ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHAN THU TRANG

THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT PHAN THU TRANG

THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ

THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số : 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phương

HÀ NỘI - 2020

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của

riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố

trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích

dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và

trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán

tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để cho tôi có thể bảo vệ luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phan Thu Trang

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tất

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA 7

THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

1.1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế" 7

1.2. Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10

1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10

1.2.2. Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 28

1.2.3. Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 30

1.2.4. Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có 31

hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

1.3. Một số vấn đề pháp lý khác 32

1.3.1. Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 32

1.3.2. Thủ tục phân chia di sản thừa kế 41

1.3.3. Giá trị pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 45

Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA 48

THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ HIỆN NAY

2.1. Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận 52

phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người

nước ngoài đang ở nước ngoài)

2.2. Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia 56

di sản thừa kế

2.3. Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người 57

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

2.4. Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của chủ 59

nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế

2.5. Di sản dùng vào việc thờ cúng 62

2.6. Thực hiện thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân 63

chia di sản thừa kế

2.7. Điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" 64

Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN 66

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN PHÂN

CHIA DI SẢN THỪA KẾ

3.1. Về công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam của người 66

nước ngoài

3.2. Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 67

3.3. Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người 69

chết để lại

3.4. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di 70

sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế

3.5. Về di sản dùng vào việc thờ cúng 71

3.6. Về thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân chia di 72

sản thừa kế

3.7. Về điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" 73

KẾT LUẬN

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

77

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự

HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

UBND : Ủy ban nhân dân

VPCC : Văn phòng công chứng

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu Tên bảng Trang

bảng

2.1 Phí công chứng tính theo giá trị di sản 45

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự

Việt Nam và luôn được pháp luật quan tâm, bảo hộ. Chế định này điều chỉnh

mối quan hệ xã hội phổ biến và gần gũi đối với nhân dân. Nhận thức được vai

trò đặc biệt đó của thừa kế, từ những ngày đầu dựng nước, pháp luật về thừa

kế đã được ghi nhận trong nhiều quy định như trong chương "Điền sản" của

Bộ Quốc triều Hình luật dưới triều vua Lê Thái Tổ. Sau Cách mạng tháng

Tám năm 1945, trải qua nhiều biến cố lịch sử, các quy định về thừa kế đã

được ghi nhận, mở rộng và phát triển qua các văn bản pháp luật, như: Hiến

pháp năm 1959 (Điều 19: "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa

kế tài sản tư hữu của công dân"), Hiến pháp năm 1980 (Điều 27: "Nhà nước

bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân"), Hiến pháp năm 1992 (Điều 58:

"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"),

Hiến pháp năm 2013 (Điều 32: "Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được

pháp luật bảo hộ"); Pháp lệnh thừa kế năm 1990... Và sự ra đời của Bộ luật

Dân sự (BLDS) qua các năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đã đánh dấu

những bước tiến lớn của pháp luật Việt Nam về thừa kế.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực hiện theo cơ chế thị trường,

con người được lao động trong những điều kiện làm việc tốt hơn, vì thế khối

tài sản mà họ tích lũy được nhờ sức lao động của mình ngày một lớn. Về

mặt tâm lý, bất kỳ ai cũng luôn mong muốn có quyền sở hữu đối với tài sản

của mình khi còn sống, kể cả trước khi chết, họ vẫn muốn chi phối chúng.

Tài sản mà một người sở hữu khi còn sống sẽ trở thành di sản khi người đó

chết và được phân chia cho những người thừa kế. Nhìn chung, pháp luật của

các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, việc phân chia di sản này

1

có thể được thực hiện theo ý chí của người chết (theo di chúc) hoặc theo quy

định của pháp luật.

Hiện nay, các tranh chấp về thừa kế có xu hướng gia tăng và ngày

càng phức tạp. Các tranh chấp đó phần lớn là giữa những thành viên trong gia

đình với nhau, bởi vậy ảnh hưởng không nhỏ tới truyền thống đạo đức tốt đẹp

của dân tộc ta. Cách tối ưu nhất để giảm thiểu tình trạng trên đó là những

người thừa kế tự thỏa thuận được về việc phân chia di sản. Việc thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế không chỉ tiết kiệm được thời gian, chi phí mà còn

duy trì được truyền thống văn hóa của người Việt Nam.

Pháp luật dân sự nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên,

song việc thỏa thuận này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Đối với

thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, nội dung và hình thức của nó cần phải

bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Hiện nay, pháp luật đã có những quy định tương đối chi tiết và tiến bộ

hơn liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế so với trước đây, nhưng

do tính chất phức tạp của quan hệ thừa kế mà thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn

còn những hạn chế, chưa dự trù hết được những tình huống phát sinh trên thực tế

nên việc thỏa thuận phân chia di sản không tránh khỏi bất cập, hạn chế.

Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế nói chung

và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng, để phát hiện những bất cập

trong việc áp dụng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện,

nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế là rất cần thiết.

Vì những lẽ trên, tác giả lựa chọn đề tài "Thỏa thuận phân chia di sản thừa

kế theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Thừa kế là chế định pháp luật phức tạp, có lịch sử hình thành và phát

triển lâu dài, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học pháp lý.

2

Liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, có một

số sách chuyên khảo nổi tiếng, có thể kể đến như: "Bình luận khoa học về

thừa kế trong luật dân sự" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Luật thừa kế Việt

Nam - Bản án và bình luận bản án" của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại; "Hỏi đáp về

pháp luật thừa kế" của Luật sư Trần Hữu Bền và Tiến sĩ Đinh Văn Thành;

"Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế" của Tiến sĩ

Phùng Trung Tập; "Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận

và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn...

Vấn đề thừa kế còn được nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ, luận

văn thạc sĩ, tiêu biểu là: đề tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt

Nam từ năm 1945 đến nay" của Phùng Trung Tập; đề tài "Thừa kế theo di

chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam" của Phạm Ánh Tuyết; đề tài

"Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật

dân sự" của Nguyễn Minh Tuấn; đề tài "Thừa kế theo pháp luật của cháu,

chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam" của Lê Đức Bền; đề tài "Thừa kế

theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Thị Vĩnh;...

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan được đăng trên các tạp chí

như: Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên

cứu lập pháp, Tạp chí Luật học, …

Các công trình nghiên cứu kể trên có giá trị rất lớn trong cả khoa học

lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"

chỉ được nêu ra ở mức độ khái quát, chưa được phân tích một cách toàn diện

và đầy đủ. Vậy nên, việc nghiên cứu để có định hướng đề xuất cho các quy

định của pháp luật về vấn đề này là hết sức cần thiết.

3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ các nội dung, cơ sở

lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa

thuận phân chia di sản thừa kế. Trên cơ sở phân tích các quy định và thực

3

tiễn áp dụng, tác giả chỉ ra những bất cập, tồn tại để từ đó đưa ra những đề

xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế.

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu các

văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di

sản thừa kế như: BLDS năm 2015, Luật Công chứng 2014, Luật Hôn nhân và

gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Luật Đất Đai năm 2013, …và một số văn bản

hướng dẫn thi hành luật. Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về

thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được pháp luật Việt Nam quy định.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn tập trung

nghiên cứu các vấn đề sau:

Thứ nhất, những vấn đề lý luận liên quan đến quy định về thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế, bao gồm: khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa

kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và các vấn

đề pháp lý khác có liên quan.

Thứ hai, nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về

thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiện nay.

Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất để thực hiện hiệu quả quy

định của pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

5. Phương pháp nghiên cứu

Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu,

tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật

lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan

điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, tác giả đặt các vấn đề về thỏa

thuận phân chia di sản thừa kế trong mối liên hệ mật thiết với nhau, không

phân tích riêng lẻ.

4

Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử

dụng trong luận văn để làm rõ các quy định của pháp luật về thừa kế nói

chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng.

Phương pháp đánh giá, so sánh: Những phương pháp này được tác giả

vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét về tính hợp lý của các quy định của pháp

luật hiện hành, từ đó so sánh với các quy định đã hết hiệu lực.

Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Những phương pháp này được áp

dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến thỏa thuận phân chia

di sản thừa kế, đặc biệt là trong phần các đề xuất, kiến nghị. Ví dụ, khi nêu ra

những kiến nghị mang tính khái quát, tác giả dùng phương pháp diễn dịch để

làm rõ lý do tại sao đưa ra kiến nghị đó…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Việc nghiên cứu đề tài này giúp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên

quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, từ đó góp phần vào

việc hoàn thiện hơn ngành khoa học luật trong lĩnh vực dân sự nói chung và

trong lĩnh vực thừa kế nói riêng.

Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc hệ thống hóa các

quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế,

phân tích hiệu quả điều chỉnh các quy định đó trong thực tiễn, phát hiện

những bất cập, tồn tại và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp

luật về thừa kế ở Việt Nam.

Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn luận văn sẽ trở thành một tài liệu

tham khảo hữu ích đối với các bạn sinh viên hay học viên đang nghiên cứu về

chế định thừa kế. Bên cạnh đó, những kiến nghị hoàn thiện pháp luật mà tác

giả nêu trong luận văn hi vọng sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức

năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ

sung, hoàn thiện pháp luật về thừa kế.

5

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế.

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di

sản thừa kế hiện nay.

Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định

pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

6

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

1.1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"

* Khái niệm "di sản thừa kế":

Có nhiều cách hiểu về di sản thừa kế. Nhưng đến nay, vẫn chưa có

một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về di sản thừa kế.

Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, di sản thừa kế là tài sản của

người chết để lại cho người còn sống kể từ thời điểm mở thừa kế [32, tr. 50].

Theo tác giả Phan Văn Nghĩa, di sản thừa kế là "toàn bộ tài sản có giá

trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu

truyền nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác" [14, tr. 7]. Vậy, theo quan

điểm này, di sản thừa kế không chỉ bao gồm các tài sản có giá trị vật chất

hoặc tinh thần mà còn bao gồm các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại.

Dưới góc độ pháp lý, di sản thừa kế cũng được cụ thể hóa tại Điều 612

BLDS năm 2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của

người chết trong tài sản chung với người khác" [24, Điều 612]. Theo tinh thần

của BLDS năm 2015, khi một cá nhân chết đi có di sản để lại và có các nghĩa vụ

chưa được thực hiện thì phần di sản của người chết để lại sẽ được sử dụng để

thanh toán các nghĩa vụ đó trước, phần còn lại mới chia cho những người thừa kế.

Tựu chung lại, di sản thừa kế có thể hiểu là toàn bộ tài sản thuộc

quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho những người thừa kế hợp

pháp của họ sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) mà người

chết chưa thực hiện được.

* Khái niệm "phân chia di sản thừa kế":

Theo nghĩa kỹ thuật, phân chia là tập hợp các hoạt động nhằm chấm

dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên một hoặc nhiều tài sản.

7

Trong quan hệ thừa kế, việc phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất

từ hai người thừa kế trở lên đối với di sản mà người chết để lại. Bởi nếu chỉ

có một người thừa kế, người này có quyền thừa kế toàn bộ số di sản thừa kế

mà không phải phân chia số di sản đó với ai khác.

Việc phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng thỏa thuận

hoặc do Tòa án thực hiện khi xảy ra tranh chấp về di sản thừa kế giữa các

đương sự. Mục đích của việc phân chia di sản thừa kế là để chấm dứt tình

trạng sở hữu chung theo phần giữa những người thừa kế đối với di sản đó.

Như vậy, phân chia di sản thừa kế có thể hiểu là tập hợp các hoạt

động nhằm xác lập quyền sở hữu của mỗi người thừa kế đối với phần di sản

mà họ có quyền hưởng trong khối di sản chung sau khi đã thanh toán các

nghĩa vụ về tài sản (nếu có), chấm dứt tình trạng nhiều chủ thể cùng có quyền

sở hữu di sản do người chết để lại.

* Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế":

Thỏa thuận là việc các bên chủ thể đồng ý với nhau về điều gì đó liên

quan đến họ sau khi đã bàn bạc, trao đổi [31, tr. 1220].

Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân

sự - hợp đồng dân sự giữa các chủ thể là những người thừa kế của người để

lại di sản.

Từ đó, có thể rút ra, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một hợp

đồng dân sự giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu

chung đối với di sản thừa kế sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu

có) từ phần di sản do người chết để lại.

* Ý nghĩa của sự thỏa thuận:

Trên thực tế, việc phân chia di sản thừa kế thông thường được thực

hiện thông qua sự thỏa thuận giữa những người thừa kế. Chỉ trong trường hợp

những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì họ mới yêu cầu

phân chia di sản tại Tòa án và đó thường là những tranh chấp có tính chất

8

phức tạp. Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án có thể có những hệ lụy và

nhược điểm sau đây:

- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án ảnh hưởng đến tình cảm của

các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người dân ở các nước Á Đông như

Việt Nam.

- Danh dự của cả gia đình có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ bố hoặc mẹ mới

chết mà anh, chị, em đã tranh chấp tài sản được bố, mẹ để lại tại Tòa án sẽ

khiến hàng xóm láng giềng dị nghị, đàm tiếu.

- Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án kéo dài, phát

sinh nhiều chi phí và tốn nhiều công sức hơn so với việc tự thỏa thuận. Một

vụ án có thể kéo dài đến nhiều tháng, năm, đặc biệt là những vụ việc phức tạp

có thể được giải quyết qua nhiều cấp khác nhau.

- Chi phí để giải quyết một vụ án về thừa kế bao gồm: án phí, chi phí

thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí đi xác minh, thu thập chứng cứ… trong đó,

án phí được xác định theo % giá trị tài sản tranh chấp, tài sản có giá trị càng

lớn thì án phí cho vụ án đó càng cao.

- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án sẽ phải thực hiện theo đúng

trình tự, thủ tục cụ thể mà pháp luật quy định. Trình tự, thủ tục này khá rườm

rà, gây phiền hà cho các bên tranh chấp mà các bên không thể tự thỏa thuận

cắt giảm hoặc bỏ qua.

Rõ ràng, việc những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc

phân chia di sản có nhiều ưu điểm hơn so với biện pháp giải quyết việc phân

chia di sản thừa kế tại Tòa án, thể hiện ở các điểm sau đây:

- Giữ được tình cảm đoàn kết, yêu thương, gắn bó giữa các thành viên

trong gia đình.

- Thỏa thuận phân chia trên cơ sở tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Những

người thừa kế có hoàn cảnh kinh tế khá hơn có thể tặng cho một phần hoặc

toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế còn lại.

9

- Nếu những người thừa kế thỏa thuận được việc phân chia di sản thì

sẽ mất ít thời gian hơn với việc giải quyết tại Tòa án. Bởi họ chỉ cần thống

nhất nội dung phân chia, sau đó nếu có nhu cầu thì những người thừa kế yêu

cầu cơ quan có thẩm quyền công chứng/chứng thực văn bản đó.

- Chi phí phát sinh trong trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa

kế ít hơn so với việc phân chia di sản tại Tòa án.

- Thủ tục công chứng/chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế nhanh chóng và ít phức tạp hơn so với thủ tục phân chia di sản thừa

kế tại Tòa án.

Từ những ưu điểm trên, có thể thấy, phương án tối ưu nhất đối với

việc phân chia di sản là thỏa thuận phân chia di sản giữa những người thừa kế.

1.2. Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân

sự giữa những người thừa kế với nhau. Vì thế, để thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế có hiệu lực thì phải đáp ứng các điểu kiện có hiệu lực của giao dịch

dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện

về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của thỏa thuận.

1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và

nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyền thỏa thuận phân chia

di sản thừa kế.

* Tư cách chủ thể của người thừa kế:

Theo nguyên lý chung, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ

thể phải có đủ tư cách chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực

hành vi dân sự. Tuy nhiên, pháp luật thừa kế không đặt ra điều kiện về tư cách

chủ thể đối với người thừa kế vì các lý do sau:

- Di sản mà người thừa kế thực chất được hưởng là số tài sản còn lại

sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại (nếu có).

10

Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ này nhưng không vượt

quá phần tài sản mà họ nhận được. Nếu người thừa kế không có hoặc chưa có

đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ (cha, mẹ

hoặc người giám hộ) sẽ đại diện cho họ dùng phần tài sản đó để thực hiện

nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại (nếu có). Vậy nên, không yêu cầu về

mặt năng lực chủ thể đối với người thừa kế.

- Người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự có thể

thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thông qua người đại diện theo pháp luật.

Việc quản lý tài sản của những đối tượng này cũng do người đại diện theo

pháp luật của họ thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp

luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ.

- Người có quyền thừa kế vắng mặt tại nơi cư trú hoặc bị Tòa án tuyên

bố là mất tích thì việc quản lý tài sản của những người này sẽ được thực hiện

theo quy định tại Điều 65 và Điều 69 BLDS năm 2015.

Nếu như người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên,

người mất năng lực hành vi có quyền đại diện cho họ thỏa thuận về việc phân

chia di sản thừa kế, thì theo quy định pháp luật hiện hành, người quản lý tài

sản của người vắng mặt hoặc mất tích không chắc có quyền đại diện cho

những người này trong việc thỏa thuận phân chia di sản mà họ được hưởng.

- Tương tự như quyền sở hữu, quyền thừa kế là một quyền tuyệt đối.

Trong quyền sở hữu, người có tài sản một cách hợp pháp thì dù có năng lực

hành vi hay không, người đó vẫn là chủ sở hữu tài sản. Trong quan hệ thừa kế

cũng vậy, người được hưởng di thừa kế di sản do người chết để lại thì bất luận

có hay không năng lực hành vi thì họ vẫn có quyền hưởng thừa kế.

Tóm lại, người thừa kế nói chung khi đáp ứng được các điều kiện mà

pháp luật quy định thì họ sẽ có quyền hưởng di sản mà không bắt buộc phải

có năng lực chủ thể.

11

* Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoàn toàn tự nguyện:

Đây là nguyên tắc quan trọng được quy định tại Điều 3 BLDS năm

2015: Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Bản chất của thỏa thuận là sự

thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện. Vì

vậy, bất kỳ giao dịch dân sự nào thiếu sự tự nguyện của các bên sẽ không làm

phát sinh hậu quả pháp lí.

1.2.1.1. Người thừa kế theo di chúc

Di chúc là "sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của

mình cho người khác sau khi chết" [24, Điều 624]. Di chúc thể hiện ý chí đơn

phương của người lập di chúc, là hành vi pháp lý đơn phương. Ý chí đơn

phương của người lập di chúc được thể hiện ở việc người lập di chúc có toàn

quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho

ai bao nhiêu phần trong số tài sản thuộc sở hữu của mình mà không phụ thuộc

vào việc người được hưởng thừa kế có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi

dưỡng hoặc thân thích với người lập di chúc hay không.

Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân (người trong hàng thừa

kế/ngoài hàng thừa kế) hoặc không phải là cá nhân (cơ quan/tổ chức).

* Người thừa kế theo di chúc là cá nhân:

Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: "Người thừa kế là cá nhân phải là

người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm

mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết" [24, Điều 613].

Theo quy định của điều luật trên, cá nhân chỉ có thể trở thành người

thừa kế khi người đó thuộc một trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất, phải là người "còn sống vào thời điểm mở thừa kế".

Đặc trưng cơ bản của chế định thừa kế chính là sự tiếp nối quyền sở

hữu tài sản từ người đã chết sang người còn sống nên người tiếp nhận quyền

sở hữu tài sản đương nhiên phải là người "còn sống" vào "thời điểm mở thừa

kế". Có một số trường hợp tuy là một người đã chết trên thực tế nhưng họ lại

còn sống vào thời điểm mở thừa kế.

12

Mặt khác, cũng có trường hợp, người thừa kế không hiện diện vào

thời điểm mở thừa kế do mất tích nhưng người đó chưa được Tòa án tuyên bố

là đã chết nhưng ngày được coi là đã chết của họ được xác định sau ngày mở

thừa kế thì họ vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và có quyền

hưởng di sản. Nếu người thừa kế bị tuyên bố đã chết trước thời điểm mở thừa

kế mà sau này họ còn sống và quay trở về trước khi di sản được phân chia thì

người này được coi là còn sống và có quyền hưởng di sản nhưng họ phải yêu

cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố chết đối với mình.

Thứ hai, phải được "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế

nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết".

Pháp luật dân sự bảo hộ quyền thừa kế của thai nhi nhưng thai nhi

phải thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau khi được

sinh ra. Một cá nhân chưa được sinh ra thì chưa phải là chủ thể của quan hệ

pháp luật dân sự, nhưng pháp luật lại quy định bảo lưu quyền thừa kế của thai

nhi với hai điều kiện trên. Quy định này nhằm bảo vệ quyền của người con đã

thành thai trước khi người cha/mẹ chết và còn sống sau khi chào đời.

Hiểu thế nào là "sinh ra và còn sống" là một vấn đề tương đối nhạy

cảm. Vì việc xác định ranh giới giữa "sinh ra và còn sống" với "sinh ra và

chết" đôi khi chỉ là một khoảnh khắc nhất định. Hai tình trạng này lại dẫn tới

hai hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Để xác định tình trạng "còn sống" hay "đã chết" của một đứa trẻ sinh

ra rồi chết cần căn cứ vào các quy định của pháp luật. Trước đây, Nghị định

83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định:

- Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì cũng phải

đăng ký khai sinh theo quy định của Nghị định này, nếu chết trước khi sinh

(chết lưu) hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ, thì không phải đăng ký

khai sinh [7, Điều 20].

- Trẻ em sinh ra mà còn sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa

phải đăng ký khai sinh, vừa phải đăng ký khai tử [7, Điều 29].

13

Về quyền được khai sinh, khai tử của cá nhân, khoản 3 Điều 30 BLDS

năm 2015 quy định: Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên

mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai

mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ

đẻ có yêu cầu [24, khoản 3 Điều 30].

Như vậy, theo tinh thần của pháp luật hiện hành, một đứa trẻ sau khi

sinh ra mà còn sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên rồi mới chết thì được

coi là "sinh ra và còn sống" và đứa trẻ trở thành người thừa kế, có quyền

hưởng di sản mà người cha/mẹ để lại. Tuy nhiên, khi đứa trẻ sinh ra đã chết

thì phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế của chúng. Với đứa

trẻ sinh ra mà chết ngay hoặc chỉ sống được dưới hai mươi bốn giờ thì không

được nhận di sản thừa kế.

Vấn đề là phải "thành thai trước khi người để lại di sản chết" nhằm

xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản.

Khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:

- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong

thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.

- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt

hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.

- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là

con chung của vợ chồng [22, khoản 1 Điều 88].

Nguyên tắc suy đoán pháp lý được áp dụng khi xác định cha, mẹ, con.

Nghĩa là, khi người vợ mang thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn nhân, người

vợ không cần phải chứng minh chồng mình có phải là cha đứa trẻ hay không

mà pháp luật mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ là con chung của vợ chồng. Trên

thực tế, có nhiều trường hợp người vợ có thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn

nhân nhưng chưa chắc con đã có cùng huyết thống với người chồng. Vậy nên,

tư cách cha, mẹ, con có thể được xem xét lại.

14

Trường hợp hai vợ chồng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc

xác định cha, mẹ, con vẫn được thực hiện theo quy định đã nêu ở trên.

Trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh

sản thì người này là mẹ của đứa trẻ ngay cả khi đứa trẻ đó không mang huyết

thống với họ.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan

hệ cha, mẹ, con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ

được sinh ra mặc dù có cùng mã gen.

Với trường hợp con được sinh ra do mang thai hộ vì mục đích nhân

đạo, thì là con chung của vợ, chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con

được sinh ra.

Có thể thấy, nếu như trước đây, quan hệ huyết thống là căn cứ vững

chắc nhất để xác định cha, mẹ, con thì trong xu thế phát triển hiện đại của xã

hội, huyết thống không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ, con trong mọi

trường hợp. Vì thế, không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống thì người

con mới được thừa hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ.

* Người thừa kế theo di chúc không là cá nhân:

Những chủ thể không là cá nhân (cơ quan/tổ chức) cũng có quyền

hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng phải "tồn tại vào thời điểm mở thừa

kế". Trường hợp người thừa kế là pháp nhân, khi xác định tình trạng tồn tại

hay không tồn tại thì cần xét đến các trường hợp khác nhau. Theo quy định tại

Điều 96 BLDS năm 2015, pháp nhân chấm dứt tồn tại trong các trường hợp:

hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể, phá sản pháp nhân.

Nếu vào thời điểm mở thừa kế, pháp nhân đã bị giải thể hoặc phá sản

thì được coi là chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại và không thể trở thành người

thừa kế. Phần di sản đáng lẽ pháp nhân đó được hưởng theo di chúc sẽ được

chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.

15

Trong trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại do hợp nhất, sáp nhập,

chia, chuyển đổi hình thức thì có hai quan điểm đối lập nhau về tình trạng

"tồn tại" theo quy định của pháp luật về thừa kế, cụ thể như sau:

Quan điểm thứ nhất, việc pháp nhân hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển

đổi hình thức chỉ là các hình thức cải tổ pháp nhân, là thay đổi sự tồn tại của

pháp nhân từ phương thức này sang phương thức khác. Theo quy định tại các

Điều 88, 89, 90, 92 BLDS năm 2015 thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân cũ

sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới, trong đó bao gồm cả quyền thừa kế.

Quan điểm thứ hai, các trường hợp trên là những căn cứ để chấm dứt

pháp nhân. Khi một pháp nhân đã bị hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi

hình thức thì được coi là không còn tồn tại nữa. Pháp nhân chấm dứt tồn tại

trước thời điểm mở thừa kế không có quyền hưởng thừa kế theo di chúc.

* Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

Pháp luật dân sự Việt Nam trao quyền tự định đoạt cho cá nhân trong

việc lập di chúc để lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất kỳ ai được

hưởng sau khi người đó chết. Một người được tự do lập di chúc cho người

khác hưởng tài sản của mình nhưng cũng có quyền truất quyền hưởng di sản

của người thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, sự "tự do" định đoạt đó của cá

nhân để lại di sản vẫn phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật.

Điều 644 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ

thuộc vào nội dung di chúc như sau:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba

suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp

luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản

hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

16

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối

nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền

hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này [24, Điều 644].

Để được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người

thừa kế quy định tại Điều 644 nêu trên phải đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, những người này phải là những người mà người lập di chúc

không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba

suất của một người thừa kế theo pháp luật (hai phần ba một suất theo pháp

luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật).

Thứ hai, không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản

theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015.

Thứ ba, không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng

di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015.

Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc mà là con

chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì

việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ thông qua vai trò của người đại

diện hợp pháp. Lưu ý là người đại diện hợp pháp của những người này không

được phép tặng cho phần di sản của người mà mình đại diện được hưởng.

* Người được di tặng:

Tài sản dùng để di tặng là phần tài sản trong khối tài sản mà người

chết để lại, được chỉ định trong di chúc là dành phần di sản đó tặng cho người

nhất định.

Người được di tặng cũng phải đáp ứng các điều kiện chung về người

thừa kế. Người được di tặng có thể là cá nhân hoặc không phải là cá nhân.

Người được di tặng có quyền thỏa thuận phân chia di sản, họ có thể

tặng cho người khác phần di sản mà họ được nhận hoặc nhận phần di sản mà

người khác tặng cho.

17

1.2.1.2. Người thừa kế theo pháp luật

Khác với hình thức thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người

lập di chúc, có thể định đoạt di sản cho bất kỳ ai, thừa kế theo pháp luật là

thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

* Diện thừa kế:

Đến nay, chưa có khái niệm cụ thể nào về "diện thừa kế" được ghi

nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật nên có nhiều cách hiểu khác

nhau. Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, Trường Đại học Luật Hà

Nội: "Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di

sản thừa kế của người chết theo quy định của pháp luật" [33, tr. 327]. Khái

niệm diện thừa kế còn có thể hiểu là "phạm vi những người có thể được

hưởng di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba quan hệ

(quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) với người để

lại di sản" [13, tr. 278]. Theo đó, cách hiểu thứ hai hợp lý và cụ thể hơn.

Diện thừa kế theo pháp luật bao gồm những cá nhân còn sống vào thời

điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã

thành thai trước khi người để lại di sản chết, có quan hệ hôn nhân, quan hệ

• Quan hệ hôn nhân:

huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản.

Trước năm 1945, ở nước ta, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ảnh

hưởng sâu sắc tới chế định thừa kế. Địa vị của người phụ nữ trong xã hội và

trong gia đình luôn ở thế yếu, mọi quyết định đều phụ thuộc vào người chồng.

Vì thế, trong quan hệ thừa kế thời kỳ bấy giờ, người vợ không thuộc diện thừa

kế theo pháp luật của người chồng. Hay nói cách khác, quan hệ hôn nhân

không được ghi nhận là cơ sở để xác định diện thừa kế.

Sau năm 1945, pháp luật thừa kế ở nước ta đã có sự tiến bộ vượt trội

khi quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm

1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: "Đàn bà

18

ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [16, Điều 9]. Đây là cơ sở

pháp lý vững chắc để xóa bỏ sự bất bình đẳng, những quan điểm cổ hủ mà

trước nay đã tồn tại ở nước ta một thời gian dài dưới chế độ phong kiến, thực

dân, từ đó xây dựng một xã hội mới dân chủ và tiến bộ. Sắc lệnh số 97/SL

ngày 22/5/1950 ra đời đã chính thức ghi nhận mối quan hệ hôn nhân là một

trong những căn cứ để xác định diện thừa kế, trong đó khẳng định vợ và

chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau [6, Điều 11]. Đến nay,

nguyên tắc này vẫn tiếp tục được kế thừa và cụ thể hóa tại các văn bản quy

phạm pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1959, Thông tư số 81 ngày

24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp

về thừa kế, Luật HN&GĐ năm 1986, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Luật

HN&GĐ năm 2000, BLDS năm 2005, Luật HN&GĐ năm 2014 và BLDS

năm 2015.

Đánh giá cao tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân và xuất phát từ

mối quan hệ tình cảm gắn bó cùng vun đắp gia đình giữa vợ và chồng, pháp luật

• Quan hệ huyết thống:

thừa kế đã ghi nhận vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.

Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu

về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ.

Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, "trực hệ" là quan hệ họ hàng

theo dòng máu trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau, bao gồm

ông, cha, con, cháu, … [31, tr. 1354].

Phân biệt với trực hệ, "bàng hệ" được giải thích như sau: Bàng hệ là quan

hệ họ hàng theo dòng bên, tức là không theo dòng trực tiếp, không phải theo quan hệ người này sinh ra người kia, gồm anh, chị, em, chú, bác, cô, … [31, tr. 45].

Từ xưa đến nay, phong tục tập quán của nước ta luôn đề cao quan hệ

giữa các thành viên trong gia đình. Trong các mối quan hệ đó, quan hệ huyết

thống được coi trọng nhất. Từ xã hội phong kiến đến thời kỳ thực dân, quan

19

hệ huyết thống vẫn giữ vị trí hàng đầu. Việc xét diện thừa kế cũng dựa chủ

yếu vào quan hệ này.

Đến thời kỳ đất nước độc lập, trong những năm đầu của chế độ mới,

diện thừa kế đã được xem xét trên quan hệ huyết thống. Tuy vậy, đối tượng

thuộc diện thừa kế theo quan hệ huyết thống được xét đến trong phạm vi khá

hẹp. Sắc lệnh số 97/SL quy định diện thừa kế theo huyết thống chỉ bao gồm

con, cháu của người chết [6, Điều 10]. Theo quy định của Thông tư số

1742/BNC ngày 18/5/1956 của Bộ Tư pháp, người thuộc diện thừa kế theo

huyết thống gồm: con, cháu, chắt, cha, mẹ của người để lại di sản [5]. Tiếp

đó, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 và Thông tư số 81/TANDTC

ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao quy định diện thừa kế theo huyết

thống tiếp tục được mở rộng, gồm: con, cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em của

người để lại di sản. Kể từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời, diện thừa kế

theo pháp luật không chỉ có tất cả những người được xác định theo Thông tư

số 81/TANDTC mà còn bao gồm những người thuộc quan hệ huyết thống

trực hệ và bàng hệ khác, đó là: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột của

người để lại di sản và những người mà người để lại di sản là cô, dì, chú, bác,

cậu ruột [12]. Sau đó là các BLDS ban hành các năm 1995, 2005 và 2015,

diện thừa kế theo pháp luật trên cơ sở quan hệ huyết thống lúc này đã mở rộng

và đầy đủ nhất, góp phần thắt chặt tình cảm các thành viên trong gia đình giữa

• Quan hệ nuôi dưỡng:

các thế hệ và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cá nhân sau khi chết.

Quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau

giữa những người thân thuộc trong gia đình theo quy định của pháp luật [27, tr. 92].

Bên cạnh nghĩa vụ nuôi dưỡng của những người có cùng huyết thống với

nhau thì pháp luật còn quy định cụ thể về nghĩa vụ nuôi dưỡng trong quan hệ

giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại, cùng với đó là quan hệ giữa cha

dượng, mẹ kế và con riêng.

20

Trong quan hệ nuôi dưỡng, con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ

như con đẻ và được coi là người thừa kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi.

Việc nuôi con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền,

trừ trường hợp được pháp luật quy định là con nuôi thực tế.

Ngoài ra, quan hệ nuôi dưỡng còn được xét đến trong trường hợp con

riêng và cha dượng, mẹ kế. Theo Điều 654 BLDS năm 2015: "Con riêng và

bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ

con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định

tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này" [24, Điều 654]. Việc quy định như

vậy là hoàn toàn phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tình cảm của

dân tộc ta.

Tựu chung, ngoài quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, pháp

luật thừa kế không dựa trên mối quan hệ nào khác giữa người thừa kế và

người để lại di sản để xác định diện thừa kế theo pháp luật.

* Hàng thừa kế:

Có thể hiểu, hàng thừa kế là nhóm những người có quan hệ cùng tính

chất gần gũi, thân thích với người để lại di sản, không phân biệt giới tính, độ

tuổi, địa vị xã hội, không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự.

Tại Điều 651 BLDS năm 2015 quy định những người thừa kế theo

pháp luật theo thứ tự sau đây:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ

nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh

ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết

là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột,

chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết

mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của

người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại [24, Điều 651].

21

Nguyên tắc chia di sản thừa kế theo pháp luật: Những người ở hàng

thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước

do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ

chối nhận di sản.

Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng một

hàng thừa kế sẽ được hưởng những phần di sản bằng nhau. Trên thực tế, vì lý

do hàng thừa kế thứ ba cơ cấu nhiều thế hệ và bậc trên dưới khác nhau, cả bên

nội và bên ngoại của người để lại di sản, nên rất ít trường hợp những người ở

hàng thừa kế này được hưởng di sản và việc lập hồ sơ đối với họ cũng gặp

nhiều khó khăn hơn, rất dễ xảy ra trường hợp bỏ sót người thừa kế.

* Thừa kế thế vị:

Theo định nghĩa của Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Trường

Đại học Luật Hà Nội, thừa kế thế vị là "thừa kế bằng việc thay thế vị trí để

hưởng thừa kế" [32, tr. 125].

Có thể hiểu, thừa kế thế vị là việc một người thừa kế được hưởng di

sản với tư cách thay vị trí của một người đã chết để nhận phần di sản mà

người đó được hưởng nếu còn sống.

Điều 652 BLDS năm 2015 quy định:

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc

cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng

phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;

nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại

di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt

được hưởng nếu còn sống [24, Điều 652].

Theo quy định của pháp luật dân sự nước ta, thừa kế thế vị phải tuân

theo bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:

Thứ nhất, thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc.

Nguyên tắc này được hiểu ngắn gọn là thừa kế thế vị chỉ đặt ra đối với

phần di sản chia theo pháp luật mà không phát sinh đối với quan hệ thừa kế

22

theo di chúc. Nói khác đi, con cháu của người chết trước hoặc chết cùng thời

điểm với người để lại di chúc không được thế vị cha, mẹ mình để hưởng di

sản thừa kế theo di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc

chung của pháp luật thừa kế là tôn trọng ý chí của người để lại di sản.

Thứ hai, người thừa kế phải là con cháu trực hệ của người chết trước

hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.

Đây là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ khi xác định được chính xác

chủ thể thế vị thì mới đảm bảo được việc chia thừa kế thế vị chính xác và bảo

đảm được đúng bản chất của thừa kế thế vị. Mối quan hệ thừa kế thế vị trong

pháp luật dân sự Việt Nam được xác định dựa trên quan hệ huyết thống, quan

hệ nuôi dưỡng. Khái niệm "con" ở đây bao gồm cả con đẻ, con nuôi, con

riêng, con trong giá thú và con ngoài giá thú… Cách hiểu khái niệm "cháu"

cũng tương tự như vậy.

Thứ ba, người thừa kế thế vị phải là người còn sống vào thời điểm mở

thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành

thai trước khi người để lại di sản chết.

Đây là nguyên tắc cơ bản bởi như đã phân tích ở trên, thừa kế là sự

dịch chuyển tài sản của người chết sang cho người còn sống. Nếu người thừa

kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau

thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

thì sẽ làm mất đi tính chất và ý nghĩa của việc thừa kế.

Thứ tư, người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà bố, mẹ họ

hoặc ông, bà họ được hưởng nếu còn sống.

Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần mà người được thế vị được

hưởng nếu còn sống. Việc phân chia di sản trong trường hợp có nhiều người

thừa kế thế vị, được thực hiện theo chi chứ không phải theo đầu người [11].

Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam quy định về vấn đề thừa kế thế vị

nhằm bảo vệ trực tiếp quyền lợi của các cháu, chắt của người để lại di sản,

23

tránh tình trạng di sản của ông, bà, các cụ mà cháu, chắt không được hưởng

lại để cho người khác. Mặt khác, quy định này giúp bảo tồn truyền thống và

đạo lí trong quan hệ giữa những người thân thuộc nhất của người để lại di sản.

1.2.1.3. Chủ thể không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

* Người không được quyền hưởng di sản:

Hưởng di sản thừa kế là quyền của công dân được pháp luật bảo hộ.

Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi đó của công dân trong việc hưởng di sản thừa

kế, BLDS năm 2015 đã quy định chế tài nghiêm khắc đối với những người

đáng lẽ được hưởng di sản nhưng họ lại có hành vi trái pháp luật, vi phạm đạo

đức xã hội nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Những người không

có quyền hưởng di sản đương nhiên cũng không có quyền thỏa thuận phân

chia di sản.

Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 quy định những người sau đây

không được quyền hưởng di sản:

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc

về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm

nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế

khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có

quyền hưởng.

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di

sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc,

che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của

người để lại di sản.

Những hành vi nói trên nếu do người thừa kế thực hiện nhằm hưởng

một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người

thừa kế đó không có quyền hưởng di sản do người chết để lại.

24

Mặc dù những người thừa kế không có quyền hưởng di sản khi thực

hiện những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật như vậy. Tuy nhiên, nếu

người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo

di chúc thì những người này vẫn được hưởng di sản [24, khoản 2, Điều 621].

Quy định về những người không có quyền hưởng di sản không chỉ là

phương thức đảm bảo ý chí của người để lại di sản trước khi chết mà còn là

cách để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế khác.

* Người từ chối nhận di sản

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế là phải tôn

trọng ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế, trong đó có ý chí của

người thừa kế. Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế, họ đã tự từ bỏ

quyền thừa kế của mình. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp người thừa

kế từ chối nhận di sản đều được pháp luật công nhận.

Tại Điều 620 BLDS năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau:

- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối

nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.

- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến

người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ

phân chia di sản để biết.

- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân

chia di sản.

Theo đó, cá nhân có thể từ chối nhận di sản do người khác để lại. Tuy

nhiên, nếu vì trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản như: nghĩa vụ trả nợ, nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ cấp dưỡng… thì cá nhân

đó không được phép từ chối.

Quy định của BLDS năm 2015 về từ chối nhận thừa kế có hai điểm

khác biệt so với quy định của BLDS năm 2005, như sau:

25

Thứ nhất, về việc thông báo việc từ chối nhận di sản cho những người

khác có liên quan.

Theo quy định tại BLDS năm 2005, người từ chối nhận di sản có trách

nhiệm thông báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ

phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có

địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản [17, khoản 2, Điều 642],

nhưng lại không quy định về hình thức thông báo. Người từ chối có thể thông

báo bằng văn bản hoặc chỉ bằng miệng. Mà hình thức thông báo bằng miệng

sẽ không có giá trị pháp lý bằng văn bản. Người từ chối nhận di sản hoàn toàn

có thể phủ nhận việc mình đã từ chối nhận di sản trước đó.

Khắc phục tình trạng trên, BLDS năm 2015 đã quy định cụ thể hình

thức thông báo từ chối nhận di sản. Việc từ chối nhận di sản phải được lập

thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác,

người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.

Thứ hai, về thời hạn từ chối nhận di sản.

Theo tinh thần của Điều 620 BLDS năm 2015, việc từ chối nhận di sản

được coi là một quyền năng của người được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, quyền

năng này phải được người thừa kế thực hiện trước thời điểm phân chia di sản.

Trước đây, việc người thừa kế thực hiện quyền năng trên chỉ được pháp

luật chấp nhận trong sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế [17, khoản 3, Điều 642];

nếu quá thời hạn đó, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ

chối nhận di sản thì việc từ chối không được pháp luật chấp nhận và người đó

buộc phải chấp nhận quyền hưởng thừa kế di sản.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người

thừa kế từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế.

Người Việt Nam thường có tâm lý ngại, e dè khi nhắc đến việc phân chia di

sản khi có người trong gia đình chết. Do đó, không ít các trường hợp, sau khi

người để lại di sản chết vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra. Khi

26

đó, tranh chấp về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự yêu cầu Tòa án giải

quyết. Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào

vụ việc tranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế

và lúc này họ mới có ý định từ chối nhận di sản. Những người này làm đơn xin

Tòa án trình bày nguyện vọng từ chối nhận di sản. Trường hợp Tòa án chấp

nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản quy định tại Điều 642

BLDS năm 2005. Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ

ràng ý chí định đoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo.

Về bản chất, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định là một

quyền tài sản. Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu của khối

tài sản đó. Theo quy định tại Điều 194 BLDS năm 2015 thì chủ sở hữu có

toàn quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức

là có quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của

mình [24, Điều 194]. Người thừa kế khi từ chối nhận di sản cũng là lúc họ từ

bỏ quyền năng thừa kế của mình, nên đương nhiên họ không được tham gia

vào việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Khi nghiên cứu về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, các quy định

của pháp luật được phân tích nêu trên là những căn cứ pháp lý giúp chúng ta

khoanh vùng phạm vi những người có quyền thỏa thuận và những người

không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Từ đó, việc thỏa thuận

phân chia di sản sẽ được thực hiện một cách có hiệu quả, quyền và lợi ích hợp

pháp của những người thừa kế được bảo hộ.

1.2.1.4. Trường hợp phát sinh người thừa kế mới

Người thừa kế mới được hiểu là người thừa kế của người để lại di sản

xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia, bao gồm:

- Con của người để lại di sản sinh ra và còn sống sau thời điểm di sản

thừa kế được phân chia (trường hợp sinh đôi, sinh ba... nhưng thời điểm phân

chia di sản chỉ xác định thai một).

27

- Người được Tòa án xác nhận là con hoặc cha, mẹ của người để lại di

sản nhưng quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực sau thời điểm phân

chia di sản.

- Con hoặc cha, mẹ của người để lại di sản đã bị Tòa án tuyên bố là đã

chết trước thời điểm người để lại chết nhưng có tin tức xác thực là còn sống

hoặc đã trở về sau thời điểm phân chia di sản.

Nếu di sản được chia cho hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba, thì người

thừa kế mới ở các hàng thừa kế này cũng được xác định tương tự như trên.

Khoản 1 Điều 662 BLDS năm 2015 quy định về phân chia di sản

trong trường hợp có người thừa kế mới như sau:

Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế

mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật,

nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người

thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó

tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã

nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [24, khoản 1, Điều 662].

Quy định trên tạo thuận lợi cho việc phân chia di sản thừa kế trong

trường hợp xuất hiện người thừa kế mới sau thời điểm phân chia di sản. Trên

thực tế có rất nhiều trường hợp, các hiện vật đã phân chia cho người thừa kế,

nếu yêu cầu chia lại sẽ rất phức tạp và khó thực hiện. Việc thỏa thuận giữa

người thừa kế mới và những người thừa kế khác sẽ được ghi thành văn bản

theo các căn cứ và nguyên tắc luật định.

1.2.2. Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực, thỏa thuận đó phải

đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự thông thường,

trong đó có điều kiện về nội dung và mục đích là: Mục đích và nội dung

không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

28

- Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực

hiện những hành vi nhất định.

- Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với

người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

1.2.2.1. Mục đích

Mục đích của giao dịch dân sự nói chung là lợi ích mà chủ thể mong

muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. Lợi ích ở đây có thể là lợi ích về tinh

thần hoặc lợi ích về vật chất.

Trong thỏa thuận phân chia di sản, những người tham gia thỏa thuận

đều hướng tới mục đích chung đó là xác lập quyền sở hữu của họ đối với di

sản thừa kế mà người chết để lại. Mục đích của thỏa thuận được thể hiện qua

các điều khoản cụ thể của văn bản thỏa thuận hay nói cách khác được biểu

hiện thông qua chính nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

1.2.2.2. Nội dung

Nội dung của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là tổng hợp

những điều khoản mà những người thừa kế đưa ra và thỏa thuận với nhau.

Các điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham

gia thỏa thuận, đồng thời xác định trách nhiệm dân sự của họ trong trường

hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với cam kết.

Nhìn chung, một văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ có

những nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, thông tin về những người thỏa thuận là những người thừa kế

của người để lại di sản: họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giấy tờ tùy

thân (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu …); nơi cư trú (thường

trú hoặc tạm trú).

Thứ hai, thông tin về người để lại di sản: Họ, chữ đệm, tên; ngày,

tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm chết (căn cứ vào trích lục khai tử do cơ

29

quan có thẩm quyền cấp); thông tin về nơi cư trú cuối cùng (Thường trú hoặc

tạm trú).

Thứ ba, thông tin về di sản. Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng

đất hay các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải có thông tin về giấy tờ

chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu của người chết đối với di sản đó.

Thứ tư, thông tin về quan hệ thừa kế giữa người để lại di sản và những

người thừa kế (ghi rõ người thừa kế thuộc hàng thừa kế nào).

Thứ năm, nội dung thỏa thuận: Nội dung xoay quanh việc những

người thừa kế đồng ý nhận di sản hoặc tặng cho người thừa kế khác … trong

đó có thỏa thuận rõ về kỷ phần mà mỗi người được nhận và quyền, nghĩa vụ

cụ thể của người được hưởng di sản.

Thứ sáu, cam kết của những người tham gia thỏa thuận.

Thứ bảy, chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia thỏa thuận.

Thứ tám, lời chứng của người thực hiện chứng thực hoặc công

chứng viên.

1.2.3. Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Khoản 2 Điều 656 BLDS năm 2015 quy định về hình thức của mọi

thỏa thuận giữa những người thừa kế nói chung: "Mọi thỏa thuận của những

người thừa kế phải được lập thành văn bản" [24, khoản 2, Điều 656]. Khác

với các hợp đồng khác có thể được thiết lập dưới hình thức bằng lời nói, bằng

văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể [24, khoản 1, Điều 119], thỏa thuận phân

chia di sản thừa kế phải được lập bằng văn bản.

Pháp luật dân sự Việt Nam không quy định bắt buộc phải công chứng,

chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Nhưng trên thực tế,

đối với tài sản là quyền sử dụng đất hay các tài sản mà pháp luật quy định

phải đăng ký quyền sở hữu thì việc công chứng, chứng thực văn bản thỏa

thuận phân chia di sản thừa kế các tài sản này là bắt buộc để đảm bảo tính hợp

pháp, có hiệu lực của văn bản thỏa thuận.

30

1.2.4. Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có

hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là hợp đồng dân sự giữa những

người thừa kế với nhau, do đó, trong trường hợp vi phạm một trong các điều

kiện có hiệu lực của thỏa thuận như đã phân tích ở trên thì thỏa thuận phân

chia di sản thừa kế sẽ vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, dẫn đến những hậu quả

pháp lý sau:

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu không làm phát sinh,

thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm thỏa

thuận được xác lập;

- Khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu thì các bên khôi

phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp

không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại

hoa lợi, lợi tức đó;

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp vô hiệu của

giao dịch dân sự nói chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng

(từ Điều 123 đến Điều 129):

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do vi phạm điều cấm

của luật, trái đạo đức xã hội;

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do giả tạo;

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người chưa thành

niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,

làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị nhầm lẫn;

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa,

cưỡng ép;

31

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người xác lập không

nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;

- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do không tuân thủ quy

định về hình thức.

1.3. Một số vấn đề pháp lý khác

1.3.1. Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế chính là khối tài

sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại. Để xác định tài sản có phải di

sản thừa kế hay không thì cần chứng minh quyền sở hữu của người chết đối

với tài sản đó khi còn sống, thông qua các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền

sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với tài sản thuộc di sản thừa kế. Theo đó,

di sản thừa kế có thể là tài sản riêng của người chết hoặc là tài sản của người

chết trong khối tài sản chung với người khác.

1.3.1.1. Di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu riêng của người chết

Thông qua quá trình lao động và sản xuất, con người đã tích lũy được

cho mình một khối lượng tài sản nhất định và có quyền sở hữu hợp pháp đối

với tài sản đó, còn được gọi là tài sản riêng của cá nhân. Liên quan đến tài sản

riêng của cá nhân, pháp luật điều chỉnh phổ biến nhất là xác định tài sản riêng

của vợ, chồng.

Tài sản riêng của vợ, chồng được xác định dựa trên những cơ sở

sau đây:

Một là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn.

Về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng

của vợ hoặc chồng. Trường hợp có tranh chấp về tài sản riêng, người liên

quan có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó được tạo lập trước khi kết hôn. Việc

chứng minh này trở nên đơn giản nhất khi tài sản sau khi hai bên kết hôn vẫn

giữ nguyên tình trạng như trước khi kết hôn. Tuy nhiên, rất ít trường hợp tài

32

sản vẫn giữ nguyên được tình trạng như vậy, ví dụ: anh A có tài sản riêng

trước hôn nhân là ngôi nhà X. Sau khi kết hôn, anh A quyết định sửa chữa lại

căn nhà. Như vậy, đã có sự thay đổi tình trạng ngôi nhà trong thời kỳ hôn

nhân. Trường hợp này, để tránh tranh chấp về sau, cần có văn bản thỏa thuận

tài sản riêng hoặc cam kết tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

Hai là, tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản được thừa kế riêng, được

tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Xuất phát từ quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, vợ hoặc

chồng có thể được hưởng thừa kế phần di sản của người chết là thành viên

trong gia đình mình (đối với quan hệ hôn nhân, vợ hoặc chồng có thể nhận

thừa kế di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trước đó). Khi đó, tài

sản được thừa kế riêng được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.

Trường hợp được tặng cho riêng, đây là một dạng giao dịch dân sự

không có đền bù nên không xét đến công sức đóng góp của vợ hoặc chồng đối

với tài sản đó.

Ba là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi chia tài sản chung trong

thời kỳ hôn nhân.

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể do vợ chồng tự

thỏa thuận bằng văn bản hoặc nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu

cầu Tòa án giải quyết [22, Điều 38]. Việc này không làm thay đổi mối quan

hệ pháp lý giữa vợ và chồng.

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể bị vô hiệu nếu thuộc

một trong các trường hợp được quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014.

Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể chấm dứt hiệu

lực khi có thỏa thuận giữa vợ và chồng. Trường hợp chia tài sản chung theo

quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì thỏa thuận chấm

dứt việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận [22, Điều 41].

33

1.3.1.2. Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản

chung với người khác

Thực tế cho thấy, một tài sản không chỉ thuộc sở hữu của một cá nhân

mà có thể do nhiều cá nhân đồng sở hữu. Pháp luật dân sự quy định đó là "sở

hữu chung". Các đồng chủ sở hữu đều có quyền chiếm hữu, sử dụng và định

đoạt tài sản chung theo nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, trừ trường hợp pháp

luật có quy định khác. Sở hữu chung bao gồm: sở hữu chung hợp nhất và sở

hữu chung theo phần.

* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung

hợp nhất với người khác:

Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở

hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.

Các chủ sở hữu chung hợp nhất có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với

tài sản thuộc sở hữu chung.

* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung

theo phần với người khác:

Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở

hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Trừ trường

hợp có thỏa thuận khác, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ

đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của

mình [24, Điều 216]. Để xác định di sản thừa kế của người chết để lại trong

trường hợp này, cần xác định phần tài sản của người đó trong khối tài sản

chung với các chủ thể khác theo tỉ lệ.

1.3.1.3. Di sản thừa kế không thể thỏa thuận phân chia hoặc bị hạn

chế phân chia

* Di sản thờ cúng:

Thờ cúng là một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt

Nam. Di sản được dùng vào việc thờ cúng là phần di sản trong khối di sản mà

người chết để lại được người đó xác định trong di chúc là giao phần di sản đó

34

cho một người nhất định quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Trường hợp

người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những

người thừa kế cử người quản lý di sản đó.

Về bản chất, di sản thờ cúng là tài sản dùng vào việc thờ cúng, có thể

là hiện vật, tiền (phụ thuộc vào tài sản mà người lập di chúc đã chỉ rõ). Phần

di sản này không được phép chia thừa kế. Di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ

là một phần của di sản do người chết để lại, còn phần không định đoạt vào việc

thờ cúng được chia theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật [26, tr. 49].

Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán

nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào

việc thờ cúng.

* Di sản bị hạn chế phân chia do thủ tục hành chính:

Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của con người được

pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một số trường

hợp bởi quy định của thủ tục hành chính.

Ví dụ: Tại thành phố Hà Nội, để tránh tình trạng những mảnh đất quá

nhỏ, những ngôi nhà siêu mỏng làm mất mỹ quan đô thị, UBND thành phố

Hà Nội đã ban hành Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 về

việc ban hành Quy định về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử

dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia

đình, cá nhân trên địa bàn thành phố, trong đó tại khoản 1 Điều 5 quy định diện tích thửa đất được phép tách thửa không nhỏ hơn 30 m2 đối với khu vực

các phường, thị trấn [35, khoản 1, Điều 5]. Trong trường hợp này, nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn 30 m2 thì các đồng thừa kế khi làm thủ tục khai nhận di

sản phải đứng tên đồng sở hữu hoặc thỏa thuận để cho một người thừa kế

đứng tên.

* Có người hưởng di sản chưa có hoặc mất năng lực hành vi dân sự:

Người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự tham gia

vào các giao dịch dân sự thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Tuy

35

nhiên, người đại diện không được nhân danh người được đại diện để xác lập,

thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình

cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định

khác [24, khoản 3, Điều 141]. Trong việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

cũng vậy.

Ví dụ: Ông A chết, để lại di sản thừa kế cho vợ và hai con là người

chưa thành niên. Trong trường hợp này không thể thỏa thuận phân chia di sản

được, bởi người đại diện của hai con chưa thành niên là người mẹ, người này

không thể xác lập giao dịch với chính mình. Theo đó, cách thức giải quyết là

làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Sau đó đợi hai con thành niên rồi mới

tiến hành phân chia di sản thừa kế.

* Theo ý chí của người lập di chúc:

Nếu người để lại di sản định đoạt trong di chúc rằng di sản này không

thể phân chia hoặc chỉ có thể phân chia sau một thời gian nhất định hoặc sau

khi xảy ra một sự kiện nhất định thì những người thừa kế phải tôn trọng ý chí

của người lập di chúc (nếu điều kiện trong di chúc không vi phạm điều cấm

của luật và đạo đức xã hội).

Ví dụ: Ông X viết di chúc để lại di sản cho các con là anh Y và chị Z

một căn nhà và nêu rõ căn nhà này để các con sử dụng chung chứ không được

phân chia hay bán. Ông X cũng có di sản là một khoản tiền tiết kiệm cho anh

Y nhưng nội dung di chúc ghi rõ sau khi ông X mất thì số tiền đó để lại cho

anh Y với điều kiện anh Y có nghĩa vụ nuôi bé A (là con riêng của ông X) đến

khi bé A đủ 18 tuổi.

* Trường hợp chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của

bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình

Trường hợp những người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc

chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng

36

còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định

phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di

sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá ba năm, kể từ

thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn ba năm mà người còn sống chứng minh

được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình

họ thì người đó có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá

ba năm.

1.3.1.4. Phân loại di sản thừa kế

Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn

sống, tài sản này được gọi là di sản thừa kế. Vì vậy, việc phân loại di sản thừa

kế tương tự như phân loại tài sản thông thường. Để phân loại tài sản, các nhà

làm luật dựa vào những căn cứ khác nhau.

• Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản, tài sản được chia thành: Tài sản

* Các tiêu chí phân loại:

công, tài sản chung và tài sản tư.

- Tài sản công được hiểu là những tài sản thuộc sở hữu của toàn dân

mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tài sản công bao

gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm

quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục

vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn

dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài

chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các

loại tài nguyên khác [25, khoản 1, Điều 3].

- Tài sản chung là những tài sản thuộc quyền sở hữu của từ ít nhất hai

chủ thể trở lên, đây được gọi là sở hữu chung. Sở hữu chung là sở hữu của

nhiều chủ thể đối với tài sản, gồm: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung

hợp nhất [24, Điều 207].

37

- Tài sản tư là tài sản thuộc quyền sở hữu của một chủ thể duy nhất.

Các loại tài sản tư bao gồm: thu nhập hợp pháp, tư liệu sinh hoạt, sản xuất,

của cải để dành… Cá nhân có thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của

• Căn cứ vào đặc tính vật lý (khả năng di dời của tài sản), tài sản

mình theo quy định của pháp luật.

được chia thành: động sản và bất động sản.

Sự khác nhau giữa bất động sản và động sản được thể hiện qua các

điểm sau:

- Tính di dời: Bất động sản không thể di dời được do bản chất tự nhiên

cấu tạo nên tài sản. Ngược lại, động sản là những tài sản có thể di dời, thay

đổi vị trí.

- Tính lâu dài: Bất động sản có thời gian tồn tại rất lâu. Đối với đất đai -

tài nguyên thiên nhiên có thể tồn tại gần như mãi mãi. Một số công trình xây

dựng có tuổi thọ đến hàng trăm năm. Trái lại, động sản có thời gian tồn tại

ngắn, nhất là những động sản có tính chất tiêu hao.

- Tính chịu ảnh hưởng và tác động lẫn nhau: Các bất động sản chịu

ảnh hưởng lẫn nhau. Một bất động sản có thể được bao bọc bởi các bất động

sản khác. Do vậy, quy chế pháp lý dành cho loại tài sản này rất chặt chẽ, trong

đó có những quy định liên quan đến quyền đối với bất động sản liền kề (địa

• Căn cứ vào đặc điểm vật chất, tài sản được chia thành: tài sản hữu

dịch). Quyền này không được xác lập với động sản.

hình và tài sản vô hình.

Tài sản hữu hình và tài sản vô hình khác nhau ở đặc điểm vật chất:

- Tài sản hữu hình là những tài sản mà con người có thể cảm nhận

bằng các giác quan.

- Khác với tài sản hữu hình, tài sản vô hình thường được hình thành

trên một tài sản hữu hình, được gọi là quyền tài sản hay là sản phẩm của các

hoạt động sáng tạo của con người như tài sản trí tuệ.

38

• Phân loại tài sản theo hình thức tồn tại:

* Phân loại tài sản theo pháp luật Việt Nam:

Pháp luật dân sự Việt Nam dùng phương pháp liệt kê khi định nghĩa

tài sản: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản" [24, khoản 1,

Điều 105].

- Vật:

Vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng nhu cầu của con

người, vật có thể tồn tại tự nhiên hoặc do con người tạo ra [32, tr. 132].

Một tài sản được coi là vật khi thỏa mãn các điều kiện sau:

+ Phải tồn tại khách quan, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong

tương lai.

+ Con người có thể chiếm hữu được.

+ Phải xác định được giá trị, khai thác được công dụng và đáp ứng

những nhu cầu tinh thần và vật chất của con người.

+ Được phép lưu thông trong giao lưu dân sự.

- Tiền:

Theo quan niệm của C. Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt,

được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của

tất cả các loại hàng hóa khác. Tiền là phương tiện có thể làm trung gian trao

đổi trong giao dịch dân sự. Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các

loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường [15, tr. 24], tức

là nó chỉ được coi là tài sản khi được pháp luật thừa nhận.

- Giấy tờ có giá:

Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và có thể

trao đổi được trong giao lưu dân sự. Hiện nay, các giấy tờ có giá được lưu

hành rộng rãi là: séc, cổ phiếu, trái phiếu…

Đặc điểm của giấy tờ có giá:

39

- Về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình

thức và trình tự mà pháp luật quy định.

- Về mặt nội dung, giấy tờ có giá thể hiện trên bề mặt quyền tài sản.

Giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và được pháp luật bảo hộ.

- Giấy tờ có giá có tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành

tiền mặt của tài sản) và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện

chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá

là vô hiệu.

- Giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro.

Ngoài ra, còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử

dụng đối với tài sản như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận đăng ký xe máy, … không phải là

giấy tờ có giá. Những loại giấy tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu

của người đứng tên trên giấy tờ đó.

- Quyền tài sản:

Điều 115 BLDS năm 2015 quy định: "Quyền tài sản là quyền trị giá

được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ,

quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác" [24, Điều 115].

Đặc điểm của quyền tài sản như sau:

- Quyền tài sản trị giá được bằng tiền.

- Quyền tài sản là một dạng tài sản vô hình (ví dụ: Quyền sử dụng đất,

• Phân loại tài sản theo đặc tính vật lý (khả năng di dời):

quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu trí tuệ…).

Tương tự với cách phân loại tài sản của hầu hết các quốc gia trên thế

giới, dựa vào đặc tính vật lý của tài sản (khả năng di dời), pháp luật Việt Nam

cũng phân loại tài sản thành: Bất động sản và động sản [24, Điều 107].

- Bất động sản: BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm về bất động sản

bằng phương pháp liệt kê, bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền

40

với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản

khác theo quy định của pháp luật.

- Động sản: Để quy định khái niệm động sản, BLDS năm 2015 áp dụng

phương pháp loại trừ: động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

Một động sản có thể trở thành bất động sản dựa trên mục đích sử dụng

chúng và ngược lại. Trường hợp này xảy ra khi có sự thay đổi tính chất đặc

thù của tài sản - tính di dời của tài sản. Ví dụ: một số thiết bị trong nhà (hệ

thống điện, nước …) khi chưa được lắp đặt vào không gian nhà một cách kiên

cố, có thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác thì chúng vẫn là động sản.

Nhưng khi chúng được gắn vào không gian nhà, công trình xây dựng, tức là

chúng đã mất đi khả năng di dời thì chúng trở thành bất động sản hay còn gọi

tài sản gắn với đất đai, nhà, công trình xây dựng.

Việc phân loại tài sản nói chung và phân loại di sản thừa kế nói riêng

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi cách phân loại mỗi loại tài sản sẽ quyết

định quy chế pháp lý điều chỉnh đến các giao dịch dân sự liên quan tới các

loại tài sản đó giữa các chủ thể.

1.3.2. Thủ tục phân chia di sản thừa kế

Để thực hiện thỏa thuận phân chia di sản, những người thừa kế phải

họp mặt để thống nhất về các nội dung: cử người quản lý di sản, người phân

chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại

di sản không chỉ định trong di chúc và cách thức phân chia di sản.

Sau khi đã họp mặt và bàn bạc thống nhất, những người thừa kế có thể

lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Để đảm bảo tính hợp pháp, có hiệu

lực của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng như bảo vệ quyền

lợi của những người tham gia thỏa thuận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế nên được công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có thể được công chứng

tại tổ chức hành nghề công chứng (bao gồm: phòng công chứng hoặc VPCC)

41

hoặc chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện (đối với di sản là động sản)

hay tại UBND cấp xã (đối với di sản là động sản hoặc bất động sản).

Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục

công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề

công chứng.

Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại tổ

chức hành nghề công chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Luật

Công chứng năm 2014.

* Trình tự thực hiện:

Bước 1: Nộp hồ sơ.

Người yêu cầu công chứng hoàn thiện hồ sơ và nộp trực tiếp tại trụ sở

tổ chức hành nghề công chứng.

Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.

Công chứng viên có thể nhận hồ sơ thông qua bộ phận tiếp nhận của

tổ chức hành nghề công chứng hoặc trực tiếp nhận, sau đó kiểm tra giấy tờ

trong hồ sơ yêu cầu công chứng:

- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định

của pháp luật thì công chứng viên thụ lý và ghi vào sổ công chứng.

- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng chưa đầy đủ thì công chứng

viên ghi phiếu hướng dẫn và yêu cầu bổ sung.

- Trường hợp hồ sơ không đủ cơ sở pháp luật để giải quyết thì công

chứng viên giải thích rõ lý do và từ chối tiếp nhận hồ sơ.

Bước 3: Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện thủ tục niêm yết

việc thụ lý văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

- Tổ chức hành nghề công chứng niêm yết việc thụ lý công chứng văn

bản thỏa thuận phân chia di sản tại trụ sở của UBND cấp xã nơi thường trú

cuối cùng của người để lại di sản trong thời hạn 15 ngày; trường hợp không

42

xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời

hạn cuối cùng của người đó.

+ Trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ

gồm có bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện tại UBND cấp xã nơi

thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản và tại

UBND cấp xã nơi có bất động sản;

+ Trường hợp di sản chỉ gồm có động sản, nếu trụ sở của tổ chức hành

nghề công chứng và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của

người để lại di sản không ở cùng một địa bàn tỉnh thì tổ chức hành nghề công

chứng có thể đề nghị UBND cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn

cuối cùng của người để lại di sản thực hiện việc niêm yết.

- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc

niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn niêm yết.

Bước 4: Soạn thảo và ký văn bản.

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có thể do người yêu cầu

công chứng soạn thảo sẵn hoặc do công chứng viên soạn thảo. Khi người yêu

cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong dự thảo văn bản, công chứng

viên hướng dẫn người yêu cầu công chứng ký hoặc điểm chỉ hoặc vừa ký vừa

điểm chỉ (nếu công chứng viên thấy cần thiết) vào từng trang của văn bản.

Bước 5: Ký chứng nhận.

Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản

chính của các giấy tờ theo quy định để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký

hoặc điểm chỉ vào từng trang của văn bản và chuyển bộ phận thu phí của tổ

chức hành nghề công chứng.

Bước 6: Trả kết quả công chứng.

Bộ phận thu phí của tổ chức hành nghề công chứng hoàn tất việc thu

phí, thù lao công chứng và chi phí khác theo quy định, đóng dấu và hoàn trả

lại hồ sơ cho người yêu cầu công chứng.

43

* Thành phần, số lượng hồ sơ:

- Thành phần hồ sơ:

+ Phiếu yêu cầu công chứng.

+ Bản sao giấy tờ tùy thân: Chứng minh nhân dân/Căn cước công

dân/Giấy chứng minh sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam/Hộ chiếu của các

cá nhân tham gia giao dịch.

+ Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản

sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy

định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.

+ Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp

luật quy định phải có.

- Số lượng hồ sơ: 01 bộ.

* Thời hạn giải quyết hồ sơ:

Không quá 02 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; đối với

hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo

dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc [21, khoản 2, Điều 43].

* Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính:

Người thừa kế của người để lại di sản.

* Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:

- Cơ quan trực tiếp thực hiện: Tổ chức hành nghề công chứng.

- Cơ quan phối hợp: UBND cấp xã nơi niêm yết.

* Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được công chứng hoặc văn bản từ

chối công chứng, có nêu rõ lý do.

* Phí, lệ phí:

- Phí công chứng: tính theo giá trị di sản [4, khoản 2, Điều 4]. Cụ thể

được thể hiện trong bảng 2.1.

44

Bảng 2.1. Phí công chứng tính theo giá trị di sản

TT

Mức thu (đồng/trường hợp)

Giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch

1 Dưới 50 triệu đồng

50 nghìn.

100 nghìn.

2

Từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng

0,1% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch.

3

Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng

4

Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng

01 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng.

5

Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng

2,2 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng.

6

Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng

3,2 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng.

7

Từ trên 10 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng

5,2 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng.

8 Trên 100 tỷ đồng

32,2 triệu đồng + 0,02% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 100 tỷ đồng (mức thu tối đa là 70 triệu đồng/trường hợp).

Nguồn: [4].

- Thù lao công chứng: do tổ chức hành nghề công chứng tự xác định

nhưng không vượt quá mức trần thù lao công chứng.

- Chi phí khác: theo sự thỏa thuận giữa người yêu cầu công chứng và

tổ chức hành nghề công chứng.

1.3.3. Giá trị pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng có

giá trị pháp lý sau:

1.3.3.1. Giá trị chứng cứ

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế khi được công chứng tại

tổ chức hành nghề công chứng đã trở thành chứng cứ để xác lập quyền sở hữu

của những người thừa kế đối với phần di sản mà họ nhận được. Việc hủy bỏ

45

văn bản này không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân theo các quy

định của pháp luật.

1.3.3.2. Giá trị thi hành

Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng có

giá trị thi hành đối với các bên giao kết, trong đó có cam kết về việc thực hiện

các quyền và nghĩa vụ mà những người thừa kế đã thỏa thuận. Do đó, căn cứ

vào văn bản đó, những người thừa kế phải có trách nhiệm thực hiện đúng

những cam kết đã thỏa thuận, nếu có người không thực hiện hoặc thực hiện

không đúng cam kết thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu cơ quan

nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo luật định.

Ngoài ra, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng

là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc

chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

Để được công nhận là chủ sở hữu di sản thừa kế, tùy vào di sản thừa

kế là động sản hay bất động sản, người thừa kế sẽ thực hiện thủ tục đăng ký

quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc đăng ký tài sản được quy định tại Điều 106 BLDS năm 2015, cụ

thể như sau:

- Đối với di sản thừa kế là bất động sản, người thừa kế bắt buộc phải

thực hiện thủ tục đăng ký tài sản, bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng

gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây

dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.

- Đối với di sản thừa kế là động sản thì không phải đăng ký. Nhưng có

một số động sản đặc biệt được quy định riêng và bắt buộc phải đăng ký theo

quy định của pháp luật, bao gồm: tàu biển; phương tiện nội thủy địa; tàu cá;

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; quyền sở hữu tàu bay; phương tiện

giao thông đường sắt; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tài sản là vũ khí, vật

liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

- Việc đăng ký tài sản phải được công khai.

46

Kết luận Chương 1

Quan hệ thừa kế là một trong những quan hệ xã hội phức tạp, đòi hỏi

phải có cơ chế pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các

chủ thể trong quan hệ đó. Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là hoạt động

của những người thừa kế cùng thống nhất xây dựng một hợp đồng dân sự với

mục đích chấm dứt tình trạng sở hữu chung khối di sản do người chết để lại,

xác lập quyền sở hữu của mỗi người với phần di sản thừa kế mà họ được

hưởng. Tại chương 1 của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu những

vấn đề trọng tâm liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế như: khái

niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận

bao gồm: chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức và các vấn đề pháp lý khác

có liên quan… Những nội dung trên là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục tìm

hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại

chương 2 của luận văn.

47

Chương 2

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ HIỆN NAY

Để đánh giá được hiệu quả của những quy định pháp luật đối với cuộc

sống thì cần tổng kết cả một quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Việc

áp dụng quy định pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng

không nằm ngoài ngoại lệ đó.

Tình huống: VPCC X tiếp nhận yêu cầu công chứng văn bản thỏa

thuận phân chia di sản thừa kế, trong đó có một người thừa kế là người Việt

Nam đang định cư ở nước ngoài, một người nước ngoài định cư ở nước ngoài

và một người là người Việt Nam nhưng chưa thành niên. Người để lại di sản

có lập di chúc nhưng không định đoạt toàn bộ di sản.

Cụ thể: Ông A để lại di sản thừa kế là một căn nhà trị giá 3 tỉ đồng và

một khoản tiền là 10 tỉ đồng. Đây là khối tài sản thuộc sở hữu riêng của ông A.

Ông A và vợ là bà B có quốc tịch Việt Nam sở hữu chung một căn nhà khác

trị giá 7 tỉ đồng. Ông A có bốn người con lần lượt là C, D, E, F, trong đó, C là

người Việt Nam, đã định cư ở nước ngoài 20 năm; D là người Việt Nam đã

thành niên; E là người Việt Nam chưa thành niên; F là con riêng của ông A và

là người nước ngoài đã thành niên, đang định cư ở nước ngoài. Năm 2016,

ông A chết và để lại di chúc, trong đó nêu rõ dành 1 tỉ đồng cho việc thờ

cúng, F được hưởng căn nhà 3 tỉ đồng, phần di sản còn lại không được định

đoạt trong di chúc. Ông A còn để lại một khoản nợ 1 tỉ đồng, đây là khoản nợ

riêng của ông A, bà B không liên quan đến khoản nợ này.

Năm 2018, bà B cùng các con của ông A là C, D, E, F thống nhất sẽ đến

VPCC yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, trong đó tất cả

những người thừa kế đều đồng ý nhận di sản, nhưng C là người con đang định

cư ở nước ngoài lâu năm muốn tặng cho phần di sản của mình chia đều cho bà

48

B, D và E. Do bận công việc nên F không thể về Việt Nam để trực tiếp thực hiện

thỏa thuận. Đối với khoản nợ 1 tỉ đồng, bà B nhận sẽ thanh toán cho chủ nợ.

Trong tình huống này, VPCC X đã giải quyết như sau:

* Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ

Công chứng viên thuộc VPCC X kiểm tra thành phần hồ sơ và tính

hợp lệ của các giấy tờ do những người yêu cầu công chứng cung cấp.

Trong trường hợp này, vì có hai người thừa kế đều đang định cư ở

nước ngoài nên ngoài các giấy tờ phải cung cấp như những người thừa kế ở

Việt Nam, C và F phải có thêm các giấy tờ sau:

- C: giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy tờ chứng minh được

phép nhập cảnh vào Việt Nam [23, khoản 1, Điều 8], …

- F: giấy tờ chứng minh được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không

thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy

định của pháp luật [23, khoản 3, Điều 160]. Vì F không thể về Việt Nam để

thỏa thuận nên F ủy quyền cho một người khác là G thay mặt F thỏa thuận

phân chia di sản. Văn bản ủy quyền có chứng thực tại cơ quan đại diện ngoại

giao của Việt Nam ở nước ngoài.

* Xác định di sản và người thừa kế của ông A

- Di sản do ông A để lại:

Căn cứ vào các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của ông A

khi còn sống, công chứng viên xác định di sản ông A để lại bao gồm:

+ Tài sản riêng của ông A: Căn nhà 3 tỉ đồng và số tiền 10 tỉ đồng.

+ Tài sản riêng của ông A trong khối tài sản chung của vợ chồng: Do

ông A và bà B là vợ chồng, có chung căn nhà trị giá 7 tỉ đồng, nên khi ông A

chết, phần di sản mà ông A để lại trong khối tài sản chung nêu trên là 1/2 căn

nhà, tương ứng 3,5 tỉ đồng.

 Tổng di sản thừa kế của ông A để lại quy theo giá trị là: 3 + 10 +

1/2 x 7 = 16,5 tỉ đồng.

49

Do trong di chúc, ông A định đoạt dành 1 tỉ đồng dùng cho việc thờ

cúng. Mà di sản thờ cúng theo quy định của pháp luật không được phép phân

chia nên phần di sản được phép phân chia trong tổng khối di sản mà ông A để

lại là: 16,5 - 1 = 15,5 tỉ đồng, trong đó:

- Những người thừa kế hợp pháp của ông A:

+ Người thừa kế theo di chúc: Ông A lập di chúc và định đoạt để lại

cho F căn nhà trị giá 3 tỉ đồng.

 F là người thừa kế theo di chúc của ông A.

+ Người thừa kế theo pháp luật:

Do phần di sản còn lại ông A không định đoạt trong di chúc nên phần

di sản đó sẽ được chia đều cho những người thừa kế theo pháp luật.

 Những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất của

ông A bao gồm: bà B (vợ), C, D, E, F (các con).

 Phần di sản theo di chúc: Căn nhà 3 tỉ đồng.

Phần di sản theo pháp luật: (15,5 - 3)/5 = 2,5 tỉ đồng/người

Sau khi tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và xác định di sản cùng

những người thừa kế hợp pháp của ông A, VPCC X thụ lý yêu cầu công chứng.

* Niêm yết việc thụ lý văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Do di sản gồm cả bất động sản và động sản nên VPCC X đã niêm yết

việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại trụ sở

UBND cấp xã nơi thường trú cuối cùng của ông A và trụ sở UBND cấp xã nơi

có bất động sản (căn nhà 3 tỉ đồng và căn nhà 7 tỉ đồng) trong thời gian 15 ngày,

kể từ ngày niêm yết.

Hết thời gian niêm yết trên, UBND cấp xã nơi niêm yết xác nhận việc

đã niêm yết và nếu nhận hoặc không nhận được ý kiến phản ánh, đơn thư

khiếu nại, tranh chấp của cá nhân, tổ chức nào liên quan tới việc thỏa thuận

phân chia di sản của ông A để lại thì UBND cấp xã phải ghi rõ trong văn bản

xác nhận.

50

Trường hợp có phản ánh, khiếu nại thì VPCC X phải dừng việc công

chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản để xác minh lại. Nếu không có

khiếu nại, tranh chấp thì VPCC X tiếp tục thực hiện bước soạn thảo và yêu

cầu những người thừa kế ký vào văn bản thỏa thuận.

* Soạn thảo và ký văn bản

Trong tình huống này, những người thừa kế đề nghị công chứng viên

soạn thảo văn bản thỏa thuận. Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra tính

xác thực của nội dung, ý định giao kết hợp đồng, không vi phạm pháp luật,

không trái với đạo đức xã hội, sau đó công chứng viên soạn thảo văn bản,

trong đó ghi rõ ý chí, nguyện vọng của những người thừa kế.

Ở đây, G thực hiện việc ủy quyền của F đồng ý nhận phần di sản mà F

được hưởng. Bà B, các con là C, D cũng đồng ý nhận. Riêng E là con chưa

thành niên nên việc thỏa thuận phân chia di sản sẽ do người đại diện theo pháp

luật của E là bà B thực hiện, bà B đại diện cho E nhận kỷ phần E được hưởng.

C quyết định tặng cho phần di sản mà C được hưởng chia đều cho bà B và D, E.

 Phần di sản (theo giá trị) mà mỗi người được hưởng sau khi thỏa

thuận là:

- F: 3 + 2,5 = 5,5 tỉ đồng.

- B = D = E: 2,5 + 2,5/3 = 10/3 tỉ đồng.

Bà B nhận thanh toán khoản nợ 1 tỉ đồng, nên phần di sản còn lại mà

bà B được hưởng là: 10/3 - 1 = 7/3 tỉ đồng.

Công chứng viên yêu cầu những người thừa kế đọc lại dự thảo văn

bản và tất cả họ đều đồng ý với toàn bộ nội dung dự thảo và đã ký vào từng

trang văn bản.

* Ký chứng nhận

Sau khi những người thừa kế đã ký vào văn bản thỏa thuận, công

chứng viên viết lời chứng, ký vào từng trang văn bản, sau đó chuyển về bộ

phận thu phí của VPCC.

51

* Trả kết quả công chứng

Những người yêu cầu công chứng nộp phí (phí công chứng + thù lao

công chứng + chi phí khác) theo quy định và VPCC X trả kết quả công chứng

cho họ.

Phí công chứng được tính dựa trên giá trị di sản. Di sản mà ông A để

lại trị giá 16,5 ti đồng, nhưng di sản được phép thỏa thuận phân chia trong văn

bản công chứng chỉ là 15,5 tỉ đồng. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm a4/a

khoản 2 Điều 4 Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016

của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí

công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề

công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động VPCC; lệ phí cấp thẻ công

chứng viên [4, khoản 2, Điều 4], thì phí công chứng mà những người thừa kế

phải nộp là: 5,2 triệu đồng + 0,03% x (15,5 - 10) tỉ đồng = 6,85 triệu đồng.

Trong tình huống trên, các vấn đề dưới đây cần làm rõ:

2.1. Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người nước ngoài

đang ở nước ngoài)

* Liên quan đến người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Về việc nhận thừa kế của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Luật

Đất đai năm 2013 quy định: "Trường hợp người được thừa kế là người Việt

Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của

Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối

tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được hưởng giá trị của

phần thừa kế đó" [20, đ, khoản 1, Điều 179].

Khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 quy định: "Người Việt Nam

định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy

định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử

dụng đất ở tại Việt Nam" [20, khoản 1, Điều 186].

52

Tại khoản 1 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện được

công nhận quyền sở hữu nhà ở: "Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước;

đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh

vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện

quy định tại Điều 160 của Luật này" [23, khoản 1, Điều 8].

 C được nhận thừa kế bất động sản ở Việt Nam theo một trong hai

trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nếu C được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì C được

công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Khi đó, C được nhận thừa kế

quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Trường hợp 2: Nếu C không được phép nhập cảnh vào Việt Nam,

không được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, thì C được hưởng

giá trị của phần thừa kế đó.

* Liên quan đến người thừa kế là người nước ngoài

Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định về người sử dụng đất như sau:

Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận

quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật

này, bao gồm:

1. Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân

dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính

trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức

sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự

(sau đây gọi chung là tổ chức);

2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình,

cá nhân);

3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên

cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư

tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;

53

4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh

đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của

tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện

ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức

năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ

chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại

diện của tổ chức liên chính phủ;

6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật

về quốc tịch;

7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100%

vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà

nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp

luật về đầu tư [20, Điều 5].

Như vậy, theo quy định trên, F là người nước ngoài nên không được

quyền sử dụng đất tại Việt Nam.

Khoản 3 Điều 160 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện cá

nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở theo hình thức thừa kế tại Việt Nam: "Cá

nhân nước ngoài phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc

diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định

của pháp luật" [23, khoản 3, Điều 160].

 F nhận thừa kế theo di chúc của ông A là căn nhà 3 tỉ đồng nhưng F

không được nhận thừa kế quyền sử dụng đất mà chỉ được nhận quyền sở hữu

nhà ở thương mại tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện trên.

Việc có hay không cho người nước ngoài quyền sử dụng đất tại Việt

Nam là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Hiện nay, có hai quan điểm

khác nhau về vấn đề này:

Quan điểm 1: Không đồng ý bổ sung đối tượng sử dụng đất trên lãnh

thổ Việt Nam là người nước ngoài.

54

Theo Luật Nhà ở năm 2014, cá nhân là người nước ngoài được phép

nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn

trừ ngoại giao, lãnh sự thì được quyền mua, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế

nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu

tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định

của Chính phủ [23, b, khoản 2, Điều 159].

Thời hạn sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các hợp đồng, giao dịch

nhưng không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận và có thể được

gia hạn. Thời hạn sở hữu nhà ở ghi rõ trong giấy chứng nhận [23, c, khoản 2,

Điều 161].

Trước khi hết thời hạn trên, người đó được quyền bán, tặng cho căn

nhà của mình. Nếu quá thời hạn sở hữu nhà ở mà chủ nhà không bán, tặng

cho thì căn nhà sẽ thuộc sở hữu Nhà nước [23, đ, khoản 2, Điều 161].

Khi muốn cho thuê nhà ở, người nước ngoài phải thông báo bằng văn

bản cho cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có nhà ở và phải nộp thuế từ

hoạt động cho thuê nhà ở này [23, a, khoản 2, Điều 162]. Việc thanh toán tiền

mua, thuê mua nhà ở phải thông qua tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt

Nam [23, c, khoản 2, Điều 162].

Luật Nhà ở năm 2014 quy định rõ người nước ngoài được sở hữu

chung cư và nhà ở riêng lẻ trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu

vực bảo đảm an ninh, quốc phòng. Họ được mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế

và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư, trong

một khu vực có số dân tương đương một phường thì người nước ngoài được

sở hữu không quá 250 căn biệt thự, nhà liền kề [23, a, khoản 2, Điều 161].

Nhiều người quan ngại rằng khi Nhà nước công nhận cá nhân nước

ngoài được quyền sử dụng đất thì những người này sẽ chính thức tạo ra những

"lãnh địa" riêng làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh của khu vực và quốc gia.

Bên cạnh đó, cá nhân nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam có thể tìm

những sơ hở, điểm chưa rõ ràng của pháp luật Việt Nam để thu gom quyền sử

55

dụng đất, dẫn đến người dân Việt Nam trở thành những người làm thuê cho

người nước ngoài trên chính đất nước mình.

Quan điểm 2: Đồng ý bổ sung đối tượng sử dụng đất trên lãnh thổ

Việt Nam là người nước ngoài.

Những người theo quan điểm này cho rằng Luật Nhà ở năm 2014 chỉ

cho người nước ngoài mua, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở trong các

dự án thương mại, hướng người nước ngoài đầu tư vào những dự án nhà ở

chứ không để làm hỗn loạn các khu dân cư dẫn đến tình trạng khó kiểm soát.

Ngoài ra, số lượng nhà ở thương mại bị khống chế, thời hạn sở hữu

cũng không phải vĩnh viễn và lâu dài. Vì thế, Nhà nước nên khuyến khích

người nước ngoài sử dụng đất phát triển các dự án thương mại.

Mặt khác, trên thực tiễn, người nước ngoài vẫn có khả năng kiểm soát

quyền sử dụng đất ở Việt Nam dưới dạng ủy quyền cho người Việt Nam đứng

tên sử dụng đất. Vậy nên, vấn đề không phải là có công nhận quyền sử dụng

đất tại Việt Nam đối với người nước ngoài hay không mà vấn đề là chúng ta

cần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, quản lý một cách thông minh bằng

những công cụ có hiệu quả.

Xét theo tình hình thực tế hiện nay, với cách quản lý nhà nước còn

thiếu chặt chẽ và nhiều lỗ hổng, theo tác giả luận văn, chúng ta vẫn nên theo

quan điểm đầu tiên là không công nhận cá nhân nước ngoài có quyền sử dụng

đất tại Việt Nam.

2.2. Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia di

sản thừa kế

Việc vắng mặt người thừa kế tại thời điểm thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế được đặt ra trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Những người thừa kế khác không biết người

thừa kế đó ở đâu và người thừa kế vắng mặt cũng không biết mình được

hưởng di sản và đang có việc phân chia di sản.

56

Nếu người thừa kế vắng mặt là người thừa kế theo di chúc và được

người để lại di sản định đoạt trong di chúc rằng người đó được di tặng hoặc

hưởng một vật đặc định thì những người thừa kế khác khi thỏa thuận phân

chia di sản phải dành riêng phần di sản mà người thừa kế vắng mặt được nhận

ra và giao cho người quản lý di sản đến khi người đó biết và trở về nhận di

sản. Trường hợp di chúc không định đoạt rõ kỷ phần của từng người thừa kế

thì phải đợi đến khi người thừa kế vắng mặt quay trở về, khi có đầy đủ những

người thừa kế thì thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới thực hiện được.

Trường hợp thứ hai: Người thừa kế vắng mặt do những lý do khách

quan nên không thể trực tiếp tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

(F thuộc trường hợp này).

Người thừa kế biết mình được hưởng di sản nhưng vì những lý do

khách quan mà không thể trực tiếp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì họ

được ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch. Văn bản ủy quyền phải

được công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam hoặc ở

nước ngoài, trong đó phải ghi rõ phạm vi ủy quyền. Nếu sau khi thỏa thuận

xong, phát hiện thấy người được ủy quyền thực hiện vượt quá phạm vi ủy

quyền, công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người

phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc cơ quan nhà nước có

thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với văn bản thỏa

thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng.

2.3. Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người bị

hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự,

người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,

người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm

chủ hành vi khi tham gia vào các giao dịch dân sự, trong đó có giao dịch về

thừa kế, thì phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Tuy

57

nhiên, khi áp dụng pháp luật về chế định đại diện vào thực tiễn, có một số

vướng mắc phát sinh.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện như sau: "Đại diện là

việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi

ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác

lập, thực hiện giao dịch dân sự" [24, khoản 1, Điều 134].

Quy định trên xác định mục tiêu đại diện trong xác lập và thực hiện

các giao dịch dân sự đó là vì lợi ích của người được đại diện. Nhưng thẩm

quyền của người đại diện trong trường hợp không xác định được phạm vi đại

diện lại quá rộng, cụ thể tại khoản 2 Điều 141 BLDS năm 2015 quy định:

"Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại

khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực

hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp

pháp luật có quy định khác" [24, khoản 2, Điều 141]. Việc phân loại xác định

hoặc không xác định được phạm vi đại diện dẫn đến tình trạng người đại diện

thực hiện quá phạm vi đại diện, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng

của người được đại diện, nhất là liên quan đến vấn đề sở hữu tài sản của các

đối tượng là người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,

người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm

chủ hành vi.

Mặt khác, cũng có sự mâu thuẫn giữa quy định tại các khoản của

Điều 141 BLDS năm 2015. Cụ thể, trong khi khoản 2 thừa nhận trường hợp

phạm vi của đại diện không xác định, thì khoản 4 lại đưa ra đòi hỏi người đại

diện phải thông báo cho bên giao dịch biết phạm vi đại diện của mình, tức là

người đại diện khi tiến hành hoạt động đại diện thì phải: (1) thông báo với đối

tác về việc đại diện cho ai; (2) thông báo về phạm vi đại diện. Tại khoản 2 và

khoản 3 Điều 143 BLDS năm 2015 quy định trong một số trường hợp, người

thứ ba giao dịch với người đại diện không phải lúc nào cũng biết phạm vi đại

58

diện của người đại diện. Như vậy, quy định tại khoản 4 Điều 141 BLDS năm

2015 là chưa hợp lý.

Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định: "Trường

hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự,

năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập thực

hiện" [24, khoản 3, Điều 134]. Có thể hiểu, trong trường hợp pháp luật không

quy định, người đại diện không nhất thiết phải có năng lực pháp luật dân sự,

năng lực hành vi dân sự, hay nói cách khác, người vô năng có thể là đại

diện [10, tr. 291-292]. Như vậy, BLDS năm 2015 không quy định các giao

dịch xác lập và thực hiện với người vô năng và các hậu quả pháp lý liên quan

tới người được đại diện trong trường hợp trao quyền đại diện cho người vô năng.

2.4. Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của

chủ nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế

Nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại bao gồm:

- Nhóm nghĩa vụ đối với Nhà nước, như: nộp thuế (thuế thu nhập cá

nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền phạt vi phạm hành chính…)

- Nhóm nghĩa vụ đối với cá nhân, tổ chức khác: tiền cấp dưỡng còn

thiếu, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ, tiền công lao động, tiền bồi

thường thiệt hại, các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân.

- Các chi phí phát sinh: chi phí mai táng, chi phí bảo quản di sản, các

chi phí khác [1, tr. 67-70].

* Thứ tự ưu tiên thanh toán:

Thứ tự ưu tiên thanh toán các loại nghĩa vụ trên được quy định như sau:

1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.

2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.

3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.

4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.

5. Tiền công lao động.

59

6. Tiền bồi thường thiệt hại.

7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách Nhà nước.

8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.

9. Tiền phạt.

10. Các chi phí khác [24, Điều 658].

Xét theo thứ tự trên, loại nghĩa vụ đứng trên sẽ được ưu tiên thanh

toán đầy đủ, nếu di sản còn thì tiếp tục thanh toán đến nghĩa vụ tiếp theo cho

đến khi hoàn thành tất cả các nghĩa vụ. Nếu mới thanh toán được một vài nghĩa

vụ trước thì hết di sản, thì những nghĩa vụ sau sẽ không thực hiện được nữa.

Theo đó, nghĩa vụ cho việc mai táng được thanh toán đầu tiên. Nhưng

chi phí này phải "hợp lý". Hiểu thế nào là "chi phí hợp lý" thì đến nay vẫn

chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hướng dẫn cụ thể về nội

dung này.

Về tiền cấp dưỡng cho người sống nương nhờ, trên thực tế có một số

người không có khả năng lao động để nuôi sống bản thân. Những người này

được người khác giúp đỡ, cho họ sống nương nhờ và họ hoàn toàn phụ thuộc

vào người cưu mang mình. Vì thế, khi người cho sống nương nhờ chết, họ sẽ

rơi vào tình cảnh khó khăn về mọi mặt. Do đó, pháp luật có quy định ưu tiên

thanh toán cho những trường hợp này. Tuy nhiên, việc người thừa kế bắt buộc

phải thực hiện nghĩa vụ trên mà còn ở thứ tự ưu tiên thứ tư là chưa thực sự

hợp lý. Vì việc cho người khác sống nương nhờ là xuất phát từ tấm lòng nhân

đạo của người cho nương nhờ, chứ không phải một nghĩa vụ pháp lý. Nó xuất

phát từ tình cảm giữa người với người chứ không thuộc đối tượng điều chỉnh

của pháp luật.

Về việc thanh toán nghĩa vụ với Nhà nước được xếp trước nghĩa vụ

đối với các cá nhân, pháp nhân là chưa thỏa đáng. Thực chất, trong quan hệ

nghĩa vụ, Nhà nước cũng là một chủ nợ của người chết để lại di sản. Một

trong những nguyên tắc của pháp luật dân sự là các chủ thể đều bình đẳng

60

trong các giao dịch dân sự. Bởi thế, Nhà nước hay các chủ nợ là cá nhân, pháp

nhân cần được đối xử công bằng như nhau.

Một điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 là xếp chi

phí bảo quản di sản lên trước (từ vị trí thứ chín lên vị trí thứ ba). Đây là một

điểm tiến bộ đáng ghi nhận của BLDS năm 2015. Bởi loại chi phí này góp

phần bảo đảm cho di sản được giữ gìn một cách cẩn thận để duy trì được giá

trị di sản tốt nhất cho đến khi được chia thừa kế.

* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản

thừa kế, chủ nợ của người thừa kế:

Chủ nợ của người để lại di sản thừa kế có quyền đòi nợ từ những

người thừa kế di sản do khi còn sống, người để lại di sản chưa thực hiện hoặc

thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.

Vấn đề thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ cùng hàng thực hiện

như thế nào thì BLDS năm 2015 vẫn còn bỏ ngỏ, gây ra khó khăn cho Tòa án

trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho

các chủ nợ này.

Có nhiều ý kiến khác nhau về sự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ tài sản

đối với chủ nợ của người để lại di sản và chủ nợ của người thừa kế từ khối di

sản mà người thừa kế được hưởng.

Xét về nguồn gốc phát sinh, những nghĩa vụ được thanh toán theo quy

định tại Điều 658 BLDS năm 2015 là những nghĩa vụ của người để lại di sản, do

người để lại di sản xác lập hoặc phải thực hiện theo luật định. Tuy nhiên, khi

người để lại di sản chết, những nghĩa vụ đó được chuyển giao cho những người

thừa kế. Lúc này, nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản và cho chủ

nợ của người thừa kế sẽ do một chủ thể thực hiện, đó là người thừa kế [1, tr. 75].

Có hai trường hợp sẽ xảy ra như sau:

- Trường hợp di sản chưa chia và đang được người quản lý di sản

quản lý: Các chủ nợ của người để lại di sản có quyền yêu cầu người quản lý di

61

sản trả nợ trong phạm vi di sản mà người chết để lại. Sau khi các nghĩa vụ này

được thanh toán, thì phần di sản còn lại được chia cho những người thừa kế.

- Trường hợp di sản đã chia cho người thừa kế: Khi di sản đã được chia,

di sản thừa kế và tài sản của người thừa kế trở thành khối tài sản chung thống

nhất. Bởi vậy rất khó tách bạch đâu là di sản, đâu là tài sản. Vì thế, thứ tự ưu

tiên thanh toán giữa hai chủ nợ nói trên cũng khó xác định. Ví dụ: A được

thừa kế di sản trị giá 500 triệu đồng, trước đó A sở hữu số tài sản 300 triệu

đồng. A nợ hai người là B và C lần lượt số tiền là 400 triệu đồng và 500 triệu

đồng. Vậy, tài sản mà A có sau khi nhận thừa kế là 800 triệu đồng, không đủ

tiền trả nợ cho B và C (tổng số nợ là 900 triệu đồng). Trong tình huống này, B

hay C được ưu tiên thanh toán trước.

Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng về vấn đề

này, nên quyền của các chủ nợ cũng chưa được đảm bảo.

2.5. Di sản dùng vào việc thờ cúng

Pháp luật quy định thông qua việc lập di chúc, người lập di chúc có thể

định đoạt sẽ để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Nhưng thuật ngữ

"một phần" gây không ít khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật và vô hình

chung quy định trên đã làm hạn chế quyền tự do định đoạt tài sản của người lập

di chúc, hay nói cách khác, ý chí, quyền tự do, tự nguyện, không bị ép buộc của

người lập di chúc đối với tài sản thuộc sở hữu của mình đã vô hình có những

ràng buộc mà không phải đến từ những nguyên tắc pháp luật chung [28, tr. 100].

Quyền của người lập di chúc trong việc để lại di sản dùng vào việc thờ

cúng còn bị giới hạn bởi hai yếu tố sau:

Yếu tố thứ nhất, nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.

Khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015 quy định: "Trường hợp toàn bộ di sản

của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không

được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng" [24, khoản 2, Điều 645].

Như vậy, di sản thờ cúng mà người lập di chúc định đoạt phải nhỏ hơn hoặc

bằng hiệu số của tổng giá trị khối di sản trừ đi các khoản nợ mà người đó để lại.

62

Yếu tố thứ hai, phần di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội

dung di chúc.

Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ giới hạn của phần di sản

thờ cúng trong trường hợp ảnh hưởng đến phần di sản của người thừa kế

không phụ thuộc vào nội dung di chúc, vì thế nội dung này cần tiếp tục được

nghiên cứu, làm rõ để hoàn thiện chế định thừa kế trong BLDS năm 2015.

2.6. Thực hiện thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân

chia di sản thừa kế

Hiện nay, một số người vẫn nhầm lẫn giữa thỏa thuận phân chia di sản

thừa kế và khai nhận di sản thừa kế. Đây là hai thủ tục riêng biệt và khác

nhau, được thể hiện qua các điểm sau:

- Về chủ thể: Trong khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được thực

hiện bởi cả người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật của

người để lại di sản, đồng thời phải có ít nhất hai chủ thể trở lên thỏa thuận, thì

khai nhận di sản thừa kế chỉ do người duy nhất được hưởng di sản theo pháp

luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật (có từ một chủ

thể trở lên) thực hiện.

- Về nội dung: Nếu trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, những

người thừa kế có sự chuyển quyền hưởng di sản cho nhau, thì trong khai nhận

di sản thừa kế không có nội dung này.

Mặc dù có những điểm khác biệt trên, nhưng nhìn chung, thủ tục hành

chính để công chứng hai loại thủ tục này tương đối giống nhau. Cơ quan có

thẩm quyền công chứng thường yêu cầu người thừa kế phải cung cấp rất nhiều

hồ sơ, giấy tờ pháp lý để chứng minh quan hệ thừa kế. Nhưng thực tế, nhiều

gia đình do chiến tranh, thiên tai hay những lý do khách quan khác, cũng như

ý thức pháp luật của nhiều người dân còn hạn chế, nên họ không còn lưu giữ

được các giấy tờ đó. Trong những trường hợp này rất khó đáp ứng được yêu

cầu của cơ quan công chứng khi có yêu cầu công chứng việc khai nhận hay

thỏa thuận phân chia di sản, mặc dù "người thật, việc thật" rất rõ ràng.

63

2.7. Điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết"

Điều kiện chung đối với người thừa kế là cá nhân theo quy định của

BLDS năm 2015 là phải "còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và

còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại

di sản chết". Tuy nhiên, việc xác định điều kiện "phải thành thai trước khi

người để lại di sản chết" chỉ áp dụng đối với cá nhân là người thừa kế theo

pháp luật hay đối với cả cá nhân là người thừa kế theo di chúc thì hiện nay

vẫn còn nhiều tranh cãi.

Có quan điểm cho rằng, quy định của pháp luật về điều kiện của người

thừa kế hiện hành vẫn phù hợp. Dù là người thừa kế theo pháp luật hay người

thừa kế theo di chúc vẫn phải đáp ứng điều kiện "phải thành thai trước khi

người để lại di sản chết". Những người theo quan điểm này dựa vào quy định

của Luật HN&GĐ về việc con sinh ra hoặc được người vợ mang thai trong

thời kỳ hôn nhân thì là con chung của vợ chồng. Do vậy, khi con đã thành thai

trước khi người cha chết thì mới là con cùa người cha đó và người mẹ không

có nghĩa vụ phải chứng minh con có phải của người cha đã chết hay không.

Ngược lại, có quan điểm lại cho rằng, điều kiện "thành thai trước khi

người để lại di sản chết" chỉ áp dụng với người thừa kế theo pháp luật, chứ

không áp dụng cho người thừa kế theo di chúc. Cá nhân chỉ cần sinh ra và còn

sống thì cá nhân đó có quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không cần thành

thai trước khi người để lại di chúc chết. Bởi trên thực tế, có một số bản di

chúc mà người để lại di sản đã chỉ định người thừa kế ngay cả khi họ chưa

thành thai trước khi người để lại di sản chết. Bên cạnh đó, với sự hiện đại của

nền y học thế giới hiện nay, việc người vợ mang thai nhờ can thiệp kỹ thuật

sinh sản từ tinh trùng của chồng mình mặc dù người chồng đã chết trước đó là

điều hoàn toàn có thể. Bởi thế, quy định điều kiện phải "thành thai trước khi

người để lại di sản chết" đối với người thừa kế theo di chúc hiện nay dường

như không còn phù hợp với thực tế nữa.

64

Kết luận Chương 2

Từ xưa đến nay, các quan hệ xã hội luôn có sự biến đổi, chuyển động

để phù hợp với sự phát triển không ngừng của nhân loại. Quan hệ thừa kế và

những quy định pháp luật về thừa kế cũng vậy. Để có những thay đổi tích cực

và phù hợp với thực tiễn, việc áp dụng pháp luật về thừa kế luôn được chú

trọng, trong đó có áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

Trong chương 2 của luận văn, tác giả tập trung phân tích tình huống

thực tế về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Từ đó, tác giả chỉ rõ các vấn đề

pháp luật chưa quy định, một số bất cập của các quy định pháp luật khi áp

dụng vào thực tiễn, các luồng ý kiến khác nhau về vấn đề đó. Xuất phát từ

thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần

hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại

chương 3.

65

Chương 3

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

3.1. Về công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam của người

nước ngoài

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người nước ngoài là cá nhân

có quyền hưởng thừa kế. Do đó, họ cũng có quyền tham gia vào thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, không giống như người thừa kế là người

Việt Nam, pháp luật hiện hành quy định người nước ngoài không có quyền

hưởng thừa kế quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà chỉ được hưởng thừa kế

quyền sở hữu nhà ở thương mại ở Việt Nam.

Về vấn đề có hay không công nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam cho

người nước ngoài, đến nay có hai quan điểm trái ngược nhau như sau:

+ Không đồng ý công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam cho người

thừa kế là người nước ngoài;

+ Đồng ý công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam cho người thừa

kế là người nước ngoài.

Như đã phân tích tại phần 2.1 của luận văn, tác giả cho rằng, pháp luật

Việt Nam vẫn nên giữ quy định hiện tại là không công nhận người nước ngoài

có quyền sử dụng đất tại Việt Nam theo quan điểm đầu tiên. Mặc dù, trên

thực tế tại Việt Nam, có một số người nước ngoài đã lợi dụng người Việt

Nam làm "bình phong" để kiểm soát quyền sử dụng đất tại Việt Nam, nhưng

do việc quản lý thiếu chặt chẽ và những lỗ hổng về mặt pháp lý của nước ta

đã tạo điều kiện cho người nước ngoài dựa vào những quy định chưa chặt chẽ,

rõ ràng của pháp luật để đạt được mục đích nêu trên.

66

Vì vậy, pháp luật nước ta cần quy định rõ một cơ chế quản lý nhà

nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn, quản lý một cách thông minh, có hiệu quả

bằng những công cụ quản lý phù hợp như đánh thuế tài sản, bất động sản...,

đặc biệt là những người sở hữu bất động sản, quyền sử dụng thửa đất thứ hai

trở lên.

3.2. Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

Đại diện là một chế định quan trọng trong đời sống pháp lý xã hội. Bất

kỳ hệ thống pháp luật nào cũng đều xem đây là một chế định quan trọng, chế

định trung tâm của luật dân sự hiện đại [10, tr. 283].

Vấn đề đại diện trong giao dịch dân sự nói chung và trong thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế nói riêng luôn được các nhà làm luật quan tâm và

được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng. Chế định

này được coi là công cụ pháp lý để bảo vệ cho những người yếu thế trong

giao dịch dân sự, tức là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người

khác xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Những người yếu thế đó

bao gồm: người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,

người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm

chủ hành vi. Đây đều là những chủ thể luôn được pháp luật ưu tiên bảo vệ

lợi ích.

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc đại diện thông qua hai

phương thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Phạm vi đại

diện của hai phương thức này là khác nhau:

+ Người đại diện theo pháp luật: Pháp luật cho phép người đại diện

theo pháp luật có quyền chủ động tối đa trong việc xác lập, thực hiện giao

dịch dân sự liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích

của người được đại diện.

67

+ Người đại diện theo ủy quyền: Phạm vi đại diện của những người

này được xác định trong văn bản ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền

chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản ủy quyền

quy định.

Như tác giả đã phân tích tại mục 2.3, về phạm vi đại diện, pháp luật

dân sự nước ta nên khắc phục theo hướng quy định rõ ràng người đại diện chỉ

có thẩm quyền đại diện trong các vấn đề có liên quan tới quản trị tài sản của

người được đại diện trong trường hợp phạm vi đại diện không xác định để đặt

ra giới hạn đại diện cho người đại diện.

Để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba, là người xác lập giao

dịch dân sự với người đại diện, thì người đại diện có nghĩa vụ phải thông báo

cho người thứ ba biết về phạm vi đại diện của mình. Tuy nhiên lại có sự mâu

thuẫn giữa các quy định tại các khoản thuộc Điều 141 BLDS năm 2015 về

phạm vi đại diện. Để khắc phục mâu thuẫn này, theo tác giả, pháp luật nước ta

nên bỏ khoản 4 ("người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về

phạm vi đại diện của mình") của Điều này để phù hợp với quy định tại các

khoản còn lại.

Trong trường hợp vẫn tiếp tục giữ khoản 4 Điều 141 nêu trên thì có

thể phát sinh vấn đề vướng mắc như sau: Nếu người đại diện không thông báo

cho bên thứ ba tham gia giao dịch phạm vi đại diện của mình thì sẽ vi phạm

điều cấm của luật, suy ra giao dịch đó bị vô hiệu. Vậy quy định như khoản 2

và khoản 3 Điều 141 BLDS năm 2015 về vượt quá phạm vi đại diện không

còn ý nghĩa nữa.

Liên quan đến năng lực chủ thể của người đại diện, theo quy định của

pháp luật hiện hành, người đại diện theo pháp luật bắt buộc phải có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ, ngược lại, người đại diện theo ủy quyền không nhất

68

thiết phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người từ đủ mười lăm tuổi đến

chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp

pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên

xác lập, thực hiện [24, khoản 3, Điều 138].

Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định các giao dịch xác lập và thực

hiện với người vô năng khi quy định: "Trường hợp pháp luật quy định thì

người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù

hợp với giao dịch dân sự được xác lập thực hiện" [24, khoản 3, Điều 134].

Việc BLDS năm 2015 chưa quy định vấn đề trên dẫn đến tình trạng không có

cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp người được đại diện trao quyền

đại diện cho người vô năng. Vậy nên các nhà làm luật cần nghiên cứu kỹ để

sửa đổi, bổ sung nội dung này vào BLDS. Theo quan điểm của tác giả luận

văn, pháp luật dân sự Việt Nam nên quy định rõ: Không trao quyền đại diện

cho người vô năng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự.

3.3. Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người

chết để lại

- Về chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng theo quy định tại

khoản 1 Điều 658 BLDS năm 2015: Vì chưa có cơ sở pháp lý nào cho việc

xác định thế nào là "chi phí hợp lý" nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.

Theo tác giả, pháp luật Việt Nam cần có quy định hướng dẫn cụ thể, trong đó

chia thành hai trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Nếu thực hiện nhiều nghĩa vụ tài sản theo quy

định tại Điều 658 BLDS năm 2015 mà toàn bộ di sản vẫn không đủ để thanh

toán thì để đảm bảo cho việc thanh toán các nghĩa vụ cho các chủ nợ khác, chi

phí hợp lý này chỉ nên giới hạn ở những chi phí cần thiết để tổ chức một tang

lễ bình thường theo phong tục tập quán của từng địa phương.

69

Trường hợp thứ hai: Nếu toàn bộ di sản đủ để thực hiện các nghĩa vụ

tài sản của người chết để lại thì chi phí hợp lý cho việc mai táng có thể vượt

mức bình thường theo di nguyện của người chết hoặc theo thỏa thuận của

những người thừa kế.

- Về tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ theo quy định tại khoản 4

Điều 658 BLDS năm 2015: Việc trợ cấp này xuất phát từ tấm lòng từ thiện

của người cho sống nương nhờ nên theo tác giả cần bỏ nghĩa vụ tài sản này ra

khỏi danh sách những nghĩa vụ tài sản phải thanh toán do người chết để lại.

Việc trợ cấp hay không do những người thừa kế tự nguyện thực hiện, không

nên đưa vào thành một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.

- Về thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ tài sản đối với Nhà nước và

các chủ nợ khác theo khoản 7 và khoản 8 BLDS năm 2015: Quan điểm của

tác giả là Nhà nước hay các chủ nợ là cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng như

nhau với tư cách là chủ nợ của người để lại di sản. Do đó, nghĩa vụ tài sản đối

với các chủ nợ này nên được xếp cùng hàng với nhau.

3.4. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di

sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế

* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ cùng hàng:

Vấn đề thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ cùng hàng thì BLDS

năm 2015 chưa quy định cụ thể thứ tự ưu tiên thanh toán cho các chủ nợ cùng

hàng như thế nào. Theo tác giả, để đảm bảo công bằng và hợp lý nhất, thì cần

xác định trên nguyên tắc ưu tiên về thời gian, tức là chủ nợ nào đòi nợ trước

thì được thanh toán trước. Nếu các chủ nợ đòi cùng lúc thì việc thanh toán nợ

được phân định theo nguyên tắc tỉ lệ.

Ví dụ: Sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản ở những hàng trên, di

sản còn lại mà người chết để lại là 100 triệu đồng, trong khi đó có hai khoản

70

nợ chưa thanh toán, trong đó: Nợ A 200 triệu đồng, nợ B 300 triệu đồng. Vậy

nếu tính theo tỉ lệ, A được thanh toán số nợ là: 200/(200+300) x 100 = 40

triệu đồng; B được thanh toán số nợ là: 300/(200+300) x 100 = 60 triệu đồng.

* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản thừa

kế, chủ nợ của người thừa kế trong trường hợp di sản đã được chia:

Trường hợp thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di

sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế trong trường hợp di sản đã được chia

thì có hai hướng giải quyết:

Trường hợp 1: Nếu có người quản lý di sản (theo quy định tại các

khoản 1, 2 Điều 616 BLDS năm 2015) thì di sản của người chết để lại chỉ

được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản cho chủ nợ của người đó, chủ nợ

của người thừa kế không được phép thanh toán và ngược lại.

Trường hợp 2: Nếu không có người quản lý di sản thì khi di sản thừa

kế và tài sản của người thừa kế trộn lẫn với nhau và không thể phân định,

chia, tách được thì các chủ nợ có quyền yêu cầu người thừa kế kê biên và bán

các tài sản đó để thu hồi nợ.

3.5. Về di sản dùng vào việc thờ cúng

Nhằm đảm bảo và tôn trọng ý chí của người để lại di sản, đồng thời để

phù hợp với truyền thống văn hóa của nước ta, pháp luật hiện hành đã quy

định người lập di chúc có thể dành "một phần" tài sản của mình dùng vào việc

thờ cúng sau khi người đó chết theo Điều 645 BLDS năm 2015. Tuy nhiên,

hiểu thế nào là "một phần" di sản dùng vào việc thờ cúng thì chưa có văn bản

pháp luật nào quy định, dẫn đến khi giải quyết việc phân chia di sản chưa có

sự thống nhất trong việc xác định phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Việc

quy định như trên cũng xâm phạm quyền tự định đoạt của người để lại di sản.

Có ý kiến cho rằng, xác định "một phần tài sản trong khối di sản" là

một phần tài sản trong một tài sản cụ thể, độc lập với các tài sản khác. Ví dụ:

71

Khi người lập di chúc định đoạt tài sản là một ngôi nhà, thì người này chỉ

được dành một phần của ngôi nhà mà không được để lại toàn bộ ngôi nhà để

thờ cúng.

Ý kiến khác lại cho rằng, xác định "một phần tài sản trong khối di

sản" là một phần tài sản của toàn bộ khối di sản mà người chết để lại, chứ

không phải của một tài sản độc lập. Như vậy, ở ví dụ trên, người lập di chúc

có thể định đoạt toàn bộ ngôi nhà dùng vào việc thờ cúng.

Bởi sự thiếu thống nhất như trên, nên theo tác giả luận văn, pháp luật

không nên sử dụng cụm từ "một phần" khi quy định về việc người lập di chúc

được quyền dành di sản cho việc thờ cúng. Pháp luật nên quy định theo

hướng "người lập di chúc có quyền dành tài sản của mình để dùng vào việc

thờ cúng". Điều này đồng thời cũng không làm hạn chế quyền tự do định đoạt

của người lập di chúc.

Về việc ảnh hưởng đến phần di sản của những người thừa kế không

phụ thuộc vào nội dung di chúc, tác giả cho rằng, pháp luật cần quy định rõ

ràng về việc phần di sản dùng vào việc thờ cúng không được xâm phạm vào

phần di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.

Hay nói cách khác, phần di sản thờ cúng phải nhỏ hơn hoặc bằng hiệu số của

tổng số di sản trừ đi phần di sản của những người thừa kế không phụ thuộc

vào nội dung di chúc.

3.6. Về thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân chia di

sản thừa kế

Với những bất cập mà tác giả đã nêu tại mục 2.6, theo quan điểm của

tác giả, nếu vì những lý do khách quan mà người yêu cầu công chứng không

cung cấp được đầy đủ các giấy tờ liên quan đến thủ tục khai nhận hoặc phân

chia di sản thừa kế mà cơ quan công chứng yêu cầu thì các cơ quan công

72

chứng nên tạo điều kiện cho họ làm văn bản cam đoan và tự chịu trách nhiệm

về nội dung cam đoan của mình. Mọi hậu quả pháp lý của việc cam đoan sai

sự thật, người cam đoan phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Những

văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã công chứng dựa

trên việc cam đoan sai sự thật của người thừa kế sẽ vô hiệu một phần hoặc

toàn bộ.

Nội dung kiến nghị trên chỉ có tính khả thi, được bảo đảm thực hiện

trên thực tế khi pháp luật quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các cơ

quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện.

3.7. Về điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết"

Như đã phân tích ở mục 2.7, hiện nay có hai luồng quan điểm khác

nhau về điều kiện người thừa kế "phải thành thai trước khi người để lại di

sản chết".

Quan điểm thứ nhất, điểu kiện trên áp dụng cho cả người thừa kế theo

pháp luật và người thừa kế theo di chúc.

Quan điểm thứ hai, điều kiện trên chỉ áp dụng cho người thừa kế theo

pháp luật.

Theo tác giả, quan điểm thứ hai là hợp lý. Bởi trên thế giới, có nhiều

bản di chúc mà cá nhân được chỉ định hưởng thừa kế chưa thành thai trước

khi người để lại di sản chết nhưng vẫn được thừa nhận là có hiệu lực. Điển

hình là bản di chúc của Alfred Bernhard Nobel (1833-1896) - nhà bác học nổi

tiếng thế giới về nghiên cứu và chế tạo thuốc nổ ở thế kỷ XIX. Ông đã viết ba

bản di chúc vào các năm 1889, 1893, 1895 về việc xử lý số tài sản của ông

sau khi ông qua đời. Trong bản di chúc cuối cùng, ông viết: "Toàn bộ tài sản

đó được chuyển thành tiền mặt, người thừa hành của tôi sẽ đầu tư vào chứng

khoán một cách an toàn và cấu thành một loại quỹ. Lợi nhuận của quỹ được

73

chia thành 5 phần bằng nhau để thưởng cho những người có cống hiến lớn

nhất đối với lợi ích của nhân loại trong năm trước đó, bao gồm: Người có

phát hiện hoặc phát minh quan trọng nhất về lĩnh vực Vật lí; Người có phát

hiện hoặc cải tiến quan trọng nhất về lĩnh vực Hóa học; Người có phát hiện

quan trọng nhất trong lĩnh vực Sinh lí hoặc Y học; Người từng sáng tác tác

phẩm văn học kiệt xuất nhất theo khuynh hướng chủ nghĩa lí tưởng; Người

từng có cống hiến lớn nhất hoặc tốt nhất đối với việc thúc đẩy mối quan hệ

hữu nghị giữa các nước, việc loại bỏ hoặc cắt giảm binh bị, quân đội và trong

các hội nghị hòa bình." Bản di chúc đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới luật

sư và báo chí. Tuy nhiên, cuối cùng, vào ngày 21/5/1898, Quốc vương Thụy

Điển đã tuyên bố bản Di chúc của Nobel có hiệu lực, ngày 29-6-1900, Quốc

hội Thụy Điển đã thông qua Điều lệ giải Nobel. Ngày 10-12-1901, nhân kỷ

niệm 5 năm ngày mất của Nobel, giải Nobel đầu tiên đã được trao. Và từ đó

đến nay, hàng năm giải này luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người trên thế

giới [34]. Như vậy, ngoài phương diện khoa học và danh dự, người được giải

thưởng Nobel còn được coi là người thừa kế theo di chúc có điều kiện đối với

di sản mà Nobel để lại.

Ngoài ra, theo xu thế phát triển vượt bậc của nền y học thế giới, hiện

nay tinh trùng của đàn ông có thể được bảo quản trong ngân hàng tinh trùng

trong nhiều năm. Kể cả khi người chồng đã chết, tinh trùng của người đó có

thể được cấy để thụ thai cho người vợ nhằm duy trì nòi giống. Rõ ràng, đứa

trẻ đó thành thai sau khi người chồng chết nhưng được sinh ra là con đẻ của

người đó.

Vì những lẽ trên, pháp luật thừa kế hiện hành nên bỏ quy định về điều

kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" đối với người thừa kế

theo di chúc là phù hợp với thực tiễn.

74

Kết luận Chương 3

Thừa kế là một quan hệ xã hội phức tạp, vậy nên trong quá trình áp

dụng pháp luật về thừa kế nói chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế

nói riêng không tránh khỏi những vướng mắc, bất cập. Xuất phát từ thực trạng

đó, tại chương 3 của luận văn, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm mục

đích góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về thừa kế,

trong đó có những nội dung có liên quan đến quy định về thỏa thuận phân

chia di sản thừa kế.

75

KẾT LUẬN

Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa truyền thống đạo đức tốt

đẹp, luôn coi trọng và quan tâm đến tình cảm của các thành viên trong gia

đình. Đối với vấn đề phân chia di sản thừa kế, để không làm mất đoàn kết

giữa các thành viên trong gia đình, pháp luật dân sự khuyến khích những

người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản. Đồng thời, để

đảm bảo tính pháp lý của văn bản thỏa thuận phân chia di sản, pháp luật cũng

khuyến khích những người thừa kế thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận

phân chia di sản thừa kế tại cơ quan công chứng.

Nhằm hiểu biết chuyên sâu về vấn đề thỏa thuận phân chia di sản thừa

kế, tác giả luận văn đã tìm tòi và nghiên cứu những nội dung lý luận chung

cùng các quy định pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản. Tác giả cũng

phân tích tình huống áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản trên

thực tiễn để từ đó cũng chỉ ra những điểm thiếu sót, bất cập của pháp luật hiện

hành về vấn đề này. Sau khi nghiên cứu lý luận, quy định chung của pháp luật

về thừa kế và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả đưa ra một số đề

xuất, kiến nghị cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận

phân chia di sản, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế.

76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Tuấn Anh (2007), Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,

Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

2. Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 (1931), Nhà in Ngô Tử Hạ, Hà Nội.

3. Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 (1947), Nhà in Viễn Đệ, Huế.

4. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 quy

định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí

chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng;

phí thẩm định điều kiện hoạt động văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ

công chứng viên, Hà Nội.

5. Bộ Tư pháp (1956), Thông tư số 1742/BNC ngày 18/9/1956 hướng dẫn

một số vấn đề trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế, Hà Nội.

6. Chính phủ (1950), Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5 của Chủ tịch Nước về việc

sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật.

7. Chính phủ (1998), Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về

đăng ký hộ tịch, Hà Nội.

8. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy

định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia

đình, Hà Nội.

9. Chính phủ (2015), Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp

bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và

chứng thực hợp đồng, giao dịch, Hà Nội.

10. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho

đào tạo sau đại học), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

11. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân

sự Việt Nam, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

77

12. Hội đồng Nhà nước (1990), Pháp lệnh Thừa kế, Hà Nội.

13. Lê Đình Nghị (2011), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Giáo dục,

Hà Nội.

14. Phan Văn Nghĩa (2015), Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp

luật Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

15. Hạp Thị Như Nguyệt (2017), Di sản thừa kế - những vấn đề lý luận và

thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.

16. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.

17. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

18. Quốc hội (2010), Luật Nuôi con nuôi, Hà Nội.

19. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.

20. Quốc hội (2013), Luật Đất đai, Hà Nội.

21. Quốc hội (2014), Luật Công chứng, Hà Nội.

22. Quốc hội (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.

23. Quốc hội (2014), Luật Nhà ở, Hà Nội.

24. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

25. Quốc hội (2017), Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội.

26. Phùng Trung Tập (2001), "Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên

hệ với di sản thừa kế", Tạp chí Luật học, 01/2001, tr. 47-51.

27. Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam

từ năm 1945 đến nay, NXB Tư pháp, Hà Nội.

28. Nguyễn Thị Thương Thủy (2014), Di sản thờ cúng theo pháp luật Việt

Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,

Hà Nội.

29. Tòa án nhân dân tối cao (1968), Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968

về tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn đường lối xét xử việc tranh chấp

thừa kế, Hà Nội.

78

30. Tòa án nhân dân tối cao (1981), Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981

hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Hà Nội.

31. Trung tâm Từ điển học VIETLEX (2013), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà

Nẵng, Đà Nẵng.

32. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật

học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

33. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam

tập I, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

34. Nguyễn Thành Tuệ (2006), "Di chúc của Nobel", Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội.

35. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2017), Quyết định số 20/2017/QĐ-

UBND ngày 01/6/2017 về việc ban hành Quy định về hạn mức giao đất;

hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối

thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành

phố Hà Nội, Hà Nội.

36. Nguyễn Thị Vĩnh (1996), Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.

79