BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Phong
QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
(1986 - 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Phong
QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
(1986 - 2010)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN ĐẠT
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu và số liệu trích
dẫn trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Tác giả
Nguyễn Quốc Phong
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn chân thành TS. Lê Văn Đạt, người đã tận tình
giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm cùng các thầy, cô khoa Lịch sử và Phòng Sau đại
học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và các giáo viên trường THPT chuyên Nguyễn
Bỉnh Khiêm Vĩnh Long, nơi tôi đang công tác.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và nhân viên các phòng, ban của Ủy ban Nhân dân
thành phố Cần Thơ, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ, Ban Quản lý khu công
nghiệp - khu chế xuất Cần Thơ, Cục Thống kê thành phố Cần Thơ, và Thư viện thành phố
Cần Thơ đã tạo điều kiện cho tôi tiếp cận nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình thực hiện luận
văn.
Tác giả
Nguyễn Quốc Phong
MỤC LỤC
3TLỜI CAM ĐOAN3T ................................................................................................................. 3
3TLỜI CẢM ƠN3T ....................................................................................................................... 4
3TMỤC LỤC3T ............................................................................................................................. 5
3TDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT3T .................................................................................... 9
3TDANH MỤC CÁC BẢNG3T ................................................................................................. 10
3TMỞ ĐẦU3T .............................................................................................................................. 1
3T1. Lý do chọn đề tài3T ............................................................................................................................... 1
3T2. Lịch sử vấn đề3T ................................................................................................................................... 3
3T3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài3T ................................................................................. 5
3T4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của đề tài3T ......................................... 6
3T5. Mục đích nghiên cứu của đề tài3T....................................................................................................... 7
3T6. Những đóng góp của đề tài3T.............................................................................................................. 8
3T7. Cấu trúc đề tài3T ................................................................................................................................... 8
3TCHƯƠNG 1. NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG THU
HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 3T .................................................................................. 9
3T1.1. Một số vấn đề chung về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” và “Khu công nghiệp”3T ....................... 9
3T1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài3T................................................................................................. 9
3T1.1.1.1. Khái niệm3T ........................................................................................................................ 9
3T1.1.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam3T ........................................... 11
3T1.1.1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài3T ..................................................................... 12
3T1.1.2. Khu công nghiệp, khu chế xuất3T .......................................................................................... 14
3T1.1.2.1. Khái niệm3T ...................................................................................................................... 14
3T1.1.2.2. Đặc điểm, vai trò của khu công nghiệp - khu chế xuất3T ............................................. 15
3T1.2. Những tiềm năng và lợi thế của thành phố Cần Thơ trong phát triển khu công nghiệp - khu
chế xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.3T ......................................................................................... 18
3T1.2.2. Về lịch sử, văn hóa - du lịch3T ................................................................................................ 20
3T1.2.2.1. Đôi nét về lịch sử thành phố Cần Thơ3T ...................................................................... 20
3T1.2.2.3. Văn hóa và tiềm năng du lịch3T ...................................................................................... 22
3T1.2.3. Cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội3T ........................................................................................... 24
3T1.2.3.1. Hệ thống cơ sở hạ tầng3T ............................................................................................... 24
3T1.2.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội3T ............................................................................................. 25
3T1.2.4. Tiềm năng về nguồn lực con người3T ................................................................................... 31
3TCHƯƠNG 2. QUÁ TRÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG 10 NĂM ĐẦU ĐỔI MỚI (1986 -
1995)3T ................................................................................................................................... 34
3T2.1. Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương của thành phố Cần Thơ về phát
triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (1986 - 1995).3T ........................................................... 34
3T2.1.1. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước3T...................................................................... 34
3T2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Cần Thơ3T .................................................................. 38
3T2.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại Cần Thơ trong giai
đoạn (1986 - 1995)3T .............................................................................................................................. 41
3T2.2.1. Công tác xây dựng cơ bản3T .................................................................................................. 41
3T2.2.1.1. Công tác xây dựng các khu công nghiệp3T ................................................................... 41
3T2.2.1.2. Công tác xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.3T .............................................. 42
3T2.2.2. Công tác xây dựng cơ chế chính sách quản lý và dịch vụ khu công nghiệp3T ................. 45
3T2.2.2.1. Công tác xây dựng cơ chế, chính sách quản lý3T ........................................................ 45
3T2.2.2.2. Công tác xây dựng dịch vụ khu công nghiệp3T ............................................................ 48
3T2.3. Đánh giá về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại Cần Thơ
giai đoạn 1986 - 19953T ......................................................................................................................... 49
3T2.3.1. Về kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài3T ........................................................................ 49
3T2.3.1.1. Về số dự án và số vốn đầu tư3T ..................................................................................... 49
3T2.3.1.3. Đối tác và địa bàn đầu tư3T............................................................................................. 52
3T2.3.1.4. Về ngành nghề thu hút đầu tư3T .................................................................................... 54
3T2.3.2. Tác động về mặt kinh tế - xã hội3T......................................................................................... 55
3T2.3.2.1. Về kinh tế3T ...................................................................................................................... 55
3T2.3.2.2. Về mặt xã hội3T ................................................................................................................ 56
3T2.3.3 Những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần
Thơ giai đoạn 1986 - 19953T ............................................................................................................. 56
3TCHƯƠNG 3. QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU
CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (1996 - 2010)3T ........................................ 59
3T3.1. Chủ trương của Đảng và thành phố Cần Thơ về phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước
ngoài (1996 - 2010).3T ............................................................................................................................ 59
3T3.1.1. Chủ trương của Đảng3T .......................................................................................................... 59
3T3.1.2. Chủ trương, giải pháp của Đảng bộ thành phố Cần Thơ3T ................................................ 63
3T3.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần Thơ giai đoạn
1996 - 20103T .......................................................................................................................................... 67
3T3.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng cơ bản3T .................................................................. 67
3T3.2.1.1. Công tác xây dựng các khu công nghiệp3T ................................................................... 67
3T3.2.1.2. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật.3T ............................................................ 71
3T3.2.2. Công tác xây dựng hệ thống dịch vụ khu công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực3T ..... 75
3T3.2.2.1. Công tác xây dựng hệ thống dịch vụ3T .......................................................................... 75
3T3.2.2.2. Công tác đào tạo nguồn nhân lực3T .............................................................................. 78
3T3.2.2.3. Công tác tiếp thị, xúc tiến đầu tư vào các khu công nghiệp3T .................................... 80
3T3.3. Đánh giá về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại Cần Thơ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2010)3T .......................... 82
3T3.3.1. Về kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài3T ........................................................................ 82
3T3.3.1.1. Về số dự án và số vốn đầu tư3T ..................................................................................... 82
3T3.3.1.2. Quy mô và hình thức đầu tư3T ....................................................................................... 85
3T3.3.1.3. Đối tác và địa bàn đầu tư3T............................................................................................. 86
3T3.3.1.4. Về ngành nghề thu hút đầu tư3T .................................................................................... 88
3T3.3.2. Tác động về mặt kinh tế - xã hội3T......................................................................................... 90
3T3.3.2.1. Về kinh tế3T ...................................................................................................................... 90
3T3.3.2.2. Về mặt xã hội3T ................................................................................................................ 91
3T3.3.3 Những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần
Thơ giai đoạn 1966 - 20103T ............................................................................................................. 92
3TKẾT LUẬN3T ......................................................................................................................... 97
3TTÀI LIỆU THAM KHẢO3T ................................................................................................. 102
3TPHỤ LỤC3T ............................................................................................................................. 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết
01 Công nghiệp hóa CNH
02 Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL
03 Đầu tư nước ngoài ĐTNN
04 Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Héc ta 05 Ha
Hiện đại hóa 06 HĐH
Khu công nghiệp 07 KCN
Khu chế xuất 08 KCX
Kilômét 09 Km
Kilôvôn 10 KV
Kilôvôn Ampe 11 KVA
Kilôwat 12 KW
Kilôwat/giờ 13 KW/h
mét 14 m
Milivôn Ampe 15 MVA
Mêgawat 16 MW
17 Nhà xuất bản NXB
Hỗ trợ phát triển chính thức 18 ODA
19 Trách nhiệm hữu hạn TNHH
20 Thành phố TP
21 Trang Tr
22 Ủy ban Nhân dân UBND
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 1976 - 1985 (giá cố định 1994).
Bảng 1.2. Giá trị sản xuất công nghiệp ở TP Cần Thơ giai đoạn 1976 - 1985 (giá cố định 1994).
Bảng 2.1. Số dự án và số vốn đầu tư nước ngoài vào KCN Trà Nóc trong giai đoạn 1988 - 1995.
Bảng 2.2. Quy mô vốn ĐTNN vào KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1988 - 1995
Bảng 2.3. Hình thức ĐTNN vào KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1988 - 1995.
Bảng 2.4. Tổng vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài vào KCN Trà Nóc trong giai đoạn 1988 -
1995.
Bảng 2.5. Cơ cấu ngành nghề thu hút ĐTNN vào KCN Trà Nóc trong giai đoạn 1986 - 1995.
Bảng 3.1. Số dự án ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010.
Bảng 3.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở ĐBSCL từ năm 1988 - 2009
Bảng 3.3. Quy mô vốn ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010.
Bảng 3.4. Quy mô vốn ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010 so với
giai đoạn 1986 - 1995.
Bảng 3.5. Hình thức ĐTNN đầu tư vào 5 KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 -
2010.
Bảng 3.6. Tổng vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn
1996 - 2010.
Bảng 3.7. Số dự án nước ngoài đầu tư vào 5 KCN (1996 - 2010) phân theo lĩnh vực đầu tư.
Bảng 3.8. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN từ năm 1986 đến 2010.
Bảng 3.9. Tình hình hoạt động của các KCN TP Cần Thơ tính đến năm 2007.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cho đến nay, nguồn vốn FDI đã được nhìn nhận như là một trong những “trụ cột” tăng trưởng
kinh tế, nguồn lực quan trọng của sự nghiệp CNH - HĐH nước ta. Vai trò của FDI được thể hiện rất
rõ qua việc đóng góp quan trọng vào việc: bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội;
chuyển giao công nghệ; phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm; đóng góp tích cực vào
nguồn thu ngân sách, cũng như đẩy mạnh hoạt động xuất - nhập khẩu, qua đó giúp nước ta hội nhập
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Trong suốt hơn 20 năm qua, nhờ có sự đóng góp quan trọng của
FDI mà nước ta đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và được biết đến là một trong những
nước phát triển năng động, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Khu vực kinh tế có
vốn ĐTNN đã không ngừng được mở rộng và phát triển, trở thành một bộ phận quan trọng của nền
kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Tuy nhiên, vốn FDI cũng đã và đang tạo ra nhiều vấn đề ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển
bền vững và chất lượng cuộc sống của người dân. Trong những năm gần đây, đã xuất hiện hàng loạt
vấn đề gây bức xúc dư luận xã hội, trong đó nổi bật là chất lượng sử dụng nguồn vốn đầu tư thấp,
thiếu tính bền vững dẫn đến sự mất cân đối trong nền kinh tế; nhiều cuộc tranh chấp lao động trong
khu vực có vốn ĐTNN chưa được quan tâm giải quyết kịp thời; sự yếu kém trong chuyển giao công
nghệ, và nghiêm trọng nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường tại các KCN, gây nhiều tác hại nghiêm
trọng mang tính hủy hoại môi trường sinh thái ở nước ta.
Có thể nói, đi đôi với thu hút vốn ĐTNN là phát triển mô hình các KCN - KCX. Chiến lược
này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Trong tiến trình CNH - HĐH nước ta, việc xây dựng
các khu - cụm công nghiệp tập trung là rất cần thiết và được nhà nước khuyến khích phát triển. Tại
Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII năm 1994 và đại hội VIII năm 1996 của Đảng đã coi việc
xây dựng, hình thành và phát triển các KCN - KCX ở nước ta là một nội dung cơ bản của quyết sách
CNH - HĐH thu hút FDI. Tiếp theo đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn
2001 - 2010, Đảng đã đưa ra chủ trương: “Hoàn chỉnh và nâng cấp các khu công nghiệp, khu chế
xuất hiện có, xây dựng một số khu công nghệ cao, hình thành các cụm công nghiệp lớn và khu kinh
tế mở...” [9, tr.11]. Đây là một định hướng và quyết sách cực kỳ quan trọng nhằm mục tiêu đưa
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020. KCN - KCX là đầu mối quan trọng
trong việc thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Bởi tại đây có các công trình cơ sở hạ tầng kĩ
thuật tập trung, đầu tư nhanh với chất lượng cao, với các dịch vụ cần thiết và các thủ tục đơn giản
đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư, đồng thời, KCN - KCX cũng chính là nơi tiếp nhận những công
nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại của thế giới. Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác quy hoạch và
xây dựng, phát triển và quản lý các KCN - KCX ở nước ta còn nhiều bất cập làm cho hoạt động thu
hút ĐTNN vào khu vực này có chiều hướng giảm dần. Đó đang là một vấn đề không nhỏ đặt ra cho
các cấp, các ngành cần phải nghiên cứu, tiếp tục có những chính sách phát triển đúng đắn các KCN
- KCX.
Năm 2006, Đảng ta đã tiến hành tổng kết 20 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước và thu
hút ĐTNN (1986 - 2006), bên cạnh những thành tựu đạt được, Đảng đã nhận định: chính sách thu
hút nguồn vốn FDI ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết như: về cơ
chế chính sách, môi trường thu hút đầu tư, cũng như việc xây dựng và quản lý KCN... Do đó, đường
lối thu hút ĐTNN của Đảng và Nhà nước cũng như của TP Cần Thơ trong thời gian tới cần phải tiếp
tục phát triển, hoàn chỉnh.
TP Cần Thơ nằm ở trung tâm ĐBSCL trực thuộc Trung ương ngày 1 tháng 1 năm 2004, là một
trong những TP lớn của cả nước, có nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp, thu hút
ĐTNN. Vận dụng đường lối của Đảng, nhất là nhận thức được tầm quan trọng của KCN đối với sự
phát triển kinh tế, CNH - HĐH đất nước, TP đã chọn KCN làm mô hình trọng điểm ở địa phương.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, TP Cần Thơ đã đặt ra mục tiêu: “Xây
dựng Cần Thơ trở thành thành phố hiện đại và văn minh, là đô thị loại 1 trước năm 2010 và cơ bản
trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020; là trung tâm kinh tế - xã hội, trung tâm giáo dục
- đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của vùng đồng bằng sông Cửu Long;
là đầu mối quan trọng về giao thông, vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn trọng điểm giữ
vị trí chiến lược về quốc phòng - an ninh của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước, là
một cực phát triển, đóng vai trò động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của toàn vùng đồng bằng
sông Cửu Long” [73, tr.11]. Để thực hiện được mục tiêu trên, bên cạnh khai thác phát huy tối đa các
tiềm lực và lợi thế sẵn có, thì việc thu hút nguồn vốn ĐTNN vào các KCN là một trong những giải
pháp quan trọng, động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình CNH - HĐH của địa phương trong giai đoạn
hiện nay. Trong thời gian qua, TP Cần Thơ đã tập trung xây dựng nhiều KCN, tuy nhiên trải qua
hơn 20 năm (1986 - 2010), các dự án nước ngoài đầu tư vào khu vực này còn rất khiêm tốn. Quy mô
và tổng số vốn đầu tư vào các KCN chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của địa phương.
Thêm vào đó là hiệu quả thực hiện các dự án còn rất hạn chế. Đây là một thực trạng không chỉ diễn
ra Cần Thơ mà còn xuất hiện ở nhiều địa phương khác trong cả nước. Vì vậy, vấn đề thu hút ĐTNN
vào các KCN phục vụ quá trình CNH - HĐH đang trở thành tâm điểm chú ý thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà khoa học, giới nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cho sự
phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việc nghiên cứu quá trình thu hút vốn ĐTNN vào các
KCN tại TP Cần Thơ (1986 - 2010), trở thành một yêu cầu cấp bách, nhằm lý giải những thành
công cũng như hạn chế của quá trình thu hút ĐTNN thời gian qua, từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm nâng cao vai trò của nguồn lực quan trọng này đối với thực hiện các mục tiêu CNH - HĐH
của nước ta nói chung và TP Cần Thơ nói riêng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới.
Chính vì những lý do trên, tác giả luận văn chọn đề tài “Quá trình thu hút vốn đầu tư nước
ngoài vào các khu công nghiệp tại thành phố Cần Thơ (1986 - 2010)” để viết luận văn Thạc sĩ
lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Vốn ĐTNN và KCN - KCX có vai trò rất lớn, là một trong những nhân tố quan trọng có tính
chất quyết định trong quá trình CNH - HĐH cũng như trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Chính vì
vậy đường lối, chủ trương của Đảng trên mặt trận thu hút ĐTNN vào KCN được các nhà lý luận,
các nhà lãnh đạo, các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trên phạm vi cả nước đã
có nhiều công trình của các nhà khoa học đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau. Nhìn
một cách chung nhất, các công trình nghiên cứu liên quan có thể chia làm ba nhóm:
Nhóm thứ nhất, là sự tổng kết của Đảng Cộng sản Việt Nam, rút ra những kinh nghiệm, đề ra
đường lối, chủ trương phát triển KCN - KCX và thu hút ĐTNN ở nước ta. Sự tổng kết đó được phản
ánh trong các văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X và Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương. Sự tổng kết của Đảng bộ tỉnh Hậu Giang và sau này là TP Cần Thơ qua các kỳ Đại hội III,
IV, VIII, IX, X, XI, XII. Đây là những đánh giá chính thức của Đảng, phản ánh nhận thức lý luận và
thực tiễn của Đảng về nguồn vốn FDI ở các KCN - KCX.
Nhóm thứ hai, một số công trình nghiên cứu khoa học về KCN - KCX và ĐTNN đã được xuất
bản, như Giáo trình đầu tư nước ngoài của Vũ Chí Lộc, NXB Giáo Dục năm 1997. Đây là công
trình nghiên cứu viết về đầu tư quốc tế và chiến lược thu hút vốn FDI của Việt Nam, những chính
sách quản lý Nhà nước về hoạt động thu hút đầu tư FDI, cách thức lập dự án FDI, tài chính của các
doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Thông tin đầu tư khu chế xuất - khu công nghiệp - khu kinh tế vùng
đồng bằng sông Cửu Long của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ, năm 2009. Trong công trình này
chủ yếu giới thiệu về vùng kinh tế trọng điểm, mục tiêu phát triển các KCN - KCX, định hướng các
giải pháp và một số quy định về cơ chế chính sách đối với các tỉnh, TP khu vực ĐBSCL. Hoàn thiện
chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam của Mai Quốc Cường, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2000: phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong chính
sách và việc tổ chức thu hút ĐTNN ở Việt Nam trong thời gian qua, trên cơ sở đó đưa ra những kiến
nghị để hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút FDI trong những năm tới. Kinh nghiệm thu hút vốn
đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam của Nguyễn Huy Thám, Học viện
Chính trị Quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 1999. Trong công trình này nêu bật lên hai kinh nghiệm
thu hút ĐTNN ở một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á và vấn đề thu hút ĐTNN tại Việt
Nam. Và một số ấn phẩm khác như: Khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam - IPs, EPZs in
Vietnam của Trần Ngọc Châu; Thành phố Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư do Sở Kế hoạch và
Đầu tư TP Cần Thơ ấn hành vào các năm 2004, 2005, 2006, 2007 và 2008; Cần Thơ các dự án gọi
vốn đầu tư nước ngoài, do UBND TP Cần Thơ xuất bản năm 2000; Quy hoạch các dự án ưu tiên
gọi vốn ODA thành phố Cần Thơ thời kỳ 2006 - 2010, do UBND TP Cần Thơ ấn hành.
Nhóm thứ ba, đó là những tác phẩm, bài viết về TP Cần Thơ nói chung trong đó có đề cập ít
nhiều đến đặc điểm, tiềm năng cơ hội đầu tư vào các KCN Cần Thơ như: Địa chí Cần Thơ do
Nguyễn Lương Bằng chủ biên, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, năm 2002 và 30 năm xây dựng và
phát triển thành phố Cần Thơ (1975 - 2005) do UBND TP Cần Thơ ấn hành năm 2005. Gần đây
nhất, tháng 8 - 2006 có ấn phẩm Cần Thơ thế và lực mới trong thế kỷ 21 (Can Tho new image in
century XXI) của Chu Viết Luân, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội năm 2006.
Đây là những ấn phẩm có nội dung phản ánh, lý giải khái quát về quá trình phát triển kinh tế -
xã hội của TP Cần Thơ trong thời kỳ đổi mới, ít nhiều đề cập đến ĐTNN vào các KCN tại TP.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết đề cập đến vấn đề thu hút đầu tư trong nước và ĐTNN vào các KCN
tại TP Cần Thơ, như: Thu hút vốn đầu tư trong nước vào các khu công nghiệp Cần Thơ, Sài Gòn
Giải Phóng, 1 - 6 - 1998, [10, tr.4]; Khu công nghiệp Cần Thơ có thêm 8 dự án đầu tư, Sài Gòn Giải
Phóng, 7 - 11 - 1998, [11, tr.5]; Các khu công nghiệp Cần Thơ - Động lực chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đồng bằng sông Cửu Long, Sài Gòn Giải Phóng, 12 - 2 - 2001, [15, tr.4]; Các khu công nghiệp
Cần Thơ thu hút 126,87 triệu USD, Sài Gòn Giải Phóng, 22 - 7 - 1999, [12, tr.7].
Đặc biệt là trong luận án, đề tài: “Phát triển khu công nghiệp của thành phố Cần Thơ đến năm
2020”, Tiến sĩ Huỳnh Thanh Nhã đi sâu lý giải, phân tích: Nhu cầu phát triển KCN của TP Cần Thơ
và những bài học kinh nghiệm phát triển KCN; đánh giá thực trạng quá trình phát triển KCN tại TP
trong thời gian qua; thông qua đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp phát triển KCN của TP Cần Thơ
đến năm 2020. Những phân tích, đánh giá và nhận định của Luận án đã được luận văn tham khảo,
sử dụng có chọn lọc.
Qua các danh mục trên đây, có thể thấy tuy TP Cần Thơ đã và đang thu hút sự quan tâm của
nhiều cơ quan, nhiều nhà khoa học nghiên cứu, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi
sâu tái hiện và phân tích quá trình thu hút vốn ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ trong thời kỳ
đổi mới và CNH - HĐH đất nước (1986 - 2010). Chính vì vậy, tác giả luận văn mong muốn tập hợp
được nhiều nguồn tài liệu và kế thừa những kết quả đã có, để tiếp cận và nghiên cứu đề tài “Quá
trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại thành phố Cần Thơ (1986 - 2010)”
một cách hệ thống, toàn diện và đầy đủ hơn, nhằm lý giải những thành công cũng như những hạn
chế của quá trình thu hút vốn ĐTNN, nhất là vốn FDI vào các KCN tại TP Cần Thơ, từ đó luận văn
đúc kết những kinh nghiệm và kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút
ĐTNN vào các KCN.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Về KCN - KCX Việt Nam: Ngày 25 tháng 12 năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) ký quyết định số 394/CT thành lập KCX đầu tiên ở nước ta. Sau đó, chủ trương phát
triển các KCN - KCX tiếp tục được khẳng định tại văn kiện Đại hội IX của Đảng về chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010). Và cho đến nay, trên cả nước đã có hơn 150 KCN - KCX đang
hoạt động. Riêng ở TP Cần Thơ, khu kỹ nghệ Tây Đô (nay là KCN Trà Nóc 1) được chính quyền
Sài Gòn thành lập từ rất sớm vào năm 1968, được nước ta chính thức công bố thành lập vào năm
1992. Xét trên nhiều phương diện, KCN và KCX là khác nhau, vì vậy đến nay, TP Cần Thơ chưa có
KCX nào.
Về hoạt động thu hút ĐTNN: Từ khi đổi mới đất nước (1986), cụ thể là từ khi ban hành Luật
ĐTNN vào năm 1987, thì hoạt động thu hút vốn nước ngoài ở nước ta rất đa dạng và phong phú,
trên nhiều lĩnh vực khác nhau, như: nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, y tế, v.v…Theo Luật đầu
tư được Quốc hội khóa XI ban hành năm 2005, ĐTNN có hai hình thức: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) và Đầu tư gián tiếp nước ngoài (tiếng Anh:
Foreign Portfolio Investment, viết tắt là FPI). Trong đó, FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối
với nước ta.
Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình thu hút ĐTNN vào các KCN tại
TP Cần Thơ, bao gồm: nguồn vốn FDI ở các công ty, xí nghiệp, các ngành nghề, và cơ sở hạ tầng
thuộc KCN.
Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu quá trình thu hút ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ
(1986 - 2010), phân kỳ thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đổi mới (1986 - 1995): với hai mốc thời gian có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
cả nước nói chung và TP Cần Thơ nói riêng. Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng - đại hội mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đã đề ra những chính sách hết
sức đúng đắn, đánh dấu bước chuyển biến quan trọng, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế quan liêu bao cấp
cũ. Một trong những bước chuyển biến lớn trong định hướng đổi mới kinh tế, thể chế hóa đường lối
của Đại hội VI là việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 1986, Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ IV (1986 - 1990), được triệu tập nhằm quán triệt thực hiện đường
lối đổi mới đất nước của Đảng. Từ năm 1991 - 1995 là Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần
VIII (vòng II), tổng kết, đánh giá thành tựu 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Giai đoạn (1996 - 2010): Đây là thời kỳ thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng về đẩy
nhanh quá trình CNH - HĐH. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đề ra nhiệm vụ, phương
hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn (1996 - 2010) và sau đó Đại hội IX
của Đảng tiếp tục đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu của thế kỷ XXI là xây
dựng nền tảng để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Năm 1996, Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh Cần Thơ lần thứ IX, và năm 2010 Đại hội Đảng bộ lần thứ XII của TP Cần Thơ
được diễn ra thành công với mục tiêu đưa TP Cần Thơ cơ bản trở thành TP công nghiệp trước năm
2020.
Về không gian: Luận văn chọn phạm vi không gian nghiên cứu là các KCN trên địa bàn TP
Cần Thơ hiện nay. Trong một chừng mực nhất định, luận văn có đề cập đến các vùng thuộc địa bàn
tỉnh Hậu Giang cũ và tỉnh Cần Thơ trước khi tách tỉnh, nhằm làm rõ quá trình thu hút vốn FDI vào
các KCN của TP Cần Thơ trong thời kỳ đó.
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của đề tài
Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và những
quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về FDI và KCN qua từng thời
kỳ.
Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic là hai phương
pháp chính mà tác giả luôn vận dụng.
Qua kết hợp hai phương pháp này, vấn đề thu hút vốn FDI vào các KCN tại TP Cần Thơ được
đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội chung của TP và được xem xét trên các giai đoạn phát
triển kế tiếp nhau với những tính chất, trạng thái cụ thể. Nhờ so sánh trạng thái phát triển về chất ở
mỗi giai đoạn mà tác giả thấy được những thay đổi nội tại của hoạt động thu hút FDI vào các KCN
trên địa bàn TP theo tiến trình thời gian, từ đó làm rõ được sự phát triển của nó.
Phương pháp phân tích và tổng hợp cũng được vận dụng trong đề tài. Qua phân tích để thấy
được cái đặc thù, thuận lợi, khó khăn của TP Cần Thơ, những nguyên nhân của mặt được và chưa
được trong hoạt động thu hút ĐTNN vào các KCN. Qua tổng hợp để thấy cái toàn cục, sự nổi trội,
vai trò nổi bật của TP Cần Thơ về tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội trong vùng ĐBSCL. Phân tích
các thông tin, tài liệu, báo cáo chính thức đã công bố của Ban quản lý KCN - KCX TP Cần Thơ.
Nguồn tài liệu:
Những tài liệu được sử dụng trong luận văn gồm nhiều nguồn khác nhau:
Các văn kiện của Đảng và Nhà nước từ năm 1986 đến năm 2010: Đại hội lần VI, VII, VIII, IX,
X, XI.
Các văn kiện của Đảng bộ TP Cần Thơ từ năm 1981 đến năm 2010: lần thứ II, III (vòng II -
năm 1983), IV, VIII (vòng II), X, XI, XII.
Báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và phương hướng, nhiệm
vụ từ năm 1991 - 2010 của tỉnh Hậu Giang và sau là TP Cần Thơ.
Báo cáo hàng năm của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ từ năm 1995 - 2010.
Nguồn số liệu thống kê về những chuyển biến kinh tế - xã hội của Cục Thống kê TP Cần Thơ
1990 - 2010.
Luận văn còn tham khảo trên các website:
www.canthoepiza.gov.vn (Các KCN và KCX Cần Thơ).
www.cantho.gov.vn (Cổng thông tin điện tử TP Cần Thơ).
www.mekongdelta.com.vn (Diễn đàn ĐBSCL).
www.khucongnghiep.com.vn (KCN - KCX Việt Nam).
5. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài, luận văn mong muốn góp phần tìm hiểu và hệ thống quá trình vận dụng,
sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng về hoạt động thu hút FDI vào các KCN và lãnh đạo quá trình
thu hút FDI vào các KCN ở TP Cần Thơ từ năm 1986 đến năm 2010.
Luận văn đánh giá bước đầu về thành tựu và hạn chế của quá trình thu hút vốn FDI vào các
KCN tại TP Cần Thơ từ năm 1986 - 2010;
Luận văn phân tích kết quả tác động của FDI đối với sự phát triển kinh tế - xã hội TP Cần Thơ
nói riêng và cả nước nói chung;
Từ đó, luận văn rút ra những bài học kinh nghiệm, kiến nghị những giải pháp tăng cường hoạt
động thu hút vốn FDI vào các KCN tại TP Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung, phục vụ quá
trình CNH - HĐH.
6. Những đóng góp của đề tài
Luận văn tiếp cận, lựa chọn, tổng hợp một số tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau có liên quan
vốn FDI nói chung và nguồn vốn FDI đầu tư vào các KCN tại TP Cần Thơ, nhằm giúp cho việc
nghiên cứu đạt độ tương đối đầy đủ và có hệ thống về quá trình thu hút FDI vào các KCN tại TP từ
năm 1986 đến năm 2010. Trên cơ sở đó sẽ lý giải một cách khoa học những thành tựu cũng như
những hạn chế trong quá trình thu hút vốn FDI vào các KCN, về thực trạng phát triển, tình hình hoạt
động sản xuất kinh doanh của các KCN trên địa bàn TP trong thời gian qua.
Qua nghiên cứu, luận văn phân tích những mặt thuận lợi, khó khăn của TP Cần Thơ cũng như
các nguyên nhân chủ quan, khách quan đưa đến những thành tựu và hạn chế trong hoạt động thu hút
vốn FDI vào các KCN. Từ đó, luận văn cung cấp cho Nhà nước, Đảng bộ, chính quyền TP Cần Thơ
và các cơ quan trực thuộc trong việc hoạch định chính sách; cho các Ban quản lý KCN - KCX
những ý kiến đóng góp về việc hoàn thiện cơ chế quản lý cũng như những giải pháp cần thiết để thu
hút vốn FDI có hiệu quả.
Ở một khía cạnh nào đó, luận văn nhằm nhấn mạnh vai trò của vốn FDI đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của TP Cần Thơ nói riêng và khu vực ĐBSCL nói chung, góp phần quảng bá, giới
thiệu những tiềm năng, thế mạnh, chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư của TP Cần Thơ đến các
nước.
Ngoài ra, các nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu lịch sử
TP Cần Thơ trong thời kỳ đổi mới và làm tài liệu giảng dạy về lịch sử địa phương.
7. Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm phần Mở đầu, phần Nội dung gồm 3 chương và phần Kết luận. Trong đó, phần
Nội dung được cấu trúc như sau:
Chương 1 - Những tiềm năng của thành phố Cần Thơ trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Chương 2 - Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp thành phố Cần
Thơ trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995).
Chương 3 - Quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần Thơ trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2010).
Chương 1. NHỮNG TIỀM NĂNG CỦA THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG
THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
1.1. Một số vấn đề chung về “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” và “Khu công nghiệp”
1.1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm
Theo Ngân hàng Thế giới (tiếng Anh: World Bank, viết tắt là WB): “FDI là việc công dân của
một nước thành lập hoặc mua lại một phần đáng kể sở hữu và quản lý ít nhất là 10% vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp ở một nước khác”. Các nhà ĐTNN có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp và
hoạt động đầu tư có thể do người nước ngoài sở hữu hoàn toàn hoặc liên doanh giữa nhà ĐTNN và
các đối tác đầu tư địa phương. FDI không bao gồm các hoạt động như cấp giấy phép, hợp đồng phụ
và đầu tư chứng khoán trong đó nhà ĐTNN không giữ vai trò chi phối hoặc kiểm soát chủ yếu [52,
tr.16].
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (tiếng Anh: World Trade Ozganization, viết tắt là WTO):
FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác
(nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt
FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người
đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường
hay đựoc gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”[52,
16].
Theo Từ điển bách khoa toàn thư trực tuyến Việt Nam: “Đầu tư là bỏ vốn vào một doanh
nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách vốn tự có,
liên doanh, hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới, hoặc thực hiện việc HĐH, mở
rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Đầu tư bao gồm: đầu tư sản
xuất, đầu tư dịch vụ v.v.. Thông thường, đầu tư là bỏ vốn để tạo ra một tài sản đem lại lợi nhuận; là
bỏ vốn vào những giá trị động sản. Nguồn vốn đầu tư lấy từ trong lợi nhuận của các đơn vị sản xuất,
từ vốn vay ngân hàng hay từ cấp phát ngân sách; nói chung là từ quỹ tích luỹ của tái sản xuất xã hội,
không thuộc quỹ tiêu dùng. Cơ cấu và hiệu quả đầu tư (tính bằng thời gian thu hồi vốn, hoặc bằng
bảng tổng kết tài sản hiện hành) quyết định sự tăng trưởng của nền kinh tế và sự hình thành cơ cấu
kinh tế hợp lí. Trong cải cách kinh tế, tăng vốn đầu tư từ mọi nguồn (ngân sách nhà nước, tích luỹ
của các đơn vị kinh tế, tích luỹ của các tầng lớp dân cư, tiết kiệm tiêu dùng, thu hút vốn ĐTNN dưới
nhiều hình thức, vv.) đi đôi với đổi mới việc sử dụng vốn (điều chỉnh cơ cấu đầu tư và cơ chế đầu
tư) nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo ra nhịp độ phát triển nhanh, mạnh, vững chắc là
những vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Đầu tư chiều sâu là việc đổi mới thiết bị, công nghệ, nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng, đổi mới và mở rộng mặt hàng... có ý nghĩa kinh tế rất quan trọng,
đặc biệt trong thời đại ngày nay” [75].
“Đầu tư quốc tế là xuất khẩu tư bản, đưa tư bản ra nước ngoài kinh doanh. Đây là một hình
thức quan hệ kinh tế quốc tế, qua đó tư bản của nước này di chuyển sang nước khác nhằm mục đích
trực tiếp kinh doanh thu lợi nhuận; ngoài ra, cũng có hình thức viện trợ không hoàn lại không nhằm
mục đích kinh doanh. Đầu tư quốc tế bao gồm: đầu tư dài hạn, đầu tư ngắn hạn…Đầu tư quốc tế chủ
yếu gồm các hình thức: đầu tư một chiều như viện trợ không hoàn lại; đầu tư tín dụng không có lãi
hoặc lãi nhẹ; đầu tư có tính chất công như đầu tư của chính phủ, các tổ chức quốc gia, các tổ chức
quốc tế phi chính phủ; đầu tư có tính chất tư là đầu tư của các tổ chức tư và tư nhân; đầu tư hỗn hợp,
có cả hai tính chất công và tư; đầu tư nhiều bên (trường hợp bên đầu tư là một tổ chức đại diện cho
nhiều tổ chức như ngân hàng Thế giới)” [75].
Luận văn căn cứ theo nội dung Luật đầu tư đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua
ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1 - 7 - 2006 áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước,
nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam, và nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Luật đầu tư 2005
được ban hành nhằm thay thế Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật ĐTNN năm 2000 và Luật khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998. Theo đó:
Đầu tư được hiểu là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để
hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại
Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) có nghĩa là
nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp (tiếng Anh: Foreign Portfolio Investment, viết tắt là FPI): là nhà đầu tư bỏ
vốn ra kinh doanh nhưng không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư, như: mua cổ phần, cổ
phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác; thông qua quỹ đầu tư chứng khoán; và thông qua các định
chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Việc Quốc hội nước ta ban hành quy định thêm về các hình thức đầu tư gián tiếp nhằm tạo cơ
sở pháp lý để có thể thu hút có hiệu quả nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Bởi vì đây là một
nguồn vốn quan trọng, vừa có tác dụng phục vụ cho quá trình CNH - HĐH đất nước, vừa phù hợp
với những quy định của điều ước quốc tế.
Từ những định nghĩa trên, dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; và những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về ĐTNN,
luận văn đưa ra nhận định về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư do nhà
đầu tư nước ngoài (có thể là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) bỏ vốn đầu tư bằng các loại tài sản
hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư và tham gia quản lý
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan”.
1.1.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Theo Luật đầu tư năm 2005, ĐTNN có hai hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp (như
đã trình bày ở trên).
Căn cứ theo Luật Đầu tư mới nhất được Quốc hội khóa XI ban hành vào năm 2005, thì FDI có
bốn hình thức:
Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế: (doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn
ĐTNN) bao gồm doanh nghiệp do nhà ĐTNN thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt
Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà ĐTNN mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Trong đó:
Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt
Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn ĐTNN hợp
tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà ĐTNN trên cơ sở
hợp đồng liên doanh;
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn tại Việt
Nam;
Đầu tư theo hình thức hợp đồng, gồm: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC - Business
Cooperation Contract), Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT - Build Operate
Transfer Contract), Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO - Build Transfer Operate
Contract), hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT - Build Transfer Contract);
Đầu tư phát triển kinh doanh;
Và hình thức đầu tư bằng việc mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư;
đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
Ngoài ra còn có các hình thức FDI khác như: Đầu tư thông qua mô hình “công ty mẹ” và “công
ty con”; hình thức công ty cổ phần; hình thức chi nhánh công ty nước ngoài; hình thức công ty hợp
danh; hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập.
1.1.1.3. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn FDI là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước
theo hướng theo hướng CNH - HĐH. Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta chủ yếu là nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ trọng chưa đến 50% GDP. Từ sau năm 1986 và nhất là từ khi Luật
ĐTNN được ban hành (1987), phần lớn nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào nước ta tập trung chủ yếu
vào hai lĩnh vực chính đó là công nghiệp và dịch vụ. Điều này đã góp phần đưa tốc độ tăng trưởng
công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả
nước. Tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp liên tục tăng qua các
năm (từ 23,79% năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm 2006). Đến nay, khu vực sản
xuất có vốn ĐTNN chiếm gần 40% sản lượng công nghiệp, thúc đẩy ngành công nghiệp nước nhà
phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân 15 - 16%/năm. Số lao động trong các ngành công nghiệp
và dịch vụ ngày càng tăng lên, lao động trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp ngày càng giảm đi
[2, tr.21]. Ngoài ra, vốn FDI cũng đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng
sản xuất hàng hoá theo hướng xuất khẩu.
ĐTNN đã đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp công nghệ cao của các
ngành dầu khí, thiết bị máy tính, máy giặt, điều hòa; 60% cán thép; 33% hàng điện tử; 76% dụng cụ
y tế chính xác; 49% sản phẩm da giày; 55% sản lượng sợi và 25% hàng may mặc [2, tr.21]. Từ đó,
nguồn vốn này tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công
nghiệp mũi nhọn của nước ta như: dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử
và điện gia dụng, chế biến, da giày và dệt may…
Nguồn vốn FDI, góp phần hoàn thiện hệ thống kết hạ tầng công nghiệp ở nước ta theo hướng
hiện đại, hình thành hệ thống các KCN - KCX, khu kinh tế, các vùng chuyên canh sản xuất nông -
lâm nghiệp, chế biến - nuôi trồng thuỷ sản, vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở phù hợp với điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng trên cả nước.
Vốn FDI góp phần tạo ra nguồn thu ngân sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trở thành một
trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu quá trình CNH -
HĐH đất nước.
Trước đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như những chuyển
biến của bối cảnh quốc tế, Đảng và Nhà nước đã tiến hành công cuộc đổi mới và sau đó chuyển
sang thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH. Tuy nhiên, do xuất phát điểm của đất nước quá thấp, kém
nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, do đó chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước thôi
là chưa đủ mà còn phải tăng cường thu hút nguồn vốn nước ngoài. Xét trên nhiều khía cạnh, vốn
FDI là có lợi nhất đối với các nước tiếp nhận như nước ta. Đối với ĐBSCL nói chung và TP Cần
Thơ nói riêng, nguồn lực FDI là cơ bản, động cơ duy nhất để khởi động nền kinh tế ở khu vực này.
Thông qua các doanh nghiệp đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài hoặc các dự án liên
doanh, TP Cần Thơ sẽ thu hút được nguồn FDI cần thiết đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH địa phương.
Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh, đây là nguồn vốn “ít bị nhạy cảm” trước những diễn biến
phức tạp của tình hình thế giới. Năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bùng nổ, thì
nước ta là một trong số các quốc gia ít chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này.
Ở nước ta, khu vực kinh tế có vốn FDI luôn dẫn đầu về tốc độ gia tăng so với các khu vực kinh
tế khác, đồng thời là khu vực kinh tế phát triển năng động nhất. Hàng năm, khu vực FDI nói chung
góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách, tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - tăng GDP cho đất nước.
Vốn FDI góp phần nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp, thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Như đã trình bày ở trên, vốn FDI đầu tư vào nước ta tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và
dịch vụ. Cũng chính vì vậy mà trong hơn một thập kỷ qua, nước ta đã nâng cao năng lực sản xuất ở
nhiều ngành kinh tế quan trọng của đất nước như thăm dò và khai thác dầu khí, bưu chính viễn
thông, điện tử, xây dựng v.v.. Một điều dễ nhận thấy đó là, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp
của khu vực có vốn FDI luôn duy trì ở mức cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành
trong nhiều năm liền.
FDI đã góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào nước ta, phát triển một số
ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ
khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy,...
Trình độ công nghệ của khu vực có vốn FDI cao hơn hoặc tương đương với các nước trong
khu vực. Đa phần các doanh nghiệp có vốn FDI đều áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, hiện
đại. Người lao động tại khu vực này ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn tay nghề.
Vốn FDI góp phần giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Mỗi năm, khu vực có vốn FDI đã tạo ra việc làm cho hơn một triệu lao động trực tiếp trên cả
nước [17]. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI, người
lao động nước ta đã từng bước nâng cao trình độ tay nghề, từng bước tiếp cận được với khoa học,
kỹ thuật và có đầy đủ khả năng tiếp nhận công nghệ của các nước tiên tiến. Đồng thời, một bộ phận
chuyên gia của Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp có ĐTNN lâu dần có thể thay thế đảm nhận
nhiệm vụ của các chuyên gia nước ngoài trong việc quản lý và vận hành quy trình sản xuất hiện đại.
Vốn FDI góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Đa số các doanh nghiệp có vốn FDI đều tuân thủ những quy định môi trường Việt Nam và có
kết quả môi trường tốt hơn so với các cơ sở khác trong nước. Theo kết quả điều tra năm 2002 của
Viện Quản lý kinh tế Trung ương: có 77% doanh nghiệp có kết quả về các thông số gây ô nhiễm
môi trường thấp hơn tiêu chuẩn cho phép; 60% doanh nghiệp ĐTNN trong lĩnh vực chế biến thực
phẩm đã lắp đặt thiết bị xử lý nước thải cơ bản đúng tiêu chuẩn [17].
Vốn FDI giúp nước ta mở rộng quan hệ đối ngoại, làm thất bại chính sách bao vây, cấm vận
của các nước tư bản, đưa nước ta hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.
Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cũng là đóng góp nổi bật, thể hiện khá rõ vai trò của ĐTNN
đối cả nước nói chung và TP Cần Thơ nói riêng. Thông qua ĐTNN, nhiều mặt hàng của nước ta đã
nhanh chóng tiếp cận thị trường thế giới, nâng cao năng lực xuất khẩu, qua đó vai trò và vị thế của
nước ta ngày càng nâng cao trên trường chính trị quốc tế.
Trong những năm qua, chính nhờ những hoạt động thu hút ĐTNN mà nước ta đã có điều kiện
mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước, phá được thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch,
tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, nước ta đã
thiết lập mối quan hệ song phương và đa phương với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, tham gia ký
kết nhiều văn bản kinh tế - chính trị quan trọng với Trung Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu
(EU), là thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế lớn như: Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), Tổ chức Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), đặc biệt là gia nhập Tổ chức
Thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư
nước ngoài, hình ảnh và vai trò của Việt Nam không ngừng được nâng cao.
1.1.2. Khu công nghiệp, khu chế xuất
1.1.2.1. Khái niệm
Theo Luật đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông
qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 - 7 - 2006 đã đưa ra những khái niệm cụ thể như sau:
KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công
nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ.
KCX là khu vực đặc biệt chỉ dành cho việc sản xuất, chế biến những sản phẩm để xuất khẩu ra
nước ngoài hoặc dành cho các loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ liên quan đến
hoạt động xuất - nhập khẩu tại khu vực đó với các ưu đãi về các mức thuế xuất - nhập khẩu hay các
ưu đãi về giá cả thuê mướn mặt bằng sản xuất, thuế thu nhập cũng như cắt giảm tối thiểu các thủ tục
hành chính. KCX có vị trí, ranh giới được xác định từ trước, có các cơ sở hạ tầng như điện, nước,
đường giao thông nội khu sẵn có và không có dân cư sinh sống. Điều hành, quản lý hoạt động
thường do một Ban quản lý KCX điều hành.
Trong thời kỳ CNH - HĐH việc xây dựng các khu - cụm công nghiệp tập trung là cần thiết và
được Đảng và Nhà nước khuyến khích. KCN - KCX ở nước ta hiện nay đóng vai trò là đầu mối
quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong nước và FDI. Như chúng ta đã biết, FDI cũng chỉ có
thể được thực hiện thông qua các phương thức đầu tư vào các KCN - KCX tập trung.
1.1.2.2. Đặc điểm, vai trò của khu công nghiệp - khu chế xuất
Đặc điểm của KCN:
KCN có ranh giới địa lý xác định, được xây dựng trên địa bàn xác định cả không gian và thời
gian, được quy hoạch phù hợp với sự phát triển kinh tế của ngành, vùng và địa phương.
Trong KCN phân ra thành doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và công nghiệp dịch vụ phục vụ
cho ngành sản xuất công nghiệp. Các lĩnh vực đầu tư trong KCN bao gồm: xây dựng và kinh doanh
các công trình kết cấu hạ tầng, sản xuất gia công lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và
tiêu thụ tại thị trường trong nước, phát triển kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kĩ thuật, quy trình
công nghệ.
Các doanh nghiệp đầu tư trong KCN có thời gian hoạt động đối ta không quá 50 năm và không
quá thời gian hoạt động của công ty phát triển hạ tầng KCN (nêu rõ tại khoản 1 điều 36 của Luật
đầu tư năm 2005).
Các doanh nghiệp đầu tư trong KCN được thuê lại đất trong KCN theo quy định hiện hành để
xây dựng nhà xưởng và các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, được sử dụng có trả tiền các
công trình kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích và các dịch vụ KCN.
Các doanh nghiệp trong KCN được hỗ trợ đầu tư bởi cơ chế chính sách của từng tỉnh, TP. Các
doanh nghiệp trong KCN được UBND tỉnh, Ban quản lý các KCN của tỉnh, TP hỗ trợ trong lĩnh vực
đào tạo nguồn nhân lực, đảm bảo điều kiện sinh hoạt, dịch vụ kèm theo cho công nhân lao động
trong KCN.
Đặc điểm của KCX:
Là một khu đất thuộc lãnh thổ của một nước được quy hoạch tách riêng ra, thường được ngăn
cách bằng tường rào kiên cố để hoạt động tách biệt với phần nội địa. Trong KCX không có dân cư
sinh sống.
Mục đích hoạt động của KCX là thu hút các nhà sản xuất công nghiệp nước ngoài và trong
nước định hướng hoạt động xuất khẩu bằng những biện pháp đặc biệt ưu đãi về thuế quan, về các
điều kiện mậu dịch và các loại thuế.
Hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập vào KCX để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn giảm thuế hải
quan (nếu nhập khẩu từ KCX vào nội địa thì phải nộp thuế nhập khẩu).
Các chủ đầu tư nước ngoài được ưu tiên vào KCX hoạt động. Các xí nghiệp công ty sản xuất,
kinh doanh ở khu vực này còn được miễn hoặc giảm các loại thuế và phí khác của nước sở tại. Nước
chủ nhà thường hỗ trợ bằng cách cung cấp một số dịch vụ công cộng miễn phí hoặc giảm chi phí.
Các thủ tục hành chính cũng được đơn giản hóa và minh bạch hơn.
Hàng hóa, vốn, nhân lực trong khu vực này được di chuyển tương đối tự do trên phạm vi quốc
tế.
Các công ty, xí nghiệp trong KCX là những doanh nghiệp hoạt động theo chế độ hạch toán
kinh tế, kinh doanh các loại dịch vụ cho thuê.
6TNâng cao trình độ công nghệ, HĐH cách thức quản lý sản xuất.
Vai trò của KCN - KCX:
KCN - KCX là nơi có điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùng với nhiều chính sách ưu đãi
đầu tư được áp dụng - điểm đến lý tưởng của các nguồn đầu tư, trong đó có vốn nước ngoài. Một số
công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng với trình độ quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế đã được
áp dụng tại Việt Nam. Đây cũng là những nhân tố quan trọng góp phần đưa nước ta nhanh chóng
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
KCN - KCX là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH.
Vốn FDI đầu tư vào KCN - KCX tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp nhẹ, thu hút
nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩu cao và đã góp phần nâng cao công nghệ, chất lượng sản
phẩm…Bên cạnh đó, các KCN - KCX cũng đã thu hút được các dự án có quy mô lớn, công nghệ
cao, tuy số lượng các dự án này trong KCN chiếm số lượng ít nhưng cũng đã góp phần phát triển và
đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề công nghiệp.
Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đã phần đào tạo đội
ngũ lao động công nghiệp, có khả năng sử dụng và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ
quản lý và sản xuất, nắm vững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ chuyên môn của
người lao động ở nước ta. Số lượng lớn người lao động trong nước cũng được đảm nhận các vị trí
quản lý, được tiếp xúc với phương thức quản lý doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại.
Các KCN - KCX góp phần HĐH6T hệ thống kết cấu hạ tầng.
Qua gần 20 năm hình thành và phát triển, nhiều KCN - KCX ở nước ta đã và đang đóng vai trò
quan trọng tạo ra một khí thế phát triển mới cho nền kinh tế cả nước nói chung và TP Cần Thơ nói
riêng. Tại các vùng và địa phương có các KCN - KCX hoạt động mạnh thì mức độ tăng trưởng kinh
tế ở tại nơi đó cao hơn những nơi khác. Tính đến nay cả nước có hơn 150 KCN - KCX phân bố ở 45
tỉnh, thành phố. Hầu hết các KCN - KCX đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 16.381
ha [41]. Về thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cả nước hiện đã có khoảng 130 dự án xây dựng
và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN - KCX [41].
Việc phát triển các KCN - KCX trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch vụ
phát triển, CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng
kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN - KCX. Điều này được thể
hiện qua một số khía cạnh:
Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN - KCX có tác dụng kích thích sự phát triển kinh
tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Các điều kiện về kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải
thiện đáng kể, nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động của các cơ sở kinh
doanh dịch vụ trong vùng.
Trong những năm qua, các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc
doanh, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, và doanh nghiệp có vốn ĐTNN) đã tham gia đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng KCN - KCX không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
KCN - KCX hoạt động hiệu quả, mà còn tạo nên môi trường đầu tư phong phú và đa dạng, góp
phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp nước ngoài khác vào KCN -
KCX.
Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN - KCX không những thu hút các dự án đầu
tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô, năng lực sản xuất và khả năng
cạnh tranh, hoặc di chuyển sản xuất ra khỏi các khu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương
giải quyết tốt vấn đề lao động, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụ
các mục đích khác của cộng đồng trong vùng.
Thêm vào đó, quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN - KCX còn
đảm bảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển các khu dân cư mới, các
khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã
hội phục vụ đời sống người lao động và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện,
khu giải trí…Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón đầu và thu hút đầu tư các ngành như: điện,
giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạt động dịch vụ tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát
triển của các KCN - KCX.
Có thể nói, giữa phát triển KCN - KCX và thu hút nguồn vốn ĐTNN có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Để thu hút ĐTNN, nước ta phải hình thành các KCN - KCX và bước đầu hoàn
thiện hệ thống hạ tầng cơ sở, đến lượt mình, nguồn vốn ĐTNN góp phần hình thành và phát triển
thêm nhiều KCN - KCX mới trong cả nước và ngày càng hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng trong
và ngoài KCN - KCX theo hướng hiện đại đáp ứng quá trình CNH - HĐH đất nước. Và cuối cùng,
KCN - KCX và nguồn vốn ĐTNN góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH tại địa phương
và trong cả nước.
1.2. Những tiềm năng và lợi thế của thành phố Cần Thơ trong phát triển khu công
nghiệp - khu chế xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
1.2.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Về vị trí địa lý: TP Cần Thơ có tọa độ địa lý từ 9034’43’’ đến 10019’25’’ độ vĩ Bắc, và từ
105019’51’’ đến 105054’36’’ độ kinh Đông, bên bờ Tây sông Hậu cách biển Đông 75 km, cách thủ
đô Hà Nội 1.877 km và cách TP Hồ Chí Minh 169 km (theo Quốc lộ 1A) [20, tr.12]. Với vị trí đó,
TP Cần Thơ nằm ở trung tâm ĐBSCL, đóng vai trò là cầu nối, là trung tâm trao đổi, chuyển giao
2 TP Cần Thơ có diện tích tự nhiên là 1.389,60 kmP
P (Nguồn: Theo kết quả tổng điều tra dân số
giữa các tỉnh miền Tây Nam Bộ với vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ.
và nhà ở năm 2009 - Tổng cục thống kê), phía bắc giáp tỉnh An Giang và Đồng Tháp, phía nam giáp
tỉnh Hậu Giang, phía tây giáp tỉnh Kiên Giang và phía đông giáp tỉnh Vĩnh Long và Đồng Tháp.
Về mặt hành chính: TP Cần Thơ được chia làm 9 đơn vị hành chính gồm có 5 quận là: Ninh
Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thới Lai và Vĩnh
Thạnh. Cần Thơ có 85 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 5 thị trấn, 44 phường và 36 xã
(Nguồn: Theo kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 - Tổng cục thống kê). TP Cần Thơ là
đô thị loại 1 - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội của TP và khu vực ĐBSCL.
Do có đặc điểm như vậy, cho nên TP Cần Thơ được xem là trung tâm công nghiệp trẻ, đô thị
của vùng, một trong những trung tâm kinh tế lớn của cả nước, có khả năng hợp tác, chủ động hội
nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Về mặt địa hình: TP Cần Thơ nằm trên nền chung của châu thổ sông Cửu Long là một đồng
bằng rộng lớn bằng phẳng, độ cao không quá 2 m so với mực nước biển, độ dốc bình quân chỉ 1
m/km. Địa hình đó thuận lợi cho việc xây dựng các KCN - KCX và trung tâm công nghiệp - tiểu
thủ công nghiệp, thu hút vốn đầu tư.
Về mặt thổ nhưỡng: TP Cần Thơ là vùng đồng bằng trẻ, tài nguyên khoáng sản của không
nhiều mà chủ yếu là đất phù sa và sét (gạch, ngói), sét dẻo, than bùn và cát sông. Đất phù sa ngọt
được bồi đắp thường xuyên thích hợp cho canh tác lúa, cây hoa màu, cây lương thực, cây công
nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả đặc sản nhiệt đới, tạo điều kiện thuận lợi để Cần Thơ phát triển nông
nghiệp theo hướng thâm canh, toàn diện. Sét (gạch, ngói) có màu xám, tuy không có mỏ lớn nhưng
phổ biến ở tầng gần mặt đất, dày 1 - 2 m, phân bố rộng khắp. Bên cạnh đó, sét dẻo nằm cách mặt
đất 1 - 2 m, vỉa dày 5 - 6 m, chứa nhiều khoáng vật và rất mịn, có thể dùng trong các ngành tiểu thủ
công nghiệp. Ngoài ra, TP Cần Thơ còn có nhiều than bùn với nhiều mỏ nhỏ, vỉa dày trên 1 m,
rộng 15 - 30 m, kéo dài khoảng 30 km, trữ lượng 30 - 150 nghìn tấn [3, tr.17].
P; tại các vùng ven sông Hậu thuộc TP
2 chiều dài khoảng 4.300 km. Mật độ sông khá lớn: 1,8 km/kmP
2 Cần Thơ và các huyện Thốt Nốt, Ô Môn mật độ sông có thể lên tới trên 2 km/kmP
P. Trong đó, những
Về hệ thống sông ngòi: TP Cần Thơ có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với tổng
con sông lớn có tác dụng quan trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giao thông vận tải của
nội vùng, liên vùng và quốc tế như: sông Hậu, sông Cần Thơ và sông Cái Lớn.
P. Ngoài ra còn có các
2 lên thì toàn TP có khoảng 4 nghìn km. Mật độ kênh lớn lên đến 1,45 km/kmP
Cần Thơ còn có hệ thống kênh rất lớn. Nếu chỉ tính riêng các con kênh có chiều rộng 15 m trở
kênh nhỏ nối các sông và kênh lớn tạo ra một mạng lưới kênh rạch chằng chịt, phục vụ đắc lực cho
sản xuất nông nghiệp và giao thông vận tải.
Chế độ dòng chảy sông ngòi vừa chịu ảnh hưởng của chế độ nguồn nước sông Hậu, vừa chịu
ảnh hưởng của chế độ triều biển Đông, biển Tây và chế độ mưa nội tỉnh. Hầu hết sông ngòi đều
chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Tiến trình CNH - HĐH đất nước, hệ thống sông ngòi không chỉ có vai trò quan trọng đối với
hoạt động giao thông vận tải, mà còn có tác dụng cung cấp nước cho một số ngành công nghiệp.
Về khí hậu và thời tiết: TP Cần Thơ mang những đặc trưng điển hình của khí hậu nhiệt đới gió
mùa, một năm chia thành hai mùa rõ rệt: tính theo âm lịch, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 hàng
năm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm. Lượng mưa trung bình hàng năm 1.500 mm -
1.800 mm, ẩm độ tương đối trung bình hàng năm là 83%. Cần Thơ là địa phương được thiên nhiên
ưu đãi ít chịu ảnh hưởng của thiên tai như bão, lũ lụt. Nhìn chung các yếu tố khí hậu, thời tiết rất
thuận lợi cho các hoạt động đầu tư sản xuất công nghiệp
Về tài nguyên sinh vật: Thảm thực vật tập trung trên vùng đất phù sa ngọt, gồm các loại cỏ,
rong tảo, dừa nước,… Trên vùng đất phèn có các loài tràm, chà là nước, điên điển,…Về động vật,
trên cạn có các loài như: gà nước, trăn, rắn,...dưới nước có các loại cá như cá lóc, cá rô,…
Có thể nói, những thuận lợi cơ bản về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên là ưu thế để TP Cần
Thơ phát triển một nền kinh tế toàn diện. Tuy nhiên TP cần có những chính sách tăng cường thu
hút vốn và công nghệ của nước ngoài vì đó là một trong những nguồn lực quan trọng giúp TP thực
hiện thành công quá trình CNH - HĐH địa phương.
1.2.2. Về lịch sử, văn hóa - du lịch
1.2.2.1. Đôi nét về lịch sử thành phố Cần Thơ
Ngược dòng lịch sử, vùng đất Cần Thơ đã xuất hiện và tồn tại trong quá trình hình thành vùng
châu thổ sông Cửu Long từ trước Công nguyên. Trước khi có lưu dân Việt vào khai phá, thì đây còn
là vùng đất hoang vu, chìm ngập trong nước. So với các khu vực Đồng Nai, Sài Gòn - Gia Định và
Hà Tiên, đất Cần Thơ được khai phá có phần muộn hơn.
Vào cuối thế kỷ thứ XVII, Mạc Cửu (người xã Lôi Quách, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông,
Trung Quốc) do không thần phục nhà Thanh nên cùng tùy tùng đến khai khẩn và sau đó xin thần
phục chúa Nguyễn. Sau khi Mạc Cửu mất, con ông là Mạc Thiên Tứ nối nghiệp tiếp tục đẩy mạnh
công cuộc khai hoang mở đất, đến năm 1739 thì hoàn tất và mở thêm 4 đạo mới, gồm: Long Xuyên
(Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ), Trấn Di (bắc Bạc Liêu) và sáp nhập các
đạo trên vào trấn Hà Tiên. Đây cũng là năm đánh dấu sự hình thành vùng đất Cần Thơ với tên gọi là
đạo Trấn Giang trên dư đồ Việt Nam. Kể từ 1753, Trấn Giang phát triển thành một “thủ sở” mạnh ở
miền Hậu Giang.
Năm 1802, nhà Nguyễn thành lập, đồng thời, cho điều chỉnh lại địa giới hành chính, Trấn
Giang vào lúc đó thuộc trấn Vĩnh Thanh. Năm 1813, vua Gia Long cho lập huyện Vĩnh Định (Cần
Thơ), thuộc phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, vua Minh Mạng cho đổi các Trấn thành
Tỉnh, đồng thời chuyển huyện Vĩnh Định sang phủ Tân Thành thuộc tỉnh An Giang. Năm 1839,
huyện Vĩnh Định được đổi thành Phong Phú, trực thuộc phủ Tịnh Biên, tỉnh An Giang.
Ngày 1 - 1 - 1868, thực dân Pháp cho sáp nhập huyện Phong Phú (Trấn Giang - Cần Thơ) với
Bãi Sào (Sóc Trăng), rồi sau đó lại nhập huyện Phong Phú với Bắc Tràng (Lạc Hóa, Vĩnh Long)
lập thành một hạt vào ngày 30 - 4 - 1872.
Sau đó, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định lấy huyện Phong Phú cùng với một phần của huyện
An Xuyên và Tân Thành lập nên hạt Cần Thơ vào ngày 23 - 2 - 1876, đứng đầu là một viên Chánh
tham biện tức Tỉnh trưởng. Năm 1889, Pháp đổi các đơn vị hành chính cấp hạt thành Tỉnh và
huyện đổi lại là Quận. Hạt Cần Thơ trở thành tỉnh Cần Thơ gồm có thị xã Cần Thơ và các huyện
Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Trà Ôn, Cầu Kè; và giữ như vậy cho đến năm 1954.
Trong hai năm 1948 - 1949, phía ta quy định Cần Thơ bao gồm luôn huyện Thốt Nốt (Long
Xuyên), Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng, thị xã Rạch Giá (Rạch Giá) và huyện Kế Sách (Sóc
Trăng), đồng thời, lấy hai huyện Trà Ôn và Cầu Kè sáp nhập trở lại vào tỉnh Vĩnh Trà.
Năm 1956, chính quyền Sài Gòn cho đổi tỉnh Cần Thơ thành Phong Dinh với tỉnh lỵ là thị xã
Cần Thơ.
Về phía chính quyền cách mạng của ta, vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Cần Thơ. Năm 1966, phía
cách mạng của ta đã sáp nhập thị xã Vị Thanh vào tỉnh Cần Thơ. Từ năm 1969, tách thị xã Cần
Thơ ra khỏi tỉnh Cần Thơ, trực thuộc khu Tây Nam bộ. Năm 1971, thị xã Cần Thơ trở lại thuộc
tỉnh Cần Thơ.
Ngày 24 - 3 - 1976 Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho lập tỉnh Hậu
Giang bao gồm: tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện (có thị xã Vị Thanh) và tỉnh Ba Xuyên
(có TP Sóc Trăng). Tháng 12 - 1991, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa
VIII, kỳ họp thứ 10 đã ra Nghị quyết tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng.
Vào tháng 11 - 2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 04
đã ra Nghị quyết số 22/2003/QH ngày 26 - 11 -2003 và Nghị định số 05 của Chính Phủ ngày 1 - 1 -
2004 tách tỉnh Cần Thơ thành TP Cần Thơ (trực thuộc Trung ương) và lập tỉnh Hậu Giang.
1.2.2.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng
TP Cần Thơ là mảnh đất lịch sử, giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng, một
trong những địa phương có phong trào yêu nước dấy lên từ rất sớm. Ngay từ cuối XIX đầu thế kỷ
XX đã có nhiều sĩ phu yêu nước đứng lên chống thực dân Pháp như: Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn
Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Đinh Sâm....Trường Bà Đồ và chùa Nam Nhã Đường là
một trong những nơi bàn luận văn chương, liên lạc của các nhà yêu nước. Nhiều phong trào yêu
nước và cách mạng hoạt động sôi nổi như: Hội khuyến học Cần Thơ được thành lập (1906), cuộc
tuần hành mítting của học sinh, giáo viên trường Trung học Cần Thơ (1926).
Cần Thơ còn là nơi đóng trụ sở của nhiều cơ quan đầu não kháng chiến của ta ở khu vực Tây
Nam Bộ như: Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên cách mệnh đồng chí hội (8 - 1928), Đặc ủy Hậu
Giang, Uỷ ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ (1954), là trọng điểm số 01 của Liên Tỉnh ủy (sau là
Khu ủy Tây Nam Bộ),…đây còn là nơi có lực lượng võ trang thành lập sớm nhất ở Tây Nam Bộ
(05/1955).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân Cần Thơ đã giành nhiều thắng lợi quan trọng trong
hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ như: trận Lê Bình (12 - 11 - 1945), trận
Tầm Vu I (1 - 1946), Tầm Vu IV (4 - 1948), nổi bật là cuộc tổng tấn công lộ Vòng Cung Mậu Thân
(1968),…gây cho địch nhiều thiệt hại. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, TP Cần Thơ đã đập tan hậu
cứ khu vùng IV chiến thuật giải phóng TP tạo điều kiện cho công cuộc giải phóng hoàn toàn miền
Nam vào ngày 30 - 4 - 1975, thống nhất đất nước.
Ngoài ra, TP Cần Thơ còn là vùng đất “địa linh nhân kiệt” đã sản sinh ra những người con ưu
tú cho đất nước, tiêu biểu như: Châu Văn Liêm (1902 - 1930), Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1807 -
1872), Giáo sư, Viện sĩ, Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921 - 1989), Mộc quán Nguyễn Trọng Quyền
(1876 - 1953), Cử nhân Phan Văn Trị (1830 - 1910). Sự thầm lặng cống hiến cả cuộc đời cho lý
tưởng, cho quê hương, đất nước của những danh nhân, được thế hệ trẻ Cần Thơ khắc ghi, lưu giữ,
đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh của TP Cần Thơ trong thời kỳ CNH - HĐH.
1.2.2.3. Văn hóa và tiềm năng du lịch
Nằm trong vùng văn hóa Nam Bộ - văn hóa vùng ĐBSCL, Cần Thơ mang đặc trưng của văn
hóa đặc sắc xứ miệt vườn Nam Bộ.
Tín ngưỡng - lễ hội dân gian truyền thống: Do đặc điểm sống chung của ba dân tộc Việt - Hoa
- Khmer, Cần Thơ có khá nhiều lễ hội. Những ngày lễ hội cổ truyền như: Tết Nguyên đán (của
người Việt); Tết mùng 5 tháng 5 (còn gọi là Tết Đoan Ngọ), Tết Trung thu, Thanh minh; Lễ
Cholchnam Thmay, Lễ Đôn ta. Bên cạnh đó, người Việt ở Cần Thơ cũng như ở Nam Bộ rất coi
trọng đình làng. Khi lưu dân đến khai phá đất đai, đã ổn định cuộc sống thì ngôi đình mọc lên để
thờ các vị Tiền hiền, Hậu hiền là những ân nhân sinh tiền có công mở đất lập làng, ổn định cho
cuộc sống dân cư ở địa phương: đình Bình Thủy, đình Thới Bình - Tân An, đình Thường Thạnh
thờ các vị thần theo tín ngưỡng dân gian phổ biến là: thần Hổ, thần Nông, thần Bạch Mai, thần
Thái Giám, thần Thổ Địa, Táo quân, thần Thanh Long, thần Bạch Hổ, thần Phong Thủy, thần Triệt
Lộ v.v... Ngoài ra, người Việt ở Cần Thơ còn cúng đất nước, ông bà (hay ông bà tổ tiên hoặc Tổ
quốc), cúng làm nhà, cúng Tổ (mỗi ngành nghề có ngày cúng Tổ riêng), cúng cầu mưa, cúng tống
ôn, cúng chiến sĩ trận vong (kèm với các đám cúng giỗ, Tết), thờ cúng ông Táo, Đất đai, Thổ địa,
Thần Tài, Thần Hộ mạng v.v...Trong năm có các ngày lễ, vía lớn như: Vía Quan Công (13 - 1 âm
lịch), vía Bà Thiên Hậu (23 - 1 âm lịch), vía ông Bổn (15 - 3 âm lịch), vía Ngọc Hoàng (9 - 1 âm
lịch). Ngoài ra, rằm tháng Giêng, rằm tháng Bảy, rằm tháng Chạp, các ngày sóc, ngày vọng cũng là
ngày lễ của các chùa, miếu.
TP Cần Thơ có 5 tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật Giáo, Hòa Hảo. Sự
hình thành và phát triển các tôn giáo trong TP khá đa dạng. TP Cần Thơ cũng là nơi có các tổ chức,
trụ sở quan trọng của giáo hội. Trong thời gian qua, các tôn giáo ở TP Cần Thơ nói riêng và cả
nước nói chung đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
Văn hóa ẩm thực của người dân TP Cần Thơ cũng khá phong phú mang đặc trưng của vùng
đất phương Nam. Cần Thơ là trung tâm của miền sông nước Tây Nam Bộ trù phú với nhiều loại
cây trái, rau quả, cá thịt, và là nơi quy tụ những món ăn đặc sắc của vùng. Nét đặc trưng văn hóa
ẩm thực Cần Thơ là món ăn luôn được làm từ nguyên liệu đặc sản của địa phương như gạo,
nếp,…Đồng thời, nhiều món ăn có sự pha trộn nét văn hóa ẩm thực của ba dân tộc Việt - Hoa -
Khmer.
Nhìn chung, trong nét văn hóa TP Cần Thơ có sự giao thoa và tiếp biến văn hóa trong quá
trình cộng cư giữa ba dân tộc Việt - Hoa - Khmer, biểu hiện sinh động mối quan hệ đoàn kết gắn
bó giữa ba dân tộc trong quá trình đấu tranh, xây dựng và phát triển đất nước.
Ngày nay, TP Cần Thơ chủ trương phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với phát
triển kinh tế - xã hội; xây dựng con người phát triển toàn diện, tạo bước phát triển mới về chất của
phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” [74, tr.22]. Cần Thơ đã tiến hành đầu
tư nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới các công trình văn hóa, thông tin đồng bộ, đa dạng và tiếp
tục đẩy mạnh các hoạt động văn hóa - thông tin với chất lượng ngày càng cao. TP phát triển mạnh
sự nghiệp báo chí, xuất bản, từng bước HĐH trang thiết bị, đổi mới phương thức, nội dung tuyên
truyền, phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị tại địa phương.
Chính vì TP Cần Thơ có truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời, điều kiện tự nhiên thuận
lợi, nên rất thích hợp cho phát triển các ngành du lịch. Cần Thơ có mạng lưới sông ngòi và kênh
rạch chằng chịt, đồng thời, đây còn là TP trẻ có nền kinh tế phát triển năng động; gắn với các các
sự kiện khai hoang mở đất; trải qua hai cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; với
nhiều tộc người có những nét văn hóa đặc sắc. TP Cần Thơ hiện có 20 di tích lịch sử - văn hoá,
trong đó có 16 di tích cấp quốc gia, 4 di tích cấp tỉnh.
TP Cần Thơ có 4 loại hình du lịch chính: du lịch sông nước; du lịch vườn sinh thái gắn với
loại hình du lịch home - stay; du lịch tham quan di tích lịch sử kháng chiến; du lịch gắn với triển
lãm, hội chợ. Ngoài ra, loại hình du lịch các làng nghề truyền thống và các công trình kinh tế, văn
hóa, xã hội…cũng có nhiều tiềm năng phát triển.
Hiện nay, TP Cần Thơ đang đẩy mạnh cải cách và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xây
dựng chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn phù hợp với quy định hiện hành
và thực tế của địa phương, tạo mọi điều kiện để thu hút đầu tư. Theo đó, Cần Thơ sẽ tập trung quy
hoạch và phát triển ngành du lịch theo hướng khai thác du lịch sinh thái mang đặc thù của du lịch
sông nước. Năm 2008, TP Cần Thơ được Tổng Cục Du lịch giao tổ chức Năm du lịch quốc gia với
chủ đề “Du lịch miệt vườn sông nước Cửu Long”. Mục tiêu đến năm 2020, ngành du lịch trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn của TP, xứng đáng là trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL: Điểm đến lý
tưởng - an toàn - thân thiện, nơi hội tụ của văn minh sông nước Mê Kông.
1.2.3. Cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội
1.2.3.1. Hệ thống cơ sở hạ tầng
Do nằm ở vị trí là trung tâm ĐBSCL, cho nên giao thông vận tải TP Cần Thơ không chỉ có vai
trò đối với địa phương mà còn có vai trò vô cùng quan trọng cho các vùng lân cận: Nơi đây là đầu
mối giao thông đường thủy, đường bộ và đường hàng không quan trọng của ĐBSCL.
Hệ thống giao thông vận tải của TP khá phát triển, bao gồm đường thủy, đường bộ và đường
hàng không. Về chức năng, TP Cần Thơ có mạng lưới giao thông rộng khắp, được xây dựng tương
đối đồng bộ, hiện đại đã tạo nên bộ mặt khang trang của TP. Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi
thu hút đầu tư cho phát triển, góp phần đáng kể vào công cuộc CNH - HĐH. Toàn TP hiện có 3.777
km đường giao thông. Trong đó, Trung ương quản lý 188,5 km, chiếm 4,99%; đường do TP quản lý
dài 260,6 km, chiếm 6,89%; đường do huyện quản lý dài 532 km, chiếm 14,08%; đường đô thị là
110 km [74, tr.12].
Đường bộ: Trên địa bàn TP Cần Thơ có 5 tuyến quốc lộ đi qua, tạo nên mạng lưới giao thông
liên hoàn thông suốt giữa địa phương và các tỉnh lân cận. Trong đó có các tuyến quan trọng, như:
Quốc lộ 1A, quốc lộ 91 (từ Cần Thơ đi An Giang nối liền cảng Cần Thơ, sân bay Trà Nóc, KCN Trà
Nóc 1&2 với Quốc lộ 1A), tuyến quốc lộ 80 (từ Cần Thơ đi Kiên Giang và sang Campuchia). Trong
giai đoạn 2006 - 2020, TP Cần Thơ tập trung đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc TP Hồ Chí Minh -
Cần Thơ, nâng cấp các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ, mở mới các tuyến đường vành đai và các trục đường
nối vào các KCN.
Đường thủy: cũng giống như nhiều địa phương khác trong khu vực ĐBSCL, TP Cần Thơ có
nhiều ưu thế về giao thông đường thủy. Trong đó, Sông Hậu (Hậu Giang) là một trong hai nhánh
của sông Mê Kông, đồng thời là tuyến đường thủy quan trọng nhất của TP Cần Thơ. Tuyến Cần
Thơ - Xà No - Cái Tư là cầu nối quan trọng giữa TP Hồ Chí Minh, tỉnh Hậu Giang và Cà Mau.
Ngoài ra, hệ thống kênh, rạch chằng chịt cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện vận tải
đường thủy hoạt động.
TP Cần Thơ có ba bến cảng lớn là cảng Cần Thơ, cảng Cái Cui và cảng Trà Nóc, trong đó lớn
nhất là Cảng Cái Cui có thể phục vụ cho tàu có trọng tải từ 10 - 20 nghìn tấn, khối lượng hàng hóa
thông qua cảng là 4,2 triệu tấn/năm. Sau khi thực hiện xong dự án nạo vét và xây dựng hệ thống đê
tại cửa biển Quan Chánh Bố, Cảng Cái Cui sẽ là cảng biển quốc tế tại TP Cần Thơ.
Đường hàng không: TP Cần Thơ có cảng hàng không quốc tế được nâng cấp, mở rộng từ năm
2005 với tổng mức vốn đầu tư 3 nghìn tỷ đồng, và được đưa vào khai thác từ ngày 1 - 1 - 2011. Đây
là một trong những sân bay trọng điểm của Việt Nam, sân bay Trà Nóc nối các đường bay trong
nước và quốc tế, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, quốc phòng an ninh và hội nhập quốc tế, mở ra tiến
trình phát triển nhanh, bền vững của TP Cần Thơ nói riêng và cả khu vực Tây Nam Bộ nói chung.
Thông tin liên lạc: Trong quá trình CNH - HĐH TP, giao thông vận tải và thông tin liên lạc có
vị trí rất quan trọng. Trong những năm qua, TP Cần Thơ đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển
mạng lưới bưu chính viễn thông theo hướng hoàn chỉnh và hiện đại, tạo điều kiện tốt nhất cho giao
thương giữa các vùng miền trong cả nước, nhất là phục vụ cho hoạt động ĐTNN. Hiện nay, TP Cần
Thơ là trung tâm khu vực ĐBSCL có hệ thống bưu điện, viễn thông tương đối hiện đại, gồm một
bưu điện trung tâm, bốn bưu điện huyện và hơn 90 bưu cục đủ điều kiện cung cấp thông tin liên lạc
giữa Cần Thơ với các nước trên thế giới.
Trong giai đoạn 2006 - 2020, TP Cần Thơ tiếp tục HĐH, đa dạng hóa các loại hình phục vụ;
mở rộng mạng lưới đi đôi với ứng dụng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực bưu chính - viễn thông;
đổi mới trang thiết bị, công nghệ, kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương.
Hệ thống điện, nước: TP Cần Thơ có hệ thống điện, nước đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư,
như nhà máy nhiệt điện Ô Môn - trung tâm điện lực lớn thứ 2 của cả nước được Trung ương chú
trọng đầu tư nhằm để cung cấp điện năng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của TP Cần
P/ngày đêm. Hiện nay, TP
3 Cần Thơ có hai nhà máy cung cấp nước sạch với công suất 90 nghìn mP
3 Cần Thơ có kế hoạch xây dựng thêm hai nhà máy nước với công suất 200 nghìn mP
P/ngày đêm nhằm
Thơ và các tỉnh ĐBSCL. Ngoài ra còn có nhà máy nhiệt điện Trà Nóc đã được xây dựng từ rất sớm.
cung cấp nước sạch cho nhu cầu sinh hoạt và hoạt động công nghiệp trên địa bàn.
Do có vị trí quan trọng này mà ngay từ thời Pháp thuộc, Cần Thơ đã là một trung tâm công
nghiệp ở ĐBSCL. Ngày nay, vị trí đó ngày càng được tăng cường thông qua việc đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn 1978 - 2003, TP đã đầu tư hơn 550 tỷ đồng xây dựng
cơ bản hạ tầng giao thông, riêng năm 2004 là gần 146 tỷ đồng và năm 2010 là 356 tỷ đồng hiện đại
hóa hệ thống giao thông địa phương [72, tr.11; 73; tr.13; 74, tr.18]. Tháng 6 - 2006, TP Cần Thơ đã
thông qua “Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng giao thông thành phố Cần Thơ đến năm 2020”.
Trên cơ sở những quy hoạch đồng bộ, có thể nói trong tương lai, hệ thống cơ sở hạ tầng của TP Cần
Thơ sẽ được hoàn thiện và ngày càng trở thành một trong những môi trường đầu tư hấp dẫn của các
nhà ĐTNN.
1.2.3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Sau ngày 30 - 4 - 1975, quán triệt quan điểm, đường lối Đại hội IV của Đảng, Đảng bộ Cần
Thơ đã lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới. Đảng bộ và nhân dân TP ra sức
khai khẩn đất hoang, cải tạo đất sản xuất nông nghiệp, thủy lợi hóa đồng ruộng gắn liền với tập thể
hóa nông nghiệp và từng bước cơ giới hóa theo hướng đưa nền sản xuất nông nghiệp Cần Thơ lên
sản xuất lớn XHCN, tập trung giải quyết những vấn đề cấp bách như lương thực, và nâng cao chất
lượng đời sống nhân dân. Nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ đã được khôi phục và xây dựng mới. Tốc độ GDP tăng bình quân hàng năm (1975 - 1985 ) là
7,04%/năm, trong đó khu vực 1 (nông - lâm - thuỷ sản) tăng 3,8%, khu vực 2 (công nghiệp - xây
dựng) tăng 14,12%, khu vực 3 (thương mại - dịch vụ) tăng 14,17% [68, tr.7; 69, tr.10].
Trước năm 1986, Cần Thơ cũng như các địa phương khác trong cả nước đều áp dụng cơ chế
kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, trong đó ưu tiên hai thành phần kinh tế, đó là kinh tế Nhà
nước quốc doanh và hợp tác xã (tập thể). Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Năm 1976 khu vực 1
(nông - lâm nghiệp - thủy sản) chiếm 59,88%; khu vực 2 (công nghiệp - xây dựng) 14,46%; khu
vực 3 (thương mại - dịch vụ) 25,66%. Đến năm 1985, khu vực 1 chiếm 33,94%; khu vực 2 chiếm
30,65% và khu vực 3 chiếm 35,42% [69, tr.8 - 9; 80, tr.19].
Giá trị tăng thêm của các thành phần kinh tế Nhà nước Trung ương tăng bình quân 21,97%
năm, kinh tế nhà nước địa phương tăng 14,92%, kinh tế tập thể tăng 24,3%, kinh tế cá thể tăng
4,69% năm [80, tr.19].
Do cơ chế tập trung bao cấp nền kinh tế không phù hợp đã kiềm hãm sự phát triển của nền sản
xuất. Nông nghiệp - công nghiệp chậm phát triển. Thương nghiệp do cách thức bán hàng theo chế
độ phân phối tem phiếu, thị trường chợ đen có điều kiện phát triển. Các sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
trong các ngành sản xuất, kinh doanh chưa được chú trọng. Tình trạng ngăn sông, cấm chợ làm cho
việc lưu thông hàng hóa bị ách tắc, lạm phát xảy ra liên tục. Các cơn sốt giá luôn xảy ra do các
chính sách không phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, trong đó đặc biệt là cơn sốt giá - hàng
do chính sách giá - lương - tiền năm 1985 mang lại. Những nguyên nhân trên trong một chừng mực
nhất định làm hạn chế động lực sản xuất của người lao động, kéo theo nền kinh tế Cần Thơ chậm
phát triển.
Từ khi có đường lối đổi mới, đẩy mạnh CNH - HĐH của Đảng, nhất là Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị về đổi mới cơ chế quản lý, tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ cũng có nhiều chuyển
biến mới.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 15,13%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng hình thành cơ cấu công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp và công nghệ cao. Năm
2010, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 44,16% trong cơ cấu GDP của TP; dịch vụ chiếm
45,23%; nông - lâm - thủy sản là 10,61%. Tổng thu ngân sách năm, tính đến năm 2010 đạt 20.670 tỷ
đồng (tăng bình quân 20,8%/năm). Thu nhập bình quân đầu người đạt 1.950 USD. Tỷ lệ hộ nghèo là
6,04%. Sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng trên 19,8%, dịch vụ là 17,8%. Tổng vốn đầu tư trên
địa bàn 85.062 tỷ đồng [74, tr.13 - 14]. Nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, chất lượng tăng
trưởng của nền kinh tế từng bước được cải thiện.
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp:
Sau khi đất nước hoàn toàn được thống nhất, cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhân
dân Cần Thơ đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp tiến hành thủy lợi hóa gắn liền với tập thể hóa và
từng bước cơ giới hóa và từng bước cơ giới hóa theo hướng đưa nền kinh tế nông nghiệp lên sản
xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Trong giai đoạn 1975 - 1985, ngành nông nghiệp giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế của cả nước nói chung và TP Cần Thơ nói riêng. Ngành nông nghiệp luôn chiếm tỷ lệ lớn trong
cơ cấu GDP của cả TP nhưng có xu hướng phát triển chậm dần (năm 1976 là 59,88%, 1980 là
47,61%, 1985 là 32,37%) tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ là 3,95% năm [80, tr.23].
Trong sản xuất nông nghiệp, thế mạnh là lúa. Diện tích lúa năm 1976 là 115.532 ha tăng lên
128.478 ha năm 1985, năng suất lúa năm 1976 là 23,17 tạ/ha tăng lên 29,47 tạ/ha năm 1985, sản
lượng lúa năm 1976 là 267.653 tấn tăng lên 378.634 tấn năm 1985. Tốc độ phát triển bình quân
hàng năm giá trị sản xuất lúa (giá cố định năm 1994) giai đoạn 1976 - 1985 là 103,93% năm. [80,
tr.24].
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 1976 - 1985 (giá cố định 1994).
Năm 1976 1980 1985
Diện tích (Ha) 115.532 127.657 128.478
Năng suất (Tạ/ha) 23,17 23,61 29,47
Sản lượng (Tấn) 267.653 301.445 378.634
(Nguồn: 30 năm xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ 1975 - 2005).
Từ sau khi thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đến nay. Trong nông nghiệp, có sự chuyển
dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản. Cây nông nghiệp chính vẫn là lúa. Diện
tích đất nông nghiệp khoảng 115 nghìn ha. Sản lượng bình quân hàng năm đạt khoảng 1,2 triệu tấn.
Ngoài ra có một số cây hoa màu khác như: ngô, rau, cải,…
Ngành chăn nuôi chủ yếu là nuôi heo và gia cầm. Số lượng heo là 26 ngàn con, số lượng gia
cầm là 13 ngàn con. Các gia súc khác như trâu, bò nhưng số lượng không nhiều. Hàng năm sản xuất
được gần 20 nghìn tấn thịt gia súc và gia cầm [69, tr.25].
Ngành thủy sản chủ yếu là nuôi trồng, sản lượng bình quân hàng năm là 90 nghìn tấn.
Nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ - kỹ thuật cao và
hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và hiệu quả cao với mô hình đa canh bền
vững; gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ; gắn với quản lý sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên và giảm nhẹ ô nhiễm môi trường. TP Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư cho các dự án: chế biến
nước trái cây đóng hộp, dầu thực vật, lương thực, thực phẩm đóng hộp, thức ăn cho tôm, cá; sản
xuất thuốc thú y.
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp:
Giai đoạn 1975 - 1985, số lượng cơ sở công nghiệp tăng nhanh nhưng mức độ đầu tư về máy
móc, thiết bị công nghệ sản xuất còn nhiều hạn chế. Trong sản xuất chủ yếu là sử dụng thiết bị sản
xuất cũ của thập niên 60, quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, chất lượng sản phẩm không cao. Chiến
lược đầu tư chưa xác định rõ, tình trạng đầu tư tràn lan, chủ yếu sử dụng những thiết bị công nghệ
nặng của Đông Âu, Liên Xô, nên hiệu quả kinh tế thấp. Năm 1976, toàn TP có 1.616 cơ sở công
nghiệp, trong đó số cơ sở ngoài quốc doanh (cá thể) chiếm gần 98%, đa số các cơ sở ngoài quốc
doanh được hình thành từ trước 1975. Năm 1985, TP Cần Thơ có 5.177 cơ sở công nghiệp, trong đó
hộ cá thể sản xuất nhỏ chiếm 97,6%, số còn lại là của Nhà nước [80, tr.32]. Các cơ sở công nghiệp
quốc doanh sản xuất theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Chủ trương, chính sách phát triển công
nghiệp còn phân biệt giữa các thành phần kinh tế tham gia sản xuất. Nhà nước chủ trương cải tạo
các cơ sở sản xuất tư nhân thành cơ sở quốc doanh, nên gây rất nhiều cản trở cho sự phát triển sản
xuất công nghiệp.
Bảng 1.2. Giá trị sản xuất công nghiệp ở TP Cần Thơ giai đoạn 1976 - 1985 (giá cố định
1994).
Năm 1985 1976 1976 - 1985
(triệu đồng) (triệu đồng) (%)
Tổng 135.212 335.803 110,64
Kinh tế Nhà nước 71.997 229.336 113,74
Kinh tế tập thể - 34 -
Kinh tế cá thể 63.215 106.433 105,96
(Nguồn: 30 năm xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ 1975 - 2005).
Qua Bảng 1.2 cho thấy trước năm 1986, TP Cần Thơ chỉ ưu tiên cho hai thành phần kinh tế là
quốc doanh và tập thể, tốc độ phát triển bình quân thời kỳ 1976 - 1980 là 106,26%, thời kỳ 1981 -
1985 là 111,97% [3, 336].
Từ sau đổi mới đến nay, đặc biệt là trong quá trình CNH - HĐH, ngành công nghiệp - xây
dựng thành phố chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến nông - thủy sản, hóa
chất, vật liệu xây dựng, hàng may mặc, và hàng tiêu dùng. Quy mô về giá trị sản xuất công nghiệp
đứng đầu vùng ĐBSCL và đứng thứ 12 trong cả nước, với nhịp độ tăng trưởng bình quân 19%/năm,
đóng góp gần 32%/năm vào GDP của TP. Riêng khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tăng bình quân
19,9%/năm, đóng góp gần 15% vào GDP [74, tr.34].
Sản xuất công nghiệp phát triển theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, với việc tăng cường đầu
tư đổi mới công nghệ và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều
ngành hàng, sản phẩm có lợi thế, có thị trường, khả năng cạnh tranh cao được đầu tư phát triển, nhất
là các sản phẩm công nghiệp chủ lực của địa phương.
Trong công nghiệp, TP Cần Thơ đã và đang quy hoạch nhiều khu - cụm công nghiệp, trong đó,
một số đã đi vào hoạt động sẵn sàng mời gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước. Hầu hết các KCN đều
nằm ở vị trí trung tâm của TP và vùng ĐBSCL, được xây dựng dọc theo những tuyến giao thông
trọng yếu, thuận lợi cho việc giao thương trong nước và quốc tế. Một số lĩnh vực công nghiệp lớn
đang ưu tiên kêu gọi thu hút đầu tư, đó là: chế biến lương thực - thực phẩm và đồ uống, sản xuất
phân bón, hoá chất, cơ khí, may mặc, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến, điện - điện tử, cơ khí
và chế tạo máy, dệt may, da giày, vật liệu xây dựng… nhất là là công nghiệp chế biến nông nghiệp,
thủy sản.
Trên lĩnh vực thương mại - dịch vụ, du lịch:
Năm 1973 Cần Thơ đã thành lập Phòng Thương mại và Công kỹ nghệ.
Giai đoạn 1975 - 1985, TP áp dụng cơ chế cấp phát, giao nộp theo chỉ tiêu hạn mức, tem phiếu
trong thương nghiệp. Thị trường bị chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính. Thời kỳ này, kinh tế
thương nghiệp phát triển chủ yếu là mua bán cá thể nhỏ lẻ. Thành phần thương nghiệp quốc doanh
và tập thể đáp ứng theo cơ chế kế hoạch hóa phân phối hàng hóa cho nhân dân. Năm 1976, TP có
1.627 cơ sở kinh doanh thương mại dịch vụ. Đến năm 1985 tăng lên 5.691 cơ sở, chủ yếu là kinh
doanh cá thể. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 39,8 tỷ năm 1976 lên 190,7 tỷ
năm 1985 [80, tr.37].
Hoạt động động đối ngoại chủ yếu trong khuôn khổ các nước xã hội chủ nghĩa, phần lớn là
nhập khẩu tư liệu sản xuất.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đường lối đổi mới đến nay, TP Cần Thơ là trung tâm
thương mại - dịch vụ, du lịch của vùng ĐBSCL. Thương mại và dịch vụ - du lịch chiếm tỉ trọng lớn
thứ hai sau công nghiệp và là động lực phát triển kinh tế địa phương. Trong những năm qua, Cần
Thơ đã khai trương các siêu thị lớn, như: CoopMart, Metro Cash & Carry và trung tâm thương mại.
Đồng thời, TP Cần Thơ cũng đã và đang quy hoạch lại mạng lưới thương mại và các chợ trung tâm,
xúc tiến xây dựng hệ thống chợ đầu mối, nhằm tập trung năng lực thu mua, chế biến và tạo đầu ra
xuất khẩu hàng hóa, nông sản.
TP Cần Thơ có hệ thống dịch vụ tài chính mang tầm vóc khu vực như: ngân hàng và hệ thống
tổ chức tín dụng. Một lợi thế nữa là TP đã sớm hình thành trung tâm chuyên tổ chức hội chợ thương
mại quốc tế, hội chợ nông nghiệp, qua đó góp phần quảng bá các thương hiệu hàng hóa của nước ta.
Nhiều doanh nghiệp tại ĐBSCL thông qua hội chợ đã tìm được đầu ra cho hàng hóa của mình thông
qua các hợp đồng thương mại với các đối tác trong và ngoài nước.
Hoạt động xuất - nhập khẩu được đẩy mạnh. Công tác xúc tiến thương mại của TP cũng được
tăng cường, vấn đề mở rộng thị trường luôn được đẩy mạnh. TP Cần Thơ có quan hệ xuất - nhập
khẩu với hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu
ngoại tệ trong giai đoạn 2006 - 2010 đạt 3.731 triệu USD. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như:
thuỷ sản, thuộc da,… Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu, là: vật tư nguyên liệu, phân bón, nguyên liệu
dược,…
TP Cần Thơ có hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tương đối thuận lợi trong khu vực ĐBSCL,
hệ thống nhà hàng khách sạn tiện nghi đạt tiêu chuẩn, hiện đại đủ đáp ứng nhu cầu phát triển du
lịch. Trong năm 2008, TP Cần Thơ đã đón tiếp trên 2,5 triệu lượt khách đến tham quan, mua sắm,
tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, trong đó khách lưu trú trên 850.000 lượt, tăng 23% so với các năm
trước, với hơn 175.000 lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 455 tỷ đồng tăng 24%, trong khi An Giang
chỉ có trên 120 nghìn khách lưu trú [74, tr.13].
Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội:
TP Cần Thơ là trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ của vùng ĐBSCL.
Công tác Giáo dục và Đào tạo được Đảng bộ và chính quyền TP Cần Thơ quan tâm, nhằm đào
tạo và cung cấp nguồn nhân lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và khu vực
ĐBSCL. Hiện nay, TP Cần Thơ có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, như:
Đại học Cần Thơ, Đại học Y - Dược Cần Thơ, Đại học Tây Đô, Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật, Cao
đẳng kinh tế đối ngoại, Viện lúa ĐBSCL,…
TP cũng đã và đang tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, đẩy mạnh phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo; tăng cường đầu tư xây dựng mới trường lớp và trang thiết bị trường học;
đa dạng hóa loại hình trường lớp, phát triển nhanh hệ thống trường tư thục,… Ngoài ra, TP Cần Thơ
cũng đã chủ động phát triển nhiều trường đại học, phân viện, viện nghiên cứu, các trung tâm dạy
nghề nhằm hướng tới mục tiêu biến Cần Thơ trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho
ĐBSCL. Hiện, TP Cần Thơ đang có đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật khá phong phú đủ mọi trình
độ và ngành nghề. Công tác nghiên cứu khoa học được quan tâm, đạt nhiều thành tựu khoa học
trong công tác chọn giống cây trồng và vật nuôi, cơ giới hóa nông nghiệp,…có tác dụng làm tiền đề
cho phát triển nông thôn vùng ĐBSCL. TP Cần Thơ đang kêu gọi đầu tư vào các dự án xây dựng
nhà máy lắp ráp điện tử, thiết bị tin học và công nghệ cao.
TP Cần Thơ còn là trung tâm y tế và văn hóa:
Các cơ sở khám chữa bệnh được đầu tư về trang thiết bị kỹ thuật hiện đại và đội ngũ y bác sĩ
có chuyên môn tay nghề cao tận tâm phục vụ nhân dân. TP Cần Thơ có nhiều bệnh viện: Bệnh viện
đa khoa Trung ương Cần Thơ (quy mô 700 giường); Bệnh viện Nhi đồng Cần Thơ, Bệnh viện TP
Cần Thơ 30 - 4, Bệnh viện Tai - Mũi - Họng Cần Thơ; Bệnh viện Mắt - RHM; Bệnh viện y học cổ
truyền Cần Thơ; Bệnh viện Tây Đô; Bệnh viện Hoàn Mỹ,…và hệ thống các trung tâm chăm sóc sức
khỏe nhân dân.
TP đã phát triển nhiều loại hình thể dục - thể thao, đào tạo lực lượng vận động viên đẳng cấp
quốc gia và quốc tế. Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh cơ sở vật chất hệ thống trung tâm văn hóa, nhà
truyền thống, thư viện, phát thanh truyền hình, thể dục, thể thao ở cơ sở. Song song đó, đẩy mạnh xã
hội hoá nhằm thu hút các nguồn lực xã hội và làm phong phú các hoạt động văn hoá, thể dục thể
thao trong nhân dân. Tăng cường sự quản lý, lãnh đạo của nhà nước về văn hóa và dịch vụ văn hóa.
Ngoài ra, TP Cần Thơ còn là một trong những địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc
phòng - an ninh của vùng ĐBSCL và của cả nước:
ĐBSCL nói chung và TP Cần Thơ nói riêng đóng vai trò rất quan trọng về an ninh - quốc
phòng, do có vị trí thuận lợi trong giao lưu quốc tế và là vùng rất nhạy cảm với sự biến động của các
nước láng giềng. Với vị trí địa lý rất gần với các nước ASEAN, TP Cần Thơ có điều kiện vô cùng
thuận tiện để đẩy mạnh hoạt động giao lưu thương mại và du lịch với các nước, đặc biệt là đường
hàng hải quốc tế thuận lợi trong vận chuyển hàng hóa. Riêng, đường hàng không thuận lợi trong
giao thương hợp tác, bởi chỉ trên dưới một giờ bay là có thể đến thủ đô các nước ASEAN. Chính
những điều đó đã tạo cho TP Cần Thơ một thế mạnh để mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế thu hút
đầu tư và đồng thời đảm nhận nhiệm vụ chiến lược về quốc phòng - an ninh trong khu vực ĐBSCL
và cả nước.
1.2.4. Tiềm năng về nguồn lực con người
Nguồn lực con người có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta nói chung và TP Cần Thơ nói riêng, điều quan trọng hiện
nay là cần phát triển nguồn lực con người Việt Nam, tạo ra khả năng lao động ở một trình độ mới,
với chất lượng cao.
TP Cần Thơ có khoảng gần 1,2 triệu người, trong đó nam giới chiếm tỷ lệ 49,7%, nữ giới
chiếm tỷ lệ trên 50,3%; số dân sống ở thành thị chiếm trên 65,8%, số dân sống ở nông thôn chiếm
gần 34,2% [33, tr.37]. Cần Thơ là TP có dân số đứng hàng thứ 10 trong khu vực ĐBSCL, đứng
P.
2 849 người/kmP
hàng thứ 4 trong 5 TP trực thuộc Trung ương, cao hơn TP Đà Nẵng. Mật độ dân số trung bình là
Cần Thơ có cơ cấu dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào. Năm 2005, tổng số lao động trên địa
bàn TP là 699.835 người, trong đó, lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế: 487.375 người;
lao động dự trữ: 212.460 người. Số người trong độ tuổi lao động là 1.435.918 người, chiếm 77,37%
dân số. Số người có khả năng lao động chiếm 99,28% tổng số lao động trong độ tuổi [33, tr.37].
Trên địa bàn tỉnh có ba dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh là 1.774.195 người, chiếm 96,7%;
tiếp sau là dân tộc Khmer có 35.842 người, chiếm 1,9%; dân tộc Hoa có 23.218 người, chiếm 1,3%;
dân tộc khác là 764 người, chiếm (0,1%). TP có khoảng 486.000 lao động đang làm việc trong tất cả
các ngành nghề, trong đó khu vực 1 (nông nghiệp - thủy sản) chiếm khoảng 256.300 lao động, khu
vực 2 (công nghiệp - xây dựng) chiếm 75.200 lao động, khu vực 3 (thương mại - dịch vụ): 154.500
lao động [33, tr.38].
Lực lượng lao động của TP Cần Thơ trẻ, có trình độ chuyên môn kĩ thuật ngày càng được nâng
cao. Số lao động có trình độ đại học trở lên là 8200 người, chiếm 1,09% số lao động của cả tỉnh
(751.744 người). Lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp 11.000 người (1,46%) và số công
nhân kỹ thuật cùng thợ lành nghề 13.500 người (1,8%). Phấn đấu đến năm 2020, số lao động được
đào tạo nghề chiếm 47,7% lao động trong độ tuổi, trong đó công nhân có bằng cấp, chứng chỉ
25,1%, trung học chuyên nghiệp 21,1%, cao đẳng 8,8%, đại học và sau đại học 45% [33, tr.40].
Nguồn nhân lực của TP có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần vượt khó và đoàn kết
cao, thông minh sáng tạo, có khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật hiện đại, thích ứng với những tình
huống phức tạp, cho nên có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các doanh nghiệp có dự án
đầu tư tại TP Cần Thơ.
Trong tương lai, nhu cầu bổ sung nhân lực đào tạo nghề qua Đại học, Cao đẳng, trung học
chuyên nghiệp của TP Cần Thơ cũng là rất lớn. Do đó, TP Cần Thơ đã xây dựng các chương trình,
mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ngắn hạn và dài hạn cho địa phương. Cụ thể là, Đề
án “Cần Thơ 150” với mục tiêu đào tạo đến năm 2011 sẽ có 150 cán bộ có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ
được đào tạo ở nước ngoài. Đây là một đề án quan trọng có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu CNH - HĐH và hội nhập của TP, từng bước xây dựng TP Cần Thơ
thành trung tâm văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả vùng ĐBSCL theo Nghị quyết số 45-NQ/TW,
ngày 17 - 2 - 2005, của Bộ Chính trị “Về xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Với dân số, lực lượng lao động và chất lượng nguồn nhân lực như vậy, đã tạo cho TP Cần Thơ
có một nguồn động lực rất lớn, phát triển mọi thành phần kinh tế, nhất là hoạt động trong các lĩnh
vực công nghiệp, nhân công dồi dào cho các doanh nghiệp nước ngoài trong các KCN.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua những đóng góp rất cụ thể vào tăng trưởng, tạo nguồn thu ngân sách, tạo việc làm và mở
rộng quan hệ đối ngoại, đã thể hiện rõ vai trò quan trọng của FDI đối với sự thành công của chính
sách đổi mới của nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh vai trò tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra nhiều
vấn đề gây hậu quả tiêu cực đến môi trường, tiềm ẩn nguy cơ của khủng hoảng và mất cân đối trong
nền kinh tế. Những hạn chế này đã làm cho hiệu quả sử dụng FDI chưa cao và thiếu tính bền vững.
Trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, vốn FDI vẫn đóng vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của TP Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung. Nhận thức được tầm quan
trọng của nguồn lực này, Đảng và Nhà nước chủ trương mở cửa thu hút nguồn vốn FDI. Trong đó,
KCN được xem là một khâu quan trọng. Vì ở các KCN có các công trình hạ tầng cơ sở được tập
trung, đầu tư nhanh với chất lượng cao, hình thành các dịch vụ cần thiết và các thủ tục đơn giản đáp
ứng yêu cầu của các nhà đầu tư. Trong thời gian tới, Chính phủ nên thu hút, sử dụng FDI một cách
có lựa chọn, khuyến khích đầu tư vào những ngành nền kinh tế thực sự cần và phát triển đảm bảo
tính bền vững về dài hạn.
Cần Thơ là TP trực thuộc Trung ương, nằm ở vị trí trung tâm của vùng ĐBSCL. TP vốn được
mệnh danh là “Tây Đô” - thủ phủ của miền Tây Nam Bộ. Hiện nay, Cần Thơ đã trở thành đô thị loại
1 và là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL.
TP Cần Thơ có vị trí chiến lược phát triển kinh tế xã hội, nằm trên các trục tuyến giao thông
thủy bộ quan trọng nhất của tiểu vùng Tây sông Hậu, là điểm giao lưu kinh tế lớn trong tứ giác năng
động: TP Cần Thơ - Cà Mau - An Giang - Kiên Giang. TP Cần Thơ đã sớm hình thành và phát triển
nền kinh tế tương đối đồng bộ theo hướng: chế biến nông - ngư sản và phục vụ nông - ngư nghiệp.
Cần Thơ có hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ, KCN công nghệ cao -
khu cảng biển và sân bay hàng không đang được đầu tư xây dựng và nâng cấp theo hướng hiện đại.
Cần Thơ có nguồn đất đai màu mỡ, nền nông nghiệp đa dạng có khả năng hình thành các vùng
chuyên canh lớn, tạo nguồn hàng hoá chất lượng cao và tập trung, có thị trường để xuất khẩu.
Dân số khá dồi dào về số lượng và chất lượng, năng động, là nguồn nhân lực nòng cốt cho
0TCần Thơ đang hướng tới mục tiêu trở thành TP đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại,
công cuộc phát triển TP và toàn vùng ĐBSCL.
xanh, sạch đẹp, là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ, trung tâm giáo dục đào
0TĐó chính là những tiềm năng của TP Cần Thơ trong thu hút nguồn vốn ĐTNN.
tạo và khoa học công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa của vùng.
Chương 2. QUÁ TRÌNH THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG 10 NĂM ĐẦU
ĐỔI MỚI (1986 - 1995)
2.1. Đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chủ trương của thành phố Cần Thơ
về phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (1986 - 1995).
2.1.1. Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do nhiều nguyên
nhân chủ quan và khách quan, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã đạt được một số
thành tựu quan trọng, song cũng gặp không ít những khó khăn. Trước bối cảnh thế giới diễn biến
phức tạp và tình hình đất nước đang lâm vào cuộc khủng hoảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng chủ trương tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Đại hội đã xác định công cuộc xây
dựng đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta phải trải qua nhiều chặng đường.
Trong chặng đường đầu tiên (1986 - 1990): là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tạo
những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Để
thực hiện mục tiêu đó, Đảng đã đưa ra nhiều quan điểm, đường lối đổi mới, trong đó, quan trọng là
sự đổi mới về tư duy kinh tế với những nội dung chủ yếu, như: điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư; thực
hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất; đổi mới
cơ chế quản lý; thực hiện nền kinh tế mở, đa dạng hóa thị trường, từng bước gắn nền kinh tế quốc
gia với nền kinh tế thế giới, thị trường trong nước với thị trường quốc tế trên nguyên tắc bảo đảm
độc lập chủ quyền dân tộc, an ninh quốc gia.
Trong chặng đường tiếp theo (1991 - 1995): Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng
đã đánh giá, tổng kết thành tựu của chặng đường đầu tiên quá độ lên chủ nghĩa xã hội: cả nước đạt
nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực, bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhờ vậy, nước ta đã từng
bước phá thế bao vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo môi trường thuận lợi hơn
cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ này, nước ta đang đứng trước những khó khăn và thử thách mới
vô cùng phức tạp. Sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu;
sự chống phá nhiều phía vào chủ nghĩa xã hội, vào chủ nghĩa Mác - Lênin và Đảng Cộng sản;
những âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch quốc tế; và sự hoang mang dao động của một
bộ phận những người cộng sản trên thế giới đã tác động đến tư tưởng và tình cảm của một bộ phận
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong nước, sau thời gian thực hiện đường lối đổi mới đạt nhiều
thành tựu, song, đất nước ta phải đương đầu với các hoạt động phá hoại của các lực lượng thù địch
ở cả trong và ngoài nước. Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân vẫn còn khó khăn, đất nước
vẫn trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội. Đồng thời, do chính những thay đổi ở Liên Xô và
Đông Âu đã gây ra cho nước ta nhiều đảo lộn lớn và ngột ngạt về thị trường xuất - nhập khẩu,
chương trình hợp tác kinh tế - xã hội. Nước ta phải chuyển từ các thị trường truyền thống sang thị
trường mới, chịu những tác động lớn về biến động cung - cầu và giá cả thị trường thế giới: nguồn
vay bên ngoài giảm mạnh; sự ưu đãi về giá chấm dứt; nợ nước ngoài; một số nước tiếp tục chính
sách bao vây kinh tế nước ta, gây cho ta nhiều khó khăn.
Cũng chính vì vậy, Đại hội VII của Đảng (1991 - 1995) nhấn mạnh mục tiêu tổng quát của 5
năm tới là “Vượt khó khăn thử thách ổn định và phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường ổn định chính
trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta cơ bản thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện
nay” [40, tr. 218]. Và mục tiêu kinh tế là “Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định, phát triển
và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt
đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế” [40, tr. 218]. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng chủ trương nhấn
mạnh phải phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế, xây dựng cơ cấu kinh tế theo yêu cầu
CNH - HĐH; đẩy mạnh nhịp độ ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật; hình thành về cơ bản và vận
hành tương đối thống nhất cơ chế quản lý.
Có thể nói, chính nhờ sự đổi mới về tư duy kinh tế của của Đảng đã mở ra thời kỳ đổi mới căn
bản và đồng bộ đất nước; mở ra một bước ngoặt mới trong chính sách quan hệ đối ngoại, thu hút
ĐTNN ở nước ta. Song song đó, quan điểm của Đảng và Nhà nước về vai trò của ĐTNN cũng đã có
nhiều thay đổi.
Tại Đại hội Đảng lần VII (1991) và Đại hội Đảng lần VIII (1996), tuy không tác riêng khu vực
có vốn FDI thành một “thành phần kinh tế” trong nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, song đã ghi nhận sự hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài,
khẳng định khu vực ĐTNN “có vai trò to lớn về động viên về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức
quản lý…” [85]. Nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư liên kết với các doanh nghiệp nhà nước
hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế, trừ những lĩnh vực quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế
quốc dân và an ninh quốc phòng.
Từ quan điểm đó, Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật
nhằm cải thiện môi trường đầu tư ở nước ta.
Tháng 12 - 1987, Quốc hội thông qua Luật ĐTNN trên cơ sở hoàn thiện Điều lệ Đầu tư có từ
năm 1977. Đây là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới, thể hiện chính sách
khuyến khích rộng rãi của Đảng và Nhà nước đối với nguồn vốn nước ngoài; tạo môi trường pháp
lý cao hơn để thu hút nguồn đầu tư vào nước ta; bổ sung và chi tiết hoá các lĩnh vực cần khuyến
khích kêu gọi đầu tư cho phù hợp với hoàn cảnh mới.
Điều này cũng đã mở đầu cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ĐTNN theo phương
châm đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại; góp phần thực hiện chủ trương
phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế.
Sự chuyển biến trong nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của vốn ĐTNN dần dần
đã có nhiều thay đổi bằng việc sửa đổi, bổ sung Luật ĐTNN vào các năm 1990 và năm 1992. Theo
đó, những quyền lợi và điều kiện của các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào nước ta được mở
rộng và thuận lợi hơn; thu hẹp sự khác biệt về chính sách đầu tư giữa nước ta và nước ngoài.
Các dự án FDI đầu tư vào nước ta sẽ được nhận giấy phép trong vòng 45 ngày. Nhà nước áp
dụng thuế ưu đãi cho các dự án đầu tư vào các lĩnh vực đặc biệt ưu tiên với mức thuế thu nhập 10%
trong vòng 15 năm kể từ khi hoạt động. Thuế nhập khẩu được áp với mức giá thấp trong khung giá
do Bộ Tài chính qui định.
So với những thời kỳ trước đây, chính sách thu hút ĐTNN của nước ta hiện đã trở nên thông
thoáng hơn, thuận lợi hơn đối với các nhà ĐTNN.
Đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý, Đảng và Nhà nước cũng đã không
ngừng tăng cường mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới, nhằm kêu gọi hợp tác đầu
tư: nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đối ngoại cởi mở, áp dụng chính sách giá và tỷ giá theo cơ
chế thị trường cùng với chính sách kinh tế nhiều thành phần, đã tạo nên bước phát triển mới về xuất
khẩu và FDI. Năm 1989, nước ta thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, chủ trương đa phương
hóa quan hệ và đa dạng hóa hình thức ngoại thương, nhằm để mở rộng quan hệ ngoại giao và buôn
bán với nhiều nước trên thế giới, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút nguồn vốn ĐTNN.
Chính sách đó đã giúp cho các thành phần kinh tế trong nước có cơ hội tiếp xúc với hoạt kinh tế của
các nước, từ đó tạo ra hiệu quả cao trong sản xuất.
Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 - 1994) và Đại hội VIII
(tháng 6 - 1996) của Đảng ta đã chính thức khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở,
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [85]. Đây là một trong những
bước đi không thể tách rời với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế và trong tổng thể chính sách khuyến
khích và bảo hộ ĐTNN tại nước ta, như việc tham gia ký kết với Trung Quốc: Hiệp định thương
mại năm 1991 và Hiệp định hợp tác kinh tế năm1992. Năm 1995, nước ta đã ký kết, tham gia một
số điều ước và diễn đàn quốc tế như: Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Hiệp định
khung về hợp tác thương mại, đầu tư phát triển với cộng đồng châu Âu (EU),…Theo đó, phạm vi
điều chỉnh của các hiệp định này đều mở rộng hơn so với những qui định hiện hành của Luật đầu tư
nước ngoài tại nước ta. Chẳng hạn, các hiệp định này có những điều khoản qui định đối với nhiều
loại hình đầu tư: trực tiếp, gián tiếp, các quyền theo hợp đồng, tài sản hữu hình, tài sản vô hình,
quyền sở hữu trí tuệ, và các quyền khác theo qui định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng trong giai
đoạn này, chính sách ngoại giao của nước ta vẫn còn hạn hẹp, mới chỉ cam kết về đối xử theo quy
chế tối huệ quốc, đồng thời cam kết thực hiện các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư phù hợp
với những tiêu chuẩn và tập quán thông dụng.
Thế nhưng chính đường lối đổi mới và mở cửa đã phần nào tạo nên sự hấp dẫn đối với nhà
ĐTNN. Nhờ những đường lối chính sách tích cực trên, nguồn vốn FDI đổ vào Việt Nam liên tục
tăng với tốc độ nhanh cả về số vốn và số dự án, số vốn đăng ký mới tăng và đạt mức đỉnh điểm gần
8,9 tỷ USD vào năm 1996. Tính đến cuối năm 1995, tổng số vốn đăng kí của các dự án ĐTNN đạt
trên 19 tỉ USD, trong đó khoảng 1/3 dự án đã được triển khai thực hiện. Tỉ trọng đầu tư vào công
nghiệp chiếm 40% tổng số vốn theo dự án (nếu kể cả dầu khí thì chiếm trên 60%). Địa bàn đầu tư
phân bố rộng trên các vùng lãnh thổ. Hình thức đầu tư chủ yếu là liên doanh - chiếm trên 65% tổng
số vốn; xí nghiệp có 100% vốn nước ngoài chiếm gần 18%; hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm
gần 17%. Kết quả này phần nào là do kỳ vọng của các nhà ĐTNN đối với một nền kinh tế mới mở
cửa, có quy mô dân số khá lớn với trên 80 triệu người và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng [1, tr.27].
Đồng thời, Đảng và Nhà nước đã chủ trương xây dựng các KCN để thu hút đầu tư, xem đó là
điều kiện tiên quyết. Cuối n7Tăm 1991, KCN đầu tiên được xây dựng ở nước ta. Song song đó, n 7Tgày
18 - 10 - 1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 322/HĐBT về Quy chế khu chế xuất tại
Việt Nam, quy định việc thành lập, quản lý và điều hành các KCX tại nước ta, từ đây những chính
sách thu hút và ưu đãi cho các nhà đầu tư vào các KCN - KCX, như: ưu đãi về thuế; tiền thuê đất,
mặt bằng trong các KCN - KCX được quy định rõ ràng hơn.
Để hoạt động thu hút ĐTNN trong cả nước ngày càng có hiệu quả và đi vào chiều sâu, Nhà
nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư như: ưu đãi cho sản xuất hàng
xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80% trở lên), sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có
tỷ lệ nội địa hoá cao.
Tuy nhiên, trong 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995), Nhà nước chỉ khuyến khích nguồn vốn
nước ngoài đầu tư vào nước ta theo hình thức liên doanh với doanh nghiệp trong nước; hạn chế dự
án 100% vốn nước ngoài. Do đó, kết quả số dự án theo hình thức 100% vốn nước ngoài ở nước ta
trong thời kỳ này chỉ chiếm 18%, điều này cũng đã tác động đến hoạt động thu hút ĐTNN ở nhiều
địa phương trong đó có TP Cần Thơ.
Bên cạnh đó hiệu lực thực thi pháp luật của nước ta còn thấp, tạo ra khoảng cách giữa chính
sách và thực tiễn thực hiện. Một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư FDI như: thực
trạng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh còn yếu kém, đẩy chi phí kinh doanh lên cao
(như phí dịch vụ viễn thông, điện, thủ tục hành chính). Các yếu tố này ảnh hưởng tới năng lực cạnh
tranh quốc tế của sản phẩm do các dự án FDI tạo ra. Do đó, trong quá trình tiếp tục thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế tới đây, nước ta vẫn sẽ phải hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật đầu tư hiện
hành cho phù hợp với các điều ước quốc tế và hiệp định về đầu tư mà nước ta đã ký hoặc cam kết.
Có thể nói, nhờ những đường lối, chính sách phát triển kinh tế và thu hút ĐTNN của Đảng và
Nhà nước, đã có tác dụng tháo gỡ những cản trở, trì trệ của cơ chế cũ và định hướng cho hoạt động
thu hút ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 -
1995).
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Cần Thơ
Nhân dân TP Cần Thơ vốn có truyền thống yêu nước và cách mạng, lao động cần cù và sáng
tạo. Sau khi đất nước được giải phóng, tinh thần đó được nhân dân TP tiếp tục phát huy trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Dưới ánh sáng của đường lối, chủ trương đổi mới và thu hút ĐTNN từ Nghị quyết Đại hội đại
biểu lần thứ VI, VII của Đảng, và tiếp theo đó là các Đại hội Đảng bộ TP lần IV, VIII, Cần Thơ đã
có nhiều nổ lực đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội.
Vào thời điểm ấy, TP Cần Thơ (một phần của tỉnh Hậu Giang cũ) là một trong số ít địa phương
có được vị trí quan trọng, được Ban Bí thư xác định là trung tâm của khu vực Tây Nam Bộ, đặc biệt
là một trong những tỉnh trọng điểm về kinh tế. Do đó, Cần Thơ phải phát huy thế mạnh của mình
phấn đấu xây dựng tỉnh nhà ngày càng vững mạnh toàn diện, làm tròn trách nhiệm đối với địa
phương và góp phần chung với cả nước. Đảng bộ TP Cần Thơ có những thuận lợi cơ bản, đó là: có
đường lối đúng đắn của Đảng thể hiện trong Nghị quyết IV, V và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng, các Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và gần nhất là kết
luận của hội nghị Bộ Chính trị về một số vấn đề thuộc quan điểm kinh tế đã làm rõ nhiều vấn đề
quan trọng. Đảng bộ có bước trưởng thành, có kinh nghiệm chỉ đạo nhất định. Quan hệ sản xuất mới
đã được xác lập một bước đang đi vào củng cố nâng cao chất lượng và đã tạo được một phần cơ sở
vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Với những thuận lợi đó, trong hoạt động thu hút ĐTNN, TP Cần thơ đã sớm nắm bắt thời cơ,
tận dụng tiềm năng và lợi thế so sánh để mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, thu hút nguồn vốn
ĐTNN, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ TP
lần thứ IV (1986 - 1990), Đảng bộ đã nêu: “…cần phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và vận
động kiều hối. Đảng bộ tỉnh khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất, huy động
nguồn vốn của tư nhân, của Việt kiều, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật công nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp” [69, tr.23].
Với sự nổ lực của Đảng bộ và nhân dân, TP Cần Thơ thu hút được 2 dự án ĐTNN vào KCN kể
từ khi Luật đầu tư nước ngoài được Quốc hội ban hành vào năm 1987, đồng thời là địa phương đầu
tiên trong cả nước thu hút được nguồn vốn đầu tư ngoài nước. Kết quả đó, thể hiện sự năng động,
nhạy bén và linh hoạt của TP trong việc tranh thủ nguồn vốn bên ngoài để xây dựng và phát triển
các ngành công nghiệp ở địa phương.
Cần Thơ chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, mở rộng kinh tế đối ngoại
theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Đối với các xí nghiệp liên doanh với nước
ngoài, TP chủ trương: “phát huy tốt các cơ sở công nghiệp liên doanh nước ngoài hiện có, nâng cấp
cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghiệp hiện có tiến tới xây dựng khu công nghiệp tại thành phố Cần
Thơ để mở rộng liên doanh với nước ngoài, thu hút ngày càng tốt hơn nguồn vốn, kỹ thuật, kinh
nghiệm quản lý tiên tiến của các nước” [70, tr.28].
Để chủ trương sớm đi vào thực tiễn, Cần Thơ đã cho tiến hành nghiên cứu thị trường các nước
láng giềng, như Lào, Campuchia và các nước Đông Âu. Đồng thời, Cần Thơ còn đẩy mạnh liên kết
với các công ty nước ngoài, vận động kiều hối, tranh thủ sự đầu tư và sử dụng nguồn ngoại tệ phục
vụ xây dựng, phát triển kinh tế địa phương.
Đồng thời, ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, TP Cần Thơ đã tổ chức nhiều đoàn cán
bộ đi khảo sát, học tập kinh nghiệm ở một số nước về thành lập KCN; tổ chức công tác xúc tiến đầu
tư tại các nước, ban hành nhiều chính sách phù hợp, nhất là quy hoạch và phát triển các KCN tập
trung nhằm tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn ĐTNN.
Đảng bộ TP nhấn mạnh đến vai trò của nền kinh tế mở. Đảng bộ tỉnh Hậu Giang đã xác định
thế mạnh của địa phương và ĐBSCL: “trọng tâm là công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm,
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [69, tr.24]. Đảng bộ tỉnh cũng đã quan tâm đến phát triển công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biển nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu, chấn chỉnh phân phối lưu thông. Vì vậy, TP phải không ngừng vận động thu hút
vốn ĐTNN nhất là các nước xã hội chủ nghĩa để phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm của
địa phương và của vùng đồng bằng. Điều này, có tác dụng giúp cải thiện cuộc sống vật chất, tinh
thần dân cư, nhưng quan trọng hơn cả là chăm lo giải quyết việc làm cho lao động ở thị xã và vùng
nông thôn.
Đảng bộ TP đã đưa mục tiêu: phát triển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, sản xuất
hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, nâng cao giá trị nông sản thực phẩm (tôm, heo, vịt, dừa, khóm, đay,
đậu, chuối…) vào một trong tám chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Đảng bộ TP còn nhấn mạnh đến vai trò là động lực của nền kinh tế mở, xem đó như là một
trong những yếu tố thu hút ĐTNN: cần phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào phục vụ phát
triển nông, ngư, lâm nghiệp và các ngành khác. Phấn đấu đến năm 1990 đạt giá trị tổng sản lượng
650 triệu đồng (trong đó quốc doanh chiếm 40 - 50%) [69, tr.42].
TP Cần Thơ cũng đã bắt đầu nghiên cứu chính sách khuyến khích sản xuất đối với các thành
phần kinh tế, vận động nguồn vốn của tư nhân, người Việt ở nước ngoài trong xây dựng hạ tầng, sản
xuất công nghiệp.
Bên cạnh đó, Đảng bộ Cần Thơ xác định cần sớm xây dựng cụ thể chính sách kêu gọi đầu tư
và KCN nhằm giúp các nước hiểu rõ hơn môi trường đầu tư tại TP. Trong giai đoạn 1986 - 1995,
mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song, TP Cần Thơ cũng đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, mời
gọi đầu tư vào KCN Trà Nóc. Chính sách ưu đãi được quy định:
Các xí nghiệp sản xuất tại KCN được miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị, vật tư nguyên
liệu và hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài vào KCN, đồng thời được miễn thuế xuất khẩu đối với
hàng hóa hoặc sản phẩm ra nước ngoài. Đồng thời, các xí nghiệp sản xuất tại KCN được hưởng ưu
đãi miễn thuế lợi tức 4 năm đối với các ngành công nghiệp và 2 năm đối với những ngành dịch vụ.
Ngoài ra, nhà đầu tư còn được hoàn lại tiền thuế lợi tức, nếu như, nhà đầu tư dùng lợi nhuận thu
được đầu tư sản xuất trở lại tại KCN Trà Nóc.
Các lĩnh vực ưu tiên mời gọi thu hút đầu tư đó là công nghiệp chế biến nông sản phẩm và thủy
sản, sản xuất hàng gia dụng bằng vật liệu phi kim loại, dệt sợi, may mặc và hàng trang sức may
mặc, thêu đan, sản xuất hàng bằng da và giả da, sản xuất giày, dép các loại, sản xuất sản phẩm giấy
- ấn loát phẩm, sản xuất hàng nhựa và bao bì nhựa, sản xuất và lắp ráp hàng điện tử và vi điện tử,
chế tạo cơ khí - lắp ráp máy phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế tạo và lắp ráp phương tiện vận tải
thủy, bộ các loại.
Các ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ như ngân hàng, xây dựng, kiểm toán, bảo hiểm, cung cấp
hơi đốt và các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, xuất - nhập khẩu tại KCN Trà Nóc.
Hàng năm, TP Cần Thơ cũng đã tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm hoạt động kinh tế đối
ngoại, đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm ở những tỉnh bạn để chỉ đạo tốt công tác kinh tế đối ngoại
của địa phương trong những năm tiếp theo.
Vận dụng đường lối, quan điểm của Đảng Nhà nước về ĐTNN, Đảng bộ và nhân dân TP Cần
Thơ đã có những chủ trương và chính sách thu hút ĐTNN phù hợp với tình hình thực tiễn địa
phương và bước đầu đạt được những thành tựu quan trọng. Những kết quả đó đã góp phần đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đưa nền kinh tế địa phương chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH
trong giai đoạn tiếp theo.
2.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại Cần Thơ
trong giai đoạn (1986 - 1995)
2.2.1. Công tác xây dựng cơ bản
2.2.1.1. Công tác xây dựng các khu công nghiệp
Vào cuối thập niên 1960, chính quyền Sài Gòn đã cho thành lập một khu kỹ nghệ mang tên
“Tây Đô” theo sắc lệnh số 14/SL/KT ngày 6 - 1 - 1968 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng
hòa. Khu kỹ nghệ Tây Đô có diện tích 151 ha, bao gồm một phần đất của hai xã Thới An Đông và
Phước Thới, quận Phong Phú, tỉnh Phong Dinh.
Từ năm 1968 - 1975, khu kỹ nghệ chỉ có 3 xí nghiệp đó là: Nhà máy nhiệt điện Trà Nóc, xí
nghiệp Hơi Gió Đá, xí nghiệp chế biến đường với năng suất 30 tấn mía/ngày.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, TP Cần Thơ đã nhanh chóng tiếp quản hoàn toàn
các cơ sở sản xuất công nghiệp của chế độ cũ đưa vào quốc hữu hóa chuyển thành các xí nghiệp
công nghiệp quốc doanh. Nhà máy nhiệt điện Trà Nóc và xí nghiệp Hơi Gió Đá do Trung ương
quản lý, khu kỹ nghệ Tây Đô được chuyển đổi thành khu sản xuất Trà Nóc.
Từ năm 1981 - 1985, TP Cần Thơ tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trong đó tập
trung xây dựng và phát triển công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu
dùng phục vụ cho đời sống nhân dân, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa nông sản. Vào thời
điểm này, xí nghiệp rau quả đông lạnh, xí nghiệp chế biến thủy - hải sản đông lạnh Cafatex và nhà
máy phân bón hóa chất Cần Thơ được đầu tư xây dựng ở khu sản xuất Trà Nóc cũ. Tuy nhiên, cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và công tác quản lý ở khu sản xuất Trà Nóc cũ ngày càng xuống cấp trầm trọng, cơ
sở sản xuất ít, quy mô nhỏ chưa có những đóng góp đáng kể cho địa phương. Mặc dù trước đây, khu
chế xuất Trà Nóc được chính quyền Sài Gòn xác định là một trong những khu sản xuất quan trọng
của vùng Tây Nam Bộ [3, tr.405].
Tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cần Thơ lần VIII (1991 - 1995), trong nhiệm vụ, giải pháp
phát triển kinh tế - xã hội đến năm 1995 trên lĩnh vực công nghiệp, Đảng bộ và nhân dân TP Cần
Thơ đã đề nghị Trung ương sớm thành lập KCX Trà Nóc tại Cần Thơ. Như vậy, TP Cần Thơ cũng
đã sớm nhấn mạnh đến vai trò của các ngành công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội địa
phương, đó là đòn bẩy cho quá trình HĐH nông thôn trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương của TP là
cần cải tiến kỹ thuật và từng bước trang bị lại máy móc
Căn cứ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cả nước nói chung và TP Cần Thơ nói riêng với vai
trò là trung tâm vùng ĐBSCL, ngày 21 - 9 - 1992, Hội đồng Bộ trưởng có công văn số số
4.269/KTĐN cho phép TP Cần Thơ thành lập KCX trên địa bàn khu sản xuất Trà Nóc thuộc
phường Trà Nóc, TP Cần Thơ. Năm 1992, KCX Trà Nóc 1 được quy hoạch xây dựng trên diện tích
135 ha, với hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh và đồng bộ. Đây được coi là KCX đầu tiên ở ĐBSCL.
Tháng 12 - 1994, Chính phủ ban hành nghị định 192/CP về quy chế KCN thì KCX Trà Nóc có tên
gọi mới là KCN Trà Nóc - Cần Thơ.
Định hướng ngành nghề phát triển sản xuất tại KCN Trà Nóc, đó là: Sản xuất thực phẩm và
thức uống: bao gồm chế biến lương thực, thực phẩm từ nguồn nguyên liệu nông, thủy, hải sản trong
tỉnh và ĐBSCL; vác ngành công nghiệp phục vụ cho CNH, HĐH nông nghiệp gồm công nghiệp
điện, điện tử, sản xuất các thiết bị máy móc, phương tiện vận tải; công nghiệp vật liệu xây dựng;
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng nhiều lao động như dệt, túi xách, giày dép,…
Và các lĩnh vực dịch vụ đó là: dịch vụ nhà ở chuyên gia và công nhân cho KCN - KCX; dịch
vụ cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc, vận tải, ngân hàng; dịch vụ văn hóa giải trí vui chơi; dịch
vụ cảng, kho hàng.
Bên cạnh, việc khuyến khích các thành phần kinh tế đẩy mạnh phát triển sản xuất; gắn công
nghiệp địa phương với các cơ sở Trung ương; phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
nhất là tiểu thủ công nghiệp; thì việc sớm xây dựng KCN Trà Nóc là nhằm gắn kết các hoạt động
kinh tế, chính trị trong và ngoài nước, tranh thủ nguồn vốn đầu tư và công nghệ của nước ngoài.
Trong đó, nguồn vốn ĐTNN với tính hai mặt của nó, xét về lợi ích lâu dài thì đó là một trong những
nguồn lực rất quan trọng và vô cùng cần thiết cho quá trình CNH - HĐH TP Cần Thơ nói riêng và
cả nước nói chung.
2.2.1.2. Công tác xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Trong quá trình phát triển KCN - KCX của nền kinh tế, cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò rất
quan trọng, là bước khởi đầu tạo điều kiện để thu hút ĐTNN. Trước năm 1986, cũng như nhiều địa
phương khác trong cả nước nhìn chung cơ sở hạ tầng tại KCN của TP Cần Thơ còn thiếu thốn, yếu
và chưa đồng bộ. Thực hiện theo Nghị quyết Đại hội V, các Nghị quyết Trung ương và Nghị quyết
Đại hội III của Đảng bộ tỉnh, TP cho tiến hành kiểm điểm, đánh giá lại tình hình cơ sở hạ tầng giao
thông, nhằm đảm bảo lực lượng giao thông thủy, bộ ở địa phương và toàn vùng ĐBSCL.
Từ sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, TP Cần Thơ đã từng bước hoàn thiện
cơ sở hạ tầng, như: tích cực sửa chữa, bảo dưỡng, từng bước khôi phục đường, cầu, cảng hiện có, đi
đôi với việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng mới phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương. Công tác duy tu, sửa chữa được tiến hành khẩn trương, nhằm phục vụ yêu cầu phát triển
nền sản xuất toàn diện, bảo đảm vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân, mở rộng giao lưu kinh
tế - văn hóa trong vùng và quốc tế. Song song đó, TP củng cố và tăng cường lực lượng vận tải quốc
doanh, khuyến khích phát triển lực lượng vận tải của tập thể và tư nhân.
Trên tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI (1986 - 1990) về xây dựng cơ sở hạ tầng, đồng
thời, thực hiện theo Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ IV (1986 - 1990), công tác xây dựng cơ bản
luôn được thành phố quan tâm, nhất là cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở KCN. Nghị quyết Đảng bộ tỉnh đã
nhấn mạnh: “…thành phố cần phải tập trung xây dựng các cơ sở cấu trúc hạ tầng, công nghiệp cơ
khí, công nghiệp chế biến, nhất là chế biến xuất khẩu” [69, tr.23].
Từ năm 1981 - 1994 TP Cần Thơ đã thực hiện nâng cấp gần 48 km đường các loại, sửa chữa,
trên 2 nghìn km đường các loại, làm mới 889 m cầu bê tông, nâng cấp, sửa chữa 2.723 m cầu các
loại khác. Vốn duy tu bảo dưỡng thực hiện tổng cộng trên 31,318 tỷ đồng [89, tr.51].
Từ năm 1978 - 1994, TP đã đầu tư xây dựng mới 49,470 km đường các loại, trong đó có trên
37 km là đường đá phủ nhựa. Nâng cấp và sửa chữa trên 345 km đường các loại khác. Về phần cầu
đã thực hiện làm mới 1.353 m cầu bê tông các loại, nâng cấp, sửa chữa 232 m cầu bê tông và 945 m
cầu khác. Ngoài ra còn thực hiện nhiều công trình xây dựng cơ bản khác như cầu Cảng, bến xe, bến
tàu, nhà làm việc các đơn vị ... Kinh phí xây dựng cơ bản thực hiện tổng cộng trên 62,8 tỷ đồng [79,
tr.54]. Có thể nói, đó là sự nổ lực đáng kể của TP Cần Thơ trong việc khôi phục, sửa chữa và hoàn
thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động sản xuất công
nghiệp.
Từ sau khi nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ các Bộ, ngành Trung ương, trong đó có Quyết
định số 817/QĐ-TTg ngày 13 - 2 - 1995 phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công
nghiệp Trà Nóc - Cần Thơ. TP Cần Thơ đẩy mạnh việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội.
Trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN, TP Cần Thơ chủ trương huy động vốn từ các
các thành phần kinh tế để xây dựng cơ sở cấu trúc hạ tầng công nghiệp, nhất là công nghiệp chế
biến xuất khẩu tại KCN Trà Nóc. TP chủ trương: “…đầu tư 60% vốn cho khu vực sản xuất vật chất
và 40% cho khu vực không sản xuất vật chất” [70, tr.22]. Bố trí cơ cấu đầu tư phù hợp với cơ cấu
kinh tế theo quy hoạch và kế hoạch; tập trung vốn xây dựng các công trình trọng điểm, đồng bộ phát
huy ngay hiệu quả. Đồng thời, TP cho rà soát lại các công trình dở dang, điều chỉnh hợp lý, chú
trọng các công trình quan trọng.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, Đảng bộ địa phương yêu cầu các cấp, các ngành cần quan tâm
chỉ đạo tốt các mặt:
Thứ nhất, phấn đấu xây từng bước các cơ sở của 48 cụm kinh tế xã hội của tỉnh, chú ý tranh
thủ khả năng đóng góp khả năng của nhân dân.
Thứ hai, tiếp tục phân công, phân cấp quản lý quản lý xây dựng theo qui mô công trình, khả
năng thiết kế và thi công. Chấm dứt tình trạng xây dựng các công trình tự phát ngoài kế hoạch bằng
bất cứ nguồn vốn nào, nghiêm cấm các nhà thầu tư nhân trong xây dựng. Nghiên cứu, đổi mới cơ
chế quản lý đầu tư và xây dựng, gắn trách nhiệm với hiệu quả đầu tư, tăng cường công tác khảo sát,
thiết kế, mạnh dạn xóa bỏ những thủ tục, hình thức không cần thiết; tổ chức thi công theo hướng
đồng bộ, dứt điểm, bảo đảm chất lượng, đưa nhanh vào sử dụng.
Thứ ba, kiện toàn đội ngũ cán bộ phụ trách xây dựng cở các cấp, đảm bảo yêu cầu xây dựng
ngày càng lớn, chú ý nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ thuật, giáo dục đạo đức phẩm chất, khắc phục
hiện tượng tiêu cực.
Theo quyết định số 817/QĐ-TTg, KCN Trà Nóc được quy hoạch và xây dựng lại trên diện tích
135,67 ha, với tổng số vốn đầu tư hơn 14 triệu USD. TP Cần Thơ giao cho công ty xây dựng hạ tầng
KCN Cần Thơ (viết tắt là CIPCO) làm chủ đầu tư.
Về hệ thống giao thông nội bộ KCN: Cần Thơ đã đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông
nội bộ hoàn chỉnh dài 5,4 km, gồm: đường chính, đường phụ, nhằm đảm bảo cho giao thông vận
chuyển trong khu được an toàn, thông suốt và tiện lợi.
Ngay từ năm 1980, TP cho tiến hành xây dựng và nâng cấp cảng Cần Thơ. Sau thời gian nâng
cấp và sửa chữa, đến năm 1992, cảng Cần Thơ trở thành cảng quốc tế của TP và khu vực ĐBSCL,
có thể tiếp nhận tàu 10 nghìn tấn với tổng khối lượng hàng hóa thông qua cảng là 500 nghìn
tấn/năm. Trong những năm tiếp theo, cảng Cần Thơ sẽ được TP và Trung ương đầu tư nâng cấp trở
thành cảng container và có thể tiếp nhận cùng lúc nhiều tàu có tải trọng từ 10 - 15 nghìn tấn và tổng
khối lượng hàng hóa thông qua cảng từ 2 - 2,5 triệu tấn/năm.
Trước ngày giải phóng, tại KCN Trà Nóc đã có sẵn một số kho, xưởng và sớm được cải tạo
theo yêu cầu sử dụng. TP đã vận động các đơn vị kinh doanh dịch vụ KCN xây dựng thêm một số
nhà xưởng đạt tiêu chuẩn dùng để bán hoặc cho thuê, giúp cho các nhà đầu tư không phải tốn nhiều
chi phí đầu tư ban đầu. TP chủ trương đẩy nhanh tiến độ sớm hoàn thành cơ sở đông lạnh khu vực
Cần Thơ phục vụ công tác chế biến và xuất khẩu thủy sản. Ngoài những kho, bãi ngoài cảng và sân
bay, trong KCN Trà Nóc đã được đầu tư xây dựng kho quá cảnh hàng hải và hàng không, tạo mọi
điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư.
Sân bay Trà Nóc được hoạt động trở lại vào tháng 11 - 1992 với đường hạ cánh dài 2.400 m,
rộng 30 m. Hiện sân bay đang tạm ngưng hoạt động để sửa chữa nâng cấp, hướng tới mở rộng
đường bay trong nước và quốc tế.
Về hệ thống cung cấp điện và thông tin liên lạc: TP Cần Thơ có nhà máy nhiệt điện Trà Nóc
được xây dựng từ năm 1973 với công suất 35 nghìn KW, đây là một thuận lợi cho các doanh nghiệp
đầu tư sản xuất trong KCN Trà Nóc. Từ năm 1995, trạm biến áp 130 MVA tại Trà Nóc cũng được
đầu tư xây dựng với chiều dài đường dây tải điện là 5,4 km. Để cải tạo trước một bước hệ thống
điện phục vụ tốt yêu cầu sản xuất, TP Cần Thơ đã chủ động hơn trong việc trao đổi với Trung ương
để có quy hoạch, và kế hoạch đến năm 1995 là phủ kín mạng lưới điện ở các trung tâm sản xuất
công nghiệp.
Bên cạnh đó, TP Cần Thơ chủ trương thay đổi thiết bị liên lạc cũ thành tổng đài điện thoại điện
tử. Đảng bộ TP đã khẩn trương tiến hành cải tạo, nâng cấp và đầu tư trang thiết bị hệ thống thông tin
liên lạc theo hướng ngày càng hiện đại. Mạng điện thoại hữu tuyến, vô tuyến được đưa vào sử dụng,
mở rộng hệ thống Telex - Telefax quan hệ trong và ngoài nước. Đến năm 1993, hệ thống thông tin
liên lạc tại KCN được xây dựng đạt tiêu chuẩn, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin liên lạc trong và
ngoài nước của các nhà đầu tư, phục vụ có hiệu quả cho mọi hoạt động của các cá nhân và đơn vị
trong KCN.
Hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước thải: Hệ thống công trình cấp thoát nước và độ cao nền
đất được quy hoạch và xây dựng hoàn chỉnh nhằm đảm bảo an toàn cho các công trình kiến trúc
P/ngày đêm và nhà máy nước của KCN Trà Nóc với
3 điện điện Trà Nóc với công suất là 1 nghìn mP
3 công suất 10 nghìn mP
3 P/ngày đêm. Hệ thống xử lý nước thải có công suất 5 nghìn mP
P và 11 km cống
trong KCN không bị ngập bởi mưa, lũ. Trạm cấp nước bao gồm: nhà máy nước của nhà máy nhiệt
thoát nước. Trong những năm tiếp theo, hệ thống xử lý nước thải sẽ được nghiêm cứu giải quyết
phù hợp với tiêu chuẩn áp dụng cho các nước đang phát triển.
Ngoài ra, các tiện nghi và tiện ích công cộng khác cũng đang được TP Cần Thơ tập trung kêu
gọi đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại nhằm phục vụ tốt cho các nhà đầu tư vào KCN Trà Nóc.
2.2.2. Công tác xây dựng cơ chế chính sách quản lý và dịch vụ khu công nghiệp
2.2.2.1. Công tác xây dựng cơ chế, chính sách quản lý
Trước năm 1986, do áp dụng cơ chế tập trung bao cấp, chậm cải tiến cơ chế quản lý, sắp xếp
lại ngành nghề sản xuất đã làm cho chất lượng sản phẩm của nhiều ngành nghề kém, công nghiệp
chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng chưa phát triển đúng với khả năng.
Song song với công tác cải tạo công thương nghiệp, TP đã cải tiến công tác quản lý kinh tế,
chú ý thực hiện hạch toán kinh tế trong các cơ sở quốc doanh và tập thể. Đảng bộ Hậu Giang lúc đó
cũng đã nhấn mạnh việc tiếp tục phân công, phân cấp quản lý và tăng cường bộ máy quản lý các
ngành sản xuất. Tuy nhiên, công tác quản lý kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng còn rất
nhiều hạn chế và chỉ tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp là chính.
Từ sau năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới, trong công tác xây dựng cơ chế, chính sách, TP
Cần Thơ xác định nhiệm vụ trọng tâm là “phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, kiện toàn hệ thống
chính quyền các cấp, để thực hiện chức năng quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội, đảm bảo
công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về quản lý kinh tế” [70, tr.30] .
Để thuận lợi và đảm bảo hiệu quả cho công tác quản lý, TP tiến hành tổ chức sắp xếp lại ngành
nghề và cơ sở sản xuất, tích cực cải tiến công tác quản lý, tiếp tục phân công, phân cấp quản lý, tăng
cường bộ máy quản lý các ngành sản xuất công nghiệp cho hợp lý, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Đồng thời, Cần Thơ cũng tiếp tục thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp và
tiểu thủ công nghiệp đi đôi với việc củng cố quan hệ sản xuất mới, với những hình thức và bước đi
thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất luôn luôn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất, và xem đó là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đến năm 1990, TP căn bản hoàn thành công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa với những hình thức và
bước đi phù hợp. Trong công tác cải tạo, TP Cần Thơ chủ trương: “kết hợp với xây dựng, lấy xây
dựng làm chính và xóa bỏ quan hệ sản xuất cũ gắn liền với việc xác lập và xây dựng chủ nghĩa xã
hội trên ba mặt: quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối” [70, tr.31].
Bên cạnh đó, TP tiến hành nghiên cứu chính sách khuyến khích sản xuất thỏa đáng đối với
kinh tế quốc doanh, tập thể và tư nhân, thực hiện hạch toán kinh tế trong các trong các cơ sở xí
nghiệp quốc doanh và tập thể, đảm bảo sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng, chất lượng sản
phẩm tốt. TP chủ trương thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và một bộ phận
kinh tế tư bản tư nhân, cho phép các thành phần kinh tế này sản xuất, kinh doanh trong một số
ngành nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ với qui mô và phạm vi nhất định vì lợi ích của chủ
nghĩa xã hội.
TP Cần Thơ cho tiến hành công tác kiện toàn bộ máy, nâng cao chất lượng quản lý các cơ sở
công nghiệp, sắp xếp lại các cơ sở cá thể, tùy quy mô sản xuất mà vận động đưa vào hình thức tập
thể từ thấp đến cao như: tổ hợp, tổ hợp tác sản xuất, nơi có đủ điều kiện thì thành lập hợp tác xã,
công tư hợp doanh hoặc đưa thẳng lên quốc doanh đối với một số cơ sở sản xuất công nghiệp cần
thiết đối với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đối với một số ngành nghề nhất
định trong khu vực sản xuất và dịch vụ, ở những nơi cần thiết, tư nhân được tổ chức sản xuất, kinh
doanh theo chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong 5 năm (1986 - 1990), công nghiệp quốc doanh từng bước được sắp xếp lại và một số xí
nghiệp đi dần vào ổn định, mở ra một số cơ sở công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu liên doanh
với nước ngoài bước đầu hoạt động có hiệu quả, tiếp cận được với công nghệ quản lý của các nước.
Trong 5 năm (1991 - 1995), TP Cần Thơ có chủ trương giải thể một số cơ sở sản xuất không
có hiệu quả, tiếp tục cải tiến phương thức quản lý, chỉ đạo tổ chức Đảng ở các cơ sở công nghiệp
nêu cao vai trò chủ đạo của cán bộ, công nhân viên chức tham gia vào công tác quản lý.
Để công tác quản lý ngày càng đạt hiệu quả nhất là đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp, TP
Cần Thơ đã quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương về công tác quản lý đối với các KCN,
Nghị định số 322/HĐBT ban hành ngày 18 - 10 - 1991, quy định về Quy chế về khu chế xuất tại
Việt Nam, quy định việc thành lập, quản lý và điều hành các KCN - KCX tại nước ta. Quyết định số
513/TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 17 - 9 - 1994 về việc thành lập Ban Quản lý KCN -
KCX Cần Thơ. Theo Quy chế đó, quản lý KCN - KCX gồm có:
Ban Quản lý KCX có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền quản lý liên quan
đến hoạt động KCN - KCX, như: xây dựng và thực hiện Điều lệ KCN - KCX. Trong đó, Ban Quản
lý có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch phát triển, phương án hoạt động của KCN - KCX, tuyên truyền
vận động đầu tư vào KCN - KCX; thừa uỷ quyền của Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư xem
xét các dự án đầu tư vào KCN - KCX và cấp giấy kinh doanh (trừ Công ty liên doanh kết cấu hạ
tầng KCN - KCX nói tại điều 8 của Quy chế và các dự án thuộc lĩnh vực Ngân hàng).
Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư có trách nhiệm: giải quyết những vấn đề liên quan đến
chính sách và pháp luật không thuộc thẩm quyền của Ban quản lý KCN - KCX và Uỷ ban nhân dân
địa phương có KCN - KCX.
Uỷ ban nhân dân Cần Thơ có trách nhiệm: Giải quyết những vấn đề liên quan đến KCN Trà
Nóc thuộc thẩm quyền uỷ ban; kiến nghị người tham gia ban quản lý KCN; tạo điều kiện cho ban
quản lý KCN thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ quy định tại điều 59 Quy chế này.
Trên cơ sở những văn bản hướng dẫn, Nghị định, Quyết định của Chính phủ, TP Cần Thơ tiến
hành công tác phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước đối với KCN trên địa bàn theo cơ chế “một cửa” trong xuất cấp giấy phép đầu tư, giấy
phép xuất - nhập khẩu,…cùng phối hợp với các cơ quan, ban ngành thường xuyên kiểm tra, rà soát
lại quy hoạch để tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống quy hoạch các KCN; quy hoạch khu tái định cư, khu
nhà ở cho công nhân, khu dịch vụ phục vụ ở KCN. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra xây
dựng cơ bản, công tác bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy, thực hiện các chế độ chính sách
chăm lo đời sống cho người lao động trong các doanh nghiệp tại KCN Trà Nóc.
Trong quá trình hoạt động, Cần Thơ chủ trương xây dựng cơ chế phối hợp trao đổi thông tin
giữa Ban quản lý KCN - KCX và Sở Kế hoạch và Đầu tư, nhằm giải đáp những vướng mắc, tổng
hợp các ý kiến của Ban quản lý để xây dựng, điều chỉnh và hướng dẫn chung cho các Ban quản lý
thực hiện.
Đồng thời, TP Cần Thơ đã chỉ đạo thành lập 12 tổ chức cơ sở Đảng, với 126 đảng viên trong
các KCN Cần Thơ. Đồng thời để bảo vệ quyền lợi của người lao động và tạo một tổ chức trung gian
hòa giải các bất đồng giữa giới chủ và người lao động, Liên đoàn lao động TP Cần Thơ đã chỉ đạo
thành lập Công đoàn các KCN Cần Thơ từ tháng 6 - 1999, và đã đưa hai cán bộ chuyên trách phối
hợp với Ban quản lý KCN - KCX chỉ đạo xây dựng tổ chức công đoàn các doanh nghiệp trong
KCN, hoạt động theo quy định của Bộ Luật lao động, Luật Công đoàn và Luật ĐTNN [72, tr.16].
TP Cần Thơ còn quan tâm đào tạo bồi dưỡng nhanh đội ngũ cán bộ quản lý, nghiệp vụ bằng
hình thức mở lớp dài hạn, ngắn hạn, tập huấn, tổ chức đi tham quan…nhằm dảm bảo cho công tác
cải tạo và phát triển sản xuất kinh doanh.
2.2.2.2. Công tác xây dựng dịch vụ khu công nghiệp
6TPhát triển hoàn thiện hệ thống dịch vụ6T KCN là đ6Tiều kiện để thu hút mạnh ĐTNN, n6Thằm tạo
điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước (1986 - 1995), TP Cần Thơ chỉ có duy nhất KCN Trà Nóc. Do
đó, mọi công tác xây dựng dịch vụ KCN đều được căn cứ theo Nghị định số 322. Hầu hết các công
trình xây dựng và dịch vụ tại KCN đều do TP Cần Thơ quản lý, chưa có sự tham gia nhiều của các
đơn vị kinh doanh dịch vụ tư nhân. Chẳng hạn như dịch vụ tư vấn - thiết kế xây dựng do TP đảm
nhận.
Năm 1980, TP thành lập Sở xây dựng Hậu Giang có nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực
xây dựng và quản lý trực tiếp các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành (khảo sát thiết kế, thi
công xây dựng, sản xuất cung ứng vật tư xây dựng cho địa phương).
Ngày 16 - 2 -1983, Ủy ban xây dựng tỉnh Hậu Giang cũng được thành lập với nhiệm vụ thẩm
tra hồ sơ thiết kế, dự toán dây dựng cơ bản; quản lý giá, xây dựng khung giá; kiểm tra quá trình thực
hiện đầu tư xây dựng.
Tháng 3 - 1983 UBND tỉnh Hậu Giang thành lập Sở Quản lý nhà đất và Công trình đô thị
nhằm tham mưu cho UBND tỉnh trong việc giải quyết nhu cầu đất sản xuất kinh doanh, xây dựng và
nhà ở, tổ chức thực hiện các văn bản của nhà nước có liên quan về nhà đất; thực hiện quản lý nhà,
đất ở thuộc diện nhà nước quản lý; quản lý các đơn vị thuộc sở theo phân cấp của UBND tỉnh.
Năm 1992, Cần Thơ tiến hành hợp nhất Sở xây dựng và Ủy ban xây dựng thành lập Sở xây
dựng và Công trình đô thị. Trong giai đoạn 1986 - 1995, TP cũng đã thành lập và cung cấp các dịch
vụ cho dân dụng và KCN trực thuộc các công ty như: công ty xây dựng & sửa chữa nhà; xí nghiệp
sản xuất cung ứng vật liệu xây dựng; công ty quản lý nhà; công ty cấp thoát nước (sau đổi thành
công ty cấp nước), xí nghiệp khảo sát và thiết kế.
Nhìn chung, dịch vụ tư vấn - thiết kế xây dựng bước đầu được đa dạng hóa, tuy nhiên cũng chỉ
do đơn vị nhà nước đảm nhận cung cấp. Điều này, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà đầu
tư, làm giảm tính cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ, và nhất là thủ tục còn rườm rà. Tất cả những
điều đó làm cho môi trường đầu tư vào TP thiếu tính hấp dẫn. Về lâu dài, TP cần huy động nhiều
thành phần kinh tế tham gia kinh doanh trên lĩnh vực này.
Về dịch vụ giao thông vận tải, bước đầu cũng được TP quan tâm đầu tư phục vụ công tác vận
chuyển hàng hóa, bao gồm: các đơn vị vận tải do Ngành giao thông vận tải quản lý và lực lượng vận
tải quốc doanh. Đối với các đơn vị vận tải do Ngành giao thông vận tải (Hậu Giang từ 1976 - 1991
và Cần Thơ từ 1992 đến 1994) quản lý có thể vận chuyển trên 14,250 nghìn tấn hàng hoá các loại.
Trong đó, giao thông vận tải bằng đường sông chiếm 62,7% số lượng luân chuyển, kế đến là đường
bộ chiếm 36,6%, còn lại 0,7% là bằng các hình thức vận tải khác. Đối với lực lượng vận tải quốc
doanh có gần 160 phương tiện thực hiện vận chuyển gần 3,750 triệu tấn hàng hoá [79, tr.74].
Bên cạnh đó, ngoài cơ sở vật chất hạ tầng và tiện ích công cộng tương đối đầy đủ, KCN Trà
Nóc còn một số đơn vị chuyên ngành đảm nhận giải quyết tại chỗ các vấn đề liên quan đến quản lý
nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư: hải quan, thuế vụ, giao thông vận
tải, an ninh trật tự, ngân hàng, y tế.
Mặc dù đã có nhiều nổ lực, tuy nhiên trong thời kỳ 1986 - 1995, ở TP Cần Thơ hầu hết là các
dịch vụ của đơn vị nhà nước, chưa có sự tham gia nhiều của các đơn vị kinh doanh dịch vụ tư nhân.
Về lâu dài, đó sẽ là hạn chế, làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư cả trong và ngoài nước.
2.3. Đánh giá về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại
Cần Thơ giai đoạn 1986 - 1995
2.3.1. Về kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài
2.3.1.1. Về số dự án và số vốn đầu tư
Từ chỗ xác định ĐTNN có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình CNH - HĐH ở địa phương, và
thu hút ĐTNN vào KCN - KCX là một trong những chủ trương phát triển kinh tế lớn của Đảng và
Nhà nước. Đặc biệt là từ sau hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa VII đề ra
chiến lược phát triển công nghiệp theo CNH - HĐH, cùng với việc nhà nước ban hành nhiều luật
mới như: Luật đầu tư nước ngoài, Luật Công ty, Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật doanh nghiệp nhà
nước, Luật phá sản, Luật khuyến khích đầu tư trong nước,… nhằm thể chế hóa, khuyến khích động
viên các thành phần kinh tế thu hút vốn đầu tư phát triển sản xuất. Bên cạnh đó, quan hệ quốc tế của
Việt Nam ngày càng thuận lợi và mở rộng, những thành tựu về công tác đối ngoại của Đảng và Nhà
nước trong những năm qua cùng với việc điều chỉnh hạ giá đất và phí hạ tầng của KCN đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN đầu tư vào Việt Nam nói chung và KCN TP Cần Thơ nói riêng.
Trong giai đoạn 1986 - 1995, TP Cần thơ không ngừng nổ lực cải thiện môi trường đầu tư và
xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm thu hút các nhà ĐTNN, nhưng do hạn chế về cơ sở hạ tầng nhất định,
nên kết quả thu hút vốn nước ngoài vào KCN Trà Nóc còn nhiều hạn chế. Mặc dù vậy, nhưng được
sự quan tâm của các cơ quan Trung ương, sự chỉ đạo sâu sát của các cấp, các ngành, TP Cần Thơ
cũng đã thu hút được 11 dự án ĐTNN vào KCN Trà Nóc với tổng số vốn đăng ký trên 54,9 triệu
USD, trong đó, có 10 dự án đã được triển khai thực hiện với tổng số vốn hơn 53,42 triệu USD.
Trong số 11 dự án, có đến 6 dự án của công ty liên doanh Meko (Hồng Kông), với số vốn đăng ký
39 triệu USD, có 8 trong số 9 dự án đi vào hoạt động với tổng số vốn hơn 37,49 triệu USD. Đặc
biệt, TP Cần Thơ đã thu hút được hai xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có tổng số vốn đăng ký hơn
15 triệu, cả hai dự án đã triển khai thực hiện hơn 6 triệu USD, chỉ đạt một nửa so với tổng số vốn
đăng ký ban đầu [20, tr.40; 71, tr.16].
Stt
Năm cấp giấy phép đầu tư
Số dự án đầu tư
Vốn đầu tư
(USD)
1988
1
1.302.796
1
1988
2
2.456.000
1
1989
3
1.250.000
1
1989
4
260.473
1
1990
5
376.000
1
1990
6
200.000
1
1991
7
4.073.000
1
1993
8
1.515.769
1
1994
9
13.476.000
1
1994
10
17.930.000
1
1995
11
12.100.000
1
Tổng
54.940.038
11
Bảng 2.1. Số dự án và số vốn ĐTNN vào KCN Trà Nóc trong giai đoạn 1988 - 1995.
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ 1996)
Trong 3 năm 1988 - 1990, mới thực thi Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong cả nước đã thu
hút được 214 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới 1,6 tỷ USD, ĐTNN chưa tác động đến tình hình
kinh tế - xã hội đất nước.
Trong thời kỳ 1991 - 1995, vốn ĐTNN đã tăng lên 1.409 dự án với tổng vốn đăng ký cấp mới
18,3 tỷ USD và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội đất nước. Thời kỳ 1991 - 1996
được xem là thời kỳ “bùng nổ” ĐTNN tại nước ta. Có thể gọi là “làn sóng ĐTNN” với 1.781 dự án
được cấp phép có tổng vốn đăng ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD, bởi vì, đây giai
đoạn mà môi trường đầu tư - kinh doanh tại nước ta đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư do chi phí đầu tư
- kinh doanh thấp so với một số nước trong khu vực; lực lượng lao động đông đảo với giá nhân công
rẻ, thị trường mới. Vì vậy, ĐTNN tăng trưởng nhanh chóng, có tác động lan tỏa tới các thành phần
kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Năm
1995, cả nước thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm 1991 (1,2 tỷ USD). Năm
1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước [17].
2.3.1.2. Quy mô và hình thức đầu tư
Qua các thời kỳ, quy mô dự án ĐTNN có sự biến động thể hiện khả năng tài chính cũng như
sự quan tâm của các nhà ĐTNN đối với môi trường đầu tư ở KCN Trà Nóc Cần Thơ.
Bảng 2.2. Quy mô vốn ĐTNN vào KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1988 - 1995.
Tỷ lệ so với tổng số
vốn đầu tư Quy mô vốn đăng ký đầu tư Số dự án đầu tư
(%)
Dưới 5 triệu USD 8 72,7
Trên 5 triệu - -
Trên 10 triệu USD 3 27,3
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ năm 1996 ).
Qua Bảng 2.1 và 2.2 cho thấy, quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài tại KCN
Trà Nóc Cần Thơ còn ở mức thấp với tổng số vốn hoạt động trung bình của các doanh nghiệp là 2,9
triệu USD (thấp nhất là 200 nghìn USD và cao nhất là 18 triệu USD). Riêng số doanh nghiệp có vốn
dưới 5 triệu USD chiếm tỷ lệ cao có đến 8 dự án (72,7%), trong đó có 1 dự án chưa triển khai. Tính
đến năm 1995, số lượng dự án đầu tư vào KCN rất ít và vốn đầu tư chỉ đạt 54,94 triệu USD [20,
tr.44].
Trong giai đoạn đổi mới, Nhà nước ta chỉ khuyến khích đầu tư theo hình thức liên doanh, hạn
chế hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài. Cũng chính vì vậy, các dự án ĐTNN vào các KCN tại
TP Cần Thơ cho đến năm 1995 chủ yếu dưới hình thức liên doanh giữa doanh nghiệp nhà nước với
các doanh nghiệp nước ngoài.
Bảng 2.3. Hình thức ĐTNN vào KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1988 - 1995.
Tỷ lệ so với tổng
Hình thức đầu tư Số dự án đầu tư Số vốn đầu tư số vốn đầu tư
(%)
71 Hình thức liên doanh 9 39
Hình thức 100% vốn 29 2 15,9 nước ngoài
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ năm 1996 ).
Qua Bảng 2.3, hình thức liên doanh có 9 dự án, với tổng số vốn đăng ký hơn 39 triệu USD,
chiếm 81,1% số dự án và 71% tổng số vốn đăng ký. Điều này, hoàn toàn phù hợp với chủ trương
của Đảng và Nhà nước về thu hút ĐTNN. Số lượng dự án đầu tư theo hình thức liên doanh chiếm
ưu thế. Tuy nhiên, tổng số số vốn đầu tư bình quân nhìn chung thấp hơn hình thức 100% vốn nước
ngoài.
Trong cả nước, quy mô vốn đầu tư bình quân của một dự án ĐTNN tăng dần qua các giai
đoạn, tuy có “trầm lắng” trong vài năm sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997. Thời kỳ 1988 -
1990 quy mô vốn đầu tư đăng ký bình quân đạt 7,5 triệu USD/dự án/năm. Từ mức quy mô vốn đăng
ký bình quân của một dự án đạt 11,6 triệu USD trong giai đoạn 1991 - 1995. Tình hình tăng vốn đầu
tư không có thay đổi lớn, bởi thời kỳ 1988 - 1990 số lượng doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Giai đoạn
1991 - 1995, số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD [17].
Mặc dù, không được khuyến khích đầu tư, song, hình thức 100% vốn nước ngoài cũng đã có 2
dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn đăng ký 15,9 triệu USD, chiếm 29% về số dự án và 50,1% tổng
vốn đăng ký. Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hình thức liên doanh tính đến hết năm
1995 là 49,9%, theo hình thức 100% vốn nước ngoài 50,1% [20, tr.45].
Trong hai hình thức đầu tư trên, hình thức liên doanh được các Nhà nước ta và các nhà ĐTNN
lựa chọn nhiều hơn. Bởi hình thức đầu tư liên doanh vừa được khuyến khích đầu tư, vừa thực sự
đem lại nhiều lợi thế cho nước ta và cả nhà ĐTNN. Đối với đất nước trong thời kỳ đổi mới, hình
thức liên doanh này vừa mang lại lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, vừa tạo điều kiện cho nước ta tiếp
cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến.
2.3.1.3. Đối tác và địa bàn đầu tư
Đất nước trải qua thời kỳ chiến tranh lâu dài, mới giành được độc lập và tiến lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Trong bộn bề những khó khăn, Đảng ta vừa xây dựng đất nước vừa đúc kết kinh
nghiệm thực tiễn. Năm 1987, lần đầu tiên nước ta ban hành và thực hiện Luật ĐTNN, hơn nữa hoạt
động quan hệ đối ngoại ở nước ta chỉ mới bước đầu khởi sắc.
Từ năm 1986 - 1991, đối tác nước ngoài chủ yếu của TP Cần Thơ là các nước láng giềng như:
Lào, Campuchia, và các nước trong khối chủ nghĩa xã hội như Liên Xô và Đông Âu.
Từ sau đổi mới cho đến năm 1995, Đảng và Nhà nước triển khai tích cực và năng động đường
lối đối ngoại, cụ thể là khôi phục mối quan hệ với Trung Quốc, tăng cường mối quan hệ đoàn kết
với Lào, Campuchia, phát triển quan hệ với các nước trong khu vực, trở thành thành viên chính thức
của ASEAN; củng cố mối quan hệ truyền thống với Liên Bang Nga, những nước trong Cộng đồng
các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu; đặc biệt là bình thường hóa quan hệ với Mỹ; thiết lập và
mở rộng quan hệ với các nước Nam Á, Trung Đông,…Vì vậy, đối tác nước ngoài đầu tư vào nước
ta nói chung và TP Cần Thơ nói riêng cũng bắt đầu được mở rộng.
Trong thời kỳ này KCN Trà Nóc thu hút chủ yếu là các dự án có quy mô nhỏ đến từ các quốc
gia châu Á. Từ năm 1988 - 1992, Hồng Kông là nước đầu tiên đầu tư vào KCN Trà Nóc Cần Thơ.
Đối tác đến từ các nước ASEAN có Thái Lan (1994). Năm 1995, nhiều quốc gia khác cũng lần lượt
đầu tư vào đây đó là Mỹ, Úc và Đài Loan [20, tr.47].
Tính từ năm 1988 cho đến năm 1995, có 9 quốc gia đầu tư vào KCN Trà Nóc Cần Thơ, trong
đó, Hồng Kông là nước có số dự án đầu tư nhiều nhất (6 dự án liên doanh MeKo) và Thái Lan là
nước có vốn đầu tư lớn nhất (hơn 13,4 triệu USD) [20, tr.48 - 49].
Bảng 2.4. Tổng vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài vào KCN Trà Nóc trong giai đoạn 1988
- 1995.
Vốn đăng ký đầu tư Tỷ trọng TT Đối tác nước ngoài Số dự án (USD) (%)
Châu Á
Hồng Kông 1 6 5.845.269 10,6
Đài Loan 2 1 12.100.000 22
ASEAN
2 Thái Lan 1 13.476.000 24,5
Các châu lục khác
1 Mỹ 1 17.930.000 32,6
2 Úc 2 5.588.769 10,3
Tổng 11 54.940.038 100
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ năm 1996).
Các nước châu Á vẫn là nhà đầu tư lớn nhất cả về tỷ trọng số dự án và tỷ trọng vốn đăng ký,
trong khi các đối tác từ các châu lục khác thì giữ vị trí rất khiêm tốn, thậm chí không có dự án.
Phần lớn các dự án ĐTNN vào TP Cần Thơ trong giai đoạn này tập trung ở KCN Trà Nóc, nơi
có điều kiện cơ sở hạ tầng tương đối thuận lợi hơn các khu vực khác, tạp trung được nguồn lao
động. Tuy nhiên, trong số các dự án ĐTNN nói trên, không có dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng, chủ
yếu là các dự án đầu tư vào sản xuất kinh doanh trong KCN Trà Nóc. Bởi, vốn dành cho đầu tư cơ
sở hạ tầng ở các KCN thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, mức độ rủi ro cao trước những biến
động của bối cảnh trong nước và thế giới. Vì vậy, các nhà ĐTNN ít quan tâm và tham gia vào quá
trình đầu tư cơ sở hạ tầng ở các KCN.
Có thể nói, thu hút được nguồn vốn ĐTNN vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN Trà
Nóc là một thành công lớn của Đảng bộ và nhân dân TP Cần Thơ, đồng thời phù hợp với chủ
trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, tình hình thu hút đầu tư
trong thời kỳ đổi mới còn rất nhiều hạn chế chưa tạo được sức bật cho nền kinh tế - xã hội địa
phương. Do đó, TP Cần Thơ cần phải đẩy mạnh quan hệ hợp tác tăng cường các biện pháp thu hút
ngày càng nhiều các đối tác đầu tư vào KCN trên địa bàn.
2.3.1.4. Về ngành nghề thu hút đầu tư
Nông nghiệp là thế mạnh ngành chiếm tỷ trọng lớn và là thế mạnh của TP Cần Thơ và các tỉnh
ĐBSCL. Đó là ngành cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp nhất là nhu cầu sản xuất chế
biến lương thực, thực phẩm, thủy sản,…Do đó, ĐTNN vào KCN Trà Nóc tập trung chủ yếu ở lĩnh
vực chế biến. Cụ thể:
Bảng 2.5. Cơ cấu ngành nghề thu hút ĐTNN vào KCN Trà Nóc (1986 - 1995).
Số vốn đăng Số dự án Tỷ lệ Lĩnh vực đầu tư ký đầu tư đầu tư (%) (triệu USD)
Chế biến: lương thực - thực phẩm. 9 27,82 50,6%
Khai thác và chế biến thủy sản 1 13,47 24,5%
Các lĩnh vực khác: xây dựng 1 13,61 24,9%
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ năm 1996).
Nếu chia theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh thì nhóm hàng chế biến lương thực - thực phẩm
phát triển khá sớm, chiếm tỷ trọng lớn. Điều đó do nhiều yếu tố tác động, trong đó có sự tham gia
điều chỉnh của Nhà nước được quy định tại danh mục các ngành nghề cấm đầu tư, khuyến khích đầu
tư và đặc biệt khuyến khích đầu tư.
Qua Bảng 2.5 cho thấy, lĩnh vực chế biến lương thực - thực phẩm có 9 dự án với tổng số vốn
đăng ký đầu tư 27,82 triệu USD, chiếm (50,6%). Chế biến - khai thác thủy sản có 1 dự án, số vốn
đăng ký 13,47 triệu USD, chiếm (24,5%). Ngành xây dựng dân dụng và công nghiệp cũng có 1 dự
án, số vốn đăng ký 13,61 triệu USD, chiếm 24,9%. Các dự án chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nông
nghiệp nên cũng đã đóng góp phần không nhỏ vào việc khai thác nguồn nguyên liệu tại địa phương,
giải quyết việc làm và phát triển các ngành dịch vụ phụ trợ.
2.3.2. Tác động về mặt kinh tế - xã hội
2.3.2.1. Về kinh tế
ĐTNN 6Ttăng trưởng kinh tế, 6Tgóp phần bổ sung nguồn vốn đáp ứng 6Tcho nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội địa phương. 6TTrong giai đoạn 1986 - 1995, ĐTNN vào KCN Trà Nóc đã có tác dụng đưa
nền kinh tế TP Cần Thơ tiếp tục phát triển với nhịp độ tăng trưởng từ 7,74% (1986 - 1990) lên
10,91% (1991 - 1995), trung bình là 8,1%/năm, nền kinh tế bước đầu dần đi vào ổn định. Trong giai
đoạn 1991 - 1995, tỷ trọng kinh tế có vốn ĐTNN từ 1,95% tăng lên 2,06%. Cơ cấu kinh tế có bước
chuyển dịch theo hướng tiến bộ [20, tr.55; 71, tr.11].
ĐTNN đã đưa nguồn thu ngân sách của TP tăng bình quân hàng năm từ 35 - 42%, đáp ứng
phần nào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, nhiều dự án về công nghiệp ở địa phương như:
quy hoạch và xây dựng KCN mới, hạ tầng đô thị, việc nâng cấp và mở rộng sân bay, xây dựng công
trình giao thông vận tải đang dần được triển khai.
ĐTNN góp phần từng bước nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp và hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn. ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ đã đóng góp đáng kể vào giá trị sản sản
xuất công nghiệp của địa phương, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng công nghiệp của TP Cần
Thơ nói riêng và cả nước nói chung. Sản xuất công nghiệp phát triển khá nhất là ngành chế biến
lương thực, thực phẩm, đưa giá trị sản xuất công nghiệp từ 6,18% (1986 - 1990) lên 18,76% (1991 -
1995) [71, tr.12]. Thông qua các dự án, doanh nghiệp có vốn ĐTNN, TP Cần Thơ đã tiếp nhận được
các kỹ thuật công nghệ tiên tiến của nước ngoài, các doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn có điều kiện
tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của địa phương. Đặc biệt, trong
năm 1989, TP có hai xí nghiệp liên doanh với nước ngoài đi vào hoạt động, đó là: may MeKo và
chế biến thực phẩm MeKo, đến năm 1990 thì có 5 xí nghiệp khác đi vào hoạt động, bước đầu đạt
kết quả. Chất lượng nhiều sản phẩm được thị trường chấp nhận và xuất khẩu sang các nước trong
khu vực và thế giới. Nâng kim ngạch xuất khẩu của TP tăng lên bình quân 28,9%/năm [79, tr.60].
Công nghệ, thiết bị trong các cơ sở công nghiệp từng bước được đổi mới, mở rộng sản xuất
kinh doanh, sản phẩm đa dạng với chất lượng ngày càng được nâng cao làm tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
2.3.2.2. Về mặt xã hội
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của ĐTNN về mặt xã hội là góp phần quan trọng
trong việc giải quyết việc làm và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực cho TP Cần Thơ và khu vực
ĐBSCL. Từ năm 1988 - 1995, các dự án ĐTNN vào KCN Trà Nóc đã giải quyết cho gần 2 nghìn
lao động trực tiếp tại địa phương. Bên cạnh đó, đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao
động gián tiếp khác, giúp cho nông dân tăng nguồn thu nhập phụ của nông nghiệp và dịch vụ tại
KCN Trà Nóc. Từ đó, nguồn vốn này ít nhiều góp phần cải thiện cuộc sống dân cư [20, tr.64].
ĐTNN thường tập trung chủ yếu trong các ngành tập trung vốn và sử dụng lao động có trình độ kỹ
năng cao số lao động này được tiếp cận với công nghệ mới, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được
các phương thức lao động tiên tiến.
Vốn ĐTNN góp phần nâng cao mức sống người dân và các dịch vụ xung quanh KCN, thúc
đẩy quá trình đô thị hóa.
2.3.3 Những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp
Cần Thơ giai đoạn 1986 - 1995
Nhìn chung, các dự án ĐTNN vào KCN Trà Nóc còn hạn chế về số vốn và số dự án. Trong
giai đoạn 1986 - 1995, TP chỉ thu hút được 2 dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài với vốn đăng ký
trên 15 triệu USD, điều đó chưa đáp ứng theo nhu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế.
Mục đích cao nhất của các nhà đầu tư là lợi nhuận. Do đó những lĩnh vực, ngành, dự án có tỷ
suất lợi nhuận cao đều được các nhà đầu tư quan tâm, còn những dự án, lĩnh vực mặc dù rất cần
thiết cho dân sinh, nhưng không đưa lại lợi nhuận thỏa đáng thì không thu hút được ĐTNN.
Các dự án đầu tư đều có quy mô nhỏ, chủ yếu tập trung nhiều vào lĩnh vực chế biển sản phẩm
nông nghiệp, thủy hải sản. Các nhà ĐTNN chỉ đầu tư vào các ngành có khả năng sinh lợi cao, rủi ro
thấp, còn các ngành, lĩnh vực có khả năng sinh lời thấp, rủi ro cao không được sự quan tâm của các
nhà ĐTNN. TP thiếu hẳn các dự án thuộc các ngành dịch vụ - công nghệ cao và cơ sở hạ tầng KCN,
trong khi đó nhu cầu của TP về nâng cấp, phát triển hạ tầng giao thông, điện lưới để phục vụ đi lại,
sản xuất kinh doanh của người dân là rất lớn. Hơn nữa, nhiều lĩnh vực quan trọng khác mà TP có
tiềm năng nhưng chưa được chú trọng thu hút đầu tư.
Bên cạnh đó, các nhà ĐTNN cũng chưa được mở rộng, chỉ giới hạn ở các nước châu Á, như:
Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan,...và hầu hết còn chiếm tỷ trọng nhỏ. Doanh nghiệp ĐTNN đi vào
hoạt động còn chậm so với kế hoạch đề ra, sự chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện còn
lớn, tốc độ tăng vốn thực hiện chưa cao. Khu vực tinh tế có vốn ĐTNN chậm phát triển, hiệu quả
còn thấp, chưa có tác động lan tỏa, tạo đà cho khu vực.
Công tác quy hoạch xây dựng mới các KCN của TP Cần Thơ diễn ra chậm, chưa phát huy
được tiềm năng, thế mạnh của địa phương và ĐBSCL. Công tác quản lý, an ninh trật tự và công tác
quy hoạch giải phóng mặt bằng chưa được đảm bảo.
Cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn nhiều yếu kém, thiếu các dịch vụ hỗ trợ hoạt
động cho các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động trong KCN còn nhiều hạn chế, chưa mang
lại hiệu quả kinh tế cao, có số lượng lao động thấp, hầu hết là lao động phổ thông có trình độ thấp,
chưa tạo nên vai trò tích cực của KCN đối với kinh tế - xã hội địa phương.
Hiện nay, xuất phát từ khó khăn chung của đất nước đó là: nước ta chưa có văn bản quy phạm
pháp luật riêng, cụ thể giống như Nghị định 92 quy định cụ thể về quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng. Điều này gây khó khăn chung cho các dự án đầu tư cần phải kết hợp thống nhất về
ba loại quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng ở các
KCN, phát triển các công trình kết cấu hạ tầng.
Tranh chấp lao động trong khu vực có vốn ĐTNN chưa được giải quyết kịp thời. Các tranh
chấp lao động là khó tránh, đặc biệt trong những thời điểm doanh nghiệp mới bắt đầu hoạt động,
hoặc khi doanh nghiệp gặp khó khăn về sản xuất kinh doanh. Nhìn chung người chủ thường trả
công cho người lao động thấp hơn cái mà họ đáng được hưởng, không thỏa đánh với nhu cầu của
người lao động. Điều đó dẫn đến mâu thuẫn giữa chủ sử dụng lao động và người lao động, dẫn đến
tình trạng đình công bãi công làm thiệt hại cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, TP Cần Thơ không thu hút được dự án nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
KCN, nhất là hệ thống xử lý nước thải, vệ sinh môi trường. Hệ thống xử lý nước thải và vệ sinh môi
trường là một yêu cầu quan trọng và vô cùng bức thiết, yếu tố đảm bảo cho sự phát triển bền vững,
sự tồn tại của các KCN. Trong khi đó, nguồn ngân sách TP Cần Thơ còn hạn hẹp và không nhận
được nguồn ngân sách hỗ trợ từ Trung ương. Lãnh đạo TP cũng không thể giải quyết, dẫn đến kết
quả, các doanh nghiệp hoạt động trong KCN Trà Nóc vẫn hoạt động bình thường trong nhiều năm
mà không có hệ thống xử lý nước thải. Cũng chính vì vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra
ngày càng trầm trọng và đã gây ra những hậu quả vô cùng nặng nề cho các vùng sản xuất, đời sống
người dân gần KCN Trà Nóc.
Cuối cùng là, chất lượng các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế,
các dự án quy hoạch chưa có tầm nhìn dài hạn, chưa có đủ các căn cứ vững chắc, các thông tin về
dự báo, nhất là dự báo tác động của các yếu tố bên ngoài như thị trường thế giới, tiến bộ khoa học
công nghệ, sự cạnh tranh của các quốc gia và doanh nghiệp…
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Trong 10 năm đầu thực hiện đường lối đổi mới đất nước (1986 - 1995), Đảng và Nhà nước ta
nhận thấy vốn ĐTNN, công nghệ và kinh nghiệm quản lý là nguồn lực quan trọng cho công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Vì vậy, song song với với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước đã có quan điểm, chủ trương nhằm đẩy mạnh hoạt
động thu hút ĐTNN và cải thiện môi trường đầu tư như: hoàn thiện khuôn khổ hệ thống pháp luật,
chính sách liên quan về ĐTNN; tăng cường mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới.
Từ chỗ xác định phát triển các KCN là nhu cầu tất yếu, nhân tố quan trọng trong thu hút các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, Đảng và Nhà nước chủ trương quy hoạch xây dựng các KCN, đồng thời ban
hành chính sách khuyến khích, ưu đãi đầu tư, quy chế hoạt động cũng như quản lý các KCN ở nước
ta. Có thể nói, quan điểm, chính sách trên đã có tác dụng định hướng cho Đảng bộ TP Cần Thơ
trong hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ĐTNN.
Vận dụng sáng tạo quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước phù hợp với thực tiễn tình hình địa phương trong thời kỳ đổi mới, Đảng bộ TP Cần Thơ đã có
nhiều chủ trương, chính sách tích cực nhằm cải thiện môi trường đầu tư, thu hút ĐTNN vào KCN
Trà Nóc. Cần Thơ đã tiến hành nhiều công tác xây dựng cơ bản, như: quá trình quy hoạch và xây
dựng KCN, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ chế và chính sách quản lý. Kết quả, trong giai đoạn 1986 -
1995, TP Cần Thơ đã thu hút được 11 dự án ĐTNN. Mặc dù còn nhiều hạn chế như: số vốn và số
dự án ít, quy mô vốn đầu tư nhỏ, đối tác và lĩnh vực đầu tư còn hạn hẹp, nhất là công tác quan lý, an
ninh trật tự và nhất là vấn đề ô nhiễm môi trường tại KCN Trà Nóc. Song, vốn ĐTNN cũng đã bước
đầu đã góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống người dân, và quan trọng là từng bước
HĐH nông thôn.
Vì vậy, trong những năm tiếp theo TP Cần Thơ cần vận dụng những đường lối, chính sách của
Đảng một cách linh hoạt và nhạy bén; đồng thời tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, ban hành
nhiều chính sách khuyến khích ưu đãi mời gọi các dự án nước ngoài đầu tư vào các KCN có hiệu
quả. Song song đó, TP Cần Thơ cần chú trọng và tăng cường hơn nữa công tác quản lý KCN, vốn
đầu tư và việc triển khai thực hiện vốn đầu tư. Có như vậy, Cần Thơ mới thu hút được nhiều nguồn
vốn ĐTNN và nguồn vốn này mới phát huy tác dụng tạo động lực vực dậy khu vực ĐBSCL.
Chương 3. QUÁ TRÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ TRONG THỜI KỲ
ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC (1996 -
2010)
3.1. Chủ trương của Đảng và thành phố Cần Thơ về phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu
tư nước ngoài (1996 - 2010).
3.1.1. Chủ trương của Đảng
Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII,
đất nước đã vượt qua nhiều thử thách gay go, đạt nhiều thành tựu nổi bật trên nhiều lĩnh vực, tạo
tiền đề cho phép nước ta chuyển sang thời kì đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Đây là giai đoạn có ý
nghĩa quyết định để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Chính vì vậy, Đảng
và Nhà nước đã chủ trương cần huy động, tập trung mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư
và phát triển, trong đó nguồn vốn ĐTNN là rất quan trọng.
Kế thừa những thành tựu và kinh nghiệm thực tiễn từ chính sách thu hút ĐTNN trong giai
đoạn 1986 - 1995. Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, thu hút ĐTNN của Đảng và Nhà nước
ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH (1996 - 2010) được đẩy mạnh.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác định: Giai đoạn từ nay đến
năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
Nhiệm vụ của nhân dân ta là tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy
mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong “Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội đến năm 2000”, “tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyết
những vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đời sống của nhân dân,
nâng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu
thế kỷ sau” [84].
Đặc biệt, Đại hội VIII tiếp tục khẳng định sự tồn tại và vai trò của vốn ĐTNN và thành phần
kinh tế có vốn ĐTNN ở nước ta. Đại hội đã ghi nhận sự hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và
tư bản nước ngoài, khẳng định khu vực ĐTNN “có vai trò to lớn trong động viên về vốn, công nghệ,
khả năng tổ chức quản lý...” [85]. Với quan điểm đó, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với khu
vực ĐTNN trong thời kỳ này chủ yếu hướng vào việc khuyến khích các nhà đầu tư liên doanh với
các doanh nghiệp của Việt Nam, hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau, trừ những lĩnh
vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế quốc gia và an ninh quốc phòng. Qua đó, có thể
nói lĩnh vực thu hút ĐTNN đã được mở rộng hơn trước rất nhiều.
Ngoài việc mở rộng lĩnh vực, ngành nghề đầu tư, Đảng và Nhà nước đã chính thức công nhận
khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một trong sáu thành phần cùng tồn tại trong nền kinh tế. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (2001 - 2005), đã nhấn mạnh thành phần kinh tế có vốn ĐTNN và
vai trò của nó là: “hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút
công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm...” [86]. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần IX (khoá
IX) đã đề ra nhiệm vụ: “phải tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài”[86]. Theo đó, chính sách thu hút ĐTNN trong thời gian tới sẽ tập trung vào nâng cao chất
lượng nguồn vốn ĐTNN đổ vào nước ta thông qua việc thu hút mạnh hơn nữa các tập đoàn xuyên
quốc gia đầu tư vào các ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công
nghệ cao, công nghệ nguồn.
Tại Đại hội X của Đảng (2006 - 2010), Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của
Việt Nam về thu hút ĐTNN: “Các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư
nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động theo pháp luật đều là
bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng
trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh…Cải thiện môi trường
pháp lý và kinh tế, đa dạng hóa các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh các nguồn lực của các nhà
đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực, ngành nghề đầu tư quan trọng” [87].
Đảng và Nhà nước không ngừng đổi mới cơ chế chính sách quản lý, cải thiện môi trường đầu
tư và đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà
ĐTNN tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với nước ta. Đảng
chủ trương tập trung thu hút mạnh nguồn lực của các nhà ĐTNN vào các ngành, các lĩnh vực quan
trọng của đất nước, như công nghệ cao, công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội;
tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp của nước ngoài, tạo lợi thế so sánh để thu hút nhiều
doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đầu tư cho sản phẩm xuất khẩu và công
nghệ cao, tạo sự chuyển biến tích cực về chất lượng, số lượng và hiệu quả ĐTNN; đơn giản hoá thủ
tục cấp phép đầu tư đối với ĐTNN, thu hẹp các lĩnh vực không cho phép đầu tư và những lĩnh vực
đầu tư có điều kiện, mở rộng lĩnh vực đăng ký đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà ĐTNN
đầu tư phát triển các lĩnh vực dịch vụ theo các cam kết quốc tế; tăng cường thu hút vốn ĐTNN, mở
rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút ĐTNN, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và
các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu
quả nguồn vốn này.
Đảng và Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện môi trường đầu tư ở nước ta, trước nhất là
khuôn khổ pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư nói chung và ĐTNN nói riêng. Như việc cho bổ
sung, sửa đổi Luật đầu tư nước ngoài được ban hành vào năm 1987, được sửa đổi, bổ sung vào các
năm 1990 và 1992 không còn phù hợp nữa và được thay thế bằng Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài
năm 1996. Mặc dù trong thời kỳ ấy hệ thống pháp luật nước ta còn thiếu nhiều đạo luật điều chỉnh
các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, nhưng với việc hoàn thiện Luật về ĐTNN đã chứng tỏ sự
quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực này. Theo đó, Nhà nước khuyến khích các nhà
đầu tư ngoài nước đầu tư vốn vào những lĩnh vực định hướng xuất khẩu, công nghệ cao, tập trung ở
những nơi có tiềm năng, mà trước mắt là những vùng còn khó khăn. Để tạo môi trường thuận lợi
cho các nhà đầu tư, cũng như tăng khả năng tiếp nhận vốn đầu tư và công nghệ từ bên ngoài, Nhà
nước sẽ sớm giải quyết nhu cầu thành lập các KCN tập trung ở các địa phương, đồng thời, hoàn
thiện kết cấu hạ tầng đường giao thông cho ĐBSCL. Về lâu dài, Nhà nước sẽ xem xét tiếp tục đa
dạng hóa các hình thức đầu tư và chú ý đến những hình thức mới như: đầu tư tài chính (bên ngoài
góp vốn, mua cổ phần, nhưng không tham gia quản lý như xí nghiệp liên doanh).
Đến năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á diễn ra, khi các nước trong khu
vực đã nhanh chóng cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư để thu hút vốn ĐTNN. Cũng từ thời điểm
này, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với ĐTNN cũng có nhiều thay đổi.
Cụ thể vào năm 2000, Nhà nước đã cho sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài năm
1996. Đồng thời, Nhà nước cho ban hành danh mục các dự án kêu gọi đầu tư, cho phép ĐTNN mở
rộng sang lĩnh vực đầu tư xây dựng nhà và được mua cổ phần của các doanh nghiệp trong nước.
Chính sách đó đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược thu hút nguồn vốn nước ngoài vào nước ta.
Sau đó, vào tháng 11 - 2005, Quốc hội khóa XI thông qua Luật đầu tư có hiệu lực từ ngày 1 - 7
- 2006 thay thế Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã được ban hành
trước đó. Luật đầu tư năm 2005 gồm 10 chương và 89 điều được coi là đạo luật có nhiều tiến bộ,
đánh dấu bước tiến mới quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với thành phần kinh tế có vốn
ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật
chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước
cũng như quốc tế trong từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu
thế hội nhập, nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài.
Bên cạnh đó, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về
KCN, như việc: Ban hành Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 - 10 - 2004 của Thủ tướng
Chính phủ về hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN
tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; Nghị định sửa đổi về quy chế KCN -
KCX để thay thế Nghị định số 36/CP ngày 24 - 4 - 1997 của Chính phủ ban hành Quy chế KCN -
KCX và khu công nghệ cao.
Ngày 13 - 10 - 2004, Chính phủ đã phê duyệt Đề án: Điều chỉnh Quy hoạch phát triển các khu
công nghiệp thời kỳ 2005 - 2020 và Đề án: Về cơ chế kiểm soát các điều kiện ưu đãi của địa
phương, tránh tình trạng cạnh tranh không hợp lý giữa các khu công nghiệp.
Mặt khác, nói tới khuôn khổ pháp luật về ĐTNN không thể không đề cập tới hệ thống các điều
ước quốc tế mà nước ta là thành viên, vì đây là nguồn pháp luật bổ sung đáng kể vào việc thực hiện
chính sách về ĐTNN tại nước ta.
Đảng và Nhà nước chủ trương mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại hội nhập quốc tế, như:
quan hệ hợp tác với các công ty đa quốc gia để tranh thủ được công nghệ nguồn, tiếp cận cách quản
lý hiện đại và thâm nhập nhanh vào thị trường quốc tế, mở rộng được thị trường mới. Đồng thời,
chú trọng đưa vào thực hiện những dự án nước ngoài đã được cấp giấp phép.
Trong những năm qua, Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm cao tới việc đàm phán, ký kết và
thực hiện các điều ước quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho ĐTNN tại Việt Nam. Đại hội lần thứ VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”
[85]. Tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001 - 2005) khẳng định Đảng và Nhà nước ta tiếp tục thực hiện
nhất quán đường lối đối ngoại đó với một tinh thần mạnh mẽ hơn và một tâm thế chủ động hơn
bằng tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế,
phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [86]. Trong phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội (2006 - 2010), Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấn mạnh: “Thực hiện tốt đường
lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và
đầy đủ hơn với khu vực và thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức
quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác...” [87]. Chủ động và tích cực hội nhập
kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020. Mở rộng và củng cố quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo lập lợi ích đan xen, nhất
là với các đối tác chủ yếu; chuẩn bị tốt các điều kiện để tham gia các hiệp định thương mại tự do
song phương và đa phương; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, tích cực tranh thủ và sử dụng có
hiệu quả tất cả nguồn vốn nước ngoài, đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài, chuyển
giao công nghệ, mở rộng thị trường, xây dựng các mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu
tư lâu dài. Khai thác có hiệu quả các cơ hội và giảm tối đa những thách thức, rủi ro khi nước ta là
thành viên WTO.
Nhờ những chính sách đối ngoại tích cực, rộng mở của Đảng và Nhà nước đã đưa nước ta
nhanh chóng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nước ta có thêm nhiều điều kiện thuận lợi
trong việc tiếp cận khoa học công nghệ tiên tiến của các nước và vốn nước ngoài. Từ chỗ bị bao
vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về chính trị, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 169 nước;
quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đảng ta có quan
hệ ở các mức độ khác nhau với trên 200 chính đảng ở các nước trên khắp các châu lục. Các đoàn thể
và tổ chức nhân dân ta có quan hệ với hàng trăm tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ quốc gia
và quốc tế. Hàng hóa của nước ta đã có mặt trên 200 thị trường quốc gia, khu vực và quốc tế. Từ
đầu những năm 90, nước ta đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế như: tham gia
Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC) năm 1998, gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2006. Tham gia và tổ chức
thành công nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như: Hội nghị cấp cao ASEAN năm 1998, Hội thảo
quốc tế về hợp tác và phát triển Việt Nam và châu Phi năm 2003, Hội nghị cấp cao ASEM lần thứ
05 năm 2004, Hội nghị Thượng đỉnh APEC tại Hà Nội năm 2006, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ
15 năm 2009, đảm nhiệm cương vị chủ tịch ASEAN năm 2010,…[1, tr.25].
Như vậy, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và việc mở rộng quan hệ đối ngoại,
hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nổi bật là sự hoàn thiện thể chế chủ trương, chính sách về ĐTNN
của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH là một trong những yếu tố quan trọng
góp phần mang lại những kết quả to lớn trong hoạt động thu hút nguồn lực ĐTNN vào nước ta trong
thời gian qua. Cũng chính sự hoàn thiện về khuôn khổ pháp lý của Đảng và Nhà nước đã có tác
dụng định hướng cho những hoạt động thu hút ĐTNN vào TP Cần Thơ nói riêng và cả nước nói
chung, phục vụ có hiệu quả quá trình CNH - HĐH nước nhà.
3.1.2. Chủ trương, giải pháp của Đảng bộ thành phố Cần Thơ
Trên cơ sở những thành tựu của đất nước, được sự quan tâm của các cấp Bộ, ngành Trung
ương, nhất là dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã tạo điều kiện cho TP Cần Thơ cùng với nhân dân cả
nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Từ thực tiễn và những bài học kinh nghiệm về hoạt động thu hút ĐTNN của TP trong giai
đoạn 1986 - 1995, hoạt động thu hút nguồn vốn nước ngoài giai đoạn 1996 - 2010 và định hướng
đến năm 2020 được Ban Chấp hành Đảng bộ TP đề ra mục tiêu: Phát huy tối đa các nguồn lực và
lợi thế của thành phố trong mối liên kết chặt chẽ với các tỉnh trong vùng, trong nước và hội nhập
quốc tế, tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài đưa nền kinh tế tăng trưởng ổn định, ưu tiên thu hút các
nhà đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển, các dự án quy mô lớn thân thiện với môi trường, có
công nghệ kỹ thuật cao, các dự án trong lĩnh vực dịch vụ và đầu tư vào các địa bàn kinh tế - xã hội
khó khăn của thành phố, nhằm tiến tới mục tiêu phát triển bền vững [72, tr.7].
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 45 - NQ/TW ngày 17 - 2 - 2005 của Bộ Chính trị về: Xây
dựng và phát triển TP Cần Thơ trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. TP Cần Thơ luôn nhận được
sự quan tâm, chỉ đạo của các Bộ, ban, ngành Trung ương, đồng thời, nhận thức được vai trò, vị trí,
nhiệm vụ của mình, Đảng bộ và nhân dân TP quyết tâm phấn đấu xây dựng và phát triển TP Cần
Thơ trở thành TP đồng bằng cấp quốc gia văn minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là TP cửa
ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại - dịch vụ,
du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn hóa, là đầu mối
quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế, là địa bàn trọng điểm giữ vị trí chiến
lược về quốc phòng, an ninh của vùng ĐBSCL và của cả nước. Cần Thơ phấn đấu trở thành đô thị
loại 1 trước năm 2010 và cơ bản trở thành TP công nghiệp trước năm 2020, là một cực phát triển
đóng vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn vùng. Và mục tiêu chung đến năm 2010 là:
“Thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Chuyển mạnh
sang thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa Cần Thơ từ một tỉnh nông nghiệp - dịch vụ - công
nghiệp thành tỉnh công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp” (trích Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị về
Xây dựng và phát triển TP Cần Thơ). Đồng thời, Đảng bộ TP còn nhận được sự chỉ đạo của Chính
phủ, TP đã tiến hành triển khai thực hiện Quyết định số 88/TTg của Thủ tướng Chính phủ xây dựng
TP Cần Thơ đến năm 2010 thành trung tâm kinh tế, văn hóa của vùng ĐBSCL, xây dựng các KCN
với qui mô hợp lý, cơ cấu đồng bộ.
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ, đã mở ra cho TP một thời kỳ lịch sử mới, tạo ra nhiều cơ hội để TP Cần Thơ phát triển nhanh
và bền vững trong thời kỳ CNH - HĐH. Đồng thời, các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ
cũng đã tạo thêm nhiều điều kiện cho TP Cần Thơ trong hoạt động xúc tiến thu hút ĐTNN. Từ đó,
TP Cần Thơ có thêm cơ sở xác định vốn ĐTNN là một trong những nguồn lực quan trọng. Đại hội
đại biểu Đảng bộ TP Cần Thơ lần IX đã xác định: “Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất quan
trọng cho xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển công nghiệp của tỉnh” [71, tr.24].
Bên cạnh đó, TP đã có một thuận lợi lớn là mối quan hệ hợp tác phát triển giữa TP với các tỉnh
trong vùng ĐBSCL, TP Hồ Chí Minh và cả nước ngày càng có hiệu quả, đặc biệt là quan hệ với các
nước trong khu vực và quốc tế đang được mở rộng, khả năng sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế tăng
lên đáng kể. Đó là những điều kiện thuận lợi giúp cho TP Cần Thơ nhanh chóng vận động nguồn
lực của nước ngoài như: vốn, kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
Nếu như trong giai đoạn 1975 - 1986 và 1986 - 1995, cơ sở hạ tầng được cải tạo nhưng vẫn
còn nhiều yếu kém chưa đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH, là một trong những nhân tố cản trở hoạt
động thu hút ĐTNN. Trong giai đoạn 1996 - 2010, Đảng bộ TP chủ trương: “một mặt sẽ sớm ban
hành nhiều chính sách ưu đãi để khuyến khích các nhà ĐTNN, đồng thời, củng cố và phát triển các
cơ sở liên doanh với nước ngoài hiện có, mặt khác, sẽ khẩn trương xây dựng cơ sở hạ tầng, gọi vốn
đầu tư bên ngoài cho những dự án đã được duyệt, tạo nên sức hấp dẫn ban đầu” [72, tr.22]. Những
cơ sở công nghiệp hiện có sẽ được tận dụng và từng bước đổi mới thiết bị, công nghệ. TP sẽ sớm
phê duyệt quy hoạch xây dựng mới những cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ với kỹ thuật và công nghệ
hiện đại; phát triển một số cơ sở công nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng
của TP và của khu vực; khẩn trương triển khai thực hiện chương trình phát triển công nghiệp của
TP, trước hết là các dự án đã được xác định như KCN tập trung và KCN Trà Nóc, KCN Hưng Phú.
Song song đó, thực hiện Nghị quyết 03 của Thành ủy, TP Cần Thơ đã có nhiều quan tâm đến việc
phát triển, đào tạo cán bộ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và công nhân kỹ thuật hợp tác với nước
ngoài.
Đảng bộ TP đã xác định thu hút ĐTNN vào các KCN là một bộ phận của hoạt động kinh tế đối
ngoại, trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần IX đã nêu: “…nâng cao hiệu quả hoạt động của
công tác đối ngoại, khôi phục thị trường truyền thống và mở thêm thị trường mới, thông qua đó đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu, trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Vận dụng tốt
chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước vào điều kiện cụ thể của địa
phương, thành phố tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xây dựng cơ chế thị trường, vận hành
có hiệu quả, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [71, 21].
TP Cần Thơ cũng đã nhấn mạnh đến việc tạo liên kết vùng và khu vực để nâng cao hiệu quả
thu hút vốn, công nghệ nước ngoài. Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Cần Thơ lần thứ X đã chủ trương:
“...liên doanh, liên kết chặt chẽ, lâu dài, toàn diện với Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh trong khu
vực và địa phương trong nước để hỗ trợ nhau cùng phát triển. Có chính sách ưu đãi, khuyến khích
các nhà đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ chế biến, bảo
quản sau thu hoạch, cơ khí, sản xuất vật liệu mới, công nghệ thông tin. Khắc phục sớm những yếu
kém của đội ngũ cán bộ người Việt Nam được phân công trong các liên doanh với nước ngoài” [72,
tr.36]. Đó là bước đi thích hợp, các bộ, ngành Trung ương cũng đã nhấn mạnh trong nhiều Nghị
quyết.
Để tạo thêm nhiều cơ hội thu hút đầu tư hơn nữa, TP nhấn mạnh cần phải tiếp tục giữ vững thị
trường xuất khẩu đã có và tích cực mở thêm thị trường mới, đặc biệt đối với thị trường các nước
láng giềng, Nga, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, châu Âu, Trung Đông, châu Phi. Củng cố phát triển các cơ
sở liên doanh với nước ngoài hiện có, mở rộng các hình thức liên doanh mới, “…xem kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế của thành phố, có vai trò to lớn
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [72, tr.30 - 32].
Lãnh đạo TP xác định việc thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước
đến đầu tư, kinh doanh ổn định lâu dài là một trong những công tác trọng tâm. Nhiệm vụ của các
cấp, ngành chức năng là phải quan tâm hỗ trợ, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả. TP Cần Thơ đã đưa ra nhiều chủ trương nhằm cải thiện môi trường đầu tư, cải cách hành
chính với phương châm Cần Thơ là “mảnh đất lành” của các nhà đầu tư. TP Cần Thơ đã ban hành
nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư tại vào các KCN như miễn tiền cho thuê lại đất trong
các KCN và các trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong thời gian xây dựng cơ bản,
đồng thời miễn tiền thuê đất thô ngoài KCN; quy định về thế chấp, bảo lãnh quyền sử dụng đất thuê.
Bên cạnh đó, căn cứ vào những quy định chung đã được xác định trong nghị định số 24/2000/
NĐ-CP ngày 31 - 7 - 2000 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật ĐTNN ở Việt Nam, nghị
định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8 - 7 - 1999 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật khuyến khích
ĐTNN, TP Cần Thơ ban hành quyết định số 32/2005/QĐ-UBND ngày 4 - 5 - 2005 về việc áp dụng
chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư trên địa bàn TP:
Chính sách ưu đãi về đất đai: được TP Cần Thơ áp dụng mức giá tối thiểu trong khung giá qui
định tại quyết định số 189/2000/QĐ-BTC ngày 24 - 11 - 2000 của Bộ Tài chính với tất cả các hệ số
mức giá thuê đất đối với từng địa bàn, như: Ưu đãi về giá thuê đất, miễn, giảm tiền cho thuê đất,…
Chính sách ưu đãi về thuế: Ngoài chính sách ưu đãi đầu tư của Chính phủ, các nhà đầu tư còn
được hưởng thêm chính sách ưu đãi đầu tư riêng của TP Cần Thơ, trong đó có chính sách giảm thuế
thu nhập doanh nghiệp.
Chính sách ưu đãi về xuất nhập khẩu: TP Cần Thơ áp dụng chính sách miễn thuế nhập khẩu
đối với hàng hóa trong nước chưa sản xuất được, hoặc sản xuất được nhưng chưa đáp ứng được yêu
cầu chất lượng, như: Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền
công nghệ nhập khẩu để tạo thành tài sản cố định của doanh nghiệp hoặc mở rộng quy mô đầu tư,
đổi mới công nghệ. Ngoài ra, TP Cần Thơ sẽ hỗ trợ phương tiện vận tải chuyên dùng để đưa đón
công nhân.
Chính sách hỗ trợ vận động thu hút đầu tư: các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước vận động
thu hút đầu tư, khi chủ đầu tư bắt đầu triển khai dự án, sẽ được TP trích trong Quỹ xúc tiến đầu tư từ
ngân sách để thưởng, với số tiền thưởng cho mỗi dự án bằng 2 triệu đồng nhân với số triệu USD của
tổng số vốn đầu tư cho dự án, nhưng mức thưởng không quá 100 triệu đồng cho mỗi dự án.
Nhìn chung, trên cơ sở những quy định của Đảng và Nhà nước, phối hợp với việc vận dụng
linh hoạt trong việc đề ra các chính sách ưu đãi về đất đai, về thuế, về thưởng thu hút đầu tư,…đã
thổi luồng gió mới cho việc cải thiện môi trường đầu tư vào các KCN của TP Cần Thơ. Trong đó,
nổi bật là chính sách quy định thời gian miễn thuế thu nhập thêm 2 năm kể từ khi doanh nghiệp có
lãi đối với cơ sở sản xuất và thêm 1 năm đối với các cơ sở dịch vụ. Đồng thời, TP sẽ ấn định mức
giá thuê đất thấp và và thời gian miễn tiền thuê đất được kéo dài hơn, cụ thể: miễn tiền thuê đất
được tính ở khung giá thấp nhất; miễn tiền nộp thuê đất cho phân nửa thời gian hoạt động của dự án
và giảm 50% tiền thuê đất cho phân nửa thời gian hoạt động còn lại đối với doanh nghiệp đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng KCN. Đặc biệt đối với KCN Hưng Phú, TP sẽ căn cứ vào lợi thế của từng vị
trí khu đất, từng dự án ưu tiên đầu tư để có chính sách cho thuê lại đất theo mức độ ưu đãi hợp lý.
TP Cần Thơ cũng đã sớm nhận thấy được tiềm năng, thế mạnh của địa phương và khu vực
ĐBSCL là nông - thủy sản. TP Cần Thơ chủ trương khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề trọng
tâm như: Chế biến lương thực - thực phẩm, nông - thuỷ sản; sản xuất vật liệu xây dựng, trang trí nội
thất; sản xuất thiết bị y tế, dược liệu, dược phẩm, hoá - mỹ phẩm; sản xuất phần mềm, lắp ráp máy
tính; sản xuất thiết bị điện, điện tử; lắp ráp, chế tạo ôtô, xe máy, phương tiện vận tải và linh kiện,
phụ tùng và chế biến sản phẩm dầu mỏ; cơ khí chế tạo máy; hóa chất công nghiệp; chế biến thức ăn
gia súc, gia cầm, thuỷ sản; công nghiệp dệt, da giày, may mặc xuất khẩu; các sản phẩm phục vụ sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp nặng như luyện, cán thép.
Những quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về ĐTNN được
Đảng bộ TP Cần Thơ cụ thể hóa, vận dụng vào thực tiễn thu hút ĐTNN tại các KCN ở địa phương
trong gần 15 năm qua (1996 - 2010) đạt nhiều thành tựu, góp phần đưa nền kinh tế TP chuyển dịch
theo hướng CNH - HĐH.
3.2. Hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp Cần Thơ giai
đoạn 1996 - 2010
3.2.1. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng cơ bản
3.2.1.1. Công tác xây dựng các khu công nghiệp
ĐTNN là nhân tố quan trọng để TP Cần Thơ phát triển các KCN, ngược lại, việc quy hoạch
phát triển KCN là điều kiện cần thiết để thu hút các dự án ĐTNN vào TP Cần Thơ. Một số KCN
được quy hoạch theo hướng chuyên môn hóa theo ngành nghề, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp.
Từ sau khi đất nước được giải phóng cho đến năm 1995, TP Cần Thơ chỉ có KCN Trà Nóc.
Quá trình thu hút vốn ĐTNN vào đây đã đạt được một số thành tựu, có những đóng góp quan trọng
cho kinh tế - xã hội địa phương. Hơn nữa, việc phát triển KCN đã và đang được Đảng và Nhà nước
chú trọng đầu tư. Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện và xây dựng thêm các KCN tập trung đã được
Đảng bộ TP Cần Thơ quan tâm. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần thứ IX (1996 - 2000), đã chủ
trương: “Xây dựng các khu công nghiệp tập trung sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu,
cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng,… nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa
địa phương, mà trước hết là ưu tiên cho quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp và
kinh tế nông thôn”.[71, tr.8].
Những nhu cầu bức thiết của TP Cần Thơ đã được Chính phủ chấp thuận cho phép thành lập
các KCN.
KCN Trà Nóc 2:
Ngày 17 - 2 - 1998, Chính phủ ban hành Quyết định số 100/QĐ-TTg cho phép thành lập KCN
Trà Nóc 2 với diện tích 165 ha thuộc phường Phước Thới, Quận Ô Môn. KCN Trà Nóc 2 được khởi
công từ năm 2000, đến nay cơ sở hạ tầng đang được xây dựng tương đối hoàn thiện và đã cho thuê
trên 92% diện tích đất công nghiệp. Đây là KCN được hình thành nhằm mục đích di dời các các nhà
máy, xí nghiệp đang hoạt động ra khỏi nội thành và vùng đông dân cư sinh sống; cũng như do yêu
cầu mở rộng sản xuất và đô thị hóa vùng lân cận, đầu tư đổi mới công nghệ của các công ty, xí
P thời gian thuê 38 năm (tùy từng vị
2 Giá cho thuê đất tại KCN Trà Nóc 2 là từ 50 - 60 USD/mP
2 trí) và phí sử dụng hạ tầng là 0,3 USD/mP
P/năm.
nghiệp.
Như vậy, các ngành, nghề khuyến khích đầu tư vào KCN Trà Nóc 1&2, đó là các ngành công
nghiệp không gây ô nhiễm môi trường như: Chế biến lương thực - thực phẩm, các ngành công
nghiệp cơ khí, điện, điện tử, sản xuất phụ tùng máy móc, công nghiệp ô tô, công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng, sản xuất dược phẩm…
KCN Hưng Phú 1:
Năm 2004, Chính phủ tiếp tục cho phép TP Cần Thơ thành lập KCN Hưng Phú 1 với diện tích
262 ha, ở phường Tân Phú, Quận Cái Răng. Chính phủ giao cho Công ty cổ phần KCN Sài Gòn -
Cần Thơ làm chủ đầu tư. Hạ tầng kỹ thuật nội khu đang xây dựng, nhưng đã cho thuê được 6,4%
diện tích đất. KCN này có cảng biển quốc tế Cái Cui cho phép tàu có trọng tải trên 10 nghìn tấn cặp
bến. Cảng Cái Cui có đủ hệ thống kho tàng đáp ứng mức lưu chuyển hàng hóa từ 4 - 5 triệu
tấn/năm.
KCN Hưng Phú 2:
Năm 2006, TP Cần Thơ thành lập KCN Hưng Phú 2 theo Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ, với diện tích quy hoạch là 212 ha, ở phường Phú Thứ, Quận Cái Răng. Quy hoạch chi tiết
KCN đã được phê duyệt và đang xây dựng hạ tầng kỹ thuật và đã cho thuê được 3,7% diện tích đất
công nghiệp. Bên cạnh KCN sẽ xây dựng khu du lịch và một siêu thị lớn tạo mối liên hoàn giữa
trung tâm TP Cần Thơ và khu đô thị mới. Hiện nay, KCN này được chia thành 2 phân khu để đầu tư
hạ tầng. KCN Hưng Phú 2A, diện tích 134 ha, do Công ty TNHH Vật liệu và Xây lắp thương mại -
BMC chủ đầu tư; KCN Hưng Phú 2B, diện tích 78 ha, do Công ty xây dựng hạ tầng KCN Cần Thơ
làm chủ đầu tư.
KCN Hưng Phú 1&2 nằm liền kề nhau, có tổng diện tích 474 ha, nằm bên bờ hữu ngạn sông
Hậu, gần cầu Cần Thơ. Lợi thế về vị trí kinh tế của KCN Hưng Phú 1&2 là nằm gần trung tâm TP
Cần Thơ, cách Phnompenh trên 210 km; xuôi dòng phía nam ra biển Đông 100 km và bên cạnh một
khu đô thị mới với các dịch vụ ngân hàng, bưu chính, viễn thông, nhà hàng, khách sạn, trường học,
bệnh viện,…đã được quy hoạch phát triển. Đồng thời có Cảng biển quốc tế Cái Cui đang được xây
dựng với qui mô lớn hơn Cảng Cần Thơ, có quốc lộ 91C nối cầu Cần Thơ, Quốc lộ 1A và cầu
Quang Trung thuận lợi cho giao thông vận chuyển hàng hóa trong nước và quốc tế.
Định hướng phát triển ngành nghề của KCN Hưng Phú 1&2 là khuyến khích phát triển các
ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm, thủy hải sản, nước giải khát từ trái cây, rau quả
xuất khẩu; công nghiệp dệt, may, da, hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất; công nghiệp khai thác
cảng, đóng mới và sửa chữa tàu biển; công nghiệp cơ khí chế tạo và lắp ráp nông cơ, phục vụ cho cơ
giới hóa nông nghiệp; các ngành công nghiệp khác phù hợp với định hướng CNH - HĐH của trung
tâm ĐBSCL.
KCN Thốt Nốt:
Vào năm 2005, KCN Thốt Nốt chỉ là trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, có diện
tích 51 ha, được quy hoạch qua hai giai đoạn: giai đoạn I là 19 2T,52T ha, giai đoạn II là 31,5 ha, tọa lạc
tại xã Thới Thuận huyện Thốt Nốt. Cách trung tâm thị trấn Thốt Nốt 10 km về phía Bắc và cách
trung tâm TP Cần Thơ 60 km. Trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thốt Nốt nằm giữa
sông Hậu và quốc lộ 91, thuận tiện về giao thông thủy, bộ; phù hợp cho việc vận chuyển nguyên
liệu và sản phẩm. 2TCác ngành nghề sản xuất chính là sản xuất và chế biến lương thực thực phẩm, chế
biến thủy sản, cơ khí và các ngành công nghiệp nhẹ khác.
Đến ngày 30 - 7 - 2007, trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thốt Nốt được nâng cấp
thành KCN Thốt Nốt trên diện tích 1.200 ha. KCN Thốt Nốt theo quy hoạch mới gồm hai phân khu:
KCN Thốt Nốt 1 có diện tích 150 ha, được xây dựng tại xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt (gồm
4 giai đoạn). Giai đoạn I, II, III đã được UBND TP Cần Thơ phê duyệt quy hoạch chi tiết với tổng
diện tích khoảng 110 ha; trong đó có 70 ha đất công nghiệp. Giai đoạn IV có diện tích dự kiến là 46
ha đang được lập quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500.
KCN Thốt Nốt 2 dự kiến quy hoạch trên diện tích 800 - 1.000 ha, trên địa bàn các xã Thới
Thuận (Thốt Nốt), Vĩnh Trinh (Vĩnh Thạnh).
Ngành nghề chính đầu tư vào KCN Thốt Nốt 1&2 là: Chế biến nông - thủy sản, xay xát, và các
ngành cơ khí chế tạo phục vục nông nghiệp nông thôn gắn với phát triển đô thị. Từ năm 2006 đến
nay, TP chủ trương nâng chất lượng thu hút các dự án ĐTNN, tập trung thu hút những dự án thuộc
lĩnh vực dịch vụ, dự án có công nghệ cao và thân thiện với môi trường.
KCN Ô Môn:
Năm 2008, TP Cần Thơ tiến hành quy hoạch KCN Ô Môn trên diện tích 600 ha, thuộc phường
Phước Thới, quận Ô Môn.
KCN Bắc Ô Môn:
Trước đây là trung tâm CN - TTCN Ô Môn được quy hoạch có diện tích 31 ha, tọa lạc tại khu
vực xã Thới Hoà, phường Thới 2TAn2T, Quận Ô Môn, cách trung tâm TP Cần Thơ 25 km về phía Bắc.
Nằm cạnh sông Ô Môn và quốc lộ 91, thuận tiện về giao thông thủy bộ. Năm 2009, UBND TP Cần
Thơ tiếp tục lập quy hoạch KCN Bắc Ô Môn trên diện tích 400 ha thuộc phường các phường Thới
An, Thới Long, quận Ô Môn. Đây là KCN thứ 8 tại TP Cần Thơ đã được Chính phủ bổ sung vào
chiến lược quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam. Tại KCN Bắc Ô Môn, diện tích dành cho xây
dựng cơ sở hạ tầng sản xuất và công trình phụ trợ là 400 ha theo hình thức liên doanh hoặc 100%
vốn nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư dự kiến là 164 triệu USD. Thời gian thực hiện dự án đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng tại KCN Ô Môn có thể kéo dài đến 50 năm. Hiện nay, diện tích chủ yếu là
đất nông nghiệp, chưa giải phóng mặt bằng. Hạ tầng giao thông tại khu vực dự án có thể cho phép
xe 4 bánh có tải trọng nhỏ lưu thông. Các nguồn điện cung cấp cho dự án từ lưới điện quốc gia, đảm
bảo cung cấp đầy đủ, ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN. TP. Cần Thơ đang kêu
gọi đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải.
Đặc biệt, tại KCN Ô Môn và Bắc Ô Môn có nguồn nhân lực dồi dào có khả năng đáp ứng cho
nhu cầu của các doanh nghiệp, đó là: từ các Trung tâm xúc tiến lao động và các trường Đại học,
Trung cấp kỹ thuật của TP và các tỉnh lân cận.
Các dự án đầu tư vào KCN sẽ được hưởng chính sách ưu đãi theo danh mục đầu tư có điều
kiện và danh mục lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư theo quy định hiện hành.
Khi đi vào hoạt động, KCN Ô Môn và Bắc Ô Môn tập trung chủ yếu phát triển sản phẩm công
nghiệp và công nghệ phục vụ cho nhu cầu của vùng ĐBSCL, cả nước và hướng đến xuất khẩu.
Theo đó, KCN sẽ tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 20 nghìn lao động mỗi năm tại địa phương và
các vùng lân cận, thúc đẩy các ngành nghề khác có liên quan phát triển, du nhập các thiết bị máy
móc hiện đại và chuyển giao trình độ quản lý khoa học của các nước tiên tiến trên thế giới; tập trung
xử lý môi trường nước thải và tiếng ồn ảnh hưởng đến các khu dân cư.
Trong giai đoạn 1996 - 2010, TP Cần Thơ đã và đang quy hoạch, xây dựng được tất cả 7 KCN.
Tính từ khi TP thành lập KCN đầu tiên đến năm 2010, Cần Thơ có tất cả 8 KCN sẵn sàng mời gọi
vốn ĐTNN.
3.2.1.2. Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Nhiệm vụ xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng luôn được Đảng bộ TP Cần Thơ đặc biệt quan
tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ, giải pháp quan trọng để thực hiện CNH - HĐH địa
phương, cũng như thu hút vốn ĐTNN. Nghị quyết tại Đại hội Đảng bộ TP lần IX (1996 - 2000) đã
xác định: “Nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, trong đó điểm mấu chốt
nhất là hạ tầng kỹ thuật giao thông đường bộ, đường thủy nội địa; đường biển và đường hàng
không đủ sức phục vụ vận tải nội vùng là liên vận quốc tế để trong một thời gian nhất định để thành
phố Cần Thơ thật sự là cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông” [71, tr.33].
Trong giai đoạn 1996 - 2000, một mặt, TP Cần Thơ tập trung huy động nguồn lực trong nhân
dân, mặt khác tranh thủ nguồn ngân sách Trung ương, của các thành phần kinh tế và gọi vốn ĐTNN
vào xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật mang tính chất khu vực như bến cảng, sân bay. Cần
Thơ đã cho tiến hành nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới hệ thống giao thông vận tải thủy bộ, điện,
cấp thoát nước và thông tin liên lạc, đồng thời cho triển khai xây dựng cầu Sang Trắng vào năm
1999, nối liền KCN Trà Nóc 1 với các trục lộ chính. Trong 5 năm, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của TP
bước đầu có sự thay đổi, nhiều công trình xây dựng hoàn thành được đưa vào sử dụng, tăng thêm
năng lực của nền kinh tế - xã hội, tạo thêm thuận lợi cho các nhà ĐTNN đến đầu tư vào sản xuất
kinh doanh ở các KCN. Tuy nhiên, nhìn một cách chung nhất cơ sở hạ tầng TP vẫn còn nhiều yếu
kém trước yêu cầu của quá trình CNH - HĐH. Một số công trình, dự án trọng điểm chậm được triển
khai thực hiện, như: cầu Cần Thơ, việc nâng cấp Quốc lộ 1A,… thêm vào đó là công tác khai thác
sử dụng, bảo quản chưa tốt, nhiều công trình không đảm bảo chất lượng, mới đưa vào sử dụng đã
nhanh chóng xuống cấp.
Từ những mặt còn tồn tại đó, trong giai đoạn (2001 - 2005), TP Cần Thơ tiếp tục đầu tư nâng
cấp và xây dựng mới các tuyến đường huyết mạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời,
kiến nghị Trung ương hỗ trợ sớm hoàn thành việc nâng cấp và đưa vào khai thác sân bay Cần Thơ,
cầu Cần Thơ, cảng Cái Cui và khai thông luồng tàu cửa biển Định An, quốc lộ 91B, nhằm đáp ứng
cho vận tải tại các KCN nói riêng và của TP nói chung.
Năm 2004, TP Cần Thơ đã đầu tư 0,8 tỷ đồng xây dựng cầu cảng phục vụ cho việc xuất nhập
khẩu ở KCN Trà Nóc 1&2, KCN Hưng Phú 1&2. Cũng trong năm này, cầu Cần Thơ chính thức
được khởi công xây dựng bằng nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản, với tổng mức đầu tư
4.832 tỷ đồng (tương đương 37 tỷ yên Nhật) [79, tr.63]. Song song đó, Cần Thơ đang góp phần
cùng Trung ương xây dựng nhà máy nhiệt điện Ô Môn, nâng cấp Quốc lộ 1A, 91A và 91B. Cầu Cần
Thơ được xây dựng, đánh dấu sự nổ lực của Đảng bộ và nhân dân TP Cần Thơ trong việc hoàn thiện
cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội địa phương.
Giai đoạn 2005 - 2010, Cần Thơ tiếp tục tích cực thúc đẩy nhanh tiến độ đầu tư cụm cảng biển
và cảng hàng không quốc tế phục vụ cho cả vùng gồm: xây dựng hoàn chỉnh cảng Cái Cui giai đoạn
II, thi công kênh Quan Chánh Bố, đầu tư nâng cấp cảng Trà Nóc, cảng Hoàng Diệu, mở rộng nâng
cấp sân bay Cần Thơ (Trà Nóc) thành cảng hàng không quốc tế.
Tháng 7 - 2009, TP Cần Thơ chính thức khởi công xây dựng cảng Cái Cui (giai đoạn II) và và
khu hậu cần logistics, với tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng. Cảng Cái Cui (giai đoạn II) được xây
dựng trên diện tích 37 ha, rộng gấp đôi so với mặt bằng giai đoạn I với quy mô, gồm: 3 bến tàu với
chiều dài 500 m cùng các hệ thống thiết bị phụ trợ giao và nhận hàng tại cảng. Riêng khu hậu cần
logistics có kho chứa và bãi chứa hàng container rộng 3,5 ha; bãi và kho hàng tổng hợp khoảng 3,6
ha cùng gần 18 ha hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhà xưởng phục vụ quản lý sửa chữa, thiết bị công
nghệ phục vụ khai thác cảng [Cổng thông tin điện tử Cần Thơ].
Sau nhiều nổ lực, vào năm 2010, Cần Thơ cũng đã khánh thành công trình cầu Cần Thơ nối
liền sông Hậu.
Công tác xây dựng hạ tầng kỹ thuật bên trong hàng rào các KCN cũng được TP Cần Thơ thúc
đẩy tiến độ triển khai. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản là 273 tỷ đồng. Chỉ tiêu xây dựng cơ bản
của các doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng tại các KCN Trà Nóc 2 là 100 tỷ đồng, vốn duy tu cơ sở
hạ tầng KCN Trà Nóc 1&2 là 3 tỷ đồng. Và tại KCN Hưng Phú 2B là 170 tỷ đồng. Riêng ở KCN
Trà Nóc 2, TP Cần Thơ cũng đã đầu tư xây dựng xong trục lộ chính với tổng chiều dài 1,4 km [5; 6;
7]. Hệ thống đường nội bộ rộng và hệ thống đường riêng biệt gồm đường chính và đường phụ được
quy hoạch theo tiêu chuẩn quốc tế, đã được xây dựng hoàn chỉnh cho phép vận chuyển với tải trọng
lớn một cách an toàn trong các KCN. Nhìn chung, TP Cần Thơ đã nhanh chóng đầu tư xây dựng tại
các KCN hệ thống đường giao thông nhựa đạt tiêu chuẩn và hoàn chỉnh, không chỉ nối liền đến tận
hàng rào nhà máy mà còn nối với các quốc lộ trọng yếu trên địa bàn TP.
Tại KCN Hưng Phú 1&2, TP Cần Thơ giao cho Công ty Cổ phần KCN Sài Gòn - Cần Thơ
đảm nhận xây dựng cơ sở hạ tầng KCN Hưng Phú 1, với tổng số vốn là 250 tỷ đồng; KCN Hưng
Phú 2A sẽ do Công ty Cổ phần Vật liệu xây dựng và Xây lắp Thương mại BMC (Bộ Thương Mại)
phụ trách, với tổng số vốn đầu tư xây dựng là 150 tỷ đồng [5; 6; 7].
Riêng KCN Thốt Nốt sẽ do Trung tâm xây dựng hạ tầng KCN Thốt Nốt đảm nhận với tổng số
vốn 350 tỷ đồng [5; 6; 7].
Về hệ thống điện. Hạ tầng kỹ thuật điện, nước và thông tin liên lạc tại các KCN cũng đang dần
được hoàn thiện nhằm đáp ứng đầy đủ các yêu cầu doanh nghiệp. Bên cạnh hệ thống lưới điện quốc
gia đã được Nhà nước đầu tư, các KCN tại TP Cần Thơ còn nhận nguồn cung cấp từ Nhà máy điện
Cần Thơ có công suất 200MW. TP Cần Thơ đã đầu tư xây dựng tại KCN Trà Nóc hệ thống lưới
điện trung kế 15KV dài 2.500 m và 1.650 m chiếu sáng cấp. Trong giai đoạn 2005 - 2010, Cần Thơ
tiến hành cải tạo hệ thống lưới điện đạt tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm mục đích giảm đáng kể tổn thất
điện năng, bao gồm nhà máy điện Ô Môn 1.950MW, trạm 110/2KV - 40MVA tại Hưng Phú, lắp đặt
thêm trạm biến áp 110/22KV - 2X40 MVA Thốt Nốt, trạm biến áp 110/22KV - 40MVA ở Ô Môn.
Đồng thời, hệ thống lưới điện trung kế sẽ được Cần Thơ cải tạo và nâng cấp hoàn chỉnh. Trong năm
2010, Cần Thơ cũng đã đưa vào vận hành đường dây 220V Cai Lậy - Ô Môn và trạm 220KVA,
đường dây 550KVA Nhà Bè - Ô Môn. Ngoài ra, Công ty Trà Nóc còn liên doanh với nước ngoài
xây dựng một nhà máy phát điện độc lập tại KCN. Hiện nay, công trình đang được triển khai thực
hiện. Nhà máy điện độc lập cùng với lưới điện quốc gia sẽ bảo đảm cung cấp điện đầy đủ và ổn định
cho KCN.
Công trình cấp thoát nước gồm có hai hệ thống riêng biệt được thiết kế hiện đại và xây dựng
hoàn thiện. TP Cần Thơ đã đầu tư hoàn chỉnh hệ thống cấp nước dọc các tuyến đường giao thông
nội bộ tại các KCN ở TP Cần Thơ, nhằm cung cấp nước sạch cho sản xuất và sinh hoạt tới chân
3 (công suất 10 nghìn mP
P/ngày), nhà máy nước Hưng Phú (công suất 10 nghìn m3/ngày), nhà máy
P/ngày) [52, tr.74]. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả quản lý,
3 nước Thốt Nốt (công suất 5 nghìn mP
hàng rào các cơ sở sản xuất. Năm 2008, TP Cần Thơ đã đầu tư xây dựng nhà máy nước Trà Nóc
UBND TP Cần Thơ đã có chủ trương chuyển Công ty TNHH cấp thoát nước Cần Thơ sang hình
thức cổ phần như: Công ty cổ phần cấp thoát nước Thốt Nốt, công ty cổ phần cấp thoát nước Trà
Nóc,…
Hệ thống xử lý nước thải: TP vận dụng quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IX về chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [72, tr.38]. Trong quá trình
CNH - HĐH địa phương, TP Cần Thơ đặc biệt quan tâm vấn đề môi trường, đặc biệt nhất là ở các
KCN. Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP lần X, đã nhấn mạnh: “Nhất thiết phải xem xét vấn đề
xử lý môi trường của tất cả các dự án đầu tư, xem vấn đề xử lý chất thải là tiêu chuẩn nghiêm ngặt
trong thẩm định và phê duyệt dự án”[72, tr.43]. TP Cần Thơ chủ trương đẩy mạnh tiến độ thực hiện
hệ thống xử lý và thoát nước thải do ngân hàng tái thiết Đức tài trợ, xây dựng hệ thống thoát nước
mưa và nước thải cho các KCN. Song song đó, TP Cần Thơ cũng đã đầu tư các thiết bị kỹ thuật
chuyên dùng cho thu gom và xử lý rác, đảm bảo đến năm 2010, thu gom 70% rác thải đô thị, 85%
rác thải công nghiệp trở lên [7].
Trong nhu cầu dịch vụ tương đối đa dạng của các cơ sở sản xuất trong KCN thì dịch vụ về môi
trường là một nhu cầu rất quan trọng và bức thiết bởi bảo vệ môi trường hiện nay không chỉ là
nhiệm vụ mà còn là quyền lợi của chính các nhà đầu tư. TP Cần Thơ đã đẩy mạnh công tác tiêu
chuẩn, đo lường, chất lượng và bảo vệ môi trường sinh thái. Gắn phát triển sản xuất với bảo vệ môi
trường. TP Cần Thơ tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và
nước ngoài về vấn đề môi trường.
Tuy nhiên, công tác xây dựng hệ thống xử lý nước thải và bảo vệ môi trường tại các KCN còn
rất chậm dẫn đến tình trạng ô nhiễm trầm trọng.
Trước tình hình đó, ngày 12 - 11 - 2010, UBND TP Cần Thơ đã chỉ đạo Ban quản lý KCN -
KCX Cần Thơ trực tiếp đảm trách việc đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại KCN Trà Nóc.
P. Theo dự tính, tổng lượng nước thải của KCN Trà Nóc 1 và Trà Nóc 2 dao động 7 - 9
3 đồng/mP
Khi hoàn thành, nhà máy này sẽ cung cấp dịch vụ xử lý nước thải với mức phí từ 5 - 6 nghìn
nghìn m3/ngày. Theo thiết kế, công trình xử lý nước thải được đầu tư hệ thống đường ống thu gom
nước thải từ các nhà máy dẫn về trạm xử lý nước thải tập trung KCN để xử lý đạt tiêu chuẩn quy
định trước khi xả thải vào nguồn tiếp nhận, đảm bảo thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường
3 tại KCN Trà Nóc 1 và Trà Nóc 2, với tổng công suất xử lý 12 nghìn mP
P/ngày. Bên cạnh đó tại các
KCN. Và cũng trong năm 2011, TP Cần Thơ đã cho khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải
KCN, TP còn cho đầu tư dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại, chất thải rắn công
nghiệp không nguy hại, xử lý hóa chất công nghiệp và rác thải đô thị.
Ngoài ra, TP Cần Thơ cũng đã không ngừng đầu tư mở rộng, nâng cấp hiện đại hóa hạ tầng kỹ
thuật bưu chính viễn thông với chất lượng dịch vụ ngày càng cao, phục vụ kịp thời yêu cầu của TP
và cả vùng ĐBSCL. So với giai đoạn 1986 - 1995, hạ tầng thông tin liên lạc ngày càng hiện đại. Tại
các KCN, TP Cần Thơ đã trang bị mạng lưới bưu chính viễn thông hoàn chỉnh hiện đại đạt tiêu
chuẩn, đáp ứng đầy đủ và nhanh chóng nhu cầu thông tin liên lạc trong nước và quốc tế, như: dịch
vụ truyền dữ liệu, Internet, truyền hình cáp, video hội nghị, điện thoại và fax qua IP…
Công tác thanh - kiểm tra, quản lý, chỉ đạo của Đảng bộ TP là một yêu cầu vô cùng quan trong
trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp. TP đã chỉ đạo cho các cấp, các ngành thực hiện
đúng quy định của nhà nước về tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí trong xây dựng; củng cố tăng
cường các doanh nghiệp xây dựng cơ bản của nhà nước. Đồng thời, TP Cần Thơ còn bảo quản và sử
dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện có; khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh có vốn, kỹ thuật làm nghề xây dựng; cải tiến, đổi mới các thủ tục trong xây dựng theo hướng
nhanh, gọn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Hiện nay, cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại các KCN TP Cần Thơ ngày càng hoàn chỉnh phần nào đã
đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, việc đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng còn gặp nhiều vướng mắc, khó khăn, nhất là về thủ tục. Các nguồn lực đầu tư phát triển
chưa được khai thác tốt, tỉ lệ huy động vốn đầu tư xã hội còn quá thấp so với bình quân chung cả
nước và các TP trực thuộc Trung ương. Trong giai đoạn 1996 - 2010, TP Cần Thơ đã có nhiều chủ
trương và nhận được nguồn vốn ĐTNN xây dựng nhà máy xử lý nước thải tại KCN và thu gom rác
thải CN. Tuy nhiên, do vướng mắc về thủ tục và công tác quản lý nên kết quả dự án không được
triển khai xây dựng.
Như vậy, Đảng bộ TP cũng đã sớm nhận thức được yếu tố quan trọng của việc hoàn thiện, phát
triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật KCN. TP cũng đã sớm có chủ trương, tuy nhiên, công tác triển khai, quy
hoạch xây dựng còn nhiều hạn chế và diễn ra rất chậm chạp, ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn
ĐTNN.
3.2.2. Công tác xây dựng hệ thống dịch vụ khu công nghiệp và đào tạo nguồn nhân
lực
3.2.2.1. Công tác xây dựng hệ thống dịch vụ
Song song với việc phát triển các KCN, công tác xây dựng và phát triển hệ thống dịch vụ phụ
trợ trong các KCN trở thành một hoạt động, nhu cầu vô cùng bức thiết. Theo sự phát triển của các
KCN thì nhiều ngành dịch vụ phụ trợ cũng được hình thành, thu hút sự tham gia của nhiều thành
phần kinh tế và hàng năm đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng GDP của địa phương.
TP Cần Thơ xác định nhiệm vụ cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của các loại hình
dịch vụ, phát triển thị trường theo định hướng xã hội “…từng bước đưa thành phố Cần Thơ trở
thành trung tâm chuyển vận về thương mại, dịch vụ, du lịch của khu vực” [71, tr.20]. Đồng thời, TP
Cần Thơ đã khẩn trương triển khai thực hiện Quyết định 99/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
ngày 9 - 2 - 1996 về định hướng dài hạn phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn vùng
ĐBSCL.
Hiện nay, tại các KCN ở Cần Thơ có nhiều loại hình dịch vụ nhà nước và công cộng đa dạng
và chất lượng có thể đáp ứng phần nào nhu cầu của các dự án sản xuất kinh doanh tại đây. Các loại
hình dịch vụ nhà nước như dịch vụ cấp điện, nước; dịch vụ thu gom rác và xử lý nước thải công
nghiệp, dịch vụ bưu chính viễn thông và thông tin liên lạc, trạm phòng cháy chữa cháy, trạm y tế,
trung tâm kho vận và và nhiều dịch vụ tiện ích khác.
Về dịch vụ nhà trọ: Cung cấp dịch vụ nhà trọ là các công ty kinh doanh nhà và các hộ gia đình
sử dụng diện tích đất nhàn rỗi, xây phòng cho thuê nhằm tăng thêm thu nhập. Theo UBND phường
Trà Nóc, quận Bình Thủy và phường Phước Thới, quận Ô Môn đã có gần 485 hộ kinh doanh nhà trọ
với hơn 1.784 phòng cho khoảng 3.600 công nhân đang thuê trọ. Tập trung đông nhất khu nhà trọ
phường Trà Nóc trên 3.000 công nhân lao động đang tạm trú.
Vừa qua Chính phủ đã ban hành văn bản như Nghị quyết số 18/NQ-CP, ngày 20 - 4 - 2009 về
một số cơ chế chính sách nhằm phát triển nhà ở cho học sinh, sinh viên các cơ sở đào tạo và nhà ở
cho công nhân lao động tại các KCN tập trung, người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị; Quyết
định số số 66/QĐ-TTg, ngày 24 - 4 - 2009 của Thủ tướng chính phủ, ban hành một số cơ chế chính
sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các KCN thuê và Thông tư số 10/2009/TT-BXD,
ngày 15 - 6 - 2009, hướng dẫn quản lý dự án đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên, nhà ở công nhân
KCN và nhà ở thu nhập thấp [6]. Điều nay, có tác dụng rất lớn trong việc định hướng hoạt động của
dịch vụ nhà trọ cho công nhân tại các KCN.
Về khu tái định cư và nhà ở: Theo Sở Kế hoạch & Đầu tư, trong số 44 dự án xây dựng khu dân
cư đô thị và 44 dự án xây dựng khu dân cư phục vụ tái định cư, tổng vốn đầu tư khoảng 13.500 tỉ
đồng, đến nay đã có 38 dự án triển khai san lấp mặt bằng (chiếm trên 43%) tổng số dự án còn hiệu
lực trên địa bàn. Đến nay, đã giải ngân khoảng 3.850 tỉ đồng, tăng hơn 3 lần so với thời điểm triển
khai thực hiện vào năm 2004. Ngoài ra, còn 37 dự án thuộc lĩnh vực xây dựng cơ sở hoạt động kinh
tế - xã hội, dịch vụ, thương mại - du lịch đang trong quá trình lập dự án và nếu công tác giải phóng
mặt bằng thuận lợi sẽ có từ 8 - 10 dự án được khởi công trong năm 2009. Trong năm 2007, Ban
quản lý các KCN - KCX Cần Thơ đã xin ý kiến UBND TP Cần Thơ nhanh chóng xét duyệt 118 ha
đất và 10 ha giáp với khu Trà Nóc 2 để xây dựng khu tái định cư và khu nhà ở cho công nhân. Ban
quản lý KCN - KCX cho biết sẽ giao cho công ty xây dựng - hạ tầng Cần Thơ làm chủ đầu tư xây
dựng các công trình này [6; 7]. Theo đó, năm 2009, Công ty TNHH đầu tư - xây dựng hạ tầng Cần
Thơ (MTV) đã triển khai dự án khu tái định cư và nhà ở công nhân với diện tích trên 9 ha. Trước
mắt lập dự án xây 2 khu nhà ở 9 tầng cho công nhân, hiện nay đơn vị đã xây dựng cơ sở hạ tầng,
cấp thoát nước, hệ thống chiếu sáng, trồng cây xanh… trước mắt phân 40 lô nền (diện tích 5m x
20m) cho các doanh nghiệp tự xây dựng nhà lưu trú cho công nhân tại KCN Trà Nóc 2 [6].
Tại KCN Thốt Nốt, TP Cần Thơ đã giao cho Trung tâm xây dựng hạ tầng KCN Thốt Nốt là
chủ đầu tư, lập dự án đang tiến hành xây dựng khu nhà ở công nhân với diện tích 2 ha. Bên cạnh đó,
một số doanh nghiệp tự bỏ tiền ra mua đất để thực hiện chính sách nhà ở cho công nhân viên chức
lao động như: Công ty TNHH thực phẩm Nam Hải đã mua 2 ha đất cấp lại 100 nền cho cán bộ,
nhân viên; Công ty Cổ phần xuất - nhập khẩu thủy sản Cần Thơ (Casemex) đã mua 12 ha, dự kiến
xây nhà ở cho công nhân của công ty thuê lại với giá thấp; Công ty TNHH Vĩnh Nguyên mua 1 ha
và đã phân lô được 70 nền nhà, cấp cho cán bộ, nhân viên công ty; Công ty cổ phần thủy sản
P đất, dự kiến cất nhà ở cho công nhân. Ngoài ra còn nhiều doanh nghiệp có
2 MeKong mua 6.000mP
dự định mua đất cất nhà cho cán bộ, nhân viên và công nhân lao động của công ty ở để tạo sự gắn
bó lâu dài giữa công ty với người lao động [6].
Cùng với dịch vụ nhà trọ, dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp cũng được lãnh đạo TP Cần
Thơ quan tâm chỉ đạo. Các nhà đầu tư tại các KCN Cần Thơ thường lựa chọn đối tác cung ứng phù
hợp với nhu cầu của mình về giá cả, chất lượng dịch vụ cần cung ứng. Hầu hết các công ty đang
hoạt động trong KCN tại Cần Thơ đều tổ chức bữa ăn giữa ca cho người lao động. Hiện nay, dịch
vụ này do công ty THNN P&R Long Quân cung cấp với qui mô 10 nghìn suất/ngày.
TP Cần Thơ còn quan tâm chỉ đạo hệ thống xây dựng hệ thống siêu thị gần KCN Hưng Phú
1&2 phục vụ nhu cầu mua sắm, vui chơi giải trí của người lao động các KCN. TP giao cho công ty
cổ phần đầu tư và xây dựng số 8 đảm nhận xây dựng các dịch vụ theo bản đồ quy hoạch Cần Thơ
đến năm 2010, gồm có: trung tâm thương mại - căn hộ cao cấp với vốn đầu tư 534 tỷ đồng, gồm:
nhà ở khu C, nhà ở khu D, chung cư 5 tầng và Hưng Phú Plaza cao 20 tầng và các công trình công
cộng như chợ trung tâm, văn phòng cho thuê, trường mẫu giáo...Thời gian thực hiện từ năm 2005 -
2009 [7]. Dịch vụ nhà hàng - khách sạn: được đầu tư xây dựng với các công trình cao tầng đa chức
năng: khách sạn, siêu thị, khu văn hóa thể thao…với vốn đầu tư 1 nghìn tỷ đồng. Thời gian thực
hiện từ năm 2009 - 2012 [7].
TP Cần Thơ còn quan tâm chỉ đạo phát triển hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng phục vụ và
phát triển các KCN. Tính đến năm 2010, TP Cần Thơ có rất nhiều chi nhánh của các ngân hàng lớn
trên khắp cả nước tại TP Cần Thơ như Vietcombank (Ngân hàng ngoại thương Việt Nam),
Eximbank (Ngân hàng xuất nhập khẩu Việt Nam), MB (Ngân hàng Quân đội), VietinBank (Ngân
hàng công thương Việt Nam) và hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch của nhiều ngân hàng thương
mại như: Sacombank (Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín), Trustbank (Ngân hàng
đại tín)...Hiện nay, Cần Thơ đang đảm đương nhiệm vụ Trung tâm dịch vụ tài chính ngân hàng, với
tốc độ phát triển đứng thứ III cả nước (sau Hà Nội và TPHCM). Hệ thống ngân hàng, dịch vụ tài
chính đóng vai trò to lớn trong việc huy động, cung ứng vốn đầu tư và làm dịch vụ trọn gói cho các
doanh nghiệp KCN, qua đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tạo thế cạnh tranh trên địa bàn
[33, tr.71].
Sự phát triển các KCN đòi hỏi hình thành một số loại hình dịch vụ mới như: giao nhận hàng
hóa xuất nhập khẩu, khai thuế hải quan (dịch vụ xuất nhập khẩu); dịch vụ tư vấn, dịch vụ xử lý chất
thải công nghiệp; dịch vụ chăm sóc cây xanh thảm cỏ, vệ sinh môi trường trong KCN; dịch vụ cung
ứng lao động; tham quan du lịch, vận tải hàng hóa. Đáp ứng nhu cầu đó, hàng loạt các doanh nghiệp
đã ra đời trên địa bàn TP Cần Thơ như: Công ty lương thực sông Hậu, Công ty Cổ phần năng lượng
kho ngoại quan Cần Thơ (CAWACO), Công ty Cổ phần kho vận Bình Minh,…
Song song đó, TP Cần Thơ còn kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư kinh doanh các
loại hình dịch vụ tư nhân như: dịch vụ tài chính: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, và các loại dịch vụ
phụ trợ khác như: bảo vệ; trồng và chăm sóc cây xanh, thảm cỏ, vệ sinh dân dụng và công nghiệp;
dịch vụ quảng cáo, tư vấn tiếp thị và tổ chức sự kiện; dịch vụ thiết kế, thi công hệ thống đèn chiếu
sáng, biển báo; dịch vụ duy tu bảo dưỡng các hạng mục hạ tầng; dịch vụ quản lý cao ốc văn phòng,
nhà cao tầng...Mục tiêu của TP Cần Thơ là nhằm ngày càng hoàn thiện theo hướng chuyên môn hóa
hệ thống dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trong các KCN, xem đó là một trong những tiêu chí quan
trọng nhằm tăng sức hấp dẫn thu hút đầu tư vào các KCN tại địa phương.
3.2.2.2. Công tác đào tạo nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng của
P với
2 Thực trạng tại khu vực ĐBSCL trong đó có TP Cần Thơ, có diện tích rộng 36.000 kmP
quá trình thu hút vốn ĐTNN.
khoảng 17,1 triệu dân, số dân trên 15 tuổi chiếm 75,6%, tuy nhiên, chỉ có 9,66 triệu người làm việc
tại khu vực kinh tế, 2,96 triệu người làm việc tại khu vực phi kinh tế và gần 360 nghìn người thất
nghiệp. ĐBSCL nói chung vẫn là một trong những “vùng lõm” của cả nước về tỷ lệ nguồn nhân lực
đã qua đào tạo và đây là thách thức lớn của toàn vùng trong nhiều năm qua. Nguồn nhân lực ở khu
vực này còn t6Thiếu về lượng và yếu về chất [Theo Hội nghị quy hoạch phát triển nhân lực các tỉnh
6TĐể giải quyết bài toán về nguồn nhân lực, khâu then chốt là đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục và
vùng Tây Nam Bộ giai đoạn 2011 - 2020 tại TP Cần Thơ, 12 - 2010].
đào tạo. Trong những năm qua, Đảng bộ TP Cần Thơ đặc biệt quan tâm đến công tác này.
Xu thế toàn cầu hóa đang tạo cho TP Cần Thơ “mở cửa thị trường”, xây dựng các vùng kinh tế
trọng điểm, thu hút đầu tư, phát triển hàng hóa dịch vụ theo hướng hiện đại hóa trong đó công tác
đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao là chiến lược lâu dài mà các cấp ban ngành của TP đang
hướng tới. Tại Đại hội Đảng bộ TP Cần Thơ lần thứ X (2001 - 2005), Đảng bộ TP đã nhấn mạnh
đến vai trò vô cùng quan trọng của nguồn nhân lực và xem “công tác đào tạo nguồn nhân lực cho
công nghiệp hóa - hiện đại hóa là một trong các khâu đột phá nhằm thực hiện thành công phương
hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội” [72, tr.32].
Trong giai đoạn 2005 - 2010, TP Cần Thơ chủ trương xây dựng hoàn chỉnh hệ thống giáo dục
và đào tạo đạt tiêu chuẩn quốc gia, mở rộng liên kết đào tạo trong nước và nước ngoài sớm trở
thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH cho cả vùng
ĐBSCL. Trong đó, nhiệm vụ chủ yếu trong giai đoạn này là đưa chỉ số phát triển con người (HDI)
nằm trong nhóm tỉnh, TP có chỉ số phát triển cao (đạt 0,830). Tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt
36%. Xây dựng con người Cần Thơ: “Trí tuệ - năng động - nhân ái - hào hiệp - thanh lịch”. Đến
2010, TP Cần Thơ phấn đấu đứng đầu khu vực về các chỉ tiêu nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn
6TSong song với hoạt động giáo dục - đào tạo, TP Cần Thơ còn chú trọng đến 6Thoạt động dạy
nhân lực, đào tạo nhân tài [73, tr.29].
nghề. UBND TP Cần Thơ đã chỉ đạo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tích cực xây dựng
các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật. TP Cần Thơ sẽ tập trung đào tạo
nghề trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng để phổ cập nghề cho lao động, nhất là lao động
nông thôn. Qua đó, nhằm trang bị các kỹ năng, kiến thức nghề cho lao động nông thôn ở các cấp,
góp phần giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động, nâng cao thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế từng bước công nghiệp hóa nông thôn. TP sẽ triển khai dạy các nghề truyền thống và phi nông
nghiệp để người lao động có thể làm việc ở các sở công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp. TP phấn đấu
mỗi năm đào tạo nghề được khoảng 10 nghìn lao động nông thôn, đến năm 2020 tỉ lệ lao động nông
thôn qua đào tạo chiếm 50% và lao động nông nghiệp còn khoảng 30%; từng bước nâng cao thu
nhập từ trung bình trở lên cho người lao động [73, tr.44].
TP Cần Thơ nhấn mạnh việc đào tạo nghề trình độ cao đẳng, trung cấp là nhằm hình thành
nguồn nhân lực kỹ thuật đạt chuẩn quốc gia và lao động công nghệ cao đáp ứng nhu cầu lao động
cho các KCN, các vùng kinh tế trọng điểm, các ngành kinh tế mũi nhọn và hướng ra xuất khẩu lao
động. Mục tiêu đến năm 2020 của TP là: Tỉ lệ lao động qua đào tạo đến 2015 trên 65% và đến năm
2020 có trên 75%; trong đó có khoảng 70 - 80% là công nhân kỹ thuật; thu hút học sinh tốt nghiệp
THCS, THPT tiếp tục tham gia vào các trường chuyên nghiệp từ dạy nghề, trung cấp đến cao đẳng,
đại học, trong đó, có ít nhất 30% học sinh vào các trường dạy nghề bậc cao. TP sẽ tập trung đào tạo
nhân lực ở một số ngành mũi nhọn như: dệt may, điện lực, khoáng sản, cơ khí, gò hàn…trong đó
70% đạt trình độ trung cấp trở lên [74, tr.35].
Đối với xuất khẩu lao động, dự báo giai đoạn 2015 - 2020, TP Cần Thơ sẽ đảm bảo 100% lao
động xuất khẩu phải qua đào tạo nghề, trong đó 60% có trình độ trung cấp trở lên. Hoàn thiện mạng
lưới trung tâm dạy nghề đến cấp huyện vào năm 2013; quy mô đào tạo trung bình là 20 nghìn
người/năm vào năm 2015 ; và đạt 30 nghìn người/năm đến 2020 là ; nâng cấp trường trung cấp nghề
thành trường cao đẳng nghề vào năm 2012; đến năm 2020 đầu tư xây dựng thêm từ 1 - 2 trường
trung cấp nghề; thu hút các trường trung cấp nghề, các trường cao đẳng, đại học trong và ngoài TP
tham gia dạy nghề có trình độ cao mà một số cơ sở dạy nghề của địa phương chưa đáp ứng được.
Hoàn thiện hệ thống các chính sách phát triển nguồn nhân lực của TP, các chính sách xã hội hóa dạy
nghề [74, tr.37 - 38].
TP Cần Thơ đã chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng một số các giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đó là các giải pháp phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề,
các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề các trung tâm dạy nghề có chất lượng. Để giải pháp trên
có hiệu quả, TP cũng chú trọng xây dựng chương trình và phương pháp giảng dạy có chất lượng
cao. Mặt khác, tăng cường gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với người lao động để tư vấn và giới thiệu
việc làm; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, xã hội về dạy nghề; đổi mới cơ chế tài chính
và chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong dạy nghề; và mở rộng hợp tác quốc tế về
dạy nghề.
Cùng với việc đào tạo, thì công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực cũng không
kém phần quan trọng. TP Cần Thơ đã ban hành nhiều quy định yêu cầu các doanh nghiệp xây dựng
kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực địa phương, cam kết sử dụng lại số lao động đã cử đi
đào tạo, trích một phần kinh phí đầu tư cho đào tạo và quy định việc xây dựng chiến lược phát triển
nguồn nhân lực là điều kiện cần và đủ để phê duyệt và cấp giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án.
TP Cần Thơ còn đẩy mạnh việc hình thành các trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Ban quản
lý KCN - KCX nhằm trợ giúp các doanh nghiệp hoạt động. Bên cạnh đó, TP Cần Thơ có nhiều
chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư tại các KCN.
3.2.2.3. Công tác tiếp thị, xúc tiến đầu tư vào các khu công nghiệp
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm quyết định sự thành công của các KCN đó là công tác
tiếp thị, xúc tiến thu hút đầu tư. Vấn đề này được các cấp, các ngành của TP Cần Thơ đặc biệt quan
tâm.
Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, UBND TP Cần Thơ đã đặc biệt quan tâm đẩy mạnh
công tác tổ chức tuyên truyền giới thiệu bằng các phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng kế
hoạch công tác xúc tiến thu hút đầu tư trong và ngoài nước như: xây dựng danh mục dự án mời gọi
đầu tư; xây dựng trang web với các thông tin đầu tư, được cập nhật liên tục nhằm tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tổ chức các cuộc hội thảo mang tính chuyên đề hướng vào việc vận động xúc tiến đầu
tư vào KCN. TP cũng đã xây dựng và xuất bản các ấn phẩm tuyên truyền, giới thiệu về địa phương,
về các KCN, như: hạ tầng kỹ thuật, tiềm năng và thế mạnh của địa phương.
Mặt khác, TP Cần Thơ còn phối hợp với văn phòng đại diện của các nước đóng tại địa bàn hỗ
trợ các đoàn ra các nước Hàn Quốc, Malaysia, Nhật Bản, Đài Loan…để vận động, xúc tiến đầu tư.
Trong 6 tháng đầu năm 2010, Cần Thơ đã thành lập đoàn xúc tiến đầu tư gồm 15 thành viên là đại
diện lãnh đạo Cục ĐTNN - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, lãnh đạo, cán bộ có liên quan cùng các doanh
nghiệp TP Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang và Cà Mau đi khảo sát thị trường Úc.
Trong giai đoạn 1996 - 2010, TP Cần Thơ cũng đã tiếp xúc, trao đổi và làm việc với 67 đoàn
khách nước ngoài, đồng thời cử đoàn đi khảo sát thị trường, tham gia hội nghị, hội thảo tại các nước
Hoa Kỳ, Úc, Hàn Quốc, Nhật Bản,…Từ năm 2006 - 2010, TP đã cấp mới giấy phép cho 25 dự án,
vốn đăng ký 654 triệu USD; vốn điều chỉnh tăng thêm 99,6 triệu USD. Thu hút vốn hỗ trợ phát triển
chính thức (ODA) ước thực hiện 67,7 triệu USD; tiếp nhận vốn viện trợ của các tổ chức phi chính
phủ (NGO) 17,23 triệu USD [79, tr.68; tr.74, tr.21].
Ngày 28 - 8 - 2009, Cần Thơ đã tổ chức thành công “Hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại, du
lịch vào TP Cần Thơ”. Kết quả là đã ký kết 8 bản ghi nhớ, 2 bản thỏa thuận và 3 thư quan tâm với
tổng trị giá vốn đầu tư ước khoảng 3 tỷ USD.
Mặt khác, TP Cần Thơ đã thiết lập mô hình KCN gắn với đô thị, tăng cường 6Thoàn chỉnh các
yếu tố thu hút đầu tư như: quy hoạch cơ sở hạ tầng đô thị và công nghiệp, dự án, thủ tục, nhân lực.
Song song đó, để đẩy nhanh tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế thế giới của TP Cần Thơ,
tạo động lực mạnh mẽ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chính phủ và
Nghị quyết Đảng bộ TP, Cần Thơ đã ban hành nhiều chỉ thị như: chỉ thị 03/CT-UBND ngày 24 - 1 -
2010 về việc tăng cường, nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến đầu tư. Theo đó, Ban quản lý các
KCN - KCX Cần Thơ có nhiệm vụ phối hợp với Sở kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm xúc tiến đầu tư -
thương mại - du lịch, các sở ngành và địa phương có liên quan, xây dựng và thực hiện các chương
trình xúc tiến, mời gọi đầu tư vào các KCN.
Mọi công tác tổ chức xúc tiến đầu tư trong thời gian qua đã có những thành công khá, mang lại
những kết quả đáng khích lệ, với việc ký kết được nhiều hợp đồng thuê đất kinh doanh và nhiều dự
án có giá trị cao, trong một thời gian ngắn đã góp phần lấp đầy các dự án vào các KCN như: KCN
Trà Nóc 1&2.
Tuy nhiên về lâu dài, TP Cần Thơ cần tích cực và năng động trong việc tiến hành tổ chức các
Hội nghị xúc tiến đầu tư. Nội dung, chủ đề xúc tiến đầu tư nên hướng vào mục tiêu thu hút FDI vào
các lĩnh vực trọng điểm như giao thông, thương mại, dịch vụ (nhà hàng, khách sạn)… hướng đến
các đối tác cụ thể, lâu dài và chú trọng các hoạt động mang tính liên vùng, liên địa phương. Bên
cạnh đó, Cần Thơ cần xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư mang tính chiến lược phù hợp với nhu cầu
đầu tư phát triển và quy hoạch TP.
3.3. Đánh giá về quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp tại
Cần Thơ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1996 - 2010)
3.3.1. Về kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài
3.3.1.1. Về số dự án và số vốn đầu tư
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH (1996 - 2010), TP Cần Thơ đã thu hút được tất cả 23 dự
án nước ngoài đầu tư vào 5 KCN (tăng 12 dự án so với giai đoạn 1986 - 1995). Tổng số vốn đăng
ký trên 815,3 triệu USD (tăng 760,4 triệu USD so với giai đoạn 1986 - 1995), trong đó có 17 dự án
đã được triển khai thực hiện với tổng số vốn hơn 258,9 triệu USD, chiếm 31,8% trên tổng số vốn
đăng ký đầu tư [5; 6; 7; 33, tr.50].
Tại KCN Trà Nóc 1 thu hút được 16 dự án, với tổng số vốn đăng ký 246,6 triệu USD, chiếm
30,2% tổng số vốn đầu tư. Trong đó số đó có đến 13 dự án được triển khai thực hiện với tổng số vốn
24,3 triệu USD, chiếm 98,6% trên tổng số vốn đăng ký đầu tư [7].
Tại KCN Trà Nóc 2 thu hút tổng số 4 dự án với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 15,7 triệu USD
chiếm 1,9% tổng số vốn đầu tư, có 2 dự án đi vào hoạt động với tổng số vốn thực hiện: 0,739 triệu
USD, chiếm 4,7% trên tổng số vốn đăng ký đầu tư [7].
Năm 2007, KCN Hưng Phú 1 thu hút 1 dự án ĐTNN với tổng số vốn đăng ký là 7 triệu, chiếm
0,6% (vốn thực hiện: 6,057 triệu; chiếm 86,5% tổng số vốn đăng ký đầu tư [7].
Trong năm 2008, KCN Hưng Phú 2 thu hút 1 dự án với tổng số vốn đăng ký đầu tư: 8 triệu
USD, chiếm 1% (vốn thực hiện: 6,9147 triệu USD; chiếm 86,4% tổng số vốn đăng ký đầu tư).
Tại KCN Ô Môn thu hút 1 dự án ĐTNN với vốn đăng ký là 538 triệu USD nhưng chưa được
thực hiện [6; 7].
Stt
Năm cấp giấy phép đầu tư
Số dự án
Vốn đầu tư (USD)
KCN Trà Nóc 1
1
1997
1
12.740.000
2
1997
1
5.350.000
3
1998
1
1.000.000
4
1998
1
5.903.968
5
2000
1
2.700.000
Bảng 3.1. Số dự án ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010.
6
2000
1
1.900.000
7
2001
1
100.000
8
2001
1
150.000
9
2002
1
2.869.890
10
2003
1
259.311
11
2003
1
2.000.000
12
2004
1
129.032
13
2004
1
500.000
14
2007
2
196.041.000
15
2008
1
15.000.000
Tổng
16
246.643.201
KCN Trà Nóc 2
16
2002
1
12.000.000
18
2007
3
3.739.000
Tổng
4
15.739.000
KCN Hưng Phú 1
19
2007
1
7.000.000
KCN Hưng Phú 2
20
2008
1
8.000.000
KCN Ô Môn
21
2008
1
538.000.000
Tổng: KCN Trà Nóc 1&2, KCN Hưng Phú
23
815.382.201
1&2 và KCN Ô Môn
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ năm 2007, 2008 , 2009 và
Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2009 - Cục thống kê TP Cần Thơ).
Năm 1996, cả nước thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với năm trước. Trong 3
năm 1997 - 1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13 tỷ USD; nhưng vốn
đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng
46,8% năm 1998), chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ [17].
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn ĐTNN vào nước ta bắt đầu có dấu hiệu phục hồi chậm. Vốn
đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD, tăng 21% so với năm 1999; năm 2001 tăng 18,2% so
với năm 2000; năm 2002 vốn đăng ký giảm, chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1 tỷ
USD), tăng 6% so với năm 2002. Và có xu hướng tăng nhanh từ năm 2004 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng
45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng 50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục
trong 20 năm qua 20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm 1996,
năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng [17].
Trong giai đoạn 2001 - 2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD vượt 73%
so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28 - 8 - 2001 của Chính phủ, vốn thực hiện đạt
14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001 - 2005, vốn ĐTNN cấp mới
đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng trung bình 59,5%), nhưng đa phần là
các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm 2006 - 2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng
đáng kể (32,3 tỷ USD) với sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực
công nghiệp (sản xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao,...) và dịch vụ (cảng biển, bất động
sản, công nghệ thông tin, du lịch - dịch vụ cao cấp .v.v.). Điều này cho thấy dấu hiệu của “làn sóng
ĐTNN” thứ hai vào nước ta [17].
Bảng 3.2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở ĐBSCL từ năm 1988 - 2009
Số vốn đăng ký Số dự án (triệu USD)
Cả nước 12575 194429.5
ĐBSCL 580 8150.0
Long An 321 3001.9
Tiền Giang 29 367.5
Bến Tre 18 149.9
Trà Vinh 23 95.6
Vĩnh Long 16 85.9
Đồng Tháp 20 45.1
An Giang 14 29.5
Kiên Giang 25 2815.5
Cần Thơ 76 816.0
Hậu Giang 7 632.0
Sóc Trăng 7 42.3
Bạc Liêu 13 47.8
(Nguồn: Tổng kết 20 năm hoạt động ĐTNN tại Việt Nam - Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
Tổng hợp từ năm 1988 nay, vùng trọng điểm phía Nam thu hút 5.293 dự án với tổng vốn đầu
tư 44,87 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký, trong đó, TP Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước (2.398
dự án với tổng vốn đăng ký 16,5 tỷ USD) chiếm 36,9% tổng vốn đăng ký của vùng. Tiếp theo thứ tự
là Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An. ĐBSCL thu hút vốn ĐTNN thấp so với
các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả
nước. Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý - kinh tế
khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bàn này còn rất thấp [17].
3.3.1.2. Quy mô và hình thức đầu tư
Trong giai đoạn 1996 - 2010, có tất cả 5 trong 8 KCN tại TP Cần Thơ thu hút được nguồn vốn
ĐTNN, đó là KCN Trà Nóc 1&2, KCN Hưng Phú 1&2 và KCN Ô Môn. Trong đó, KCN Trà Nóc 1
thu hút được nhiều dự án nhất (16 dự án, với tổng số vốn đăng ký đầu tư: 246,6 triệu USD, tăng 5
dự án so với giai đoạn 1986 - 1995), kế đến là KCN Trà Nóc 2 có 4 dự án, với tổng số vốn đăng ký:
15,7 triệu USD).
Bảng 3.3. Quy mô vốn ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010.
Tỷ lệ Quy mô vốn đăng ký đầu tư Số dự án (%)
Dưới 5 triệu USD 10 43,4
Trên 5 triệu 4 43,6
Trên 10 triệu USD 3 13
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ năm 2007, 2008 , 2009,
2010 và Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2009 - Cục thống kê TP Cần Thơ).
Qua Bảng 3.3 cho thấy, quy mô vốn đầu tư của nước ngoài tại 5 KCN ở TP Cần Thơ còn ở
mức thấp với tổng số vốn hoạt động trung bình của các doanh nghiệp là 35,4 triệu USD (thấp nhất là
100 nghìn USD và cao nhất là 538 triệu USD). Riêng số doanh nghiệp có vốn dưới 5 triệu USD
chiếm tỷ lệ cao (10 dự án) chiếm tỷ lệ 43,4%, trên 5 triệu USD chiếm tỷ lệ 43,6, số dự án trên 10
triệu USD thì rất ít chỉ có 3 dự án chiếm 13%.
Đặc biệt, trong các năm 2005, 2009 và năm 2010, các KCN TP Cần Thơ không thu hút được
dự án ĐTNN, nếu tính chung thì mỗi năm các KCN TP thu hút 1 dự án ĐTNN.
Tuy nhiên, trong số 23 dự án đầu tư thì lại có đến 6 dự án chưa được triển khai (trong khi giai
đoạn 1986 - 1995 chỉ có là 1 dự án). Hơn nữa, trong số 3 dự án có số vốn đăng ký trên 10 triệu USD
thì lại có đến 2 dự án (1 dự án của công ty liên doanh chế biến Gạo Xipltd với số vốn đăng ký là 12
triệu và 1 dự án Nhà máy lọc dầu Cần Thơ đăng k ý đầu tư là 538 triệu) chậm được triển khai.
Bảng 3.4. Quy mô vốn ĐTNN đầu tư vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010
so với giai đoạn 1986 - 1995.
Giai đoạn (1996 - 2010) Giai đoạn (1986 - 1995)
Quy mô vốn đăng ký Tỷ lệ Tỷ lệ Số dự án Số dự án đầu tư (%) (%)
Dưới 5 triệu USD 10 43,4 8 72,7
Trên 5 triệu 4 43,6 - -
Trên 10 triệu USD 3 13 3 27,3
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ năm 2007, 2008 , 2009, 2010 và
Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2009 - Cục thống kê TP Cần Thơ).
Trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, TP Cần Thơ khuyến khích đầu tư cả hai hình thức liên
doanh và 100% vốn nước ngoài. Hình thức liên doanh có đến 8 dự án với tổng số vốn đăng ký 759,2
triệu USD (chiếm 93,1%); và 15 dự án hình thức 100% vốn nước ngoài có tổng số vốn đăng ký 56,2
triệu USD (chiếm 6,9%). Có thể so sánh tỷ trọng dự án hoạt động theo hình thức liên doanh tính đến
hết năm 2008 là 34,8%, theo hình thức 100% vốn nước ngoài 65,2%.
Bảng 3.5. Hình thức ĐTNN vào 5 KCN Trà Nóc tại TP Cần Thơ trong giai đoạn 1996 - 2010.
Tỷ lệ so với tổng số
Hình thức đầu tư Số dự án đầu tư Số vốn đầu tư vốn đầu tư
(%)
Hình thức liên doanh 8 39 34,8
Hình thức 100% vốn 15 15,9 65,2 nước ngoài
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ năm 2007, 2008, 2009, 2010 và
Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2009 - Cục thống kê TP Cần Thơ).
Qua đó có thể thấy, trong giai đoạn 1996 - 2010, số dự án theo hình thức 100% vốn nước ngoài
chiếm ưu thế với 15 dự án đầu tư, tuy nhiên quy mô vốn đầu tư rất thấp, đa phần là những dự án có
quy mô nhỏ. Điều đó cũng dễ hiểu bởi quan điểm, chính sách thu hút ĐTNN của Đảng và Nhà nước
ta trong thời kỳ này có nhiều thay đổi so với giai đoạn đổi mới (1986 - 1995).
3.3.1.3. Đối tác và địa bàn đầu tư
Đối tác đầu tư được mở rộng theo hướng đa dạng hơn so với thời kỳ thực hiện công cuộc đổi
mới (1986 - 1995). Trong giai đoạn 1996 - 2010, tại 5 KCN TP Cần Thơ đã thu hút nhiều đối tác
đến từ các quốc gia khác nhau. Ngoài những đối tác truyền thống như Hồng Kông, Đài Loan, Thái
Lan; trong giai đoạn 1996 - 2010, có thêm các đối tác đến từ Trung Quốc, Pháp, Cu Ba, Singapore,
Malaysia, Mỹ, Nhật...
Bảng 3.6. Tổng vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài vào 5 KCN tại TP Cần Thơ trong giai
đoạn 1996 - 2010.
Vốn đăng ký đầu Tỷ trọng tư TT Đối tác nước ngoài Số dự án (%) (USD)
Châu Á
1 Trung Quốc 250.000 0,4 2
2 Đài Loan 3.700.000 6,7 2
3 Hàn Quốc 855.000 1,5 1
4 Singapore 4.956.721 8,8 1
5 Nhật 3.500.000 6,2 1
ASEAN
6 Thái Lan 12.740.000 22,7 1
7 Malaysia 2.869.890 5,1 1
Các châu lục khác
9 Thụy Sĩ 1.264.000 2,3 1
6 Pháp 7.380.000 13,1 3
7 CuBa 5.350.000 9,5 1
5 Na Uy 13.300.000 23,7 1
56.165.611 100 Tổng 15
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hoạt động của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ 2007, 2008,
2009, 2010 và Thành phố Cần Thơ - tiềm năng và cơ hội đầu tư, Sở kế hoạch và đầu tư, năm 2008).
Các đối tác đầu tư được mở rộng, điều đó đã nói lên tính hấp dẫn của các KCN tại TP Cần Thơ
đối với các các nhà ĐTNN. Tuy nhiên, giống như giai đoạn trước, các nước châu Á vẫn là những
nước đầu tư lớn nhất cả về tỷ trọng số dự án và vốn đăng ký, đã có một số đối tác mới nhưng đa
phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Các dự án quy mô lớn do nhiều nguyên nhân chủ quan và
khách quan nên thường chậm triển khai thực hiện dẫn đến hiệu quả thấp.
Địa bàn đầu tư được mở rộng hơn so với giai đoạn 1986 - 1995
Từ năm 1996 - 2010, TP Cần Thơ đã vận động thu hút các nhà ĐTNN thực hiện đầu tư vào 5
trong số 8 KCN tại địa phương; ở 3 quận trong số 5 quận và 9 đơn vị hành chính, với:
KCN Trà Nóc1&2 thuộc quận Bình Thủy: nơi đây tập trung nhiều dự án nước ngoài nhất, do
cơ sở hạ tầng tương đối được hoàn thiện đáp ứng yêu cầu các nhà đầu tư.
KCN Hưng Phú 1&2 thuộc quận Cái Răng: có ít dự án hơn KCN Trà Nóc 1&2, mặc dù đây là
KCN gắn với khu dịch vụ hiện đại nhưng do cơ sở hạ tầng và các dịch vụ đang trong quá trình xây
dựng nên chỉ thu hút được 2 dự án nước ngoài.
Và KCN Ô Môn thuộc quận Ô Môn cũng đang trong quá trình xây dựng, nên chỉ có 1 dự án
nhưng chưa triển khai.
Trong số các dự án ĐTNN nói trên, có 1 dự án ĐTNN đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: đó là
Công ty Adage Industrial Developmnet (100% vốn nước ngoài), với tổng số vốn đầu tư là 1 triệu
USD, trong đó đã đi vào hoạt động với số vốn 1/4 (tức 25 nghìn USD), còn lại chủ yếu là các dự án
đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chế biến trong 5 KCN ở TP.
Như vậy, địa bàn đầu tư được mở rộng là một lợi thế của TP Cần Thơ trong quá trình CNH -
HĐH địa phương. Cần Thơ quy hoạch tất cả 8 KCN, tuy nhiên, điểm chung giống nhau giữa các
KCN là thiếu quỹ đất công nghiệp, cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện và nguồn nhân lực yếu.
3.3.1.4. Về ngành nghề thu hút đầu tư
Thực tiễn qua gần 15 thực hiện đường lối của Đảng bộ TP về thu hút ĐTNN, TP Cần Thơ đã
thu hút được 23 dự án nước ngoài đầu tư vào 5 KCN, nguồn vốn đầu tư tập trung ở các nhóm ngành
nghề sau:
Bảng 3.7. Số dự án nước ngoài đầu tư vào 5 KCN (1996 - 2010) phân theo lĩnh vực đầu tư.
Số vốn đăng Tỷ lệ Số dự án Lĩnh vực đầu tư ký đầu tư (%) đầu tư (triệu USD)
Chế biến: lương thực - thực phẩm, 15 268,44 32,9 thủy - hải sản, thức ăn gia súc
Xây dựng, lọc hóa dầu 5 542,1 66,5
Hóa nông dược, thuốc thú y 2 40 0,5
Xây dựng cơ sở hạ tầng 1 1 0,1
(Nguồn: Báo cáo hoạt động của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ 2007, 2008, 2009, 2010 và
Thành phố Cần Thơ - tiềm năng và cơ hội đầu tư, Sở kế hoạch và đầu tư, năm 2008).
Lĩnh vực chế biến thức ăn gia súc có 7 dự án với tổng số vốn đầu tư: 213 triệu USD (chiếm
26,1% tổng số vốn đầu tư);
Lĩnh vực chế biến lương thực - thực phẩm: 5 dự án với tổng số vốn đầu tư: 32,44 triệu USD
(chiếm 4%);
Lĩnh vực xây dựng, lọc hóa dầu: 5 dự án với 542,1 triệu USD (66,5%);
Lĩnh vực sản xuất hoá, nông dược, thuốc thú y có 2 dự án, với số vốn 40 triệu (0,5%);
Lĩnh vực chế biến khai thác thủy sản có 3 dự án, với tổng số vốn đăng ký: 23 triệu USD
(2,8%); và 1 dự án đầu tư cơ sở hạ tầng với số vốn đăng ký 1 triệu USD (0,1%).
Bảng 3.8. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN qua các giai đoạn (1986 -
2010).
Đơn vị tính: %
Năm Sau 1999 - 1986 - 1995 1996 - 1999 Chung Lĩnh vực nay
Chế biến lương thực - 50,0 50,0 22,2 33,3 thực phẩm
Chế biến thủy sản - 50,0 11,2 20,0
Thức ăn gia súc - - 33,3 20,0
Lĩnh vực sản xuất kinh 50,0 - 33,3 26,7 doanh khác
Tổng 100,0 100,0 100,0 100,0
(Nguồn: Phát triển khu công nghiệp Cần Thơ đến năm 2020 - Huỳnh Thanh Nhã)
Như vậy, lĩnh vực chế biến luôn thu hút các nhà ĐTNN nhiều nhất, chiếm tỷ trọng 26,1%. Kế
đến, là lĩnh vực xây dựng và lọc hóa dầu và các ngành khác. Đồng thời, trong giai đoạn này, KCN
Trà Nóc 1 cũng đã thu hút được 1 dự án đầu tư phát triển hạ tầng. Nhìn chung, cơ cấu đầu tư như
vậy, phần nào phù hợp với thế mạnh của địa phương và khu vực ĐBSCL, vì nông - thủy sản vốn là
hai mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực, thế mạnh của vùng, đồng thời có tác dụng góp phần
giải quyết việc làm cho người lao động. Chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế có vốn
ĐTNN đầu tư đổi mới công nghệ để tạo ra sản phẩm có chuỗi giá trị gia tăng cao mới được TP Cần
Thơ quan tâm. Do đó, các KCN của TP chưa thu hút được những dự án đầu tư vào ngành may mặc
và giày da, các ngành công nghệ và kỹ thuật cao, vì vậy, sẽ gây khó khăn cho địa phương trong quá
trình đổi mới công nghệ cũng như kinh nghiệm quản lý sản xuất tiên tiến phục vụ cho sự nghiệp
CNH - HĐH.
3.3.2. Tác động về mặt kinh tế - xã hội
3.3.2.1. Về kinh tế
ĐTNN vào các KCN tại TP góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 15,13% (2006 - 2010) cao hơn cao hơn 1,63% so với giai đoạn
2001 - 2005 (13,5%); 8,1 (1996 - 2000); và 10,91 (thời kỳ 1991 - 1995) [74, tr.17].
Tỷ trọng ngành công nghiệp liên tục tăng qua các năm, từ 18,76 (1995) lên 39,1% (2005). Tốc
độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN cao hơn mức tăng trưởng công
nghiệp chung của TP, tỷ trọng của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong ngành công nghiệp tăng qua
các năm (từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004, 41% năm 2005 và năm 2006), góp phần
thúc đẩy nền kinh tế TP chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH [74, tr.18].
Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của TP Cần Thơ chỉ đạt 8.218 tỉ đồng, đến năm 2010,
giá trị tăng gần 2,4 lần và chiếm 16,08% giá trị toàn vùng. Năm 2010, công nghiệp và xây dựng
tăng trưởng khá cao, giá trị tăng thêm trong cơ cấu GDP giai đoạn 2006 - 2010 bình quân
18,06%/năm. ĐTNN góp phần đưa nền kinh tế giữ được tốc độ tăng trưởng ở mức khá cao, cơ cấu
kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp - thương mại, dịch vụ - nông nghiệp công nghệ cao
[74, tr.16 - 17].
ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho địa phương, đáp
ứng nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Năm 2008, giá trị sản xuất của các doanh
nghiệp có vốn ĐTNN tại các KCN đạt 221 triệu USD, xuất khẩu đạt 66,7 triệu USD, tăng 26% so
với năm 2007, đóng góp vào nguồn thu ngân sách đạt khoảng 1.350 tỷ đồng [5, 6].
ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công
nghiệp tại địa phương. Đồng thời, ĐTNN đã góp phần hình thành và phát triển ở TP Cần Thơ hệ
thống các KCN mới đem lại hiệu quả sử dụng quỹ đất. Từ năm 1986 - 1995, TP Cần Thơ chỉ có duy
nhất KCN Trà Nóc 1. Từ năm 1996 đến nay, Cần Thơ đã quy hoạch và xây dựng được 7 KCN, mặc
dù một số KCN đang trong quá trình xây dựng nhưng đó cũng là một thành công lớn của TP Cần
Thơ.
ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tại địa
phương. Với nhiều dự án đang hoạt động có hiệu quả và các dự án tập trung chủ yếu vào các lĩnh
vực thế mạnh của TP là ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ, thương mại, đa số các ÐTNN đã
góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH - HĐH.
3.3.2.2. Về mặt xã hội
6TCác doanh nghiệp ĐTNN tại các KCN TP Cần Thơ góp phần giải quyết việc làm cho địa
phương và khu vực ĐBSCL. 6TĐến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 24 nghìn
lao động (gồm 18.682 lao động chính thức, 5.528 lao động thời vụ) mỗi năm các KCN giải quyết
gần thêm gần 1 nghìn lao động. Bên cạnh số việc làm trực tiếp tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN
nói trên, các cơ sở sản xuất có dự án ĐTNN còn gián tiếp tạo thêm việc làm cho hàng ngàn hộ nông
dân sản xuất, nuôi trồng cung cấp nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến nông sản, thủy hải
sản; và hàng ngàn người làm dịch vụ như nhà trọ, phương tiện vận tải, bốc vác, ăn uống,…Mặc dù,
số lượng và quy mô các dự án ĐTNN vào KCN tại TP Cần Thơ không lớn nhưng thông qua hoạt
động đầu tư của nước ngoài vào KCN đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động,
giúp cho nông dân tăng nguồn thu nhập phụ của nông nghiệp (trồng nấm rơm), và tạo ra nhiều sản
6TCác doanh nghiệp ĐTNN tại các KCN TP Cần Thơ góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng
phẩm xuất khẩu [6].
nguồn nhân lực. 6TĐTNN thường tập trung chủ yếu trong các ngành tập trung vốn và sử dụng lao
động có trình độ kỹ năng cao như: công nghệ chiến biến nông sản, lương thực - thực phẩm, cây con
- giống mới…mà TP Cần Thơ và các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có lợi thế. Thông qua đó, số lao
động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương
thức lao động tiên tiến. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các doanh nghiệp ĐTNN
đã có thể thay thế dần các chuyên gia nước ngoài trong việc đảm nhiệm những chức vụ quản lý
doanh nghiệp và điều khiển các qui trình công nghệ hiện đại. Năm 2008, tại các dự án 23 dự án
ĐTNN, số lao động có trình độ Đại học: 7,88%, Trung cấp: 8,55%, Lao động phổ thông: 83,57%
6TCác doanh nghiệp ĐTNN tại các KCN TP Cần Thơ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình đô thị
[6].
hóa. 6TNguồn vốn ĐTNN góp phần hình thành KCN gắn với khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể
kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và nông thôn. Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôi cuốn và tác động trực
tiếp đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Trong năm 2010, TP tiến hành công tác xây dựng khu
đô thị mới, khu tái định cư và nhà ở công nhân tại KCN Trà Nóc 1&2, Hưng Phú 1&2. (Xem phụ
lục 11).
3.3.3 Những hạn chế trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp
Cần Thơ giai đoạn 1966 - 2010
Về qui mô đầu tư: Các dự án ĐTNN vào các KCN tại TP Cần Thơ đa phần có quy mô nhỏ,
công nghệ trung bình và sử dụng nhiều lao động phổ thông, nên việc chuyển giao công nghệ còn
hạn chế. Kết quả thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào các KCN có bước phát triển vượt bậc so
với giai đoạn (1986 - 1995), nhưng vốn triển khai thực hiện chỉ chiếm khoảng chiếm 31,8% (258,9
triệu USD) trên tổng vốn đăng ký. Bình quân một dự án ĐTNN vốn đầu tư mới khoảng 8,6 triệu
USD, 6Trất ít dự án trên 14 triệu USD6T. Ngoài ra, tiến độ thực hiện các dự án ĐTNN còn chậm so
với kế hoạch đề ra, kết quả là chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện còn lớn, tốc độ tăng
vốn thực hiện chưa cao. Khu vực tinh tế có vốn ĐTNN có bước phát triển nhưng nhìn chung còn rất
chậm.
Về địa bàn đầu tư: Trong 8 KCN chỉ có KCN Trà Nóc 1 đã lấp đầy diện tích 135 ha, KCN Trà
Nóc 2 (165 ha) cơ bản cũng đã lấp đầy. Còn KCN Hưng Phú 1(262 ha) nhưng giải tỏa đền bù mới
được 35 ha (chiếm 13,4%) và đã cho thuê gần 17 ha (6,5%); KCN Hưng Phú 2 (212 ha) giải tỏa
được 29 ha (chiếm 13,7%), diện tích cho thuê chỉ có 8 ha (chiếm 3,8%), chưa kể đến KCN Thốt
Nốt, KCN Ô Môn và KCN Bắc Ô Môn đang còn trong giai đoạn quy hoạch dở dang.
Bảng 3.9. Tình hình hoạt động của các KCN TP Cần Thơ tính đến năm 2007.
Vốn đầu
Vốn đầu tư tư thực Diện tích Số dự án Tỷ lệ cho Tên KCN đăng ký hiện (ha) hoạt động thuê đất (triệu USD) (triệu
USD)
Trà Nóc 1 135 251,98 192,81 118 100,0
Trà Nóc 2 165 484,38 70,38 29 90,0
Hưng Phú 1 262 10,83 6,55 2 20,0
Hưng Phú 2 212 40,93 7,26 2 10,0
Thốt Nốt 150 95,46 31,31 6 30,9
Ô Môn - - - - -
Bắc Ô Môn - - - - -
Tổng 924 883,58 308,31 157 35,62
(Nguồn: Tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động của Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ).
Qua Bảng 3.9 cho thấy, quy mô các KCN của TP Cần Thơ không lớn, số lượng doanh nghiệp
hoạt động trong KCN không nhiều, đa phần là các doanh nghiệp nhỏ và và vừa, có diện tích thuê đất
công nghiệp nhỏ, có vốn đầu tư đã thực hiện bình quân thấp khoảng 1,96 triệu USD. Nếu so sánh
với các KCN TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, thì các KCN của TP Cần Thơ có quy mô rất
nhỏ và tỉ lệ lấp đầy bình quân thấp, chiếm 35,62% diện tích đất KCN.
Lĩnh vực thu hút đầu tư: Do không tìm ra được nhà đầu tư công nghiệp nặng nên TP Cần Thơ
chỉ quan tâm mời gọi đầu tư vào các lĩnh vực: chế biến nông sản, thủy hải sản, may mặc, da giày,
chế biến thức ăn chăn nuôi...Trên lý thuyết, khi xây dựng quy hoạch các khu - cụm công nghiệp, các
địa phương đều đặt vấn đề tiêu thụ ổn định nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ. Tuy nhiên, trong ba
mặt hàng nguyên liệu chủ lực của ĐBSCL là lúa gạo, thủy - hải sản, trái cây thì lĩnh vực chế biến
trái cây ít nhận được nguồn vốn đầu tư. Đó là một thiệt thòi cho TP Cần Thơ nói riêng và khu vực
ĐBSCL nói chung. TP Cần Thơ cũng nhận thấy được điều đó nhưng chưa có hướng giải quyết căn
cơ, bởi tình trạng các nhà máy chế biến nông, thủy hải sản mọc lên ngày càng nhiều, trong khi vùng
nguyên liệu manh mún, không có vùng sản xuất hàng hóa lớn cung ứng cho công nghiệp chế biến,
nông dân nặng tâm lý sản xuất nhỏ lẻ…Thêm vào đó, giá bán trái cây tươi quá cao nên không thể
thu hút được công nghiệp chế biến.
Ngoài ra, tỷ lệ đầu tư vào các ngành công nghiệp chế tạo, công nghệ cao công nghiệp sản xuất
hàng xuất khẩu còn thấp, trong khi đầu tư vào lĩnh vực bất động sản quá lớn. Nhu cầu thu hút đầu tư
cho các công trình kết cấu hạ tầng, nhất là đường giao thông, các nhà máy thuỷ điện… là rất lớn
nhưng vẫn còn thiếu vắng các dự án đầu tư vào lĩnh vực này theo hình thức BOT, BT.
TP thiếu quỹ đất công nghiệp cho các nhà đầu tư: Hiện nay, khó khăn lớn nhất ở các KCN này
là vấn đề bồi hoàn, giải tỏa, tái định cư cho dân trong vùng dự án. Chính vì vậy, tình trạng thiếu
“đất sạch” đã và đang làm nản lòng nhà đầu tư khi tìm đến Cần Thơ. Một số KCN còn lại đang trên
đường phát triển. “Đất sạch” tại các KCN là đất đã bồi hoàn, giải tỏa và tiến hành xây dựng hạ tầng
hoàn chỉnh hiện là vấn đề nóng cần sớm giải quyết. Công tác qui hoạch, bồi hoàn, giải tỏa, tái định
cư cho dân trong các vùng dự án thời gian qua chính quyền TP Cần Thơ thực hiện chậm và chưa
đồng bộ. Năm 2006 có ít nhất 10 nhà đầu tư, trong đó có 4 nhà ĐTNN tìm đến TP Cần Thơ để đăng
ký đầu tư, tuy nhiên, do TP thiếu quỹ đất, nên đã để mất nhiều cơ hội. Làm thế nào để có “đất sạch”
cung cấp cho các nhà đầu tư xây dựng công nghiệp là một vấn đề lớn mà TP Cần Thơ cần giải quyết
nhanh để không bị động trước làn sóng đầu tư trong thời gian tới.
Chính sách mời gọi đầu tư còn nhiều bất cập: Tất cả các KCN trong vùng đều là những khu
“đa năng”, cùng kêu gọi đầu tư nhưng lại giống nhau về hình thức và nội dung. Các chương trình
xúc tiến đầu tư còn nhỏ lẻ, chưa thể hiện hết tiềm năng, thế mạnh và nội lực vốn có của
vùng…Công tác quản lý, an ninh trật tự tại các KCN còn nhiều hạn chế.
Việc tuân thủ quy định bảo vệ môi trường nhiều yếu kém: Tại các KCN vẫn chưa xây dựng
được nhà máy xử lý nước thải tập trung, việc kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực này không đạt kết quả.
Nhiều doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoặc đã có hệ thống xử lý nước thải
nhưng hoạt động không thường xuyên đã gây ra ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất của
các doanh nghiệp và đời sống của nhân dân (xem phụ lục 12).
Công tác quản lý, phối hợp giữa các cơ quan ban ngành liên quan chưa chặt chẽ: Sự phối hợp
quản lý giữa các cấp, các ngành có liên quan chưa tốt đã dẫn đến nhiều cuộc đình công, lãn công
của công nhân ở nhiều KCN, nguyên nhân là do môi trường sống, thu nhập, điều kiện làm
việc...Chẳng hạn, 4Tcuộc đình công sáng ngày 11 tháng 8 năm 2005 tại KCN Trà Nóc 1, hàng ngàn
công nhân tại Công ty Kwong Lung Meko (100% vốn nước ngoài, chuyên gia công xuất khẩu quần
áo và lông vũ) đã đình công để phản đối Ban Giám đốc người nước ngoài cho tăng ca liên tục nhưng
lại hạ mức lương khiến đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn (xem phụ lục 13).
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước (1996 - 2010), chính sách thu hút ĐTNN của
Đảng và Nhà nước có nhiều thay đổi theo hướng tích cực nhằm tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư,
công nghệ và khoa học - kỹ thuật nước ngoài đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Cùng với việc không ngừng mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập quốc tế và xúc tiến đầu
tư, thì khuôn khổ pháp lý cũng dần dần được hoàn thiện với việc sửa đổi bổ sung Luật đầu tư qua
các năm đã tạo nên môi trường đầu tư thuận lợi cho các nước đầu tư vốn vào nước ta.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những chính sách thu hút ĐTNN của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt là vận dụng Nghị quyết của Bộ Chính trị, các Quyết định của Chính phủ, TP Cần Thơ đã ban
hành nhiều chính sách, đẩy mạnh hoạt động thu hút ĐTNN như: ban hành chính sách ưu đãi đầu tư,
công tác xúc tiến đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực cũng như xây dựng cơ sở hạ tầng ở các KCN.
Mặc dù còn gặp khó khăn về nhiều mặt, song, hoạt động thu hút ĐTNN vào các KCN tại TP
Cần Thơ cũng đã đạt nhiều thành tựu. Trong giai đoạn 1996 - 2010, TP Cần Thơ thu hút được 23 dự
án nước ngoài đăng ký vào 5 KCN, với tổng số vốn 815,3 triệu USD, bình quân mỗi năm có khoảng
2 dự án đầu tư với số vốn trên 58,2 triệu USD/năm. Tính đến năm 2008, trong 5 KCN có 21 dự án
FDI với tổng vốn đầu tư 663,35 triệu USD, vốn thực hiện 80,96 triệu USD, đạt tỷ trọng 12,21%
tổng vốn đầu tư đăng ký. So với giai đoạn 1986 - 1995, tăng 12 dự án.
Đầu tư vào các KCN tại TP Cần Thơ chủ yếu là hình thức 100% vốn nước ngoài: 15 dự án với
tổng số vốn 56,2 triệu USD chiếm 65,2% (giai đoạn 1986 - 1995: có 2 dự án với tổng số vốn 15,9
triệu USD chiếm 29%), hình thức liên doanh có 8 dự án chiếm 34,8% tổng số dự án.
TP Cần Thơ đã thu hút 11 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư sản xuất. Trong đó, dẫn đầu là Na
Uy, Thái Lan, Pháp, CuBa, Singapore,…Xu hướng ĐTNN vào các KCN Cần Thơ tập trung vào các
ngành công nghiệp chế biến nông - thủy sản, lương thực - thực phẩm, là thế mạnh của địa phương
và ĐBSCL có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu cao: như chế biến, khai thác (thức ăn gia súc, nông - thủy
sản: 15 dự án, chiếm 65,2% và 90% giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn FDI). Đa số các dự án FDI
đều tập trung tại các KCN Trà Nóc 1, thuộc quận Bình Thủy.
Quá trình tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi, tiếp thị ĐTNN và quản lý các dự án đầu tư bước
đầu đã mang lại cho TP Cần Thơ những kết quả quan trọng. Trong quá trình thực hiện, chính quyền
địa phương luôn quan tâm, chỉ đạo và có những chính sách kịp thời hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư.
Tuy nhiên, cho đến nay bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong
thu hút vốn ĐTNN vào các KCN. Nhìn nhận một cách tổng thể trong chiến lược phát triển kinh tế
thì cơ cấu vốn đầu tư theo quốc gia vào các KCN Cần Thơ là chưa cân đối. Trong khi các nước châu
Á chiếm tỷ lệ vốn đầu tư lớn thì các nước châu Âu, châu Mỹ là những nước có tiềm năng về vốn,
công nghệ, trình độ quản lí, thị phần trên thế giới lớn và ổn định thì lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cơ cấu
đầu tư theo ngành nghề, lĩnh vực trong các KCN chủ yếu hình thành chưa tương xứng, chủ yếu là
lĩnh vực chế biến và phần lớn tập trung ở KCN Trà Nóc 1. Các ngành công nghệ cao chậm phát
triển thể hiện qua số lượng các dự án công nghệ cao rất ít trong các KCN. Các dự án có sự gia tăng
cả về số lượng và vốn đầu tư nhưng đều là những dự án nhỏ lẻ. Các KCN tại TP Cần Thơ thu hút
vốn đầu tư và phát triển chưa đồng đều, chưa khai thác hết quỹ đất đã được quy hoạch. Quá trình
tập trung công nghiệp vào địa bàn có cơ sở hạ tầng và vị trí thuận lợi như Bình Thủy và Cái Răng,
đã kéo theo lực lượng lao động tập trung vào các địa bàn này đông dẫn đến hàng loạt vấn đề xã hội
cần phải giải quyết như: tình trạng bất ổn về an ninh trật tự, giao thông, nhà ở, và các tiện ích công
cộng khác. Các công trình hạ tầng kỹ thuật: giao thông, tiện ích công cộng và dịch vụ chưa phát
triển đồng bộ, nhanh chóng xuống cấp. Các công trình cơ sở hạ tầng xã hội như: trường học, trung
tâm đào tạo nghề, trung tâm văn hóa, nhà ở, bệnh viện…phục vụ cho hoạt động của KCN còn thiếu
trầm trọng Đặc biệt, vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở nên nóng bỏng tại các KCN chưa được
quan tâm giải quyết gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và cuộc sống người dân.
KẾT LUẬN
Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa - giáo dục, khoa học - kỹ thuật của ĐBSCL, nền kinh
tế của TP Cần Thơ thời gian qua đã có những bước tiến mang tính đột phá…Cần Thơ đã và đang trở
thành miền đất hứa, điểm dừng chân lý tưởng của đông đảo nhà đầu tư trong và ngoài nước…
1. Những thành tựu và nguyên nhân của thành tựu trong quá trình thu hút vốn ĐTNN
vào các KCN tại TP Cần Thơ giai đoạn 1986 - 2010
Kể từ khi ban hành Luật ĐTNN tại nước ta năm 1987 đến nay, TP Cần Thơ đã cấp Giấy chứng
nhận đầu tư cho hơn 71 dự án ĐTNN đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng vốn đăng ký đạt
312 triệu USD; trong đó 46 dự án còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt trên 163 triệu USD, vốn thực
hiện đạt 99,4 triệu USD. Trong số đó có 33 dự án nước ngoài đầu tư vào các KCN với tổng vốn
đăng ký đầu tư là 854,39 triệu USD. Tỷ trọng vốn ĐTNN chiếm từ 0,77 - 9,61% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội, đóng góp từ 2,08 - 4,72% GDP, giải quyết cho hơn 36 nghìn lao động.
ĐTNN đã góp phần quan trọng phát triển các KCN trên địa bàn TP Cần Thơ. Nhìn chung, hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ĐTNN trong KCN được ổn định, giá trị sản xuất
công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu tăng dần qua các năm, đạt 221 triệu USD vào năm 2008, nâng
doanh thu của các doanh nghiệp trong 5 KCN tại TP Cần Thơ lên 1.885 tỷ USD.
Nhìn chung, qua hơn 20 năm (1986 - 2010) đẩy mạnh thu hút nguồn vốn ĐTNN vào các KCN
phục vụ quá trình CNH - HĐH địa phương, Đảng bộ và nhân dân TP Cần Thơ đã có nhiều nổ lực,
phấn đấu không ngừng và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Những thành tựu đó do nhiều nguyên
nhân:
Nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác
quản lý của Nhà nước, đặc biệt là việc ban hành Luật đầu tư đã tạo ra “sân chơi” tương đối bình
đẳng giữa các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Là sự nổ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân TP
Cần Thơ trong việc vận dụng sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với
tình hình thực tiễn của địa phương.
TP có vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở hạ tầng đương đối hoàn thiện, nguồn tài nguyên thiên nhiên
đa dạng và phong phú, nguồn lao động dồi dào có trình độ ngày càng nâng cao.
Môi trường đầu tư vào TP không ngừng được cải thiện, cơ chế “một cửa”, giúp rút ngắn được
thời gian và chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. TP cũng đã thường xuyên cải tiến
thủ tục hành chính và các dịch vụ công theo hướng công khai, tận tâm, minh bạch.
Công tác vận động xúc tiến đầu tư vào TP ngày càng được chú trọng dưới nhiều hình thức và
bước đầu mang lại hiệu quả. Việc tổ chức Hội chợ thương mại quốc tế hàng năm có tác dụng tạo
mối liên kết với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL và một số nước trên thế giới, qua đó góp phần
quảng bá tiềm năng của TP Cần Thơ ra nước ngoài.
2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong quá trình thu hút vốn ĐTNN vào các
KCN tại TP Cần Thơ giai đoạn 1986 - 2010
Số lượng dự án và vốn đầu tư còn rất khiêm tốn, thấp hơn Long An và Kiên Giang. Phần lớn
các dự án ĐTNN đang hoạt động trong các KCN tại TP Cần Thơ đều có quy mô vừa và nhỏ, thiếu
dự án quy mô lớn, có nhiều dự án còn trong giai đoạn miễn giảm hoặc kinh doanh chưa có lãi nên
nguồn thu ngân sách chưa đạt hiệu quả cao.
Đối tác và địa bàn đầu tư còn hạn hẹp, chưa mời gọi đầu tư từ những tập đoàn lớn, có trình độ
công nghệ cao ở những nước có thế mạnh về nông nghiệp như: Mỹ, Nhật Bản, Canada, Pháp,
Singapore, Australia.
Cơ cấu thu hút đầu tư chưa phù hợp, vốn đầu tư tập trung nhiều cho ngành công nghiệp chế
biến, nhiều dự án ĐTNN vào các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo; công nghệ sinh học và công
nghệ cao khan hiếm. Quá trình triển khai dự án ĐTNN còn chậm, chưa lắp đầy các KCN.
Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư theo quyết định thành lập KCN còn chậm,
gây lãng phí trong sử dụng quỹ đất, từ đó dẫn đến thiếu nguồn “đất sạch” cho các nhà đầu tư.
Thủ tục hành chính trong xây dựng, quản lý các KCN, cấp giấy phép đầu tư mặc dù có nhiều
cải tiến, song vẫn còn chậm, do năng lực cán bộ yếu, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu.
Công tác đảm bảo an ninh trật tự, các tiện ích công cộng đảm bảo cho đời sống công nhân
chưa được đảm bảo. Tình trạng vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp vẫn diễn ra: đối xử thô bạo
với công nhân; trốn thuế. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có liên quan với doanh nghiệp tại các
KCN về chế độ, tiền lương của công nhân chưa sâu sát, dẫn đến nhiều cuộc tranh chấp, đình công
của công nhân diễn ra thường xuyên hơn.
Công tác tuyển dụng lao động còn nhiều hạn chế. Số lượng lao động có tay nghề trong các
KCN còn thấp, phần lớn là lao động phổ thông, số công nhân lành nghề, có trình độ chuyên môn tay
nghề cao còn nhiều hạn chế, do đó, việc chuyển giao công nghệ còn gặp nhiều khó khăn.
Ngoài những những hạn chế đã nêu ở trên, nghiêm trọng nhất phải kể đến đó là vấn đề ô nhiễm
môi trường tại các KCN, dẫn đến nguy cơ một trong số các KCN tại TP có khả năng ngừng hoạt
động.
Cũng chính vì những hạn chế đó, nên các dự án ĐTNN vào các KCN tại TP chưa đủ sức lan
tỏa ra toàn vùng và thực sự chưa tương xứng với vai trò quan trọng trong “Tứ giác động lực” - vùng
kinh tế trọng điểm ĐBSCL. Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân:
Nền kinh tế đất nước có điểm xuất phát thấp, tư duy kinh tế chậm đổi mới, hệ thống pháp luật,
chính sách về thu hút ĐTNN đang trong hoàn thiện. Chiến lược phát triển các KCN trong cả nước
còn nhiều bất hợp lý. Chính những điều đó đã tác động không nhỏ đến hoạt động thu hút ĐTNN vào
các KCN tại TP Cần Thơ nói riêng và cả nước nói chung.
Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư của TP Cần Thơ chưa tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà
ĐTNN. Môi trường đầu tư vào TP Cần thơ nói chung và các KCN nói riêng chưa thật sự thông
thoáng, kém sức cạnh tranh so với các khu vực khác. Cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”, đã có nhiều
tiến bộ, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế nhất định, sự phối hợp giữa các cơ quan chưa thật sự
thông suốt. Ngoài ra, công tác tổ chức xúc tiến đầu tư chưa thật sự năng động, chưa giới thiệu hết
tiềm năng và lợi thế cũng như tính hấp dẫn của các KCN đối với những nhà ĐTNN.
Công tác quy hoạch, xây dựng các KCN còn chậm; cơ sở hạ tầng của TP còn thấp kém, chưa
đồng bộ; chất lượng dịch vụ đi kèm thiếu và yếu thường có chi phí cao.
Nguồn nhân lực chưa được đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, số lao động có tay nghề chưa đáp
ứng nhu cầu doanh nghiệp ĐTNN. Đặc điểm lịch sử hình thành địa chất yếu nên các dự án lớn rất
khó triển khai vì chi phí gia công và xử lý nền móng cao.
3. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình thu hút vốn ĐTNN vào các KCN tại TP
Cần Thơ giai đoạn 1986 - 2010
Đối với Đảng bộ và chính quyền TP Cần Thơ:
Một là, lãnh đạo chính quyền TP cần thống nhất nhận thức và có cách nhìn nhạy bén về kinh
tế, chính trị, nắm bắt thời cơ, thuận lợi, thấy rõ được những khó khăn, thách thức từ bên trong cũng
như bên ngoài để kịp thời đề ra được chủ trương, đường lối đúng đắn, tập trung lực lượng, giải
quyết dứt điểm các vấn đề nảy sinh trong thu hút ĐTNN và hoạt động của các KCN.
Hai là, các chủ trương, phương hướng lớn của Đảng và Nhà nước, Nghị quyết của Đảng bộ TP
phải được nhanh chóng thể chế hóa thành cơ chế, chính sách một cách đồng bộ, tạo nên hành lang
pháp lý cho việc triển khai thực hiện. Cơ chế, chính sách, văn bản liên quan về ĐTNN phải minh
bạch, rõ ràng và phù hợp với hoàn cảnh của địa phương.
Ba là, công tác cán bộ cần luôn được xem trọng để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường
xuyên, liên tục nhằm xây dựng tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại
không những tinh thông nghiệp vụ, am hiểu về kinh tế đối ngoại, mà còn trong sạch về phẩm chất,
đạo đức, vì đây là cầu nối giữa nhà đầu tư với nước chủ nhà.
Bốn là, kết hợp chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sự thống nhất nhận thức và nhất
quán hành động của toàn thể Đảng bộ và nhân dân trong TP trong quá trình quy hoạch, xây dựng
KCN. Công tác quy hoạch và triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng KCN phải đồng bộ gắn liền với các
khu dân cư phục vụ cho công tác tái định cư, người lao động làm việc trong KCN, thành lập trung
tâm dạy nghề. Đồng thời, việc quy hoạch hình thành KCN phải dựa trên lợi thế so sánh của vùng, có
vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, gắn với sự phát triển hệ thống giao thông trong và ngoài
hàng rào KCN, đấu nối các hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, bưu chính viễn thông ...), nguồn lao động
cung cấp cho KCN.
Năm là, 6Tcông tác tiếp thị vận động thu hút đầu tư phải chủ động6T đi trước một bước khi triển
khai xây dựng KCN. Trong hoạt động tiếp thị KCN phải có kế hoạch cụ thể hàng năm, đồng thời,
phải có chính sách tiếp thị linh hoạt.
Sáu là, cải thiện môi trường đầu tư, thực hiện tốt cơ chế “một cửa”, tăng cường công tác cải
cách hành chính; sự quan tâm và thống nhất thực hiện của các sở ban ngành trong tỉnh, nhất là
thường xuyên, kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của nhà đầu tư trong quá trình sản xuất
kinh doanh. Thu hút nguồn vốn ĐTNN nên tập trung tạo những ngành công nghiệp mũi nhọn, thế
mạnh của vùng, đồng thời, phải đảm bảo hợp lý giữa đầu tư trong nước và ĐTNN. Đồng thời, quan
tâm chặt chẽ đến môi trường sinh thái.
Đối với ĐBSCL:
Thứ nhất, là phải điều chỉnh lại quy hoạch KCN - KCX theo hướng lâu dài, ổn định, tránh tình
trạng làm theo phong trào, lẻ tẻ, thiếu tính chiến lược. Việc quy hoạch KCN cần phải gắn kết liền
với lợi thế cạnh tranh từng địa phương và vùng. Quá trình quy hoạch các KCN nên theo hướng
chuyển đổi cơ cấu kinh tế để hình thành những đô thị mới, những đô thị vệ tinh phục vụ cho phát
triển các KCN - KCX. Cũng cần phân bố lại các KCN để có sự phát triển bền vững, hủy các quyết
định thành lập KCN không còn khả năng thực hiện nữa; thành lập mới các KCN phù hợp trên quan
điểm sử dụng những vùng kém về phát triển nông nghiệp, vùng phèn, vùng ngập mặn, khó canh tác
nông nghiệp. Yếu tố quan trọng khác là chú trọng đến cơ cấu của các KCN - KCX, tạo mối quan hệ
liên kết với nhau thành KCN tập trung, cụm công nghiệp, khu dịch vụ... sao cho khắc phục nhược
điểm manh mún, dàn trải.
Thứ hai, việc phát triển các KCN ở ĐBSCL cần sự điều chỉnh, hoạch định mang tính chiến
lược của Chính phủ. Nếu các tỉnh ĐBSCL chưa thể tập trung được các nguồn lực để đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng trong và ngoài hàng rào các KCN, thì không nên quy hoạch, xây mới các KCN.
Quy hoạch nhiều KCN nhưng thiếu vốn để xây dựng hạ tầng sẽ dẫn đến hệ quả tiêu cực về lâu dài.
Thứ ba, các tỉnh ĐBSCL không nên chỉ dựa vào các lợi thế như: giá thuê đất rẻ, lao động, tài
nguyên… để phát triển các KCN, bởi những lợi thế đó chỉ có thể tồn tại nhất thời và trong xu hướng
toàn cầu hóa như hiện nay, những ưu thế đó dễ dàng dịch chuyển từ vùng này sang vùng khác, lãnh
thổ này sang lãnh thổ khác… Điều quan trọng là phải tìm hiểu cặn kẽ thị hiếu, nhu cầu của từng nhà
đầu tư, từng quốc gia, xem họ cần gì và được gì khi đầu tư vào các KCN ở địa phương.
Thứ tư, các tỉnh cần giải quyết linh hoạt và kịp thời chính sách ưu đãi thu hút đầu tư như: điều
chỉnh giá cho thuê đất ở KCN tùy theo mức cần ưu đãi đối với từng vị trí đất và từng dự án; trong
quá trình thu hút đầu tư nếu có dự án nào quan trọng, có khả năng thúc đẩy mạnh mẽ nhịp độ phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực thì chính quyền tỉnh cũng có thể áp dụng mức ưu đãi đặc
biệt hơn...
4. Những đề xuất, giải pháp nhằm tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả vốn ĐTNN
trong thời gian tới
Thứ nhất, cần xây dựng chiến lược quy hoạch KCN và thu hút ĐTNN hợp lý. TP cần tăng
cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế và nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu
tư.
Thứ hai, công tác quy hoạch và đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng đô thị TP và các KCN, nhất
là 3TUcác công trình trọng điểm, kết hợp hài hòa giữa xây dựng kết cấu hạ tầng KCN với khu
đô thị đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển. Mặt khác, U3TTP cần sớm đẩy nhanh
tiến độ giải phóng mặt bằng tạo quỹ “đất sạch” cho các nhà ĐTNN.
Thứ ba, cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng. Chú trọng hơn nữa công tác đào tạo nguồn
nhân lực, quan tâm công tác đào tạo và sử dụng đội ngũ lao động hợp lý.
Thứ tư, t3TUrong hoạt động thu hút đầu tư vào các KCN, TP cần đặc biệt qU3Tuan tâm đến vấn
đề môi trường, nhất là tập trung đầu tư các nhà máy xử lý nước thải, rác thải tập trung tại các KCN.
Thứ năm, cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban ngành và các doanh nghiệp tại KCN.
TP cần quan tâm xây dựng các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN, nhằm góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển; bảo đảm hài hòa lợi ích của doanh
nghiệp, nhà nước và người lao động.
Có thể khẳng định rằng, trong suốt hơn 20 năm đẩy mạnh hoạt động thu hút vốn ĐTNN , TP
Cần Thơ là một trong những địa phương sớm nắm bắt, tận dụng tiềm năng, lợi thế của mình để đón
nhận dòng vốn đầu tư. Tuy còn những hạn chế và khó khăn nhất định, nhưng TP Cần thơ đã luôn
thể hiện những động thái tích cực, sáng tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động
ĐTNN. 6TTrên cơ sở 6Tthành tựu đạt được và những giải pháp trong thu hút ĐTNN, tin tưởng rằng dưới
sự lãnh đạo của Đảng, TP Cần Thơ sẽ có thêm những tiền đề mới trong hoạt động thu hút vốn đầu
tư hiệu quả, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình CNH - HĐH của TP nói riêng và cả nước nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế
Việt Nam”, trong khuôn khổ dự án SIDA: Nâng cao năng lực nghiên cứu chính sách để thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ 2001- 2010, Hà Nội.
2. Lê Xuân Bá (2006), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam”, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.
3. Nguyễn Lương Bằng chủ biên (2002), “1TĐịa chí Cần Thơ”1T, UBND tỉnh Cần Thơ.
4. Ban quản lý KCN - KCX TP Cần Thơ (CEPIZA), “Báo cáo hoạt động năm 2007”.
5. Ban quản lý KCN - KCX TP Cần Thơ (CEPIZA), “Báo cáo hoạt động năm 2008”.
6. Ban quản lý KCN - KCX TP Cần Thơ (CEPIZA), “Báo cáo hoạt động năm 2009”.
7. Ban quản lý KCN - KCX TP Cần Thơ (CEPIZA), “Báo cáo hoạt động năm 2010”.
8. Ban quản lý các KCN - KCX TP Cần Thơ (CEPIZA), “Thông tin đầu tư khu chế xuất, khu công
nghiệp, khu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ.
9. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng, “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010”.
10. Báo Sài Gòn Giải Phóng (01/06/1998), “Thu hút vốn đầu tư trong nước vào các khu công
nghiệp Cần Thơ”.
11. Báo Sài Gòn Giải Phóng (07/11/1998), “Khu công nghiệp Cần Thơ có thêm 8 dự án đầu tư”.
12. Báo Sài Gòn Giải Phóng (22/07/1999), “Các khu công nghiệp Cần Thơ thu hút 126,87 triệu
USD”.
13. Báo Sài Gòn Giải Phóng (20/12/1999), “Tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài”.
14. Báo Sài Gòn Giải Phóng (27/05/2000), “Tạo sự chuyển động mạnh về đầu tư nước ngoài tại
TP”.
15. Báo Sài Gòn Giải Phóng (12/02/2001), “Các khu công nghiệp Cần Thơ: Động lực chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ĐBSCL”.
16. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), “Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 7 năm đầu thế kỷ XXI =
Foreign direct investment in Vietnam 7 years at the beginning of century 21st”, NXB Thống
kê TP Hồ Chí Minh.
17. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2008), “Tổng kết hai mươi năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1988 -
2007).
18. Hồ Ngọc Cẩn (2006), “Tìm hiểu luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn
thi hành”, NXB Lao động - Xã hội.
19. Trần Ngọc Châu chủ biên (2005), “Khu công nghiệp, khu chế xuất - IPs, EPZs in Vietnam”,
NXB trẻ, TP Hồ Chí Minh.
20. Trần Đức Sơn, Đỗ Thị Chính chủ biên (2001) “Địa lý tỉnh Cần Thơ”, Sở Giáo dục và Đào tạo
TP Cần Thơ.
21. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ 1996”, NXB Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
22. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ 1997”, NXB Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
23. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Niên giám thống kê tỉnh Cần Thơ 1998”, NXB Thống kê, TP Hồ
Chí Minh.
24. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ năm 1999”, NXB Thống
kê, TP Hồ Chí Minh
25. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ năm 2000)”, NXB Thống
kê, TP Hồ Chí Minh
26. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ năm 2001)”, NXB Thống
kê, TP Hồ Chí Minh
27. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ năm 2002)”, NXB Thống
kê, TP Hồ Chí Minh
28. Cục thống kê tỉnh Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cần Thơ năm 2003)”, NXB Thống
kê, TP Hồ Chí Minh
29. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2004”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
30. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2005”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
31. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2006”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
32. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2007”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
33. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2008”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
34. Cục thống kê TP Cần Thơ, “Tình hình kinh tế - xã hội TP Cần Thơ năm 2009”, NXB Thống kê,
TP Hồ Chí Minh
35. Mai Ngọc Cường chủ biên (1993), “Các khu chế xuất châu Á Thái Bình Dương và Việt Nam”,
NXB Thống kê, TP Hồ Chí Minh
36. Mai Quốc Cường chủ biên (2000), “Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp
của nước ngoài vào Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Nguyễn Văn Dược chủ biên (2004), “TP Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư: 2004 - 2005”, Sở
Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ.
38. Đặc san báo Cần Thơ (2000), “Cần Thơ 1975 - 2000”.
39. Đặng Ngọc Giàu (2007), “Giải pháp thu hút vốn đầu tư ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai”, Đại học Kinh tế, TP Hồ Chí Minh.
40. Lê Mậu Hãn chủ biên (2003), “Đại cương lịch sử Việt Nam - tập III”, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
41. Đỗ Hữu Hào, “Vai trò của khu công nghiệp, khu chế xuất đối với việc nâng cao trình độ công
nghệ, quản lý doanh nghiệp và hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng”, Tạp chí KCN Việt
Nam, tháng 6/2006.
42. Đỗ Nhất Hoàng (2002), “Sự hình thành và phát triển của luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống
pháp luật Việt Nam”, Trường Đại học Luật, Hà Nội.
43. Tài liệu của Hội nghị toàn quốc lần thứ 9 (khoá IX) của Đảng CS Việt Nam, 2004.
44. Đào Thị Thu Hồng (1999), “Giáo trình Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam đại cương”, Tài liệu lưu
hành nội bộ, Đại học Cần Thơ.
45. Nguyễn Thị Hường chủ biên (2002), “Giáo trình quản trị dự án và doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài - FDI”, Đại học Kinh tế Quốc dân.
46. Đoàn Văn Khái (2005), “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
47. Chiêm Ích Khải (2000), “Thực trạng và một số biện pháp nhằm đẩy mạnh việc thu hút vốn đầu
tư vào các khu công nghiệp tỉnh Cần Thơ”, Đại học Cần Thơ.
48. Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long (2007), “Tài nguyên du lịch”, NXB Giáo Dục, Hà Nội.
49. Vũ Chí Lộc (1997), “Giáo trình đầu tư nước ngoài”, NXB Giáo Dục.
50. Chu Viết Luân chủ biên (2006), “Cần Thơ thế và lực mới trong thế kỉ XXI - CanTho new image
in century XXI”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
51. Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (2007), “Tiến trình lịch sử Việt Nam”, NXB Giáo Dục.
52. Huỳnh Thanh Nhã (2008), “Phát triển khu công nghiệp của TP Cần Thơ đến năm 2020”, Đại
học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
53. Phùng Xuân Nhạ (2008), “Nhìn lại vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối cảnh phát
triển mới của Việt Nam”, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
54. Ngô Quang Phúc (2000), “Đánh giá tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp
Cần Thơ”, Đại học Cần Thơ.
55. Hà Thị Ngọc Oanh (1998), “Liên doanh và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”, NXB Giáo dục.
56. Sở Công nghiệp TP Cần Thơ (1999), “Quy hoạch ngành công nghiệp tỉnh Cần Thơ đến năm
2010”, TP Cần Thơ
57. Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ (2005), “TP Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư: 2005 -
2006”, TP Cần Thơ.
58. Sở Kế Hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ (2006), “TP Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư: 2006 -
2007”, TP Cần Thơ.
59. Sở Kế Hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ (2007), “TP Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư 2007 -
2008”, TP Cần Thơ
60. Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Cần Thơ (2008), “TP Cần Thơ tiềm năng và cơ hội đầu tư”, TP Cần
Thơ.
61. Đỗ Thị Bích Sơn (2005), “Phân tích tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP Cần
Thơ”, Đại học Cần Thơ.
62. Nguyễn Huy Thám (1999), “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các nước ASEAN và
vận dụng vào Việt Nam”, Học viện Chính trị quốc gia TP Hồ Chí Minh.
63. Đặng Văn Thanh (2005), “Tìm hiểu khu công nghiệp Trà Nóc TP Cần Thơ”, Đại học Cần Thơ.
64. Thời báo Kinh tế Việt Nam (19/02/1998), “2.317 dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam”.
65. Thời báo Kinh tế Việt Nam (5/4/2004), “Đòn bẩy - xúc tiến đầu tư nước ngoài : Những giải
pháp tài chính cần thiết”.
66. Thiều Anh Thư (2005), “Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn
TP Cần Thơ”, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.
67. Nguyễn Mạnh Toàn (2010), “Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
một địa phương của Việt Nam”, Tạp chí khoa học và công nghệ Đại học Đà Nẵng - Số
5(40).2010.
68. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ III
(1983 - 1985), TP Cần Thơ.
69. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ IV
(1986 - 1990)”, TP Cần Thơ.
70. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ VIII
(1991 - 1995)”, TP Cần Thơ.
71. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ IX
(1996 - 2000)”, TP Cần Thơ.
72. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ X
(2001 - 2005)”, TP Cần Thơ.
73. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ lần thứ XI
(2005 - 2010)”, TP Cần Thơ.
74. Thành ủy Cần Thơ (2008), “Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Cần Thơ XII (2010 -
2015) ”, TP Cần Thơ.
75. Từ điển bách khoa Việt Nam, Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam
năm 1995.
76. Uỷ ban nhân dân TP Cần Thơ (1995), “Cần Thơ 20 năm xây dựng và phát triển : 1975 - 1995”,
NXB Thống kê TP Hồ Chí Minh.
77. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2000), “Cần Thơ các dự án gọi vốn đầu tư nước ngoài”.
78. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2000), “Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Cần thơ thời kỳ
đến năm 2010”, Báo cáo tóm tắt đã được phê duyệt theo Quyết định số 62/2000/QĐ - TTg
ngày 06/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ.
79. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2003), “Số liệu kinh tế xã hội TP Cần Thơ & tỉnh Hậu Giang
2000 - 2003”, NXB Thống kê TP Hồ Chí Minh
80. Uỷ ban nhân dân TP Cần Thơ (2005), “30 năm xây dựng và phát triển TP Cần Thơ (1975 -
2005)”, NXB Thống kê TP Hồ Chí Minh.
81. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2006), “Quy hoạch các dự án ưu tiên gọi vốn ODA Tp. Cần Thơ
- The master plan of priority projects calling ODA in Can Tho city, period 2006 - 2010:
Thời kỳ 2006 - 2010”, Trung tâm xúc tiến đầu tư.
82. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2007), “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP Cần
Thơ thời kỳ 2006 - 2020”, Ban hành theo Quyết định số 21/2007/QĐ - TTg ngày
08/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
83. Ủy ban nhân dân TP Cần Thơ (2010), “Chỉ thị về việc tăng cường, nâng cao chất lượng hoạt
động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch”.
84. Trần Thị Hải Yến (2007), “Hỏi đáp về Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật đấu thầu - có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/04/2006 và 01/07/2006”, TP Hồ Chí Minh.
85. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996 - 2000), NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
86. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng, 1996.
87. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, 2001
88. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, .
89. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
90. http://www.canthoepiza.gov.vn (Các KCX và công nghiệp Cần Thơ)
91. http://cantho.gov.vn (Cổng thông tin điện tử TP Cần Thơ)
92. http://www.mekongdelta.com.vn (Diễn đàn ĐBSCL)
93. http://www.khucongnghiep.com.vn (KCN Việt Nam)
94. http://fia.mpi.gov.vn (Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Cục Đầu tư nước ngoài)
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
PHỤ LỤC 2
BẢN ĐỒ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ (TÍNH ĐẾN NĂM
2010)
PHỤ LỤC 3
MỘT GÓC KHU CÔNG NGHIỆP TRÀ NÓC 1
PHỤ LỤC 4
MỘT GÓC KHU CÔNG NGHIỆP HƯNG PHÚ 1
PHỤ LỤC 5
DANH MỤC CÁC DỰ ÁN KÊU GỌI ĐẦU TƯ NĂM 2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN
NĂM 2020
Ước tính
vốn đầu
Hình
tư
Chủ
Địa điểm
Qui mô, diện tích
thức đầu
STT Tên dự án
(Triệu
đầu tư
tư
USD)
Ban
Tiếp giáp với
- Xây dựng hoàn chỉnh hạ
100% vốn
164
1 KCN Thốt
quản lý
quốc lộ 91 đi An
tầng KCN Thốt Nốt giai
trong
Nốt giai
các
Giang và
đoạn II (bao gồm giải
nước hoặc
đoạn II -
KCN -
Campuchia và
phóng mặt bằng );
100% vốn
phân kỳ 1.
KCX
quốc lộ 80 đi
- Diện tích : 400 ha
nước
ngoài
Cần Thơ
Kiên Giang
(Huyện Thốt Nốt)
Ban
- Phường Phước
Xây dựng cơ sở hạ tầng
100% vốn
130
2 KCN Ô
quản ý
Thới, quận Ô
KCN Ô môn (bao gồm
trong
Môn
các
Môn.
giải phóng mặt bằng);
nước hoặc
- Diện tích đất khoảng:
100% vốn
KCN -
317 ha.
nước
KCX
ngoài.
Cần Thơ
Ban
Tại phường Thới
- Xây dựng cơ sở hạ tầng
100% vốn
164
3 KCN Bắc
quản ý
An và Thới Long,
KCN Bắc Ô môn (bao
trong
Ô Môn
các
quận Ô Môn.
gồm giải phóng mặt
nước hoặc
bằng);
100% vốn
KCN -
nước
KCX
- Diện tích : 400 ha
ngoài.
Cần Thơ
UBND
- Phường Thới An
-Diện tích đất sử dụng:
100% vốn
9,905
4 Khu tiểu
trong
Đông, quận Bình
62 ha
quận
thủ công
nước hoặc
Thủy.
Bình
nghiệp ,
100% vốn
Thủy
khu dân cư
nước
và nhà ở
ngoài.
công nhân
quận Bình
Thủy, TP.
Cần Thơ
5
UBND
Khu vực 5,
Diện tích : 40 ha
100% vốn
13,578
Cụm công
quận Cái
phường Ba Láng,
trong
nghiệp -
Răng
quận Cái Răng.
nước hoặc
tiểu thủ
100% vốn
công
nước
nghiệp
ngoài.
quận Cái
Răng
6
Sở Công
KCN Ô Môn
Sản xuất động cơ Diesel
100% vốn
30
Nhà máy
Thương
từ 5 mã lực đến 30 mã
trong
sản xuất
lực. Sản lượng 100 nghìn
nước hoặc
động cơ nổ
động cơ/năm và sản xuất
100% vốn
và lắp ráp
máy nông nghiệp với sản
nước
máy nông
lượng 500 - 600
ngoài.
nghiệp
máy/năm.
7
Sở Công
KCN Hưng Phú
- Sản xuất dây cáp điện
100% vốn
10
Nhà máy
Thương
có bọc vỏ đơn và đôi,
trong
sản xuất
cáp điện hạ thế.
nước hoặc
thiết bị
100% vốn
- Các trang thiết bị gia
điện và dây
nước
dụng : 6 triệu sản
cáp điện
ngoài.
phẩm/năm.
8
Sở Công
KCN Thốt Nốt
- Diện tích đất khoảng 10
100% vốn
15
Xây dựng
Thương
- 15 ha
trong
Nhà máy
- Sản lượng đóng gói:
nước hoặc
đóng gói và
100 nghìn tấn/năm cây.
100% vốn
chế biến
- Sản lượng chế biến: 300
nước
cây ăn trái
nghìn tấn/năm.
ngoài
xuất khẩu
cấp khu
vực
ĐBSCL
9
Sở Giao
- Gói thầu số 1:
- Tổng chiều dài toàn
BOT, BT,
537,8
Đường nối
thông
+ Điểm đầu: nút
tuyến khoảng 30,12 km.
BTO.
quốc lộ 91 -
vận tải
giao với QL91,
- Quy mô: gồm 8 làn xe.
đường Nam
ĐT 922 tại quận
sông Hậu
Ô Môn.
+ Điểm cuối: nút
giao với đường
nối thị xã Vị
Thanh - tỉnh Hậu
Giang với TP.Cần
Thơ tại quận Cái
Răng.
- Gói thầu số 2:
+ Điểm đầu: nút
giao với QL1A và
đường dẫn lên
cầu Cần Thơ tại
quận Cái Răng.
+ Điểm cuối: nút
giao với đường
Nam sông Hậu tại
quận Cái Răng.
10
Công ty
- Khu dân cư
- Khu dân cư Hưng Phú:
Liên
279,45
Khu nhà ở,
Phát
Hưng Phú I thuộc
Diện tích khu nhà ở, văn
doanh với
văn phòng,
triển và
phường Hưng
đối tác
thương mại
phòng, thương mại là 2.
Kinh
Phú, quận Cái
69.102 mP
PKhu đa chức
Việt Nam
-dịch vụ
doanh
Răng.
2 năng: 14.581 mP
(Công ty
196,29
P.
nhà
- Khu tái định cư
- Khu tái định cư Phú An:
Phát triển
Phú An thuộc
Diện tích khu nhà ở, văn
và Kinh
phường Phú Thứ,
doanh
quận Cái Răng.
phòng, thương mại dịch 2 vụ: 53.533mP
nhà).
P. Khu đa 2 chức năng: 19.780 mP P. P
UBND
Phường Tân
Diện tích : 30,5 ha
100% vốn
7,42
11 Khu tái
quận
Hưng, quận Thốt
trong
định cư
Thốt
Nốt.
nước hoặc
phường
Nốt.
100% vốn
Tân Hưng.
nước
ngoài
Công ty
Phường Tân Phú,
- Diện tích đất sử dụng: 5
Đầu tư
17,13
12 Nhà máy
TNHH
quận Cái Răng.
ha
theo hình
xử lý nước
cấp
- Công suất: 20 nghìn
thức BOT.
thải 1B Cái
thoát
3 mP
P/ngày đêm.
Sâu
nước
Cần Thơ
Công ty
Phường Long
- Diện tích đất sử dụng: 5
Đầu tư
17,13
13 Nhà máy
TNHH
Tuyền, quận Bình
ha
theo hình
xử lý nước
- Công suất: 20 nghìn
cấp
Thủy.
thức BOT.
thải Long
3 mP
P/ngày đêm
thoát
Tuyền
nước
Cần Thơ
Tổng
1591,703
(Nguồn: Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ).
PHỤ LỤC 6
CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ VÀO THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NĂM 2010
I. GIÁ CHO THUÊ ĐẤT VÀ MIỄN, GIẢM TIỀN THUÊ ĐẤT
1. Giá cho thuê đất tại các khu công nghiệp tập trung
1.1. Giá cho thuê lại đất công nghiệp trong khu công nghiệp Trà Nóc 2 là:
2 - Phí sử dụng hạ tầng : 0,2 USD/mP
P/năm, trả hàng năm.
2 - Ðơn giá cho thuê lại đất : 0,98 USD/mP
P/năm, trả hàng năm.
Nhà đầu tư có thể trả tiền cho thuê lại đất 1 lần cho nhiều năm theo đơn giá như sau:
2 - Trả 1 lần 5 năm: 0,90 USD/mP
P.
P; 2 - Trả 1 lần 10 năm: 0,78 USD/mP 2 - Trả 1 lần 15 năm: 0,68 USD/mP
P.
2 - Trả 1 lần 20 năm: 0,59 USD/mP
P.
1.2. Giá cho thuê đất tại trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp Thốt Nốt 2 - Phí sử dụng hạ tầng : 0,1 USD/mP
P/năm, trả hàng năm.
- Ðơn giá cho thuê lại đất:
2 + Trả hàng năm: 0,70 USD/mP
P/năm.
2 + Trả 1 lần 5 năm: 0,60 USD/mP
P.
P.
P. 2 + Trả 1 lần 10 năm: 0,55 USD/mP 2 + Trả 1 lần 15 năm: 0,50 USD/mP 2 + Trả 1 lần 20 năm: 0,40 USD/mP
P.
2. Miễn tiền thuê đất thô ngoài khu công nghiệp
Miễn tiền thuê đất thô trong các trường hợp sau:
- Dự án đầu tư xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT), dự án xây dựng chuyển giao (BT).
- Dự án sử dụng đất xây dựng công trình công cộng có mục đích kinh doanh thuộc lĩnh vực
giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao.
- Trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng tối
đa không quá 24 tháng (2 năm) kể từ ngày có quyết định cho thuê đất có hiệu lực hoặc được bàn
giao.
Quy định này chỉ áp dụng cho các dự án sau thời gian 3 năm kể từ ngày xây dựng cơ bản
hoàn thành đi vào hoạt động, nằm trong danh mục được hưởng ưu đãi đầu tư.
II. CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
1. Hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng
a. Ðối với các dự án đầu tư trong các KCN và các trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp quận, huyện, thì các đơn vị chuyên ngành tại TP Cần Thơ chịu trách nhiệm đầu tư xây
dựng các công trình về cấp điện, cấp nước, bưu chính viễn thông đến chân hàng rào của doanh
nghiệp.
b. Ðối với dự án đầu tư ngoài KCN và ngoài các trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp quận, huyện, có địa điểm phù hợp với quy hoạch của TP, các đơn vị chuyên ngành tại TP
Cần Thơ chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng các công trình về cấp điện, cấp nước, giao thông, bưu
chính viễn thông đến chân hàng rào của doanh nghiệp. Riêng đối với các dự án đầu tư tại các cồn
trên sông Hậu, tùy theo vị trí của từng cồn, các đơn vị chuyên ngành sẽ triển khai thực hiện phù
hợp với thực tế.
c. Ðối với các dự án đầu tư xây dựng khu du lịch, tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án,
UBND TP Cần Thơ sẽ xem xét để quyết định tỷ lệ hỗ trợ đầu tư từ ngân sách TP cho xây dựng cơ
sở hạ tầng kỹ thuật của dự án.
2. Hỗ trợ đào tạo nghề
Ðối với dự án mới được thành lập trên địa bàn TP Cần Thơ, thu hút nhiều lao động cần có tay nghề kỹ
thuật qua đào tạo nghề. Chủ đầu tư có phương án tuyển dụng và đào tạo nghề cho lao động có hộ khẩu
thường trú tại TP Cần Thơ, chủ đầu tư đăng ký phương án tuyển dụng và đào tạo nghề tại Sở Lao động và
Thương binh Xã hội TP Cần Thơ. Sở Lao động và Thương binh Xã hội TP Cần Thơ có trách nhiệm phối
hợp với các trường hoặc cơ sở đào tạo nghề của TP. Cần Thơ để đề xuất ngân sách TP hỗ trợ kinh phí đào
tạo cho các trường hoặc cơ sở đào tạo nghề nhằm giảm học phí cho từng dự án và trình UBND TP xem xét
quyết định. Các mức được xem xét giảm học phí đào tạo nghề như sau:
a. Dự án có số lao động được đào tạo từ 200 người đến 300 người thì được giảm 30% học
phí.
b. Dự án có số lao động được đào tạo từ 301 người đến 500 người thì được giảm 40% học
phí.
c. Dự án có số lao động được đào tạo trên 500 người thì được giảm 50%học phí.
3. Hỗ trợ giảm chi phí quảng cáo
Chi phí quảng cáo trên báo Cần Thơ và đài phát thanh truyền hình TP Cần Thơ để tiếp thị sản
phẩm mới của các dự án được đầu tư trên địa bàn TP Cần Thơ, như sau:
- Kể từ khi dự án chính thức đi vào hoạt động, năm đầu tiên quảng cáo được giảm 30% chi
phí quảng cáo.
- Trong 3 năm tiếp theo, được giảm 20% chi phí quảng cáo.
(Nguồn: Cổng thông tin điện tử TP. Cần Thơ).
- Số lần quảng cáo không quá 3 lần trong tuần.
PHỤ LỤC 7
CÔNG TY CARGILL TIẾN HÀNH XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT TẠI KCN
TRÀ NÓC 1
PHỤ LỤC 8
MÔ HÌNH KHU NHÀ XƯỞNG HIỆN ĐẠI ĐẦU TIÊN DỰ KIẾN ĐƯỢC XÂY DỰNG
TẠI KHU CÔNG NGHIỆP HƯNG PHÚ 1
PHỤ LỤC 9
CÔNG NHÂN ĐANG LÀM VIỆC TẠI NHÀ MÁY SẢN XUẤT Ô TÔ HUYNDAI -
KHU CÔNG NGHIỆP TRÀ NÓC 1 CẦN THƠ
PHỤ LỤC 10
CÔNG NHÂN ĐANG LÀM VIỆC TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN MAY MEKO
PHỤ LỤC 11
KHU ĐÔ THỊ MỚI HƯNG PHÚ
PHỤ LỤC 12
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TẠI KHU CÔNG NGHIỆP TRÀ NÓC 1&2
Hình 1. Cống nước thải của KCN Trà Nóc 1 & 2 đổ trực tiếp ra 2 bên bờ sông.
Hình 2. Nước thải từ KCN Trà Nóc 1&2 xả thẳng ra kênh rạch.
PHỤ LỤC 13
CÔNG NHÂN ĐÌNH CÔNG ĐÒI TĂNG CHẾ ĐỘ Ở CÔNG TY KWONG LUNG
MEKO (KCN TRÀ NÓC 1)
1T
PHỤ LỤC 14
1TQUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ CẦN THƠ ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỊNH
HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
6T1. Giai đoạn 2011 - 2015:6T xây dựng thêm 2 KCN và mở rộng các KCN ở giai đoạn trước, dự kiến số lượng
và quy mô diện tích như sau:
- Xây dựng mới:
+ KCN Nông trường Sông Hậu: quy hoạch một phần đất 4.000 ha chuyển sang đất công nghiệp.
+ KCN Nông trường Cờ Đỏ: quy hoạch một phần đất 1.000 ha đất chuyển sang đất công nghiệp.
- Mở rộng thêm:
+ KCN Ô Môn: 300 ha;
+ KCN Thốt Nốt: 500 ha;
+ Khu công nghệ cao: 100 ha;
Tại các quận, huyện sẽ hình thành các cụm công nghiệp như sau : Ô Môn (25 ha), Cái Răng (25 ha), Bình
Thủy (30 ha), Cờ Đỏ (20 ha), Vĩnh Thạnh (10 ha) và Phong Điền (10 ha).
6T2. Giai đoạn 2016 - 20206T6T:6T Sau khi khu công nghệ cao được lắp đầy thì mở rộng thêm khu công nghệ cao
với diện tích 500 ha. Tổng hợp toàn bộ vốn đầu tư mở rộng và xây dựng mới các khu, cụm công nghiệp TP
Cần Thơ:
Giai đoạn
2011
2015
2020
Vốn đầu tư (tỷ đồng)
7.800
30.680
2.600
6T3. Nhu cầu đầu tư vốn phát triển công nghiệp
Để đạt những mục tiêu của ngành công nghiệp, tổng vốn đầu tư giai đoạn 20011 - 2020 được chia ra:
- Giai đoạn 2011 - 2015: 78.298,0 tỷ đồng;
- Giai đoạn 2016 - 2020: 70.064,0 tỷ đồng;
Trung ương sẽ đầu tư khoảng trên 40.000 tỷ đồng chủ yếu vào các dự án về sản xuất, phân phối điện - nước;
chiếm trên 23,42% tổng vốn đầu tư cả giai đoạn 2011 - 2020.
(Nguồn: Ban quản lý KCN - KCX Cần Thơ)

