Nhập khẩu hàng hoá - Một hoạt động cơ
bản của kinh doanh thương mại quốc tế
trong nền kinh tế thị trường
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Nhập khẩu hàng hoá - Một hoạt động cơ
bản của kinh doanh thương mại quốc tế
trong nền kinh tế thị trường
Biên tập bởi:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Các tác giả:
Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Phiên bản trực tuyến:
http://voer.edu.vn/c/b3022846
MỤC LỤC
1. Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế
2. Vai trò của hoạt động nhập khẩu
3. Các hình thức nhập khẩu thông dụng trong thương mại quốc tế
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
5. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
6. Giao dịch đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
7. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Tham gia đóng góp
1/25
Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong
Thương mại Quốc tế
Vị trí của hoạt động nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế
Khái niệm và vai trò của Thương mại Quốc tế đối với sự phát triển của mỗi Quốc
gia.
Thương mại quốc tế mối quan hệ trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa một quốc gia với
quốc gia khác, một bộ phận trong quan hệ kinh tế quốc tế của một nước với các nước
khác trên thế giới.
Thương mại Quốc tế làm tăng khả năng thương mại của mỗi quốc gia. Từ sự khác biệt
về tài nguyên, khoáng sản, lực lượng sản xuất, kỹ thuật công nghệ… đã làm cho chi phí
để sản xuất ra mỗi sản phẩm có sự khác biệt giữa nước này với nước khác.
Thương mại Quốc tế góp phần mở rộng thị trường của mỗi quốc gia. Thương mại Quốc
tế trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi,
kiểm soát lẫn nhau rất chặt chẽ giữa các chủ thể kinh doanh Thương mại Quốc tế.
Thương mại Quốc tế cho phép mua được những hàng hoá dịch vụ những thị trường
giá rẻ hơn, sau đó bán chúng những thị trường giá cao. Nhưng điều t hơn
cả không phải lúc nào ta cũng mua được các sản phẩm giá rẻ bán chúng với giá
đắt cái chính chúng ta lợi dụng được lợi thế so sánh, nhờ đó qua trao đổi Quốc tế
mà cả hai bên đều có lợi.
Nói đến Thương mại Quốc tế không thể không tìm hiểu về các thuyết kinh tế, đặc
biệt quy luật lợi thế so sánh. Quy luật lợi thế so sánh nhấn mạnh sự khác nhau về chi
phí sản xuất, coi đó chìa khoá của phương thức thương mại. Một quốc gia phải tập
trung vào sản xuất trao đổi sản phẩm đó thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn
giữa các mức chi phí biệt của Quốc gia đó với mức chi phí trung bình Quốc tế trên
thị trường Thế giới. Do đó thể thấy cốt lõi của lợi thế so sánh sự khéo léo lựa chọn,
biết kết hợp giữa ưu thế của một nước với ưu thế của nước khác để đạt được lợi thế tối
đa trên cơ sở một khả năng hạn chế.
Như vậy, một Quốc gia muốn phát triển thì phải bảo đảm hiệu quả tối đa của việc chuyên
môn hoá trên sở lợi thế so sánh. Làm được điều đó thì bất cứ một quốc gia nào cũng
có thể tham gia vào thị trường Thương mại Quốc tế một cách có lợi nhất.
2/25
Vị trí của công tác nhập khẩu trong Thương mại Quốc tế đối với một quốc gia.
Nước ta cũng như nhiều nước khác khả năng rất lớn về nhiều mặt như: i nguyên
thiên nhiên, lao động... song không chỉ nhằm vào chúng một cách độc lập hy vọng
đạt hiệu quả cao. Tức nói ngắn gọn không thể một nền kinh tế phát triển cao dựa
trên cơ sở hoàn toàn tự cấp tự túc.
Để khai thác hiệu quả tiềm năng trên, chúng ta phải vốn, khoa học kỹ thuật công
nghệ hiện đại. Để những yếu tố này chúng ta thể sử dụng nhiều phương pháp
phương pháp bản nhất thông qua Thương mại Quốc tế trong đó chủ yếu giữ vị
trí chủ động hoạt động nhập khẩu. Trong điều kiện chúng ta còn tương đối lạc hậu
về kinh tế công nghệ kỹ thuật thấp kém thì việc thay thế lao động thủ công bằng lao
động máy móc hiện đại hoá lực lượng sản xuất không thể ngày một ngày hai chỉ
thể tiến hành từng bước bằng nhập khẩu trong một thời gian dài. Việc thay đổi chiến
lược kinh tế từ "đóng cửa” sang "mở cửa” cùng quan trọng. Nền kinh tế mở sẽ
tạo ra những hướng phát triển mới, tạo điều kiện khai thác lợi thế tiềm năng của nước
chúng ta trong phân công lao động Quốc tế một cách lợi nhất. Thương mại Quốc tế
chỉ ra cho một nước lợi thế của mình, nên đầu vào đâu, đầu vào lĩnh vực nào lợi
nhất. Nhập khẩu sẽ giúp chúng ta gỡ những vướng mắc những nước nghèo thường
mắc phải, phương châm đó vay mượn công nghệ nước ngoài trong thời kỳ đầu công
nghiệp hoá.
3/25