Sản xuất các chất thứ cấp
Các cht trao đi thứ cấp hay còn gọi là c cht thứ cấp thể xếp trong ba
nhóm chính: alkaloid, tinh dầu và glycoside. Các alkaloid có dạng tinh thể là
các hợp chất cha nitrogen, có thể được tách chiết bằng cách dùng dung dch
acid.
Alkaloid có hoạt tính sinh lý trên tất cả động vật và được sử dụng trong công
nghiệp dược. Họ alkaloid bao gồm: codein, nicotine, caffeine morphine.
Các tinh dầu chứa hỗn hợp terpenoid được sử dụng như chất mùi, chất
thơm dung môi. Glycoside bao gồm c phenolic, tanin và flavonoid,
saponin và các các chất mùi thực phẩm và dược phẩm.
Một trong những nhân tố quan trọng nh hưởng đến việc sản xuất các chất
thcấp từ tế bào thực vật là sphân hóa hình thái. Nhiều chất thcấp được
sản xuất trong suốt quá trình phân hóa tế bào. Vì thế, chúng thường được tìm
thấy trong các có tính đặc trưng cao như rễ, và hoa. Do sphân hóa
hình thái strưởng thành không xuất hiện trong nuôi cấy tế bào, nên các
chất thứ cấp khuynh hướng ngưng tạo thành trong nuôi cấy tế bào thực
vật. Chỉ một sgiới hạn hệ thống nuôi cấy tế bào thực vật là thsản xuất
một lượng vừa phải các chất thứ cấp, cho dù thực vật tnhiên cyanogenic
glycoside, một số trong chúng được sử dung làm chất nhuộm, mà từ đó các tế
bào được thu thập, là th sản xuất chúng.
Tuy nhiên, các tế bào không phân h trong nuôi cấy dịch huyền phù thường
to thành một khối khoảng vài trăm tế bào do tính chất dính nhớt của bmặt
tế bào, tsự tiết ra của các polysaccharide cũng như mật độ cao của tế bào.
Do gradient nng đvà stương tác tế bào, các tế bào giữa khối sẽ được
tiếp xúc với i trường, điều đó khác với các tế bào bên ngoài. Do đó, sự
phân hóa sxuất hiện tới một mức đ nào đó trong khi để cho phép tạo
thành các chất thứ cấp.
Sự kết khối trong nuôi cấy tế bào thực vật.
Một skết quả nghiên cứu cho rằng một số nuôi cấy dịch huyền phù kh
năng tổng hợp các sản phẩm đặc biệt có nồng độ cao hơn so với cây mà từ đó
chúng bắt nguồn. Chẳng hạn: Schulte cs (1987) đã thông báo stạo thành
các anthraquinone trong các nuôi cấy tế bào (được tối ưu các điều kiện) đã
vượt trội các cây sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên (17/19 loài khác nhau)
thuộc các chi Asperula, Galium, Rubia và Sherardia. Hiu suất anthraquinone
cao nhất trường hợp của loài Galium verum (1,7 g/L) nồng đcao nhất
ở loài Rubia fruticosa (20% trng lượng khô).
Đã những bằng chứng rõ ràng cho thấy mối quan hngược (feedback)
giữa tốc đsinh trưởng và khnăng sản xuất các chất thứ cấp. Khi tốc độ
sinh trưởng cao, các quá trình sơ cấp của tế bào phân chia tế bào sản
xuất sinh khi tế bào đã diễn ra mạnh mẽ. Ngược lại, trong pha tĩnh khi s
sinh trưởng giảm đến mức tối thiểu, thì lúc này hoạt động sản xuất và tích lũy
các chất thứ cấp đã tăng lên.
Thành phần môi trường cũng ảnh hưởng một cách ý nghĩa đến số lượng
các chất thứ cấp được sản xuất. Yêu cầu bản khi thiết kế các công thức
môi trường dinh dưỡng là đảm bảo hoàn thành sự sinh trưởng của tế bào. Sau
khi tế bào đạt đến một quần lạc nhất định, sự thay đổi thành phần môi trường
cũng thể ảnh hưởng đến sự tích lũy sản phẩm. Chẳng hạn, người ta đã cải
thiện sản lượng của shikonin có nguồn gốc từ nuôi cấy dịch huyền phù tế bào
của cây Lithospermum erythrorhizon bằng cách dùng môi trường sản xuất đ
thay cho môi trường sinh trưởng. Môi trường sản xuất thường chứa nhiều
sucrose hơn nhưng ít c thành phần vitamin hơn so với môi trường
sinh trưởng.
Tích lũy sản phẩm bằng nuôi cấy tế bào thực vật thể được kích thích bởi
các elicitor sống hoặc không sống. Các elicitor sống là các hợp chất hoặc các
chất nguồn gốc từ vi sinh vật và các elicitor không sống là các tác nhân
gây stress như chiếu xUV, sốc thẩm thấu, hoặc các ion kim loại nặng. Các
elicitor sống (biotic) thường được sản xuất bằng cách nghiền đng thể hệ sợi
nấm và trùng dịch thu được. nh hưởng của các biotic elicitor lên sch
lũy của các chất thứ cấp tùy thuộc vào đặc trưng và nồng độ của elicitor, thời
gian tiếp xúc elicitor, và giai đoạn sinh trưởng của tế bào thực vật.