
vietmessenger.com
Ngô Nguyên Dũng
Mọt Tượng
Sư cụ cho gọi chú tiểu Bửu vào, nói:
- Con tới đây làm công quả đã lâu, hạnh tu coi như đã có, nên thầy muốn nhờ con một
chuyện.
Tiểu Bửu cung kính xá:
- Thưa thầy, con xin nghe.
- Con biết, chùa mình dọn từ Mai Sơn về đây đã nhiều năm mà vẫn chưa thỉnh được tượng
Quán Thế Âm theo. Nay, tình thế tương đối yên ổn trở lại, thầy muốn con tới chùa cũ thỉnh
về, có được chăng?
Tiểu Bửu bối rối:
- Dạ, được... nhưng...
- Nhưng sao?
- Không biết con có đủ sức vượt qua mọi khó khăn, hiểm trở.
Sư cụ điềm nhiên:
- Con cứ thơi thả mà đi, coi đó như đường tu hành, thong dong buớc, thế nào cũng tới.
Tiểu Bửu cúi mặt:
- Thưa thầy, con không ngại đường xa cách trở mà ngại lòng mình chưa đủ đạo hạnh để
thỉnh tượng về đây.
Sư cụ cười khoan dung:
- Ðáng lẽ chuyện này là của thầy, nhưng thầy biết sức mình hết kham nổi thử thách ngoại

cảnh, nên phải nhờ tới con, người mà thầy hết dạ tin tưởng.
Tiểu Bửu xúc động rơm rớm lệ:
- Thầy đã nói vậy, con xin tuân.
Rồi từ đó cho tới ngày lên đường về lại Mai Sơn tự, không đêm nào tiểu Bửu yên giấc. Chú
cứ trằn trọc mơ tưởng về chuyến đi sắp tới. Tiểu Hạnh, bạn đồng tu, gọi đó là ‘‘sứ mạng cao
cả của Tề Thiên đại thánh‘‘, và lộ vẻ ganh tị ra mặt. Tiểu Bửu phải an ủi: ‘‘Chú còn nhỏ, thầy
đâu dám nhờ.‘‘ Tiểu Hạnh hờn dỗi: ‘‘Sao thầy không cho anh em mình đi chung cho có
bạn?‘‘ Tiểu Bửu cười khẽ: ‘‘Phải có người ở lại chăm sóc thầy và lo chuyện chuông mõ
chớ.‘‘ Dẫu hiểu, nhưng Tiểu Hạnh vẫn ấm ức trong bụng. Tiểu Bửu biết vậy, nên ít khi đem
chuyện đi thỉnh tượng ra nói.
Tội nghiệp, Tiểu Hạnh là trẻ mồ côi, được thân nhân gởi vô chùa từ năm sáu tuổi. Không
những Tiểu Bửu có bổn phận dạy học cho Tiểu Hạnh, mà còn chỉ vẽ nó cách quán xuyến
chuyện chùa chiền như nấu cơm, giặt giũ, lau chùi hay gióng chuông và thắp nhang đèn
cúng Phật mỗi thời kinh sớm chiều. Còn nhỏ, nên Tiểu Hạnh ham chơi hơn thích làm. Mỗi
năm tới mùa dế, nó ra ruộng bắt vài con đem về nuôi trong hộp thiếc, giấu dưới ụ rơm ủ
nấm. Khi bị Tiểu Bửu bắt gặp đang chơi đá dế, nó ngỏn ngoẻn cười nhận lỗi. Tiểu Bửu
không la mắng hay ngăn cấm chi, chỉ ôn tồn giải thích. Một hôm, chú bắt gặp Tiểu Hạnh ngồi
khóc lặng lẽ bên ao nước. Hỏi sao khóc, nó rấm rứt: ‘‘Em vừa thả mấy con dế ra
ruộng.‘‘ Tiểu Bửu cảm động lây, đặt tay lên vai bạn: ‘‘Làm một việc thiện, lẽ ra phải cười, sao
lại khóc?‘‘ Tiểu Hạnh ngước mặt cười mếu, lộ hàm răng sún. Nụ cười ấy, Tiểu Bửu suốt đời
không bao giờ quên.
Thỉnh thoảng sư cụ lại vui miệng kể chuyện phong cảnh Mai Sơn cho hai chú tiểu nghe.
Rừng núi ấy, như tên gọi, có nhiều mai dại. Không hoàn toàn giống như mai chưng vào dịp
đầu năm, dã mai có cánh hoa thuôn dài, hơi úp, mau nở mà cũng chóng tàn. Hằng năm, tới
độ mai mãn khai, sáng ra suối múc nước, thấy lưng núi đơm rực hoa vàng. Chiều hôm rịn
sương, tưởng như có bầy hoàng hạc từ tây phương trở lại thăm chùa. Tiểu Bửu ghi đậm
hình ảnh thơ mộng ấy vào tâm. Ðể đến hôm nay, chú cứ thẩn thơ mộng mị cảnh rừng mai
trong chiều sương toả.
So với phần số Tiểu Hạnh, Tiểu Bửu may mắn hơn, vì còn mẹ và bảy anh chị em. Tháng
chạp năm nào mẹ cũng tới thăm Tiểu Bửu. Quà cáp mẹ mang, toàn những thứ Tiểu Bửu
hảo ăn như bánh hạnh nhân, bánh chuối hấp và thật nhiều bánh ít bột khoai mì. Chú biết,
thật ra đó chỉ là cái vui tạm, sự có mặt của mẹ mới là niềm vui chính. Mẹ là cái gạch nối ấm
áp cuối cùng giữa chú và thế tục bên ngoài. Mẹ nán lại chùa vài ngày, phụ làm công quả.
Lâu rồi, mẹ không còn nhắc tới cha, người mà mẹ kể đã tập kết ra Bắc từ năm 1954. Cũng
lâu rồi, Tiểu Bửu không còn hỏi mẹ lý do tại sao mang chú gởi cho chùa. Tiểu Bửu đã bắt
đầu cảm thọ nhịp sống tu hành. Dù vậy, tới lúc mẹ con chia tay nơi bến đò, Tiểu Bửu không
khỏi sa nước mắt. Chú chờ bóng con đò khuất dạng sau lùm cây và mặt nước im sóng mái
chèo, mới quay lưng lầm lũi, mắt lệ ngắn dài. Thuở ấy chưa có mặt Tiểu Hạnh. Trong những
buổi tiễn đưa về sau, có Tiểu Hạnh bên cạnh, Tiểu Bửu cố ngăn nước mắt. Rồi cũng tới lúc,
chú không còn khóc khi từ giã mẹ nữa, chỉ buồn. Buồn trong những lần bóc bánh ra ăn.
Rưng rưng tưởng lại tiếng chân mẹ quạnh quẽ trong sân chùa lót gạnh tàu. Và đậm đà biết
mấy món canh bí mẹ nấu dâng Phật rằm tháng chạp.
Tiểu Bửu xoay lưng, hé mắt nhìn ra liếp cửa vằng vặc trăng soi. Ðêm nay cũng rằm. Tiểu
Bửu khó ngủ, mơ vá quàng chuyện này chuyện nọ. Tự dưng chú cảm thấy nhiệm vụ sư cụ
giao phó gian nan quá. Ðường từ đây lên Mai Sơn tự non mười cây số, nhưng phải đi bộ, vì
không có lối sông. Ði về ít nhất hai ngày. Tiểu Bửu định ở lại chùa cũ một đêm một ngày để

ngắm cảnh hoa cho mãn nhãn. Không biết, sau mấy năm chinh chiến, cảnh vật có còn như
xưa? Có còn những cội mai hoá long ngủ quên lưng chừng núi? Có còn những hoàng hôn,
bầy công núi bay về đậu trên chòm sứ trắng đợi nghe chuông? Có còn bóng trăng thuỷ ngân
soi trong lu nước ngậm bông sứ mỗi đêm rằm? Tiểu Bửu rợn người tưởng ra bàn tay ai thon
muốt đẩy giạt lớp hoa, vốc làn nước thơm rẩy lên tượng Phật. Ngón tay dịu nhiễu, mềm mại.
Mặt nước run gợn sinh thú. Hương hoa chập chờn vọng tưởng. Tiểu Bửu giật mình nhận ra
đó là bàn tay con gái.
Bên cạnh, Tiểu Hạnh nẩy người, ú ớ mê sảng.
° ° °
Tiểu Bửu sắp bầu nước lọc, hai củ khoai luộc, đòn bánh tét nhưn chuối, quyển kệ mỏng và
cái xẻng con vào bọc vải. Tiểu Hạnh lăng xăng dặn dò:
- Chú đi, nhớ về sớm. Ðừng quên cái chăn bông!
- Lâu lắm là ba ngày.
- Chú đem theo bao nhiêu đó thức ăn, đủ không?
- Ðủ rồi. Nếu thiếu, dọc đường chú hái trái ăn thêm. Khát thì uống nước suối. Thầy bảo, có
dòng suối bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, vắt ngang lưng núi.
Tiểu Hạnh hít hà:
- Chú sướng hơn em.
Tiểu Bửu cười mỉm:
- Tại Tiểu Hạnh không biết, chớ chú lo lắm, sợ mình không làm tròn bổn phận.
Tiểu Hạnh thắc mắc:
- Không hiểu sư cụ thỉnh bức tượng đó về làm gì? Sao không đặt làm tượng mới, lớn và đẹp
hơn?
- Sao em biết tượng cũ nhỏ và xấu?
Tiểu Hạnh nhăn nhó giải thích:
- Xãu thì em không dám nói, nhưng chắc chắn là nhỏ và xưa cũ lắm rồi.
- Quí vì cũ xưa đó em. Bây giờ tượng là một món cổ ngoạn hiếm có.
Rồi Tiểu Bửu trầm ngâm cất giọng:
- Theo lời sư cụ, vài năm trước ngày chia đôi đất nước, lúc tình thế còn hỗn mang, một hôm
có anh thanh niên ghé ngang Mai Sơn tự xin tá túc một khoảng thời gian. Anh ta là thợ mộc,
biết đẽo khắc tượng gỗ. Sư cụ không nhờ, nhưng ngày nọ, anh vào rừng vác về một khúc
gỗ huỳnh đàn. Thế là suốt buổi anh ta cày cục nâng niu đẽo thành tượng Phật. Trước đó
anh ta còn kỹ lưỡng ngâm gỗ trong nước bông sứ. Hỏi để làm gì, thì anh bảo, có vậy gỗ mới
dẻo dai bền vững với thời gian và lúc nào cũng thoảng hương hoa. Sau vài tuần, anh hoàn

