Chiết khấu và các tiêu chuẩn để đánh
giá đầu tư –PHN1
Tiêu chuẩn tỷ số lợi ích-chi phí
Tiêu chuẩn này để xếp hạng các dán đầu tư là quy tắc được
các nhà phân tích đầu tư áp dụng rộng rãi nhất. Nhưng không
may thay, nếu nó không được sử dụng một cách cẩn thận, tiêu
chuẩn này sđưa ra một lời khuyên sai lệch về sự hấp dẫn
tương đối của các cơ hội đầu tư. Tỷ số lợi ích-chi phí được tính
bằng cách đem chia hiện giá của các lợi ích cho hiện giá của các
chi phí, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm sut chiết khấu.
Tỷ số lợi ích-chi phí (R) = (Hiện giá của các lợi ích/Hiện giá của
các chi phí)
Sử dụng tiêu chuẩn này, ta sđòi hỏi rằng để cho một dự án
thể chấp nhận được, tỷ số R phải lớn hơn 1. Và trong việc lựa
chọn các dự án loại trừ lẫn nhau, quy tắc là chọn dự án có tỷ số
li ích-chi phí lớn nhất.
Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng nhìn thấy rằng tiêu chuẩn này có th
làm ta xếp hạn sai các dự án, nếu các dự án này khác nhau v
qui mô. Hãy xét lại ví dụ dùng các dự án mang tính loại trừ lẫn
nhau I, J, và K đã dùng ở trên:
Dự án I: Hiện giá (PV) của chi phí =1 triệu đô-la, PV của lợi ích =
$1,3 triệu
Hiện giá lợi ích ròng (NPV) = $0,3 triệu R = 1,3/1 = 1,3
Dự án J: Hiện giá (PV) của chi phí = 8 triệu đô-la, PV của lợi ích =
$9,4 triệu
Hiện giá lợi ích ròng (NPV) = $1,4 triệu R = 9,4/8,0 = 1,175
Dự án K: Hiện giá (PV) của chi phí = 1,5 triệu đô-la, PV của lợi
ích = $2,1 triệu
Hiện giá lợi ích ròng (NPV) = $0,6 triệu R = 2,1/1,5 = 1,4
Trong ví dụ này, ta thấy rằng nếu các dự án được xếp hạng theo
tỷ số lợi ích-chi phí, ta sẽ chọn dán K. Thế nhưng, ta biết rằng
hiện giá lợi ích ròng của dự án K thấp hơn dự án J. Do đó, trong
trường hợp này vic xếp hạng các dự án theo tỷ số lợi ích-chi phí
sẽ dẫn ta đến những quyết định đầu tư sai lầm.
Vấn đề thứ hai liên quan đến việc sử dụng tỷ số lợi ích-chi phí, và
có thể đây là khiếm khuyết nghiêm trọng nhất của cách này, là t
số này nhạy cảm với cách mà các kế toán viên định nghĩa chi phí
khi tính ngân lưu. Ví dụ, khi nhà sản xuất phải trả thuế cho một
mt hàng được bán, thì hạng mục cho các khoản thu trong bảng
ngân lưu có thể được ghi sổ là doanh số sau khi đã trừ thuế hoặc
là doanh số chưa trừ thuế được ghi sổ như một khoản chi bù lại.
Khi ta có các chi phí đương thời của dự án, các chi phí này có th
được ghi sổ bằng nhiều cách khác nhau. Tỷ số lợi ích-chi phí
cũng sẽ bị thay đổi bởi cách người ta giải thích các chi phí này.
Ta hãy cùng xem xét ví dụ sau:
Dựán A Dựán B Hiện giá của lợi ích gộp 2000 2000 Hiện giá chi
phí đương thời 500 1800 Hiện giá chi phí vốn 1200 100 Tỷ số lợi
ích-chi phí nếu đem trừ
Bởi vì R1B > R1A , người ta đã chọn dự án B thay vì dự án A theo
tiêu chuẩn tỷ s lợi ích-chi phí này.
Bởi vì R2A > R2B, người ta đã chọn dự án A thay vì dự án B theo
tiêu chuẩn này.
Cho nên chúng ta thấy rằng việc xếp hạng hai dự án có thể trái
ngược nhau tùy theo cách ta xử lý chi phí đương thời. Mặt khác,
hiện giá lợi ích ròng của một dự án không nhạy cảm với cách mà
các kế toán viên xử lý chi phí. Không may thay việc thẩm định d
án có nhiều quyết định tùy tiện về cách cân đối lợi ích và chi phí
mỗi quyết định như vậy đều ảnh hưởng đến tỷ số lợi ích-chi
phí. Do vậy mà hiện giá lợi ích ròng là một tiêu chun lựa chọn
dự án có thể tin cậy hơn nhiều so với tỷ số lợi ích-chi phí.
(c) Thời gian hoàn vốn
Quy tắc thời gian hoàn vốn đã được sử dụng rộng rãi trong vic
quyết định đầu tư. Bởi vì dễ áp dụng và khuyến khích các dự án
có thời gian hoàn vn nhanh, quy tắc này đã tr thành một tiêu
chuẩn phổ biến trong việc lựa chọn đầu tư kinh doanh. Nhưng
đáng tiếc thay nó có thể dẫn đến những kết quả sai lạc, đặc biệt
là những trường hợp các dự án đầu tư có thời gian hoạt động dài
và người ta biết khá chắc chắn về các lợi ích và chi phí trong
tương lai.