
PHÂN TÍCH SỰ GHEN CỦA HOẠN THƯ-
TRUYỆN KIỀU
Lâu nay, nhiều người vẫn dùng hình ảnh Hoạn Thư - một nhân vật
mang nhiều nét điển hình trong thế giới Truyện Kiều của Nguyễn Du -
để chỉ những phụ nữ hoặc là mắc bệnh ghen tuông nam nữ vô cớ hoặc
là có những màn đánh ghen ầm ĩ ở đời. Kỳ thực, trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, từ câu 1528 (khi Hoạn Thư chính thức xuất hiện) đến câu
2014 (lúc Hoạn Thư lui vào hậu trường và màn ghen tuông khép lại)
Nguyễn Du đề cập chủ yếu đến mối quan hệ rắc rối giữa ba nhân vật
Thúc Sinh - Hoạn Thư - Thuý Kiều và cái máu "nhà ghen" của Hoạn
Thư, thì Hoạn Thư hoàn toàn không phải là con người ghen tuông theo
kiểu mà lâu nay người đời vẫn gán ghép.
Hoạn Thư là người như thế nào? Trong "lý lịch trích ngang" của
nhân vật con nhà gia thế này Nguyên Du đã ghi:

Ở ăn thì nết cũng hay.
Nói điều ràng buộc thì tay cũng già. (2534)
Rõ ràng, trong cuộc sống ("ở ăn") Hoạn Thư là một phụ nữ tốt ("nết
cũng hay"); khôn ngoan, hiểu biết nghĩa lý ("nói lời ràng buộc") và tỏ ra
cứng rắn khi giải quyết những việc thuộc về lý ("tay cũng già"). Thuý
Kiều cũng đã từng tìm hiểu và đánh giá về mặt hạnh kiểm ở con người
Hoạn Thư:
Trộm nghe kẻ lớn trong nhà,
Ở vào khuôn phép nói ra mối dường (1484).
Một người được cả Thuý Kiều lẫn Nguyễn Du ghi nhận như vậy hẵn
không thể có những "đòn ghen" vô cớ.
Trong những ngày "Chỉ non thề bể nặng gieo đến lời" (1368), ân ái
với Thúc Sinh; Thuý Kiều - nạn nhân của "đòn ghen" Hoạn Thư sau này
- đã nhiều lần lo, nghĩ:
Bấy lâu khăng khít dải đồng,
Thêm người người cũng chia lòng riêng tây.

Vẻ chi chút phận bèo mây,
Làm cho bể ái khi đầy khi vơi.
Trăm điều ngang ngửa vì tôi,
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho. (1346)
Là người "Thông minh vốn sẵn tính trời"(0029) Thuý Kiều tiên liệu
trước:
Dễ loà yếm thắm, trôn kim.
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng. (1508)
Nên đã khuyên Thúc Sinh :
Đến nhà, trước liệu nói sòng cho minh.
Dù khi sóng gió bất bình
Lớn ra uy lớn tôi đành phận tôi. (1512)
Cốt để:
Sao cho trong ấm thì ngời mới êm. (1506)
Tiếc rằng con người "quen thói bốc rời" nơi Thúc Sinh chẳng mảy
may nhập tâm "Nghĩ đà bưng bít miệng bình, Nào ai có khảo mà mình
lại xưng (1578) nên hậu quả xảy ra đúng y như điều mà Thuý Kiều tiên
đoán.

Như vậy, hành động của Hoạn Thư là có nguyên cớ và trong một
chừng mực nào đó nó hợp với cách ứng xử thường tình hiện hữu của dân
gian: "Ghen tuông thì cũng người ta thường tình"(2366), "Chồng chung
chưa dễ ai chiều cho ai"(2370). Chính cái lý lẽ này được Hoạn Thư đưa
ra để "tranh tụng" và cứu sống mình tại phiên toà Lâm Tri sau này.
Một điểm nữa cần được "minh oan" là hành động ghen tuông của
Hoạn Thư khác với sự ghen tuông ầm ĩ như thói thường.
Khi biết Thúc Sinh dan díu với Thuý Kiều, Hoạn Thư cũng ghen,
cũng giận "Lửa tâm càng dập càng nồng" (1537) nhưng lại tự nhủ:
Dại chi chẳng giữ lấy nền
Hay chi mà rước tiếng ghen vào mình.(1542)
Hoạn Thư đã hành động nhất quán với điều tự nhủ ấy: ghen
mà như không ghen, ghen nhưng không để người khác thấy:
Nỗi lòng kín chẳng ai hay,
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài. (1554)
Kể cả khi có người mách tin để tâng công, dầu biết rõ đó là sự thật
mười mươi Hoạn Thư vẫn một mực bảo vệ danh dự cho chồng:
Chồng tao chẳng phải như ai

Điều này hẳn miệng những người thị phi.
Vội vàng xuống lệnh ra uy,
Đứa thì vả miệng đứa thì bẻ răng. (1562)
Và khi Thúc Sinh trở lại nhà, dầu trong lòng đang chất chứa "lửa
tâm", "trách người đen bạc ra lòng trăng hoa" (1538) nhưng Hoạn Thư
vẫn "cười nói tỉnh say" và về mặt hình thức bên ngoài vẫn tỏ ra "Chữ
tình càng mặn, chữ duyên càng nồng" (1570).
Sau này, khi xuất hiện đầy đủ ba nhân vật, màn kịch hạ dần; mặc
dầu đòn ghen của Hoạn Thư rất thâm sâu "Làm cho con ở chúa nhà đôi
nơi" (1814) , bắt nàng Kiều hầu rượu "Bắt nàng đứng chực trì hồ hai
nơi" (1836) và đánh đàn "Bản đàn dạo thử một bài chàng nghe" (1850),
dày vò tâm can Thúc Sinh "Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng"
(1870), nhằm đến mục đích "Làm cho nhìn chẳng được nhau, Làm cho
đầy đoạ cất đầu chẳng lên!"(1520); nhưng Hoạn Thư không mảy may
đả động đến chuyện trăng hoa giữa Thúc Sinh và Thuý Kiều. Kể cả khi
Thúc Sinh "tìm hoa quá bước" đến Quan Âm Các gặp Kiều; hai người
nắm tay nhau thở than sụt sùi, quyến luyến "Con tằm đến thác cũng còn
vương tơ" (1976), rồi nói xấu Hoạn Thư: nào là "Thấp cơ thua trí đàn
bà" (1946), nào là "... Riêng tưởng bấy lâu, Lòng người nham hiểm biết
đâu mà lường" (1968); Hoạn Thư nghe rõ từ đầu đến cuối "Rành rành

