
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 17
liên hệ trực tiếp và tức thì giữa các dịch vụ đó với việc cho thuê
mượn tài sản.
Câu 4 (b) Tại sao bạn lại nghĩ rằng những dấu hiệu từ ngữ: GAP (cho quần áo),
VIRGIN (cho hàng không), MARS (cho sôcôla), AMAZON (cho cửa
hàng sách trực tuyến) và MONT BLANC (cho các dụng cụ để viết) được
xem xét là các nhãn hiệu có khả năng phân biệt?
Trả lời. Vì những dấu hiệu này là có tính chất ngẫu hứng trong quan hệ với
các sản phẩm sử dụng dấu hiệu đó.
Tính chất chung
Một hiện tượng nghịch lý trong luật nhãn hiệu đó là việc mất tính phân biệt khi một
nhãn hiệu trở nên gắn bó với loại sản phẩm sử dụng nó đến mức trở thành một sự mô
tả chung về sản phẩm đó. Ví dụ, các thuật ngữ chung “đồ nội thất” (chỉ đồ đạc nội thất
nói chung và cũng để chỉ bàn, ghế, v.v.) và “ghế” (để chỉ ghế). Các nhãn hiệu như
FRIGIDAIRE, CELLOPHANE, ESCALATOR, GRAMOPHONE và LINOLEUM
được đăng ký như các nhãn hiệu có tính phân biệt, về cơ bản đã trở thành các thuật
ngữ chung vì chúng là sản phẩm duy nhất trong nhóm sản phẩm của mình và vì chủ sở
hữu các nhãn hiệu đó đã không nỗ lực để ngăn cản chúng trở thành các từ chung. Ví
dụ, khi một tờ báo hoặc tạp chí sử dụng một nhãn hiệu theo cách chung chung thì chủ
sở hữu nhãn hiệu cần yêu cầu phải đăng thông báo đính chính lại cách sử dụng đó. Ví
dụ, mô tả trong một quảng cáo về dao cạo râu điện là “dao cạo râu điện ROLLS
ROYCE” cần được chủ sở hữu nhãn hiệu ROLLS ROYCE đính chính lại rằng nhãn
hiệu này là tài sản của Hãng ôtô Rolls Royce và nó chỉ được sử dụng trên xe ôtô do
hãng sản xuất.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 5 Báo cáo dưới đây xuất hiện trên một tờ báo. Hãy viết lại với sự dẫn
chiếu thỏa đáng tới quyền của các chủ sở hữu nhãn hiệu.
“Một nhóm thanh niên mặc đồ ray-ban và nike đã đột nhập vào
portacabin. Chúng cuỗm theo một loạt Rolexes và thoát khỏi hiện
trường trên những ván trượt bị một chiếc Mercedes đuổi theo rất sát.”
Trả lời. “Một nhóm thanh niên đeo kính râm hiệu RAY-BAN đã đột nhập vào
tòa nhà PORTACABIN. Chúng cuỗm theo một loạt đồng hồ hiệu

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 18
ROLEX và thoát khỏi hiện trường trên những ván trượt bị một chiếc xe
ôtô hiệu MERCEDES đuổi theo rất sát.”
Nhãn hiệu bao gồm “các dấu hiệu hoặc chỉ dẫn riêng được sử dụng trong
thương mại có thể được dùng để chỉ chủng loại, chất lượng, số lượng, mục đích
dự kiến, giá trị, nguồn gốc địa lý, thời gian sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp
dịch vụ hoặc các đặc điểm riêng khác của hàng hóa hoặc dịch vụ”;
Điều 6quinquies Công ước Paris quy định, bằng cách diễn đạt như trên, về việc từ chối
đăng lý các dấu hiệu có tính chất mô tả hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc một số đặc tính
của hàng hóa/dịch vụ đó. Ý nghĩa của việc loại trừ này là nhằm giữ các dấu hiệu hoặc
chỉ dẫn mà những người kinh doanh thương mại trung thực có thể muốn sử dụng
không vì động cơ sai trái.
Ví dụ, ở Anh và OHIM đã từ chối đăng ký các nhãn hiệu theo nhiều căn cứ khác nhau
như:
Từ ngữ tán dương
Bị từ chối
100% PURE GOODNESS cho mỹ phẩm và dầu gội;
LASTING PERFORMANCE cho nước hoa, tinh dầu và mỹ phẩm;
OPTIMA cho máy dưỡng khí;
SUPREME cho các sản phẩm nhiếp ảnh;
TREAT cho các loại nước sốt và xi rô tráng miệng.
Không bị từ chối
MAXIMA cho thiết bị y tế và phẫu thuật.
Chỉ dẫn địa lý
Bị từ chối
ISLE OF SKYE cho rượu mạnh và rượu mùi, vì đó là hòn đảo Scôt-len nơi sản xuất
rượu whisky.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 19
Không bị từ chối
VAL D’ISERE cho quần áo lót phụ nữ, vì không nhận định rằng sản phẩm may mặc
này được sản xuất trong khu trượt tuyết đó.
Dấu hiệu mô tả
Bị từ chối
BABY-DRY cho tã dùng một lần;
BROADBAND CODE MULTIPLE ACCESS cho các hệ thống viễn thông;
COFFEEMIX cho máy pha cà phê;
COMFORT PLUS cho thảm và các vật trải sàn;
COMPANYLINE cho các hoạt động bảo hiểm và tài chính;
COMPLETE cho xà phòng và mỹ phẩm;
DOUBLEMINT cho kẹo cao su, mỹ phẩm, thuốc đánh răng và các dược liệu bào chế;
ENAMELIZE cho thuốc đánh răng;
EUROLAMB cho thịt cừu;
FOODSAVER và FRESHSAVER cho máy đóng gói chân không;
FROOT LOOPS cho ngũ cốc;
GLOBAL CHILLER cho các thiết bị làm lạnh;
JIVE cho các loại băng tiếng và băng hình;
LANDSCAPE cho đồ đạc nội thất, văn phòng và nhà bếp;
MINI CLAW cho dụng cụ làm vườn;
ONE TOUCH VIEW cho điện thoại;
PETIT BEBE cho quần áo và giầy dép trẻ em;
PORTFOLIO cho sách và các ấn phẩm in;
WWW.PRIMEBROKERS.COM cho công cụ phần mềm buôn bán cổ phiếu doanh
nghiệp.
Không bị từ chối
LIGHT GREEN và YELLOW cho kẹo cao su;
OILGEAR cho máy bơm nước và ôtô, động cơ ôtô;
SWEDISH FORMULA cho mỹ phẩm, xà phòng và dầu gội.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 6 (a) Bình luận về khả năng được đăng ký của các nhãn hiệu dưới đây:
(i) KETTLE CLEAN cho chất pha chế làm sạch cặn;

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 20
(ii) BUDGET cho dịch vụ cho thuê ôtô;
(iii) OVERNIGHT cho dịch vụ giao hàng;
(iv) QUIKSLIM cho đồ ăn kiêng;
(v) Hình vẽ một chùm nho cho dịch vụ giải khát.
Trả lời Mỗi nhãn hiệu nêu trên đều có thể được người kinh doanh sử dụng với
dụng ý tốt.
Khi xem xét một thuật ngữ có tính thông dụng trong thương mại hay không, Cơ quan
đăng ký sẽ dùng các danh bạ và từ điển để xác định việc sử dụng nhãn hiệu có là thông
lệ trong thương mại hay không.
Tính phân biệt có được thông qua việc sử dụng
Khi xác định một nhãn hiệu có trở nên có tính phân biệt thông qua việc sử dụng hay
không, sẽ thực hiện một đánh giá tổng thể để xem xem liệu nhãn hiệu đó có dẫn đến
việc nhận diện được sản phẩm bắt nguồn từ một doanh nghiệp riêng biệt và do đó phân
biệt nó với sản phẩm của các doanh nghiệp khác. Nhận thức về nhãn hiệu trong tâm trí
người tiêu dùng bình thường về hàng hóa hoặc dịch vụ đóng vai trò quyết định.
Câu hỏi tự đánh giá
Câu 7 Chứng cứ nào sẽ được dựa vào để xác định tính phân biệt của một nhãn
hiệu có được thông qua việc sử dụng?
Trả lời. Điểm xuất phát sẽ thường là các chứng cứ tài chính về doanh thu, chi phí
quảng cáo và xúc tiến hàng hóa hoặc dịch vụ cùng với các ví dụ về việc
nhãn hiệu được sử dụng trong thực tế như thế nào. Nguồn chứng cứ tốt
nhất là nhóm người tiêu dùng có liên quan. Các cuộc thăm dò thị trường
được tổ chức tốt cũng có thể có tính thuyết phục.
Nhãn hiệu trái với lợi ích công cộng hoặc các quy tắc đạo đức đã được chấp
nhận;
Căn cứ loại trừ này được thiết lập nhằm ngăn chặn việc đăng ký nhãn hiệu có thể xúc
phạm đến một bộ phận công chúng. Việc xúc phạm có thể phát sinh bởi các vấn đề về
chủng tộc, giới tính, tín ngưỡng tôn giáo hoặc các vấn đề chung về sở thích và lễ giáo.
Việc xúc phạm có thể bằng hình ảnh hoặc từ ngữ. Những nhãn hiệu khuyến khích hoặc
cổ động cho các hành vi tội phạm là ví dụ rõ ràng về loại nhãn hiệu có thể bị loại trừ
này.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 21
Nhãn hiệu gây nhầm lẫn
Căn cứ loại trừ tuyệt đối việc đăng ký này liên quan đến tính gây nhầm lẫn sẵn có của
chính bản thân nhãn hiệu hơn là sự tương tự gây nhầm lẫn của nó với một nhãn hiệu
khác. Ví dụ về nhãn hiệu có tính gây nhầm lẫn sẵn có là:
• ORLWOOLA cho quần áo không làm toàn bằng len;
• CHINA-THERM cho cốc nhựa cách nhiệt;
• FILLET-O-FISH cho đồ ăn chỉ có thành phần cá;
• ROYAL WORCESTER ám chỉ sự sai lệch về sự bảo trợ của hoàng gia
cho đồ sứ từ vùng Worcester Hoa Kỳ.
Nhãn hiệu trái pháp luật
Một số quốc gia cấm các nhãn hiệu bị cấm theo quy định của các luật không phải là
luật nhãn hiệu. Ví dụ về các nhãn hiệu bất hợp pháp là:
• Sử dụng dấu hiệu Chữ thập đỏ trái với quy định nêu tại phần 6 Luật
Công ước Genevơ 1957;
• Sử dụng từ ngữ hoặc các thành phần trái với pháp luật về phân biệt
chủng tộc hoặc hằn thù chủng tộc;
• Sử dụng sai lệch các chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ như “Champagne”
hoặc “Cognac”.
Biểu tượng đã được bảo hộ một cách đặc biệt
Hầu hết các luật nhãn hiệu đều loại trừ việc bảo hộ các biểu tượng đặc biệt nhất định
đã được bảo hộ. Chúng bao gồm:
• Quốc huy của các nước ký kết Công ước Paris;
• Biểu tượng của các tổ chức quốc tế nhất định;
• Các biểu tượng Olympic.
Đơn đăng ký không trung thực

