BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN NGỌC THÚY
ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
TẠI TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN NGỌC THÚY
ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
TẠI TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
Người hướng dẫn khoa học: TS. LẠI ĐỨC VƯỢNG
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng nội dung của luận văn này chưa được nộp cho bất
kỳ một chương trình cấp bằng cao học nào, cũng như một chương trình đào tạo
cấp bằng nào khác.
Tôi xin cam đoan các kết quả, phân tích và kết luận nghiên cứu trong
luận văn Thạc sĩ Quản lý công về “Đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và
Hải đảo Việt Nam” (ngoài các phần được trích dẫn) đều là kết quả làm việc
của cá nhân tôi.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Phan Ngọc Thúy
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình và trách nhiệm của
TS. Lại Đức Vượng đã hướng dẫn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá
trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể giảng viên, cán bộ, nhân viên
tham gia công tác giảng dạy, phục vụ khoá đào tạo Quản lý công đã giúp tôi
hoàn thành tốt khoá học.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh
nhất, tuy nhiên do còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên tôi không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản than chưa thấy được. Tôi rất mong
nhận được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các anh/chị, các bạn để luận văn
được hoàn chỉnh hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phan Ngọc Thúy
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu .................................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 7
3.1. Mục đích:................................................................................................... 7
3.2. Nhiệm vụ: ................................................................................................... 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 8
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ............................................ 8
5.1. Phương pháp luận: ..................................................................................... 8
5.2. Phương pháp nghiên cứu: .......................................................................... 8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .......................................................................... 9
7. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC ................. 10
1.1. Một số vấn đề lý luận về đánh giá công chức .......................................... 10
1.1.1. Các khái niệm ........................................................................................ 10
1.1.2. Mục đích, vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá công chức ....................... 16
1.1.3. Chủ thể tham gia đánh giá công chức ................................................... 18
1.1.4. Phương pháp đánh giá công chức ......................................................... 19
1.1.5. Các nội dung và tiêu chí đánh giá công chức ....................................... 28
1.1.6. Quy trình đánh giá công chức ............................................................... 36
1.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đánh giá công chức ...................... 38
1.2. Kinh nghiệm đánh giá công chức ở một số quốc gia trên thế giới và một số
tỉnh, thành phố ở Việt Nam ............................................................................. 40
1.2.1. Hoa Kỳ .................................................................................................. 40
1.2.2. Singapore ............................................................................................... 41
1.2.3. Nhật Bản ................................................................................................ 44
1.2.4. Hà Nội ................................................................................................... 45
1.2.5. Đà Nẵng................................................................................................. 46
1.3. Vai trò, nhiệm vụ của các đơn vị (cấp Tổng cục và tương đương) trong quá
trình đánh giá công chức............................................................ .................... 51
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 51
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC CỦA TỔNG CỤC
BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM .................................................................. 52
2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam .......... 52
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục ................................... 52
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng cục ................................................................ 54
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam ...... 55
2.2.1. Về số lượng công chức .......................................................................... 55
2.2.2. Về chất lượng công chức ...................................................................... 56
2.3. Thực trạng đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam 59
2.3.1. Thực trạng tổ chức bộ máy và nhân lực thực hiện công tác đánh giá công
chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam ............................................... 59
2.3.2. Thực trạng tổ chức đánh giá công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo
Việt Nam ......................................................................................................... 64
2.4. Đánh giá chung ........................................................................................ 72
2.4.1. Kết quả đã đạt được .............................................................................. 72
2.4.2. Tồn tại, hạn chế ..................................................................................... 74
2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế ..................................................................... 76
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 78
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ
CÔNG CHỨC CỦA TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM ........... 79
3.1. Yêu cầu hoàn thiện công tác đánh giá công chức hiện nay ..................... 79
3.2. Quan điểm về đánh giá công chức hiện nay ............................................ 80
3.2.1. Đánh giá công chức phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam ......................................................................................................... 81
3.2.2. Hoàn thiện công tác đánh giá công chức gắn với việc đổi mới đồng bộ
thể chế quản lý công chức ............................................................................... 82
3.2.3. Đánh giá công chức phải căn cứ vào hiệu quả thực thi công vụ .......... 83
3.2.4. Hoàn thiện công tác đánh giá công chức trên cơ sở đề cao trách nhiệm
của người đứng đầu ......................................................................................... 84
3.3. Các giải pháp hoàn thiện đánh giá công chức .......................................... 84
3.3.1. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá công chức ................................................ 84
3.3.2. Thực hiện hiệu quả phương pháp đánh giá công chức ......................... 90
3.3.3. Đổi mới quy trình đánh giá công chức.................................................. 91
3.3.4. Tăng cường trách nhiệm của các chủ thể tham gia đánh giá chất lượng
công chức ........................................................................................................ 93
3.3.5. Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá chất lượng công chức hàng năm cho
hoạt động quản lý công chức .......................................................................... 96
3.3.6. Công khai, minh bạch và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm
soát công tác đánh giá công chức .................................................................... 98
3.3.7. Đề xuất thay đổi quy trình đánh giá .................................................... 100
Tiểu kết chương 3 .......................................................................................... 102
KẾT LUẬN ................................................................................................... 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 105
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 109
Phụ lục 1. Phiếu đánh giá và phân loại công chức ........................................ 109
Phụ lục 2. Phiếu tự đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ công tác
của cá nhân .................................................................................................... 114
DANH MỤC BẢNG
Bảng số 1.1. Các tiêu chí về phẩm chất để đánh giá công chức của
Singapore. ........................................................................................................ 42
Bảng số 1.2. Các tiêu chí về phẩm chất công vụ để đánh giá công chức của
Singapore ......................................................................................................... 44
Bảng số 3.1. Biểu chấm điểm về phẩm chất chính trị, chấp hành đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ............................... 86
Bảng số 3.2. Biểu chấm điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối
làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật ...................................................................... 87
Bảng số 3.3. Biểu chấm điểm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao ...... 87
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tổng hợp số lượng công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam ............................................................................................................. 56
Biểu đồ 2.2. Tổng hợp trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công chức thuộc Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam ..................................................................... 57
Biểu đồ 2.3. Tổng hợp trình độ lý luận chính trị công chức thuộc Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam ............................................................................ 57
Biểu đồ 2.4. Tổng hợp trình độ tin học, ngoại ngữ công chức thuộc Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam ............................................................................ 58
Biểu đồ 2.5. Tổng hợp trình độ quản lý nhà nước của công chức thuộcTổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam ..................................................................... 58
Biểu đồ 2.6. Tổng hợp cơ cấu ngạch công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải
đảo Việt Nam ............................................................................................... 59
Biểu đồ 2.7. Kết quả đánh giá, phân loại công chức năm 2017 – 2019 ........ 71
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá công chức là quá trình nhận định các ưu điểm, nhược điểm của
công chức trong quá trình thực thi công vụ. Công tác đánh giá, xếp loại chất
lượng công chức luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được xác định là
nhiệm vụ trọng tâm của công tác cán bộ. Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng
là cơ sở để cơ quan và người có thẩm quyền quản lý, sử dụng công chức, thực
hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng ngạch, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ, chính sách
khác đối với công chức.
Thông qua việc đánh giá công chức, người công chức biết được kết quả,
hiệu quả công tác của mình, thấy rõ được năng lực thực hiện công việc hiện tại
đang ở mức độ nào, có những ưu điểm, nhược điểm gì để khắc phục và phát
huy, tự mình phấn đấu để hoàn thiện và làm việc tốt hơn.
Việc đánh giá cán bộ công chức yêu cầu người trực tiếp sử dụng công
chức phải thường xuyên nắm bắt tiến trình, thái độ và kết quả làm việc, hiệu quả
làm việc, thực thi nhiệm vụ của công chức. Đồng thời phải có cái nhìn khách
quan đối với toàn bộ diễn biến, cũng như khách quan đối với bản thân công chức
để có thể đưa ra đánh giá một cách công tâm nhất, sát nhất với tiến trình phát
triển của công chức. Điều đó cũng nói lên rằng người đánh giá phải có năng lực
nhìn nhận con người. Đồng thời phải tham khảo các nhận xét, đánh giá của đồng
nghiệp khác để có cái nhìn đa chiều, nhưng quan trọng nhất vẫn là năng lực đánh
giá, nhìn nhận con người của người trực tiếp sử dụng công chức.
So với trước đây, công tác đánh giá công chức ngày càng được đổi mới,
có nhiều chuyển biến về nội dung, phương pháp; việc đánh giá công chức ngày
càng được chuẩn hóa, thực hiện có nền nếp. Luật Cán bộ, công chức năm 2008,
Luật số 52/2019/QH14 sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công
1
chức và Luật Viên chức, Nghị định 56/2015/NĐ-CP về đánh giá và phân loại
cán bộ, công chức, viên chức, Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 7
năm 2017 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 56/2015/NĐ-CP (đã được thay thế bằng Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày
13 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ,
công chức, viên chức) quy định, đánh giá công chức thực hiện theo 6 nội dung:
(1) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước; (2) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm
việc; (3) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; (4)Tiến độ và kết quả thực
hiện nhiệm vụ; (5) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm
vụ; (6) Thái độ phục vụ nhân dân. Đồng thời, Luật cũng quy định rõ: Việc đánh
giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều
động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái. Thẩm
quyền, trình tự, thủ tục đánh giá công chức được thực hiện theo quy định của
pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
Thực tế đánh giá công chức hiện nay nói chung cũng như đánh giá công
chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam hiện nay nói riêng, ở một số đơn
vị vẫn còn mang tính hình thức đặc biệt là ở cấp cơ sở nơi đánh giá các công
chức thực thi công vụ. Việc nhận xét, đánh giá công chức vẫn là khâu yếu trong
công tác tổ chức cán bộ nhưng chậm được khắc phục đó là: việc đánh giá công
chức chưa đúng thực chất; tình trạng nể nang, né tránh trách nhiệm, ngại va
chạm và dân chủ hình thức. Không ít trường hợp đánh giá công chức còn chủ
quan, mang tính cá nhân, cục bộ hoặc bị các mối quan hệ xã hội khác chi phối
mà chưa phản ánh chính xác phẩm chất, năng lực của công chức.
Nguyên tắc đánh giá công chức là phải lấy hiệu quả, kết quả công việc
làm thước đo chủ yếu để đánh giá, nhưng nhiều khi đặc trưng công việc khó
định lượng mà chỉ định tính.
2
Ngay bản thân công chức cũng chưa nhận thức được tầm quan trọng của
việc đánh giá bản thân mình, nên việc tự đánh giá còn sơ sài, có tâm lý làm cho
qua. Bởi vì kết quả đánh giá công chức không được sử dụng một cách thiết thực
đặc biệt là trong công tác quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm. Riêng đối với công tác
khen thưởng, kỷ luật thì còn mang nặng chỉ tiêu, chia đều, cào bằng nên kết
quả đánh giá công chức chưa thực sự là căn cứ để xem xét khen thưởng.
Đánh giá công chức là đề tài tương đối khó và nhạy cảm vì nó tiếp cận
đến dữ liệu công chức, đồng thời nó cũng chỉ ra những hạn chế liên quan đến
công tác quản lý cán bộ, công chức trong thực thi công vụ và năng lực lãnh đạo,
điều hành của thủ trưởng đơn vị của người trực tiếp sử dụng công chức, do vậy,
cần phải có sự thận trọng trong tiếp cận, sử dụng và phân tích tài liệu, có những
đánh phải xác đáng, đúng đắn, không thể có những nhận định mang tính chủ
quan được. Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu đổi mới công tác quản lý cán bộ,
công chức trong bối cảnh cạnh tranh giữa khu vực công và khu vực tư ngày
một diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực nhân lực và nhân tài, đồng thời ứng dụng
công nghệ thông tin ngày một mạnh mẽ, yêu cầu về dân chủ ngày một cao, mối
quan hệ công vụ và thực thi công vụ đang có nhiều chuyển biến, thì việc nghiên
cứu đề tài này là rất cần thiết để có các đề xuất nhằm hoàn thiện công tác đánh
giá công chức đáp ứng yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa của đất nước.
2. Tình hình nghiên cứu
Đánh giá công chức đang là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà
nghiên cứu, nhà quản lý, đặc biệt trong giai đoạn đẩy mạnh cải cách hành chính
nhà nước như hiện nay, hướng tới xây dựng một nền công vụ trong sạch, chuyên
nghiệp, hiệu lực và hiệu quả. Vì vậy, để tài này đã thu hút sự quan tâm, nghiên
cứu của các nhà khoa học và quản lý, đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào vấn
đề này, có thể chỉ ra một số nghiên cứu chủ yếu sau:
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện phương pháp đánh giá cán bộ, công
chức hằng năm” do PGS. TS Nguyễn Ngọc Hiến (Chủ nhiệm - 2002) tập trung
3
làm rõ những vấn đề chung về đánh giá cán bộ, công chức và sự cần thiết của
công tác này trong tổng thể chế độ quản lý công chức. Qua đó giới thiệu các
phương pháp đánh giá thường được sử dụng , những khó khăn, yếu kém, hạn
chế của cách đánh giá trong các cơ quan nhà nước. Từ đó nêu phương hướng
hoàn thiện phương pháp đánh giá tập trung vào xây dựng tiêu chí đo lường,
hoàn thiện các phương pháp đánh giá, quy trình đánh giá.
- Nghiên cứu “Quy hoạch và đánh giá cán bộ” của tác giả Đỗ Minh
Cương (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2009) đã khái quát và bước đầu
chỉ ra mối quan hệ giữa công tác đánh giá và quy hoạch cán bộ, đặc biệt là cán
bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan hành chính nhà
nước các cấp. Trong nghiên cứu này chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá cán
bộ, công chức nhưng tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải có cơ chế đánh giá đặc
thù, dựa trên tiêu chí khoa học và có sự giám sát, giải trình minh bạch, làm cơ
sở cho quy hoạch, bổ nhiệm, phát triển chức nghiệp cho cán bộ, công chức.
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Đổi mới phương pháp đánh giá công chức
trong các cơ quan hành chính nhà nước” do TS. Hà Quang Ngọc làm chủ nhiệm
(Bộ Nội vụ, 2011) đã xác định đánh giá là một khâu trọng yếu trong quy trình
quản lý nguồn nhân lực của tổ chức và giới thiệu một số phương pháp đánh giá
cơ bản như: cho điểm, đồ thị, sự kiện, báo cáo, bình bầu, phỏng vấn… và nêu
ý nghĩa của việc sử dụng phương pháp đánh giá trong tổ chức.
- Tác giả Trần Thị Minh Phương (2011), “Đánh giá công chức theo kết
quả thực thi công vụ” Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công. Luận văn đi
sâu vào công tác đánh giá theo kết quả thực thi công vụ của công chức.
- Tác giả Chu Xuân Khánh và Đào Thị Thanh Thủy với bài báo “Đổi mới
công tác đánh giá công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước” đăng trên
Tạp chí Tổ chức nhà nước số 07/2011, nhận định rằng đánh giá nguồn nhân lực
trong cơ quan hành chính nhà nước có thể thực hiện trên các nội dung: Đánh
giá hiệu quả làm việc; đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của
4
công chức; đánh giá tiềm năng; đánh giá động cơ làm việc của công chức.
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải về “Đánh giá thực thi công
vụ nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước” công
bố trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số 12/2012, đã giới thiệu hai cấp độ đánh giá
(tổ chức, cá nhân công chức) và các chỉ số đánh giá ở các cấp độ khác nhau và
từ đó, nêu lên một số vấn đề cần đặt ra khi thực hiện công tác đánh giá.
- Tác giả Nguyễn Thế Trung có bài viết “Tiếp tục nâng cao chất lượng
đánh giá và sử dụng cán bộ trong tình hình hiện nay” đã nêu 04 nguyên nhân
của việc đánh giá cán bộ, công chức là khâu khó nhất hiện nay và đề ra 05 giải
pháp để hoàn thiện việc đánh giá cán bộ, công chức, trong đó tập trung đến vấn
đề phải có tiêu chí cụ thể đối với từng nhóm chức danh, trách nhiệm của người
tự đánh giá và người có thẩm quyền đánh giá cán bộ, công chức.
- Tác giả Nguyễn Đăng Nam có bài viết “Mấy vấn đề về đánh giá, sử
dụng cán bộ, công chức hiện nay”, trong đó yêu cầu của việc đánh giá cán bộ,
công chức hiện nay phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công
tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và
năng lực cán bộ, công chức. Đồng thời, cần phải khắc phục những biểu hiện cá
nhân, cục bộ, không công tâm, nể nang, tuỳ tiện trong công tác cán bộ, công
chức. Đánh giá cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ yêu cầu,
tiêu chuẩn cán bộ, từ lợi ích của Đảng, cách mạng, của tổ chức; phải căn cứ vào
hiệu quả công tác, khả năng đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh của tập thể,
tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trong ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị
phụ trách; không tham nhũng, lãng phí, quan liêu và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu...
- Trong bài viết “Đổi mới công tác đánh giá công chức ở Việt Nam” của
tác giả Trịnh Xuân Thắng đã nêu một số điểm còn bất cập trong công tác đánh
giá công chức hiện nay như: chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá công
chức theo kết quả thực thi công vụ; phương thức đánh giá còn nặng về chủ
5
quan, cảm tính; ý thức trách nhiệm của các chủ thể tham gia đánh giá chưa cao.
Đồng thời, đưa ra một số định hướng đổi mới công tác đánh giá công chức ở
Việt Nam như: Đổi mới công tác đánh giá công chức theo kết quả thực thi công
vụ; đổi mới phương pháp đánh giá công chức phù hợp với nội dung tiêu chí
đánh giá theo kết quả thực thi công vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm của những
người tham gia đánh giá công chức, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu
các cơ quan.
- Về kinh nghiệm của nước ngoài trong công tác đánh giá cán bộ, công
chức, có bài báo “Kinh nghiệm đánh giá công chức của một số nước trên thế
giới” của tác giả Nguyễn Thu Huyền, đã được đăng trên Tạp chí Quản lý nhà
nước số 12/2006. Trong bài báo, tác giả đưa ra một số kinh nghiệm trong đánh
giá công chức ở một số nước: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản. Đồng thời đưa ra
các nguyên tắc, nội dung, phương pháp đánh giá công chức hành chính, học tập
kinh nghiệm đánh giá công chức của các nước mà Việt Nam có thể vận dụng
như: Hoàn thiện hệ thống quan điểm, tiêu chí đánh giá; căn cứ vào kết quả thực
hiện nhiệm vụ; ban hành các quy chế, quy định tiêu chuẩn năng lực của cá nhân
người lãnh đạo, quản lý trong việc đánh giá công chức.
- Tác giả Đào Thị Thanh Thủy: “Đánh giá công chức theo kết quả thực
thi công vụ”, Luận án Tiến sĩ Quản lý hành chính công (2016). Luận án đã làm
rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đánh giá công chức theo kết quả thực thi
công vụ, làm rõ được các yếu tố cấu thành đánh giá công chức, đề xuất các định
hướng đổi mới đánh giá công chức ở Việt Nam.
- Tác giả Lê Chí Hoại (2017), “Đánh giá công chức tại các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên”, Luận văn
thạc sĩ Quản lý công. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu vấn đề đánh giá công
chức các cơ quan chuyên môn tại một Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học khác đề cập tới chủ đề này như:
“Về vấn đề đánh giá thực thi trong công vụ” của tác giả Hạ Thu Quyên đăng
6
trên Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 5/2010, tác giả đã phân tích và đánh
giá các quy định của pháp luật hiện hành về đánh giá công chức, chỉ ra những
hạn chế tạo cơ sở để đổi mới công tác này; Bài viết “Những đổi mới trong quy
chế đánh giá cán bộ, công chức” của tác giả Phạm Tất Thắng đăng trên Tạp chí
Quản lý nhà nước số 8/2010, giới thiệu các quy định pháp lý về đánh giá công
chức theo Luật Cán bộ, công chức và các văn bản triển khai; Bài báo “Các tiêu
chí đánh giá chất lượng công chức” của Đào Thị Thanh Thủy đăng trên Tạp chí
Tổ chức nhà nước số tháng 12/2010, đề cập đến các tiêu chí định lượng được
sử dụng trong đánh giá công chức như chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, tính
chuyên nghiệp, đạo đức công vụ…
Các đề tài, luận văn, luận án liên quan đến đánh giá công chức hiện nay
xuất hiện tương đối nhiều, tuy nhiên, các nghiên cứu này tập trung vào đánh
giá thực trạng của từng cơ quan khác nhau, về lý luận, chủ yếu dẫn chiếu và
phân tích cac quy định của pháp luật về đánh giá công chức và đề xuất chủ
yếu được ứng dụng trong thực tiễn của từng cơ quan, trong khi đó, các nghiên
cứu về đánh giá công chức Tổng cục Biển và Hải đảo chưa được nghiên cứu.
Đồng thời cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề mới trong đánh giá
công chức, những vấn đề đặt ra trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực giữa khu
vực tư và khu vực công hay trong bối cảnh yêu cầu phát triển về chất đối với
lực lượng cán bộ, công chức trong yêu cầu tinh giản bộ máy và biên chế hiện
nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá công chức của Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam, qua phân tích thực trạng đánh giá công chức tại
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện công tác đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
hiện nay.
7
3.2. Nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về đánh giá công chức cấp xã
- Phân tích thực trạng đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và Hải đảo
Việt Nam, từ đó chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những kết
quả, hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động đánh giá công chức tại
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác đánh giá công chức hàng
năm của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu việc đánh giá công chức của Tổng cục Biển và Hải
đảo Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ; quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về đánh giá công chức.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin và xử lý thông tin: Trên cơ sở số liệu
thu thập được, tác giả có được cái nhìn tổng thể về công tác đánh giá công chức
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2019, để từ đó đề
xuất một số giải pháp thực thi để lãnh đạo, quản lý, có thể tham khảo, quyết
định các vấn đề về đánh giá công chức.
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Tác giả đã thực hiện
tổng kết kinh nghiệm thông qua nghiên cứu tài liệu về đánh giá công chức Tổng
8
cục Biển và Hải đảo Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2019 qua tài liệu được
lưu trữ tại Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: So sánh số liệu báo cáo các năm (từ năm 2017
đến năm 2019).
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng, kế thừa thành quả nghiên cứu của một
số công trình nghiên cứu, bài viết, báo cáo, tài liệu liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoàn
thiện công tác đánh giá của công tác đánh giá công chức của Tổng cục Biển và
Hải đảo Việt Nam trong bối cảnh tinh giản bộ máy và biên chế.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, tổng quan về tình hình nghiên cứu và kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về đánh giá công chức
Chương 2. Thực trạng đánh giá công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo
Việt Nam
Chương 3. Quan điểm và các giải pháp hoàn thiện đánh giá công chức
của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
1.1. Một số vấn đề lý luận về đánh giá công chức
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về công chức
Theo Luật cán bộ, công chức 2019, tại Khoản 1, Điều 1 đã sửa đổi, bổ
sung Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức 2008, đưa ra khái niệm về công
chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên
nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước”.
Theo định nghĩa trên, đặc điểm của một công chức bao gồm:
- Thứ nhất, công chức phải là công dân Việt Nam.
- Thứ hai, về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm: Công chức phải là người
được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong các cơ
quan, tổ chức, đơn vị thuộc Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; phải có đủ trình
độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chức danh, chức vụ.
- Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của công chức rất đa dạng. Nếu
như cán bộ là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
huyện, quận, thị xã thì công chức còn làm việc ở các cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân.
10
- Thứ tư, về thời gian công tác: theo Điều 60 Luật cán bộ, công chức năm
2008, công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới
khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động. Chấm dứt đảm nhiệm chức
vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a
Khoản 1 Điều 73 Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014).
- Thứ năm, về chế độ lao động: công chức được biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước.
Trong Luận văn này, công chức được xác định theo quy định của Luật cán
bộ, công chức, cụ thể là các công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
1.1.1.2. Khái niệm về đánh giá công chức
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng của Nhà xuất bản Đà Nẵng năm
2009 thì đánh giá là nhận định giá trị.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt – Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh (năm 2013) thì “đánh giá trong quản lý là nhận xét, bình
phẩm về giá trị và sử dụng nhận xét đó cho mục đích quản lý nào đó nhằm đạt
được mục tiêu của tổ chức” (tr. 256-257). Trong khoa học quản lý, đánh giá
được xác định là một hoạt động nhằm nhận định và xác định giá trị thực trạng
về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả công việc ở thời điểm
hiện tại so với mục tiêu, các chuẩn mực đã được xác lập.
Đánh giá là một khâu quan trọng trong quá trình sử dụng công chức,
được tiến hành định kỳ hàng năm hoặc trước khi điều động, chuyển công tác,
luân chuyển, biệt phái, bổ nhiệm nhằm cung cấp thông tin cho công tác quản
lý, làm cơ sở cho các công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng công chức,
xét nâng lương, khen thưởng và cung cấp các thông tin phản hồi để công chức
biết rõ về năng lực và khả năng thực hiện công việc của mỗi công chức.
Công tác đánh giá, phân loại công chức hàng năm được thựchiện theo
quy định của Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày
15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công
11
chức. Nội dung đánh giá thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Cán
bộ, công chức bao gồm 06 nội dung đánh giá đối với công chức chuyên môn
và theo Khoản 2 Điều 56 Luật Cán bộ, công chức đối với công chức lãnh đạo,
ngoài 06 nội dung đánh giá quy định tại Khoản 1, công chức lãnh đạo còn được
đánh giá theo 03 nội dung khác. Việc đánh giá công chức lãnh đạo gắn với kết
quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng
lực lãnh đạo, quản lý; và năng lực tập hợp, đoàn kết công chức. Người đứng
đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức đánh giá cấp phó của người
đứng đầu và công chức thuộc quyền, đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả
đánh giá. Thẩm quyền đánh giá người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do
người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện và chịu
trách nhiệm về kết quả đánh giá. Theo Điều 58 Luật Cán bộ, công chức, căn cứ
vào kết quả đánh giá, công chức được phân loại theo 04 mức:
- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ;
- Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực;
- Không hoàn thành nhiệm vụ.
1.1.1.3. Đánh giá chất lượng công chức theo các quy định mới
Luật số 52/2019/QH14 sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ,
công chức đã sửa đổi, bổ sung Điều 58 Luật Cán bộ, công chức, căn cứ vào kết
quả đánh giá, công chức được phân loại theo 04 mức:
- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ;
- Hoàn thành nhiệm vụ;
- Không hoàn thành nhiệm vụ.
Trên cơ sở quy định của Đảng về công tác đánh giá, xếp loại chất lượng
cán bộ công chức, các quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2015/NĐ-CP quy định cụ thể về công
12
tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Việc ban hành Nghị định
đã tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác đánh giá, phân
loại cán bộ, công chức theo quy trình, thủ tục chặt chẽ với các tiêu chí và mức
đánh giá, phân loại tương đối cụ thể, chi tiết; các bước đánh giá và các cấp độ
đánh giá được chia thành các mức độ khác nhau như: bản thân tự đánh giá,
đánh giá của tập thể nơi công tác, cơ quan, tổ chức theo dõi cán bộ, công chức,
cấp ủy nơi công tác và nơi cư trú. Việc đánh giá cán bộ, công chức được tổ
chức đa chiều và bằng nhiều hình thức đã góp phần nâng cao chất lượng đánh
giá, phân loại cán bộ, công chức, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, chính
xác, khách quan, là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền thực hiện chính sách về
cán bộ, công chức. Mặc dù có nhiều đổi mới về nội dung, phương pháp đánh
giá theo vị trí việc làm nhưng công tác đánh giá vẫn còn nhiều khó khăn, bất
cập. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ
các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ xác định công tác đánh giá cán bộ, công chức là khâu yếu, chưa phản
ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp
còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến cụ thể ở các mặt sau:
- Các Bộ, ngành, địa phương chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá cụ
thể, chưa có kế hoạch chi tiết để theo dõi tiến độ giải quyết công việc được giao
của cán bộ, công chức dẫn tới những vướng mắc trong quá trình triển khai thực
hiện, phản ánh không đúng thực trạng mức độ hoàn thành công việc của cán
bộ, công chức;
- Việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức còn bị động, chưa căn cứ
vào đặc điểm, thực tế của cơ quan, tổ chức, đơn vị và đặc thù công việc của
từng ngành, nghề, lĩnh vực;
- Các quy định về phân loại, đánh giá còn có sự khác nhau giữa các văn
bản của Đảng, giữa đội ngũ cán bộ, công chức với đội ngũ viên chức, trong khi
13
đó, công tác cán bộ được xác định là công tác của Đảng, cần bảo đảm sự tập
trung, thống nhất.
- Chưa có sự liên thông trong sử dụng kết quả đánh giá giữa Đảng, chính
quyền dẫn tới việc đánh giá nhiều nơi, nhiều lúc còn hình thức, trùng lặp, tốn
kém thời gian, vật chất.
Để đáp ứng yêu cầu đánh giá cán bộ, công chức trong tình hình mới, thời
gian qua, các cơ quan có thẩm quyền của Đảng đã ban hành nhiều văn bản như:
- Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Bộ Chính trị về khung tiêu
chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chuẩn đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp.
- Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị về kiểm
điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ
thống chính trị. Trong đó, tại Điều 19 quy định giao cho Ban Cán sự đảng Chính
phủ và các cơ quan quan liên quan rà soát, bổ sung, sửa đổi, cụ thể hóa việc kiểm
điểm đánh giá xếp loại chất lượng hàng năm đối với Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân các cấp, các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, những
người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp
công lập (mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức, người quản lý doanh
nghiệp nhà nước); sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới quy định về đánh giá xếp
loại đối với đối tượng doanh nghiệp nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức.
- Hướng dẫn số 16–HD/BTCTW ngày 24/9/2018 của Ban Tổ chức Trung
ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với tổ chức
Đảng, Đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ, lãnh đạo, quản lý các cấp để thực
hiện Quy định số 132–QĐ/TW, trong đó có quy định cụ thể đối với một số trường
hợp như: nghỉ ốm, nghỉ chế độ thai sản, thời gian công tác chưa đủ 06 tháng.
- Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18/10/2019 của Ban Tổ chức
Trung ương về kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ
chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
14
Bên cạnh đó, ngày 25/11/2019, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức.
Trong đó, nội dung đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức, viên chức cũng đã
được sửa đổi, bổ sung. Để phù hợp với chủ trương của Đảng về công tác đánh
giá cán bộ; đồng thời, quy định cụ thể các nội dung mới về việc đánh giá, xếp
loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp
loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức thay thế Nghị định số
56/2015/NĐ-CP và Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh
giá và phân loại cán bộ, công chức và viên chức.
Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá, xếp loại chất
lượng cán bộ, công chức, viên chức đã thể chế hóa quan điểm, đường lối trong
các văn kiện của Đảng về công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên
chức nêu trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, Quy định số 89-QĐ/TW, Quy định
số 132-QĐ/TW, Hướng dẫn số 16–HD/BTCTW, Hướng dẫn số 21-
HD/BTCTW; Kịp thời thể chế hóa quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức và các văn bản chỉ đạo
khác có liên quan; Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức theo
hướng đi vào chiều sâu và thực chất, giảm thủ tục hành chính, tạo sự liên thông
trong công tác đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Hoàn thiện cơ
sở pháp lý cho việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức
để làm căn cứ thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ,
chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức;Đổi mới công tác đánh giá cán
bộ theo hướng: xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản
phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương
15
đương; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa
phương, cơ quan, đơn vị; Bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, nhất quán trong
công tác đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức của các cơ
quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, phù hợp với thực tế của từng cấp, từng
ngành, từng địa phương, đơn vị, tiêu chí đánh giá sát hợp với từng chức danh,
vị trí việc làm, phản ánh được chính xác phẩm chất, năng lực và hiệu quả công
tác của cán bộ.
1.1.2. Mục đích, vai trò, ý nghĩa của việc đánh giá công chức
Theo Điều 55 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định mục đích đánh giá
công chức như sau: “Đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo
đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ
được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, đào
tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công
chức”. Theo đó, đánh giá công chức cần xác định một cách chính xác những
việc công chức đã làm so với yêu cầu, nhiệm vụ được giao để tiếp tục quản lý,
sử dụng công chức một cách có hiệu quả nhất.
Mục đính đánh giá đối với công chức:
Thứ nhất, xác định mục tiêu phát triển chức nghiệp của công chức.
Thông qua kết quả đánh giá, nhà quản lý và công chức thảo luận về các
mục tiêu, kế hoạch phát triển chức nghiệp cá nhân. Dựa trên những tiềm năng
và khả năng của công chức, nhà quản lý có thể chỉ ra mục tiêu hoặc đưa ra lời
khuyên để công chức có thể đạt được mục tiêu nghề nghiệp trong dài hạn.
Thứ hai, xác định nhu cầu đào tạo.
Đánh giá thực thi công vụ là tiền đề cho việc xác định nhu cầu đào tạo của
công chức. Nếu như một công chức không đạt được yêu cầu công việc thì nguyên
nhân có thể là do họ đang thiếu hụt kiến thức, kỹ năng nào đó so với yêu cầu của
công việc mà họ đảm nhận. Sự thiếu hụt này chính là nhu cầu đào tạo cho công
16
chức. Vì vậy, đánh giá thực thi công vụ đem lại những thông tin hữu ích trong việc
phát triển các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức.
Thứ ba, cải thiện thành tích của công chức
Trên cơ sở kết quả của đánh giá thực thi công vụ của công chức, nhà
quản lý có thể đưa ra cách thức giúp công chức thực thi công vụ tốt hơn trong
tương lai. Nhà quản lý chỉ ra cho công chức thấy được những điểm mạnh, điểm
yếu để từ đó giúp họ phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để đạt được
thành tích ở mức cao nhất có thể.
Mục đích đánh giá công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam:
Việc đánh giá giúp mỗi công chức tự nhìn nhận lại những công việc của
mình sau thời gian một năm công tác, những công việc gì đã làm được, những
thuận lợi, khó khăn trong công việc để xây dựng kế hoạch phát triển, những ưu
điểm cần phát huy, những hạn chế cần được khắc phục.
Trên cơ sở kết quả đánh giá công chức, người đứng đầu cơ quan đã ghi
nhận những thành tích đạt được của công chức, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm,
mặt mạnh, mặt yếu của công chức về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, ý
thức tổ chức kỷ luật; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ; triển vọng phát triển
của công chức, giúp công chức tìm ra cách tốt nhất để hoàn thành công việc,
khuyến khích họ làm việc tốt hơn để đạt được những thành tích cao hơn, định
hướng cho công chức trong thực hiện hiện nhiệm vụ sao cho có hiệu quả cao
nhất, góp phần hoàn thành tốt nhất mục tiêu chung của cơ quan. Thông qua
đánh giá công chức để xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao
kiến thức, khắc phục thiếu sót trong thực thi công vụ của mỗi công chức.
Đánh giá công chức để có được thông tin khách quan giúp công chức rèn
luyện, phấn đấu, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm và để người đứng
đầu cơ quan đưa ra quyết định liên quan đến các vấn đề nhân sự như quy hoạch,
luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử, miễn
nhiệm...Việc đánh giá công chức sẽ cung cấp những dữ liệu cần thiết cho công
17
tác khen thưởng, kỷ luật; là cơ sở để xây dựng chính sách khen thưởng, kỷ luật
của cơ quan. Những công chức nhận được kết quả đánh giá cao có thể nhận
được các hình thức khen thưởng như: bằng khen, nâng lương trước thời hạn...,
trong khi những công chức được đánh giá thấp sẽ có các hình thức phạt như:
kỷ luật, giáng chức, sa thải; điều này giúp động viên công chức thực thi công
vụ tốt hơn.
1.1.3. Chủ thể tham gia đánh giá công chức
Theo quy định tại Điều 57 Luật Cán bộ, công chức, “trách nhiệm đánh
giá công chức thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị
sử dụng công chức; việc đánh giá người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị do
người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp thực hiện”. Theo
đó, chủ thể tiến hành đánh giá là người có trách nhiệm đưa ra những nhận xét
của bản thân đối với công chức được đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn, tiêu
chí đã được thiết lập trước đó. Mỗi một đối tượng tiến hành đánh giá có những
mặt mạnh và hạn chế khác nhau. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng kết hợp nhiều
chủ thể đánh giá khác nhau tham gia vào quá trình đánh giá để cho kết quả
chuẩn xác nhất:
1.1.3.1. Công chức tự đánh giá
Công chức tự đánh giá dựa trên mẫu do cơ quan quy định để đưa ra nhận
xét của chính bản thân mình. Theo quy định hiện hành, bản tự nhận xét, đánh
giá của mỗi công chức là cơ sở đầu tiên để tiến hành các bước đánh giá tiếp
theo trong quy trình đánh giá công chức hàng năm. Việc tự đánh giá của mỗi
công chức rất cần thiết và quan trọng, là cơ sở để đối chiếu với kết quả đánh
giá của người có thẩm quyền.
1.1.3.2. Tập thể đánh giá
Tập thể đánh giá là sự góp ý, nhận xét của các cá nhân trong cơ quan,
đơn vị về những hoạt động, sự cống hiến của công chức cho tập thể cũng như
những điểm cần phát huy và những điểm cần khắc phục của mỗi cá nhân công
18
chức. Đánh giá của tập thể có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động đánh giá
của mỗi cơ quan, tuy nhiên, tùy từng điều kiện cụ thể về quan hệ cá nhân, tâm
lý cào bằng...mà chất lượng đánh giá có thể bị ảnh hưởng.
1.1.3.3. Thủ trưởng trực tiếp đánh giá
Thủ trưởng trực tiếp là người phân công công việc và giám sát quá trình
thực hiện của công chức, người hiểu rõ nhất năng lực của công chức dưới quyền
nên ý kiến của họ thường khá chính xác. Đây cũng là ý kiến được coi là quan trọng
nhất, có ý nghĩa quyết định đến kết quả đánh giá. Tuy nhiên, để kết quả đánh giá
công bằng và khách quan, thủ trưởng trực tiếp đánh giá cần tham khảo ý kiến của
các chủ thể đánh giá khác trước khi đưa ra quyết định đánh giá cuối cùng.
1.1.3.4. Bộ phận quản lý nguồn nhân lực
Đánh giá của bộ phận quản lý nguồn nhân lực là sự tổng hợp chung nhiều
ý kiến, thường tập trung vào sự đánh giá tập thể hơn là đánh giá từng cá nhân.
1.1.3.5. Công dân, khách hàng – người thụ hưởng dịch vụ
Đánh giá của công dân phản ánh mức độ hài lòng đối với kết quả thực
thi công vụ của công chức, do vậy đây là kênh thông tin phản ánh khách quan
về kết quả làm việc của công chức trong cơ quan nhà nước, là nguồn thông tin
tham khảo cần thiết cho công tác đánh giá.
Có nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đánh giá công chức nhưng đánh
giá của Thủ trưởng cơ quan là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến kết
quả đánh giá, các ý kiến đánh giá của các chủ thể khác tham gia trong quá trình
đánh giá chỉ là ý kiến tham khảo để thủ trưởng cơ quan đưa ra quyết định đánh
giá cuối cùng.
1.1.4. Phương pháp đánh giá công chức
1.1.4.1. Nguyên tắc đánh giá công chức
Theo Điều 3 Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015
của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức thì khi
thực hiện đánh giá phải đảm bảo 05 nguyên tắc sau:
19
Thứ nhất, bảo đảm đúng thẩm quyền: cán bộ do cấp có thẩm quyền quản lý
đánh giá; công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đánh giá.
Thứ hai, việc đánh giá phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được giao
và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Việc đánh giá cần làm rõ ưu điểm, khuyết điểm,
tồn tại, hạn chế về phẩm chất, năng lực, trình độ của cán bộ, công chức.
Thứ ba, bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác và không nể nang,
trù dập, thiên vị, hình thức.
Thứ tư, việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý phải
dựa vào kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,
quản lý. Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu không được cao hơn
mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Thứ năm, trường hợp cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành
nhiệm vụ do yếu tố khách quan, bất khả kháng thì được xem xét trong quá trình
đánh giá, phân loại.
Hiện tại, Điều 2 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh
giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức thì khi thực hiện đánh giá
phải đảm bảo 04 nguyên tắc, trong đó kế thừa khoản 1,2,3 Điều 3 Nghị định số
56/2015/NĐ-CP, có bổ sung các nội dung mới như sau:
Thứ nhất, về thời gian công tác trong thực hiện đánh giá: cán bộ, công
chức có thời gian công tác trong năm chưa đủ 06 tháng thì không thực hiện
đánh giá, xếp loại chất lượng nhưng vẫn phải kiểm điểm thời gian công tác
trong năm, trừ trường hợp nghỉ chế độ thai sản. Cán bộ, công chức nghỉ không
tham gia công tác theo quy định của pháp luật trong năm từ 03 tháng đến dưới
06 tháng thì vẫn thực hiện đánh giá nhưng không xếp loại chất lượng ở mức
hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.
Thứ hai, về liên thông trong đánh giá: kết quả đánh giá, xếp loại chất
lượng cán bộ, công chức được sử dụng làm cơ sở để liên thông trong đánh giá,
xếp loại chất lượng đảng viên. Liên thông trong đánh giá, xếp loại chất lượng
20
là việc sử dụng kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên
chức trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ làm một trong các cơ sở để xếp loại
chất lượng đảng viên.
Đánh giá công chức cần phải đảm bảo công bằng, khách quan, các nội
dung đánh giá phải được công khai, đồng nhất các tiêu chuẩn, dựa trên nhiều
góc độ để đưa ra được kết quả đánh giá công bằng và hợp lý. Tùy từng đặc
điểm chức vụ, vị trí công tác để đưa ra nhữngnội dung và tiêu chuẩn đánh giá
khác nhau. Khi đánh giá công chức phải gắn với nhiệm vụ của người được đánh
giá, so sánh, đối chiếu với số lượng, khối lượng công việc được phân công, do
các cơ quan, tổ chức cấp trên hoặc người có thẩm quyền trong đơn vị giao, làm
rõ ưu, khuyết điểm về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, đảm bảo chính xác, khách
quan và công bằng.
Đánh giá dựa trên các thành tích thực tế mà người công chức đạt được
trong quá trình thực thi công vụ; thành tích này phản ánh tổng hợp, chính xác
năng lực thực hiện nhiệm vụ, chất lượng công việc. Thực hiện công tác đánh giá
cần căn cứ tiêu chuẩn chức vụ, chức danh lãnh đạo và tiêu chuẩn ngạch công
chức; chức trách, nhiệm vụ được giao và kế hoạch công tác được phê duyệt; môi
trường và điều kiện làm việc của công chức trong giai đoạn được đánh giá; phẩm
chất chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời, việc đánh giá công chức giữ chức
vụ lãnh đạo cần căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ gồm tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn
cụ thể; hiệu quả công tác thực tế, hiệu quả về kinh tế; về xây dựng đảng, chính
quyền và đoàn thể; về đoàn kết nội bộ; mức độ tín nhiệm của cấp dưới, đồng
nghiệp và quần chúng; môi trường và điều kiện công tác, căn cứ vào trách nhiệm
liên đới; xem xét tổng thể các mối quan hệ xã hội và gia đình...
1.1.4.2. Căn cứ, thời điểm và nội dung đánh giá công chức
Theo các quy định hiện nay về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức,
viên chức:
21
Các căn cứ đánh giá công chức bao gồm:
- Nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp và những việc công chức không
được làm quy định tại Luật Cán bộ, công chức;
- Tiêu chuẩn ngạch công chức, chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm được phân công
hoặc được giao chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
Thời điểm đánh giá công chức được thực hiện như sau:
- Việc đánh giá, phân loại công chức được thực hiện theo từng năm công
tác. Công chức khi chuyển công tác thì cơ quan, tổ chức, đơn vị mới có trách
nhiệm đánh giá, phân loại kết hợp với ý kiến nhận xét của cơ quan, tổ chức,
đơn vị cũ (đối với trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan, tổ chức, đơn vị
cũ từ 06 tháng trở lên).
- Thời điểm đánh giá, phân loại công chức được tiến hành trong tháng
12 hàng năm, trước khi thực hiện việc bình xét thi đua, khen thưởng.
Nhằm cụ thể hóa các quy định của Chính phủ về việc đánh giá công chức,
ngày 06 tháng 12 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban
hành Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT ban hành quy chế đánh giá và phân loại
công chức, viên chức thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó, việc đánh
giá công chức thuộc Bộ được quy định như sau:
Căn cứ đánh giá công chức:
- Nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp, những điều công chức không
được làm theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức.
- Chức trách, nhiệm vụ của công chức theo vị trí việc làm; kế hoạch công
tác đã đăng ký thực hiện trong năm và các nhiệm vụ phát sinh (nếu có).
- Chương trình, kế hoạch công tác của đơn vị, tổ chức thuộc thẩm quyền
quản lý trực tiếp của mình hoặc được cấp có thẩm quyền phân công, giao lãnh
đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.
22
- Tiêu chuẩn chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc tiêu chuẩn ngạch
công chức (nếu không giữ chức danh lãnh đạo, quản lý).
Thời điểm đánh giá:
- Đánh giá định kỳ hàng năm: Thời điểm đánh giá, phân loại công chức
được tiến hành trong tháng 12 hàng năm, trước khi thực hiện việc bình xét thi
đua, khen thưởng hàng năm.
- Đánh giá trước khi quy hoạch, cử đi đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, luân chuyển, điều động, thi nâng ngạch, hết thời gian tập sự, khen
thưởng, kỷ luật.
- Đánh giá theo tháng, quý trong năm hoặc theo yêu cầu của cấp có thẩm
quyền:
+ Căn cứ tình hình thực tế của đơn vị, tổ chức và yêu cầu công tác chỉ
đọa, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, việc đánh giá công chức được tiến
hành theo tháng, quý hoặc theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
+ Việc đánh giá (nhận xét về kết quả và/hoặc cách thức thực hiện công
việc, điều chỉnh các mục tiêu trong công việc trong kỳ) theo tháng, quý được
thực hiện và thông báo kết quả khi tổ chức các hội nghị, cuộc họp giao ban
công tác của đơn vị, tổ chức.
Đối với quản lý công chức ở nước ta hiện nay, việc đánh giá công chức
do pháp luật quy định; việc đánh giá công chức được thực hiện theo các thời
điểm như trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, em xin tập trung
nghiên cứu công tác đánh giá công chức hàng năm tại Tổng cục Biển và Hải
đảo Việt Nam.
1.1.4.3. Phương pháp đánh giá công chức
Phương pháp đánh giá công chức bao gồm 07 phương pháp sau:
Thứ nhất, phương pháp so sánh với mục tiêu đã xác định
Phương pháp này là việc so sánh giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ với
mục tiêu đã đặt ra trước đó, nhằm đánh giá mức độ hoàn thành công việc của
23
cá nhân. Khi thực hiện phương pháp đánh giá này đòi hỏi cơ quan, đơn vị phải
xác định được hệ thống mục tiêu mốt cách cụ thể, khoa học. Kết quả đánh giá
cũng phản ánh được mức độ thành công của việc thực hiện các mục tiêu đã đặt
ra, từ đó cho thấy các mục tiêu đặt ra đã hợp lý và khoa học hay chưa.
Để áp dụng phương pháp này cần phải có sự thống nhất giữa người lãnh
đạo và công chức về các nhiệm vụ chính trong công việc của công chức, các mục
tiêu cụ thể cần đạt được cho từng nhiệm vụ, xây dựng kế hoạch hành động để
thực hiện các mục tiêu đó. Mặt khác, cơ quan, đơn vị cần căn cứ vào chức năng,
nhiệm vụ của từng cơ quan, chức năng của các bộ phận công tác và từng vị trí
công việc để xây dựng một hệ thống chuẩn mực để sử dụng làm căn cứ đánh giá.
Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này còn gặp phải hạn chế vì trong
thực tế thực thi công vụ, khó có thể xác định được khối lượng công việc cụ thể
của từng công chức.
Thứ hai, phương pháp cho điểm và xếp hạng
Khi sử dụng phương pháp này, mỗi công chức được đánh giá thông qua
một số tiêu chí cụ thể liên quan đến quá trình thực hiện công việc và kết quả
thực hiện nhiệm vụ tại vị trí công việc mà mỗi công chức đảm nhận. Các tiêu
chí đánh giá về công chức bao gồm mức độ hợp tác trong công việc, khả năng
trao đổi, diễn đạt thông tin, tính sáng tạo, chấp hành kỷ luật về thời gian, nội
quy cơ quan, kỹ năng làm việc và một số đặc điểm khác tuỳ thuộc vào yêu cầu
và điều kiện cụ thể của từng công chức. Ưu điểm của phương pháp đánh giá
cho điểm là có kết cấu rõ ràng, mọi công chức đều phải trải qua quá trình đánh
giá với các tiêu chí và thang điểm đánh giá cơ bản giống nhau. Điều này tạo ra
sự bình đẳng trong việc đánh giá công chức. Tuy nhiên, mặt hạn chế là các tiêu
chí đánh giá của phương pháp đánh giá cho điểm trong một số trường hợp
không liệt kê được toàn bộ các công việc mà công chức đang đảm nhận, bởi
các tiêu chí này cố định và được tiêu chuẩn hoá nên một số đặc điểm sẽ có mối
liên quan chặt chẽ với một công việc nào đó so với các công việc khác.
24
Người có thẩm quyền đánh giá dựa vào các tiêu chí, lập thang điểm để
chấm điểm đối với công chức được đánh giá. Theo phương pháp đánh giá này,
hoạt động của công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam được đánh
giá theo quy định chung của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tiêu chí cụ thể
quy định tại Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT ngày 6/12/2017 Công văn số
6531/BTNMT-TCCB ngày 9/12/2019 về việc công tác đánh giá và phân loại
công chức, viên chức năm 2019, người đánh giá dựa Phiếu đánh giá và phân
loại công chức (theo Mẫu M3 ban hành kèm theo Quyết định số 3113/QĐ-
BTNMT) và các tiêu chí và thang điểm đã được xác định để chấm điểm đối với
công chức được quy định tại Công văn số 6531/BNTM-TCCB ngày 09/12/2019
về công tác đánh giá và phân loại công chức năm 2019, quy định về chấm điểm
như sau:
+ Về ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức: tối đa 15 điểm;
+ Năng lực và kỹ năng: tối đa 15 điểm;
+ Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (tính theo chương
trình, kế hoạch công tác đã đăng ký từ đầu năm): tối đa 70 điểm.
+ Tổng hợp xếp loại:
(1) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: tổng số điểm từ 90 trở lên;
(2) Hoàn thành tốt nhiệm vụ: tổng số điểm từ 70 đến dưới 90 điểm;
(3) Hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực: tổng số
điểm từ 50 đến dưới 70 điểm;
(4) Không hoàn thành nhiệm vụ: tổng số điểm dưới 50 điểm.
Thứ ba, phương pháp dựa vào các sự kiện quan trọng
Đánh giá bằng phương pháp dựa vào các sự kiện quan trọng nhằm xác
định các hành vi của người công chức (cả tích cực và tiêu cực) trong quá trình
thực hiện công việc trong những khoảng thời gian nhất định.
Trong quá trình thực thi công vụ, người công chức có thể bộc lộ những
sở trường, điểm mạnh cũng như những điểm còn hạn chế, đồng thời người lãnh
25
đạo cũng có thể có các góp ý kịp thời với công chức khi phát hiện công chức có
các hành vi tiêu cực liên tục. Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý phải ghi
chép đầy đủ các sự kiện, chú ý các sự kiện mang lại tác động tích cực và tiêu
cực, tránh hiệu ứng của sự kiện gần nhất. Tuy nhiên, nếu đánh giá chỉ dựa vào
các sự kiện quan trọng thì kết quả đánh giá thường phiến diện và khó chính xác.
Thứ tư, phương pháp đánh giá thông qua báo cáo
Trong một số trường hợp cụ thể, các lãnh đạo trực tiếp của công chức
phải báo cáo về công chức cấp dưới của mình, tường thuật về hoạt động của
công chức, tập trung mô tả những điểm mạnh và điểm yếu cụ thể nào đó về
thành tích công việc của công chức. Trong báo cáo đánh giá, người quản lý có
thể đánh giá hầu hết mọi khía cạnh có liên quan tới kết quả thành tích công việc
của người được đánh giá, đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục những tồn tại
trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, báo cáo mô tả về thành tích công việc của
công chức dễ dẫn đến những đánh giá mang tính chủ quan, cảm tính của người
lãnh đạo trực tiếp.
Báo cáo đó có thể được các lãnh đạo cấp cao hơn xem xét và đưa ra ý
kiến đánh giá cả công chức và người báo cáo.
Thứ năm, phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này là tổ chức cuộc gặp mặt định kỳ (hàng năm hoặc 6
tháng) giữa người có thẩm quyền đánh giá và công chức được đánh giá, từ cuộc
gặp mặt này có thể làm cho cả hai phía hiểu nhau hơn và tạo điều kiện làm việc.
Khi thực hiện phương pháp này cần:
+ Lên kế hoạch có đủ thời gian cho phỏng vấn đánh giá;
+ Bảo đảm cuộc phỏng vấn được diễn ra tại nơi không bị ảnh hưởng bởi
các hoạt động khác;
+ Khởi đầu bằng những lời khen ngợi;
+ Sử dụng đề cương phỏng vấn đã được chuẩn bị trước;
+ Đưa ra những lời phê bình mang tính xây dựng;
26
+ Cùng nhau thống nhất thêm các mục tiêu;
+ Bảo đảm rằng công chức hiểu được các bước tiếp theo của phỏng vấn
là: được bố trị lại công việc phù hợp hơn, cử đi tham gia các khóa đào- Phương
pháp dựa vào các sự kiện quan trọng
Thứ sáu, phương pháp bình bầu
Thực chất của phương pháp này là một công đoạn của phương pháp cho
điểm theo tiêu chí, tập thể đưa ra các ý kiến đánh giá và cho điểm từng cá nhân.
Việc bình bầu thực hiện theo hai hình thức: biểu quyết giơ tay hoặc bỏ phiếu
kín. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong công tác đánh giá công
chức hiện nay, sau khi người được đánh giá đọc bản tự nhận xét, đánh giá, tập
thể đưa ra ý kiến đánh giá, góp ý và biểu quyết đối với từng công chức.
Kết quả của phương pháp đánh giá này phụ thuộc rất lớn vào việc dẫn
dắt cuộc bình bầu, vai trò của người chủ tọa, không khí trong đơn vị và mối
quan hệ cá nhân trong cơ quan, tổ chức. Do vậy trong một số trường hợp
phương pháp này khó đảm bảo tính công bằng, xuất phát từ nhiều nguyên nhân
khác nhau về yếu tố chủ quan, mối quan hệ cá nhân giữa các công chức trong
tập thể đánh giá, kết quả bình bầu nhiều khi không phản ánh đúng năng lực và
bản chất của người được đánh giá. Do đó, khi bình bầu cần phải có một hệ
thống tiêu chí cụ thể, rõ ràng.
Thứ bảy, phương pháp đánh giá 360 độ
Có sự tham gia của rất nhiều chủ thể vào quá trình đánh giá công chức:
từ bản thân cá nhân công chức, người quản lý trực tiếp, cấp dưới, đồng nghiệp,
đại diện của bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ. Bằng cách đánh giá này, mỗi
công chức không chỉ được đánh giá về năng lực chuyên môn mà cả về thái độ
thực hiện công vụ, phối hợp công tác...Đánh giá đa chiều sẽ mang lại kết quả
khách quan tuy nhiên cần xây dựng tiêu chí, mục tiêu đầy đủ, rõ ràng để làm
cơ sở thực hiện đánh giá.
27
Nhìn chung, mỗi phương pháp đánh giá nêu trên đều có những ưu điểm
và hạn chế nhất định, trong thực tế khi thực hiện đánh giá cần kết hợp linh hoạt
các phương pháp khác nhau để có được kết quả đánh giá công bằng, khách quan
và chính xác.
1.1.5. Các nội dung và tiêu chí đánh giá công chức
1.1.5.1. Nội dung đánh giá công chức
Nội dung đánh giá công chức được quy định tại Khoản 1,2 Điều 56 Luật
Cán bộ, công chức 2008 như sau:
Đối với tất cả công chức, nội dung đánh giá bao gồm:
(1) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước;
(2) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
(3) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
(4) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
(5) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;
(6) Thái độ phục vụ nhân dân.
Đối với công chức lãnh đạo, quản lý, ngoài những nội dung đánh giá của
công chức nêu trên, còn đánh giá theo các nội dung sau:
(1) Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,
quản lý;
(2) Năng lực lãnh đạo, quản lý;
(3) Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.
Nội dung đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam là
những yếu tố cần thiết để dựa vào đó, người thực hiện công tác đánh giá định
hướng được cần nhận xét, đánh giá những điều gì đối với người được đánh giá.
Công chức được đánh giá theo các nội dung quy định tại Điều 10 Quyết định
số 666/QĐ-TCBHĐVN của Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
28
Nam ngày 28/12/2018 ban hành Quy chế đánh giá và phân loại công chức, viên
chức thuộc Tổng cục như sau:
- Đối với tất cả công chức thuộc Tổng cục, có 6 nội dung đánh giá, bao gồm:
(1) Về tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác
phong, lề lối làm việc
a) Tư tưởng chính trị: Chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật Đảng, nhất là
nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; Quan điểm, bản lĩnh,
lập trường chính trị; Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các đợt sinh hoạt chính
trị và cập nhật kiến thức mới.
b) Đạo đức, lối sống: Lối sống, tác phong làm việc tại nơi công tác và
nơi cư trú; Thực hiện tinh thần tự phê bình và phê bình đối với đảng viên và
quần chúng tại đơn vị; Việc thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực, quan
liêu, tham nhũng, lãng phí; phòng, chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức,
lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Tinh thần đoàn kết nội bộ.
c) Tác phong, lề lối làm việc: Tinh thần, thái độ trách nhiệm đối với công
việc; Phương pháp, cách thức tổ chức và thực hiện công việc; Tinh thần hợp
tác, phối hợp, hướng dẫn giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp.
d) Ý thức tổ chức kỷ luật: Việc tuân thủ những điều Đảng viên, công
chức không được làm; Việc chấp hành sự phân công của tổ chức; Việc thực
hiện các quy định, quy chế, nội quy của cơ quan, đơn vị; Việc thực hiện chế độ
thông tin, báo cáo với cấp trên; Việc thực hiện kê khai và công khai tài sản, thu
nhập theo quy định.
(2) Năng lực, trình độ chuyên môn; tinh thần học tập, nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ: Hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn; Khả năng tư duy,
tổng hợp, dự báo, tham mưu giải quyết công việc bảo đảm chất lượng, tiến độ;
29
Kết quả học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; hoàn thiện tiêu chuẩn
chức danh, chức vụ và ứng dụng kiến thức, kỹ năng trong công tác.
(3) Khối lượng, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ: Việc xây dựng và
thực hiện kế hoạch công tác hằng năm của cá nhân; Kết quả công việc thực hiện
trong năm. Những công việc đã giải quyết đúng hạn; những việc giải quyết còn
chậm, gặp khó khăn hoặc chưa giải quyết; Những văn bản, kế hoạch, công trình,
đề án, đề tài đã chủ trì soạn thảo hoặc tham gia soạn thảo; Những đề xuất, sáng
kiến được chấp nhận, thực hiện; Việc giải quyết các kiến nghị của các tổ chức,
cá nhân theo quy định.
(4) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ: Tinh
thần trách nhiệm trong công tác; thực hiện nội quy, quy chế cơ quan, đơn vị và
quy định của pháp luật; thực hiện ý kiến chỉ đạo của cấp trên; Mối quan hệ,
phối hợp công tác giữa công chức trong cơ quan với các đơn vị, tổ chức khác.
(5) Thái độ phục vụ Nhân dân: Thái độ tích cực, tinh thần phục vụ trong
tiếp xúc, làm việc, giải quyết công việc; lắng nghe ý kiến của tổ chức và công
dân; Giải quyết hồ sơ đúng quy định, không gây phiền hà, khó khăn cho người
đề nghị giải quyết.
(6) Chiều hướng và triển vọng phát triển: Đánh giá lĩnh vực công chức
có khả năng phát huy tốt năng lực, sở trường; Tinh thần học tập nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ; Xác định chuyên môn, lĩnh vực cần tiếp tục bồi
dưỡng, đào tạo.
- Đối với công chức lãnh đạo, quản lý của Tổng cục, ngoài 06 nội dung
đánh giá trên còn đánh giá theo 03 nội dung sau:
(1) Kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,
quản lý;
(2) Năng lực tổ chức, chỉ đạo, điều hành, quản lý đơn vị, tổ chức;
(3) Kết quả tham mưu, hoạch định, cụ thể hóa, chỉ đạo thực hiện, hướng
dẫn kiểm tra các chủ trương, chính sách, kế hoạch trong phạm vi lĩnh vực, mặt
công tác được phân công;
30
(4) Kết quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, chế
độ công vụ, công chức; giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức và
công dân thuộc thẩm quyền;
(5) Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.
1.1.5.2. Tiêu chí đánh giá công chức
Theo quy định về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức, 04
mức độ đánh giá phân loại công chức được đánh giá theo các tiêu chí về công
chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo
quản lý cụ thể như sau:
- Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ:
+ Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, nếu đạt được
các tiêu chí sau thì được phân loại ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Luôn
gương mẫu, chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảngvà pháp
luật của Nhà nước; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có lối sống lành mạnh,
chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tận tụy, có
tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao; Có năng
lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với đồng
nghiệp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công
vụ; Có tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được
giao; Có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm vụ, công
vụ; thực hiện tốt việc phòng, chống các hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó
khăn, phiền hà, tiêu cực, tham nhũng, tham ô, lãng phí; Hoàn thành 100%
nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm, vượt tiến độ, có chất lượng
và hiệu quả; Hoàn thành kịp thời và bảo đảm chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ
đột xuất; Có ít nhất 01 công trình khoa học, đề án, đề tài hoặc sáng kiến được
áp dụng có hiệu quả trong hoạt động công vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được
cấp có thẩm quyền công nhận.
31
+ Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: ngoài các tiêu chí
chung của công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, đồng thời phải đạt
các tiêu chí sau để được phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: cơ quan, tổ
chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành 100% nhiệm vụ theo
chương trình, kế hoạch công tác năm; hoàn thành tốt nhiệm vụ đột xuất; Lãnh
đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ hoàn thành vượt tiến độ, có chất
lượng, hiệu quả; Có năng lực tập hợp, xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị đoàn
kết, thống nhất.
- Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ:
+ Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, nếu đạt được
các tiêu chí sau thì được phân loại ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ: Luôn gương
mẫu, chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảngvà pháp luật của
Nhà nước; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có lối sống lành mạnh, chấp
hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tận tụy, có tinh
thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao; Có năng lực,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ; phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả với đồng
nghiệp, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công
vụ; Có tinh thần chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được
giao; Có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm vụ, công
vụ; thực hiện tốt việc phòng, chống các hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó
khăn, phiền hà, tiêu cực, tham nhũng, tham ô, lãng phí; Hoàn thành 100%
nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm, bảo đảm tiến độ, chất
lượng và hiệu quả; Hoàn thành nhiệm vụ đột xuất.
+ Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: ngoài các tiêu chí
chung của công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý, đồng thời phải đạt
các tiêu chí sau để được phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ: Cơ quan, tổ chức,
đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành 100% nhiệm vụ được gia theo
chương trình, kế hoạch công tác năm; hoàn thành nhiệm vụ đột xuất; Lãnh đạo,
32
quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tiến độ, chất lượng và hiệu quả;
Có năng lực xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị đoàn kết, thống nhất.
- Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức hoàn thành nhiệm vụ
nhưng còn hạn chế về năng lực:
+ Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, nếu đạt được
các tiêu chí sau thì được phân loại ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng còn
hạn chế về năng lực: Luôn gương mẫu, chấp hành tốt đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Có phẩm chất chính trị, đạo
đức tốt; có lối sống lành mạnh, chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong cơ
quan, tổ chức, đơn vị; tận tụy, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm
vụ, công vụ được giao; Hoàn thành từ 70% đến dưới 100% nhiệm vụ theo
chương trình, kế hoạch công tác năm; Thực hiện nhiệm vụ được giao còn chậm
về tiến độ; Tham mưu đề xuất giải quyết công việc chưa bảo đảm chất lượng,
chưa đúng với quy định của pháp luật hoặc đến mức phải để cấp trên xử lý lại;
Không có thái độ đúng mực và xử sự văn hóa trong thực hiện nhiệm vụ, công
vụ; Có biểu hiện cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực, tham
ô, tham nhũng, lãng phí trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
+ Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt được các tiêu chí
sau thì được phân loại ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về
năng lực: Luôn gương mẫu, chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và pháp luật của Nhà nước; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có
lối sống lành mạnh, chấp hành nghiêm kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức,
đơn vị; tận tụy, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ
được giao; Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành từ
70% đến dưới 100% nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm; Công
tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn
vị chậm tiến độ; Giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị không đúng
quy định của pháp luật, chưa gây hậu quả phải có biện pháp khắc phục; Công
33
tác lãnh đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn
vị chưa bảo đảm chất lượng, hiệu quả; Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh
đạo, quản lý xảy ra mất đoàn kết.
Tuy nhiên theo quy định mới tại Luật số 52/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày
13/8/2020 của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức,
viên chức, mức đánh giá “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng
lực” được thay thế bằng mức “hoàn thành nhiệm vụ”.
- Tiêu chí phân loại đánh giá công chức ở mức không hoàn thành nhiệm vụ:
+ Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có một trong
các tiêu chí sau thì được phân loại ở mức không hoàn thành nhiệm vụ: Không
thực hiện hoặc vi phạm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng hoặc pháp
luật của Nhà nước bị cấp có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc cơ quan có thẩm
quyền xử lý theo quy định; Vi phạm kỷ luật, kỷ cương hoặc quy chế làm việc
của cơ quan, tổ chức, đơn vị nhưng chưa đến mức bị xử lý kỷ luật ở hình thức
cao nhất; Không hoàn thành nhiệm vụ tương xứng với chức danh đang giữ;
Thực hiện nhiệm vụ, công vụ có sai phạm đến mức phải có biện pháp khắc
phục; Gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; Hoàn thành dưới 70%
nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch công tác năm; Có hành vi cửa quyền,
hách dịch, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực, tham nhũng, tham ô, lãng phí bị
xử lý kỷ luật.
+ Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có các tiêu chí được
quy định chung với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý được phân
loại không hoàn thành nhiệm vụ có thêm một trong các tiêu chí sau thì được
phân loại ở mức không hoàn thành nhiệm vụ: Liên quan trực tiếp đến tiêu cực,
tham ô, tham nhũng, lãng phí tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao phụ
trách và bị xử lý theo quy định của pháp luật; Cơ quan, tổ chức, đơn vị được
giao lãnh đạo, quản lý hoàn thành dưới 70% nhiệm vụ theo chương trình, kế
34
hoạch công tác năm; Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ có sai phạm đến mức
phải có biện pháp khắc phục; Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo,
quản lý xảy ra mất đoàn kết.
Ngoài các tiêu chí đánh giá được quy định tại Nghị định 56/2015/NĐ-
CP ngày 09 tháng 6 năm 2015, công chức còn chịu sự điều chỉnh của Quy chế
đánh giá cán bộ, công chức ban hành kèm theo Quyết định số 286-QĐ/TW
ngày 08/02/2010 của Bộ Chính trị quy định về đánh giá công chức như sau:
- Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
+ Nhận thức chính trị; việc chấp hành chủ trương, đường lối và quy chế,
quy định của Đảng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
+ Giữ gìn đạo đức, lối sống lành mạnh, chống quan liêu, tham nhũng,
lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác;
+ Tinh thần học tập để nâng cao trình độ; tính trung thực; ý thức tổ chức
kỷ luật; tinh thần tự phê bình và phê bình;
+ Đoàn kết, quan hệ công tác; thái độ phục vụ nhân dân.
- Mức độ thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao:
+ Mức độ hoàn thành khối lượng công việc được giao, chất lượng, tiến
độ, hiệu quả thực hiện công việc trong từng vị trí, thời gian;
+ Tác phong, lề lối làm việc; tinh thần trách nhiệm công tác.
- Chiều hướng và triển vọng phát triển.
Trong giai đoạn từ 2019 trở về trước, Nghị định 56/2015/NĐ-CP ngày
09 tháng 6 năm 2015, Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh
giá và phân loại cán bộ, công chức và viên chứcvà Quyết định số 286-QĐ/TW
ngày 08/02/2010 là các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của Đảng và Nhà
nước về đánh giá công chức.
Trên cơ sở áp dụng các văn bản của Đảng gồm Nghị quyết số 26-NQ/TW
ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XII
35
về tập trung xây dựng đối ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm
chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Quy định số 89-QĐ/TW ngày
04/8/2017 của Ban Chấp hành Trung ương quy định khung tiêu chuẩn chức
danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý; Quy định
số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị về việc kiểm điểm và đánh
giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính
trị; Hướng dẫn số 16-HD/BTCTW ngày 24/9/2018 của Ban Tổ chức Trung
ương hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá xếp loại chất lượng hằng năm đối với các
tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp;
Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18/10/2019 của Ban Tổ chức Trung ương
hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá xếp loại chất lượng hằng năm đối với các tổ
chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp,Chính
phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13/8/2020 về đánh giá,
xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức thay thế Nghị định số
56/2015/NĐ-CP và Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về đánh
giá và phân loại cán bộ, công chức và viên chức. Nghị định số 90/2020/NĐ-CP
ngày 13/8/2020 và Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị
về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể,
cá nhân trong hệ thống chính trị là các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất của
Đảng và Nhà nước về đánh giá công chức, là cơ sở để các cơ quan, tổ chức,
đơn vị thực hiện công tác đánh giá công chức cũng như đánh giá cán bộ trong
cả nước trong giai đoạn hiện nay.
1.1.6. Quy trình đánh giá công chức
Đánh giá công chức là thực hiện một quá trình, để đưa ra các kết luận
mang tính chất so sánh giữ khung tiêu chuẩn với thực tế hoạt động công vụ của
công chức. Quy trình đánh giá công chức bao gồm một chuỗi liên tiếp các hoạt
động đánh giá có quan hệ mật thiết với nhau nhằm đưa ra kết quả đánh giá trung
36
thực, khách quan và khoa học. Các loại đánh giá và mục đích đánh giá khác
nhau sẽ có nhiều quy trình đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, có thể đưa ra quy
trình chung về đánh giá công chức như sau:
- Xây dụng các tiêu chí đánh giá: xây dựng các mục tiêu, yêu cầu cho
từng vị trí việc làm, chức danh công việc mà mỗi công chức đảm nhận; thiết
lập các tiêu chí đánh giá chung và cụ thể cho mỗi chức danh, vị trí.
- Xây dựng kế hoạch đánh giá: kế hoạch đánh giá sẽ xác định rõ về chủ
thể, thời gian đánh giá...Tùy mục đích đánh giá khác nhau (để bổ nhiệm, khen
thưởng, đánh giá hàng năm...) mà chủ thể tham gia đánh giá sẽ khác nhau.
- Chuẩn bị đánh giá: Bước này bao gồm các công việc: xem lại phạm vi
trách nhiệm, nhiệm vụ của từng công chức; xem lại hồ sơ đánh giá của các kỳ
trước; xem lại quy trình đánh giá công việc chung, chuẩn bị các biểu mẫu và
thu thập thông tin phục vụ đánh giá. Thông tin thu thập liên quan đến hoạt động
của người được đánh giá phải đầy đủ, chính xác, cần có một hệ thống thống kê,
thu thập, xử lý thông tin phục vụ công tác đánh giá.
- Lựa chọn và thiết kế phương pháp đánh giá: có nhiều phương pháp
đánh giá công chức như: đánh giá bằng bảng chấm điểm dựa trên các tiêu chí
đã được xác định, đánh giá thông qua bản tự kiểm điểm của mỗi công chức,
đánh giá thông qua họp nhận xét và tiến hành bình bầu...; mỗi phương pháp đều
có ưu điểm và hạn chế, phạm vi áp dụng nhất định. Để đánh giá tốt cần tìm ra
phương pháp đánh giá phù hợp hoặc kết hợp nhiều phương pháp đánh giá để
đảm bảo hiệu quả. Thiết kế các phiếu đánh giá phù hợp với từng phương pháp
để kết quả đánh giá được thực hiện theo một tiêu chuẩn chung.
- Tiến hành đánh giá: dựa vào các tiêu chí đánh giá để tiến hành đánh
giá, tất cả nhưng người tham gia vào đánh giá phải hiểu rõ các tiêu chí và
phương pháp đánh giá, tuân thủ các nguyên tắc đánh giá một cách nghiêm túc
để đảm bảo các ý kiến đánh giá là khách quan nhất, công bằng nhất.
37
- Trao đổi ý kiến với người được đánh giá: chủ thể đánh giá cần trao đổi
thông tin kết quả đánh giá với người được đánh giá nhằm thu thập thông tin
phản hổi từ họ, để công chức biết được kết quả đánh giá của mình. Mặt khác,
cho phép công chức có cơ hội trình bày ý kiến của mình về những kết luận liên
quan đến thực thi công vụ, cơ hội cho người đánh giá hiểu hơn về cấp dưới của
mình và kiểm chứng lại thông tin đã thu thập được để đảm bảo tính chính xác
của các quyết định đánh giá.
- Quyết định kết quả và hoàn thiện hồ sơ đánh giá: Sau khi trao đổi với
người được đánh giá về các ý kiến đánh giá, người có thẩm quyền quyết định
cuối cùng về kết quả đánh giá (thường là Thủ trưởng cơ quan). Quyết định kết
quả đánh giá được ghi vào phiếu đánh giá và lưu vào hồ sơ đánh giá.
- Sử dụng kết quả đánh giá: Kết quả đánh giá thực thi công vụ của công
chức cần phải đươc sử dụng làm căn cứ đưa ra các quyết định của tổ chức, về
chương trình, kế hoạch của cơ quan, quản lý nguồn nhân lực, cơ sở để xây dựng
các kế hoạch tuyển dụng, đào tạo phát triển, phân công công việc, khen thưởng,
kỷ luật... đối với công chức. Kết quả đánh giá cho thấy mức độ thực thi công
vụ của công chức, những mặt mạnh, yếu; những kiến thức, kỹ năng cần phải
hoàn thiện để giúp cho kết quả thực thi công vụ được tốt hơn. Điều này được
thực hiện thông qua hoạt động hỗ trợ phát triển công chức.
1.1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đánh giá công chức
1.1.7.1. Các yếu tố chủ quan
Kết quả đánh giá công chức chịu ảnh hưởng từ các yếu tố chủ quan, có
rất nhiều yếu tố chủ quan tác động đến kết quả đánh giá công chức, trong đó có
một số yếu tố như sau:
- Chủ thể đánh giá công chức: chủ thể thực hiện công tác đánh giá công
chức là người quản lý, sử dụng công chức, kết quả đánh giá được đưa ra có mục
đích tiếp tục sử dụng công chức, tạo điều kiện cho công chức phát triển hay
không tiếp tục sử dụng công chức đó.
38
- Đối tượng đánh giá: tất cả công chức trong cơ quan đều là đối tượng
đánh giá, các công chức có sự khác nhau về chức vụ, quyền hạn... đều có ảnh
hưởng đến kết quả đánh giá. Thực tế trong công tác đánh giá trong các cơ quan
cho thấy, những người có chức vụ đều được đánh giá từ mức hoàn thành tốt
nhiệm vụ trở lên bất kể kết quả công tác, thực hiện nhiệm vụ thực tế của họ như
thế nào; những chuyên viên và những nhân viên bình thường trong cơ quan
thường được đánh giá ở mức thấp hơn.
- Mục đích đánh giá: yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến kết quả đánh giá.
Đánh giá hàng năm là cơ sở để xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen
thưởng đối với mỗi công chức và ảnh hưởng đến kết quả công tác chung của
cơ quan, nên hầu hết các cơ quan, đơn vị đều có tất cả công chức được đánh
giá ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, điều này là một trong những điểm
còn hạn chế trong công tác đánh giá.
- Nội dung và tiêu chí đánh giá: nếu nội dung và tiêu chí đánh giá công
chức thiếu rõ ràng và không cụ thể, khoa học, không phù hợp với từng đối
tượng đánh giá sẽ không thể đưa ra kết quả đánh giá công bằng, sát thực.
- Phương pháp đánh giá: áp dụng các phương pháp khoa học và hợp lý
sẽ tạo cơ sở để có được kết quả đánh giá khách quan và công bằng, ngược lại
có thể làm sai lệch, đưa ra các kết quả đánh giá chưa chính xác.
1.1.7.2. Các yếu tố khách quan
- Đặc điểm của đối tượng đánh giá:
+ Đặc điểm tâm lý cá nhân: mỗi công chức mang đặc điểm tâm lý cá
nhân riêng, quy định bản sắc, cái riêng của mỗi cá nhân trong xã hội nói chung
và trong cơ quan nói riêng, các đặc điểm tâm lý này chi phối đến tư duy, cách
ứng xử và cách thức hoạt động của mỗi công chức, dẫn đến các kết quả khác
nhau trong giao tiếp, cách thức thực thi công vụ, quan hệ với đồng nghiệp...
+ Đặc điểm về vị trí việc làm, cùng là công chức trong cơ quan nhưng vị
trí công tác khác nhau, mỗi người đều có một công việc riêng với những đặc
39
điểm riêng, vì vậy, khi đánh giá công chức cần phải có tiêu chí cụ thể, rõ ràng.
Không thể đánh giá chung chung, cào bằng giữa công chức giữa chức vụ lãnh
đạo và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, công chức ở ngạch chuyên viên,
chuyên viên chính...với công chức ở ngạch cán sự.
+ Đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ: mỗi công chức được đào tạo về
chuyên môn, nghiệp vụ khác nhau phù hợp với công việc, vị trí việc làm mà họ
đảm nhận. Cần đánh giá theo các tiêu chí phù hợp giữa người có trình độ đại
học trở lên với những người có trình độ đào tạo cao đẳng, trung cấp, để việc
thực hiện công tác đánh giá được công bằng, khách quan.
- Môi trường công tác:
Môi trường công tác luôn có các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của cơ
quan, tổ chức vì vậy có ảnh hưởng không nhỏ đến đánh giá công chức. Môi
trường dân chủ, minh bạch sẽ khuyến khích công chức làm việc và khuyến
khích đánh giá khách quan, công tâm. Ngược lại, môi trường thiếu dân chủ,
thiếu minh bạch sẽ triệt tiêu những ý kiến đánh giá khách quan, khoa học. Trong
môi trường công tác còn có các yếu tố về văn hóa, mỗi cơ quan đều có đặc điểm
riêng về văn hóa, tính cách của mỗi người và đều có ảnh hưởng đến hoạt động
thực thi công vụ của công chức, hoạt động của từng người trong cơ quan đều
có ảnh hưởng đến kết quả đánh giá.
1.2. Kinh nghiệm đánh giá công chức ở một số quốc gia trên thế giới và
một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam
1.2.1. Hoa Kỳ
Hoa Kỳ thực thi “Luật Đánh giá kết quả thực thi công việc” (Performance
Rating Act) vào năm 1950, Luật này yêu cầu các cơ quan Liên bang dưới sự
đồng ý của Ủy ban nhân sự xây dựng Hệ thống đánh giá kết quả thực thi công
việc và quy định phải định ra tiêu chuẩn cụ thể đối với mỗi chức vụ làm căn cứ
đánh giá. Tiêu chuẩn này do lãnh đạo cùng nhân viên định ra, gồm số lượng,
chất lượng công việc, kiến thức về công việc. Kết quả phân thành 3 loại: tốt,
40
khá, kém. Mức tốt là làm vượt tiêu chuẩn quy định, được tăng một bậc lương;
mức kém là làm không đạt tiêu chuẩn thì xét các tình tiết mà giảm lương, hạ
bậc, miễn chức. Năm 1984, Hoa Kỳ bắt đầu thực hiện “Hệ thống quản lý kết
quả thực thi công việc và khen thưởng” (Performance Management and Award
System), theo đó, các cơ quan bắt buộc đánh giá thành tích công tác cá nhân
của công chức, những người có thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng bằng
tiền mặt. Năm 1993, Hoa Kỳ ban hành “Luật Đánh giá hiệu suất và kết quả
thực thi công việc của Chính phủ” (Government Performance and Result Act)
và xây dựng “Tổ chức dựa trên kết quả công việc” (Performance - based
Organization), yêu cầu cơ quan sử dụng lao động phải xác định rõ mục tiêu và
tiêu chuẩn đánh giá thành tích, đồng thời bắt buộc thủ trưởng cơ quan phải có
trách nhiệm đạt được mục tiêu đó.
1.2.2. Singapore
Ở Singapore, trong công tác nhân sự quan niệm người tài không có nghĩa
là người thông minh nhất, người có nhiều bằng cấp, học vị cao mà là người phù
hợp với công việc và đạt kết quả tốt nhất trong công việc. Đó là quan điểm hệ
thống nhất quán trong đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng công
chức. Tiêu chuẩn đánh giá công chức gồm: kết quả làm việc, tính sáng tạo;
quan hệ đồng nghiệp và khả năng giao tiếp, diễn đạt.
Đánh giá công chức ở Singapore được thực hiện hằng năm, việc đánh giá
công chức tập trung vào 02 nội dung lớn là “kết quả công việc” và “tiềm năng
phát triển”. Kết quả đánh giá có tác động ngay đến mức thưởng, mức tăng lương
và đề bạt. Tiềm năng phát triển dựa trên 04 yếu tố chủ yếu là: tầm nhìn chiến
lược (Helicopter vision); năng lực phân tích (Analysic); trí tưởng tượng
(Imagination) và tư duy thực tế (Sense of Reality). Tiềm năng phát triển ước
tính chức vụ quản lý cao nhất mà một công chức có thể sẳn sàng đảm nhận vào
tuổi 50, nó được đánh giá ngay từ khi công chức này được tuyển dụng và được
điều chỉnh hằng năm dựa trên kết quả công tác và nỗ lực rèn luyện. Việc đánh
41
giá tiềm năng phát triển còn được thể thiện thông qua các tiêu chí về: khát khao
lập công; nhạy cảm về chính trị xã hội; quyết đoán; khả năng truyền cảm hứng,
thôi thúc; khả năng ủy thác công việc; khả năng thuyết trình và tư vấn...
Bảng số 1.1. Các tiêu chí về phẩm chất để đánh giá công chức của
Singapore.
Các phẩm chất cụ thể Cao
Vượt mức yêu cầu Đạt yêu cầu Thấp dưới yêu cầu
1. Khả năng phân tích
2. Khả năng sáng tạo
3. Khát khao lập công
4. Nhạy cảm về chính trị xã hội
5. Quyết đoán
6. Khả năng thôi thúc người khác
7. Khả năng ủy thác công việc cho
người khác
8. Khả năng truyền thông và tư vấn
Bảng số 1.2. Các tiêu chí về phẩm chất công vụ để đánh giá công
chức của Singapore.
Cao Đạt yêu cầu Thấp
1. Gắn bó với công việc
Ít khi Luôn luôn Thường xuyên
Không bao giờ 2. Chính trực (trung thực và
nghĩa khí)
A. Không tranh công mà quy
công lao cho các công chức
42
Ít khi Luôn luôn Thường xuyên Không bao giờ
khác một cách hợp lý
B. Nhận trách nhiệm khi
nhiệm vụ không hoàn thành
C. Bảo vệ chính kiến nếu tin
rằng cách giải quyết của mình
là tốt nhất, cho dù có nhiều ý
kiến khác nhau
3. Quản lý nguồn nhân lực: sử
dụng, phân bổ và tìm kiếm
nguồn lực hữu hiệu
4. Giúp đồng nghiệp tiến lên:
hướng dẫn, tư vấn và phát
triển đồng nghiệp, cấp dưới.
Tạo cơ hội cho họ gánh vác
thách thức mới; giúp học xác
định rõ và theo đuổi mục tiêu
sự nghiệp
5. Tính cộng tác đồng đội:
hiểu rõ rằng gắn bó đồng đội
sẽ nên thành quả lớn hơn thực
hiện riêng rẽ. Tìm kiếm cách
khai thác để tạo giá trị tối đa
của từng người trong sự gắn
bó tham gia của cả tập thể
43
1.2.3. Nhật Bản
Tại Nhật Bản, việc đánh giá thành tích được coi là “bình xét công vụ”.
Đánh giá thành tích gồm 4 nội dung như sau:
Thứ nhất, đánh giá công việc, bao gồm: (1) Xem công chức có đủ những
kiến thức mà công việc đòi hỏi hay không, giải quyết công việc có gì sai sót không,
kết quả công việc có tốt không, khi xử lý công việc có làm theo kế hoạch không,
có làm báo cáo kịp thời, chính xác, đúng thực tế không. (2) Tiến độ công việc như
thế nào, giải quyết công việc có nhanh hơn không, có kéo dài việc thi hành công
vụ không,… (3) Thái độ công tác, tính chuyên cần, chấp hành thời gian làm
việc,… (4) Về việc chỉ đạo cấp dưới, có tạo điều kiện thuận lợi cho cấp dưới tiến
hành công tác một cách tích cực không, chỉ đạo cấp dưới có thoả đáng và chính
xác không.
Thứ hai, đánh giá tính cách, bao gồm các mặt như tích cực, tiêu cực, giỏi
biện luận, trầm lặng, ôn hoà, thận trọng, hào hiệp, có lòng thông cảm, chịu khó
nghiên cứu, nghiêm túc, nhạy bén, tinh tế, ý chí mạnh mẽ cứng rắn, ý chí yếu
đuối, trong sáng vô tư, hay lo nghĩ, thích xã giao, giữ nề nếp, không bị ràng
buộc, thẳng thắn, thiên vị…
Thứ ba, đánh giá năng lực, gồm có: năng lực phán đoán, năng lực sáng
tạo, năng lực lý giải, năng lực thực hành, năng lực giao tiếp, năng lực quy
hoạch, năng lực chỉ đạo, năng lực tập trung, năng lực nghiên cứu…
Thứ tư, đánh giá tính thích ứng, bao gồm: tính chất hành chính tổng hợp,
tính chất quy hoạch, tính chất nghiên cứu, tính chất kế toán, tính chất thẩm tra,
tính chất thảo luận, tính chất tính toán...
Về phương pháp đánh giá: Đánh giá công chức Nhật Bản chia ra hai loại
đánh giá là đánh giá định kỳ và đánh giá đặc biệt tạm thời. Đánh giá định kỳ cơ
bản mỗi năm tiến hành một lần, do công chức lãnh đạo các cấp thực hiện đối
với cấp dưới, hoặc cấp dưới được công chức lãnh đạo chỉ định, tiến hành đánh
giá, ký xác nhận đối với thành tích và biểu hiện công tác của công chức. Kết
44
quả đánh giá chia làm 5 loại A, B, C, D, E. Trong đó, loại A là xuất sắc sẽ tăng
lương vượt cấp; được đánh giá loại B, C, D là tốt hoặc đủ tư cách sẽ tăng lương
một cấp; được đánh giá là loại E nghĩa là không hoàn thành nhiệm vụ, sẽ không
cho phép được tăng lương. Thông qua đánh giá, công chức có thành tích xuất
sắc trong công tác có thể được biểu dương và đề bạt thăng chức, tăng lương;
công chức có thành tích kém phải tiến hành phê bình, thay đổi nhiệm vụ công
tác thậm chí bị điều chuyển công tác. Về cơ bản, đánh giá công chức của Nhật
Bản thể hiện nguyên tắc nặng về khen thưởng khích lệ và nhẹ về phê bình kiểm
điểm, chỉ cần không gây ra vấn đề lớn, hàng năm công chức đều có thể tăng
lương. Đánh giá đặc biệt tạm thời là một phương pháp bổ sung của đánh giá
định kỳ, thông thường phải xem cụ thể thực trạng công tác để xác định thời
gian và nội dung đánh giá.
1.2.4. Hà Nội
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành quy định "Thực hiện
việc đánh giá công chức hằng tháng" theo quy định trên, tại từng cấp, người
trực tiếp lãnh đạo, giao việc, thì đồng thời thực hiện nhận xét, đánh giá, xếp
loại. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quyết định việc xếp loại, đánh
giá công chức theo phân cấp quản lý và phải chịu trách nhiệm về quyết định
của mình. Việc đánh giá, xếp loại phải căn cứ vào chức trách, nhiệm vụ được
giao và kết quả thực hiện nhiệm vụ và cần làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, tồn
tại, hạn chế về phẩm chất, năng lực, trình độ của công chức; bảo đảm dân chủ,
khách quan, chính xác, công khai, minh bạch.
Việc đánh giá, xếp loại công chức lãnh đạo, quản lý phải dựa vào kết quả
hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý. Trường
hợp công chức không hoàn thành nhiệm vụ do yếu tố khách quan, bất khả kháng
thì được xem xét trong quá trình đánh giá, xếp loại.
45
Tiêu chí quy định thang điểm 100 làm căn cứ đánh giá, xếp loại công
chức, cụ thể: 20 điểm về ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức; 70 điểm
về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và 10 điểm thưởng.
Công chức sẽ đạt loại A (hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ) nếu đạt 90 - 100
điểm; loại B (hoàn thành tốt nhiệm vụ) nếu đạt từ 70 đến dưới 90 điểm; loại C
(hoàn thành nhiệm vụ) nếu đạt từ 50 đến dưới 70 điểm; loại D (không hoàn
thành nhiệm vụ) nếu đạt dưới 50 điểm.
Tỷ lệ được đánh giá, xếp loại A không quá 30% tổng số công chức được
xếp loại. Trường hợp tập thể đơn vị có thành tích đặc biệt xuất sắc, nổi trội thì
tỷ lệ cá nhân được đánh giá, xếp loại A cũng không nên vượt quá 40% tổng số
công chức của cơ quan, đơn vị.
Kết quả đánh giá, xếp loại hàng tháng của công chức là căn cứ để bình
xét khen thưởng hàng tháng; là căn cứ chính để đánh giá, xếp loại thi đua đối
với công chức hàng năm. Đây còn là cơ sở để bố trí, sử dụng, quy hoạch, đề
bạt, đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với công chức theo quy
định và theo yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Thành ủy Hà Nội yêu cầu, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải chỉ đạo
xây dựng kế hoạch công tác theo lịch từng tuần, từng tháng, từng quý. Việc
đánh giá phải thực hiện đa chiều, liên tục và lượng hóa được kết quả thực hiện
nhiệm vụ của từng công chức gắn với kết quả công tác trên cơ sở phân tích về
tổng khối lượng và tính chất, mức độ công việc. Đảm bảo theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, chính xác, khách quan, công bằng, đúng thực chất và đúng trình
tự quy định.
1.2.5. Đà Nẵng
Thực hiện việc "Đánh giá kết quả làm việc của công chức qua phần mềm
tích hợp", đối tượng áp dụng phương thức đánh giá mới nầy bao gồm công chức
hành chính thuộc Sở, Ban, Ngành và Ủy ban nhân dân Quận, Huyện ở các vị
46
trí chức danh như công chức tham mưu, tổng hợp; công chức hỗ trợ, phục vụ;
Trưởng Phòng; Giám đốc, Phó Giám đốc và tương đương.
Việc phân chia công chức theo vị trí, chức danh đã giúp cách đánh giá
mới về kết quả công việc phù hợp với tính chất công việc mà từng loại đối
tượng công chức đảm nhận. Đặc biệt, là các nội dung trong phần liệt kê kết quả
công việc đánh giá hàng tháng đã thể hiện rõ mức độ, khối lượng công tác phải
hoàn thành của một công chức.
Mục đích của việc đánh giá năng lực và kết quả công việc của công chức
theo phương pháp và cách thức mới nhằm tập hợp có hệ thống các ý kiến nhận
xét, đánh giá; làm cơ sở cho bình xét thi đua, khen thưởng; sử dụng, quản lý,
đề bạt, phát triển nghề nghiệp của công chức; phát triển năng lực thông qua
công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng chuyên môn của công chức
và hoạch định các chính sách quản lý công chức, quản trị nguồn lực; đồng thời
việc đánh giá cũng là cơ sở để phân phối thu nhập và khoán chi phí hành chính
trong cơ quan, đơn vị.
Theo quy trình đánh giá mới, công chức sẽ liệt kê kết quả công việc đã
tiến hành từng tháng, thể hiện được số lượng, khối lượng, tính chất công việc
(chủ trì hoặc phối hợp thực hiện) và tự đánh giá mức độ công việc (từ bình
thường đến rất phức tạp). Công chức tự đánh giá kết quả công việc mình đã làm
bằng cách cho điểm từng tiêu chí theo các biểu mẫu. Trưởng phòng (hoặc cấp
tương đương) tiến hành đánh giá kết quả làm việc của công chức bằng cách cho
điểm theo thang điểm.
Tiêu chí và thang điểm để đánh giá một cách cụ thể, khoa học dựa trên
những gì mà công chức đó đã thực hiện, và hoàn thành so với kế hoạch, chương
trình công tác đề ra là một nội dung thể hiện tính ưu việt trong đánh giá chất
lượng công chức ở phương thức mới. Bởi đã “lượng hóa khối lượng công việc
mà công chức hoàn thành”. Cách đánh giá cũ trước đây (theo Quyết định
7786/QĐ-UBND) chưa có tiêu chí cụ thể để làm sáng tỏ những nỗ lực của một
47
công chức, vẫn thiên về chất lượng hành chính sự vụ, chưa khuyến khích lao
động sáng tạo, cải tiến lề lối, quy trình ….Phổ biến là chỉ đánh giá có mặt đúng
giờ hay không? có đến cơ quan đủ 8 tiếng hay không?. Thực tế, vẫn có công
chức luôn có mặt đúng giờ và ở phòng làm việc đúng 8 tiếng nhưng lại không
làm một công việc gì cụ thể. Với cách đánh giá mới công chức phải lên kế
hoạch công việc cụ thể hơn để có cơ sở tổng kết, tự đánh giá hàng tháng. Phần
mềm và cách thức đánh giá kết quả làm việc của công chức nói trên đã được
Bộ Nội vụ có công văn đồng ý cho triển khai trên phạm vi rộng tại TP Đà Nẵng.
Trước đó, Sở Nội vụ TP Đà Nẵng đã triển khai thí điểm mô hình đánh giá
kết quả làm việc của công chức tại 10 đơn vị (7 sở, ngành; 3 Ủ ban nhân dân
quận); với tổng số công chức tham gia đánh giá thí điểm là 639 cán bộ, công
chức. Bên cạnh đó, Sở Nội vụ thành phố cũng tiến hành điều tra khảo sát 250
công chức, người lao động đang công tác tại 10 cơ quan, đơn vị đăng ký thí điểm
về tình hình thực hiện thí điểm, để ghi nhận các ưu điểm, vướng mắc, của mô
hình đánh giá kết quả làm việc này.
So sánh với cách làm theo Quyết định 7786/QĐ-UBND, mô hình đánh
giá mới này, ngay từ bước thí điểm đã giúp phân loại được kết quả làm việc
của công chức một cách chính xác hơn. Tỷ lệ công chức có kết quả làm việc tốt
chiếm khoảng 55 - 65% (so với cách đánh giá theo Quyết định 7786/QĐ-
UBND, được triển khai trên diện rộng trong thời gian qua, có đến 88,1% công
chức đạt loại Tốt). Mức khá: 23-35%, mức trung bình hoặc hoàn thành nhiệm
vụ chiếm 5-15%. Như vậy, qua mô hình thí điểm, có thể sớm phát hiện các
công chức yếu kém và nếu triển khai cách đánh giá mới theo tháng, thì trong
nội bộ đơn vị sẽ dễ dàng góp ý, uốn nắn những công chức trong diện yếu kém.
Không để yếu kém kéo dài, ảnh hưởng đến chất lượng công vụ.
Ưu điểm của mô hình đánh giá kết quả làm việc của công chức trên Phần
mềm tích hợp là đề cao tính công khai, dân chủ; lấy kết quả công việc làm thước
đo chính; kết quả thực thi công vụ của công chức được nhìn nhận toàn diện từ
48
nhiều phía, tạo cơ hội cho mỗi công chức được lắng nghe những nhận xét, góp
ý của đồng nghiệp, từ đó rút kinh nghiệm cho việc thực thi công vụ của mình
theo từng tháng.
Theo quy trình mới, từng cá nhân trong đơn vị (tập thể phòng, bộ phận)
sẽ thực hiện đánh giá chéo, kết quả đánh giá của mỗi cá nhân là điểm trung bình
cộng của tất cả các thành viên trong phòng, bộ phận đó. Nếu là cấp Trưởng
phòng (hoặc tương đương), bên cạnh lãnh đạo cấp trên sẽ trực tiếp đánh giá,
cấp dưới trực tiếp cũng có quyền đánh giá cấp trên trực tiếp. Và để đánh giá
được khách quan, mỗi công chức sẽ độc lập đánh giá kết quả công việc của bản
thân và các công chức khác theo phân quyền.
Thực tế hiện nay, việc đánh giá công chức vẫn còn hình thức, chưa thực
chất, người tự đánh giá phải làm hàng loạt bảng tự đánh giá, bảng tự kiểm điểm
kết quả làm việc; tập thể mất nhiều thời gian trong việc họp, nghe đọc, cho ý
kiến từng trường hợp; chuyển đánh giá bộ phận lên các cấp cao hơn…Và ở các
cấp cao hơn, có khi không đủ thời gian để xem xét lại các đánh giá từ cấp bộ
phận, phòng, ban đã đồng ý với đề xuất, biên bản đã có để kết luận kết quả đánh
giá. Việc đề xuất, khởi xướng, thí điểm, và nay là bước triển khai chính thức
mô hình “Đánh giá kết quả làm việc của công chức qua phần mềm tích hợp”
của TP Đà Nẵng, với khả năng hỗ trợ cao cho công tác quản trị nhân sự, tập
hợp và phát huy được nguồn lực, cần được áp dụng trên phạm vi rộng hơn.
1.3. Vai trò, nhiệm vụ của các đơn vị (cấp Tổng cục và tương đương)
trong quá trình đánh giá công chức
Tổng cục thuộc Bộ thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng quản
lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với chuyên ngành, lĩnh vực lớn,
phức tạp trên phạm vi cả nước theo phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng. Do
phạm vi quản lý rộng lớn, đội ngũ công chức trong các Tổng cục vừa
thực hiện công tác quản lý tổng hợp, vừa quản lý ngành và chuyên ngành liên
quan đến phạm vi quản lý nhà nước của các ngành, lĩnh vực khác. Để phát huy
49
năng lực thực hiện nhiệm vụ của công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước
cấp Tổng cục và tương đương cần khuyến khích, tạo động lực làm việc để các
công chức hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện mục tiêu chung
của cơ quan.
Tất cả các cơ quan quản lý nói chung và cơ quan quản lý cấp Tổng cục
nói riêng đều phải đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của công chức, thông qua
đó, người đứng đầu cơ quan biết được mức độ hoàn thành công việc của công
chức, từ đó có các biện pháp đảm bảo cho công chức hoàn thành ở mức tốt nhất
nhiệm vụ, công việc được giao; giúp người đứng đầu cơ quan có cái nhìn tổng
quan, sâu rộng hơn về công chức thuộc thẩm quyền quản lý, có định hướng sử
dụng công chức trong cơ quan. Thực hiện công tác đánh giá sẽ có các thông tin
cần thiết để ban hành các quyết định về khen thưởng, nâng lương, bổ nhiệm,
đào tạo, bồi dưỡng…khuyến khích công chức thực hiện tốt nhiệm vụ, tạo điều
kiện để công chức học tập nâng cao trình độ chuyên môn về quản lý các ngành,
lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của Tổng cục, cũng như học tập, hoàn thiện
các tiêu chuẩn bổ nhiệm; những công chức có thành tích xuất sắc sẽ được nâng
bậc lương trước thời hạn, khen thưởng… Cũng thông qua đánh giá, sẽ phát hiện
được những điểm cần khắc phục của công chức, có hình thức kỷ luật đối với
những công chức vi phạm quy chế làm việc; từ đó nâng cao chất lượng thực thi
công vụ của mỗi công chức, góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của toàn cơ
quan đạt hiệu quả ở mức cao nhất.
50
Tiểu kết chương 1
Công chức nói chung, công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo nói
riêng có vai trò quan trọng trong thực thi công vụ, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước và phục vụ nhân dân. Vì vậy, để góp phần nâng cao hoạt động thực
thi công vụ của công chức, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của các cơ quan
nhà nước nói chung và cơ quan nhà nước thực thi nhiệm vụ quản lý tổng hợp
tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo nói riêng thì công tác đánh giá
công chức cần phải được coi trọng và thực hiện nghiêm túc.
Trong nội dung của Chương 1, đề tài đã đề cập đến những nội dung cơ
bản về đánh giá công chức, mục đích, nội dung, quy trình thực hiện đánh giá,
đồng thời phân tích các yếu tố chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến kết quả
đánh giá công chức. Đây là yếu tố nền tảng để nghiên cứu thực trạng đánh giá
công chức tại Tổng cục Biển và Hải đào Việt Nam sẽ được trình bày trong
Chương 2 của Luận văn này.
51
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC
CỦA TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục
Theo Quyết định số 06/2018/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm
vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trực
thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi Trường quy định:Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam là tổ chức trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện chức năng
tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý tổng hợp tài
nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quản lý và tổ chức thực hiện các
hoạt động dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục theo quy
định của pháp luật. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có tư cách pháp nhân,
có con dấu hình Quốc huy, có tài khoản riêng; trụ sở tại thành phố Hà Nội.
Từ năm 2008 đến nay, sau hơn 10 năm thành lập và hoạt động, Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam đã thể hiện rõ vị trí, vai trò, thực hiện tốt chức năng
quản lý nhà nước về lĩnh vực biển và hải đảo của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
là cơ quan đại diện của Bộ Tài nguyênvà Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản
lý tổng hợp và thống nhất về lĩnh vực biển, hải đảo, hoạt động gắn liền với các
tỉnh thành ven biển, các tổ chức, cá nhân và các Bộ, ngành có hoạt động liên
quan đến quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên - môi trường biển, hải đảo.
Thực hiện triển khai các chương trình công tác của Bộ Tài nguyên và
Môi trường, thực hiện các nhiệm vụ xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật
phục vụ quản lý nhà nước về biển, hải đảo; tổ chức xây dựng chiến lược khai
thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quy
hoạch không gian biển quốc gia; quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền
vững tài nguyên vùng bờ làm cơ sở cho việc tổ chức khai thác, sử dụng và bảo
52
vệ tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội biển, hải đảo, góp phần thực hiện thắng
lợi Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 theo Nghị quyết Trung ương 4
khóa X. Bám sát chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc triển khai
thực hiện Chương trình hành động của Bộ thực hiện Nghị quyết của Chính phủ
về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước giao hàng năm.
Tổng cục đã thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án của Chính phủ
giao; triển khai xây dựng, tham mưu cho Bộ trình Quốc hội, thông qua Luật
Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo và xây dựng, trình cấp có thẩm quyền
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật. Tăng cường
công tác quy hoạch, điều tra cơ bản; hoàn thiện cơ chế xây dựng, quản lý, khai
thác dữ liệu tài nguyên - môi trường biển Việt Nam, bảo đảm tính hệ thống,
đồng bộ, hiện đại phục vụ đắc lực cho việc thực hiện chủ trương phát triển kinh
tế biển theo hướng phát triển bền vững. Nâng cao năng lực cơ quan quản lý nhà
nước về biển và hải đảo; từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước từ
Trung ương đến địa phương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về vai
trò, vị trí chiến lược của công tác biển, hải đảo, hằng năm phối hợp với các
tỉnh/thành phố ven biển tổ chức thành công “Tuần lễ biển và hải đảo” góp phần
nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ, quản lý, khai thác tài nguyên môi
trường biển đi đôi với phát triển bền vững kinh tế biển; tăng cường hợp tác
quốc tế và chuyển giao công nghệ khoa học trong lĩnh vực biển, đại dương; đề
xuất các vấn đề có tính dự báo, chiến lược nhằm chủ động hội nhập, tăng cường
hợp tác quốc tế về điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học và quản lý tổng hợp tài
nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng,
an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Các hoạt động của Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam thể hiện trên các lĩnh vực sau:
- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho công tác quản
lý tổng hợp và thống nhất biển, hải đảo;
53
- Điều tra cơ bản về tài nguyên – môi trường biển và hải đảo;
- Quản lý tổng hợp khai thác, sử dụng biển và hải đảo;
- Kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo;
- Hợp tác quốc tế và chuyển giao công nghệ quản lý, khai thác biển;
- Phân loại, thống kê và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên -
môi trường biển;
- Tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý, bảo
vệ và phát triển bền vững các vùng biển, ven biển và hải đảo Việt Nam.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Tổng cục
Tính đến nay, Tổng cục có 16 đơn vị trực thuộc, trong đó có 08 tổ chức
hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước (Văn
phòng, 04 Vụ, 03 Cục) và 06 đơn vị sự nghiệp phục vụ công tác quản lý nhà
nước của Tổng cục (05 Trung tâm và 01 Viện nghiên cứu), trong đó có 01
Trung tâm có trụ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Vụ Chính sách và Pháp chế.
2. Vụ Khoa học, Công nghệ và Hợp tác quốc tế.
3. Vụ Kế hoạch - Tài chính.
4. Vụ Tổ chức cán bộ.
5. Văn phòng Tổng cục.
6. Cục Quản lý điều tra cơ bản biển và hải đảo.
7. Cục Quản lý khai thác biển và hải đảo.
8. Cục Kiểm soát tài nguyên và Bảo vệ môi trường biển, hải đảo.
9. Viện Nghiên cứu biển và hải đảo.
10. Trung tâm Hải văn.
11. Trung tâm Trắc địa và Bản đồ biển.
12. Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển khu
vực phía Bắc.
54
13. Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên - môi trường biển khu
vực phía Nam.
14. Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo quốc gia.
2.2. Thực trạng đội ngũ công chức Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
2.2.1. Về số lượng công chức
Theo Quyết định 228/QĐ-BTNMT ngày 29/01/2019 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường, số lượng biên chế công chức hưởng lương từ ngân
sách nhà nước năm 2019 trong các tổ chức hành chính của Tổng cục Biển và
Hải đảo Việt Nam là 118 biên chế, giảm 01 biên chế so với năm 2018 (số lượng
biên chế công chức được giao của Tổng cục năm 2018 là 119 biên chế).
Thực tế từ năm 2019 Tổng cục đã phân bổ 98 biên chế công chức cho
các đơn vị hành chính trực thuộc, số biên chế công chức còn lại (20 biên chế)
sẽ được phân bổ cho các đơn vị và để dự phòng sau khi rà soát và bố trí, sắp
xếp lại đội ngũ công chức của các đơn vị có liên quan. Tính đến thời điểm 31
tháng 12 năm 2019, Tổng cục có mặt 98 công chức.
a) Về tỷ lệ độ tuổi của công chức: công chức thuộc Tổng cục có tuổi đời
bình quân trẻ, 78 công chức có độ tuổi từ 31 đến 50, chiếm tỷ lệ 79,6%; Dưới
30 tuổi: 02 người; Từ 51 đến 60 tuổi: 18 người.
b) Về tỷ lệ giới tính, đảng viên, dân tộc, tôn giáo của công chức
Trong tổng số 98 công chức của Tổng cục, có 40 nữ, tương đương với tỷ
lệ 40,8%; có 01 công chức là người dân tộc thiểu số; có 93 đảng viên
55
Biểu đồ 2.1. Tổng hợp số lượng công chức của Tổng cục Biển và Hải
đảo Việt Nam
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
Thiểu số 1%
40.80%
59.20%
Kinh 99%
Nam Nữ
Thiểu số
Kinh
Giới tính Dân tộc
5.6
55.10%
60.00%
40.00%
24.50%
18.36%
94.4
20.00%
2.04%
0.00%
Chưa là đảng viên
Là đảng viên
Dưới 30 Từ 31-40 Từ 41-50 Từ 51-60
Độ tuổi Đảng viên
2.2.2. Về chất lượng công chức
- Tỷ lệ công chức có trình độ chuyên môn kỹ thuật tiến sĩ, thạc sĩ, đại
học: 100% công chức có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên. Đa số công
chức thuộc Tổng cục có trình độ đào tạo Thạc sĩ, chiếm tỷ lệ 67,3%.
56
Biểu đồ 2.2. Tổng hợp trình độ chuyên môn, nghiệp vụ công chức
thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Tiến sĩ 9%
Đại học 24%
Thạc sĩ 67%
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
- Tỷ lệ công chức có trình độ chính trị cử nhân, cao cấp, trung cấp, sơ
cấp: 36 công chức có trình độ lý luận chính trị cao cấp tương đương 36,7%; 25
công chức có trình độ lý luận chính trị trung cấp tương đương 25,5%.
Biểu đồ 2.3. Tổng hợp trình độ lý luận chính trị công chức thuộc
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
Sơ cấp 38%
Cao cấp 37%
Trung cấp 25%
Trình độ lý luận chính trị Cử nhân 0%
- Tỷ lệ công chức có trình độ tin học: trung cấp trở lên, chứng chỉ: 01
công chức có trình độ tin học từ trung cấp trở lên, tương đương 1%; 81 công
chức có chứng chỉ tin học tương đương 82,7%.
57
- Tỷ lệ công chức có trình độ ngoại ngữ: Anh văn, ngoại ngữ khác: đại
học trở lên, chứng chỉ: 15 người có trình độ ngoại ngữ từ đại học trở lên, chiếm
tỷ lệ 15,3%; 80 người có chứng chỉ ngoại ngữ, chiếm tỷ lệ 81,6%.
Biểu đồ 2.4. Tổng hợp trình độ tin học, ngoại ngữ công chức thuộc
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
100%
82.70%
72.50%
50%
1%
13.30%
0%
9.20%
2.10%
Tin học
Tiếng Anh
Ngoại ngữ khác
Trung cấp trở lên
Chứng chỉ
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
- Tỷ lệ công chức đã qua đào tạo quản lý nhà nước và tương đương:
100% công chức đã qua đào tạo quản lý nhà nước từ chuyên viên, chuyên viên
chính và chuyên viên cao cấp.
Biểu đồ 2.5. Tổng hợp trình độ quản lý nhà nước của công chức
thuộcTổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Chuyên viên cao cấp 18%
chuyên viên 29%
Chuyên viên chính 53%
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
58
Cơ cấu ngạch công chức trong tổng số 98 công chức hiện có của Tổng
cục được xác định như sau: Chuyên viên cao cấp: 4 người, Chuyên viên chính:
36 người, Chuyên viên: 58 người.
Biểu đồ 2.6. Tổng hợp cơ cấu ngạch công chức thuộc Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam
Chuyên viên cao cấp 4%
Chuyên viên chính 37%
Chuyên viên 59%
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
Số lượng công chức đang làm việc tại các đơn vị hành chính thuộc Tổng
cục chiếm khoảng 94% biên chế công chức được giao.
2.3. Thực trạng đánh giá công chức tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam
2.3.1. Thực trạng tổ chức bộ máy và nhân lực thực hiện công tác đánh
giá công chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
2.3.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vụ Tổ
chức cán bộ - Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Cơ quan thực hiện việc đánh giá công chức thuộc Tổng cục và Vụ Tổ
chức cán bộ; Quyết định số 786/QĐ-BTNMT ngày 09/3/2018 của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ
cấu tổ chức của Vụ Tổ chức cán bộ trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam như sau:
Vụ Tổ chức cán bộ là tổ chức trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam, có chức năng tham mưu giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo
59
Việt Nam tổ chức thực hiện công tác: tổ chức bộ máy, biên chế công chức, số
lượng người làm việc; công chức, viên chức; đào tạo, bồi dưỡng; chế độ, chính
sách và lao động, tiền lương; cải cách hành chính; thi đua, khen thưởng; dân
chủ cơ sở; phòng chống tham nhũng, lãng phí; bảo vệ chính trị nội bộ; hội và
các tổ chức phi chính phủ thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục.
Thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu về công tác tổ chức cán bộ có liên quan
đến kết quả của đánh giá công chức như sau:
- Về quản lý công chức, viên chức và người lao động:
+ Xây dựng, trình Tổng cục trưởng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội
ngũ công chức, viên chức của Tổng cục; quy định về phân cấp quản lý, sử dụng
công chức, viên chức, người lao động thuộc Tổng cục; tổ chức thực hiện sau
khi được phê duyệt;
+ Trình Tổng cục trưởng tiêu chuẩn công chức, viên chức lãnh đạo, quản
lý các đơn vị thuộc Tổng cục;
+ Trình Tổng cục trưởng việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn
nhiệm, xin từ chức, thôi giữ chức danh lãnh đạo, quản lý; tiếp nhận, điều động,
biệt phái, chuyển công tác theo phân cấp. Thẩm định hồ sơ đề nghị kỷ luật công
chức, viên chức thuộc quyền quyết định của Tổng cục trưởng theo quy định;
Hướng dẫn, kiểm tra việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm,
xin từ chức; tiếp nhận, điều động, biệt phái, chuyển công tác, thôi việc, định kỳ
chuyển đổi vị trí công tác; kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc
các cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng cục;
+ Hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Tổng cục thực hiện quy trình, thủ tục
quy hoạch, bố trí, sử dụng, nghỉ hưu, thôi việc đối với công chức, viên chức và
người lao động theo quy định của pháp luật;
+ Hướng dẫn và tổng hợp nhận xét đánh giá cán bộ công chức, viên chức,
người lao động theo quy định; quản lý về số hiệu công chức, mã số chức danh
nghề nghiệp viên chức của Tổng cục theo phân cấp của Bộ; Kiểm tra, tổng hợp
60
việc thực hiện đánh giá cán bộ, công chức hằng năm của các đơn vị trực thuộc
Tổng cục;
+ Quản lý hồ sơ công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm
quyền bổ nhiệm của Tổng cục trưởng; hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Tổng
cục thực hiện quản lý, khai thác sử dụng, lưu trữ hồ sơ công chức, viên chức
theo quy định của pháp luật; thẩm định trình Tổng cục trưởng việc sửa chữa dữ
liệu thông tin trong hồ sơ công chức, viên chức theo quy định của pháp luật và
phân cấp của Bộ
- Về đào tạo, bồi dưỡng:
+ Trình Tổng cục trưởng quy hoạch, kế hoạch, quy chế, quy định về đào
tạo, bồi dưỡng, phát triển nhân lực của Tổng cục; kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
công chức, viên chức hằng năm của Tổng cục; tổ chức thực hiện sau khi kế hoạch
được phê duyệt; phối hợp tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho
công chức, viên chức thuộc Tổng cục theo phân cấp của Bộ;
+ Thực hiện việc cử và quản lý công chức, viên chức và người lao động
đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp
luật và phân cấp quản lý công chức, viên chức của Bộ và Tổng cục.
- Về chế độ, chính sách, lao động và tiền lương:
+ Trình Tổng cục trưởng việc nâng ngạch, chuyển ngạch, thăng hạng
chức danh nghề nghiệp, thay đổi chức danh nghề nghiệp; việc bổ nhiệm vào
ngạch, bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp; việc nâng bậc lương, xếp lương đối
với công chức, viên chức và người lao động thuộc Tổng cục; xác nhận danh
sách hưởng lương và phụ cấp lương của các đơn vị trực thuộc Tổng cục và các
chế độ chính sách khác theo quy định;
+ Trình Tổng cục trưởng việc thông báo, quyết định nghỉ hưu đối với
người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị trực thuộc Tổng cục,
công chức và người lao động thuộc khối cơ quan Tổng cục theo quy định của
pháp luật và phân cấp về quản lý công chức, viên chức của Bộ và Tổng cục;d)
61
+ Hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Tổng cục trong việc thực hiện chế độ
chính sách, lao động, tiền lương đối với công chức, viên chức và người lao
động; hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc lập sổ bảo hiểm xã hội cho công
chức và người lao động thuộc khối cơ quan Tổng cục.
- Về thi đua, khen thưởng:
+ Thẩm định và trình Tổng cục trưởng việc công nhận sáng kiến, các
danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng, phong tặng các danh hiệu khoa học
cho các tập thể, cá nhân thuộc Tổng cục theo quy định của pháp luật;
+ Tham gia các đoàn thanh tra, kiểm tra về phòng, chống tham nhũng,
tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đối với công chức, viên chức,
người lao động thuộc Tổng cục quản lý theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền; tham mưu cho lãnh đạo Tổng cục thành lập các đoàn giải quyết
đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đánh giá công chức giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý còn có sự tham gia của các cơ quan như sau:
- Văn phòng Tổng cục có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Vụ
trựcthuộc Tổng cục xây dựng tiêu chí đánh giá và giúp Tổng cục trưởng tổ
chứcthực hiện đánh giá người đứng đầu đơn vị trực thuộc Tổng cục như sau:
+ Giúp Tổng cục trưởng nhận xét, đánh giá bằng văn bản theo các tiêu
chí đã xây dựng, ban hành đối với người đứng đầu các đơn vị trực thuộc Tổng
cục về việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ theo quy định; sự phối
hợp và tình hình thực hiện quy chế làm việc của Tổng cục.
+ Theo dõi, tổng hợp, xây dựng báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo
Tổng cục và Chương trình công tác của Tổng cục của các đơn vị trực thuộc
Tổng cục trong năm để làm cơ sở xem xét, đánh giá việc thực hiện chức trách,
nhiệm vụ của người đứng đầu đơn vị trực thuộc Tổng cục.
62
+ Chủ trì, phối hợp với Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo quốc
gia nhận xét, đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành
công việc, nhất là việc thực hiện xử lý công việc trên môi trường mạng.
- Các Vụ trực thuộc Tổng cục căn cứ chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu
công tác đối với từng lĩnh vực chuyên môn được giao, có trách nhiệm xây dựng
tiêu chí đánh giá và giúp Tổng cục trưởng tổ chức thực hiện đánh giá người
đứng đầu đơn vị trực thuộc Tổng cục theo các tiêu chí đã xây dựng, ban hành,
cụ thể như sau:
+ Vụ Kế hoạch - Tài chính nhận xét, đánh giá việc thực hiện công tác kế
hoạch, tài chính, kế toán, thống kê, đầu tư và thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí.
+ Vụ Khoa học, Công nghệ và Vụ Hợp tác quốc tế nhận xét, đánh giá
việc thực hiện công tác hợp tác quốc tế, công tác khoa học và công nghệ.
+ Vụ Chính sách và Pháp chế nhận xét, đánh giá việc thực hiện công tác
pháp chế.
- Các đơn vị trực thuộc Tổng cục khác có trách nhiệm giúp Tổng cục
trưởng nhận xét, đánh giá người đứng đầu các Vụ trực thuộc Tổng cục, Văn
phòng Tổng cục về việc thực hiện chức trách,nhiệm vụ; việc tổ chức hướng
dẫn, phối hợp với các đơn vị trực thuộc Tổng cục trong thực hiện các nhiệm vụ
theo chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực được giao.
Tại các Cục trực thuộc Tổng Cục, Văn phòng Cục sẽ thực hiện công tác
hướng dẫn và tổng hợp nhận xét đánh giá đối với công chức, viên chức, người
lao động thuộc thẩm quyền quản lý của Cục.
2.3.1.2. Số lượng công chức kiêm nhiệm hoặc được giao phụ trách công
tác Tổ chức cán bộ của Tổng cục
Hiện nay, số lượng công chức của Vụ Tổ chức cán bộ gồm 08 người, tại
03 Cục trực thuộc Tổng cục có công chức thuộc Văn phòng thực hiện nhiệm
vụ, công việc chuyên môn.
63
Vụ Tổ chức cán bộ thuộc Tổng cục đã tham mưu, trình Tổng cục trưởng
ban hành các Quy chế của Tổng cục: về đánh giá và phân loại công chức, viên
chức (Quyết định số 666/QĐ-TCBHĐVN ngày 28/12/2018), về quản lý công
chức, viên chức thuộc Tổng cục (Quyết định số 414/QĐ-TCBHĐVN ngày
02/12/2019), hướng dẫn các đơn vị trong Tổng cục thực hiện công tác đánh giá
công chức hàng năm, giải đáp các vướng mắc trong quá trình thực hiện công
tác đánh giá. Cập nhật, bổ sung, hướng dẫn các đơn vị thực hiện các văn bản
mới ban hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện công tác đánh giá
năm 2019, bảo đảm đúng quy trình và đúng quy định; Công tác đánh giá công
chức được thực hiện theo hướng: xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí
cụ thể, bằng sản phẩm, công khai kết quả; gắn đánh giá cá nhân với tập thể và
kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Công tác đánh giá, phân loại tại Tổng
cục ngày một hoàn thiện về quy trình và tiêu chuẩn đánh giá, tạo thêm những
động lực mới cho quá trình thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ công chức thuộc
Tổng cục.
2.3.2. Thực trạng tổ chức đánh giá công chức của Tổng cục Biển và
Hải đảo Việt Nam
2.3.2.1. Về ban hành quy định đánh giá công chức
Ngày 28 tháng 12 năm 2018, Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo
Việt Nam đã có Quyết định số 666/QĐ-TCBHĐVN ban hành Quy chế đánh
giá và phân loại công chức, viên chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam. Quy chế này đã cụ thể hóa các nội dung, tiêu chí, phương pháp, quy trình,
thẩm quyền, thời điểm đánh giá công chức, đưa ra được các tiêu chí đánh giá
cụ thể, làm cơ sở để đánh giá chính xác kết quả thực thi công vụ của công chức
thuộc Tổng cục.
2.3.2.2. Về quy trình đánh giá công chức
Thực hiện công tác đánh giá công chức hàng năm thường vào thời điểm
cuối năm. Tuy nhiên, công chức phần lớn là đảng viên, đoàn viên công đoàn,
64
đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh nên thời điểm đánh giá cũng trùng với
thời điểm các tổ chức trên đánh giá thành viên của mình. Theo Hướng dẫn số
21-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương ngày 18/10/2019 hướng dẫn
kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với các tổ chức đảng,
đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thì cấp ủy, tổ
chức đảng thực hiện kiểm điểm sau khi các tập thể lãnh đạo, quản lý của chính
quyền, chuyên môn, đoàn thể đã hoàn thành kiểm điểm. Thời điểm đánh giá
được thực hiện là tháng 12 hàng năm và hoàn thành chậm nhất trước 30 tháng
12.
Theo Quyết định số 666/QĐ-TCBHĐVN, quy trình đánh giá công chức
thuộc Tổng cục định kỳ hàng năm như sau:
- Đối với công chức là người đứng đầu các đơn vị, tổ chức:
+ Công chức làm báo cáo tự nhận xét, đánh giá kết quả công tác theo các
nhiệm vụ được giao;
+ Công chức trình bày báo cáo tự đánh giá kết quả công tác tại hội nghị
công chức (hoặc hội nghị cán bộ chủ chốt) do đơn vị tổ chức để các thành viên
tham gia góp ý; ý kiến góp ý được lập thành biên bản và thông qua tại hội nghị.
+ Cấp ủy đảng cùng cấp nơi công chức công tác có ý kiến đánh giá, nhận
xét bằng văn bản về công chức được đánh giá, phân loại.
+ Cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ của cấp có thẩm quyền
tổng hợp các ý kiến góp ý, nhận xét, đánh giá đối với công chức được đánh giá;
ý kiến nhận xét, đánh giá của cấp ủy nơi cư trú; kết quả đánh giá theo tuần,
tháng, năm và ý kiến nhận xét, đánh giá của cơ quan, tổ chức, đơn vị khác (nếu
có) đề đề xuất nội dung nhận xét, đánh giá và xếp loại đối với công chức để
báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đối với người đứng đầu các đơn vị trực thuộc Tổng cục, Vụ Tổ chức cán
bộ tổng hợp hồ sơ đánh giá, tập hợp các ý kiến tham gia của những người tham
dự hội nghị công chức (hoặc hội nghị cán bộ chủ chốt), ý kiến cấp ủy đảng cùng
65
cấp, ý kiến của cấp ủy nơi cư trú; ý kiến nhận xét, đánh giá bằng văn bản theo
các tiêu chí đã xây dựng, ban hành đối với người đứng đầu các đơn vị trực
thuộc Tổng cục về việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ theo quy
định; sự phối hợp và tình hình thực hiện quy chế làm việc của Tổng cục; kết
quả thực hiện nhiệm vụ, kết luận, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ,
Lãnh đạo Bộ, Lãnh đạo Tổng cục và Chương trình công tác của Tổng cục của
các đơn vị trực thuộc Tổng cục trong năm để làm cơ sở xem xét, đánh giá việc
thực hiện chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu đơn vị trực thuộc Tổng cục.
ý kiến của Trung tâm Thông tin, dữ liệu biển và hải đảo quốc gia nhận xét, đánh
giá việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành công việc, nhất
là việc thực hiện xử lý công việc trên môi trường mạng để đề xuất nội dung nhận
xét, đánh giá và mức xếp loại, báo cáo Phó Tổng cục trưởng phụ trách đơn vị
xem xét, cho ý kiến trước khi trình Tổng Cục trưởng xem xét, quyết định.
- Đối với công chức là cấp phó người đứng đầu các đơn vị, tổ chức và
công chức chuyên môn, nghiệp vụ:
+ Công chức làm báo cáo tự nhận xét, đánh giá kết quả công tác theo các
nhiệm vụ được giao;
+ Công chức trình bày báo cáo tự đánh giá kết quả công tác tại hội nghị
công chức (hoặc hội nghị cán bộ chủ chốt) tham gia góp ý; ý kiến góp ý được
lập thành biên bản và thông qua tại cuộc họp.
+ Đối với công chức là cấp phó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức thì
cấp ủy đảng cùng cấp nơi công chức, viên chức công tác có ý kiến đánh giá,
nhận xét bằng văn bản về công chức.
+ Người đứng đầu đơn vị, tổ chức nhận xét về kết quả công tác của
cấpphó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức, công chức; tham khảo kết quả đánh
giá của tập thể công chức trong đơn vị; ý kiến tham gia của cấp ủy đảng và ý
kiến nhận xét, đánh giá của cơ quan, đơn vị, tổ chức khác (nếu có) để quyết
định phân loại đánh giá công chức, viên chức.
66
Các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục đã thực hiện nghiêm túc theo quy
trình đánh giá đã được quy định, tuy nhiên, khi triển khai quy trình đã bộc lộ
điểm hạn chế trong việc lấy ý kiến góp ý, nhận xét của những người tham dự hội
nghị công chức (hội nghị cán bộ chủ chốt) để người có thẩm quyền đưa ra kết
luận đánh giá công chức. Hạn chế này do người tham gia góp ý có tâm lý ngại
va chạm, né tránh, theo số đông và có rất ít ý kiến được đưa ra tại cuộc họp lấy
ý kiến để đánh giá công chức; khi có cá nhân tham gia góp ý phát biểu, thường
là những người góp ý người được đánh giá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
được giao, những người không góp ý thường theo nhận xét của người phát biểu,
nhất trí với đề nghị nên các ý kiến đóng góp chưa thật sự hiệu quả.
Bên cạnh đó, có trường hợp cá nhân tham gia đóng góp ý kiến, đưa ra
những mặt còn hạn chế của người được đánh giá và đề xuất chỉ đạt mức hoàn
thành tốt nhiệm vụ và phần lớn những người tham dự hội nghị cũng đồng ý với
đề xuất, nhưng khi đưa ra kết luận đánh giá, người có thẩm quyền kết luận
người được đánh giá có nhiều cố gắng trong thực hiện nhiệm vụ, có thành tích
trong công tác, những điểm còn hạn chế sẽ khắc phục trong thời gian tới, nên
kết luận người được đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, những người tham
dự Hội nghị cũng nhất trí theo ý kiến của người có thẩm quyền. Như vậy, việc
thực hiện đánh giá chưa thật sự khách quan và hiệu quả.
2.3.2.3. Về phương pháp đánh giá công chức
Theo nội dung về phương pháp đánh giá đã đề cập ở Chương I, việc sử
dụng phương pháp đánh giá rất quan trọng trong hoạt động đánh giá công chức
và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đánh giá.
Phương pháp đánh giá công chức tại Tổng cục hiện nay là áp dụng tổng
hợp các phương pháp: đánh giá thông qua bản tự kiểm điểm, đánh giá của mỗi
cá nhân công chức, bảng chấm điểm dựa trên các tiêu chí đã được xác định và
đánh giá thông qua họp nhận xét.
67
Việc áp dụng tổng hợp các phương pháp có thể vận dụng tối đa ưu điểm
của từng phương pháp. Trên cơ sở các nội dung, tiêu chí đã được quy định sẵn,
đối chiếu với nhiệm vụ chuyên môn được giao, mỗi công chức tự nhận xét kết
quả đã đạt được, những ưu điểm, khuyết điểm và tự chấm điểm, nhận xếp loại.
Thông qua họp Hội nghị đánh giá, các thành phần tham gia đưa ra các ý kiến góp
ý, nhận xét; người có thẩm quyền đánh giá căn cứ vào bản tự nhận xét và các ý
kiến đóng góp để đưa ra kết quả đánh giá, xếp loại cuối năm của công chức.
Nếu chỉ áp dụng đánh giá thông qua bản tự kiểm điểm và bảng chấm
điểm sẽ có hạn chế là phụ thuộc vào sự tự giác của công chức, khó để kiểm
chứng những mặt tự kiểm điểm, đánh giá của công chức là đúng hay sai; mặt
khác, dễ phát sinh trường hợp người có thẩm quyền đánh giá có thể nể nang,
cào bằng kết quả đánh giá. Bên cạnh đó, nếu chỉ áp dụng phương pháp đánh
giá thông qua họp nhận xét, kết quả đánh giá là kết quả của tập thể, nếu phát
sinh trường hợp khiếu nại thì trách nhiệm chung thuộc về tập thể. Những bất cập
khi chỉ áp dụng riêng lẻ từng phương pháp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả
đánh giá và ảnh hưởng gián tiếp đến động lực phấn đấu của mỗi công chức.
2.2.2.4. Về chủ thể tham gia đánh giá công chức
Theo quy định tại Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT ngày 6/12/2017 của
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Quy chế đánh giá công chức,
viên chức thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quyết định số 666/QĐ-
TCBHĐVN ngày 28/12/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo
Việt Nam ban hành Quy chế đánh giá và phân loại công chức, viên chức của
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chủ thể tham gia đánh giá công chức tại
Tổng cục gồm công chức, thủ trưởng cơ quan quản lý công chức và các chủ thể
có liên quan sau:
- Công chức tự đánh giá: định kỳ hàng năm, công chức thuộc Tổng cục
tự đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình bằng Phiếu đánh giá và phân
loại công chức (Theo Mẫu M3 kèm theo Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT ngày
68
6/12/2017), năm 2019, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Công văn số
6531/BTNMT-TCCB ngày 9/12/2019 về công tác đánh giá, phân loại công
chức, viên chức năm 2019, công chức phải làm thêm Phiếu tự đánh giá, phân
loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ công tác của cá nhân.
- Công chức trong cơ quan tham gia vào quá trình đánh giá: sau khi công
chức làm bản tự nhận kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình,
sẽ tổ chức Hội nghị công chức để nhận xét, đánh giá bản tự kiểm điểm, tự nhận
xét của từng công chức, các thành viên tham gia thảo luận, góp ý kiến. Việc tham
gia đánh giá của công chức cơ quan sẽ đảm bảo việc đánh giá được khách quan,
công bằng và chính xác hơn, tuy nhiên sự tham gia đánh giá của công chức cơ
quan vào quá trình đánh giá chỉ là thảo luận, góp ý nhưng những ý kiến đó không
được xác định là ý kiến đánh giá và không có ảnh hưởng nhiều đến kết quả đánh
giá. Mặt khác, ý kiến góp ý trực tiếp tại cuộc họp dễ gây ra va chạm nên trong
các cuộc họp thường có rất ít ý kiến được đưa ra.
- Thủ trưởng cơ quan đánh giá công chức thuộc thẩm quyền quản lý trực
tiếp và thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp đánh giá đối với công chức là
người đứng đầu: Theo quy định hiện hành, việc đánh giá cấp phó, công chức
thuộc Tổng cục do thủ trưởng cơ quan đánh giá và Tổng cục trưởng đánh giá
đối với công chức là người đứng đầu. Thủ trưởng cơ quan đánh giá công chức
theo 04 mức: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn
thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ.
Khi thủ trưởng cơ quan thực hiện đánh giá vẫn còn tình trạng coi trọng thành
tích chung của tập thể mà cố gắng đẩy thành tích của mỗi công chức lên mức
cao hơn thực tế thực hiện nhiệm vụ.
- Tổ chức, cá nhân có quan hệ công tác đánh giá và tổ chức, cá nhân có
nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính đánh giá: Tổng cục trưởng, Cục trưởng,
Chánh Văn phòng Tổng cục theo thẩm quyền, tổ chức lấy ý kiến bằng Phiếu
của các tổ chức, cá nhân được cung cấp dịch vụ công về cấp phép, giải quyết
69
thủ tục hành chính đối với công chức được giao xử lý, giải quyết công việc, thủ
tục hành chính.
2.2.2.5. Sử dụng kết quả đánh giá công chức
Năm 2017: Tổng số công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam là 113 người, 100% công chức được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở
lên; trong đó, có 90 công chức được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
chiếm tỷ lệ 79,6%; có 23 công chức được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ,
chiếm tỷ lệ 20,4%.
Năm 2018: Tổng số công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam là 106 người; trong đó: có 74 công chức được được xếp loại hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 69,8%; có 31 công chức được xếp loại hoàn
thành tốt nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 29,3%; có 01 công chức được xếp loại hoàn
thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, chiếm tỷ lệ 0,9%; không có
công chức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.
Năm 2019: Tổng số công chức thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt
Nam là 98 người; trong đó: có 15 công chức được được xếp loại hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 15,3%; có 82 công chức được xếp loại hoàn
thành tốt nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 83,7%; có 01 công chức được xếp loại hoàn
thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, chiếm tỷ lệ 1%; không có công
chức xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.
70
Bảng số 2.7. Kết quả đánh giá, phân loại công chức năm 2017 – 2019
(Đơn vị tính: Người)
(nguồn Vụ Tổ chức cán bộ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam)
83.70%
90.00%
79.60%
80.00%
69.80%
70.00%
60.00%
50.00%
40.00%
29.30%
30.00%
20.40%
15.30%
20.00%
0.90%
0.00%
1.00%
10.00%
0.00%
0.00%
0.00%
0.00%
2017
2018
2019
HTXSNV
HTTNV
HTNV
KHTNV
Chart Title
Số lượng công chức của Tổng cục được xếp loại hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ giảm dần, đặc biệt là năm 2019, do có quy định mới về đánh giá, xếp
loại công chức tại Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18/10/2019 của Ban Tổ
chức Trung ương hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng
năm đối với tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản
lý các cấp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Công văn số
6531/BTNMT-TCCB ngày 09/12/2019 về việc công tác đánh giá và phân loại
công chức, viên chức năm 2019, hướng dẫn các đơn vị trực thuộc Bộ lưu ý thực
hiện một số yêu cầu trong công tác đánh giá, phân loại công chức, viên chức
năm 2019, cụ thể: Trong phạm vi một đơn vị, tổ chức, tỉ lệ số lượng công chức
không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ” không vượt quá 20% tổng số công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản
lý được đánh giá, phân loại của đơn vị, tổ chức đó. Tỉ lệ số lượng công chức
lãnh đạo, quản lý được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” không vượt
71
quá 20% số được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” theo chức danh tương
đương ở từng cấp, từng lĩnh vực.
Kết quả đánh giá, phân loại công chức từ năm 2017 đến năm 2019 cho thấy
đa số công chức đều được xếp loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành
tốt nhiệm vụ, không có trường hợp công chức bị chuyển công tác do kết quả đánh
giá 02 năm liên tiếp hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc 02
năm liên tiếp, trong đó có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về
năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ; không có trường hợp công chức
bị giải quyết thôi việc do 02 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ.
Kết quả đánh giá công chức được xem là tiêu chí quan trọng, trực tiếp để
để thực hiện các công việc khác liên quan đến quản lý công chức như quy
hoạch, bổ nhiệm, khen thưởng; việc thực hiện nâng lương thường xuyên, nâng
lương trước thời hạn, nâng ngạch đến hạn thực hiện theo quy định; cử công
chức đi đào tạo, bồi dưỡng căn cứ thâm niên công tác và lần lượt cử đi không
căn cứ vào kết quả đánh giá.
Kết quả đánh giá công chức tại các đơn vị thuộc Tổng cục được báo cáo
về Vụ Tổ chức cán bộ để tổng hợp báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường. Phiếu
đánh giá công chức và Phiếu tự đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm
vụ công tác của cá nhân đang công tác tại Văn phòng, các Vụ chức năng, người
đứng đầu các Cục được gửi về Vụ Tổ chức cán bộ để theo dõi lưu hồ sơ công
chức. Phiếu đánh giá của các công chức công tác tại các Cục trực thuộc Tổng
cục lưu tại bộ phận Tổ chức cán bộ của mỗi đơn vị để lưu hồ sơ công chức,
theo dõi kết quả quá trình công tác hàng năm.
2.4. Đánh giá chung
2.4.1. Kết quả đã đạt được
Qua tìm hiểu và phân tích thực trạng đánh giá công chức hàng năm tại
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, em nhận thấy công tác đánh giá đã đạt
được các kết quả như sau:
72
Thứ nhất, các cơ quan, đơn vị trong Tổng cục đã thực hiện phổ biến,
quán triệt các nội dung đánh giá công chức hàng năm đến toàn thể công chức
của cơ quan. Phần lớn công chức đã nhận thức được việc đánh giá hàng năm là
quy định bắt buộc, nắm được thời điểm đánh giá và các nội dung cần đánh giá.
Công tác đánh giá công chức tại Tổng cục đảm bảo thực hiện đúng các nguyên
tắc của đánh giá công chức, cơ bản đã thực hiện đúng quy định của Đảng và
Nhà nước về đánh giá.
Thứ hai, công tác đánh giá hoạt động thực thi công vụ của công chức trong
Tổng cục hàng năm đã đưa ra các kết quả ngày càng chính xác, đảm bảo công
bằng và bình đẳng trong đánh giá, kịp thời nhằm khắc phục những thiếu sót của
cá nhân công chức và tập thể để điều chỉnh hoạt động của công chức nói riêng
và tập thể nói chung để hoàn thành công việc đạt hiệu quả cao nhất, kịp thời khen
thưởng, động viên các công chức, tập thể có kết quả công tác tốt.
Thứ ba, đánh giá công chức hàng năm đã giúp cho công chức nhận thấy
được mặt mạnh và những điểm còn hạn chế của mình để có thể phát huy những
mặt mạnh và khắc phục kịp thời những điểm còn hạn chế để phát huy tối đa
khả năng của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Mặt khác, kết quả
đánh giá cũng giúp cho người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực thuộc Tổng
cục có cái nhìn tổng quan, sâu rộng hơn về công chức thuộc thẩm quyền quản
lý, để có phương hướng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho
công chức, ban hành các quyết định về khen thưởng, kỷ luật và bố trí, sắp xếp
lại cơ cấu trong tổ chức.
Thứ tư, việc công khai các thủ tục, quy trình trong đánh giá công chức
và việc thực hiện kiểm tra về công tác tổ chức cán bộ (trong đó có kiểm tra về
công tác đánh giá) được thực hiện thường xuyên góp phần quan trọng đảm bảo
cho việc đánh giá công chức được khách quan và công bằng hơn.
Thứ năm, kết quả đánh giá công chức đã tạo cơ sở giúp cho Tổng cục
xây dựng đội ngũ công chức có chất lượng ngày càng cao hơn, góp phần cải
73
thiện hoạt động công vụ của công chức, đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm
vụ chung của Tổng cục.
Để đạt được những kết quả nêu trên là do những nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống văn bản quy định của Đảng và Nhà nước về công tác
đánh giá được ban hành ngày càng hoàn thiện và cụ thể hơn. Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã ban hành các văn bản quy định về đánh giá công chức thống
nhất và hướng dẫn đánh giá công chức trong toàn Bộ, trên cơ sở đó, Tổng cục
cũng đã ban hành Quy chế đánh giá công chức, cụ thể hóa các nội dung trong
Quyết định, văn bản của Bộ để các đơn vị trong Tổng cục nắm bắt được nội
dung, quy trình đánh giá, để thực hiện việc đánh giá được đồng bộ, thống nhất
trong toàn Tổng cục.
Thứ hai, các cấp ủy Đảng quan tâm, hướng dẫn để các tập thể, cá nhân
nhận thức được tầm quan trọng của công tác đánh giá nên công tác đánh giá
được thực hiện đồng bộ, có hiệu quả.
Thứ ba, người đứng đầu mỗi cơ quan ngày càng quan tâm hơn đến công
tác đánh giá, việc quy định tỷ lệ % số lượng công chức hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ theo từng nhóm đối tượng công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý
và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý đã tác động để người có thẩm
quyền đánh giá cân nhắc kỹ hơn về việc đưa ra kết quả đánh giá, giúp công tác
đánh giá được công bằng hơn.
2.4.2. Tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đánh giá công chức tại Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế như sau:
Thứ nhất, tiêu chuẩn đánh giá công chức tại Quyết định số 666/QĐ-
TCBHĐVN ngày 28/12/2018 chưa được cụ thể hóa phù hợp với từng chức
danh, vị trí việc làm của công chức khiến cho công tác đánh giá mang tính
chung chung, chưa chính xác với tất cả công chức. Các nội dung đánh giá về
chuyên môn, kết quả thực hiện nhiệm vụ cũng chưa được lượng hóa, khó đo
74
lường, do tính chất của mỗi loại công việc của công chức trong Tổng cục là
không giống nhau nên yêu cầu đặt ra là cần phải có tiêu chuẩn, định mức riêng
đối với mỗi loại công việc thì mới có thể lượng hóa, đo lường được. Quy định,
công chức được đánh giá ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phải có ít nhất
1 công trình khoa học, đề án, đề tài hoặc sáng kiến được áp dụng có hiệu quả
trong hoạt động công vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền
công nhận. Tuy nhiên, không phải công chức nào cũng có khả năng nghiên cứu
khoa học để có được các công trình nghiên cứu, đề án, đề tài chất lượng thỏa
mãn tiêu chí này.
Thứ hai, công tác đánh giá công chức tại Tổng cục còn mang chủ nghĩa
bình quân, việc đánh giá thường là đồng đều nhau giữa các công chức để không
có công chức nào bị đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ để bị giải
quyết thôi việc. Thực trạng đánh giá còn có tình trạnh nể nang, cào bằng, nếu
trong năm công chức không vi phạm kỷ luật thì thường được xếp ở mức hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Kết quả đánh giá công chức chưa được sử dụng hiệu quả
vào công tác quản lý công chức. Mặt khác, bản thân công chức cũng chưa nhận
thức đúng về tầm quan trọng của công tác đánh giá, coi công tác đánh giá là
thủ tục hàng năm cần phải làm, với tâm lý hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cũng
không đến lượt mình nên khi làm Phiếu tự nhận xét và bảng chấm điểm thường
ghi chung chung, liệt kê phân công nhiệm vụ, tự nhận mức Hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Thực tế cho thấy, khi chưa có Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày
18/10/2019 của Ban Tổ chức Trung ương quy định về tỷ lệ % công chức hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ theo nhóm giữ chức vụ lãnh đạo quản lý và nhóm
không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý thì kết quả đánh giá Hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ tập trung nhiều vào nhóm lãnh đạo, khiến cho công chức không giữ
chức vụ lãnh đạo không muốn thực hiện công tác đánh giá, cho rằng việc này
chỉ mang tính hình thức.
75
Thứ ba, phương pháp đánh giá công chức chủ yếu là đánh giá qua Phiếu
đánh giá và phân loại công chức, năm 2019 có thêm chấm điểm qua Phiếu tự
đánh giá, phân loại hoàn thành nhiệm vụ và thông qua Hội nghị công chức, các
ý kiến đóng góp của tập thể trong Hội nghị công chức và ý kiến nhận xét của
cấp ủy chỉ là những ý kiến để người có thẩm quyền đánh giá tham khảo trước
khi đưa ra kết luận đánh giá, quyền quyết định kết quả đánh giá của thủ trưởng
đơn vị nên kết quả đánh giá đôi khi chưa được khách quan, nặng về cảm tính
nên không đảm bảo được tính chính xác so với yêu cầu, mục tiêu đánh giá đã
đề ra.
Thứ tư, hệ thống các tiêu chí đánh giá công chức của Đảng và Nhà nước
đã được ban hành nhưng còn có các nội dung chưa thống nhất. Việc đánh giá
công chức được thực hiện theo Luật Cán bộ, công chức 2008, Nghị định số
56/2015/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017
của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP.
Bên cạnh đó công chức còn chịu điều chỉnh của Quy chế đánh giá cán bộ công
chức ban hành kèm theo Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08/202010 của Bộ
Chính trị, điều này dẫn đến tình trạng cùng là nội dung đánh giá công chức nhưng
căn cứ và cách thức đánh giá lại không giống nhau.
2.4.3. Nguyên nhân của hạn chế
Những hạn chế nêu trên còn tồn tại là do các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, Tổng cục đã xây dựng và đang hoàn thiện việc xây dựng bản
mô tả công việc, phân bổ công việc cho từng vị trí việc làm rõ ràng, phù hợp
với từng vị trí công chức, do vậy những tiêu chuẩn, định mức công việc cụ thể
cho từng chức danh, vị trí công chức còn chưa cụ thể, dẫn đến tiêu chí đánh giá
còn chung chung, chưa sát thực.
Thứ hai, phương pháp đánh giá chưa phù hợp, phương pháp chủ yếu dựa
trên cơ sở Phiếu tự nhận xét, đánh giá của công chức, bảng chấm điểm, góp ý
của tập thể công chức. Các công việc được liệt kê theo phân công nhiệm vụ,
76
thiếu phần đánh giá về chất lượng công việc. Đánh giá thông qua phiếu tự nhận
xét và tự chấm điểm của công chức nên hầu hết công chức có kết quả tự đánh
giá gần giống nhau dù vị trí công tác khác nhau.
Thứ ba, đánh giá công chức tại Tổng cục còn bị ảnh hưởng bởi định kiến
cá nhân, nể nang, ngại va chạm của các chức tham gia đánh giá, ngoài ra còn
chịu sự chi phối của ý kiến chủ quan của người có thẩm quyền đánh giá nên
việc đánh giá đôi khi không thực chất, thực hiện cho đủ thủ tục quản lý công
chức. Tâm lý chạy đua thành tích, không có công chức không hoàn thành nhiệm
vụ để ảnh hưởng đến kết quả hoạt động chung của toàn cơ quan dẫn đến kết
quả đánh giá công chức còn chưa thật sự công tâm và khách quan.
77
Tiểu kết chương 2
Trong Chương 2, đề tài đã khái quát về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu
tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và cơ cấu tổ chức của Vụ Tổ
chức cán bộ thuộc Tổng cục - cơ quan giúp Tổng Cục trưởng thực hiện việc
đánh giá công chức, phân tích, làm rõ thực trạng đánh giá công chức tại Tổng
cục hiện nay.
Công tác đánh giá hàng năm đã được các cơ quan, đơn vị trong Tổng
cục quan tâm, chú trọng. Chương 2 của Luận văn đã chỉ ra những ưu điểm và
hạn chế của công tác đánh giá công chức hàng năm của Tổng cục. Về ưu điểm,
công tác đánh giá có sự thống nhất, về cơ bản đảm bảo đúng nguyên tắc, các
chủ thể thực hiện đúng quy trình đánh giá, kết quả đánh giá được quan tâm, gắn
với việc ban hành các quyết định về nhân sự, tạo điều kiện để bồi dưỡng công
chức, khen thưởng, đề bạt, quy hoạch, bổ nhiệm, giúp công chức thấy được
những điểm mạnh, điểm yếu từ đó giúp họ phát huy điểm mạnh, khắc phục
điểm yếu để đạt được thành tích cao nhất có thể trong hoạt động thực thi công
vụ. Tuy nhiên, công tác đánh giá công chức hàng năm cũng bộc lộ những điểm
còn hạn chế, vẫn còn hiện tượng nể nang, cào bằng trong đánh giá ở một số đơn
vị.
Những ưu điểm cũng như những mặt hạn chế trong công tác đánh giá tại
Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ công chức của Tổng cục trong thời gian tới là cơ sở để em để xuất các
giải pháp hoàn thiện công tác đánh giá công chức của Tổng cục Biển và Hải
đảo Việt Nam ở Chương 3.
78
CHƯƠNG 3
QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ
CÔNG CHỨC CỦA TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
3.1. Yêu cầu hoàn thiện công tác đánh giá công chức hiện nay
Công tác quản lý công chức có nhiều nội dung, trong đó đánh giá công
chức được coi là khâu khó và nhạy cảm, có ý nghĩa quyết định trong việc phát
hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ
luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với công chức, cũng như giúp công
chức phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm, nâng cao năng lực và hiệu quả
hoạt động công vụ của công chức; đánh giá đúng sẽ tạo điều kiện cho công
chức phát huy được sở trường hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, ngược lại,
đánh giá không khách quan, công bằng sẽ làm triệt tiêu khả năng phấn đấu của
công chức. Do vậy, để công tác đánh giá chất lượng công chức được thực chất
hơn, cần phải hoàn thiện các nội dung sau:
- Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về chức
danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ, vị trí việc làm của công chức kể cả công chức lãnh
đạo, quản lý. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế
độ trách nhiệm và trách nhiệm giải trình theo hướng: cơ quan nhà nước, cán
bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép; quyền hạn đến
đâu, trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể,
cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc. Hoàn thiện cơ chế phân
quyền, phân cấp, ủy quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất, thông suốt trong lãnh
đạo, quản lý, điều hành từ Trung ương đến cơ sở.
- Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về đánh giá công chức phải
căn cứ vào tiêu chuẩn, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm và kết quả
thực hiện nhiệm vụ được giao; thực hiện miễn nhiệm đối với những người
không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; quy định
79
rõ nhiệm vụ, quyền hạn của công chức tương ứng với trách nhiệm và có chế tài
xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, đạo đức công vụ của
công chức.
- Hoàn thiện hệ thống các tiêu chí đánh giá công chức cụ thể, phù hợp
với yêu cầu của thực tiễn. Các tiêu chí cụ thể bao gồm: số lượng công việc mà
công chức thực hiện; số lượng công việc hoàn thành; số lượng công việc hoàn
thành có chất lượng, đúng tiến độ; khả năng nắm vững kiến thức, năng động,
sáng tạo, tiết kiệm... Tinh thần thái độ phục vụ xã hội, duy trì mối quan hệ đồng
nghiệp trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Việc xây dựng các tiêu chí càng cụ thể
càng giúp cho việc đánh giá công chức đạt hiệu quả.
- Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách nhiệm của người
đứng đầu trong quản lý, sử dụng, đánh giá công chức. Phải lấy kết quả, hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực của công chức,
lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí công chức.
- Đánh giá công chức phải đảm bảo khách quan, khoa học, phản ánh đúng
với năng lực và phẩm chất của công chức; phải thực hiện theo nguyên tắc tập
trung dân chủ, đảm bảo kết luận đánh giá công chức khách quan, chính xác và
công bằng.
- Đánh giá công chức phải áp dụng tổng hợp các phương pháp (phân tích
định lượng, đánh giá theo kết quả và lưu trữ); thiết lập bộ phận chuyên trách
thực hiện công tác đánh giá công chức. Bộ phận chuyên trách có trách nhiệm
căn cứ vào những tư liệu liên quan và những ghi chép về kết quả làm việc của
công chức để bình xét, đánh giá thành tích của họ. Đồng thời, nâng cao trách
nhiệm của các chủ thể trong việc đánh giá công chức.
3.2. Quan điểm về đánh giá công chức hiện nay
- Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng trong công tác quản lý cán bộ,
công chức nói chung và công tác đánh giá phân loại cán bộ, công chức nói
80
riêng, đặc biệt là nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.
- Đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công chức theo hướng: Xuyên suốt,
liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công
khai kết quả và so sánh với các chức danh tương đương; gắn đánh giá cá nhân
với tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị; liên
thông trong đánh giá: kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức
được sử dụng làm cơ sở để liên thông trong đánh giá, xếp loại chất lượng đảng
viên.
- Bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, nhất quán trong công tác đánh giá,
phân loại của cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, phù hợp với thực tế của
từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị; tiêu chí đánh giá phải sát, phù
hợp với từng chức danh, vị trí việc làm, phản ánh được chính xác phẩm chất,
năng lực và hiệu quả công tác của cán bộ, công chức.
- Xây dựng tiêu chí đánh giá, quy trình, thủ tục, phương pháp đánh giá
phải kế thừa những ưu điểm, tiếp tục đổi mới khắc phục những nhược điểm,
bảo đảm tính khoa học, công khai, minh bạch, công tâm, khách quan; làm rõ
ưu điểm, khuyết điểm của cán bộ, thẩm quyền, trách nhiệm của tập thể, cá nhân;
dễ hiểu, dễ làm, dễ thực hiện, tránh phát sinh những hiện tượng tiêu cực; không
cầu toàn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, bổ sung và hoàn thiện.
3.2.1. Đánh giá công chức phải đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam
Công chức luôn được đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng. Đánh
giá công chức là một trong những hoạt động quan trọng của nền công vụ. Hiệu
quả của hoạt động này có tác động ảnh hưởng đến uy tín của Đảng. Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ XII đã chỉ rõ: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất
81
là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ” trang [17, tr 4], đề ra mục tiêu: kiên quyết khắc phục những yếu kém
trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên,
nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo
đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương
mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực
sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với
Đảng. Do vậy, việc đổi mới công tác đánh giá công chức không thể tách rời sự
lãnh đạo của Đảng, cũng như không thể nằm ngoài, khác biệt với những chủ
trương, chính sách của Đảng. “Đảng phải lãnh đạo quyết liệt việc xây dựng được
đội ngũ công chức theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, tinh thông và có phẩm
chất đạo đức. Đội ngũ này chính là nhân tố quyết định của nền hành chính hiện
đại.” [17, tr. 128].
3.2.2. Hoàn thiện công tác đánh giá công chức gắn với việc đổi mới
đồng bộ thể chế quản lý công chức
Công tác quản lý công chức bao gồm nhiều công việc: Tuyển dụng, quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, chế
độ chính sách… Tất cả những công việc này có quan hệ tác động qua lại lẫn
nhau, nên công tác đánh giá công chức phải được gắn với sự đổi mới đồng bộ
cơ chế, chính sách, đặc biệt là công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân
chuyển, bổ nhiệm tạo điều kiện để công chức thăng tiến trong nghề nghiệp.
Trong thời gian qua, công tác quản lý công chức còn thiếu một chính sách
cơ bản, đồng bộ, do vậy, có nhiều vấn đề chưa được cụ thể hóa thành những
quy chế, quy định, hoặc có quy định nhưng tính khả thi chưa cao, khó thực
hiện, dẫn đến thiếu tập trung, nể nang, né tránh, thiếu dân chủ hoặc dân chủ
hình thức, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính
nhà nước. Vì vậy, cần thiết phải đổi mới đồng bộ thể chế quản lý công chức ở
các nội dung như: hoàn thiện thể chế quản lý công chức phải tuân thủ các quan
82
điểm, chủ trương về công tác cán bộ của Đảng; hoàn thiện thể chế quản lý công
chức phải gắn với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước và hoàn thiện chế độ công vụ; quản lý công chức thực hiện
theo hướng kết hợp giữa hệ thống mô hình quản lý theo ngạch, bậc (mô hình
chức nghiệp) và mô hình quản lý theo vị trí việc làm (mô hình vị trí việc làm);
hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, chức danh, vị trí việc làm của công chức;
tiếp tục cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ đối với công chức,
nghiên cứu trả lương trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ và kết quả đánh giá
công việc góp phần quan trọng vào việc tinh giản bộ máy, tinh giản biên chế
một cách mạnh mẽ, có hiệu quả; tiếp tục đổi mới công tác đánh giá chất lượng
công chức; hoàn thiện quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức,
miễn nhiệm đối với công chức lãnh đạo, quản lý; đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ thông tin trong quản lý, đánh giá chất lượng công chức.
3.2.3. Đánh giá công chức phải căn cứ vào hiệu quả thực thi công vụ
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và công cuộc cải cách hành chính
hướng tới xây dựng một nền công vụ trong sạch, chuyên nghiệp, hiệu lực và
hiệu quả đã và đang đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi mới đối với mọi tổ chức,
cơ quan, đơn vị, cá nhân và đặc biệt là đối với công tác đánh giá chất lượng
công chức. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “… lấy bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, năng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt
cán bộ” [17, tr. 116]; Quyết định số 1557/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
xác định “ Việc đánh giá phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả công tác của cán
bộ, công chức”.
Đánh giá việc thực thi công vụ của công chức là một trong những nội
dung cơ bản và quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước, là một trong
những biện pháp để quản lý và xây dựng một đội ngũ công chức chính quy,
chuyên nghiệp, hiện đại góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành
chính nhà nước. Đánh giá chất lượng công chức phải căn cứ vào hiệu quả thực
83
hiện nhiệm vụ, công việc được giao gắn với vị trí việc làm của từng công chức.
Kết quả đánh giá chính là cơ sở để quyết định các biện pháp phù hợp trong quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, kỉ luật, khen thưởng,…
và thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức.
3.2.4. Hoàn thiện công tác đánh giá công chức trên cơ sở đề cao trách
nhiệm của người đứng đầu
Đánh giá công chức là một trong số biện pháp quản lý công chức, thông
qua việc kiểm định các tiêu chí cho thấy kết quả công việc, sự cống hiến cũng
như đạo đức của đội ngũ công chức. Đánh giá công chức là trách nhiệm của
người đứng đầu, người đứng đầu là người hiểu và nắm rõ nhất tình hình thực
hiện nhiệm vụ, công vụ của từng công chức, là người phân công, bố trí, giao
nhiệm vụ, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ và tổ chức đánh giá hiệu quả, chất lượng
làm việc của công chức. Do đó, cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật
về trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, đơn vị, phải xác định rõ vị trí, vai trò,
chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của người đứng đầu theo hướng đề cao vai
trò trách nhiệm cá nhân người đứng đầu. Pháp luật cần phải tạo được hành lang
pháp lý toàn diện, đồng bộ và đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, cụ thể về trách
nhiệm của người đứng đầu, làm cơ sở để phát huy tối đa khả năng lãnh đạo,
quản lý và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong thực hiện công việc
cũng như quy định các chế tài xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu nếu
để xảy ra vi phạm hoặc có hành vi vi phạm.
3.3. Các giải pháp hoàn thiện đánh giá công chức
3.3.1. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá công chức
Thực hiện phân tích công việc, xây dựng bản mô tả công việc treo vị trí
việc làm một cách khoa học và hợp lý, tạo điều kiện cho việc xây dựng tiêu chí
đánh giá khách quan và khoa học. Qua quá trình nghiên cứu nhằm xác định các
điều kiện thực thi của một công việc, các hoạt động cần thực hiện và yêu cầu
đối với các kết quả cần đạt được; cơ sở thông tin cơ bản cho xây dựng các bản
84
mô tả công việc, qua đó cung cấp thông tin về yêu cầu, đặc điểm của công việc;
các thông tin về tính chất công việc; các thông tin về hoạt động cần tiến hành
để thực hiện công việc; các thông tin về yêu cầu đối với năng lực, đặc điểm và
phẩm chất cần có đối với người thực hiện công việc…. Các thông tin này là căn
cứ để phân loại các nhóm công việc theo khối lượng, tính chất, đặc điểm, từ đó,
xác định các yêu cầu cho từng vị trí việc làm, hình thành hệ thống các vị trí
việc làm. Mỗi vị trí phải xác định rõ ràng một bản mô tả công việc với các kết
quả đầu ra chính xác. Thông qua các kết quả đầu ra này cho phép các đơn vị
thuộc Tổng cục xác định được các nhóm tiêu chí khác nhau trên cơ sở chức
năng, nhiệm vụ của từng đơn vị. Bản mô tả công việc sẽ liệt kê các nhiệm vụ,
các mối quan hệ trong công việc, các điều kiện làm việc và những vấn đề có
liên quan đến một công việc cụ thể, nêu rõ vị trí, nội dung, yêu cầu, đặc điểm
của một vị trí công việc cụ thể. Để có thể đánh giá công chức khách quan hơn,
cần được bổ sung những tiêu chí về công việc, thời gian hoàn thành công việc,
xử lý tình huống thỏa đáng và những giải pháp sáng tạo trong công việc… bằng
cách xây dựng một hệ thống yêu cầu, đòi hỏi của công việc cho mỗi vị trí công
chức với các tiêu chí về tiêu chuẩn trình độ, năng lực; về khối lượng công việc,
quy trình xử lý; quy trình tổng hợp, báo cáo kết quả công tác định kỳ.
Xây dựng mục tiêu phấn đấu cho từng công chức, đây là một nhân tố
quan trọng trong động cơ làm việc của người được đánh giá, bởi nó khuyến
khích sự nỗ lực của công chức, tập trung chú ý, tăng tính kiên trì, bền bỉ, khuyến
khích tìm tòi phương pháp làm việc mới và tốt hơn. Khi có những mục tiêu
phấn đấu cụ thể, công chức đạt được thành tích công việc cao hơn so với những
mục tiêu dễ đạt được, mơ hồ hoặc không có mục tiêu phấn đấu.
Tại điểm h, Khoản 1, Điều 18 Nghị định 56/2015/NĐ-CP về đánh giá và
phân loại cán bộ, công chức, viên chức quy định, công chức được đánh giá ở
mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phải có ít nhất 1 công trình khoa học, đề án,
đề tài hoặc sáng kiến được áp dụng có hiệu quả trong hoạt động công vụ của
85
cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền công nhận. Không phải công
chức nào cũng có khả năng nghiên cứu khoa học hoặc được tham gia các đề tài
nghiên cứu khoa học để có được các công trình nghiên cứu, đề án, đề tài chất
lượng thỏa mãn tiêu chí này. Điểm này đã được sửa đổi tại Nghị định số
90/2020/NĐ-CP, công chức xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ không yêu cầu phải có sáng kiến, giải pháp cụ thể được áp dụng, nâng
cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc của ngành, lĩnh
vực được giao phụ trách và được cấp có thẩm quyền công nhận.
Luận văn đề xuất tiêu chí cho điểm đánh giá công chức như sau:
a) Nội dung và thang điểm đánh giá: Tổng điểm đánh giá: 100 điểm
(1) Về nội dung đánh giá phẩm chất chính trị, chấp hành đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước: cho tối đa 10 điểm.
Bảng số 3.1. Biểu chấm điểm về phẩm chất chính trị, chấp hành
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
TT Nhóm tiêu chí Điểm tối đa
1 Tư tưởng chính trị, chấp hành đường lối, chủ trương, 5
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
2 Thực hiện tốt Quy định chuẩn mức đạo đức nghề 5
nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, người lao
động ngành tài nguyên và môi trường
(2) Về nội dung đánh giá phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, lề lối
làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật: cho tối đa 15 điểm
86
Bảng số 3.2. Biểu chấm điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống, tác
phong, lề lối làm việc, ý thức tổ chức kỷ luật
TT Nhóm tiêu chí Điểm tối đa
1 Chấp hành nghiêm sự chỉ đạo, phân công nhiệm vụ của 5
cấp có thẩm quyền (VD: Thực hiện đúng, kịp thời chỉ đạo
của cấp trên, bao gồm cả những ý kiến chỉ đạo trực tiếp;
chấp hành sự phân công, điều độngcủa cấp có thẩm
quyền;…)
2 Chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị (VD: Đi 5
làm đúng giờ; tham dự đầy đủ, đúng thành phần, đúng giờ
các cuộc họp, hội nghị khi được mời/triệu tập;…)
3 Thực hiện tốt về giao tiếp và ứng xử đối với Nhân dân; 5
đối với cấp trên, cấp dưới và đồng nghiệp (VD: Không vi
phạm quy định về “Văn hóa giao tiếp ở công sở”, “Văn
hóa giao tiếp với Nhân dân”…).
(3) Về đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao: cho tối đa 75 điểm.
Bảng số 3.3. Biểu chấm điểm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao
TT Nhóm tiêu chí Điểm tối đa
I Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
1 Thực hiện tốt việc quy tụ, tập hợp công chức, viên chức, 10
người lao động xây dựng đơn vị đoàn kết, thống nhất
(VD: Đơn vị không có hiện tượng mất đoàn kết nội bộ;
không có tình trạng đơn thư kéo dài;…)
2 Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị đảm 10
bảo kịp thời, không để chậm, bỏ sót nhiệm vụ.
87
3 Chỉ đạo, thực hiện phối hợp công tác tốt với tổ chức, 10
cá nhân liên quan trong thực hiện nhiệm vụ (VD: Việc
trả lời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, cá nhân khi có
đề nghị; việc tham gia góp ý văn bản, phối hợp thực
hiện các nhiệm vụ được giao phối hợp, chủ trì;…).
4 Phát hiện, tham mưu kịp thời với cấp có thẩm quyền 10
các nhiệm vụ, giải pháp để giải quyết những vấn đề
phát sinh từ thực tiễn hoặc những vấn đề mới (VD:
Chủ động tham mưu kịp thời việc cụ thể hóa, triển
khai thực hiện các chủ trương, chính sách mới của
Đảng, Nhà nước mà không đợi chỉ đạo từ cấp trên;
việc chủ động đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc phát sinh trong lĩnh vực, đơn vị được phân
công;…).
5 Có sản phẩm, thành tích nổi trội trong công việc. 5
6 Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao 30
Hoàn thành từ 90% công việc trở lên 30
Hoàn thành từ 80% đến dưới 90% công việc 25
Hoàn thành từ 70% đến dưới 80% công việc 20
Hoàn thành từ 60% đến dưới 70% công việc 15
Hoàn thành từ 50% đến dưới 60% công việc 10
Hoàn thành dưới 50% công việc 5
II Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
Báo cáo kịp thời, chính xác với lãnh đạo về tình hình,
kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; chủ động đề 1 15 xuất, tham mưu giải quyết công việc bảo đảm chất
lượng, tiến độ (VD: Báo cáo kịp thời với cấp trên
88
những vấn đề khó khăn, phức tạp,… phát sinh trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ để có hướng giải quyết;
khi được giao nhiệm vụ, phải chủ động xây dựng kế
hoạch/phương án triển khai bảo đảm chất lượng, tiến
độ công việc;…).
Phối hợp công tác tốt với tổ chức, cá nhân liên quan
trong thực hiện nhiệm vụ (VD: Thực hiện việc trao
đổi, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, kịp thời với các tổ 15 2 chức, cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ; thực hiện các
nhiệm vụ phối hợp, tham gia góp ý văn bản,… bảo
đảm tiến độ, chất lượng.).
Thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp làm việc, khắc
phục được hạn chế của năm trước để nâng cao hiệu quả 10 3 công việc (VD: Khối lượng, tiến độ, chất lượng công
việc được nâng lên so với năm trước…).
4 Có sản phẩm, thành tích nổi trội trong công việc. 5
5 Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao 30
Hoàn thành từ 90% công việc trở lên 30
Hoàn thành từ 80% đến dưới 90% công việc 25
Hoàn thành từ 70% đến dưới 80% công việc 20
Hoàn thành từ 60% đến dưới 70% công việc 15
Hoàn thành từ 50% đến dưới 60% công việc 10
Hoàn thành dưới 50% công việc 5
89
b) Kết quả đánh giá: Căn cứ trên tổng điểm đánh giá là 100 điểm, kết
quả đánh giá công chức được phân loại theo 1 trong 4 mức sau:
(1) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: Tổng điểm đạt từ 90 đến 100 điểm,
trong đó điểm đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao phải đạt từ 70
điểm trở lên;
(2) Hoàn thành tốt nhiệm vụ: Tổng điểm đạt từ 70 đến 89 điểm, trong đó
điểm đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao phải đạt từ 60 điểm trở
lên;
(3) Hoàn thành nhiệm vụ: Tổng điểm đạt từ 50 đến 69 điểm, trong đó điểm
đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao phải đạt từ 45 điểm trở lên;
(4) Không hoàn thành nhiệm vụ: Tổng điểm đạt dưới 50 điểm hoặc điểm
đánh giá về Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao đạt dưới 30 điểm.
3.3.2. Thực hiện hiệu quả phương pháp đánh giá công chức
Cần làm cho công chức thuộc Tổng cục nhận thức được ý nghĩa quan
trọng của công tác đánh giá đối với chính bản thân công chức. Kết quả đánh
giá có ý nghĩa qua trọng đến con đường phát triển của mỗi cá nhân, kết quả
đánh giá cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tổ chức.
Khuyến khích thảo luận trong quá trình đánh giá để người được đánh giá
có cơ hội được trao đổi, thảo luận về kết quả thành tích công việc của mình một
cách thoải mái và thẳng thắn. Ngoài ra, khi được nói về chính thành tích của
mình, người được đánh giá còn cảm nhận được tính công bằng của quá trình
đánh giá.
Ý kiến nhận xét phải mang tính xây dựng, người được đánh giá cần nhận
thấy những ý kiến nhận xét có tính chất phê bình là mang tính xây dựng, nhằm
mục tiêu giúp họ vượt qua những khó khăn hiện tại và cải thiện kết quả thành
tích công việc trong tương lai. Người được đánh giá sẽ bớt lo lắng về những ý
kiến phê bình và nhận thấy những ý kiến phê bình này là hữu ích, nếu như họ
nhận thấy ý định của người đánh giá mang tính xây dựng. Ngược lại, những
90
nhận xét thiếu tính xây dựng, nhận xét không rõ ràng, không được thông báo
tới người được đánh giá, không công bằng sẽ dẫn đến trạng thái bực tức, căng
thẳng, gây mâu thuẫn trong công việc, khiến người được đánh giá có hành vi
phản kháng, thái độ không công nhận yếu kém và ảnh hưởng đến kết quả thực
hiện nhiệm vụ.
Luận văn đề xuất đổi mới phương pháp đánh giá công chức như sau: việc
đánh giá công chức phải kết hợp theo dõi đánh giá thường xuyên và đánh giá
định kỳ nhằm phản ánh liên tục và kịp thời sự phát triển của công chức cũng
như điều chỉnh các mục tiêu cho phù hợp, đảm bảo đạt hiệu quả trong thực thi
công việc. Đánh giá định kỳ cơ bản mỗi năm tiến hành một lần, do công chức
lãnh đạo các đơn vị thực hiện đối với cấp dưới, hoặc cấp dưới được công chức
lãnh đạo chỉ định, tiến hành đánh giá, đánh giá, ký xác nhận đối với thành tích
và biểu hiện công tác của công chức. Đánh giá thường xuyên theo tháng hoặc
theo Quý, thủ trưởng đơn vị chấm điểm, công bố công khai, cuối năm cộng
điểm đánh giá để có được kết quả đánh giá cuối cùng.
3.3.3. Đổi mới quy trình đánh giá công chức
Hiện nay, tại Bộ Tài nguyên và Môi trường nói chung và tại Tổng Cục
Biển và Hải đảo Việt Nam nói riêng đang sử dụng Hệ thống quản lý văn bản
và hồ sơ công việc tại địa chỉ tại địa chỉhttp://hscv.monre.gov.vn gồm các phần
mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, trao đổi văn bản,
dữ liệu điện tử giữa các đơn vị thông qua các chức năng cơ bản như: quản lý
văn bản đến, văn bản đi, xử lý văn bản và hồ sơ công việc, chuyển nhận văn
bản, dữ liệu điện tử giữa các cơ quan, đơn vị qua môi trường mạng. Qua Hệ
thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc có thể nắm bắt và quản lý được quá
trình xử lý công việc của từng công chức.
a) Đối với đánh giá thường xuyên
Từ đầu tháng hoặc Quý, công chức nộp bản đăng ký thực hiện nhiệm vụ
cho thủ trưởng đơn vị. Căn cứ vào bảng mô tả vị trí việc làm, những mảng
91
nhiệm vụ công chức được giao thực thiện thông qua Hệ thống quản lý văn bản
và hồ sơ công việc, thủ trưởng đơn vị phân công văn bản, công việc phải thực
hiện cho công chức. Trên Hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc sẽ thể
hiện rõ công việc, thời gian lãnh đạo phân công, thời gian phải hoàn thành
nhiệm vụ. Cuối tháng hoặc Quý, thủ trưởng đơn vị có thể biết được trong thời
gian đó, công chức giải quyết được bao nhiêu nhiệm vụ đúng hạn, bao nhiêu
nhiệm vụ quá hạn, để từ đó đưa ra kết quả đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ
của công chức. Thông báo kết quả đánh giá đến mỗi công chức, công khai kết
quả đánh giá của tất cả công chức, công chức có thể có ý kiến phản hồi, khiếu
nại về kết quả đánh giá nếu thấy kết luận đánh giá chưa đúng với thực tế thực
hiện nhiệm vụ của mình.
Điểm quan trọng để đánh giá công chức hằng tháng, Quý là phải xây
dựng được kế hoạch công tác hằng tháng, quý rõ người, rõ việc, rõ thời gian,
tiến độ hoàn thành. Đánh giá hằng tháng, Quý không những giúp nâng cao tinh
thần trách nhiệm, ý thức tự giác trong công việc, mà còn kích thích tinh thần
sáng tạo, chủ động học tập, rèn luyện nâng cao trình độ của đội ngũ công chức,
đó cũng là căn cứ quan trọng hàng đầu để thực hiện đổi mới công tác cán bộ,
trước hết là khâu đào tạo, bồi dưỡng công chức. Việc đánh giá, xếp loại hằng
tháng, Quý cũng cũng góp phần phát huy vai trò, nâng cao ý thức trách nhiệm
của người đứng đầu đơn vị trong công tác lãnh đạo, quản lý, siết chặt kỷ cương,
chuẩn hóa và xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp,.
b) Đối với đánh giá định kỳ hàng năm
Từ đầu năm, công chức nộp bản đăng ký thực hiện nhiệm vụ trong cả
năm cho thủ trưởng đơn vị. Giai đoạn tiếp theo, công chức thực hiện các công
việc đã nêu trong bản đăng ký; người có thẩm quyền đánh giá nắm bắt công
việc, tiến độ thực hiện của công chức, ghi chép, chỉ đạo, hướng dẫn công chức
thực hiện nhiệm vụ đề ra. Giai đoạn cuối kỳ, công chức tự viết báo cáo để xác
nhận lại các nội dung công việc, tự đánh giá. Thông qua cuộc họp đánh giá, ý
92
kiến nhận xét của các cá nhân tham gia, người có thẩm quyền sẽ đánh giá ưu
điểm và khuyết điểm của công chức sau đó mới tiến hành đánh giá toàn diện,
cộng kết quả đánh giá theo từng tháng, Quý. Sau khi có được kết luận của người
có thẩm quyền đánh giá, kết quả đánh giá sẽ thông báo đến công chức, công
khai kết quả đánh giá của toàn bộ công chức trong cơ quan. Công chức có thể
khiếu nại về kết quả đánh giá.
Khi tiến hành đánh giá toàn diện bất kỳ công chức nào phải so sánh với
những công chức khác, nhưng không thể cùng so sánh công chức có những mặt
đặc biệt nổi trội và đặc biệt yếu kém với nhau. Người thực hiện công tác đánh
giá cần thiết xem xét liệu công chức được đánh giá nên tiếp tục công việc hoặc
là điều động công tác, hoặc tham gia đào tạo bồi dưỡng; đánh giá công chức cũng
chỉ rõ công chức đó có thích hợp để được đề bạt thăng chức hay không. Dựa trên
biểu hiện toàn diện của công chức trong trường hợp thích hợp để được thăng
chức như có phẩm chất ưu tú và kinh nghiệm công tác…, biểu hiện công tác thực
tế, đồng thời xem xét tình trạng sức khỏe và tuổi tác để có sự cân nhắc thích hợp.
3.3.4. Tăng cường trách nhiệm của các chủ thể tham gia đánh giá chất
lượng công chức
Tăng cường vai trò và trách nhiệm của các chủ thể tham gia công tác
đánh giá tại Tổng cục như sau:
3.3.4.1. Công chức tự đánh giá:
Mỗi công chức đều có nhiệm vụ riêng và bản thân mỗi công chức đều
biết mình phải làm gì, kết quả công tác trong năm ở mức độ nào, vì vậy cần
nâng cao tính trung thực, không né tránh trong kết quả tự đánh giá của mình,
kết quả công tác mà mình đã thực hiện. Trên cơ sở Phiếu đánh giá và hệ thống
các tiêu chí đã được đưa ra, mỗi công chức thực hiện việc đánh giá bằng cách
tự chấm điểm mỗi tiêu chí đã đạt được trong năm và đánh giá kết quả, đây là
cơ sở để tập thể công chức trong cơ quan cùng thảo luận, góp ý, là ý kiến tham
khảo để người có thẩm quyền đánh giá và quyết định xếp loại công chức.
93
3.3.4.2. Công chức cùng làm việc đánh giá:
Theo quy định hiện hành thì công chức của mỗi đơn vị trong Tổng cục
chỉ tham gia thảo luận, góp ý bản tự nhận xét, đánh giá của công chức khác tại
cuộc đánh giá công chức hàng năm. Tại các cuộc họp, do tâm lý ngại va chạm,
nể nang nên gần như không có được các ý kiến góp ý thẳng thắn và chính xác.
Mặt khác, ý kiến góp ý của các công chức khi tham gia Hội nghị công chức chỉ
có tác dụng để người có thẩm quyền đánh giá tham khảo để đưa ra kết luận
đánh giá chứ không phải là căn cứ để đánh giá nên cần xây dựng các tiêu chí
cụ thể để công chức cùng làm việc có thể đánh giá về đồng nghiệp của mình.
Việc phát huy sự tham gia đánh giá của các công chức khác trong cơ quan
không chỉ đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan, chính xác hơn mà nó
còn đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động của toàn cơ quan nói chung và công
tác tổ chức cán bộ nói riêng. Sự đánh giá của công chức trong cơ quan đối với
đồng nghiệp còn là sự kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực thi công vụ, hạn
chế những hành vi đùn đẩy, thoái thác nhiệm vụ được giao cũng như những
hành vi nhũng nhiễu, vi phạm pháp luật, qua đó đảm bảo tính công bằng trong
đánh giá công chức.
Để công tác đánh giá được khách quan, mỗi công chức trong cơ quan
phải nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không để định kiến cá nhân ảnh hưởng
đến kết quả đánh giá; xây dựng hệ thống tiêu chí rõ ràng, cụ thể, sát với công
việc của từng công chức để mọi công chức đều có thể lượng hóa kết quả thực thi
công vụ của đồng nghiệp để có thể có ý kiến nhận xét chính xác. Cần đào tạo bồi
dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ những người thực hiện công tác tham mưu
trong đánh giá công chức, xác định yêu cầu về phẩm chất chính trị và năng lực
của đội ngũ công chức thực hiện công tác về tổ chức cán bộ.
3.3.4.3. Thủ trưởng cơ quan đánh giá công chức:
Người có thẩm quyền đánh giá phải có trình độ, kinh nghiệm và sự công
bằng. Để có được kết quả đánh giá phản ánh đúng thành tích công việc của
94
công chức, người đứng đầu cơ quan phải là người có chuyên môn, có kiến
thức và được tín nhiệm để dẫn dắt quá trình đánh giá đảm bảo đúng quy trình,
sử dụng kết quả đánh giá đúng thực tế, tạo bầu không khí cởi mở, sẵn sàng
tiếp thu các ý kiến góp ý, nhận xét về công chức thuộc thẩm quyền quản lý và
không né tránh khi đánh giá cấp dưới, chịu trách nhiệm về kết quả đánh giá.
Người đứng đầu cơ quan cần gần gũi, tiếp xúc và am hiểu công việc phân
công cho công chức cũng như quá trình phấn đấu, lao động của cấp dưới để
đánh giá được chính xác; cần tạo dựng môi trường làm việc đoàn kết, thống
nhất để công chức xác định rõ đánh giá công chức trong cơ quan là để giúp
nhau cùng tiến bộ, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu chung của
Tổng cục.
Nâng cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, tuy có nhiều
chủ thể tham gia vào quá trình đánh giá công chức nhưng đánh giá của người
đứng đầu đơn vị là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến kết quả đánh giá.
Trên thực tế, tại một số đơn vị, người đứng đầu rất ngại đánh giá công chức
không hoàn thành nhiệm vụ vì hai năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ là
phải giải quyết thôi việc cho công chức.
3.3.4.4. Đánh giá của địa phương nơi cú trú:
Chính quyền địa phương không quản lý công chức thuộc Tổng cục nhưng
chính quyền đại phương lại quản lý việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công
chức tại địa phương, vì vậy cần có sự tham gia của chính quyền địa phương
trong đánh giác công chức. Hàng năm, trước khi tiến hành đánh giá công chức,
cơ quan quản lý, sử dụng công chức có văn bản đề nghị chính quyền địa phương
đánh giá công chức trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân cũng
như đạo đức, tác phong, lối sông của công chức tại nơi cư trú.
95
3.3.5. Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá chất lượng công chức hàng
năm cho hoạt động quản lý công chức
Triển khai thực hiện nghiêm túc sử dụng kết quả đánh giá công chức đã
được quy định cụ thể tại Điều 21 Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá và
phân loại cán bộ, công chức, viên chức. Việc sử dụng kết quả đánh giá công
chức được quy định như sau: Kết quả đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ,
công chức, viên chức là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng
ngạch hoặc thăng hạng chức danh nghề nghiệp, quy hoạch, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, khen thưởng, kỷ luật, đánh giá và xếp
loại chất lượng đảng viên và thực hiện các chính sách khác đối với cán bộ, công
chức, viên chức.
Theo Khoản 12, Điều 1 Luật cán bộ, công chức 2019:Công chức 02 năm
liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ thì cơ
quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cho thôi việc; Công chức giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý có 02 năm liên tiếp trong thời hạn bổ nhiệm được xếp loại chất
lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ thì bố trí công tác khác hoặc không
bổ nhiệm lại; Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong 03 năm có
02 năm không liên tiếp được xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành
nhiệm vụ ở vị trí việc làm đang đảm nhận thì bố trí vào vị trí việc làm có yêu
cầu thấp hơn.
Sử dụng kết quả đánh giá công chức hướng tới khen thưởng kịp thời các
thành tích mà công chức đã đạt được, biểu dương các cá nhân lập thành tích
xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ nhằm tạo động lực cho công chức phấn đấu
hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, khắc phục những điểm còn hạn chế
trong thực hiện nhiệm vụ. Tổng cục cần quan tâm, sử dụng hiệu quả kết quả
công tác đánh giá công chức vào việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hàng năm,
điều này sẽ tạo điều kiện cho công chức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được
96
giao ở mức cao nhất, nêu cao vai trò, trách nhiệm của từng công chức khi tham
gia đánh giá công chức hàng năm.
Hiện nay đang áp dụng tỷ lệ trần đối với danh hiệu chiến sĩ thi đua, công
chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, quy định bầu các danh hiệu thi đua cuối
năm không dựa trên kết quả làm việc mà căn cứ vào kết quả bầu trên tỷ lệ đã
khống chế làm ảnh hưởng tới ý kiến của tập thể. Do đó, dẫn đến trong một đơn
vị có nhiều công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm công tác nhưng
vì đã áp tỷ lệ nên chỉ xếp theo đúng tỷ lệ 20%, còn lại chỉ xếp loại ở mức hoàn
thành tốt nhiệm vụ, mặc dù họ hoàn toàn xứng đáng. Ngược lại, có những đơn
vị không làm tốt nhưng vì được phép đạt tỷ lệ 20% đã quy định nên vẫn đưa
những người chưa xứng đáng vào danh sách, thậm chí nhiều đơn vị lựa chọn
công chức trong đơn vị mình luân phiên nhau được khen thưởng mỗi năm trong
khi chưa có kết quả làm việc của năm sau để tránh mất quyền lợi, ai đến lượt
cũng sẽ được khen thưởng, nâng lương trước thời hạn. Như vậy, việc khống
chế tỷ lệ khen thưởng dẫn đến các công chức trong đơn vị nhường nhau danh
hiệu, danh hiệu cao thường là lãnh đạo đơn vị và người xuất sắc ở đơn vị này
nhiều khi không bằng người bình thường ở đơn vị khác. Kéo dài tình trạng này
khiến cho công chức dù có hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao nhưng do
tâm lý nể nang, nhường nhau từng năm nên khó đạt danh hiệu liên tục 3 năm,
6 năm… để nhận được bằng khen của cấp trên.
Công tác đánh giá công chức cuối năm hiện nay chủ yếu được tiến hành
để xếp loại các danh hiệu thi đua của công chức trong năm, từ đó làm động lực
khuyến khích công chức thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ của mình trong
năm kế tiếp. Tuy nhiên, với cách đánh giá như trên đã làm hạn chế tư duy phấn
đấu của những công chức tâm huyết và thực sự có năng lực khi những nỗ lực
của họ không được ghi nhận, mà cào bằng về mặt quyền lợi với những công
chức khác.
97
Kết quả đánh giá không phản ánh đúng hiệu quả làm việc thực tế của từng
công chức dẫn đến một số vấn đề mà trong các đơn vị thuộc Bộ Tài nguyên và
Môi trường nói chung và Tổng cục Biển và Hải đảo nói riêng gặp phải sau đây:
Một là, một bộ phận công chức có năng lực xin ra khỏi bộ máy hành
chính nhà nước. Vấn đề cơ bản khiến công chức có năng lực rời bỏ làm việc
trong cơ quan nhà nước không do mức tiền lương, mà do cách đánh giá bình
quân khiến cho những công chức có năng lực không thể tự khẳng định mình,
không được thừa nhận những đóng góp của họ cho công việc.
Hai là, không ít công chức không có động lực làm việc, thờ ơ với chức
trách, nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, một số công chức không phấn đấu
nâng cao năng lực chuyên môn, chỉ tập trung xây dựng các mối quan hệ để có
được nhận xét, đánh giá tốt từ người đứng đầu đơn vị, từ đồng nghiệp.
Vì vậy, nếu đánh giá không đúng hiệu quả thực thi công việc của công
chức sẽ dẫn tới thái độ và chất lượng hiệu quả làm việc của công chức sẽ giảm
xuống, gây ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý nhà nước
Để sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá công chức, người đứng đầu các
đơn vị thuộc Tổng cục cần phổ biến đến từng công chức tầm quan trọng của
công tác đánh giá, để mỗi công chức nhận biết được quyền lợi của mình khi
thực hiện nghiêm túc công việc, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sẽ
được những lợi ích về nâng lương, khen thưởng….
3.3.6. Công khai, minh bạch và tăng cường công tác thanh tra, kiểm
tra, kiểm soát công tác đánh giá công chức
Đánh giá công chức là công tác quan trọng, liên quan trực tiếp đến quá
trình phấn đấu của công chức, để kết quả đánh giá được chính xác cần phải
công khai, minh bạch trong đánh giá công chức. Công khai việc đánh giá công
chức giúp cho công chức và thủ trưởng đơn vị quản lý công chức có sơ sở để
phát huy những ưu điểm, điểm mạnh trong thực thi công vụ và tìm ra những
khuyết điểm, hạn chế để công chức tìm cách khắc phục, rút kinh nghiệm.
98
- Các nội dung cần công khai trong đánh giá công chức bao gồm:
+ Công khai công cụ và tiêu chuẩn đánh giá: công cụ đánh giá được xây
dựng thành bảng đánh giá, phiếu đánh giá với hệ thống tiêu chí được xây dựng
cụ thể, phù hợp với vị trí việc làm mà công chức đảm nhận.
+ Công khai nhận xét, đánh giá việc chấp hành chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của công dân
tại địa phương nơi cư trú.
+ Công khai nhận xét, góp ý, đánh giá của tập thể công chức cơ quan,
đơn vị; đối với công chức là người đứng đầu đơ vị cần công khai ý kiến nhận
xét, góp ý, đánh giá của cấp ủy.
+ Công khai quy trình, phương pháp đánh giá: quy trình đánh giá công
chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và công chức không giữ chức vụ lãnh đạo,
quản lý gồm những bước nảo, thứ tự các bước đánh giá.
+ Công khai kết quả đánh giá: sau khi có kết luận đánh giá của cấp có
thẩm quyền về kết quả đánh giá công chức cần có thông báo kết quả đánh giá.
Kết quả đánh giá, phân loại công chức phải được niêm yết tại trụ sở cơ quan để
mọi công chức được biết. Công chức có quyền khiếu nại về kết quả đánh giá,
phân loại; thủ trưởng cơ quan, đơn vị cần tiếp thu những ý kiến khiếu nại và
giải quyết theo quy định. Mọi công chức đều có quyền khiếu nại về kết quả
đánh giá, phân loại đối với bản thân mình cũng như đối với công chức khác
trong cơ quan. Đây là cách thức hiệu quả để mọi công chức tham gia giám sát
quá trình thực thi công vụ và kết quả đánh giá công chức của người có thẩm
quyền. Qua đó, ý thức trách nhiệm, đạo đức, lối sống và kết quả thực thi công
vụ của công chức được nâng cao hơn cũng như đảm bảo cho kết quả đánh giá
công chức được chính xác và khách quan hơn.
- Cách thức công khai:
+ Công khai thông qua các hội nghị của cơ quan phổ biến những nội
dung, kế hoạch đánh giá để công chức được biết, thông qua hội nghị, thủ trưởng
99
cơ quan phổ biến, quán triệt các nội dung, quy trình đánh giá đến toàn thể công
chức trong cơ quan.
+ Công khai sự phát huy sự tham gia của các công chức trong cơ quan
vào quá trình đánh giá công chức. Công chức vừa được đánh giá, vừa tham gia
vào quá trình đánh giá, biết được nội dung quá trình và kết quả đánh giá.
Cùng với nâng cao tính công khai, minh bạch cần tăng cường công tác
kiểm tra, kiểm soát công tác đánh giá công chức nhằm đảm bảo sự công bằng
trong công tác đánh giá và xử lý những vi phạm trong đánh giá công chức như
đánh giá chưa nghiêm túc, sai quy trình….để công tác đánh giá được chính xác,
khách quan, tạo động lực để công chức phấn đầu hoàn thành tốt nhiệm vị
chuyên môn được giao; đồng thời khen thưởng những công chức, cơ quan, đơn
vị có thành tích tốt, tích cực trong đánh giá công chức.
3.3.7. Đề xuất thay đổi quy trình đánh giá
Luận văn xin đề xuất quy trình đánh giá theo từng tháng và đánh giá công
chức do người đứng đầu đơn vị trực tiếp thực hiện, cụ thể như sau:
- Đầu kỳ đánh giá, cấp trên trực tiếp gặp gỡ trao đổi, đặt ra mục tiêu đối
với từng cá nhân, công chức tự viết đề xuất theo vị trí công việc được giao và
xác định các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện công việc, xác định độ khó và
tính cần thiết; làm rõ các nội dung đánh giá, những phẩm chất cần thiết để thực
hiện được mục tiêu. Người có thẩm quyền tiến hành thẩm định các nội dung này
trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp và qua bản đăng ký thực hiện nhiệm vụ.
- Giai đoạn tiếp theo, công chức thực hiện các công việc đã nêu trong
bản đăng ký; người có thẩm quyền đánh giá nắm bắt công việc, tiến độ thực
hiện của công chức, ghi chép, chỉ đạo, hướng dẫn công chức thực hiện nhiệm
vụ đề ra.
- Giai đoạn cuối kỳ đánh giá, công chức tự viết báo cáo để xác nhận lại
các nội dung công việc, tự đánh giá, người có thẩm quyền đánh giá công chức
100
trực tiếp phỏng vấn đối với công chức, đưa ra ý kiến và chấm điểm thực hiện
nhiệm vụ của công chức (Bảng chấm điểm thực hiện như mục 3.1).
- Công khai điểm chấm việc thực hiện nhiệm vụ công chức.
Đến cuối năm, để có kết quả đánh giá cuối cùng, cộng điểm kết quả thực
hiện nhiệm vụ và tổng điểm của từng tháng, chia trung bình 12 tháng để có kết
quả đánh giá công tác và phân loại công chức của cả năm (Phân loại công chức
theo điểm chấm như mục 3.1).
Thực hiện đánh giá công chức do người đứng đầu đơn vị trực tiếp thực
hiện, không thông qua họp Hội nghị công chức có những ưu điểm và hạn chế
như sau:
- Về ưu điểm: đánh giá công chức không thông qua họp Hội nghị sẽ góp
phần tiết kiệm thời gian thực hiện quá trình đánh giá. Bên cạnh đó, người đứng
đầu đơn vị là người đánh giá chính xác nhất năng lực của công chức khi trực
tiếp giao việc với mức độ và tính chất công việc mà chỉ cấp trên mới đánh giá
được qua quá trình giao việc, thử việc, trang bị kiến thức và đào tạo kỹ năng
nghiệp vụ liên quan trực tiếp tới hoạt động lãnh đạo, quản lý của người đứng
đầu đơn vị.
- Về hạn chế: theo quy định hiện nay, việc sử dụng hình thức bỏ phiếu,
lấy phiếu tập thể trong quy trình bổ nhiệm và bổ nhiệm lại công chức lãnh đạo
khiến cho người có thẩm quyền đánh giá có tâm lý ngại va chạm đối với cấp
dưới để tránh trường hợp không đủ số lượng phiếu bầu khi được bổ nhiệm hay
bổ nhiệm lại.
Việc lấy phiếu tín nhiệm, phiếu bầu trong công tác bổ nhiệm cán bộ làm
phát sinh vấn đề bất cập như sau: thứ nhất, là người đứng đầu không đánh giá
đúng năng lực của công chức đơn vị mình để tránh va chạm với cấp dưới; thứ
hai, người được tập thể bầu vào chức vụ lãnh đạo nhiều khi lại không có năng
lực thực sự mà chỉ vì ít va chạm, được lòng cấp dưới nên nhận được sự ủng hộ
của tập thể.
101
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở lý luận về đánh giá công chức và thực tiễn công tác đánh giá,
dựa trên những ưu điểm, tồn tại, hạn chế của công tác đánh giá tại Tổng cục
Biển và Hải đảo Việt Nam, luận văn đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện
và nâng cao chất lượng công tác đánh giá công chức tại Tổng cục, đó là: thực
thi hiệu quả phương pháp đánh giá công chức, vận dụng tiêu chí đánh giá công
chức, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể tham gia đánh giá công chức, sử
dụng hiệu quả kết quả đánh giá công chức hàng năm cho hoạt động quản lý
công chức, công khai minh bạch và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,
kiểm soát công tác đánh giá công chức. Những giải pháp trên mang tính cơ bản,
thực hiện tốt sẽ góp phần hoàn thiện hơn công tác đánh giá công chức tại Tổng
cục Biển và Hải đảo Việt Nam.
102
KẾT LUẬN
Công cuộc cải cách hành chính nhà nước đã và đang đặt ra những yêu
cầu, đòi hỏi phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy cũng như
của mỗi công chức nhà nước để hướng tới xây dựng nền hành chính hiện đại.
Đối với Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, chịu trách nhiệm tham mưu giúp
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ
môi trường biển và hải đảo; quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ
công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Tổng cục theo quy định của pháp
luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của Bộ. Để nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động của Tổng cục cũng như hiệu quả thực thi công vụ của mỗi
công chức thuộc Tổng cục, công tác đánh giá cần đặc biệt được quan tâm, chú
trọng. Đánh giá công chức nhằm không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị,
đạo đức cách mạng, làm rõ năng lực, trình độ chuyên môn, kết quả công tác
làm căn cứ để bố trí, sử dụng, xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,
sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện
các chính sách đối với công chức, vì vậy công tác đánh giá được xem là hoạt
động thường xuyên, có vai trò quan trọng quyết định đến hiệu quả sử dụng công
chức và hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước nói chung và Tổng cục Biển
và Hải đảo Việt Nam nói riêng.
Công tác đánh giá công chức tại Tổng cục đã đạt được những kết quả
nhất định nhưng cũng tồn tại nhiều hạn chế, làm ảnh hưởng đến hiệu quả công
tác cũng như việc quản lý công chức. Những tồn tại, hạn chế có cả nguyên nhân
khách quan và chủ quan. Để xây dựng đội ngũ công chức thực hiện tốt nhiệm
vụ quản lý tổng hợp và thống nhất về lĩnh vực biển, hải đảo thì công tác quản
lý, sử dụng công chức cần được chú trọng nhiều hơn, trong đó có công tác đánh
giá công chức.
103
Những giải pháp đưa ra nhằm hoàn thiện công tác đánh giá công chức
hàng năm tại Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trên cần được áp dụng đồng
bộ để công tác đánh giá công chức được khách quan, chính xác, qua đó góp
phần quan trọng cho công tác quản lý, sử dụng công chức, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước của Tổng cục trong những năm tới.
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Kết luận Hội nghị lần thứ chín
về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Báo cáo chính trị tại Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
3. Ban Tổ chức Trung ương (2019), Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày
18/10/2019 hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm
đối với các tổ chức đảng, đảng viên và tập thể, cá nhân cán bộ lãnh đạo,
quản lý các cấp.
4. Bộ Chính trị (2010), Quyết định số 286-QĐ/TW ngày 08/02/2010 về ban
hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức.
5. Bộ Chính trị (2015), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 về tinh giản
biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
6. Bộ Chính trị (2017), Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 quy định
khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ
lãnh đạo, quản lý các cấp.
7. Bộ Chính trị (2017), Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2007 quy định
phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
8. Bộ Chính trị (2018), Quy định số 132-QĐ/TW quy định về việc kiểm điểm,
đánh giá xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ
thống chính trị.
9. Bộ Nội vụ (2018), Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính.
10. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT
ngày 06/12/2017 ban hành Quy chế đánh giá và phân loại công chức, viên
chức thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
11. Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (2008), Quyết định
105
số 11/1998/QĐ-CCVC ngày 05/12/2008 Quy chế đánh giá công chức
hàng năm.
12. Chính phủ (2010), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 Quy định
về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
13. Chính phủ (2015), Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về đánh
giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.
14.Chính phủ (2017), Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP về
đánh giá và phân loại cán bộ, công chức và viên chức.
15.Chính phủ (2020), Nghị định số 90/2020/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2020
của Chính phủ về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên
chức.
16. Đỗ Minh Cương (2009), Quy hoạch và đánh giá cán bộ, NXB Chính trị
quốc gia.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
18. Nguyễn Thị Hồng Hải (12/2012), Đánh giá thực thi công vụ nhằm đảm
bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức hành chính nhà nước, Tạp chí Tổ
chức Nhà nước.
19. Nguyễn Hữu Hải - ThS. Lê Văn Hòa (3/2010), Tiêu chí đánh giá chất
lượng cung ứng dịch vụ công tại các cơ quan HCNN”,Tạp chí Tổ chức
Nhà nước.
20. Tạ Ngọc Hải (5/2008), “Vài nét về công chức và Luật Công chức ở một
số nước”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, tr 43-44.
21. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), “Hoàn thiện phương pháp đánh
giá cán bộ, công chức hàng năm”, Đề tài khoa học cấp bộ.
22. Nguyễn Thu Huyền (12/2006), “Kinh nghiệm đánh giá công chức của một
số nước trên thế giới”, Tạp chí Quản lý Nhà nước.
106
23. Chu Xuân Khánh và Đào Thị Thanh Thủy (07/2011), “Đổi mới công tác
đánh giá công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước”, Tạp chí Tổ
chức Nhà nước.
24. Hà Quang Ngọc (2011), “Đổi mới phương pháp đánh giá công chức trong
các cơ quan hành chính nhà nước”, Đề tài khoa học cấp bộ.
25. Lê Quang (6/2009), “Đánh giá, sử dụng cán bộ, công chức ở một số nước
trên thế giới”, Tạp chí Xây dựng Đảng, tr.59.
26. Phạm Tất Thắng (8/2010), “Những đổi mới trong quy chế đánh giá
CBCC”, Tạp chí Quản lý Nhà nước.
27. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2008), Luật Cán bộ, công chức.
28. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2019), Luật Cán bộ, công chức.
29. Trần Kim Dung (1997), Quản trị Nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục.
30. Trịnh Xuân Thắng (2016), “Đổi mới công tác đánh giá công chức ở nước
ta hiện nay”.
31. Đào Thị Thanh Thủy (12/2010), “Các tiêu chí đánh giá chất lượng công
chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước.
32. Đào Thị Thanh Thủy (2016), Đánh giá công chức theo kết quả thực thi
công vụ, Luận ántiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính
Quốc gia.
33. Trần Anh Tuấn (11/2007), “Về công tác đánh giá trong quản lý đội ngũ
công chức”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, tr 20-22.
34. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2018), Quyết định số 666/QĐ-
TCBHĐVN của Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
ngày 28/12/2018 ban hành Quy chế đánh giá và phân loại công chức, viên
chức thuộc Tổng cục.
35. Vũ Thị Ngọc Dung (2018), Hoàn thiện quy trình đánh giá công chức,
website Viện Quản lý và Phát triển năng lực tổ chức.
36. Lê Chí Hoại (2017), Đánh giá công chức tại các cơ quan chuyên môn
107
thuộc Ủy ban nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, Luận vănthạc sĩ
Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.
37. GS.TS Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Đại học Quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh.
108
PHỤ LỤC
Phụ lục 1. Phiếu đánh giá và phân loại công chức
(Ban hành kèm theo Quyết định số Quyết định số 3113/QĐ-BTNMT
ngày 06 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mẫu M3
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(ĐƠN VỊ)
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 20…
PHIẾU ĐÁNH GIÁ VÀ PHÂN LOẠI CÔNG CHỨC
Năm...........
Họ và tên: Mã số ngạch: 01.003
Chức vụ, chức danh: Bậc lương:
Đơn vị công tác:
I. TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC, TU DƯỠNG RÈN LUYỆN
1. Nhóm tiêu chí về tư tưởngchính trị; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức
kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc
a) Tư tưởng chính trị
- Việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước và các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật Đảng, nhất là nguyên tắc tập
trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.
- Về quan điểm, bản lĩnh, lập trường chính trị.
- Việc nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các đợt sinh hoạt chính trị, cập
nhật kiến thức mới.
b) Đạo đức, lối sống
- Lối sống, tác phong làm việc tại nơi công tác và nơi cư trú.
- Việc thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực, quan liêu, tham nhũng,
109
lãng phí; phòng, chống các biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa”.
- Tinh thần đoàn kết nội bộ.
c) Tác phong, lề lối làm việc
- Tinh thần, thái độ trách nhiệm đối với công việc.
- Phương pháp, cách thức tổ chức và thực hiện công việc.
- Tinh thần hợp tác, phối hợp, hướng dẫn các đồng chí, đồng nghiệp.
d) Ý thức tổ chức kỷ luật
- Việc tuân thủ những điều đảng viên, công chức làm không được làm.
- Việc chấp hành sự phân công của tổ chức.
- Việc thực hiện các quy định, quy chế, nội quy của cơ quan, đơn vị.
- Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo với cấp trên.
- Việc thực hiện kê khai và công khai tài sản, thu nhập theo quy định.
2. Năng lực, trình độ chuyên môn; tinh thần học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ
a) Hiểu biết về lĩnh vực chuyên môn.
b) Khả năng tư duy, tổng hợp, dự báo, tham mưu giải quyết công việc
bảo đảm chất lượng, tiến độ; đặc biệt là công việc khó khăn, phức tạp, nhạy
cảm.
c) Kết quả học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; hoàn thiện
tiêu chuẩn chức danh, chức vụ (qua các hình thức đào tạo ngắn hạn, dài hạn, tự
đào tạo….) và ứng dụng kiến thức, kỹ năng trong công tác.
3. Khối lượng, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ
a) Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch trong công tác hàng năm của cá
nhân.
b) Kết quả công tác thực hiện trong năm. Những công việc đã giải quyết
đúng hạn; những việc giải quyết còn chậm, gặp khó khăn hoặc chưa giải quyết.
110
c) Những văn bản, kế hoạch, công trình, đề án, đề tài đã chủ trì soạn thảo
hoặc tham gia soạn thảo (nếu có).
d) Những đề xuất, sáng kiến được chấp nhận, thực hiện.
đ) Việc giải quyết các kiến nghị của các tổ chức, cá nhân theo quy định.
4. Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ
a) Tinh thần trách nhiệm trong công tác; thực hiện chỉ đạo của cấp trên.
b) Mối quan hệ, phối hợp công tác giữa các công chức trong cơ quan với
các đơn vị, tổ chức khác.
5. Thái độ phục vụ Nhân dân
a) Thái độ tích cực, tinh thần phục vụ trong tiếp xúc, làm việc, giải quyết
công việc; lắng nghe ý kiến của tổ chức và công dân.
b) Giải quyết hồ sơ đúng quy định, không gây phiền hà, khó khăn cho
người đề nghị giải quyết.
6. Chiều hướng và triển vọng phát triển
a) Đánh giá lĩnh vực công chức có khả năng phát huy tốt năng lực, sở
trường.
b) Tinh thần học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
c) Xác định chuyên môn, lĩnh vực cần tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo.
PHẦN DÀNH RIÊNG CHO CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
7. Kết quả hoạt động của đơn vị, tổ chức được giao lãnh đạo, quản lý,
phụ trách hoặc điều hành.
8. Năng lực tổ chức, chỉ đạo, điều hành, quản lý đơn vị, tổ chức.
9. Kết quả tham mưu, hoạch định, cụ thể hóa, chỉ đạo thực hiện, hướng
dẫn kiểm tra các chủ trương, chính sách, kế hoạch trong phạm vi lĩnh vực, mặt
công tác được phân công.
10. Kết quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính, chế
độ công vụ, công chức; chỉ đạo, giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của
tổ chức và công dân thuộc thẩm quyền.
111
11. Tinh thần hợp tác, phối hợp trong và ngoài đơn vị, tổ chức. Năng lực
tập hợp, đoàn kết, quy tụ công chức trong thực hiện nhiệm vụ chung; mức độ
tín nhiệm trong và ngoài đơn vị, tổ chức.
12. Các nội dung đánh giá đối với người đứng đầu đơn vị thuộc Bộ.
II. TỰ ĐÁNH GIÁ, PHÂN LOẠI
1. Tự đánh giá:
a) Ưu điểm chính:
.........................................................................................................................
b) Mặt cần hoàn thiện, khắc phục:
.........................................................................................................................
2. Phân loại đánh giá:
(Phân loại đánh giá theo 1 trong 4 mức sau: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực;
không hoàn thành nhiệm vụ)
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
Ngày tháng năm 20....
Người tự đánh giá
(ký tên, ghi rõ họ và tên)
III. Ý KIẾN CỦA TẬP THỂ ĐƠN VỊ
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
(Phần này ghi tóm tắt ý kiến phát biểu, nhận xét, đánh giá về công chức được
đánh giá tại hội nghị (cuộc họp) đánh giá công chức của đơn vị, tổ chức)
112
IV. Ý KIẾN KẾT LUẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ VỀ KẾT QUẢ
ĐÁNH GIÁ, PHÂN LOẠI CÔNG CHỨC
1. Nhận xét
a) Ưu điểm chính
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
b) Mặt cần hoàn thiện, khắc phục
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
2. Kết quả đánh giá, phân loại công chức:
.............................................................................................................................
(Phân loại đánh giá theo 1 trong 4 mức sau: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
hoàn thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực;
không hoàn thành nhiệm vụ)
Ngày tháng năm 20....
Thủ trưởng đơn vị
(ký tên, ghi rõ họ và tên)
113
Phụ lục 2. Phiếu tự đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ
công tác của cá nhân
(Ban hành kèm theo Công văn số 6531/BTNMT-TCCB ngày 09 tháng 12
năm 2019 của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Mẫu M1
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(ĐƠN VỊ) Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
………, ngày tháng …. năm 20…..
PHIẾU TỰ ĐÁNH GIÁ, PHÂN LOẠI MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH
NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA CÁ NHÂN
Năm ……………
- Họ và tên:
- Chức vụ (nếu có):
- Đơn vị công tác:
ĐIỂM ĐIỂM GHI CC,VC TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
Ý thức tổ chức kỷ luật, phẩm chất đạo đức
(Ở từng tiêu chí trừ 01 điểm/lần vi phạm.
Trường hợp đã trừ hết số điểm của tiêu chí I 15
nhưng tiếp tục vi phạm thì trừ tiếp vào tổng số
điểm đạt được trước khi phân loại.).
Thực hiện tốt Quy định chuẩn mức đạo đức nghề
nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, người
1 lao động ngành tài nguyên và môi trường (ban 3
hành theo Quyết định số 117-QĐ/BCSĐTNMT
ngày 11/4/2014 của Ban Cán sự đảng Bộ Tài
114
ĐIỂM ĐIỂM GHI CC,VC TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
nguyên và Môi trường); Quy định số 77-
QĐ/BCSĐTNMT ngày 28/6/2019 của Ban Cán
sự đảng Bộ Tài nguyên và Môi trường về Trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết
là Uỷ viên Ban Cán sự đảng, Uỷ viên Ban Thường
vụ, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bộ, cán bộ
lãnh đạo chủ chốt các cấp thuộc Bộ Tài nguyên và
Môi trường và Quy định của cơ quan, đơn vị (nếu
có)
Chấp hành nghiêm sự chỉ đạo, phân công
nhiệm vụ của cấp có thẩm quyền (VD: Thực
hiện đúng, kịp thời chỉ đạo của cấp trên, bao 4 2 gồm cả những ý kiến chỉ đạo trực tiếp; chấp
hành sự phân công, điều động của cấp có thẩm
quyền;…).
Chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị
(VD: Đi làm đúng giờ; tham dự đầy đủ, đúng 4 3 thành phần, đúng giờ các cuộc họp, hội nghị khi
được mời/triệu tập;…).
Thực hiện tốt về giao tiếp và ứng xử đối với
Nhân dân; đối với cấp trên, cấp dưới và đồng
4 nghiệp (VD: Không vi phạm quy định về “Văn 4
hóa giao tiếp ở công sở”, “Văn hóa giao tiếp
với Nhân dân”…).
115
ĐIỂM ĐIỂM GHI TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CC,VC TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
Năng lực và kỹ năng
- Các tiêu chí được phép chấm điểm lẻ đến 0,5
điểm. 15 II - Công chức, viên chức lựa chọn một trong các
phần A hoặc B hoặc C theo chức trách, nhiệm
vụ.
15 A Đối với người đứng đầu đơn vị trực thuộc Bộ
Thực hiện tốt việc quy tụ, tập hợp công chức,
viên chức, người lao động xây dựng đơn vị đoàn
1 kết, thống nhất (VD: Đơn vị không có hiện tượng 3
mất đoàn kết nội bộ; không có tình trạng đơn thư
kéo dài;…).
Chỉ đạo, điều hành, kiểm soát việc thực hiện
nhiệm vụ của đơn vị đảm bảo kịp thời, không
2 bỏ sót nhiệm vụ, nhất là việc giải quyết thủ tục 4
hành chính (TTHC) đối với người dân, doanh
nghiệp.
Chỉ đạo, thực hiện phối hợp công tác tốt với địa
phương, cơ sở và hướng dẫn giải quyết những
vấn đề thuộc thẩm quyền được phân cấp và theo
3 quy định của pháp luật (VD: Trả lời, giải đáp, 3
hướng dẫn kịp thời các kiến nghị, đề nghị
hướng dẫn,… của địa phương, cơ sở; thực hiện
tốt việc phối hợp xử lý các vấn đề về quản lý
116
ĐIỂM ĐIỂM GHI TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CC,VC TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
nhà nước thuộc lĩnh vực được phân công phụ
trách tại địa phương, cơ sở;…).
Kịp thời phát hiện, tham mưu với Lãnh đạo Bộ
giải quyết các vấn đề phát sinh từ thực tiễn
(phản ứng chính sách) trong phạm vi đơn vị,
lĩnh vực được phân công phụ trách (VD: Các 4 3 vụ việc thuộc phạm vi lĩnh vực được phân công
phụ trách, nhất là các vụ việc lớn, phức tạp,
được phát hiện, báo cáo, tham mưu phương án
giải quyết kịp thời với lãnh đạo Bộ.).
Có sản phẩm, thành tích nổi trội trong công 5 2 việc.
Đối với công chức, viên chức lãnh đạo, quản
15 B lý các cấp (trừ người đứng đầu đơn vị trực
thuộc Bộ)
Thực hiện tốt việc quy tụ, tập hợp công chức,
viên chức, người lao động xây dựng đơn vị đoàn
1 kết, thống nhất (VD: Đơn vị không có hiện tượng 3
mất đoàn kết nội bộ; không có tình trạng đơn thư
kéo dài;…).
Chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đơn vị
2 đảm bảo kịp thời, không để chậm, bỏ sót nhiệm 4
vụ.
117
ĐIỂM ĐIỂM GHI TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CC,VC TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
Chỉ đạo, thực hiện phối hợp công tác tốt với tổ
chức, cá nhân liên quan trong thực hiện nhiệm
vụ (VD: Việc trả lời, hướng dẫn các cơ quan, 3 3 đơn vị, cá nhân khi có đề nghị; việc tham gia
góp ý văn bản, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ
được giao phối hợp, chủ trì;…).
Phát hiện, tham mưu kịp thời với cấp có thẩm
quyền các nhiệm vụ, giải pháp để giải quyết
những vấn đề phát sinh từ thực tiễn hoặc những
vấn đề mới (VD: Tham mưu kịp thời việc cụ thể
4 hóa, triển khai thực hiện các chủ trương, chính 3
sách mới của Đảng, Nhà nước mà không đợi
chỉ đạo từ cấp trên; việc chủ động đề xuất các
giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát
sinh trong lĩnh vực, đơn vị được phân công;…).
Có sản phẩm, thành tích nổi trội trong công 2 5 việc.
Đối với công chức, viên chức không giữ chức 15 C vụ lãnh đạo, quản lý
Báo cáo kịp thời, chính xác với lãnh đạo về tình
hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao;
1 chủ động đề xuất, tham mưu giải quyết công 5
việc bảo đảm chất lượng, tiến độ (VD: Những
vấn đề khó khăn, phức tạp,… phát sinh trong
118
ĐIỂM ĐIỂM GHI CC,VC TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
quá trình thực hiện nhiệm vụ phải được báo cáo
kịp thời với cấp trên để có hướng giải quyết;
khi được giao nhiệm vụ, phải chủ động xây
dựng kế hoạch/phương án triển khai bảo đảm
chất lượng, tiến độ công việc;…).
Phối hợp công tác tốt với tổ chức, cá nhân liên
quan trong thực hiện nhiệm vụ (VD: Thực hiện
việc trao đổi, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể, kịp
2 thời với các tổ chức, cá nhân khi thực hiện 5
nhiệm vụ; thực hiện các nhiệm vụ phối hợp,
tham gia góp ý văn bản,… bảo đảm tiến độ,
chất lượng.).
Thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp làm
việc, khắc phục được hạn chế của năm trước để
3 nâng cao hiệu quả công việc (VD: Khối lượng, 3
tiến độ, chất lượng công việc được nâng lên so
với năm trước…).
Có sản phẩm, thành tích nổi trội trong công 4 2 việc.
Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được
giao (*) III 70 (Chỉ điền vào 01 dòng duy nhất trong số các dòng
bên dưới)
70 Hoàn thành từ 90% công việc trở lên
119
ĐIỂM ĐIỂM GHI TT TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CC,VC TỐI ĐA CHÚ TỰ CHẤM
60 Hoàn thành từ 80% đến dưới 90% công việc
50 Hoàn thành từ 70% đến dưới 80% công việc
40 Hoàn thành từ 60% đến dưới 70% công việc
30 Hoàn thành từ 50% đến dưới 60% công việc
20 Hoàn thành dưới 50% công việc
Tổng số điểm đạt được của 03 nhóm tiêu chí 100 (I+II+III)
Số điểm bị trừ bổ sung (nếu có)
TỔNG SỐ ĐIỂM(*)
(= Tổng số điểm đạt được của 03 nhóm tiêu
chí – Số điểm bị trừ bổ sung)
(*) Lưu ý: Đối với người đứng đầu đơn vị trực thuộc Bộ, ngoài việc
chấm theo tỷ lệ % hoàn thành công việc chung của đơn vị, cá nhân như
nêu trên, còn phải xem xét, chấm điểm theo 3 tiêu chí sau:
(1) Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
- Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ:
Hoàn thành đúng tiến độ Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật đã đăng ký trong năm (không lùi, điều chỉnh thời gian trình) được cộng 02
điểm; mỗi 01 văn bản trình vượt tiến độ (trình trước tháng theo kế hoạch)
được cộng 02 điểm; đối với văn bản bổ sung trình trong năm để giải quyết các
vấn đề đặt ra từ thực tiễn được cộng thêm 03 điểm.
120
Mỗi một lần xin lùi/điều chỉnh thời gian trình 01 văn bản trừ 02 điểm;
mỗi 01 văn bản xin rút khỏi Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật trừ 02 điểm; mỗi 01 văn chậm tiến độ trình trừ 03 điểm; không hoàn
thành 01 văn bảntrừ 05 điểm.
- Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng:
Hoàn thành đúng tiến độ Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật đã đăng ký trong năm (không lùi, điều chỉnh thời gian trình) được cộng 01
điểm; mỗi 01 văn bản trình vượt tiến độ (trình trước tháng theo kế hoạch)
được cộng 01 điểm; đối với văn bản bổ sung trình trong năm để giải quyết các
vấn đề đặt ra từ thực tiễn được cộng thêm 02 điểm.
Mỗi một lần xin lùi/điều chỉnh thời gian trình 01 văn bản trừ 0,5 điểm;
mỗi 01 văn bản xin rút khỏi Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp
luật trừ 01 điểm; mỗi 01 văn chậm tiến độ trình trừ 01 điểm; không hoàn
thành 01 văn bản trừ 03 điểm.
(2) Việc trả lời chất vấn cử tri, đại biểu Quốc hội, trả lời kiến nghị
của người dân, doanh nghiệp, công dân:
Mỗi một lần chậm trình Bộ trưởng ý kiến trả lờicử tri theo yêu cầu trừ
01 điểm; mỗi một lần chậm trình Bộ trưởng ý kiến trả lời chất vấn đại biểu
Quốc hội quá 20 ngày trừ 01 điểm; mỗi ý kiến trả lời cử tri, chất vấn đại biểu
Quốc hội chưa đạt yêu cầu (Lãnh đạo Bộ phải yêu cầu rà soát, hoàn thiện lại
nhiều lần) trừ 01 điểm; mỗi một lần chậm trả lời kiến nghị của địa phương,
doanh nghiệp theo yêu cầu trừ 0,5 điểm; mỗi một lần chậm trả lời câu hỏi
của công dân trên hộp thư điện tử công vụ của Chính phủ theo yêu cầu trừ
0,5 điểm.
(3) Công tác kế hoạch - tài chính:
Tỉ lệ giải ngân đạt đối với nguồn vốn được giao cho đơn vị thực hiện từ
95% đến dưới 98% trừ 0,5 điểm; đạt từ 90% đến dưới 95% trừ 01 điểm;
đạt từ 85% đến dưới 90% trừ 1,5 điểm; đạt từ 80% đến dưới 85% trừ 02
121
điểm; đạt từ 75% đến dưới 80% trừ 03 điểm; đạt từ 70% đến dưới 75% trừ
04; đạt từ 65% đến dưới 70% trừ 05 điểm; đạt dưới 65% trừ 10 điểm.
PHÂN LOẠI ĐÁNH GIÁ(1): ……………………………………………
(Theo 04 mức, gồm: “hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”; “hoàn thành tốt nhiệm
vụ”; “hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực/hoàn thành nhiệm
vụ”; “không hoàn thành nhiệm vụ”)
Hà Nội, ngày … tháng …. năm 20…
NGƯỜI TỰ ĐÁNH GIÁ
(ký tên, ghi rõ họ và tên)
Việc xem xét mứcphân loại đánh giá được thực hiện như sau: - “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”:Tổng số điểm từ 90 trở lên. - “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”:Tổng số điểm từ 70 đến dưới 90 điểm. - “Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực/Hoàn thành nhiệm vụ”:Tổng số điểm từ 50 đến dưới 70 điểm. - “Không hoàn thành nhiệm vụ”:Tổng số điểm dưới 50 điểm.
122