intTypePromotion=1

Luận văn:Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:17

0
96
lượt xem
36
download

Luận văn:Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngay từ đầu những năm 1940, mối quan hệ hữu cơ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế đã được Harrod-Domar chứng minh. Quan hệ này được biểu diễn bằng phương trình: ICOR= Error! Trong đó: ICOR : Hệ số đầu tư. I : Tổng vốn đầu tư xã hội. GDP : Mức tăng tổng sản phẩm quốc dân. Đối với các nước đang phát triển, do nguồn thu từ xuất khẩu và dịch vụ còn hạn chế, mức tích luỹ còn thấp nên vai trò của nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài đối với tăng...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn:Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

  1. Tiểu luận Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 1
  2. LỜI MỞ ĐẦU N gay từ đầu những năm 1940, mối quan hệ hữu cơ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế đã đ ược Harrod-Domar chứng minh. Quan hệ này được biểu diễn bằng phương trình: ICOR= Error! Trong đó: ICOR : Hệ số đầu tư. : Tổng vốn đầu tư xã hội. I GDP : Mức tăng tổng sản phẩm quốc dân. Đối với các nước đang phát triển, do nguồn thu từ xuất khẩu và dịch vụ còn hạn chế, mức tích luỹ còn thấp nên vai trò của nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của các nước này là rất lớn. Nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài chủ yếu bao gồm viện trợ (ODA), vay nợ và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, trong số các nguồn vốn nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có nhiều ưu điểm lớn và thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số vốn nước ngoài mà các nước nhận được và cũng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tư xã hội ở nhiều nước. Tại V iệt Nam, ngay sau khi Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa, Quốc hội đ ã thông qua Luật Đầu tư nước ngo ài (ngày 29/12/1987) và từ đó đến nay, Luật này đã được bổ sung và sửa đổi ba lần để trở nên phù hợp và hấp dẫn hơn. Nhờ đó, lượng vốn FDI vào Việt Nam đã liên tục tăng và đóng góp ngày càng nhiều vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn một số hạn chế cũng như còn gặp phải nhiều vướng mắc, đòi hỏi các nhà quản lý phải thực hiện những biện pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng nguồn vốn quan trọng này. Với mục đích tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tế về tác động của vốn FDI đối với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam, em đã chọn đề tài “Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”. K ết cấu của bài viết bao gồm 3 phần sau: Phần I: Lý luận chung về vai trò của vốn FDI trong việc thúc đẩy - tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà. Phần II: V ai trò của nguồn vốn FDI đối với công cuộc phát triển kinh - tế của Việt Nam trong những năm gần đây. Phần III: Một số giải pháp Việt Nam cần thực hiện nhằm tăng cường - khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. 2
  3. Phần I: Lý luận chung về vai trò của vốn FDI trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà. Đ ầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư. 1 Hoạt động FDI có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của cả nước đi đầu tư và nước nhận vốn đầu tư. Tuy nhiên, bài viết này chỉ tập trung phân tích vai trò của vốn FDI đối với tăng trưởng kinh tế của các nước được nhận vốn đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển. 1. Vai trò của vốn FDI đối với cán cân thương mại và thanh toán qu ốc tế. N hiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, thường xuyên gặp phải tình trạng nhập siêu trong khi nguồn vốn tích luỹ trong nước còn thấp. Do đó, để cân bằng cán cân thương mại và thanh toán vĩ mô, các nước đều rất cần tới nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài, đ ặc biệt là nguồn vốn FDI. Đồng thời, vốn FDI còn là nguồn bổ sung tiết kiệm quan trọng của nước chủ nhà thông qua việc trực tiếp tạo thu nhập cao cho người lao động trong các dự án và giúp họ để dành tiền tiết kiệm, thông qua tái đầu tư một phần thu nhập của các nhà đầu tư nước ngoài, nộp các loại thuế và bằng con đường gián tiếp như thúc đẩy tăng trưởng đầu tư nội địa, khuyến khích tiết kiệm của công chúng (lập các quỹ bảo hiểm, hưu trí…) Ngoài ra, vốn FDI còn tác động tích cực tới thị trường vốn của nước chủ nhà thông qua việc thúc đẩy phát triển thị trường vốn. Tuy có vai trò quan trọng như vậy đối với cán cân thương m ại và thanh toán quốc tế, nhưng vốn FDI nếu không được quản lý và sử dụng hợp lý cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực như làm x ấu thêm cán cân thương mại và thanh toán quốc tế nếu các nhà đầu tư chủ yếu phải nhập công nghệ, nguyên vật liệu từ bên ngoài và sản phẩm của họ lại hướng vào thị trường nội địa. Vốn FDI cũng có thể tác động tiêu cực tới thị trường vốn của nước chủ nhà nếu có các hoạt động đầu cơ tiền tệ… 2. Vai trò của vốn FDI trong chuyển giao và phát triển công nghệ. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng cô ng nghệ của nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện thông qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà. 1 Võ Thanh Thu, Kỹ thuật đầu tư trực tiếp nước ngoài, NXB Th ống Kê 2004, trang 32. 3
  4. Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thông qua ba hình thức: Chuyển giao trong nội bộ TNCs, chuyển giao giữa doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp bản xứ hoạt động trong cùng ngành và chuyển giao hàng dọc giữa các doanh nghiệp. Bên cạnh việc chuyển giao các công nghệ sẵn có, thông qua hoạt động FDI, các TNCs còn góp phần tích cực đối với việc tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà. Nhu cầu cải tiến và phát triển công nghệ của các doanh nghiệp có vốn FDI tạo ra nhiều mối liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu ứng dụng công nghệ trong nước, nhờ đó tăng cường năng lực phát triển công nghệ tại địa phương. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài tại các doanh nghiệp có vốn FDI, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước dần học được cách thiết kế, chế tạo… công nghệ mới, công nghệ nguồn và sau đó cải biến chúng cho phù hợp với điều kiện sử dụng tại nước mình và biến chúng thành những công nghệ của mình. Tuy nhiên, nhìn chung các TNCs rất hạn chế trong việc chuyển giao cũng như hỗ trợ nghiên cứu và phát triển những công nghệ mới, có tính cạnh tranh cao cho nước nhận đầu tư vì sợ lộ bí mật hoặc mất bản quyền công nghệ. Ngo ài ra, thực tế cho thấy những nước nhận vốn FDI cũng phải đối mặt với những tác động không tốt của việc chuyển giao công nghệ như nhận phải những công nghệ cũ, thải loại, không phù hợp, gây ô nhiễm môi trường hoặc mua với giá quá cao so với giá thực tế… 3. Vai trò của vốn FDI trong việc phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm. Hoạt động FDI cũng góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm cho người lao động bản xứ, do đó có những ảnh hưởng quan trọng tới các hoạt động sản xuất, các vấn đề xã hội và mức độ tiêu dùng của dân cư địa phương, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước nhận vốn đầu tư. Trước hết, hoạt động FDI có vai trò đ áng kể đối với việc tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng thông qua đầu tư vào các ngành y tế, dược phẩm, nông nghiệp, công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm. Ngoài ra, thông qua các khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp dạy nghề, hoạt động FDI còn góp phần quan trọng đối với sự phát triển giáo dục của nước chủ nhà trong các lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề và nâng cao năng lực quản lý. Mặt khác, hoạt động FDI còn giúp tạo việc làm cho lao động của nước chủ nhà thông qua việc trực tiếp thuê người lao động làm việc cho các doanh nghiệp có vốn FDI hoặc gián tiếp tạo việc làm tại các cơ sở hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các doanh nghiệp có vốn FDI. 4
  5. Nhưng không chỉ có những tác động tích cực như đã nêu trên, hoạt động FDI cũng có thể gây ra các tác động tiêu cực tới sức khoẻ con người do các hoạt động sản xuất và quản cáo rượu, bia, thuốc lá… và gây ra ô nhiễm môi trường khi sản xuất. Ngoài ra, các doanh nghiệp có vốn FDI cũng có thể làm nẩy sinh một số vấn đề cho nước chủ nhà như hiện tượng “chảy máu chất xám”, gia tăng bất bình đẳng về thu nhập, xúc phạm nhân phẩm người lao động và khai thác cạn kiệt sức lao động của người làm thuê… 4. Những vai trò khác của vốn FDI trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà. Bên cạnh những vai trò hết sức quan trọng như đã đề cập ở các phần trước, vốn FDI còn có một số vai trò khác rất đáng kể trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước chủ nhà. N hư chúng ta đ ã biết, hoạt động FDI ngày càng được cả những nước chủ nhà và các nhà đầu tư định hướng tăng cường xuất khẩu và nhờ đó, hoạt động này đã từng bước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu của nước chủ nhà. Nhờ có đẩy mạnh xuất khẩu, những lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất ở nước chủ nhà được khai thác có hiệu quả, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế theo quy mô và đ ẩy mạnh chuyên môn hoá sản xuất. Ngoài ra, thông qua hoạt động nhập khẩu, các doanh nghiệp có vốn FDI cũng góp phần bổ sung các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, đặc biệt là việc nhập khẩu máy móc, thiết bị hiện đại, góp phần nâng cao năng suất lao động và tính cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước. Mặt khác, hoạt động FDI còn gián tiếp đẩy mạnh xuất nhập khẩu thông qua các tác động ngoại ứng như thúc đ ẩy thông tin, cung cấp dịch vụ, liên kết sản xuất, tăng cường kiến thức marketing cho các doanh nghiệp nội địa và lôi kéo họ vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Một số vai trò khác của vốn FDI cũng rất đáng lưu ý là việc các doanh nghiệp có vốn FDI góp phần thúc đẩy liên kết giữa các ngành công nghiệp do các doanh nghiệp này thực hiện trao đổi tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu và các dịch vụ đối với các công ty nội địa. Ngoài ra, vốn FDI cũng có vai trò quan trọng đối với nước chủ nhà nhờ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế và cải thiện môi trường cạnh tranh… 5
  6. Phần II: Vai trò của nguồn vốn FDI đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây. Là một nước đang phát triển có tỷ lệ tích luỹ trong nước còn thấp (năm 2001 là 33,75%), trong khi khả năng huy động vốn trong nước của Việt Nam chỉ có thể đạt tối đa 60-70%, do vậy để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đ ất nước, Việt Nam rất cần phải huy động các nguồn vốn từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cho tới nay, nguồn vốn FDI đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam. 1. Những thành tựu mà nguồn vốn FDI đem lại. 1.1. Vốn FDI góp phần bổ sung nguồn vốn cho nhiệm vụ phát triển kinh tế. Tính tới ngày 22/2/2005, Chính phủ Việt Nam đã cấp phép cho 5.217 dự án đầu tư nước ngoài (chỉ tính các dự án còn hiệu lực) với tổng số vốn thực hiện là 25,872 tỷ USD. Nguồn vốn đầu tư này đã tạo ra nguồn lục mạnh mẽ cho nền kinh tế. Các dự án đầu tư nước ngoài hiện chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trên 35% giá trị công nghiệp, trên 13% GDP của cả nước. Trong rất nhiều ngành quan trọng, các dự án có vốn FDI hiện chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản lượng của toàn ngành. Cụ thể là các dự án đầu tư nước ngoài chiếm 100% các dự án khai thác dầu thô, sản xuất và lắp ráp ô tô, sản xuất máy giặt, tủ lạnh, máy điều hoà nhiệt độ, thiết bị văn phòng, máy tính; các dự án có vốn FDI chiếm 60% sản lượng thép cán, 55% sản xuất sợi các loại phục vụ cho ngành công nghiệp dệt may, 49% sản lượng sản xuất da và giày dép, 76% dụng cụ y tế chính xác, 33% về sản xuất máy móc thiết bị điện, 28% tổng sản lượng xi măng, 25% về thực phẩm và đ ồ uống 2… Bảng 1: Tỷ trọng của khu vực có vốn FDI trong GDP của Việt Nam. 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 Lượng vốn 4,07 6,61 8,66 4,51 4,06 1,58 2,0 2,6 1,.62 2,9 4,1 (tỷ USD) Tỷ trọng (%) 6,1 6,3 7,7 9,1 10,0 12,2 13,2 13,5 13,8 14,3 14,5 Nguồn: www.mpi.gov.vn và www.vneconomy.com.vn Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 262 – Tháng 3/2000 trang 7. N hờ vậy, trong những năm qua, khu vực có vốn FDI đ ã đóng góp ngày càng quan trọng vào ngân sách của Việt Nam. Trong giai đoạn 1996-2000, thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngo ài chiếm 6 -7% nguồn thu ngân sách quốc gia (nếu kể cả ngành dầu khí thì chiếm gần 20% thu ngân sách). Riêng năm 2004, trừ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu, nộp ngân sách của khu vực có vốn đầu tư nước ngo ài đạt 800 triệu USD. Với nguồn vốn bổ sung quan trọng 2 Vó Thanh Thu, Quan hệ Kinh tế Quốc tế, NXB Thống Kê, 2005 trang 471. 6
  7. này, Nhà nước đã chủ động hơn trong việc bố trí cơ cấu đầu tư góp phần khai thác hiệu quả các nguồn lực trong nước theo tinh thần kết hợp giữa nội lực và ngoaị lực để tạo sức mạnh tổng hợp cho công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. 1.2. Vai trò của vốn FDI đối với cán cân thương m ại và thanh toán quốc tế của Việt Nam. Trong thời gian qua, việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài hướng về xuất khẩu đã tạo thuận lợi cho việc tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu của Việt Nam và qua đó giúp nước ta cải thiện đáng kể cán cân thương m ại và cán cân thanh toán. N hững năm gần đây. kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn FDI đạt giá trị ngày càng cao. Nếu không kể dầu khí thì kim ngạch xuất khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài thời kỳ 1991-1995 đ ạt trên 1,12 tỷ USD, thời kỳ 1996 -2000 đ ạt trên 10,6 tỷ USD (tăng hơn 8 lần), trong ba năm 2001-2003, xuất khẩu của khu vực có vốn FDI đạt 14,6 tỷ. Xuất khẩu của khu vực có vốn FDI cũng có tốc độ tăng cao, b ình quân trên 20%/năm đã làm cho tỷ trọng của khu vực kinh tế này trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước tăng liên tục qua các năm: năm 2001 là 24,4%, năm 2002 là 27,5% và năm 2003 là 31,4% (không kể dầu thô). Năm 2004, hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực có vốn FDI đều đã thu được những thành tựu nổi bật: Xuất khẩu (không kể dầu thô) đạt 8,6 tỷ USD, tăng 35,6% so với năm 2003. Nếu tính cả dầu thô, xuất khẩu của khu vực có vốn FDI trong năm 2004 đạt khoảng 14,267 tỷ USD, tăng 35,6% so với năm 2003 và chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bước sang năm 2005, khu vực có vốn FDI vẫn tiếp tục thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu. Chỉ riêng 2 tháng đầu năm 2005, các doanh nghiệp có vốn FDI (không kể dầu thô) đã xuất khẩu ước đạt 1,384 tỷ USD, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 34% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bảng 2: Xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) (Đơn vị: triệu USD) 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2T 2005 Xuất khẩu 352 336 788 1.790 1.982 2.547 3.300 3.670 4.500 6.340 8.600 1.384 XK so với 34,3 16,3 28,7 46,9 50,7 55,4 53,5 48,1 50,0 50,37 54,87 34,0 doanh thu (%) Nguồn: www.mpi.gov.vn và www.vneconomy.com.vn N goài ra, tỷ trọng xuất khẩu so với doanh thu của các các doanh nghiệp có vốn FDI cũng tăng nhanh: bình quân thời kỳ 1991-1995 đạt 30%, thời kỳ 7
  8. 1996 -2000 đạt 48,7% và trong ba năm 2001-2003 đạt trên 50%. Bên cạnh đó, trong nhiều ngành quan trọng, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước như 100% giá trị xuất khẩu dầu thô, 84% giá trị xuất khẩu mặt hàng điện tử, 42% giá trị mặt hàng giày dép và 25 % giá trị hàng may mặc. Hơn nữa, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài còn góp phần mở rộng thị trường trong nước, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển nhanh, đặc biệt là khách sạn,, du lịch và các dịch vụ tư vấn pháp lý, chuyển giao công nghệ… tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong nước tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với các thị trường quốc tế. 1.3 . Vốn FDI góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao trình độ kỹ thuật cho Việt N am. N hững năm qua, thông qua các dự án có vốn FDI, nhiều công nghệ mới, hiện đại đã được đưa vào sử dụng ở Việt Nam tập trung vào nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế như lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí, lĩnh vực bưu chính viễn thông, ngân hàng, công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô…. Những dự án này đóng góp đáng kể làm tăng khả năng cạnh tranh của công nghệ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. N goài ra, các công nghệ mới và hiện đại được sử dụng ở các dự án có vốn FDI cũng kích thích các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư đổi mới công nghệ để có thể làm ra những sản phẩm có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Bên cạnh đó, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn có tác dụng lan toả ảnh hưởng, hình thành các xí nghiệp vệ tinh để tăng thêm giá trị sản phẩm từ thị trường trong nước. Qua đó, sức cạnh tranh của các sản phẩm của nhiều doanh nghiệp trong nước đã đ ược nâng lên đáng kể nhờ được phía nhà đ ầu tư nước ngoài giúp đỡ để trang bị công nghệ mới, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. 1.4. Vốn FDI góp phần giải quyết công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao mức sống cho người lao động. Cùng với việc số dự án có vốn FDI hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng nhanh và với số vốn thực hiện ngày càng cao, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đ ã thu hút số lượng lao động trực tiếp làm việc trong các dự án ngày càng nhiều. Bên cạnh đó, một số lượng đáng kể các nhà quản lý kinh doanh và người lao đ ộng được đào tạo trong và ngoài nước đã góp phần làm cho chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam ngày càng tăng lên, góp phần làm cho môi trường đầu tư của nước ta ngày càng có khả năng cạnh tranh cao hơn. 8
  9. Ngoài ra, các dự án có vốn FDI cũng mang lại nguồn thu nhập cao cho người lao động thông qua lương, giúp cải thiện đời sống của người lao động. BiÓu1: Sè l­îng lao ®éng trùc tiÕp lµm viÖc cho khu vùc cã vèn FDI 800 739 Sè lao ®éng (1.000 ng­êi) 665 700 600 472 500 439 379 400 296 270 250 300 220 200 200 100 0 91-95 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 N¨m Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đ ầu tư, trong năm 2003, lương bình quan của công nhân Việt Nam trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài là 76- 80USD/tháng; của kỹ sư là 220-250USD/tháng; của cán bộ quản lý khoảng 490-510USD/tháng. Tổng thu nhập của người lao động của các dự án có vốn FDI hàng năm trên 500 triệu USD. Tính tới cuối năm báo cáo. Nguồn: www.mpi.gov.vn và www.vneconomy.com.vn 1.5. Một số vai trò khác của vốn FDI đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam. Bên cạnh những tác động mà nguồn vốn FDI thực hiện đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế của Việt Nam như đã đ ề cập ở trên, nguồn vốn này còn có những vai trò rất quan trọng khác đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà nước ta đang thực hiện. Một trong những tác động quan trọng mà nguồn vốn FDI thực hiện trong thời gian qua là đã từng bước giúp nước ta chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nếu như trong thời gian 1988-1995, đầu tư nước ngo ài chủ yếu thực hiện trong các ngành kinh doanh bất động sản thì trong thời kỳ 1996-2003, vốn FDI đã chuyển hướng thực hiện nhiều hơn trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ và du lịch khách sạn, chiếm 53% vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện. Các dự án đầu tư vào dịch vụ bưu chính viễn thông, dịch vụ kỹ thuật tăng 1,4 lần trong thời kỳ này. N goài ra, tính đ ến ngày 22/5/2005 đã có 70 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư 5217 dự án vẫn còn hiệu lục tại Việt Nam, trong đó có trên 80 công ty 9
  10. xuyên quốc gia nằm trong danh sách 500 công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới. Cũng đã có Việt kiều từ 15 nước khác nhau đầu tư 63 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 208,67 triệu USD. Chính những dự án này đã có tác động không nhỏ thúc đẩy thay đổi cơ chế chính sách quản lý kinh tế của Việt Nam theo hướng hội nhập quốc tế, chúng tác động tới việc xoá bỏ bao vây cấm vận quốc tế đối với Việt Nam và hỗ trợ Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ. N hìn chung, nguồn vốn FDI trong những năm qua đã đem lại những tác động tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam là do một số nguyên nhân chủ yếu sau: Trước hết, do nước ta kiên trỡ thực hiện đường lối đổi mới, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tạo hỡnh ảnh tớch cực đối với các nhà đầu tư. N goài ra, do nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư quốc tế, nhất là về khả năng mở rộng dung lượng thị trường trong nước. Đồng thời, cũng nhờ môi trường đầu tư nước ta từng bước được cải thiện. Hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đó được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rừ ràng và thụng thoỏng hơn cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Một nguyên nhân quan trọng khác là do cụng tỏc chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các bộ, ngành và chính quyền địa phương đó tớch cực, chủ động hơn (đ ẩy nhanh lộ trỡnh ỏp dụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất, tiếp tục thực hiện việc cải cách hành chính, quan tâm hơn tới việc tháo gỡ khó khăn cho việc triển khai dự án). H ơn nữa, trong thời gian gần đây, công tác xúc tiến đ ầu tư đó được triển khai tích cực. Công tác vận động xúc tiến đầu tư được tiến hành ở nhiều ngành, nhiều cấp, ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hỡnh thức đa dạng như tổ chức các cuộc hội thảo vận động đầu tư ở trong và ngoài nước. Đặc biệt, nhiều chuyến thăm, làm việc cấp cao của lónh đạo Đảng, Nhà nước đó được tiến hành ở nhiều quốc gia, gắn với việc quảng bá hỡnh ảnh Việt Nam và vận động đầu tư - xúc tiến thương m ại. 2. Một số hạn chế còn tồn tại của nguồn vốn FDI đối với công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam. 2.1. Những hạn chế cần tháo gỡ. 10
  11. Bên cạnh những kết quả tích cực đó đạt được, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong năm qua vẫn cũn những mặt hạn chế cần khắc phục sau: Trước hết là tình trạng vốn đầu tư đăng ký tuy tăng, nhưng vẫn cũn ở mức thấp. Năm 2003, vốn đăng ký mới đạt 3,1 tỷ USD chỉ bằng khoảng 40% của năm 1996. Vốn đầu tư thực hiện tuy tăng qua các năm nhưng tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngo ài trong tổng vốn đầu tư toàn xó hội lại cú xu hướng giảm dần do vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tăng chậm hơn so với vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng vốn đầu tư toàn xó hội giảm từ 25% trong thời kỳ 1991 - 1995 xuống 24% trong thời kỳ 1996 - 2 000 và xuống cũn 17,8% trong năm 2003. Mặt khác, cơ cấu vốn FDI cũn cú một số bất hợp lý. Trong lĩnh vực nụng, lõm, ngư nghiệp mặc dù đó cú những chớnh sỏch ưu đói nhất định, nhưng đầu tư trực tiếp nước ngoài cũn quỏ thấp và tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký liờn tục giảm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, đầu tư từ các nước phát triển có thế mạnh về công nghệ nguồn như Nhật, EU, Mỹ tăng chậm, những năm gần đây chưa có sự chuyển biến đáng kể. Hiệp định hương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đó thúc đẩy gia tăng mạnh mẽ kim ngạch buôn bán giữa hai nước nhưng đ ầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam chưa có chuyển biến đáng kể. Một hạn chế khác là việc cung cấp nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cũn rất hạn chế, làm giảm khả năng tham gia vào chương trỡnh nội địa hoá và xuất khẩu qua các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhỡn chung, sự liờn kết giữa khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài và kinh tế trong nước cũn lỏng lẻo. V ấn đề rất đáng quan tâm khác là khả năng góp vốn của Việt Nam cũn hạn chế. Bờn Việt Nam trong cỏc liờn doanh hầu hết là cỏc doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh) chủ yếu là góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất nên tỷ lệ góp vốn của Việt Nam không đáng kể. Cho đến nay vẫn cũn thiếu cơ chế huy động các nguồn lực khác nhau để góp vốn liên doanh với nước ngoài. Đồng thời, chủ trương phân cấp, uỷ quyền cấp giấy phép đầu tư, quản lý hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các địa phương, Ban quản lý các KCN đó phỏt huy tớnh năng động, sáng tạo của các địa phương, xử lý các vấn đề phát sinh kịp thời, sát thực tế. Tuy nhiờn trong quỏ trỡnh thực 11
  12. hiện phõn cụng quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đó nẩy sinh hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương dẫn đến thua thiệt cho phía Việt Nam. V à cuối cùng là vấn đề tỷ lệ dự án đổ bể, phải giải thể trước thời hạn khá cao, một số dự án quy mô lớn chậm triển khai. 2.2. Nguyên nhân của những mặt hạn chế nói trên. Mặc dù trong thời gian qua, phía Việt Nam đã cố gắng tìm cách giải quyết nhưng các mặt hạn chế nói trên vẫn còn tồn tại là do một số nguyên nhân chủ yếu sau: N guyên nhân phải kể đến trước tiên là môi trường đầu tư nước ta tuy được cải thiện nhưng tiến bộ đạt được cũn chậm hơn so với các nước trong khu vực, trong khi cạnh tranh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục diễn ra ngày càng gay gắt, đó làm hạn chế kết quả thu hỳt đầu tư m ới. Tiếp đó, phải nói rằng hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư đó được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đồng bộ, hay thay đổi, khó tiên đoán trước. Một số bộ, ngành chậm ban hành các thông tư hướng dẫn các nghị định của Chính phủ (như Nghị định số 06 về lĩnh vực giáo dục và đào tạo) đó gõy khú khăn đối với việc thẩm định cấp phép đầu tư và thu hút các dự án mới vào lĩnh vực này. Một số ưu đói của Chớnh phủ đó đ ược quy đ ịnh trong nghị định của Chính phủ như miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu 5 năm cho sản xuất đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế-xó hội đặc biệt khó khăn nhưng thiếu hướng dẫn nên chưa được áp dụng. N goài ra, cũng cần nhắc tới nguyên nhân là do cụng tỏc quy hoạch cũn bất hợp lý, nhất là quy hoạch ngành cũn nặng về xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước, chưa kịp thời điều chỉnh để phù hợp với các cam kết quốc tế. Theo quy định của pháp luật, ngoài các dự án không cấp Giấy phép đầu tư, nhà đ ầu tư có quyền lập các dự án xin cấp giấy phép đầu tư tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trỡnh chỉ đạo điều hành, ta đó ban hành thờm một số quy đ ịnh tạm dừng hoặc không cấp Giấy phép đầu tư đối với các dự án thuộc các lĩnh vực như: sản xuất thép, xi măng, cấp nước theo hỡnh thức BOT, xõy dựng nhà mỏy đường, lắp ráp xe gắn máy hai bánh, nước giải khát có gas... Ngoài ra, các văn bản về một số ngành ban hành gần đây cũng đó hạn chế đầu tư trực tiếp nước ngoài như điều kiện về kinh doanh dịch vụ hàng hải, về đại lý vận tải hàng khụng, về quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Thực tế trên đó bú hẹp lĩnh vực thu hỳt đầu tư trực tiếp nước ngoài, làm cho cỏc nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho rằng chính sách của V iệt Nam không nhất quán, minh bạch ảnh hưởng đến môi trường đầu tư 12
  13. Bên cạnh đó, thủ tục thẩm định, cấp Giấy phép đầu tư tuy đó được cải tiến nhưng vẫn cũn phức tạp, thời gian thẩm định một số dự án cũn dài do phải thống nhất ý kiến giữa cỏc bộ, ngành. Mặt khác, công tác xúc tiến đầu tư đó cú nhiều cố gắng nhưng gặp khó khăn lớn do thiếu nguồn kinh phí để tổ chức các cuộc vận động đầu tư ở nước ngoài cũng như để hoàn chỉnh các tài liệu xúc tiến đầu tư. Đồng thời, việc đa dạng hoá các hỡnh thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để khai thác thêm các kênh thu hút đầu tư mới cũng như việc thành lập và triển khai một số mô hỡnh khu kinh tế mở cũn chậm. 13
  14. Phần III: Một số giải pháp Việt Nam cần thực hiện nhằm tăng cường khả năng thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Trước nhu cầu phát triển kinh tế, Việt Nam chủ trương tiếp tục thu hút nguồn vốn FDI nhiều hơn, với chất lượng cao hơn nhằm đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện được mục tiêu này, Việt Nam cần phải thực hiện một số biện pháp sau: 1. Xây dựng chiến lược và quy hoạch thu hút vốn FDI phù hợp. Chiến lược thu hút vốn FDI đ ược xem là một hình thức biểu hiện cụ thể của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, phản ánh sự kết hợp hài hoà việc phát huy nội lực với tranh thủ nguồn lực bên ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, nó là cơ sở để xây dựng các quy hoạch và kế hoạch thu hút vốn FDI theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ. Để nâng cao chất lượng quy hoạch thu hút vốn FDI, cần chú trọng công tác dự báo, cập nhật thông tin thị trường trong nước và quốc tế, đảm bảo sự thống nhất giữa quy hoạch và kế hoạch, đảm bảo sự thống nhất giữa quy hoạch các bộ, ngành và các địa phương trong việc thu hút vốn FDI. Mặt khác, cần mở rộng thêm các lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài, công bố công khai danh mục, công trình dự án kêu gọi vốn FDI, xử lý quan hệ giữa vốn trong nước, vốn ngoài nước, vốn ngắn hạn, vốn trung hạn… để đảm bảo tăng cường thu hút và ổ n định nguồn vốn đầu tư nước ngo ài, tăng hiệu quả tài chính hoạt động của khu vực kinh tế có vốn FDI và b ảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Chính vì vậy, cần xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài trong vòng 5 năm dựa trên cơ sở quy hoạch thu hút vốn đầu tư nước ngo ài đã được phê duyệt. Danh mục dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài của các bộ, ngành và các đ ịa phương là bộ phận cấu thành của danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài của quốc gia. 2. Cải thiện môi trường đầu tư. 2.1. Hoàn thiện hệ thống luật liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài. Đ ể môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn hơn, Việt Nam cần tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện chính sách, luật pháp để cải thiện môi trường đầu tư hơn nữa. Luật Đầu tư nước ngo ài của Việt Nam đó được đánh giá là thông thoáng, nhưng trong thực tế các nhà đ ầu tư vẫn mong muốn các chính sách được bổ sung, sửa đổi, tạo thuận lợi hơn cho họ. Vỡ thế cần hoàn chỉnh cỏc luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Giỏ trị gia tăng, thuế Xuất nhập khẩu, thuế Tiêu thụ đặc biệt… theo hướng khuyến khích đầu tư. Đồng thời nghiên cứu ban hành các luật cạnh tranh, luật chống độc quyền, chống bán phá giá, 14
  15. luật kinh doanh bất động sản ; sửa đổi các quy định về đất đai liên quan đến những vấn đề thế chấp, chuyển nhượng... để khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia liên doanh với nước ngoài. Xoá bỏ những cách biệt trong chính sách ưu đói giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài ; xoá bỏ giá kép trong cung cấp các dịch vụ gây bất lợi cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ; sửa đổi thuế thu nhập cá nhân đánh cao vào người Việt Nam làm cho doanh nghiệp nước ngoài. Đơn giản hoá các thủ tục cấp phép ; loại bỏ những hạn chế về tỷ lệ nội địa, tỷ lệ góp vốn. Bên cạnh đó, tăng cường sự hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các Bộ, ngành đ ể đảm bảo việc thực thi nghiêm các quyết định của Chính phủ. Công bố công khai mọi quy trỡnh, thời hạn, trách nhiệm xử lý các vấn đề liên quan đến đầu tư nước ngoài. Có quy định rừ việc khụng cho phộp được kiểm tra tuỳ tiện và tránh hỡnh sự hoỏ cỏc quan hệ kinh tế. Bên cạnh đó, cần đa dạng hoỏ cỏc hỡnh thức đầu tư tại Việt Nam. Hiện nay có ba hỡnh thức đầu tư nước ngo ài tại Việt Nam: hợp đồng hợp tác kinh doanh, liên doanh và công ty 100% vốn nước ngoài. Từ năm 1991 một số phương thức đầu tư mới được bổ sung thêm là đ ầu tư vào khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, đầu tư theo phương thức hợp đồng BOT (xây dựng – vận hành - chuyển giao) ; BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng – chuyển giao). Tuy nhiên Việt Nam cũn chưa cho phép hỡnh thức đầu tư gián tiếp và chưa cho phép nhà đầu tư tham gia vào quá trỡnh cải cỏch doanh nghiệp nhà nước với tư cách là các cổ đông. Doanh nghiệp nước ngoài cũng không được phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn tại Việt Nam. Do vậy cần mở rộng các hỡnh thức đầu tư hơn nữa, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư làm ăn và để thu hút nhiều vốn đầu tư hơn vào Việt Nam. Đồng thời, cho phép các tập đoàn lớn có nhiều dự án ở Việt Nam thành lập các công ty quản lý vốn; đẩy nhanh việc thí điển cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn FDI; ban hành danh mục, lĩnh vực cho phép nhà đầu tư nước ngoài được mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam. 2.2. Đổi mới, ho àn thiện chính sách về đầu tư nước ngo ài. Đ ể chính sách về đầu tư nước ngoài của Việt Nam trở nên thông thoáng hơn, chúng ta có thể thực hiện miễn giảm tiền thuê đất trong một số năm để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giải quyết dứt điểm tình trạng giải phóng mặt bằng và đền bù hiện đang còn nhiều ách tắc. Tiếp tục ban hành văn bản hướng dẫn về điều kiện, thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất. Mặt khác, cần cải tiến các công cụ thuế, tín dụng, cơ chế xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan. Cần có các chính sách khuyến khích và ưu đãi tạo động lực lớn hơn để các doanh nghiệp có vốn FDI hướng mạnh vào xuất khẩu, áp dụng công nghệ cao và chuyển giao công nghệ, thu hút các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư. 15
  16. Đồng thời, cần xây dựng chiến lược thu hút vốn ngoại tệ nhằm tăng cường kiểm soát nguồn vốn FDI để đảm bảo cơ cấu d òng vốn vào hợp lý, ổn định, tránh rủi ro biến động do việc rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư nước ngoài; kiểm soát có trật tự vốn luân chuyển; nới lỏng các điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn như tín chấp, bảo lãnh, được phép phát hành trái phiếu, cổ phiếu, kể cả phát hành trái phiếu quốc tế nhằm tăng tỷ lệ góp vốn trong các liên doanh, giảm tối đa sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn bên ngoài, nâng cao tính tự chủ và quyền quyết định cho các doanh nghiệp Việt Nam trong liên doanh. Bên cạnh đó, cũng cần cho phép các doanh nghiệp tham gia trực tiếp thuê lao động để sản xuất, tránh tình trạng các doanh nghiệp có vốn FDI phải sử dụng lao động thông qua các tổ chức cung ứng của Việt Nam như hiện nay. 3. Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư. G iải pháp này đòi hỏi phải có sự quan tâm của tất cả các cơ quan Nhà nước, đồng thời phải đ ược triển khai đồng bộ với sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành và đ ịa phương. Cần triển khai thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại các bộ, ngành, tổng công ty lớn, tại một số cơ quan đại diện ở một số địa bàn trọng điểm nước ngoài, chủ động vận động đối với từng dự án, nhà đầu tư có tiềm năng. N goài ra, các chương trình vận động xúc tiến đầu tư cần được đẩy mạnh theo ngành, lĩnh vực, địa bàn với các dự án và đối tác cụ thể, hướng vào các đối tác nước ngoài có tiềm lực tài chính và công nghệ cao. Về ngành và lĩnh vực, cần tập trung đặc biệt vào vận động đầu tư cho các dự án áp dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử. Cũng cần mở rộng đa phương hoá các đối tác đầu tư, tranh thủ hợp tác với các nhà đầu tư thuộc EU, Mỹ, Nhật Bản, các nước ASEAN… 4. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý, cải tiến thủ tục hành chính đối với hoạt động đầu tư nước ngoài. Một trong số các biện pháp rất quan trọng là cần đẩy mạnh cải cách hành chính trong việc thu hút vốn FDI, xoá bỏ các thủ tục rườm rà, cơ ch ế “xin-cho”, thực hiện cơ chế “một cửa một dấu”, tạo môi trường thuận lợi v à thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài làm ăn chính đáng ở Việt Nam. Phải quy định rõ ràng, công khai và minh bạch các thủ tục hành chính; rà soát và bãi bỏ các quy định về thủ tục đang cản trở hoạt động đầu tư nước ngoài, ngăn chặn việc ban hành văn bản pháp luật trái thẩm quyền và cản trở việc thu hút vốn FDI. Tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài, cải tiến việc cấp phép đầu tư, thực hiện từng 16
  17. bước cơ chế đăng ký đầu tư, tăng cường hỗ trợ và quản lý sau khi cấp phép, tạo thuận lợi cho các dự án được cấp phép triển khai thực hiện có hiệu quả. V ề khía cạnh đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và lao động, cần khẩn trương xây dựng các đề án tổ chức đ ào tạo cán bộ kinh doanh, quản lý, công nhân lành nghề làm việc trong các doanh nghiệp có vốn FDI nhằm nâng cao trình độ hiểu biết chuyên môn, tinh thần trách nhiệm để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Trong thời gian tới, để đưa ra những quy định thống nhất và chi tiết về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Quốc hội cần sớm ban hành Bộ Luật đầu tư tại Việt Nam, trong đó tổng hợp cả hai Luật: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. 17
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2