
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Bộ môn: Khoa học Hàng hải
ĐỊA LÝ VẬN TẢI VÀ VẬN TẢI ĐA
PHƯƠNG THỨC
(Lưu hành nội bộ)
Năm 2023
CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI SẢN
XUẤT VÀ GIAO THÔNG VẬN TẢI

2
1.1 VAI TRÒ CỦA TỰ NHIÊN ĐỐI VỚI SẢN XUẤT VÀ GIAO THÔNG VẬN
TẢI
1.1.1 VAI TRÒ CỦA TỰ NHIÊN
Mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên và sản xuất xã hội là mối quan hệ thường
xuyên, vĩnh viễn và qua lại lẫn nhau. Sản xuất là quá trình liên tục tác động đến tự nhiên
để tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Tự nhiên có ảnh hưởng đến mọi hoạt động sản xuất
và ngược lại, mọi hoạt động sản xuất xã hội đều tác động đến tự nhiên làm cho tự nhiên
thay đổi theo hai hướng có lợi hoặc bất lợi đối với hoạt động sản xuất đời sống xã hội con
người. Mối quan hệ đó biến đổi theo hướng giúp con người ngày càng làm chủ được tự
nhiên. Tính chất, mức độ của mối quan hệ thay đổi tùy thuộc vào phương thức sản xuất
của xã hội.
Toàn bộ các yếu tố tự nhiên đối với nhu cầu sản xuất xã hội có thể xếp thành hai
loại: Các điều kiện tự nhiên và các tài nguyên thiên nhiên.
+ Các điều kiện tự nhiên là những yếu tố tự nhiên của thiên nhiên có tác động mạnh
mẽ đến đời sống và mọi hoạt động của con người.
+ Các tài nguyên thiên nhiên bao gồm những yếu tố vật chất của tự nhiên mà hiện
nay con người có thể nghiên cứu và sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu của xã hội với
sự tham gia trực tiếp của chúng trên các hoạt động vật chất của con người. Toàn bộ các yếu
tố đó hợp nhất lại tạo thành môi trường tự nhiên.
1.1.2 KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NGUỒN TÀI NGUYÊN
Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhieen một cách
đúng đắn là tiền đề quan trọng để tổ chức sản xuất có hiệu quả cao. Tài nguyên thiên nhiên
bao gồm nhiều loại khác nhau:
-Nhiên liệu, khoáng sản kim loại, phi kim loại được sử dụng chủ yếu trong công
nghiệp, được gọi là tài nguyên công nghiệp.
-Đất đai, nguồn nước ngọt, ánh sáng, các vật nuôi, cây trồng là tài nguyên nông
nghiệp.
-Khí hậu tốt, quan cảnh đẹp, nguồn nước khoáng trong sạch, nguồn nước nóng, các
công trình kiến trúc, công trình văn hóa có giá trị cổ xưa,…đó là tài nguyên du lịch.
Một cách phân chia khác, dựa vào khả năng cung ứng lâu dài cho xã hội, người ta
chia nguồn tài nguyên thiên nhiên ra 3 loại:
1. Nguồn tài nguyên sẽ cạn dần trong quá trình khai thác, không có khả năng tái
sinh, phục hồi.

3
Loại tài nguyên này bao gồm toàn bộ các loại khoáng sản có ích, được dung trong
sản xuất công nghiệp. Các khoáng sản có ích được chia làm 3 nhóm khác nhau: Khoáng
sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại.
-Khoáng sản nhiên liệu bao gồm: Than đá, đá chứa dầu mỏ, hơi đốt, ngoài ra còn có
quặng Uran, đất hiếm dung cho ngành năng lượng hạt nhân. Ngoại trừ Uran và đất hiếm,
các loại khoáng sản nhiên liệu đều có nguồn gốc tạo thành từ địa chất liên quan tới hoạt
động của các sinh vật có ở các thời đại địa chất xa xưa, cách chúng ta hàng triệu năm.
Những nhiên liệu này đã được hình thành với khoảng thời gian rất dài cho nên chúng ta có
thể sử dụng mà không thể tái tạo được nữa.
-Khoáng sản kim loại: Khoáng sản kim loại đã được con người sử dụng làm các công
cụ lao động, làm vũ khí từ rất xa xưa. Đến thời đại công nghiệp các kim loại được sử dụng
rộng rãi. Các mỏ khoáng sản kim loại cũng thường là những thể địa chất được sinh ra trong
quá trình địa chất diễn ra trong khoảng thời gian dài hàng triệu năm trước đây. Vì thế quá
trình không thể tái diễn trong khoảng thời gian quá ngắn của sự tồn tại xã hội chúng ta
ngày nay. Và các quá trình khai thác quá nhanh chóng sẽ làm cho các mỏ kim loại hết dần
đi không thể tái tạo được nữa.
-Khoáng sản phi kim loại: Khoáng sản phi kim loại thường dung làm nguyên liệu
cho ngành công nghiệp hóa chất, phân bón bao gồm các loại khoáng sản: Apatit, phốt pho,
bồ tạt…Các nguyên liệu của ngành vật liệu xây dựng cũng là các khoáng sản phi kim loại:
Đá vôi, đất sét, cao lanh, cát, đá sỏi hoa cương, đá huyền vũ. Các loại khoáng sản này
thường rất phổ biến với trữ lượng lớn nên ít khi người ta xác định trữ lượng của chúng.
2. Tài nguyên hữu hạn có khả năng tái sinh tuần hoàn
Nguồn tài nguyên này bao gồm: Nước ngọt, không khí, lâm sản, hải sản, thổ
nhưỡng.
-Nước ngọt là thành phần cơ bản nhất tạo nên sự sống. Toàn bộ cơ thể sinh vật đều
được cấu tạo từ 70% - 80% là nước. Nước tồn tại khá phổ biến quanh ta, làm cho nhiều
người đã quên đi giá trị đích thực của nó. Người ta có thể nhịn ăn 3 tháng nhưng chỉ nhịn
uống được 3 ngày và nín thở được 3 phút. Nước và không khí được tự nhiên ban cho chúng
ta rất đầy đủ, rất bao cấp và con người đang làm hỏng không khí, làm bẩn nguồn nước vì
những lợi ích trước mắt. Nguồn nước ngọt của các lục địa hiện nay so với nước mặn thì
không đáng kể.
-Nước ngọt được chia ra: nước ngầm, nước hồ, nước sông, băng hà, nước trong khí
quyển. Nước ngọt chỉ chiếm 6,07% thủy quyển nhưng nó là nguồn gốc của mọi sự sống
trên lục địa. Nước ngọt dưới dạng băng hà ở hai chỏm cực khá nhiều (2%) nhưng ở đó lại
không có con người sinh sống, như vậy chỉ còn 4,07% lượng nước tham gia tạo nên môi
trường địa lý.

4
- Thổ nhưỡng là thể tự nhiên được hình thành trên bề mặt các lục địa do kết quả hoạt
động sống của sinh vật cộng với tác động qua lại của khí quyển và thạch quyển có sự tham
gia của nước ngọt.
Thổ nhưỡng được hình thành nhờ có mối quan hệ qua lại lẫn nhau của ba yếu tố:
Khí hậu, sinh vật, đá gốc. Các đá gốc trên trên bề mặt địa hình dưới tác động lý hoá của
nước ngọt, không khí cùng các chất sinh hóa do rễ cây tiết ra đã bị biến đổi về thành phần
cơ, lý, hoá học, chúng bị thay đổi về màu sắc, bị vỡ vụn ra tạo nên lớp vỏ phong hoá. Các
loài thực vật như rêu, địa y, các loài nấm, vi khuẩn chỉ cần có nước là chúng có thể sống
trên lớp vỏ phong hoá. Sự sống của chúng làm cho lớp vỏ phong hoá được tăng cường khả
năng giữ nước, khi chúng chết đi xác của chúng tạo nên một lớp đệm, các chất hữu cơ trở
thành nguồn thức ăn nuôi sống các sinh vật nhỏ. Phân thải từ các sinh vật nhỏ chính là các
chất mùn, các khoáng vật hữu cơ đơn giản có thể hoà tan trong nước và được rễ cây hút
lên tham gia quá trình quang hợp tạo ra cơ thể sống.
Độ phì nhiêu của đất được đánh giá bằng lượng mùn chứa trong đất và sự đa dạng
của vi sinh vật, sinh vật sống trong lòng đất. Độ dày của lớp đất chính là chiều sâu mà rễ
cây đạt tới cùng với lượng sinh khối trên đất. Đất không xuất hiện ngay mà nó phát triển
từ từ và phải tốn hàng triệu năm mới hình thành được lớp đất dày. Mối quan hệ qua lại giữa
thổ nhưỡng và sinh vật thể hiện rất tốt sẽ làm cho sinh vật sống tốt và ngược lại.
Sinh vật bao gồm cả sinh vật sống ở môi trường nước và sinh vật sống ở trên cạn.
Đây là một nguồn tài nguyên vô cùng to lớn. Chúng ta phải coi trọng vai trò của rừng và
các sinh vật của rừng. Cây xanh đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tạo ra rừng trong
quần thể sinh vật. Đó là khả năng tự dưỡng nhờ quá trình quang hợp của lá cây sử dụng
nguồn năng lượng mặt trời.
Ngoài ra rừng còn có khả năng điều tiết lượng nước vào mùa mưa và mùa khô, vào
mùa mưa rừng giữ lại một lượng nước nhất định cho nên không gây nên hiện tượng lũ lụt.
Vào mùa khô một lượng nước lớn được giữ lại trong rừng chảy ra sông suối làm cho mực
nước mùa khô không bị cạn kiệt. Hoạt động Đốt rừng làm nương rẫy, khai thác rừng quá
khả năng hồi sinh dẫn tới sự hủy diệt của rất nhiều loài sinh vật và phá hủy mức độ cân
bằng của hệ sinh thái.
3. Các nguồn tài nguyên được coi như vô hạn, bao gồm:
Năng lượng trong lòng đất: Trung bình cứ khoan sâu vàng trong lòng đất 33 mét
nhiệt độ sẽ tăng lên 1°C. Số 33 mét được gọi là địa nhiệt cấp trung bình của lòng đất, ở các
khu vực có núi lửa hoạt động mạnh địa cấp nhiệt chỉ khoảng 2-3 mét, ở các khu vực có địa
chấn lớn người ta có thể khoan sâu vào sâu trong lòng đất rồi bơm nước xuống. Nước hóa
hơi do nhiệt trong lòng đất sẽ được đưa lên để chạy máy phát điện, nguồn điện này có thể
coi như vô tận.
Các loại đá của thạch quyển: Đó là các Silicat loại có rất nhiều và có thể coi như vô
tận.

5
Các loại muối hòa tan trong nước biển và đại dương: Đây chính là nguyên liệu vô
tận cho con người. Hầu hết các nguyên tố trong bảng tuần hoàn của Mendeleep đều có tồn
tại Dưới dạng muối hòa tan trong nước biển và đại dương. Việc lấy các nguyên tố đó ra từ
nước biển chỉ còn là vấn đề kỹ thuật và kinh tế.
Nguồn năng lượng mặt trời trời: Đây là nguồn năng lượng vô tận cho xã hội loài
người. Con người đã có khả năng biến đổi trực tiếp quang năng của mặt trời thành điện
năng nhưng còn hạn chế về mặt kỹ thuật và kinh tế.
Các nguồn năng lượng có nguồn gốc sâu xa từ mặt trời, gió, thủy điện, điện thủy
triều, điện do sóng biển, điện do độ sâu của biển… Trong tương lai sẽ là là nguồn năng
lượng cung cấp chủ yếu cho xã hội loài người.
1.2 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ CỦA LÃNH THỔ
1.2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1. Toạ độ địa lý
Toạ độ địa lý được xác định bởi kinh độ, vĩ độ của các điểm cực Bắc, cực Nam, cực
Tây, cực Đông của lãnh thổ. Vĩ độ có vai trò quan trọng hơn vì các vĩ độ khác nhau thì bề
mặt trái đất nhận được năng lượng mặt trời nhiều ít khác nhau. Ở xích đạo các tia ánh sáng
mặt trời gần vuông góc với bề mặt trái đất và chúng chỉ đi qua một lớp khí quyển mỏng
(bằng bề dầy của khi quyển ở xích đạo) vì thế mặt đất nhận được nhiều năng lượng mặt
trời.
Ở vĩ độ càng cao góc của tia ánh sáng và bề mặt đất giảm đi và tia sáng phải đi
qua lớp khí quyển dày gấp ba lần có khi dầy gấp chín lần bề dày khí quyển xích đạo. Vì
thế vĩ độ càng cao nhận được năng lượng mặt trời càng ít.
Khí hậu thay đổi theo vĩ độ tạo ra các đới khí hậu khác nhau: Nhiệt đới, ôn đới,
hàn đới, khí hậu rất quan trọng với mỗi quốc gia nó quyết định một phần sự phát triển của
các quốc gia đó.
2. Diện tích
Diện tích toàn bộ bề mặt trái đất hiện nay là 510,1 triệu Km trong khi đó diện tích
các lục địa chỉ có 148,84 Km (chiếm 29,2% diện tích toàn bộ bề mặt trái đất) còn lại là
các đại dương. Trên các lục địa những lãnh thổ có tổ chức kinh tế xã hội chỉ có diện tích
135,8 triệu Km (chiếm 26,6% tổng diện tích trái đất).
Tổng số quốc gia và các tổ chức kinh tế xã hội trên toàn thế giới đến năm 1995 là
225 quốc gia (chỉ tính các quốc gia và các tổ chức kinh tế xã hội biệt lập có diện tích lớn
hơn 10 Km, dân số trên 1000 người không kể các căn cứ quân sự và các thuộc địa).

