TÀI LIỆU HỌC TẬP
MÔN HỌC
PHÂN TÍCH
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
2
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH
1.1. Khái niệm, đối tƣợng của phân tích hoạt động kinh doanh
1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh
“Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng
trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”.
Phân tích kinh tế có thể được hiểu chung nhất là phân nhỏ (chia nhỏ) các sự
vật, các hiện tượng kinh tế. Hiện tượng kinh tế được hiểu các hiện tượng kinh tế gắn
liền với xã hội nên các công cụ phân tích của nó khác với các công cụ khi nghiên
cứu, phân tích các hiện tượng tự nhiên. Các công cụ phân tích ở đây là các “khái
niệm trừu tượng”, đó là hệ thống các tiêu chí, tri thức, các phương pháp… Ví dụ
như muốn đánh giá hiệu quả và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
như chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu doanh số bán hàng, chỉ tiêu giá trị sản xuất…
Phân tích kinh tế trong phạm vi doanh nghiệp được gọi là phân tích hoạt
động kinh doanh. “Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh
giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần
khai thác ở doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.
Trước đây, trong điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản và với quy mô nhỏ,
yêu cầu thông tin cho nhà quản trị chưa nhiều và chưa phức tạp, công việc phân tích
thường được tiến hành giản đơn, có thể thấy ngay trong công tác hạch toán. Khi sản
xuất kinh doanh càng phát triển thì nhu cầu thông tin cho nhà quản trị càng nhiều,
đa dạng và phức tạp. Phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển như
một môn khoa học độc lập, để đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị.
1.1.2. Đối tƣợng của phân tích hoạt động kinh doanh
Với tư cách là một khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối
tượng riêng: “Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh chính là kết quả của
quá trình hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả của quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp”.
a. Kết quả của quá trình kinh doanh
Kết quả của quá trình kinh doanh theo nghĩa rộng không chỉ là kết quả tài
3
chính cuối cùng của doanh nghiệp mà còn là kết quả thể hiện qua từng giai đoạn
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế.
Chỉ tiêu kinh tế gắn liền với trị số của chỉ tiêu. Chỉ tiêu kinh tế có nội dung tương
đối ổn định còn trị số của chỉ tiêu kinh tế thì thay đổi theo thời gian và không gian.
Trị số của chỉ tiêu kinh tế có thể được đo lường bằng các thước đo khác nhau.
Chỉ tiêu kinh tế bao gồm chỉ tiêu phản ánh số lượng và chỉ tiêu phản ánh chất
lượng hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu số lượng là chỉ tiêu phản ánh quy mô hoặc
điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn: các chỉ tiêu về doanh thu,
về vốn kinh doanh, về giá trị sản xuất…Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu
quả của quá trình sản xuất kinh doanh, chẳng hạn: năng suất lao động, giá thành, tỷ
suất lợi nhuận…Tuy nhiên, cách phân chia trên chỉ mang tính tương đối và tùy
thuộc vào mục tiêu của phân tích
b. Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
Phân tích kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh
mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, tác động đến chỉ tiêu phân tích.
Nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình kinh tế...và
mỗi biến động của nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến độ lớn, tính chất, xu
hướng và mức độ của chỉ tiêu phân tích. Nhân tố tác động đến kết quả của quá trình
sản xuất kinh doanh có rất nhiều, tùy theo mục đích phân tích có thể phân loại nhân
tố theo nhiều tiêu thức khác nhau
- Theo nội dung kinh tế của nhân tố, nhân tố bao gồm:
+ Những nhân tố thuộc về điều kiện của quá trình sản xuất kinh doanh như:
số lượng lao động, số lượng vật tư, tiền vốn…những nhân tố này ảnh hưởng trực
tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Những nhân tố thuộc về kết quả sản xuất, những nhân tố này thường ảnh
hưởng dây chuyền từ khâu cung ứng, sản xuất đến tiêu thụ như: số lượng, chất
lượng sản phẩm sản xuất…
- Theo tính tất yếu của nhân tố, có thể phân thành 2 loại
+ Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh như một tất yếu trong quá trình
kinh doanh, ngoài vòng kiểm soát của doanh nghiệp. Thông thường, nhân tố khách
quan chịu ảnh hưởng của môi trường kinh doanh và đó là nhân tố bên ngoài.
4
+ Nhân tố chủ quan: là nhân tố phát sinh tùy thuộc vào sự nổ lực của bản
thân doanh nghiệp, đó thường là nhân tố bên trong
- Theo xu hƣớng tác động của nhân tố, bao gồm:
+ Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của
hiệu quả kinh doanh.
+ Nhân tố tiêu cực là nhân tố tác động xấu hay làm giảm quy mô của kết quả
kinh doanh.
- Theo tính chất của nhân tố, nhân tố bao gồm:
+ Nhân tố số lượng: là nhân tố phản ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh
doanh như: số lượng lao động, vật tư, lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ...
+ Nhân tố chất lượng: phản ánh hiệu quả kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng
các yếu tố kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động...
Theo phạm vi phát sinh của nhân tố, bao gồm:
+ Nhân tố bên trong: là những nhân tố phát sinh bên trong đơn vị.
+ Nhân tố bên ngoài: phát sinh bên ngoài doanh nghiệp. Các nhân tố này
thường là những nhân tố thuộc môi trường vĩ mô (môi trường kinh tế, chính trị, xã
hội) và môi trường vi mô (khách hàng, thị hiếu khách hàng, đối thủ cạnh tranh,...)
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích và định lượng
chúng là công việc hết sức cần thiết vì nếu chỉ dừng lại trị số của chỉ tiêu phân tích
thì nhà quản lý sẽ không thể phát hiện ra các tiềm năng cũng như các tồn tại trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.3 Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh doanh
- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng
tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh.
- Thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp chúng ta mới thấy rõ được các
nguyên nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và nhân
tố ảnh hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong công tác tổ chức và
quản lý sản xuất. Do đó nó là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh.
- Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong chức năng quản
trị, là cơ sở để đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong
các chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động SXKD trong doanh
5
nghiệp.
- Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và
ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra.
- Tài liệu phân tích hoạt động kinh doanh còn rất cần thiết cho các đối tượng
bên ngoài, khi họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì
thông qua phân tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu
tư, cho vay...đối với doanh nghiệp nữa hay không?
Tóm lại phân tích hoạt động kinh doanh là điều hết sức cần thiết và có vai trò
quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Nó gắn liền với hoạt động kinh doanh, là cơ
sở của nhiều quyết định quan trọng và chỉ ra phương hướng phát triển của các
doanh nghiệp.
1.2. Phƣơng pháp phân tích hoạt động kinh doanh
1.2.1 Phƣơng pháp chi tiết
Muốn phân tích một cách sâu sắc các đối tượng nghiên cứu, không thể dựa
vào các chỉ tiêu tổng hợp mà còn cần phải đánh giá theo chỉ tiêu cấu thành của chỉ
tiêu tổng hợp, tức là chi tiết các chỉ tiêu phân tích. Thông thường phương pháp chi
tiết được thực hiện theo những hướng sau:
- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ
phận cấu thành cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất
nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được. Việc chi tiết này có tác dụng
đánh giá ảnh hưởng của từng bộ phận đến chỉ tiêu phân tích
Ví dụ 1: chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm được chi tiết theo từng khoản
mục chi phí, chi tiêu doanh thu chi tiết theo từng mặt hàng hoặc chi tiết theo từng
phương thức tiêu thụ…
Chi tiết hóa chỉ tiêu phân tích được quyết định bởi nhiệm vụ, nội dung và
yêu cầu của công tác phân tích
- Chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một
quá trình. Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực
hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đều nhau. Việc
chi tiết theo thời gian giúp đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của hoạt động
sản xuất kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm nguyên nhân và giải pháp
có hiệu lực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.