
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 2 - 2020
137
78,1%, bướu sườn chiếm 71,9%
- Đặc điểm cận lâm sàng
+ Theo phân loại vẹo của Burnei – Gavriliu:
Dị tật nửa đốt sống chiếm nhiều nhất: 65,6%,
đốt sống hình chêm chiếm 12,5%, dải cốt hóa
một bên chiếm 9,4%, đốt sống dính thành khối
chiếm 12,5%
+ Vị trí đỉnh vẹo ở vùng ngực thắt lưng chiếm
50%, vùng ngực cao chiếm 37,5%, vùng thắt
lưng chiếm 12,5%
+ Dị tật phối hợp ở hệ tim mạch chiếm
15,7%, đều có đỉnh vẹo nằm ở đoạn ngực cao
hoặc ngực thắt lưng. Dị tật phối hợp ở hệ tiết
niệu chiếm 3,1%
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Hoàng Long (2015), Nghiên cứu điều
trị phẫu thuật vẹo cột sống vô căn bằng cấu hình
toàn vít qua cuống đốt sống, Luận án Tiến sĩ, Đại
học Y Hà Nội, Hà Nội.
2. Arlet V., Odent T., and Aebi M. (2003).
Congenital scoliosis. Eur Spine J, 12(5), 456–463.
3. Côté P., Kreitz B.G., Cassidy J.D., et al.
(1998). A study of the diagnostic accuracy and
reliability of the Scoliometer and Adam’s forward
bend test. Spine, 23(7), 796–802; discussion 803.
4. Giampietro P.F., Blank R.D., Raggio C.L., et
al. (2003). Congenital and Idiopathic Scoliosis:
Clinical and Genetic Aspects. Clin Med Res, 1(2),
125–136.
5. Kane WJ. Scoliosis prevalence: a call for a
statement of terms. Clin Orthop Relat Res 1977,
126, 43–16.
6. Kaspiris A., Grivas T.B., Weiss H.-R., et al.
(2011). Surgical and conservative treatment of
patients with congenital scoliosis: α search for
long-term results. Scoliosis, 6, 12.
7. Mohanty S. and Kumar N. (2000). Patterns of
presentation of congenital scoliosis. J Orthop Surg
(Hong Kong), 8(2), 33–37.
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI MỘT SỐ CẤU TRÚC NÃO
Ở BỆNH NHÂN TRẦM CẢM MỨC ĐỘ NẶNG
Đỗ Xuân Tĩnh*, Cao Tiến Đức*, Nguyễn Lĩnh Toàn*,
Nguyễn Thành Lê*, Đặng Tiến Trường*
TÓM TẮT40
Mục tiêu: Thể tích một số cấu trúc não ở bệnh
nhân trầm cảm mức độ nặng. Đối tượng và
phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt
ngang ở 72 bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng điều
trị nội trú tại Khoa Tâm thần, Bệnh viện 103 từ tháng
6 – 2015 đến tháng 6 – 2018. Kết quả: Thể tích nội
sọ và thể tích thùy trán ở bệnh nhân trầm cảm nặng
nhỏ hơn so với nhóm chứng (Nội sọ: 1422,09 ±
128,60cm3 so với 1520,36 ± 131,14cm3; thùy trán:
161,82 ± 18,45cm3 so với 168,80 ± 20,73 cm3; p <
0,05). Thể tích não thất bên và não thất ba ở bệnh
nhân trầm cảm nặng lớn hơn so với nhóm chứng
(13,66 ± 5,29cm3 và 1,05 ± 0,31cm3 so với 11,07 ±
6,62 cm3 và 0,80 ± 0,34 cm3; p < 0,05 và p < 0,01.
Hải mã ở bệnh nhân trầm cảm nặng có thể tích nhỏ
hơn rất nhiều so với nhóm chứng (7,99 ± 0,77cm3 so
với 8,88 ± 0,85cm3; p < 0,001). Thể tích nhân đuôi ở
bệnh nhân trầm cảm nhỏ hơn so với nhóm chứng
(6,47 ± 0,86 cm3 so với7,00 ± 0,96cm3; p < 0,05).
Kết luận: Thể tích nội sọ, thể tích thùy trán, thể tích
hải mã và thể tích nhân đuôi giảm ở bệnh nhân trầm
cảm nặng; thể tích não thất bên và não thất ba tăng
ở bệnh nhân trầm cảm nặng.
*Bệnh viện Quân y 103
Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Xuân Tĩnh
Email: doxuantinhbv103@gmail.com
Ngày nhận bài: 18.3.2020
Ngày phản biện khoa học: 7.5.2020
Ngày duyệt bài: 14.5.2020
Từ khóa:
Trầm cảm mức độ nặng; thể tích một
số cấu trúc não.
SUMMARY
RESEARCH PERFORMANCE CHARACTERISTICS
SOME STRUCTURE OF THE BRAIN IN SEVERE
DEPRESSION PATIENTS ABSTRACT
Objectives: The volume of some brain structures
in severe depression patients. Subjects and
Methods: Descriptive research, cross-section in 72
patients with severe depression inpatient were
treated at the Department of Psychiatry, Military
Hospital 103 from June 2015 to June 2018. Results:
The intracranial volume and the frontal lobe volume in
severe depression patients were smaller than the
control group (The intracranial: 1422.09 ± 128.60cm3
compared to 1520.36 ± 131.14cm3; frontal lobe: 161,
82 ± 18.45cm3 compared to 168.80 ± 20.73cm3; p
<0.05). The volume of the lateral ventricles and rd-
ventricles in severe depression patients was larger
than the control group (13.66 ± 5.29cm3 and 1.05 ±
0.31 cm3 so with 11.07 ± 6.62cm3 and 0, 80 ±
0.34cm3 p <0.05 and p <0.01 The hippocampus in
severe depression patients has a much smaller
volume than the control group (7.99 ± 0.77cm3
compared to 8, 88 ± 0.85cm3; p <0.001). The volume
of caudal nucleus in severe depression patients was
smaller than the control group (6.47 ± 0.86cm3
compared with 7.00 ± 0.96cm3; p <0,05).
Conclusion: The intracranial volume, frontal lobe
volume, hippocampus volume and the volume of
caudal decreased severe depression patients; Lateral

vietnam medical journal n02 - MAY - 2020
138
ventricles and rd-ventricles volume increased in
severe depression patients.
Key words:
Severe depression patient; volume of
some brain structure
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn trầm cảm là một trạng thái bệnh lý
tâm thần nội sinh rất phổ biến, cơ chế bệnh sinh
phức tạp, có nhiều yếu tố tham gia trong đó sự
thay đổi hình thái một số cấu trúc não và thiếu
hụt chất dẫn truyền thần kinh serotonin trong
khe sinap của não được coi là nguyên nhân dẫn
đến trầm cảm [1].
Ngày nay, trên thế giới ngày càng có nhiều
nghiên cứu sử dụng hình ảnh não để tìm hiểu về
cấu trúc và chức năng của não trong bệnh trầm
cảm [2], [3], [4]. Các nghiên cứu gần đây cho
thấy có một số vùng não bị thay đổi cấu trúc,
thay đổi thể tích tại một số vùng não đặc biệt
của những người rối loạn trầm cảm. Ở Việt
Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào về cấu
trúc não trong bệnh trầm cảm. Vì vậy chúng tôi
tiến hành đề tài:
Nghiên cứu đặc điểm hình thái
một số cấu trúc não ở bệnh nhân trầm cảm mức
độ nặng.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu 72
bệnh nhân chẩn đoán là trầm cảm mức độ
nặng, điều trị nội trú tại Khoa Tâm thần - Bệnh
viện Quân Y 103 từ tháng 05 năm 2015 đến
tháng 06 năm 2018.Tất cả các BN đều được
khám lâm sàng, 32 bệnh nhân được chọn ngẫu
nhiên chụp MRI sọ não.
*Tiêu chuẩn chẩn đoán: theo tiêu chuẩn của
bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD-
10) về các rối loạn tâm thần và hành vi của
WHO năm 1992, mục F32.
*Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có tiền sử
chấn thương sọ não, các bệnh lý như viêm não,
u não màng não… ảnh hưởng đến thể tích cấu
trúc não
*Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: 41 trường
hợp người Việt Nam bình thường trưởng thành
có tuổi và giới tương ứng với nhóm nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu.
Chúng tôi sử dụng phương pháp tiến cứu
(prospective study), theo dõi cắt ngang, có mẫu
bệnh án nghiên cứu riêng.
Chụp MRI bằng máy 1,5 Tesla (hãng Philips,
Hà Lan, sản xuất năm 2010) tại Khoa Chẩn đoán
Hình ảnh, Bệnh viện Quân y 103. Đo thể tích 1
số cấu trúc não bằng phần mềm chuyên dụng
FreeSurfer (phiên bản 6.0; http://
surfer.nmr.mgh. harvard.edu) và Mango (phiên
bản 4.0.1; http://www.uthscsa.edu/) tại Bộ môn
Giải phẫu – Học viện Quân y.
Xử lý số liệu
bằng phần mềm SPSS 20.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Thể tích nội sọ và thể tích thùy trán ở 2 nhóm nghiên cứu
Thể tích cấu trúc não
(cm3)
Nhóm bệnh
(n = 32)
X ± SD
Nhóm chứng
(n = 41)
X ± SD
p
Thể tích nội sọ
1422,09 ± 128,60
1520,36 ± 131,14
< 0,05
Thùy trán toàn bộ
158,93 ± 21,98
168,80 ± 20,73
< 0,05
Thùy trán bên phải
79,21 ± 11,34
83,75 ± 10,00
> 0,05
Thùy trán bên trái
79,27 ± 10,73
85,04 ± 10,81
< 0,05
Kết quả cho thấy thể tích nội sọ ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng là 1422,09 ± 128,60 cm3 thấp
hơn so với thể tích nội sọ ở nhóm chứng 1520,36 ± 131,14 cm3, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p
< 0,05, thể tích thùy trán toàn bộ ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng 161,82 ± 18,45 cm3 nhỏ hơn
so với thể tích thùy trán toàn bộ ở nhóm chứng 168,80 ± 20,73 cm3, có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Bảng 3.2. Thể tích não thất ở 2 nhóm nghiên cứu
Thể tích cấu trúc não
(cm3)
Nhóm bệnh
(n = 32)
X ± SD
Nhóm chứng
(n = 41)
X ± SD
p
Não thất bên bên phải
6,47 ± 2,57
5,19 ± 3,26
< 0,05
Não thất bên bên trái
7,49 ± 3,12
5,88 ± 3,46
< 0,05
Não thất bên
13,96 ± 5,58
11,07 ± 6,62
< 0,05
Não thất ba
1,09 ± 0,37
0,80 ± 0,34
< 0,01
Não thất bốn
1,62 ± 0,34
1,52 ± 0,49
> 0,05
Kết quả cho thấy thể tích não thất bên và não thất ba ở nhóm bệnh nhân trầm cảm (lần lượt là:
13,66 ± 5,29 cm3 và 1,05 ± 0,31 cm3) lớn hơn so với thể tích não thất bên và não thất ba ở nhóm
chứng (lần lượt là: 11,07 ± 6,62 cm3 và 0,80 ± 0,34 cm3), có ý nghĩa thống kê p < 0,05.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 490 - THÁNG 5 - SỐ 2 - 2020
139
Bảng 3.3. Thể tích hải mã ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Thể tích cấu trúc não
(cm3)
Nhóm bệnh
(n = 32)
X ± SD
Nhóm chứng
(n = 41)
X ± SD
p
Hải mã phải
3,99 ± 0,77
4,41 ± 0,40
< 0,01
Hải mã trái
3,92 ± 0,41
4,47 ± 0,48
< 0,001
Hải mã toàn bộ
7,99 ± 0,77
8,88 ± 0,85
< 0,001
Kết quả cho thấy thể tích hải mã toàn bộ ở nhóm bệnh nhân trầm cảm (7,99 ± 0,77 cm3) nhỏ
hơn so với tích hải mã toàn bộ ở nhóm chứng (8,88 ± 0,85 cm3) có ý nghĩa thống kê p < 0,001.
Bảng 3.4. Thể tích nhân đuôi ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Thể tích cấu trúc não
(cm3)
Nhóm bệnh
(n = 32)
X ± SD
Nhóm chứng
(n = 41)
X ± SD
p
Nhân đuôi phải
3,31 ± 0,44
3,45 ± 0,51
> 0,05
Nhân đuôi trái
3,16 ± 0,42
3,55 ± 0,48
< 0,01
Nhân đuôi hai bên
6,47 ± 0,86
7,00 ± 0,96
< 0,05
Kết quả cho thấy thể tích nhân đuôi ở nhóm bệnh nhân trầm cảm (6,47 ± 0,86 cm3) nhỏ hơn so
với thể tích nhân đuôi ở nhóm chứng (7,00 ± 0,96 cm3) có ý nghĩa thống kê p < 0,05.
Bảng 3.5. Thể tích thể chai ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Thể tích cấu trúc não
(cm3)
Nhóm bệnh
(n = 32)
X ± SD
Nhóm chứng
(n = 41)
X ± SD
p
Mỏ và gối thể chai
0,85 ± 0,13
0,87 ± 0,14
> 0,05
Vùng trung tâm và trước thể chai
0,58 ± 0,18
0,58 ± 0,14
> 0,05
Vùng trung tâm thể chai
0,66 ± 0,19
0,61 ± 0,17
> 0,05
Vùng trung tâm sau và eo thể chai
0,56 ± 0,11
0,47 ± 0,11
< 0,01
Phần đuôi thể chai
0,95 ± 0,14
0,94 ± 0,13
> 0,05
Thể chai toàn bộ
3,61 ± 0,60
3,39 ± 0,94
> 0,05
Kết quả cho thấy thể tích thể chai toàn bộ ở bệnh nhân trầm cảm (3,61 ± 0,60 cm3) lớn hơn so
với thể tích thể chai toàn bộ ở nhóm chứng (3,39 ± 0,94 cm3), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê với p > 0,05.
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thể tích
một số cấu trúc não ở bệnh nhân trầm cảm
nặng nhỏ hơn so với nhóm chứng. Kết quả bảng
3.1 cho thấy thể tích nội sọ ở nhóm bệnh nhân
trầm cảm nặng là 1422,09 ± 128,60 cm3 thấp
hơn so với thể tích nội sọ ở nhóm chứng
1520,36 ± 131,14 cm3, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê p < 0,05. Kết quả này phù hợp với
Bromis K và cs (2018) khi cho rằng một số cấu
trúc não ở những đối tượng có nguy mắc bệnh
trầm cảm cao từ những bệnh nhân bị rối loạn
stress sau sang chấn giảm thể tích não, thể tích
nội sọ, não trước trán và hồi hải mã [2].
Đối với thể tích thùy trán toàn bộ ở bệnh nhân
trầm cảm nặng, bảng 3.1 là 161,82 ± 18,45 cm3
nhỏ hơn so với thể tích thùy trán toàn bộ ở nhóm
chứng 168,80 ± 20,73 cm3, có ý nghĩa thống kê
p < 0,05. Lin C và cs (2017) đã chỉ ra rằng giảm
chất xám ở bệnh nhân trầm cảm nặng không chỉ
xảy ra ở não trước trán, hồi hải mã mà còn giảm
cả ở thùy thái dương bên trên, thái dương bên
phải và thùy đảo [3]. Người ta còn thấy hiện
tượng teo vỏ não trước trán và hạnh nhân là
những vùng kiểm soát về cảm xúc, khí sắc, dẫn
đến giảm tính linh hoạt của tế bào thần kinh và
điều này có thể đóng vai trò chủ yếu trong bệnh
nguyên của trầm cảm.
Bảng 3.2 cho thấy thể tích não thất bên và
não thất ba ở nhóm bệnh nhân trầm cảm (lần
lượt là: 13,66 ± 5,29 cm3 và 1,05 ± 0,31 cm3)
lớn hơn so với thể tích não thất bên và não thất
ba ở nhóm chứng (lần lượt là: 11,07 ± 6,62 cm3
và 0,80 ± 0,34 cm3), có ý nghĩa thống kê p <
0,05. Kết quả này phù hợp với Hendrie C.A và
Pickles A.R (2010) cho rằng trầm cảm có nguồn
gốc từ não thất ba, khi vùng này thay đổi sẽ ảnh
hưởng đến nhịp sinh học, sự thèm ăn, khả năng
tình dục và phản ứng lo lắng sợ hãi của người
bệnh. Thể tích não thất 3 có sự thay đổi rõ rệt
trong bệnh trầm cảm [4]. Bùi Quang Huy (2016)
cho rằng trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính sọ
não, một số bệnh nhân trầm cảm có sự giãn
rộng các não thất, đặc biệt là bệnh nhân trầm
cảm có loạn thần thì hình ảnh giãn rộng não
thất càng rõ ràng hơn [1]
Sivakumar P.T. và cs (2014) nghiên cứu vùng
hipocampus qua chụp MRI sọ não của 25 bệnh

vietnam medical journal n02 - MAY - 2020
140
nhân trầm cảm khởi phát muộn (trong đó 10
nam và 15 nữ tuổi trung bình 65,28 + 5,73 tuổi)
so với 20 người khỏe mạnh (trong đó có 13 nam
và 7 nữ tuổi trung bình 65,35 + 5,67 tuổi) nhận
thấy khối lượng vùng hipocampus của bệnh
nhân trầm cảm giảm hơn so với người khỏe
mạnh (1.01 ± 0.19 ml so với 1.16 ± 0.25 ml)
[5]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng
3.3 cho thấy thể tích hải mã toàn bộ ở nhóm
bệnh nhân trầm cảm (7,99 ± 0,77 cm3) nhỏ hơn
so với tích hải mã toàn bộ ở nhóm chứng (8,88
± 0,85 cm3) với p < 0,001; phù hợp với kết quả
nghiên cứu trên. Năm 2019 Besteher B và cs
nghiên cứu về khối lượng Hypocampal ở bệnh
nhân trầm cảm nhận thấy có mối tương quan
thuận giữa thể tích hồi hải mã bên trái với các
triệu chứng lâm sàng bệnh trầm cảm, hơn nữa
xác định thể tích hồi hải mã không chỉ đánh giá
trạng thái của bệnh mà còn xác định khả năng
phục hồi của bệnh nhân trầm cảm [6].
Kết quả bảng 3.4 cho thấy thể tích nhân đuôi
ở nhóm bệnh nhân trầm cảm (6,47 ± 0,86 cm3)
nhỏ hơn so với thể tích nhân đuôi ở nhóm
chứng (7,00 ± 0,96 cm3) có ý nghĩa thống kê p
< 0,05. Yukel D và CS (2018) nghiên cứu về sự
thay đổi thể tích não ở bệnh nhân trầm cảm
trên phim MRI nhận thấy rằng giảm thể tích
chất xám ở vùng limbic. Đặc biệt giảm thể tích
não được đo và xác định ở các khu vực bao
gồm: đồi hải mã, vỏ não trước trán, đồi thị,
nhân đuôi và thể vân [7]. Năm 2004, David C.
và cộng sự đó nhận thấy có hiện tượng teo ở
vùng trước trán, thái dương và nhân đuôi của
người bị trầm cảm. Sau khi điều trị bằng các
thuốc chống trầm cảm, tình trạng này thuyên
giảm cùng với sự cải thiện của các triệu chứng
trầm cảm [8]
Hahn C và cs (2015) khi nghiên cứu thể tích
thể chai trên phim MRI ở bệnh nhân trầm cảm
khởi phát muộn đã nhận thấy khối lượng thể
chai ở nhóm bệnh nhân đã giảm đáng kể so với
nhóm chứng. Tác giả cho rằng sự thay đổi thể
tích thể chai đóng vai trò quan trọng trong cơ
chế bệnh sinh của những bệnh nhân bị bệnh
trầm cảm khởi phát muộn [9]. Kết quả cho thấy
thể tích thể chai toàn bộ ở bệnh nhân trầm cảm
(3,61 ± 0,60 cm3) lại lớn hơn so với thể tích thể
chai toàn bộ ở nhóm chứng (3,39 ± 0,94 cm3),
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
với p > 0,05.
V. KẾT LUẬN
- Thể tích nội sọ và thùy trán (1422,09 ±
128,60 cm3 và 158,93 ± 21,98 cm3) ở bệnh
nhân trầm cảm nặng nhỏ hơn so với người bình
thường (1520,36 ± 131,14 cm3 và 168,80 ±
20,73cm3), với p < 0,05
- Não thất bên và não thất ba ở bệnh nhân
trầm cảm nặng giãn rộng hơn so với người bình
thường (13,66 ± 5,29cm3 và 1,05 ± 0,31cm3 so
với 11,07 ± 6,62cm3 và 0,80 ± 0,34cm3), với p
< 0,05.
- Thể tích hải mã, nhân đuôi ở bệnh nhân
trầm cảm nặng nhỏ hơn so với người bình
thường, (7,99 ± 0,77 cm3và 6,47 ± 0,86 cm3so
với 8,88 ± 0,85 cm3và 7,00 ± 0,96 cm3), với p <
0,001 và p < 0,05.
Như vậy, nồng độ serotonin huyết tương, dịch
não tủy giảm ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng;
nông độ serotonin huyết tương, dịch não tủy có
liên quan tới tuổi, triệu chứng loạn thần, hành vi
tự sát ở nhóm bệnh nhân trầm cảm nặng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Quang Huy, Đinh Việt Hùng, Đỗ Xuân
Tĩnh ( 2016). Rối loạn trầm cảm. Nhà xuất bản y
học - Hà Nội.
2. Bromis K., Calem M., Reinders A., et al.
(2018). Meta-Analysis of 89 Structural MRI
Studies inPosttraumatic Stress Disorder and
Comparison With Major Depressive Disorder. AJP
in Advance.
3. Lin C., Bian Y., Han X.L., et al. (2017). Gray
Matter Reduction in Currently Depressed Patients
of Major Depressive Disorder: A Meta-Analysis.
Neuropsychiatry(5): 596–605.
4. Hendrie C.A., Pickles A.R. (2010). Depression
as an evolutionary adaptation: Anatomical
organisation around the third ventricle. Medical
Hypotheses 74, pp. 735–740
5. Sivakumar PT, Kalmady SV,
Venkatasubramanian G et al (2014).
Volumetric analysis of hippocampal sub-regions in
late onset depression: A 3 tesla magnetic
resonance imagingstudy. Asian J Psychiatr, pp.
1876-2018.
6. Besteher B., Squarcina L., Spalthoff R et al
(2019). Hippocampal Volume as a Putative
Marker of Resilience or Compensation to Minor
Depressive Symptoms in a Nonclinical Sample.
Original Research published, Vol 10, 0467.
7. Yüksel D., Engelen J., Schuster V., et al.
(2018). Longitudinal brain volume changes in
major depressive disorder. Journal of Neural
Transmission.
8. David C., Daniel M.K., Gursh C., et al. (2004).
Reducde Neuronal Size and Glial Cell Density in
Area 9 of the Dorsolateral Prefrontal Cortex in
Subject with Major Depressive Disorder. Cerebral
Cortex 12: 386-394.
9. Hahn C., Lim H.,Won W., et al. (2015). Sub-
regional volumes changes of the corpus callosum
in the drug naive patients with late-onset
depression. Progress in Neuro-
Psychopharmacology & Biological Psychiatry 56:
46–51.

