
81
© Học viện Ngân hàng
ISSN 3030 - 4199
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng kiểm toán đến
chi phí sử dụng vốn theo phương pháp phân tích
tổng hợp
Ngày nhận: 25/12/2024 Ngày nhận bản sửa: 10/06/2025 Ngày duyệt đăng: 26/06/2025
Tóm tắt: Ảnh hưởng của chất lượng kiểm toán đến chi phí sử dụng vốn của
doanh nghiệp đã được nghiên cứu đáng kể, nhưng các kết quả nghiên cứu vẫn
còn chưa đồng nhất, mâu thuẫn, tính đến năm 2024. Thông qua phân tích
tổng hợp, tác giả nghiên cứu tác động của chất lượng kiểm toán đến chi phí sử
dụng vốn với mẫu gồm 24 bài báo, quy mô ảnh hưởng là 45 được công bố từ
năm 2007 đến năm 2024. Bài viết là nỗ lực tiên phong nhằm nghiên cứu tác
động của chất lượng kiểm toán đến chi phí sử dụng vốn bằng cách áp dụng
quy trình phân tích tổng hợp một cách có hệ thống để đánh giá ý nghĩa của
Research affects audit quality on the cost of capital using the meta-analysis method
Abstract: The impact of audit quality on the cost of capital has been extensively studied; however, research
findings remain inconsistent and contradictory as of the year 2024. Through a meta-analysis, the author
investigates the effect of audit quality on the cost of capital using a sample of 24 academic articles,
encompassing 45 effect sizes published between 2007 and 2024. This study represents a pioneering
effort to examine the impact of audit quality on the cost of capital by systematically applying the meta-
analytic procedure to assess the significance of the estimated average effect size at both the overall level
and across specific dimensions of audit quality measurement. Audit quality, in general, as well as audit
quality measured by the presence of Big N audit firms and by alternative approaches, is found to have a
negative relationship with the cost of capital. This finding is consistent with agency theory and signaling
theory, which suggest that higher audit quality reduces information asymmetry and perceived risk, thereby
lowering the cost of capital. However, audit quality measured by audit fees also shows a negative effect on
the cost of capital, but this effect is not statistically significant. These findings provide a solid foundation
for managers and policymakers to strengthen investment in activities that enhance audit quality and
improve the transparency of financial reporting, which in turn helps reduce the cost of capital.
Keywords: Audit quality, Cost of capital, Cost of debt, Meta-analysis
Doi: 10.59276/JELB.2025.11.2855
Tran Thuy Linh1, Dang Ngoc Hung2, Hoang Thi Viet Ha3
Email: tranthuylinh@haui.edu.vn1, dangngochung@haui.edu.vn2, hoangthivietha@haui.edu.vn3
Organization: School of Economics, Hanoi University of Industry1, Center for Quality Assurance, Hanoi
University of Industry2, School of Economics, Hanoi University of Industry3, Viet Nam
Trần Thuỳ Linh1, Đặng Ngọc Hùng2, Hoàng Thị Việt Hà3
Trường Kinh tế- Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội1, Trung tâm Đảm bảo chất lượng- Trường Đại học
Công nghiệp Hà Nội2, Trường Kinh tế- Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, Việt Nam3
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG

Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng kiểm toán đến chi phí sử dụng vốn
theo phương pháp phân tích tổng hợp
82
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
quy mô hiệu ứng trung bình ước tính theo tổng thể và từng khía cạnh đo lường
chất lượng kiểm toán. Chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng kiểm
toán đo lường theo BigN và đo lường theo cách tiếp cận khác được phát hiện
có mối quan hệ ngược chiều với chi phí sử dụng vốn, điều này phù hợp với lý
thuyết đại diện và lý thuyết tín hiệu. Tuy nhiên, chất lượng kiểm toán được đo
lường theo phí kiểm toán có ảnh hưởng ngược chiều đến chi phí sử dụng vốn
nhưng không có ý nghĩa thống kê. Những phát hiện của chúng tôi mang đến
cơ sở vững chắc cho các nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách trong việc
tăng cường đầu tư vào các hoạt động nâng cao chất lượng kiểm toán, minh
bạch thông tin báo cáo tài chính điều đó giúp giảm thiểu chi phí sử dụng vốn.
Từ khóa: Chất lượng kiểm toán, Chi phí sử dụng vốn, Chi phí nợ, Phân tích tổng hợp
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang
hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường
tài chính khu vực và toàn cầu, minh bạch
thông tin tài chính đã trở thành yêu cầu bắt
buộc đối với doanh nghiệp nếu muốn tiếp
cận nguồn vốn hiệu quả. Tuy nhiên, tình
trạng bất cân xứng thông tin vẫn còn phổ
biến, đặc biệt là ở các doanh nghiệp vừa
và nhỏ, doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc
mới niêm yết. Trong môi trường như vậy,
chất lượng kiểm toán (AQ) không chỉ đóng
vai trò đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài
chính, mà còn là tín hiệu quan trọng giúp
nhà đầu tư, ngân hàng và các bên cho vay
đánh giá rủi ro, từ đó quyết định mức chi
phí vốn mà họ chấp nhận. Dù trên thế giới
đã có nhiều nghiên cứu chứng minh mối
quan hệ giữa AQ và chi phí sử dụng vốn
(COP), nhưng tại Việt Nam, các kết quả
nghiên cứu còn phân tán, và phương pháp
phân tích còn đơn lẻ. Do đó, việc thực hiện
một nghiên cứu sử dụng phương pháp phân
tích tổng hợp (meta-analysis) là cần thiết
nhằm: tổng hợp định lượng các kết quả
nghiên cứu đã có trong và ngoài nước về
mối liên hệ giữa AQ và COP; Cung cấp
bằng chứng thực nghiệm có độ tin cậy cao
hơn giúp nhà quản lý, nhà đầu tư và cơ
quan quản lý nhà nước đưa ra quyết sách
phù hợp.
AQ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng
của báo cáo tài chính (FS) do AQ cao sẽ
nâng cao mức độ tin cậy của các báo cáo
này. Mức độ tin cậy được cải thiện là nhờ
vào việc FS phản ánh chính xác hơn về tình
hình tài chính và hoạt động kinh tế thực tế
của doanh nghiệp (DeFond & Zhang, 2014).
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, hoạt động
kiểm toán độc lập đảm bảo tính minh bạch
và trung thực của các FS, từ đó giúp doanh
nghiệp tạo dựng niềm tin với các nhà đầu tư
và dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để duy trì và
phát triển sản xuất kinh doanh. Về phía nhà
đầu tư, việc đầu tư vào một doanh nghiệp
luôn tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt là lo ngại không
thu hồi được vốn và lợi nhuận như kỳ vọng
ban đầu. Do đó, nhà đầu tư thường dựa vào
phân tích FS để đánh giá tình hình tài chính
và quyết định đầu tư, mua cổ phần hoặc cho
vay vốn. Ban đầu, nhà đầu tư có thể chưa
nhận thức rõ vai trò của kiểm toán trong quá
trình ra quyết định, nhưng dần dần, cùng với
sự phát triển của xã hội, tầm quan trọng của
kiểm toán viên và ý kiến kiểm toán trên FS
ngày càng được khẳng định.
Phương pháp phân tích tổng hợp (MA)
một cách có hệ thống là một kỹ thuật thống
kê được sử dụng để tích hợp và so sánh

TRẦN THUỲ LINH - ĐẶNG NGỌC HÙNG - HOÀNG THỊ VIỆT HÀ
83
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
kết quả từ nhiều nghiên cứu khác nhau về
cùng một chủ đề (Hunter & Schmidt, 2004;
Hansen và cộng sự, 2022). Phương pháp
này đặc biệt hữu ích khi có sự không đồng
nhất giữa các kết quả thực nghiệm. Mặc dù
có nhiều nghiên cứu được thực hiện, nhưng
kết quả về ảnh hưởng của AQ đến COP lại
không đồng nhất. Nghiên cứu của Bacha và
cộng sự (2021), Le và cộng sự (2021), cũng
như Orazalin và Akhmetzhanov (2019) chỉ
ra rằng AQ có tác động ngược chiều, tức
là AQ càng cao thì COP càng thấp. Ngược
lại, nghiên cứu của Friedrich và cộng sự
(2024) cho thấy AQ có mối quan hệ cùng
chiều với COP, nghĩa là AQ cao có thể làm
tăng chi phí này. Ngoài ra, một số nghiên
cứu khác, như Manoel và cộng sự (2022);
Coffie và cộng sự (2018), không tìm thấy
mối liên hệ có ý nghĩa giữa AQ và COP.
Do đó, nghiên cứu này mang lại những
đóng góp mới thông qua việc cung cấp một
đánh giá kỹ lưỡng hơn về các nghiên cứu
trước đây, đồng thời phát hiện ra những
ảnh hưởng thú vị của AQ đối với COP.
Trong khi các bài đánh giá truyền thống
về mối quan hệ giữa AQ và chi phí vốn
thường dựa trên phân tích tường thuật,
những bài tổng hợp này không luôn xem
xét các lỗi liên quan đến mẫu và đo lường,
dẫn đến các kết luận có thể không chính
xác. Ngược lại, COP một cách có hệ thống
cung cấp các kết luận đáng tin cậy hơn nhờ
xem xét sự biến thiên giữa các nghiên cứu
về AQ và COP. Trong nghiên cứu này, đối
tượng nghiên cứu chính là doanh nghiệp,
vì chi phí sử dụng vốn là chi phí mà doanh
nghiệp phải trả để huy động vốn (từ cổ
đông, trái chủ, ngân hàng…), nên doanh
nghiệp là chủ thể chịu tác động trực tiếp từ
AQ. Tuy nhiên, nhà đầu tư và các bên cấp
vốn (ngân hàng, quỹ…) lại là chủ thể phản
ứng với tín hiệu từ AQ để định giá rủi ro, từ
đó đưa ra mức chi phí vốn yêu cầu. Do đó,
họ đóng vai trò là bên tiếp nhận tín hiệu,
còn doanh nghiệp là đối tượng phát tín hiệu
và bị ảnh hưởng.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng MA
là phương pháp đưa ra đánh giá định lượng
về mối quan hệ giữa hai biến mục tiêu, đồng
thời MA có thể được sử dụng để kiểm tra các
giả định lý thuyết cạnh tranh với nhau hoặc
để xác định các yếu tố điều tiết quan trọng
trong đó kết quả của các nghiên cứu khác
nhau. Bố cục của bài viết bao gồm 6 phần:
(1) giới thiệu, (2) cơ sở lý thuyết, (3) tổng
quan và giả thuyết nghiên cứu, (4), phương
pháp nghiên cứu, (5) kết quả nghiên cứu và
thảo luận, (6) kết luận và khuyến nghị.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Chất lượng kiểm toán và chi phí vốn
Chất lượng kiểm toán được hiểu là khả
năng của kiểm toán viên trong việc phát
hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu trong
báo cáo tài chính của doanh nghiệp được
kiểm toán (DeAngelo, 1981). Khái niệm
này bao hàm cả năng lực chuyên môn và
mức độ độc lập của kiểm toán viên trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán.
Chất lượng kiểm toán cao góp phần tăng
cường độ tin cậy của thông tin tài chính,
giảm thiểu rủi ro thông tin bất cân xứng, từ
đó có thể làm giảm chi phí sử dụng vốn của
doanh nghiệp (Watts & Zimmerman, 1990).
Trong nghiên cứu thực nghiệm, chất lượng
kiểm toán thường được đo lường bằng
nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một số chỉ
báo phổ biến bao gồm: (i) sự hiện diện của
các công ty kiểm toán thuộc nhóm Big N
(Big 4 hoặc Big 5, tùy theo giai đoạn nghiên
cứu), (ii) phí kiểm toán (audit fees), (iii)
thời gian thực hiện kiểm toán (audit report
lag), và (iv) các chỉ số liên quan đến sai sót
hoặc điều chỉnh kiểm toán (Francis, 2004),
(Knechel và cộng sự, 2013), (DeFond &
Zhang, 2014).

Nghiên cứu ảnh hưởng chất lượng kiểm toán đến chi phí sử dụng vốn
theo phương pháp phân tích tổng hợp
84
KINH TẾ VÀ NGÂN HÀNG
Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng- Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284
Chi phí vốn được hiểu là tỷ suất lợi nhuận
mà doanh nghiệp phải trả để huy động vốn
từ các nguồn khác nhau nhằm tài trợ cho các
hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Nó phản ánh chi phí cơ hội của các nhà đầu
tư khi rót vốn vào doanh nghiệp thay vì
đầu tư vào các cơ hội khác có rủi ro tương
đương (Brealey và cộng sự, 2014). Về bản
chất, chi phí vốn thể hiện kỳ vọng của nhà
đầu tư về mức sinh lời tối thiểu và là một
yếu tố quan trọng trong việc ra quyết định
tài chính và định giá doanh nghiệp. Trong
nghiên cứu thực nghiệm, chi phí vốn thường
được đo lường theo hai cách chính. Chi phí
sử dụng vốn cổ phần (cost of equity), được
ước tính thông qua các mô hình như mô
hình định giá tài sản vốn (CAPM), mô hình
lợi nhuận kỳ vọng (ex-ante implied cost of
capital), chi phí vốn bình quân gia quyền
(WACC), tính đến cả chi phí vốn cổ phần
và chi phí nợ vay, hoặc mô hình đa nhân tố
(Fama và cộng sự, 1993).
2.2. Một số lý thuyết làm cơ sở cho mối
quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chi
phí vốn
Lý thuyết đại diện cho rằng các nhà quản lý
không phải lúc nào cũng hành động vì lợi
ích tốt nhất của người cho vay trong hợp
đồng nợ, dẫn đến mâu thuẫn lợi ích tiềm
tàng và sự bất cân xứng thông tin, từ đó
làm tăng chi phí đại diện của nợ (Meckling
& Jensen, 1976). Trong bối cảnh này, việc
công bố thông tin, bao gồm các FS, đóng
vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu
sự bất cân xứng thông tin và xung đột lợi
ích giữa người quản lý và chủ nợ (Cormier
và cộng sự, 2010; Shivakumar, 2013). Khi
thông tin kế toán có chất lượng cao hơn, sự
bất cân xứng thông tin giảm đi, và người
cho vay thường đánh giá cao điều này
bằng cách áp dụng lãi suất thấp hơn cho
các doanh nghiệp có FS minh bạch và đáng
tin cậy (Ghosh & Moon, 2010; Vander
Bauwhede và cộng sự, 2015).
Bằng cách thảo luận và trao đổi với ủy ban
kiểm toán về chất lượng của các nguyên
tắc kế toán, thay vì chỉ tập trung vào tính
chấp nhận của chúng, kiểm toán viên bên
ngoài có thể hạn chế hành vi cơ hội của
doanh nghiệp và giảm thiểu rủi ro thông
tin (Lin & Hwang, 2010). Vai trò cung cấp
thông tin và đảm bảo của kiểm toán viên
bên ngoài giúp giảm các xung đột tài chính,
chẳng hạn như lựa chọn bất lợi và rủi ro
đạo đức giữa nhà quản lý và các nhà cung
cấp vốn. Điều này có thể cải thiện hiệu quả
trong phân bổ nguồn lực và quản lý hợp
đồng, đặc biệt là trong các hợp đồng nợ
(Watts & Zimmerman, 1983; Pittman &
Fortin, 2004; Causholli & Knechel, 2012).
Lý thuyết tín hiệu cho rằng có sự bất cân
xứng thông tin giữa doanh nghiệp và nhà
đầu tư. Mặc dù ban đầu lý thuyết này
được phát triển để giải thích sự bất đối
xứng thông tin trong thị trường lao động
(Spence, 1978), nó đã được áp dụng để giải
thích cách công ty công bố thông tin tài
chính (Ross, 1977). Từ quan điểm của lý
thuyết tín hiệu, các nhà quản lý có động cơ
công bố thêm nhiều thông tin ra thị trường
nhằm xây dựng niềm tin với nhà đầu tư,
nâng cao khả năng giao dịch cổ phiếu và
tác động đến chi phí vốn (Healy & Palepu,
2001; Mahadeo và cộng sự, 2011). Theo
Diamond và Verrecchia (1991), Vurro và
Perrini (2011), tính minh bạch của thông
tin tài chính giúp giảm thiểu bất cân xứng
thông tin và làm giảm chi phí tài chính
của doanh nghiệp. Các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng thông tin tài chính chất lượng cao
có thể làm giảm chi phí nợ, với mối quan
hệ tiêu cực giữa chất lượng dồn tích và chi
phí nợ được ghi nhận (Aldamen & Duncan,
2013; Francis và cộng sự, 2005; Karjalainen,
2011). Do đó, AQ càng cao thì COP càng
thấp (Khurana & Raman, 2004; Mansi và

TRẦN THUỲ LINH - ĐẶNG NGỌC HÙNG - HOÀNG THỊ VIỆT HÀ
85
Năm thứ 27(12)- Tháng 11. 2025- Số 284- Tạp chí Kinh tế - Luật & Ngân hàng
cộng sự, 2004; Pittman & Fortin, 2004).
3. Tổng quan và giả thuyết nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất
lượng kiếm toán đến chi phí sử dụng vốn
Các nghiên cứu về tác động của AQ đến
COP trên toàn cầu sử dụng nhiều thước đo
khác nhau, trong đó quy mô công ty kiểm
toán là thước đo phổ biến nhất. Ngoài ra,
các yếu tố như phí kiểm toán, kiểm toán
viên chuyên ngành, kỳ kiểm toán và chất
lượng dồn tích cũng được xem xét. Theo
nghiên cứu của Li và cộng sự (2009), AQ có
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến COP.
Ảnh hưởng trực tiếp liên quan đến danh
tiếng của kiểm toán viên, phản ánh vai trò
bảo hiểm và đảm bảo của họ. Nghiên cứu
chỉ ra rằng AQ cao giúp giảm COP, đồng
thời thước đo AQ dựa trên phí kiểm toán
không mong muốn còn giúp giảm đáng kể
tác động của các khoản phải trả cao đến chi
phí vốn. Một phân tích bổ sung cho thấy
việc chuyển sang kiểm toán viên có chất
lượng cao hơn cũng như trình độ của kiểm
toán viên cung cấp bằng chứng về việc
danh tiếng của kiểm toán viên giúp giảm
bớt tác động của các yếu tố kế toán tích cực
đến chi phí vốn chủ sở hữu. Từ đó, nghiên
cứu kết luận rằng thị trường công nhận cả
vai trò bảo hiểm lẫn đảm bảo của AQ. Tại
Tehran, Kordlouie và cộng sự (2018) phát
hiện rằng quy mô công ty kiểm toán và tính
liên tục của sự hợp tác giữa các công ty
kiểm toán có mối quan hệ ngược chiều và
có ý nghĩa với chi phí vốn, điều này cho
thấy AQ cao giúp giảm COP. Nghiên cứu
của Coffie và cộng sự (2018) cũng mở rộng
mối quan hệ giữa AQ và COP, chứng minh
rằng AQ làm giảm tác động tích cực giữa
chi phí vốn của công ty tài trợ và rủi ro
lương hưu, qua đó khẳng định rằng rủi ro
tài chính gia tăng được giảm thiểu thông
qua AQ tốt. Tại Việt Nam, nghiên cứu của
Le và cộng sự (2021) cho thấy các công ty
có kiểm toán viên từ Big Four có chi phí
vốn cổ phần thấp hơn so với các công ty
không sử dụng dịch vụ kiểm toán từ Big
Four, cung cấp bằng chứng về ảnh hưởng
tiêu cực của AQ đến COP.
Nhất quán với quan điểm cho rằng chất
lượng kiểm toán có tác động tiêu cực
đến COP, nhiều nghiên cứu sử dụng các
phương pháp đo lường khác nhau để kiểm
tra mối quan hệ này. Các nghiên cứu của
Yu và Wang (2008), Coffie và cộng sự
(2018), Houmes và cộng sự (2019), Houqe
và cộng sự (2017) cho thấy các công ty
được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán
thuộc nhóm 4 công ty kiểm toán lớn nhất
có xu hướng giảm chi phí vốn, nhấn mạnh
tác động ngược chiều giữa AQ và COP.
Trong khi đó, nghiên cứu của Basiruddin
và cộng sự (2014) dựa trên mẫu nghiên cứu
các công ty tại Đức, sử dụng cả phí kiểm
toán và phí phi kiểm toán để đo lường AQ.
Nghiên cứu này điều tra xem liệu phí phi
kiểm toán có ảnh hưởng đến nhận thức của
cổ đông và các bên cho vay hay không, sau
đó được đo lường thông qua chi phí nợ và
chi phí vốn chủ sở hữu. Kết quả chỉ ra rằng
có mối liên hệ tích cực đáng kể giữa phí
phi kiểm toán với chi phí nợ và vốn chủ
sở hữu. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau các
quy định hạn chế dịch vụ phi kiểm toán,
mối liên hệ này chỉ còn tồn tại với bên cho
vay. Các nghiên cứu khác như của Chen
và cộng sự (2011) sử dụng việc phát hành
báo cáo kiểm toán không chấp nhận toàn
phần để đo lường AQ, hoặc các ý kiến về
hoạt động liên tục, cho thấy thị trường có
phản ứng tiêu cực với các ý kiến quan ngại
về hoạt động liên tục. Điều này phản ánh
mối liên hệ tích cực giữa việc đưa ra ý kiến
về hoạt động liên tục và COP của công ty
(Amin và cộng sự, 2014). Chất lượng dồn
tích cũng là một chỉ số để đo lường AQ đầu

