BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÁ THỊ THIÊN TRANG

TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

HÀ NỘI, 2020

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

BÁ THỊ THIÊN TRANG

TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: : 8 34 04 03

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. LÊ THỊ HẰNG

HÀ NỘI - 2020

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đề tài: “Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là công trình nghiên cứu độc lập dưới sự hướng

dẫn của cô: TS. Lê Thị Hằng. Ngoài ra không có bất cứ sự sao chép bài của

người khác. Các số liệu, kết quả trình bày trong báo cáo là hoàn toàn trung

thực, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong đề

tài.

Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020

Tác giả

Bá Thị Thiên Trang

1

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập, nghiên cứu. Để hoàn thành luận văn này Em xin

bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới cô TS. LÊ THỊ HẰNG, người

trực tiếp hướng dẫn, cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong trường Học viện

Hành chính Quốc gia đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt

quá trình Em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này.

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh uỷ,

UBND tỉnh Bắc Ninh; Lãnh đạo và cán bộ, công chức một số cơ quan, đơn vị

trên địa bàn tỉnh đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho Em trong

quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người

thân đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể tập trung nghiên

cứu và hoàn thành đề tài này.

Do về mặt kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn không tránh

khỏi những thiếu sót; Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy,

cô giáo và mọi người để luận văn hoàn thiện hơn.

Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020

Tác giả

Bá Thị Thiên Trang

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. BHYT : Bảo hiểm Y tế

2. CBCC : Cán bộ công chức

3. HĐND, UBND : Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.

4. GSĐT cộng đồng : Giám sát đầu tư cộng đồng

5. MTTQ : Mặt trận tổ quốc

6. NTM : Nông thôn mới

7. QCDC : Quy chế dân chủ

8. TTND : Thanh tra nhân dân

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP

LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ ............................................................................... 8

1.1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở ....................................................... 8

1.1.1. Khái niệm dân chủ .................................................................................. 8

1.1.2. Khái niệm dân chủ ở cơ sở .................................................................... 11

1.2.Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở ................................................. 13

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở ........... 13

1.2.2. Nguyên tắc của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ............ 15

1.2.3. Vai trò của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ................... 16

1.3. Nôi dụng của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở .................. 16

1.3.1. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị

trấn ................................................................................................................... 17

1.3.2. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong các cơ quan

Nhà nước ......................................................................................................... 19

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ..... 23

Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 26

Chương 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ

CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH ................................................. 27

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh .................................. 27

2.2. Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh

Bắc Ninh .......................................................................................................... 28

2.2.1. Tình hình cơ sở trước khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ ....... 28

2.2.2. Tình hình tổ chức triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ........ 30

2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh

Bắc Ninh .......................................................................................................... 49

2.3.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 49

2.3.2. Một số tồn tại, hạn chế ......................................................................... 51

2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế ......................................................... 53

2.4. Bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở .......................................................................................................... 55

Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 57

Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH

PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH58

3.1. Quan điểm thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ................................... 58

3.2. Một số giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ở

tỉnh Bắc Ninh .................................................................................................. 61

3.2.1. Giải pháp chung .................................................................................... 61

3.2.2. Các giải pháp cụ thể .............................................................................. 65

Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 73

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

1. Bản đồ tỉnh Bắc Ninh

Bảng 2.1. Đánh giá mức độ công khai các nội dung cho nhân dân ................ 37

Bảng 2.2. Đánh giá tỉ lệ người dân được tham gia và quyết định trực tiếp .... 40

Bảng 2.3. Đánh giá tỷ lệ người dân tham gia trước khi cơ quan có thẩm quyền

quyết định (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu) ................................................ 41

Bảng 2.4. Đánh giá tỷ lệ người dân giám sát việc thực hiện Pháp lệnh 34 .... 43

Bảng 2.5. Đánh giá tỷ lệ mức độ minh bạch trong việc thực hiện Pháp lệnh 34

của chính quyền cấp xã (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu) ............................ 44

Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan Nhà nước

(Tổng số phiếu phát ra: 120 phiếu) ................................................................. 49

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Dân chủ là một khái niệm, một chế độ chính trị, sự thể hiện quyền lực

của quần chúng nhân dân có từ thời thế giới cổ đại. Dân chủ là một hình thức

tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn

gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Quan điểm về dân

chủ đã có từ rất lâu, tuy nhiên những quan điểm đó không phải khi nào cũng

đồng nhất, chỉ có một điểm rằng tất cả các quan điểm nói về dân chủ luôn đề

cao vai trò của quần chúng nhân dân. Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ,

hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển là một xu thế lớn của thời đại.

Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân chủ là dân là chủ và dân

làm chủ".

Dân chủ và thực hành, phát huy dân chủ là một trong những đặc trưng

cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền; một trong những điều kiện tiên quyết

để hiện thực hóa, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực

hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thời gian qua đã đạt được những kết quả

bước đầu, quan trọng, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, thực

hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào

Đảng, Nhà nước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ phát

triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các ngành;

làm chuyển biến một bước về ý thức, đạo đức, phong cách làm việc của cán

bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn theo hướng gần dân,

tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân; tác động tích cực tới việc xây dựng

Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam và các đoàn thể nhân dân; xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở

thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.

1

Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị

trấn (gọi chung là cơ sở) vẫn còn hình thức, chưa rộng khắp, đồng đều ở các

địa phương, khu vực, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục; dân chủ

trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chưa

được phát huy mạnh mẽ. Tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân

cũng như lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ cương, pháp luật còn xảy ra ở nhiều

nơi. Việc thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa thực sự gắn kết với

nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng, cải cách

hành chính, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác kiểm tra, giám sát tổ chức

thi hành dân chủ ở cơ sở còn nhiều hạn chế chưa thường xuyên, thiếu kịp

thời.

Bắc Ninh nói riêng và các địa phương trên cả nước nói chung cũng

không nằm ngoài những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại nêu trên.

Nhận thấy việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức

quan trọng, góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp

pháp, chính đáng của công dân; là phương thức quản lý để bảo đảm trên thực tế

các quyền dân chủ của nhân dân được thực hiện; thông qua việc thực hiện dân

chủ cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về dân chủ,

dân chủ ở cơ sở; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật dân chủ ở cơ sở

vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực, phẩm

chất, chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ở cơ sở,

xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng, chống tham

nhũng, lãng phí, quan liêu và các hành vi tiêu cực khác; góp phần phát triển

kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.

Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện tốt vấn đề dân chủ sẽ

đảm bảo được các vấn đề mà theo tác giả đây là những vấn đề hết sức cần

thiết và tác giả cũng nhận thấy đây là điểm nhấn của luận văn, điểm mới mà

các công trình nghiên cứu trước về đề tài dân chủ rất ít đề cập tới. Mặt khác,

khi xây dựng, củng cố và phát huy nền dân chủ thì việc bảo vệ quyền con

2

người sẽ được phát huy một cách tích cực. Ngoài ra, việc thực hiện tốt vấn đề

dân chủ cơ sở góp phần trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Với

phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra nhiều công việc của cơ

quan nhà nước cần có sự tham gia của người dân, nhiều vấn đề phải công khai

cho nhân dân biết đặc biệt là công khai về tài chính đã góp phần to lớn trong

việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.Với lý do trên học viên chọn đề tài

“Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”

làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề dân chủ, dân chủ cơ cở là chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhà

nghiên cứu lý luận quan tâm ở mỗi góc độ khác nhau. Có thể nêu ra một số đề

tài, công trình nghiên cứu như:

Nguyễn Cúc (2002),“Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình

hình hiện nay. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này tác giả đã đề cập đến một số vấn đề lí

luận và thực tiễn của việc thực hiện Quy chế dân chủ hiện nay ở nước ta.

Nguyễn Thị Vy (2014), “Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện

dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở với việc thúc đẩy quyền con người, quyền

công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia,

Hà Nội. Trong công trình này tác giả khẳng định tầm quan trọng của nhân dân

trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; ngoài ra, tác giả còn làm rõ

mối liên hệ giữa việc hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ theo hướng đề cao

quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013.

Lương Gia Ban (2003), “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ

sở”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này tác giả đã

nghiên cứu những quan điểm của Đảng về dân chủ và thực tiễn thực hiện ở một

số địa phương.

Lê Thanh Hải (2015), “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ

cơ sở trong trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh

3

Long An” Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.

Trong công trình này tác giả đã nêu ra được thực trạng thực hiện quy chế dân

chủ cơ sở ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An,

từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân

chủ cơ sở.

Dương Xuân Ngọc (2000), “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong

công trình này tác giả đã xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện

Quy chế dân chủ ở cấp xã; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện có quả

dân chủ ở cấp xã.

Hoàng Trung Dũng (2013),“Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,

phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa

học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội. Trong công trình này tác giả

đề cập đến thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hà Tĩnh, từ đó xác

định nguyên nhân, đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ

sở.

Hoàng Chí Bảo (2002),“Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ

sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay”, Đề tài khoa

học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong công

trình này tác giả đánh giá thực trạng, nguyên nhân và đưa ra giải pháp trong

hoạt động của hệ thống chính trị Nhà nước ta.

Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), “Thực hiện Quy chế dân chủ và

xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia.

Lại Thế Nguyên (2014), “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên

địa bàn tỉnh Thanh Hoá” Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong

công trình này tác giả đề cập đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở

trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

trong thời gian tiếp theo.

4

Nguyễn Thị Hoa (2018), “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các

trường trung học phổ thông từ thực tiễn tỉnh huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng

Nai”. Luận văn Thạc sỹ, trong công trình này tác giả đề cập đến các giải pháp

nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các trường trung học

phổ thông.

Có thể thấy, các công trình nêu trên đã nghiên cứu về hệ thống chính trị

cũng như việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong đó, các tác giả đã đề cập đến

lý luận về dân chủ cũng như đặt ra thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở. Tuy vậy, trong thực tế

hiện nay ít có công trình nghiên cứu cụ thể về việc tổ chức thi hành pháp luật

về dân chủ ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) và cũng chưa có đề tài nào đề cập

đến việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc

Ninh.

Đề tài “Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh

Bắc Ninh” góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề này nhằm chỉ ra thực trạng và

giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ

sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng và các địa phương trong cả nước nói

chung.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tổ chức thi hành pháp luật

về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và tổ

chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở cơ sở

- Thứ hai, đánh giá thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở

cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, những mặt đã đạt được, những tồn tại hạn

chế, nguyên nhân của những hạn chế

5

- Thứ ba, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trong cả nước nói chung và trên

địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong thời gian tới.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là đối tượng của quản lý nhà nước và được tiến

hành trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn

tỉnh Bắc Ninh

- Không gian: Tỉnh Bắc Ninh

- Thời gian: 2007 - 2017

5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện

chứng và duy vật lịch sử.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng

hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch sử và logic, phỏng vấn, điều tra xã hội

học.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và tổ

chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở.

- Đề xuất các chính sách và ban hành các quy định nhằm nâng cao hiệu

quả tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

trong thời gian tới.

7. Kết cấu của luận văn

6

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

luận văn gồm 3 chương:

Chương1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thi hành pháp luật dân chủ

cơ sở

Chương 2: Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Chương 3. Quan điểm và giải pháp tổ chức thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

7

Chƣơng 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT

DÂN CHỦ CƠ SỞ

1.1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở

1.1.1. Khái niệm dân chủ

Khái niệm dân chủ (Désmocratie) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm 2

từ “demos” có nghĩa là dân và “kratos” là quyền lực. “Désmocratie" chỉ một

phương thức tổ chức quyền lực- chính quyền do công dân bầu ra và uỷ quyền

thực hiện chức năng quản lý xã hội; đồng thời, họ cũng có quyền giám sát và

bãi miễn nhân sự hoặc tổ chức ấy khi nó đi ngược lại lợi ích, quyền lực của

mình.

Thuật ngữ “dân chủ” đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ thời Hy

Lạp cổ đại. Hêrôđôt (484 - 425 TCN) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này

với nghĩa khởi thủy là quyền lực thuộc về nhân dân.

Theo từ điển Triết học (do M.M. Rodentan biên soạn): “Dân chủ là một

trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính

thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình

đẳng của công dân”.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Dân chủ là một hình thức tổ

chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc

của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do” [18, tr.653].

Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân

dân. Trái với dân chủ là không dân chủ. Không dân chủ có nghĩa là một

người, một nhóm người hoặc một tập đoàn người làm chủ. Chế độ độc tài,

quân chủ, chuyên chế không có dân chủ. Dân chủ là động lực của sự phát

triển xã hội; còn không dân chủ là làm cản trở sự phát triển xã hội. Bởi vì dân

chủ là quyền lợi chính đáng của người dân, được hưởng quyền dân chủ, được

8

hưởng lợi ích vật chất và tinh thần một cách chính đáng. Khi con người được

hưởng quyền dân chủ chính đáng của mình thì cũng có nghĩa là họ được đối

xử bình đẳng, công bằng. Khi đó, họ sẽ phát huy cao nhất khả năng của mình,

hết mình cống hiến cho xã hội, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển. Xã hội càng

dân chủ thì càng phát triển nhanh vì càng khơi dậy được tính tích cực của con

người.

Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, con người sống theo bầy đàn, xã

hội chưa có sự phân chia giai cấp thì chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã

xuất hiện hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử loài người. Ở đó, con người

cùng chung sống, cùng lao động và cùng sử dụng sản phẩm thu được. Đây

được coi là một hiện tượng dân chủ.

Khái niệm dân chủ xuất hiện khi có sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô

lệ. Lúc này, cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, trong xã hội đã có sự

phân chia giai cấp. Giai cấp chủ nô đã thiết lập một bộ máy bảo vệ cho mình,

đó chính là nhà nước chủ nô- nền dân chủ chủ nô được hình thành. Ở đây, giai

cấp nô lệ không có quyền lực, ngay cả quyền quyết định đoạt số phận cho

mình, họ được coi như là tài sản, là công cụ lao động của giai cấp chủ nô.

Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin cho rằng Nhà nước chủ

nô là hình thái dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải dành riêng

cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Có thể thấy

trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực chính trị thuộc về giai cấp chủ nô.

Nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô, nền dân chủ chủ nô

được thay thế bằng nền quân chủ phong kiến. Quyền lực hoàn toàn nằm trong

tay nhà vua, giai cấp quý tộc, phong kiến, người dân hầu như không có quyền

dân chủ. Với phương thức “cha truyền con nối”, quyền lực của vua lại truyền

cho con cháu, nhân dân không có cơ hội nắm giữ quyền lực.

Khi sản xuất phát triển lên một bước mới, giai cấp tư sản hình thành đầu

tiên ở phương Tây, trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc cách mạng Tư

9

sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập Nhà nước Tư sản. Từ đây, nền dân chủ

Tư sản được thiết lập. Đây là một bước tiến mới trong lịch sử nhân loại, giải

phóng con người, con người được trao cho nhiều quyền tự do (tự do ngôn luận,

tự do kinh doanh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…). Tuy nhiên, về bản chất thì dân

chủ Tư sản vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tư liệu

sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số trong xã

hội. Giai cấp vô sản, nhân dân lao động là người tạo ra của cải vật chất chủ

yếu cho xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản nhưng

họ lại bị giai cấp tư sản bóc lột. Do đó, trong thực tế dân chủ chỉ thực sự có

đối với giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số nhưng lại nắm trong tay phần

lớn của cải trong xã hội; còn nhân dân lao động chỉ có quyền tự do dân chủ về

hình thức hoặc một ít quyền dân chủ về chính trị. Theo V.I.Lê nin, dân chủ tư

sản luôn là một chế độ dân chủ với thiểu số, là một thứ dân chủ đối với kẻ

giàu.

Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, lịch sử đã sang trang,

chế độ Xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên ra đời

là nước Nga Xô Viết và một số nước khác sau đó là Việt Nam, Trung Quốc…

Nền dân chủ Tư sản thay thế bằng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, một nền dân

chủ thực sự khi tất cả mọi người dân được trao mọi quyền lực của đất nước.

Trong đó họ được quyền quyết định vận mệnh của đất nước, được tham gia

xây dựng Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu…

Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, thành lập nhà

nước Dân chủ nhân dân, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm

chủ đất nước. Từ đây, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, quyền dân chủ

của nhân dân được khẳng định trong Hiến pháp. Ruộng đất thuộc về nông

dân, nhà máy, xí nghiệp được công nhân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng

cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau đó là Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- nhà nước mang bản chất của giai cấp công

10

nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc được thành lập. Từ khi thành lập

đến nay, nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã tỏ rõ tính ưu việt của

nó trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh.

Tóm lại, theo phân tích trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về

phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khác nhau

của nhiều bộ môn khoa học. Quan điểm về dân chủ có hai cách tiếp cận:

Một là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát

triển với tư cách là sản phẩm trực tiếp của đời sống chính trị, của sự vận động

chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực

chính trị thuộc về giai cấp nào trong xã hội.

Hai là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự

vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế -

xã hội; mà dân chủ còn là thành tựu của sự phát triển văn hoá nhân loại, với

tính cách là thước đo về trình độ giải phóng con người, xã hội mà loài người

đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử. Trong mối quan hệ này dân chủ là một

động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội.

1.1.2. Khái niệm dân chủ ở cơ sở

Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ

thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có

tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn

bộ hệ thống được gọi là cơ sở. Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một

công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao

động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống. Đó chính là xã, phường,

cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều

mặt giữa các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức

và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền

dân chủ xã hội chủ nghĩa, được tổ chức thành 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện

và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng.

11

Nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra giá trị vật chất và sáng tạo ra

giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, người dân luôn gắn bó mật thiết

trong một đơn vị, một tổ chức, một cộng đồng, một địa bàn dân cư nhất định.

Mỗi công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống,

lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống, đó là xã, phường, thị

trấn, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, đơn vị kinh

tế cơ sở... Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của

Nhà nước, nơi kiểm nghiệm, phản chiếu chính xác nhất đường lối của Đảng

trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, nhân dân có

quyền được biết, được tiếp cận thông tin, được bàn và được tham gia giải

quyết và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở.

Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến vị thế của người dân ở cơ sở, trước

hết và chủ yếu là các tầng lớp người lao động đang hằng ngày làm ra của cải

vật chất và tinh thần để bảo đảm cho xã hội tồn tại, phát triển. Vì vậy, thực

hiện dân chủ ở cơ sở chính là bảo đảm và nâng cao vị thế của người dân, làm

nền tảng và động lực phát triển trực tiếp của xã hội; là giải quyết đúng đắn

vấn đề dân chủ đang được đặt ra: Mở rộng dân chủ và phát huy cao độ quyền

làm chủ trực tiếp của người dân từ cơ sở, đẩy mạnh chiều sâu dân chủ trên

mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Dân chủ ở cơ sở không phải là hình thức, mà là một cấp độ của chế độ

dân chủ. Nội dung của dân chủ ở cơ sở được thể hiện dưới các hình thức dân

chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Củng cố và mở rộng dân chủ ở cơ sở là một

quá trình nâng cao sức mạnh và hiệu quả hoạt động của nhà nước, trước hết ở

cấp xã, phường, thị trấn và các đơn vị ban ngành.

Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức dân chủ đại diện và dân

chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng

cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và

hoạt động của mọi thiết chế ở cơ sở.

12

1.2.Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở

Khái niệm tổ chức thi hành pháp luật

Trong khoa học pháp lý, pháp luật được nghiên cứu dưới hai phương

diện. Phương diện thứ nhất là pháp luật trong trạng thái “tĩnh” hay pháp luật

trong các trang công báo. Pháp luật theo phương diện này còn được gọi là

pháp luật thực định. Theo Hiến pháp năm 2013, đây là các quy định trong các

văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị

quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội

(UBTVQH); lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các VBQPPL của Chính

phủ, Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính

quyền địa phương các cấp. Đây là pháp luật được hình thành chủ yếu do hoạt

động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của hệ thống các cơ quan

hành pháp.

Phương diện thứ hai của pháp luật là pháp luật trong trạng thái “động”

hay gọi là pháp luật trong hành động, pháp luật trong cuộc sống. Pháp luật

theo phương diện này là sự tuân theo pháp luật của các chủ thể trong đời sống

nhà nước và đời sống xã hội, được hình thành bằng hoạt động tổ chức thi

hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền. Giống

như phương diện thứ nhất, phương diện này của pháp luật cũng được Hiến

pháp quy định. Theo đó, tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động không thể

thiếu để pháp luật từ trạng thái “tĩnh” trở thành trạng thái “động”, làm cho

pháp luật không còn nằm trên các trang công báo mà đi vào cuộc sống. Như

vậy, hoạt động lập pháp, lập quy để hình thành một hệ thống VBQPPL (pháp

luật trong các trang công báo) và hoạt động tổ chức thi hành pháp luật là hai

mặt không tách rời của pháp luật. Không thể có mặt này mà thiếu mặt kia và

ngược lại. Không tiến hành “tổ chức thi hành pháp luật” thì pháp luật chỉ tồn

tại trên giấy, hay chỉ là những “lời nói rung động trong không khí”. Ngược

13

lại, không có những quy định của pháp luật trong các trang công báo thì cũng

không có việc tổ chức thi hành những quy định pháp luật này. Trong nhà

nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, đề cao nguyên tắc pháp quyền không

thể không coi trọng một cách đồng bộ cả hai phương diện của pháp luật. Nhất

là trong điều kiện của nước ta, khi mà ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của

nhiều người dân còn thấp thì việc tổ chức thi hành pháp luật càng giữ vai trò

đặc biệt quan trọng.

Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là

“Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp luật, nghị

quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước” (khoản 1 Điều 96),

Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ: “Lãnh đạo tổ chức thi hành pháp luật”

(khoản 1 Điều 98); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ:

“Tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành,

lĩnhvực trong phạm vi toàn quốc” (khoản 1 Điều 99); Chính quyền địa

phương có nhiệm vụ: “Tổ chức đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật

tại địa phương” (khoản 1 Điều 112); và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có

nhiệm vụ: “Tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”

(khoản 2 Điều 114). Thi hành pháp luật trong thuật ngữ “tổ chức thi hành

pháp luật” của Hiến pháp năm 2013, theo chúng tôi, có nội dung rất rộng,

không chỉ là một hình thức thực hiện pháp luật mà còn bao gồm các hình thức

thực hiện pháp luật khác như: tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật và áp

dụng pháp luật mà lý luận về thực hiện pháp luật đã được viết trong các sách

giáo khoa về lý luận nhà nước và pháp luật đang giảng dạy ở các trường đại

học luật. Với quan niệm đó, “tổ chức thi hành pháp luật” viết trong Hiến pháp

năm 2013 được hiểu là “tổ chức thực hiện pháp luật” (thi hành pháp luật ở

đây chính là thực hiện pháp luật). Vì vậy “tổ chức thi hành pháp luật” viết

trong Hiến pháp năm 2013 được hiểu theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với tổ chức

thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tổ chức thực hiện cả bốn hình thức thực

14

hiện pháp luật chứ không chỉ một hình thức thực hiện pháp luật là thi hành

pháp luật.

Đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

- Chủ thể tổ chức thi hành pháp luật là Chính phủ, Thủ tướng Chính

phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và

UBND các cấp.

- Mục đích của tổ chức thi hành pháp luật là làm cho các quy định của

pháp luật thực hiện trong cuộc sống trở thành những hành động thực tế hợp

pháp của các chủ thể pháp luật. Hay nói cụ thể, mục đích của tổ chức thi hành

pháp luật là làm cho các chủ thể pháp luật tuân thủ pháp luật, thi hành pháp

luật, sử dụng và áp dụng đúng đắn pháp luật. Đó chính là đòi hỏi của nguyên

tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN

mà chúng ta đang xây dựng.

- Đối tượng của tổ chức thi hành pháp luật là đối tượng của quản lý nhà

nước và được tiến hành trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà

nước. Như vậy, đối tượng của tổ chức thi hành pháp luật có phạm vi rất rộng;

ở đâu có quản lý nhà nước ở đó có việc tổ chức thi hành pháp luật. Chính vì

thế, tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ

quan hành chính nhà nước, là thẩm quyền của các cơ quan thực hiện quyền

hành pháp.

1.2.2. Nguyên tắc của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

- Tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức đưa pháp

luật thực định vào đời sống nhà nước và đời sống xã hội, làm cho pháp luật

sau khi ban hành có hiệu lực thực thi trong thực tế. Thi hành pháp luật theo lý

luận chung về nhà nước và pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật,

trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng các hoạt động

tích cực. Như vậy, tổ chức thi hành pháp luật có một trong những nội dung

quan trọng là tổ chức để các chủ thể tuân theo các các nghĩa vụ pháp lý của

15

mình bằng các hành động tích cực trong thực tế; góp phần làm cho xã hội

thượng tôn pháp luật mang tính chất tự giác.

- Tổ chức thi hành pháp luật theo nghĩa rộng là trách nhiệm của tất cả

các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước từ

lập pháp, hành pháp, tư pháp đến các thiết chế Hiến định khác. Tuy nhiên, tổ

chức thi hành pháp luật với tư cách là một thẩm quyền độc lập, chuyên trách

được Hiến pháp giao cho hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thực

hiện. Theo đó, có thể định nghĩa, tổ chức thi hành pháp luật là thẩm quyền

hiến định có tính độc lập, chuyên trách của hệ thống các cơ quan hành chính

nhà nước nhằm đưa pháp luật trên các trang công báo trở thành các hành động

tích cực tuân theo pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội.

1.2.3. Vai trò của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

- Là hoạt động để hiện thực hóa kết quả của hoạt động lập pháp, lập

quy trong thực tiễn. Vì thế, nó là đầu ra quan trọng nhất của hoạt động lập

pháp, đảm bảo cho sản phẩm của hoạt động lập pháp có hiệu lực và hiệu quả

trong thực tế.

- Là hoạt động hàng đầu của cơ quan thực hiện quyền hành pháp, đảm bảo

cho Hiến pháp, luật giữ địa vị thống trị trong nhà nước pháp quyền, phát huy đầy

đủ vai trò của mình trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, đảm

bảo cho nguyên tắc pháp quyền được thực thi trong hoạt động hành pháp.

- Thông qua việc tổ chức thi hành pháp luật mà phát hiện những lỗ

hổng, những quy định pháp luật không phù hợp, không đi vào cuộc sống, góp

phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp và lập

quy, đảm bảo cho nguyên tắc pháp quyền được thực thi đầy đủ trong hoạt

động lập pháp và lập quy.

1.3. Nôi dụng của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật bao gồm một chuỗi các hoạt

động kế tiếp nhau, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, hoạt động trước là tiền đề, là

16

điều kiện quyết định cho hoạt động sau. Nội dung tổ chức thi hành pháp luật

phổ biến bao gồm các hoạt động sau:

1.3.1. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã,

phường, thị trấn

Sau một thời gian thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao giá

trị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban TVQH đã ban hành

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (thay thế Nghị định

79/2003/NĐ-CP) số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm có các nội dung:

1.3.1.1. Những nội dung cần công khai để dân biết

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu

kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.

- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương

án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công

trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương

án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải

quyết các công việc của nhân dân.

- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo

chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp.

- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,

xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn

phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo

hiểm y tế.

- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới

hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham

nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy

17

phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và

Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn

đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy

ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.

- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do

chính quyền cấp xã trực tiếp thu.

- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công

việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.

- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.

1.3.1.2. Những nội dung nhân dân được bàn và quyết định

Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp

xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp

xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và

các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của

pháp luật.

1.3.1.3. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có

thẩm quyền quyết định

- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án

chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng

kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.

- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều

chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.

- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp

xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ

sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.

18

- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh

địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.

- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của

pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính

quyền cấp xã thấy cần thiết.

1.3.1.4. Những nội dung nhân dân giám sát

Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội dung quy định tại các điều 5,

10, 13 và 19 của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, cụ thể:

- Điều 5: Những nội dung công khai để nhân dân biết.

- Điều 10: Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp.

- Điều 13: Những nội dung nhân dân bàn và biểu quyết.

- Điều 19: Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến.

1.3.1.5. Trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân, Uỷ

ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tổ

chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.

Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp

với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt

trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt

trận ở cấp xã có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và tham gia tuyên truyền,

vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cấp xã.

1.3.2. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong các

cơ quan Nhà nước

Đối với khối cơ quan Nhà nước cho đến nay vẫn thực hiện theo Nghị

định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt

động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế

19

Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ về ban hành Quy

chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan), gồm các nội dung sau:

Những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết

- Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên

quan đến công việc của cơ quan, đơn vị.

- Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý, hàng tháng của cơ quan, đơn vị.

- Kinh phí hoạt động hàng năm, bao gồm các nguồn kinh phí do ngân sách

nhà nước cấp và các nguồn tài chính khác; quyết toán kinh phí hàng năm của cơ

quan, đơn vị; tài sản, trang thiết bị của cơ quan, đơn vị; kết quả kiểm toán.

- Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển,

biệt phái, từ chức, miễn nhiệm; hợp đồng làm việc, thay đổi chức danh nghề

nghiệp, thay đổi vị trí làm việc, chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức; đi

công tác nước ngoài, giải quyết chế độ, nâng bậc lương, nâng ngạch, đánh giá,

xếp loại công chức, viên chức; khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối

với cán bộ, công chức, viên chức; các đề án, dự án và việc xây dựng các văn

bản quy phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị.

- Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan, đơn vị đã được kết

luận; bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo

quy định của pháp luật.

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ

cơ quan, đơn vị.

- Các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.

- Kết quả tiếp thu ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức về những vấn

đề thuộc thẩm quyền quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đưa ra lấy

ý kiến cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Điều 9 của Nghị định này.

- Văn bản chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý cấp trên liên quan

đến công việc của cơ quan, đơn vị.

Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng

đầu cơ quan, đơn vị quyết định

20

- Chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của

Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan, đơn vị.

- Kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị.

- Tổ chức phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị.

- Báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan, đơn vị.

- Các biện pháp cải tiến tổ chức, hoạt động và lề lối làm việc; phòng,

chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống quan liêu,

phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên

chức; bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.

- Thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của

cán bộ, công chức, viên chức.

- Các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.

Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra

- Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà

nước, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị.

- Sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ quản lý và

sử dụng tài sản của cơ quan, đơn vị.

- Thực hiện các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.

- Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích

của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị.

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị.

Trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong cơ quan Nhà

nước

- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị:

Thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan,

đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính

sách đối với cán bộ, công chức, viên chức.

21

Tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên

chức thuộc thẩm quyền quản lý theo trình tự, thủ tục quy định. Lắng nghe ý

kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức, viên chức. Khi cán bộ, công

chức, viên chức đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời

gian thích hợp để gặp và trao đổi.

Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng;

xử lý và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý người có hành

vi tham nhũng; nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng trong cơ quan,

đơn vị thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Chỉ đạo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tài liệu, cách

thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm giải trình những

nội dung công việc trong cơ quan, đơn vị 9. Xem xét, giải quyết kịp thời theo

quy định của pháp luật các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công chức,

viên chức và kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân của cơ quan, đơn vị; kịp

thời báo cáo với cơ quan có thẩm quyền những vấn đề không thuộc thẩm

quyền giải quyết của mình.

Kịp thời xử lý người có hành vi cản trở việc thực hiện dân chủ trong

hoạt động của cơ quan, đơn vị và người có hành vi trả thù, trù dập cán bộ,

công chức, viên chức khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật.

- Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức:

Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn

vị; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và bảo đảm thông tin chính xác, kịp

thời; thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp, quy tắc

ứng xử, nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp và những việc không được

làm theo quy định của pháp luật

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người phụ trách trực tiếp và

trước người đứng đầu trong cơ quan, đơn vị về việc thi hành nhiệm vụ của

mình. Trong khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức được trình bày ý kiến,

22

đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình

khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp, nhưng vẫn phải chấp hành sự

chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo

lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Đối với viên chức được quyền

từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật,

được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm

vụ được giao.

Thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm, có

giải pháp sửa chữa khuyết điểm; thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội

bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.

Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, đề án của cơ quan,

đơn vị khi được yêu cầu. Báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi

vi phạm pháp luật trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.

1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ

cơ sở

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật ở nước ta rất đa

dạng và phức tạp

Sự phát triển kinh tế xã hội: Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh

hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế xã hội. Nước ta là một nước đang

phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó

cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật ở nước ta. Kinh tế có

phát triển, đời sống vật chất được nâng cao thì pháp luật mới có điều kiện và

khả năng được thực hiện. Điều kiện văn hóa xã hội, giáo dục không ngừng

phát triển, mở rộng làm chuyển biến đáng kể trình độ dân trí, cách nghĩ và

tầm nhìn của người dân Việt Nam không ngừng được cải thiện, đặc biệt là tư

duy pháp lý. Người dân có nhiều điều kiện tiếp xúc với các phương tiện thông

tin đại chúng như loa đài, ti vi, sách báo… để hiểu pháp luật hơn, họ sẽ dễ

dàng thi hành pháp luật, tuân theo pháp luật. Nhưng khi kinh tế kém phát

23

triển, cuộc sống của nghười dân nghèo đói thì hiện tượng vi phạm pháp luật

tràn lan là không có gì đáng ngạc nhiên, bởi mối quan tâm hàng đầu của

người dân lúc đó là miếng cơm manh áo, họ sẽ thờ ơ với pháp luật, thậm chí

còn vi phạm pháp luật để kiếm sống. Vì vậy cần phải chú ý phát triển kinh tế

xã hội ở tất cả các vùng miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa…

Hệ thống pháp luật: Bản thân pháp luật sinh ra là để điều chỉnh các

quan hệ xã hội, là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các

mặt, các khía cạnh khác nhau của chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng

nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật. Người dân thực hiện pháp luật

tốt hơn với một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ và phù hợp. Có thể nói

pháp luật là đời sống xã hội được khái quát hóa và nâng lên thành luật thông

qua hoạt động lý trí và ý chí của con người. Do vậy sự thống nhất, toàn diện,

đồng bộ, phù hợp của các văn bản pháp luật, đặc biệt là các đạo luật là vô

cùng quan trọng, đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện pháp luật. Trong

thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta, nhiều văn bản pháp luật được ban

hành chưa phù hợp với qui luật phát triển khách quan của xã hội, chưa đồng

bộ và thống nhất. Có khi nhiều văn bản pháp luật vừa ban hành đã phải sửa

đổi, bổ sung, thậm chí phải được thay thế bằng văn bản khác, vì nếu để

nguyên không những không thực hiện được trong thực tế mà còn gây thiệt hại

cho đất nước.

Yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả

của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá

nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có

môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực

hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo

Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang,

lo lắng, dao động… và dẫn đến thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây

là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả,

24

chính xác, hiện nay Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sắc đối với việc

tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như

hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được những kết quả tốt đẹp,

để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp

luật, từ đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân. Ngoài ra tính chất,

mức độ của nền dân chủ xã hội cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động

thực hiện pháp luật. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, các tầng

lớp xã hội có thể thẳng thắn, công khai bày tỏ ý kiến, quan điểm, nguyện vọng

của mình đối với các vấn đề pháp luật và các cơ quan pháp luật, sẵn sàng lên

tiếng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngược lại, trong điều

kiện xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, bầu không khí chính trị ngột

ngạt, gò bó thì các công dân không dám bày tỏ những suy nghĩ thật của mình,

không dám đòi hỏi công lý vì tâm lý lo lắng, e ngại.

Bộ máy nhà nước: Bộ máy nhà nước có ảnh hưởng nhất định đến việc

thực hiện pháp luật. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong tổ chức thực

hiện pháp luật phải được tổ chức một cách khoa học có sự phân công rõ ràng

về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn… để xử lý công việc nhanh chóng không

chồng chéo lên nhau. Sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ và thiếu sự phối hợp

với nhau ở các cơ quan trong bộ máy nhà nước sẽ dẫn đến sự chồng chéo

trong cách giải quyết và sự đùn đẩy lẫn nhau. Có sự việc thì nhiều cơ quan

cùng giải quyết, nhưng cũng có sự việc thì không cơ quan nào chịu trách

nhiệm cả. Hiện nay, bộ máy nhà nước ta đã có nhiều chuyển biến khá tích

cực, để việc thực hiện pháp luật đạt kết quả tốt hơn. Các yếu tố ảnh hưởng

đến việc thực hiện pháp luật là vô cùng phong phú đa dạng, mong rằng pháp

luật sẽ ngày càng phát huy vai trò của nó trên cơ sở phát huy những yếu tố

tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các yếu tố trên.

25

Tiểu kết chƣơng 1

Dân chủ là vấn đề được đề cập đến từ thời cổ đại. Trải qua quá trình

phát triển của lịch sử từ chế độ xã hội Cộng sản nguyên thủy cho đến nay,

quan niệm về dân chủ đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực như

đúng bản chất ý nghĩa của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng lí giải khái niệm

một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân là

chủ, dân làm chủ” [ 5, tr. 215]. Từ đó, ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã

xác định dân chủ là bản chất của chế độ XHCN Việt Nam. Với phương thức

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở phạm vi cơ sở, dân chủ phải

được thực hiện triệt để nhất; bởi vì đây là nấc quan trọng nhất để củng cố lòng

tin của nhân dân, tạo nên sức mạnh vững chắc nhất của toàn Đảng, toàn dân

trong công cuộc xây dựng đất nước.

Ngày nay, dân chủ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị hay pháp

luật, mà thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các mối quan hệ

giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với

Nhà nước, giữa các tổ chức, thiết chế xã hội cho đến quan hệ giữa các quốc

gia trên trường quốc tế. Để những giá trị của dân chủ phát huy vai trò động

lực cho sự phát triển, khái niệm dân chủ cần được nhận diện và thể chế hóa

thành những quy định đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt

Nam.

26

Chƣơng 2

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ

CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh

Vào năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập với tỉnh Bắc Giang thành

tỉnh Hà Bắc. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang

trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sáp nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một

trung tâm kinh tế- xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ

giao lưu với thủ đô Hà Nội. Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính

thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 (ngày

06 tháng 11 năm 1996. [Nghị quyết của Quốc hội khóa IX kì họp thứ 10].

Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, thuộc Đồng bằng

sông Hồng và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ nên Bắc Ninh là tỉnh

có các đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung

tâm kinh tế, thương mại và văn hoá của miền Bắc. Quốc lộ 1A nối Hà Nội -

Bắc Ninh - Lạng Sơn; đường cao tốc Quốc lộ 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài

- Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng;

trục đường sắt xuyên Việt đi Lạng Sơn và Trung Quốc. Mạng lưới đường

thuỷ sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy ra biển Đông. Đây là những

điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bên

ngoài.

Sau hơn 20 năm xây dựng, đổi mới và phát triển của Bắc Ninh không

những là niềm vui, niềm tự hào của mỗi người dân trong tỉnh mà còn là động

lực, là tiền đề để toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tiếp tục phấn đấu, nỗ

lực quyết tâm đưa Bắc Ninh vươn lên tầm cao mới, trở thành thành phố trực

thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI.

27

2.2. Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên

địa bàn tỉnh Bắc Ninh

2.2.1. Tình hình cơ sở trước khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ

Trước khi Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn ra đời; vấn đề dân

chủ ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói

chung thực hiện dựa trên cơ sở pháp luật sau:

- Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về việc xây

dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị số 30/CT-TW được ban

hành trong bối cảnh “quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi,

trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều ngành; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham

nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân mang tính phổ biến. Phương châm

“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và việc thể

chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống”.

- Thể chế hóa nội dung Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Ủy ban

Thường vụ Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 45/1998/NQ-

UBTVQH10 ngày 26/02/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở

xã, phường, thị trấn. Nghị quyết đã khẳng định phương châm “dân biết, dân

bàn, dân làm, dân kiểm tra” và lấy đó làm cơ sở để “giao Chính phủ ban hành

Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”.

- Sau khi Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 được thông qua,

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về Quy

chế thực hiện dân chủ ở cấp xã. Với sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ

ở xã, phường, Nhà nước ta đã tạo ra một công cụ pháp lý về thực hiện dân chủ

ở cơ sở, trao cho các tầng lớp nhân dân ở cơ sở những quyền dân chủ thực sự,

bao gồm: quyền được biết các nội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã

hội của nhân dân ở cơ sở; quyền được bàn và quyết định trực tiếp, bàn và biểu

quyết để cấp có thẩm quyền quyết định đối với những vấn đề quan trọng của

địa phương; quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền

28

quyết định; quyền giám sát đối với tất cả các nội dung mà nhân dân được

công khai để biết, được tham gia ý kiến và quyết định trực tiếp.

- Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 29/1998/ NĐ-CP, căn cứ Nghị

quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành

Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống

chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn và Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002

của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực

hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân

chủ ở xã (Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003), thay thế Nghị định

số 29/1998/ NĐ-CP. Về cơ bản, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ

vẫn giữ nguyên những nội dung cốt lõi về các quyền dân chủ của nhân dân ở

cơ sở, chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp, đi vào thực chất, cụ thể

hơn theo hướng tăng cường vai trò, trách nhiệm của bộ máy chính quyền cấp

xã trong việc thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục

khẳng định: phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến

trình phát triển nước ta. Do đó, năm 2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa

XI đã thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp

lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11) thay thế Nghị định số 79/2007/ NĐ-CP.

Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm 6 chương, 28 điều, là văn

bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay và có

phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn về việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó

quy định các vấn đề cơ bản như: nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã; trách

nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã; các hành vi bị nghiêm cấm; những

nội dung công khai để nhân dân biết và hình thức công khai; những nội dung

nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước

khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và những nội dung nhân dân tham gia

giám sát.

29

Đối với khối cơ quan nhà nước, các văn bản hướng dẫn thực hiện dân

chủ ở cơ sở được thể hiện ở Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998

của Chính phủ quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính,

Chỉ thị số 38/1998/CT-TTg ngày 11/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ về

triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Thông tư

liên tịch 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ ngày 04/12/1998 hướng dẫn về tổ chức

và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan, Quyết định số11/1998/QĐ-TCCP-

CCVC của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ngày 05/12/1998 kèm theo Quy

chế đánh giá công chức hằng năm. Đến nay, dân chủ ở cơ sở đối với khối cơ

quan, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP

ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành

chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số

71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực

hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan).

2.2.2. Tình hình tổ chức triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

2.2.2.1. Công tác triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

Công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền

Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh tiếp tục tập chỉ đạo các cơ quan

nhà nước nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền,

thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đôn đốc, duy trì phối hợp với MTTQ và

các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận

động các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện QCDC ở

cơ sở, tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết

khiếu nại, tố cáo ở cơ sở.

Chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung cao trong việc tháo gỡ những khó

khăn, vướng mắc trên các lĩnh vực liên quan đến người dân, doanh nghiệp

bằng các chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.

Các huyện ủy, thị ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc chủ động tham mưu giúp

30

cấp ủy xây dựng, ban hành quy chế hoạt động dân chủ trong nội bộ cơ quan,

đơn vị; chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng

các cấp gắn với thực hiện nghị quyế ị ứ

ương Đả tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,

đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện

"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tập trung xây dựng, tổ chức bộ

máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy

mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

Nhằm từng bước luật hoá việc thực hiện dân chủ, chấn chỉnh tình trạng

vô cảm, thiếu trách nhiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện pháp luật

của các cơ quan cấp xã, đồng thời thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân

biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, ngày 20/4/2007 Uỷ ban Thường vụ Quốc

hội (khoá XI) đã ban hành Pháp lệnh số 34 về “Thực hiện dân chủ ở xã,

phường, thị trấn”, thay thế Nghị định số 79-NĐ/CP, ngày 07/7/2003 của Chính

phủ về “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”.

Sau khi Pháp lệnh số 34 về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”

ban hành, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh uỷ

triển khai thực hiện, tổ chức Hội nghị quán triệt Pháp lệnh đến cán bộ, đảng

viên từ tỉnh đến cơ sở; Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh tổ chức Hội thảo

“Dân chủ trực tiếp của nhân dân tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và Giải pháp”.

Căn cứ vào những kết quả sau hội thảo, Tỉnh ủy bằng nhiều các văn bản lãnh

đạo hệ thống chính trị thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34 như: Kế hoạch

số 23-KH/TU, ngày 24/10/2007 về “Kiểm tra việc triển khai, tổ chức thực

hiện QCDC ở cơ sở”; Kết luận số 247-TBKL/TU, ngày 07/01/2008 về “Tiếp

tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Nghị

quyết số 13-NQ/TU, ngày 29/4/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về

“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và

các đoàn thể nhân dân trong giai đoạn mới”… Hàng năm, trong chương trình

31

tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ của các cấp cho các đối tượng là: Bí thư chi

bộ, Tổ trưởng Tổ dân vận, Trưởng thôn, Trưởng Ban công tác mặt trận, Chi hội

trưởng các đoàn thể đều có nội dung phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung

Pháp lệnh số 34 và các Chỉ thị, Kết luận của Đảng về xây dựng và thực hiện

QCDC ở cơ sở. Qua đó, những nội dung của Pháp lệnh dân chủ được đa số cán

bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững, giúp nâng cao nhận thức, trách nhiệm

của các cấp, các ngành, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở cơ sở…

UBND tỉnh đã cụ thể hoá các nội dung về “Dân biết, dân bàn, dân làm,

dân kiểm tra”, ban hành các văn bản chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển

khai, thực hiện, như: Chỉ thị 08/CT-UBND ngày 16/5/2007 của UBND tỉnh

về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh; Quyết định số

123/2013/QĐ-UBND, ngày 11/4/2013 về Quy chế tổ chức và hoạt động của

thôn, khu phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó quy định rõ nhiệm vụ,

quyền hạn, trách nhiệm tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ khu phố;

việc bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cử Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ khu phố

được thực hiện công bằng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật, thể hiện

được ý chí của nhân dân địa phương.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực tham gia

đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở

khu dân cư” (hiện nay là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông

thôn mới, đô thị văn minh”), cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”… đồng

thời tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội giám

sát việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Nhiều nơi làm tốt việc giúp

chính quyền đối thoại trực tiếp với nhân dân, duy trì việc lấy ý kiến của nhân

dân trước khi quyết định các chủ trương lớn ở địa phương. Lãnh đạo HĐND,

UBND cấp xã nghiêm túc kiểm điểm trước dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân

theo Điều 26 Pháp lệnh số 34. Chất lượng các kỳ tiếp xúc cử tri, các kỳ họp

HĐND, tiếp dân, giải quyết kiến nghị, đề xuất, khiếu nại, tố cáo của công dân

32

ngày càng được nâng cao, MTTQ tích cực chỉ đạo, hướng dẫn nâng cao chất

lượng hoạt động của Ban TTND, xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở

các thôn, làng, khu phố trên cơ sở các hương ước, quy ước không trái

pháp luật.

Công tác tuyên truyền của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội

MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đã thể hiện vai trò

nòng cốt trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, vận động đoàn viên, hội viên và

nhân dân thực hiện Pháp lệnh số 34, phối hợp với chính quyền các cấp tuyên

truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời, đại diện, hướng dẫn

đoàn viên, hội viên thực hiện tốt quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng

Đảng, chính quyền, giám sát, góp ý xây dựng các chương trình kinh tế - xã

hội; tham gia tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân và

công tác đối thoại, hòa giải ở cơ sở; tham gia các tổ, đội công tác giải quyết

các “điểm nóng”, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban TTND, Ban GSĐT

cộng đồng. Chủ động phối hợp với UBND cùng cấp xây dựng kế hoạch tuyên

truyền, phổ biến Nghị quyết Liên tịch số 09/2008 ngày 17/4/2008 của Chính

phủ - Ủy ban MTTQ Việt Nam hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh

thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trong đội ngũ cán bộ công chức, đoàn

viên, hội viên và nhân dân. Các nội dung hướng dẫn giám sát cán bộ dân cử,

chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh số 34 gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết

xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đạt nhiều kết quả quan trọ

Trong 10 năm qua, MTTQ các cấp chỉ đạo Ban TTND hoạt động đúng

chức năng “Giám sát, phát hiện, kiến nghị” theo quy định đã đi vào nề nếp

(hiện nay 126/126 xã, phường, thị trấn đều có hòm thư góp ý tại trụ sở), Ban

TTND đã tiến hành trên 3.000 cuộc giám sát đã tiến hành trên 500 vụ việc,

kiến nghị đến cơ quan Nhà nước xem xét, giải quyết được trên 400 vụ việc;

33

đã tuyên truyền hơn 10.600 buổi với tổng số 957.897 lượt người tham dự, bằng

nhiều hình thức như thông qua hội nghị, hệ thống truyền thanh ở cơ sở, qua

Ban Tư pháp cơ sở, các tổ chức thành viên; các nội dung tuyên truyền tập trung

vào những vấn đề nhân dân quan tâm như: việc dân bàn và quyết định trực tiếp

các khoản đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi, vận

động nhân dân giám sát các công trình đầu tư trên địa bàn xã.

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp có nhiều hoạt

động đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền vận động các chủ trương,

chính sách đến nhân dân; nâng cao chất lượng hiệu quả các cuộc vận động, các

phong trào thi đua yêu nước, tham gia tích cực hiệu quả các nhiệm vụ chính trị

của tỉnh; tăng cường công tác nắm tình hình nhân dân, tiếp tục hướng các hoạt

động về cơ sở, chủ động phối hợp với chính quyền trong việc nắm bắt, đề

xuất giải quyết các ý kiến của cử tri, chủ trì và phối hợp tổ chức hiệp

thương lựa chọn giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn ra ứng cử để bầu vào

các chức danh Trưởng thôn, Trưởng khu phố, đại biểu HĐND các cấp

theo quy định.

Hoạt động Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp

Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh duy trì hoạt động việc lãnh đạo các

cơ quan hành chính sự nghiệp thực hiện các quy chế, quy ước thực hiện dân

chủ theo Quyết định số 102-QĐ/TU, ngày 28/1/2011 của Ban Thường vụ

Tỉnh uỷ về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị ở tỉnh Bắc

Ninh”; kết quả: 38/38 đơn vị (100%) sở, ban, ngành có văn bản phân công

lãnh đạo trực tiếp phụ trách công tác dân vận và định kỳ báo cáo việc triển

khai và thực hiện công tác dân vận của ngành, đơn vị.

Ngày 11/6/2016, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh đã ban hành kế

hoạch số 02-KH/BCĐ, về việc kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ tại 4

đơn vị cấp huyện, 8 đơn vị cấp xã, 16 đơn vị cấp thôn. Đồng thời tâp trung chỉ

đạo các cấp ủy thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế đã ban hành như:

34

cấp ủy viên định kỳ đi cơ sở và dự sinh hoạt với chi bộ nông thôn; nâng cao

trách nhiệm của người đứng đầu; quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ,

đảng viên; lãnh đạo các cấp định kỳ đối thoại trực tiếp với nhân dân; phối hợp

và tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội giám sát

việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở… Nhiều vụ việc khiếu kiện đông

người, phức tạp, bức xúc, tồn đọng, kéo dài được các ngành chức năng tập

trung giải quyết bằng nhiều biện pháp, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nguyện vọng

của nhân dân.

Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC từ tỉnh đến cơ sở chú trọng bổ sung quy

chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, tích cực tham

mưu giúp cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn, kiểm

tra, khảo sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong 10 năm, Ban Chỉ đạo thực

hiện QCDC các cấp đã tham mưu giúp cấp uỷ thành lập 954 đoàn, tổ kiểm tra

(tỉnh 28, huyện 202, xã 724), tiến hành kiểm tra 1.364 đơn vị; ban hành 2.771

văn bản các loại (tỉnh 106, huyện 367, xã 2.298), tổ chức 459 lớp tập huấn,

tuyên truyền về các nội dung của Pháp lệnh 34 cho 72.069 lượt cán bộ, đảng

viên, đoàn viên, hội viên (tỉnh 18 lớp, huyện 72 lớp, cấp xã 369 lớp); chủ

động tham mưu cho cấp uỷ cùng cấp kiện toàn Ban Chỉ đạo (tỉnh 5 lần, huyện

49 lần, xã 372 lần), duy trì các hoạt động đảm bảo đúng quy chế đã ban hành

(tỉnh 17 cuộc họp, huyện 82 cuộc họp, xã 1.624 cuộc họp).

Nhằm nâng cao chất lượng tham mưu, chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ

sở, Ban Dân vận Tỉnh ủy - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện

QCDC tỉnh phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khoa học Dân vận thuộc Ban

Dân vận Trung ương tổ chức, nghiên cứu đề tài “Phương thức tập hợp, vận

động quần chúng đối với vai trò tự quản tại cộng đồng dân cư trong công tác

dân vận hiện nay” (năm 2009); phối hợp với Đoàn khảo sát của Ban Chỉ đạo

thực hiện QCDC Trung ương trực tiếp khảo sát kết quả thực hiện Pháp lệnh

34 tại 4 đơn vị: xã Thanh Khương, xã Song Hồ (huyện Thuận Thành), Thị

35

trấn Chờ, xã Đông Phong (huyện Yên Phong) năm 2011. Từ năm 2007 đến

nay, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh tiến hành hành khảo sát cơ sở 3 đợt

(năm 2009, 2013, 2015) với tổng số 3.043 phiếu cho các đối tượng là cán bộ,

đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có nội

dung đánh giá thực trạng kết quả thực hiện Pháp lệnh, vai trò, trách nhiệm của

cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và một số đề

xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Pháp lệnh số 34.

2.2.2.2. Kết quả thực hiện các nội dung của Pháp lệnh số 34- dân chủ ở

xã, phường, thị trấn

Những nội dung công khai cho nhân dân biết

Các địa phương đã thực hiện tốt việc công khai đầy đủ 11 nội dung

được quy định tại Điều 5, Pháp lệnh số 34 bằng nhiều hình thức như: niêm yết

tại trụ sở HĐND, UBND, nhà văn hóa các thôn, Hội nghị chi bộ hàng tháng,

Hội nghị quân, dân, chính Đảng, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, thông báo

trên hệ thống truyền than ộ

ế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dự toán thu,

quyết toán chi ngân sách cấp xã; phương ỗ trợ giải phóng mặt

bằng liên quan đến dự án trên địa bàn; việc quản lý và sử dụng các loại quỹ,

các khoản huy động đóng góp của dân; các quy định của pháp luật về thủ tục

hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do UBND xã,

phường, thị trấn trực tiếp thực hiện. Về quyết toán, dự toán ngân sách hằng

năm của cơ sở được thực hiện công khai trong các cuộc họp của cấp uỷ, chính

quyền, các ban, ngành đoàn thể và được thông qua các kỳ họp HĐND theo

quy định. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều tổ chức truyền thanh trực tiếp

các phiên họp của HĐND, qua đó tạo điều kiện để nhân dân nắm bắt được các

hoạt động của chính quyền cũng như kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát

triển kinh tế - xã hội của địa phương.

36

Những nội dung khác như: kế hoạch vay vốn để nhân dân phát triển sản

xuất, xóa đói, giảm nghèo, trợ cấp xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, các quy định

về thủ tục hành chính, kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch

HĐND, UBND các địa phương công khai kịp thời để nhân dân giám sát, kiểm

tra. Việc khảo sát và xét duyệt hộ nghèo được thông báo rộng rãi và được

đưa ra bình xét công khai từ các khu dân cư bảo đảm đúng đối tượng, đúng

quy định của Nhà nước và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trong 10 năm,

toàn tỉnh có 50.495 lượt hộ nghèo được vay vốn với tổng dư nợ là 2.584,3 tỷ

đồng từ quỹ quốc gia về việc làm, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng

Đông Á,... để phát triển kinh tế, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho

người lao động; có 162 nghìn lượt hộ nghèo được hướng dẫn kỹ thuật sản

xuất về nông, lâm, thủy sản; 10 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ 8,9 tỷ đồng thay

đổi điều kiện sản xuất; 100% hộ nghèo được cấp thẻ BHYT trong việc khám

chữa bệnh; hỗ trợ kinh phí tham gia BHYT đối với người cao tuổi từ đủ 65

tuổi đến dưới 70 tuổi; Bắc Ninh là tỉnh đi đầu trong việc triển khai thực hiện

hỗ trợ kinh phí cho đối tượng hộ cận nghèo tham gia BHYT tự nguyện (Ngân

sách tỉnh hỗ trợ 70% kinh phí; người dân đóng góp 30%).

Bảng 2.1. Đánh giá mức độ công khai các nội dung cho nhân dân

120

Nội dung 1

100

Nội dung 2

Nội dung 3

80

Nội dung 4

60

Nội dung 5

Nội dung 6

40

Nội dung 7

20

Nội dung 8

Nội dung 9

0

Tỷ lệ mức độ công khai các nội dung

(Tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

37

Những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp (Điều 10)

Các xã, phường, thị trấn đã thực hiện nghiêm túc việc mở rộng dân chủ

để nhân dân tham gia bàn bạc và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức

đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong

phạm vi cấp xã do dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí, tạo mọi

điều kiện để nhân dân bàn bạc, thảo luận và quyết định. Nhân dân đã tự giác

tham gia hiến đất, góp tiền, góp công và cây lâu năm để làm đường giao

thông nông thôn, xây dựng các công trình phúc lợi (trong 10 năm nhân dân

trong tỉnh đã góp 223.413 ngày công, hiến 150.000m2 đất), đồng thời thực

hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban TTND, Ban GSĐT của cộng

đồng với các công trình xây dựng do nhân dân đóng góp.

Một số nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được triển khai

thực hiện tốt ở các địa phương như việc tổ chức đóng góp quỹ phúc lợi, quỹ

vệ sinh môi trường, đầu tư hệ thống thắp sáng đường làng, ngõ xóm, xây

dựng các thiết chế văn hóa... đều được nhân dân bàn, biểu quyết và tự tổ

chức thực hiện đã đóng góp đáng kể trong việc xây dựng nông thôn mới.

Hình thức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp chủ yếu thông qua các

cuộc họp cử tri đại diện hộ gia đình tại thôn, tổ dân phố, đối với các hộ dân

còn lại chưa tán thành theo quyết định của đa số, các địa phương cũng có

nhiều hình thức trong việc tuyên truyền, thuyết phục hiệu quả như phân

công cho đảng viên phụ trách hộ hoặc hội viên, đoàn viên ở đoàn thể nào thì

giao cho đoàn thể đó tuyên truyền, vận động, thuyết phục... đã tạo được sự

đồng thuận cao của nhân dân đối với sự lãnh đạo của cấp uỷ và quản lý, điều

hành của chính quyền.

Những nội dung nhân dân bàn và biểu quyết (3 nội dung quy định tại

Điều 13)

Chính quyền cấp xã đã chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức họp dân để

lấy ý kiến, thảo luận, bàn bạc công khai và quyết định những vấn đề liên quan

38

đến xây dựng hương ước, quy ước; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn,

tổ trưởng tổ dân phố; bầu bãi nhiệm thành viên Ban TTND, Ban GSĐT cộng

đồng. Kết quả sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh số 34, hầu hết các Trưởng

thôn, khu phố được tín nhiệm bầu và được UBND các xã, phường, thị trấn

công nhận theo đúng trình tự, quy định tại Quyết định số 123/2013/QĐ-

UBND, ngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của

thôn, khu phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 100% các xã, phường, thị trấn thành lập

được Ban TTND là những người có uy tín trong nhân dân, được nhân dân tín

nhiệm, đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát đầu tư cộng đồng và

hoạt động của chính quyền. Việc tổ chức nhân dân tham gia bàn bạc, đóng góp

sửa chữa, bổ sung vào dự thảo hương ước, quy ước của thôn, khu phố đã từng

bước đi vào nề nếp, hình thức để nhân dân tham gia ý kiến, bằng cách họp cử tri

hoặc đại diện hộ gia đình, phát phiếu lấy ý kiến theo địa bàn từng thôn, khu phố.

Hàng năm có trên 85% Ban TTND hoạt động tích cực, giải quyết được cơ bản

những vấn đề bức xúc tại địa phương. Thông qua hoạt động giám sát đầu tư của

cộng đồng, các dự án xây dựng các công trình phúc lợi, văn hóa, tâm linh, việc

quản lý đất đai, thu chi tài chính, được đảm bảo và chặt chẽ hơn, các công trình

xây dựng chất lượng hơn.

Đến nay, bình quân số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn

tỉnh là:17,47 tiêu chí/xã (tăng 0,19 tiêu chí/xã so với cuối năm 2016). Có 58

xã (bằng 59,8% tổng số xã) được công nhận đạt chuẩn NTM; 01 xã đạt 19

tiêu chí chưa được công nhận; 19 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí và 19 xã đạt từ 12-

14 tiêu chí. 2 đơn vị cấp huyện (huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn) được Thủ

tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới và thị xã hoàn

thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2016, toàn tỉnh có 87 xã (bằng

89,6%) đạt hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh theo Bộ tiêu chí Quốc gia

xây dựng nông thôn mới.

39

Bảng 2.2. Đánh giá tỉ lệ ngƣời dân đƣợc tham gia và quyết định trực tiếp

Tỷ lệ người dân tham gia và quyết định trực tiếp

3%

22%

Có tha gia

Không được tham gia

Khó đánh giá

75%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến (5 nội dung quy định tại

Điều 19)

Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm

quyền quyết định như: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; phương án

phát triển ngành nghề của cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và

phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của xã; dự thảo kế hoạch

triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn xã; chủ trương, phương án đền

bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng,… được đưa ra nhân

dân góp ý trước khi chính quyền quyết định ban hành. Các Nghị quyết của

HĐND được UBND cụ thể hoá bằng kế hoạch, biện pháp thực hiện đã được

nhân dân tham gia ý kiến, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các cuộc họp

của các chi hội, Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể đã tổ chức

triển khai, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Những nội dung khác cần phải

lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết, nhờ vậy các

40

chủ trương, chính sách ban hành ở cơ sở cụ thể, sát với tình hình địa phương.

Việc thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi các cơ

quan có thẩm quyền quyết định đã được UBND phối hợp với MTTQ và các

đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương thực hiện tốt, tiếp thu nghiêm túc và

được thông báo kết quả với cử tri.

Bảng 2.3. Đánh giá tỷ lệ ngƣời dân tham gia trƣớc khi cơ quan có

100

90

80

70

Nội dung 1

60

Nội dung 2

50

Nội dung 3

40

Nội dung 4

30

Nội dung 5

20

10

0

Tỷ lệ người dân tham gia ý kiến

thẩm quyền quyết định (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

Những nội dung nhân dân giám sát (các nội dung quy định tại các điều

5, 10, 13 và 19 của Pháp lệnh tại Điều 23)

Chính quyền các cấp quan tâm, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện

quyền giám sát về những nội dung chính quyền đã công khai, những nội dung

để nhân dân bàn, quyết định và tham gia ý kiến, nhất là giám sát việc thực

hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế hoạch

phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...; hình thức giám sát của nhân dân đối với

chính quyền thông qua hoạt động giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị

- xã hội, Ban TTND, Ban GSĐT cộng đồng hoặc nhân dân trực tiếp thực hiện

việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ

41

chức có thẩm quyền tạo điều kiện cho nhân dân giám sát hoạt động của

HĐND, UBND và năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công

chức cơ sở thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, lịch tiếp dân của các xã, phường,

thị trấn. Ngoài ra, người dân còn được đóng góp ý kiến nhận xét các chức danh

cán bộ chủ chốt trong quản lý điều hành và thực hiện chức trách nhiệm vụ được

giao.

Trong 10 năm qua, MTTQ các cấp trong tỉnh đã tiếp 1.500 lượt công

dân, tiếp nhận và chuyển tới cơ quan chức năng xử lý 1.400 đơn; qua giám sát

đã phát hiện trên 600 vụ việc vi phạm; phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội

tỉnh tổ chức 400 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp, có trên 40.000 cử tri

tham dự với trên 3.000 ý kiến phát biểu kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Quốc

hội các ngành ở Trung ương, địa phương. Phối hợp với Thường trực HĐND

các cấp tổ chức trên 6.000 cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND với trên

430.000 lượt cử tri tham dự, có hàng chục nghìn ý kiến, kiến nghị của cử tri đã

được MTTQ và các đại biểu HĐND tổng hợp gửi tới UBND và các cơ quan

chức năng xem xét, giải quyết. MTTQ các cấp chủ động phối hợp với Thường

trực HĐND cùng cấp tiến hành giám sát trên 1.500 lượt cán bộ công chức

cấp huyện, trên 3.000 cán bộ công chức cấp xã; Ban TTND, Ban công tác

Mặt trận đã giám sát được 3.500 đại biểu HĐND các cấp, thông qua hoạt

động giám sát đã phát hiện 91 đại biểu (6 cấp huyện, 85 cấp xã) vi phạm

phải nhắc nhở; tiến hành 3.000 cuộc giám sát trong đó đã phát hiện 500

vụ việc, kiến nghị đến cơ quan Nhà nước xem xét, giải quyết được 400 vụ

việc (đạt 80%), Ban GSĐT của cộng đồng đã giám sát trên 3.500 công

trình phát hiện 450 công trình có vi phạm về tiến độ, chậm quyết toán, thi

công không đúng thiết kế, đã kiến nghị đến các cơ quan chức năng nhà

nước giải quyết.

42

Bảng 2.4. Đánh giá tỷ lệ ngƣời dân giám sát việc thực hiện Pháp

lệnh 34

TỶ LỆ NGƯỜI DÂN GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LỆNH SỐ 34

Được tham gia giám sát

Không được giám sát

Giám sát mang tính hình thức Giám sát khi được mời

2%

8%

3%

87%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

Trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong thực hiện Pháp lệnh số 34

(quy định tại Điều 17, Điều 18)

Chính quyền cơ sở đã quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện

nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả trong thực hiện Pháp lệnh số 34 vào từng

công tác quản lý, điều hành của chính quyền, thực hiện tốt công khai, dân

chủ, nhất là trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nông

thôn mới, công tác tiếp dân, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu chính

quyền với nhân dân… đã tạo điều kiện để cán bộ, công chức, nhân dân

tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách.

Hàng tháng, quý, năm, HĐND, UBND cấp xã đều xây dựng chương

trình công tác và thông báo đến từng khu dân cư để nhân dân kiểm tra giám

sát, trong 10 năm, toàn tỉnh đã tiếp 38.207 lượt công dân, tiếp nhận 22.927

đơn thư, kiến nghị, tố cáo, trong đó đơn thuộc thẩm quyền 2.462 đơn đã giải

quyết theo đúng thẩm quyền 2.143 đơn đạt tỷ lệ (87%); một số địa phương

43

giải quyết đơn thư, kiến nghị, tố cáo trong nhân dân thuộc thẩm quyền đạt tỷ

lệ cao như: Thành phố Bắc Ninh (đạt 98%); huyện Yên Phong (96,5 %). Công

tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, 100 % xã, phường, thị trấn

đã thực hiện theo cơ chế “một cửa”, trong đó có 82 xã, phường, thị trấn

thực hiện cơ chế “một cửa liên thông theo hướng hiện đại” (đạt 65%)

[Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11]

Thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở

được nhân dân ghi nhận gần gũi và trách nhiệm hơn. UBND các xã, phường,

thị trấn đã chủ động phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ và các

đoàn thể chính trị - xã hội giám sát việc thực hiện QCDC ở cơ sở, duy trì việc

tranh thủ lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương lớn ở

địa phương.

Bảng 2.5. Đánh giá tỷ lệ mức độ minh bạch trong việc thực hiện

Pháp lệnh 34 của chính quyền cấp xã (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)

MỨC ĐỘ MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN PHÁP LỆNH SỐ 34 CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

Khó đánh giá

Bình thường

Rất minh bạch

Không minh bạch

3% 2%

15%

80%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

Việc sửa đổi, bổ sung các Quy chế, Quy ước, Hương ước; việc lấy phiếu

tín nhiệm các chức danh chủ chốt HĐND, UBND và Trưởng thôn (Điều 26)

44

Hiện 100% các khu dân cư đều xây dựng và duy trì thực hiện Quy

chế, Quy ước, Hương ước được các cơ quan chức năng phê duyệt; hàng

năm, UBND các xã, phường, thị trấn quan tâm, chỉ đạo MTTQ, các đoàn

thể chính trị - xã hội rà soát, loại bỏ các văn bản không còn phù hợp, bổ

sung những quy định trong Nghị quyết 20, 191 của HĐND tỉnh và những

truyền thống văn hóa trên địa bàn các khu dân cư, góp phần quan trọng

vào việc phát huy dân chủ ở cơ sở, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn

hóa, khu phố văn hóa..., giữ gìn và phát huy những truyền thống, những

nét đẹp của văn hóa dân tộc. Lãnh đạo UBND cấp xã nghiêm túc kiểm

điểm trước dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân theo tinh thần Thông tri số

03-TTr/TU, Chỉ thị số 16-CT/TU về “Lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch,

Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng thôn và

Tổ trưởng khu phố”, việc lấy phiếu tín nhiệm các chức vụ chủ chốt do HĐND

cấp xã bầu đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, qua đó đã nâng cao được

chất lượng cán bộ chủ chốt cấp chính quyền cơ sở, đảm bảo quyền làm chủ

của nhân dân.

Đến hết năm 2016, toàn tỉnh có 636/731 thôn/làng, khu phố được công

nhận đạt chuẩn văn hóa (đạt 89,7%), có 262.336/291.028 gia đình được công

nhận "Gia đình văn hóa" (đạt 90%), 100% các thôn/làng, khu phố có bản Quy

ước; 90% số đám cưới được tổ chức gọn nhẹ, đúng quy định; 33,7% người

qua đời đưa đi hỏa táng [Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh số

34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

khóa XI về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” số 35-BC/TU ngày

15/10/2017 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh]. Các di sản văn hóa được bảo tồn và phát

huy giá trị, nhiều nghi thức văn hóa mới lành mạnh, tiến bộ được hình thành

và phát triển. Ban công tác Mặt trận chủ động phối hợp phối hợp cùng các

ban, ngành chức năng trong công tác bầu cử Quốc hội khóa XII, XIII, XIV;

bầu cử HĐND các cấp; thực hiện quy trình bầu 3.000 lượt trưởng thôn,

45

trưởng khu phố, đề nghị với chính quyền cấp trên bãi miễn 100 trưởng thôn,

trưởng khu phố không đủ tín nhiệm.

2.2.2.3. Kết quả thực hiện dân chủ trong các cơ quan Nhà nước

Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước,

đơn vị sự nghiệp công lập là toàn bộ cách thức, quy trình, thủ tục triển khai

thực hiện trên thực tế các quyền dân chủ của cán bộ, công chức, viên chức

được biết, được tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định

và được giám sát, kiểm tra đối với những việc có liên quan theo quy định của

pháp luật; biến các quyền dân chủ đó trở thành hiện thực trong hoạt động của

cơ quan, đơn vị.

Từ ngày 25/02/2015, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/01/2015

của Chính phủ “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước

và đơn vị sự nghiệp công lập” bắt đầu có hiệu lực thi hành và thay thế Nghị

định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1988 của Chính phủ “Về ban hành Quy

chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”. Ban Chỉ đạo Trung ương

về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có Công văn số 40-CV/BCĐTW,

ngày 02/02/2015 và Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở, tỉnh Bắc Ninh cũng đã có Công văn số 03-CV/BCĐ ngày 04/3/2015 về

việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09

tháng 01 năm 2015 của Chính phủ.

Trong 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:

100% Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương đề cao việc thực hiện dân chủ,

công khai trong tất cả các mặt hoạt động của cơ quan trong lãnh đạo, quản lý;

phối hợp tốt với tổ chức Công đoàn tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, viên

chức đúng thời gian và nội dung theo quy định; toàn tỉnh đã có 876/876

CĐCS khối hành chính và sự nghiệp công lập phối hợp với chuyên môn,

chính quyền đồng cấp tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, viên chức đạt tỷ lệ

100%, có 816/876 đơn vị tổ chức bầu Ban thanh tra nhân dân, đạt tỷ lệ 96,5%,

46

trong đó có 554 Ban thanh tra nhân dân được đánh giá là hoạt động tốt, 257

Ban thanh tra nhân dân được đánh giá là hoạt động khá và 05 trung bình. Các

cấp Công đoàn đã phối hợp với chính quyền đồng cấp nghiêm túc thực hiện

Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015, cũng như các hướng dẫn của

Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh về thực hiện dân chủ trong hoạt động của

cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập qua đó phát huy

tính dân chủ tại cơ quan, đơn vị, nâng cao hiệu quả công tác, cải tiến nề lối

làm việc, cải cách hành chính.

Thông qua việc thực hiện QCDC, các đơn vị đã bám sát quy định của

pháp luật để cụ thể hoá xây dựng các quy chế, quy định trong điều hành, quản

lý hoạt động tại đơn vị, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, đề

cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của cán bộ, công nhân,

viên chức đảm bảo quyền “được biết, được bàn, được tham gia, được kiểm

tra, giám sát” của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực hiện. Tổ

chức hội nghị cán bộ, công chức hàng năm được tiến hành nghiêm túc, đi vào

nề nếp. Năm 1999 tỷ lệ các đơn vị tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức là

62%; năm 2005 đạt 91,7%; năm 2010, đạt 95,8 %; Năm 2014 có 784/784 đơn

vị tổ chức, đạt tỷ lệ 100% (kể cả đơn vị trường học tổ chức hội nghị CBCC

theo năm học); các cơ quan xã, phường, thị trấn: 140/141 đơn vị tổ chức, đạt

99,3% [Báo cáo 10 năm thực hiện Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày

08/9/1988 của Chính phủ “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt

động của cơ quan Nhà nước”, số 136-BC/TU ngày 10/5/2009 của Tỉnh uỷ

Bắc Ninh; Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày

09/01/2015 của Chính phủ “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ

quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập” năm 2014 số 37-BC/TU ngày

08/12/2014 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh].

Quá trình thực hiện QCDC luôn gắn liền với chương trình cải cách

hành chính của tỉnh, nâng cao được nhận thức của CBCC trong, đổi mới, nâng

47

cao chất lượng, hiệu quả công việc và ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân.

Các ngành, các cấp quan tâm chỉ đạo sắp xếp tổ chức, bộ máy, luân chuyển

cán bộ; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ; rà soát, bãi bỏ một số văn bản

không phù hợp, các thủ tục phiền hà; đăng tải công khai, dân chủ các thông

tin và giải quyết thủ tục hành chính qua hệ thống thông tin điện tử, trang

web...; công khai đường dây "nóng"; xây dựng tiêu chuẩn ISO, hiện đại hoá

dịch vụ công. Đến nay, toàn tỉnh có 16/20 sở, ban, ngành, 8/8 huyện, thành

phố, thị xã, 141/141 xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện cơ chế "một

cửa", "một cửa liên thông". Đến nay, các cơ quan hành chính nhà nước đã bãi

bỏ 1.731 thủ tục hành chính, 944 mẫu đơn, mẫu tờ khai và 891 yêu cầu không

cần thiết; trong đó, số lượng thủ tục hành chính kiến nghị giữ nguyên 425 thủ

tục; số lượng thủ tục hành chính đề nghị sữa đổi, bổ sung 1.200 thủ tục, số

lượng đề nghị bãi bỏ, huỷ bỏ 108 thủ tục; số lượng thủ tục hành chính đề nghị

thay thế 38 thủ tục.

Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã

được các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, các cấp trong tỉnh chú trọng,

đặc biệt là cấp cơ sở đã tập trung giải quyết nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo và

các kiến nghị, đề xuất chính đáng của nhân dân, hạn chế tình trạng khiếu kiện

phức tạp, vượt cấp, đông người, kéo dài.

Ngoài ra, qua khảo sát thực tế tại một số cơ quan, đơn vị thuộc các

huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh với tổng số phiếu khảo sát

120 phiếu. Căn cứ các tiêu chí khảo sát đưa ra (có ban hành, không ban hành,

tốt, không tốt, bình thường); với tiêu chí có ban hành, thực hiện tốt cho thấy

mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan, đơn vị tốt và ngược lại; cụ thể:

Có 104/120 phiếu cho kết quả có ban hành, tốt; 12/120 phiếu cho kết quả bình

thường; 4/120 phiếu cho kết quả khó đánh giá và ý kiến khác. Minh hoạ bằng

sơ đồ sau:

48

Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan

Nhà nƣớc (Tổng số phiếu phát ra: 120 phiếu)

Mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan Nhà nước

10%

0% 3%

Thực hiện tốt

Thực hiện bình thường

Thực hiện không tốt

Khó đánh giá

87%

(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)

2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa

bàn tỉnh Bắc Ninh

2.3.1. Những kết quả đạt được

Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh số 34 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ về thực hiện Quy chế

dân chủ ở cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trong

tỉnh đã tổ chức quán triệt, triển khai sâu rộng đến các tổ chức, cán bộ, đảng

viên và nhân dân, được đông đảo nhân dân đồng tình, hưởng ứng, thực hiện

hiện có hiệu quả, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở, đồng thuận trong xã hội.

Các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể đã nhận thức được tầm

quan trọng trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, do vậy đã nêu cao

vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong tổ chức quán triệt, triển khai Chỉ thị, Pháp lệnh,

các Nghị định, vận dụng sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-

XH, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và thúc đẩy các phong trào thi đua yêu

nước, các cuộc vận động ở địa phương, đơn vị, đã tạo được sự chuyển biến

căn bản về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền MTTQ, các

49

đoàn thể, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về

dân chủ và thực hành dân chủ ở cơ sở.

Các cấp chính quyền đã đổi mới phong cách làm việc theo hướng gần

dân, sát dân hơn; tôn trọng, lắng nghe và chân thành tiếp thu ý kiến, nguyện

vọng chính đáng của nhân dân, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhân

dân; giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân; đẩy mạnh công tác

cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa. Mối quan hệ giữa chính

quyền với MTTQ và các đoàn thể được tăng cường; quyền và nghĩa vụ của

công dân được thực hiện tốt hơn; vai trò tự quản của cộng đồng dân cư ngày

càng phát huy hiệu quả và được khẳng định. Các tầng lớp nhân dân đã phát

huy dân chủ, đồng thuận, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, thực

hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ý thức

trách nhiệm công dân được nâng cao.

MTTQ và các đoàn thể đã đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động,

động viên đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các

cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở. MTTQ và các đoàn

thể còn tham gia giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, góp phần quan

trọng trong xây dựng và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, xây dựng

cộng đồng dân cư tự quản ở thôn, làng, tổ dân phố, làm thay đổi bộ mặt nông

thôn, thành thị; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, phương

châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện công

khai, minh bạch, hiệu quả.

Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp uỷ đảng, chính

quyền từ tỉnh đến cơ sở chuyển biến tích cực, theo phương châm "trọng dân,

gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", niềm tin của nhân dân

đối với Đảng, Nhà nước được tăng cường, khắc phục tệ quan liêu, tham

nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

góp, phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh.

50

2.3.2. Một số tồn tại, hạn chế

- Nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn

hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều

vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ

luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực

tiếp. Hiện nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức về

dân chủ còn phiến diện, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng. Có người cho

rằng dân chủ trong Đảng thì đảng viên được tự do phát ngôn và tuyên truyền

trên các phương tiện thông tin đại chúng quan điểm riêng của mình. Cá biệt, có

người còn muốn tổ chức đảng chỉ như “câu lạc bộ”, được tranh luận, bàn cãi

bất kỳ vấn đề gì, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.

Trình độ nhận thức về dân chủ cũng như việc tôn trọng và thực thi

quyền dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo và chủ chốt còn nhiều hạn

chế và chưa đầy đủ. Đồng thời, văn hoá pháp luật, văn hoá chính trị và văn

hoá nói chung của người cầm quyền và toàn xã hội còn hạn chế, chưa “cắm

rễ” và “ăn sâu” vào trong suy nghĩ, hành động của họ. Điều này làm cản trở

không nhỏ cho việc tôn trọng và bảo đảm hiệu quả dân chủ và quyền dân chủ

của nhân dân, đồng thời ảnh hưởng việc thực hiện dân chủ và quyền dân chủ

ở nước ta nói chung và Bắc Ninh nói riêng vẫn còn những hạn chế và chưa

hiệu quả cả về thiết chế cũng như tổ chức thực hiện.

- Công tác tuyên truyền chưa thường xuyên, một bộ phận nhân dân

chưa nhận thức đầy đủ về dân chủ ở cơ sở nên chỉ nặng về đòi hỏi quyền lợi,

coi nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm đối với địa phương và với cộng đồng, khiếu

kiện kéo dài, tập trung đông người (hiện nay có 125 đoàn khiếu kiện đến các

cấp, với 157 lượt, trong đó có 11 đoàn đông người có tính chất phức tạp).

Không chỉ có việc thực hiện dân chủ trực tiếp còn nhiều hạn chế mà

ngay cả dân chủ đại diện cũng còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được

nguyện vọng của nhân dân. Chẳng hạn, nhiều yêu cầu chính đáng của nhân

51

dân do đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chuyển đến các cơ quan

có thẩm quyền chưa được giải quyết; tình trạng để vụ việc tồn đọng vẫn còn

kéo dài; các Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn chỉ mới tổ chức tiếp dân và chuyển

đơn thư là chính, chưa đủ điều kiện thực hiện đầy đủ quyền giám sát việc giải

quyết đơn thư; các cơ quan của Quốc hội vẫn còn gặp khó khăn và chưa đạt

hiệu quả cao về hoạt động giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và đơn

thư khiếu tố trong khi kiến nghị và đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi

đến Quốc hội ngày càng tăng và ngày càng gay gắt.

- Một số đơn vị ở cơ sở thực hiện Pháp lệnh 34 còn hình thức, trong quá

trình lãnh đạo chỉ điều hành còn xảy ra tiêu cực, vi phạm pháp luật, mất đoàn

kết do thiếu dân chủ hoặc bị lợi dụng dân chủ. Một số nội dung liên quan đến

quyền lợi của người dân nhưng thiếu công khai, minh bạch (nhất là quy hoạch

và sử dụng đất đai, các dự án, công trình thuộc thẩm quyền cấp trên...).

- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chính quyền chưa thật sự

quan tâm đúng mức, chưa kịp thời kiểm tra, trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ vướng

mắc cho cơ sở. Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở chưa phát huy vai trò trách

nhiệm được giao, phân công trách nhiệm còn thiếu cụ thể; việc sơ kết đánh giá

kết quả, phát hiện điển hình và nhân rộng điển hình chưa kịp thời. Vai trò của

một số đoàn thể ở cơ sở tham gia tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở còn hạn chế,

chưa gắn kết được hoạt động dân chủ với nội dung hoạt động của tổ chức mình.

- Một số nơi chưa thực hiện được sự lồng ghép và gắn việc thực hiện dân

chủ với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng củng cố chính

quyền cơ sở trong sạch vững mạnh với cải cách hành chính. Hoạt động Ban

thanh tra nhân dân, Ban giám sát cộng đồng ở nhiều nơi còn hạn chế, ý thức

làm chủ của một bộ phận nhân dân chưa cao, ít tham gia sinh hoạt tổ dân phố,

thôn, xóm, còn vi phạm những quy định của địa phương trong xây dựng, trong

việc thực hiện nếp sống văn minh theo tinh thần Nghị quyết số 20, 191 của

HĐND tỉnh.

52

2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

Những hạn chế, bất cập trên đây có cả nguyên nhân khách quan và chủ

quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

2.3.3.1. Về nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do việc xây dựng pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt

động của các lĩnh vực chưa đáp ứng được các yêu cầu của kỹ thuật lập quy;

hệ thống các văn bản pháp quy về chính sách tài chính, đất đai, xây dựng... còn

một số điểm chưa đồng bộ, chưa sát với tình hình thực tế ở cơ sở gây khó khăn

trong quá trình triển khai thực hiện; thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật

về thực hiện dân chủ ở cơ quan cho thấy còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo.

Thứ hai, do mặt trái của cơ chế thị trường tác động trên nhiều lĩnh vực

đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến một bộ phận cán bộ công chức và

nhân dân theo lối thực dụng, thờ ơ với công việc chung của cộng đồng.

2.3.3.2. Về nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể

nhân dân, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở chưa nhận thức đầy đủ các quan

điểm và tư tưởng chỉ đạo, tầm quan trọng, ý nghĩa sâu sắc cũng như tính cấp

thiết, thường xuyên và lâu dài của việc, xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.

Do đó, công tác triển khai và thực hiện chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ, thậm

chí còn hình thức, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ từ nội bộ của cơ

quan, đơn vị. Vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, nhất là thủ trưởng các cơ

quan quản lý nhà nước có nơi, có lúc còn thiếu trách nhiệm, chưa quan tâm

chỉ đạo, thiếu gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng đến quá

trình thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW, do đó vẫn xảy ra tình trạng mất dân chủ, vi

phạm quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai, việc tạo môi trường, điều kiện phát huy dân chủ ở một số địa

phương, cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên; cụ thể, việc thực hiện QCDC

53

còn chậm; các nội dung công khai dân chủ thực hiện chưa đầy đủ theo quy

định nên chưa tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.

Thứ ba, một bộ phận nhân dân nhận thức về chủ trương, chính sách,

pháp luật, mối quan hệ dân chủ với kỉ cương pháp luật, quyền lợi với nghĩa vụ

công dân còn chưa đầy đủ nên còn bị lợi dụng, lôi kéo, khiếu kiện đông người,

gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, sản xuất và đời

sống nhân dân, gây khó khăn trong công việc chỉ đạo, điều hành. Công tác tiếp

công dân, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở một

số địa phương, đơn vị chưa được quan tâm thực hiện nghiêm túc, còn chồng

chéo; việc phân công trách nhiệm và tham mưu của các ngành chức năng chưa

cụ thể, việc chỉ đạo giải quyết một số vụ việc phức tạp, xử lý sai phạm một số

nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, kéo dài.

Thứ tư, công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến các văn bản và tài

liệu còn hạn chế, thiếu thường xuyên, việc triển khai Chỉ thị số 30-CT/TW và

các nghị định của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của tỉnh còn

chậm, hiệu quả chưa cao. Vì vậy, nhận thức trong cán bộ, đảng viên, công

chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân về thực hiện QCDC

ở cơ sở chưa cao. Một số nơi nhân dân ít quan tâm đến tham gia thực hiện

QCDC; tỷ lệ tham gia các buổi họp dân còn thấp, một số nơi chưa kịp thời

phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ các

nội dung triển khai của chính quyền để chấp hành; chưa kịp thời nắm chắc

tình hình, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với chính quyền

chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cho phù hợp với thực tế ở xã, phường, thị

trấn; kỹ năng và kinh phí hoạt động cho Ban TTND và Ban GSĐT cộng

đồng chưa quan tâm đúng mức nên việc hoạt động còn chưa phát huy được

vai trò, trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát.

Thứ năm, công tác tập huấn, bồi dưỡng hàng năm chưa nhiều, năng

lực và trình độ tổ chức thực hiện của cán bộ cơ sở, nhất là trong các doanh

54

nghiệp có mặt còn hạn chế. Hiện tượng quan liêu, tham nhũng, suy thoái về

phẩm chất đạo đức, hạn chế về năng lực công tác, tiêu cực và sự thiếu gương

mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được giải quyết thường xuyên

làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW.

2.4. Bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thi hành pháp

luật về dân chủ cơ sở

Thứ nhất là, nắm vững các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, nhận

thức đúng đắn về phát huy dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ

đạo của cấ ền, nhất là người đứng đầu, xem việc thực hiệ

ệm vụ chính trị quan trọng và thường xuyên. Thực tế cho

thấy, ở địa phương, đơn vị nào cấp ủy xác định rõ vai trò, trách nhiệm, chính

quyền tự giác, cán bộ chủ chốt có trách nhiệm, nhiệt tình quan tâm, lãnh đạo

việc thực hiệ ền làm chủ củ

ợc phát huy, kinh tế - xã hội phát triển, giảm

khiếu nại, tố cáo, lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền ngày càng

được nâng cao.

Thứ hai là, thực hiệ ở cơ sở phải gắn với việc phát

triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân;

đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,

thực hành tiết kiệm; giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân. Thực hiện

dân chủ phải đi đôi với giữ gìn kỷ cương, giữ vững an ninh chính trị và trật tự

an toàn xã hội.

Thứ ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực

hiệ ở cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng quy chế

cụ thể; đồng thời, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính

trị - xã hội trong việc tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã

hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đoàn thể. Tăng cường phối

55

hợp giữa các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát việc thực

ở. hiệ

Thứ tư là, thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo thực

hiệ ở cơ sở đủ mạnh, thật sự chủ động trong việc xây dựng

chương trình, kế hoạch làm việc, phân công trách nhiệm các thành viên; duy

trì tốt chế độ sinh hoạt của ban chỉ đạo; làm tốt công tác tham mưu cấp ủy,

chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiệ ở cơ sở. Đẩy

mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp,

các ngành về xây dựng và thực hiệ

Thứ năm là, việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải gắn liền

với việc đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ

Chính trị về “ Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức,

phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số

vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa

XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy

thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

56

Tiểu kết chƣơng 2

Những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh Bắc Ninh đẩy

mạnh thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, góp phần phát huy quyền

làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận, góp phần củng cố lòng tin của nhân

dân với Đảng và Nhà nước.

Để thực hiện hiệu quả QCDC, trên cơ sở bám sát các văn bản chỉ đạo

của Trung ương, Tỉnh ủy xây dựng, ban hành các văn bản để thực hiện có

hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương; tiến hành đổi

mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy theo hướng gần dân, sát dân, phát huy

quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân.

Hàng năm, Ban Chỉ đạo (BCĐ) thực hiện QCDC các cấp trong tỉnh tham mưu

cho cấp ủy đảng kiện toàn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên

trong BCĐ, chỉ đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị chủ động xây dựng kế

hoạch thực hiện QCDC; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ đó,

QCDC ở cơ sở thực sự đi vào đời sống, nâng cao năng lực điều hành của lãnh

đạo các cấp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội.

Việc thực hiện QCDC được các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc theo

đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Những chủ

trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, chính sách

hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, mức thu các loại quỹ,… được thông tin

rộng rãi đến người dân. Các xã, thị trấn phát huy vai trò nhân dân trong việc

bàn, tham gia ý kiến và quyết định trực tiếp những vấn đề liên quan đến lợi

ích của người dân. Qua đó, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa

Đảng với nhân dân, huy động nội lực sức dân tham gia các cuộc vận động,

phong trào thi đua yêu nước.

57

Chƣơng 3

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH PHÁP

LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH

3.1. Quan điểm thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở

Thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở để đáp ứng vấn đề xây dựng nhà

nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Như ở trên chúng ta đã biết, xây dựng

nhà nước pháp quyền sẽ bảo đảm được nền dân chủ và ngược lại thực hiện tốt

dân chủ là cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền. Thực hiện tốt dân chủ cơ

sở để bảo vệ, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;

góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng. Việc công khai minh bạch đặc

biệt là việc công khai tài chính sẽ là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu tình

trạng tham nhũng, lãng phí xảy ra. Ngoài ra, còn góp phần thiết thực vào việc

bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân, giúp xây dựng mối quan hệ bình

đẳng, đồng thuận giữa người dân với các cơ quan công quyền ở cơ sở

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các quan

điểm, chủ trương của Đảng và các quy định của Nhà nước về thực hiện

QCDC ở cơ sở.

Tập trung tuyên truyền sâu rộng nội dung Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ

Chính trị (khoá VIII), Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban bí thư (khoá IX), Pháp

lệnh số 34 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội (Khoá XI), các Nghị định 71, 07,

và Nghị định 87 về Dân chủ trong các loại hình cơ sở. Việc tuyên truyền về

thực hiện QCDC ở cơ sở gắn liền với việc giáo dục nâng cao nhận thức của

nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. Tiếp

tục thực hiện công cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương, đạo đức,

phong cách Hồ Chí Minh”. Phát huy vai trò các cơ quan thông tin đại chúng

trong công tác tuyên truyền. Chú trọng công tác tuyên truyền ở cơ sở với

nhiều hình thức; niêm yết các văn bản của Nhà nước về dân chủ cơ sở tại trụ

58

sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà văn hoá thôn, phát hành

tờ gấp tuyên truyền đến từng hộ gia đình, tùng người dân.

Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, phát huy

vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở

Cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để đưa ra việc xây

dựng và thực hiện QCDC thành nề nếp. Tổ chức đảng, đảng viên gương mẫu

thực hiện QCDC, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, Pháp luật Nhà nước, đi

đầu trong việc thực hiên QCDC; thực hiện tốt quy chế chất vấn trong Đảng;

đưa việc thực hiện dân chủ cơ sở thành một tiêu chuẩn để xem xét chi bộ,

đảng bộ trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, đơn vị tiên tiến xuất

sắc. Cấp uỷ Đảng lãnh đạo thực hiện QCDC cơ sở gắn chặt với việc lãnh đạo

tăng cường công tác dân vận của các cấp chính quyền, phát huy vai trò của

Mặt trận, đoàn thể để tạo hiệu quả tổng hợp.

Thứ ba, tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung của Pháp lệnh và các

Nghị định về dân chủ cơ sở

Thực hiện QCDC cơ sở đi liền với giữ vững kỷ cương, kỷ luật, quyền

lợi gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân; chống các biểu hiện lợi dụng dân

chủ để vi phạm pháp luật Chính quyền các cấp tăng cường phổ biến nâng cao

hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các nội dung

của pháp lệnh và nghị định về QCDC ở các loại hình cơ sở; rà soát bổ sung,

sửa đổi các quy chế, hương ước. Phân công cụ thể trách nhiệm của các thành

viên trong việc giải quyết các vấn đề gay cấn ở địa phương; đồng thời có kế

hoạch chỉ đạo thực hiện nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động của HĐND,

UBND, nhất là cấp cơ sở, đổi mới việc tiếp xúc cử tri để nắm tâm tư, nguyện

vọng của nhân dân. Thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động giữa HĐND,

UBND các cấp với Mặt trận, các đoàn thể; quy chế phối hợp hoạt động giữa

thủ trưởng cơ quan, ban chấp hành công đoàn; tiến hành hội nghị, đại hội cán

bộ, công chức, viên chức, người lao động theo quy định. Chỉ đạo thực hiện tốt

59

Chỉ thị 18/2000/CT-TT của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân

vận của chính quyền.

Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể trong việc thực

hiện dân chủ đại diện; đồng thời vận động nhân dân phát huy dân chủ trực

tiếp trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở

Mặt trận, các đoàn thể nhân dân tiếp tục chỉ đạo đổi mới nội dung,

phương thức hoạt động nhằm thống nhất hành động các tổ chức thành viên để

tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia thiết thực trong thực hiện

dân chủ ở cơ sở. Tăng cường vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp

nhân dân phát huy dân chủ trực tiếp ở thôn, bản, tiểu khu nhằm tuyên truyền,

vận động nhân dân phát huy nguồn lực thực hiện các chủ trương chính sách,

pháp luật, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đẩy mạnh các

phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân

cư; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên và

nhân dân.

Thứ năm, tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động

của Ban chỉ đạo QCDC ở các cấp; đẩy mạnh xây dựng các điển hình, kịp thời

khen thưởng tập thể, cá nhân thực hiện tốt QCDC ở cơ sở

Củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo các cấp theo quy định. Xây dựng, sửa

đổi, bổ sung quy chế hoạt động; phân công trách nhiệm cụ thể các thành viên

Ban chỉ đạo gắn với trách nhiệm cơ quan mà thành viên phụ trách nhằm phát

huy chức năng tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền trong chỉ đạo thực hiện

QCDC. Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức trong hệ thống

chính trị, các ngành, đoàn thể và cơ sở để kịp thời có giải pháp chỉ đạo thiết

thực hiệu quả. Hàng năm có chỉ đạo chuyên đề về thực hiện dân chủ; chỉ đạo

xây dựng các đơn vị điển hình thực hiện tốt QCDC ở các loại hình để rút kinh

nghiệm và nhân rộng.

60

Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; kiểm tra,

thanh tra, giám sát của chính quyền, kết hợp kiểm tra, giám sát của các tổ

chức đoàn thể và của cộng đông dân cư; trực tiếp giám sát của người dân

Cấp uỷ đảng, HĐND, UBND các cấp hàng năm theo chức năng, nhiệm

vụ của từng tổ chức có kế hoạch kiểm tra chuyên đề về thực hiện QCDC. Mặt

trận và đoàn thể tăng cường giám sát các hoạt động của chính quyền các cấp;

giám sát đảng viên, cán bộ công chức ở địa bàn dân cư.

3.2. Một số giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh

3.2.1. Giải pháp chung

3.2.1.1. Tiếp tục đẩy mạnh việc quán triệt thực hiện QCDC ở cơ sở theo

Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ chính trị (khóa XI) “Về tiếp

tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy

chế dân chủ ở cơ sở”, khắc phục những khuyết điểm tồn tại trong công tác thực

hiện dân chủ ở cơ sở, nhằm tạo những chuyển biến mới trong nhận thức về

thực hiện dân chủ ở cơ sở

Việc thực hiện QCDC từ huyện đến cơ sở đã được cấp ủy, thủ trưởng

các cơ quan, đơn vị, chủ tịch UBND các xã thị trấn quan tâm chỉ đạo thực

hiện một cách đồng bộ. Việc quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của

Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến đông đảo cán bộ, đảng viên,

người lao động và quần chúng nhân dân được thường xuyên. Thực hiện

QCDC ở cơ sở đã phát huy được tính làm chủ của nhân dân trong việc bàn

bạc, thống nhất trước khi quyết định thực hiện các công trình, dự án triển khai

trên địa bàn. Các chính sách ưu đãi được nhân dân biết và hưởng thụ theo

đúng đối tượng; các nội dung dân biết, dân bàn, nhất là trong xây dựng nông

thôn mới được nhân dân đồng tình ủng hộ và tham gia thực hiện. Đã phát huy

được vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan đơn vị, các

xã, thị trấn cũng như vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên trong việc xây

61

dựng cơ quan đoàn kết, văn hóa, chính quyền trong sạch vững mạnh. Nhân

dân tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của chính

quyền các cấp; nhân dân phát huy được quyền làm chủ của mình trong việc

kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền ở cơ sở.

Do dó, tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở sẽ phát huy vai

trò, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân

tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; dân

chủ trong sinh hoạt Đảng, trong quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước các

cấp không ngừng được phát huy. Bầu không khí dân chủ trong xã hội, trong

sinh hoạt cộng đồng dân cư được mở rộng, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ

chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn

xã hội; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh.

3.2.1.2. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, đạo đức công vụ cho cán

bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân

chủ và công khai, kịp thời.

Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chính là cầu nối giữa Đảng, Nhà

nước với nhân dân. Chỉ khi xây dựng được đội ngũ này có phẩm chất đạo đức

và năng lực thực thi công vụ mới có thể hiện thực hóa mọi chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, nâng cao đạo đức

công vụ cho đội ngũ CBCC cấp xã luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng

trong giai đoạn hiện nay.

Hiểu một cách chung nhất, đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực,

quy tắc, nguyên tắc, hành vi trong hoạt động công vụ của CBCC nhằm điều

chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của cán

bộ, công chức trong hoạt động công vụ. Giá trị cốt lõi mà công chức đảm

nhận thể hiện ở cách họ xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn, bao gồm

dịch vụ công tốt và từng cá nhân công chức phải trau dồi, bồi dưỡng về mọi

62

mặt để tiến bộ hơn, qua đó xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên

nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm.

Nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức chính là nâng

cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tụy với công việc; nâng cao thái độ tôn trọng

nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự

giám sát của nhân dân; là thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư

trong hoạt động công vụ; là nâng cao chủ nghĩa tập thể, tinh thần hợp tác, tôn

trọng pháp luật, tôn trọng đồng nghiệp trong thực thi công vụ.

3.2.1.3. Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội

trong việc tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viện và nhân dân tích cực

tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây

dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”

Phối hợp tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội và đại

biểu hội đồng nhân dân các cấp; phát huy vai trò giám sát của ban Thanh tra

nhân dân nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính

quyền cơ sở, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các

lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, đầu tư xây dựng... Ngoài ra, đề nghị Mặt

trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực tham gia xây dựng

chính quyền, thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp phần đấu tranh phòng

chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; phối hợp với các cơ quan

chức năng tổ chức tập huấn chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản

xuất có hiệu quả nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần xoá đói,

giảm nghèo. Từng bước đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn

thể chính trị - xã hội đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng đời sống

văn hóa, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động

nhân đạo, từ thiện, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế -

xã hội ở địa phương.

63

Vận động nhân dân phát hiện, tố giác, đấu tranh, ngăn chặn các vụ tiêu

cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội; kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt

động của Ban TTND, Ban GSĐT cộng đồng để tăng cường phát huy vai trò

dân chủ ở cơ sở.

3.2.1.4. Biểu dương, khen thưởng kịp thời những địa phương, cá

nhân thực hiện tốt; đồng thời, xử lý nghiêm minh đối với những trường

hợp mất dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ để gây rối, vi phạm pháp luật,

gây bức xúc trong xã hội và nhân dân

Công tác thi đua, khen thưởng là một nội dung quan trọng, là biện pháp

tổ chức thực tiễn, một phương pháp tuyên truyền, giáo dục tích cực để động

viên ý chí sáng tạo, quyết tâm của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm

vụ. Tại Đại hội các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc tháng 5

năm 1952, Bác Hồ đã khẳng định: “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi

đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và “thi đua, khen

thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con

người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên hàng ngày”...

Chủ động giải quyết theo thẩm quyền và tham mưu giúp cấp ủy giải

quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kết luận các vụ việc

nổi cộm trên địa bàn; xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng và

đảng viên vi phạm; xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng tố cáo, khiếu nại

sai sự thật, động cơ cá nhân, làm mất đoàn kết nội bộ; giải quyết dứt điểm các

trường hợp khiếu nại kỷ luật đảng theo quy định của Đảng đảm bảo chính

xác, đúng quy trình, không để khiếu nại kéo dài, vượt cấp. Thực hiện tốt công

tác thông tin, tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao nhận

thức, trách nhiệm của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp để thực hiện tốt hơn

nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

64

3.2.2. Các giải pháp cụ thể

3.2.2.1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kỹ năng sử dụng

quy định pháp luật về dân chủ cơ sở

Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp cho

người dân nắm bắt được pháp luật một cách kịp thời, sẽ hiểu rõ hơn về quyền

và lợi ích hợp pháp của mình. Sẽ biết cách thực hiện các quyền và nghĩa vụ

của mình như thế nào.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên

của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc

sống, làm cho mọi công dân được tiếp cận với pháp luật.

3.2.2.2. Nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai

trò, tầm quan trọng và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ sở

Thi hành pháp luật là nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống là giai đoạn

tiếp nối của xây dựng pháp luật, là chức năng đặc trưng, xuyên suốt của các

cơ quan hành chính nhà nước và là yếu tố quyết định vận hành thông suốt hệ

thống pháp luật hướng tới quản trị quốc gia tốt trong Nhà nước pháp quyền

XHCN.

Trong thi hành pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước với vị trí là một

chủ thể quyền lực nhà nước, có trách nhiệm thi hành các quy định pháp luật

thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp, luật quy định.

Đồng thời, bằng chính hoạt động thi hành các quy định về nhiệm vụ, quyền

hạn của mình, các cơ quan hành chính nhà nước tạo ra các tiền đề, điều kiện

bảo đảm cho việc thi hành pháp luật của chính mình và các chủ thể khác, nói

cách khác là tổ chức thi hành pháp luật trong phạm vi thẩm quyền của mình.

Theo đó, cơ quan hành chính nhà nước có quyền hạn và trách nhiệm (1) ban

hành văn bản hướng dẫn, tạo cơ chế để đưa Hiến pháp, pháp luật vào cuộc sống

và (2) tổ chức thi hành các văn bản pháp luật của cơ quan cấp trên và của mình

ban hành. Do đó để pháp luật nói chung và pháp luật về dân chủ cơ sở nói riêng

65

thực sự đi vào cuộc sống, có hiệu lực, hiệu quả cần nâng cao hơn nữa nhận

thức của các chủ thể này thông qua các buổi tập, hội nghị chuyên đề.

3.2.2.3. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ

đạo QCDC ở cơ sở các cấp gắn với trách nhiệm của từng cá nhân được phân

công phụ trách địa phương và các lĩnh vực.

Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về thực hiện

QCDC cho các thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC cấp huyện và cơ sở.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở,

chú trọng ở những ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến người dân,

doanh nghiệp; xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ, vi phạm quyền

làm chủ của nhân dân...

Cán bộ, công chức, đảng viên là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá

trình thực thi dân chủ tại cơ sở, do vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao

nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, cấp ủy và chính quyền

có ý nghĩa to lớn, góp phần quyết định thực thi dân chủ ở cơ sở.

Trước hết cần bồi dưỡng phong cách quần chúng, thực hành dân chủ

theo tư tưởng, phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

đưa ra khái niệm về dân chủ bằng những diễn đạt ngắn gọn: “Dân là chủ”,

“Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nước dân chủ”, “quyền hành và lực

lượng đều ở nơi dân”, và vai trò “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng”. Thực

hiện tư tưởng của Người, chính quyền phải giúp cho nhân dân có năng lực

làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, biết dùng quyền làm chủ và tạo điều kiện

về cơ chế, chính sách, pháp luật có để người dân thể hiện quyền làm chủ.

3.2.2.4. Tăng cường đối thoại giữa người dân và các cơ quan nhà nước

trong việc thực hiện quy chế dân chủ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả “năm dân

vận khéo”

Ðối thoại với nhân dân là cầu nối rất quan trọng, giúp cho việc lãnh đạo

của cấp ủy và điều hành của chính quyền các cấp sát đời sống, gần với nhân

66

dân, góp phần xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, lắng nghe, phục vụ

người dân. Những ý kiến, kiến nghị của nhân dân gửi đến người đứng đầu cấp

ủy, chính quyền là những tâm tư, nguyện vọng, là vấn đề liên quan đến quyền

và lợi ích của mỗi người dân và việc trả lời, giải quyết kịp thời, đúng đường lối,

chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sẽ góp phần nâng

cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cả hệ thống chính trị, phát huy dân

chủ, sức sáng tạo của nhân dân.

Đẩy mạnh triển khai các nội dung của “Năm dân vận của chính quyền”

ở những năm tiếp theo, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác dân vận của các

cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, trong mối quan hệ giữa chính quyền

với nhân dân; tăng cường đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục

vụ của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức.

Do đó, trong thời gian tới Bắc Ninh sẽ thực hiện các biện pháp nhằm

đem lại hiệu quả trong các cuộc đối thoại với nhân dân:

Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên

và nhân dân hiểu về bản chất, mục đích, ý nghĩa của hội nghị đối thoại giữa

người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân; tránh nhận thức việc tổ

chức hội nghị đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân

dân như tiếp xúc cử tri. Trước mỗi kỳ tổ chức hội nghị đối thoại, cần đẩy

mạnh thông tin, tuyên truyền để thu hút đông đảo nhân dân tham gia hội nghị.

Thứ hai, một trong những yếu tố quan trọng làm nên thành công của

các cuộc đối thoại là đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy,

chính quyền trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao; bởi vậy, người

lãnh đạo phải thường xuyên xuống nắm bắt tình hình thực tiễn tại cơ sở; có

tầm bao quát, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và giải quyết kịp thời các vấn đề

trọng yếu của địa phương; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, chuyên

môn nghiệp vụ, đạo đức, tác phong, lề lối làm việc.

Thứ ba, tăng cường công tác đối thoại định kỳ, đột xuất của cấp ủy,

chính quyền các cấp đối với các vấn đề lớn, liên quan đến chính sách, đời

67

sống, an sinh xã hội của nhân dân; tiếp tục thực hiện lịch tiếp công dân định

kỳ hằng tháng của đồng chí chủ tịch UBND các cấp và cụ thể hóa Quy định

số 11-QĐ/TW ngày 18-2-2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người

đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những

phản ánh, kiến nghị của dân. Hàng tháng, giao cơ quan chuyên môn tổng hợp

kết quả trả lời và tiến độ, thời gian giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cơ quan

chuyên môn báo cáo ban thường vụ cấp ủy.

Thứ tư, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị

- xã hội trong lựa chọn việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của nhân dân vào

nội dung chương trình giám sát theo Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12-12-

2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Ban hành quy chế giám sát và phản biện

xã hội của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”.

Thứ năm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chú trọng việc tổ chức

hội nghị đối thoại đột xuất khi xin ý kiến nhân dân về các chủ trương, chính

sách lớn của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng -

an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.

3.2.2.5. Gắn việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở với việc

phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng

Thực hiện Quy chế dân chủ không phải vì bản thân quy chế đó hay vì

sự ổn định xã hội nhất thời, mà đích cuối cùng là bảo đảm cho nhân dân có

cuộc sống ấm no hơn, tiến bộ hơn. Do vậy, để đạt được mục đích đó cần

hướng vào: Tạo điều kiện thuận lợi và giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp triển

khai các dự án tại địa phương; xây dựng và mở rộng nhiều mô hình xây dựng

nông thôn mới thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất

lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; thực hiện có hiệu quả các giải pháp

bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh - trật tự.

Gắn việc thực hiện QCDC với việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm

quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, tiếp tục nâng cao

trình độ dân trí, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Quan tâm

68

đến lợi ích hợp pháp, chính đáng; giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc

của người dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính nêu gương của người đứng

đầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ để thật sự phát huy Quy chế dân chủ ở cơ sở,

để người dân hiểu đầy đủ, có sự đồng thuận với cấp ủy, chính quyền, hệ thống

chính trị, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, ổn định đời sống, giữ

vững an ninh quốc phòng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó

thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở,

chú trọng kiểm tra, giám sát ở những ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp

đến người dân, doanh nghiệp.

3.2.2.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động của chế độ thực hành dân chủ

trong các cơ quan, đơn vị nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công

chức, viên chức và nâng cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

Phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị có vai trò hết sức quan trọng

góp phần để cơ quan, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng khối đại đoàn

kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị; từ đó góp phần xây dựng đội ngũ cán

bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị,

phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,

làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi

mới của đất nước. Xuất phát từ thực trạng vấn đề dân chủ trong các cơ quan,

đơn vị hiện nay; để nâng cao chất lượng của chế độ thực hành dân chủ, trước

hết cần đổi mới cơ bản về hệ thống chính trị ở các cấp chính quyền cơ sở. Do

đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở cần: đổi mới

tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới và nâng cao hiệu quả

quản lý của Nhà nước ở chính quyền cơ sở; đổi mới và kiện toàn các đoàn thể

chính trị - xã hội.

Cần tiếp tục bồi dưỡng và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công

chức cấp xã, để cán bộ, công chức cấp xã thực sự là “công bộc của nhân dân”,

làm việc cũng phải vì lợi ích của nhân dân và Nhà nước, góp phần xây dựng

69

niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Cần tăng cường công tác kiểm

tra, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc;

tăng cường công tác giáo dục rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách

mạnh của cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4

khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy

thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,

“tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chăm lo công tác đào

tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.

Có chính sách, chế độ ưu đãi thực sự để thu hút người trẻ tuổi, có trình độ

chuyên môn về công tác tại xã, phường, thị trấn.

Trong hệ thống các cơ quan, đơn vị, Công đoàn cơ sở là một tổ chức

đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ. Phát huy

vai trò của các tổ chức Công đoàn cơ sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực

quan trọng của quá trình xây dựng một nền dân chủ vững mạnh, trong sạch,

góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi trường làm việc minh bạch, thân

thiện, đoàn kết, chuyên nghiệp và hiệu quả trong các cơ quan, tổ chức. Theo

đó, mỗi cơ quan, đơn vị cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong vấn đề thực

hiện tốt quy chế dân chủ ở đơn vị mình, phù hợp với hoàn cảnh và tình hình

thực tiễn, đặc biệt là các nội dung liên quan tới quản lý tài chính tài sản, đào

tạo, thi đua khen thưởng, chính sách cán bộ... Những nội dung này phải

được tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn

vị thảo luận và cho ý kiến. Đồng thời, các cấp Công đoàn phải thường xuyên

phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt ý nghĩa, nội dung quy

chế dân chủ ở cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức; nhất là thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tuyên

dương các gương cá nhân tiêu biểu trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ

cơ sở ở cơ quan, đơn vị đó.

70

3.2.2.7. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; kiểm tra,

thanh tra, giám sát của chính quyền, kết hợp kiểm tra, giám sát của các tổ

chức đoàn thể và của cộng đông dân cư; trực tiếp giám sát của người dân

Cấp uỷ đảng, HĐND, UBND các cấp hàng năm theo chức năng, nhiệm

vụ của từng tổ chức có kế hoạch kiểm tra chuyên đề về thực hiện QCDC.

Mặt trận và đoàn thể tăng cường giám sát các hoạt động của chính

quyền các cấp; giám sát đảng viên, cán bộ công chức ở địa bàn dân cư

3.2.2.8. Kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất những kiến

nghị nhằm từng bước bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở

Sơ kết là xem xét lại một phần hoặc một giai đoạn ngắn của công việc

đã triển khai nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời cho giai đoạn tiếp

theo. Tổng kết là việc đánh giá lại toàn bộ công việc đã triển khai nhằm xem

xét mức độ thành công, thất bại để có những kế hoạch tiếp theo.

Công tác sơ kết, tổng kết việc thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở phải

nêu lên được kết quả toàn diện về triển khai công việc, kể cả mặt được và mặt

chưa được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc

phòng; phải chỉ ra được nguyên nhân khách quan và chủ quan, nguyên nhân

trực tiếp và nguyên nhân sâu xa dẫn tới những mặt đạt được và chưa đạt được

của kết quả đã nêu; phải rút ra được những bài học kinh nghiệm qua việc triển

khai công việc, nhất là những bài học kinh nghiệm tổng kết ý kiến phản hồi

của người dân được thụ hưởng chính sách và chính quyền địa phương; phải

đề xuất được các kiến nghị và giải pháp phát huy những kết quả đạt được và

khắc phục những tồn tại, yếu kém hoặc phải đưa ra được những giải pháp

khắc phục những hậu quả do việc triển khai công việc không thành công.

Để đảm bảo pháp luật về dân chủ ở cơ sở được triển khai một cách có

hiệu quả; kịp thời phát hiện những ưu, nhược điểm trong quá trình triển khai

thực hiện nhằm phát huy, nhân rộng những mặt được, hạn chế những mặt

chưa được; công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện cần phải được tiến hành

71

một cách thường xuyên, liên tục, theo lộ trình thời gian nhất định. Để làm tốt

công tác sơ kết, tổng kết, những người tham gia các hoạt động trong quá trình

triển khai thực hiện phải có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, phải biết

vận dụng kiến thức đã cập nhật được, chủ động tiến hành các hoạt động sơ

kết, tổng kết trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, từ đó đúc rút

kinh nghiệm hoàn thiện kiến thức và kỹ năng triển khai các hoạt động sơ kết,

tổng kết nói chung và sơ kết, tổng kết quá trình thi hành pháp luật về dân chủ

nói riêng.

72

Tiểu kết chƣơng 3

Dân chủ là mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta, và đồng thời cũng là nhu

cầu, nguyện vọng thiết tha của nhân dân. Dân chủ là yêu cầu, là nguyên tắc

hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở, trong đó

dân chủ ở cơ sở là bộ phận quan trọng, đảm bảo phát huy quyền làm chủ thực

sự của nhân dân. Pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng của

pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh

quan hệ giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và công dân

diễn ra ở cơ sở.

Tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam, về bản

chất là quá trình dân chủ hóa xã hội ngày càng sâu rộng hơn. Tiến trình đó

cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng của pháp luật. Dân chủ

không tách rời dân trí và dân sinh, bởi dân trí và dân sinh là nền tảng để thực

hành dân chủ ở cấp độ tương ứng. Đích cuối cùng của việc xây dựng và thực

hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là thu hút quần chúng vào hoạt động chính

trị, xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể, làm cho người dân có cuộc sống

hạnh phúc và tiến bộ. Đem lại những ứng xử văn minh và lợi ích chính đáng

cho người lao động là cách tốt nhất để các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cho

nội dung dân chủ ở cơ sở có sức sống và mang lại những giá trị thiết thực.

73

KẾT LUẬN

Pháp luật thi hành dân chủ ở cơ sở là một hệ thống các chuẩn mực, yêu

cầu đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, tổ chức phải tuân thủ trong thực hiện các

chức năng, nhiệm vụ của mình có liên quan đến quyền, lợi ích của tập thể, của

quần chúng. Trong đó đề cập cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu, của tập

thể khi đưa ra các quyết định thuộc thẩm quyền. Do đó, việc thực hiện đúng

và đầy đủ các quy định thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở của các chủ thể có

liên quan giữ vai trò quan trọng để phát huy trí tuệ tập thể và quyền dân chủ

trong tập thể, xã hội.

Ra đời cách đây hơn 20 năm, Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998

của Bộ Chính trị khóa VIII về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

(sau đây viết tắt là Chỉ thị số 30-CT/TW), là một bước tiến đáng kể trong thực

hiện dân chủ ở cơ sở, là định hướng chính trị pháp lý để ban hành các văn bản

quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các nội dung quan điểm, lãnh đạo của

Đảng về vấn đề này như Nghị quyết 45/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội ngày 26 tháng 02 năm 1998 về việc ban hành Quy chế

thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày

11/5/1998 về việ

-CP-UBTWMTTQVN ng

ong Mạt trạ t Nam na

hu

n da còn có các

- - -

n da

74

- n

da

nghiẹp cong lạ -

luạt lao đọ

- da

n da

- nghiẹ

n da

nhiẹ

149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết Khoản 3

Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi

làm việc). Với những nội dung thể chế kịp thời các quan điểm chỉ đạo của Chỉ

thị số 30-CT/TW đã tạo thành hành lang pháp lý để phát huy quyền làm chủ

tập thể ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, quyền dân chủ ở xã, phường, thị

trấn cùng với những chuẩn mực ứng xử của người đứng đầu, của chính quyền

nhà nước khi đưa ra các quyết định của mình. Đồng thời đây cũng là “hàng

rào” pháp lý góp phần ngăn chặn việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn xâm

phạm đến lợi ích của tập thể, của Nhân dân; là căn cứ để đánh giá mức độ

thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của cơ quan, chính quyền nhà nước.

Nội dung của các quy định pháp luật trên cũng là biểu hiện cụ thể của phương

châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và phục vụ cho lợi ích của

Nhân dân.

Sau hơn 20 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, hơn 10 năm thực

hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn nước ta đã có những chuyển

biến về mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội. Trong đó nền kinh tế phát triển

mới một mức độ cao, đảm bảo mọi mặt cho đời sống nhân dân. Xã hội dần

dần ổn định. Người dân phát huy quyền làm chủ của mình một cách có hiệu

75

quả trên cả hai hình thức: Dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Quyền và

nghĩa vụ của công dân cũng đã được hiểu và tiến hành một cách có hiệu quả.

Căn cứ vào tình hình thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn

tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực

song bên cạnh đó còn có nhiều hạn chế thiếu sót. Đề tài của tác giả góp một

phần nhỏ trong việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở,

đánh giá thực trạng thi hành dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, những

vấn đề đã đạt được, những vấn đề còn bất cập, hạn chế cũng từ đó tác giả đưa

ra và những nguyên nhân, giải pháp đồng thời có những kiến nghị để giúp cho

việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được tốt

hơn trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng, những quy định

của pháp luật về dân chủ cơ sở là tương đối giống nhau nên trong quá trình

nghiên cứu đề tài không thể không mắc những sai lầm, thiếu sót. Tác giả cũng

rất mong muốn nhận được sự phản hồi của bạn đọc để cho đề tài được hoàn

thiện hơn và phát huy được tốt hơn giá trị của nó.

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Xuân Ngọc (2000). Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, một

số vấn đề lý luận và thực tiễn; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Hoàng Chí Bảo (2002). Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở

cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay, Đề tài

Khoa học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.

3. Hoàng Chí Bảo (2005). Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện

nay; Nxb lý luận chính trị, Hà Nội.

4. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 5; Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.

5. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 6; Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.

6. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 7; Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.

7. Hồ Chí Minh (2000). Toàn tập, tập 8; Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

8. Hồ Chí Minh (2000). Toàn tập, tập 9; Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội.

9. Hoàng Trung Dũng (2013). Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,

phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học khoa

học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

10. Lê Minh Quân (2003). Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu

cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện

nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

11. Lương Gia Ban (2003). Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

77

12. Nguyễn Cúc (2002). Thực hiện Quy chê dân chủ ở cơ sở trong tình

hình hiện nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia,

Hà Nội.

13. Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003). Thực hiện Quy chế dân

chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay; Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội.

14. Vũ Hoàng Công (2002). Hệ thống chính trị ở cơ sở - đặc điểm, xu

hướng và giải pháp; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

15. V.I.Lenin (1978). Toàn tập, tập 31, Nxb. Tiến bộ, Matxcova.

16. V.I.Lenin (1977). Toàn tập, tập 37, Nxb. Tiến bộ, Matxcova.

17. Từ điển bách khoa Việt Nam(1995). NXB. Từ điển Bách khoa Việt Nam.

1. Nguyễn Huy Quý (2004). Về dân chủ ở cơ sở; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.

2. Nguyễn Khắc Nhật (2012). Xây dựng, hoàn thiện Nhà nƣớc pháp

quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Văn kiện Đại hội XI của Đảng; Tạp chí

Cộng sản, Hà Nội.

3. Lê Trọng Ân (2004). Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân

trong sự nghiệp đổi mới; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.

4. Trần Bạch Đằng (2003). Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống

của dân tộc Việt Nam; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.

5. Trịnh Ngọc Anh (2003). Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây

dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.

6. Trương Quang Được. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện

Quy chế dân chủ ở cơ sở; Tạp chí cộng sản, Hà Nội.

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VIII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

78

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ X; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 3, Khóa VIII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 5, Khóa IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Nghị quyết Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 6, Khóa IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

* Văn bản:

1. Ban bí thư Trung ương Đảng (2002). Chỉ thị số 10 - CT/TW về tiếp

tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, ban hành ngày

28/3/2002, Hà Nội.

2. Bắc Ninh (2009). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Nxb Văn học, Hà Nội.

3. Bộ Chính trị (1998) Chỉ thị số 30-CT/TW về Xây dựng và thực hiện

quy chế dân chủ ở cơ sở, ban hành ngày 18/02/1998, Hà Nội.

4. Chính phủ (1998). Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về Quy chế thực

hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ban hành ngày 11/5/1998, Hà Nội.

5. Chính phủ (2003). Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế

thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị định số 29/1998/CP ngày 11/5/1998,

ban hành ngày 07/7/2003, Hà Nội.

6. Chính phủ (2015) Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về việc Thực hiện

dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự

nghiệp công lập, ban hành ngày 09/01/2015, Hà Nội.

7. Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam,

http://tcnnvn, ngày 05/12/2018.

79

8. Thủ tướng Chính phủ (1998). Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg về việc

triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn, ban hành ngày 15/5/1998, Hà Nội.

9. Tỉnh uỷ (2008). Báo cáo số 72-BC/TU tổng kết 10 năm thực hiện

Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 11/5/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân

chủ ở cơ sở, ban hành ngày 22/8/2008, Bắc Ninh.

10. Tỉnh uỷ (2017). Báo cáo số 35-BC/TU tổng kết 10 năm thực hiện

Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội khóa XI về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, ban

hành ngày 15/10/2017, Bắc Ninh.

11. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015). Báo cáo số 163/BC-UBND về công

tác cải cách hành chính giai đoạn 2010 - 2015, ban hành ngày 15/12/2015,

Bắc Ninh.

12. UBND tỉnh Bắc Ninh (2020). Báo cáo số 75/BC-UBND về công tác

cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020, ban hành ngày 15/3/2015, Bắc Ninh.

13. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Pháp lệnh số 34/2007/PL-

UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, thông qua ngày

24/4/2007, Hà Nội.

* Luận văn, Luận án:

1. Hoàng Trung Dũng (2013),“Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,

phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Đại học Khoa học xã hội và

Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.

2. Lại Thế Nguyên (2014), “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên

địa bàn tỉnh Thanh Hoá”, Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Lê Thanh Hải (2015), “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân

chủ cơ sở trong trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An,

tỉnh Long An”, Học viện Hành chính Quốc gia

4. Nguyễn Thị Hoa (2018), “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các

trường trung học phổ thông từ thực tiễn tỉnh huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng

Nai”, Đại học Quốc gia Hà Nội.

80

PHỤ LỤC

Phiếu số 01 Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020

PHIẾU KHẢO SÁT

Về tình hình xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo

Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 (nay là Nghị định số

04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ)

Để phục vụ và hoàn thiện Luận văn “Tổ chức thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nhằm đưa ra các giải pháp thực hiện tốt

hơn trong những năm tiếp theo. Tôi trân trọng đề nghị các ông (bà) bớt chút

thời gian cho biết ý kiến của mình (bằng cách đánh dấu x vào ô vuông) về các

nội dung liên quan đến dân chủ cơ sở tại các cơ quan Nhà nước.

Tôi cam kết những thông tin các ông (bà) cung cấp hoàn toàn được giữ

bí mật và các câu trả lời được sử dụng vào mục đích nghiên cứu, đánh giá

việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!

I. Thông tin chung:

- Giới tính: Nam Nữ

- Tuổi: …………….

- Trình độ chuyên môn:

- Hiện đang công tác tại:

II. Nội dung câu hỏi

A. Công tác xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở

1. Quy chế hoạt động của cơ quan:

Đã ban hành Chưa ban hành

2. Quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công:

Đã ban hành Chưa ban hành

3. Quy chế về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:

81

Đã ban hành Chưa ban hành

4. Quy chế tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính và đơn thư

khiếu nại, tố cáo:

Đã ban hành Chưa ban hành

5. Quy chế về quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá cán

bộ:

Đã ban hành Chưa ban hành

6. Quy chế nâng lương:

Đã ban hành Chưa ban hành

7. Quy chế thi đua, khen thưởng, kỷ luật cán bộ:

Đã ban hành Chưa ban hành

8. Quy chế văn hóa công sở:

Đã ban hành Chưa ban hành

B. Chất lƣợng quy chế

1. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện quy

chế

- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về thực hiện dân

chủ đối với cán bộ, công chức, viên chức:

Đã quy định rõ Chưa quy định rõ

- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với cơ quan,

đơn vị cấp trên, cấp dưới:

Đã quy định rõ Chưa quy định rõ

2. Quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện quy

chế

Đã quy định rõ Chưa quy định rõ

C. Việc công khai, phổ biến các quy chế

Công khai đầy đủ Công khai nhưng chưa đầy đủ

Chưa công khai

82

D. Tổ chức thực hiện quy chế

1. Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện đúng theo quy chế đã ban hành:

Đúng Chưa đúng

2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã thực sự dân chủ đối với cán bộ,

công chức trong cơ quan và cơ quan cấp trên, cấp dưới chưa:

Dân chủ Chưa dân chủ (dân chủ hình thức)

3. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện quy chế,

quy định của cơ quan, đơn vị và thực hiện Chỉ thị 35-CT/TU, Kết luận 05-

KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Quyết định 33/QĐ-UBND của UBND tỉnh

về xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính...:

Tốt Khá Chưa tốt

E. Công tác cải cách thủ tục hành chính và giải quyết đơn, thƣ

khiếu nại, tố cáo của công dân

1. Công tác cải cách thủ tục hành chính:

Tốt Khá Chưa tốt

2. Công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân:

Kịp thời, hiệu quả Chưa kịp thời, hiệu quả thấp

G. Đánh giá hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân

1. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân:

Hiệu quả Chưa hiệu quả

2. Chất lượng Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm:

Tốt Khá Trung bình Yếu

Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)

83

Phiếu số 02 Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020

PHIẾU KHẢO SÁT

Về tình hình xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007

Để phục vụ và hoàn thiện Luận văn “Tổ chức thi hành pháp luật về dân

chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nhằm đưa ra các giải pháp thực hiện tốt

hơn trong những năm tiếp theo. Tôi trân trọng đề nghị các ông (bà) bớt chút

thời gian cho biết ý kiến của mình (bằng cách đánh dấu x vào ô vuông) về các

nội dung liên quan đến dân chủ cơ sở tại xã, phường, thị trấn (nơi ông (bà)

đang sinh sống).

Tôi cam kết những thông tin các ông (bà) cung cấp hoàn toàn được giữ

bí mật và các câu trả lời được sử dụng vào mục đích nghiên cứu, đánh giá

việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!

I. Thông tin chung:

- Giới tính: Nam Nữ

- Tuổi: …………….

- Hiện đang cư trú tại:………………………….

II. Nội dung câu hỏi

Câu 1. Xin ông (bà) cho biết mức độ hiểu biết của mình về pháp

luật dân chủ cơ sở ở xã, phƣờng, thị trấn:

1. Không biết gì 3. Biết khá rõ

2. Biết ít 4. Biết rất rõ

Câu 2. Xin ông (bà) cho biết những công việc nào dƣới đây đã đƣợc

công khai cho ngƣời dân tại địa phƣơng đƣợc biết (thông qua các hình

thức nhƣ: Niêm yết, hệ thống Đài truyền thông, cuộc họp….):

84

1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu

kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã

2. Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương

án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công

trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương

án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã 

3. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải

quyết các công việc của nhân dân 

4. Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo

chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp

5. Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,

xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn

phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo

hiểm y tế 

6. Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa

giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã 

7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham

nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy

phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và

Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã 

8. Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn

đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy

ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này 

9. Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do

chính quyền cấp xã trực tiếp thu 

10. Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các

công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện 

85

11. Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết 

Câu 3. Xin ông (bà) cho biết ông (bà) có đƣợc bàn và quyết định

trực tiếp về chủ trƣơng và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các

công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do

nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc

khác trong nội bộ cộng đồng dân cƣ phù hợp với quy định của pháp luật

1. Có 2. Không

Câu 4. Xin ông (bà) cho biết những nội dung nào dƣới đây ông (bà)

đƣợc tham gia ý kiến trƣớc khi cơ quan có thẩm quyền quyết định:

1. Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án

chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng

kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã. 

2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều

chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã. 

3. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp

xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ

sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư. 

4. Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều

chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã. 

5. Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của

pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính

quyền cấp xã thấy cần thiết. 

Câu 5. Xin ông (bà) cho biết với những nội dung nêu trên (những

việc công khai, những việc đƣợc bàn và quyết định, những việc đƣợc

tham gia ý kiến) thì ông (bà) thực hiện quyền giám sát việc thực hiện các

nội dung đó nhƣ thế nào:

1. Được giám sát 2. Không được giám sát

86

3. Giám sát chỉ mang tính hình thức 4. Giám sát khi được mời tham gia

Câu 6: Qua những nội dung trên, xin ông (bà) cho biết mức độ

minh bạch của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện Pháp lệnh dân

chủ ở xã, phƣờng, thị trấn:

1. Rất minh bạch 2. Bình thường

3. Không minh bạch 4. Khó đánh giá

Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!

87