thờ

Loại dĩa hình elip, nhỏ 9 Dĩa bàn trứng 2

Cặp hoa tai dùng đeo ở tai người phụ nữ 10 Đôi bông 2

Đàn, nhạc cụ, vật dụng bằng dây để tạo ra 11 Đờn 5

âm thanh

Thuyền, phương tiện di chuyển trên sông 12 Ghe 15

nước, lớn hơn xuồng

56

13 Ghe bầu 8 Thuyền được đóng có phần giữa phình ra,

dùng đi lại trên sông, kênh lớn

Ghe hạng trung, có mui, được dùng để 14 Ghe hàng 2

buôn bán hàng hóa lưu động

Ghe dùng để chở lính tuần thời thực dân 15 Ghe lê 2

Pháp

Ghe hơi to, có mui vuông ở phía nửa sau 16 Ghe lồng 4

Ghe có thân nhỏ và dài, thường dùng để 17 Ghe lườn 7

chở khách

Kim cương, một dạng đá trong, óng ánh, 18 Hột xoàn 1

cứng, dùng làm trang sức của phụ nữ

Khăn thưa, có sọc ô vuông đen trắng hoặc 19 Khăn rằn 1

xanh dương, thường được quấn ở cổ

Trang sức đeo ở cổ người phụ nữ, có dạng 20 Kiềng vàng 1

tròn

Vật do con người tạo ra để ngắm, giải trí Kiểng 21 4

Lu có phần bụng phình ra, thường dùng Lu mái đầm 22 1

đựng nước

Máng hứng và dẫn nước nói chung Máng xối 23 1

Dây nhỏ, làm bằng chất liệu vải Nhợ 24 1

Phuy, thùng bằng kim loại có ba ngấn, Phi 25 1

dùng để đựng xăng dầu, nhiên liệu

Loại dao cùn, mòn Trành 26 1

Gỗ tròn, dài, nhọn đầu Xà no 27 1

Vật dụng bằng tre nứa, đan thưa, rộng Xề 28 1

miệng, nông

Thuyền nhỏ, phương tiện vận chuyển nhỏ 29 Xuồng 11

được dùng đi lại trên kênh rạch

Xuồng được đóng từ ba tấm ván ghép lại 30 Xuồng ba lá 2

57

31 Xuồng câu 5 Xuồng dùng để câu tôm

tôm

Tổng cộng 95 lần

Trong bảng thống kê trên, có một số từ vay mượn từ ngôn ngữ các dân tộc ít

người sinh sống ở Nam Bộ; vay mượn tiếng Khmer như: cà ràng, phảng; vay mượn

tiếng Hoa: tam bản (xam pản). Những từ còn lại đa số là từ thuần Việt, được người

Việt ở Nam Bộ gọi tên dựa trên các đặc điểm:

+ Hình dạng:

Hình dạng của công cụ, phương tiện được so sánh với hình dạng của sự vật

khác để gọi tên.

Ghe bầu: thuyền có chiều rộng ở phần lái, bầu bụng

Cô kia bới tóc cánh tiên

Ghe bầu lại cưới ba thiên tiền đò

+ Cấu tạo:

Xuồng ba lá: xuồng đóng bằng ba tấm ván ghép lại

Linh đinh một chiếc xuồng ba lá

Cảm thương nàng mẹ góa con côi

+ Công dụng:

Xuồng câu tôm: xuồng dùng để câu tôm

Tàu Nam Giang chạy ngang cồn cát

Xuồng câu tôm đậu sát mé nga

Thấy em còn chút mẹ già

Muốn vô hoạn dưỡng biết là đặng không?

Trong số các từ gọi tên công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt nêu ở bảng

trên, các từ chỉ phương tiện đi lại bằng đường thủy và công cụ đánh bắt nuôi trồng

thủy sản chiếm số lượng lớn. Con người quan tâm tới hiện thực nào thì tên gọi ở lĩnh

vực đó sẽ xuất hiện nhiều. Người Nam Bộ sinh sống, làm ăn, đi lại đều liên quan đến

sông nước. Ghe, xuồng là phương tiện di chuyển thích hợp với điều kiện tự nhiên nơi

đây. Ghe, xuồng ở Nam Bộ được người dân coi là phương tiện “để làm chân” trong

58

việc đi lại. Ghe, xuồng gắn bó với mọi sinh hoạt của người dân, người ta dùng ghe,

xuồng để đi chợ, đi làm đồng, đi thăm viếng, đi rước dâu… Chủng loại ghe, xuồng ở

đây rất phong phú. Mỗi loại ghe, xuồng phù hợp với một mục đích và hoàn cảnh sử

dụng khác nhau.Vì vậy, nó không chỉ xuất hiện nhiều mà còn được định danh một

cách tỉ mỉ.

Đồng thời, ghe, xuồng còn là phương tiện chuyển tải những giá trị văn hóa tinh

thần của người dân Nam Bộ. Trong văn học dân gian, từ ngữ chỉ các loại ghe, xuồng

xuất hiện nhiều, với tần số cao. Ghe, xuồng trong ca dao Nam Bộ là nơi để trai gái

bày tỏ tình cảm, hẹn hò:

Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi

Kẻo khúc sông này bờ bụi tối tăm

Đi đâu xuồng nhỏ bớ nàng

Duyên đây không kết mà kiếm đàng đi đâu?

Ghe, xuồng còn là phương tiện chở người thương nên chỉ nhìn hình ảnh chiếc

ghe, trai gái yêu nhau đã có thể vui, buồn, đau khổ…đủ mọi cung bậc cảm xúc của

người đang yêu:

Gió Nam non thổi lòn hang chuột

Thấy anh bơi xuồng đứt ruột đứt gan

Anh về nói với mẹ cha

Qua đây em ưng đại cho vừa lòng anh

Bữa nay sao bạn không vui

Hay là bạn thấy ghe lui bạn buồn?

Tâm tình của đôi lứa yêu nhau được gửi gắm vào hình ảnh chiếc ghe, chiếc

xuồng là một trong những nét đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ.

59

Bảng 2.2.1.6b

Nghĩa STT

Số lần xuất hiện Từ chỉ phương tiện, công cụ lao động

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Đăng Đó Lọp Lờ Lưỡi hái Nọc cấy Nơm Phảng Vó Xáng 4 6 5 5 1 2 2 4 2 9 Đồ đan bằng tre dùng chắn ngang dòng nước và quây bắt cá Đồ đan bằng tre nứa, hình ống, dùng để bắt cá, tôm, tép Dụng cụ đan bằng tre để bắt cá, có mồi bên trong, đặt dưới đáy nước Đồ đan bằng tre, đặt ở chỗ nước đứng để nhử bắt cá tôm Liềm, nông cụ, gồm một lưỡi sắt hình vòng cung, khứa chân chấu, tra cán ngắn, dùng để cắt lúa, cắt cỏ Cây gỗ có một đầu vót nhọn dùng để cắm vào đất để có lỗ cấy mạ Đồ đan bằng tre, đan thưa, hình cái chuông dùng để chụp bắt cá, tôm Công cụ có lưỡi bằng sắt to bản, được uốn cong ở phần cán, dùng để phát hoang cỏ ruộng Dụng cụ bắt cá gồm một lưới, bốn góc mắc vào bốn đầu gọng để kéo Phương tiện di chuyển dưới nước, dùng để đào kênh, vét bùn, có bộ phận hút rất mạnh

Tổng cộng 40 lần

Trong bảng trên, loại công cụ phục vụ cho việc trồng lúa và đánh bắt tôm cá

chiếm đa số. Tất cả đều là những công cụ lao động thô sơ. Điều này cho thấy trong

công cuộc khai phá vùng đất mới, để thích ứng với địa hình và thiên nhiên hoang sơ

buổi đầu, người Nam Bộ đã sáng tạo ra những công cụ thô sơ để kiếm sống và tồn tại.

60

Công cụ lao động, phương tiện sinh hoạt của nghề nông không chỉ phản ánh trí thông

minh của những con người đã trụ lại được trên mảnh đất vừa màu mỡ nhưng cũng

không kém phần nghiệt ngã, mà còn phản ánh một thời kì canh tác nông nghiệp chủ

yếu là thủ công của người dân. Qua đó, chúng đã gợi lên một phần những gian nan,

vất vả của cha ông thuở ấy.

Trong văn học dân gian Nam Bộ, lao động cũng là môi trường để trai gái hẹn

hò, tìm hiểu lẫn nhau:

Tay cầm nọc cấy lẳng lơ

Tay sang nắm mạ đợi chờ chị em

Công dài cấy lối đau lưng

Ai vô cấy thế tui ưng làm chồng

Ví dầu đổ lúa vô xay

Trai anh hùng đứng cối, gái thuyền quyên đứng hò

Hình ảnh những chàng trai, cô gái Nam Bộ vừa hăng say lao động vừa vui vẻ

hò đối đáp với nhau là một trong những nét đặc sắc văn hoá của vùng đồng bằng phì

nhiêu này. Lao động cũng chính là môi trường diễn xướng của hàng loạt những câu

hò đối đáp của người dân Nam Bộ.

2.2.1.7. Từ ngữ chỉ những sản phẩm nông nghiệp gần gũi

Trong văn học dân gian Nam Bộ, đặc biệt là ca dao dân ca, xuất hiện nhiều

món ăn dân dã của người Nam Bộ. Những món ăn dân dã làm từ những sản phẩm

nông nghiệp thu hoạch hằng ngày của bà con giúp người đọc nhận ra màu sắc địa

phương trong văn học dân gian Nam Bộ.

Chúng tôi thống kê có những món ăn dân dã sau xuất hiện trong văn học dân

gian Nam Bộ:

Bồng bồng nấu canh tôm:

Bồng bồng mà nấu canh tôm

Ăn vào mát ruột đến non lại bồng

61

Canh chua:

Canh chua điên điển cá linh

Ăn chỉ một mình thì chẳng biết ngon

Canh chua nấu cá rô đồng

Nửa đêm thức giấc thương chồng đi xa

Thương chồng thương cả quê chồng

Thương bông điên điển, cá rô đồng nấu chua

Bông bí, dưa hường:

Mẹ mong gả thiếp về vườn

Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh

Mắm kho:

Rau dừa chấm với mắm kho

Việc đời nó tới thì lo làm gì

Nước mắm kho và cùng rau đắng

Hương thơm, vị mặn, nhẫn nhẫn tuyệt vời

Cá trắng, rau cần:

Anh muốn ăn cá trắng nấu lộn với rau cần

Nên anh về Châu Đốc cho gần mẹ cha

Cá trê, rau đắng:

Rau đắng nấu với cá trê

Ai về lục tỉnh thì mê món này

Lá giang, cua kình:

Anh thương em bất luận xấu xinh

Lá giang nấu với cua kình cũng ngon

Canh rau ngổ:

Canh nào ngon bằng canh rau ngổ

62

Gái nào khổ cho bằng gái thôn điền

Cá trê nấu với bầu:

Cá trê nấu với ruột bầu

Thương em nên lá sầu đâu đắng hoài

Canh bầu nấu với cá trê

Anh ăn một miếng anh mê tới già

Rau cải nấu gừng:

Rau cải mà nấu với gừng

Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê bai

Những món ăn trên tuy dân dã, quê mùa nhưng đã trở thành đặc sản của vùng

quê này. Chúng gắn bó mật thiết với những người nông dân chân lấm tay bùn. Chính

vì vậy, khi nói về những món ăn dân dã ấy, tác giả dân gian không giấu được vẻ tự

hào, niềm yêu mến.

Có một nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với nhiều loại lâm sản, thủy

sản, nông sản quý hiếm, người Nam Bộ đã khéo léo chế biến ra nhiều loại sản phẩm

phục vụ cho nhu cầu của đời sống. Chúng tôi thống kê được tên một số loại bánh xuất

hiện trong văn học dân gian Nam Bộ ở bảng sau, tất nhiên nó không thể bao quát hết

tất cả các sản phẩm chế biến từ nông nghiệp nhưng nó cũng giúp ta hình dung được

sự phong phú của loại sản phẩm này ở Nam Bộ.

Bảng 2.2.1.7

Từ chỉ sản phẩm Số lần

Stt chế biến từ nông Nghĩa xuất

nghiệp hiện

1 Bánh bò bông 5 Bánh hấp bằng bột trộn với đường cát

trắng, mềm xốp thường có hình tròn,

thường có màu trắng trong, có thể có

nhiều màu khác

63

Bánh bọc đường Bánh có lớp đường bên ngoài màu trắng 3 2

Bánh làm từ đường, bột, trứng, đánh lên

cho nổi, đem nướng Bánh bông lan 2 3

Thức ăn làm bằng bột nhào kĩ rồi cắt

thành sợi Bánh canh 7 4

Bánh canh có sợi màu ngà vàng, nấu

với đường chảy hoặc đường thốt nốt Bánh canh ngọt 6 5

Bánh canh có sợi màu trắng, nấu với

tôm, thịt Bánh canh trắng 8 6

Làm bằng bột gạo, có nhân ( thường là

nhân đậu xanh), hình chóp, gói bằng lá Bánh ít 2 7

chuối, hấp chín

Bánh làm bằng nếp hoặc khoai mì, trộn

với đường sữa, cán mỏng thành hình 8 Bánh phồng 1

tròn, khi nướng chín sẽ phồng lên

Bánh làm bằng bột khoai mì, xắt thành

cọng, trộn với đường và dừa 9 Bánh tầm xe 3

Bánh được tráng mỏng, đem phơi khô,

dùng ăn sống hoặc nướng chín 10 Bánh tráng 2

Bánh làm bằng bột pha nghệ, được đổ

tráng trên chảo nóng, có thoa mỡ, tạo 11 Bánh xèo 2

thành tiếng xèo, ăn với nước mắm, rau

sống

Tổng cộng 41

Tên các loại bánh nêu ở bảng trên hầu hết là từ thuần Việt. Người Nam Bộ đã

dựa vào nhiều đặc điểm khác nhau để gọi tên các loại bánh:

+ Quy trình chế biến, động tác: bánh tráng

+ Hình dáng: bánh phồng

64

Bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc

+ Màu sắc: bánh bò bông, bánh canh trắng

Hò ơi, tiếng anh ăn học cũng thông

Vào đây em hỏi bánh bò bông bột gì?

+ Vị: Bánh canh ngọt

Bánh canh trắng con vắn, con dài

Bánh canh ngọt chui tọt khỏi nhai

Tên các loại bánh đã phản ánh đời sống ẩm thực có phần tinh tế của người

Nam Bộ, phản ánh nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng của vùng. Đồng thời, ngay

trong tên gọi cũng đã thể hiện phương thức chế biến, nguyên liệu chế biến và cả sự

khéo léo của người Nam Bộ, đặc biệt là phụ nữ.

2.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất

Bên cạnh hàng loạt từ ngữ chỉ sự vật hiện tượng mang màu sắc địa phương,

trong văn học dân gian Nam Bộ còn có hàng loạt từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính

chất cũng đậm đà màu sắc Nam Bộ.

Bảng 2.2.2

Từ chỉ hoạt động, Số lần

STT trạng thái, tính Nghĩa xuất

chất hiện

Bảnh 1 5 (1)Tài giỏi, cừ khôi, có khả năng hoàn

hảo, vượt trội

(2) Đẹp, duyên dáng, xinh xắn

Biểu 2 28 Bảo, sai khiến người khác làm gì đó

Bịnh 3 7 Bệnh, trạng thái cơ thể hoạt động

không bình thường

Bợ 4 2 Dùng bàn tay ngửa đỡ phía dưới mà

nâng lên

Bu 5 6 Xúm lại, tụ tập lại một nơi với số

lượng lớn

65

Bự Lớn, to quá kích cỡ vốn có 6 5

Bứng Dùng lực di chuyển đi 7 1

Câu mâu Bắt bẻ, chú ý bắt lỗi từ những việc nhỏ 8 3

nhặt

Chàng ràng Quanh quẩn ở bên, không rời, đeo bám 9 1

theo xung quanh đối tượng mà mình

thích, gây cảm giác vướng bận

10 Chơm bơm 3 Chờm bờm, tóc dài và rối không được

gọn gàng

11 Coi 29 Xem, nhận biết bằng mắt

12 Cua 2 Tán tỉnh, làm quen được với người

khác phái

13 Day 4 Quay, xoay qua một hướng nhìn khác

Liên tục, không dứt, không ngưng

14 2 Dầm dề nghỉ

Lùi, chạy lui, di chuyển theo hướng

15 De 2 ngược với tầm nhìn tới

Về, di chuyển trở lại chỗ ở trước đó

16 Dìa 25 của mình

Nhìn, trông một cách chú ý

17 Dòm 7 Biến đi, chạy mất, rời khỏi nơi nào đó

18 Dông 6 Đập thẳng và mạnh

Dùng dằng, lưỡng lự ở tình trạng chưa

19 Dộng 4 nhất trí, nửa muốn nửa không

20 Dục dặc 1 Chùng, không căng, ở trạng thái không

được kéo ra cho thẳng theo bề dài

21 2 Dùng Được, có khả năng hiểu hoặc tiếp nhận

một điều gì

Để mà, từ biểu thị điều sắp nói là mục

66

Đặng 1 50 đích mà người nói muốn đạt tới 22

Mù, không nhìn thấy, có thể có hàm ý

Đặng 2 20 coi thường 23

Gặp phải một cách bất ngờ

Đui Giả vờ, làm ra vẻ bề ngoài vậy nhưng 24 2

không phải vậy

25 Đụng Kéo một vật về phía mình 2

26 Giả đò May, gặp vận đỏ, gặp thuận lợi 4

Hết cả, hết sạch không còn gì

27 Giựt Giống, có nét tương tự nhau về hình 2

28 Hên dạng, tính chất 3

29 Hết trơn, hết trọi Tìm, cố làm sao cho thấy ra được 8

30 In Từ biệt ra về 1

Lác đác, ít ỏi, có nhưng chưa nhiều

31 Kiếm Nhanh nhẹn trong ứng xử, hành động 9

32 Kiếu Có tính cách không nghiêm túc, ăn nói 1

33 Lai rai và hành xử một cách tùy tiện 3

Lanh 34 Dần, từ từ, từng ít một của quá trình, 6

sự việc

35 Láu kháu Dần dà, loay hoay mà hết thời gian 3

Nhiều đến độ đặc sệt, chen chúc nhau

36 Lần Dùng lực của tay để đẩy vật đi nhanh 7

và mạnh

37 Lần quần Hiu hiu, lay động khẽ, có vẻ yếu ớt 1

38 Lền Cởi, bỏ ra khỏi người cái đang mang, 3

đang mặc hoặc đang đội

39 Liệng (1) Có màu nhạt hơn mức bình thường 4

(2) Không còn mặn mà, thắm thiết nữa

40 Liu ríu, riu ríu Rời khỏi vị trí đến để về lại vị trí đi 6

67

41 Lột Dồi dào, nhiều quá mức quy định 3

Buông tuồng, không có sự chừng mực

42 Lợt Do dự, không dứt khoát, kéo dài thời 3

gian để suy nghĩ

Phát sinh ra, từ chỉ tâm lí được hình

thành ở con người do một nguyên

43 Lui nhân nào đó tác động 6

44 Lung Bắt đền, phải bồi thường hay làm lại 2

45 Luông tuồng những gì mình đã gây thiệt hại cho 1

người khác

46 Lương khương (1)Làm, dùng công sức vào những việc 1

thuộc một nghề nào đó để sinh sống

47 Mắc (2)Làm những việc thuộc nhiệm vụ 7

hoặc quyền hạn gắn với tư cách, địa

vị, chức vụ nào đó

48 Mắc thường 2 Mếch lòng, gây phật ý, phiền lòng,

điều không vui cho người khác

Thường xuyên, đều đặn không gián

49 Mần 20 đoạn

Ở thế không biết phải xử sự như thế

nào cho được, hoặc gặp sự việc không

như ý muốn

Xem, nhìn, trông; đưa mắt về một

hướng nào đó để quan sát

50 Mích lòng 2 Nhại, bắt chước giọng con vật hoặc

tiếng nói, điệu bộ người khác

51 Năng 26 Nhiều, vô số kể, có số lượng lớn

không thể đếm hết được

52 Ngặt 2 Nhổ cây cắm giữ ghe xuồng để di

68

chuyển đến nơi khác

Vứt bỏ đi, ném đi không dùng nữa

Ngó 19 Cố gắng, tập trung sức lực, trí tuệ để 53

làm cho kì được một điều gì

Ở trong tình trạng kéo dài, lâu dứt 54 Nhái 1

Sờ, dùng tay chạm trên vật để nhận

biết 55 Nhóc 3

Lỏng, không chặt, không còn khớp với

nhau 56 Nhổ sào 2

Rộng hoác, có hiện tượng rộng quá so

với mức bình thường 57 Quăng 2

Liền một mạch, không có sự lừng 58 Ráng 9

khừng, ngập ngừng

Tách ra, xé ra, làm cho thành đôi teo 59 Rề rề 1

11 chiều dọc 60 Rờ

Bồi hồi, khắc khoải, có tâm trạng buồn

Sếu sáo nhớ, trông đợi, bồn chồn không yên 61 1

Thật, đúng với tên gọi, khái niệm

Tà la Yêu, có tình cảm thắm thiết giữa hai 62 1

người khác giới

63 Te tét, te te Tằn tiện, tự hạn chế những việc chi 1

dùng hoang phí

Tét Có tính tình xấu, thường dùng để chỉ 64 2

những người có quan hệ tình cảm

65 Thắt thẻo, thắt théo 10 không đứng đắn

Mong, ở trạng thái trông ngóng, đợi

Thiệt chờ điều gì đó sẽ xảy ra

Thương 10 Có tính chất gom lại thành một khối 66

145 nhỏ 67

69

Tiện tặn Tung tóe, văng ra nhiều nơi, nhiều

phía 1 68

Đồng ý, chấp nhận lấy làm chồng vợ Trắc nết

Tán tỉnh, có hành động, cử chỉ lời nói 1 69

để làm xiêu lòng cô gái mà người con

trai muốn có quan hệ tình cảm, yêu Trông

đương 8 70

Vào, di chuyển từ vị trí bên ngoài đến Tum húm

vị trí bên trong 1 71

Tùm lum

3 72

Ưng

21 73

Ve

2 74

28 75

Tổng cộng 636 lần

Từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất mang màu sắc Nam Bộ có số lượng

lớn nhất trong số các lớp từ mà chúng tôi khảo sát được (75 từ với tần số xuất hiện

636 lần). Có nhiều hoạt động đặc trưng ở Nam Bộ đòi hỏi người dân phải sáng tạo ra

từ mới vì không có từ trong ngôn ngữ toàn dân để diễn tả. Nhìn vào bảng trên, chúng

tôi nhận thấy một điều thú vị. Những từ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất người

Nam Bộ ưa dùng nhất là từ đơn tiết: ưng, đặng, ráng, nhóc, lền, dông, ve, cua, bảnh,

bu, tét, năng, ngặt, ngó, hên, lội, mần… Tiếp đó, nếu có dùng từ song tiết thì người

Nam Bộ ưu tiên lựa chọn từ láy: chàng ràng, luông tuồng, liu riu, riu ríu, lai rai, sếu

sáo, chơm bơm, tùm lum, lương khương, láu kháu, thắt thẻo, dục dặc, tum húm, tà la,

70

rề rề, câu mâu… Điều này cho thấy, trong việc sử dụng ngôn ngữ, người Nam Bộ có

hai xu hướng gắn liền nhau: vừa ngắn gọn lại vừa mang giá trị biểu cảm cao.

Những cách phổ biến để tạo ra các từ ngữ mang màu sắc Nam Bộ là:

+ Biến âm:

Dìa – về

Công anh đốn nhánh thả đìa

Ngày mai cá cựa biết dìa tay ai

Biểu – bảo

Biểu đừng nghi bảy nghi ba

Không tin bậu cứ hỏi kẻ xa người gần.

Bịnh – bệnh

Ghe anh lui về Gia Định

Em thọ bịnh đau liền

Không tin anh hỏi lại xóm giềng có không.

Hun – hôn

Có chồng mặc kệ có chồng

Anh thương, anh ẵm, anh bồng, anh hun

Gập ghình – gập ghềnh

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi

Chờm – chồm

Gối rơm thì phận gối rơm

Có đâu dưới thấp mà chờm lên cao

Giật – giựt

Bậu về nhắn với ông câu

Cá ăn thời giựt để lâu hết mồi

Hiện tượng biến âm của từ ngữ Nam Bộ khi xuất hiện trong ca dao, trong nhiều

trường hợp, không chỉ có giá trị trong việc gợi tả màu sắc Nam Bộ mà còn có giá trị

trong việc hiệp vần tạo nên những câu lục bát mượt mà. Vì vậy, tác giả Trịnh Sâm

71

[66] đã rất có lí khi cho rằng ta phải “trung thực” khi sưu tầm, hiệu đính văn học dân

gian.

+ Sử dụng từ ngữ có trong ngôn ngữ toàn dân nhưng với ý nghĩa rộng hơn

hoặc hẹp hơn

Thương được dùng với nghĩa gộp của thương và yêu trong ngôn ngữ toàn dân:

Anh thương em bất luận xa gần

Cầu không tay vịn cũng lần mà đi

Lội được dùng với với nghĩa của từ bơi trong ngôn ngữ toàn dân vừa thêm ý

nghĩa di chuyển trên bộ bằng chân:

Trắng da vì bởi má cưng

Đen da vì bởi lội bưng, lội sình

Từ đụng được dùng ngoài nghĩa “có chỗ sát chạm vào nhau do dời chỗ” còn

được người Nam Bộ dùng với nét nghĩa mới: gặp để kết thành vợ chồng:

Chồng nghèo thì vợ cũng nghèo

Hai đứa cùng nghèo đụng lại với nhau

+ Tạo ra từ ngữ mới có ý nghĩa tương đương với từ đã có trong ngôn ngữ toàn

dân

Mần được dùng với nghĩa tương đương như làm trong ngôn ngữ toàn dân:

Hàm răng em trắng

Lông mày em ngay ngắn như sợi chỉ giăng

Anh vô mần rể kẻ đón người ngăn khó lòng

Ưng được dùng với nghĩa tương đương như đồng ý, chấp nhận trong ngôn ngữ

toàn dân:

Trách ông tơ sao xe hoài xe hủy

Trách bà tơ sao xe chỉ lộn vòng

Chỗ em không ưng thì bà muốn

Chỗ em bằng lòng thì bà lại xe rơi

Ve, cua được dùng với nghĩa tương đương với tán tỉnh trong ngôn ngữ toàn

dân:

72

Hò ơ, gió đưa bụi chuối sau hè

Bụi tre trước cửa cây xoài cà lăm

Cà lăm trổ trái xoài chua

Ông thầy ve gái bỏ chùa ai coi

Bảnh được dùng với nghĩa đẹp, tài giỏi, cừ khôi:

Đường nào sang cho bằng đường Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Cái Răng

Để, rẫy được dùng với nghĩa bỏ hoặc li dị:

Bậu về bậu giả đò điên

Chồng bậu nó phiền nó để bậu ra

Có thể thấy, các từ được tạo ra theo phương thức này có số lượng nhiều nhất.

Đây cũng là phương thức tạo ra các từ mang màu sắc Nam Bộ đậm đặc nhất. Trong

câu ca dao:

Gà nào bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

Khó có thể thay thế từ bảnh bằng một từ toàn dân nào khác mang đầy đủ các ý

nghĩa: đẹp, duyên dáng và tài giỏi. Chính điều đó đã làm nên nét độc đáo cũng như

sức sống lâu dài của phương ngữ Nam Bộ. Đồng thời tạo nên màu sắc địa phương

khó lẫn lộn của ca dao, dân ca Nam Bộ. Chính vì nét độc đáo đó mà rất nhiều từ ngữ

Nam Bộ đã ảnh hưởng đến các phương ngữ, thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân.

Khi đọc những câu ca dao có các từ ngữ địa phương xuất hiện, người đọc phải

có vốn hiểu biết nhất định về từ ngữ địa phương Nam Bộ thì mới hiểu và cảm hết cái

ý vị của tác giả dân gian gửi gắm trong từng câu ca dao ấy.

Ngoài ra, trong văn học dân gian Nam Bộ, chúng tôi thống kê được nhiều từ

ngữ chỉ mức độ cao như: ngọt ngay, thơm nức, sáng ngời, sáng rỡ, sáng lòa, sáng

trưng, sáng lừng, vàng rộm, dai nhách, trả phức, nói phức, trắng xác, chát ngầm,

thẳng băng, nhỏ nghiến, trụi lủi, bóng láng, chua lét, cao nghêu, rối nùi, nhỏ thó, bự

chảng, khô rang, nổi phình. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi rất khó tìm thấy trong

văn học dân gian Nam Bộ những từ ngữ chỉ mức độ thấp. Điều này xuất phát từ tính

cách người Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn bộc trực, ngay thẳng, nói điều gì là phải nói

73

cho hết ý, hết mức, hết cỡ. Họ không thích diễn đạt theo kiểu trung tính, ôn hòa, nhàn

nhạt. Không dùng to mà dùng bự, riêng từ bự đã thấy nét xù xì, gân guốc nhưng với

người Nam Bộ thì bự chảng mới là hết ý. Vẫn dùng từ nhỏ xíu với nghĩa rất nhỏ,

nhưng nếu muốn nhấn mạnh hơn nữa mức độ nhỏ thì phải dùng nhỏ thó. Hai vần o

liền nhau trong nhỏ thó có mức độ gợi tả cao hơn nhiều so với nhỏ xíu.

Thấy em nhỏ thó lại có chiếc vòng

Anh muốn kêu bằng vợ mà sợ chồng em ghen

2.2.3. Từ ngữ xưng hô

Cách xưng hô của người Nam Bộ có một số nét khác biệt so với cách xưng hô

của các vùng miền khác. Những khác biệt này làm nên màu sắc Nam Bộ trong các từ

ngữ xưng hô.

Ở Nam Bộ, con cái thường gọi cha mẹ là ba – má, hoặc tía – má:

Tường cao hàng rào tứ phía

Muốn vô thăm nàng sợ tía với má nàng hay

Cách gọi cha là tía xuất phát từ các địa phương có người Triều Châu sinh sống,

từ đó lan ra các vùng khác. Đây là cách xưng gọi hết sức gần gũi, thân tình:

Con cò nó mổ con lươn

Bớ chị ghe lườn muốn tía tui không

Tía tui lịch sự quá chừng

Cái lưng mốc thích, cái đầu chơm bơm

Người Nam Bộ còn có cách nói rút gọn ổng – ông ấy, bả - bà ấy, cổ - cô ấy:

Tiếc công anh lau dĩa chùi bình

Cậy mai dong tới ba má nhìn bà con

Trời mưa nhà thiếc dột lon ton

Ổng bả không thương nên nói vậy, chứ bà con đâu mà nhìn

Bắt con cá rô bỏ trong rổ, nó nhảy rồ rồ

Tui thương cổ thấy mồ mà cổ hổng thương tui

74

Cách xưng gọi này cho thấy ở Nam Bộ người ta xưng hô với nhau có xu hướng

gần gũi, thân tình và có phần bình đẳng, không câu nệ vai vế, tuổi tác, nghề nghiệp,

địa vị xã hội.

Đến đây, ta đã nhận thấy một vài điểm khác biệt trong cách xưng hô của người

Việt ở Nam Bộ. Xưng hô trong gia đình người Việt truyền thống thường theo trật tự,

tôn ti. Trật tự đó thường được xây dựng trên cơ sở giới tính, thứ bậc trong gia đình và

xã hội. Tuy nhiên, xưng hô còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác. Xưng hô của

người Việt ở Nam Bộ chịu ảnh hưởng bởi tính bình dị của người nông dân, không

thích khách khí. Ngoài ra, cách xưng hô ở Nam Bộ còn chịu sự tác động của tinh thần

dân chủ, ít chịu sự trói buộc của kiểu cách, hình thức. Đó chính là tình cảm tôn trọng

đối tượng trong xưng hô và cái cốt lõi tạo nên đặc điểm này là sự bình đẳng, tính

cách bình dân; trong đó sự bình đẳng được tạo nên nhờ sự đồng cam cộng khổ, chia

sẻ những khó khăn vất vả trong buổi đầu chinh phục vùng đất mới.

Ngoài ra, người Nam Bộ còn lấy vai vế, thứ tự trong gia đình để xưng hô. Chỉ

mới gặp nhau, người Nam Bộ đã có thể thân mật gọi người tiếp chuyện là cô Hai, cô

Ba hay anh Hai, anh Ba hoặc nếu người nói chọn cách gọi thân mật nhưng có chút

trêu đùa thì gọi bằng em Hai:

Bên đây cái đình Cá Cỏ

Bên kia cái cửa ngõ thằng cai

Thấy nhà em Hai cửa đóng then cài

Biết làm sao đặng, anh đứng ngoài ngó vô.

Đây là cách xưng gọi thân tình chứ không câu nệ sự chính xác, nếu người tiếp

chuyện không phải thứ hai thì cũng không lấy đó làm phiền lòng.

Anh Ba ơi! Muốn chơi hoa thì cưới gái Sài Gòn

Muốn cưới người lam lũ thì xuống miệt vườn Cần Thơ

Trong giao tiếp, người Nam Bộ thậm chí có thể xưng hô với chỉ một từ chỉ thứ

như bảy, tư:

Nước sôi bớ Bảy súc bình

Pha trà cho đậm để bạn chung tình uống chơi

75

Một trong những ảnh hưởng lớn của văn hóa nông nghiệp đối với tính cách con

người là lối sống trọng tình nghĩa. Lối sống trọng tình được biểu hiện trong xưng hô

bằng cách lấy các từ xưng hô trong gia đình làm những từ xưng hô ngoài xã hội.

Không kể thân hay sơ, khi giao tiếp mọi người thường cư xử như quan hệ trong cùng

gia đình huyết tộc.

Trong những bài ca dao, đặc biệt là chủ đề tình yêu nam nữ, có rất nhiều từ

ngữ xưng hô đặc trưng của vùng đất Nam Bộ. Người con trai thường xưng là qua (75

lần), gọi người con gái là bậu (65 lần):

Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra

Chim kêu dưới suối, vượn hú trên nhành

Qua không bỏ bậu, bậu đành bỏ qua

Cách xưng hô qua, bậu là cách xưng hô chỉ có ở văn học dân gian Nam Bộ,

không tìm thấy trong văn học dân gian các vùng khác.

Trong ca dao về tình yêu nam nữ ở Nam Bộ, trai gái yêu nhau còn gọi nhau

bằng vô số những từ khác, đều là những từ chỉ riêng có ở Nam Bộ: con nhạn, con

bạn, con bạn vàng, người nghĩa, con bậu, em bậu, bạn, cô bạn, người thương, cô bạn

mình, chung tình…

Ngộ bất cập mà anh mới gặp người nghĩa thình lình

Phải chi anh có giấy viết mực trong mình

Anh họa hình người nghĩa mà để dành phòng loan

Trách mẹ trách cha ai mà trách bạn

Bởi cha mẹ ham giàu gả bạn đi xa

Bạn vàng sao khéo làm lơ

Lật trong bâu áo còn bốn câu thơ em đề

Tay em bưng chén thuốc

76

Vuốt ngực chung tình

Chung tình ơi!

Uống vô một miếng mà ở đời với em.

Đêm khuya hò giọng đợi chờ

Bạn lang dứt mối bao giờ không hay.

Nghiêng tai nghe bạn ngọc có chồng

Thân anh chưa vợ nước mắt ròng tuôn rơi

Theo cảm nhận của chúng tôi, các từ ngữ người Nam Bộ dùng để gọi người

yêu ẩn chứa sắc thái yêu quý, tôn trọng chứ không trung tính hoặc chỉ đơn giản là thể

hiện sự dịu dàng, trìu mến như cách xưng gọi anh và nàng. Điều này xuất phát từ tính

cách người Nam Bộ. Người Nam Bộ vốn giàu tình cảm, lại thẳng thắn và bộc trực,

trung thực và hồn nhiên trong suy nghĩ và hành động. Vì vậy, họ yêu ra yêu, ghét ra

ghét. Đã yêu thì phải làm sao bộc lộ cho hết tình cảm đang chất chứa trong lòng.

Cũng vì vậy mà ngay trong cách gọi ta đã thấy chất chứa nhiều tình cảm. Đó là một

trong những nét tính cách rất đáng yêu và thậm chí là đáng khâm phục của người

Nam Bộ.

77

TIỂU KẾT

Từ ngữ địa phương xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ với tần số cao.

Mỗi nhóm từ ngữ địa phương đem lại một màu sắc riêng. Tất cả làm nên đặc trưng

của văn học dân gian Nam Bộ, gợi những nét văn hóa đặc sắc của văn hóa Nam Bộ

và tính cách con người Nam Bộ.

+ Nhóm từ ngữ chỉ địa danh giúp người đọc hình dung ước vọng thời mở đất

của những lưu dân đầu tiên đặt chân đến Nam Bộ. Nó còn cho thấy sự ảnh hưởng,

tinh thần đoàn kết của các dân tộc anh em cùng sinh sống trên mảnh đất này. Đồng

thời, những từ ngữ chỉ địa danh khi xuất hiện trong ca dao, dân ca luôn gắn với tình

yêu và niềm tự hào về quê hương đất nước.

+ Nhóm từ ngữ liên quan đến sông nước vẽ lại khung cảnh thiên nhiên và nếp

sinh hoạt của người dân ở Nam Bộ. Đó là một vùng sông ngòi chằng chịt, đi kèm với

nhiều loại địa hình do sông nước tạo thành. Sông nước không chỉ là sự ưu ái của thiên

nhiên ban tặng cho người dân nơi đây mà còn mang đến không ít khó khăn. Người

dân gắn bó mật thiết với sông nước nên quan sát tì mỉ, tinh tế từng chuyển động của

con nước. Xuất hiện trong văn học dân gian, tất cả các từ ngữ này không còn là

những từ chỉ những sự vật vô tri vô giác mà còn mang dáng dấp, tình cảm, tính cách

của con người.

+ Nhóm từ ngữ chỉ không gian, thời gian cho thấy cách định danh không gian,

thời gian đặc trưng của người Nam Bộ. Đó là cách định danh ngắn gọn mà vẫn đầy

đủ ý nghĩa – đúng với tính cách người Nam Bộ. Khi xuất hiện trong văn học dân

gian, nhóm từ ngữ này là cơ sở để người đọc nhận ra xuất xứ của tác phẩm dân gian,

đồng thời cảm nhận được màu sắc địa phương trong tác phẩm ấy.

+ Nhóm từ chỉ các loài động thực vật xuất hiện trong văn học dân gian Nam

Bộ là nhóm từ rất phong phú. Trong đó, những từ ngữ chỉ các loài động thực vật có

đời sống gắn với sông nước, đầm lầy chiếm đa số. Nó cho thấy sự giàu có, trù phú

của vùng đất này. Trong văn học dân gian, những từ ngữ chỉ các loài động thực vật

vừa gợi quang cảnh thiên nhiên vùng đất Nam Bộ vừa mang dáng dấp và tâm tình của

người dân Nam Bộ.

78

+ Nhóm từ chỉ công cụ lao động, phương tiện sản xuất và sinh hoạt giúp hình

dung công việc mưu sinh và những sinh hoạt hằng ngày của người Nam Bộ. Đó là

vùng đất nông nghiệp với những công cụ và phương tiện sản xuất thô sơ. Nó gợi

được không khí Nam Bộ khi xuất hiện trong ca dao, dân ca. Đặc biệt là hình ảnh ghe

xuồng khi xuất hiện trong ca dao, dân ca luôn gợi được nét Nam Bộ rất đặc trưng.

Ghe, xuồng cũng là phương tiện chuyên chở tình cảm, suy nghĩ, những lo toan bộn bề

của người dân Nam Bộ.

+ Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động, trạng thái, tính chất thể hiện rất rõ đặc trưng của

phương ngữ Nam Bộ. Đặc biệt những từ ngữ mới do người Nam Bộ tạo ra có cái gì

đó xù xì, gần gũi và đầy sức sống. Khi xuất hiện trong văn học dân gian, nó làm toát

lên đặc trưng và vẻ đẹp của văn học dân gian Nam Bộ. Rất nhiều trường hợp nó được

dùng rất “đắt” làm người đọc không khỏi trầm trồ, thán phục vì nghiệm ra những điều

thú vị ẩn sau cách dùng từ ngữ của tác giả dân gian.

+ Nhóm từ ngữ xưng hô cho thấy cách xưng hô bình dân, mộc mạc, bình đẳng,

không câu nệ, vai vế, tuổi tác… của người Nam Bộ. Nó góp phần làm rõ nét tính

cách phóng khoáng, thoát khỏi những lễ nghi ràng buộc thường tình của người Nam

Bộ. Những từ ngữ để gọi người yêu trong ca dao, dân ca là một nét đặc trưng của ca

dao, dân ca Nam Bộ. Lớp từ ngữ này không chỉ phong phú về số lượng mà còn ẩn

chứa nhiều ý nghĩa. Nó chứa đựng cả tấm lòng - một tình cảm chân thành, mộc mạc

mà không kém phần sâu sắc. Nó vẽ thêm một nét đẹp trong tính cách cũng như cách

sử dụng ngôn ngữ của người Nam Bộ.

79

CHƯƠNG 3

NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT

MANG MÀU SẮC NAM BỘ

3.1Cách biểu đạt mang màu sắc bình dân, mộc mạc, dí dỏm

Màu sắc Nam Bộ trong văn học dân gian không chỉ thể hiện qua từ ngữ. Chúng

còn được biểu hiện qua những cách biểu đạt mang màu sắc riêng. Văn học dân gian

Nam Bộ mang màu sắc bình dân, mộc mạc và dí dỏm trong diễn đạt. Để thấy được sự

chất phác, mộc mạc trong cách diễn đạt của người Nam Bộ, ta cần phải so sánh với

cách diễn đạt của các vùng khác.

Ca dao Việt Nam có câu:

Gặp em anh nắm cổ tay

Anh hỏi câu này có lấy anh không

Nếu lời tỏ tình của người con trai trong câu ca dao trên rất ý tứ, tế nhị thì lời tỏ

tình của người Nam Bộ có phần táo bạo hơn:

Con cò nó mổ con lươn

Bớ chị ghe lườn muốn tía tui không

Cách dùng từ bớ và muốn cho thấy ngay ý định của người nói. Cái ý định ấy

được nói huỵch toẹt, không cần giấu giếm, cũng không cần trau chuốt. Ngoài cái ý

hơi sỗ sàng, ẩn đằng sau câu chữ là một sự thẳng thắn đến táo bạo.

Để thể hiện lời thề nguyền, lời nhắn nhủ của người con gái đối với người con

trai khi chia tay, ca dao Bắc Bộ có lối diễn đạt vần điệu với các từ ngữ trau chuốt, gọt

giũa:

Anh về em nắm cổ tay

Em dặn câu này anh chớ có quên

Đôi ta đã trót lời nguyền

Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng

80

Cũng là lời nhắn đó nhưng người con gái Nam Bộ lại có lối diễn đạt mộc mạc,

giản dị, ngắn gọn mà vẫn rất chân tình:

Anh thương em cho chắc cho bền

Dù ai xe cát đúc nền cũng đừng ham

Cùng là lời ca của cô gái lúc chia tay, tiễn dặn người thương nhưng ca dao mỗi

miền lại có cách diễn đạt khác nhau.

Đây là lời của cô gái ở miền Bắc:

Chàng về em chẳng cho về

Em nắm vạt áo, em đề câu thơ

Câu thương, câu nhớ, câu đợi, câu chờ.

Đọc câu ca dao, ta có thể thấy, tác giả dân gian đã khéo chọn lựa từ ngữ. Giữa

hai từ gần nghĩa “chẳng” và “không”, tác giả dân gian đã chọn “chẳng”. Vì “chẳng”

được đánh dấu biểu cảm rõ nét, có vẻ nũng nịu dễ thương còn từ “không” lại mang vẻ

trung tính lạnh lùng. Rõ ràng, đặt trong hoàn cảnh chia tay từ “chẳng” là một lựa

chọn hoàn hảo. Điệp ngữ kết hợp với biện pháp tách từ làm cho câu thơ cuối có màu

sắc của một lời thề hẹn thủy chung. Bài ca dao đã kết thúc nhưng người đọc vẫn cảm

thấy nằng nặng trong lòng, nặng vì tình cảm cô gái gửi gắm trong bài ca dao quá thiết

tha.

Trong khi đó, cũng đau đáu, bồi hồi một nỗi thương yêu nhưng cô gái cở miền

Trung có phần tỉnh táo hơn:

Chàng về em chẳng cho về

Em nắm vạt áo em đề câu thơ

Thơ đề ba chữ rành rành

Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba

Chữ trung em để phần cha

Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình.

Cô gái đã làm một phép phân chia rạch ròi: trung, hiếu, tình. Thế nhưng, sự

phân chia đó chỉ là cái cớ. Câu ca dao dồn sức nặng vào bốn chữ cuối. Cái nặng của

thanh huyền, của vần bằng và âm vang đọng lại trong chữ tình đã cộng hưởng thêm

cho cái nặng của tình yêu đôi lứa.

81

Cô gái miền Nam lại có cách thổ lộ của riêng mình:

Chàng về em nắm vạt áo em la làng

Bỏ chữ thương, chữ nhớ giữa đàng cho em.

Không phải lời tình tứ thiết tha mang âm sắc dịu dàng, nữ tính mà là lời bộc

trực, táo bạo, quyết liệt đến bất ngờ dồn vào một dòng thơ chín chữ. Một loạt yếu tố

đồng nghĩa, gần nghĩa như kêu, gọi, nhắn…không được sử dụng, tác giả dân gian đã

chọn “la”, mà “la làng” là ở bậc cao nhất. Thương và nhớ được tách đôi, câu thơ như

trào ra do không thể kìm nén dưới sức mạnh của niềm yêu thương mãnh liệt. Niềm

yêu thương được bộc lộ hồn nhiên không giấu giếm: em đã thương anh rồi, sao anh

nỡ về bỏ em bơ vơ. Nam Bộ là vậy. Không triết lí sâu sắc, không nhẹ nhàng tinh tế

mà vẫn cảm được sức nặng của tình yêu.

Người Nam Bộ trọng nội dung, ít chú ý đến hình thức, cốt sao nói được hết ý,

không trau chuốt bay bướm. Trong khẩu ngữ, khi muốn diễn đạt điều gì thì đi thẳng

vào vấn đề. Trong ca dao dân ca thì ít chú ý tới vần điệu mà tập trung cho ý. Trong

2355 bài ca dao, dân ca trong nguồn ngữ liệu khảo sát chỉ 779 bài là những câu lục

bát hoàn chỉnh chiếm 33%, còn lại 1576 bài là những câu lục bát biến thể chiếm 67%.

Những câu lục bát biến thể này khi thì thay đổi về số tiếng trong một dòng (có dòng

lên đến 18 tiếng), lúc thay đổi về số dòng trong một bài (có bài lên đến 15 dòng). Một

câu ca dao quen thuộc có thể được tác giả dân gian Nam Bộ kéo dài ra hay rút ngắn

lại một cách thoải mái. Cũng chính vì vậy mà, khi khảo sát ngữ liệu, chúng tôi đôi lần

không tránh khỏi giật mình trước sự kết thúc đột ngột của một câu ca dao nào đó.

Không chú ý tới vần điệu vừa là điểm hạn chế nhưng cũng là yếu tố tạo nên

đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ. Nó nói lên tính phóng khoáng trong diễn đạt

và hơn thế nữa đằng sau câu chữ còn là cá tính của cư dân một vùng đất. Tác giả dân

gian ít chú ý đến hình thức diễn đạt mà cốt sao chuyển tải được nội dung; từ ngữ giản

dị, ít gọt giũa, trau chuốt, ít chú ý đến cú pháp chuẩn. Điều này xuất phát từ tính cách

phóng khoáng, chân thật, giản dị, ít chú ý tới hình thức bên ngoài trong cuộc sống đời

thường của người nông dân. Chất thơ phảng phất trong không khí của đồng quê,

trong chất liệu của hương đồng gió nội có những chỗ không đúng theo quy định của

vần điệu truyền thống nhưng lại là nét đáng quý của cách viết không chuộng trau

82

chuốt mà cốt hồn nhiên. Nét đẹp của văn học dân Nam Bộ một phần nằm ở cách diễn

đạt ấy.

Người Nam Bộ thường có cách nói phóng đại, cường điệu. Lối nói này mang ý

nghĩa biểu cảm cao đồng thời cũng góp phần tạo nên sự dí dỏm và hài hước. Nó giúp

người nói biểu đạt suy nghĩ, tình cảm ở những mức độ khác nhau: mừng- mừng trong

bụng, mừng như mở cờ trong bụng; cười – cười bể bụng, chạy – chạy té khói, chạy

thục mạng; ghét – ghét quá chừng, ghét hết vừa bà vừa con;… Đây đều là những

cách biểu đạt mang ý nghĩa mức độ cao, nó vừa có tính hình ảnh vừa có giá trị biểu

cảm cao:

Chỗ anh chí quyết mà cha mẹ biểu đừng

Chỗ ghét quá chừng ba mẹ biểu ưng

Phụ mẫu đánh em quật quà quật quại treo tại nhành dương

Phụ mẫu biểu em từ ai thì em từ được chứ biểu từ người thương em không từ

Để biểu thị những cung bậc tình cảm khác nhau trong tình cảm yêu đương,

người Nam Bộ có rất nhiều cách nói khác nhau. Những cách biểu đạt này phong phú

đến mức chúng tôi phải dùng một bảng riêng để thống kê những cụm từ kiểu “thương

+ bổ ngữ”.

Bảng 3.1

Số lần xuất hiện Stt Thương + bổ ngữ

1 Thương đến ông trời 1

2 Thương quằn thương quại 1

3 Thương dại thương dột 3

4 Thương lột da cóc 3

5 Thương tróc da đầu 3

6 Thương đứt ruột 3

7 Thương ruột gan thắt thẻo 5

8 Thương thắt théo ruột gan 4

83

9 Thương chết nửa thân mình 1

10 Thương ruột héo gan rầu 4

11 Thương ruột thắt gan bào 5

12 Thương nước mắt sụt sùi 1

13 Thương ruột gan héo bầm 3

14 Thương ruột thắt gan đau 4

15 Thương ruột thắt chín tầng đành đoạn héo hon 1

16 Thương rớt lụy, can tràng quặn đau 1

17 Thương thảm thiết vô cùng 1

Tổng cộng 44 lần

Trong bảng trên có đến 18 cách diễn đạt mức độ yêu thương khác nhau với tần

số xuất hiện 44 lần. Trong đó, hầu hết các cách biểu đạt đều là kết quả của sự cường

điệu, phóng đại. Tác giả dân gian đã phóng đại mức độ thương kiểu như:

Thương lột da cóc, thương tróc da đầu:

Anh thương em, thương dại thương dột

Thương lột da cóc, thương tróc da đầu

Ngủ đi thì nhớ, thức dậy thì thương

Giục ngựa buông cương lên đường thượng lộ

Hỡi ông trời, mới ngộ lại xa

Thật là một cách thể hiện tình cảm độc đáo mang đậm màu sắc Nam Bộ. Nghe

xong lời tâm sự, ta không khỏi mỉm cười, cười vì hiểu được tấm chân tình mộc mạc

được thổ lộ một cách vô cùng tự nhiên của chàng trai ấy.

Sự phóng đại ở đây không phải sự lộng ngôn. Nó là cách để nhân vật trữ tình

bộc lộ tình cảm của mình, đó là thứ tình cảm vô cùng thắm thiết, nồng nàn mà những

cách diễn đạt thông thường khó mà lột tả được hết.

Để diễn tả cho kì được tấm chân tình của mình, tác giả dân gian Nam Bộ còn

dùng chính những bộ phận của cơ thể mình để biểu đạt.

Thương đứt ruột:

Đũa vàng dộng xuống mâm son

Anh thương em đứt ruột vội từ hôn sao đành

84

Thương đứt ruột, đứt gan:

Gió năm non thổi lòn hang chuột

Thấy em bơi xuồng anh đứt ruột đứt gan

Thương chết nửa thân mình:

Anh bước xuống xuồng nhỏ

Anh gõ nhẹ một cái cộc

Anh lượm được cục ngọc thủy tinh

Anh thương em chết nửa thân mình

Mà em ngơ ngẩn như mình thương ai

Thương đến mức muốn cắt ruột cho người tình:

Một tiếng than đôi ba tiếng vãn, năm bảy tiếng tình

Thiếu điều anh cắt ruột bỏ qua mình, anh về không.

Đối với người Việt, ruột, gan thường được dùng để biểu đạt ý chí, tình cảm

của con người. Từ ruột được người Việt dùng để chỉ huyết thống, đặc biệt là quan hệ

huyết thống trực tiếp. Quan hệ huyết thống là cơ sở quan trọng để tạo ra tình cảm

giữa những người trong gia đình, dòng tộc. Ngoài ra, ý nghĩa biểu trưng của ruột còn

được mở rộng để chỉ lí trí và tâm trạng con người. Tác giả dân gian Nam Bộ không

dùng ruột để chỉ tâm trạng hạnh phúc, thỏa mãn mà thường dùng để chỉ tâm trạng

đau khổ.

Ruột thắt chín tầng:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ bạn chín chiều ruột đau

Ruột thắt gan đau vì nghèo mới xa cô bạn

Ruột thắt chín tầng đành đoạn héo hon

Ruột bầm như dưa:

Anh đi không lẽ em cầm

Chấp tay đưa bạn ruột bầm như dưa

Gan trong cách nói của người Việt biểu trưng cho tinh thần, ý chí, cho tính

cách con người. Trong ca dao, dân ca Nam Bộ, gan thường biểu trưng cho tâm trạng

85

buồn khổ. Khi biểu đạt tâm trạng buồn khổ, gan thường đi liền với ruột trong một

cụm từ có tính thành ngữ.

Ruột gan thắt thẻo:

- Ai mà lạc lối thuyền tình

Nào khi thề thốt đinh ninh

Theo dòng nước chảy một mình quạnh hiu

- Nghe em than, ruột gan thắt thẻo

Lòng anh không bạc bẽo sao em khéo rầy rà

Anh nguyền trọn dạ đến già chẳng phai

Ruột gan héo bầm:

Bây giờ giấy trắng, mực đen

Em xin viết giấy làm tờ cam đoan

Em đứng giữa trời em chẳng nói gian

Em xa người nghĩa mà ruột gan héo bầm.

Ruột héo gan rầu:

Ngó lên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Lau

Thấy buồm bạn chạy sóng bủa theo sau

Anh thương em ruột héo gan rầu

Biết em thương lại được chút nào hay không.

Ruột thắt gan bào:

Ngó lên trời thấy mây vần vũ

Ngó xuống âm phủ thấy đủ mặt bá quan

Ngó về Nam Vang thấy bốn chữ phết vàng

Ngó thấu Ngọc Hoàng thấy hàng chữ đỏ

Ngó về biển nhỏ thấy sóng bủa lao xao

Anh thương em ruột thắt gan bào

Biết em có thương lại chút nào hay không?

Đôi khi ruột, gan được tách thành hai vế đối xứng nhằm nhấn mạnh nỗi niềm:

86

Thương em đất lở tự trầm

Gan thâm từng lá, ruột bầm từng cơn

Ngoài ra, gan còn được dùng để biểu đạt trạng thái tức giận:

Ngọn dền tía, ngọn bần cũng tía

Ngọn lang giâm, ngọn nứa cũng giâm

Thấy em tốt mã anh lầm

Bây giờ so lại giận bầm lá gan.

Hay tâm trạng bồi hồi, tương tư:

Chim trên rừng nó kêu dội suối

Gà dưới núi nó gáy chày đôi

Đêm năm canh thức dậy em ngồi

Lòng thương quân tử bồi hồi lá gan.

Như vậy, ruột, gan trong ca dao, dân ca Nam Bộ gắn với khuynh hướng biểu

đạt tâm trạng đau buồn, mang sắc thái biểu cảm âm tính. Điều này, có lẽ xuất phát từ

nguyên tắc sống hết mình của người dân Nam Bộ. Vì sống hết mình nên trong tình

yêu bao giờ người Nam Bộ cũng muốn nói tận đáy lòng, nói cho đối tượng hiểu được

bụng dạ của mình, phơi bày cả ruột gan mình ra. Đây cũng là một nét đặc sắc trong

văn học dân gian Nam Bộ nói chung và ca dao, dân ca Nam Bộ nói riêng.

Người Nam Bộ tính vốn thẳng thắn, bộc trực, không bị gò ép bởi lễ giáo phong

kiến. Vì vậy, ngay cả phụ nữ trong tình yêu cũng táo bạo và dí dỏm không kém nam

giới:

Thương anh vô giá quá chừng

Trèo tường quên mệt, ngậm gừng quên cay

Nhác trông thấy bóng anh đây

Ăn chín lạng ớt ngọt ngay như đường.

Khó có thể tin được tình yêu sẽ làm vị giác của con người bị lẫn lộn giữa vị

cay và vị ngọt. Thế nhưng, lời cô gái vẫn nhận được sự đồng cảm từ những tâm hồn

đang yêu bởi vì họ hiểu cách nói đó cũng là một trong nhiều cách biểu đạt tình yêu

vậy.

Nếu không lấy đặng cô này

87

Tui thề chèo ghe ra biển cả, nước lớn đầy …tui chèo vô.

Câu tôm, câu vớt, câu vợt, câu cần

Câu doi, câu vịnh, câu lần tới em.

Cách nói khoa trương, phóng đại cũng góp phần tạo nên phong cách diễn đạt dí

dỏm, hài hước của người Nam Bộ. Dù thiên nhiên có phần ưu đãi, điều kiện tự nhiên

thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế nhưng người Nam Bộ cũng

gặp không ít khó khăn, thử thách, nhất là trong buổi đầu khai phá vùng đất này. Họ

đã phải chế ngự những nỗi buồn len lỏi trong tâm tư của những người xa quê, nỗi

buồn lúc mất mùa, bệnh tật. Họ lấy tiếng cười làm phương thuốc để tự động viên

mình, động viên người bên cạnh. Trong lời ăn tiếng nói của người Nam Bộ thường có

những ý tứ gây cười. Trong những lúc vất vả, khó khăn nhất, tiếng cười lại xuất hiện

càng nhiều.

Khi miêu tả thiên nhiên hoang sơ, người Nam Bộ có câu ca dao nổi tiếng:

Xứ nào bằng xứ Cạnh Đền

Muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lền tợ bánh canh

Có thể thấy, các tính chất, trạng thái được miêu tả phóng đại giúp người nói đi

sâu vào mô tả bản chất sự vật. Đồng thời, người nghe cũng hình dung được sự vật

một cách cụ thể hơn. Câu ca dao miêu tả một hoàn cảnh sống không thuận lợi thậm

chí là có phần khắc nghiệt, vậy mà ta không tìm thấy ở đó sự than thở hay trách móc.

Câu ca dao còn có phần dí dỏm nhờ vào các hình ảnh so sánh: muỗi kêu – sáo thổi,

đĩa – bánh canh. Từ đó, toát lên tinh thần lạc quan, yêu đời đáng quý của người Nam

Bộ.

Ngay cả trong tình yêu - lĩnh vực mà ai cũng nghĩ cần phải nghiêm túc - thì

người Nam Bộ cũng có thể bông đùa được:

Anh có tiền dư cho em một đồng

Em về mua gan công mật cóc thuốc chồng rồi theo anh

Thế nhưng, sự bông đùa ấy vẫn ẩn chứa tình cảm chân thành, mộc mạc. Chính

vì vậy, những câu ca dao như thế mới giữ được sức sống lâu dài.

88

Nỗi lo cơm áo gạo tiền luôn là gánh nặng của con người. Thế nhưng, sự đối lập

giàu nghèo trong cách nói của người Nam Bộ trở nên rất nhẹ nhàng:

Người ta giàu người ta nấu đầy nồi

Mình nghèo nấu ít, ăn rồi mình nấu thêm

Người ta giàu người ta ngủ thẳng đêm

Mình nghèo ngủ ít, ngủ thêm ban ngày

Có thể nói, lạc quan yêu đời và dí dỏm, hài hước là các đặc điểm hay đi liền

với nhau. Trong môi trường có phần khó khăn, khắc nghiệt thì tiếng cười cũng là một

vũ khí để chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng bản thân mình.

Trong những câu chuyện cười, đặc biệt là câu chuyện về Bác Ba Phi, lối nói

phóng đại đạt đến đỉnh cao. Các sự vật được kể trong chuyện Bác Ba Phi đều được

cường điệu về độ phong phú của số lượng. Đây là câu chuyện bác Ba Phi đi bắt rùa:

“Ngồi trên ghe, bác thấy con nào lớn thì bắt bỏ lên ghe, nhỏ thì hất xuống sông. Đầy

ghe bác nhổ sào ra về. Không ngờ, những chú rùa con bị hất xuống, bám theo hai

bên ghe đông nghịt. Bọn chúng một tay bám, một tay bơi nên bác Ba không phải chèo

xuồng mà chỉ việc ngồi kèm lái. Những con rùa bám hai bên ghe càng sợ rơi càng

bơi dữ khiến chiếc ghe của bác chạy nhanh như bo bo”.

Có những câu chuyện tác giả dân gian phóng đại độ lớn của loài vật: “Một lần,

bác Ba Phi kể rằng, nhà bác có nuôi một con vịt xiêm, nó lớn rất nhanh và cao to. Có

người đi qua chuồng làm náo động khiến con vịt cất cánh bay tung lên làm sập mười

căn nhà ở xung quanh. Người ta bắt bác phải bồi thường thiệt hại. Bác liền gọi thằng

nhỏ đi bắt cá bán để lấy tiền đền cho người ta. Cá ở ao nhà bác rất to, thằng nhỏ

không dám lội xuống bắt vì sợ nó ăn thịt. Nó dùng cần câu, cá cắn câu mà không thể

kéo lên bờ được còn bị nó lôi xuống ao. Bỗng nhiên, cá quẫy đuôi một cái, nó lại bị

bắn lên bờ, văng ra xa hơn mười công đất”.

Không khó để tìm những cách phóng đại như trên trong truyện cười Nam Bộ.

Qua lối diễn đạt cường điệu, phóng đại, người Nam Bộ thể hiện tình yêu, sự gắn bó

và niềm tự hào đối với quê hương. Việc dùng nhiều lối nói phóng đại còn thể hiện lối

sống lạc quan pha chút lãng mạn vô tư của người lao động.

89

Tính dí dỏm, hài hước ở Nam Bộ thường nhằm mục đích vui cười hả hê, giải

trí chứ không sâu sắc, thâm thúy như tiếng cười trong văn học dân gian ở các vùng

khác. Sự khác biệt này không thể hiện sự khác biệt về khả năng tư duy mà thuộc về

tính cách con người được thể hiện qua lối tư duy. Nó xuất phát từ lối tư duy lạc

quan,yêu đời, yêu cuộc sống của người Nam Bộ.

3.2.Cách biểu đạt bằng lối so sánh

So sánh là biện pháp được hình thành dựa trên việc liên tưởng đến nét tương

đồng giữa hai đối tượng khác nhau, trong đó hai đối tượng đều được nêu ra một cách

công khai. Trong văn học dân gian, tác giả dân gian thường so sánh đối chiếu đời

sống tình cảm, tâm trạng con người và hình ảnh thiên nhiên; tức là thông qua hình

ảnh thiên nhiên, tác giả dân gian muốn nói lên số phận, tâm tư, tình cảm của con

người. “Hình ảnh thiên nhiên và trạng thái con người tình cảm của con người được

đối chiếu với nhau trong những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, cái này gợi ý về cái

kia, và đích miêu tả cuối cùng là trạng thái tình cảm của con người” [49]. Với biện

pháp so sánh, cách nói sẽ hình ảnh hơn, sinh động hơn, tạo được cảm xúc thẩm mỹ

trong nhận thức của người tiếp nhận.

Để chỉ những người hay ăn mà lại lười biếng làm việc, ở Nam Bộ có thành

ngữ:

Ăn như xáng múc, làm như lục bình trôi

Hay:

Ăn như xáng thổi, làm như chổi cùn

Đối tượng được đem ra so sánh bao giờ cũng là những sự vật, hiện tượng quen

thuộc.

Sự giàu có về sản vật (như tôm, cá, các loại trái cây) của vùng đất Nam Bộ

chính là cơ sở hình thành những hình ảnh để đem so sánh trong ca dao dân ca. Người

Nam Bộ đã lựa chọn những hình ảnh về các loại sản vật để nói lên thân phận, phẩm

chất của con người Nam Bộ:

Sen mọc giữa đồng lòng sen trong trắng

Sen Tháp Mười mưa nắng vẫn tươi

Bông sen như nết con người

90

Đẹp như con gái Tháp Mười quê ta

Nói đến cảnh sum họp của đôi lứa, ca dao Nam Bộ có câu:

Đôi ta như cá ở đìa

Ngày ăn tản lạc tối dìa đủ đông

Cá ở đìa là một hiện thực rất gần gũi với người dân vùng sông nước, vì thế khi

liên tưởng đến hoàn cảnh của con người hình ảnh cá ở đìa đã đi vào ca dao một cách

rất tự nhiên, không hề gượng ép.

Hoàn cảnh người con gái có chồng được tác giả dân gian Nam Bộ so sánh với

một hình ảnh đặc trưng của vùng đất này:

Bậu có chồng như cá vô lờ

Tương tư nhớ bậu dật dờ năm canh.

Nỗi vui mừng của cô gái khi gặp người yêu cũng mang đậm chất Nam Bộ,

không lẫn vào đâu được:

Gặp anh đây mừng đã quá mừng

Giả như bông lúa trổ mà nửa chừng mắc mưa.

Người Nam Bộ sống rất mạnh mẽ nên những hình ảnh họ đem ra so sánh

thường cụ thể, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Cách nói, cách sử dụng những

hình ảnh mạnh mẽ đã tạo cho ca dao, dân ca Nam Bộ một âm hưởng riêng:

Kẻ trắng như bông lòng anh không chuộng

Đen như cục than hầm, làm ruộng anh lại thương.

Những hình ảnh so sánh vừa dứt khoát, không mập mờ, trung tính lại vừa có

tính gợi hình, biểu cảm: trắng thì phải trắng như bông, đen thì phải đen như cục than

hầm. Thế mới là cực độ của trắng và đen. Thế mới thấy được tấm chân tình thiết tha

của chàng trai trong câu ca.

Ngoài ra, ca dao, dân ca Nam Bộ còn có những hình ảnh so sánh mang tính dí

dỏm. Điều này xuất phát từ tính cách vui vẻ, lạc quan của người Nam Bộ.

Gái chưa chồng trong lòng hớn hở

Trai chưa vợ ruột thắt tợ trái chanh

Hay:

Em tròn như quả quýt,

91

Em ngọt như trái cam sành

Tình thương em không chia sớt, em để dành cho ai.

Những hình ảnh về thiên nhiên, về sinh hoạt lao động, về sản vật của quê

hương đã trở thành những hình ảnh so sánh quen thuộc trong ca dao, dân ca; qua đó

nói lên tâm trạng, tình cảm, thân phận con người.

Khi nói đến thân phận người phụ nữ, ca dao dân ca Nam Bộ có những hình ảnh

riêng: trái bần trôi, hạt gạo, cái chuông vàng, cái sạp vàng, đóa sen, cá rô mề, trái

chanh, trái mãng cầu, chiếc thuyền be. Tất cả những hình ảnh trên đều là những sự

vật quen thuộc, gần gũi trong đời sống hằng ngày của người nông dân Nam Bộ.

Chúng vừa có giá trị gợi hình, biểu cảm vừa mang đậm màu sắc địa phương.

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

Thân em hạt gạo trắng ngần

Đã vo nước đục lại vần lửa rơm

Thà rằng chẳng biết cho xong

Biết rồi như xúc,, như đong lấy sầu.

Thân em như tấm lụa đào

Kẻ ưa người chuộng biết vào tay ai

Thân em như tấm lụa điều

Đã đông nơi chuộng lại nhiều nơi thương

Thân em như cái chuông vàng

Ở trong thành nội có ngàn lính canh

Thân em như cái sạp vàng

Anh như chiếu rách bên đàng bỏ quên

92

Thân em như thể đóa sen

Anh như bèo bọt chẳng chen được vào

Thân em như trái xoài trên cây

Gió đông, gió nam, gió tây, gió bắc

Nó đánh lúc la lúc trên cành.

Thân em như cá rô mề

Kẻ nom người xúc biết về tay ai.

Em như bông cải tháng mười

Rần rần nở rộ người người đón đưa.

Thân em như trái mãng cầu

Ở trên bàn án hạc chầu lọng che

Thân em như thể trái chanh

Lắc lẻo trên cành nhiều kẻ ước mơ.

Thân em như chiếc thuyền be

Sợ e sóng trước lại dè sóng sau.

3.3.Cách biểu đạt bằng những hình ảnh biểu trưng quen thuộc

Hình ảnh biểu trưng thường được tạo nên nhờ biện pháp ẩn dụ. Ẩn dụ là biện

pháp mượn đối tượng này để nói đến đối tượng khác dựa trên nét tương đồng giữa hai

đối tượng, trong đó có một đối tượng không được nêu ra mà ẩn đi để người đọc tự

suy ra đối tượng kia. Đây là biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong ca dao dân ca.

Tùy vào cách liên tưởng, cách lựa chọn hình ảnh của tác giả mà người tiếp nhận suy

ra ý nghĩa hàm ẩn, ý nghĩa tiềm tàng trong câu ca dao. Để có được cách hiểu đúng,

người tiếp nhận phải có một vốn hiểu biết nhất định về điều kiện tự nhiên, văn hóa,

93

con người… của nơi hình thành nên câu ca dao đó. Như vậy, các hình ảnh biểu trưng

cũng mang đậm dấu ấn địa phương - nơi sản sinh ra nó.

Những hình ảnh biểu trưng trong ca dao dân ca Nam Bộ đều xuất phát từ

những yếu tố liên quan đến vùng đất và con người Nam Bộ. Khi nói về người con

gái, người Nam Bộ sử dụng các hình ảnh như : lê, lựu, mãng cầu, cây bần, bông

trang, trái xoài, cá rô mề… Điểm qua danh sách các hình ảnh, ta dễ dàng nhận thấy

màu sắc địa phương Nam Bộ trong những hình ảnh ấy. Tùy vào tính chất, đặc điểm

của những hình ảnh được sử dụng mà tác giả có thể liên tưởng đến phẩm chất , tính

tình, hoặc nêu lên những suy nghĩ của mình về người con gái:

Cây bần ơi hỡi cây bần

Lá xanh bông trắng lại gần không thơm

Hình ảnh cây bần với lá xanh bông trắng nhưng “không thơm” gợi cho ta cách

nghĩ: người con gái trong câu ca dao chỉ có vẻ đẹp bên ngoài mà thiếu mất vẻ đẹp

tâm hồn bên trong.

Trong chủ đề tình yêu đôi lứa, những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng đã thể

hiện được tâm trạng, thái độ, tình cảm của đôi lứa yêu nhau một cách sâu sắc. Tác giả

dân gian Nam Bộ đã nói lên quan niệm lựa chọn người yêu như sau:

Quýt rụng bờ ao ngọt ngào anh chuộng

Trái cam hồng đào rụng cuống anh chê

Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm

Ngọt như cam sành úng cuống anh chê.

Chàng trai sẵn sàng chọn cô gái tuy nhan sắc không đẹp (quýt rụng bờ ao)

nhưng phẩm chất tốt đẹp (ngọt ngào), chứ không bằng lòng chọn cô gái có nhan sắc

(trái cam hồng đào) nhưng lại không có đức hạnh (rụng cuống).

Trang ca dao, dân ca Nam Bộ có nhiều hình ảnh biểu trưng cho cuộc sống khó

khăn, vất vả: chiếu lác, áo ngắn, vải bô. Đồng thời cũng có những hình ảnh biểu trưng

cho sự giàu có, sung túc: chăn gấm, áo dài, lãnh. Các hình ảnh này thường xuất hiện

sóng đôi trong cùng một câu ca dao, nhằm nói lên quan điểm sống của người dân

Nam Bộ:

94

Thà rằng chiếu lác có đôi

Còn hơn chăn gấm lẻ loi một mình.

Áo dài chớ tưởng là sang

Bởi không áo ngắn phải mang áo dài.

Áo dài chớ nệ quần thưa

Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm

Người Nam Bộ dùng hình ảnh hoa sen, cá rô đồng, bông lài để biểu trưng cho

những phẩm chất đáng quý của con người:

Đừng chê bông quế mà phế bông lài

Mai sau quế lụi bông lài còn thơm.

- Tuy anh với đó không quen

Nhưng anh thương xót cánh sen vùi bùn

- Vùi bùn sen vẫn là sen

Lục bình rau má khó chen được vào.

Buổi chợ đang đông con cá rô đồng anh chê lạt

Buổi chợ tan rồi con tép bạc anh khen ngon.

Có những từ ngữ mang ý nghĩa biểu trưng đặc trưng cho ca dao, dân ca Nam

Bộ. Chúng cho phép người đọc nhận rõ xuất xứ của câu ca dao ấy:

Bậu chê qua ở rẫy ăn còng

Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm

Muốn hiểu nội dung câu ca dao này, người đọc phải biết hiểu những cách nói

rất Nam Bộ như : “ở rẫy” là chỉ những người làm ruộng, ở thôn quê, “ở chợ” là

những người sống bằng nghề buôn bán, ở thành thị. Người con gái đã chọn người ở

thành thị. Nhưng cô đã sai lầm vì cuộc sống của người ở chợ cũng kham khổ chẳng

kém gì cuộc sống của người ở rẫy. Câu ca dao như một lời trách cứ nhẹ nhàng có

phần tiếc nuối của người con trai trước sự lựa chọn của cô gái.

95

Về nội dung tư tưởng, hai câu ca dao trên nằm trong sự thống nhất với ca dao

dân ca của dân tộc, tức là cũng đồng quan điểm “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Tuy nhiên,

xét về cách nói thì có thể thấy, các hình ảnh được sử dụng đều là những sản vật riêng

có ở Nam Bộ, là các loại địa hình đặc trưng của Nam Bộ. Vì vậy, muốn hiểu được

dụng ý của các câu ca dao ấy, người tiếp nhận phải liên hệ đến phong tục tập quán và

cuộc sống của con người ở vùng đất Nam Bộ. Từ đó, người tiếp nhận sẽ nhận thức

được màu sắc địa phương Nam Bộ trong những câu ca dao ấy.

Ngoài ra, trong ca dao, dân ca Nam Bộ ta còn thấy xuất hiện một số điển tích,

điển cố mang tính chất biểu trưng. Trong đó có nhiều điển tích, điển cố có nguồn gốc

từ thi liệu, văn học Trung Quốc.

Ai xui kẻ Hán người Hồ

Đêm thương ngày nhớ, khó gần được nhau.

Câu ca dao gợi đến điển cố nàng Chiêu Quân cống Hồ. Khi vua Hán nhận ra vẻ

đẹp của nàng Chiêu Quân thì cũng chính là lúc nàng rời Hán sang Hồ dâng mình cho

vua Hung Nô để giữ tình hòa hiếu. Bài ca dao đã lấy ý của điền cố nhưng hoàn toàn

có thể tồn tại một cách độc lập. Người đọc có thể không hiểu nghĩa của điển cố

nhưng có thể hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của bài ca dao nhờ vào cách vận dụng thể

đăng đối “kẻ Hán người Hồ” đã tạo nên trường nghĩa về nỗi đau li biệt.

Theo thần thoại Trung Quốc, chim quạ (ô), chim khách (thước) khuân đá lấp

sông Ngân Hà tạo nên cầu Ô Thước để Chức Nữ sang gặp Ngưu Lang trong tiết thất

tịch (mùng 7 tháng 7). Từ đó, cầu Ô Thước biểu trưng cho sự gặp gỡ, nối kết đôi lứa:

Bậu đừng dứt nghĩa cầu Ô

Bởi qua đây không phụ Hớn, chuộng Hồ như ai

Biểu đừng nghi bảy nghi ba

Không tin bậu cứ hỏi kẻ xa người gần.

Cầu Ô Thước trăm năm giữ vẹn

Sông Ngân Hà giữ trọn đừng phai

Sợ anh ham chốn tiền tài

Dứt tình nhơn nghĩa mà đành quên em.

96

Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quặt

Bước xuống ghe, ghe lắc ghe nghiêng

Lữ Phụng Tiên sánh với Điêu Thuyền

Kiếp này không đặng xin nguyền kiếp sau.

Lữ Phụng Tiên tức Lữ Bố là con trai của Đổng Trác. Đây là hai nhân vật trong

“Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung. Lữ Bố và Đổng Trác cùng tranh giành

một cô gái là Điêu Thuyền. Trong câu ca dao trên, tác giả dân gian mượn điển tích

này để nói lên tình cảnh éo le, ngang trái.

“Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung là tác phẩm mà người dân Nam Bộ

vô cùng yêu thích. Đặc biệt, nhân vật Trương Phi với tính tình cương nghị, thẳng thắn

có phần nào tương đồng với tính cách người Nam Bộ. Chính vì vậy, nhân vật này đã

gây được thiện cảm với người dân nơi đây.

Chừng nào ông vua Trụ ăn ở hiền lành

Ông Trương Phi mà nguội tánh, anh mới đành xa em.

Câu chuyện về Tiết Đinh San và Phàn Lê Huê trong truyện cổ Trung Quốc

cũng được người Nam Bộ ghi nhớ và đưa vào ca dao một cách hóm hỉnh:

Trăng hỡi còn khuya đường về thăm thẳm

Đôi ta xứng lắm gặp em đây như kép gặp đào

Như Lê Huê gặp giặc lẽ nào anh tha.

Trong số các điển tích điển cố có nguồn gốc từ thi liệu văn học Trung Quốc,

hình ảnh ông Tơ, bà Nguyệt xuất hiện với tần số cao nhất. Trong văn học Trung

Quốc, điển Nguyệt Lão gắn với câu chuyện của một người tên Vi Cố đời Đường.

Nguyệt Lão là một cụ già chuyên lo xe kết lương duyên bằng sợi chỉ đỏ (tơ hồng, chỉ

hồng). Tuy nhiên, khi đi vào ca dao Nam Bộ hình ảnh này lại được cải biến khá thú

vị: Nguyệt Lão thành ông Tơ – bà Nguyệt, thậm chí đôi khi chỉ còn là bà Nguyệt:

Tìm nhà bà Nguyệt gạn thiệt cho rành

Vì đâu hoa nọ bỏ cành,

Nợ duyên sao sớm dứt tình hỡi em!

97

Ông tơ – bà Nguyệt còn là đối tượng để đôi lứa yêu nhau trách móc, oán than

khi tình duyên không trọn vẹn:

Quất ông Tơ một cái chót

Ông nhảy thót lên đọt bần

Trách ông xe quanh xe quất

Cái tuổi Tuất với tuổi Dần ông không xe

Bắt ông Tơ đánh sơ vài chục

Duyên nợ sờ sờ ông ngủ gục quên xe

Bên cạnh đó, trong ca dao, dân ca Nam Bộ còn có những điển cố có nguồn gốc

từ thi liệu và văn học Việt Nam.

Truyện Kiều của Nguyễn Du mặc dù là một truyện thơ bác học nhưng vẫn

được nhân dân yêu mến. Trong đó, tác giả dân gian chú ý nhiều nhất đến mối tình sâu

sắc của Thúy Kiều và Kim Trọng:

Sông Tiền Đường cá lội tới lui

Kiều thương Kim Trọng như tui thương mình.

Truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu là truyện Nôm được lưu truyền

rộng rãi ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Một số chi tiết, nhân vật trong truyện đã

đi vào ca dao:

Người nào là vợ Vân Tiên

Nói cho tui biết tui chào liền chị dâu

Tấm lòng son sắt thủy chung của Nguyệt Nga đối với Vân Tiên đã trở thành

một kiểu mẫu mà người con gái Nam Bộ hướng tới:

Bông sen hết nhụy bông tàn

Em đâu giữ tiết như nàng Nguyệt Nga

Người Nam Bộ không có thói quen dùng nhiều điển cố, điển tích trong diễn

đạt. Điều này xuất phát từ tính cách giản dị, ưa sự đơn giản, mộc mạc của người nông

dân Nam Bộ. Vì vậy, nếu có dùng điển tích tác giả dân gian cũng chỉ dùng những

điển quen thuộc. Khi dùng điển, tác giả dân gian có những cách dùng riêng nhằm làm

98

cho điển tích trở nên gần gũi với người tiếp nhận. Điều này bổ sung thêm một nét đặc

sắc cho văn học dân gian Nam Bộ.

3.4. Cách biểu đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ đặc trưng trong ca dao, dân ca

Nam Bộ

Ca dao, dân ca có nhiều yếu tố trùng lặp do truyền miệng. Vì vậy, khi tiếp xúc

với ca dao – dân ca, chúng ta thường có cảm giác là câu ca dao rất quen, dường như

đã đọc nhiều lần. Những yếu tố trùng lặp đó được gọi là những biểu thức ngôn ngữ.

Biểu thức ngôn ngữ là những đơn vị ngôn ngữ quen thuộc được hình thành do

việc sử dụng lặp đi lặp lại nhiều lần, phản ánh tính truyền miệng, tính tập thể của văn

học dân gian. Biểu thức ngôn ngữ xuất hiện trong những câu ca dao khác nhau vẫn

giữ nguyên nội dung, ý nghĩa của nó. Chúng mang một ý nghĩa chung nhất mà dường

như các tác giả dân gian đã thống nhất ngầm với nhau. Khi muốn diễn đạt một ý

tưởng nào đó, họ chỉ cần sử dụng các biểu thức ngôn ngữ sẵn có là có thể diễn đạt

được điều muốn nói. Biểu thức ngôn ngữ có thể là một từ, một nhóm từ hay cả một

dòng thơ. Để trở thành công thức từ ngữ, đơn vị ngôn ngữ phải hội đủ những điều

kiện: phải được lặp đi lặp lại, phải có ý nghĩa tiêu biểu và điển hình, có khả năng tháo

- lắp.

Văn học dân gian Nam Bộ nói chung và ca dao dân ca Nam Bộ nói riêng mang

đậm đà màu sắc địa phương. Ta không chỉ bắt gặp màu sắc địa phương Nam Bộ trong

từ, cụm từ mà còn cả trong các biểu thức ngôn ngữ. Bên cạnh những biểu thức thức

quen thuộc, có tính chất chung của ca dao dân ca Việt Nam, ca dao, dân ca Nam Bộ

còn có những biểu thức riêng, đặc trưng cho vùng đất Nam Bộ. Đó là những biểu

thức có ý nghĩa phản ánh hiện thực khách quan, phản ánh văn hóa, phản ánh tính

cách …của vùng đất, của con người Nam Bộ. Vì thế, các biểu thức ngôn ngữ không

phải chỉ đơn thuần là sự tập hợp các từ ngữ được sử dụng nhiều lần trong các câu ca

dao mà nó còn là sự mã hóa các hiện tượng của cuộc sống vào trong các biểu thức.

Ca dao, dân ca Nam Bộ vốn nằm trong sự thống nhất của ca dao dân ca dân tộc

nên ca dao dân ca Nam Bộ đã kế thừa những biểu thức ngôn ngữ của ca dao, dân ca

các địa phương khác. Chẳng hạn, khi nói về thân phận người phụ nữ, ca dao, dân ca

Nam Bộ vẫn sử dụng kiểu mở đầu quen thuộc “thân em như…”; khi muốn nói về sự

99

nhớ nhung, sự cô đơn trông ngóng về quê nhà thì dùng nhóm chữ mở đầu là “chiều

chiều…”; khi nói về tình yêu quê hương đất nước thường mở đầu bằng “ai về…”, “ai

vô…”, “ai lên…”, “ai đi…”.

Bên cạnh việc sử dụng các biểu thức ngôn ngữ quen thuộc như trên, ca dao dân

ca Nam Bộ còn có một hệ thống biểu thức ngôn ngữ riêng nảy sinh từ cách nói, tính

cách, văn hóa…của người dân Nam Bộ.

Khi nói về sự giàu có, trù phú của quê hương, về lòng tự hào đối với một miền

quê giàu đẹp, ngoài cách sử dụng công thức mở đầu quen thuộc như đã kể trên, người

Nam Bộ còn có cách nói: “thiếu gì”, “mặc sức”, “có nhiều”, “mặc tình”:

Ruộng đồng mặc sức chim bay

Biển hồ lai láng mặc tình cá đua

Chim quyên hút mật bông quỳ

Nam Kì lục tỉnh thiếu gì cá tôm

Cách nói ngắn gọn, mạnh mẽ, dứt khoát phần nào đã nói lên được tính cách

thẳng thắn, bộc trực của người Nam Bộ. Đồng thời, còn thể hiện sự tự tin vào tính

chất trù phú của vùng đất Nam Bộ. Điều này không thể tìm thấy ở ca dao, dân ca các

vùng khác, nhất là những vùng có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt.

Người Nam Bộ thường lấy những hình ảnh quen thuộc ở địa phương mình và

đưa vào trong ca dao một cách rất tự nhiên, mộc mạc. Hình ảnh con quạ, con diều

hâu xuất hiện nhiều trong ca dao Nam Bộ và đã trở thành hình ảnh phổ biến. Vì vậy,

chỉ cần thay đổi địa danh là có thể trở thành tiếng hát về quê hương của nhiều vùng

khác nhau. Từ đó, công thức từ ngữ “ba phen quạ nói với diều”, “chiều chiều quạ nói

với diều” đã trở thành một biểu thức quen thuộc trong mảng ca dao, dân ca về chủ đề

quê hương đất nước ở Nam Bộ:

Ba phen quạ nói với diều

Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm

Chiều chiều quạ nói với diều

Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm

100

Chiều chiều quạ nói với diều

Ngã ba Kinh Chuối có nhiều cá tôm

Kiểu mở đầu câu ca dao bằng biểu thức ngôn ngữ “chiều chiều quạ nói với

diều”, “bao phen quạ nói với diều” thường đi kèm nhóm chữ “có nhiều” để khẳng

định sự giàu có về sản vật của vùng đất Nam Bộ; đồng thời nó đã tạo nên một sắc thái

riêng không thể lẫn lộn với các vùng khác.

Cách mở đầu bằng biểu thức ngôn ngữ “tiếng đồn” được người dân Nam Bộ

dùng để ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của con người ở địa phương:

Tiếng đồn con gái Thủ Biên

Bạc Liêu đi cưới một thiên cá mòi

Ngoài ra, cụm từ này còn được dùng để nói lên tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của

con người một cách dí dỏm, bộc trực:

Tiếng đồn cha mẹ anh giàu

Sao anh ăn mặc như tàu chuối te

Cũng như ca dao dân ca của các vùng khác, trong ca dao dân ca Nam Bộ, chủ

đề tình yêu được thể hiện khá tập trung. Vì vậy, những biểu thức ngôn ngữ ở mảng đề

tài này cũng vô cùng phong phú. Sống giữa môi trường sông nước, sông ngòi kênh

rạch chằng chịt, những hiện tượng nảy sinh từ môi trường sống đó đã được con người

ghi nhận, lựa chọn và đưa vào ca dao để bày tỏ tâm trạng, tình cảm của đôi lứa yêu

nhau.

Người dân Nam Bộ mượn hình ảnh ghe thuyền, sông nước để nói lên sự cách

trở, khó khăn trong tình yêu đôi lứa. Những câu cao dao có nội dung này thường mở

đầu bằng “biển cạn láng khô ghe vô không được” hoặc “biển cạn láng khô thuyền vô

không đặng”:

Biển cạn láng khô ghe vô không được

Phải trở lộn về đi ngược lòng em

Biển cạn láng khô bớ cô chèo lái

101

Phải được ở gần anh trai gái với cô.

Hình ảnh cây cầu là hình ảnh quen thuộc đối với người dân Nam Bộ. Trong

đời sống sinh hoạt, cầu là phương tiện giao thông quan trọng của người dân. Trong ca

dao dân ca Nam Bộ, kiểu mở đầu bằng “cầu cao ván yếu gió rung”, “bước xuống cầu

cầu quằn cầu quại” thường nói đến những trắc trở trong tình yêu, trong đó những

người yêu nhau vẫn luôn động viên, khuyên nhủ nhau phải vững lòng tin chờ đợi.

Cầu cao ván yếu gió rung

Em đi chẳng đặng cậy cùng có anh

Bước lên cầu cầu quằn cầu quại

Bước xuống tàu tàu chạy tàu ngiêng

Em ơi ở lại đừng phiền

Anh đi làm mướn kiếm tiền cưới em

Bước xuống cầu, cầu quằn cầu quại

Bước xuống đò, đò lắc, đò nghiêng

Hai đứa mình duyên nợ không yên

Phải sao chịu vậy đừng phiền mẹ cha.

Kiểu mở đầu bằng “sông sâu sóng bủa láng cò”, “sông dài cá lội biệt

tăm”…là cách người Nam Bộ bộc lộ tâm tư tình cảm, suy nghĩ của mình. Hiện thực

khách quan đã tác động tới sự liên tưởng của con người. Dưới cái nhìn của người

Nam Bộ, những sự vật vô tri lại trở nên có ý nghĩa, nó có điểm gì đó tương đồng với

tâm trạng con người. Chính cách nói, cách liên tưởng này đã làm cho những câu ca

dao Nam Bộ giàu hình ảnh, sinh động; giúp người đọc có thể dễ dàng liên tưởng,

nhìn nhận vấn đề một cách cặn kẽ, thấu đáo hơn điều tác giả muốn nói.

Sông dài cá lội biệt tăm

Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng chờ

Sông dài cá lội biệt tăm

Thấy anh người nghĩa mấy năm em cũng chờ

102

Sông sâu sóng bủa láng cò

Thương em vì bởi câu hò có duyên

Các bài ca dao có nhóm từ ngữ chỉ con nước chảy cũng trở thành công thức từ

ngữ quen thuộc trong ca da dân ca Nam Bộ. Sử dụng nhóm từ mở đầu này, tác giả

dân gian muốn thể hiện tâm trạng, cảm xúc của mình trước thực tại cuộc sống; hoặc

nói lên mơ ước của đôi lứa yêu nhau; hoặc là lời than trách cho sự chia lìa, tan rã:

Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược

Con cá vược lội theo

Anh than với em rằng phận anh nghèo

Có đâu dưới thấp mà trèo lên cao

Nước ròng chảy thấu Nam Vang

Mù u chín rụng sao chàng bặt tin

Nước ròng bỏ bãi xà cừ

Gặp em hỏi thử sao từ ngãi nhân?

Ngôn ngữ ca dao Nam Bộ vốn rất phong phú và có mức độ đặc tả cao. Ngôn

ngữ đã phát huy một cách tài tình tác dụng của nó bằng cách: miêu tả một cách tỉ mỉ,

cụ thể và có hiệu quả những hình ảnh, âm thanh của tự nhiên. Kiểu câu mở đầu bằng

việc miêu tả âm thanh của gió, của nước với những từ láy gợi cảm xuất hiện nhiều

trong ca dao dân ca Nam Bộ. Những câu ca dao ấy, chủ yếu nói lên tâm trạng, suy

nghĩ, sự quan tâm, lo lắng cho nhau của các chàng trai, cô gái:

Gió hiu hiu chín chiều ruột thắt

Nhìn sao bên bắc nước chảy bên đông

Ai xui chi những vợ vợ chồng chồng

Không biết đây với đó dây tơ hồng có se?

Gió lao xao tàu cau ngã liệt

103

Anh xa em rồi rũ riệt tay chân

Gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu

Anh đừng bận bịu bớ điệu chung tình

Nhạn bay cao khó bắn, cá ở ao huỳnh khó câu

Hình ảnh con nước chảy kết hợp với cách sử dụng từ láy đã diễn tả thành công

nỗi lòng, tâm trạng của con người. Hình ảnh con nước êm ả, với những chuyển động

chậm rãi phù hợp để diễn tả nỗi buồn của con người.

Nước chảy bon bon, cõng mẹ bồng con lên non hái trái

Anh cảm thương nàng phận gái mồ côi

Nước chảy liu riu lục bình trôi liu ríu

Anh ở một mình ươn yếu ai nuôi

Nước chảy re re, con cá he nó xòe đuôi phụng

Em có chồng rồi trong bụng anh vẫn còn thương

Ca dao Nam Bộ có nhiều câu mở đầu bằng nhóm từ xưng hô. Đó thường là

những câu ca dao nói về tình yêu đôi lứa hay tình cảm gia đình. Nhóm chữ mở đầu

“hai đứa mình” thường được dùng để diễn tả những nỗi niềm xung quanh sự gắn bó

của đôi lứa:

Hai đứa mình ăn một trái cau

Giấu cha giấu mẹ ăn sau bóng đèn

Cụm từ mở đầu “má ơi” dùng để nói lên tình cảm của con cái đối với mẹ:

Má ơi đừng gả con xa

Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu

Má ơi đừng đánh con đau

Để con hát bội làm đào má coi

Người Nam Bộ sống giàu tình cảm, họ đối xử với nhau tràn đầy tình yêu

thương, luôn giúp đỡ, đùm bọc nhau trong những lúc khó khăn. Vì vậy, ca dao Nam

104

Bộ có nhiều câu xuất hiện nhóm cụm từ “cảm thương”, “cảm thương người”. Công

thức từ ngữ này thể hiện sự quan tâm, đồng cảm giữa người và người:

Đêm trăng sáng chạnh lòng nhớ bạn

Cảm thương người hoạn nạn xiết bao

Gió đẩy đưa rau dừa quặn quịu

Anh mảng thương nàng lịu địu xuống lên

Ngoài công thức từ ngữ mở đầu và nhóm câu mở đầu, kết cấu của các câu ca

dao cũng góp phần làm nên màu sắc Nam Bộ. Ca dao dân ca Nam Bộ có những

khung kết cấu có sẵn trong đó được lồng những hình ảnh có sẵn. Chẳng hạn:

Ngó lên đường Sài Gòn cây cao bóng mát

Ngó xuống đường Sa Đéc lắm cát dễ đi

Gái Tân Uyên nhiều đứa nhu mì

Đố trai Cao Lãnh bỏ thuốc gì cho nó mê

Cầu Cần Thơ ăn no nghỉ mát

Cầu Xẻo Mác đổ cát dễ đi

Gái Xẻo Mác rực rỡ như hoa quỳ

Đố trai tứ xứ bỏ thuốc gì cho gái Xẻo Mác mê

Có thể kể thêm một số kết cấu thường gặp trong ca dao dân ca Nam Bộ như:

Nha Mân đi dễ khó về

Trai đi có vợ, gái về có con

Nam Vang đi dễ khó về

Trai đi có vợ, gái về có con

Bạc Liêu đi dễ khó về

Trai đi có vợ, gái về có con

105

Hay:

Gà nào bằng gà Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân

Gà nào bằng gà Vĩnh Thạnh

Gái nào bảnh bằng gái Vĩnh Hòa

Những kết cấu trên mang đậm màu sắc địa phương Nam Bộ, vì nó được hình

thành dựa trên những yếu tố điều kiện tự nhiên, văn hóa, tính cách của con người

Nam Bộ và vùng đất Nam Bộ.

106

TIỂU KẾT

Bên cạnh những từ ngữ địa phương thì những cách diễn đạt mang màu sắc địa

phương cũng góp phần làm nên đặc sắc của văn học dân gian Nam Bộ.

+ Văn học dân gian Nam Bộ chuộng cách nói mộc mạc có phần dí dỏm, hài hước. Vì

mộc mạc nên văn học dân gian Nam Bộ sử dụng từ ngữ, các cách diễn đạt chỉ cố làm

sao diễn tả được cái tình của người nói, chứ không gò ép vào khuôn mẫu hay không

chủ ý nêu lên những triết lí sâu sắc. Tính hài hước, dí dỏm được tác giả tạo nên nhờ

những liên tưởng độc đáo, gắn với hiện thực cuộc sống và lối tư duy của người Nam

Bộ. Ngoài ra, cách nói phóng đại cũng góp phần làm nên đặc sắc của văn học dân

gian Nam Bộ.

+ Cách diễn đạt bằng lối so sánh và các hình ảnh biểu trưng không phải là đặc điểm

chỉ riêng có ở văn học dân gian Nam Bộ. Tuy nhiên, cách sử dụng các hình ảnh so

sánh và hình ảnh biểu trưng của tác giả dân gian lại mang đậm chất Nam Bộ. Đó là

những hình ảnh đặc trưng cho một vùng đất nông nghiệp trù phú, sông ngòi chằng

chịt, nhiều sản vật, tôm cá…Tất cả những đặc điểm ấy đi vào ca dao một cách tự

nhiên, mang giá trị gợi hình, biểu cảm cao.

+ Các biểu thức ngôn ngữ quen thuộc được sử dụng nhiều lần trong ca dao của một

vùng đất nào đó cũng góp phần tạo nên nét đặc sắc của ca dao địa phương ấy. Ngoài

việc sử dụng những biểu thức ngôn ngữ quen thuộc của ca dao, dân ca Việt Nam, ca

dao, dân ca Nam Bộ còn có những biểu thức ngôn ngữ riêng, đặc trưng của vùng như:

cầu cao ván yếu gió rung, bước xuống cầu cầu quằn cầu quại, nước chảy bon bon,

nước chảy liu riu, nước ròng…Những biểu thức ngôn ngữ này vừa phản ánh điều

kiện tự nhiên của vùng đất Nam Bộ vừa gửi gắm tâm tình của người Nam Bộ.

107

KẾT LUẬN

Nam Bộ là vùng đất mới, nằm ở phía Nam Tổ quốc. Văn học dân gian Nam Bộ

ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử khai phá và xây dựng mảnh đất này. Do đó,

các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội, con người…đã chi phối

đến sự hình thành ngôn ngữ. Điều này không chỉ làm cho ngôn ngữ ở Nam Bộ đa

dạng, phong phú mà còn làm nên nét đặc sắc khó lẫn lộn của ngôn ngữ trong văn học

dân gian Nam Bộ. Màu sắc địa phương trong văn học dân gian Nam Bộ được thể hiện

rõ nhất ở cấp độ từ ngữ, sau đó là các cách thức biểu đạt.

Ở cấp độ từ ngữ, chúng tôi nhận thấy ngôn ngữ của người Nam Bộ có sự pha

trộn, vay mượn ngôn ngữ của cá dân tộc khác. Nhiều từ ngữ chỉ địa danh, từ ngữ chỉ

địa hình, một số từ ngữ chỉ phương tiện sinh hoạt và công cụ lao động ra đời trên cơ

sở đó. Ngoài ra, do điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa…người Nam Bộ đã sáng tạo

ra một lớp từ ngữ mới đáp ứng nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng ở vùng đất mới.

Lớp từ ngữ liên quan đến sông nước, từ ngữ chỉ động thực vật, từ ngữ chỉ phương

tiện sinh hoạt, công cụ lao động được hình thành theo kiểu này là những từ ngữ mang

đậm màu sắc Nam Bộ. Thêm vào đó, tính cách của người Nam Bộ cũng là một trong

những yếu tố làm cho ngôn ngữ Nam Bộ giàu sắ thái địa phương.

Những từ ngữ địa phương khi xuất hiện trong văn học dân gian Nam Bộ gợi

được cái hồn của phong cảnh thiên nhiên Nam Bộ, gợi được nếp sống và nếp nghĩ

của người dân nơi đây. Gắn với mỗi địa danh xuất hiện trong văn học dân gian Nam

Bộ là đặc điểm của một vùng đất, là đặc sản của địa phương, là niềm tự hào, là niềm

thương nỗi nhớ được gửi gắm. Gắn với hình ảnh con sông, con nước, chiếc ghe, chiếc

xuồng là những nỗi lo toan vất vả của người dân Nam Bộ. Đồng thời, đó cũng là

những hình ảnh chuyên chở tâm tình của đôi lứa đang yêu. Gắn với những từ ngữ

xưng hô mộc mạc rất riêng của người Nam Bộ là tấm chân tình giữa người và người,

không câu nệ hình thức, vai vế, thành phần xã hội… Tất cả tạo nên màu sắc rất riêng

của văn học dân gian Nam Bộ.

Màu sắc địa phương Nam Bộ còn được biểu hiện ở những cách diễn đạt riêng.

Đó là cách diễn đạt ngắn gọn, mộc mạc, chất phác, mang chút hóm hỉnh, hài hước.

108

Sự mộc mạc thể hiện trong cách lựa chọn, sử dụng từ ngữ; trong cách lựa chọn các

hình ảnh so sánh gần gũi, thân thiết với người dân Nam Bộ. Sự hài hước thể hiện ở

cách nói khoa trương, phóng đại rất tự nhiên; thể hiện ở những liên tưởng, so sánh

độc đáo, bất ngờ. Điều này xuất phát từ tính cách bộc trực, thẳng thắn, phóng khoáng,

lạc quan, yêu đời của người Nam Bộ.

Trong ca dao, dân ca Nam Bộ còn có hàng loạt những biểu thức từ ngữ đặc

trưng cho ca dao, dân ca vùng đất này. Những biểu thức từ ngữ như: “cầu cao ván

yếu gió rung…”, “bước xuống cầu, cầu quằn cầu quại; bước xuống ghe, ghe ngả ghe

nghiêng…”, “bìm bịp kêu nước lớn…”, “nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu…”

đều là những biểu thức riêng có ở văn học dân gian Nam Bộ. Những biểu thức từ ngữ

đó kết hợp với các hình ảnh quen thuộc của vùng đất Nam Bộ tạo cho câu ca dao một

ý nghĩa biểu trưng mới, làm nên đặc sắc của ca dao, dân ca Nam Bộ.

Ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ mang đậm màu sắc địa phương. Nói như

thế không có nghĩa là ngôn ngữ trong văn học dân gian Nam Bộ không nằm trong sự

phát triển của ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ vừa kế thừa và

phát huy những đặc điểm của ngôn ngữ văn học dân gian dân tộc, vừa thể hiện và

làm phong phú thêm vốn từ ngữ mang sắc thái địa phương. Từ đó, nó góp phần làm

phong phú thêm kho từ vựng của tiếng Việt, góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu về sử

dụng ngôn ngữ trong quá trình diễn đạt của người dân. Có thể nói đây là một đóng

góp của ngôn ngữ văn học dân gian Nam Bộ đối với tiếng nói dân tộc. Do vậy, cần có

sự quan tâm thích đáng đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu văn học dân gian Nam Bộ.

Dưới góc độ một giáo viên giảng dạy môn Ngữ Văn ở trường phổ thông, người

viết nhận thấy văn học dân gian Nam Bộ hầu như vắng mặt ở chương trình học cấp

trung học phổ thông. Chúng tôi nghĩ chương trình Ngữ Văn ở cấp THPT cần có một

số câu ca dao Nam Bộ, đặc biệt là những câu ca dao than thân đậm đà màu sắc địa

phương Nam Bộ. Điều này góp phần làm cho tiếng nói người Nam Bộ trở nên gần

gũi, quen thuộc hơn với người dân các vùng khác. Từ đó, mọi người thêm yêu vẻ đẹp

của văn học dân gian Nam Bộ nói riêng và văn học dân gian dân tộc nói chung.

109

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Ái (chủ biên) (1994), Từ điển phương ngữ Nam Bộ, NXB

TPHCM, TP HCM.

2. Lâm Tiên Ba (2003), “Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Tiều được sử

dụng trong tiếng Việt ở địa phương cực Tây Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số

8.

3. Lê Uyên Bá (2005), “Từ “ênh” trong phương ngữ Tây Nam Bộ có

nguồn gốc Khmer”, Ngôn ngữ & đời sống, số 5.

4. Lê Xuân Bột (2003), “Từ Hán Việt trong ca dao về tình yêu đôi lứa ở

Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 4.

5. Thái Văn Chải (1986), “Một số đặc điểm về tiếng Khmer Đồng bằng

sông Cửu Long”, Ngôn ngữ, số 2.

6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, HN.

7. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ, số

10.

8. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước, NXB

KHXH, HN.

9. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, NXB ĐHQG HN,

HN.

10. Nguyễn Văn Chiến (1991), “Sắc thái địa phương của các danh từ thân

tộc trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 2.

11. Mai Ngọc Chừ (1991), “Ngôn ngữ ca dao Việt Nam”, Văn học, số 2.

12. Nguyễn Đức Dân (1998), “Từ láy đôi trong phương ngữ Nam Bộ-

sắc thái nghĩa và biến thể”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.

13. Hải Dân (1982), “Yếu tố cà trong phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn

ngữ, số 1.

14. Trần Phỏng Diều (2008), “Sự giao lưu về ngôn ngữ giữa các dân

tộc ở Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 2.

110

15. Hoàng Dũng (1997), “Quả với lại trái, tại sao?”, Ngôn ngữ & đời

sống, số 12.

16. Nguyễn Đức Dương (1974), “Về hiện tượng kiểu “ổng”, “chỉ”,

“ngoải” ”, Ngôn ngữ, số 1.

17. Trần Bạch Đằng (1986), Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm, NXB

TPHCM.

18. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, NXB GD, HN.

19. Nguyễn Thiện Giáp (2009), Các phương pháp nghiên cứu ngôn

ngữ, NXB GD, HN.

20. Nguyễn Thị Hai (1997), “Một vài tên gọi trong tiếng Bạc Liêu”,

Ngôn ngữ & đời sống, số 12.

21. Nguyễn Thị Hai (1998), “Giồng Trôm và Bến Vượt”, Ngôn ngữ &

đời sống, số 3.

22. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB KHXH,

HN.

23. Cao Xuân Hạo (1988), “Hai vấn đề âm vị học trong phương ngữ

Nam bộ”, Ngôn ngữ, số 1.

24. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp,

ngữ nghĩa, NXB GD, HN.

25. Phạm Văn Hảo – Trần Thị Thìn (1994), “Mấy vấn đề về từ ngữ địa

phương trong việc sưu tầm, giới thiệu vốn tục ngữ, ca dao”, Văn hóa dân gian,

số 3.

26. Lê Trung Hoa (2002), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ và

tiếng Việt văn học, NXB KHXH, HN.

27. Lê Trung Hoa (2003), Địa danh Khmer và gốc Khmer ở Nam Bộ,

Kỉ yếu khoa học ĐH KHXHNV, NXB TPHCM.

28. Lê Trung Hoa (2004), “Những nét đặc thù của địa danh hành chính

Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 12.

111

29. Nguyễn Thị Huyền (2007), “Về việc tạo nghĩa mới trong quá trình

thâm nhập của từ địa phương vào vốn từ vựng toàn dân”, Ngôn ngữ & đời

sống, số 5.

30. Nguyễn Thúy Khanh (2004), “Sự thâm nhập của từ ngữ địa phương

vào ngôn ngữ toàn dân”, Ngôn ngữ, số 7.

31. Trần Thị Ngọc Lang (1991), “Về các yếu tố chỉ mức độ của tính từ

trong phương ngữ Nam Bộ”, Khoa học xã hội, số 10.

32. Trần Thị Ngọc Lang (1992), “Từ láy tư trong phương ngữ Nam

Bộ”, Ngôn ngữ, số 3.

33. Trần Thị Ngọc Lang (1995), Phương ngữ Nam Bộ (những khác biệt

về từ vựng ngữ nghĩa giữa phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ Bắc Bộ), NXB

KHXH, HN.

34. Trần Thị Ngọc Lang (2002), “Vài điểm khác biệt về ngữ pháp của

phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ”, Ngôn ngữ, số 2.

35. Trần Thị Ngọc Lang (2002), “Sự khác biệt về ngữ nghĩa của một số

kiểu từ địa phương Nam Bộ so với từ toàn dân”, Ngôn ngữ, số 2.

36. Trần Thị Ngọc Lang (2009), “Chức năng văn hóa xã hội của tiếng

Việt ở Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 5.

37. Phạm Hải Lê (2007), “Ý tứ của câu ca dao ở ba miền đất nước”,

Ngôn ngữ & đời sống, số 8.

38. Hồ Lê (1992), Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ, NXB

KHXH, HN.

39. Bình Nguyên Lộc (1958 – 1859), “Tiếng địa phương”, Tạp chí

Bách khoa, số 37, 39, 40, 41,43,45,51,57.

40. Nguyễn Thanh Lợi (2005), “ Địa danh ở Bến Tre”, Ngôn ngữ, số 6.

41. Đặng Văn Lung (1979), “Về việc nghiên cứu và sưu tầm dân ca

Nam Bộ”, Văn học, số 6.

42. Đoàn Xuân Mỹ (1997), “Ca dao Nam Bộ - một cái nhìn gần”, Văn

học, số 4.

112

43. Trần Văn Nam (2004), “Từ “cá hóa rồng” đến hiện tượng “cù dậy”

trong tâm thức người Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.

44. Trần Văn Nam (2004), “Lia thia quen chậu”, Ngôn ngữ & đời

sống, số 5.

45. Trần Văn Nam (2004), “Thành ngữ “ruột thắt gan bào” trong ca dao

Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 11.

46. Lại Cao Nguyên (2004), “Tính chất ba vùng của đại từ tiếng Việt” ,

Ngôn ngữ, số 1.

47. Nguyễn Hoài Nguyên (2002), “Đặc trưng ngữ âm phần vần của

phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 7.

48. Nguyễn Thanh Nhàn (2006), “Những địa danh thuần Việt phản ánh

địa hình đặc thù của tỉnh Long An”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.

49. Bùi Mạnh Nhị (1984), “Một số đặc điểm ngôn ngữ của ca dao dân

ca Nam Bộ”, Ngôn ngữ , số 1.

50. Nhiều tác giả (1999), Nam Bộ xưa và nay, NXB TPHCM, TPHCM.

51. Nguyễn Văn Nở (2000), “Hình ảnh “thân em...” trong ca dao trữ

tình Đồng bằng sông Cửu Long”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.

52. Nguyễn Văn Nở (2004), “Về nguồn gốc của thành ngữ “công tử

bột””, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.

53. Nguyễn Văn Nở (2004), “Từ “xài” trong phương ngữ Nam Bộ”,

Ngôn ngữ & đời sống, số 3.

54. Nguyễn Văn Nở (2005), “Môi trường tự nhiên, văn hóa và con

người trong thành ngữ, tục ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 9.

55. Vũ Ngọc Phan (1960), “Sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian là

một vấn đề cấp thiết”, Văn học, số 2.

56. Vũ Ngọc Phan (1963), “Đọc dân ca miền Nam Trung Bộ”, Văn học,

số 2.

57. Hoàng Phê (1973), “Ý kiến về một vấn đề nhỏ: ưu hay iu?”, Ngôn

ngữ, số 4.

113

58. Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển

học – NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng.

59. Tôn Diễn Phong (1999), “Vài nét về nghiên cứu ngôn ngữ qua văn

hóa”, Ngôn ngữ & đời sống, số 4.

60. Thạch Phương (1981), “Mấy suy nghĩ về ca dao của vùng đất mới”,

Văn học, số 6.

61. Hoàng Xuân Phương (1996), “Đi tìm nguồn gốc các từ cổ, kẻ, cà,

cái trong địa danh” , Ngôn ngữ & đời sống, số 3.

62. Nguyễn Thị Thanh Phượng (1997), “Từ ngữ sông và nước trong

tiếng Việt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 12.

63. Nguyễn Quang (1971), “Việc lựa chọn và giải thích từ ngữ miền

Nam trong một quyển từ điển loại phổ thông”, Ngôn ngữ, số 4.

64. Phan Quang (1985), Đồng bằng sông Cửu Long, NXB Mũi Cà

Mau..

65. Nguyễn Hồng Quân (2006), “Địa danh gắn với nhân vật ở Cần

Thơ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 11.

66. Trịnh Sâm (1986), “Phương ngữ và ca dao – dân ca địa phương”,

Văn học, số 5.

67. Trịnh Sâm (2003), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, NXB Trẻ, TP HCM.

68. Huỳnh Công Tín (1996), “Hiện tượng biến âm trong phương ngữ

Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 2.

69. Huỳnh Công Tín (1998), “Vài nét về sự hình thành phương ngữ Sài

Gòn”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.

70. Huỳnh Công Tín (2002), “Tiếng cười dân gian Nam Bộ”, Ngôn ngữ

& đời sống, số 1+2.

71. Huỳnh Công Tín (2006), “Đặc điểm của phương ngữ Nam Bộ trong

phong cách diễn đạt”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.

72. Huỳnh Công Tín (2007), Từ điển từ ngữ Nam Bộ, NXB KHXH,

HN.

114

73. Nguyễn Tài Thái-Phạm Văn Hảo (2004),“Sự thâm nhập của từ ngữ

địa phương miền Nam vào tiếng Việt toàn dân giai đoạn 1945 -1975”, Ngôn

ngữ & đời sống, số 4.

74. Cái Văn Thái (1998), “Những tiếng đệm phụ trong ca từ một số

điệu lí ở Đồng Tháp”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.

75. Đào Thản (2001), “Phương ngữ Nam Bộ - tiếng nói của quê hương

ở vùng cực nam của Tổ quốc”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.

76. Nguyễn Kim Thản (1964), “Thử bàn về một vài đặc điểm của

phương ngôn Nam Bộ”, Văn học, số 8.

77. Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu (1982),

Tiếng Việt trên đường phát triển, NXB KHXH, HN.

78. Mai Thanh Thắng (2005), “ “Kia”, “kìa”, “kỉa”, “kịa” trong cách

nói của người Nam Bộ” , Ngôn ngữ & đời sống, số 9.

79. Mai Thanh Thắng (2005), “ “Bân”, “trân”, “trất”- những tiếng

riêng của phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 10.

80. Lí Toàn Thắng (2002), Mấy vấn đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học

đề cương, NXB KHXH, HN.

81. Hồ Bá Thâm (2003), Văn hóa Nam Bộ vấn đề và phát triển, NXB

VHTT, TPHCM.

82. Bùi Khánh Thế (chủ nhiệm) và nhóm tác giả (2001), Mấy vấn đề

tiếng Việt hiện đại, ĐHQG TPHCM, TPHCM.

83. Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB GD, HN.

84. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB

TPHCM, TPHCM.

85. Nguyễn Đức Tồn (2002), Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân tộc của

ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác),

NXB ĐHQG HN, HN.

86. Đoàn Thiện Thuật (1980), Ngữ âm tiếng Việt, NXB ĐH &THCN,

HN.

115

87. Lê Văn Trường (1982), “Nhân dịp kỉ niệm Nguyễn Đình Chiểu, bàn

về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa phương”, Ngôn ngữ, số 2.

88. Nguyễn Thế Truyền (1999), “Ngôn ngữ của người Nam Bộ trong ca

dao dân ca”, Ngôn ngữ & đời sống, số 6.

89. Nguyễn Thế Truyền (1999), “Cách xưng hô của người Nam Bộ”,

Ngôn ngữ & đời sống, số 10.

90. Nguyễn Thế Truyền (2002), “Người Nam Bộ xài từ” , Ngôn ngữ &

đời sống, số 12.

91. Cù Đình Tú (2002), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt,

NXB GD, HN.

92. Hoàng Tuệ (1982), “Bàn về vai trò văn hóa – xã hội của tiếng địa

phương”, Ngôn ngữ, số 2.

93. Nguyễn Bạt Tụy (1961), “Ngữ Việt trên đất Việt”, Văn hóa nguyệt

san, số 64.

94. Hồ Xuân Tuyên (2001), “Về một số từ ngữ trong trường học ở Nam

Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 3.

95. Hồ Xuân Tuyên (2004), “ Ngôn ngữ vùng sông nước qua một cuốn

sách”, Ngôn ngữ & đời sống, số 3.

96. Hồ Xuân Tuyên (2004), “ Đơn vị cân, đo , đong, đếm trong phương

ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 8.

97. Hồ Xuân Tuyên (2007), “ Định danh thời gian trong phương ngữ

Nam Bộ”, Ngôn ngữ & đời sống, số 1+2.

98. Hồ Xuân Tuyên (2008), “Một số phương thức định danh trong

phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ, số 8.

99. Hoàng Vũ (1995), “Góp thêm tư liệu về các ngữ vị tình cảm và gợi

tả trong phương ngữ Nam Bộ”, Ngôn ngữ & Đời sống, số 3.

100. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ

ngôn ngữ học, NXB GD, HN.

116

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

Chu Xuân Diên (chủ biên) (2002), Văn học dân gian Sóc Trăng, 1.

NXB Văn nghệ TPHCM, TPHCM.

Chu Xuân Diên (chủ biên) (2005), Văn học dân gian Bạc Liêu, 2.

NXB Văn nghệ TPHCM, TPHCM.

Văn học dân gian An Giang (2010), Tài liệu điền dã lưu hành nội 3.

bộ.