
CHƠNG I. CƠSỞLÝ LUẬN THÚC
ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG DỆT MAY
I. KHÁI NIỆM, TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY
1. Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may.
Để làm định hớng và đờng chỉdẫn vào nghiên cứu những vấnđề tiếp theo của cơsở
lý luận thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may cũng nh các vấnđề khác có liên quan đến thúc
đẩy xuất khẩu hàng dệt may thì một vấnđề quan trọng đợcđặt ra đó là trớc tiên chúng ta
phải hiểuđợc thúc đẩy xuất khẩu dệt may là gì? Câu trảlời cho câu hỏi này là tuỳvào
từng giai đoạn phát triển của nền kinh tếthếgiới và của khoa học công nghệ, cũng nh các
giai đoạn khác nhau của sản phẩmđợc xuất khẩu mà việc thúc đẩy xuất khẩuđợc sửdụng
bằng các cách khác nhau. Nó không có một phơng thức, hay một biện pháp cố định nào
đợc sửdụng liên tụcđể thúc đẩy xuất khẩu cho một sản phẩm. Thúc đẩy xuất khẩu hàng
dệt may nó cũng không nằm ngoài qui luật chung đó. Vì vậy mà với mỗi thời kỳnó đợc sử
dụng bằng những phơng pháp khác nhau. Tuy nhiên có thểkhái quát lại nh sau:
Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may là một phơng thức thúc đẩy tiêu thụhàng dệt may
mà trong đó nó bao gồm tất cảcác biện pháp, chính sách, cách thức . . . của Nhà nớc và
các doanh nghiệp dệt may nhằm tạo ra các cơhội và khảnăng để tăng giá trịcũng nh sản
lợng của hàng dệt may đợc xuất khẩu ra thịtrờng nớc ngoài.
Nh vậy, qua việc khái quát vềthúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may nh trên cho thấy thúc
đẩy xuất khẩu hàng dệt may có những nội dung chủyếu sau:
Thúc đẩy xuất khẩu là một cách thứcđể thúc đẩy tiêu thụsản phẩm. Đây là một vấn
đề quan trọng đối với bất kỳmột doanh nghiệp sản xuất nào nói chung. Và với bất kỳ
doanh nghiệp dệt may nào nói riêng. Nh vậy, chúng ta cũng có thểhiểu rằng thúc đẩy xuất
khẩu là một hoạtđộng tăng khảnăng tiêu thụsản phẩm.
Các biện pháp chính sách, cách thức . . . Nó có thểlà những biện pháp cho thời kỳ
sản phẩm mới thâm nhập thịtrờng hoặc những biện pháp cho một sản phẩmđã đợc cải

tiến, hay là cho một sản phẩmđã có chỗ đứng trên thịtrờng đó và đang tìm cách cạnh
tranh để giành giật thịphần.
Kết quảcủa những biện pháp những chính sách đó là các cơhội, các cơhội có thể
đợc mang đến dới nhiều dạng khác nhau. Cuối cùng là thực hiệnđợc mục tiêu bán nhiều
hàng dệt may hơn ra thịtrờng nớc ngoài. Chủthểcủa thúc đẩy xuất khẩu là các doanh
nghiệp dệt may và Nhà nớc, tức là vừa có cảchủthể đại diệnởtầm vi mô và chủthể đại
diệnởtầm vĩmô, vừa có cảchủthểtác động trực tiếp và chủthểtác động gián tiếpđến
đối tợng đợc thúc đẩy xuất khẩu. Mà cụthể ở đây là hàng dệt may.
2. Tính tất yếu của việc thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may.
Mặc dù ngành dệt may là một ngành công nghiệp nhẹtơng đối phù hợp với tình trạng
cơsởhạtầng và khảnăng tài chính ởnớc ta, lại có đợc những thuận lợi cho sựchuyển
hớng trọng tâm phát triển nền kinh tếquốc dân củaĐảng và Nhà nớc. Cho nên đã có đợc
một sốthành tựu nhấtđịnh trong thời kỳ đổi mới. Nhng cũng do nhiều yếu tốkhách quan
và chủquan khác nữa làm cho sản phẩm dệt may của nớc ta cha có chỗ đứng thực sựtrên
thịtrờng. Mặt khác dệt may vẫnđợc coi là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn trong
những năm tới của nớc ta. Vì vậy mà việc thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của nớc ta
trong thời gian tới là tất yếu.
Việc mởrộng cửa thịtrờng cho hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào, nó đợc sử
dụng nh là công cụ để các nớc và khu vực buộc chúng ta phải mởrộng cửa thịtrờng cho
những hàng hoá khác của họthâm nhập vào. Do đó mà để tránh việc phải mởcửa thịtrờng
trong nớc quá lớn làm ảnh hởng đến sựphát triển của những ngành kinh tếkhác mà chúng
ta muốn bảo hộ. Việc khai thác, tận dụng tốiđa các kết quả đã có đợc từnhững hiệpđịnh,
thoảthuận song phơng và đa phơng là hết sức cần thiết. Nh vậy chúng ta có thểthấy thúc
đẩy xuất khẩu hàng dệt may của nớc ta là tất yếu.
Không chỉcó nớc ta coi ngành công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu
chủlực, mà còn có hàng loạt các nớcđang phát triển khác nữa cũng coi ngành dệt may là
ngành xuất khẩu chủlực. Vì vậy mà họcũng tập trung đầu t và khuyến khích phát triển
ngành dệmay giống nh những hoạtđộng đầu t và khuyến khích của nớc ta. Thậm chí họ
còn có những bớc chuẩn bịsớm hơn và kỹcàng hơn chúng ta. Do đó việc xuất khẩu hàng
dệt may sẽphải cạnh tranh gay gắt. Điềuđó đòi hỏi chúng ta phải có những hành động
thúc đẩy xuất khẩu cho hàng dệt may Việt Nam.
Cùng với những bất lợi riêng có của hàng dệt may Việt nam là hàng dệt may của nớc
ta cha vào WTO thì hàng dệt may còn chịu chung một bất lợi giống nh bất lợi của hàng dệt
may của các nớc trên thếgiớiđó là việc phảiđối mặt với một hàng rào bảo hộngày càng
biến tớng tinh vi và hiệnđại. Nhất là đối với hàng rào của thịtrờng các nớc phát triển.
Điềuđó dẫnđến hàng của dệt may nớc ta sẽkhông thểxuất khẩuđợc nếu nh không vợt
qua đợc các rào cản. Chính vì vậy cần phải có biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nếu không
muốn hàng dệt may Việt Nam "đứng ngoài" trớc các thịtrờng lớn và tiền năng.
Và cuối cùng, một lý do nữa cầnđợcđề cập tớiđó là việc tồn tại mâu thuẫn giữa
những điều kiện thuận lợi chó ngành dệt may phát triển lớn mạnh với những yếu tốkhó
khăn vềthịtrờng xuất khẩu (Cụthểchúng sẽ đợc phân tích ởphần sau). Đã cho thấy, để
ngành dệt may Việt Nam có thểphát triểnđợc tơng xứng với những điều kiện thuận lợi mà
nó có, khai thác và sửdụng tốiđa các nguồn lựcđợc trang bịmà không bịrơi vào tình
trạng đình trệvà suy thoái do sựmất cân đối giữa sựtăng lên của sản lợng với hoạtđộng
tiêu thụsản phẩm. Tiếp tục phát huy những thành tựu mà nó đã đạtđợc, xứng đáng là
ngành công nghiệp chủlực của Việt Nam trên con đờng Công nghiệp hoá - hiệnđại hoá
đất nớc, góp phần vào hội nhập kinh tếcủa Việt nam với kinh tếkhu vực và kinh tếthế
giới. Đòi hỏi ngay từbây giờchúng ta phải có những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu.
II. THỊTRỜNG EU ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM.
1. Những điều cần lu ý với thịtrờng EU.

Khởiđầu từviệc thành lập cộng đồng than thép Châu âu ngày 18/04/1997 cho đến
nay thì con sốcác nớc tham gia vào liên minh Châu âu đã lên đến 25 quốc gia. Nó hình
thành lên một EU lớn mạnh nhất trên thếgiới cảvềkinh tếthơng mại lẫn sựrộng lớn của
thịtrờng.
Thịtrờng EU là thịtrờng dệt may lớn nhất thếgiới. Nhu cầu vềhàng dệt may của
ngời dân EU bình quân khoảng 17kg/1năm và ngày càng có xu hớng gia tăng theo kiểu sử
dụng hàng hoá thời trang, khoảng 18,8 tỷUSD/năm hàng dệt may của EU đợc nhập khẩu
từcác nớc bên ngoài. Mộtđiều thuận lợiđó là, ngợc với xu thếngày càng tăng của nhu
cầu, tốcđộ phát triển ngành dệt may của các nớc EU có xu hớng giảm xuống cảvềmặt số
lợng (á5,1%) và lao động (á1,2%). Nh vậy, có thểthấy thịtrờng EU trong tơng lai sẽtạo ra
cơhội rất lớn cho xuất khẩu hàng dệt may của nớc ta.
Trong thời gian qua, nhằm tăng cờng khảnăng và tạo ra các cơhội cho xuất khẩu
hàng dệt may vào thịtrờng đầy tiềm năng này, Nhà nớc ta đã nỗlực rất lớn trong việcđàm
phán với EU. Kết quảlà đến ngày 1-1-2005 hàng dệt may Việt nam xuất khẩu vào thị
trờng EU cũng không còn bịáp đặt hạn ngạch nhập khẩu của EU nữa, một sựkiệnđợc cho
là sẽlàm biếnđổi lớn vềkim ngạch xuất khẩu vào thịtrờng này. Tuy nhiên cũng cần lu ý
là khi hạn ngạch dệt may không còn thì hàng dệt may Việt Nam cũng không còn những u
đãi khác nữa mà phải cạnh tranh công bằng đối với hàng nớc khác.
2. Vai trò của thịtrờng EU đối với xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam.
Mặc dù chỉmới thiết lập quan hệxuất nhập khẩu chính thức vềhàng dệt may đợc
khoảng hơn 10 năm trởlạiđây. EU là một thịtrờng quan trọng đối với hàng dệt may của
nớc ta, đóng góp một phần khá lớn vào kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may. Đặc biệt là
trong những năm tới thì vai trò của thịtrờng này không giảm mà nó còn có ảnh hởng nhiều
hơn vì việc kết nạp thêm 10 thành viên mới của EU lần này gồm có cảcác nớc trớcđây là
nớc xã hội chủnghĩa. Mà nh chúng ta đã biết các nớc xã hội chủnghĩa là những nớc có
quan hệtruyền thống đối với Việt Nam, cho nên cho phép Việt Nam tận dụng những mối
quan hệtruyền thống đó để xuất khẩu hàng dệmay của Việt Nam sang thịtrờng EU thuận
lợi hơn. Nh vậy, trong tơng lai thịtrờng EU với sựlớn mạnh cảvềqui mô, xu hớng tiêu
dùng và những mối quan hệtruyền thống đợc hâm nóng sẽlà nơi có triển vọng lớn cho
hàng dệt may Việt Nam gia tăng cảvềsốlợng lẫn giá trị.
Thịtrờng EU là nơi tập hợp của các nớc có nền kinh tếphát triển nhất trên thếgiới.
Vì vậy mà hệthống các công cụchính sách phục vụcho hoạtđộng thơng mạiđợc xây một
cách đầyđủ và hoàn thiện nhất. Với hàng loạt các công cụnh: thuếchống bán phá giá, yêu
cầu xuất xứhàng hoá, yêu cầu thủtục nhập khẩu . . . Do đó khi các doanh nghiệp dệt may
Việt Nam tiến hành xuất khẩu vào thịtrờng này có cơhội tiếp xúc với một hệthống công
cụtiêu biểu của các nớc phát triển, thông qua những lần xuất khẩu mà học tập, tích lũy
kinh nghiệm, đồng thời tăng cờng khảnăng chuyên nghiệp hoá trong hoạtđộng xuất khẩu.
Hệthống các hàng rào thơng mại của thịtrờng EU với hàng loạt các tiêu chuẩn rất
cao nh ISO 9000, ISO 14000 và HACCP . . . cho nên để xuất khẩu hàng dệt may của Việt
nam vào thịtrờng EU thì buộc các doanh nghiệp phảI xây dựng hệthống tiêu chuẩn của
mình theo các tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000 và HACCP. Nh vậy, những điều kiện của
thịtrờng EU đã gián tiếp làm cho sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam tiếnđến các
tiêu chuẩn thếgiới và làm tăng khảnăng cạnh tranh cho hàng dệt may của Việt nam trên
thơng trờng thếgiới.
Thịtrờng EU là cái nôi của nền công nghiệp thếgiới và là nơi tập trung của nhiều nền
văn hoá khác nhau. Cho nên chúng đã tạo ra cho EU một nền văn hoá riêng biệt, một nên
văn hóa công nghiệp. Nhng không đơnđiệu mà chúng lại có những sựsáng tạo và đa dạng
riêng có. Song không vì vậy mà một sản phẩm dệt may có thểthâm nhập và đứng trên thị
trờng này một cách dễdàng. Thậm chí còn là ngợc lại, vì thịtrờng này đợc coi là một thị
trờng khó tính nhất trên thếgiới. Vì vậy khi hàng dệt may của Việt Nam thâm nhập vào thị

trờng này thành công thì nó sẽlà bớcđệm vững chắc cho phép hàng dệt may của nớc ta
chinh phục các thịtrờng khác của thếgiới, đồng thời nó cũng là nơi khẳng định thơng hiệu
và vịtrí của hàng dệt may Việt nam trong hàng dệt may thếgiới.
Cho dù xu hớng xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam trong một hai năm trởlạiđây
có xu hớng giảm xuống và thịtrờng EU đang có những biếnđộng lớn gây ảnh hởng xấu
đến hoạtđộng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Đặc biệt là phảI kể đến sựkiện bắt
đầu từngày 1/1/2005 theo thoảthuận của TC EU không còn đợc áp dụng hạn ngạch đối
với những hàng dệt may đợc nhập khẩu từcác nớc là thành viên của WTO. Nhng theo nh
mục tiêu xuất khẩu của ngành dệt may, thịtrờng EU trong những năm tới vẫn là thịtrờng
xuất khẩu hàng dệt may lớn của Việt Nam.
Bảng. Dựkiến xuất khẩu dệt may sang thịtrờng EU tới năm 2010.
Đơn vịtính: Triệu USD.
Năm 2000 2005 2010
PAI PAII PAI PAII
Tổng giá trịxuất
khẩu3289,2 5812 6190 10020 11165
Kim ngạch xuất
khẩu vào EU 614,7 1120 1150 1800 1950
Nguồn: Trích trang 235 cuốn "những giảI pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của
Việt Nam vào thịtrờng EU.
Nh vậy qua bảng trên cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào
EU trong giai đoạn tới chiếm từ18 cho đến 21% tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt
may Việt Nam. Kết quảxuất khẩu của hàng dệt may vào thịtrờng EU nó không những chỉ
ảnh hởng trực tiếpđến kết quảxuất khẩu của ngành dệt may và của chíên lợc tăng tốc
ngành dệt may, mà nó còn ảnh hởng đến những vấnđề khác nữa trong nền kinh tếcủa nớc
ta nh vấnđề công ăn việc làm, vấnđề thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá - hiệnđại hoá
đất nớc.
III. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CHO THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG DỆT
MAY VIỆT NAM.
1. Thuận lợi cho thúc đẩy xuất khẩu.
Do đặcđiểm của ngành công nghiệp dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ, yêu cầu
kỹthuật không quá phức tạp nh những ngành kinh tếkhác và yêu cầu vốnđầu t không quá
lớn, thời gian thu hồi vốn lại tơng đối nhanh hơn những ngành công nghiệp khác. Vì vậy
mà nó đã có đợc một sốlợi thếtrong tình hình kinh tếhiện nay củađất nớc.
1.1. Lợi thếvềyếu tốcon ngời.
Trớc tiên, chúng ta phải kể đếnđó là nớc ta có một cơcấu dân sốtrẻdo đó mà những
ngời trong độ tuổi lao động rất cao, không những vậy hàng năm nó còn đợc bổsung thêm
một lực lợng khá là hùng hậu. Điềuđó đã làm cho nguồn cung lao động của nớc ta hết sức
dồi dào.
Thứhai, chất lợng lao động không ngừng đợc nâng lên cảvềmặt kỹthuật lẫn trình độ
văn hoá, cảthểchất lẫn tinh thần. Ngời lao động của nớc ta đợcđánh giá là cần cù chịu
khó, ham học hỏi, có khảnăng tiếp thu nhanh và sáng tạo trong quá trình lao động .
Thứba, nhìn chung giá nhân công lao động trong ngành dệt may của nớc ta rẻhơn
một sốnớc khác trên thếgiới và khu vực. Đây là một lợi thếrất lớn trong kho ngành dệt
may của nớc ta. Có thểnói nó là nhân tốchính trong sựphát triển của ngành dệt may trong
thời gian qua.
Bảng 1.1. Tiền công lao động trong ngành dệt may của một sốnớc.
T
T
Tên nớc Tiền công
(USD/n)
T
T
Tên nớc Tiền công (USD/n)

1 Nhật 16,31 9 Malaixia 0,95
2 Pháp 12,63 10 Thái Lan 0,87
3 Mỹ10,33 11 Philipine 0,67
4 Anh 10,16 12 ấnđộ 0,54
5Đài loan 5 13 Trung quốc 0,34
6 Hàn quốc 3,6 14 Inđônêxia 0,23
7 Hồng
Kông
3,39 15 Việt Nam 0,18
8 Singapore 3,16
Nguồn: Cuốn chính sách công nghiệp và thơng mại Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập trang 64 tập I.
Thứt, do đặcđiểm của lịch sửvà hoàn cảnh củađất nớc mà Việt Nam có rất nhiều
việt kiều sinh sống ởkhắp mọi nơi trên thếgiới. Đây là nguồn lực quan trọng để chúng ta
có thểthu thập thêm thông tin vềthịtrờng nớc ngoài đồng thời cũng là lực lợng mà có thể
thực hiện phân phối hàng dệt may cho các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thịtrờng.
1.2. Lợi thếvề điều kiện tựnhiên.
Nớc ta nằm trên bán đảo với bờbiển dài, phía bắc giáp Trung quốc, phía tây giáp Lào
và Campuchia, cho phép chúgn ta mởcác tuyếnđờng bộvà đờng biểnđể thuận tiện cho
việc giao lu hàng hoá. Nớc ta cũng là nớc nằmởtrọgn tâm Đông Nam Á. Cho nên là địa
đỉêm giao nhận và chung chuyển hàng hoá thuận lợi. Đặc biệt là việc xuất khẩu hàng dệt
may.
Cũng nằmởvịtrí phía Đông nam Châu á mà nớc ta hiện nay nằm trong con đờng
chuyển giao công nghệcủa ngành công nghiệp dệt may (chuyển dịch theo hớng Đông tây;
Bắc - Nam. Đó là việc di chuyển công nghệdệt may từcác nớc NIC sang các nớcĐông
nam á và Nam á). Do đó chúng ta có cơhộiđể kếthừa và phát triển các thành tựu của
những nớcđi trớc, đồng thời học hỏiđợc kinh nghiệm của các nớcđó.
Nớc ta là nơi giao lu của hai nền văn hoá lớnđó là văn hoá Trung hoa và văn hoá
Sông Hằng, giữa nền văn hoá nho giáo và nền văn hoá phật giáo. Cho nên đã tạo ra những
phong tục tập quán đa dạng và phong phú; cùng với một nền văn hoá đặc trng. Đây là
những yếu tốvô cùng quan trọng nó làm cho sản phẩm dệt may của chúng ta đa dạng và
phong phú hơn.
1.3. Những lợi thếvềtruyền thống.
Ngành dệt may là một ngành đã có từxa xa. Ngay trong thời kỳphong kiến cũng đã
xây dựng lên các làng nghềthủcông. Nó cũng vẫnđợc tiếp tục phát triển cho đến giai
đoạn sau này mặc dù có thời gian nó đã phát triển chậm lại do đặcđiểm hoàn cảnh lịch sử
củađất nớc. Tuy nhiên khoảng hai thập kỷtrởlạiđây thì nó đã phát triển nhanh chóng đặc
biệt là trong những năm gầnđây.
Ngành dệt may là một ngành mà nguyên vật liệu của nó là sợi bông và vải. Do đó mà
nó có quan hệmật thiết với các ngành nông nghiệp củađất nớc. Mà điều kiện của nớc ta
hoàn toàn có thểcho phép phát triển các vùng nguyên liệu phục vụcho ngành đó. Chứ
không phải nh hiện nay phần lớn các nguyên liệu của nớc ta đợc nhập khẩu từnớc ngoài.
1.4. Ngành dệt may là một trong những ngành đợc xây dựng chiến lợc phát triển.
Kểtừkhi chuyển hớng nền kinh tếtừu tiên phát triển công nghiệp nặng sang tập
trung sản xuất hàng tiêu dùng lơng thực, và hàng xuất khẩu. Đảng và Nhà nớcđã chú ý
đến vai trò của các ngành công nghiệp nhẹnói chung và ngành dệt may nói riêng nhiều
hơn. Để nâng cao năng suất, chất lợng và đa ngành dệt may nớc ta phát triển một "chiến
lợc phát triển tăng tốcđể phát triển ngành dệt may đến năm 2010" đã đợc xây dựng với
những mục tiêu cụthểnh: Đến năm 2010 sản phẩm chủyếuđạt Bông sợiđạt 808.000 tấn,
sợi tổng hơpđạt 120.000 tấn, sợi các loạiđạt 300.000 tấn, vải lụa thành phẩm 81.400m2,

