BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÁ THỊ THIÊN TRANG
TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÁ THỊ THIÊN TRANG
TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: : 8 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ THỊ HẰNG
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đề tài: “Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh là công trình nghiên cứu độc lập dưới sự hướng
dẫn của cô: TS. Lê Thị Hằng. Ngoài ra không có bất cứ sự sao chép bài của
người khác. Các số liệu, kết quả trình bày trong báo cáo là hoàn toàn trung
thực, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về các nội dung nghiên cứu trong đề
tài.
Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020
Tác giả
Bá Thị Thiên Trang
1
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu. Để hoàn thành luận văn này Em xin
bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới cô TS. LÊ THỊ HẰNG, người
trực tiếp hướng dẫn, cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong trường Học viện
Hành chính Quốc gia đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình Em thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng chí Lãnh đạo Tỉnh uỷ,
UBND tỉnh Bắc Ninh; Lãnh đạo và cán bộ, công chức một số cơ quan, đơn vị
trên địa bàn tỉnh đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện cho Em trong
quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó sự giúp đỡ của gia đình, bạn bè và người
thân đã luôn ủng hộ và tạo điều kiện tốt nhất để em có thể tập trung nghiên
cứu và hoàn thành đề tài này.
Do về mặt kiến thức và thời gian còn hạn chế, luận văn không tránh
khỏi những thiếu sót; Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy,
cô giáo và mọi người để luận văn hoàn thiện hơn.
Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020
Tác giả
Bá Thị Thiên Trang
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. BHYT : Bảo hiểm Y tế
2. CBCC : Cán bộ công chức
3. HĐND, UBND : Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân.
4. GSĐT cộng đồng : Giám sát đầu tư cộng đồng
5. MTTQ : Mặt trận tổ quốc
6. NTM : Nông thôn mới
7. QCDC : Quy chế dân chủ
8. TTND : Thanh tra nhân dân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP
LUẬT DÂN CHỦ CƠ SỞ ............................................................................... 8
1.1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở ....................................................... 8
1.1.1. Khái niệm dân chủ .................................................................................. 8
1.1.2. Khái niệm dân chủ ở cơ sở .................................................................... 11
1.2.Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở ................................................. 13
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở ........... 13
1.2.2. Nguyên tắc của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ............ 15
1.2.3. Vai trò của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ................... 16
1.3. Nôi dụng của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở .................. 16
1.3.1. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị
trấn ................................................................................................................... 17
1.3.2. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong các cơ quan
Nhà nước ......................................................................................................... 19
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ..... 23
Tiểu kết chương 1 ............................................................................................ 26
Chương 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH ................................................. 27
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh .................................. 27
2.2. Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh .......................................................................................................... 28
2.2.1. Tình hình cơ sở trước khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ ....... 28
2.2.2. Tình hình tổ chức triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ........ 30
2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh .......................................................................................................... 49
2.3.1. Những kết quả đạt được ........................................................................ 49
2.3.2. Một số tồn tại, hạn chế ......................................................................... 51
2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế ......................................................... 53
2.4. Bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật về dân
chủ cơ sở .......................................................................................................... 55
Tiểu kết chương 2 ............................................................................................ 57
Chương 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH
PHÁP LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH58
3.1. Quan điểm thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở ................................... 58
3.2. Một số giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ở
tỉnh Bắc Ninh .................................................................................................. 61
3.2.1. Giải pháp chung .................................................................................... 61
3.2.2. Các giải pháp cụ thể .............................................................................. 65
Tiểu kết chương 3 ............................................................................................ 73
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 77
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
1. Bản đồ tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.1. Đánh giá mức độ công khai các nội dung cho nhân dân ................ 37
Bảng 2.2. Đánh giá tỉ lệ người dân được tham gia và quyết định trực tiếp .... 40
Bảng 2.3. Đánh giá tỷ lệ người dân tham gia trước khi cơ quan có thẩm quyền
quyết định (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu) ................................................ 41
Bảng 2.4. Đánh giá tỷ lệ người dân giám sát việc thực hiện Pháp lệnh 34 .... 43
Bảng 2.5. Đánh giá tỷ lệ mức độ minh bạch trong việc thực hiện Pháp lệnh 34
của chính quyền cấp xã (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu) ............................ 44
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan Nhà nước
(Tổng số phiếu phát ra: 120 phiếu) ................................................................. 49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là một khái niệm, một chế độ chính trị, sự thể hiện quyền lực
của quần chúng nhân dân có từ thời thế giới cổ đại. Dân chủ là một hình thức
tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn
gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Quan điểm về dân
chủ đã có từ rất lâu, tuy nhiên những quan điểm đó không phải khi nào cũng
đồng nhất, chỉ có một điểm rằng tất cả các quan điểm nói về dân chủ luôn đề
cao vai trò của quần chúng nhân dân. Dân chủ và cuộc đấu tranh vì dân chủ,
hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác và phát triển là một xu thế lớn của thời đại.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dân chủ là dân là chủ và dân
làm chủ".
Dân chủ và thực hành, phát huy dân chủ là một trong những đặc trưng
cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền; một trong những điều kiện tiên quyết
để hiện thực hóa, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thời gian qua đã đạt được những kết quả
bước đầu, quan trọng, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở trong xã hội, thực
hiện tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào
Đảng, Nhà nước. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương, các ngành;
làm chuyển biến một bước về ý thức, đạo đức, phong cách làm việc của cán
bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn theo hướng gần dân,
tôn trọng dân và có trách nhiệm với dân; tác động tích cực tới việc xây dựng
Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân; xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở
thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố.
1
Tuy nhiên, việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị
trấn (gọi chung là cơ sở) vẫn còn hình thức, chưa rộng khắp, đồng đều ở các
địa phương, khu vực, chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục; dân chủ
trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập chưa
được phát huy mạnh mẽ. Tình trạng vi phạm quyền dân chủ của nhân dân
cũng như lợi dụng dân chủ để vi phạm kỷ cương, pháp luật còn xảy ra ở nhiều
nơi. Việc thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở chưa thực sự gắn kết với
nhiệm vụ thường xuyên, đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng, cải cách
hành chính, chống tham nhũng, lãng phí. Công tác kiểm tra, giám sát tổ chức
thi hành dân chủ ở cơ sở còn nhiều hạn chế chưa thường xuyên, thiếu kịp
thời.
Bắc Ninh nói riêng và các địa phương trên cả nước nói chung cũng
không nằm ngoài những kết quả đạt được và những hạn chế tồn tại nêu trên.
Nhận thấy việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức
quan trọng, góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của công dân; là phương thức quản lý để bảo đảm trên thực tế
các quyền dân chủ của nhân dân được thực hiện; thông qua việc thực hiện dân
chủ cơ sở để tiếp tục hoàn thiện đường lối, chính sách, pháp luật về dân chủ,
dân chủ ở cơ sở; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và pháp luật dân chủ ở cơ sở
vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu nhằm kiện toàn và nâng cao năng lực, phẩm
chất, chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị ở cơ sở,
xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu và các hành vi tiêu cực khác; góp phần phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở.
Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện tốt vấn đề dân chủ sẽ
đảm bảo được các vấn đề mà theo tác giả đây là những vấn đề hết sức cần
thiết và tác giả cũng nhận thấy đây là điểm nhấn của luận văn, điểm mới mà
các công trình nghiên cứu trước về đề tài dân chủ rất ít đề cập tới. Mặt khác,
khi xây dựng, củng cố và phát huy nền dân chủ thì việc bảo vệ quyền con
2
người sẽ được phát huy một cách tích cực. Ngoài ra, việc thực hiện tốt vấn đề
dân chủ cơ sở góp phần trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Với
phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra nhiều công việc của cơ
quan nhà nước cần có sự tham gia của người dân, nhiều vấn đề phải công khai
cho nhân dân biết đặc biệt là công khai về tài chính đã góp phần to lớn trong
việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.Với lý do trên học viên chọn đề tài
“Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân chủ, dân chủ cơ cở là chủ đề được nhiều nhà khoa học, nhà
nghiên cứu lý luận quan tâm ở mỗi góc độ khác nhau. Có thể nêu ra một số đề
tài, công trình nghiên cứu như:
Nguyễn Cúc (2002),“Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình
hình hiện nay. Một số vấn đề lí luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này tác giả đã đề cập đến một số vấn đề lí
luận và thực tiễn của việc thực hiện Quy chế dân chủ hiện nay ở nước ta.
Nguyễn Thị Vy (2014), “Mối liên hệ giữa hoàn thiện cơ chế thực hiện
dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở với việc thúc đẩy quyền con người, quyền
công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia,
Hà Nội. Trong công trình này tác giả khẳng định tầm quan trọng của nhân dân
trong việc tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; ngoài ra, tác giả còn làm rõ
mối liên hệ giữa việc hoàn thiện cơ chế thực hiện dân chủ theo hướng đề cao
quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp 2013.
Lương Gia Ban (2003), “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ
sở”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Trong công trình này tác giả đã
nghiên cứu những quan điểm của Đảng về dân chủ và thực tiễn thực hiện ở một
số địa phương.
Lê Thanh Hải (2015), “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở trong trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh
3
Long An” Luận văn Thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia.
Trong công trình này tác giả đã nêu ra được thực trạng thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Tân An, tỉnh Long An,
từ đó đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân
chủ cơ sở.
Dương Xuân Ngọc (2000), “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong
công trình này tác giả đã xác định ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện
Quy chế dân chủ ở cấp xã; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thực hiện có quả
dân chủ ở cấp xã.
Hoàng Trung Dũng (2013),“Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội. Trong công trình này tác giả
đề cập đến thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Hà Tĩnh, từ đó xác
định nguyên nhân, đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ
sở.
Hoàng Chí Bảo (2002),“Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ
sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay”, Đề tài khoa
học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong công
trình này tác giả đánh giá thực trạng, nguyên nhân và đưa ra giải pháp trong
hoạt động của hệ thống chính trị Nhà nước ta.
Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), “Thực hiện Quy chế dân chủ và
xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia.
Lại Thế Nguyên (2014), “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên
địa bàn tỉnh Thanh Hoá” Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong
công trình này tác giả đề cập đến việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở
trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá từ đó đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
trong thời gian tiếp theo.
4
Nguyễn Thị Hoa (2018), “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các
trường trung học phổ thông từ thực tiễn tỉnh huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng
Nai”. Luận văn Thạc sỹ, trong công trình này tác giả đề cập đến các giải pháp
nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các trường trung học
phổ thông.
Có thể thấy, các công trình nêu trên đã nghiên cứu về hệ thống chính trị
cũng như việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong đó, các tác giả đã đề cập đến
lý luận về dân chủ cũng như đặt ra thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở. Tuy vậy, trong thực tế
hiện nay ít có công trình nghiên cứu cụ thể về việc tổ chức thi hành pháp luật
về dân chủ ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) và cũng chưa có đề tài nào đề cập
đến việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh.
Đề tài “Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh” góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề này nhằm chỉ ra thực trạng và
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ
sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng và các địa phương trong cả nước nói
chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tổ chức thi hành pháp luật
về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thứ nhất, phân tích những vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và tổ
chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở cơ sở
- Thứ hai, đánh giá thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở
cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, những mặt đã đạt được, những tồn tại hạn
chế, nguyên nhân của những hạn chế
5
- Thứ ba, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trong cả nước nói chung và trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là đối tượng của quản lý nhà nước và được tiến
hành trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh
- Không gian: Tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: 2007 - 2017
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phân tích, tổng
hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch sử và logic, phỏng vấn, điều tra xã hội
học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận về dân chủ ở cơ sở và tổ
chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở.
- Đề xuất các chính sách và ban hành các quy định nhằm nâng cao hiệu
quả tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
6
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thi hành pháp luật dân chủ
cơ sở
Chương 2: Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Chương 3. Quan điểm và giải pháp tổ chức thi hành pháp luật về dân
chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT
DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1. Khái niệm của dân chủ, dân chủ cơ sở
1.1.1. Khái niệm dân chủ
Khái niệm dân chủ (Désmocratie) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm 2
từ “demos” có nghĩa là dân và “kratos” là quyền lực. “Désmocratie" chỉ một
phương thức tổ chức quyền lực- chính quyền do công dân bầu ra và uỷ quyền
thực hiện chức năng quản lý xã hội; đồng thời, họ cũng có quyền giám sát và
bãi miễn nhân sự hoặc tổ chức ấy khi nó đi ngược lại lợi ích, quyền lực của
mình.
Thuật ngữ “dân chủ” đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ thời Hy
Lạp cổ đại. Hêrôđôt (484 - 425 TCN) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này
với nghĩa khởi thủy là quyền lực thuộc về nhân dân.
Theo từ điển Triết học (do M.M. Rodentan biên soạn): “Dân chủ là một
trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính
thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình
đẳng của công dân”.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Dân chủ là một hình thức tổ
chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc
của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do” [18, tr.653].
Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân
dân. Trái với dân chủ là không dân chủ. Không dân chủ có nghĩa là một
người, một nhóm người hoặc một tập đoàn người làm chủ. Chế độ độc tài,
quân chủ, chuyên chế không có dân chủ. Dân chủ là động lực của sự phát
triển xã hội; còn không dân chủ là làm cản trở sự phát triển xã hội. Bởi vì dân
chủ là quyền lợi chính đáng của người dân, được hưởng quyền dân chủ, được
8
hưởng lợi ích vật chất và tinh thần một cách chính đáng. Khi con người được
hưởng quyền dân chủ chính đáng của mình thì cũng có nghĩa là họ được đối
xử bình đẳng, công bằng. Khi đó, họ sẽ phát huy cao nhất khả năng của mình,
hết mình cống hiến cho xã hội, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển. Xã hội càng
dân chủ thì càng phát triển nhanh vì càng khơi dậy được tính tích cực của con
người.
Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, con người sống theo bầy đàn, xã
hội chưa có sự phân chia giai cấp thì chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã
xuất hiện hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử loài người. Ở đó, con người
cùng chung sống, cùng lao động và cùng sử dụng sản phẩm thu được. Đây
được coi là một hiện tượng dân chủ.
Khái niệm dân chủ xuất hiện khi có sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô
lệ. Lúc này, cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, trong xã hội đã có sự
phân chia giai cấp. Giai cấp chủ nô đã thiết lập một bộ máy bảo vệ cho mình,
đó chính là nhà nước chủ nô- nền dân chủ chủ nô được hình thành. Ở đây, giai
cấp nô lệ không có quyền lực, ngay cả quyền quyết định đoạt số phận cho
mình, họ được coi như là tài sản, là công cụ lao động của giai cấp chủ nô.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin cho rằng Nhà nước chủ
nô là hình thái dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải dành riêng
cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Có thể thấy
trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực chính trị thuộc về giai cấp chủ nô.
Nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô, nền dân chủ chủ nô
được thay thế bằng nền quân chủ phong kiến. Quyền lực hoàn toàn nằm trong
tay nhà vua, giai cấp quý tộc, phong kiến, người dân hầu như không có quyền
dân chủ. Với phương thức “cha truyền con nối”, quyền lực của vua lại truyền
cho con cháu, nhân dân không có cơ hội nắm giữ quyền lực.
Khi sản xuất phát triển lên một bước mới, giai cấp tư sản hình thành đầu
tiên ở phương Tây, trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc cách mạng Tư
9
sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập Nhà nước Tư sản. Từ đây, nền dân chủ
Tư sản được thiết lập. Đây là một bước tiến mới trong lịch sử nhân loại, giải
phóng con người, con người được trao cho nhiều quyền tự do (tự do ngôn luận,
tự do kinh doanh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…). Tuy nhiên, về bản chất thì dân
chủ Tư sản vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tư liệu
sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số trong xã
hội. Giai cấp vô sản, nhân dân lao động là người tạo ra của cải vật chất chủ
yếu cho xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản nhưng
họ lại bị giai cấp tư sản bóc lột. Do đó, trong thực tế dân chủ chỉ thực sự có
đối với giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số nhưng lại nắm trong tay phần
lớn của cải trong xã hội; còn nhân dân lao động chỉ có quyền tự do dân chủ về
hình thức hoặc một ít quyền dân chủ về chính trị. Theo V.I.Lê nin, dân chủ tư
sản luôn là một chế độ dân chủ với thiểu số, là một thứ dân chủ đối với kẻ
giàu.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, lịch sử đã sang trang,
chế độ Xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên ra đời
là nước Nga Xô Viết và một số nước khác sau đó là Việt Nam, Trung Quốc…
Nền dân chủ Tư sản thay thế bằng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, một nền dân
chủ thực sự khi tất cả mọi người dân được trao mọi quyền lực của đất nước.
Trong đó họ được quyền quyết định vận mệnh của đất nước, được tham gia
xây dựng Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu…
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, thành lập nhà
nước Dân chủ nhân dân, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm
chủ đất nước. Từ đây, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, quyền dân chủ
của nhân dân được khẳng định trong Hiến pháp. Ruộng đất thuộc về nông
dân, nhà máy, xí nghiệp được công nhân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau đó là Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- nhà nước mang bản chất của giai cấp công
10
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc được thành lập. Từ khi thành lập
đến nay, nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã tỏ rõ tính ưu việt của
nó trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh.
Tóm lại, theo phân tích trên cho thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về
phạm trù “Dân chủ” xét theo đối tượng, phương pháp và mục đích khác nhau
của nhiều bộ môn khoa học. Quan điểm về dân chủ có hai cách tiếp cận:
Một là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử - xã hội, xuất hiện và phát
triển với tư cách là sản phẩm trực tiếp của đời sống chính trị, của sự vận động
chính trị trong cuộc đấu tranh giai cấp nhằm giải quyết vấn đề quyền lực
chính trị thuộc về giai cấp nào trong xã hội.
Hai là, dân chủ là một hiện tượng lịch sử xã hội, một sản phẩm của sự
vận động chính trị bị chế ước bởi trình độ và trạng thái hiện thực của kinh tế -
xã hội; mà dân chủ còn là thành tựu của sự phát triển văn hoá nhân loại, với
tính cách là thước đo về trình độ giải phóng con người, xã hội mà loài người
đã đạt được trong mỗi thời đại lịch sử. Trong mối quan hệ này dân chủ là một
động lực, một tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội.
1.1.2. Khái niệm dân chủ ở cơ sở
Bất cứ một tổ chức nào, xét theo hệ thống cấu trúc, cũng bao gồm hệ
thống cấu trúc từ nhỏ đến lớn. Những cấu trúc nhỏ nhất trong một hệ thống có
tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập, là nền tảng cho toàn
bộ hệ thống được gọi là cơ sở. Cơ sở là “tế bào” của hệ thống. Bất cứ một
công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống, lao
động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống. Đó chính là xã, phường,
cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cơ sở…nơi diễn ra các quan hệ nhiều
mặt giữa các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị của nước ta được tổ chức
và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc cơ bản của nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, được tổ chức thành 4 cấp: Trung ương, tỉnh, huyện
và xã (cơ sở) là cấp cuối cùng.
11
Nhân dân là người trực tiếp sản xuất ra giá trị vật chất và sáng tạo ra
giá trị tinh thần. Trong lao động và sinh sống, người dân luôn gắn bó mật thiết
trong một đơn vị, một tổ chức, một cộng đồng, một địa bàn dân cư nhất định.
Mỗi công dân, một thành viên nào của tổ chức cũng đều gắn bó và sinh sống,
lao động, học tập ở một cơ sở nhất định trong hệ thống, đó là xã, phường, thị
trấn, cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, đơn vị kinh
tế cơ sở... Cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, nơi kiểm nghiệm, phản chiếu chính xác nhất đường lối của Đảng
trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Do đó, nhân dân có
quyền được biết, được tiếp cận thông tin, được bàn và được tham gia giải
quyết và kiểm tra, giám sát mọi hoạt động diễn ra ở cơ sở.
Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến vị thế của người dân ở cơ sở, trước
hết và chủ yếu là các tầng lớp người lao động đang hằng ngày làm ra của cải
vật chất và tinh thần để bảo đảm cho xã hội tồn tại, phát triển. Vì vậy, thực
hiện dân chủ ở cơ sở chính là bảo đảm và nâng cao vị thế của người dân, làm
nền tảng và động lực phát triển trực tiếp của xã hội; là giải quyết đúng đắn
vấn đề dân chủ đang được đặt ra: Mở rộng dân chủ và phát huy cao độ quyền
làm chủ trực tiếp của người dân từ cơ sở, đẩy mạnh chiều sâu dân chủ trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Dân chủ ở cơ sở không phải là hình thức, mà là một cấp độ của chế độ
dân chủ. Nội dung của dân chủ ở cơ sở được thể hiện dưới các hình thức dân
chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Củng cố và mở rộng dân chủ ở cơ sở là một
quá trình nâng cao sức mạnh và hiệu quả hoạt động của nhà nước, trước hết ở
cấp xã, phường, thị trấn và các đơn vị ban ngành.
Dân chủ ở cơ sở được thực hiện dưới hình thức dân chủ đại diện và dân
chủ trực tiếp, là hình thức nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng
cách trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng đối với những vấn đề về tổ chức và
hoạt động của mọi thiết chế ở cơ sở.
12
1.2.Tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở
Khái niệm tổ chức thi hành pháp luật
Trong khoa học pháp lý, pháp luật được nghiên cứu dưới hai phương
diện. Phương diện thứ nhất là pháp luật trong trạng thái “tĩnh” hay pháp luật
trong các trang công báo. Pháp luật theo phương diện này còn được gọi là
pháp luật thực định. Theo Hiến pháp năm 2013, đây là các quy định trong các
văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội
(UBTVQH); lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các VBQPPL của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chính
quyền địa phương các cấp. Đây là pháp luật được hình thành chủ yếu do hoạt
động lập pháp của Quốc hội và hoạt động lập quy của hệ thống các cơ quan
hành pháp.
Phương diện thứ hai của pháp luật là pháp luật trong trạng thái “động”
hay gọi là pháp luật trong hành động, pháp luật trong cuộc sống. Pháp luật
theo phương diện này là sự tuân theo pháp luật của các chủ thể trong đời sống
nhà nước và đời sống xã hội, được hình thành bằng hoạt động tổ chức thi
hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền. Giống
như phương diện thứ nhất, phương diện này của pháp luật cũng được Hiến
pháp quy định. Theo đó, tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động không thể
thiếu để pháp luật từ trạng thái “tĩnh” trở thành trạng thái “động”, làm cho
pháp luật không còn nằm trên các trang công báo mà đi vào cuộc sống. Như
vậy, hoạt động lập pháp, lập quy để hình thành một hệ thống VBQPPL (pháp
luật trong các trang công báo) và hoạt động tổ chức thi hành pháp luật là hai
mặt không tách rời của pháp luật. Không thể có mặt này mà thiếu mặt kia và
ngược lại. Không tiến hành “tổ chức thi hành pháp luật” thì pháp luật chỉ tồn
tại trên giấy, hay chỉ là những “lời nói rung động trong không khí”. Ngược
13
lại, không có những quy định của pháp luật trong các trang công báo thì cũng
không có việc tổ chức thi hành những quy định pháp luật này. Trong nhà
nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, đề cao nguyên tắc pháp quyền không
thể không coi trọng một cách đồng bộ cả hai phương diện của pháp luật. Nhất
là trong điều kiện của nước ta, khi mà ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của
nhiều người dân còn thấp thì việc tổ chức thi hành pháp luật càng giữ vai trò
đặc biệt quan trọng.
Hiến pháp năm 2013 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là
“Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp luật, nghị
quyết của UBTVQH, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước” (khoản 1 Điều 96),
Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ: “Lãnh đạo tổ chức thi hành pháp luật”
(khoản 1 Điều 98); Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có nhiệm vụ:
“Tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành,
lĩnhvực trong phạm vi toàn quốc” (khoản 1 Điều 99); Chính quyền địa
phương có nhiệm vụ: “Tổ chức đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật
tại địa phương” (khoản 1 Điều 112); và Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp có
nhiệm vụ: “Tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương”
(khoản 2 Điều 114). Thi hành pháp luật trong thuật ngữ “tổ chức thi hành
pháp luật” của Hiến pháp năm 2013, theo chúng tôi, có nội dung rất rộng,
không chỉ là một hình thức thực hiện pháp luật mà còn bao gồm các hình thức
thực hiện pháp luật khác như: tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật và áp
dụng pháp luật mà lý luận về thực hiện pháp luật đã được viết trong các sách
giáo khoa về lý luận nhà nước và pháp luật đang giảng dạy ở các trường đại
học luật. Với quan niệm đó, “tổ chức thi hành pháp luật” viết trong Hiến pháp
năm 2013 được hiểu là “tổ chức thực hiện pháp luật” (thi hành pháp luật ở
đây chính là thực hiện pháp luật). Vì vậy “tổ chức thi hành pháp luật” viết
trong Hiến pháp năm 2013 được hiểu theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với tổ chức
thực hiện pháp luật, tức là bao gồm tổ chức thực hiện cả bốn hình thức thực
14
hiện pháp luật chứ không chỉ một hình thức thực hiện pháp luật là thi hành
pháp luật.
Đặc điểm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
- Chủ thể tổ chức thi hành pháp luật là Chính phủ, Thủ tướng Chính
phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chính quyền địa phương và
UBND các cấp.
- Mục đích của tổ chức thi hành pháp luật là làm cho các quy định của
pháp luật thực hiện trong cuộc sống trở thành những hành động thực tế hợp
pháp của các chủ thể pháp luật. Hay nói cụ thể, mục đích của tổ chức thi hành
pháp luật là làm cho các chủ thể pháp luật tuân thủ pháp luật, thi hành pháp
luật, sử dụng và áp dụng đúng đắn pháp luật. Đó chính là đòi hỏi của nguyên
tắc pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCN
mà chúng ta đang xây dựng.
- Đối tượng của tổ chức thi hành pháp luật là đối tượng của quản lý nhà
nước và được tiến hành trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà
nước. Như vậy, đối tượng của tổ chức thi hành pháp luật có phạm vi rất rộng;
ở đâu có quản lý nhà nước ở đó có việc tổ chức thi hành pháp luật. Chính vì
thế, tổ chức thi hành pháp luật là nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống các cơ
quan hành chính nhà nước, là thẩm quyền của các cơ quan thực hiện quyền
hành pháp.
1.2.2. Nguyên tắc của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
- Tổ chức thi hành pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức đưa pháp
luật thực định vào đời sống nhà nước và đời sống xã hội, làm cho pháp luật
sau khi ban hành có hiệu lực thực thi trong thực tế. Thi hành pháp luật theo lý
luận chung về nhà nước và pháp luật, là một hình thức thực hiện pháp luật,
trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng các hoạt động
tích cực. Như vậy, tổ chức thi hành pháp luật có một trong những nội dung
quan trọng là tổ chức để các chủ thể tuân theo các các nghĩa vụ pháp lý của
15
mình bằng các hành động tích cực trong thực tế; góp phần làm cho xã hội
thượng tôn pháp luật mang tính chất tự giác.
- Tổ chức thi hành pháp luật theo nghĩa rộng là trách nhiệm của tất cả
các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước từ
lập pháp, hành pháp, tư pháp đến các thiết chế Hiến định khác. Tuy nhiên, tổ
chức thi hành pháp luật với tư cách là một thẩm quyền độc lập, chuyên trách
được Hiến pháp giao cho hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thực
hiện. Theo đó, có thể định nghĩa, tổ chức thi hành pháp luật là thẩm quyền
hiến định có tính độc lập, chuyên trách của hệ thống các cơ quan hành chính
nhà nước nhằm đưa pháp luật trên các trang công báo trở thành các hành động
tích cực tuân theo pháp luật trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội.
1.2.3. Vai trò của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
- Là hoạt động để hiện thực hóa kết quả của hoạt động lập pháp, lập
quy trong thực tiễn. Vì thế, nó là đầu ra quan trọng nhất của hoạt động lập
pháp, đảm bảo cho sản phẩm của hoạt động lập pháp có hiệu lực và hiệu quả
trong thực tế.
- Là hoạt động hàng đầu của cơ quan thực hiện quyền hành pháp, đảm bảo
cho Hiến pháp, luật giữ địa vị thống trị trong nhà nước pháp quyền, phát huy đầy
đủ vai trò của mình trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, đảm
bảo cho nguyên tắc pháp quyền được thực thi trong hoạt động hành pháp.
- Thông qua việc tổ chức thi hành pháp luật mà phát hiện những lỗ
hổng, những quy định pháp luật không phù hợp, không đi vào cuộc sống, góp
phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp và lập
quy, đảm bảo cho nguyên tắc pháp quyền được thực thi đầy đủ trong hoạt
động lập pháp và lập quy.
1.3. Nôi dụng của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật bao gồm một chuỗi các hoạt
động kế tiếp nhau, quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, hoạt động trước là tiền đề, là
16
điều kiện quyết định cho hoạt động sau. Nội dung tổ chức thi hành pháp luật
phổ biến bao gồm các hoạt động sau:
1.3.1. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ ở xã,
phường, thị trấn
Sau một thời gian thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, để nâng cao giá
trị pháp lý của các quy định về dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban TVQH đã ban hành
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (thay thế Nghị định
79/2003/NĐ-CP) số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm có các nội dung:
1.3.1.1. Những nội dung cần công khai để dân biết
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã.
- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công
trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân.
- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo
chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp.
- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,
xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn
phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo
hiểm y tế.
- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy
17
phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và
Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.
- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy
ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này.
- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do
chính quyền cấp xã trực tiếp thu.
- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công
việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện.
- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
1.3.1.2. Những nội dung nhân dân được bàn và quyết định
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp
xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp
xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và
các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của
pháp luật.
1.3.1.3. Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có
thẩm quyền quyết định
- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng
kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.
- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều
chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.
- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp
xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ
sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.
18
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh
địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.
- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của
pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính
quyền cấp xã thấy cần thiết.
1.3.1.4. Những nội dung nhân dân giám sát
Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội dung quy định tại các điều 5,
10, 13 và 19 của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, cụ thể:
- Điều 5: Những nội dung công khai để nhân dân biết.
- Điều 10: Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp.
- Điều 13: Những nội dung nhân dân bàn và biểu quyết.
- Điều 19: Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến.
1.3.1.5. Trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở ở cấp xã
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân, Uỷ
ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tổ
chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp
với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận ở cấp xã có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và tham gia tuyên truyền,
vận động nhân dân thực hiện dân chủ ở cấp xã.
1.3.2. Nội dung của tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong các
cơ quan Nhà nước
Đối với khối cơ quan Nhà nước cho đến nay vẫn thực hiện theo Nghị
định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt
động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế
19
Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ về ban hành Quy
chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan), gồm các nội dung sau:
Những việc phải công khai để cán bộ, công chức, viên chức biết
- Chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên
quan đến công việc của cơ quan, đơn vị.
- Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý, hàng tháng của cơ quan, đơn vị.
- Kinh phí hoạt động hàng năm, bao gồm các nguồn kinh phí do ngân sách
nhà nước cấp và các nguồn tài chính khác; quyết toán kinh phí hàng năm của cơ
quan, đơn vị; tài sản, trang thiết bị của cơ quan, đơn vị; kết quả kiểm toán.
- Tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển,
biệt phái, từ chức, miễn nhiệm; hợp đồng làm việc, thay đổi chức danh nghề
nghiệp, thay đổi vị trí làm việc, chấm dứt hợp đồng làm việc của viên chức; đi
công tác nước ngoài, giải quyết chế độ, nâng bậc lương, nâng ngạch, đánh giá,
xếp loại công chức, viên chức; khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối
với cán bộ, công chức, viên chức; các đề án, dự án và việc xây dựng các văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan, đơn vị.
- Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan, đơn vị đã được kết
luận; bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo
quy định của pháp luật.
- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ
cơ quan, đơn vị.
- Các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.
- Kết quả tiếp thu ý kiến của cán bộ, công chức, viên chức về những vấn
đề thuộc thẩm quyền quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đưa ra lấy
ý kiến cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Điều 9 của Nghị định này.
- Văn bản chỉ đạo, điều hành của cơ quan quản lý cấp trên liên quan
đến công việc của cơ quan, đơn vị.
Những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến, người đứng
đầu cơ quan, đơn vị quyết định
20
- Chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của
Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan, đơn vị.
- Kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị.
- Tổ chức phong trào thi đua của cơ quan, đơn vị.
- Báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan, đơn vị.
- Các biện pháp cải tiến tổ chức, hoạt động và lề lối làm việc; phòng,
chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống quan liêu,
phiền hà, sách nhiễu nhân dân.
- Kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên
chức; bầu cử, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức.
- Thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của
cán bộ, công chức, viên chức.
- Các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.
Những việc cán bộ, công chức, viên chức giám sát, kiểm tra
- Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, đơn vị.
- Sử dụng kinh phí hoạt động, chấp hành chính sách, chế độ quản lý và
sử dụng tài sản của cơ quan, đơn vị.
- Thực hiện các nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị.
- Thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích
của cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị.
Trách nhiệm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ trong cơ quan Nhà
nước
- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị:
Thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan,
đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính
sách đối với cán bộ, công chức, viên chức.
21
Tổ chức đánh giá định kỳ hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên
chức thuộc thẩm quyền quản lý theo trình tự, thủ tục quy định. Lắng nghe ý
kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức, viên chức. Khi cán bộ, công
chức, viên chức đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời
gian thích hợp để gặp và trao đổi.
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng;
xử lý và tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý người có hành
vi tham nhũng; nếu thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng trong cơ quan,
đơn vị thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Chỉ đạo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tài liệu, cách
thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm giải trình những
nội dung công việc trong cơ quan, đơn vị 9. Xem xét, giải quyết kịp thời theo
quy định của pháp luật các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của cán bộ, công chức,
viên chức và kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân của cơ quan, đơn vị; kịp
thời báo cáo với cơ quan có thẩm quyền những vấn đề không thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình.
Kịp thời xử lý người có hành vi cản trở việc thực hiện dân chủ trong
hoạt động của cơ quan, đơn vị và người có hành vi trả thù, trù dập cán bộ,
công chức, viên chức khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật.
- Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức:
Nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế làm việc của cơ quan, đơn
vị; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và bảo đảm thông tin chính xác, kịp
thời; thực hiện các quy định về nghĩa vụ, đạo đức, văn hóa giao tiếp, quy tắc
ứng xử, nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp và những việc không được
làm theo quy định của pháp luật
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người phụ trách trực tiếp và
trước người đứng đầu trong cơ quan, đơn vị về việc thi hành nhiệm vụ của
mình. Trong khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức được trình bày ý kiến,
22
đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình
khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp, nhưng vẫn phải chấp hành sự
chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo
lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Đối với viên chức được quyền
từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật,
được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm
vụ được giao.
Thực hiện phê bình và tự phê bình nghiêm túc, phát huy ưu điểm, có
giải pháp sửa chữa khuyết điểm; thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội
bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.
Đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các văn bản, đề án của cơ quan,
đơn vị khi được yêu cầu. Báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi
vi phạm pháp luật trong hoạt động của cơ quan, đơn vị.
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ
cơ sở
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật ở nước ta rất đa
dạng và phức tạp
Sự phát triển kinh tế xã hội: Quá trình thực hiện pháp luật chịu ảnh
hưởng mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế xã hội. Nước ta là một nước đang
phát triển, trình độ kinh tế xã hội ở mỗi vùng miền là khác nhau, do đó nó
cũng ảnh hưởng nhất định đến việc thực hiện pháp luật ở nước ta. Kinh tế có
phát triển, đời sống vật chất được nâng cao thì pháp luật mới có điều kiện và
khả năng được thực hiện. Điều kiện văn hóa xã hội, giáo dục không ngừng
phát triển, mở rộng làm chuyển biến đáng kể trình độ dân trí, cách nghĩ và
tầm nhìn của người dân Việt Nam không ngừng được cải thiện, đặc biệt là tư
duy pháp lý. Người dân có nhiều điều kiện tiếp xúc với các phương tiện thông
tin đại chúng như loa đài, ti vi, sách báo… để hiểu pháp luật hơn, họ sẽ dễ
dàng thi hành pháp luật, tuân theo pháp luật. Nhưng khi kinh tế kém phát
23
triển, cuộc sống của nghười dân nghèo đói thì hiện tượng vi phạm pháp luật
tràn lan là không có gì đáng ngạc nhiên, bởi mối quan tâm hàng đầu của
người dân lúc đó là miếng cơm manh áo, họ sẽ thờ ơ với pháp luật, thậm chí
còn vi phạm pháp luật để kiếm sống. Vì vậy cần phải chú ý phát triển kinh tế
xã hội ở tất cả các vùng miền, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa…
Hệ thống pháp luật: Bản thân pháp luật sinh ra là để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, là cơ sở để các chủ thể thực hiện pháp luật. Song chính các
mặt, các khía cạnh khác nhau của chuẩn mực pháp luật cũng có ảnh hưởng
nhất định đến hoạt động thực hiện pháp luật. Người dân thực hiện pháp luật
tốt hơn với một hệ thống pháp luật toàn diện, đồng bộ và phù hợp. Có thể nói
pháp luật là đời sống xã hội được khái quát hóa và nâng lên thành luật thông
qua hoạt động lý trí và ý chí của con người. Do vậy sự thống nhất, toàn diện,
đồng bộ, phù hợp của các văn bản pháp luật, đặc biệt là các đạo luật là vô
cùng quan trọng, đảm bảo cho hiệu quả của việc thực hiện pháp luật. Trong
thực tiễn xây dựng pháp luật ở nước ta, nhiều văn bản pháp luật được ban
hành chưa phù hợp với qui luật phát triển khách quan của xã hội, chưa đồng
bộ và thống nhất. Có khi nhiều văn bản pháp luật vừa ban hành đã phải sửa
đổi, bổ sung, thậm chí phải được thay thế bằng văn bản khác, vì nếu để
nguyên không những không thực hiện được trong thực tế mà còn gây thiệt hại
cho đất nước.
Yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả
của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, đặc biệt là các cá
nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật. Một đất nước có
môi trường chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động thực
hiện pháp luật, bởi nó củng cố niềm tin của người dân, để họ tin và đi theo
Đảng. Một đất nước bất ổn về chính trị sẽ luôn khiến người dân hoang mang,
lo lắng, dao động… và dẫn đến thực hiện pháp luật không tốt. Nhận thấy đây
là một trong những yếu tố quan trọng cho việc thực hiện pháp luật hiệu quả,
24
chính xác, hiện nay Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sắc đối với việc
tuyên truyền và phổ biến kiến thức nhằm nâng cao ý thức chính trị cũng như
hiểu biết pháp luật cho các Đảng viên và đã đạt được những kết quả tốt đẹp,
để các Đảng viên luôn là những người đi trước, gương mẫu thực hiện pháp
luật, từ đó tăng được lòng tin của quần chúng nhân dân. Ngoài ra tính chất,
mức độ của nền dân chủ xã hội cũng ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động
thực hiện pháp luật. Trong điều kiện xã hội có nền dân chủ rộng rãi, các tầng
lớp xã hội có thể thẳng thắn, công khai bày tỏ ý kiến, quan điểm, nguyện vọng
của mình đối với các vấn đề pháp luật và các cơ quan pháp luật, sẵn sàng lên
tiếng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngược lại, trong điều
kiện xã hội thiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, bầu không khí chính trị ngột
ngạt, gò bó thì các công dân không dám bày tỏ những suy nghĩ thật của mình,
không dám đòi hỏi công lý vì tâm lý lo lắng, e ngại.
Bộ máy nhà nước: Bộ máy nhà nước có ảnh hưởng nhất định đến việc
thực hiện pháp luật. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm trong tổ chức thực
hiện pháp luật phải được tổ chức một cách khoa học có sự phân công rõ ràng
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn… để xử lý công việc nhanh chóng không
chồng chéo lên nhau. Sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ và thiếu sự phối hợp
với nhau ở các cơ quan trong bộ máy nhà nước sẽ dẫn đến sự chồng chéo
trong cách giải quyết và sự đùn đẩy lẫn nhau. Có sự việc thì nhiều cơ quan
cùng giải quyết, nhưng cũng có sự việc thì không cơ quan nào chịu trách
nhiệm cả. Hiện nay, bộ máy nhà nước ta đã có nhiều chuyển biến khá tích
cực, để việc thực hiện pháp luật đạt kết quả tốt hơn. Các yếu tố ảnh hưởng
đến việc thực hiện pháp luật là vô cùng phong phú đa dạng, mong rằng pháp
luật sẽ ngày càng phát huy vai trò của nó trên cơ sở phát huy những yếu tố
tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các yếu tố trên.
25
Tiểu kết chƣơng 1
Dân chủ là vấn đề được đề cập đến từ thời cổ đại. Trải qua quá trình
phát triển của lịch sử từ chế độ xã hội Cộng sản nguyên thủy cho đến nay,
quan niệm về dân chủ đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực như
đúng bản chất ý nghĩa của nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng lí giải khái niệm
một cách ngắn gọn và dễ hiểu nhất “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân là
chủ, dân làm chủ” [ 5, tr. 215]. Từ đó, ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã
xác định dân chủ là bản chất của chế độ XHCN Việt Nam. Với phương thức
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở phạm vi cơ sở, dân chủ phải
được thực hiện triệt để nhất; bởi vì đây là nấc quan trọng nhất để củng cố lòng
tin của nhân dân, tạo nên sức mạnh vững chắc nhất của toàn Đảng, toàn dân
trong công cuộc xây dựng đất nước.
Ngày nay, dân chủ không chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị hay pháp
luật, mà thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các mối quan hệ
giữa con người với con người, giữa cá nhân với cộng đồng, giữa công dân với
Nhà nước, giữa các tổ chức, thiết chế xã hội cho đến quan hệ giữa các quốc
gia trên trường quốc tế. Để những giá trị của dân chủ phát huy vai trò động
lực cho sự phát triển, khái niệm dân chủ cần được nhận diện và thể chế hóa
thành những quy định đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt
Nam.
26
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH PHÁP LUẬT DÂN CHỦ
CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh
Vào năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sáp nhập với tỉnh Bắc Giang thành
tỉnh Hà Bắc. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang
trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sáp nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một
trung tâm kinh tế- xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ
giao lưu với thủ đô Hà Nội. Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính
thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 (ngày
06 tháng 11 năm 1996. [Nghị quyết của Quốc hội khóa IX kì họp thứ 10].
Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, thuộc Đồng bằng
sông Hồng và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ nên Bắc Ninh là tỉnh
có các đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung
tâm kinh tế, thương mại và văn hoá của miền Bắc. Quốc lộ 1A nối Hà Nội -
Bắc Ninh - Lạng Sơn; đường cao tốc Quốc lộ 18 nối sân bay Quốc tế Nội Bài
- Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng;
trục đường sắt xuyên Việt đi Lạng Sơn và Trung Quốc. Mạng lưới đường
thuỷ sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình chảy ra biển Đông. Đây là những
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội và giao lưu với bên
ngoài.
Sau hơn 20 năm xây dựng, đổi mới và phát triển của Bắc Ninh không
những là niềm vui, niềm tự hào của mỗi người dân trong tỉnh mà còn là động
lực, là tiền đề để toàn Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tiếp tục phấn đấu, nỗ
lực quyết tâm đưa Bắc Ninh vươn lên tầm cao mới, trở thành thành phố trực
thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI.
27
2.2. Thực trạng tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh
2.2.1. Tình hình cơ sở trước khi triển khai thực hiện Pháp lệnh dân chủ
Trước khi Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn ra đời; vấn đề dân
chủ ở các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói
chung thực hiện dựa trên cơ sở pháp luật sau:
- Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị về việc xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị số 30/CT-TW được ban
hành trong bối cảnh “quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi,
trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều ngành; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham
nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân mang tính phổ biến. Phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và việc thể
chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống”.
- Thể chế hóa nội dung Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 45/1998/NQ-
UBTVQH10 ngày 26/02/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn. Nghị quyết đã khẳng định phương châm “dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra” và lấy đó làm cơ sở để “giao Chính phủ ban hành
Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”.
- Sau khi Nghị quyết số 45/1998/NQ-UBTVQH10 được thông qua,
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về Quy
chế thực hiện dân chủ ở cấp xã. Với sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã, phường, Nhà nước ta đã tạo ra một công cụ pháp lý về thực hiện dân chủ
ở cơ sở, trao cho các tầng lớp nhân dân ở cơ sở những quyền dân chủ thực sự,
bao gồm: quyền được biết các nội dung liên quan đến đời sống kinh tế - xã
hội của nhân dân ở cơ sở; quyền được bàn và quyết định trực tiếp, bàn và biểu
quyết để cấp có thẩm quyền quyết định đối với những vấn đề quan trọng của
địa phương; quyền được tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền
28
quyết định; quyền giám sát đối với tất cả các nội dung mà nhân dân được
công khai để biết, được tham gia ý kiến và quyết định trực tiếp.
- Sau 5 năm thực hiện Nghị định số 29/1998/ NĐ-CP, căn cứ Nghị
quyết số 17/NQ-TW ngày 18/3/2002 của Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa IX) về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống
chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn và Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002
của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã (Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003), thay thế Nghị định
số 29/1998/ NĐ-CP. Về cơ bản, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ
vẫn giữ nguyên những nội dung cốt lõi về các quyền dân chủ của nhân dân ở
cơ sở, chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều cho phù hợp, đi vào thực chất, cụ thể
hơn theo hướng tăng cường vai trò, trách nhiệm của bộ máy chính quyền cấp
xã trong việc thực hiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục
khẳng định: phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến
trình phát triển nước ta. Do đó, năm 2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa
XI đã thông qua Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Pháp
lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11) thay thế Nghị định số 79/2007/ NĐ-CP.
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 gồm 6 chương, 28 điều, là văn
bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất từ trước đến nay và có
phạm vi điều chỉnh toàn diện hơn về việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, trong đó
quy định các vấn đề cơ bản như: nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp xã; trách
nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã; các hành vi bị nghiêm cấm; những
nội dung công khai để nhân dân biết và hình thức công khai; những nội dung
nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước
khi cơ quan có thẩm quyền quyết định và những nội dung nhân dân tham gia
giám sát.
29
Đối với khối cơ quan nhà nước, các văn bản hướng dẫn thực hiện dân
chủ ở cơ sở được thể hiện ở Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998
của Chính phủ quy định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính,
Chỉ thị số 38/1998/CT-TTg ngày 11/11/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
triển khai Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan; Thông tư
liên tịch 09/1998/TTLT-TCCP-LĐLĐ ngày 04/12/1998 hướng dẫn về tổ chức
và nội dung hội nghị cán bộ trong cơ quan, Quyết định số11/1998/QĐ-TCCP-
CCVC của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ngày 05/12/1998 kèm theo Quy
chế đánh giá công chức hằng năm. Đến nay, dân chủ ở cơ sở đối với khối cơ
quan, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP
ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành
chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số
71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 của Chính phủ về ban hành Quy chế thực
hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan).
2.2.2. Tình hình tổ chức triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở
2.2.2.1. Công tác triển khai thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở
Công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền
Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh tiếp tục tập chỉ đạo các cơ quan
nhà nước nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền,
thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đôn đốc, duy trì phối hợp với MTTQ và
các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
động các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện QCDC ở
cơ sở, tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo ở cơ sở.
Chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung cao trong việc tháo gỡ những khó
khăn, vướng mắc trên các lĩnh vực liên quan đến người dân, doanh nghiệp
bằng các chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.
Các huyện ủy, thị ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc chủ động tham mưu giúp
30
cấp ủy xây dựng, ban hành quy chế hoạt động dân chủ trong nội bộ cơ quan,
đơn vị; chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng
các cấp gắn với thực hiện nghị quyế ị ứ
ương Đả tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ; tập trung xây dựng, tổ chức bộ
máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy
mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Nhằm từng bước luật hoá việc thực hiện dân chủ, chấn chỉnh tình trạng
vô cảm, thiếu trách nhiệm trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện pháp luật
của các cơ quan cấp xã, đồng thời thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, ngày 20/4/2007 Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội (khoá XI) đã ban hành Pháp lệnh số 34 về “Thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn”, thay thế Nghị định số 79-NĐ/CP, ngày 07/7/2003 của Chính
phủ về “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã”.
Sau khi Pháp lệnh số 34 về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”
ban hành, trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, Tỉnh uỷ
triển khai thực hiện, tổ chức Hội nghị quán triệt Pháp lệnh đến cán bộ, đảng
viên từ tỉnh đến cơ sở; Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh tổ chức Hội thảo
“Dân chủ trực tiếp của nhân dân tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và Giải pháp”.
Căn cứ vào những kết quả sau hội thảo, Tỉnh ủy bằng nhiều các văn bản lãnh
đạo hệ thống chính trị thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh số 34 như: Kế hoạch
số 23-KH/TU, ngày 24/10/2007 về “Kiểm tra việc triển khai, tổ chức thực
hiện QCDC ở cơ sở”; Kết luận số 247-TBKL/TU, ngày 07/01/2008 về “Tiếp
tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Nghị
quyết số 13-NQ/TU, ngày 29/4/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về
“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể nhân dân trong giai đoạn mới”… Hàng năm, trong chương trình
31
tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ của các cấp cho các đối tượng là: Bí thư chi
bộ, Tổ trưởng Tổ dân vận, Trưởng thôn, Trưởng Ban công tác mặt trận, Chi hội
trưởng các đoàn thể đều có nội dung phổ biến, quán triệt, tuyên truyền nội dung
Pháp lệnh số 34 và các Chỉ thị, Kết luận của Đảng về xây dựng và thực hiện
QCDC ở cơ sở. Qua đó, những nội dung của Pháp lệnh dân chủ được đa số cán
bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững, giúp nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của các cấp, các ngành, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở cơ sở…
UBND tỉnh đã cụ thể hoá các nội dung về “Dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra”, ban hành các văn bản chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển
khai, thực hiện, như: Chỉ thị 08/CT-UBND ngày 16/5/2007 của UBND tỉnh
về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh; Quyết định số
123/2013/QĐ-UBND, ngày 11/4/2013 về Quy chế tổ chức và hoạt động của
thôn, khu phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó quy định rõ nhiệm vụ,
quyền hạn, trách nhiệm tiêu chuẩn của Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ khu phố;
việc bầu cử, miễn nhiệm, bãi nhiệm, cử Trưởng thôn, Tổ trưởng Tổ khu phố
được thực hiện công bằng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật, thể hiện
được ý chí của nhân dân địa phương.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực tham gia
đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở
khu dân cư” (hiện nay là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông
thôn mới, đô thị văn minh”), cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”… đồng
thời tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội giám
sát việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Nhiều nơi làm tốt việc giúp
chính quyền đối thoại trực tiếp với nhân dân, duy trì việc lấy ý kiến của nhân
dân trước khi quyết định các chủ trương lớn ở địa phương. Lãnh đạo HĐND,
UBND cấp xã nghiêm túc kiểm điểm trước dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân
theo Điều 26 Pháp lệnh số 34. Chất lượng các kỳ tiếp xúc cử tri, các kỳ họp
HĐND, tiếp dân, giải quyết kiến nghị, đề xuất, khiếu nại, tố cáo của công dân
32
ngày càng được nâng cao, MTTQ tích cực chỉ đạo, hướng dẫn nâng cao chất
lượng hoạt động của Ban TTND, xây dựng các cộng đồng dân cư tự quản ở
các thôn, làng, khu phố trên cơ sở các hương ước, quy ước không trái
pháp luật.
Công tác tuyên truyền của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội
MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp đã thể hiện vai trò
nòng cốt trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, vận động đoàn viên, hội viên và
nhân dân thực hiện Pháp lệnh số 34, phối hợp với chính quyền các cấp tuyên
truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời, đại diện, hướng dẫn
đoàn viên, hội viên thực hiện tốt quyền làm chủ của mình, tham gia xây dựng
Đảng, chính quyền, giám sát, góp ý xây dựng các chương trình kinh tế - xã
hội; tham gia tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân và
công tác đối thoại, hòa giải ở cơ sở; tham gia các tổ, đội công tác giải quyết
các “điểm nóng”, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban TTND, Ban GSĐT
cộng đồng. Chủ động phối hợp với UBND cùng cấp xây dựng kế hoạch tuyên
truyền, phổ biến Nghị quyết Liên tịch số 09/2008 ngày 17/4/2008 của Chính
phủ - Ủy ban MTTQ Việt Nam hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trong đội ngũ cán bộ công chức, đoàn
viên, hội viên và nhân dân. Các nội dung hướng dẫn giám sát cán bộ dân cử,
chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh số 34 gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” đạt nhiều kết quả quan trọ
Trong 10 năm qua, MTTQ các cấp chỉ đạo Ban TTND hoạt động đúng
chức năng “Giám sát, phát hiện, kiến nghị” theo quy định đã đi vào nề nếp
(hiện nay 126/126 xã, phường, thị trấn đều có hòm thư góp ý tại trụ sở), Ban
TTND đã tiến hành trên 3.000 cuộc giám sát đã tiến hành trên 500 vụ việc,
kiến nghị đến cơ quan Nhà nước xem xét, giải quyết được trên 400 vụ việc;
33
đã tuyên truyền hơn 10.600 buổi với tổng số 957.897 lượt người tham dự, bằng
nhiều hình thức như thông qua hội nghị, hệ thống truyền thanh ở cơ sở, qua
Ban Tư pháp cơ sở, các tổ chức thành viên; các nội dung tuyên truyền tập trung
vào những vấn đề nhân dân quan tâm như: việc dân bàn và quyết định trực tiếp
các khoản đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi, vận
động nhân dân giám sát các công trình đầu tư trên địa bàn xã.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp có nhiều hoạt
động đổi mới, tăng cường công tác tuyên truyền vận động các chủ trương,
chính sách đến nhân dân; nâng cao chất lượng hiệu quả các cuộc vận động, các
phong trào thi đua yêu nước, tham gia tích cực hiệu quả các nhiệm vụ chính trị
của tỉnh; tăng cường công tác nắm tình hình nhân dân, tiếp tục hướng các hoạt
động về cơ sở, chủ động phối hợp với chính quyền trong việc nắm bắt, đề
xuất giải quyết các ý kiến của cử tri, chủ trì và phối hợp tổ chức hiệp
thương lựa chọn giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn ra ứng cử để bầu vào
các chức danh Trưởng thôn, Trưởng khu phố, đại biểu HĐND các cấp
theo quy định.
Hoạt động Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC các cấp
Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh duy trì hoạt động việc lãnh đạo các
cơ quan hành chính sự nghiệp thực hiện các quy chế, quy ước thực hiện dân
chủ theo Quyết định số 102-QĐ/TU, ngày 28/1/2011 của Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ về “Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị ở tỉnh Bắc
Ninh”; kết quả: 38/38 đơn vị (100%) sở, ban, ngành có văn bản phân công
lãnh đạo trực tiếp phụ trách công tác dân vận và định kỳ báo cáo việc triển
khai và thực hiện công tác dân vận của ngành, đơn vị.
Ngày 11/6/2016, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh đã ban hành kế
hoạch số 02-KH/BCĐ, về việc kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ tại 4
đơn vị cấp huyện, 8 đơn vị cấp xã, 16 đơn vị cấp thôn. Đồng thời tâp trung chỉ
đạo các cấp ủy thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế đã ban hành như:
34
cấp ủy viên định kỳ đi cơ sở và dự sinh hoạt với chi bộ nông thôn; nâng cao
trách nhiệm của người đứng đầu; quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ,
đảng viên; lãnh đạo các cấp định kỳ đối thoại trực tiếp với nhân dân; phối hợp
và tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội giám sát
việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở… Nhiều vụ việc khiếu kiện đông
người, phức tạp, bức xúc, tồn đọng, kéo dài được các ngành chức năng tập
trung giải quyết bằng nhiều biện pháp, đáp ứng cơ bản yêu cầu, nguyện vọng
của nhân dân.
Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC từ tỉnh đến cơ sở chú trọng bổ sung quy
chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, tích cực tham
mưu giúp cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn, kiểm
tra, khảo sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong 10 năm, Ban Chỉ đạo thực
hiện QCDC các cấp đã tham mưu giúp cấp uỷ thành lập 954 đoàn, tổ kiểm tra
(tỉnh 28, huyện 202, xã 724), tiến hành kiểm tra 1.364 đơn vị; ban hành 2.771
văn bản các loại (tỉnh 106, huyện 367, xã 2.298), tổ chức 459 lớp tập huấn,
tuyên truyền về các nội dung của Pháp lệnh 34 cho 72.069 lượt cán bộ, đảng
viên, đoàn viên, hội viên (tỉnh 18 lớp, huyện 72 lớp, cấp xã 369 lớp); chủ
động tham mưu cho cấp uỷ cùng cấp kiện toàn Ban Chỉ đạo (tỉnh 5 lần, huyện
49 lần, xã 372 lần), duy trì các hoạt động đảm bảo đúng quy chế đã ban hành
(tỉnh 17 cuộc họp, huyện 82 cuộc họp, xã 1.624 cuộc họp).
Nhằm nâng cao chất lượng tham mưu, chỉ đạo thực hiện dân chủ ở cơ
sở, Ban Dân vận Tỉnh ủy - Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện
QCDC tỉnh phối hợp với Trung tâm nghiên cứu khoa học Dân vận thuộc Ban
Dân vận Trung ương tổ chức, nghiên cứu đề tài “Phương thức tập hợp, vận
động quần chúng đối với vai trò tự quản tại cộng đồng dân cư trong công tác
dân vận hiện nay” (năm 2009); phối hợp với Đoàn khảo sát của Ban Chỉ đạo
thực hiện QCDC Trung ương trực tiếp khảo sát kết quả thực hiện Pháp lệnh
34 tại 4 đơn vị: xã Thanh Khương, xã Song Hồ (huyện Thuận Thành), Thị
35
trấn Chờ, xã Đông Phong (huyện Yên Phong) năm 2011. Từ năm 2007 đến
nay, Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC tỉnh tiến hành hành khảo sát cơ sở 3 đợt
(năm 2009, 2013, 2015) với tổng số 3.043 phiếu cho các đối tượng là cán bộ,
đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có nội
dung đánh giá thực trạng kết quả thực hiện Pháp lệnh, vai trò, trách nhiệm của
cấp uỷ, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và một số đề
xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Pháp lệnh số 34.
2.2.2.2. Kết quả thực hiện các nội dung của Pháp lệnh số 34- dân chủ ở
xã, phường, thị trấn
Những nội dung công khai cho nhân dân biết
Các địa phương đã thực hiện tốt việc công khai đầy đủ 11 nội dung
được quy định tại Điều 5, Pháp lệnh số 34 bằng nhiều hình thức như: niêm yết
tại trụ sở HĐND, UBND, nhà văn hóa các thôn, Hội nghị chi bộ hàng tháng,
Hội nghị quân, dân, chính Đảng, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, thông báo
trên hệ thống truyền than ộ
ế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dự toán thu,
quyết toán chi ngân sách cấp xã; phương ỗ trợ giải phóng mặt
bằng liên quan đến dự án trên địa bàn; việc quản lý và sử dụng các loại quỹ,
các khoản huy động đóng góp của dân; các quy định của pháp luật về thủ tục
hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do UBND xã,
phường, thị trấn trực tiếp thực hiện. Về quyết toán, dự toán ngân sách hằng
năm của cơ sở được thực hiện công khai trong các cuộc họp của cấp uỷ, chính
quyền, các ban, ngành đoàn thể và được thông qua các kỳ họp HĐND theo
quy định. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều tổ chức truyền thanh trực tiếp
các phiên họp của HĐND, qua đó tạo điều kiện để nhân dân nắm bắt được các
hoạt động của chính quyền cũng như kết quả thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương.
36
Những nội dung khác như: kế hoạch vay vốn để nhân dân phát triển sản
xuất, xóa đói, giảm nghèo, trợ cấp xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, các quy định
về thủ tục hành chính, kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch
HĐND, UBND các địa phương công khai kịp thời để nhân dân giám sát, kiểm
tra. Việc khảo sát và xét duyệt hộ nghèo được thông báo rộng rãi và được
đưa ra bình xét công khai từ các khu dân cư bảo đảm đúng đối tượng, đúng
quy định của Nhà nước và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trong 10 năm,
toàn tỉnh có 50.495 lượt hộ nghèo được vay vốn với tổng dư nợ là 2.584,3 tỷ
đồng từ quỹ quốc gia về việc làm, Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng
Đông Á,... để phát triển kinh tế, tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho
người lao động; có 162 nghìn lượt hộ nghèo được hướng dẫn kỹ thuật sản
xuất về nông, lâm, thủy sản; 10 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ 8,9 tỷ đồng thay
đổi điều kiện sản xuất; 100% hộ nghèo được cấp thẻ BHYT trong việc khám
chữa bệnh; hỗ trợ kinh phí tham gia BHYT đối với người cao tuổi từ đủ 65
tuổi đến dưới 70 tuổi; Bắc Ninh là tỉnh đi đầu trong việc triển khai thực hiện
hỗ trợ kinh phí cho đối tượng hộ cận nghèo tham gia BHYT tự nguyện (Ngân
sách tỉnh hỗ trợ 70% kinh phí; người dân đóng góp 30%).
Bảng 2.1. Đánh giá mức độ công khai các nội dung cho nhân dân
120
Nội dung 1
100
Nội dung 2
Nội dung 3
80
Nội dung 4
60
Nội dung 5
Nội dung 6
40
Nội dung 7
20
Nội dung 8
Nội dung 9
0
Tỷ lệ mức độ công khai các nội dung
(Tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
37
Những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp (Điều 10)
Các xã, phường, thị trấn đã thực hiện nghiêm túc việc mở rộng dân chủ
để nhân dân tham gia bàn bạc và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức
đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong
phạm vi cấp xã do dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí, tạo mọi
điều kiện để nhân dân bàn bạc, thảo luận và quyết định. Nhân dân đã tự giác
tham gia hiến đất, góp tiền, góp công và cây lâu năm để làm đường giao
thông nông thôn, xây dựng các công trình phúc lợi (trong 10 năm nhân dân
trong tỉnh đã góp 223.413 ngày công, hiến 150.000m2 đất), đồng thời thực
hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban TTND, Ban GSĐT của cộng
đồng với các công trình xây dựng do nhân dân đóng góp.
Một số nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp được triển khai
thực hiện tốt ở các địa phương như việc tổ chức đóng góp quỹ phúc lợi, quỹ
vệ sinh môi trường, đầu tư hệ thống thắp sáng đường làng, ngõ xóm, xây
dựng các thiết chế văn hóa... đều được nhân dân bàn, biểu quyết và tự tổ
chức thực hiện đã đóng góp đáng kể trong việc xây dựng nông thôn mới.
Hình thức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp chủ yếu thông qua các
cuộc họp cử tri đại diện hộ gia đình tại thôn, tổ dân phố, đối với các hộ dân
còn lại chưa tán thành theo quyết định của đa số, các địa phương cũng có
nhiều hình thức trong việc tuyên truyền, thuyết phục hiệu quả như phân
công cho đảng viên phụ trách hộ hoặc hội viên, đoàn viên ở đoàn thể nào thì
giao cho đoàn thể đó tuyên truyền, vận động, thuyết phục... đã tạo được sự
đồng thuận cao của nhân dân đối với sự lãnh đạo của cấp uỷ và quản lý, điều
hành của chính quyền.
Những nội dung nhân dân bàn và biểu quyết (3 nội dung quy định tại
Điều 13)
Chính quyền cấp xã đã chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức họp dân để
lấy ý kiến, thảo luận, bàn bạc công khai và quyết định những vấn đề liên quan
38
đến xây dựng hương ước, quy ước; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm trưởng thôn,
tổ trưởng tổ dân phố; bầu bãi nhiệm thành viên Ban TTND, Ban GSĐT cộng
đồng. Kết quả sau 10 năm thực hiện Pháp lệnh số 34, hầu hết các Trưởng
thôn, khu phố được tín nhiệm bầu và được UBND các xã, phường, thị trấn
công nhận theo đúng trình tự, quy định tại Quyết định số 123/2013/QĐ-
UBND, ngày 11/4/2013 về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của
thôn, khu phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 100% các xã, phường, thị trấn thành lập
được Ban TTND là những người có uy tín trong nhân dân, được nhân dân tín
nhiệm, đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát đầu tư cộng đồng và
hoạt động của chính quyền. Việc tổ chức nhân dân tham gia bàn bạc, đóng góp
sửa chữa, bổ sung vào dự thảo hương ước, quy ước của thôn, khu phố đã từng
bước đi vào nề nếp, hình thức để nhân dân tham gia ý kiến, bằng cách họp cử tri
hoặc đại diện hộ gia đình, phát phiếu lấy ý kiến theo địa bàn từng thôn, khu phố.
Hàng năm có trên 85% Ban TTND hoạt động tích cực, giải quyết được cơ bản
những vấn đề bức xúc tại địa phương. Thông qua hoạt động giám sát đầu tư của
cộng đồng, các dự án xây dựng các công trình phúc lợi, văn hóa, tâm linh, việc
quản lý đất đai, thu chi tài chính, được đảm bảo và chặt chẽ hơn, các công trình
xây dựng chất lượng hơn.
Đến nay, bình quân số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn
tỉnh là:17,47 tiêu chí/xã (tăng 0,19 tiêu chí/xã so với cuối năm 2016). Có 58
xã (bằng 59,8% tổng số xã) được công nhận đạt chuẩn NTM; 01 xã đạt 19
tiêu chí chưa được công nhận; 19 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí và 19 xã đạt từ 12-
14 tiêu chí. 2 đơn vị cấp huyện (huyện Tiên Du và thị xã Từ Sơn) được Thủ
tướng Chính phủ công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới và thị xã hoàn
thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2016, toàn tỉnh có 87 xã (bằng
89,6%) đạt hệ thống tổ chức chính trị vững mạnh theo Bộ tiêu chí Quốc gia
xây dựng nông thôn mới.
39
Bảng 2.2. Đánh giá tỉ lệ ngƣời dân đƣợc tham gia và quyết định trực tiếp
Tỷ lệ người dân tham gia và quyết định trực tiếp
3%
22%
Có tha gia
Không được tham gia
Khó đánh giá
75%
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến (5 nội dung quy định tại
Điều 19)
Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm
quyền quyết định như: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; phương án
phát triển ngành nghề của cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và
phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của xã; dự thảo kế hoạch
triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn xã; chủ trương, phương án đền
bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng,… được đưa ra nhân
dân góp ý trước khi chính quyền quyết định ban hành. Các Nghị quyết của
HĐND được UBND cụ thể hoá bằng kế hoạch, biện pháp thực hiện đã được
nhân dân tham gia ý kiến, thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các cuộc họp
của các chi hội, Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể đã tổ chức
triển khai, lấy ý kiến đóng góp của nhân dân. Những nội dung khác cần phải
lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết, nhờ vậy các
40
chủ trương, chính sách ban hành ở cơ sở cụ thể, sát với tình hình địa phương.
Việc thực hiện những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi các cơ
quan có thẩm quyền quyết định đã được UBND phối hợp với MTTQ và các
đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương thực hiện tốt, tiếp thu nghiêm túc và
được thông báo kết quả với cử tri.
Bảng 2.3. Đánh giá tỷ lệ ngƣời dân tham gia trƣớc khi cơ quan có
100
90
80
70
Nội dung 1
60
Nội dung 2
50
Nội dung 3
40
Nội dung 4
30
Nội dung 5
20
10
0
Tỷ lệ người dân tham gia ý kiến
thẩm quyền quyết định (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
Những nội dung nhân dân giám sát (các nội dung quy định tại các điều
5, 10, 13 và 19 của Pháp lệnh tại Điều 23)
Chính quyền các cấp quan tâm, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện
quyền giám sát về những nội dung chính quyền đã công khai, những nội dung
để nhân dân bàn, quyết định và tham gia ý kiến, nhất là giám sát việc thực
hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kế hoạch
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội...; hình thức giám sát của nhân dân đối với
chính quyền thông qua hoạt động giám sát của MTTQ và các tổ chức chính trị
- xã hội, Ban TTND, Ban GSĐT cộng đồng hoặc nhân dân trực tiếp thực hiện
việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ
41
chức có thẩm quyền tạo điều kiện cho nhân dân giám sát hoạt động của
HĐND, UBND và năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công
chức cơ sở thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, lịch tiếp dân của các xã, phường,
thị trấn. Ngoài ra, người dân còn được đóng góp ý kiến nhận xét các chức danh
cán bộ chủ chốt trong quản lý điều hành và thực hiện chức trách nhiệm vụ được
giao.
Trong 10 năm qua, MTTQ các cấp trong tỉnh đã tiếp 1.500 lượt công
dân, tiếp nhận và chuyển tới cơ quan chức năng xử lý 1.400 đơn; qua giám sát
đã phát hiện trên 600 vụ việc vi phạm; phối hợp với Đoàn đại biểu Quốc hội
tỉnh tổ chức 400 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp, có trên 40.000 cử tri
tham dự với trên 3.000 ý kiến phát biểu kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Quốc
hội các ngành ở Trung ương, địa phương. Phối hợp với Thường trực HĐND
các cấp tổ chức trên 6.000 cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND với trên
430.000 lượt cử tri tham dự, có hàng chục nghìn ý kiến, kiến nghị của cử tri đã
được MTTQ và các đại biểu HĐND tổng hợp gửi tới UBND và các cơ quan
chức năng xem xét, giải quyết. MTTQ các cấp chủ động phối hợp với Thường
trực HĐND cùng cấp tiến hành giám sát trên 1.500 lượt cán bộ công chức
cấp huyện, trên 3.000 cán bộ công chức cấp xã; Ban TTND, Ban công tác
Mặt trận đã giám sát được 3.500 đại biểu HĐND các cấp, thông qua hoạt
động giám sát đã phát hiện 91 đại biểu (6 cấp huyện, 85 cấp xã) vi phạm
phải nhắc nhở; tiến hành 3.000 cuộc giám sát trong đó đã phát hiện 500
vụ việc, kiến nghị đến cơ quan Nhà nước xem xét, giải quyết được 400 vụ
việc (đạt 80%), Ban GSĐT của cộng đồng đã giám sát trên 3.500 công
trình phát hiện 450 công trình có vi phạm về tiến độ, chậm quyết toán, thi
công không đúng thiết kế, đã kiến nghị đến các cơ quan chức năng nhà
nước giải quyết.
42
Bảng 2.4. Đánh giá tỷ lệ ngƣời dân giám sát việc thực hiện Pháp
lệnh 34
TỶ LỆ NGƯỜI DÂN GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LỆNH SỐ 34
Được tham gia giám sát
Không được giám sát
Giám sát mang tính hình thức Giám sát khi được mời
2%
8%
3%
87%
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
Trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong thực hiện Pháp lệnh số 34
(quy định tại Điều 17, Điều 18)
Chính quyền cơ sở đã quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện
nghiêm túc, chặt chẽ, hiệu quả trong thực hiện Pháp lệnh số 34 vào từng
công tác quản lý, điều hành của chính quyền, thực hiện tốt công khai, dân
chủ, nhất là trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nông
thôn mới, công tác tiếp dân, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu chính
quyền với nhân dân… đã tạo điều kiện để cán bộ, công chức, nhân dân
tham gia xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Hàng tháng, quý, năm, HĐND, UBND cấp xã đều xây dựng chương
trình công tác và thông báo đến từng khu dân cư để nhân dân kiểm tra giám
sát, trong 10 năm, toàn tỉnh đã tiếp 38.207 lượt công dân, tiếp nhận 22.927
đơn thư, kiến nghị, tố cáo, trong đó đơn thuộc thẩm quyền 2.462 đơn đã giải
quyết theo đúng thẩm quyền 2.143 đơn đạt tỷ lệ (87%); một số địa phương
43
giải quyết đơn thư, kiến nghị, tố cáo trong nhân dân thuộc thẩm quyền đạt tỷ
lệ cao như: Thành phố Bắc Ninh (đạt 98%); huyện Yên Phong (96,5 %). Công
tác cải cách thủ tục hành chính được đẩy mạnh, 100 % xã, phường, thị trấn
đã thực hiện theo cơ chế “một cửa”, trong đó có 82 xã, phường, thị trấn
thực hiện cơ chế “một cửa liên thông theo hướng hiện đại” (đạt 65%)
[Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11]
Thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở
được nhân dân ghi nhận gần gũi và trách nhiệm hơn. UBND các xã, phường,
thị trấn đã chủ động phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ và các
đoàn thể chính trị - xã hội giám sát việc thực hiện QCDC ở cơ sở, duy trì việc
tranh thủ lấy ý kiến của nhân dân trước khi quyết định các chủ trương lớn ở
địa phương.
Bảng 2.5. Đánh giá tỷ lệ mức độ minh bạch trong việc thực hiện
Pháp lệnh 34 của chính quyền cấp xã (tổng số phiếu phát ra: 160 phiếu)
MỨC ĐỘ MINH BẠCH TRONG THỰC HIỆN PHÁP LỆNH SỐ 34 CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
Khó đánh giá
Bình thường
Rất minh bạch
Không minh bạch
3% 2%
15%
80%
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
Việc sửa đổi, bổ sung các Quy chế, Quy ước, Hương ước; việc lấy phiếu
tín nhiệm các chức danh chủ chốt HĐND, UBND và Trưởng thôn (Điều 26)
44
Hiện 100% các khu dân cư đều xây dựng và duy trì thực hiện Quy
chế, Quy ước, Hương ước được các cơ quan chức năng phê duyệt; hàng
năm, UBND các xã, phường, thị trấn quan tâm, chỉ đạo MTTQ, các đoàn
thể chính trị - xã hội rà soát, loại bỏ các văn bản không còn phù hợp, bổ
sung những quy định trong Nghị quyết 20, 191 của HĐND tỉnh và những
truyền thống văn hóa trên địa bàn các khu dân cư, góp phần quan trọng
vào việc phát huy dân chủ ở cơ sở, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn
hóa, khu phố văn hóa..., giữ gìn và phát huy những truyền thống, những
nét đẹp của văn hóa dân tộc. Lãnh đạo UBND cấp xã nghiêm túc kiểm
điểm trước dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân theo tinh thần Thông tri số
03-TTr/TU, Chỉ thị số 16-CT/TU về “Lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch,
Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng thôn và
Tổ trưởng khu phố”, việc lấy phiếu tín nhiệm các chức vụ chủ chốt do HĐND
cấp xã bầu đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, qua đó đã nâng cao được
chất lượng cán bộ chủ chốt cấp chính quyền cơ sở, đảm bảo quyền làm chủ
của nhân dân.
Đến hết năm 2016, toàn tỉnh có 636/731 thôn/làng, khu phố được công
nhận đạt chuẩn văn hóa (đạt 89,7%), có 262.336/291.028 gia đình được công
nhận "Gia đình văn hóa" (đạt 90%), 100% các thôn/làng, khu phố có bản Quy
ước; 90% số đám cưới được tổ chức gọn nhẹ, đúng quy định; 33,7% người
qua đời đưa đi hỏa táng [Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh số
34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
khóa XI về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” số 35-BC/TU ngày
15/10/2017 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh]. Các di sản văn hóa được bảo tồn và phát
huy giá trị, nhiều nghi thức văn hóa mới lành mạnh, tiến bộ được hình thành
và phát triển. Ban công tác Mặt trận chủ động phối hợp phối hợp cùng các
ban, ngành chức năng trong công tác bầu cử Quốc hội khóa XII, XIII, XIV;
bầu cử HĐND các cấp; thực hiện quy trình bầu 3.000 lượt trưởng thôn,
45
trưởng khu phố, đề nghị với chính quyền cấp trên bãi miễn 100 trưởng thôn,
trưởng khu phố không đủ tín nhiệm.
2.2.2.3. Kết quả thực hiện dân chủ trong các cơ quan Nhà nước
Thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước,
đơn vị sự nghiệp công lập là toàn bộ cách thức, quy trình, thủ tục triển khai
thực hiện trên thực tế các quyền dân chủ của cán bộ, công chức, viên chức
được biết, được tham gia ý kiến, người đứng đầu cơ quan, đơn vị quyết định
và được giám sát, kiểm tra đối với những việc có liên quan theo quy định của
pháp luật; biến các quyền dân chủ đó trở thành hiện thực trong hoạt động của
cơ quan, đơn vị.
Từ ngày 25/02/2015, Nghị định số 04/2015/NĐ-CP, ngày 09/01/2015
của Chính phủ “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước
và đơn vị sự nghiệp công lập” bắt đầu có hiệu lực thi hành và thay thế Nghị
định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1988 của Chính phủ “Về ban hành Quy
chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan”. Ban Chỉ đạo Trung ương
về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có Công văn số 40-CV/BCĐTW,
ngày 02/02/2015 và Ban chỉ đạo xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, tỉnh Bắc Ninh cũng đã có Công văn số 03-CV/BCĐ ngày 04/3/2015 về
việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09
tháng 01 năm 2015 của Chính phủ.
Trong 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:
100% Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, địa phương đề cao việc thực hiện dân chủ,
công khai trong tất cả các mặt hoạt động của cơ quan trong lãnh đạo, quản lý;
phối hợp tốt với tổ chức Công đoàn tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, viên
chức đúng thời gian và nội dung theo quy định; toàn tỉnh đã có 876/876
CĐCS khối hành chính và sự nghiệp công lập phối hợp với chuyên môn,
chính quyền đồng cấp tổ chức Hội nghị cán bộ công chức, viên chức đạt tỷ lệ
100%, có 816/876 đơn vị tổ chức bầu Ban thanh tra nhân dân, đạt tỷ lệ 96,5%,
46
trong đó có 554 Ban thanh tra nhân dân được đánh giá là hoạt động tốt, 257
Ban thanh tra nhân dân được đánh giá là hoạt động khá và 05 trung bình. Các
cấp Công đoàn đã phối hợp với chính quyền đồng cấp nghiêm túc thực hiện
Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015, cũng như các hướng dẫn của
Liên đoàn Lao động tỉnh Bắc Ninh về thực hiện dân chủ trong hoạt động của
cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập qua đó phát huy
tính dân chủ tại cơ quan, đơn vị, nâng cao hiệu quả công tác, cải tiến nề lối
làm việc, cải cách hành chính.
Thông qua việc thực hiện QCDC, các đơn vị đã bám sát quy định của
pháp luật để cụ thể hoá xây dựng các quy chế, quy định trong điều hành, quản
lý hoạt động tại đơn vị, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, đề
cao trách nhiệm của người đứng đầu và trách nhiệm của cán bộ, công nhân,
viên chức đảm bảo quyền “được biết, được bàn, được tham gia, được kiểm
tra, giám sát” của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực hiện. Tổ
chức hội nghị cán bộ, công chức hàng năm được tiến hành nghiêm túc, đi vào
nề nếp. Năm 1999 tỷ lệ các đơn vị tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức là
62%; năm 2005 đạt 91,7%; năm 2010, đạt 95,8 %; Năm 2014 có 784/784 đơn
vị tổ chức, đạt tỷ lệ 100% (kể cả đơn vị trường học tổ chức hội nghị CBCC
theo năm học); các cơ quan xã, phường, thị trấn: 140/141 đơn vị tổ chức, đạt
99,3% [Báo cáo 10 năm thực hiện Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày
08/9/1988 của Chính phủ “Về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt
động của cơ quan Nhà nước”, số 136-BC/TU ngày 10/5/2009 của Tỉnh uỷ
Bắc Ninh; Báo cáo tình hình thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày
09/01/2015 của Chính phủ “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ
quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập” năm 2014 số 37-BC/TU ngày
08/12/2014 của Tỉnh uỷ Bắc Ninh].
Quá trình thực hiện QCDC luôn gắn liền với chương trình cải cách
hành chính của tỉnh, nâng cao được nhận thức của CBCC trong, đổi mới, nâng
47
cao chất lượng, hiệu quả công việc và ý thức trách nhiệm phục vụ nhân dân.
Các ngành, các cấp quan tâm chỉ đạo sắp xếp tổ chức, bộ máy, luân chuyển
cán bộ; xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ; rà soát, bãi bỏ một số văn bản
không phù hợp, các thủ tục phiền hà; đăng tải công khai, dân chủ các thông
tin và giải quyết thủ tục hành chính qua hệ thống thông tin điện tử, trang
web...; công khai đường dây "nóng"; xây dựng tiêu chuẩn ISO, hiện đại hoá
dịch vụ công. Đến nay, toàn tỉnh có 16/20 sở, ban, ngành, 8/8 huyện, thành
phố, thị xã, 141/141 xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện cơ chế "một
cửa", "một cửa liên thông". Đến nay, các cơ quan hành chính nhà nước đã bãi
bỏ 1.731 thủ tục hành chính, 944 mẫu đơn, mẫu tờ khai và 891 yêu cầu không
cần thiết; trong đó, số lượng thủ tục hành chính kiến nghị giữ nguyên 425 thủ
tục; số lượng thủ tục hành chính đề nghị sữa đổi, bổ sung 1.200 thủ tục, số
lượng đề nghị bãi bỏ, huỷ bỏ 108 thủ tục; số lượng thủ tục hành chính đề nghị
thay thế 38 thủ tục.
Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã
được các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, các cấp trong tỉnh chú trọng,
đặc biệt là cấp cơ sở đã tập trung giải quyết nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo và
các kiến nghị, đề xuất chính đáng của nhân dân, hạn chế tình trạng khiếu kiện
phức tạp, vượt cấp, đông người, kéo dài.
Ngoài ra, qua khảo sát thực tế tại một số cơ quan, đơn vị thuộc các
huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh với tổng số phiếu khảo sát
120 phiếu. Căn cứ các tiêu chí khảo sát đưa ra (có ban hành, không ban hành,
tốt, không tốt, bình thường); với tiêu chí có ban hành, thực hiện tốt cho thấy
mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan, đơn vị tốt và ngược lại; cụ thể:
Có 104/120 phiếu cho kết quả có ban hành, tốt; 12/120 phiếu cho kết quả bình
thường; 4/120 phiếu cho kết quả khó đánh giá và ý kiến khác. Minh hoạ bằng
sơ đồ sau:
48
Bảng 2.6. Đánh giá mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan
Nhà nƣớc (Tổng số phiếu phát ra: 120 phiếu)
Mức độ thực hiện QCDC trong các cơ quan Nhà nước
10%
0% 3%
Thực hiện tốt
Thực hiện bình thường
Thực hiện không tốt
Khó đánh giá
87%
(Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra khảo sát thực tế của học viên)
2.3. Đánh giá chung về thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh
2.3.1. Những kết quả đạt được
Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị, Pháp lệnh số 34 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, các Nghị định của Chính phủ về thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể trong
tỉnh đã tổ chức quán triệt, triển khai sâu rộng đến các tổ chức, cán bộ, đảng
viên và nhân dân, được đông đảo nhân dân đồng tình, hưởng ứng, thực hiện
hiện có hiệu quả, tạo bầu không khí dân chủ, cởi mở, đồng thuận trong xã hội.
Các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể đã nhận thức được tầm
quan trọng trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, do vậy đã nêu cao
vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trong tổ chức quán triệt, triển khai Chỉ thị, Pháp lệnh,
các Nghị định, vận dụng sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-
XH, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và thúc đẩy các phong trào thi đua yêu
nước, các cuộc vận động ở địa phương, đơn vị, đã tạo được sự chuyển biến
căn bản về nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền MTTQ, các
49
đoàn thể, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về
dân chủ và thực hành dân chủ ở cơ sở.
Các cấp chính quyền đã đổi mới phong cách làm việc theo hướng gần
dân, sát dân hơn; tôn trọng, lắng nghe và chân thành tiếp thu ý kiến, nguyện
vọng chính đáng của nhân dân, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhân
dân; giải quyết kịp thời những vướng mắc của nhân dân; đẩy mạnh công tác
cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa. Mối quan hệ giữa chính
quyền với MTTQ và các đoàn thể được tăng cường; quyền và nghĩa vụ của
công dân được thực hiện tốt hơn; vai trò tự quản của cộng đồng dân cư ngày
càng phát huy hiệu quả và được khẳng định. Các tầng lớp nhân dân đã phát
huy dân chủ, đồng thuận, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, thực
hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, ý thức
trách nhiệm công dân được nâng cao.
MTTQ và các đoàn thể đã đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động,
động viên đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các
cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở. MTTQ và các đoàn
thể còn tham gia giám sát hoạt động của chính quyền cơ sở, góp phần quan
trọng trong xây dựng và củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, xây dựng
cộng đồng dân cư tự quản ở thôn, làng, tổ dân phố, làm thay đổi bộ mặt nông
thôn, thành thị; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, phương
châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thực hiện công
khai, minh bạch, hiệu quả.
Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp uỷ đảng, chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở chuyển biến tích cực, theo phương châm "trọng dân,
gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", niềm tin của nhân dân
đối với Đảng, Nhà nước được tăng cường, khắc phục tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền trong một bộ phận cán bộ, đảng viên
góp, phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh.
50
2.3.2. Một số tồn tại, hạn chế
- Nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn
hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều
vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ
luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực
tiếp. Hiện nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức về
dân chủ còn phiến diện, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng. Có người cho
rằng dân chủ trong Đảng thì đảng viên được tự do phát ngôn và tuyên truyền
trên các phương tiện thông tin đại chúng quan điểm riêng của mình. Cá biệt, có
người còn muốn tổ chức đảng chỉ như “câu lạc bộ”, được tranh luận, bàn cãi
bất kỳ vấn đề gì, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Trình độ nhận thức về dân chủ cũng như việc tôn trọng và thực thi
quyền dân chủ của một bộ phận cán bộ lãnh đạo và chủ chốt còn nhiều hạn
chế và chưa đầy đủ. Đồng thời, văn hoá pháp luật, văn hoá chính trị và văn
hoá nói chung của người cầm quyền và toàn xã hội còn hạn chế, chưa “cắm
rễ” và “ăn sâu” vào trong suy nghĩ, hành động của họ. Điều này làm cản trở
không nhỏ cho việc tôn trọng và bảo đảm hiệu quả dân chủ và quyền dân chủ
của nhân dân, đồng thời ảnh hưởng việc thực hiện dân chủ và quyền dân chủ
ở nước ta nói chung và Bắc Ninh nói riêng vẫn còn những hạn chế và chưa
hiệu quả cả về thiết chế cũng như tổ chức thực hiện.
- Công tác tuyên truyền chưa thường xuyên, một bộ phận nhân dân
chưa nhận thức đầy đủ về dân chủ ở cơ sở nên chỉ nặng về đòi hỏi quyền lợi,
coi nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm đối với địa phương và với cộng đồng, khiếu
kiện kéo dài, tập trung đông người (hiện nay có 125 đoàn khiếu kiện đến các
cấp, với 157 lượt, trong đó có 11 đoàn đông người có tính chất phức tạp).
Không chỉ có việc thực hiện dân chủ trực tiếp còn nhiều hạn chế mà
ngay cả dân chủ đại diện cũng còn nhiều bất cập và chưa đáp ứng được
nguyện vọng của nhân dân. Chẳng hạn, nhiều yêu cầu chính đáng của nhân
51
dân do đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội chuyển đến các cơ quan
có thẩm quyền chưa được giải quyết; tình trạng để vụ việc tồn đọng vẫn còn
kéo dài; các Đoàn đại biểu Quốc hội vẫn chỉ mới tổ chức tiếp dân và chuyển
đơn thư là chính, chưa đủ điều kiện thực hiện đầy đủ quyền giám sát việc giải
quyết đơn thư; các cơ quan của Quốc hội vẫn còn gặp khó khăn và chưa đạt
hiệu quả cao về hoạt động giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri và đơn
thư khiếu tố trong khi kiến nghị và đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân gửi
đến Quốc hội ngày càng tăng và ngày càng gay gắt.
- Một số đơn vị ở cơ sở thực hiện Pháp lệnh 34 còn hình thức, trong quá
trình lãnh đạo chỉ điều hành còn xảy ra tiêu cực, vi phạm pháp luật, mất đoàn
kết do thiếu dân chủ hoặc bị lợi dụng dân chủ. Một số nội dung liên quan đến
quyền lợi của người dân nhưng thiếu công khai, minh bạch (nhất là quy hoạch
và sử dụng đất đai, các dự án, công trình thuộc thẩm quyền cấp trên...).
- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ, chính quyền chưa thật sự
quan tâm đúng mức, chưa kịp thời kiểm tra, trao đổi kinh nghiệm, tháo gỡ vướng
mắc cho cơ sở. Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC ở cơ sở chưa phát huy vai trò trách
nhiệm được giao, phân công trách nhiệm còn thiếu cụ thể; việc sơ kết đánh giá
kết quả, phát hiện điển hình và nhân rộng điển hình chưa kịp thời. Vai trò của
một số đoàn thể ở cơ sở tham gia tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở còn hạn chế,
chưa gắn kết được hoạt động dân chủ với nội dung hoạt động của tổ chức mình.
- Một số nơi chưa thực hiện được sự lồng ghép và gắn việc thực hiện dân
chủ với cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng củng cố chính
quyền cơ sở trong sạch vững mạnh với cải cách hành chính. Hoạt động Ban
thanh tra nhân dân, Ban giám sát cộng đồng ở nhiều nơi còn hạn chế, ý thức
làm chủ của một bộ phận nhân dân chưa cao, ít tham gia sinh hoạt tổ dân phố,
thôn, xóm, còn vi phạm những quy định của địa phương trong xây dựng, trong
việc thực hiện nếp sống văn minh theo tinh thần Nghị quyết số 20, 191 của
HĐND tỉnh.
52
2.3.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Những hạn chế, bất cập trên đây có cả nguyên nhân khách quan và chủ
quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.
2.3.3.1. Về nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, do việc xây dựng pháp luật về thực hiện dân chủ trong hoạt
động của các lĩnh vực chưa đáp ứng được các yêu cầu của kỹ thuật lập quy;
hệ thống các văn bản pháp quy về chính sách tài chính, đất đai, xây dựng... còn
một số điểm chưa đồng bộ, chưa sát với tình hình thực tế ở cơ sở gây khó khăn
trong quá trình triển khai thực hiện; thực trạng các văn bản quy phạm pháp luật
về thực hiện dân chủ ở cơ quan cho thấy còn nhiều mâu thuẫn, chồng chéo.
Thứ hai, do mặt trái của cơ chế thị trường tác động trên nhiều lĩnh vực
đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến một bộ phận cán bộ công chức và
nhân dân theo lối thực dụng, thờ ơ với công việc chung của cộng đồng.
2.3.3.2. Về nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể
nhân dân, nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở chưa nhận thức đầy đủ các quan
điểm và tư tưởng chỉ đạo, tầm quan trọng, ý nghĩa sâu sắc cũng như tính cấp
thiết, thường xuyên và lâu dài của việc, xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.
Do đó, công tác triển khai và thực hiện chưa quyết liệt, thiếu đồng bộ, thậm
chí còn hình thức, chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ từ nội bộ của cơ
quan, đơn vị. Vai trò của người đứng đầu cấp uỷ, nhất là thủ trưởng các cơ
quan quản lý nhà nước có nơi, có lúc còn thiếu trách nhiệm, chưa quan tâm
chỉ đạo, thiếu gương mẫu của một số cán bộ, đảng viên đã ảnh hưởng đến quá
trình thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW, do đó vẫn xảy ra tình trạng mất dân chủ, vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ hai, việc tạo môi trường, điều kiện phát huy dân chủ ở một số địa
phương, cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên; cụ thể, việc thực hiện QCDC
53
còn chậm; các nội dung công khai dân chủ thực hiện chưa đầy đủ theo quy
định nên chưa tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.
Thứ ba, một bộ phận nhân dân nhận thức về chủ trương, chính sách,
pháp luật, mối quan hệ dân chủ với kỉ cương pháp luật, quyền lợi với nghĩa vụ
công dân còn chưa đầy đủ nên còn bị lợi dụng, lôi kéo, khiếu kiện đông người,
gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, sản xuất và đời
sống nhân dân, gây khó khăn trong công việc chỉ đạo, điều hành. Công tác tiếp
công dân, tiếp nhận và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở một
số địa phương, đơn vị chưa được quan tâm thực hiện nghiêm túc, còn chồng
chéo; việc phân công trách nhiệm và tham mưu của các ngành chức năng chưa
cụ thể, việc chỉ đạo giải quyết một số vụ việc phức tạp, xử lý sai phạm một số
nơi còn lúng túng, thiếu đồng bộ, kéo dài.
Thứ tư, công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến các văn bản và tài
liệu còn hạn chế, thiếu thường xuyên, việc triển khai Chỉ thị số 30-CT/TW và
các nghị định của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của tỉnh còn
chậm, hiệu quả chưa cao. Vì vậy, nhận thức trong cán bộ, đảng viên, công
chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân về thực hiện QCDC
ở cơ sở chưa cao. Một số nơi nhân dân ít quan tâm đến tham gia thực hiện
QCDC; tỷ lệ tham gia các buổi họp dân còn thấp, một số nơi chưa kịp thời
phối hợp trong công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu rõ các
nội dung triển khai của chính quyền để chấp hành; chưa kịp thời nắm chắc
tình hình, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phản ánh với chính quyền
chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ cho phù hợp với thực tế ở xã, phường, thị
trấn; kỹ năng và kinh phí hoạt động cho Ban TTND và Ban GSĐT cộng
đồng chưa quan tâm đúng mức nên việc hoạt động còn chưa phát huy được
vai trò, trách nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát.
Thứ năm, công tác tập huấn, bồi dưỡng hàng năm chưa nhiều, năng
lực và trình độ tổ chức thực hiện của cán bộ cơ sở, nhất là trong các doanh
54
nghiệp có mặt còn hạn chế. Hiện tượng quan liêu, tham nhũng, suy thoái về
phẩm chất đạo đức, hạn chế về năng lực công tác, tiêu cực và sự thiếu gương
mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được giải quyết thường xuyên
làm ảnh hưởng đến quá trình thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW.
2.4. Bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thi hành pháp
luật về dân chủ cơ sở
Thứ nhất là, nắm vững các quan điểm chỉ đạo của Trung ương, nhận
thức đúng đắn về phát huy dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo, chỉ
đạo của cấ ền, nhất là người đứng đầu, xem việc thực hiệ
ệm vụ chính trị quan trọng và thường xuyên. Thực tế cho
thấy, ở địa phương, đơn vị nào cấp ủy xác định rõ vai trò, trách nhiệm, chính
quyền tự giác, cán bộ chủ chốt có trách nhiệm, nhiệt tình quan tâm, lãnh đạo
việc thực hiệ ền làm chủ củ
ợc phát huy, kinh tế - xã hội phát triển, giảm
khiếu nại, tố cáo, lòng tin của nhân dân với Đảng, chính quyền ngày càng
được nâng cao.
Thứ hai là, thực hiệ ở cơ sở phải gắn với việc phát
triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân;
đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
thực hành tiết kiệm; giải quyết tốt khiếu nại, tố cáo của công dân. Thực hiện
dân chủ phải đi đôi với giữ gìn kỷ cương, giữ vững an ninh chính trị và trật tự
an toàn xã hội.
Thứ ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của mặt trận Tổ quốc và các
đoàn thể chính trị - xã hội trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiệ ở cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, xây dựng quy chế
cụ thể; đồng thời, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính
trị - xã hội trong việc tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã
hội phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đoàn thể. Tăng cường phối
55
hợp giữa các cấp, các ngành trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, giám sát việc thực
ở. hiệ
Thứ tư là, thường xuyên quan tâm củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo thực
hiệ ở cơ sở đủ mạnh, thật sự chủ động trong việc xây dựng
chương trình, kế hoạch làm việc, phân công trách nhiệm các thành viên; duy
trì tốt chế độ sinh hoạt của ban chỉ đạo; làm tốt công tác tham mưu cấp ủy,
chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiệ ở cơ sở. Đẩy
mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp,
các ngành về xây dựng và thực hiệ
Thứ năm là, việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn phải gắn liền
với việc đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ
Chính trị về “ Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số
vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XII) “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
56
Tiểu kết chƣơng 2
Những năm qua, các cấp ủy đảng, chính quyền trong tỉnh Bắc Ninh đẩy
mạnh thực hiện Quy chế dân chủ (QCDC) ở cơ sở, góp phần phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận, góp phần củng cố lòng tin của nhân
dân với Đảng và Nhà nước.
Để thực hiện hiệu quả QCDC, trên cơ sở bám sát các văn bản chỉ đạo
của Trung ương, Tỉnh ủy xây dựng, ban hành các văn bản để thực hiện có
hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương; tiến hành đổi
mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy theo hướng gần dân, sát dân, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân.
Hàng năm, Ban Chỉ đạo (BCĐ) thực hiện QCDC các cấp trong tỉnh tham mưu
cho cấp ủy đảng kiện toàn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên
trong BCĐ, chỉ đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị chủ động xây dựng kế
hoạch thực hiện QCDC; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nhờ đó,
QCDC ở cơ sở thực sự đi vào đời sống, nâng cao năng lực điều hành của lãnh
đạo các cấp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội.
Việc thực hiện QCDC được các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc theo
đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Những chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, các nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng, chính sách
hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, mức thu các loại quỹ,… được thông tin
rộng rãi đến người dân. Các xã, thị trấn phát huy vai trò nhân dân trong việc
bàn, tham gia ý kiến và quyết định trực tiếp những vấn đề liên quan đến lợi
ích của người dân. Qua đó, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa
Đảng với nhân dân, huy động nội lực sức dân tham gia các cuộc vận động,
phong trào thi đua yêu nước.
57
Chƣơng 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM THI HÀNH PHÁP
LUẬT VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
3.1. Quan điểm thi hành pháp luật về dân chủ ở cơ sở
Thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở để đáp ứng vấn đề xây dựng nhà
nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay. Như ở trên chúng ta đã biết, xây dựng
nhà nước pháp quyền sẽ bảo đảm được nền dân chủ và ngược lại thực hiện tốt
dân chủ là cơ sở để xây dựng nhà nước pháp quyền. Thực hiện tốt dân chủ cơ
sở để bảo vệ, bảo đảm tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng. Việc công khai minh bạch đặc
biệt là việc công khai tài chính sẽ là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu tình
trạng tham nhũng, lãng phí xảy ra. Ngoài ra, còn góp phần thiết thực vào việc
bảo đảm các quyền và lợi ích của người dân, giúp xây dựng mối quan hệ bình
đẳng, đồng thuận giữa người dân với các cơ quan công quyền ở cơ sở
Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt sâu sắc các quan
điểm, chủ trương của Đảng và các quy định của Nhà nước về thực hiện
QCDC ở cơ sở.
Tập trung tuyên truyền sâu rộng nội dung Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ
Chính trị (khoá VIII), Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban bí thư (khoá IX), Pháp
lệnh số 34 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội (Khoá XI), các Nghị định 71, 07,
và Nghị định 87 về Dân chủ trong các loại hình cơ sở. Việc tuyên truyền về
thực hiện QCDC ở cơ sở gắn liền với việc giáo dục nâng cao nhận thức của
nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. Tiếp
tục thực hiện công cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh”. Phát huy vai trò các cơ quan thông tin đại chúng
trong công tác tuyên truyền. Chú trọng công tác tuyên truyền ở cơ sở với
nhiều hình thức; niêm yết các văn bản của Nhà nước về dân chủ cơ sở tại trụ
58
sở xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà văn hoá thôn, phát hành
tờ gấp tuyên truyền đến từng hộ gia đình, tùng người dân.
Thứ hai, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, phát huy
vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên trong thực hiện dân chủ ở cơ sở
Cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để đưa ra việc xây
dựng và thực hiện QCDC thành nề nếp. Tổ chức đảng, đảng viên gương mẫu
thực hiện QCDC, chấp hành nghiêm kỷ luật của Đảng, Pháp luật Nhà nước, đi
đầu trong việc thực hiên QCDC; thực hiện tốt quy chế chất vấn trong Đảng;
đưa việc thực hiện dân chủ cơ sở thành một tiêu chuẩn để xem xét chi bộ,
đảng bộ trong sạch vững mạnh, đảng viên đủ tư cách, đơn vị tiên tiến xuất
sắc. Cấp uỷ Đảng lãnh đạo thực hiện QCDC cơ sở gắn chặt với việc lãnh đạo
tăng cường công tác dân vận của các cấp chính quyền, phát huy vai trò của
Mặt trận, đoàn thể để tạo hiệu quả tổng hợp.
Thứ ba, tập trung chỉ đạo thực hiện các nội dung của Pháp lệnh và các
Nghị định về dân chủ cơ sở
Thực hiện QCDC cơ sở đi liền với giữ vững kỷ cương, kỷ luật, quyền
lợi gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân; chống các biểu hiện lợi dụng dân
chủ để vi phạm pháp luật Chính quyền các cấp tăng cường phổ biến nâng cao
hiểu biết pháp luật cho nhân dân. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc các nội dung
của pháp lệnh và nghị định về QCDC ở các loại hình cơ sở; rà soát bổ sung,
sửa đổi các quy chế, hương ước. Phân công cụ thể trách nhiệm của các thành
viên trong việc giải quyết các vấn đề gay cấn ở địa phương; đồng thời có kế
hoạch chỉ đạo thực hiện nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động của HĐND,
UBND, nhất là cấp cơ sở, đổi mới việc tiếp xúc cử tri để nắm tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân. Thực hiện tốt quy chế phối hợp hoạt động giữa HĐND,
UBND các cấp với Mặt trận, các đoàn thể; quy chế phối hợp hoạt động giữa
thủ trưởng cơ quan, ban chấp hành công đoàn; tiến hành hội nghị, đại hội cán
bộ, công chức, viên chức, người lao động theo quy định. Chỉ đạo thực hiện tốt
59
Chỉ thị 18/2000/CT-TT của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân
vận của chính quyền.
Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận, các đoàn thể trong việc thực
hiện dân chủ đại diện; đồng thời vận động nhân dân phát huy dân chủ trực
tiếp trong quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở
Mặt trận, các đoàn thể nhân dân tiếp tục chỉ đạo đổi mới nội dung,
phương thức hoạt động nhằm thống nhất hành động các tổ chức thành viên để
tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia thiết thực trong thực hiện
dân chủ ở cơ sở. Tăng cường vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp
nhân dân phát huy dân chủ trực tiếp ở thôn, bản, tiểu khu nhằm tuyên truyền,
vận động nhân dân phát huy nguồn lực thực hiện các chủ trương chính sách,
pháp luật, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, đẩy mạnh các
phong trào thi đua lao động sản xuất, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân
cư; chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đoàn viên, hội viên và
nhân dân.
Thứ năm, tiếp tục củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động
của Ban chỉ đạo QCDC ở các cấp; đẩy mạnh xây dựng các điển hình, kịp thời
khen thưởng tập thể, cá nhân thực hiện tốt QCDC ở cơ sở
Củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo các cấp theo quy định. Xây dựng, sửa
đổi, bổ sung quy chế hoạt động; phân công trách nhiệm cụ thể các thành viên
Ban chỉ đạo gắn với trách nhiệm cơ quan mà thành viên phụ trách nhằm phát
huy chức năng tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền trong chỉ đạo thực hiện
QCDC. Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra các tổ chức trong hệ thống
chính trị, các ngành, đoàn thể và cơ sở để kịp thời có giải pháp chỉ đạo thiết
thực hiệu quả. Hàng năm có chỉ đạo chuyên đề về thực hiện dân chủ; chỉ đạo
xây dựng các đơn vị điển hình thực hiện tốt QCDC ở các loại hình để rút kinh
nghiệm và nhân rộng.
60
Thứ sáu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; kiểm tra,
thanh tra, giám sát của chính quyền, kết hợp kiểm tra, giám sát của các tổ
chức đoàn thể và của cộng đông dân cư; trực tiếp giám sát của người dân
Cấp uỷ đảng, HĐND, UBND các cấp hàng năm theo chức năng, nhiệm
vụ của từng tổ chức có kế hoạch kiểm tra chuyên đề về thực hiện QCDC. Mặt
trận và đoàn thể tăng cường giám sát các hoạt động của chính quyền các cấp;
giám sát đảng viên, cán bộ công chức ở địa bàn dân cư.
3.2. Một số giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân
chủ cơ sở ở tỉnh Bắc Ninh
3.2.1. Giải pháp chung
3.2.1.1. Tiếp tục đẩy mạnh việc quán triệt thực hiện QCDC ở cơ sở theo
Kết luận số 120-KL/TW, ngày 07/01/2016 của Bộ chính trị (khóa XI) “Về tiếp
tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở”, khắc phục những khuyết điểm tồn tại trong công tác thực
hiện dân chủ ở cơ sở, nhằm tạo những chuyển biến mới trong nhận thức về
thực hiện dân chủ ở cơ sở
Việc thực hiện QCDC từ huyện đến cơ sở đã được cấp ủy, thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị, chủ tịch UBND các xã thị trấn quan tâm chỉ đạo thực
hiện một cách đồng bộ. Việc quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của
Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến đông đảo cán bộ, đảng viên,
người lao động và quần chúng nhân dân được thường xuyên. Thực hiện
QCDC ở cơ sở đã phát huy được tính làm chủ của nhân dân trong việc bàn
bạc, thống nhất trước khi quyết định thực hiện các công trình, dự án triển khai
trên địa bàn. Các chính sách ưu đãi được nhân dân biết và hưởng thụ theo
đúng đối tượng; các nội dung dân biết, dân bàn, nhất là trong xây dựng nông
thôn mới được nhân dân đồng tình ủng hộ và tham gia thực hiện. Đã phát huy
được vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong các cơ quan đơn vị, các
xã, thị trấn cũng như vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên trong việc xây
61
dựng cơ quan đoàn kết, văn hóa, chính quyền trong sạch vững mạnh. Nhân
dân tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của chính
quyền các cấp; nhân dân phát huy được quyền làm chủ của mình trong việc
kiểm tra, giám sát các hoạt động của chính quyền ở cơ sở.
Do dó, tiếp tục thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở sẽ phát huy vai
trò, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân, động viên các tầng lớp nhân dân
tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; dân
chủ trong sinh hoạt Đảng, trong quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước các
cấp không ngừng được phát huy. Bầu không khí dân chủ trong xã hội, trong
sinh hoạt cộng đồng dân cư được mở rộng, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn
xã hội; xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh.
3.2.1.2. Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, đạo đức công vụ cho cán
bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân
chủ và công khai, kịp thời.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chính là cầu nối giữa Đảng, Nhà
nước với nhân dân. Chỉ khi xây dựng được đội ngũ này có phẩm chất đạo đức
và năng lực thực thi công vụ mới có thể hiện thực hóa mọi chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, nâng cao đạo đức
công vụ cho đội ngũ CBCC cấp xã luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng
trong giai đoạn hiện nay.
Hiểu một cách chung nhất, đạo đức công vụ là hệ thống các chuẩn mực,
quy tắc, nguyên tắc, hành vi trong hoạt động công vụ của CBCC nhằm điều
chỉnh thái độ, hành vi, cách ứng xử, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của cán
bộ, công chức trong hoạt động công vụ. Giá trị cốt lõi mà công chức đảm
nhận thể hiện ở cách họ xử sự và đóng góp để xã hội tốt đẹp hơn, bao gồm
dịch vụ công tốt và từng cá nhân công chức phải trau dồi, bồi dưỡng về mọi
62
mặt để tiến bộ hơn, qua đó xây dựng một nền công vụ trách nhiệm, chuyên
nghiệp và trong sạch, tận tụy, công tâm.
Nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức chính là nâng
cao lòng yêu nghề, tinh thần tận tụy với công việc; nâng cao thái độ tôn trọng
nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự
giám sát của nhân dân; là thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
trong hoạt động công vụ; là nâng cao chủ nghĩa tập thể, tinh thần hợp tác, tôn
trọng pháp luật, tôn trọng đồng nghiệp trong thực thi công vụ.
3.2.1.3. Phát huy vai trò của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội
trong việc tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viện và nhân dân tích cực
tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”
Phối hợp tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội và đại
biểu hội đồng nhân dân các cấp; phát huy vai trò giám sát của ban Thanh tra
nhân dân nhằm tăng cường trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chính
quyền cơ sở, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các
lĩnh vực quản lý đất đai, tài nguyên, đầu tư xây dựng... Ngoài ra, đề nghị Mặt
trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tích cực tham gia xây dựng
chính quyền, thực hiện giám sát, phản biện xã hội, góp phần đấu tranh phòng
chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí; phối hợp với các cơ quan
chức năng tổ chức tập huấn chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất có hiệu quả nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, góp phần xoá đói,
giảm nghèo. Từng bước đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể chính trị - xã hội đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng đời sống
văn hóa, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động
nhân đạo, từ thiện, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội ở địa phương.
63
Vận động nhân dân phát hiện, tố giác, đấu tranh, ngăn chặn các vụ tiêu
cực, tham nhũng, các tệ nạn xã hội; kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt
động của Ban TTND, Ban GSĐT cộng đồng để tăng cường phát huy vai trò
dân chủ ở cơ sở.
3.2.1.4. Biểu dương, khen thưởng kịp thời những địa phương, cá
nhân thực hiện tốt; đồng thời, xử lý nghiêm minh đối với những trường
hợp mất dân chủ hoặc lợi dụng dân chủ để gây rối, vi phạm pháp luật,
gây bức xúc trong xã hội và nhân dân
Công tác thi đua, khen thưởng là một nội dung quan trọng, là biện pháp
tổ chức thực tiễn, một phương pháp tuyên truyền, giáo dục tích cực để động
viên ý chí sáng tạo, quyết tâm của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm
vụ. Tại Đại hội các chiến sỹ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc tháng 5
năm 1952, Bác Hồ đã khẳng định: “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi
đua và những người thi đua là những người yêu nước nhất” và “thi đua, khen
thưởng là động lực phát triển và là biện pháp quan trọng để xây dựng con
người mới, thi đua yêu nước phải được tiến hành thường xuyên hàng ngày”...
Chủ động giải quyết theo thẩm quyền và tham mưu giúp cấp ủy giải
quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kết luận các vụ việc
nổi cộm trên địa bàn; xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng và
đảng viên vi phạm; xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng tố cáo, khiếu nại
sai sự thật, động cơ cá nhân, làm mất đoàn kết nội bộ; giải quyết dứt điểm các
trường hợp khiếu nại kỷ luật đảng theo quy định của Đảng đảm bảo chính
xác, đúng quy trình, không để khiếu nại kéo dài, vượt cấp. Thực hiện tốt công
tác thông tin, tuyên truyền về công tác kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp để thực hiện tốt hơn
nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.
64
3.2.2. Các giải pháp cụ thể
3.2.2.1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, kỹ năng sử dụng
quy định pháp luật về dân chủ cơ sở
Việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật sẽ giúp cho
người dân nắm bắt được pháp luật một cách kịp thời, sẽ hiểu rõ hơn về quyền
và lợi ích hợp pháp của mình. Sẽ biết cách thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình như thế nào.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên
của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc
sống, làm cho mọi công dân được tiếp cận với pháp luật.
3.2.2.2. Nâng cao nhận thức của các chủ thể thực hiện pháp luật về vai
trò, tầm quan trọng và nội dung của pháp luật về dân chủ cơ sở
Thi hành pháp luật là nhằm đưa pháp luật vào cuộc sống là giai đoạn
tiếp nối của xây dựng pháp luật, là chức năng đặc trưng, xuyên suốt của các
cơ quan hành chính nhà nước và là yếu tố quyết định vận hành thông suốt hệ
thống pháp luật hướng tới quản trị quốc gia tốt trong Nhà nước pháp quyền
XHCN.
Trong thi hành pháp luật, cơ quan hành chính nhà nước với vị trí là một
chủ thể quyền lực nhà nước, có trách nhiệm thi hành các quy định pháp luật
thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp, luật quy định.
Đồng thời, bằng chính hoạt động thi hành các quy định về nhiệm vụ, quyền
hạn của mình, các cơ quan hành chính nhà nước tạo ra các tiền đề, điều kiện
bảo đảm cho việc thi hành pháp luật của chính mình và các chủ thể khác, nói
cách khác là tổ chức thi hành pháp luật trong phạm vi thẩm quyền của mình.
Theo đó, cơ quan hành chính nhà nước có quyền hạn và trách nhiệm (1) ban
hành văn bản hướng dẫn, tạo cơ chế để đưa Hiến pháp, pháp luật vào cuộc sống
và (2) tổ chức thi hành các văn bản pháp luật của cơ quan cấp trên và của mình
ban hành. Do đó để pháp luật nói chung và pháp luật về dân chủ cơ sở nói riêng
65
thực sự đi vào cuộc sống, có hiệu lực, hiệu quả cần nâng cao hơn nữa nhận
thức của các chủ thể này thông qua các buổi tập, hội nghị chuyên đề.
3.2.2.3. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ
đạo QCDC ở cơ sở các cấp gắn với trách nhiệm của từng cá nhân được phân
công phụ trách địa phương và các lĩnh vực.
Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về thực hiện
QCDC cho các thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện QCDC cấp huyện và cơ sở.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở,
chú trọng ở những ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến người dân,
doanh nghiệp; xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ, vi phạm quyền
làm chủ của nhân dân...
Cán bộ, công chức, đảng viên là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá
trình thực thi dân chủ tại cơ sở, do vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, cấp ủy và chính quyền
có ý nghĩa to lớn, góp phần quyết định thực thi dân chủ ở cơ sở.
Trước hết cần bồi dưỡng phong cách quần chúng, thực hành dân chủ
theo tư tưởng, phong cách dân chủ Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
đưa ra khái niệm về dân chủ bằng những diễn đạt ngắn gọn: “Dân là chủ”,
“Dân làm chủ”, “Dân là gốc”, “Nước ta là nước dân chủ”, “quyền hành và lực
lượng đều ở nơi dân”, và vai trò “Dân chủ là cái chìa khóa vạn năng”. Thực
hiện tư tưởng của Người, chính quyền phải giúp cho nhân dân có năng lực
làm chủ, biết hưởng quyền làm chủ, biết dùng quyền làm chủ và tạo điều kiện
về cơ chế, chính sách, pháp luật có để người dân thể hiện quyền làm chủ.
3.2.2.4. Tăng cường đối thoại giữa người dân và các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện quy chế dân chủ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả “năm dân
vận khéo”
Ðối thoại với nhân dân là cầu nối rất quan trọng, giúp cho việc lãnh đạo
của cấp ủy và điều hành của chính quyền các cấp sát đời sống, gần với nhân
66
dân, góp phần xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, lắng nghe, phục vụ
người dân. Những ý kiến, kiến nghị của nhân dân gửi đến người đứng đầu cấp
ủy, chính quyền là những tâm tư, nguyện vọng, là vấn đề liên quan đến quyền
và lợi ích của mỗi người dân và việc trả lời, giải quyết kịp thời, đúng đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sẽ góp phần nâng
cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cả hệ thống chính trị, phát huy dân
chủ, sức sáng tạo của nhân dân.
Đẩy mạnh triển khai các nội dung của “Năm dân vận của chính quyền”
ở những năm tiếp theo, tạo chuyển biến rõ nét trong công tác dân vận của các
cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, trong mối quan hệ giữa chính quyền
với nhân dân; tăng cường đánh giá sự hài lòng của người dân đối với sự phục
vụ của cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức.
Do đó, trong thời gian tới Bắc Ninh sẽ thực hiện các biện pháp nhằm
đem lại hiệu quả trong các cuộc đối thoại với nhân dân:
Một là, tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân hiểu về bản chất, mục đích, ý nghĩa của hội nghị đối thoại giữa
người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân; tránh nhận thức việc tổ
chức hội nghị đối thoại giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân
dân như tiếp xúc cử tri. Trước mỗi kỳ tổ chức hội nghị đối thoại, cần đẩy
mạnh thông tin, tuyên truyền để thu hút đông đảo nhân dân tham gia hội nghị.
Thứ hai, một trong những yếu tố quan trọng làm nên thành công của
các cuộc đối thoại là đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao; bởi vậy, người
lãnh đạo phải thường xuyên xuống nắm bắt tình hình thực tiễn tại cơ sở; có
tầm bao quát, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện và giải quyết kịp thời các vấn đề
trọng yếu của địa phương; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, chuyên
môn nghiệp vụ, đạo đức, tác phong, lề lối làm việc.
Thứ ba, tăng cường công tác đối thoại định kỳ, đột xuất của cấp ủy,
chính quyền các cấp đối với các vấn đề lớn, liên quan đến chính sách, đời
67
sống, an sinh xã hội của nhân dân; tiếp tục thực hiện lịch tiếp công dân định
kỳ hằng tháng của đồng chí chủ tịch UBND các cấp và cụ thể hóa Quy định
số 11-QĐ/TW ngày 18-2-2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người
đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những
phản ánh, kiến nghị của dân. Hàng tháng, giao cơ quan chuyên môn tổng hợp
kết quả trả lời và tiến độ, thời gian giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cơ quan
chuyên môn báo cáo ban thường vụ cấp ủy.
Thứ tư, phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị
- xã hội trong lựa chọn việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của nhân dân vào
nội dung chương trình giám sát theo Quyết định 217-QĐ/TW ngày 12-12-
2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Ban hành quy chế giám sát và phản biện
xã hội của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”.
Thứ năm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chú trọng việc tổ chức
hội nghị đối thoại đột xuất khi xin ý kiến nhân dân về các chủ trương, chính
sách lớn của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng -
an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.
3.2.2.5. Gắn việc tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở với việc
phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng
Thực hiện Quy chế dân chủ không phải vì bản thân quy chế đó hay vì
sự ổn định xã hội nhất thời, mà đích cuối cùng là bảo đảm cho nhân dân có
cuộc sống ấm no hơn, tiến bộ hơn. Do vậy, để đạt được mục đích đó cần
hướng vào: Tạo điều kiện thuận lợi và giúp các nhà đầu tư, doanh nghiệp triển
khai các dự án tại địa phương; xây dựng và mở rộng nhiều mô hình xây dựng
nông thôn mới thiết thực, hiệu quả; đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất
lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; thực hiện có hiệu quả các giải pháp
bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, an ninh - trật tự.
Gắn việc thực hiện QCDC với việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng an ninh, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia, tiếp tục nâng cao
trình độ dân trí, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Quan tâm
68
đến lợi ích hợp pháp, chính đáng; giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc
của người dân. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính nêu gương của người đứng
đầu cấp ủy, chính quyền, MTTQ để thật sự phát huy Quy chế dân chủ ở cơ sở,
để người dân hiểu đầy đủ, có sự đồng thuận với cấp ủy, chính quyền, hệ thống
chính trị, tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, ổn định đời sống, giữ
vững an ninh quốc phòng, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó
thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện QCDC ở các loại hình cơ sở,
chú trọng kiểm tra, giám sát ở những ngành, lĩnh vực có liên quan trực tiếp
đến người dân, doanh nghiệp.
3.2.2.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động của chế độ thực hành dân chủ
trong các cơ quan, đơn vị nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công
chức, viên chức và nâng cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
Phát huy dân chủ trong cơ quan, đơn vị có vai trò hết sức quan trọng
góp phần để cơ quan, đơn vị hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng khối đại đoàn
kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị; từ đó góp phần xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị,
phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,
làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi
mới của đất nước. Xuất phát từ thực trạng vấn đề dân chủ trong các cơ quan,
đơn vị hiện nay; để nâng cao chất lượng của chế độ thực hành dân chủ, trước
hết cần đổi mới cơ bản về hệ thống chính trị ở các cấp chính quyền cơ sở. Do
đó để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở cần: đổi mới
tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới và nâng cao hiệu quả
quản lý của Nhà nước ở chính quyền cơ sở; đổi mới và kiện toàn các đoàn thể
chính trị - xã hội.
Cần tiếp tục bồi dưỡng và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã, để cán bộ, công chức cấp xã thực sự là “công bộc của nhân dân”,
làm việc cũng phải vì lợi ích của nhân dân và Nhà nước, góp phần xây dựng
69
niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Cần tăng cường công tác kiểm
tra, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc;
tăng cường công tác giáo dục rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách
mạnh của cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4
khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chăm lo công tác đào
tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở.
Có chính sách, chế độ ưu đãi thực sự để thu hút người trẻ tuổi, có trình độ
chuyên môn về công tác tại xã, phường, thị trấn.
Trong hệ thống các cơ quan, đơn vị, Công đoàn cơ sở là một tổ chức
đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ. Phát huy
vai trò của các tổ chức Công đoàn cơ sở vừa là mục tiêu, vừa là động lực
quan trọng của quá trình xây dựng một nền dân chủ vững mạnh, trong sạch,
góp phần quan trọng trong việc tạo ra môi trường làm việc minh bạch, thân
thiện, đoàn kết, chuyên nghiệp và hiệu quả trong các cơ quan, tổ chức. Theo
đó, mỗi cơ quan, đơn vị cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong vấn đề thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở đơn vị mình, phù hợp với hoàn cảnh và tình hình
thực tiễn, đặc biệt là các nội dung liên quan tới quản lý tài chính tài sản, đào
tạo, thi đua khen thưởng, chính sách cán bộ... Những nội dung này phải
được tập thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, đơn
vị thảo luận và cho ý kiến. Đồng thời, các cấp Công đoàn phải thường xuyên
phối hợp với các cơ quan, đơn vị tổ chức quán triệt ý nghĩa, nội dung quy
chế dân chủ ở cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức; nhất là thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, nâng cao nhận thức, tuyên
dương các gương cá nhân tiêu biểu trong vấn đề thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở ở cơ quan, đơn vị đó.
70
3.2.2.7. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; kiểm tra,
thanh tra, giám sát của chính quyền, kết hợp kiểm tra, giám sát của các tổ
chức đoàn thể và của cộng đông dân cư; trực tiếp giám sát của người dân
Cấp uỷ đảng, HĐND, UBND các cấp hàng năm theo chức năng, nhiệm
vụ của từng tổ chức có kế hoạch kiểm tra chuyên đề về thực hiện QCDC.
Mặt trận và đoàn thể tăng cường giám sát các hoạt động của chính
quyền các cấp; giám sát đảng viên, cán bộ công chức ở địa bàn dân cư
3.2.2.8. Kịp thời sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất những kiến
nghị nhằm từng bước bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở
Sơ kết là xem xét lại một phần hoặc một giai đoạn ngắn của công việc
đã triển khai nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời cho giai đoạn tiếp
theo. Tổng kết là việc đánh giá lại toàn bộ công việc đã triển khai nhằm xem
xét mức độ thành công, thất bại để có những kế hoạch tiếp theo.
Công tác sơ kết, tổng kết việc thi hành pháp luật dân chủ ở cơ sở phải
nêu lên được kết quả toàn diện về triển khai công việc, kể cả mặt được và mặt
chưa được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc
phòng; phải chỉ ra được nguyên nhân khách quan và chủ quan, nguyên nhân
trực tiếp và nguyên nhân sâu xa dẫn tới những mặt đạt được và chưa đạt được
của kết quả đã nêu; phải rút ra được những bài học kinh nghiệm qua việc triển
khai công việc, nhất là những bài học kinh nghiệm tổng kết ý kiến phản hồi
của người dân được thụ hưởng chính sách và chính quyền địa phương; phải
đề xuất được các kiến nghị và giải pháp phát huy những kết quả đạt được và
khắc phục những tồn tại, yếu kém hoặc phải đưa ra được những giải pháp
khắc phục những hậu quả do việc triển khai công việc không thành công.
Để đảm bảo pháp luật về dân chủ ở cơ sở được triển khai một cách có
hiệu quả; kịp thời phát hiện những ưu, nhược điểm trong quá trình triển khai
thực hiện nhằm phát huy, nhân rộng những mặt được, hạn chế những mặt
chưa được; công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện cần phải được tiến hành
71
một cách thường xuyên, liên tục, theo lộ trình thời gian nhất định. Để làm tốt
công tác sơ kết, tổng kết, những người tham gia các hoạt động trong quá trình
triển khai thực hiện phải có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, phải biết
vận dụng kiến thức đã cập nhật được, chủ động tiến hành các hoạt động sơ
kết, tổng kết trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình, từ đó đúc rút
kinh nghiệm hoàn thiện kiến thức và kỹ năng triển khai các hoạt động sơ kết,
tổng kết nói chung và sơ kết, tổng kết quá trình thi hành pháp luật về dân chủ
nói riêng.
72
Tiểu kết chƣơng 3
Dân chủ là mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta, và đồng thời cũng là nhu
cầu, nguyện vọng thiết tha của nhân dân. Dân chủ là yêu cầu, là nguyên tắc
hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở, trong đó
dân chủ ở cơ sở là bộ phận quan trọng, đảm bảo phát huy quyền làm chủ thực
sự của nhân dân. Pháp luật về dân chủ ở cơ sở là một nội dung quan trọng của
pháp luật về dân chủ, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh
quan hệ giữa Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và công dân
diễn ra ở cơ sở.
Tiến trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam, về bản
chất là quá trình dân chủ hóa xã hội ngày càng sâu rộng hơn. Tiến trình đó
cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện không ngừng của pháp luật. Dân chủ
không tách rời dân trí và dân sinh, bởi dân trí và dân sinh là nền tảng để thực
hành dân chủ ở cấp độ tương ứng. Đích cuối cùng của việc xây dựng và thực
hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở là thu hút quần chúng vào hoạt động chính
trị, xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể, làm cho người dân có cuộc sống
hạnh phúc và tiến bộ. Đem lại những ứng xử văn minh và lợi ích chính đáng
cho người lao động là cách tốt nhất để các cơ quan, đơn vị, tổ chức làm cho
nội dung dân chủ ở cơ sở có sức sống và mang lại những giá trị thiết thực.
73
KẾT LUẬN
Pháp luật thi hành dân chủ ở cơ sở là một hệ thống các chuẩn mực, yêu
cầu đòi hỏi các cơ quan, đơn vị, tổ chức phải tuân thủ trong thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của mình có liên quan đến quyền, lợi ích của tập thể, của
quần chúng. Trong đó đề cập cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu, của tập
thể khi đưa ra các quyết định thuộc thẩm quyền. Do đó, việc thực hiện đúng
và đầy đủ các quy định thực hiện pháp luật dân chủ cơ sở của các chủ thể có
liên quan giữ vai trò quan trọng để phát huy trí tuệ tập thể và quyền dân chủ
trong tập thể, xã hội.
Ra đời cách đây hơn 20 năm, Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/02/1998
của Bộ Chính trị khóa VIII về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
(sau đây viết tắt là Chỉ thị số 30-CT/TW), là một bước tiến đáng kể trong thực
hiện dân chủ ở cơ sở, là định hướng chính trị pháp lý để ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các nội dung quan điểm, lãnh đạo của
Đảng về vấn đề này như Nghị quyết 45/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội ngày 26 tháng 02 năm 1998 về việc ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày
11/5/1998 về việ
-CP-UBTWMTTQVN ng
ong Mạt trạ t Nam na
hu
n da còn có các
- - -
n da
74
- n
da
nghiẹp cong lạ -
luạt lao đọ
- da
n da
- nghiẹ
n da
nhiẹ
149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết Khoản 3
Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi
làm việc). Với những nội dung thể chế kịp thời các quan điểm chỉ đạo của Chỉ
thị số 30-CT/TW đã tạo thành hành lang pháp lý để phát huy quyền làm chủ
tập thể ở các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, quyền dân chủ ở xã, phường, thị
trấn cùng với những chuẩn mực ứng xử của người đứng đầu, của chính quyền
nhà nước khi đưa ra các quyết định của mình. Đồng thời đây cũng là “hàng
rào” pháp lý góp phần ngăn chặn việc lạm dụng chức vụ, quyền hạn xâm
phạm đến lợi ích của tập thể, của Nhân dân; là căn cứ để đánh giá mức độ
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của cơ quan, chính quyền nhà nước.
Nội dung của các quy định pháp luật trên cũng là biểu hiện cụ thể của phương
châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và phục vụ cho lợi ích của
Nhân dân.
Sau hơn 20 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, hơn 10 năm thực
hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn nước ta đã có những chuyển
biến về mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội. Trong đó nền kinh tế phát triển
mới một mức độ cao, đảm bảo mọi mặt cho đời sống nhân dân. Xã hội dần
dần ổn định. Người dân phát huy quyền làm chủ của mình một cách có hiệu
75
quả trên cả hai hình thức: Dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. Quyền và
nghĩa vụ của công dân cũng đã được hiểu và tiến hành một cách có hiệu quả.
Căn cứ vào tình hình thi hành pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh trong những năm vừa qua đã có nhiều chuyển biến tích cực
song bên cạnh đó còn có nhiều hạn chế thiếu sót. Đề tài của tác giả góp một
phần nhỏ trong việc tìm hiểu các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở,
đánh giá thực trạng thi hành dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, những
vấn đề đã đạt được, những vấn đề còn bất cập, hạn chế cũng từ đó tác giả đưa
ra và những nguyên nhân, giải pháp đồng thời có những kiến nghị để giúp cho
việc thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh được tốt
hơn trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu của đề tài rộng, những quy định
của pháp luật về dân chủ cơ sở là tương đối giống nhau nên trong quá trình
nghiên cứu đề tài không thể không mắc những sai lầm, thiếu sót. Tác giả cũng
rất mong muốn nhận được sự phản hồi của bạn đọc để cho đề tài được hoàn
thiện hơn và phát huy được tốt hơn giá trị của nó.
76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Xuân Ngọc (2000). Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Hoàng Chí Bảo (2002). Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở
cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay, Đề tài
Khoa học cấp Nhà nước, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
3. Hoàng Chí Bảo (2005). Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện
nay; Nxb lý luận chính trị, Hà Nội.
4. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 5; Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
5. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 6; Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
6. Hồ Chí Minh (1995). Toàn tập, tập 7; Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
7. Hồ Chí Minh (2000). Toàn tập, tập 8; Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
8. Hồ Chí Minh (2000). Toàn tập, tập 9; Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
9. Hoàng Trung Dũng (2013). Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học khoa
học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
10. Lê Minh Quân (2003). Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện
nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
11. Lương Gia Ban (2003). Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
77
12. Nguyễn Cúc (2002). Thực hiện Quy chê dân chủ ở cơ sở trong tình
hình hiện nay. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
13. Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003). Thực hiện Quy chế dân
chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay; Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
14. Vũ Hoàng Công (2002). Hệ thống chính trị ở cơ sở - đặc điểm, xu
hướng và giải pháp; Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
15. V.I.Lenin (1978). Toàn tập, tập 31, Nxb. Tiến bộ, Matxcova.
16. V.I.Lenin (1977). Toàn tập, tập 37, Nxb. Tiến bộ, Matxcova.
17. Từ điển bách khoa Việt Nam(1995). NXB. Từ điển Bách khoa Việt Nam.
1. Nguyễn Huy Quý (2004). Về dân chủ ở cơ sở; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.
2. Nguyễn Khắc Nhật (2012). Xây dựng, hoàn thiện Nhà nƣớc pháp
quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Văn kiện Đại hội XI của Đảng; Tạp chí
Cộng sản, Hà Nội.
3. Lê Trọng Ân (2004). Dân chủ và phát huy dân chủ của nhân dân
trong sự nghiệp đổi mới; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.
4. Trần Bạch Đằng (2003). Dân chủ cơ sở một sức mạnh truyền thống
của dân tộc Việt Nam; Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.
5. Trịnh Ngọc Anh (2003). Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây
dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh, Tạp chí Cộng sản, Hà Nội.
6. Trương Quang Được. Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở; Tạp chí cộng sản, Hà Nội.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
78
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997). Nghị quyết Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 3, Khóa VIII; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Nghị quyết Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 5, Khóa IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Nghị quyết Ban chấp hành Trung
ương lần thứ 6, Khóa IX; Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
* Văn bản:
1. Ban bí thư Trung ương Đảng (2002). Chỉ thị số 10 - CT/TW về tiếp
tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, ban hành ngày
28/3/2002, Hà Nội.
2. Bắc Ninh (2009). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Nxb Văn học, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (1998) Chỉ thị số 30-CT/TW về Xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, ban hành ngày 18/02/1998, Hà Nội.
4. Chính phủ (1998). Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về Quy chế thực
hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, ban hành ngày 11/5/1998, Hà Nội.
5. Chính phủ (2003). Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã, thay thế Nghị định số 29/1998/CP ngày 11/5/1998,
ban hành ngày 07/7/2003, Hà Nội.
6. Chính phủ (2015) Nghị định số 04/2015/NĐ-CP về việc Thực hiện
dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự
nghiệp công lập, ban hành ngày 09/01/2015, Hà Nội.
7. Hoàn thiện pháp luật về thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam,
http://tcnnvn, ngày 05/12/2018.
79
8. Thủ tướng Chính phủ (1998). Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg về việc
triển khai QCDC ở xã, phường, thị trấn, ban hành ngày 15/5/1998, Hà Nội.
9. Tỉnh uỷ (2008). Báo cáo số 72-BC/TU tổng kết 10 năm thực hiện
Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 11/5/1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân
chủ ở cơ sở, ban hành ngày 22/8/2008, Bắc Ninh.
10. Tỉnh uỷ (2017). Báo cáo số 35-BC/TU tổng kết 10 năm thực hiện
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11, ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội khóa XI về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, ban
hành ngày 15/10/2017, Bắc Ninh.
11. UBND tỉnh Bắc Ninh (2015). Báo cáo số 163/BC-UBND về công
tác cải cách hành chính giai đoạn 2010 - 2015, ban hành ngày 15/12/2015,
Bắc Ninh.
12. UBND tỉnh Bắc Ninh (2020). Báo cáo số 75/BC-UBND về công tác
cải cách hành chính giai đoạn 2016 - 2020, ban hành ngày 15/3/2015, Bắc Ninh.
13. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2007). Pháp lệnh số 34/2007/PL-
UBTVQH11 thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, thông qua ngày
24/4/2007, Hà Nội.
* Luận văn, Luận án:
1. Hoàng Trung Dũng (2013),“Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở xã,
phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội.
2. Lại Thế Nguyên (2014), “Thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở trên
địa bàn tỉnh Thanh Hoá”, Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Lê Thanh Hải (2015), “Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở trong trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Tân An,
tỉnh Long An”, Học viện Hành chính Quốc gia
4. Nguyễn Thị Hoa (2018), “Thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các
trường trung học phổ thông từ thực tiễn tỉnh huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng
Nai”, Đại học Quốc gia Hà Nội.
80
PHỤ LỤC
Phiếu số 01 Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020
PHIẾU KHẢO SÁT
Về tình hình xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở theo
Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08/9/1998 (nay là Nghị định số
04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 của Chính phủ)
Để phục vụ và hoàn thiện Luận văn “Tổ chức thi hành pháp luật về dân
chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nhằm đưa ra các giải pháp thực hiện tốt
hơn trong những năm tiếp theo. Tôi trân trọng đề nghị các ông (bà) bớt chút
thời gian cho biết ý kiến của mình (bằng cách đánh dấu x vào ô vuông) về các
nội dung liên quan đến dân chủ cơ sở tại các cơ quan Nhà nước.
Tôi cam kết những thông tin các ông (bà) cung cấp hoàn toàn được giữ
bí mật và các câu trả lời được sử dụng vào mục đích nghiên cứu, đánh giá
việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!
I. Thông tin chung:
- Giới tính: Nam Nữ
- Tuổi: …………….
- Trình độ chuyên môn:
- Hiện đang công tác tại:
II. Nội dung câu hỏi
A. Công tác xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở
1. Quy chế hoạt động của cơ quan:
Đã ban hành Chưa ban hành
2. Quy chế chi tiêu nội bộ, quản lý và sử dụng tài sản công:
Đã ban hành Chưa ban hành
3. Quy chế về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí:
81
Đã ban hành Chưa ban hành
4. Quy chế tiếp công dân, giải quyết thủ tục hành chính và đơn thư
khiếu nại, tố cáo:
Đã ban hành Chưa ban hành
5. Quy chế về quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, luân chuyển, đánh giá cán
bộ:
Đã ban hành Chưa ban hành
6. Quy chế nâng lương:
Đã ban hành Chưa ban hành
7. Quy chế thi đua, khen thưởng, kỷ luật cán bộ:
Đã ban hành Chưa ban hành
8. Quy chế văn hóa công sở:
Đã ban hành Chưa ban hành
B. Chất lƣợng quy chế
1. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện quy
chế
- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về thực hiện dân
chủ đối với cán bộ, công chức, viên chức:
Đã quy định rõ Chưa quy định rõ
- Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị đối với cơ quan,
đơn vị cấp trên, cấp dưới:
Đã quy định rõ Chưa quy định rõ
2. Quy định về trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực hiện quy
chế
Đã quy định rõ Chưa quy định rõ
C. Việc công khai, phổ biến các quy chế
Công khai đầy đủ Công khai nhưng chưa đầy đủ
Chưa công khai
82
D. Tổ chức thực hiện quy chế
1. Các cơ quan, đơn vị đã thực hiện đúng theo quy chế đã ban hành:
Đúng Chưa đúng
2. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã thực sự dân chủ đối với cán bộ,
công chức trong cơ quan và cơ quan cấp trên, cấp dưới chưa:
Dân chủ Chưa dân chủ (dân chủ hình thức)
3. Trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện quy chế,
quy định của cơ quan, đơn vị và thực hiện Chỉ thị 35-CT/TU, Kết luận 05-
KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Quyết định 33/QĐ-UBND của UBND tỉnh
về xiết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính...:
Tốt Khá Chưa tốt
E. Công tác cải cách thủ tục hành chính và giải quyết đơn, thƣ
khiếu nại, tố cáo của công dân
1. Công tác cải cách thủ tục hành chính:
Tốt Khá Chưa tốt
2. Công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân:
Kịp thời, hiệu quả Chưa kịp thời, hiệu quả thấp
G. Đánh giá hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân
1. Hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân:
Hiệu quả Chưa hiệu quả
2. Chất lượng Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm:
Tốt Khá Trung bình Yếu
Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)
83
Phiếu số 02 Bắc Ninh, ngày 01 tháng 05 năm 2020
PHIẾU KHẢO SÁT
Về tình hình xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007
Để phục vụ và hoàn thiện Luận văn “Tổ chức thi hành pháp luật về dân
chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” nhằm đưa ra các giải pháp thực hiện tốt
hơn trong những năm tiếp theo. Tôi trân trọng đề nghị các ông (bà) bớt chút
thời gian cho biết ý kiến của mình (bằng cách đánh dấu x vào ô vuông) về các
nội dung liên quan đến dân chủ cơ sở tại xã, phường, thị trấn (nơi ông (bà)
đang sinh sống).
Tôi cam kết những thông tin các ông (bà) cung cấp hoàn toàn được giữ
bí mật và các câu trả lời được sử dụng vào mục đích nghiên cứu, đánh giá
việc tổ chức thi hành pháp luật dân chủ cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!
I. Thông tin chung:
- Giới tính: Nam Nữ
- Tuổi: …………….
- Hiện đang cư trú tại:………………………….
II. Nội dung câu hỏi
Câu 1. Xin ông (bà) cho biết mức độ hiểu biết của mình về pháp
luật dân chủ cơ sở ở xã, phƣờng, thị trấn:
1. Không biết gì 3. Biết khá rõ
2. Biết ít 4. Biết rất rõ
Câu 2. Xin ông (bà) cho biết những công việc nào dƣới đây đã đƣợc
công khai cho ngƣời dân tại địa phƣơng đƣợc biết (thông qua các hình
thức nhƣ: Niêm yết, hệ thống Đài truyền thông, cuộc họp….):
84
1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
2. Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công
trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải
quyết các công việc của nhân dân
4. Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo
chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
5. Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất,
xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn
phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo
hiểm y tế
6. Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa
giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy
phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và
Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
8. Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy
ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
9. Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do
chính quyền cấp xã trực tiếp thu
10. Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
85
11. Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Câu 3. Xin ông (bà) cho biết ông (bà) có đƣợc bàn và quyết định
trực tiếp về chủ trƣơng và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các
công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do
nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc
khác trong nội bộ cộng đồng dân cƣ phù hợp với quy định của pháp luật
1. Có 2. Không
Câu 4. Xin ông (bà) cho biết những nội dung nào dƣới đây ông (bà)
đƣợc tham gia ý kiến trƣớc khi cơ quan có thẩm quyền quyết định:
1. Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án
chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng
kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã.
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều
chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã.
3. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp
xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ
sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư.
4. Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều
chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.
5. Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của
pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính
quyền cấp xã thấy cần thiết.
Câu 5. Xin ông (bà) cho biết với những nội dung nêu trên (những
việc công khai, những việc đƣợc bàn và quyết định, những việc đƣợc
tham gia ý kiến) thì ông (bà) thực hiện quyền giám sát việc thực hiện các
nội dung đó nhƣ thế nào:
1. Được giám sát 2. Không được giám sát
86
3. Giám sát chỉ mang tính hình thức 4. Giám sát khi được mời tham gia
Câu 6: Qua những nội dung trên, xin ông (bà) cho biết mức độ
minh bạch của chính quyền cấp xã trong việc thực hiện Pháp lệnh dân
chủ ở xã, phƣờng, thị trấn:
1. Rất minh bạch 2. Bình thường
3. Không minh bạch 4. Khó đánh giá
Xin trân trọng cảm ơn ý kiến của ông (bà)!
87