
HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
222
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TẦN SỐ ĐỈNH VÀ LIÊN QUAN
VỚI TUỔI, GIỚI Ở NHÓM BỆNH NHÂN RUN NGUỒN GỐC TRUNG ƯƠNG
Vũ Thị Hinh1, Vũ Thị Hoàng Yến1, Nguyễn Thị Hải Yến1,
Nguyễn Ngọc Ánh1, Nguyễn Văn Liệu1
TÓM TẮT28
Đặt vấn đề: Run là một rối loạn vận động
thường gặp, có thể có nguồn gốc ngoại biên hoặc
trung ương. Trong các thể run trung ương như
run Parkinson, run vô căn, run loạn trương lực,
tần số đỉnh (peak frequency) có thể hỗ trợ trong
chẩn đoán phân biệt các thể bệnh, đặc biệt khi ở
giai đoạn sớm hoặc biểu hiện lâm sàng không
điển hình.
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm tần số đỉnh và
yếu tố liên quan như tuổi tác, giới tính ở bệnh
nhân mắc các loại run có nguồn gốc trung ương.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả trên các bệnh nhân ≥18 tuổi
đến khám tại bệnh viện đa khoa Tâm Anh Hà
Nội từ tháng 3 năm 2024 đến tháng 6 năm 2025,
được chẩn đoán run trung ương gồm bệnh
Parkinson (PD), run vô căn (ET), và run loạn
trương lực (DT). Tất cả bệnh nhân được đánh giá
bằng gia tốc kế và điện cơ bề mặt đa pha.
Kết quả: Tổng số 230 bệnh nhân đủ tiêu
chuẩn nghiên cứu, gồm 115 bệnh nhân PD, 70
ET và 45 DT. Run khi nghỉ phổ biến nhất ở
nhóm PD (97,4%), trong khi run tư thế chiếm ưu
thế ở nhóm ET (100%) và DT (97,8%). Run tần
1Khoa Thần kinh - Đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa
Tâm Anh
Chịu trách nhiệm chính: Vũ Thị Hinh
SĐT: 0358277548
Email: vuthihinh@gmail.com
Ngày nhận bài: 15/7/2025
Ngày phản biện khoa học: 29/7/2025
Ngày duyệt bài: 07/8/2025
số đều chiếm tỷ lệ cao ở nhóm PD (96,5%) và
ET (92,9%), trong khi run tần số không đều
chiếm ưu thế trong nhóm DT (88,9%). Tần số
đỉnh trung bình thấp nhất ở nhóm PD (5,02 ±
0,98 Hz), cao hơn ở nhóm DT (6,38 ± 1,59 Hz)
và cao nhất ở nhóm ET (7,16 ± 1,61 Hz); sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Nhóm PD
ghi nhận hiện tượng run tái hoạt (75,7%) với tần
số đỉnh 5.30 ± 1.03 Hz. Sau khi mang vật nặng,
tần số đỉnh thay đổi lần lượt ở các nhóm: PD
(0,25 ± 0.49 Hz), ET (0.15 ± 0,54 Hz), DT (0.13
± 0.87 Hz). Có mối tương quan nghịch chiều
giữa tần số đỉnh khi nghỉ và tuối trong nhóm run
PD (r=-0.428, p< 0.001), giữa tần số đỉnh khi
duy trì tư thế và tuổi trong nhóm ET (r= - 0.52,
p< 0.001). Không có sự khác biệt về tần số đỉnh
khi nghỉ, khi duy trì tư thế, và khi cử động giữa
nam và nữ trong cả 3 nhóm (p > 0.05).
Kết luận: Thông qua phân tích run, tần số
đỉnh có giá trị trong phân biệt PD, ET, và DT. Có
mối liên quan giữa tần số đỉnh với tuổi trong
nhóm PD và ET.
Từ khoá: Run trung ương, bệnh Parkinson,
run vô căn, run loạn trương lực, đa ký run
SUMMARY
PEAK FREQUENCY
CHARACTERISTICS AND
ASSOCIATED FACTORS IN PATIENTS
WITH CENTRAL-ORIGIN TREMOR
Introduction: Tremor is a common
movement disorder. Tremors can originate from
either the peripheral or central nervous system. In
central tremor types such as Parkinsonian tremor,

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
223
essential tremor, and dystonic tremor, peak
frequency may assist in the differential diagnosis,
particularly in early stages or when clinical
manifestations are atypical.
Objective: To investigate the characteristics
of peak tremor frequency and its associated
factors in patients with central-origin tremor.
Subjects and Methods: A cross-sectional
descriptive study was conducted on patients aged
≥18 years who visited Tam Anh General Hospital
in Hanoi from March 2024 to June 2025 and
were diagnosed with central tremor, including
Parkinson’s disease (PD), essential tremor (ET),
and dystonic tremor (DT). All patients were
evaluated using multi-channel surface
electromyography and accelerometry.
Results: A total of 230 patients met the
inclusion criteria: 115 with PD, 70 with ET, and
45 with DT. Rest tremor was most common in
the PD group (97.4%), while postural tremor
predominated in the ET (100%) and DT (97.8%)
groups. Regular-frequency tremor was prevalent
in PD (96.5%) and ET (92.9%), whereas
irregular-frequency tremor was more common in
DT (88.9%). The lowest mean peak frequency
was observed in the PD group (5.02 ± 0.98 Hz),
followed by DT (6.38 ± 1.59 Hz), and highest in
ET (7.16 ± 1.61 Hz), with statistically significant
differences (p < 0.001). Re-emergent tremor was
observed only in PD (75.7%), with a peak
frequency of 5.30 ± 1.03 Hz. After loading
(weight-bearing), changes in peak frequency
were as follows: PD (0.25 ± 0.49 Hz), ET (0.15 ±
0.54 Hz), and DT (0.13 ± 0.87 Hz). A negative
correlation was found between resting peak
frequency and age in PD (r = -0.428, p < 0.001),
and between postural peak frequency and age in
ET (r = -0.52, p < 0.001). There were no
significant differences in peak frequency at rest,
during posture holding, or during action between
males and females across all three groups (p >
0.05).
Conclusion: Through tremor analysis, peak
frequency is valuable in distinguishing PD, ET,
and DT. There is an association between peak
frequency and age in the PD and ET groups.
Keywords: Central tremor, Parkinson’s
disease, essential tremor, dystonic tremor, peak
frequency, tremor analysis.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Run là một vận động không chủ ý, nhịp
nhàng, lặp đi lặp lại, thường gặp trong các
bệnh lý thần kinh1. Run có thể có nguồn gốc
ngoại biên hoặc trung ương. Trong các thể
run trung ương, ba loại phổ biết nhất là: run
trong bệnh Parkinson (PD), run vô căn (ET),
run loạn trương lực (DT)2. Việc phân biệt các
loại run này có ý nghĩa quan trọng trong chẩn
đoán, tiên lượng và điều trị.
Trong chẩn đoán phân loại run, việc hỏi
bệnh sử kỹ càng và thăm khám cẩn thận là
vô cùng cần thiết, nhưng đôi khi chưa đủ để
xác định. Tần số đỉnh của run (Peak
frequency) là một thông số có thể được định
lượng khách quan, được ghi nhận thông qua
phân mềm phân tích run sử dụng gia tốc kế
và điện cơ bề mặt đa pha. Thông số này đặc
biệt hữu ích trong việc phân loại kiểu run,
nhất là ở giai đoạn sớm hoặc khi biểu hiện
lâm sàng không điển hình.3 Các nghiên cứu
cho thấy tần số đỉnh của run Parkinson
thường dao động từ 4-6 Hz ở tư thế nghỉ,
tăng nhẹ khi hoạt động với tần số trung bình
5.3-6.5 Hz, trong khi đó với run ET tần số
đỉnh chủ yếu trong khoảng 4-12 Hz, run DT
thường 4-10 Hz. Có thể thấy có sự chồng lấp
về tần số giữa 3 nhóm. Tuy nhiên, đa số các
nghiên cứu hiện tại mới chỉ dừng lại mô tả
tần số đỉnh ở một nhóm hoặc so sánh tần số
đỉnh giữa hai trong ba nhóm kể trên3,4,5.

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
224
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện
nhằm bước đầu mô tả tần số đỉnh ở cả ba
nhóm ET, PD và DT, đồng thời phân tích liên
quan của tần số đỉnh với tuổi và giới tính.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng:
- Bệnh nhân ≥18 tuổi thỏa mãn tiêu
chuẩn chẩn đoán PD, ET, DT tại Bệnh viện
Đa khoa Tâm Anh Hà Nội từ tháng 3/2024
đến tháng 6/2025.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
Phương pháp: Tất cả bệnh nhân được
đánh giá run bằng điện cơ bề mặt đa pha và
gia tốc kế một trục. Gia tốc kế được gắn theo
trục cử động lớn nhất tại mu bàn tay, ngón
tay, cẳng chân, mu chân hai bên tuỳ theo
triệu chứng của người bệnh. Điện cực bề mặt
được dán theo cặp tại các vị trí cơ đồng vận
và đối vận hai bên tương ứng. Điện cực đất
được gắn ở vị trí thuận tiện. Bệnh nhân lần
lượt được khảo sát khi nghỉ, khi duy trì các
tư thế khác nhau, duy trì tư thế/nghỉ mang tạ
500g và khi cử động, khi làm các nghiệm
pháp khác như nghiệm pháp xao lãng, lôi
cuốn (nếu cần). Mỗi trạng thái được khảo sát
trong khoảng 30 đến 60 giây. Tần số đỉnh
được ghi nhận nhờ phần mềm phân tích run.
So sánh trung bình tần số đỉnh giữa các
nhóm sử dụng tần số đỉnh ở trạng thái có tỉ lệ
gặp cao nhất trong mỗi nhóm (ANOVA test).
Giá trị p nhỏ hơn 0.05 được coi là có ý nghĩa
thống kê.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 1. Đặc điểm về giới ở các nhóm
Bảng 1. Đặc điểm về tuổi ở 3 nhóm. Không có sự khác biệt về giới tuổi các nhóm
Trung bình
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Nhóm ET (n=70)
59.07 ± 16.66
18
95
Nhóm PD (n=115)
61.42 ± 13.42
24
86
Nhóm DT (n=45)
61.47 ±. 13.57
18
95

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 554 - THÁNG 9 - SỐ CHUYÊN ĐỀ - 2025
225
Tổng số có 230 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn
nghiên cứu, gồm 115 bệnh nhân PD, 70 ET
và 45 DT.
Run khi nghỉ phổ biến nhất ở nhóm PD
(97,4%), trong khi run tư thế chiếm ưu thế ở
nhóm ET (100%) và DT (97,8%). Run tần số
đều chiếm tỷ lệ cao ở nhóm PD (96,5%) và
ET (92,9%), trong khi run tần số không đều
chiếm ưu thế trong nhóm DT (88,9%). Tần
số đỉnh trung bình thấp nhất ở nhóm PD
(5,02 ± 0,98 Hz), cao hơn ở nhóm DT (6,38
± 1,59 Hz) và cao nhất ở nhóm ET (7,16 ±
1,61 Hz); sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p
< 0,001). 75,7% bệnh nhân nhóm PD ghi
nhận hiện tượng run tái hoạt với tần số đỉnh
5.30 ± 1.03 Hz. Sau khi mang vật nặng, tần
số đỉnh thay đổi lần lượt ở các nhóm: PD
(0,25 ± 0.49 Hz), ET (0.15 ± 0,54 Hz), DT
(0.13 ± 0.87 Hz).
Bảng 2. Giá trị tần số theo trạng thái trong 3 nhóm
Nhóm PD
Nhóm ET
Nhóm DT
Run khi nghỉ
Tần số đỉnh
5.02 ± 0.98
6.72 ± 1.67
5.39 ± 1.11
n
112
21
13
Run tư thế
Tần số đỉnh
5.44 ± 1.15
7.16 ± 1.62
6.38 ± 1.59
n
82
70
44
Run cử động
Tần số đỉnh
6.42 ± 1.63
7.54 ± 1.50
7.08 ± 1.56
n
19
59
28
Có mối tương quan nghịch giữa tần số đỉnh và tuổi trong nhóm PD (r = -0,428; p < 0,001)
và nhóm ET (r = -0,52; p < 0,001), không có ở nhóm DT. Không có khác biệt tần số đỉnh theo
giới ở cả ba nhóm (p > 0,05).
Biểu đồ 2. Mối liên quan giữa tần số run khi nghỉ và tuổi ở nhóm PD

HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN NĂM 2025 – HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
226
Biểu đồ 3. Mối liên quan giữa tần số run tư thế và tuổi ở nhóm ET
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt rõ
rệt về tần số đỉnh giữa ba nhóm run nguồn
gốc trung ương gồm: bệnh Parkinson (PD),
run vô căn (ET) và run loạn trương lực (DT),
trong đó tần số đỉnh thấp nhất ở nhóm PD,
cao hơn ở nhóm DT, và cao nhất ở nhóm ET.
Cụ thể, tần số đỉnh trung bình là 5,02 ± 0,98
Hz ở nhóm PD, 6,38 ± 1,59 Hz ở nhóm DT
và 7,16 ± 1,61 Hz ở nhóm ET, với sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). Kết quả
này phù hợp với dữ liệu trong hầu hết các
nghiên cứu trước đây.3,4 Tần số của hầu hết
các nhóm run bệnh lý là từ 4 đến 8 Hz.1
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tần số đỉnh
run khi nghỉ trung bình ở nhóm PD (5,02 ±
0,98 Hz) nằm trong khoảng điển hình 4–7
Hz được báo cáo ở các nghiên cứu.6,7 Tần số
này phản ánh cơ chế sinh lý bệnh đặc trưng
liên quan đến rối loạn hoạt động của các
nhân nền, đặc biệt là vòng liên kết giữa cầu
nhạt trong (Gpi), đồi thị (thalamus), và vỏ
não vận động. Trong khi đó, nhóm ET có tần
số đỉnh cao nhất (7.16 ± 1.62), tương tự như
trong nghiên cứu của Kartika Gulati và
Sanjay Pandey năm 2024 mô tả tần số run
trong ET dao động từ 5 đến 10 Hz, thường là
run tư thế hoặc run khi vận động. Run ET
phản ánh hoạt động của mạng lưới tiểu não-
đồi thị-vỏ não.7
Run DT có tần số đỉnh là 6.38 ± 1.59,
nằm trong khoảng trung gian giữa PD và ET.
Tuy nhiên, khác với hai nhóm còn lại, DT
chủ yếu biểu hiện tính chất không đều
(88.9%). Điều này có thể được lý giải thông
qua cơ chế bệnh sinh của loạn trương lực.
Bản chất loạn trương lực là do sự rối loạn về
kiểm soát trương lực cơ dẫn đến co cơ liên

