
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ THỊ PHƯỢNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC,
ĐẠI HỌC HUẾ
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Thừa Thiên Huế - Năm 2017

Công trình đƣợc hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. HOÀNG SỸ KIM
Phản biện 1: TS NGUYỄN NGỌC THAO
Phản biện 2: PGS.TS LÂM CHÍ DŨNG
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học
viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp 204, Nhà B - Hội trƣờng bảo vệ luận văn
thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia.
Số: 203- Đƣờng Phan Bội Châu - Tp Huế - tỉnh Thừa Thiên Huế
Thời gian: vào hồi 14 giờ 20 ngày 03 tháng 6 năm 2017

1
MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa
khóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Không chỉ ở Việt
Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới, các chính phủ
đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự
phát triển của nền giáo dục, đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục
thực sự vững mạnh và có chất lƣợng. Vì vậy mà trong suốt những năm
qua Đảng và Nhà nƣớc đã luôn quan tâm và tập trung đầu tƣ rất nhiều
cho nền giáo dục Việt Nam.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực, đã từng đƣợc khẳng định trong các văn kiện đại hội
Đảng trƣớc đây. Kế thừa quan điểm chỉ đạo này, trong Văn kiện đại
hội XII Đảng ta đƣa ra đƣờng lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách,
quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá,
khai mở con đƣờng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ
XXI, khẳng định triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nƣớc nhà
“dạy ngƣời, dạy chữ, dạy nghề”.
Tài chính là nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát
triển của giáo dục, trong đó có giáo dục đại học. Bởi lẽ có nguồn lực
tài chính mới thực hiện đƣợc các mục tiêu và nhiệm vụ về giáo dục.
Tự chủ tài chính là “chìa khóa” đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.
Việt Nam đang áp dụng hai cơ chế tự chủ tài chính là tự chủ
toàn bộ và tự chủ một phần. Sau một số năm triển khai, thực tế cho
thấy còn nhiều bất cập liên quan tới công tác quản lý thu chi tài chính
trong các trƣờng đại học, điển hình là:
Thứ nhất, đó là các bất cập liên quan tới nguồn thu.
- Sự hạn chế mức trần của khoản thu. Mặc dù đƣợc giao
quyền tự chủ về tài chính, nhƣng các trƣờng đại học vẫn phải tuân thủ
mức trần học phí đƣợc quy định tại Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày
02/10/2015 của Chính phủ.

2
- Chỉ tiêu đăng ký tuyển sinh hằng năm theo Thông tƣ
57/2011/TT-BGDĐT. Nhƣng kết quả tuyển sinh thì theo nhu cầu, thị
hiếu của xã hội. Một số hệ đào tạo không chính quy có sự thu hẹp
quy mô dẫn đến giảm đáng kể đến nguồn thu. Ngoài ra, các trƣờng
vẫn còn bị quản lý chƣơng trình khung rất chặt chẽ, nên chƣơng trình
giảng dạy ở các trƣờng thƣờng tƣơng tự nhau, làm giảm tính cạnh
tranh, giảm khả năng tuyển sinh của một số trƣờng.
- Đối với các trƣờng tự chủ một phần, cơ chế khoán ngân
sách nhà nƣớc với mức khoán chƣa gắn với nhiệm vụ đƣợc giao, với
chất lƣợng đào tạo và sản phẩm đầu ra. Việc phân bổ ngân sách mang
tính bình quân, do đó không khuyến khích tính năng động, không tạo
động lực cạnh tranh cho các trƣờng đại học.
Thứ hai là, các bất cập liên quan tới việc chi tiêu tài chính.
- Việc chi tiêu cho hoạt động chi thƣờng xuyên còn phụ
thuộc vào nguồn NSNN cấp. Quản lý chi tiêu tài chính là hoạt động
không tách rời với các hoạt động quản lý khác của trƣờng, nó giữ vị
trí quan trọng, quyết định và ảnh hƣởng tới các hoạt động khác.
Song, việc sử dụng nguồn tài chính tại các trƣờng chƣa mang lại mục
tiêu nhƣ mong muốn, vẫn còn tồn tại những yếu kém.
- Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là chủ trƣơng đƣợc đề
cập, nêu cao hằng năm. Song kết quả thực hiện không cao.
- Các trƣờng đại học chƣa đƣợc tự chủ hoàn toàn về bộ máy và
biên chế.
- Các trƣờng dù là tự chủ về tài chính, nhƣng vẫn phải tuân
thủ các định mức kinh tế kỹ thuật tiêu chuẩn ngành đã lạc hậu, không
hợp lý. Quản lý chi tiêu theo nhóm chi, mục lục ngân sách chứ chƣa
quản lý theo chất lƣợng đầu ra.
Trƣờng Đại học Khoa học là đơn vị dự toán cấp 3 trực thuộc
Đại học Huế; là đơn vị sự nghiệp công lập. Vấn đề tài chính của
Trƣờng ĐHKH, ĐHH thuộc vấn đề chi tiêu công, mà vấn đề chi tiêu
công đang đƣợc Nhà nƣớc coi là một trọng tâm của chính sách tài
chính công của Nhà nƣớc ta hiện nay. Hơn nữa, mục tiêu phát triển
của Trƣờng ĐHKH, ĐHH đến năm 2020 là phát triển quy mô đào
tạo; nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo; nâng cao khả năng cạnh
tranh của Trƣờng ĐHKH, ĐHH. Tuy nhiên, Việc thực hiện quản lý

3
tài chính của trƣờng ĐHKH, ĐHH theo hƣớng thắt chặt đang có
nhiều lúng túng, làm cản trở nhất định công tác Giáo dục và Đào tạo
của trƣờng nhƣ: NSNN cấp ngày càng giảm xuống, Nhà nƣớc khống
chế mức trần học phí, Quy mô đào tạo ngày càng giảm... Điều này
đặt Trƣờng ĐHKH-ĐHH trong tình trạng rất khó khăn về tài chính,
đòi hỏi Trƣờng phải có các biện pháp để tăng nguồn thu, quản lý chi
tiêu và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn lực tài chính.
Vì những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý tài chính
tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Về vấn đề quản lý tài chính các trƣờng đại học công lập, tác
giả có tham khảo các đề tài nghiên cứu sau:
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Luận văn đƣợc thực hiện nhằm mục đích đề xuất định hƣớng
và giải pháp góp phần quản lý tài chính tại trƣờng ĐHKH, ĐHH.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý tài chính
trong các đơn vị sự nghiệp công lập và của các trƣờng đại học công
lập.
+ Làm rõ thực trạng công tác quản lý tài chính tại trƣờng
ĐHKH, ĐHH.
+ Đề xuất một số định hƣớng và giải pháp để quản lý tài
chính của trƣờng đƣợc tốt hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Là những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính và
tự chủ tài chính tại các trƣờng Đại học công lập.
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu tại trƣờng ĐHKH, Đại học Huế, trong thời
gian 3 năm (2014-2016).

