
Quản lý và kế toán TSCĐ đựơc đầu tư hoàn
thành từ góc nhìn kế toán kho bạc
Tài sản cố định (TSCĐ) hữu hình hình thành từ nguồn vốn
thuộc NSNN thông qua việc đầu tư xây dựng cơ bản và mua
sắm có tổng giá trị rất lớn (chưa kể giá trị tài sản đặc biệt là tài
nguyên đất, tài sản vô giá) và hàng năm tăng dần theo mức độ
đầu tư. Những tài sản này chuyển hoá từ hình thái hiện vật sang
giá trị tiền tệ nhanh chóng và nhạy cảm. Nếu thiếu những biện
pháp quản lý chặt chẽ sẽ là điều kiện nảy sinh tham ô , lãng phí
và những tiêu cực khác…Bài viết này sẽ đề cập một số bất cập
liên quan đến việc quản lý, ghi chép kế toán TSCĐ được đầu tư,
mua sắm hoàn thành bằng nguồn vốn từ NSNN.
Tài sản hữu hình do thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB)
và mua sắm có đủ tiêu chuẩn được quy định tại Quyết định số
351-TC/QĐ/CĐKT ngày 22/5/1997 của Bộ Tài chính và các
quyết định, hướng dẫn về tiêu chuẩn TSCĐ liên quan thuộc các
lĩnh vực, ngành mang tính đặc thù. Việc ghi chép, phản ánh giá
trị TSCĐ thuộc loại kế toán đặc thù gắn với tính chất của từng
loại tài sản; từng công đoạn bổ sung, hình thành; phương pháp
kế toán; cơ quan quản lý sử dụng và hạch toán…nhằm mục đích
quản lý, xác định hợp lý mọi biến động liên quan (chuyển
nhượng, thanh lý, điều chuyển, khấu hao) đến tài sản để có biện
pháp quản lý hữu hiệu, phát huy tối đa hiệu quả sử dụng, chống
thất thoát, lãng phí. Trong đó, công tác kế toán TSCĐ hoàn
thành là một khâu quan trọng.
Quyết định 351-TC/QĐ/CĐKT đã quy định rõ ràng, cụ thể
nhiều khía cạnh liên quan đến công tác quản lý TSCĐ. Tất cả

các cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu để áp dụng tại đơn vị mình
bởi tại Điều 2, Quyết định 351 có ghi: “Trong quá trình hoạt
động của mình, các đơn vị HCSN thuộc phạm vi áp dụng quy
định tại Điều 1 phải tuân thủ nghiêm ngặt và đầy đủ mọi quy
định về quản lý, sử dụng và tính hao mòn TSCĐ được quy định
tại chế độ này”. Làm tốt những quy định trên vừa là trách nhiệm
của các cơ quan, đơn vị HCSN vừa góp phần tích cực vào công
tác quản lý TSCĐ, đồng thời, là cơ sở giúp cho việc kiểm tra,
giám sát, đánh giá tình hình, thực trạng TSCĐ ở phạm vi từng
cơ quan và cả nước, nhằm có biện pháp quản lý hữu hiệu. Mục
tiêu, quy định là vậy nhưng triển khai trong thực tiễn thì còn
nhiều điều cần bàn:
Trước hết, việc chậm hạch toán đối với tài sản được đầu tư
XDCB hoàn thành là tình trạng khá phổ biến, thậm chí trong
quyết toán công trình hoàn thành không quy định việc bàn giao,
hạch toán giá trị TSCĐ tăng thêm. Điều này xuất phát từ nguy
ên
nhân: Chưa xác định cơ quan s
ử dụng (ở phần lớn hệ thống công
trình hạ tầng sử dụng chung nhất là ở cấp xã, thị trấn). Chậm
hạch toán do chậm ở khâu quyết toán công trình; Đối với các
công trình không quyết toán được, vấn đề quản lý, hạch toán tài
sản càng chậm hơn; những tài sản do cấp trên mua sắm chuyển
giao cho đơn vị cấp dưới thì với nhiều lý do khác nhau như:
thiếu hồ sơ, chưa chuyển giao hướng dẫn vận hành, không đồng
bộ, không có nhu cầu.
Hai là, ngoài quy định tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình: (Điểm 1,
Điều 4) Quyết định 351, còn có thêm quy định TSCĐ mang tính
đặc biệt ở Điểm 2, Điều 4. Không hiểu rằng các Bộ, ngành, các
Sở Tài chính địa phương ngoài việc thực hiện Quyết định 351
thì có quy định riêng được Bộ Tài chính thống nhất bằng văn

bản hay không? Với quy định này, việc quản lý, hạch toán dựa
vào công cụ kế toán tài sản để phản ánh sẽ thiếu chính xác
(tương đối). Đây cũng là những quy định làm tùy tiện thêm việc
hạch toán, nhất là giá trị TSCĐ thông qua mua sắm. Vì giá trị
trên chứng từ chuyển tiền của bên mua so với đơn giá từng tài
sản thì có những tài sản chỉ là công cụ lâu bền, thậm chí là vật
rẻ, mau hỏng. Từ đây, có thể dẫn đến tình trạng không thống
nhất giữa kế toán đơn vị và kế toán kho bạc về giá trị mua sắm
tài sản và liệu khi hoàn thành việc mua sắm, kế toán đơn vị ho
àn
thành hồ sơ, thủ tục hạch toán vào tài khoản liên quan theo chế
độ kế toán TSCĐ ứng với giá trị mua sắm theo chứng từ thanh
toán qua Kho bạc

