Tạp chí Khoa học, Tập 1, Số 1/2022
59
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGHỆ AN
Phạm Đức Giáp 1,*
1Trường Đại học Kinh tế Nghệ An, *Email: ducgiap@naue.edu.vn
Tóm tắt: Dựa trên cơ sở khảo sát phân tích thông tin thu được từ 305 sinh viên ngành
kế toán, kinh tế quản trị kinh doanh tại trường Đại học kinh tế Nghệ An để xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế. Kết quả nghiên cứu
chỉ ra 5 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế, bao gồm: Ý
kiến người xung quanh, kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm kinh doanh, môi trường đào tạo
và học qua thực tế. Trong đó, yếu tố Ý kiến người xung quanh có tác động mạnh nhất đến ý
định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh tế.
Từ khóa: Khởi sự doanh nghiệp, Sinh viên, Đại học Kinh tế Nghệ An.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Khởi nghiệp một vấn đề đang được
Nhà nước hội hết sức quan tâm, bởi khởi
nghiệp được xem như là một giải pháp cơ bản
để giải quyết các vấn đề như: Cải thiện kinh
tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao mức sống
người dân, giảm đói nghèo,... Đối với một
nền kinh tế đang gặp khó khăn, nhiều doanh
nghiệp phá sản, thua lỗ thì việc sa thải, giảm
bớt lao động của các doanh nghiệp vấn đề
gây trở ngại cho một số người đang tìm việc.
Theo thông cáo báo chí tình hình lao động
việc làm quý IV năm 2021 và chỉ số phát triển
con người Việt Nam 2016-2020, số người thất
nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021
hơn 1,6 triệu người, giảm 113,1 nghìn người
so với quý trước và tăng 369,2 nghìn người so
với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong
độ tuổi lao động quý IV năm 2021 3,56%,
giảm 0,42 điểm phần trăm so với quý trước và
tăng 0,93 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm
trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu
vực thành thị 5,09%, giảm 0,45 điểm phần
trăm so với quý trước và tăng 1,39 điểm phần
trăm so với cùng kỳ năm trước.
Số lượng người trình độ đại học trở
lên thất nghiệp liên tục có xu hướng tăng qua
các năm, điều này cho thấy khởi sử doanh
nghiệp càng vai trò quan trọng hơn nữa
trong việc giải quyết các vấn đề về việc làm,
giảm bớt các áp lực về vấn đề thất nghiệp cho
hội. Tuy nhiên, công tác quảng bá, tuyên
truyền hoạt động của các Trường Đại học
chưa thực sự trọng tâm, số lượng sinh viên
biết tham gia chương trình khởi nghiệp các
cấp còn ít. Sinh viên tham gia hoạt động khởi
nghiệp chủ yếu sinh viên về ngành quản trị
kinh doanh, công nghệ thông tin. Nhiều cuộc
thi về khởi nghiệp đã được tổ chức nhưng
chưa thực sự tạo được động lực và chưa thực
sự hỗ trợ toàn diện về kiến thức, kỹ năng
khởi nghiệp lập nghiệp đối với sinh viên.
Trong khi đó, những người kiến thức, kỹ
năng, khả năng khởi nghiệp thành công cao
lại định hướng đi làm thuê cho các tổ chức
doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
60
Từ thực trạng đó, câu hỏi đặt ra
nguyên nhân của khởi nghiệp và những nhân
tố nào sẽ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp,
đặc biệt đối với sinh viên ngành kinh tế.
Trả lời được câu hỏi này sẽ xác định được
các nhân tố nào sẽ ảnh hưởng đến ý định
khởi nghiệp của sinh viên đề xuất một
số giải pháp nhằm khơi dậy tinh thần khởi
nghiệp trong sinh viên. Xuất phát từ những
do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên ngành kinh tế trường
Đại học kinh tế Nghệ An”.
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên thế
giới trong nước thời gian gần đây đã đặc
biệt quan tâm đến ý định khởi nghiệp của
sinh viên. Theo Zahariah Mohd Zain et al
(2010), Tham gia các khóa học kinh doanh,
ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của các
thành viên trong gia đình, đặc điểm nhân
đều ảnh hưởng đến khởi nghiệp của sinh viên
kinh tế Malaysia. Đối với sinh viên kinh tế
tại Pakistan, ý định khởi nghiệp chịu tác động
bởi các yếu tố nhân khẩu học như giới tính,
tuổi tác, kinh nghiệm, nền tảng giáo dục
công việc của gia đình; các yếu tố hành vi
như sự thu hút chuyên nghiệp (Professional
Attraction), năng lực kinh doanh, đánh giá xã
hội, kinh nghiệm, kiến thức kinh doanh, giáo
dục kinh doanh ảnh hưởng lớn đến khởi
nghiệp. Trong đó, sự thu hút chuyên nghiệp
tác động mạnh mẽ nhất đến khởi nghiệp
(Abdullah Azhar, 2010). Nghiên cứu của
Wenjun Wang (2011) đã chỉ ra rằng, sự ham
muốn kinh doanh, sự sẵn sàng kinh doanh
kinh nghiệm làm việc tác động trực tiếp
đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Trung
Quốc Mỹ. Song song đó, nền tảng kinh
doanh của gia đình, đạo đức kinh doanh cũng
ảnh hưởng gián tiếp đến ý định khởi nghiệp
của đối tượng này. Perera K. H (2011), các
yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý, yếu tố kinh tế và
các yếu tố chính trị, pháp những yếu tố
nổi bật dẫn đến con đường trở thành doanh
nhân. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy sinh
viên ít chú ý đến việc khởi nghiệp trong khi
quan tâm nhiều tới những việc làm khác do
không muốn phải chịu nhiều rủi ro và các vấn
đề về tài chính. Francisco Liñán (2011) cũng
đã kết luận, 5 nhân tố ảnh hưởng chính đến
ý định khởi nghiệp của sinh viên sự sẵn
sàng kinh doanh (sự nhìn nhận tích cực); thái
độ nhân; hoạch định, liên minh hình
thành nhân viên (Planifi cation, alliances and
formation for employees); sự tăng trưởng -
chìa khóa cho sự thành công (Growth as a key
feature for success); sự ưu tiên cho các công
việc có ích (Preference for remunerative jobs)
những nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên đại học ở Tây Ban Nha.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu trong nước
đã chỉ ra các yếu tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên, Nguyễn Thị Yến (2011),
sự sẵn sàng kinh doanh, tính cách cá nhân và
sự đam kinh doanh những yếu tố
nhân tác động đến ý định khởi nghiệp của
sinh viên trường Đại học Quốc Gia TP. Hồ
Chí Minh. Đối với nữ học viên MBA tại TP.
Hồ Chí Minh trong nghiên cứu của Hoàng Thị
Phương Thảo (2013) cho thấy, đặc điểm
nhân chính là yếu tố tác động mạnh nhất đến
ý định khởi nghiệp của đối tượng này. Ngoài
ra, nguồn vốn cho khởi nghiệp, động cơ đẩy,
hỗ trợ từ gia đình, động cơ kéo và rào cản gia
đình cũng ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp.
Trần Phương Uyên & Cộng sự (2015) đã
chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định
khởi nghiệp của thanh niên tại thành phố Hồ
Chí Minh gồm: Thị trường Tài chính năng
Tạp chí Khoa học, Tập 1, Số 1/2022
61
lực; Nghiên cứu phát triển; Pháp lý; Văn
hóa. Nguyễn Quốc Nghi & Cộng sự (2016)
đã chỉ ra rằng: Thái độ và sự đam mê; sự sẵn
sàng kinh doanh; quy chuẩn chủ quan; giáo
dục 4 nhân tố tác động đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên, trong đó yếu tố thái độ
sự đam tác động mạnh nhất đến ý
định khởi nghiệp của họ.
Tóm lại, các nghiên cứu đã công bố
trước đây đã nghiên cứu nhiều nhân tố ảnh
hưởng đến ý định khởi nghiệp, tuy nhiên
chưa nghiên cứu nào phản ánh mối quan
hệ của các nhân tố về môi trường, về kinh
nghiệm tác động đến ý định khởi nghiệp của
sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngành kinh tế
tại Trường Đại học Kinh tế Nghệ An.
Từ các kết quả hiện có, tác giả kỳ vọng
sẽ các nhân tố tác động tích cực đến ý
định khởi nghiệp của sinh viên ngành kinh
tế, bao gồm ý kiến người xung quanh, kinh
nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm kinh doanh,
môi trường đào tạo và học qua thực tế.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất giả thuyết
nghiên cứu: Các nhân tố ý kiến người xung
quanh, kinh nghiệm lãnh đạo, kinh nghiệm
kinh doanh, môi trường đào tạo học qua
thực tế tác động tích cực đến ý định khởi
nghiệp của sinh viên ngành kinh tế tại Trường
Đại học kinh tế Nghệ An.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu
Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiến
hành khảo sát sinh viên năm thứ 2, thứ 3 ngành
kế toán, ngành quản trị kinh doanh ngành
kinh tế của trường Đại học kinh tế Nghệ An
với phương pháp chọn mẫu phi xác suất kiểu
ngẫu nhiên phân tầng với thuộc tính kiểm soát
ngành học để đảm bảo tính cân đối giữa
ngành kế toán, quản trị kinh doanh và kinh tế.
Đảm bảo kiểm soát cân đối cấu nam nữ,
cấu các ngành học của mẫu điều tra với tỷ lệ
đại diện khoảng 48% ở mỗi ngành.
Phiếu điều tra được phát ngẫu nhiên cho
sinh viên trên lớp giờ ra chơi cuối các
buổi học. 350 phiếu đã được gửi tới sinh viên
năm thứ 2, thứ 3 của ngành kế toán, kinh tế,
quản trị kinh doanh. Trong đó, 284 phiếu
gửi cho ngành kế toán, 18 phiếu gửi cho
ngành quản trị kinh doanh 46 phiếu gửi
cho ngành kinh tế. Kết quả thu được 322
phiếu (tỷ lệ trả lời 92%).
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Phương pháp phân tích dữ liệu
Sau khi thu nhận các câu trả lời, tác giả đã
tiến hành hóa nhập số liệu, sau đó tiến
hành phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS
phiên bản 20. Các thang đo trong nghiên cứu
này được kiểm định qua đánh giá độ tin cậy
Cronbach’s alpha phương pháp phân tích
nhân tố khám phá EFA. Cuối cùng, tác giả
phân tích tương quan, phân tích hồi quy đa
biến để kiểm định giả thuyết nghiên cứu.
3.2.2. Kiểm định thang đo
Tác giả đã tiến hành đánh giá độ tin
cậy của thang đo Cronbach’s alpha cho
từng nhóm biến quan sát thuộc các nhân tố
khác nhau. Theo các nghiên cứu, độ tin cậy
Cronbach’s alpha phải nằm trong khoảng từ
0,6 đến 1,0 để đảm bảo các biến trong cùng
một nhóm nhân tố có tương quan về ý nghĩa.
Hệ số Cronbach’s alpha càng lớn thì thang
đo độ tin cậy càng cao. Tuy nhiên nếu
hệ số này quá lớn (>0,95) thì lại cho thấy
nhiều biến trong thang đo không khác
biệt. Hệ số Cronbach’s alpha từ 0,7 đến 0,8
thang đo thể sử dụng được, thang đo
Trường Đại học Kinh tế Nghệ An
62
hệ số Cronbach’s alpha từ 0,8 trở lên
thang đo tương đối tốt, các thang đo hệ
số Cronbach’s alpha từ 0,6 trở lên cũng
thể sử dụng được trong bối cảnh các nghiên
cứu đó mới hoặc mới với người được
phỏng vấn. Trong nghiên cứu này, sinh
viên chưa được tiếp cận nhiều với cách thức
điều tra nghiên cứu định lượng nên thang đo
Cronbach’s alpha từ 0,6 trở lên được đánh
giá và cân nhắc coi là tin cậy.
3.2.3. Phân tích các nhân tố khám
phá EFA
Tiến hành kiểm định giá trị của thang đo
bằng phân tích nhân tố EFA. Việc phân tích
EFA cho từng thang đo để kiểm tra tính đơn
hướng của từng thước đo rồi tiến hành kiểm
tra đồng thời EFA cho toàn bộ các tiêu chí đo
lường với phép quay góc Varimax với tiêu chí
Eigenvalue >1,0 để tìm ra các nhân tố đại diện
cho các biến. Varimax cho phép xoay nguyên
góc các nhân tố để tối thiểu hóa số lượng biến
hệ số lớn tại cùng một nhân tố, vậy sẽ
tăng cường khả năng giải thích các nhân tố.
Tiêu chuẩn kiểm định giá trị hội tụ bao gồm:
Kiểm định sự thích hợp của phân tích
nhân tố: Để xác định sự phù hợp khi sử
dụng EFA, tác giả căn cứ vào chỉ số Kaiser
Meyer Olkin (KMO). Nếu chỉ số KMO
lớn hơn 0,5 thì phân tích nhân tố thích hợp,
còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì phân tích nhân tố có
khả năng không thích hợp với dữ liệu.
Các nhân tố Eigenvalue (đại diện cho
lượng biến thiên được giải thích bởi nhân tố)
lớn hơn 1 mới được giữ lại trong hình
phân tích, các nhân tố Eigenvalue nhỏ hơn
1 sẽ bị loại khỏi mô hình.
Những biến quan sát trọng số nhỏ
hơn 0,3 sẽ bị loại bỏ chỉ giữ lại những
biến có tổng phương sai phải lớn hơn 50%.
3.2.4. Phân tích hình hồi quy
tuyến tính
- Phân tích tương quan
Sau khi thực hiện phân tích EFA độ
tin cậy cho các thang đo của các biến, các
thang đo đạt yêu cầu được xác định giá trị
trung bình (mean), các biến kiểm soát được
hóa theo biến dummy tiến hành phân
tích tương quan. Tác giả sử dụng hệ số tương
quan Pearson để lượng hóa độ chặt chẽ
mối liên hệ tuyến tính giữa các đại lượng.
Nếu hệ số tương quan Pearson giữa biến
phụ thuộc các biến độc lập lớn, chứng tỏ
giữa chúng quan hệ với nhau phân tích
hồi quy tuyến tính thể phù hợp. Trị tuyệt
đối của r cho biết mức độ chặt chẽ của mối
liên hệ tuyến tính. Giá trị tuyệt đối của r tiến
gần đến 1 khi hai biến mối tương quan
tuyến tính chặt chẽ. Giá trị r = 0 chỉ ra hai biến
không mối quan hệ tuyến tính. Mặt khác,
nếu giữa các biến độc lập cũng có tương quan
lớn với nhau thì đó cũng là dấu hiệu cho việc
nhận dạng hiện tượng đa cộng tuyến trong mô
hình hồi quy tuyến tính đang xem xét.
- Phân tích hồi quy đa biến
Sau khi phân tích tương quan, tác giả
tiến hành phân tích hồi quy đa biến theo
phương pháp Enter với mức ý nghĩa 5% để
kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
cũng như xác định cường độ ảnh hưởng đến
các biến độc lập lên biến phụ thuộc.
Phương pháp hồi quy được sử dụng
trong nghiên cứu này phương pháp bình
phương nhất thông thường OLS. Hệ số
xác định R2 điều chỉnh được dùng để xác
định mức độ phù hợp của hình. Kiểm
định F dùng để khẳng định khả năng mở rộng
hình này áp dụng cho tổng thế cũng như
Tạp chí Khoa học, Tập 1, Số 1/2022
63
kiểm định t để bác bỏ giả thuyết các hệ số
hồi quy của tổng thể bằng 0. Từ đó tác giả
xác định được các tham số hồi quy như sau:
' 1'
ˆ()X X XY
β
=
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
hình cho biết, ý kiến người xung quanh
có ảnh hưởng lớn nhất đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên với hệ số beta = 0,390 điều này là
một gợi ý cho trường Đại học Kinh tế Nghệ An
trong việc thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh
viên thông qua tác động khuyến khích sinh
viên có ý định khởi nghiệp ngay khi đang theo
học tại trường. Kinh nghiệm kinh doanh ảnh
hưởng lớn thứ 2 với hệ số beta = 0,292 như
vậy ý định khởi nghiệp của sinh viên cũng chịu
nhiều ảnh hưởng từ vấn đề kinh nghiệm, nếu
sinh viên nhiều hội kinh doanh hơn sẽ
tạo cho sinh viên động lực nhiều hơn trong ý
định khởi nghiệp của mình. Bên cạnh hai nhân
tố trên, nhân tố môi trường đào tạo cũng có tác
động lớn đối với ý định khởi nghiệp của sinh
viên với hệ số beta = 0,237 điều này cho thấy
sinh viên kỳ vọng lớn đối với kiến thức được
học từ nhà trường. Trường Đại học Kinh tế
Nghệ An cần có những chính sách và nội dung
học tập liên quan đến nội dung khởi nghiệp
nhằm giúp sinh viên thêm sự lựa chọn và hỗ
trợ khi có ý định khởi nghiệp. Hai nhân tố còn
lại tác động ít hơn đến ý định khởi nghiệp
của sinh viên đó học qua thực tế với beta
= 0,194 kinh nghiệm lãnh đạo với beta =
0,173 cho thấy rằng việc học qua thực tế
kinh nghiệm lãnh đạo cũng quan trọng nhưng
đối với ý định khởi nghiệp thì ý kiến người
xung quanh, kinh nghiệm kinh doanh môi
trường đào tạo hỗ trợ người học đóng vai trò
quan trọng hơn nhiều.
Bảng 1. Bảng kiểm định và ước lượng tham số hồi quy
Coefficientsa
Model
Unstandardized
Coefficients
Standardized
Coefficients t Sig. Collinearity
Statistics
BStd. Error Beta Tolerance VIF
(Constant) ,001 ,033 ,023 ,982
Học qua
thực tế ,137 ,033 ,194 4,172 ,000 1,000 1,000
Kinh nghiệm
lãnh đạo ,122 ,033 ,173 3,716 ,000 1,000 1,000
Kinh nghiệm
kinh doanh ,207 ,033 ,292 6,296 ,000 1,000 1,000
Ý kiến người
xung quanh ,277 ,033 ,390 8,385 ,000 1,000 1,000
Môi trường
đào tạo ,168 ,033 ,237 5,106 ,000 1,000 1,000
a. Dependent Variable: Ý định khởi nghiệp