ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHAN THU TRANG
THáA THUËN PH¢N CHIA DI S¶N THõA KÕ
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số : 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phương
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật -
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét
để cho tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phan Thu Trang
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tất
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA 7
THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế" 7
1.2. Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10
1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 10
1.2.2. Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 28
1.2.3. Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 30
1.2.4. Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có 31
hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
1.3. Một số vấn đề pháp lý khác 32
1.3.1. Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 32
1.3.2. Thủ tục phân chia di sản thừa kế 41
1.3.3. Giá trị pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 45
Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỎA 48
THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ HIỆN NAY
2.1. Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận 52
phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người
nước ngoài đang ở nước ngoài)
2.2. Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia 56
di sản thừa kế
2.3. Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người 57
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
2.4. Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của chủ 59
nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế
2.5. Di sản dùng vào việc thờ cúng 62
2.6. Thực hiện thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân 63
chia di sản thừa kế
2.7. Điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" 64
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN 66
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN PHÂN
CHIA DI SẢN THỪA KẾ
3.1. Về công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam của người 66
nước ngoài
3.2. Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế 67
3.3. Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người 69
chết để lại
3.4. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di 70
sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế
3.5. Về di sản dùng vào việc thờ cúng 71
3.6. Về thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân chia di 72
sản thừa kế
3.7. Về điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" 73
KẾT LUẬN
76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
77
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự
HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
UBND : Ủy ban nhân dân
VPCC : Văn phòng công chứng
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
bảng
2.1 Phí công chứng tính theo giá trị di sản 45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân sự
Việt Nam và luôn được pháp luật quan tâm, bảo hộ. Chế định này điều chỉnh
mối quan hệ xã hội phổ biến và gần gũi đối với nhân dân. Nhận thức được vai
trò đặc biệt đó của thừa kế, từ những ngày đầu dựng nước, pháp luật về thừa
kế đã được ghi nhận trong nhiều quy định như trong chương "Điền sản" của
Bộ Quốc triều Hình luật dưới triều vua Lê Thái Tổ. Sau Cách mạng tháng
Tám năm 1945, trải qua nhiều biến cố lịch sử, các quy định về thừa kế đã
được ghi nhận, mở rộng và phát triển qua các văn bản pháp luật, như: Hiến
pháp năm 1959 (Điều 19: "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo vệ quyền thừa
kế tài sản tư hữu của công dân"), Hiến pháp năm 1980 (Điều 27: "Nhà nước
bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân"), Hiến pháp năm 1992 (Điều 58:
"Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân"),
Hiến pháp năm 2013 (Điều 32: "Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được
pháp luật bảo hộ"); Pháp lệnh thừa kế năm 1990... Và sự ra đời của Bộ luật
Dân sự (BLDS) qua các năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đã đánh dấu
những bước tiến lớn của pháp luật Việt Nam về thừa kế.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và thực hiện theo cơ chế thị trường,
con người được lao động trong những điều kiện làm việc tốt hơn, vì thế khối
tài sản mà họ tích lũy được nhờ sức lao động của mình ngày một lớn. Về
mặt tâm lý, bất kỳ ai cũng luôn mong muốn có quyền sở hữu đối với tài sản
của mình khi còn sống, kể cả trước khi chết, họ vẫn muốn chi phối chúng.
Tài sản mà một người sở hữu khi còn sống sẽ trở thành di sản khi người đó
chết và được phân chia cho những người thừa kế. Nhìn chung, pháp luật của
các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, việc phân chia di sản này
1
có thể được thực hiện theo ý chí của người chết (theo di chúc) hoặc theo quy
định của pháp luật.
Hiện nay, các tranh chấp về thừa kế có xu hướng gia tăng và ngày
càng phức tạp. Các tranh chấp đó phần lớn là giữa những thành viên trong gia
đình với nhau, bởi vậy ảnh hưởng không nhỏ tới truyền thống đạo đức tốt đẹp
của dân tộc ta. Cách tối ưu nhất để giảm thiểu tình trạng trên đó là những
người thừa kế tự thỏa thuận được về việc phân chia di sản. Việc thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế không chỉ tiết kiệm được thời gian, chi phí mà còn
duy trì được truyền thống văn hóa của người Việt Nam.
Pháp luật dân sự nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên,
song việc thỏa thuận này phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Đối với
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, nội dung và hình thức của nó cần phải
bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Hiện nay, pháp luật đã có những quy định tương đối chi tiết và tiến bộ
hơn liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế so với trước đây, nhưng
do tính chất phức tạp của quan hệ thừa kế mà thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn
còn những hạn chế, chưa dự trù hết được những tình huống phát sinh trên thực tế
nên việc thỏa thuận phân chia di sản không tránh khỏi bất cập, hạn chế.
Do vậy, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về thừa kế nói chung
và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng, để phát hiện những bất cập
trong việc áp dụng và đưa ra những đề xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện,
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thừa kế là rất cần thiết.
Vì những lẽ trên, tác giả lựa chọn đề tài "Thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế theo pháp luật Việt Nam" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thừa kế là chế định pháp luật phức tạp, có lịch sử hình thành và phát
triển lâu dài, thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học pháp lý.
2
Liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, có một
số sách chuyên khảo nổi tiếng, có thể kể đến như: "Bình luận khoa học về
thừa kế trong luật dân sự" của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện; "Luật thừa kế Việt
Nam - Bản án và bình luận bản án" của Tiến sĩ Đỗ Văn Đại; "Hỏi đáp về
pháp luật thừa kế" của Luật sư Trần Hữu Bền và Tiến sĩ Đinh Văn Thành;
"Luật Dân sự Việt Nam - Bình giải và áp dụng Luật Thừa kế" của Tiến sĩ
Phùng Trung Tập; "Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận
và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Minh Tuấn...
Vấn đề thừa kế còn được nghiên cứu trong các luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, tiêu biểu là: đề tài "Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt
Nam từ năm 1945 đến nay" của Phùng Trung Tập; đề tài "Thừa kế theo di
chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam" của Phạm Ánh Tuyết; đề tài
"Cơ sở lý luận và thực tiễn của những quy định chung về thừa kế trong Bộ luật
dân sự" của Nguyễn Minh Tuấn; đề tài "Thừa kế theo pháp luật của cháu,
chắt theo quy định của pháp luật Việt Nam" của Lê Đức Bền; đề tài "Thừa kế
theo pháp luật trong Bộ luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Thị Vĩnh;...
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan được đăng trên các tạp chí
như: Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên
cứu lập pháp, Tạp chí Luật học, …
Các công trình nghiên cứu kể trên có giá trị rất lớn trong cả khoa học
lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, vấn đề "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"
chỉ được nêu ra ở mức độ khái quát, chưa được phân tích một cách toàn diện
và đầy đủ. Vậy nên, việc nghiên cứu để có định hướng đề xuất cho các quy
định của pháp luật về vấn đề này là hết sức cần thiết.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm làm rõ các nội dung, cơ sở
lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế. Trên cơ sở phân tích các quy định và thực
3
tiễn áp dụng, tác giả chỉ ra những bất cập, tồn tại để từ đó đưa ra những đề
xuất, kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế.
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, tác giả tập trung nghiên cứu các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế như: BLDS năm 2015, Luật Công chứng 2014, Luật Hôn nhân và
gia đình (HN&GĐ) năm 2014; Luật Đất Đai năm 2013, …và một số văn bản
hướng dẫn thi hành luật. Nội dung luận văn giới hạn trong vấn đề lý luận về
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được pháp luật Việt Nam quy định.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, luận văn tập trung
nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận liên quan đến quy định về thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế, bao gồm: khái niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và các vấn
đề pháp lý khác có liên quan.
Thứ hai, nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hiện nay.
Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị, đề xuất để thực hiện hiệu quả quy
định của pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình nghiên cứu,
tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, tác giả đặt các vấn đề về thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế trong mối liên hệ mật thiết với nhau, không
phân tích riêng lẻ.
4
Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử
dụng trong luận văn để làm rõ các quy định của pháp luật về thừa kế nói
chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng.
Phương pháp đánh giá, so sánh: Những phương pháp này được tác giả
vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét về tính hợp lý của các quy định của pháp
luật hiện hành, từ đó so sánh với các quy định đã hết hiệu lực.
Phương pháp quy nạp, diễn dịch: Những phương pháp này được áp
dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế, đặc biệt là trong phần các đề xuất, kiến nghị. Ví dụ, khi nêu ra
những kiến nghị mang tính khái quát, tác giả dùng phương pháp diễn dịch để
làm rõ lý do tại sao đưa ra kiến nghị đó…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài này giúp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên
quan đến thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, từ đó góp phần vào
việc hoàn thiện hơn ngành khoa học luật trong lĩnh vực dân sự nói chung và
trong lĩnh vực thừa kế nói riêng.
Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc hệ thống hóa các
quy định của pháp luật về thừa kế và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế,
phân tích hiệu quả điều chỉnh các quy định đó trong thực tiễn, phát hiện
những bất cập, tồn tại và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp
luật về thừa kế ở Việt Nam.
Ngoài ra, tác giả cũng mong muốn luận văn sẽ trở thành một tài liệu
tham khảo hữu ích đối với các bạn sinh viên hay học viên đang nghiên cứu về
chế định thừa kế. Bên cạnh đó, những kiến nghị hoàn thiện pháp luật mà tác
giả nêu trong luận văn hi vọng sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức
năng trong phạm vi, thẩm quyền của mình xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ
sung, hoàn thiện pháp luật về thừa kế.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế hiện nay.
Chương 3: Một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định
pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
1.1. Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế"
* Khái niệm "di sản thừa kế":
Có nhiều cách hiểu về di sản thừa kế. Nhưng đến nay, vẫn chưa có
một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về di sản thừa kế.
Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học, di sản thừa kế là tài sản của
người chết để lại cho người còn sống kể từ thời điểm mở thừa kế [32, tr. 50].
Theo tác giả Phan Văn Nghĩa, di sản thừa kế là "toàn bộ tài sản có giá
trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu
truyền nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác" [14, tr. 7]. Vậy, theo quan
điểm này, di sản thừa kế không chỉ bao gồm các tài sản có giá trị vật chất
hoặc tinh thần mà còn bao gồm các nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại.
Dưới góc độ pháp lý, di sản thừa kế cũng được cụ thể hóa tại Điều 612
BLDS năm 2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của
người chết trong tài sản chung với người khác" [24, Điều 612]. Theo tinh thần
của BLDS năm 2015, khi một cá nhân chết đi có di sản để lại và có các nghĩa vụ
chưa được thực hiện thì phần di sản của người chết để lại sẽ được sử dụng để
thanh toán các nghĩa vụ đó trước, phần còn lại mới chia cho những người thừa kế.
Tựu chung lại, di sản thừa kế có thể hiểu là toàn bộ tài sản thuộc
quyền sở hữu của người chết được chuyển dịch cho những người thừa kế hợp
pháp của họ sau khi đã thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu có) mà người
chết chưa thực hiện được.
* Khái niệm "phân chia di sản thừa kế":
Theo nghĩa kỹ thuật, phân chia là tập hợp các hoạt động nhằm chấm
dứt tình trạng có quyền chung của nhiều người trên một hoặc nhiều tài sản.
7
Trong quan hệ thừa kế, việc phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất
từ hai người thừa kế trở lên đối với di sản mà người chết để lại. Bởi nếu chỉ
có một người thừa kế, người này có quyền thừa kế toàn bộ số di sản thừa kế
mà không phải phân chia số di sản đó với ai khác.
Việc phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng thỏa thuận
hoặc do Tòa án thực hiện khi xảy ra tranh chấp về di sản thừa kế giữa các
đương sự. Mục đích của việc phân chia di sản thừa kế là để chấm dứt tình
trạng sở hữu chung theo phần giữa những người thừa kế đối với di sản đó.
Như vậy, phân chia di sản thừa kế có thể hiểu là tập hợp các hoạt
động nhằm xác lập quyền sở hữu của mỗi người thừa kế đối với phần di sản
mà họ có quyền hưởng trong khối di sản chung sau khi đã thanh toán các
nghĩa vụ về tài sản (nếu có), chấm dứt tình trạng nhiều chủ thể cùng có quyền
sở hữu di sản do người chết để lại.
* Khái niệm "thỏa thuận phân chia di sản thừa kế":
Thỏa thuận là việc các bên chủ thể đồng ý với nhau về điều gì đó liên
quan đến họ sau khi đã bàn bạc, trao đổi [31, tr. 1220].
Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân
sự - hợp đồng dân sự giữa các chủ thể là những người thừa kế của người để
lại di sản.
Từ đó, có thể rút ra, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một hợp
đồng dân sự giữa những người thừa kế về việc chấm dứt tình trạng sở hữu
chung đối với di sản thừa kế sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (nếu
có) từ phần di sản do người chết để lại.
* Ý nghĩa của sự thỏa thuận:
Trên thực tế, việc phân chia di sản thừa kế thông thường được thực
hiện thông qua sự thỏa thuận giữa những người thừa kế. Chỉ trong trường hợp
những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau thì họ mới yêu cầu
phân chia di sản tại Tòa án và đó thường là những tranh chấp có tính chất
8
phức tạp. Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án có thể có những hệ lụy và
nhược điểm sau đây:
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án ảnh hưởng đến tình cảm của
các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người dân ở các nước Á Đông như
Việt Nam.
- Danh dự của cả gia đình có thể bị ảnh hưởng. Ví dụ bố hoặc mẹ mới
chết mà anh, chị, em đã tranh chấp tài sản được bố, mẹ để lại tại Tòa án sẽ
khiến hàng xóm láng giềng dị nghị, đàm tiếu.
- Việc giải quyết tranh chấp di sản thừa kế tại Tòa án kéo dài, phát
sinh nhiều chi phí và tốn nhiều công sức hơn so với việc tự thỏa thuận. Một
vụ án có thể kéo dài đến nhiều tháng, năm, đặc biệt là những vụ việc phức tạp
có thể được giải quyết qua nhiều cấp khác nhau.
- Chi phí để giải quyết một vụ án về thừa kế bao gồm: án phí, chi phí
thuê luật sư, chi phí đi lại, chi phí đi xác minh, thu thập chứng cứ… trong đó,
án phí được xác định theo % giá trị tài sản tranh chấp, tài sản có giá trị càng
lớn thì án phí cho vụ án đó càng cao.
- Việc phân chia di sản thừa kế tại Tòa án sẽ phải thực hiện theo đúng
trình tự, thủ tục cụ thể mà pháp luật quy định. Trình tự, thủ tục này khá rườm
rà, gây phiền hà cho các bên tranh chấp mà các bên không thể tự thỏa thuận
cắt giảm hoặc bỏ qua.
Rõ ràng, việc những người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc
phân chia di sản có nhiều ưu điểm hơn so với biện pháp giải quyết việc phân
chia di sản thừa kế tại Tòa án, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Giữ được tình cảm đoàn kết, yêu thương, gắn bó giữa các thành viên
trong gia đình.
- Thỏa thuận phân chia trên cơ sở tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Những
người thừa kế có hoàn cảnh kinh tế khá hơn có thể tặng cho một phần hoặc
toàn bộ phần di sản mà mình được hưởng cho người thừa kế còn lại.
9
- Nếu những người thừa kế thỏa thuận được việc phân chia di sản thì
sẽ mất ít thời gian hơn với việc giải quyết tại Tòa án. Bởi họ chỉ cần thống
nhất nội dung phân chia, sau đó nếu có nhu cầu thì những người thừa kế yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền công chứng/chứng thực văn bản đó.
- Chi phí phát sinh trong trường hợp thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế ít hơn so với việc phân chia di sản tại Tòa án.
- Thủ tục công chứng/chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế nhanh chóng và ít phức tạp hơn so với thủ tục phân chia di sản thừa
kế tại Tòa án.
Từ những ưu điểm trên, có thể thấy, phương án tối ưu nhất đối với
việc phân chia di sản là thỏa thuận phân chia di sản giữa những người thừa kế.
1.2. Điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Về bản chất, thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là một giao dịch dân
sự giữa những người thừa kế với nhau. Vì thế, để thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế có hiệu lực thì phải đáp ứng các điểu kiện có hiệu lực của giao dịch
dân sự được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm các điều kiện
về chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức của thỏa thuận.
1.2.1. Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền và
nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong đó có quyền thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế.
* Tư cách chủ thể của người thừa kế:
Theo nguyên lý chung, khi tham gia vào các giao dịch dân sự, các chủ
thể phải có đủ tư cách chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự. Tuy nhiên, pháp luật thừa kế không đặt ra điều kiện về tư cách
chủ thể đối với người thừa kế vì các lý do sau:
- Di sản mà người thừa kế thực chất được hưởng là số tài sản còn lại
sau khi thanh toán các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại (nếu có).
10
Người thừa kế có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ này nhưng không vượt
quá phần tài sản mà họ nhận được. Nếu người thừa kế không có hoặc chưa có
đủ năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ (cha, mẹ
hoặc người giám hộ) sẽ đại diện cho họ dùng phần tài sản đó để thực hiện
nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại (nếu có). Vậy nên, không yêu cầu về
mặt năng lực chủ thể đối với người thừa kế.
- Người chưa thành niên hay người mất năng lực hành vi dân sự có thể
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thông qua người đại diện theo pháp luật.
Việc quản lý tài sản của những đối tượng này cũng do người đại diện theo
pháp luật của họ thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ theo quy định của pháp
luật để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ.
- Người có quyền thừa kế vắng mặt tại nơi cư trú hoặc bị Tòa án tuyên
bố là mất tích thì việc quản lý tài sản của những người này sẽ được thực hiện
theo quy định tại Điều 65 và Điều 69 BLDS năm 2015.
Nếu như người đại diện theo pháp luật của người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi có quyền đại diện cho họ thỏa thuận về việc phân
chia di sản thừa kế, thì theo quy định pháp luật hiện hành, người quản lý tài
sản của người vắng mặt hoặc mất tích không chắc có quyền đại diện cho
những người này trong việc thỏa thuận phân chia di sản mà họ được hưởng.
- Tương tự như quyền sở hữu, quyền thừa kế là một quyền tuyệt đối.
Trong quyền sở hữu, người có tài sản một cách hợp pháp thì dù có năng lực
hành vi hay không, người đó vẫn là chủ sở hữu tài sản. Trong quan hệ thừa kế
cũng vậy, người được hưởng di thừa kế di sản do người chết để lại thì bất luận
có hay không năng lực hành vi thì họ vẫn có quyền hưởng thừa kế.
Tóm lại, người thừa kế nói chung khi đáp ứng được các điều kiện mà
pháp luật quy định thì họ sẽ có quyền hưởng di sản mà không bắt buộc phải
có năng lực chủ thể.
11
* Chủ thể thỏa thuận phân chia di sản thừa kế hoàn toàn tự nguyện:
Đây là nguyên tắc quan trọng được quy định tại Điều 3 BLDS năm
2015: Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Bản chất của thỏa thuận là sự
thống nhất ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện. Vì
vậy, bất kỳ giao dịch dân sự nào thiếu sự tự nguyện của các bên sẽ không làm
phát sinh hậu quả pháp lí.
1.2.1.1. Người thừa kế theo di chúc
Di chúc là "sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của
mình cho người khác sau khi chết" [24, Điều 624]. Di chúc thể hiện ý chí đơn
phương của người lập di chúc, là hành vi pháp lý đơn phương. Ý chí đơn
phương của người lập di chúc được thể hiện ở việc người lập di chúc có toàn
quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho
ai bao nhiêu phần trong số tài sản thuộc sở hữu của mình mà không phụ thuộc
vào việc người được hưởng thừa kế có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi
dưỡng hoặc thân thích với người lập di chúc hay không.
Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân (người trong hàng thừa
kế/ngoài hàng thừa kế) hoặc không phải là cá nhân (cơ quan/tổ chức).
* Người thừa kế theo di chúc là cá nhân:
Điều 613 BLDS năm 2015 quy định: "Người thừa kế là cá nhân phải là
người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết" [24, Điều 613].
Theo quy định của điều luật trên, cá nhân chỉ có thể trở thành người
thừa kế khi người đó thuộc một trong hai trường hợp sau:
Thứ nhất, phải là người "còn sống vào thời điểm mở thừa kế".
Đặc trưng cơ bản của chế định thừa kế chính là sự tiếp nối quyền sở
hữu tài sản từ người đã chết sang người còn sống nên người tiếp nhận quyền
sở hữu tài sản đương nhiên phải là người "còn sống" vào "thời điểm mở thừa
kế". Có một số trường hợp tuy là một người đã chết trên thực tế nhưng họ lại
còn sống vào thời điểm mở thừa kế.
12
Mặt khác, cũng có trường hợp, người thừa kế không hiện diện vào
thời điểm mở thừa kế do mất tích nhưng người đó chưa được Tòa án tuyên bố
là đã chết nhưng ngày được coi là đã chết của họ được xác định sau ngày mở
thừa kế thì họ vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và có quyền
hưởng di sản. Nếu người thừa kế bị tuyên bố đã chết trước thời điểm mở thừa
kế mà sau này họ còn sống và quay trở về trước khi di sản được phân chia thì
người này được coi là còn sống và có quyền hưởng di sản nhưng họ phải yêu
cầu Tòa án hủy quyết định tuyên bố chết đối với mình.
Thứ hai, phải được "sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết".
Pháp luật dân sự bảo hộ quyền thừa kế của thai nhi nhưng thai nhi
phải thành thai trước khi người để lại di sản chết và còn sống sau khi được
sinh ra. Một cá nhân chưa được sinh ra thì chưa phải là chủ thể của quan hệ
pháp luật dân sự, nhưng pháp luật lại quy định bảo lưu quyền thừa kế của thai
nhi với hai điều kiện trên. Quy định này nhằm bảo vệ quyền của người con đã
thành thai trước khi người cha/mẹ chết và còn sống sau khi chào đời.
Hiểu thế nào là "sinh ra và còn sống" là một vấn đề tương đối nhạy
cảm. Vì việc xác định ranh giới giữa "sinh ra và còn sống" với "sinh ra và
chết" đôi khi chỉ là một khoảnh khắc nhất định. Hai tình trạng này lại dẫn tới
hai hậu quả pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Để xác định tình trạng "còn sống" hay "đã chết" của một đứa trẻ sinh
ra rồi chết cần căn cứ vào các quy định của pháp luật. Trước đây, Nghị định
83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch quy định:
- Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết, thì cũng phải
đăng ký khai sinh theo quy định của Nghị định này, nếu chết trước khi sinh
(chết lưu) hoặc sinh ra mà sống chưa được 24 giờ, thì không phải đăng ký
khai sinh [7, Điều 20].
- Trẻ em sinh ra mà còn sống được 24 giờ trở lên rồi mới chết thì vừa
phải đăng ký khai sinh, vừa phải đăng ký khai tử [7, Điều 29].
13
Về quyền được khai sinh, khai tử của cá nhân, khoản 3 Điều 30 BLDS
năm 2015 quy định: Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên
mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai
mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ
đẻ có yêu cầu [24, khoản 3 Điều 30].
Như vậy, theo tinh thần của pháp luật hiện hành, một đứa trẻ sau khi
sinh ra mà còn sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên rồi mới chết thì được
coi là "sinh ra và còn sống" và đứa trẻ trở thành người thừa kế, có quyền
hưởng di sản mà người cha/mẹ để lại. Tuy nhiên, khi đứa trẻ sinh ra đã chết
thì phần di sản đó sẽ được chia cho những người thừa kế của chúng. Với đứa
trẻ sinh ra mà chết ngay hoặc chỉ sống được dưới hai mươi bốn giờ thì không
được nhận di sản thừa kế.
Vấn đề là phải "thành thai trước khi người để lại di sản chết" nhằm
xác định mối quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản.
Khoản 1 Điều 88 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong
thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
- Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt
hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là
con chung của vợ chồng [22, khoản 1 Điều 88].
Nguyên tắc suy đoán pháp lý được áp dụng khi xác định cha, mẹ, con.
Nghĩa là, khi người vợ mang thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn nhân, người
vợ không cần phải chứng minh chồng mình có phải là cha đứa trẻ hay không
mà pháp luật mặc nhiên thừa nhận đứa trẻ là con chung của vợ chồng. Trên
thực tế, có nhiều trường hợp người vợ có thai hoặc sinh con trong thời kỳ hôn
nhân nhưng chưa chắc con đã có cùng huyết thống với người chồng. Vậy nên,
tư cách cha, mẹ, con có thể được xem xét lại.
14
Trường hợp hai vợ chồng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc
xác định cha, mẹ, con vẫn được thực hiện theo quy định đã nêu ở trên.
Trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản thì người này là mẹ của đứa trẻ ngay cả khi đứa trẻ đó không mang huyết
thống với họ.
Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ, con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ
được sinh ra mặc dù có cùng mã gen.
Với trường hợp con được sinh ra do mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo, thì là con chung của vợ, chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con
được sinh ra.
Có thể thấy, nếu như trước đây, quan hệ huyết thống là căn cứ vững
chắc nhất để xác định cha, mẹ, con thì trong xu thế phát triển hiện đại của xã
hội, huyết thống không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ, con trong mọi
trường hợp. Vì thế, không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống thì người
con mới được thừa hưởng di sản thừa kế của cha, mẹ.
* Người thừa kế theo di chúc không là cá nhân:
Những chủ thể không là cá nhân (cơ quan/tổ chức) cũng có quyền
hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng phải "tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế". Trường hợp người thừa kế là pháp nhân, khi xác định tình trạng tồn tại
hay không tồn tại thì cần xét đến các trường hợp khác nhau. Theo quy định tại
Điều 96 BLDS năm 2015, pháp nhân chấm dứt tồn tại trong các trường hợp:
hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi hình thức, giải thể, phá sản pháp nhân.
Nếu vào thời điểm mở thừa kế, pháp nhân đã bị giải thể hoặc phá sản
thì được coi là chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại và không thể trở thành người
thừa kế. Phần di sản đáng lẽ pháp nhân đó được hưởng theo di chúc sẽ được
chia cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản.
15
Trong trường hợp pháp nhân chấm dứt tồn tại do hợp nhất, sáp nhập,
chia, chuyển đổi hình thức thì có hai quan điểm đối lập nhau về tình trạng
"tồn tại" theo quy định của pháp luật về thừa kế, cụ thể như sau:
Quan điểm thứ nhất, việc pháp nhân hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển
đổi hình thức chỉ là các hình thức cải tổ pháp nhân, là thay đổi sự tồn tại của
pháp nhân từ phương thức này sang phương thức khác. Theo quy định tại các
Điều 88, 89, 90, 92 BLDS năm 2015 thì quyền và nghĩa vụ của pháp nhân cũ
sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới, trong đó bao gồm cả quyền thừa kế.
Quan điểm thứ hai, các trường hợp trên là những căn cứ để chấm dứt
pháp nhân. Khi một pháp nhân đã bị hợp nhất, sáp nhập, chia, chuyển đổi
hình thức thì được coi là không còn tồn tại nữa. Pháp nhân chấm dứt tồn tại
trước thời điểm mở thừa kế không có quyền hưởng thừa kế theo di chúc.
* Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:
Pháp luật dân sự Việt Nam trao quyền tự định đoạt cho cá nhân trong
việc lập di chúc để lại tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bất kỳ ai được
hưởng sau khi người đó chết. Một người được tự do lập di chúc cho người
khác hưởng tài sản của mình nhưng cũng có quyền truất quyền hưởng di sản
của người thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, sự "tự do" định đoạt đó của cá
nhân để lại di sản vẫn phải nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật.
Điều 644 BLDS năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung di chúc như sau:
1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp
luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản
hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.
16
2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối
nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền
hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này [24, Điều 644].
Để được hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, người
thừa kế quy định tại Điều 644 nêu trên phải đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, những người này phải là những người mà người lập di chúc
không cho họ hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba
suất của một người thừa kế theo pháp luật (hai phần ba một suất theo pháp
luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật).
Thứ hai, không thuộc trường hợp những người từ chối nhận di sản
theo quy định tại Điều 620 BLDS năm 2015.
Thứ ba, không thuộc trường hợp những người không có quyền hưởng
di sản theo quy định tại Điều 621 BLDS năm 2015.
Về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc mà là con
chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động thì
việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ thông qua vai trò của người đại
diện hợp pháp. Lưu ý là người đại diện hợp pháp của những người này không
được phép tặng cho phần di sản của người mà mình đại diện được hưởng.
* Người được di tặng:
Tài sản dùng để di tặng là phần tài sản trong khối tài sản mà người
chết để lại, được chỉ định trong di chúc là dành phần di sản đó tặng cho người
nhất định.
Người được di tặng cũng phải đáp ứng các điều kiện chung về người
thừa kế. Người được di tặng có thể là cá nhân hoặc không phải là cá nhân.
Người được di tặng có quyền thỏa thuận phân chia di sản, họ có thể
tặng cho người khác phần di sản mà họ được nhận hoặc nhận phần di sản mà
người khác tặng cho.
17
1.2.1.2. Người thừa kế theo pháp luật
Khác với hình thức thừa kế theo di chúc là sự thể hiện ý chí của người
lập di chúc, có thể định đoạt di sản cho bất kỳ ai, thừa kế theo pháp luật là
thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
* Diện thừa kế:
Đến nay, chưa có khái niệm cụ thể nào về "diện thừa kế" được ghi
nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật nên có nhiều cách hiểu khác
nhau. Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập 1, Trường Đại học Luật Hà
Nội: "Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di
sản thừa kế của người chết theo quy định của pháp luật" [33, tr. 327]. Khái
niệm diện thừa kế còn có thể hiểu là "phạm vi những người có thể được
hưởng di sản do người chết để lại được xác định theo một trong ba quan hệ
(quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng) với người để
lại di sản" [13, tr. 278]. Theo đó, cách hiểu thứ hai hợp lý và cụ thể hơn.
Diện thừa kế theo pháp luật bao gồm những cá nhân còn sống vào thời
điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã
thành thai trước khi người để lại di sản chết, có quan hệ hôn nhân, quan hệ
• Quan hệ hôn nhân:
huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản.
Trước năm 1945, ở nước ta, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ảnh
hưởng sâu sắc tới chế định thừa kế. Địa vị của người phụ nữ trong xã hội và
trong gia đình luôn ở thế yếu, mọi quyết định đều phụ thuộc vào người chồng.
Vì thế, trong quan hệ thừa kế thời kỳ bấy giờ, người vợ không thuộc diện thừa
kế theo pháp luật của người chồng. Hay nói cách khác, quan hệ hôn nhân
không được ghi nhận là cơ sở để xác định diện thừa kế.
Sau năm 1945, pháp luật thừa kế ở nước ta đã có sự tiến bộ vượt trội
khi quyền bình đẳng giữa nam và nữ đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm
1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa: "Đàn bà
18
ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" [16, Điều 9]. Đây là cơ sở
pháp lý vững chắc để xóa bỏ sự bất bình đẳng, những quan điểm cổ hủ mà
trước nay đã tồn tại ở nước ta một thời gian dài dưới chế độ phong kiến, thực
dân, từ đó xây dựng một xã hội mới dân chủ và tiến bộ. Sắc lệnh số 97/SL
ngày 22/5/1950 ra đời đã chính thức ghi nhận mối quan hệ hôn nhân là một
trong những căn cứ để xác định diện thừa kế, trong đó khẳng định vợ và
chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau [6, Điều 11]. Đến nay,
nguyên tắc này vẫn tiếp tục được kế thừa và cụ thể hóa tại các văn bản quy
phạm pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1959, Thông tư số 81 ngày
24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp
về thừa kế, Luật HN&GĐ năm 1986, Pháp lệnh thừa kế năm 1990, Luật
HN&GĐ năm 2000, BLDS năm 2005, Luật HN&GĐ năm 2014 và BLDS
năm 2015.
Đánh giá cao tầm quan trọng của quan hệ hôn nhân và xuất phát từ
mối quan hệ tình cảm gắn bó cùng vun đắp gia đình giữa vợ và chồng, pháp luật
• Quan hệ huyết thống:
thừa kế đã ghi nhận vợ và chồng thuộc diện thừa kế theo pháp luật của nhau.
Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu
về trực hệ hoặc bàng hệ được xác định thông qua sự kiện sinh đẻ.
Theo giải nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, "trực hệ" là quan hệ họ hàng
theo dòng máu trong đó người này sinh ra người kia kế tiếp nhau, bao gồm
ông, cha, con, cháu, … [31, tr. 1354].
Phân biệt với trực hệ, "bàng hệ" được giải thích như sau: Bàng hệ là quan
hệ họ hàng theo dòng bên, tức là không theo dòng trực tiếp, không phải theo quan hệ người này sinh ra người kia, gồm anh, chị, em, chú, bác, cô, … [31, tr. 45].
Từ xưa đến nay, phong tục tập quán của nước ta luôn đề cao quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình. Trong các mối quan hệ đó, quan hệ huyết
thống được coi trọng nhất. Từ xã hội phong kiến đến thời kỳ thực dân, quan
19
hệ huyết thống vẫn giữ vị trí hàng đầu. Việc xét diện thừa kế cũng dựa chủ
yếu vào quan hệ này.
Đến thời kỳ đất nước độc lập, trong những năm đầu của chế độ mới,
diện thừa kế đã được xem xét trên quan hệ huyết thống. Tuy vậy, đối tượng
thuộc diện thừa kế theo quan hệ huyết thống được xét đến trong phạm vi khá
hẹp. Sắc lệnh số 97/SL quy định diện thừa kế theo huyết thống chỉ bao gồm
con, cháu của người chết [6, Điều 10]. Theo quy định của Thông tư số
1742/BNC ngày 18/5/1956 của Bộ Tư pháp, người thuộc diện thừa kế theo
huyết thống gồm: con, cháu, chắt, cha, mẹ của người để lại di sản [5]. Tiếp
đó, Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968 và Thông tư số 81/TANDTC
ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao quy định diện thừa kế theo huyết
thống tiếp tục được mở rộng, gồm: con, cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em của
người để lại di sản. Kể từ khi Pháp lệnh thừa kế năm 1990 ra đời, diện thừa kế
theo pháp luật không chỉ có tất cả những người được xác định theo Thông tư
số 81/TANDTC mà còn bao gồm những người thuộc quan hệ huyết thống
trực hệ và bàng hệ khác, đó là: cụ nội, cụ ngoại, chú, bác, cô, dì, cậu ruột của
người để lại di sản và những người mà người để lại di sản là cô, dì, chú, bác,
cậu ruột [12]. Sau đó là các BLDS ban hành các năm 1995, 2005 và 2015,
diện thừa kế theo pháp luật trên cơ sở quan hệ huyết thống lúc này đã mở rộng
và đầy đủ nhất, góp phần thắt chặt tình cảm các thành viên trong gia đình giữa
• Quan hệ nuôi dưỡng:
các thế hệ và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của cá nhân sau khi chết.
Quan hệ nuôi dưỡng là sự thể hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau
giữa những người thân thuộc trong gia đình theo quy định của pháp luật [27, tr. 92].
Bên cạnh nghĩa vụ nuôi dưỡng của những người có cùng huyết thống với
nhau thì pháp luật còn quy định cụ thể về nghĩa vụ nuôi dưỡng trong quan hệ
giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại, cùng với đó là quan hệ giữa cha
dượng, mẹ kế và con riêng.
20
Trong quan hệ nuôi dưỡng, con nuôi có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ
như con đẻ và được coi là người thừa kế ở hàng thứ nhất của cha, mẹ nuôi.
Việc nuôi con nuôi phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
trừ trường hợp được pháp luật quy định là con nuôi thực tế.
Ngoài ra, quan hệ nuôi dưỡng còn được xét đến trong trường hợp con
riêng và cha dượng, mẹ kế. Theo Điều 654 BLDS năm 2015: "Con riêng và
bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ
con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định
tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này" [24, Điều 654]. Việc quy định như
vậy là hoàn toàn phù hợp với đạo đức xã hội và truyền thống tình cảm của
dân tộc ta.
Tựu chung, ngoài quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, pháp
luật thừa kế không dựa trên mối quan hệ nào khác giữa người thừa kế và
người để lại di sản để xác định diện thừa kế theo pháp luật.
* Hàng thừa kế:
Có thể hiểu, hàng thừa kế là nhóm những người có quan hệ cùng tính
chất gần gũi, thân thích với người để lại di sản, không phân biệt giới tính, độ
tuổi, địa vị xã hội, không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự.
Tại Điều 651 BLDS năm 2015 quy định những người thừa kế theo
pháp luật theo thứ tự sau đây:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh
ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết
mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của
người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại [24, Điều 651].
21
Nguyên tắc chia di sản thừa kế theo pháp luật: Những người ở hàng
thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước
do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ
chối nhận di sản.
Khi chia thừa kế theo pháp luật, những người thừa kế trong cùng một
hàng thừa kế sẽ được hưởng những phần di sản bằng nhau. Trên thực tế, vì lý
do hàng thừa kế thứ ba cơ cấu nhiều thế hệ và bậc trên dưới khác nhau, cả bên
nội và bên ngoại của người để lại di sản, nên rất ít trường hợp những người ở
hàng thừa kế này được hưởng di sản và việc lập hồ sơ đối với họ cũng gặp
nhiều khó khăn hơn, rất dễ xảy ra trường hợp bỏ sót người thừa kế.
* Thừa kế thế vị:
Theo định nghĩa của Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Trường
Đại học Luật Hà Nội, thừa kế thế vị là "thừa kế bằng việc thay thế vị trí để
hưởng thừa kế" [32, tr. 125].
Có thể hiểu, thừa kế thế vị là việc một người thừa kế được hưởng di
sản với tư cách thay vị trí của một người đã chết để nhận phần di sản mà
người đó được hưởng nếu còn sống.
Điều 652 BLDS năm 2015 quy định:
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng
phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống;
nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt
được hưởng nếu còn sống [24, Điều 652].
Theo quy định của pháp luật dân sự nước ta, thừa kế thế vị phải tuân
theo bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thừa kế thế vị không phát sinh trên cơ sở thừa kế theo di chúc.
Nguyên tắc này được hiểu ngắn gọn là thừa kế thế vị chỉ đặt ra đối với
phần di sản chia theo pháp luật mà không phát sinh đối với quan hệ thừa kế
22
theo di chúc. Nói khác đi, con cháu của người chết trước hoặc chết cùng thời
điểm với người để lại di chúc không được thế vị cha, mẹ mình để hưởng di
sản thừa kế theo di chúc. Điều này hoàn toàn hợp lý, phù hợp với nguyên tắc
chung của pháp luật thừa kế là tôn trọng ý chí của người để lại di sản.
Thứ hai, người thừa kế phải là con cháu trực hệ của người chết trước
hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản.
Đây là một nguyên tắc quan trọng bởi chỉ khi xác định được chính xác
chủ thể thế vị thì mới đảm bảo được việc chia thừa kế thế vị chính xác và bảo
đảm được đúng bản chất của thừa kế thế vị. Mối quan hệ thừa kế thế vị trong
pháp luật dân sự Việt Nam được xác định dựa trên quan hệ huyết thống, quan
hệ nuôi dưỡng. Khái niệm "con" ở đây bao gồm cả con đẻ, con nuôi, con
riêng, con trong giá thú và con ngoài giá thú… Cách hiểu khái niệm "cháu"
cũng tương tự như vậy.
Thứ ba, người thừa kế thế vị phải là người còn sống vào thời điểm mở
thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành
thai trước khi người để lại di sản chết.
Đây là nguyên tắc cơ bản bởi như đã phân tích ở trên, thừa kế là sự
dịch chuyển tài sản của người chết sang cho người còn sống. Nếu người thừa
kế không còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau
thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
thì sẽ làm mất đi tính chất và ý nghĩa của việc thừa kế.
Thứ tư, người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần di sản mà bố, mẹ họ
hoặc ông, bà họ được hưởng nếu còn sống.
Người thừa kế thế vị chỉ được hưởng phần mà người được thế vị được
hưởng nếu còn sống. Việc phân chia di sản trong trường hợp có nhiều người
thừa kế thế vị, được thực hiện theo chi chứ không phải theo đầu người [11].
Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam quy định về vấn đề thừa kế thế vị
nhằm bảo vệ trực tiếp quyền lợi của các cháu, chắt của người để lại di sản,
23
tránh tình trạng di sản của ông, bà, các cụ mà cháu, chắt không được hưởng
lại để cho người khác. Mặt khác, quy định này giúp bảo tồn truyền thống và
đạo lí trong quan hệ giữa những người thân thuộc nhất của người để lại di sản.
1.2.1.3. Chủ thể không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
* Người không được quyền hưởng di sản:
Hưởng di sản thừa kế là quyền của công dân được pháp luật bảo hộ.
Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi đó của công dân trong việc hưởng di sản thừa
kế, BLDS năm 2015 đã quy định chế tài nghiêm khắc đối với những người
đáng lẽ được hưởng di sản nhưng họ lại có hành vi trái pháp luật, vi phạm đạo
đức xã hội nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Những người không
có quyền hưởng di sản đương nhiên cũng không có quyền thỏa thuận phân
chia di sản.
Khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 quy định những người sau đây
không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc
về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm
nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế
khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có
quyền hưởng.
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di
sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc,
che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của
người để lại di sản.
Những hành vi nói trên nếu do người thừa kế thực hiện nhằm hưởng
một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản thì người
thừa kế đó không có quyền hưởng di sản do người chết để lại.
24
Mặc dù những người thừa kế không có quyền hưởng di sản khi thực
hiện những hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật như vậy. Tuy nhiên, nếu
người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo
di chúc thì những người này vẫn được hưởng di sản [24, khoản 2, Điều 621].
Quy định về những người không có quyền hưởng di sản không chỉ là
phương thức đảm bảo ý chí của người để lại di sản trước khi chết mà còn là
cách để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế khác.
* Người từ chối nhận di sản
Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật thừa kế là phải tôn
trọng ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ thừa kế, trong đó có ý chí của
người thừa kế. Khi người thừa kế từ chối nhận di sản thừa kế, họ đã tự từ bỏ
quyền thừa kế của mình. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp người thừa
kế từ chối nhận di sản đều được pháp luật công nhận.
Tại Điều 620 BLDS năm 2015 quy định về từ chối nhận di sản như sau:
- Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối
nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
- Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến
người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ
phân chia di sản để biết.
- Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân
chia di sản.
Theo đó, cá nhân có thể từ chối nhận di sản do người khác để lại. Tuy
nhiên, nếu vì trốn tránh thực hiện nghĩa vụ tài sản như: nghĩa vụ trả nợ, nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ cấp dưỡng… thì cá nhân
đó không được phép từ chối.
Quy định của BLDS năm 2015 về từ chối nhận thừa kế có hai điểm
khác biệt so với quy định của BLDS năm 2005, như sau:
25
Thứ nhất, về việc thông báo việc từ chối nhận di sản cho những người
khác có liên quan.
Theo quy định tại BLDS năm 2005, người từ chối nhận di sản có trách
nhiệm thông báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ
phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có
địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản [17, khoản 2, Điều 642],
nhưng lại không quy định về hình thức thông báo. Người từ chối có thể thông
báo bằng văn bản hoặc chỉ bằng miệng. Mà hình thức thông báo bằng miệng
sẽ không có giá trị pháp lý bằng văn bản. Người từ chối nhận di sản hoàn toàn
có thể phủ nhận việc mình đã từ chối nhận di sản trước đó.
Khắc phục tình trạng trên, BLDS năm 2015 đã quy định cụ thể hình
thức thông báo từ chối nhận di sản. Việc từ chối nhận di sản phải được lập
thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác,
người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
Thứ hai, về thời hạn từ chối nhận di sản.
Theo tinh thần của Điều 620 BLDS năm 2015, việc từ chối nhận di sản
được coi là một quyền năng của người được hưởng thừa kế. Tuy nhiên, quyền
năng này phải được người thừa kế thực hiện trước thời điểm phân chia di sản.
Trước đây, việc người thừa kế thực hiện quyền năng trên chỉ được pháp
luật chấp nhận trong sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế [17, khoản 3, Điều 642];
nếu quá thời hạn đó, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ
chối nhận di sản thì việc từ chối không được pháp luật chấp nhận và người đó
buộc phải chấp nhận quyền hưởng thừa kế di sản.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người
thừa kế từ chối nhận di sản trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế.
Người Việt Nam thường có tâm lý ngại, e dè khi nhắc đến việc phân chia di
sản khi có người trong gia đình chết. Do đó, không ít các trường hợp, sau khi
người để lại di sản chết vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra. Khi
26
đó, tranh chấp về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự yêu cầu Tòa án giải
quyết. Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào
vụ việc tranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế
và lúc này họ mới có ý định từ chối nhận di sản. Những người này làm đơn xin
Tòa án trình bày nguyện vọng từ chối nhận di sản. Trường hợp Tòa án chấp
nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản quy định tại Điều 642
BLDS năm 2005. Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ
ràng ý chí định đoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo.
Về bản chất, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định là một
quyền tài sản. Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu của khối
tài sản đó. Theo quy định tại Điều 194 BLDS năm 2015 thì chủ sở hữu có
toàn quyền định đoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức
là có quyền chuyển nhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của
mình [24, Điều 194]. Người thừa kế khi từ chối nhận di sản cũng là lúc họ từ
bỏ quyền năng thừa kế của mình, nên đương nhiên họ không được tham gia
vào việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Khi nghiên cứu về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, các quy định
của pháp luật được phân tích nêu trên là những căn cứ pháp lý giúp chúng ta
khoanh vùng phạm vi những người có quyền thỏa thuận và những người
không có quyền thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Từ đó, việc thỏa thuận
phân chia di sản sẽ được thực hiện một cách có hiệu quả, quyền và lợi ích hợp
pháp của những người thừa kế được bảo hộ.
1.2.1.4. Trường hợp phát sinh người thừa kế mới
Người thừa kế mới được hiểu là người thừa kế của người để lại di sản
xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia, bao gồm:
- Con của người để lại di sản sinh ra và còn sống sau thời điểm di sản
thừa kế được phân chia (trường hợp sinh đôi, sinh ba... nhưng thời điểm phân
chia di sản chỉ xác định thai một).
27
- Người được Tòa án xác nhận là con hoặc cha, mẹ của người để lại di
sản nhưng quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực sau thời điểm phân
chia di sản.
- Con hoặc cha, mẹ của người để lại di sản đã bị Tòa án tuyên bố là đã
chết trước thời điểm người để lại chết nhưng có tin tức xác thực là còn sống
hoặc đã trở về sau thời điểm phân chia di sản.
Nếu di sản được chia cho hàng thừa kế thứ hai hoặc thứ ba, thì người
thừa kế mới ở các hàng thừa kế này cũng được xác định tương tự như trên.
Khoản 1 Điều 662 BLDS năm 2015 quy định về phân chia di sản
trong trường hợp có người thừa kế mới như sau:
Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế
mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật,
nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người
thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó
tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã
nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [24, khoản 1, Điều 662].
Quy định trên tạo thuận lợi cho việc phân chia di sản thừa kế trong
trường hợp xuất hiện người thừa kế mới sau thời điểm phân chia di sản. Trên
thực tế có rất nhiều trường hợp, các hiện vật đã phân chia cho người thừa kế,
nếu yêu cầu chia lại sẽ rất phức tạp và khó thực hiện. Việc thỏa thuận giữa
người thừa kế mới và những người thừa kế khác sẽ được ghi thành văn bản
theo các căn cứ và nguyên tắc luật định.
1.2.2. Mục đích, nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Để thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có hiệu lực, thỏa thuận đó phải
đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự thông thường,
trong đó có điều kiện về nội dung và mục đích là: Mục đích và nội dung
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
28
- Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực
hiện những hành vi nhất định.
- Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với
người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
1.2.2.1. Mục đích
Mục đích của giao dịch dân sự nói chung là lợi ích mà chủ thể mong
muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. Lợi ích ở đây có thể là lợi ích về tinh
thần hoặc lợi ích về vật chất.
Trong thỏa thuận phân chia di sản, những người tham gia thỏa thuận
đều hướng tới mục đích chung đó là xác lập quyền sở hữu của họ đối với di
sản thừa kế mà người chết để lại. Mục đích của thỏa thuận được thể hiện qua
các điều khoản cụ thể của văn bản thỏa thuận hay nói cách khác được biểu
hiện thông qua chính nội dung của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
1.2.2.2. Nội dung
Nội dung của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là tổng hợp
những điều khoản mà những người thừa kế đưa ra và thỏa thuận với nhau.
Các điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể tham
gia thỏa thuận, đồng thời xác định trách nhiệm dân sự của họ trong trường
hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với cam kết.
Nhìn chung, một văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ có
những nội dung cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thông tin về những người thỏa thuận là những người thừa kế
của người để lại di sản: họ, chữ đệm, tên; ngày, tháng, năm sinh; giấy tờ tùy
thân (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu …); nơi cư trú (thường
trú hoặc tạm trú).
Thứ hai, thông tin về người để lại di sản: Họ, chữ đệm, tên; ngày,
tháng, năm sinh; ngày, tháng, năm chết (căn cứ vào trích lục khai tử do cơ
29
quan có thẩm quyền cấp); thông tin về nơi cư trú cuối cùng (Thường trú hoặc
tạm trú).
Thứ ba, thông tin về di sản. Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng
đất hay các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì phải có thông tin về giấy tờ
chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu của người chết đối với di sản đó.
Thứ tư, thông tin về quan hệ thừa kế giữa người để lại di sản và những
người thừa kế (ghi rõ người thừa kế thuộc hàng thừa kế nào).
Thứ năm, nội dung thỏa thuận: Nội dung xoay quanh việc những
người thừa kế đồng ý nhận di sản hoặc tặng cho người thừa kế khác … trong
đó có thỏa thuận rõ về kỷ phần mà mỗi người được nhận và quyền, nghĩa vụ
cụ thể của người được hưởng di sản.
Thứ sáu, cam kết của những người tham gia thỏa thuận.
Thứ bảy, chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia thỏa thuận.
Thứ tám, lời chứng của người thực hiện chứng thực hoặc công
chứng viên.
1.2.3. Hình thức thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Khoản 2 Điều 656 BLDS năm 2015 quy định về hình thức của mọi
thỏa thuận giữa những người thừa kế nói chung: "Mọi thỏa thuận của những
người thừa kế phải được lập thành văn bản" [24, khoản 2, Điều 656]. Khác
với các hợp đồng khác có thể được thiết lập dưới hình thức bằng lời nói, bằng
văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể [24, khoản 1, Điều 119], thỏa thuận phân
chia di sản thừa kế phải được lập bằng văn bản.
Pháp luật dân sự Việt Nam không quy định bắt buộc phải công chứng,
chứng thực văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Nhưng trên thực tế,
đối với tài sản là quyền sử dụng đất hay các tài sản mà pháp luật quy định
phải đăng ký quyền sở hữu thì việc công chứng, chứng thực văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế các tài sản này là bắt buộc để đảm bảo tính hợp
pháp, có hiệu lực của văn bản thỏa thuận.
30
1.2.4. Hậu quả pháp lý trong trường hợp vi phạm các điều kiện có
hiệu lực của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là hợp đồng dân sự giữa những
người thừa kế với nhau, do đó, trong trường hợp vi phạm một trong các điều
kiện có hiệu lực của thỏa thuận như đã phân tích ở trên thì thỏa thuận phân
chia di sản thừa kế sẽ vô hiệu một phần hoặc toàn bộ, dẫn đến những hậu quả
pháp lý sau:
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu không làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm thỏa
thuận được xác lập;
- Khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp
không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại
hoa lợi, lợi tức đó;
- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp vô hiệu của
giao dịch dân sự nói chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế nói riêng
(từ Điều 123 đến Điều 129):
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do vi phạm điều cấm
của luật, trái đạo đức xã hội;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do giả tạo;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị nhầm lẫn;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa,
cưỡng ép;
31
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do người xác lập không
nhận thức và làm chủ được hành vi của mình;
- Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vô hiệu do không tuân thủ quy
định về hình thức.
1.3. Một số vấn đề pháp lý khác
1.3.1. Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Đối tượng của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế chính là khối tài
sản thuộc quyền sở hữu của người chết để lại. Để xác định tài sản có phải di
sản thừa kế hay không thì cần chứng minh quyền sở hữu của người chết đối
với tài sản đó khi còn sống, thông qua các giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền
sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với tài sản thuộc di sản thừa kế. Theo đó,
di sản thừa kế có thể là tài sản riêng của người chết hoặc là tài sản của người
chết trong khối tài sản chung với người khác.
1.3.1.1. Di sản thừa kế là tài sản thuộc sở hữu riêng của người chết
Thông qua quá trình lao động và sản xuất, con người đã tích lũy được
cho mình một khối lượng tài sản nhất định và có quyền sở hữu hợp pháp đối
với tài sản đó, còn được gọi là tài sản riêng của cá nhân. Liên quan đến tài sản
riêng của cá nhân, pháp luật điều chỉnh phổ biến nhất là xác định tài sản riêng
của vợ, chồng.
Tài sản riêng của vợ, chồng được xác định dựa trên những cơ sở
sau đây:
Một là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn.
Về nguyên tắc, tài sản được tạo lập trước khi kết hôn là tài sản riêng
của vợ hoặc chồng. Trường hợp có tranh chấp về tài sản riêng, người liên
quan có nghĩa vụ chứng minh tài sản đó được tạo lập trước khi kết hôn. Việc
chứng minh này trở nên đơn giản nhất khi tài sản sau khi hai bên kết hôn vẫn
giữ nguyên tình trạng như trước khi kết hôn. Tuy nhiên, rất ít trường hợp tài
32
sản vẫn giữ nguyên được tình trạng như vậy, ví dụ: anh A có tài sản riêng
trước hôn nhân là ngôi nhà X. Sau khi kết hôn, anh A quyết định sửa chữa lại
căn nhà. Như vậy, đã có sự thay đổi tình trạng ngôi nhà trong thời kỳ hôn
nhân. Trường hợp này, để tránh tranh chấp về sau, cần có văn bản thỏa thuận
tài sản riêng hoặc cam kết tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
Hai là, tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản được thừa kế riêng, được
tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân.
Xuất phát từ quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, vợ hoặc
chồng có thể được hưởng thừa kế phần di sản của người chết là thành viên
trong gia đình mình (đối với quan hệ hôn nhân, vợ hoặc chồng có thể nhận
thừa kế di sản của người chồng hoặc người vợ đã chết trước đó). Khi đó, tài
sản được thừa kế riêng được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng.
Trường hợp được tặng cho riêng, đây là một dạng giao dịch dân sự
không có đền bù nên không xét đến công sức đóng góp của vợ hoặc chồng đối
với tài sản đó.
Ba là, tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi chia tài sản chung trong
thời kỳ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể do vợ chồng tự
thỏa thuận bằng văn bản hoặc nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu
cầu Tòa án giải quyết [22, Điều 38]. Việc này không làm thay đổi mối quan
hệ pháp lý giữa vợ và chồng.
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể bị vô hiệu nếu thuộc
một trong các trường hợp được quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể chấm dứt hiệu
lực khi có thỏa thuận giữa vợ và chồng. Trường hợp chia tài sản chung theo
quyết định hoặc bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì thỏa thuận chấm
dứt việc chia tài sản chung phải được Tòa án công nhận [22, Điều 41].
33
1.3.1.2. Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản
chung với người khác
Thực tế cho thấy, một tài sản không chỉ thuộc sở hữu của một cá nhân
mà có thể do nhiều cá nhân đồng sở hữu. Pháp luật dân sự quy định đó là "sở
hữu chung". Các đồng chủ sở hữu đều có quyền chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt tài sản chung theo nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác. Sở hữu chung bao gồm: sở hữu chung hợp nhất và sở
hữu chung theo phần.
* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung
hợp nhất với người khác:
Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở
hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung.
Các chủ sở hữu chung hợp nhất có các quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với
tài sản thuộc sở hữu chung.
* Di sản thừa kế là tài sản của người chết trong khối tài sản chung
theo phần với người khác:
Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở
hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Trừ trường
hợp có thỏa thuận khác, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ
đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của
mình [24, Điều 216]. Để xác định di sản thừa kế của người chết để lại trong
trường hợp này, cần xác định phần tài sản của người đó trong khối tài sản
chung với các chủ thể khác theo tỉ lệ.
1.3.1.3. Di sản thừa kế không thể thỏa thuận phân chia hoặc bị hạn
chế phân chia
* Di sản thờ cúng:
Thờ cúng là một nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt
Nam. Di sản được dùng vào việc thờ cúng là phần di sản trong khối di sản mà
người chết để lại được người đó xác định trong di chúc là giao phần di sản đó
34
cho một người nhất định quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Trường hợp
người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những
người thừa kế cử người quản lý di sản đó.
Về bản chất, di sản thờ cúng là tài sản dùng vào việc thờ cúng, có thể
là hiện vật, tiền (phụ thuộc vào tài sản mà người lập di chúc đã chỉ rõ). Phần
di sản này không được phép chia thừa kế. Di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ
là một phần của di sản do người chết để lại, còn phần không định đoạt vào việc
thờ cúng được chia theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật [26, tr. 49].
Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán
nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào
việc thờ cúng.
* Di sản bị hạn chế phân chia do thủ tục hành chính:
Quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của con người được
pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một số trường
hợp bởi quy định của thủ tục hành chính.
Ví dụ: Tại thành phố Hà Nội, để tránh tình trạng những mảnh đất quá
nhỏ, những ngôi nhà siêu mỏng làm mất mỹ quan đô thị, UBND thành phố
Hà Nội đã ban hành Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 về
việc ban hành Quy định về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử
dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia
đình, cá nhân trên địa bàn thành phố, trong đó tại khoản 1 Điều 5 quy định diện tích thửa đất được phép tách thửa không nhỏ hơn 30 m2 đối với khu vực
các phường, thị trấn [35, khoản 1, Điều 5]. Trong trường hợp này, nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn 30 m2 thì các đồng thừa kế khi làm thủ tục khai nhận di
sản phải đứng tên đồng sở hữu hoặc thỏa thuận để cho một người thừa kế
đứng tên.
* Có người hưởng di sản chưa có hoặc mất năng lực hành vi dân sự:
Người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự tham gia
vào các giao dịch dân sự thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Tuy
35
nhiên, người đại diện không được nhân danh người được đại diện để xác lập,
thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình
cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác [24, khoản 3, Điều 141]. Trong việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
cũng vậy.
Ví dụ: Ông A chết, để lại di sản thừa kế cho vợ và hai con là người
chưa thành niên. Trong trường hợp này không thể thỏa thuận phân chia di sản
được, bởi người đại diện của hai con chưa thành niên là người mẹ, người này
không thể xác lập giao dịch với chính mình. Theo đó, cách thức giải quyết là
làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Sau đó đợi hai con thành niên rồi mới
tiến hành phân chia di sản thừa kế.
* Theo ý chí của người lập di chúc:
Nếu người để lại di sản định đoạt trong di chúc rằng di sản này không
thể phân chia hoặc chỉ có thể phân chia sau một thời gian nhất định hoặc sau
khi xảy ra một sự kiện nhất định thì những người thừa kế phải tôn trọng ý chí
của người lập di chúc (nếu điều kiện trong di chúc không vi phạm điều cấm
của luật và đạo đức xã hội).
Ví dụ: Ông X viết di chúc để lại di sản cho các con là anh Y và chị Z
một căn nhà và nêu rõ căn nhà này để các con sử dụng chung chứ không được
phân chia hay bán. Ông X cũng có di sản là một khoản tiền tiết kiệm cho anh
Y nhưng nội dung di chúc ghi rõ sau khi ông X mất thì số tiền đó để lại cho
anh Y với điều kiện anh Y có nghĩa vụ nuôi bé A (là con riêng của ông X) đến
khi bé A đủ 18 tuổi.
* Trường hợp chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của
bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình
Trường hợp những người thừa kế yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc
chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng
36
còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định
phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di
sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá ba năm, kể từ
thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn ba năm mà người còn sống chứng minh
được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình
họ thì người đó có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá
ba năm.
1.3.1.4. Phân loại di sản thừa kế
Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn
sống, tài sản này được gọi là di sản thừa kế. Vì vậy, việc phân loại di sản thừa
kế tương tự như phân loại tài sản thông thường. Để phân loại tài sản, các nhà
làm luật dựa vào những căn cứ khác nhau.
• Căn cứ vào chủ sở hữu tài sản, tài sản được chia thành: Tài sản
* Các tiêu chí phân loại:
công, tài sản chung và tài sản tư.
- Tài sản công được hiểu là những tài sản thuộc sở hữu của toàn dân
mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tài sản công bao
gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm
quốc phòng, an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu hạ tầng phục
vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn
dân; tài sản công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà nước, các quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách, dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các
loại tài nguyên khác [25, khoản 1, Điều 3].
- Tài sản chung là những tài sản thuộc quyền sở hữu của từ ít nhất hai
chủ thể trở lên, đây được gọi là sở hữu chung. Sở hữu chung là sở hữu của
nhiều chủ thể đối với tài sản, gồm: sở hữu chung theo phần và sở hữu chung
hợp nhất [24, Điều 207].
37
- Tài sản tư là tài sản thuộc quyền sở hữu của một chủ thể duy nhất.
Các loại tài sản tư bao gồm: thu nhập hợp pháp, tư liệu sinh hoạt, sản xuất,
của cải để dành… Cá nhân có thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản của
• Căn cứ vào đặc tính vật lý (khả năng di dời của tài sản), tài sản
mình theo quy định của pháp luật.
được chia thành: động sản và bất động sản.
Sự khác nhau giữa bất động sản và động sản được thể hiện qua các
điểm sau:
- Tính di dời: Bất động sản không thể di dời được do bản chất tự nhiên
cấu tạo nên tài sản. Ngược lại, động sản là những tài sản có thể di dời, thay
đổi vị trí.
- Tính lâu dài: Bất động sản có thời gian tồn tại rất lâu. Đối với đất đai -
tài nguyên thiên nhiên có thể tồn tại gần như mãi mãi. Một số công trình xây
dựng có tuổi thọ đến hàng trăm năm. Trái lại, động sản có thời gian tồn tại
ngắn, nhất là những động sản có tính chất tiêu hao.
- Tính chịu ảnh hưởng và tác động lẫn nhau: Các bất động sản chịu
ảnh hưởng lẫn nhau. Một bất động sản có thể được bao bọc bởi các bất động
sản khác. Do vậy, quy chế pháp lý dành cho loại tài sản này rất chặt chẽ, trong
đó có những quy định liên quan đến quyền đối với bất động sản liền kề (địa
• Căn cứ vào đặc điểm vật chất, tài sản được chia thành: tài sản hữu
dịch). Quyền này không được xác lập với động sản.
hình và tài sản vô hình.
Tài sản hữu hình và tài sản vô hình khác nhau ở đặc điểm vật chất:
- Tài sản hữu hình là những tài sản mà con người có thể cảm nhận
bằng các giác quan.
- Khác với tài sản hữu hình, tài sản vô hình thường được hình thành
trên một tài sản hữu hình, được gọi là quyền tài sản hay là sản phẩm của các
hoạt động sáng tạo của con người như tài sản trí tuệ.
38
• Phân loại tài sản theo hình thức tồn tại:
* Phân loại tài sản theo pháp luật Việt Nam:
Pháp luật dân sự Việt Nam dùng phương pháp liệt kê khi định nghĩa
tài sản: "Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản" [24, khoản 1,
Điều 105].
- Vật:
Vật là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng nhu cầu của con
người, vật có thể tồn tại tự nhiên hoặc do con người tạo ra [32, tr. 132].
Một tài sản được coi là vật khi thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Phải tồn tại khách quan, có thể đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong
tương lai.
+ Con người có thể chiếm hữu được.
+ Phải xác định được giá trị, khai thác được công dụng và đáp ứng
những nhu cầu tinh thần và vật chất của con người.
+ Được phép lưu thông trong giao lưu dân sự.
- Tiền:
Theo quan niệm của C. Mác thì tiền tệ là một thứ hàng hóa đặc biệt,
được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của
tất cả các loại hàng hóa khác. Tiền là phương tiện có thể làm trung gian trao
đổi trong giao dịch dân sự. Tiền được sử dụng làm thước đo giá trị của các
loại tài sản khác và nó phải có giá trị lưu hành trên thị trường [15, tr. 24], tức
là nó chỉ được coi là tài sản khi được pháp luật thừa nhận.
- Giấy tờ có giá:
Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và có thể
trao đổi được trong giao lưu dân sự. Hiện nay, các giấy tờ có giá được lưu
hành rộng rãi là: séc, cổ phiếu, trái phiếu…
Đặc điểm của giấy tờ có giá:
39
- Về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình
thức và trình tự mà pháp luật quy định.
- Về mặt nội dung, giấy tờ có giá thể hiện trên bề mặt quyền tài sản.
Giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và được pháp luật bảo hộ.
- Giấy tờ có giá có tính thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành
tiền mặt của tài sản) và là công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện
chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá
là vô hiệu.
- Giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro.
Ngoài ra, còn có các loại giấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử
dụng đối với tài sản như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng
nhận quyền sở hữu nhà ở, giấy chứng nhận đăng ký xe máy, … không phải là
giấy tờ có giá. Những loại giấy tờ này chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu
của người đứng tên trên giấy tờ đó.
- Quyền tài sản:
Điều 115 BLDS năm 2015 quy định: "Quyền tài sản là quyền trị giá
được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ,
quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác" [24, Điều 115].
Đặc điểm của quyền tài sản như sau:
- Quyền tài sản trị giá được bằng tiền.
- Quyền tài sản là một dạng tài sản vô hình (ví dụ: Quyền sử dụng đất,
• Phân loại tài sản theo đặc tính vật lý (khả năng di dời):
quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu trí tuệ…).
Tương tự với cách phân loại tài sản của hầu hết các quốc gia trên thế
giới, dựa vào đặc tính vật lý của tài sản (khả năng di dời), pháp luật Việt Nam
cũng phân loại tài sản thành: Bất động sản và động sản [24, Điều 107].
- Bất động sản: BLDS năm 2015 đưa ra khái niệm về bất động sản
bằng phương pháp liệt kê, bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền
40
với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; tài sản
khác theo quy định của pháp luật.
- Động sản: Để quy định khái niệm động sản, BLDS năm 2015 áp dụng
phương pháp loại trừ: động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Một động sản có thể trở thành bất động sản dựa trên mục đích sử dụng
chúng và ngược lại. Trường hợp này xảy ra khi có sự thay đổi tính chất đặc
thù của tài sản - tính di dời của tài sản. Ví dụ: một số thiết bị trong nhà (hệ
thống điện, nước …) khi chưa được lắp đặt vào không gian nhà một cách kiên
cố, có thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác thì chúng vẫn là động sản.
Nhưng khi chúng được gắn vào không gian nhà, công trình xây dựng, tức là
chúng đã mất đi khả năng di dời thì chúng trở thành bất động sản hay còn gọi
tài sản gắn với đất đai, nhà, công trình xây dựng.
Việc phân loại tài sản nói chung và phân loại di sản thừa kế nói riêng
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi cách phân loại mỗi loại tài sản sẽ quyết
định quy chế pháp lý điều chỉnh đến các giao dịch dân sự liên quan tới các
loại tài sản đó giữa các chủ thể.
1.3.2. Thủ tục phân chia di sản thừa kế
Để thực hiện thỏa thuận phân chia di sản, những người thừa kế phải
họp mặt để thống nhất về các nội dung: cử người quản lý di sản, người phân
chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại
di sản không chỉ định trong di chúc và cách thức phân chia di sản.
Sau khi đã họp mặt và bàn bạc thống nhất, những người thừa kế có thể
lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản. Để đảm bảo tính hợp pháp, có hiệu
lực của văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng như bảo vệ quyền
lợi của những người tham gia thỏa thuận, văn bản thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế nên được công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền.
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có thể được công chứng
tại tổ chức hành nghề công chứng (bao gồm: phòng công chứng hoặc VPCC)
41
hoặc chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện (đối với di sản là động sản)
hay tại UBND cấp xã (đối với di sản là động sản hoặc bất động sản).
Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục
công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề
công chứng.
Việc công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại tổ
chức hành nghề công chứng được thực hiện theo quy định tại Điều 57 Luật
Công chứng năm 2014.
* Trình tự thực hiện:
Bước 1: Nộp hồ sơ.
Người yêu cầu công chứng hoàn thiện hồ sơ và nộp trực tiếp tại trụ sở
tổ chức hành nghề công chứng.
Bước 2: Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ.
Công chứng viên có thể nhận hồ sơ thông qua bộ phận tiếp nhận của
tổ chức hành nghề công chứng hoặc trực tiếp nhận, sau đó kiểm tra giấy tờ
trong hồ sơ yêu cầu công chứng:
- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng đầy đủ, phù hợp với quy định
của pháp luật thì công chứng viên thụ lý và ghi vào sổ công chứng.
- Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng chưa đầy đủ thì công chứng
viên ghi phiếu hướng dẫn và yêu cầu bổ sung.
- Trường hợp hồ sơ không đủ cơ sở pháp luật để giải quyết thì công
chứng viên giải thích rõ lý do và từ chối tiếp nhận hồ sơ.
Bước 3: Tổ chức hành nghề công chứng thực hiện thủ tục niêm yết
việc thụ lý văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
- Tổ chức hành nghề công chứng niêm yết việc thụ lý công chứng văn
bản thỏa thuận phân chia di sản tại trụ sở của UBND cấp xã nơi thường trú
cuối cùng của người để lại di sản trong thời hạn 15 ngày; trường hợp không
42
xác định được nơi thường trú cuối cùng thì niêm yết tại nơi tạm trú có thời
hạn cuối cùng của người đó.
+ Trường hợp di sản gồm cả bất động sản và động sản hoặc di sản chỉ
gồm có bất động sản thì việc niêm yết được thực hiện tại UBND cấp xã nơi
thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của người để lại di sản và tại
UBND cấp xã nơi có bất động sản;
+ Trường hợp di sản chỉ gồm có động sản, nếu trụ sở của tổ chức hành
nghề công chứng và nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn cuối cùng của
người để lại di sản không ở cùng một địa bàn tỉnh thì tổ chức hành nghề công
chứng có thể đề nghị UBND cấp xã nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn
cuối cùng của người để lại di sản thực hiện việc niêm yết.
- Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận việc
niêm yết và bảo quản việc niêm yết trong thời hạn niêm yết.
Bước 4: Soạn thảo và ký văn bản.
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có thể do người yêu cầu
công chứng soạn thảo sẵn hoặc do công chứng viên soạn thảo. Khi người yêu
cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội dung ghi trong dự thảo văn bản, công chứng
viên hướng dẫn người yêu cầu công chứng ký hoặc điểm chỉ hoặc vừa ký vừa
điểm chỉ (nếu công chứng viên thấy cần thiết) vào từng trang của văn bản.
Bước 5: Ký chứng nhận.
Công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình bản
chính của các giấy tờ theo quy định để đối chiếu trước khi ghi lời chứng, ký
hoặc điểm chỉ vào từng trang của văn bản và chuyển bộ phận thu phí của tổ
chức hành nghề công chứng.
Bước 6: Trả kết quả công chứng.
Bộ phận thu phí của tổ chức hành nghề công chứng hoàn tất việc thu
phí, thù lao công chứng và chi phí khác theo quy định, đóng dấu và hoàn trả
lại hồ sơ cho người yêu cầu công chứng.
43
* Thành phần, số lượng hồ sơ:
- Thành phần hồ sơ:
+ Phiếu yêu cầu công chứng.
+ Bản sao giấy tờ tùy thân: Chứng minh nhân dân/Căn cước công
dân/Giấy chứng minh sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam/Hộ chiếu của các
cá nhân tham gia giao dịch.
+ Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản
sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
+ Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp
luật quy định phải có.
- Số lượng hồ sơ: 01 bộ.
* Thời hạn giải quyết hồ sơ:
Không quá 02 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ; đối với
hợp đồng, giao dịch có nội dung phức tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo
dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc [21, khoản 2, Điều 43].
* Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính:
Người thừa kế của người để lại di sản.
* Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính:
- Cơ quan trực tiếp thực hiện: Tổ chức hành nghề công chứng.
- Cơ quan phối hợp: UBND cấp xã nơi niêm yết.
* Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản được công chứng hoặc văn bản từ
chối công chứng, có nêu rõ lý do.
* Phí, lệ phí:
- Phí công chứng: tính theo giá trị di sản [4, khoản 2, Điều 4]. Cụ thể
được thể hiện trong bảng 2.1.
44
Bảng 2.1. Phí công chứng tính theo giá trị di sản
TT
Mức thu (đồng/trường hợp)
Giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch
1 Dưới 50 triệu đồng
50 nghìn.
100 nghìn.
2
Từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng
0,1% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch.
3
Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng
4
Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng
01 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng.
5
Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng
2,2 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng.
6
Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng
3,2 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng.
7
Từ trên 10 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
5,2 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng.
8 Trên 100 tỷ đồng
32,2 triệu đồng + 0,02% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 100 tỷ đồng (mức thu tối đa là 70 triệu đồng/trường hợp).
Nguồn: [4].
- Thù lao công chứng: do tổ chức hành nghề công chứng tự xác định
nhưng không vượt quá mức trần thù lao công chứng.
- Chi phí khác: theo sự thỏa thuận giữa người yêu cầu công chứng và
tổ chức hành nghề công chứng.
1.3.3. Giá trị pháp lý của thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng có
giá trị pháp lý sau:
1.3.3.1. Giá trị chứng cứ
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế khi được công chứng tại
tổ chức hành nghề công chứng đã trở thành chứng cứ để xác lập quyền sở hữu
của những người thừa kế đối với phần di sản mà họ nhận được. Việc hủy bỏ
45
văn bản này không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân theo các quy
định của pháp luật.
1.3.3.2. Giá trị thi hành
Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng có
giá trị thi hành đối với các bên giao kết, trong đó có cam kết về việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ mà những người thừa kế đã thỏa thuận. Do đó, căn cứ
vào văn bản đó, những người thừa kế phải có trách nhiệm thực hiện đúng
những cam kết đã thỏa thuận, nếu có người không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng cam kết thì những người thừa kế khác có quyền yêu cầu cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo luật định.
Ngoài ra, văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng
là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc
chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.
Để được công nhận là chủ sở hữu di sản thừa kế, tùy vào di sản thừa
kế là động sản hay bất động sản, người thừa kế sẽ thực hiện thủ tục đăng ký
quyền sở hữu tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc đăng ký tài sản được quy định tại Điều 106 BLDS năm 2015, cụ
thể như sau:
- Đối với di sản thừa kế là bất động sản, người thừa kế bắt buộc phải
thực hiện thủ tục đăng ký tài sản, bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng
gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây
dựng; tài sản khác theo quy định của pháp luật.
- Đối với di sản thừa kế là động sản thì không phải đăng ký. Nhưng có
một số động sản đặc biệt được quy định riêng và bắt buộc phải đăng ký theo
quy định của pháp luật, bao gồm: tàu biển; phương tiện nội thủy địa; tàu cá;
phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; quyền sở hữu tàu bay; phương tiện
giao thông đường sắt; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia; tài sản là vũ khí, vật
liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Việc đăng ký tài sản phải được công khai.
46
Kết luận Chương 1
Quan hệ thừa kế là một trong những quan hệ xã hội phức tạp, đòi hỏi
phải có cơ chế pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các
chủ thể trong quan hệ đó. Thỏa thuận phân chia di sản thừa kế là hoạt động
của những người thừa kế cùng thống nhất xây dựng một hợp đồng dân sự với
mục đích chấm dứt tình trạng sở hữu chung khối di sản do người chết để lại,
xác lập quyền sở hữu của mỗi người với phần di sản thừa kế mà họ được
hưởng. Tại chương 1 của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu những
vấn đề trọng tâm liên quan đến thỏa thuận phân chia di sản thừa kế như: khái
niệm thỏa thuận phân chia di sản thừa kế; điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận
bao gồm: chủ thể, mục đích, nội dung, hình thức và các vấn đề pháp lý khác
có liên quan… Những nội dung trên là cơ sở quan trọng để tác giả tiếp tục tìm
hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại
chương 2 của luận văn.
47
Chương 2
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ HIỆN NAY
Để đánh giá được hiệu quả của những quy định pháp luật đối với cuộc
sống thì cần tổng kết cả một quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Việc
áp dụng quy định pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế cũng
không nằm ngoài ngoại lệ đó.
Tình huống: VPCC X tiếp nhận yêu cầu công chứng văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế, trong đó có một người thừa kế là người Việt
Nam đang định cư ở nước ngoài, một người nước ngoài định cư ở nước ngoài
và một người là người Việt Nam nhưng chưa thành niên. Người để lại di sản
có lập di chúc nhưng không định đoạt toàn bộ di sản.
Cụ thể: Ông A để lại di sản thừa kế là một căn nhà trị giá 3 tỉ đồng và
một khoản tiền là 10 tỉ đồng. Đây là khối tài sản thuộc sở hữu riêng của ông A.
Ông A và vợ là bà B có quốc tịch Việt Nam sở hữu chung một căn nhà khác
trị giá 7 tỉ đồng. Ông A có bốn người con lần lượt là C, D, E, F, trong đó, C là
người Việt Nam, đã định cư ở nước ngoài 20 năm; D là người Việt Nam đã
thành niên; E là người Việt Nam chưa thành niên; F là con riêng của ông A và
là người nước ngoài đã thành niên, đang định cư ở nước ngoài. Năm 2016,
ông A chết và để lại di chúc, trong đó nêu rõ dành 1 tỉ đồng cho việc thờ
cúng, F được hưởng căn nhà 3 tỉ đồng, phần di sản còn lại không được định
đoạt trong di chúc. Ông A còn để lại một khoản nợ 1 tỉ đồng, đây là khoản nợ
riêng của ông A, bà B không liên quan đến khoản nợ này.
Năm 2018, bà B cùng các con của ông A là C, D, E, F thống nhất sẽ đến
VPCC yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản, trong đó tất cả
những người thừa kế đều đồng ý nhận di sản, nhưng C là người con đang định
cư ở nước ngoài lâu năm muốn tặng cho phần di sản của mình chia đều cho bà
48
B, D và E. Do bận công việc nên F không thể về Việt Nam để trực tiếp thực hiện
thỏa thuận. Đối với khoản nợ 1 tỉ đồng, bà B nhận sẽ thanh toán cho chủ nợ.
Trong tình huống này, VPCC X đã giải quyết như sau:
* Kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ
Công chứng viên thuộc VPCC X kiểm tra thành phần hồ sơ và tính
hợp lệ của các giấy tờ do những người yêu cầu công chứng cung cấp.
Trong trường hợp này, vì có hai người thừa kế đều đang định cư ở
nước ngoài nên ngoài các giấy tờ phải cung cấp như những người thừa kế ở
Việt Nam, C và F phải có thêm các giấy tờ sau:
- C: giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy tờ chứng minh được
phép nhập cảnh vào Việt Nam [23, khoản 1, Điều 8], …
- F: giấy tờ chứng minh được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không
thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy
định của pháp luật [23, khoản 3, Điều 160]. Vì F không thể về Việt Nam để
thỏa thuận nên F ủy quyền cho một người khác là G thay mặt F thỏa thuận
phân chia di sản. Văn bản ủy quyền có chứng thực tại cơ quan đại diện ngoại
giao của Việt Nam ở nước ngoài.
* Xác định di sản và người thừa kế của ông A
- Di sản do ông A để lại:
Căn cứ vào các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản của ông A
khi còn sống, công chứng viên xác định di sản ông A để lại bao gồm:
+ Tài sản riêng của ông A: Căn nhà 3 tỉ đồng và số tiền 10 tỉ đồng.
+ Tài sản riêng của ông A trong khối tài sản chung của vợ chồng: Do
ông A và bà B là vợ chồng, có chung căn nhà trị giá 7 tỉ đồng, nên khi ông A
chết, phần di sản mà ông A để lại trong khối tài sản chung nêu trên là 1/2 căn
nhà, tương ứng 3,5 tỉ đồng.
Tổng di sản thừa kế của ông A để lại quy theo giá trị là: 3 + 10 +
1/2 x 7 = 16,5 tỉ đồng.
49
Do trong di chúc, ông A định đoạt dành 1 tỉ đồng dùng cho việc thờ
cúng. Mà di sản thờ cúng theo quy định của pháp luật không được phép phân
chia nên phần di sản được phép phân chia trong tổng khối di sản mà ông A để
lại là: 16,5 - 1 = 15,5 tỉ đồng, trong đó:
- Những người thừa kế hợp pháp của ông A:
+ Người thừa kế theo di chúc: Ông A lập di chúc và định đoạt để lại
cho F căn nhà trị giá 3 tỉ đồng.
F là người thừa kế theo di chúc của ông A.
+ Người thừa kế theo pháp luật:
Do phần di sản còn lại ông A không định đoạt trong di chúc nên phần
di sản đó sẽ được chia đều cho những người thừa kế theo pháp luật.
Những người thừa kế theo pháp luật ở hàng thừa kế thứ nhất của
ông A bao gồm: bà B (vợ), C, D, E, F (các con).
Phần di sản theo di chúc: Căn nhà 3 tỉ đồng.
Phần di sản theo pháp luật: (15,5 - 3)/5 = 2,5 tỉ đồng/người
Sau khi tiến hành kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và xác định di sản cùng
những người thừa kế hợp pháp của ông A, VPCC X thụ lý yêu cầu công chứng.
* Niêm yết việc thụ lý văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Do di sản gồm cả bất động sản và động sản nên VPCC X đã niêm yết
việc thụ lý công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại trụ sở
UBND cấp xã nơi thường trú cuối cùng của ông A và trụ sở UBND cấp xã nơi
có bất động sản (căn nhà 3 tỉ đồng và căn nhà 7 tỉ đồng) trong thời gian 15 ngày,
kể từ ngày niêm yết.
Hết thời gian niêm yết trên, UBND cấp xã nơi niêm yết xác nhận việc
đã niêm yết và nếu nhận hoặc không nhận được ý kiến phản ánh, đơn thư
khiếu nại, tranh chấp của cá nhân, tổ chức nào liên quan tới việc thỏa thuận
phân chia di sản của ông A để lại thì UBND cấp xã phải ghi rõ trong văn bản
xác nhận.
50
Trường hợp có phản ánh, khiếu nại thì VPCC X phải dừng việc công
chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản để xác minh lại. Nếu không có
khiếu nại, tranh chấp thì VPCC X tiếp tục thực hiện bước soạn thảo và yêu
cầu những người thừa kế ký vào văn bản thỏa thuận.
* Soạn thảo và ký văn bản
Trong tình huống này, những người thừa kế đề nghị công chứng viên
soạn thảo văn bản thỏa thuận. Công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra tính
xác thực của nội dung, ý định giao kết hợp đồng, không vi phạm pháp luật,
không trái với đạo đức xã hội, sau đó công chứng viên soạn thảo văn bản,
trong đó ghi rõ ý chí, nguyện vọng của những người thừa kế.
Ở đây, G thực hiện việc ủy quyền của F đồng ý nhận phần di sản mà F
được hưởng. Bà B, các con là C, D cũng đồng ý nhận. Riêng E là con chưa
thành niên nên việc thỏa thuận phân chia di sản sẽ do người đại diện theo pháp
luật của E là bà B thực hiện, bà B đại diện cho E nhận kỷ phần E được hưởng.
C quyết định tặng cho phần di sản mà C được hưởng chia đều cho bà B và D, E.
Phần di sản (theo giá trị) mà mỗi người được hưởng sau khi thỏa
thuận là:
- F: 3 + 2,5 = 5,5 tỉ đồng.
- B = D = E: 2,5 + 2,5/3 = 10/3 tỉ đồng.
Bà B nhận thanh toán khoản nợ 1 tỉ đồng, nên phần di sản còn lại mà
bà B được hưởng là: 10/3 - 1 = 7/3 tỉ đồng.
Công chứng viên yêu cầu những người thừa kế đọc lại dự thảo văn
bản và tất cả họ đều đồng ý với toàn bộ nội dung dự thảo và đã ký vào từng
trang văn bản.
* Ký chứng nhận
Sau khi những người thừa kế đã ký vào văn bản thỏa thuận, công
chứng viên viết lời chứng, ký vào từng trang văn bản, sau đó chuyển về bộ
phận thu phí của VPCC.
51
* Trả kết quả công chứng
Những người yêu cầu công chứng nộp phí (phí công chứng + thù lao
công chứng + chi phí khác) theo quy định và VPCC X trả kết quả công chứng
cho họ.
Phí công chứng được tính dựa trên giá trị di sản. Di sản mà ông A để
lại trị giá 16,5 ti đồng, nhưng di sản được phép thỏa thuận phân chia trong văn
bản công chứng chỉ là 15,5 tỉ đồng. Do vậy, căn cứ quy định tại điểm a4/a
khoản 2 Điều 4 Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016
của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí
công chứng; phí chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề
công chứng; phí thẩm định điều kiện hoạt động VPCC; lệ phí cấp thẻ công
chứng viên [4, khoản 2, Điều 4], thì phí công chứng mà những người thừa kế
phải nộp là: 5,2 triệu đồng + 0,03% x (15,5 - 10) tỉ đồng = 6,85 triệu đồng.
Trong tình huống trên, các vấn đề dưới đây cần làm rõ:
2.1. Người thừa kế đang ở nước ngoài vào thời điểm thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế (người Việt Nam và/hoặc người nước ngoài
đang ở nước ngoài)
* Liên quan đến người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Về việc nhận thừa kế của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Luật
Đất đai năm 2013 quy định: "Trường hợp người được thừa kế là người Việt
Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của
Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối
tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được hưởng giá trị của
phần thừa kế đó" [20, đ, khoản 1, Điều 179].
Khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 quy định: "Người Việt Nam
định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy
định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất ở tại Việt Nam" [20, khoản 1, Điều 186].
52
Tại khoản 1 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện được
công nhận quyền sở hữu nhà ở: "Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước;
đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì phải được phép nhập cảnh
vào Việt Nam; đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài thì phải có đủ điều kiện
quy định tại Điều 160 của Luật này" [23, khoản 1, Điều 8].
C được nhận thừa kế bất động sản ở Việt Nam theo một trong hai
trường hợp sau:
Trường hợp 1: Nếu C được phép nhập cảnh vào Việt Nam thì C được
công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Khi đó, C được nhận thừa kế
quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Trường hợp 2: Nếu C không được phép nhập cảnh vào Việt Nam,
không được công nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, thì C được hưởng
giá trị của phần thừa kế đó.
* Liên quan đến người thừa kế là người nước ngoài
Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 quy định về người sử dụng đất như sau:
Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận
quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật
này, bao gồm:
1. Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân
dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự
(sau đây gọi chung là tổ chức);
2. Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình,
cá nhân);
3. Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên
cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư
tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
53
4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh
đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của
tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện
ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức
năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ
chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại
diện của tổ chức liên chính phủ;
6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật
về quốc tịch;
7. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100%
vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà
nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp
luật về đầu tư [20, Điều 5].
Như vậy, theo quy định trên, F là người nước ngoài nên không được
quyền sử dụng đất tại Việt Nam.
Khoản 3 Điều 160 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về điều kiện cá
nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở theo hình thức thừa kế tại Việt Nam: "Cá
nhân nước ngoài phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc
diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định
của pháp luật" [23, khoản 3, Điều 160].
F nhận thừa kế theo di chúc của ông A là căn nhà 3 tỉ đồng nhưng F
không được nhận thừa kế quyền sử dụng đất mà chỉ được nhận quyền sở hữu
nhà ở thương mại tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện trên.
Việc có hay không cho người nước ngoài quyền sử dụng đất tại Việt
Nam là vấn đề được rất nhiều người quan tâm. Hiện nay, có hai quan điểm
khác nhau về vấn đề này:
Quan điểm 1: Không đồng ý bổ sung đối tượng sử dụng đất trên lãnh
thổ Việt Nam là người nước ngoài.
54
Theo Luật Nhà ở năm 2014, cá nhân là người nước ngoài được phép
nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn
trừ ngoại giao, lãnh sự thì được quyền mua, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế
nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu
tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định
của Chính phủ [23, b, khoản 2, Điều 159].
Thời hạn sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong các hợp đồng, giao dịch
nhưng không quá 50 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận và có thể được
gia hạn. Thời hạn sở hữu nhà ở ghi rõ trong giấy chứng nhận [23, c, khoản 2,
Điều 161].
Trước khi hết thời hạn trên, người đó được quyền bán, tặng cho căn
nhà của mình. Nếu quá thời hạn sở hữu nhà ở mà chủ nhà không bán, tặng
cho thì căn nhà sẽ thuộc sở hữu Nhà nước [23, đ, khoản 2, Điều 161].
Khi muốn cho thuê nhà ở, người nước ngoài phải thông báo bằng văn
bản cho cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện nơi có nhà ở và phải nộp thuế từ
hoạt động cho thuê nhà ở này [23, a, khoản 2, Điều 162]. Việc thanh toán tiền
mua, thuê mua nhà ở phải thông qua tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt
Nam [23, c, khoản 2, Điều 162].
Luật Nhà ở năm 2014 quy định rõ người nước ngoài được sở hữu
chung cư và nhà ở riêng lẻ trong các dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu
vực bảo đảm an ninh, quốc phòng. Họ được mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế
và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư, trong
một khu vực có số dân tương đương một phường thì người nước ngoài được
sở hữu không quá 250 căn biệt thự, nhà liền kề [23, a, khoản 2, Điều 161].
Nhiều người quan ngại rằng khi Nhà nước công nhận cá nhân nước
ngoài được quyền sử dụng đất thì những người này sẽ chính thức tạo ra những
"lãnh địa" riêng làm ảnh hưởng đến trật tự, an ninh của khu vực và quốc gia.
Bên cạnh đó, cá nhân nước ngoài được sử dụng đất tại Việt Nam có thể tìm
những sơ hở, điểm chưa rõ ràng của pháp luật Việt Nam để thu gom quyền sử
55
dụng đất, dẫn đến người dân Việt Nam trở thành những người làm thuê cho
người nước ngoài trên chính đất nước mình.
Quan điểm 2: Đồng ý bổ sung đối tượng sử dụng đất trên lãnh thổ
Việt Nam là người nước ngoài.
Những người theo quan điểm này cho rằng Luật Nhà ở năm 2014 chỉ
cho người nước ngoài mua, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở trong các
dự án thương mại, hướng người nước ngoài đầu tư vào những dự án nhà ở
chứ không để làm hỗn loạn các khu dân cư dẫn đến tình trạng khó kiểm soát.
Ngoài ra, số lượng nhà ở thương mại bị khống chế, thời hạn sở hữu
cũng không phải vĩnh viễn và lâu dài. Vì thế, Nhà nước nên khuyến khích
người nước ngoài sử dụng đất phát triển các dự án thương mại.
Mặt khác, trên thực tiễn, người nước ngoài vẫn có khả năng kiểm soát
quyền sử dụng đất ở Việt Nam dưới dạng ủy quyền cho người Việt Nam đứng
tên sử dụng đất. Vậy nên, vấn đề không phải là có công nhận quyền sử dụng
đất tại Việt Nam đối với người nước ngoài hay không mà vấn đề là chúng ta
cần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, quản lý một cách thông minh bằng
những công cụ có hiệu quả.
Xét theo tình hình thực tế hiện nay, với cách quản lý nhà nước còn
thiếu chặt chẽ và nhiều lỗ hổng, theo tác giả luận văn, chúng ta vẫn nên theo
quan điểm đầu tiên là không công nhận cá nhân nước ngoài có quyền sử dụng
đất tại Việt Nam.
2.2. Người thừa kế vắng mặt tại thời điểm thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế
Việc vắng mặt người thừa kế tại thời điểm thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế được đặt ra trong hai trường hợp:
Trường hợp thứ nhất: Những người thừa kế khác không biết người
thừa kế đó ở đâu và người thừa kế vắng mặt cũng không biết mình được
hưởng di sản và đang có việc phân chia di sản.
56
Nếu người thừa kế vắng mặt là người thừa kế theo di chúc và được
người để lại di sản định đoạt trong di chúc rằng người đó được di tặng hoặc
hưởng một vật đặc định thì những người thừa kế khác khi thỏa thuận phân
chia di sản phải dành riêng phần di sản mà người thừa kế vắng mặt được nhận
ra và giao cho người quản lý di sản đến khi người đó biết và trở về nhận di
sản. Trường hợp di chúc không định đoạt rõ kỷ phần của từng người thừa kế
thì phải đợi đến khi người thừa kế vắng mặt quay trở về, khi có đầy đủ những
người thừa kế thì thỏa thuận phân chia di sản thừa kế mới thực hiện được.
Trường hợp thứ hai: Người thừa kế vắng mặt do những lý do khách
quan nên không thể trực tiếp tham gia thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
(F thuộc trường hợp này).
Người thừa kế biết mình được hưởng di sản nhưng vì những lý do
khách quan mà không thể trực tiếp thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì họ
được ủy quyền cho người khác thực hiện giao dịch. Văn bản ủy quyền phải
được công chứng, chứng thực tại cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam hoặc ở
nước ngoài, trong đó phải ghi rõ phạm vi ủy quyền. Nếu sau khi thỏa thuận
xong, phát hiện thấy người được ủy quyền thực hiện vượt quá phạm vi ủy
quyền, công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người
phiên dịch, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế đã được công chứng.
2.3. Đại diện cho người thừa kế là người chưa thành niên, người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi khi tham gia vào các giao dịch dân sự, trong đó có giao dịch về
thừa kế, thì phải thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Tuy
57
nhiên, khi áp dụng pháp luật về chế định đại diện vào thực tiễn, có một số
vướng mắc phát sinh.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đại diện như sau: "Đại diện là
việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi
ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác
lập, thực hiện giao dịch dân sự" [24, khoản 1, Điều 134].
Quy định trên xác định mục tiêu đại diện trong xác lập và thực hiện
các giao dịch dân sự đó là vì lợi ích của người được đại diện. Nhưng thẩm
quyền của người đại diện trong trường hợp không xác định được phạm vi đại
diện lại quá rộng, cụ thể tại khoản 2 Điều 141 BLDS năm 2015 quy định:
"Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại
khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực
hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác" [24, khoản 2, Điều 141]. Việc phân loại xác định
hoặc không xác định được phạm vi đại diện dẫn đến tình trạng người đại diện
thực hiện quá phạm vi đại diện, xâm phạm đến quyền và lợi ích chính đáng
của người được đại diện, nhất là liên quan đến vấn đề sở hữu tài sản của các
đối tượng là người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi.
Mặt khác, cũng có sự mâu thuẫn giữa quy định tại các khoản của
Điều 141 BLDS năm 2015. Cụ thể, trong khi khoản 2 thừa nhận trường hợp
phạm vi của đại diện không xác định, thì khoản 4 lại đưa ra đòi hỏi người đại
diện phải thông báo cho bên giao dịch biết phạm vi đại diện của mình, tức là
người đại diện khi tiến hành hoạt động đại diện thì phải: (1) thông báo với đối
tác về việc đại diện cho ai; (2) thông báo về phạm vi đại diện. Tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 143 BLDS năm 2015 quy định trong một số trường hợp, người
thứ ba giao dịch với người đại diện không phải lúc nào cũng biết phạm vi đại
58
diện của người đại diện. Như vậy, quy định tại khoản 4 Điều 141 BLDS năm
2015 là chưa hợp lý.
Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định: "Trường
hợp pháp luật quy định thì người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập thực
hiện" [24, khoản 3, Điều 134]. Có thể hiểu, trong trường hợp pháp luật không
quy định, người đại diện không nhất thiết phải có năng lực pháp luật dân sự,
năng lực hành vi dân sự, hay nói cách khác, người vô năng có thể là đại
diện [10, tr. 291-292]. Như vậy, BLDS năm 2015 không quy định các giao
dịch xác lập và thực hiện với người vô năng và các hậu quả pháp lý liên quan
tới người được đại diện trong trường hợp trao quyền đại diện cho người vô năng.
2.4. Thực hiện nghĩa vụ tài sản để lại của người chết, quyền của
chủ nợ liên quan đến di sản thừa kế và chủ nợ của người thừa kế
Nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại bao gồm:
- Nhóm nghĩa vụ đối với Nhà nước, như: nộp thuế (thuế thu nhập cá
nhân, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tiền phạt vi phạm hành chính…)
- Nhóm nghĩa vụ đối với cá nhân, tổ chức khác: tiền cấp dưỡng còn
thiếu, tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ, tiền công lao động, tiền bồi
thường thiệt hại, các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân.
- Các chi phí phát sinh: chi phí mai táng, chi phí bảo quản di sản, các
chi phí khác [1, tr. 67-70].
* Thứ tự ưu tiên thanh toán:
Thứ tự ưu tiên thanh toán các loại nghĩa vụ trên được quy định như sau:
1. Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng.
2. Tiền cấp dưỡng còn thiếu.
3. Chi phí cho việc bảo quản di sản.
4. Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ.
5. Tiền công lao động.
59
6. Tiền bồi thường thiệt hại.
7. Thuế và các khoản phải nộp khác vào ngân sách Nhà nước.
8. Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân.
9. Tiền phạt.
10. Các chi phí khác [24, Điều 658].
Xét theo thứ tự trên, loại nghĩa vụ đứng trên sẽ được ưu tiên thanh
toán đầy đủ, nếu di sản còn thì tiếp tục thanh toán đến nghĩa vụ tiếp theo cho
đến khi hoàn thành tất cả các nghĩa vụ. Nếu mới thanh toán được một vài nghĩa
vụ trước thì hết di sản, thì những nghĩa vụ sau sẽ không thực hiện được nữa.
Theo đó, nghĩa vụ cho việc mai táng được thanh toán đầu tiên. Nhưng
chi phí này phải "hợp lý". Hiểu thế nào là "chi phí hợp lý" thì đến nay vẫn
chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định hướng dẫn cụ thể về nội
dung này.
Về tiền cấp dưỡng cho người sống nương nhờ, trên thực tế có một số
người không có khả năng lao động để nuôi sống bản thân. Những người này
được người khác giúp đỡ, cho họ sống nương nhờ và họ hoàn toàn phụ thuộc
vào người cưu mang mình. Vì thế, khi người cho sống nương nhờ chết, họ sẽ
rơi vào tình cảnh khó khăn về mọi mặt. Do đó, pháp luật có quy định ưu tiên
thanh toán cho những trường hợp này. Tuy nhiên, việc người thừa kế bắt buộc
phải thực hiện nghĩa vụ trên mà còn ở thứ tự ưu tiên thứ tư là chưa thực sự
hợp lý. Vì việc cho người khác sống nương nhờ là xuất phát từ tấm lòng nhân
đạo của người cho nương nhờ, chứ không phải một nghĩa vụ pháp lý. Nó xuất
phát từ tình cảm giữa người với người chứ không thuộc đối tượng điều chỉnh
của pháp luật.
Về việc thanh toán nghĩa vụ với Nhà nước được xếp trước nghĩa vụ
đối với các cá nhân, pháp nhân là chưa thỏa đáng. Thực chất, trong quan hệ
nghĩa vụ, Nhà nước cũng là một chủ nợ của người chết để lại di sản. Một
trong những nguyên tắc của pháp luật dân sự là các chủ thể đều bình đẳng
60
trong các giao dịch dân sự. Bởi thế, Nhà nước hay các chủ nợ là cá nhân, pháp
nhân cần được đối xử công bằng như nhau.
Một điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 là xếp chi
phí bảo quản di sản lên trước (từ vị trí thứ chín lên vị trí thứ ba). Đây là một
điểm tiến bộ đáng ghi nhận của BLDS năm 2015. Bởi loại chi phí này góp
phần bảo đảm cho di sản được giữ gìn một cách cẩn thận để duy trì được giá
trị di sản tốt nhất cho đến khi được chia thừa kế.
* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản
thừa kế, chủ nợ của người thừa kế:
Chủ nợ của người để lại di sản thừa kế có quyền đòi nợ từ những
người thừa kế di sản do khi còn sống, người để lại di sản chưa thực hiện hoặc
thực hiện chưa đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Vấn đề thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ cùng hàng thực hiện
như thế nào thì BLDS năm 2015 vẫn còn bỏ ngỏ, gây ra khó khăn cho Tòa án
trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ trả nợ cho
các chủ nợ này.
Có nhiều ý kiến khác nhau về sự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ tài sản
đối với chủ nợ của người để lại di sản và chủ nợ của người thừa kế từ khối di
sản mà người thừa kế được hưởng.
Xét về nguồn gốc phát sinh, những nghĩa vụ được thanh toán theo quy
định tại Điều 658 BLDS năm 2015 là những nghĩa vụ của người để lại di sản, do
người để lại di sản xác lập hoặc phải thực hiện theo luật định. Tuy nhiên, khi
người để lại di sản chết, những nghĩa vụ đó được chuyển giao cho những người
thừa kế. Lúc này, nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản và cho chủ
nợ của người thừa kế sẽ do một chủ thể thực hiện, đó là người thừa kế [1, tr. 75].
Có hai trường hợp sẽ xảy ra như sau:
- Trường hợp di sản chưa chia và đang được người quản lý di sản
quản lý: Các chủ nợ của người để lại di sản có quyền yêu cầu người quản lý di
61
sản trả nợ trong phạm vi di sản mà người chết để lại. Sau khi các nghĩa vụ này
được thanh toán, thì phần di sản còn lại được chia cho những người thừa kế.
- Trường hợp di sản đã chia cho người thừa kế: Khi di sản đã được chia,
di sản thừa kế và tài sản của người thừa kế trở thành khối tài sản chung thống
nhất. Bởi vậy rất khó tách bạch đâu là di sản, đâu là tài sản. Vì thế, thứ tự ưu
tiên thanh toán giữa hai chủ nợ nói trên cũng khó xác định. Ví dụ: A được
thừa kế di sản trị giá 500 triệu đồng, trước đó A sở hữu số tài sản 300 triệu
đồng. A nợ hai người là B và C lần lượt số tiền là 400 triệu đồng và 500 triệu
đồng. Vậy, tài sản mà A có sau khi nhận thừa kế là 800 triệu đồng, không đủ
tiền trả nợ cho B và C (tổng số nợ là 900 triệu đồng). Trong tình huống này, B
hay C được ưu tiên thanh toán trước.
Hiện nay, pháp luật Việt Nam vẫn chưa quy định rõ ràng về vấn đề
này, nên quyền của các chủ nợ cũng chưa được đảm bảo.
2.5. Di sản dùng vào việc thờ cúng
Pháp luật quy định thông qua việc lập di chúc, người lập di chúc có thể
định đoạt sẽ để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Nhưng thuật ngữ
"một phần" gây không ít khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật và vô hình
chung quy định trên đã làm hạn chế quyền tự do định đoạt tài sản của người lập
di chúc, hay nói cách khác, ý chí, quyền tự do, tự nguyện, không bị ép buộc của
người lập di chúc đối với tài sản thuộc sở hữu của mình đã vô hình có những
ràng buộc mà không phải đến từ những nguyên tắc pháp luật chung [28, tr. 100].
Quyền của người lập di chúc trong việc để lại di sản dùng vào việc thờ
cúng còn bị giới hạn bởi hai yếu tố sau:
Yếu tố thứ nhất, nghĩa vụ tài sản của người chết để lại.
Khoản 2 Điều 645 BLDS năm 2015 quy định: "Trường hợp toàn bộ di sản
của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không
được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng" [24, khoản 2, Điều 645].
Như vậy, di sản thờ cúng mà người lập di chúc định đoạt phải nhỏ hơn hoặc
bằng hiệu số của tổng giá trị khối di sản trừ đi các khoản nợ mà người đó để lại.
62
Yếu tố thứ hai, phần di sản của người thừa kế không phụ thuộc vào nội
dung di chúc.
Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định rõ giới hạn của phần di sản
thờ cúng trong trường hợp ảnh hưởng đến phần di sản của người thừa kế
không phụ thuộc vào nội dung di chúc, vì thế nội dung này cần tiếp tục được
nghiên cứu, làm rõ để hoàn thiện chế định thừa kế trong BLDS năm 2015.
2.6. Thực hiện thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân
chia di sản thừa kế
Hiện nay, một số người vẫn nhầm lẫn giữa thỏa thuận phân chia di sản
thừa kế và khai nhận di sản thừa kế. Đây là hai thủ tục riêng biệt và khác
nhau, được thể hiện qua các điểm sau:
- Về chủ thể: Trong khi thỏa thuận phân chia di sản thừa kế được thực
hiện bởi cả người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật của
người để lại di sản, đồng thời phải có ít nhất hai chủ thể trở lên thỏa thuận, thì
khai nhận di sản thừa kế chỉ do người duy nhất được hưởng di sản theo pháp
luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật (có từ một chủ
thể trở lên) thực hiện.
- Về nội dung: Nếu trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, những
người thừa kế có sự chuyển quyền hưởng di sản cho nhau, thì trong khai nhận
di sản thừa kế không có nội dung này.
Mặc dù có những điểm khác biệt trên, nhưng nhìn chung, thủ tục hành
chính để công chứng hai loại thủ tục này tương đối giống nhau. Cơ quan có
thẩm quyền công chứng thường yêu cầu người thừa kế phải cung cấp rất nhiều
hồ sơ, giấy tờ pháp lý để chứng minh quan hệ thừa kế. Nhưng thực tế, nhiều
gia đình do chiến tranh, thiên tai hay những lý do khách quan khác, cũng như
ý thức pháp luật của nhiều người dân còn hạn chế, nên họ không còn lưu giữ
được các giấy tờ đó. Trong những trường hợp này rất khó đáp ứng được yêu
cầu của cơ quan công chứng khi có yêu cầu công chứng việc khai nhận hay
thỏa thuận phân chia di sản, mặc dù "người thật, việc thật" rất rõ ràng.
63
2.7. Điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết"
Điều kiện chung đối với người thừa kế là cá nhân theo quy định của
BLDS năm 2015 là phải "còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và
còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại
di sản chết". Tuy nhiên, việc xác định điều kiện "phải thành thai trước khi
người để lại di sản chết" chỉ áp dụng đối với cá nhân là người thừa kế theo
pháp luật hay đối với cả cá nhân là người thừa kế theo di chúc thì hiện nay
vẫn còn nhiều tranh cãi.
Có quan điểm cho rằng, quy định của pháp luật về điều kiện của người
thừa kế hiện hành vẫn phù hợp. Dù là người thừa kế theo pháp luật hay người
thừa kế theo di chúc vẫn phải đáp ứng điều kiện "phải thành thai trước khi
người để lại di sản chết". Những người theo quan điểm này dựa vào quy định
của Luật HN&GĐ về việc con sinh ra hoặc được người vợ mang thai trong
thời kỳ hôn nhân thì là con chung của vợ chồng. Do vậy, khi con đã thành thai
trước khi người cha chết thì mới là con cùa người cha đó và người mẹ không
có nghĩa vụ phải chứng minh con có phải của người cha đã chết hay không.
Ngược lại, có quan điểm lại cho rằng, điều kiện "thành thai trước khi
người để lại di sản chết" chỉ áp dụng với người thừa kế theo pháp luật, chứ
không áp dụng cho người thừa kế theo di chúc. Cá nhân chỉ cần sinh ra và còn
sống thì cá nhân đó có quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không cần thành
thai trước khi người để lại di chúc chết. Bởi trên thực tế, có một số bản di
chúc mà người để lại di sản đã chỉ định người thừa kế ngay cả khi họ chưa
thành thai trước khi người để lại di sản chết. Bên cạnh đó, với sự hiện đại của
nền y học thế giới hiện nay, việc người vợ mang thai nhờ can thiệp kỹ thuật
sinh sản từ tinh trùng của chồng mình mặc dù người chồng đã chết trước đó là
điều hoàn toàn có thể. Bởi thế, quy định điều kiện phải "thành thai trước khi
người để lại di sản chết" đối với người thừa kế theo di chúc hiện nay dường
như không còn phù hợp với thực tế nữa.
64
Kết luận Chương 2
Từ xưa đến nay, các quan hệ xã hội luôn có sự biến đổi, chuyển động
để phù hợp với sự phát triển không ngừng của nhân loại. Quan hệ thừa kế và
những quy định pháp luật về thừa kế cũng vậy. Để có những thay đổi tích cực
và phù hợp với thực tiễn, việc áp dụng pháp luật về thừa kế luôn được chú
trọng, trong đó có áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
Trong chương 2 của luận văn, tác giả tập trung phân tích tình huống
thực tế về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Từ đó, tác giả chỉ rõ các vấn đề
pháp luật chưa quy định, một số bất cập của các quy định pháp luật khi áp
dụng vào thực tiễn, các luồng ý kiến khác nhau về vấn đề đó. Xuất phát từ
thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần
hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại
chương 3.
65
Chương 3
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ THỎA THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
3.1. Về công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam của người
nước ngoài
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người nước ngoài là cá nhân
có quyền hưởng thừa kế. Do đó, họ cũng có quyền tham gia vào thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, không giống như người thừa kế là người
Việt Nam, pháp luật hiện hành quy định người nước ngoài không có quyền
hưởng thừa kế quyền sử dụng đất tại Việt Nam mà chỉ được hưởng thừa kế
quyền sở hữu nhà ở thương mại ở Việt Nam.
Về vấn đề có hay không công nhận quyền sử dụng đất ở Việt Nam cho
người nước ngoài, đến nay có hai quan điểm trái ngược nhau như sau:
+ Không đồng ý công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam cho người
thừa kế là người nước ngoài;
+ Đồng ý công nhận quyền sử dụng đất tại Việt Nam cho người thừa
kế là người nước ngoài.
Như đã phân tích tại phần 2.1 của luận văn, tác giả cho rằng, pháp luật
Việt Nam vẫn nên giữ quy định hiện tại là không công nhận người nước ngoài
có quyền sử dụng đất tại Việt Nam theo quan điểm đầu tiên. Mặc dù, trên
thực tế tại Việt Nam, có một số người nước ngoài đã lợi dụng người Việt
Nam làm "bình phong" để kiểm soát quyền sử dụng đất tại Việt Nam, nhưng
do việc quản lý thiếu chặt chẽ và những lỗ hổng về mặt pháp lý của nước ta
đã tạo điều kiện cho người nước ngoài dựa vào những quy định chưa chặt chẽ,
rõ ràng của pháp luật để đạt được mục đích nêu trên.
66
Vì vậy, pháp luật nước ta cần quy định rõ một cơ chế quản lý nhà
nước chặt chẽ hơn, mạnh mẽ hơn, quản lý một cách thông minh, có hiệu quả
bằng những công cụ quản lý phù hợp như đánh thuế tài sản, bất động sản...,
đặc biệt là những người sở hữu bất động sản, quyền sử dụng thửa đất thứ hai
trở lên.
3.2. Về đại diện trong thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
Đại diện là một chế định quan trọng trong đời sống pháp lý xã hội. Bất
kỳ hệ thống pháp luật nào cũng đều xem đây là một chế định quan trọng, chế
định trung tâm của luật dân sự hiện đại [10, tr. 283].
Vấn đề đại diện trong giao dịch dân sự nói chung và trong thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế nói riêng luôn được các nhà làm luật quan tâm và
được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng. Chế định
này được coi là công cụ pháp lý để bảo vệ cho những người yếu thế trong
giao dịch dân sự, tức là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người
khác xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Những người yếu thế đó
bao gồm: người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi. Đây đều là những chủ thể luôn được pháp luật ưu tiên bảo vệ
lợi ích.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định việc đại diện thông qua hai
phương thức là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Phạm vi đại
diện của hai phương thức này là khác nhau:
+ Người đại diện theo pháp luật: Pháp luật cho phép người đại diện
theo pháp luật có quyền chủ động tối đa trong việc xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự liên quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích
của người được đại diện.
67
+ Người đại diện theo ủy quyền: Phạm vi đại diện của những người
này được xác định trong văn bản ủy quyền. Người đại diện theo ủy quyền
chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản ủy quyền
quy định.
Như tác giả đã phân tích tại mục 2.3, về phạm vi đại diện, pháp luật
dân sự nước ta nên khắc phục theo hướng quy định rõ ràng người đại diện chỉ
có thẩm quyền đại diện trong các vấn đề có liên quan tới quản trị tài sản của
người được đại diện trong trường hợp phạm vi đại diện không xác định để đặt
ra giới hạn đại diện cho người đại diện.
Để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba, là người xác lập giao
dịch dân sự với người đại diện, thì người đại diện có nghĩa vụ phải thông báo
cho người thứ ba biết về phạm vi đại diện của mình. Tuy nhiên lại có sự mâu
thuẫn giữa các quy định tại các khoản thuộc Điều 141 BLDS năm 2015 về
phạm vi đại diện. Để khắc phục mâu thuẫn này, theo tác giả, pháp luật nước ta
nên bỏ khoản 4 ("người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về
phạm vi đại diện của mình") của Điều này để phù hợp với quy định tại các
khoản còn lại.
Trong trường hợp vẫn tiếp tục giữ khoản 4 Điều 141 nêu trên thì có
thể phát sinh vấn đề vướng mắc như sau: Nếu người đại diện không thông báo
cho bên thứ ba tham gia giao dịch phạm vi đại diện của mình thì sẽ vi phạm
điều cấm của luật, suy ra giao dịch đó bị vô hiệu. Vậy quy định như khoản 2
và khoản 3 Điều 141 BLDS năm 2015 về vượt quá phạm vi đại diện không
còn ý nghĩa nữa.
Liên quan đến năng lực chủ thể của người đại diện, theo quy định của
pháp luật hiện hành, người đại diện theo pháp luật bắt buộc phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, ngược lại, người đại diện theo ủy quyền không nhất
68
thiết phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp
pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên
xác lập, thực hiện [24, khoản 3, Điều 138].
Bộ luật Dân sự năm 2015 chưa quy định các giao dịch xác lập và thực
hiện với người vô năng khi quy định: "Trường hợp pháp luật quy định thì
người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù
hợp với giao dịch dân sự được xác lập thực hiện" [24, khoản 3, Điều 134].
Việc BLDS năm 2015 chưa quy định vấn đề trên dẫn đến tình trạng không có
cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp người được đại diện trao quyền
đại diện cho người vô năng. Vậy nên các nhà làm luật cần nghiên cứu kỹ để
sửa đổi, bổ sung nội dung này vào BLDS. Theo quan điểm của tác giả luận
văn, pháp luật dân sự Việt Nam nên quy định rõ: Không trao quyền đại diện
cho người vô năng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự.
3.3. Về thứ tự ưu tiên thanh toán các nghĩa vụ tài sản của người
chết để lại
- Về chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng theo quy định tại
khoản 1 Điều 658 BLDS năm 2015: Vì chưa có cơ sở pháp lý nào cho việc
xác định thế nào là "chi phí hợp lý" nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo tác giả, pháp luật Việt Nam cần có quy định hướng dẫn cụ thể, trong đó
chia thành hai trường hợp sau:
Trường hợp thứ nhất: Nếu thực hiện nhiều nghĩa vụ tài sản theo quy
định tại Điều 658 BLDS năm 2015 mà toàn bộ di sản vẫn không đủ để thanh
toán thì để đảm bảo cho việc thanh toán các nghĩa vụ cho các chủ nợ khác, chi
phí hợp lý này chỉ nên giới hạn ở những chi phí cần thiết để tổ chức một tang
lễ bình thường theo phong tục tập quán của từng địa phương.
69
Trường hợp thứ hai: Nếu toàn bộ di sản đủ để thực hiện các nghĩa vụ
tài sản của người chết để lại thì chi phí hợp lý cho việc mai táng có thể vượt
mức bình thường theo di nguyện của người chết hoặc theo thỏa thuận của
những người thừa kế.
- Về tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ theo quy định tại khoản 4
Điều 658 BLDS năm 2015: Việc trợ cấp này xuất phát từ tấm lòng từ thiện
của người cho sống nương nhờ nên theo tác giả cần bỏ nghĩa vụ tài sản này ra
khỏi danh sách những nghĩa vụ tài sản phải thanh toán do người chết để lại.
Việc trợ cấp hay không do những người thừa kế tự nguyện thực hiện, không
nên đưa vào thành một nghĩa vụ pháp lý bắt buộc.
- Về thứ tự ưu tiên thanh toán nghĩa vụ tài sản đối với Nhà nước và
các chủ nợ khác theo khoản 7 và khoản 8 BLDS năm 2015: Quan điểm của
tác giả là Nhà nước hay các chủ nợ là cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng như
nhau với tư cách là chủ nợ của người để lại di sản. Do đó, nghĩa vụ tài sản đối
với các chủ nợ này nên được xếp cùng hàng với nhau.
3.4. Về thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di
sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế
* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ cùng hàng:
Vấn đề thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho các chủ nợ cùng hàng thì BLDS
năm 2015 chưa quy định cụ thể thứ tự ưu tiên thanh toán cho các chủ nợ cùng
hàng như thế nào. Theo tác giả, để đảm bảo công bằng và hợp lý nhất, thì cần
xác định trên nguyên tắc ưu tiên về thời gian, tức là chủ nợ nào đòi nợ trước
thì được thanh toán trước. Nếu các chủ nợ đòi cùng lúc thì việc thanh toán nợ
được phân định theo nguyên tắc tỉ lệ.
Ví dụ: Sau khi thanh toán các nghĩa vụ tài sản ở những hàng trên, di
sản còn lại mà người chết để lại là 100 triệu đồng, trong khi đó có hai khoản
70
nợ chưa thanh toán, trong đó: Nợ A 200 triệu đồng, nợ B 300 triệu đồng. Vậy
nếu tính theo tỉ lệ, A được thanh toán số nợ là: 200/(200+300) x 100 = 40
triệu đồng; B được thanh toán số nợ là: 300/(200+300) x 100 = 60 triệu đồng.
* Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di sản thừa
kế, chủ nợ của người thừa kế trong trường hợp di sản đã được chia:
Trường hợp thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho chủ nợ của người để lại di
sản thừa kế, chủ nợ của người thừa kế trong trường hợp di sản đã được chia
thì có hai hướng giải quyết:
Trường hợp 1: Nếu có người quản lý di sản (theo quy định tại các
khoản 1, 2 Điều 616 BLDS năm 2015) thì di sản của người chết để lại chỉ
được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản cho chủ nợ của người đó, chủ nợ
của người thừa kế không được phép thanh toán và ngược lại.
Trường hợp 2: Nếu không có người quản lý di sản thì khi di sản thừa
kế và tài sản của người thừa kế trộn lẫn với nhau và không thể phân định,
chia, tách được thì các chủ nợ có quyền yêu cầu người thừa kế kê biên và bán
các tài sản đó để thu hồi nợ.
3.5. Về di sản dùng vào việc thờ cúng
Nhằm đảm bảo và tôn trọng ý chí của người để lại di sản, đồng thời để
phù hợp với truyền thống văn hóa của nước ta, pháp luật hiện hành đã quy
định người lập di chúc có thể dành "một phần" tài sản của mình dùng vào việc
thờ cúng sau khi người đó chết theo Điều 645 BLDS năm 2015. Tuy nhiên,
hiểu thế nào là "một phần" di sản dùng vào việc thờ cúng thì chưa có văn bản
pháp luật nào quy định, dẫn đến khi giải quyết việc phân chia di sản chưa có
sự thống nhất trong việc xác định phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Việc
quy định như trên cũng xâm phạm quyền tự định đoạt của người để lại di sản.
Có ý kiến cho rằng, xác định "một phần tài sản trong khối di sản" là
một phần tài sản trong một tài sản cụ thể, độc lập với các tài sản khác. Ví dụ:
71
Khi người lập di chúc định đoạt tài sản là một ngôi nhà, thì người này chỉ
được dành một phần của ngôi nhà mà không được để lại toàn bộ ngôi nhà để
thờ cúng.
Ý kiến khác lại cho rằng, xác định "một phần tài sản trong khối di
sản" là một phần tài sản của toàn bộ khối di sản mà người chết để lại, chứ
không phải của một tài sản độc lập. Như vậy, ở ví dụ trên, người lập di chúc
có thể định đoạt toàn bộ ngôi nhà dùng vào việc thờ cúng.
Bởi sự thiếu thống nhất như trên, nên theo tác giả luận văn, pháp luật
không nên sử dụng cụm từ "một phần" khi quy định về việc người lập di chúc
được quyền dành di sản cho việc thờ cúng. Pháp luật nên quy định theo
hướng "người lập di chúc có quyền dành tài sản của mình để dùng vào việc
thờ cúng". Điều này đồng thời cũng không làm hạn chế quyền tự do định đoạt
của người lập di chúc.
Về việc ảnh hưởng đến phần di sản của những người thừa kế không
phụ thuộc vào nội dung di chúc, tác giả cho rằng, pháp luật cần quy định rõ
ràng về việc phần di sản dùng vào việc thờ cúng không được xâm phạm vào
phần di sản của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc.
Hay nói cách khác, phần di sản thờ cúng phải nhỏ hơn hoặc bằng hiệu số của
tổng số di sản trừ đi phần di sản của những người thừa kế không phụ thuộc
vào nội dung di chúc.
3.6. Về thủ tục công chứng khi khai nhận/thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế
Với những bất cập mà tác giả đã nêu tại mục 2.6, theo quan điểm của
tác giả, nếu vì những lý do khách quan mà người yêu cầu công chứng không
cung cấp được đầy đủ các giấy tờ liên quan đến thủ tục khai nhận hoặc phân
chia di sản thừa kế mà cơ quan công chứng yêu cầu thì các cơ quan công
72
chứng nên tạo điều kiện cho họ làm văn bản cam đoan và tự chịu trách nhiệm
về nội dung cam đoan của mình. Mọi hậu quả pháp lý của việc cam đoan sai
sự thật, người cam đoan phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Những
văn bản khai nhận/thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đã công chứng dựa
trên việc cam đoan sai sự thật của người thừa kế sẽ vô hiệu một phần hoặc
toàn bộ.
Nội dung kiến nghị trên chỉ có tính khả thi, được bảo đảm thực hiện
trên thực tế khi pháp luật quy định cụ thể, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để các cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện.
3.7. Về điều kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết"
Như đã phân tích ở mục 2.7, hiện nay có hai luồng quan điểm khác
nhau về điều kiện người thừa kế "phải thành thai trước khi người để lại di
sản chết".
Quan điểm thứ nhất, điểu kiện trên áp dụng cho cả người thừa kế theo
pháp luật và người thừa kế theo di chúc.
Quan điểm thứ hai, điều kiện trên chỉ áp dụng cho người thừa kế theo
pháp luật.
Theo tác giả, quan điểm thứ hai là hợp lý. Bởi trên thế giới, có nhiều
bản di chúc mà cá nhân được chỉ định hưởng thừa kế chưa thành thai trước
khi người để lại di sản chết nhưng vẫn được thừa nhận là có hiệu lực. Điển
hình là bản di chúc của Alfred Bernhard Nobel (1833-1896) - nhà bác học nổi
tiếng thế giới về nghiên cứu và chế tạo thuốc nổ ở thế kỷ XIX. Ông đã viết ba
bản di chúc vào các năm 1889, 1893, 1895 về việc xử lý số tài sản của ông
sau khi ông qua đời. Trong bản di chúc cuối cùng, ông viết: "Toàn bộ tài sản
đó được chuyển thành tiền mặt, người thừa hành của tôi sẽ đầu tư vào chứng
khoán một cách an toàn và cấu thành một loại quỹ. Lợi nhuận của quỹ được
73
chia thành 5 phần bằng nhau để thưởng cho những người có cống hiến lớn
nhất đối với lợi ích của nhân loại trong năm trước đó, bao gồm: Người có
phát hiện hoặc phát minh quan trọng nhất về lĩnh vực Vật lí; Người có phát
hiện hoặc cải tiến quan trọng nhất về lĩnh vực Hóa học; Người có phát hiện
quan trọng nhất trong lĩnh vực Sinh lí hoặc Y học; Người từng sáng tác tác
phẩm văn học kiệt xuất nhất theo khuynh hướng chủ nghĩa lí tưởng; Người
từng có cống hiến lớn nhất hoặc tốt nhất đối với việc thúc đẩy mối quan hệ
hữu nghị giữa các nước, việc loại bỏ hoặc cắt giảm binh bị, quân đội và trong
các hội nghị hòa bình." Bản di chúc đã gây ra nhiều tranh cãi trong giới luật
sư và báo chí. Tuy nhiên, cuối cùng, vào ngày 21/5/1898, Quốc vương Thụy
Điển đã tuyên bố bản Di chúc của Nobel có hiệu lực, ngày 29-6-1900, Quốc
hội Thụy Điển đã thông qua Điều lệ giải Nobel. Ngày 10-12-1901, nhân kỷ
niệm 5 năm ngày mất của Nobel, giải Nobel đầu tiên đã được trao. Và từ đó
đến nay, hàng năm giải này luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người trên thế
giới [34]. Như vậy, ngoài phương diện khoa học và danh dự, người được giải
thưởng Nobel còn được coi là người thừa kế theo di chúc có điều kiện đối với
di sản mà Nobel để lại.
Ngoài ra, theo xu thế phát triển vượt bậc của nền y học thế giới, hiện
nay tinh trùng của đàn ông có thể được bảo quản trong ngân hàng tinh trùng
trong nhiều năm. Kể cả khi người chồng đã chết, tinh trùng của người đó có
thể được cấy để thụ thai cho người vợ nhằm duy trì nòi giống. Rõ ràng, đứa
trẻ đó thành thai sau khi người chồng chết nhưng được sinh ra là con đẻ của
người đó.
Vì những lẽ trên, pháp luật thừa kế hiện hành nên bỏ quy định về điều
kiện "phải thành thai trước khi người để lại di sản chết" đối với người thừa kế
theo di chúc là phù hợp với thực tiễn.
74
Kết luận Chương 3
Thừa kế là một quan hệ xã hội phức tạp, vậy nên trong quá trình áp
dụng pháp luật về thừa kế nói chung và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế
nói riêng không tránh khỏi những vướng mắc, bất cập. Xuất phát từ thực trạng
đó, tại chương 3 của luận văn, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm mục
đích góp phần bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật về thừa kế,
trong đó có những nội dung có liên quan đến quy định về thỏa thuận phân
chia di sản thừa kế.
75
KẾT LUẬN
Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa truyền thống đạo đức tốt
đẹp, luôn coi trọng và quan tâm đến tình cảm của các thành viên trong gia
đình. Đối với vấn đề phân chia di sản thừa kế, để không làm mất đoàn kết
giữa các thành viên trong gia đình, pháp luật dân sự khuyến khích những
người thừa kế tự thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản. Đồng thời, để
đảm bảo tính pháp lý của văn bản thỏa thuận phân chia di sản, pháp luật cũng
khuyến khích những người thừa kế thực hiện công chứng văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế tại cơ quan công chứng.
Nhằm hiểu biết chuyên sâu về vấn đề thỏa thuận phân chia di sản thừa
kế, tác giả luận văn đã tìm tòi và nghiên cứu những nội dung lý luận chung
cùng các quy định pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản. Tác giả cũng
phân tích tình huống áp dụng pháp luật về thỏa thuận phân chia di sản trên
thực tiễn để từ đó cũng chỉ ra những điểm thiếu sót, bất cập của pháp luật hiện
hành về vấn đề này. Sau khi nghiên cứu lý luận, quy định chung của pháp luật
về thừa kế và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật, tác giả đưa ra một số đề
xuất, kiến nghị cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về thỏa thuận
phân chia di sản, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người thừa kế.
76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Tuấn Anh (2007), Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
theo quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
2. Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 (1931), Nhà in Ngô Tử Hạ, Hà Nội.
3. Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 (1947), Nhà in Viễn Đệ, Huế.
4. Bộ Tài chính (2016), Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 quy
định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí công chứng; phí
chứng thực; phí thẩm định tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề công chứng;
phí thẩm định điều kiện hoạt động văn phòng công chứng; lệ phí cấp thẻ
công chứng viên, Hà Nội.
5. Bộ Tư pháp (1956), Thông tư số 1742/BNC ngày 18/9/1956 hướng dẫn
một số vấn đề trong việc giải quyết tranh chấp về thừa kế, Hà Nội.
6. Chính phủ (1950), Sắc lệnh 97/SL ngày 22/5 của Chủ tịch Nước về việc
sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật.
7. Chính phủ (1998), Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về
đăng ký hộ tịch, Hà Nội.
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia
đình, Hà Nội.
9. Chính phủ (2015), Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp
bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và
chứng thực hợp đồng, giao dịch, Hà Nội.
10. Ngô Huy Cương (2013), Giáo trình luật hợp đồng phần chung (Dùng cho
đào tạo sau đại học), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
11. Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân
sự Việt Nam, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
77
12. Hội đồng Nhà nước (1990), Pháp lệnh Thừa kế, Hà Nội.
13. Lê Đình Nghị (2011), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
14. Phan Văn Nghĩa (2015), Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp
luật Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
15. Hạp Thị Như Nguyệt (2017), Di sản thừa kế - những vấn đề lý luận và
thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
16. Quốc hội (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
17. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
18. Quốc hội (2010), Luật Nuôi con nuôi, Hà Nội.
19. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.
20. Quốc hội (2013), Luật Đất đai, Hà Nội.
21. Quốc hội (2014), Luật Công chứng, Hà Nội.
22. Quốc hội (2014), Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
23. Quốc hội (2014), Luật Nhà ở, Hà Nội.
24. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
25. Quốc hội (2017), Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội.
26. Phùng Trung Tập (2001), "Di sản dùng vào việc thờ cúng trong mối liên
hệ với di sản thừa kế", Tạp chí Luật học, 01/2001, tr. 47-51.
27. Phùng Trung Tập (2004), Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam
từ năm 1945 đến nay, NXB Tư pháp, Hà Nội.
28. Nguyễn Thị Thương Thủy (2014), Di sản thờ cúng theo pháp luật Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
29. Tòa án nhân dân tối cao (1968), Thông tư số 594/NCPL ngày 27/8/1968
về tổng kết kinh nghiệm và hướng dẫn đường lối xét xử việc tranh chấp
thừa kế, Hà Nội.
78
30. Tòa án nhân dân tối cao (1981), Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981
hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, Hà Nội.
31. Trung tâm Từ điển học VIETLEX (2013), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà
Nẵng, Đà Nẵng.
32. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật
học, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
33. Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
tập I, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.
34. Nguyễn Thành Tuệ (2006), "Di chúc của Nobel", Báo Tuổi Trẻ, Hà Nội.
35. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2017), Quyết định số 20/2017/QĐ-
UBND ngày 01/6/2017 về việc ban hành Quy định về hạn mức giao đất;
hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối
thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành
phố Hà Nội, Hà Nội.
36. Nguyễn Thị Vĩnh (1996), Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
79