
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 632
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT
VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỌC MỞ RỘNG
PERCEPTIONS OF FIRST YEAR STUDENTS
ABOUT EXTENDED READING ACTIVITIES
Nguyễn Xuân Bắc1,*, Phạm Việt Cường1, Mẫn Đức Cường1,
Nguyễn Vũ Quang Minh2, Tạ Văn Hoàng1, Đinh Thị Bích Ngọc3
1Lớp NNAN 01- K17, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Lớp NNAN 03- K17, Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
3Trường Ngoại ngữ - Du lịch, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: bacnguyenxuanx@gmail.com
TÓM TẮT
Bài báo nhằm tìm hiểu nhận thức của sinh viên ( SV) năm thứ nhất chuyên ngành Tiếng Anh tại Trường Đại học Công
nghiệp Hà Nội về hoạt động đọc mở rộng ( ĐMR) trong dạy và học tiếng Anh, xác định các giải pháp nhằm phát triển văn
hóa đọc tiếng Anh cho SV và cải thiện chương trình giảng dạy kỹ năng đọc hiểu ở khoa tiếng Anh.
Từ khóa: Nhận thức, sinh viên năm nhất, đọc mở rộng, lợi ích, thách thức.
ABSTRACT
The article aims to understand the awareness of first-year students majoring in English at Hanoi University of Industry
about extensive reading activities (DMR) in teaching and learning English, and identify solutions to Developing an English
reading culture for students and improving the reading comprehension skills curriculum in the English department.
Keywords: Perception, first-year students, extensive reading, benefit, challenge.
1. GIỚI THIỆU
Nghiên cứu này tập trung vào việc khai thác nhận thức
SV về hiệu quả của hoạt động ĐMR trong giảng dạy tiếng
Anh cho SV ngành Ngôn ngữ Anh tại trường Đại học
Công nghiệp Hà Nội. Lý do chọn đề tài xuất phát từ nhận
thức rõ ràng về những lợi ích quan trọng của ĐMR mang
lại, bao gồm cải thiện vốn từ vựng, kỹ năng ngôn ngữ và
phát triển tư duy phản biện. Nhóm nghiên cứu, gồm các
SV năm thứ hai với kinh nghiệm thực tế trong môi trường
học tập tiếng Anh, đã áp dụng ĐMR và đạt được nhiều kết
quả tích cực. Từ đó, nhóm mong muốn tìm hiểu nhận thức
SV năm thứ nhất về hoạt động này. Mục tiêu của nghiên
cứu là đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy thói quen
ĐMR, khắc phục những thách thức hiện tại bao gồm ảnh
hưởng của công nghệ thông tin và sự thiếu kiên nhẫn khi
đọc tài liệu mở rộng.
Tổng số có 219 đối tượng SV tham gia vào quá trình
khảo sát, trong đó có 112 SV đã tìm hiểu về hoạt động đọc
mở rộng cũng như đã áp dụng hoạt động này trong quá trình
học, 83 đối tượng SV đã tìm hiều nhưng chưa áp dụng hoạt
động này và còn lại là 24 đối tượng SV chưa tìm hiểu về
đọc theo như nhóm nghiên cứu đã khảo sát trước đó. Nhóm
nghiên cứu nhận thấy rằng, mặc dù nhiều SV nhận thức
được tầm quan trọng của ĐMR, họ vẫn gặp khó khăn trong
việc duy trì thói quen đọc thường xuyên do thiếu thời gian,
động lực và tài liệu phù hợp. Để giải quyết những vấn đề
này, nghiên cứu đề xuất các biện pháp như đa dạng hóa tài
liệu thư viện, tổ chức các hoạt động ngoại khóa như thảo
luận sách, cuộc thi viết bài cảm nhận về sách và sử dụng
công nghệ hiện đại để kết nối và chia sẻ tài liệu với SV.
Ngoài ra, việc khuyến khích SV tự lập kế hoạch đọc hàng
ngày và theo dõi tiến trình cũng rất quan trọng. Cuối cùng,
nghiên cứu này đưa ra các kết quả nhằm góp phần cải thiện
chất lượng giảng dạy ngoại ngữ, xây dựng văn hóa đọc
trong SV và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của SV.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đọc mở rộng (ER - Extensive Reading) là một phương
pháp cho phép người học cải thiện khả năng đọc hiểu của
bằng cách chọn loại tài liệu đọc phù hợp với trình độ và đọc
càng nhiều càng tốt. Cách tiếp cận này khuyến khích sự độc
lập và tự do lựa chọn trong quá trình học tập của đọc giả
[3]. Nguyên tắc ĐMR dựa trên khái niệm "reading by
reading" nghĩa là người học không bị hạn chế bởi tài liệu
đọc cụ thể và được khuyến khích đọc để lấy thông tin hoặc

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 633giải trí. ĐMR tập trung vào việc hiểu văn bản hơn là từ vựng
hay ngôn ngữ. Phương pháp này được cho là có thể bồi
dưỡng thói quen đọc lâu dài, xây dựng vốn từ vựng và hiểu
biết của học sinh từ đó phát triển tình yêu đọc sách.
2.1. Phân biệt Đọc mở rộng và Đọc chuyên sâu
Đọc mở rộng là một phương pháp dạy và học kỹ năng
đọc giúp học sinh tiếp cận với nhiều loại sách hoặc tài liệu
khác nhau mà họ tự chọn phù hợp với trình độ của mình.
Mục tiêu của phương pháp này là hiểu ý nghĩa của văn bản.
Đọc chuyên sâu là phương pháp chủ yếu được sử dụng
trong lớp học để dạy và học kỹ năng đọc. Phương pháp này
bao gồm việc giáo viên thiết kế nhiều bài tập và hoạt động
nhằm giảng dạy rõ ràng các kỹ năng đọc, chiến lược đọc và
kỹ năng đọc hiểu. Đọc chuyên sâu là phương pháp giảng
dạy lấy giáo viên làm trung tâm, thường sử dụng các đoạn
văn ngắn để giảng dạy các điểm ngữ pháp và từ vựng. Mục
tiêu chính của đọc chuyên sâu là giúp người học hiểu nghĩa
đen của văn bản.
ĐMR là đọc nhanh và với số lượng lớn, nhằm tận hưởng
việc đọc sách. Các tài liệu này thường rất dễ tìm đọc, chúng
được lựa chọn bởi người đọc và có độ khó của những văn
bản đọc sẽ tương đương hoặc thấp hơn so với trình độ của
người đọc. Trong khi đó, đọc chuyên sâu chỉ giới hạn ở văn
bản ngắn nhằm mục đích hiểu toàn bộ nội dung bài học.
Phương pháp này tập trung vào tính chính xác hơn là sự trôi
chảy, nhấn mạnh vào nghiên cứu chi tiết từ vựng và nghữ
pháp, do đó, độ khó của tài liệu thường ở mức khá cao
2.2. Những lợi ích của việc đọc mở rộng
ĐMR giúp tăng khả năng đọc hiểu, tăng tốc độ đọc và
mở rộng vốn từ vựng. Các kĩ năng ngôn ngữ khác như viết,
nói, nghe cũng được nâng cao nhờ phương pháp này.
ĐMR cũng được khẳng định như một phương tiện học
từ vựng hữu hiệu, tạo cơ hội cho người đọc tiếp xúc với từ
vựng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, giúp họ ghi nhớ và
hiểu từ ở mức độ sâu hơn. Từ đó, vốn từ vựng cũng tăng lên
rất nhiều.
Việc thực hành ĐMR mang đến lợi ích cho người học ở
mọi trình độ, từ sơ cấp cho đến cao cấp. ĐMR giúp tăng
cường năng lực tự chủ của người học và làm thay đổi thói
quen học tập. Phương pháp này giúp làm giảm lo âu, tăng
động lực học, hình thành thái độ học tập tích cực, tăng vốn
kiến thức và văn hóa của người đọc.Tóm lại, dù thực hành
trên sách giấy hay sách điện tử (e- book) thì ĐMR đều mang
lại những kết quả tích cực tương tự.
Nghiên cứu của Le [7] cho rằng ĐMR giúp thúc đẩy việc
học tập lấy người học làm trung tâm. Phương pháp này rất
phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học ở Việt Nam và nên
được tích hợp vào chương trình giảng dạy nhằm nâng cao
hiệu quả. Các nghiên cứu khác đối với SV Việt Nam cũng
cho thấy, ĐMR giúp cải thiện kĩ năng đọc hiểu lẫn đọc trôi
chảy, tăng cường vốn từ vựng, thúc đẩy tinh thần tự chủ của
người học và tạo thái độ tích cực hơn đối với việc thực hành
đọc ngoại ngữ. Việc đọc hiểu và đọc nhanh có thể song hành
và ĐMR là một phương pháp hiệu quả giúp người học cải
thiện tốc độ đọc và có thể đọc trôi chảy hơn.
2.3. Những khó khăn của hoạt động đọc mở rộng
Giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai
(ĐMR) do quá tải công việc, mệt mỏi và thiếu đào tạo. Hơn
nữa, ĐMR thường được coi là một phần độc lập trong
chương trình giáo dục, không nhận được sự quan tâm đúng
mức từ học sinh. Học sinh gặp khó khăn trong việc tham
gia ĐMR do áp lực từ khối lượng công việc học tập hàng
ngày như bài kiểm tra, bài tập và các hoạt động trường học.
Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những vấn đề tiềm ẩn trong
việc triển khai ĐMR. Việc sử dụng văn bản đơn giản thay vì
các văn bản thực tế làm quá trình học từ vựng trở nên hạn chế
và hời hợt. Ngoài ra, chi phí đầu tư lớn và thiếu hướng dẫn
cụ thể về ngôn ngữ trong văn bản cũng gây ra những rào cản
đối với sự phát triển kiến thức ngôn ngữ của học sinh.
Ngoài các khó khăn của học sinh trong việc áp dụng
phương pháp ĐMR, có ba vấn đề chính trong việc triển khai
ĐMR. Thứ nhất, chi phí xây dựng và duy trì thư viện sách
truyện cao.Thứ hai, thách thức trong việc đảm bảo trách
nhiệm từ học sinh. Thứ ba, việc giám sát và đưa ra phản hồi
cũng là một thách thức lớn đối với giáo viên, đặc biệt khi
việc đọc diễn ra ngoài giờ học. Những vấn đề này có thể
ảnh hưởng đến sự sẵn lòng và đam mê của giáo viên trong
việc vận dụng phương pháp ĐMR.
2.4. So sánh kết quả của các nghiên cứu trước
Thông qua phân tích tổng hợp về nghiên cứu ĐMR, có
thể thấy rằng việc áp dụng ĐMR là một trong những
phương pháp giảng dạy hiệu quả khi bắt đầu cải thiện trình
độ đọc.
Sau khi thu thập dữ liệu từ bảng khảo sát, nhóm nghiên
cứu tiến hành phỏng vấn (PV) với 15 SV, mỗi cuộc phỏng
vấn kéo dài khoảng 15 phút để thu thập thêm thông tin cụ
thể về quan điểm của SV về ĐMR. Bộ câu hỏi trong cuộc
PV được xây dựng dựa trên kết quả khảo sát, tập trung vào
thái độ đọc và nhận thức của SV về hoạt động này.
Cuộc phỏng vấn làm rõ lợi ích của ĐMR như cải thiện
vốn từ vựng, mở rộng kiến thức, và nâng cao tư duy phản
biện. Đồng thời, những khó khăn SV gặp phải khi áp dụng
ĐMR như thiếu tài liệu, hạn chế thời gian, và thiếu kỹ năng
tự quản lý cũng được nêu ra. Qua đó, nhóm nghiên cứu đề
xuất các giải pháp hỗ trợ SV vượt qua các trở ngại này.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thói quen của SV về hoạt động đọc tiếng Anh
Kết quả khảo sát ban đầu về độ tuổi của đối tượng SV
tham gia khảo sát trong bảng 1 cho thấy đối tượng khảo
sát tập trung chủ yếu là SV ngành NNA, phần lớn số SV
khảo sát có độ tuổi trung bình từ 18 đến 20 (trung bình =

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 6341,15), các SV đã học TA trong khoảng thời gian từ 5 đến
6 năm (trung bình = 3,3) với khoảng tin cậy 95% thời gian
tiếp cận với TA của SV là 3,25 ÷ 3,51 với trị số p<2,2e-16 chỉ
ra rằng kết quả này là có ý nghĩa thống kê. Điều này cho
thấy rằng không chỉ có sự tiếp xúc lâu dài với TA mà còn
có một mức độ tin cậy cao về dữ liệu thu thập được, loại
bỏ khả năng dữ liệu ngẫu nhiên hoặc sai lệch. Qua dữ liệu
trên, có thể thấy rằng việc học TA là một phần không thể
thiếu trong quá trình học tập của SV ngành NNA. Điều
này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc học TA trong việc
phát triển kỹ năng ngôn ngữ và hỗ trợ cho quá trình học
tập và nghiên cứu của SV.
Từ bảng khảo sát trên (bảng 2) về cơ hội tiếp cận các tài
liệu của đối tượng SV năm nhất ngành NNA về việc đọc
sách TA, có thể nhận thấy rằng đối tượng SV ít khi có cơ
hội đọc sách và tài liệu TA trong quá trình học TA trước
đây (trung bình = 2,85) với khoảng tin cậy 95% thời gian
đã học TA của SV là 2,73 ÷ 2.97 với trị số p<2,2e-16 là có ý
nghĩa thống kê. Điều này đã nói lên cơ hội tiếp cận các tài
liệu đọc bằng TA trước đây của các đối tượng SV là không
nhiều.
Phân tích kết quả khảo sát về tần suất ĐMR sách và tài
liệu TA của SV cho thấy một bức tranh rõ nét về thói quen
Bảng 1. Đặc trưng thống kê về độ tuổi và thời gian tiếp cận việc học tiếng Anh của đối tượng SV tham gia khảo sát
N Minimum
Maximum Mean Std. Deviation
95 percent confidence
interval
p-value
1. Bạn thuộc độ tuổi
nào? 219 18– 20 tuổi
Trên 25 tuổi
1,15 ,425 1,08 ÷ 1,20 <2,2e-16
2. Bạn đã học tiếng
Anh bao lâu? 219 2-4 năm Hơn 6 năm
3,39 ,982
3,25 ÷ 3,51
<2,2e-16
1.(18-20) ; 2.(21-25) ; 3.(Trên 25)
1.(2-4 năm) ; 2.(4-5 năm) ; 3.( 5-6 năm) ; 4.( hơn 6 năm)
Bảng 2. Đặc trưng thống kê về cơ hội tiếp cận các tài liệu tiếng Anh của SV
N Minimum
Maximum Mean Std. Deviation
95 percent confidence
interval p-value
3. Bạn có cơ hội đọc
sách tiếng Anh trước
đây chưa ?
219 1 4 2.85 ,917 2,73 ÷ 2,97 <2,2e-16
1.(không, chưa bao giờ ); 2.(hiếm khi); 3.(đôi khi); 4.(thường xuyên )
N Minimum
Maximum
Mean Std.
Deviation
95 percent
confidence interval
p-value
4. Trong thời gian rảnh rỗi,
bạn đọc sách tiếng Anh bao
nhiêu lần?
219 1 4 2.39 1.126 2.24 ÷ 2.54 <2,2e-16
5. Trong 12 tháng qua, bạn đã
đọc bao nhiêu cuốn sách tiế
ng
Anh ?
219 1 4 2,24 ,846 2,12 ÷ 2.35 <2,2e-16
Hình 1. Đặc trưng thống kê về tần suất đọc sách tiếng Anh của SV
1.(không bao giờ ); 2.(đôi khi,trong kỳ nghỉ);3.(mỗi 1-2 tháng một lần ); 4.(ít nhất một lần một tuần hoặ thường xuyên hơn)
1.(0 cuốn ); 2.(1-2 cuốn ); 3.( 3-4 cuốn ); 4.( hơn 4 cuốn )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 635đọc sách của SV. Biểu đồ cho thấy 24,7% SV chỉ đọc sách
TA mỗi 1-2 tháng một lần(trung bình = 2,39). Khoảng tin
cậy 95% cho số lượng sách TA mà SV đọc là từ 2,24 đến
2,54, với trị số p<2,2e-16, chứng minh rằng sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê đáng kể. Đáng chú ý, 29,2% SV không
bao giờ có thói quen đọc sách TA, trong khi 24,2% chỉ đọc
sách TA trong kỳ nghỉ. Điều này cho thấy rằng thói quen
đọc sách TA chưa phổ biến, phản ánh một sự hạn chế rõ rệt
trong việc xây dựng thời gian biểu hoặc nhận thức về tầm
quan trọng của việc đọc tài liệu TA.
Hình 1 cũng chỉ ra rằng số lượng sách TA trung bình mà
SV đọc là khoảng 1-2 cuốn mỗi năm (trung bình = 2,24), với
khoảng tin cậy 95% là từ 2,12 đến 2,35, và trị số p<2,2e-16
tiếp tục khẳng định tính chính xác của dữ liệu. Trong đó,
nhóm SV không đọc cuốn sách TA nào trong một năm
chiếm 16,9%. Tần suất đọc sách TA thấp này cho thấy sự
hứng thú và quan tâm đến ĐMR tài liệu TA của SV không
cao.
6. Bạn đọc bằng tiếng Anh thông qua đâu trong thời gian
rảnh rỗi của mình?
Hình 2. Đặc trưng thống kê về nguồn tài liệu đọc mở rộng tiếng Anh
1.(đọc ít nhất ); 2.(đọc ít ); 3.(đọc nhiều )
Theo kết quả thu được, có một sự ưu tiên rõ rệt về việc
đọc sách, với 45,51% SV cho biết họ đọc sách nhiều nhất
trong thời gian rảnh rỗi của mình. Điều này có thể chỉ ra sự
ưa thích của SV về việc tiếp cận thông tin thông qua nguồn
tài liệu chính thống và đáng tin cậy như sách. Mặc dù sách
chiếm vị trí hàng đầu, sự đa dạng vẫn được thấy qua việc
một số SV cũng chọn đọc báo (17,95%) và tạp chí
(17,95%). Tuy nhiên, tỷ lệ đọc sách vẫn cao hơn đáng kể so
với hai phương tiện truyền thông này. Điều này có thể cho
thấy sách vẫn được xem là nguồn thông tin ưa thích với sự
phong phú và chi tiết của kiến thức mà nó cung cấp, so với
tính cụ thể và nhanh chóng của tin tức trong báo và tạp chí.
Ngoài ra, dữ liệu cũng chỉ ra sự ưa thích của một số SV
đối với các loại sách khác (16,03%), mặc dù tỷ lệ này thấp
hơn so với sách chính thống. Điều này có thể đề cập đến sự
đa dạng của thị trường sách và sự linh hoạt trong nhu cầu
đọc của SV, có thể là sách về nghệ thuật, văn hóa, tự truyện
hoặc sách tự giáo dục. Tóm lại, dữ liệu cho thấy sự ưa thích
về việc đọc sách trong thời gian rảnh rỗi của SV, nhưng
cũng thể hiện sự đa dạng trong việc tiếp cận thông tin và
giải trí thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau.
3.2. Nhận thức của SV về hoạt động Đọc mở rộng
- Tầm quan trọng của hoạt động đọc mở rộng
Hình 3. Đặc trưng thống kê về nhận thức của SV về đọc tiếng Anh
Bảng 3 cho biết thông tin về mức độ quan trọng của việc
đọc sách và tài liệu TA đối vói nhóm đối tượng SV. Hầu
hết SV (72,7%) cho rằng đọc sách TA là rất quan trọng và
tương đối quan trọng (trung bình = 2,99), (khoảng tin cậy
95% số lượng sách TA SV đọc là 2,87 ÷ 3,10 với trị số
p<2,2e-16 là có ý nghĩa thống kê). Qua đó cho thấy được
rằng đối tượng SV có quan điểm khá tốt về những lợi ích
của hoạt động này.
Kết hợp cùng với phỏng vấn 15 SV, nhóm nghiên cứu
nhận thấy rằng các bạn SV đã nhận thức được tầm quan
trọng của việc đọc sách tiếng Anh. SV2 cho rằng: “Mình
nghĩ việc ĐMR các tài liệu TA mang lại rất nhiều lợi ích
cho chúng ta” cụ thể SV này cho rằng việc ĐMR giúp
SV “có thêm kiến thức về các lĩnh vực và mở rộng vốn từ
vựng TA của bản thân”. SV3 cũng có quan điểm tương
đồng “ đọc các tài liệu TA là điều cần thiết với SV” cụ thể
hơn với đối tượng “SV chuyên ngữ”. SV5 cũng đưa ra quan
điểm với tư cách là SV năm nhất, SV này cho rằng “khả
năng đọc của mình là khá ổn” là nhờ ĐMR và cũng đưa ra
đề xuất “ĐMR là hoạt động nên được khuyến khích cho các
SV năm nhất như mình”. SV7 cũng đưa ra sự đồng tình với
Bảng 3. Mức độ quan trọng của việc đọc sách
N Minimum Maximum Mean Std.
Deviation
95 percent
confidence interval
p-value
7. Bạn nghĩ đọc sách
tiếng Anh có quan
trọng không?
219 1 4 2,99 ,878 2,87 ÷ 3,10
<2,2e-16
1.(không ); 2.(không chắc chắn); 3.(tương đối quan trọng); 4.(rất quan trọng )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 636tầm quan trọng của việc đọc sách TA và nhấn mạnh lợi ích
“Nâng cao các kĩ năng TA ví dụ như nghe nói đọc viết”.
Đặc biệt hơn, SV9 còn nhận thấy rằng đọc TA “giúp cho
mình tìm hiểu nhiều hơn về chủ đề mới” và “nâng cao kĩ
năng giao tiếp của mình”.
Có thể rút ra kết luận rằng việc ĐMR các tài liệu tiếng
Anh mang lại nhiều lợi ích quan trọng cho sự phát triển cá
nhân và học tập của họ. ĐMR giúp họ mở rộng kiến thức về
các lĩnh vực khác nhau và mở rộng vốn từ vựng tiếng Anh
của bản thân. Việc ĐMR không chỉ giúp SV mở rộng kiến
thức mà còn giúp họ nâng cao các kỹ năng ngôn ngữ như
nghe, nói, đọc và viết. Cuối cùng, việc ĐMR cũng giúp SV
tìm hiểu chủ đề mới và nâng cao kỹ năng giao tiếp của họ.
8. Bạn muốn đọc thể loại sách tiếng Anh nào?
Hình 4. Dữ liệu thống kê về thể loại tài liệu đọc mở rộng
tiếng Anh
1.(không thích đọc); 2.(Khá thích đọc); 3.(Thích đọc); 4.(Rất
thích đọc)
Dữ liệu khảo sát về sở thích đọc sách tiếng Anh của 219
SV chuyên ngành ngôn ngữ Anh cung cấp cái nhìn chi tiết
về thị hiếu của họ. Thể loại yêu thích nhất là sách về du lịch
(45,20%), thể hiện xu hướng thích khám phá và mở rộng
tầm nhìn của SV. Thể loại này không chỉ giúp giải trí mà
còn kích thích trí tò mò và mơ ước về các chuyến hành trình
tương lai.
Các thể loại truyện trinh thám, trinh sát và lãng mạn
cũng rất được ưa chuộng (xấp xỉ 28%). Truyện trinh thám
hấp dẫn bởi tình tiết hồi hộp, kích thích tư duy, trong khi
truyện lãng mạn mang lại cảm xúc thư giãn và đồng cảm,
điều này giải thích tại sao nhiều SV lại bị thu hút bởi chúng.
Ngược lại, phi hư cấu và thơ kịch ít được yêu thích hơn.
Chỉ 12,78% thích đọc phi hư cấu, và 23,28% không thích
đọc do nội dung khô khan và yêu cầu tư duy cao. Tương tự,
thơ và kịch có tỷ lệ không thích đọc cao nhất (36,52%) vì
tính trừu tượng và yêu cầu trình độ ngôn ngữ cao.Mặt khác,
thể loại phiêu lưu và khoa học viễn tưởng thu hút nhiều SV,
với phiêu lưu có tỷ lệ rất thích đọc cao (62,55%) và khoa
học viễn tưởng có tỷ lệ khá thích đọc cao nhất (36,07%).
Điều này cho thấy SV vừa thích những câu chuyện phiêu
lưu thực tế, vừa bị thu hút bởi những câu chuyện tưởng
tượng đầy sáng tạo.
Hư cấu và tiểu thuyết hiện đại được ưa thích (33,79%),
trong khi kinh điển lại ít được yêu thích (21,46%) do ngôn
ngữ và phong cách phức tạp. hư cấu và tiểu thuyết có lợi
thế về tính thời sự và sự dễ tiếp cận, trong khi các tác phẩm
kinh điển đòi hỏi sự hiểu biết sâu rộng và khả năng ngôn
ngữ cao hơn.
Những phát hiện này giúp các trường và tổ chức liên
quan khuyến khích đọc sách bằng cách cung cấp các thể loại
yêu thích và tổ chức hoạt động bổ trợ như hội thảo, thảo
luận và câu lạc bộ đọc sách. Hiểu rõ sở thích và thách thức
trong việc đọc sách tiếng Anh sẽ giúp xây dựng các chương
trình hỗ trợ và đào tạo hiệu quả hơn, nâng cao kỹ năng và
niềm đam mê đọc sách của SV.
- Lợi ích của hoạt động đọc mở rộng:
9. Tại sao bạn nghĩ việc đọc sách tiếng Anh quan trọng?
Hình 5. Đặc trưng thống kê lí do đọc sách tiếng anh quan trọng
đối với SV
1.(không quan trọng ); 2.(khá quan trọng ); 3.(quan trọng ); 4.(rất
quan trọng )
Dữ liệu khảo sát về sở thích đọc sách tiếng Anh của 219
SV chuyên ngành ngôn ngữ Anh cung cấp cái nhìn chi tiết
về thị hiếu của họ. Thể loại yêu thích nhất là sách về du lịch
(45,20%), thể hiện xu hướng thích khám phá và mở rộng
tầm nhìn của SV. Thể loại này không chỉ giúp giải trí mà
còn kích thích trí tò mò và mơ ước về các chuyến hành trình
tương lai.
Các thể loại truyện trinh thám, trinh sát và lãng mạn
cũng rất được ưa chuộng (xấp xỉ 28%). Truyện trinh thám
hấp dẫn bởi tình tiết hồi hộp, kích thích tư duy, trong khi
truyện lãng mạn mang lại cảm xúc thư giãn và đồng cảm.
Ngược lại, phi hư cấu và thơ kịch ít được yêu thích hơn.
Chỉ 12,78% thích đọc phi hư cấu, và 23,28% không thích
đọc do nội dung khô khan và yêu cầu tư duy cao. Thơ và
kịch có tỷ lệ không thích đọc cao nhất (36,52%) vì tính trừu
tượng và yêu cầu trình độ ngôn ngữ cao.
Thể loại phiêu lưu và khoa học viễn tưởng cũng thu hút
nhiều SV, với phiêu lưu có tỷ lệ rất thích đọc cao (62,55%)
và khoa học viễn tưởng có tỷ lệ khá thích đọc cao nhất
(36,07%). Hư cấu và tiểu thuyết hiện đại được ưa thích

