
Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
22
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGHỆ AN
Trần Thị Hương Trà1,*, Nguyễn Ngọc Hoàn2
1, * Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, 2 Sinh viên Kế toán, Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
*Email: tranthihuongtra@naue.edu.vn
Tóm tắt: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu khoa học
của sinh viên Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, khảo sát 239 sinh viên của tất cả các ngành,
khoa. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 04 nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia nghiên cứu
khoa học của sinh viên gồm Thái độ của sinh viên, năng lực, sự khuyến khích từ phía Nhà
trường, khoa, giảng viên và điều kiện thực hiện. Trong đó nhân tố: Năng lực nghiên cứu của
sinh viên có tác động mạnh nhất đến ý định tham gia NCKH. Tiếp đến là nhân tố: Thái độ của
sinh viên đối với hoạt động NCKH. Qua đó, nhóm tác giả cũng chỉ ra được rằng sinh viên
Trường Đại học Kinh tế Nghệ An chưa nhận thức đúng đắn về giá trị mà NCKH mang lại.
Những kết quả này là cơ sở để đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
nghiên cứu khoa học của sinh viên.
Từ khoá: Ý định tham gia nghiên cứu khoa học của sinh viên, Nghiên cứu khoa học.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một
hoạt động trọng tâm nhằm nâng cao chất
lượng học tập, chất lượng đào tạo sinh viên.
NCKH giúp sinh viên rèn luyện tư duy sáng
tạo, phát triển phong cách làm việc chuyên
nghiệp, khoa học… Tuy nhiên, NCKH của
sinh viên chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố
khác nhau... Theo Salgueira & cs, (2012,
NCKH của sinh viên bị tác động bởi đặc điểm
cá nhân và điểm trung bình học của sinh viên.
Theo Nguyễn Trung Kiên (2018), có đến 78%
sinh viên Trường Đại học Vinh không đam
mê NCKH, hay nghiên cứu Lê Thị Vân Anh
(2017), cho rằng có 20% sinh viên sẵn sàng
tham gia NCKH, tương tự theo Nguyễn Văn
Tuấn (2019) nghiên cứu tại trường Đại học
Hà Nội đã khẳng định sinh viên chưa quan
tâm, chủ động hạy tự giác tham gia NCKH,
nếu có tham gia thì chất lượng công trình
NCKH là không cao.
Đối với Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
thực trạng công tác NCKH của sinh viên
trong những năm qua đã có sự quan tâm, đầu
tư của Nhà trường và các khoa. Tuy nhiên,
hiệu quả đạt được là chưa tương xứng với
tiềm năng và kỳ vọng của Nhà trường. Do
vậy, việc nghiên cứu để tìm ra các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định tham gia NCKH của sinh
viên là rất cần thiết, nhằm đưa ra một số kiến
nghị để thúc đẩy sự tham gia NCKH của sinh
viên Nhà trường.
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Theo lý thuyết hành vi hoạch định (TPB)
(1991) và lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) của
Fishbein và Ajzen (1975). Do những hạn chế
của mô hình lý thuyết hành động hợp lý
(TRA), (Ajzen và Fishbein, 1975) đề xuất mô
hình lý thuyết hành vi hoạch định trên cơ sở
phát triển lý thuyết hành động hợp lý với giả
định rằng một hành vi có thể được dự báo

Tạp chí Khoa học, Tập 3, Số 1/2024
23
hoặc giải thích bởi các quyết định để thực
hiện hành vi đó. Các quyết định được giả sử
bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng
đến hành vi, và được định nghĩa như là mức
độ nỗ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện
hành vi đó. Hành vi hoạch định khẳng định
rằng quyết định hành vi là một chức năng của
thái độ và ảnh hưởng xã hội.
Theo mô hình TPB, động cơ hay ý định là
nhân tố thúc đẩy cơ bản của hành vi tiêu dùng
của người tiêu dùng. Lý thuyết này cho rằng
mỗi chúng ta đều có ba niềm tin để thực hiện
một hành vi có chủ đích, bao gồm:
(1) Thái độ của cá nhân đối với hành vi.
Cụ thể, sinh viên đánh giá cao những lợi ích
của hoạt động NCKH mang lại, chẳng hạn
như nâng cao và chuyên sâu kiến thức đã học,
rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng
đọc tài liệu, văn bản, mở ra các cơ hội nghề
nghiệp tốt hơn…thì ý định thực hiện sẽ cao
hơn. Nói chung, việc đánh giá được các lợi
ích NCKH càng cao thì sinh viên càng có thái
độ tích cực đối với hành vi, từ đó sẽ dẫn đến
ý định thực hiện hành vi đó.
(2) Khả năng kiểm soát hành vi (Năng lực
của sinh viên): Trong lý luận dạy học nói
chung, khái niệm “năng lực” có nhiều định
nghĩa khác nhau. Tuy nhiên các định nghĩa
đều có điểm chung là “sự kết hợp của nhiều
kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một
tình huống nào đó” (Uỷ ban cộng đồng Châu
Âu, 2005). Năng lực nghiên cứu, theo A.
Seberova, đó là một hệ thống mở và không
ngừng phát triển, bao gồm các kiến thức
tuyên bố và kiến thức quy trình trong lĩnh vực
nghiên cứu, các thái độ và sự sẵn sàng của cá
nhân cho phép thực hiện một nghiên cứu
trong khuôn khổ hoạt động nghề nghiệp của
họ. Với mỗi đối tượng sẽ có những năng lực
riêng về kiến thức, kỹ năng, thái độ tác động
đến ý định tham gia NCKH. Các sinh viên khi
có một nguồn vốn về kiến thức, kỹ năng tốt
sẽ giúp các bạn có thêm sự tự tin để theo đuổi
cái đam mê của bản thân, tạo ra được giá trị
hữu ích. Nghiên cứu này xây dựng thang đo
phản ánh năng lực cá nhân tác động đến ý
định muốn tham gia NCKH của sinh viên.
(3) Niềm tin cá nhân theo chuẩn mực xã
hội chung. Điều này phản ánh sự ảnh hưởng
yếu tố xã hội đến niềm tin của một cá nhân về
một hành vi nào đó. Theo Hofstede (2010),
nền văn hoá Việt Nam được coi là nền văn
hoá tập thể, khác với nền văn hoá theo chủ
nghĩa cá nhân ở một số nước phương tây.
Theo Vũ Huy Thông (2010), tâm lý của người
Việt khá dễ ảnh hưởng bởi “hiệu ứng bầy
đàn”, tức là họ chưa tìm hiểu thông tin chính
xác, đầy đủ thì đã vội hành động. Nghiên cứu
này xây dựng thang đo về môi trường bên
ngoài ảnh hưởng đến ý định tham gia NCKH
của sinh viên.
Dựa trên các lý thuyết nêu trên, nhóm tác
giả đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm bốn
yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định tham gia
NCKH của sinh viên Trường Đại học Kinh tế
Nghệ An.

Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
24
Thêm vào đó, các giả thuyết nghiên cứu
(Hypothesis) được đề xuất:
(H1) Thái độ đối với hành vi có ảnh hưởng
thuận chiều tới ý định tham gia NCKH của
sinh viên trường Đại học kinh tế Nghệ An
(H2) Tự đánh giá năng lực có ảnh hưởng
thuận chiều tới ý định tham gia NCKH của
sinh viên trường Đại học kinh tế Nghệ An
(H3) Cơ chế khuyến khích từ Nhà trường,
Khoa, giảng viên có ảnh hưởng thuận chiều
tới ý định tham gia NCKH của sinh viên
trường Đại học kinh tế Nghệ An
(H4) Điều kiện thực hiện NCKH có ảnh
hưởng thuận chiều tới ý định tham gia NCKH
của sinh viên trường Đại học kinh tế Nghệ An
Trong đó, hai nhân tố ban đầu thuộc về
đặc điểm cá nhân của sinh viên, hai nhân tố
sau thuộc về môi trường bên ngoài
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng khảo sát
Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài này
thì nhóm tác giả đã xây dựng đối tượng thu
thập dữ liệu là các sinh viên của các ngành kế
toán, tài chính ngân hàng, thú y, công nghệ
thông tin, Marketing, kinh tế, quản trị kinh
doanh của các khoá 8, 9, 10 đang theo học tại
Trường Đại học Kinh tế Nghệ An. Với tỷ lệ
sinh viên nam chiếm 31,4%; sinh viên nữ
chiếm 68,6% thực hiện việc khảo sát.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định tính nhằm
khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến
quan sát dùng để đo lường khái niệm được
điều chỉnh phù hợp. Thông tin có được sẽ
tổng hợp điều chỉnh, bổ sung các biến trong
thang đo. Đồng thời sử dụng phương pháp
định lượng: xây dựng bảng câu hỏi khảo sát
2.2.3. Thang đo nghiên cứu
Căn cứ vào mô hình thực nghiệm đã đề
xuất, nhóm tác giả xây dựng các thang đo phù
hợp. Tất cả các thang đo được kế thừa từ các
nghiên cứu trước đó. Trước khi tiến hành
khảo sát trên toàn trường, các thang đo được
thảo luận và bổ sung thông qua các buổi thảo
luận nhóm đối với các sinh viên đã từng tham
gia NCKH trước đó. Theo Likert (1932),
thang đo có 5 cấp độ được sử dụng để xác
định đánh giá của sinh viên trong cuộc khảo
sát với các câu trả lời lần lượt là “rất không
đồng ý”; “không đồng ý”; “bình thường”;

Tạp chí Khoa học, Tập 3, Số 1/2024
25
“đồng ý”; “rất đồng ý”. Tương ứng với thứ tự
nêu trên, các câu trả lời được số hoá theo các
giá trị tăng dần từ 1 đến 5. Bảng 1 mô tả 21
nhận định nhằm đo lường bốn nhóm nhân tố
được cho là có tác động đến ý định tham gia
NCKH của sinh viên Trường Đại học kinh tế
Nghệ An.
Bảng 1. Các biến được sử dụng trong nghiên cứu
Ký hiệu
Biến quan sát
IN
Ý ĐỊNH THAM GIA NCKH KHI HỌC ĐẠI HỌC
IN1
Tôi (đã hoặc) chắc chắn sẽ tham gia NCKH
IN2
Tôi có dự định sẽ tham gia NCKH
IN3
Tôi đang cân nhắc về việc tham gia NCKH
IN4
Tôi sẽ không tham gia NCKH
TD
THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI NCKH
TD1
NCKH là một hoạt động rất quan trọng đối với cá nhân, cộng đồng và xã hội
TD2
NCKH là sở thích của bạn
TD3
NCKH giúp bạn phát triển bản thân
TD4
NCKH giúp bạn mở rộng kiến thức trên giảng đường và trải nghiệm thực tế
TD5
NCKH giúp bạn có việc làm tốt hơn sau khi tốt nghiệp
NL
NĂNG LỰC THỰC HIỆN NCKH
NL1
NCKH không phải là hoạt động khó đối với bạn
NL2
Bạn có thể tự tin để thực hiện thành công một nội dung NCKH
NL3
Bạn có nhiều ý tưởng muốn thực hiện nghiên cứu chuyên sâu
NL4
Bạn có đầy đủ dụng cụ, phương tiện vật chất để phục vụ NCKH
NL5
Bạn dành thời gian và đam mê nghiên cứu khoa học
KK
SỰ KHUYẾN KHÍCH NCKH TỪ NHÀ TRƯỜNG, KHOA VÀ GIẢNG VIÊN
KK1
Có nhiều khen thưởng từ Nhà trường, khoa khi tham gia NCKH
KK2
Trong quá trình học tập giảng viên có chia sẻ các kết quả NCKH
KK3
Giảng viên hỗ trợ thực hiện NCKH nhiệt tình và đầy đủ
KK4
Phong trào NCKH của lớp tích cực và mạnh mẽ
DK
ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN NCKH
DK1
Bạn dễ dàng tiếp cận được các thông báo, thủ tục, văn bản hướng dẫn NCKH
DK2
Hệ thống thư viện, thiết bị, phòng thí nghiệm đầy đủ cho học tập và NCKH
DK3
Kinh phí thực hiện một NCKH (3 triệu đồng) là phù hợp

Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
26
2.2.4. Mẫu nghiên cứu
Số lượng mẫu quan sát phù hợp cho nghiên
cứu phân tích nhân tố cần gấp tối thiểu 5 lần
tổng số biến quan sát (Cormey, 1973 và
Roger, 2006), (n= 5 x m, trong đó m là số biến
quan sát). Với quan điểm này, mô hình phân
tích mà nhóm tác giả đề xuất bao gồm Số
lượng biến quan sát trên câu hỏi trong bài
nghiên cứu là 21, vì vậy kích thước mẫu tối
thiểu để phù hợp với nghiên cứu phân tích các
nhân tố là 105 người tham gia khảo sát/ đối
tượng trả lời phiếu khảo sát.
Trong nghiên cứu này nhóm tác giả đã thu
về 239 lượt trả lời và đều hợp lệ được sử dụng
để phân tích các bước tiếp theo.
Tổng số mẫu 239, đối với câu hỏi giới tính
sinh viên nữ chiếm nhiều hơn với tỷ lệ 68,6%,
sinh viên nam chiếm 31,4% phiếu khảo sát.
Người trả lời khảo sát chủ yếu đang theo học
các ngành tại Trường Đại học Kinh tế Nghệ
An. Trong đó sinh viên Khoa Kế toán – Kiểm
toán trả lời phiếu khảo sát chiếm 51,2% nhiều
nhất trong 5 khoa. Tiếp đến là Khoa Kinh tế -
Quản trị kinh doanh (15,4%); Khoa Công
nghệ thông tin (12,1%); Khoa Nông lâm ngư
(14,2%); Khoa Tài chính Ngân hàng (7,1%).
2.2.5. Phân tích số liệu
Số liệu thu thập từ khảo sát được nhập,
phân loại và làm gọn trên phần mềm
Microsoft Excel 2010. Tiếp đến nhóm tác giả
sử dụng phần mềm SPSS 22 để tiến hành xử
lý và phân tích số liệu trong nghiên cứu này.
Kiểm định Cronbach’s Alpha được sử dụng
trước khi phân tích nhân tố EFA để loại các
biến không phù hợp. Thang đo nào có hệ số
Cronbach’s Alpha > 0,6 sẽ được chấp nhận và
biến quan sát nào có hệ số tương quan biến
tổng < 0,3 được coi là biến rác sẽ bị loại khỏi
thang đo (Nunnally& Burnstein, 1994)
Phân tích nhân tố khám phá được sử dụng
nhằm rút gọn các biến quan sát trong thang
đo từ 17 biến quan sát để đo lường ý định
tham gia NCKH của sinh viên Trường Đại
học Kinh tế Nghệ An. Phân tích này được coi
là phù hợp với các điều kiện:
(1) Hệ số tải nhân tố của các biến quan
sát > 0,5
(2) Hệ số KMO nhận giá trị từ 0,5 đến 1
(3) Kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê
khi hệ số Sig < 0,05
(4) Trị số phương sai trích > 50% (Gerbing
& Anderson, 1998)
Sau khi thang đo của các yếu tố khảo sát
đã được kiểm định, các yếu tố tiếp tục được
đưa vào hàm hồi quy tuyến tính bằng phương
pháp bình phương nhỏ nhất (OLS). Mô hình
hàm hồi quy có thể viết như sau:
IN = 0 + 1×TD + 2×NL + 3×KK +
4×DK + k×Xk + Ui
Trong đó:
IN: Biến phụ thuộc đo lường ý định thực
hiện NCKH của sinh viên Trường Đai học
Kinh tế Nghệ An
0: hệ số chặn
1: Hệ số góc, ước lượng mức độ và xu
hướng ảnh hưởng của các biến độc lập đến
biến phụ thuộc
TD: Biến độc lập Thái độ
NL: Biến độc lập năng lực thực hiện
NCKH của sinh viên
KK: Biến độc lập khuyến khích NCKH
của Nhà trường, khoa, giảng viên
DK: Biến độc lập về Điều kiện thực hiện
NCKH của Nhà Trường

