BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI
------------
-----------
THAM VẤN
HỖ TRỢ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ
TS. Tiêu Thị Minh Hường – Chủ biên 1.
2. TS. Nguyễn Hiệp Thương
3. ThS. Đỗ Thị An
4. TS. Nguyễn Hữu Hùng
HÀ NỘI – 2017
MỤC LỤC
Bài 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THAM VẤN HỖ TRỢ GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ........................4
1. Khái niệm tham vấn, tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ............................................................5
1.1. Khái niệm tham vấn.....................................................................................................................................5
1.2. Khái niệm tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ..............................................................................................8
1.2.1. Khái niệm..................................................................................................................................................8
1.2.2 . Một số khái niệm có liên quan đến tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ...................................................8
1.2.2.1. Trẻ tự kỷ 8
1.2.2.2. Gia đình trẻ tự kỷ.................................................................................................................................14
2. Mục đích, ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ........................................................22
2.1. Mục đích của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ.......................................................................................22
2.2. Ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ.........................................................................................23
3. Các hình thức tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ......................................................................24
3.1. Dựa trên hình thức tham vấn.....................................................................................................................25
3.2. Dựa trên tính chất tham vấn.....................................................................................................................25
4. Nguyên tắc tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ..........................................................................27
5. Quy trình tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ............................................................................29
6. Nội dung tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ..............................................................................31
7. Một số lý thuyết ứng dụng trong tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ.......................................32
7.1. Lý thuyết phân tâm học.............................................................................................................................32
7.2. Cách tiếp cận lấy thân chủ làm trọng tâm................................................................................................39
7.3. Cách tiếp cận hành vi................................................................................................................................41
7.4. Trường phái lý thuyết hệ thống tự nhiên...................................................................................................44
7.5. Trường phái cấu trúc.................................................................................................................................46
7.6.Cách tiếp cận theo mô hình giao tiếp.........................................................................................................49
7.7. Cách tiếp cận theo mô hình tập trung vào giải pháp................................................................................52
7.8. Cách tiếp cận theo mô hình học tập xã hội................................................................................................53
BÀI 2 THAM VẤN HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ..................................56
2.1. Khái niệm tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ..........................................................................56
2.1.1. Một số khái niệm.....................................................................................................................................56
2.1.2. Khái niệm tham vấn tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ.............................................................................57
2.2. Mục đích, ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ.......................................................59
2.3. Quy trình tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ...........................................................................59
2.4. Một số nội dung tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ................................................................65
2.4.1. Tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ khi trẻ được chẩn đoán tự kỷ...................................................65
2.4.2. Tham vấn hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ trong việc tự chăm sóc bản thân..............................................68
2.4.3. Tham vấn về việc chẩn đoán tự kỷ..........................................................................................................69
2.4.4. Tham vấn cho cha mẹ trẻ về việc ứng phó với các hành vi chống đối, nổi loạn của trẻ tự kỷ...............71
2.4.5. Tham vấn cho cha mẹ trẻ về cách ứng phó với hành vi tự xâm kích của trẻ tự kỷ.................................73
2.4.6. Tham vấn cho gia đình trẻ về các hành vi tự kích thích hoặc rập khuôn................................................73
2.4.7. Tham vấn cho gia đình trẻ về vấn đề dậy thì..........................................................................................75
2.4.8. Tham vấn cho gia đình trẻ về sự an toàn cá nhân...................................................................................76
2.5. Một số kỹ năng tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ.................................................................77
2.5.1.
Một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ tự kỷ..........................................77
2.5.1.1. Kỹ năng thiết lập mối quan hệ..............................................................................................................78
2.5.1.2. Kỹ năng lắng nghe................................................................................................................................79
2.5.1.3. Kỹ năng đặt câu hỏi.............................................................................................................................81
2.5.1.4. Kỹ năng phản hồi.................................................................................................................................85
2.5.1.5. Kỹ năng thấu hiểu................................................................................................................................88
2.5.2..Một số kỹ năng chuyên biệt trong tham vấn, hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ tự kỷ........................................91
2.5.2.1.Kỹ năng hướng dẫn vẽ cây phả hệ........................................................................................................91
2.5.2.2.Kỹ năng giao nhiệm vụ cho các thành viên trong gia đình...................................................................92
2.5.2.3.Kỹ năng điều phối sự tham gia của các thành viên trong gia đình.......................................................92
2.5.2.4. Kỹ năng cung cấp thông tin:................................................................................................................93
2.6.Một số điểm cần lưu ý trong quá trình tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ.......................96
Bài 3 THAM VẤN NHÓM CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ TRONG VIỆC CHIA SẺ KINH NGHIỆM - CHĂM SÓC – GIÁO DỤC...................................................................................100
3.1. Khái niệm tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ.....................................................................................100
3.2. Mục đích, ý nghĩa tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ.........................................................................101
3.3. Quy trình tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ.......................................................................................103
3.4. Nội dung tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ.......................................................................................106
3.5. Kỹ năng tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ........................................................................................106
3.5.1. Kỹ năng mở đầu và kết thúc cuộc tham vấn nhóm..............................................................................107
3.5.2. Kỹ năng thiết lập bầu không khí nhóm.................................................................................................108
3.5.3. Kỹ năng phản hồi cho nhiều người trong nhóm....................................................................................108
3.5.4. Kỹ năng tóm lược ý kiến.......................................................................................................................109
3.5.5. Kỹ năng điều phối sự tham gia của các thành viên trong nhóm...........................................................109
3.5.6. Xử lý hành vi nói lấn át người khác.....................................................................................................111
3.6. Một số lưu ý trong tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ........................................................................111
Bài 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THAM VẤN HỖ TRỢ GIA ĐÌNH
TRẺ TỰ KỶ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này người học cần năm được:
- Kiến thức: Hiểu được khái niệm tự kỷ, tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự
kỳ; Trình bày được các rào cản của gia đình trẻ tự kỷ; Nắm được một số
lý thuyết ứng dụng, nguyên tắc và quy trình trong tham vấn hỗ trợ gia
đình trẻ tự kỷ.
- Kỹ năng: Kỹ năng vận dụng các lý thuyết ứng dụng và thực hiện các
nguyên tắc, quy trình tham vấn gia đình trẻ tự kỷ.
- Thái độ: Có thái độ thân thiện, tôn trọng, không kỳ thị; Yêu nghề và
tận tâm hỗ trợ thân chủ; Tích cực, chủ động tìm kiếm và áp dụng kiến
thức, kỹ năng vào thực tiễn.
Trong quá trình can thiệp hỗ trợ trẻ em mắc bệnh tự kỷ ngay tại gia đình,
cha mẹ, anh chị em ruột thịt, ông bà nội ngoại đóng vai trò quan trọng. Cha mẹ
và người thân của trẻ có thể: phát hiện sớm những dấu hiệu, triệu chứng bệnh ở
trẻ; đưa trẻ đi thăm khám sớm các nhà chuyên môn: bác sĩ tâm thần nhi, cán bộ
tâm lý lâm sàng; trực tiếp can thiệp cho trẻ thông qua các hoạt động diễn ra
trong cuộc sống hàng ngày; củng cố các kết quả can thiệp của các nhà chuyên
môn khác; theo dõi quá trình tiến triển và phát triển của trẻ.
Tự kỷ ở trẻ em là một hội chứng phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Không phải ngẫu nhiên mà Liên hiệp quốc chọn ngày 2/4 hàng năm là ngày thế
giới nhận biết về chứng tự kỷ. Điều này cho thấy số trẻ được chẩn đoán mắc
bệnh tự kỷ tăng chóng mặt ở nhiều nước nói chung và cả Việt Nam nói riêng. Ở
nước ta, tự kỷ mới chỉ được biết đến trong khoảng 10 năm trở lại đây, nhưng
cũng đã nhanh chóng trở thành một nỗi đau lớn cho những bậc làm cha, làm mẹ.
Với số lượng trẻ tự kỷ tăng lên hằng năm đã khiến bao gia đình thuộc nhiều tầng
4
lớp trong xã hội gặp nhiều khó khăn và hoang mang. Là một chứng rối loạn mà
các nhà khoa học hiện nay vẫn chưa thể xác định một cách rõ ràng nguyên nhân
và cách trị liệu hiệu quả nên càng làm cho những người sắp, đã và đang làm cha
mẹ lo lắng. Đau khổ, lảng tránh, tự ti là tâm lý của nhiều bố mẹ có con bị tự kỷ.
Họ không dám bộc bạch, sợ bị để ý, sợ bị mang tiếng... Có nhiều bậc cha mẹ
không hiểu tự kỷ là gì cứ nghĩ con mình chậm nói hơn so với những đứa trẻ
khác…và một số nữa thì biết nhưng vẫn không chấp nhận sự thật, mặc cảm, sĩ
diện nên giấu bệnh của con, bất hợp tác với bác sĩ, hoặc khi biết con bị tự kỷ thì
rơi vào tình trạng chán nản, suy sụp, khiến bệnh của trẻ ngày càng nặng. Từ
những suy nghĩ và thái độ không đúng đắn đó đã gây không ít khó khăn trong
việc trị liệu cho con em họ như: can thiệp muộn, can thiệp không đúng cách, nên
không mang lại hiệu quả như mong muốn dễ làm họ buông xuôi, bỏ mặc không
chăm sóc, không giáo dục, tuyệt vọng và rồi là đầu hàng trước chứng tự kỷ của
con. Vì vậy có nhiều nhà trị liệu đã cho rằng trước khi trị liệu cho những đứa trẻ
tự kỷ thì tác động làm thay đổi thái độ cũng như suy nghĩ của những người cha
người mẹ của các em bé đó cũng là một phần rất quan trọng trong quá trình trị
liệu. Cha mẹ chính là giải pháp cho những đứa con khiếm khuyết của mình. Đó
cũng là một trong những vấn đề mà mỗi nhà trị liệu luôn quan tâm.
1. Khái niệm tham vấn, tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
1.1. Khái niệm tham vấn
Tham vấn theo tiếng Anh là Couselling, đây là một hình thức trợ giúp tâm
lý xuất hiện đã lâu ở Phương Tây, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ và
thường được gọi là tư vấn tâm lý hoặc gọi chung là tư vấn. Tham vấn không
phải là một hình thức tư vấn thông thường. Tham vấn là nói đến việc trợ giúp về
mặt tâm lý chứ không đơn thuần là việc giải đáp thông tin, kiến thức.
Tác giả C. Patterson (1954) cho rằng, tham vấn là sự tương tác giữa một
bên là người tham vấn với một hoặc một số thân chủ, ở đây người tham vấn sử
dụng kiến thức hiểu biết về nhân cách, phương pháp tâm lý để giúp người kia
giải quyết vấn đề và cải thiện sức khỏe tâm thần.
5
Tác giả Trần Thị Minh Đức nhấn mạnh vai trò của thái độ đạo đức nghề
nghiệp, của kỹ năng chia sẻ giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế, tự tìm kiếm
tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của mình.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ tham vấn tâm lý.
Theo tài liệu tập huấn về công tác tham vấn cho trẻ em của UNICEF : “Tham vấn
không giống như một cuộc nói chuyện. Tham vấn là một mối quan hệ, một quá
trình trong đó nhà tham vấn giúp thân chủ cải thiện cuộc sống của họ bằng cách
khai thác, hiểu và nhìn nhận được nội dung, ý nghĩa, cảm giác và hành vi của họ.
Nhà tham vấn không giải quyết vấn đề cho thân chủ”. Cụ thể là Nhà tham vấn
giúp đỡ thân chủ cải thiện “trạng thái tâm lý của họ”. Việc này được xem như một
quá trình giúp thân chủ “nghĩ, cảm giác và hành động khác với trước và để từ đó
họ có thể đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống của họ một cách có
hiệu quả hơn .
- Tham vấn là một "Tiến trình" có mở đầu, diễn biến và kết thúc. Nó diễn
ra trong suốt thời khoảng thời gian để thân chủ cảm nhận được vấn đề của họ
như nó chính như vậy. Đó là một tiến trình hướng tới kiến thức và hướng đến
đạo lý làm người (mở ra các tiềm năng của con người) và đòi hỏi một sự lớn lên
(trưởng thành) không chỉ ở các thân chủ mà cả ở nhà tham vấn.
- Tham vấn là một sự "Tương tác" (chia sẻ - giúp đỡ). Đó là quá trình trò
chuyện, chia sẻ, làm việc tay đôi giữa nhà tham vấn và thân chủ một cách tích
cực, có hợp tác, nghĩa là thân chủ phải nói sự thật vấn đề và bộc lộ bản thân của
mình. Nhà tham vấn phải có sự kết hợp về bằng cấp và bản năng tự nhiên. Sự
tương tác này phải dựa trên quan niệm tâm linh và các quan điểm nghề nghiệp,
đòi hỏi sự tiến tới trung thực ở cả hai phía và kết quả là phải giúp cho thân chủ
hiểu rõ hơn về sự kiện, hoàn cảnh và chấp nhận bản thân mình.
- Tham vấn là một quá trình "Tìm tiềm năng": Tham vấn phải luôn coi
thân chủ là người có đầy sức mạnh và có vai trò khơi gợi được mặt mạnh, những
cái ẩn trong vô thức của thân chủ. Để làm được điều đó, nhà tham vấn phải chấp
nhận thân chủ, chấp nhận cảm xúc mà họ đang có ngay bây giờ và tại tây, phải
động viên khuyến khích thân chủ, thậm chí thỉnh thoảng phải hoạch định rõ tiềm
6
năng của thân chủ để giúp họ tin vào bản thân bởi một khi thân chủ tự tìm đến
người tham vấn để giúp đỡ chia sẻ thì chính bản thân họ đã có tiềm năng, tự bản
thân họ đã biết họ đang có vấn đề và mong muốn được giúp đỡ giải quyết vấn đề
của mình.
- Tham vấn là tôn trọng quyền "Tự quyết" của thân chủ: Có nghĩa là trong
quá trình tham vấn, người tham vấn phải để cho thân chủ tự giải quyết vấn đề
(tự chịu trách nhiệm) với vấn đề của họ. Nhà tham vấn chỉ soi sáng giúp đỡ về
mặt thông tin không đưa ra lời khuyên, cách thức giải quyết vấn đề cho thân
chủ. Tham vấn là một quá trình giúp đỡ mà nhà tham vấn không làm hộ hoặc chỉ
bảo. Tự quyết đòi hỏi thân chủ phải biết đến hành động hiện tại, những vấn đề
hiện nay và ngay bây giờ của mình. Quá trình tự quyết giúp thân chủ mạnh dần
lên, dám nghĩ, dám làm, dám đối đầu với thực tế của mình.
Nhưng trên thực tế tham vấn là một quá trình tăng cường năng lực trong
đó nhà tham vấn giúp thân chủ nhận thức được những nguyên nhân sâu xa của
vấn đề, từ đó thay đổi cách suy nghĩ, cảm nhận và xử sự để giải quyết vấn đề
của chính họ
Như vậy, tham vấn là một quá trình chia sẻ và đặt trọng tâm nơi thân chủ
chứ không phải là sự chỉ bảo, cho lời khuyên, an ủi hình thức, buộc thân chủ
nhìn nhận vấn đề theo các chuẩn mực xã hội. Thân chủ là một con người riêng
biệt và nhà tham vấn phải chấp nhận thân chủ. Tham vấn thành công khi nhà
tham vấn khơi gợi được ở thân chủ những yếu tố nội lực để họ tự chịu trách
nhiệm về vấn đề của mình và cả cuộc sống sau này của họ. Làm cho thân chủ
cảm thấy đủ mạnh để đối đầu với vấn đề của họ.
Trong phạm vi tìm hiểu, khái niệm tham vấn với nghĩa như sau:
Tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (người có chuyên
môn, kĩ năng, người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và thân chủ (là người
có khó khăn trong cuộc sống cần được giúp đỡ) thông qua sự trao đổi, chia sẻ
thân mật, chân tình (dựa vào nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính
nghề nghiệp) giúp thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm thấy tiềm
năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình.
7
Từ khái niệm trên cho thấy tham vấn có những đặc điểm cơ bản sau:
- Tham vấn là một quá trình.
- Hoạt động tham vấn nhằm giúp cho thân chủ tự giải quyết vấn đề của
chính họ.
- Thông qua tham vấn, thân chủ nâng cao khả năng thích ứng/ứng phó và
cải thiện cuộc sống.
- Nhà tham vấn cần được đào tạo để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái
độ nghề nghiệp.
- Tham vấn có các hình thức (tham vấn cá nhân, tham vấn gia đình và
tham vấn nhóm).
1.2. Khái niệm tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
1.2.1. Khái niệm
Từ khái niệm tham vấn nêu trên, có thể đưa ra khái niệm tham vấn hỗ trợ
gia đình trẻ tự kỷ là là các hoạt động thể hiện quá trình tương tác giữa nhà tham
vấn (người có chuyên môn, kĩ năng và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp) và các
thành viên trong gia đình trẻ tự kỷ thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật, chân
tình (dựa trên nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp) từ đó
giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ, hành
vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình một cách có hiệu quả nhất.
1.2.2 . Một số khái niệm có liên quan đến tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
1.2.2.1. Trẻ tự kỷ
Tự kỷ xuất phát từ chữ Hy lạp: Autism, nghĩa là tự động, tự thân trong
tâm thần học, được Bleuler sử dụng lần đầu tiên để chỉ một triệu chứng cơ bản
của bệnh tâm thần phân liệt. Triệu chứng Tự kỷ là nét cơ bản của các triệu
chứng âm tính trong tâm thần phân liệt. Người bệnh mất đi phần lớn các chức
năng giao tiếp và tương tác với môi trường xã hội. Biểu hiện như là thu kín vào
bên trong, khó giao tiếp và tương tác.
Lịch sử nghiên cứu về tự kỷ được bắt đầu từ năm 1943, sau các công trình
nghiên cứu chính thức của hai bác sỹ tâm lý là Leo Kanner (bác sỹ tâm lý người
Mĩ gốc Áo) và Hans Asperger (bác sỹ người Áo, năm 1944). Trong các nghiên
8
cứu báo cáo, các ông đã miêu tả một số trẻ với những đặc điểm như: khó phát
triển mối quan hệ với mọi người, chậm nói và không có khả năng sử dụng ngôn
ngữ khi đã nói được, hành vi trùng lặp và rập khuôn, thiếu trí tưởng tượng, giỏi
học vẹt, bị ám ảnh đối với sự trùng lặp, diệm mạo bên ngoài bình thường. Ông
gọi tình trạng mới phát hiện này là Tự kỷ thời kỳ ấu nhi.
Tự kỷ là dạng khuyết tật phát triển phức tạp, được đặc trưng bởi ba khiếm
khuyết: về giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt động mang
tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại. Rối loạn phổ tự kỷ bao gồm các rối loạn có chung
đặc điểm trên song khác nhau về phạm vi, mức độ nặng nhẹ, khởi phát và tiến
triển của triệu trứng. Trong những năm gần đây, tự kỷ đang trở thành vấn đề xã
hội, trở thành một vấn đề được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên khái niệm tự kỷ cũng còn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Những thay đổi về thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí chẩn đoán tự kỷ có thể
thấy rõ nhất trong lịch sử phát triển của hệ thống phân loại quốc tế. Đó là bảng
thống kê, phân loại quốc tế về các bệnh và những vấn đề liên quan đến sức khỏe
(ICD [International statistical classification of Diseases and related health
Problems] của tổ chức Y tế thế giới (WHO); sổ tay chẩn đoán và thống kê
những rối nhiễu tinh thần (DSM -Diagnostic and statistical Manual of mental
Disorders) của hội tâm thần Mỹ.
Trong những bản đầu tiên, IDC chưa đề cập đến tự kỷ. Trong bản thứ 8
(1967), ICD chỉ đề cập đến tự kỷ như là một dạng “Tâm thần phân liệt” và lần
thứ 9 (1977) thì đề cập đến tự kỷ dưới tên gọi “Rối loạn tâm thần tuổi ấu thơ”.
Trong bản DSM-I (1952), DSM-II (1968) chỉ đề cập đến tự kỷ như là một
dạng “Tâm thần phân liệt”. Tiếp đó, DSM-III (1980), DSM-III-R (1987) rối loạn
tự kỷ bắt đầu được phân loại và có tiêu chí chẩn đoán: DSM-III đề cập đến Tự
kỷ trẻ em với 6 tiêu chí chẩn đoán; DSM-III-R phát triển thành 16 tiêu chí, phân
ra làm 3 nhóm và gọi là rối loạn tự kỷ. DSM-IV (1994) và DSM-IV-TR (2000)
đã hoàn thiện hơn tiêu chí chẩn đoán tự kỷ và xếp tự kỷ vào một nhóm các rối
loạn với phạm vi rộng hơn là rối loạn phát triển diện rộng – tương đương với rối
loạn phổ tự kỷ.
9
Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỷ (Autism Spectrum Disoders – ASDs) bắt
đầu được xem xét vào những năm 70 và 80 của thế kỷ XX. Rối loạn phổ tự kỷ
bao gồm: + Rối loạn tự kỷ (Autistic Disoder);
+ Hội chứng rối loạn Asperger;
+ Rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ; (Childhood Disintegrative Disorder-
CDD);
Tất các rối loạn nằm trong phổ tự kỷ đều gây ra những khiếm khuyết về chức năng
giao tiếp, xã hội và khả năng tưởng tượng. Tuy nhiên chúng khác nhau về mức độ, phạm vi
ảnh hưởng, thời điểm khởi phát và tiến triển của triệu chứng theo thời gian.
+ Hội chứng Rett, …
Nặng Nhẹ
Rối loạn phổ tự kỷ Các rối loạn phổ tự kỷ khác Hội chứng Asperger
Rối loạn phổ tự kỷ
Nguồn: Một số kỹ năng dạy học hòa nhập cho trẻ có hành vi tự kỷ
(Dự án PEDC, 2009)
Thuật ngữ rối loạn phổ tự kỷ (ASDs) thường được xem là đồng nghĩa với
rối loạn phát triển diện rộng. Nhiều quan điểm cho rằng dải ASDs bao gồm rối
loạn tự kỷ ở giữa, gối lên hội chứng Asperger , rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ
và hội chứng Rett, …
Trong ấn phẩm phân loại quốc tế về các loại bệnh với số ra mới nhất là
ICD 10 của tổ chức y tế thế giới (WHO) và trong sổ tay thống kê chẩn đoán về
các rối loạn tâm thần phiên bản mới nhất DSM-V của Hiệp hội tâm thần học Mỹ
chia rối loạn phổ tự kỷ (ASDs) làm 5 nhóm:
1) Rối loạn tự kỷ (Autistic Disorder) -> gọi tắt là Tự kỷ.
2) Rối loạn Asperger (Asperger Disorder - AD)
3) Rối loạn bất hòa nhập tuổi ấu thơ (Childhood Disintergrative
Disorder)
10
4) Rối loạn Rett (Rett Disorder)
5) Rối loạn phát triển lan tỏa – không đặc hiệu (PDD – NOS:
Pervasive Developmental Disorder – Not Otherwise Specified)
Một số khái niệm về tự kỷ được sử dụng khá phổ biến hiện nay:
- Theo Freud (1923): “Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại cái tôi,
có nghĩa là đã trở thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ em trong thế giới bên trong
huyễn tưởng và ảo ảnh để nói rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời
gian, đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người
mẹ”.
- Theo Kanner (1943): “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ
lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy,
đó là sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công
việc thiết lập mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động một
cách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống”.
- Năm 1944, Han Asperger bác sỹ tâm thần người Áo (1906 – 1980) sử
dụng thuật ngữ Autism trong khi mô tả những vấn đề xã hội trong nhóm trẻ trai
mà ông làm việc. Rối loạn đặc biệt nhất trong nhóm trẻ này là cách suy luận rờm
rà, phức tạp, không thích ứng với những điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Những trẻ
này có sở thích đặc biệt về mặt kỹ thuật và toán học, đồng thời có khả năng nhớ
tốt một cách lạ thường. Ngày nay được lấy tên là hội chứng Asperger.
- Năm 1964, Bernard Rimland và một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Tự kỷ
là do những thay đổi của cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoặc do những
thay đổi về sinh hóa và chuyển hóa ở những đối tượng này. Do đó, những trẻ tự
kỷ không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân;
không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát hóa những điều cụ thể”.
- Theo Từ điển bách khoa Columbia (1996): Tự kỷ là một khuyết tật phát
triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng đến chức năng
cơ bản của não bộ. Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận. Trẻ nam nhiều gấp 4
lần trẻ nữ. Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến tận 30 tháng tuổi.
11
- Theo DSM – IV (1994): “Tự kỷ là sự phát triển không bình thường hay là
một sự giảm sút rõ rệt, hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực: Quan
hệ xã hội, giao tiếp và tác phong thu hẹp định hình”.
- Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc vê tự kỷ ở Mĩ, các chuyên gia đã thống
nhất đưa ra định nghĩa về tự kỷ như sau: “Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm
rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh
hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội”.
Hiện nay, khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhiều
nhất là khái niệm của tổ chức Liên hợp quốc, đưa ra vào năm 2008 như sau: “Tự
kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời, thường được thể hiện ra
ngoài trong 3 năm đầu đời. Tự kỷ là một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức
năng hoạt động của não bộ gây nên, chủ yếu ảnh hưởng đến trẻ em và người lớn
ở nhiều quốc gia, không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế -
xã hội. Đặc điểm của nó là sự khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề về
giao tiếp bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và có các hành vi, sở thích, hoạt động
lặp đi, lặp lại và hạn hẹp”. Trong phạm vi của tài liệu này, chúng tôi thống nhất
lựa chọn sử dụng khái niệm này làm công cụ nghiên cứu.
Các biểu hiện đặc trưng của hội chứng tự kỷ
- Khiếm khuyết về quan hệ xã hội: Kém về khả năng kết bạn so với trẻ
cùng tuổi và hay bị cô lập. Sử dụng các kỹ năng không lời kém, chẳng hạn: nhìn
bằng mắt, thể hiện bằng nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, … để kiểm soát giao tiếp xã
hội. Rất hạn chế trong giao tiếp xã hội, mất khả năng nhận biết về những ám chỉ,
quy ước xã hội; Không chia sẻ cảm vui buồn, không quan tâm đến những hoạt
động xung quanh trẻ, tỏ ra không biết đến tình cảm của người khác; Thích chơi
một mình, thu mình trong thế giới riêng của trẻ, …
+ Nếu chưa biết nói: Trẻ có khiếm khuyết trong việc sử dụng các kỹ
- Khiếm khuyết về sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp:
năng giao tiếp không lời như: Không nhìn mặt người đối thoại khi giao tiếp;
Không hiểu và không sử dụng nét mặt, cử chỉ, tư thế cơ thế để giao tiếp; Các âm
thanh lời nói bất thường về cao độ hoặc cường độ; Không biết yêu cầu, phản đối
12
hoặc thể hiện các nhu cầu bản thân; Không hoặc khó học các luật lệ về giao tiếp
+ Nếu trẻ đã nói được: Trẻ học nói muộn hơn trẻ bình thường; Mất khả
như: chào hỏi, xin đồ vật hoặc “ạ”, “bai, bai”…
năng nói được từ đơn hoặc cả câu sau khi đã biết nói; Trẻ có phát ngôn không
phù hợp với mục đích: đáng lẽ trả lời thì trẻ lại nhắc lại câu được hỏi, nói nhại,
nói vọng... Phát ngôn hoặc câu của trẻ có ngữ điệu đơn điệu, nghe véo von,
thường có âm sắc cao hơn bình thường; Nếu trẻ có ngôn ngữ khá hơn, có thể
thấy chậm phát triển ngôn ngữ so với trẻ cùng độ tuổi. Trẻ thường không hiểu
câu hỏi, ngôn ngữ của trẻ đơn giản, hiếm những khái niệm so sánh, tưởng tượng.
- Các hành vi và mối quan tâm bất thường: Các hành vi hoặc cử động
định hình, lặp đi lặp lại: trẻ như bị cuốn hút vào một cử chỉ, một hoạt động hoặc
trò chơi nào đó. Ví dụ: xoắn bàn tay, vê vê ngón tay, vò giấy, quay bánh xe ô tô
(đồ chơi); Trẻ có thể thích duy nhất một đồ vật, hoặc chỉ chơi với một người nào
đó trong gia đình; Trẻ có thể chỉ quan tâm và vê, xoay một chi tiết của vật: bánh
xe, ống khói.. ; Trẻ có thể có những phát ngôn hoặc phát ra âm thanh nào đó một
cách định hình: tự phát, không có chủ ý và trong mọi tình huống.; Trẻ có thể
nhạy cảm với một số loại kích thích (khi bị vuốt ve, sờ chạm hoặc có ánh sáng,
tiếng động, …)
Nhu cầu của trẻ tự kỷ
- Nhu cầu chăm sóc về thể chất giúp trẻ tồn tại và phát triển, nó bao gồm
việc đáp ứng về nhu cầu ăn uống, chỗ ở, quần áo, vệ sinh, nước sạch, khám sức
khỏe giúp trẻ có sức khỏe thể chất tốt.
- Nhu cầu chăm sóc về tinh thần, tâm lý, tình cảm là việc được yêu
thương, quan tâm, trò chuyện, lắng nghe, trẻ cần được sự chăm sóc, nuôi nấng
của người lớn, cần mái ấm gia đình để được che chở và an toàn.
- Nhu cầu chăm sóc về nhận thức, đó là việc được học tập, tìm hiểu về cái
mới, cái chưa biết. Việc tạo điều kiện để trẻ được đến trường, tiếp cận với các
dịch vụ giáo dục giúp trẻ em có trình độ, tư duy.
13
- Nhu cầu về mặt xã hội là việc được có mối quan hệ với người khác
trong gia đình, cộng đồng và xã hội. Việc đáp ứng nhu cầu về mặt xã hội giúp
trẻ sẽ thỏa mãn nhu cầu thuộc về.
- Nhu cầu được giải trí, vui chơi là việc được tham gia các trò chơi, hoạt
động giải trí. Thông qua các hoạt động này giúp trẻ em có thể đáp ứng nhu cầu
xã hội của mình, có thể giao tiếp với người khác, thể hiện bản thân và khẳng
Hậu quả khi trẻ bị tự kỷ: Hậu quả của Hội chứng tự kỷ rất nghiêm
định mình.
trọng: Nó ảnh hưởng không chỉ bản thân đứa trẻ, gia đình mà còn ảnh hưởng
đến xã hội. Một đứa trẻ tự kỷ nếu được phát hiện và can thiệp sớm thì 30% có
cơ hội khỏi hoàn toàn, 70% còn lại phát triển nói chung là tốt, có thể có trẻ giao
tiếp được bằng lời nói hoặc không thể giao tiếp bằng lời nói, nhưng ý thức được
hành vi và độc lập được cuộc sống. Còn trẻ tự kỷ không được phát hiện sớm,
hoặc phát hiện sớm nhưng gia đình không chấp nhận can thiệp và rơi vào tình
trạng nặng, kèm theo chậm phát triển trí tuệ thì sau này sẽ dẫn đến tình trạng rối
loạn tâm thần. Xét về bảng phân loại bệnh tật của Tổ chức y tế thế giới, rất có
thể trẻ tự kỷ sẽ trở thành bệnh nhân tâm thần.
1.2.2.2. Gia đình trẻ tự kỷ
a) Khái niệm và chức năng của gia đình:
- Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 8. Giải thích từ ngữ): “Gia đình là
tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau
theo qui định của Luật này;”
Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, các thành viên trong nhóm có quan hệ
gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, cùng có chung các giá trị vật
chất tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định. Như vậy một mặt
các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, giữa họ
có những điều ràng buộc về pháp lý. Mặt khác gia đình là một nhóm tâm lý -
tình cảm xã hội đặc thù, nó được bắt nguồn từ quan hệ huyết thống ruột thịt và
14
quan hệ tình cảm, trách nhiệm cùng với những biến đổi của lịch sử cũng khó đảo
lộn mối quan hệ này.
Cũng có thể hiểu đơn giản, gia đình là tế bào của xã hội, gồm có con cái và
cha mẹ sống chung dưới một mái nhà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc
nhận con nuôi tạo thành mối quan hệ đặc biệt, tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn
nhau. Ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều hình thức gia đình khác nhau nhưng
phổ biến nhất là hình thức gia đình truyền thống và hình thức gia đình mở rộng.
Hình thức thứ nhất, gia đình truyền thống gồm: bố, mẹ, con gái, con trai; gia
đình mở rộng gồm ông, bà, cô, dì, chú, bác, anh em họ và những người họ hàng
khác.
- Về chức năng của gia đình, các nhà khoa học đã đưa ra những quan
điểm rất phong phú. Nhưng nhìn chung, nhiều tác giả đồng ý, gia đình có một số
chức năng cơ bản như: Chức năng sinh sản, tái sản xuất ra con người, chức năng
kinh tế, chức năng thỏa mãn các nhu cầu tâm lý tình cảm, chức năng giáo dục
con cái, chức năng chăm sóc nuôi dưỡng người già, các chức năng được thực
hiện đan xen vào nhau và đưa ra đồng thời thông qua cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày.
- Trong các chức năng của gia đình thì chức năng chăm sóc và giáo dục
con cái là chức năng quan trọng nhất. Trong gia đình có nhiều thành viên thì cha
mẹ là người quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ nói
chung và phát huy tính tích cực, tự giác học tập của trẻ nói riêng. Giáo dục gia
đình lấy tình cảm làm cơ sở, lấy yêu thương làm phương tiện mới thành công.
Sợi dây tình cảm thân thương trong gia đình sẽ là thứ keo gắn kết các thành viên
trong gia đình với nhau. Nếu sợi dây đó bị đứt đoạn thì không còn gia đình. Chỉ
có yêu thương đúng mực, biết chia sẻ, đồng cảm, hiểu biết và thông cảm lẫn
nhau mới giúp cha mẹ dạy con nên người. Bầu không khí gia đình luôn đầm ấm,
vui tươi, thân mật, là sức mạnh tình cảm chiến thắng mọi khó khăn.
- Gia đình là một nhân tố quan trọng trong môi trường gần nhất của trẻ,
mọi thành viên trong gia đình đều tiếp xúc với trẻ hàng ngày, kích thích sự phát
triển ngôn ngữ và những kỹ năng nhận biết của trẻ. Gia đình là nơi hiểu được trẻ
15
nhiều nhất, đặc biệt là những nhu cầu riêng biệt của trẻ tự kỷ; các thành viên
trong gia đình chính là những người đầu tiên có thể tạo cơ hội giúp trẻ hình
thành các quan hệ xã hội. Các thành viên trong gia đình đồng thời cũng là hình
mấu cho trẻ về cách ứng xử. Cách sống và cách tổ chức cuộc sống trong gia
đình tốt sẽ khuyến khích, nuôi dưỡng sự phát triển những tính tích cực ở trẻ.
b) Đặc điểm của gia đình trẻ tự kỷ
Các kết quả nghiên cứu về các gia đình có trẻ tự kỷ đã cho thấy một số
đặc điểm cơ bản của các gia đình trẻ tự kỷ như sau:
- Yếu tố di truyền: Đây cũng là một trong những nguyên nhân của tự kỷ.
thực tế ở Viện nhi TW đã có một số trường hợp 2 trẻ tự kỷ trong cùng một gia
đình. Hoặc có gia đình bà ngoại, dì ruột đều tự kỷ, cháu tự kỷ. Nếu cha mẹ có 1
trẻ tự kỷ thì nguy cơ trẻ thứ hai bị tự kỷ cao gấp 15 – 30 lần cha mẹ có trẻ phát
triển bình thường.
- Môi trường: Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tự kỷ,
gần đây một số nhà khoa học cho rằng các bà mẹ mang thai đã tiếp xúc với hóa
chất ô nhiễm, đặc biệt là kim loại và thuốc trờ sâu, sự tiếp xúc này làm biến đổi
sự phát triển cấu trúc não của trẻ và dẫn đến trẻ bị tự kỷ.
- Lối sống: Những gia đình có lối sống quá hiện đại như thiếu sự quan
tâm của bố mẹ, trẻ phải ở với người giúp việc đa số thời gian trong ngày, trẻ
không được giao tiếp ra bên ngoài mà chỉ ở nhà xem ti vi, sử dụng các thiết bị
điện tử (điện thoại, máy tính bảng, …);
- Tìm hiểu về cấu trúc gia đình: Hiểu cấu trúc gia đình của trẻ tự kỷ sẽ
cho ta hình dung ra được đầy đủ về cuộc sống chung của trẻ trong gia đình và
những tác động đa chiều tới trẻ trong cuộc sống chung đó thông qua việc quan
sát, phỏng vấn các thành viên trong gia đình trẻ để thu thập thông tin.
- Những đặc điểm khác: Trong khi mang thai mẹ bị sốt phát ban, sởi, quai
bị, …hoặc mắc các bệnh về chuyền hóa chất như đái tháo đường, mẹ dùng thuốc
chống động kinh khi mang thai là những yếu tố nguy cơ cao gây tự kỷ ở trẻ. Bên
cạnh đó sự căng thẳng, lo âu trước khi sinh bao gốm sự đau buồn của bà mẹ
cũng có thể gây tự kỷ ở trẻ.
16
- Tìm hiểu về về các giai đoạn trải qua/ chu kỳ cuộc sống của gia đình:
Mỗi gia đình đều trải qua những giai đoạn khác nhau với những diễn biến không
giống nhau. Gia đình thường trải qua 9 giai đoạn:
(1) Các thành viên sống trong gia đình riêng của mình trước khi lập gia
đình;
(2) Lập gia đình và bắt đầu sống chung/ giai đoạn vợ chồng trẻ/ giai đoạn
đầu của hôn nhân;
(3) Giai đoạn có con nhỏ / sơ sinh, mẫu giáo;
(4) Giai đoạn con vào tiểu học;
(5) Giai đoạn con vào tuổi vị thành niên;
(6) Giai đoạn con trưởng thành;
(7) Giai đoạn con lập gia đình;
(8) Giai đoạn sống với con dâu/con rể hoặc con ra ở riêng;
(9) Giai đoạn gia đình có ông/bà cần được chăm sóc
Mỗi giai đoạn có những diễn biến và cách sống đặc thù khác nhau, chức
năng, nhiệm vụ chung của cả gia đình cũng có thay đổi. Hiểu về diễn biến các
giai đoạn của gia đình trẻ tự kỷ sẽ giúp cho nhà tham vấn có nhận thức sâu sắc
về mối liên qua và những nhân tố tâm lý – giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển
của trẻ trong gia đình ở mỗi giai đoạn
* Những rào cản đối với gia đình trẻ tự kỷ
- Một điều quyết định cho triển vọng tốt sau này của trẻ bị tự kỷ là được phát
hiện sớm và can thiệp sớm. Can thiệp sớm sẽ giúp trẻ học được các kỹ năng đúng
độ tuổi phát triển của mình. Quan trọng nhất đối với kết quả can thiệp là sự can
đảm, kiên trì và đi đúng hướng của cha mẹ trên con đường can thiệp sớm tại nhà;
- Hiện nay dịch vụ chăm sóc và can thiệp cho trẻ tự kỷ chưa phát triển,
thiếu chuyên gia có kinh nghiệm; thiếu dịch vụ hỗ trợ để tư vấn, thâm vấn cho
cha mẹ;
- Việc làm cha, làm mẹ của một trẻ tự kỷ không phải là việc dễ dàng, đơn
giản. Gia đình của một trẻ tự kỷ có thể trải qua nhiều giai đoạn tình cảm ở các
17
mức độ khác nhau và có thể kéo dài trong nhiều năm. Gia đình trẻ tự kỷ thường
gặp phải một số khó khăn:
+ Mâu thuẫn vợ chồng về tài chính, về quan điểm chăm sóc - giáo dục
con ;
+ Cảm giác ghen tị với những gia đình có con phát triển bình thường;
+ Phải điều trị chăm sóc y tế thường xuyên trong thời gian dài;
+ Những khoản chi phí lớn và gánh nặng kinh tế do phải điều trị y tế hoặc
mua các trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ;
+ Lo sợ, kiệt sức thường bị khủng hoảng khi tình trạng sức khoẻ hay
khuyết tật của trẻ kém hơn;
+ Khó khăn trong việc đi lại;
+ Những đứa con khác cũng cần quan tâm;
+ Phải bỏ công việc để đưa con đi khám và điều trị;
+ Tốn quá nhiều thời gian để chỉ dẫn cho từng sinh hoạt nhỏ của trẻ;
+ Thường xuyên mệt mỏi, thiếu ngủ, có quá ít thời gian hoặc không có
thời gian để chăm sóc các thành viên khác trong gia đình;
+ Có quá ít hoặc không có cơ hội để giải trí;
+ Khó tìm được người trông nom, chăm sóc được trẻ.
+ Khó khăn về mặt kinh tế trong vấn đề chăm lo cho trẻ;
+ Thiếu thốn vật chất, trang thiết bị chăm sóc, ….
Nói tóm lại: Hiện nay, việc chống chọi với căn bệnh tự kỷ của gia đình trẻ
và người tự kỷ ở nước ta vẫn ở trên một chiến tuyến hết sức đơn độc, chủ yếu
gia đình phải dựa vào chính sức lực và khả năng của mình:
- Tự tìm nơi chữa trị cho con;
- Tự chi trả tiền trị liệu cho con;
- Tự tìm đến các chuyên gia tâm lý, công tác xã hội, …
- Tự lần mò tìm trường học và tạo việc làm cho con;
- Tự tìm cách nuôi dậy con qua các kênh thông tin, chia sẻ thông tin giữa
các gia đình có con bị tự kỷ với nhau.
18
Tất cả những vấn đề trên đạt ra rất nhiều nhu cầu đối với gia đình và
người bị tự kỷ:
- Nhu cầu được cung cấp các dịch vụ trị liệu và can thiệp sớm;
- Nhu cầu tiếp cận các dịch vụ xã hội;
- Nhu cầu về môi trường giáo dục và các hình thức giáo dục;
- Nhu cầu được đối xử công bằng, không bị kỳ thị;
- Nhu cầu được trợ cấp an sinh xã hội, hướng nghiệp và tạo cơ hội việc
làm,…
* Diễn biến tâm lý của gia đình trẻ tự kỷ
Gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Diễn biến tâm lý của gia đình trước khi trẻ ra đời:
Giai đoạn này, nhà tham vấn cần bắt đầu tìm hiểu những thông tin liên
quan đến việc mang thai của người mẹ, những thông tin chung về gia đình (tình
hình kinh tế, vị trí gia đình trong cộng đồng, gia đình có những khó khăn hay
mặt mạnh nào ? ….)
Giai đoạn 2 : Diễn biến tâm lý của gia đình khi trẻ ra đời:
Sự ra đời của bất cứ đứa trẻ nào cũng tạo ra những thay đổi nhất định về
cơ cấu, chức năng, vai trò của gia đình, nhìn chung sự kiện này tác động tới
cuộc sống của cả gia đình. Đặc biệt đối với phụ huynh thì việc thỏa mãn nhu cầu
cá nhân bị hạn chế, vì vậy họ phải tự điều chỉnh và giảm bớt các nhu cầu của
minh.
Giai đoạn 3: Diễn biến tâm lý của gia đình khi phát hiện trẻ bị tự kỷ.
- Hầu hết các phương pháp điều trị tự kỷ hiện nay đều tập trung vào trẻ
em, nhưng nghiên cứu mới đây cho thấy các bậc cha mẹ có con tự kỷ cũng bị
ảnh hưởng tâm sinh lý, họ cũng cần được trị liệu.
- Giáo sư tâm lý học Elisabeth Dykens thuộc Trường ĐH Vanderbilt, cho
biết "Các can thiệp thường với mục đích tập trung vào trẻ em, nhưng những gì
đang bị bỏ sót là hạnh phúc và sức khỏe của cha mẹ trẻ. Điều thực sự quan trọng
là cung cấp cho cha mẹ trẻ công cụ kiểm soát sự căng thẳng và để họ tiếp tục
đảm nhận tốt vai trò làm cha mẹ”. Bà cũng cho biết, những bà mẹ có con bị tự
19
kỷ đã trải qua nhiều căng thẳng và sức khỏe luôn trong tình trạng báo động,
ngoài ra họ thường bị rơi vào trạng thái trầm cảm.
- Elisabeth Kubler-Ross (1970) đưa ra 5 giai đoạn trong tiến trình trải
nghiệm đau khổ của cha mẹ khi có con tự kỷ. Đau khổ không đi theo một tiến
trình có trật tự mà thường đi theo những lối không thể dự đoán trước .
Có 5 giai đoạn trong tiến trình tâm lý của cha mẹ có con tự kỷ được
Elisabeth Kubler-Ross nêu như sau:
Giai đoạn 1: Sốc, từ chối, không tin, phủ nhận
Giai đoạn 2: Tức giận, bực tưc, cảm giác mình có tội
Giai đoạn 3: Tự lý giải mặc cả/ hay còn gọi là giai đoạn thương
Giai đoạn 4: Buồn chán, đau khổ,suy sụp, thất vọng
Giai đoạn 5: Chấp nhận, tìm cách chữa trị
Phản ứng của mỗi người không phải lúc nào cũng đơn giản một chiều, lần
lượt trải qua từng giai đoạn. Hành vi của con người không phải lúc nào cũng
Sơ đồ: Phản ứng tình cảm của gia đình có trẻ tự kỷ
diễn ra theo một mô hình đơn giản mà có thể diễn ra phức tạp như sơ đồ:
- Sốc, từ chối, không tin
Ngay sau khi có chẩn đoán con mắc chứng tự kỷ,cha mẹ có thể cảm thấy
choáng váng hoặc bối rối. Thực tế, chẩn đoán này có thể quá choáng ngợp nên
cha mẹ chưa sẵn sàng để chấp nhận hoặc họ có xu hướng chối bỏ nó lúc ban
20
đầu. Một số cha mẹ có thể đặt nghi vấn về chẩn đoán này và tìm đến một bác sĩ
khác để hy vọng người đó nói cho họ một chẩn đoán khác.
- Tức giận, tự trách mình
Thời kỳ phát hiện con mình khuyết tật là lúc cha mẹ căng thẳng nhất. Điều
này có thể làm cho mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình trở nên gắn bó
hơn hoặc cũng có thể làm cho cuộc sống gia đình trở nên lục đục, tan vỡ. Khi biết
không thể chối bỏ thực tế về đứa con, cha mẹ trở nên hờn dỗi, tức giận, đố kị. Họ lo
lắng cho tương lai của đứa trẻ. Họ tự hỏi tại sao gia đình mình phải gánh chịu nỗi
bất hạnh này, trong khi gia đình khác đang sống vui vẻ, thảnh thơi. Đôi khi cha mẹ
tự giày vò, trách móc bản thân với những từ như: giá mà, lẽ ra, nếu như, ước gì,…
- Mặc cảm
Kubler- Ross gọi những cố gắng phân tích nỗi giận hờn, ghen tị của một
số cha mẹ là sự mặc cả. Nó giống như nỗ lực trì hoãn sự chấp nhận một sự thật
không thể phủ nhận. Ở giai đoạn này cha mẹ và những thành viên khác trong gia
đình sẽ làm tất cả mọi việc mà họ biết, họ được hướng dẫn với hy vọng này khó
khăn sẽ qua đi.
- Buồn nản, suy sụp
Sau khi tìm mọi cách cứu con mình nhưng vô vọng, các bậc cha mẹ rơi vào
trạng thái chán nản, suy sụp. “Tại sao bất hạnh này lại đến với gia đình tôi?”, “Tại
sao con tôi không được như những đứa trẻ khác?”… Đó là những điều mà cha mẹ
thường tự hỏi mình. Cảm giác tuyệt vọng khiến cha mẹ lao vào tìm kiếm sự giúp
đỡ.
- Chấp nhận và tìm cách giải quyết
Cuối cùng, họ cảm nhận cảm giác chấp nhận. Rất hữu ích để phân biệt
giữa việc cha mẹ chấp nhận con mình được chẩn đoán mắc tự kỷ với việc chấp
nhận tự kỷ. Chấp nhận chẩn đoán tự kỷ đơn giản là cha mẹ đã sẵn sàng để ủng
hộ con. Giai đoạn tiếp theo của chẩn đoán tự kỷ có thể gặp vô vàn khó khăn,
thách thức, ngay cả đối với một gia đình hòa hợp nhất. Mặc dù trẻ tự kỷ không
bao giờ trải nghiệm những cảm xúc tiêu cực liên quan đến tiến trình chẩn đoán
này theo một cách riêng với các mức độ khác nhau nhưng phải mất một thời
21
gian để cha mẹ có thể hiểu rối loạn của con và tác động của nó đến gia đình.
Cảm xúc khó chịu có thể trỗi lên lần này hay lần khác. Họ sẽ có những lúc cảm
thấy tức giận và bất lực vì tự kỷ đã dẫn đến cuộc sống khác xa với những gì họ
dự liệu. Nhưng họ cũng sẽ trải nghiệm những cảm giác hy vọng khi con bạn bắt
đầu có tiến bộ
Trên đây chỉ là sự khái quát về những diễn biến tâm lý của gia đình có trẻ
tự kỷ. Thực tế mỗi gia đình lại có những phản ứng khác nhau, người cha có phản
ứng khác người mẹ và không phải cha mẹ nào cũng trải qua lần lượt tất cả các
giai đoạn trên. Có một số người trải qua một số giai đoạn, có một số người bỏ qua
một số giai đoạn. Những phản ứng trên không chỉ xuất hiện khi cha mẹ biết con
mình khuyết tật mà nó sẽ xuất hiện và lặp đi lặp lại trong quá trình chăm sóc, giáo
dục trẻ.
2. Mục đích, ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
2.1. Mục đích của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
- Tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ nhằm tăng cường hiểu biết cho các
thành viên gia đình về thực trạng người tự kỷ trên thế giới, trong khu vực và tại
Việt Nam; các chính sách và hoạt động hỗ trợ hòa nhập và phát triển; hỗ trợ
thiết lập một mạng lưới quốc gia giữa các nhóm cha mẹ của người tự kỷ, giới
thiệu và chia sẻ với nhóm cha mẹ người tự kỷ tới nhiều địa phương khác nhau ở
Việt Nam, các chính sách của Chính phủ liên quan tới người tự kỷ nhìn từ quan
điểm bảo vệ, chăm sóc trẻ em và công tác xã hội. Chia sẻ kinh nghiệm của nhóm
cha mẹ và nhóm tự lực của người tự kỷ ở các nước ASEAN, tăng cường hiểu
biết về chứng tự kỷ và xây dựng năng lực cho các nhóm cha mẹ của người tự kỷ
ở Việt Nam.
- Nhà tham vấn giúp các thành viên trong gia đình có trẻ tự kỷ thay đổi
trạng thái cảm xúc, hành vi tiêu cực, cải thiện và tăng cường các động cơ tích
cực. Giúp họ giao tiếp ứng xử với nhau có hiệu quả để cải thiện không khí tâm
lý gia đình, giảm bớt sự căng thẳng. Nhà tham vấn giúp họ bằng cách khuyến
khích các thành viên trong gia đình bày tỏ một cách thẳng thắn những suy nghĩ,
cảm xúc thật của mình trong quá trình tham vấn; tạo cơ hội để các thành viên
22
bày tỏ ý kiến, quan điểm, chia sẻ cảm xúc; giúp họ nhận thức được vấn đề đang
tồn tại của gia đình và hợp tác cùng nhau để giải quyết vấn đề.
- Giúp các thành viên trong gia đình tăng cường hiểu biết về chính bản
thân họ và hoàn cảnh của họ bằng cách cung cấp cho họ những thông tin có giá
trị thích hợp, những giải thích có cơ sở mang khoa học.
- Giúp các thành viên trong gia đình có thêm kỹ năng và biết sử dụng các
nguồn lực để ứng phó với tình huống có vấn đề một cách hiệu quả.
- Giúp gia đình đưa ra những quyết định đúng đắn dựa trên những thông
tin mà nhà tham vấn cung cấp, dựa trên khả năng của đối tượng cũng như tiềm
năng hỗ trợ từ các nguồn lực bên ngoài.
- Hỗ trợ gia đình kịp thời trong thời gian khủng hoảng và đi đến giải quyết
vấn đề họ đang gặp phải.
Trong một gia đình đầm ấm, các thành viên thường quan tâm trợ giúp lẫn
nhau, cùng tham gia đóng góp cho sự phát triển bền vững của gia đình, đồng
thời huy động nguồn lực của gia đình trong trợ giúp trẻ tự kỷ, khi đó trẻ tự kỷ có
nhiều cơ hội để giảm bớt tình trạng khó khăn của mình.
Ngược lại, khi gia đình có mâu thuẫn, xung đột hoặc mọi người trong gia
đình ứng xử với nhau thiếu tôn trọng hoặc không quan tâm đến nhau, đùn đẩy
trách nhiệm chăm sóc hỗ trợ trẻ cho người khác thì dẫn đến bầu không khí tâm
lý trong gia đình luôn căng thẳng, trẻ tự kỷ có thể bị bạo lực, ngược đãi hoặc bị
bỏ mặc, xao nhãng. Điều đó ảnh hưởng rất tiêu cực đến đời sống cũng như sự
phát triển của trẻ tự kỷ.
Tóm lại: Mục đích tham vấn hỗ trợ cho gia đình trẻ tự kỷ nhằm trợ giúp
cho các cá nhân trong gia đình nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn,
vướng mắc căng thẳng nảy sinh trong mối quan hệ, trong việc chăm sóc hỗ trợ
trẻ tự kỷ để các thành viên hiểu rõ và nhận thức đúng đắn, đầy đủ vai trò, trách
nhiệm của mình trong gia đình để cùng chia sẻ và trợ giúp nhau trong việc chăm
sóc, hỗ trợ trẻ tự kỷ.
2.2. Ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
23
Tâm lý của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là các bậc phụ huynh
khi biết con họ bị tự kỷ thường trở nên bối rối và lúng túng trong việc tìm kiếm
các giải pháp nhằm để giải quyết vấn đề. Hoạt động tham vấn giúp cá nhân và
gia đình giải toả được những cảm xúc tiêu cực, giúp họ trở lên sáng suốt hơn, có
lý trí hơn để nhìn nhận vấn đề và hoàn cảnh thực tại từ đó đưa ra giải pháp phù
hợp nhất với điều kiện của mình. Có những trường hợp khi cá nhân hoặc gia
đình rơi vào tình huống căng thẳng, họ đã vô cùng lúng túng và tìm đến những
giải pháp tiêu cực như tự sát, bạo lực hay ly tán v.v… Sự hỗ trợ của hoạt động
tham vấn đóng vai trò như một công cụ quan trọng không những giúp cá nhân
và gia đình giải quyết vấn đề kịp thời mà còn giúp họ phòng ngừa những hành
vi tiêu cực có thể bột phát trong tình huống khủng hoảng.
Một ý nghĩa khá quan trọng khác của hoạt động tham vấn đối với gia đình
trẻ tự kỷ, đó là tham vấn không chỉ dừng lại ở mục đích giải quyết vấn đề mà
còn hướng tới việc giúp cá nhân thành viên trong gia đình tăng cường kỹ năng
sống, biết cách nhìn nhận vấn đề, tự tin vào chính mình. Bằng những nghiệp vụ,
kiến thức chuyên môn nhà tham vấn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng và sức
mạnh nội tại. Đây cũng là cơ sở để cá nhân, gia đình không chỉ tăng cường khả
năng giải quyết những vấn đề đang phải đối mặt mà còn tăng cường khả năng
ứng phó, thích ứng với những vấn đề có thể xảy ra trong cuộc sống của họ.
Tham vấn không chỉ có tác dụng đối với việc giúp con người giải quyết
vấn
đề mà nó còn có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường khả năng thích nghi
xã hội của cá nhân và gia đình. Thông qua tham vấn, thân chủ còn được bổ sung
các kỹ năng sống cũng như các kỹ năng giao tiếp xã hội, tạo nền tảng cho sự
nâng cao khả năng hoà nhập xã hội của mỗi cá nhân trong gia đình cũng như
trong cộng đồng nơi mà họ sinh sống và làm việc.
Tham vấn với chức năng và nhiệm vụ đã được xác định đang là một trong
lĩnh vực đóng góp tích cực cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá
nhân và gia đình, cho nền an sinh và sự ổn định phát triển của xã hội.
3. Các hình thức tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
24
3.1. Dựa trên hình thức tham vấn
- Tham vấn hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ tự kỷ: thực chất là hình thức tham
vấn tâm lý cá nhân cho các thành viên gia đình của trẻ tự kỷ. Đó là quá trình
tương tác giữa nhà tham vấn với cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ tự kỷ, giúp họ
xoá bỏ các rào cản tâm lý, giúp người thân trẻ tự kỷ hiểu rõ hơn về bệnh tự kỷ,
khơi dậy các tiềm năng vốn có của họ nhằm phát hiện sớm, can thiệp sớm và
chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ tốt hơn. Mối quan hệ giữa nhà tham vấn và thân
chủ là mối quan hệ 1:1
- Tham vấn gia đình trẻ tự kỷ: Tham vấn gia đình trẻ tự kỷ thực chất là
tham vấn nhóm, tuy nhiên đây là một nhóm đặc biệt, các cá nhân có mối quan
hệ gắn bó, tình cảm và quan hệ huyết thống với trẻ tự kỷ. Thực tế cá nhân bao
giờ cũng là thành viên của một nhóm gia đình nhất định, do vậy nhà tham vấn
cần phải tập trung vào mối quan hệ của các thành viên gia đình với trẻ tự kỷ, để
giúp họ điều chỉnh, cải thiện tình trạng của toàn bộ gia đình. Tham vấn gia đình
rất thích hợp trong hỗ trợ trẻ tự kỷ, giúp cha mẹ và người thân hiểu được nguyên
nhân, nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo, nắm được kiến thức cũng như hệ
thông dịch vụ hỗ trợ trẻ tự kỷ. Huy động sự tham gia tích cực của các thành viên
gia đình trong việc loại bỏ tác nhân tiêu cực, xây dựng các mối quan hệ yêu
thương,đồng cảm nhằm chăm sóc, giáo dục và hỗ trợ quá trình trị liệu cho trẻ tốt
nhất.
- Tham vấn nhóm gia đình trẻ tự kỷ: Là quá trình tương tác giữa nhà tham
vấn với nhóm gia đình có con tự kỷ nhằm điều chỉnh các thuộc tính tâm lý, hành
vi nào đó của các cá nhân trong nhóm gia đình trẻ tự kỷ thông qua việc thiết lập
lại các mối quan hệ, tổ chức các hoạt động nhóm, cá nhân thấy mình không đơn
độc, thấy được chia sẻ, giảm bớt áp lực và họ học cách giao tiếp ứng xử phù hợp
và biết cách thích nghi và hỗ trợ trẻ tự kỷ tốt hơn. Tham vấn nhóm gia đình trẻ
tự kỷ thích hợp cho những gia đình có những thiếu hụt trong các mối quan hệ
như không biết cách đánh giá, chăm sóc, giáo dục, hỗ trợ trẻ tự kỷ tại gia đình.
3.2. Dựa trên tính chất tham vấn
25
- Tham vấn gián tiếp: Là hoạt động tham vấn qua sử dụng phương tiện
truyền thông. Trong xã hội hiện đại, phương tiện truyền thông rất phát triển,
tham vấn gián tiếp trở nên phổ biến hơn, bởi thân chủ không mất thời gian đi lại,
đôi khi thân chủ cảm thấy thoải mái hơn vì có thể che giấu thông tin cá nhân và
không phải lộ mặt
+ Tham vấn qua thư: thân chủ gửi thư ( hiện nay chủ yếu sử dụng email),
nhà tham vấn dựa vào thông tin để tiếp tục thực hiện quá trình trao đổi và chia
sẻ cách giải quyết vấn đề
+ Tham vấn qua báo chí: thân chủ gửi thông tin về vấn đề của mình đến
toà soạn,sau đó được chuyển tới một người, hoặc nhóm chuyên gia tham vấn,
nhà tham vấn sẽ giúp thân chủ giải đáp những thắc mắc trên báo
+ Tham vấn qua điện thoại (tổng đài 1088, hoặc 1080): thân chủ gọi điện
đến tổng dài và được kết nối với một chuyên gia tham vấn để hai bên cùng trao
đổi
Tham vấn gián tiếp có thể thực hiện bằng lời nói hoặc chữ viết, song bị
hạn chế về thời gian cũng như không thể quan sát được những biểu hiện phi
ngôn ngữ, do vậy nhà tham vấn gặp khó khăn trong nhận biết được cảm xúc thật
của thân chủ, việc trao đổi thông tin cần ngắn gọn, không sâu sắc như tham vấn
trực tiếp
- Tham vấn trực tiếp: đây là quá trình gặp gỡ, trao đổi trực tiếp ( mặt giáp mặt)
giữa nhà tham vấn và thân chủ tại văn phòng tham vấn hoặc tại một địa điểm ấn
định trước, nhằm giúp thân chủ chia sẻ, đương đầu với những vấn đề sức khoẻ
tâm thần mà họ đang gặp phải. Tham vấn trực tiếp thường được sử dụng trong
trường hợp thân chủ có vấn đề trong mối quan hệ với người yêu, người tình, nạn
nhân bị xâm hại tình dục, thân chủ thường xuyên bị áp lực trong cuộc sống,
công việc, nạn nhân của bạo lực gia đình. Trong không gian an toàn, khi thân
chủ được tôn trọng, được lắng nghe, thấu hiểu, thân chủ có thể dễ dàng chia sẻ
thông tin. Ngoài ra nhà tham vấn có thể quan sát những dấu hiệu ngôn ngữ
không lời để hiểu tốt hơn về thân chủ, nhà tham vấn có cơ hội trao đổi dễ dàng
26
và cụ thể hơn. Nhà tham vấn có thể tham vấn cho nhiều người cùng lúc, thân
chủ có thể lựa chọn thời gian và nhà tham vấn theo nhu cầu.
4. Nguyên tắc tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
Các nguyên tắc trong tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ được đưa ra trên
cơ sở giá trị nghề tham vấn và tham vấn chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung.
Chúng đóng vai trò định hướng cho những hành vi của nhà tham vấn nhằm bảo
vệ uy tín của nghề nghiệp cũng như quyền lợi của thân chủ (trẻ tự kỷ và thân
nhân của trẻ tự kỷ). Trong hoạt động tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ nhà tham
vấn cần phải tuân thủ những qui định đạo đức và các nguyên tắc nghề nghiệp.
Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản trong tiến hành tham vấn:
- Nguyên tắc tôn trọng, chấp nhận thân chủ.
- Nguyên tắc giành quyền tự quyết cho thân chủ.
- Nguyên tắc không lên án phê phán thân chủ.
- Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin của thân chủ.
Các nguyên tắc này đóng vai trò như những công cụ điều chỉnh những
hành vi của nhà tham vấn trong quá trình hỗ trợ thân chủ như sau:
Nguyên tắc tôn trọng, chấp nhận thân chủ
Một trong những nguyên tắc cơ bản trước tiên mà nhà tham vấn cần phải
đảm bảo đó là tôn trọng nhân phẩm của thân chủ. Điều này được thể hiện ở
phong cách đối xử với thân chủ như với nhân cách độc lập kể cả đó là những
thành viên gia đình có suy nghĩ chưa đúng, chưa phù hợp về bệnh tự kỷ và hỗ
trợ trẻ tự kỷ: họ có giá trị riêng, có cách nhìn nhận riêng và có khả năng thay
đổi. Khi làm việc với nhà tham vấn, thân chủ có thể có những hành vi, suy nghĩ
mà những người bình thường không chấp nhận, thậm chí còn lên án những hành
vi, hay suy nghĩ đó. Nhưng nhà tham vấn lại cần chấp nhận tất cả những biểu
hiện tiêu cực có thể thấy được ở thân chủ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa
rằng nhà tham vấn đồng tình với điều mà họ làm, cách mà họ nghĩ hay cách mà
họ đánh giá hiện tượng và người khác. Cần nhìn nhận rằng, những hành vi, suy
nghĩ tiêu cực đó là hậu quả của một nguyên nhân nhất định chứ không phải là do
chính họ gây ra. Như vậy, nhiệm vụ của nhà tham vấn là giúp họ tháo bỏ những
27
rào cản xã hội để họ thay đổi hành vi, suy nghĩ đó cho phù hợp với thực tiễn.
Đây cũng chính là mục tiêu của tham vấn. Nhà tham vấn cần phải có lòng tin ở
họ, tin rằng vấn đề bệnh tật của họ có khả năng thay đổi. Việc chấp nhận vấn đề
của thân chủ trong suy nghĩ và thể hiện bằng hành vi thân thiện, không phân biệt
đối xử sẽ là yếu tố tiền đề cho sự giúp đỡ chân thành của nhà tham vấn đối với
vấn đề của thân chủ.
Không phán xét thân chủ
Không phán xét thân chủ thể hiện ở việc không chỉ trích hành vi, suy nghĩ
của họ dù cho những điều mà họ làm là không đúng, cách họ suy nghĩ hoặc cảm
nhận là không hợp lý. Nguyên tắc này có mối liên quan mật thiết với nguyên tắc
trên. Nhà tham vấn cần chân thành và không lên án họ khi mắc những sai lầm.
Việc chấp nhận đối tượng đi cùng với việc không phán xét những hành vi, suy
nghĩ tiêu cực ở họ. Khi đối tượng đến với nhà tham vấn, họ mong muốn được
thông cảm, lắng nghe và thấu hiểu. Đó chính là sự khác biệt của nhà tham vấn
với những người giúp đỡ thông thường, và cũng vì vậy mà họ cần sự giúp đỡ từ
nhà tham vấn chứ không phải những người khác.
Giành quyền tự quyết cho đối tượng: tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
không phải là cho lời khuyên cho thân chủ. Nhà tham vấn không quyết định thay
thân chủ mà để họ tự đưa ra quyết định, có sự lựa chọn cách giải quyết vấn đề
của riêng họ trên cơ sở những thông tin, kết quả trao đổi với nhà tham vấn. Nhà
tham vấn chỉ đóng vai trò là người xúc tác và giúp đỡ thân chủ đưa ra các giải
pháp và lựa chọn một hướng điều trị phù hợp, một hướng tiếp cận dịch vụ cho
thân chủ. Khi này đòi hỏi nhà tham vấn cần có niềm tin vào khả năng tự giải
quyết của thân chủ, cần kiên trì với sự tiến bộ từng bước thậm chí thất bại của
thân chủ. Có như vậy mới tránh hiện tượng làm thay, làm hộ mà những nhà
tham vấn thiếu kinh nghiệm thường hay mắc phải. Việc thân chủ tự đưa ra quyết
định còn có tác dụng giúp cho họ có trách nhiệm với lựa chọn của mình cũng
như sự tham gia tích cực vào giải quyết vấn đề. Việc không lệ thuộc của thân
chủ vào nhà tham vấn thể hiện rằng sự tự tin ở họ đã được tăng cường. Chính
điều này sẽ giúp họ học được cách thức giải quyết vấn đề.
28
Đảm bảo tính bí mật: đây là một trong những nguyên tắc quan trọng
trong tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ. Mọi thông tin mà thân chủ chia sẻ với
nhà tham vấn cần được đảm bảo kín đáo. Nhà tham vấn không được tiết lộ
những thông tin liên quan về trẻ tự kỷ với những người khác khi chưa có ý kiến
chấp thuận của gia đình của trẻ. Điều này cũng được qui định rất rõ ràng trong
các quy điều đạo đức của nghề tham vấn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp
đặc biệt khi tính mạng của thân chủ hay người khác bị đe doạ, nhà tham vấn có
thể trao đổi với những cơ quan hay cá nhân có liên quan mà không cần sự chấp
thuận của thân chủ.
5. Quy trình tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
Quy trình tham vấn hỗ trợ cho cha mẹ có con tự kỉ được chia thành những
giai đoạn sau:
5.1. Tiếp xúc ban đầu – tạo lập mối quan hệ
Là buổi gặp mặt đầu tiên giữa nhà tham vấn với cha mẹ có con tự kỷ.
Chính bước ban đầu này có ý nghĩa rất quan trọng cho việc tạo lập mối quan hệ
hợp tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, nó ảnh hưởng đến tính chất mối quan hệ
sau này và thậm chí quyết định các buổi làm việc tiếp theo có hay không.
Trong buổi tiếp xúc lần đầu, nhà tham vấn nến:
- Giới thiệu làm quen; Hỏi thăm những công việc cá nhân;
- Nêu rõ mục đích của buổi tham vấn;
- Sử dụng các kỹ năng giao tiếp để tạo dựng bầu không khí tâm lý thân
thiện, cởi mở và khuyến khích mọi người cùng chia sẻ.
- Thống nhất với các thành viên trong gia đình về những điều cần thiết
trong buổi tham vấn.
- Trong buổi tham vấn đầu tiên các thành viên trong gia đình thường đến
với tâm trạng lo lắng và luôn có xu hướng đưa ra toàn bộ vấn đề của họ.
Do vậy nhà tham vấn lúc này cần tạo ra bầu không khí tâm lý thoải mái
giúp họ có được cảm giác an toàn để họ thể hiện vai trò của mình và chia
sẻ, tương tác với các thành vien khác. Đồng thời nhà tham vấn cũng cần
29
tạo dựng mối quan hệ tin tưởng, thiện chí bằng các kiến thức và kỹ năng
nghề nghiệp.
5.2. Thu thập thông tin và xác định vấn đề cốt lõi
Nhà tham vấn thu thập thông tin, phân tích thông tin để tìm ra thực chất
vấn đề là gì, nguyên nhân nằm ở đâu, xảy ra như thế nào, mức độ tự kỷ của trẻ,
….
Ngoài ra trong giai đoạn này, nhà tham vấn còn phải tìm hiểu thông tin về
các nguồn lực tiềm năng của cha mẹ trẻ và xã hội trong việc giải quyết vấn đề
của cha mẹ trẻ để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch giúp đỡ đối tượng.
5.3. Giúp đối tượng đưa ra những hướng giải pháp có thể và lựa chọn
giải pháp tốt nhất, phù hợp nhất đối với hoàn cảnh của họ.
Khi một vấn đề đã được xác định và hiểu rõ được nguyên nhân gây ra thì
nhà tham vấn giúp cha mẹ của trẻ tự kỷ tìm kiếm các giải pháp. Sau đó trên cơ
sở phân tích, nhà tham vấn giúp thân chủ nhận thức được nhu cầu tiềm năng để
thực hiện và chọn giải pháp thích hợp.
Trước hết nên để thân chủ tự mình đưa ra những hướng giải quyết cụ thể.
Nếu đối tượng không thể tự đưa ra được thì nhà tham vấn gợi ý cho họ. Hỗ trợ
thân chủ lựa chọn giải pháp thích hợp nhất bằng việc cung cấp thông tin, phân
tích làm rõ những điều có lợi và không có lợi của mỗi giải pháp và định hướng
giúp đối tượng đưa ra quyết định đúng đắn nhất.
5.4.Triển khai thực hiện
Nhà tham vấn kiểm tra tiến trình thực hiện công việc mà thân chủ đã đề
ra. Nếu thân chủ không thực hiện cần sử dụng kỹ năng làm mẫu để thân chủ trải
nghiệm và làm theo, hoặc tìm kíêm các nguồn hỗ trợ bên ngoài cho thân chủ.
5.5. Lượng giá và kết thúc
Lượng giá thường xuyên thực hiện trong suốt quá trình tham vấn nhằm
giúp thân chủ cảm nhận được mức độ tiến triển của sự việc; kịp thời điểu chỉnh
và thay đổi phương cách nhằm trợ giúp có hiệu quả nhất cho thân chủ.
30
Lượng giá kết thúc đòi hỏi đánh giá toàn bộ những việc thân chủ đã làm,
các nguồn lực được trợ giúp, chỉ ra những cái chưa làm được (lưu ý sử dụng kỹ
năng nới lỏng trong giai đoạn này).
5.6. Tiếp tục theo dõi sau khi kết thúc
Sử dụng các hình thức trao đổi (thư từ, điện thoại, internet...) để biết sự
tiến bộ của thân chủ, đảm bảo rằng thân chủ đã tự đương đầu được với các vấn
đề của họ trong cuộc sống. Thời gian trung bình kéo dài từ vài tuần đến 6 tháng.
6. Nội dung tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
Căn cứ vào các kết quả nghiên cứu thực tế của nhiều tác giả cho thấy, gia
đình có trẻ tự kỷ họ có nhu cầu được tham vấn ở những lĩnh vực:
+ Được cung cấp thông tin về hội chứng tự kỷ, các biểu hiện của hội
chứng tự kỷ, nguyên nhân nào gây ra? phát hiện bệnh và thăm khám ?
+ Được cung cấp các dịch vụ trị liệu và can thiệp sớm và tiếp cận các
dịch vụ xã hội (vì sao trẻ tự kỷ cần được can thiệp sớm ? Khi nào là thời điểm
thích hợp để can thiệp cho trẻ? Bắt đầu can thiệp cho trẻ như thế nào ? Có những
mô hình nào can thiệp cho trẻ mắc hội chứng tự kỷ ? Can thiệp cho trẻ ở những
lĩnh vực nào ? Có nên dùng thuốc cho trẻ tự kỷ ? ) đó chính là những câu hỏi
về trị liệu và can thiệp mà phụ huynh trẻ tự kỷ thường hay đặt ra.
+ Nhu cầu được trang bị, được chia sẻ kiến thức về chăm sóc, dạy dỗ và
chữa trị cho trẻ; can thiệp sớm cho trẻ, giúp trẻ hòa nhập cộng đồng (trẻ có khó
khăn gì trong sinh hoạt hàng ngày? Vấn đề ăn, ngủ của trẻ? Dạy cho trẻ giao tiếp
và các kỹ năng tự phục vụ bản thân, các kỹ năng xã hội như thế nào ? Giúp trẻ
học tập như thế nào? )
+ Nhu cầu về môi trường giáo dục và các hình thức giáo dục (Trẻ tự kỷ có
đi học đúng độ tuổi được không ? Khi nào có thể cho trẻ tham gia học hòa
nhập ? Chọn trường học cho trẻ tự kỷ như thế nào? Trẻ tự kỷ sau này có thể kết
hôn và sinh con được không ?
+ Có nhu cầu được tham vấn để ứng phó khi trong gia đình có trẻ tự kỷ (
Tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ khi trẻ được chẩn đoán tự kỷ ; Tham vấn
hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ trong việc tự chăm sóc bản thân; Tham vấn cho
31
cha mẹ trẻ về việc ứng phó với các hành vi chống đối, nổi loạn của trẻ tự kỷ;
Tham vấn cho cha mẹ trẻ về cách ứng phó với hành vi tự xâm kích của trẻ tự kỷ;
Tham vấn cho gia đình trẻ về vấn đề dậy thì...)
7. Một số lý thuyết ứng dụng trong tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ
Có nhiều quan điểm lý thuyết khác nhau ứng dụng trong tham vấn hỗ trợ
gia đình trẻ tự kỷ. Trong phạm vi tài liệu này sẽ phân tích nội dung các lý thuyết
áp dụng vào trong tham vấn hỗ trợ cha mẹ trẻ tự kỷ:
7.1. Lý thuyết phân tâm học
Đại diện của trường phái lý thuyết phân tâm học là Sigmund Freud (1856
- 1939), người sáng lập ra lý thuyết phân tâm học vào cuối thế kỷ XIX và đầu
thế kỷ XX. Theo ông, nhân cách của con người được xây dựng qua sự tương tác
phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời niên thiếu
của họ. Hành vi của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ
khi họ còn ở thời tuổi nhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Ảnh
hưởng này mang tính mạnh mẽ và lâu dài cho đến tận những giai đoạn phát triển
sau này của con người. Trong lý thuyết của ông, con người tiếp tục thoả mãn
những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tác với người khác trong quá
khứ hay cách mà họ thoả mãn những mong muốn của mình thời thơ ấu.
Những vấn đề quan trọng được đề cập tới trong lý thuyết của S. Freud đó
là bản năng, vô thức, cấu trúc nhân cách, cơ chế tự vệ.
Bản năng: S. Freud cho rằng sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người chịu ảnh hưởng rất lớn của sự tương tác của các bản năng và kinh
nghiệm thời thơ ấu của cá nhân. Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng
chết.
+ Bản năng sống: là sự đói, khát, tình dục. Những bản năng này định
hướng hành vi của con người tới những hành động để duy trì giống nòi cũng
như cuộc sống của mỗi người. Cảm giác đói hay khát luôn có ở con người. Mỗi
khi có cảm giác đói, con người luôn hướng tới hành động tìm kiếm thức ăn để
thoả mãn nhu cầu thèm khát và để tồn tại. Nhu cầu dục vọng theo S. Freud cũng
là một bản năng. Đây là nhu cầu tự nhiên ở mọi người. Việc hướng tới những
32
hành động để đáp ứng nhu cầu dục vọng cũng là nhằm để bảo tồn giống nòi.
Tuy nhiên những bản năng này của con người lại bị kiểm duyệt bởi các thế lực
của cái Tôi và Siêu tôi. Điều này làm cho có sự khác biệt giữa phương thức đáp
ứng nhu cầu bản năng ở con người và loài vật.
+ Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc
sống. Những hành vi gây thương tích, tự huỷ hoại bản thân ở con người.v.v.
được xem như những bản năng chết của con người. Những hành vi hung tính, sự
nóng giận cũng là những bản năng chết của con người. Chúng được kiểm soát
qua sự hiện diện của cái Tôi và Siêu tôi.
Cấu trúc của nhân cách: S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm
có ba cấu thành, đó là cái nó (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super tương tác
phức hợp giữa các xung năng (driven) với những kinh nghiệm thời niên thiếu
của họ. Hành vi của con người là kết quả của cách nuôi dạy, đối xử của bố mẹ
khi họ còn ở thời tuổi nhỏ đặc biệt trong 5 năm đầu tiên của cuộc đời. Ảnh
hưởng này mang tính mạnh mẽ và lâu dài cho đến tận những giai đoạn phát triển
sau này của con người. Trong lý thuyết của ông, con người tiếp tục thoả mãn
những mong muốn của họ theo cách mà họ tương tác với người khác trong quá
khứ hay cách mà họ thoả mãn những mong muốn của mình thời thơ ấu.
Những vấn đề quan trọng được đề cập tới trong lý thuyết của S. Freud đó
là bản năng, vô thức, cấu trúc nhân cách, cơ chế tự vệ.
Bản năng: S. Freud cho rằng sự hình thành và phát triển nhân cách của
con người chịu ảnh hưởng rất lớn của sự tương tác của các bản năng và kinh
nghiệm thời thơ ấu của cá nhân. Nó bao gồm các bản năng sống và bản năng
chết.
+ Bản năng sống: là sự đói, khát, tình dục. Những bản năng này định
hướng hành vi của con người tới những hành động để duy trì giống nòi cũng
như cuộc sống của mỗi người. Cảm giác đói hay khát luôn có ở con người. Mỗi
khi có cảm giác đói, con người luôn hướng tới hành động tìm kiếm thức ăn để
thoả mãn nhu cầu thèm khát và để tồn tại. Nhu cầu dục vọng theo S. Freud cũng
là một bản năng. Đây là nhu cầu tự nhiên ở mọi người. Việc hướng tới những
33
hành động để đáp ứng nhu cầu dục vọng cũng là nhằm để bảo tồn giống nòi.
Tuy nhiên những bản năng này của con người lại bị kiểm duyệt bởi các thế lực
của cái Tôi và Siêu tôi. Điều này làm cho có sự khác biệt giữa phương thức đáp
ứng nhu cầu bản năng ở con người và loài vật.
+ Bản năng chết: là những bản năng hướng tới sự phá bỏ, tiêu diệt cuộc
sống. Những hành vi gây thương tích, tự huỷ hoại bản thân ở con người.v.v.
được xem như những bản năng chết của con người. Những hành vi hung tính, sự
nóng giận cũng là những bản năng chết của con người. Chúng được kiểm soát
qua sự hiện diện của cái Tôi và Siêu tôi.
Cấu trúc của nhân cách: S. Freud cho rằng cấu trúc của nhân cách gồm
có ba cấu thành, đó là cái nó (Id), cái tôi (Ego) và cái siêu tôi (Super Ego). Các
cấu trúc này được hình thành và phát triển dần tới khi con người được 5 tuổi.
+ Cái nó (Id): Hệ thống này bao gồm các bản năng vô thức và thúc đẩy
con người thoả mãn những mong muốn mà không tính tới các nguyên tắc, qui
định của xã hội. Cá nhân khi mới được sinh ra đều hàm chứa Cái nó (Id) là phần
chính.
+ Cái tôi (Ego): được hoạt động, điều chỉnh (kiểm soát) bởi thực tiễn thế
giới xung quanh. Những mong muốn được thoả mãn dựa trên điều kiện thực tiễn
có sự can thiệp của Cái tôi. Cái tôi kiểm soát Cái nó và luôn xử lý tình huống
một cách lôgíc, hợp lý với thế giới thực tiễn. Do vậy, ông coi phương thức thỏa
mãn này là phương thức thoả mãn theo nguyên tắc thực tiễn. Cái tôi (Ego) được
hình thành dần sau khi sinh ra và trên cơ sở yêu cầu thực tiễn của cuộc sống của
con người.
+ Cái siêu tôi (Super Ego): bao gồm ý thức và đạo đức. Nó có nhiệm vụ
kiểm soát hành vi thực tiễn của Cái tôi sao cho phù hợp với qui định xã hội.
Cả ba cấu thành trên được tập hợp trong một con người và chúng qui
định, ảnh hưởng lẫn nhau. Cái nó hoạt động theo nguyên tắc thoả mãn, Cái tôi
hoạt động theo nguyên tắc thực tiễn, và Cái siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc
kiểm duyệt. Khi xuất hiện một nhu cầu bản năng mà cá nhân muốn thoả mãn,
nhưng sự thoả mãn này lại bị Cái siêu tôi (siêu ngã) kiểm duyệt. Khi này Cái tôi
34
(bản ngã), đóng vai trò như người trung gian, giúp cho hai thế lực bản năng (Cái
nó) và Cái siêu tôi có thể hoà hợp với nhau.
Sự mâu thuẫn tồn tại giữa Cái nó (bản năng) và Cái siêu tôi dễ làm con
người rơi vào tình trạng căng thẳng. Một mặt, con người muốn thoả mãn những
nhu cầu tự nhiên mang tính bản năng, nhưng đồng thời lại bị sự kiểm soát của
Cái siêu tôi (đạo đức xã hội) và không cho phép họ thoả mãn tất cả các nhu cầu
bản năng. Khi này con người dễ trở lên lo âu, sợ hãi và có những hành vi không
hợp lý. Để giúp cho con người có thể thoát khỏi tình trạng này, S. Freud cho
rằng cần có những cơ chế tự vệ để đảm bảo tạo ra cân bằng trong tâm lý ở con
người. Những lo lắng mang tính bệnh lý được coi như bắt nguồn từ cách đối xử
của cha mẹ và những mâu thuẫn nội tại giữa Cái nó, Cái tôi và Cái siêu tôi.
Các cơ chế tự vệ : Các cơ chế tự vệ có vai trò bảo vệ con người khỏi
những lo âu phát sinh bởi những mâu thuẫn giữa các yếu tố bản năng, bản ngã
và siêu ngã. Khi còn nhỏ trẻ thoả mãn nhu cầu của mình theo bản năng. Khi trẻ
muốn điều gì đó thì nó mong có ngay được theo như ý muốn cá nhân. Trong quá
trình phát triển, lớn lên trẻ nhanh chóng nhận biết rằng, sự thoả mãn này không
được vừa ý của cha mẹ. Do vậy, nó học cách thoả mãn tiềm ẩn trong hành vi của
bố mẹ.v.v. Nhưng là một thực thể sống, các bản năng này luôn tồn tại và tạo áp
lực đối với đứa trẻ. Cách phản ứng của cha mẹ với việc thoả mãn nhu cầu của
trẻ khiến chúng có thể có những lo sợ về việc bị trừng phạt hay bị bỏ rơi. Để giải
quyết được những cảm giác lo sợ, trẻ sử dụng các cơ chế tự vệ. Những cơ chế tự
vệ này theo S.Freud rất quan trọng và cần thiết cho con người. Tuy nhiên nó có
thể trở nên bệnh lý khi cách thức tự vệ đó trở nên thái quá.
Các cơ chế tự vệ được S. Freud phát hiện và hoàn thiện bởi một số nhà
tâm lý học khác, bao gồm:
+ Sự dồn nén: kiềm chế những lo lắng lại, che dấu không để lộ ra ngoài,
+ Sự phóng chiếu: chuyển những cảm xúc của mình lên người khác.
+ Sự chối bỏ: từ chối, ví dụ không chấp nhận những lo lắng sợ hãi đang
tồn tại trong bản thân.
35
+ Sự thoái bộ: thoái lui về giai đoạn trước, có những hành vi thuộc về lứa
tuổi trước đó (ví dụ hiện tượng trẻ con hóa).
+ Sự tạo lập hành động (phản ứng): chuyển những cảm xúc ví dụ lo âu
thành hành động.
+ Sự phá bỏ: chuyển cảm xúc lo âu thành sự hung dữ.
+ Sự thăng hoa: chuyển lo âu sợ hãi thành các sản phẩm có ích cho xã hội.
+ Sự mơ mộng: thoả mãn những mong muốn trong giấc mơ.
Quá trình phát triển nhân cách.
S. Freud cho rằng tâm lý con người phát triển qua các giai đoạn khác nhau
sau đây:
+ Giai đoạn môi miệng (oral stage): từ khi sinh ra cho đến 1,5 tuổi. Sự
thoả mãn được thực hiện qua ăn uống, mút, bú mẹ. Nếu đứa trẻ trong thời kỳ
này không được thoả mãn nhu cầu này, thì nó sẽ có những cảm giác tiêu cực
như tự ti, lo âu về sự an toàn vào những giai đoạn sau của cuộc đời.
+ Giai đoạn hậu môn (anal stage): từ 1,5 đến 3 tuổi. Sự thoả mãn được
thực hiện qua sự đi đại tiện, tiểu tiện. Thời kỳ này trẻ bắt đầu học cách kiềm soát
cơ thể và môi trường xung quanh qua việc hướng dẫn của cha mẹ, việc qui định
đi vệ sinh và những hoạt động giáo dục khác.
+ Giai đoạn dương vật (phallic stage) từ 3 đến 5 tuổi. Trong giai đoạn
này có 3 mặt phát triển chính đó là hứng thú tình dục (ví dụ nhu cầu cao về tiếp
xúc thân thể với người khác giới, xung đột Edip), phát triển của siêu tôi, mở
rộng phạm vi quá trình bảo vệ cái tôi. Khi này trẻ nhận thức được giới tính của
mình và thoả mãn với nó.
+ Giai đoạn tiềm ẩn (latence stage): từ 5 tuổi trở lên đến tuổi vị thành niên.
Khi này, trẻ học cách thăng hoa tình yêu đối với bố mẹ, nó được thể hiện bằng sự
tôn kính, đồng thời củng cố cách giải quyết vấn đề được sử dụng trong các giai
đoạn trước để chuẩn bị đối phó với vấn đề có thể xảy ra ở giai đoạn tuổi thanh
niên.
36
+ Giai đoạn cơ quan sinh dục ngoài (genital stage): là giai đoạn tuổi
thanh niên và sang tuổi trưởng thành, khi này cá nhân đã có thể nhận thức và ý
thức hành vi ở người lớn.
Một số nhà tâm lý học, đặc biệt là học trò của S. Freud đã phát triển lý
thuyết của ông. Một phần, họ kế thừa quan điểm của S. Freud như vấn đề vô
thức trong tâm lý con người. Tuy nhiên, họ cũng bổ sung một số yếu tố qui định
hành vi và nhân cách con nguời như: yếu tố môi trường, kinh nghiệm sống, các
quan hệ xã hội và đặc biệt là vai trò của ý thức trong khả năng tự điều chỉnh của
cá nhân.
Các kỹ thuật can thiệp theo thuyết phân tâm: dựa trên những lý luận trên,
để can thiệp với những vấn đề tâm lý của con người, S. Freud đưa ra các kỹ thuật
sau.
Phân tích sự chuyển dịch (Transference)
Sự chuyển dịch là quá trình những cảm xúc xung đột của thân chủ với
người nào đó trong quá khứ (ví dụ như cha, mẹ, người yêu.v.v.) được thể hiện ra
với nhà tham vấn. Khi này thân chủ đánh đồng nhà tham vấn với nhân vật đó
trong suy nghĩ và cảm xúc. Nếu thân chủ chuyển tải cảm xúc mang tính tích cực
như yêu thương, kính phục đối với nhân vật quan trọng trong quá khứ của họ lên
nhà tham vấn thì người ta gọi đó là sự chuyển dịch tích cực. Ngược lại, thân chủ
thể hiện ra đối với nhà tham vấn những cảm xúc tiêu cực như căm thù, đố kỵ mà
họ vốn có trước đây với người nào đó thì đó là quá trình chuyển dịch tiêu cực.
Hiện tượng chuyển dịch như vậy thường xảy ra trong quá trình tham vấn. Nhà
tham vấn cần phải nhận biết và nắm rõ cơ chế này. Điều này sẽ giúp cho nhà
tham vấn giúp thân chủ nhận biết được tình cảm, mối quan hệ xã hội của họ
trong quá khứ.
Để xử lý những tình huống chuyển dịch, trước hết nhà tham vấn cần nhận
biết và giúp thân chủ nhận thức được hiện tượng này. Bằng những câu nói hay
câu hỏi đưa ra thông tin cho thân chủ biết liệu họ có đang đánh đồng mình với
một nhân vật nào đó không. Và nếu điều đó là sự thực, thì nhà tham vấn cần
giúp thân chủ tách biệt cảm xúc suy nghĩ của họ về nhân vật quan trọng với cảm
37
xúc họ dành cho nhà tham vấn. Đồng thời nhà tham vấn cũng cần giúp thân chủ
phân tích và hiểu được thực chất mối quan hệ của họ với nhân vật quan trọng
kia. Về phần mình, nhà tham vấn cần ý thức được và tinh tế để giữ được tính
khách quan trong tương tác tránh làm tổn thương mối quan hệ tích cực với thân
chủ. Những hành vi tiêu cực như lăng mạ, xỉ nhục của thân chủ về phía nhà
tham vấn là có thể xảy ra, khi này nhà tham vấn cần hiểu rằng đó có thể là tình
cảm hay cảm xúc của họ với một nhân vật nào đó mà họ căm ghét hay thù hận
trong quá khứ và đang được chuyển dịch lên nhà tham vấn.
Trong quá trình tham vấn, cũng có hiện tượng khi nhà tham vấn chuyển
tải những cảm xúc của mình đối với một nhân vật nào đó trong quá khứ lên thân
chủ. Đây được xem như quá trình chuyển dịch ngược. Tình cảm, cảm xúc đó
cũng có thể là tích cực hay tiêu cực. Bởi vì bản thân nhà tham vấn cũng có
những động cơ vô thức và thể hiện chúng ra bằng cách phóng chiếu lên thân
chủ. Khi này nhà tham vấn cần nhận biết khả năng chuyển dịch ngược và làm
chủ cảm xúc, tình cảm của mình để trở nên khách quan trong quá trình giúp đỡ.
Một trong cách xử lý là nhà tham vấn có thể chia sẻ với đồng nghiệp xin tư vấn
hoặc có thể chuyển giao ca tham vấn sang nhà tham vấn khác trong trường hợp
nhà tham vấn không kiểm soát được cảm xúc, tình cảm của mình.
Phân tích giấc mơ
Theo ông, trong giấc mơ có thể tìm thấy nguồn gốc những động cơ vô
thức, điều mà chúng không được chấp nhận hay không được phép bộc lộ công
khai. Cá nhân đã sử dụng cơ chế tự vệ này để thỏa mãn nhu cầu của mình và
làm giảm sự căng thẳng. Chính vì vậy, nhà tham vấn có thể phân tích nội dung
của giấc mơ để khám phá những mong muốn, những động cơ vô thức, mối
quan hệ của thân chủ, những đau khổ, những điều muốn chối bỏ.v.v. trong giấc
mơ. Nội dung và hình ảnh của giấc mơ có thể chứa đựng những suy nghĩ, hành
vi hay cảm xúc của thân chủ.
Liên tưởng tự do
Đó là kỹ thuật mà nhà tham vấn khuyến khích thân chủ thổ lộ, chia sẻ suy
nghĩ cảm xúc, những mong muốn của họ qua trò chuyện bằng cách họ liên
38
tưởng từ ý nghĩ này đến ý nghĩ khác. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là lắng nghe
tích cực tất cả mọi điều, mọi chi tiết mà thân chủ chia sẻ dù là rất nhỏ nhặt và
bám theo dấu vết của các liên tưởng này đến liên tưởng khác để tìm đến cội
nguồn của chúng. Ở đây, đòi hỏi nhà tham vấn phải quan sát rất tinh tường
những cử chỉ, điệu bộ, giọng nói, âm thanh khi họ trình bày.
Nhạy cảm với những phản kháng/chống đối từ phía thân chủ
Sự chống đối của thân chủ thể hiện qua hành vi như từ chối không thảo
luận về một vấn đề nào đó, im lặng, quên, tỏ ra khó khăn trong trình bày bằng
lời nói.v.v. Khi này có thể vấn đề thân chủ đang thảo luận đã động chạm đến
cảm xúc đau đớn mà họ đã trải nghiệm trong quá khứ. Cơ chế tự vệ khước từ,
chối bỏ lúc này xuất hiện nhằm giúp họ thoát khỏi tình trạng đau đớn, lo âu. Đôi
khi sự phản kháng còn biểu hiện qua hành vi hung dữ. Sự phản kháng này có thể
là ý thức hoặc vô thức. Nhiệm vụ của nhà tham vấn là nhận biết được hiện tượng
này, đồng thời cũng giúp cho thân chủ nhận ra rằng họ đang cố chối bỏ suy nghĩ
hay cảm xúc hoặc sự kiện nào đó trong quá khứ của họ.
7.2. Cách tiếp cận lấy thân chủ làm trọng tâm
Người sáng lập ra trường phái này là Carl Rogers , sinh ra tại Illionis, năm
1902. Lý thuyết này cho rằng cá nhân có khó khăn tâm lý xã hội là do họ tập
nhiễm những cách ứng xử không phù hợp. Họ cần được giúp đỡ để phát triển
tiềm năng tâm lý một cách hiệu quả. Nhiệm vụ của nhà tham vấn trong quá trình
giúp đỡ là hỗ trợ họ tháo bỏ những rào cản trong môi trường xã hội, giúp họ
hiểu được chính mình, chấp nhận hoàn cảnh và tự điều chỉnh bản thân để đạt
được trạng thái cân bằng.
Trị liệu thân chủ trọng tâm dựa trên quan điểm tích cực của con người
rằng mỗi thân chủ luôn vận động để hoàn thiện bản thân. Do vậy trong quá trình
tham vấn nhà tham vấn cần chú tâm vào thân chủ. Trong quá trình tương tác với
mối quan hệ tích cực thân chủ sẽ trải nghiệm những điều đã xảy ra với họ và tìm
cách loại bỏ những cảm xúc tiêu cực đó, đồng thời tăng cường khả năng nhận
thức và giải quyết vấn đề của bản thân. Như vậy, ở đây thân chủ được trao
quyền chủ động trong giải quyết vấn đề.
39
Mục đích lớn nhất của quá trình tương tác là phải tạo ra được bầu không
khí an toàn và tin tưởng giúp họ tự khám phá bản thân, tự ý thức được hoàn
cảnh, vấn đề và tiềm năng của mình. Điều này giúp cho thân chủ thích nghi hơn
với hoàn cảnh hiện có.
Nhiệm vụ của nhà tham vấn là giúp thân chủ nhận biết được tiềm năng của
chính họ, đồng thời giúp cho họ có được một môi trường thuận lợi cho sự hiện
thực hoá những tiềm năng đó thông qua việc cải thiện môi trường xã hội của thân
chủ.
Theo C. Rogers, công cụ để tạo sự thay đổi ở thân chủ đó là: sự thành
thực, sự thấu hiểu, và chấp nhận vô điều kiện của nhà tham vấn đối với thân chủ.
Trung thực - thành thật: là khi tình cảm hay thái độ của nhà tham vấn phù
hợp với sự nhận thức; thái độ bên ngoài và bên trong của nhà tham vấn phải
thống nhất, không giả dối; thống nhất giữa tâm trạng, thái độ, giữa ý nghĩa và lời
nói; chấp nhận tình cảm hiện có của mình.
Chấp nhận tích cực và vô điều kiện: Thể hiện ở hành vi cũng như thái độ
của nhà tham vấn cụ thể là sự nhiệt tình, ân cần, không đòi hỏi, chấp nhận thân
chủ như một người riêng biệt với những tình cảm, kinh nghiệm của riêng họ.
Carl Rogers cho rằng nhà tham vấn cần có thái độ Chấp nhận vô điều kiện
(Unconditional acceptance) và nó rất quan trọng. Đây cũng là một trong những
điểm khiến cho nhiều nhà khoa học tranh luận với thuyết của Carl Rogers.
Thấu hiểu: Nhà tham vấn thấu hiểu được tâm trạng của thân chủ với
những cảm xúc như giận dữ, sợ hãi, đặt mình vào tình huống đó để hiểu cách
nhìn nhận, cách mà thân chủ suy nghĩ, hiểu những cảm xúc mà họ đang phải trải
nghiệm đồng thời vẫn kiểm soát được cảm xúc, suy nghĩ của mình để đảm bảo
tính trung lập, khách quan trong sự kiện đó.
C. Rogers đặc biệt nhấn mạnh vai trò của mối quan hệ nhà tham vấn và
thân chủ trong quá trình can thiệp. Ông cho rằng sự thành công của quá trình
can thiệp là phụ thuộc vào tính chất của mối quan hệ được thiết lập giữa nhà
tham vấn và thân chủ và nó có những đặc điểm sau:
- Sự chân thành và sẵn sàng giúp đỡ từ phía nhà tham vấn.
40
- Thân chủ đang trong tình trạng có vấn đề và có nhu cầu cần sự trợ giúp.
- Nhà tham vấn thực sự muốn tham gia vào sự can thiệp.
- Nhà tham vấn cần có cái nhìn tích cực đối với thân chủ.
- Nhà tham vấn phải hiểu thấu đáo cảm xúc, suy nghĩ, cách nhìn của thân
chủ.
- Sự tương tác với thân chủ mang tính thấu hiểu và tự tôn trọng.
Với mối quan hệ như trên, nhà tham vấn có thể giúp thân chủ:
- Trải nghiệm và hiểu được những tác nhân vô thức đang đè nén.
- Tăng cường sự tự tin và tự chủ hơn.
- Trở nên thành thực và hành động tích cực hơn.
- Cởi mở và sẵn sàng chia sẻ.
- Hiểu người khác và chấp nhận người khác.
- Học cách đương đầu với vấn đề trong cuộc sống.
7.3. Cách tiếp cận hành vi
Những người có công đóng góp cho việc hình thành lý thuyết hành vi là:
A. Lazarus, B. F. Skinner, A. Bandura.v.v. Giả thuyết cơ bản của trường phái
này cho rằng hành vi của con người có thể thay đổi được, điều chỉnh được qua
học tập có điều kiện.
Tham vấn theo cách tiếp cận hành vi tập trung chú ý tới việc thay đổi
hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động.
Lý thuyết này nhấn mạnh đến những hành vi hiện tại mà thân chủ đang
trải nghiệm. Họ chú trọng tới sự thể nghiệm và đánh giá hành động một cách rất
chặt chẽ trên cơ sở kế hoạch can thiệp cụ thể với mục tiêu rõ ràng và tiêu chí đo
lường sự thay đổi của hành vi xác định.
Mục đích cốt lõi của quá trình can thiệp này là loại bỏ hành vi, loại bỏ
những điều kiện gây ra hành vi không thích ứng của thân chủ và giúp họ học
được những khuôn mẫu hành vi có hiệu quả hơn. Tham vấn hành vi nhằm vào
việc thay đổi những hành vi có vấn đề thông qua việc tiếp thu những kinh
nghiệm mới.
Trong mối quan hệ này nhà tham vấn có nhiệm vụ đưa ra những bài học
41
về hành vi phù hợp để thân chủ có những hành động thay thế, về phía thân chủ
họ phải sẵn lòng thử nghiệm những hành vi mới và tham gia tích cực vào quá
trình tham vấn.
Quy trình của can thiệp theo cách tiếp cận hành vi được diễn ra như
sau:
- Trước tiên cần tiếp xúc, trò chuyện với thân chủ để khai thác những
thông tin về tình hình sức khoẻ, tình trạng tâm thần của họ, đặc biệt là diễn biến
hình thành những rối nhiễu tâm thần ở họ.
- Xác định những biểu hiện, những tính cách, hành vi bất thường và phân
loại, đánh giá mức độ vấn đề. Bên cạnh đó cũng cần chú ý tới các yếu tố đặc
điểm cá nhân cũng như môi trường như gia đình, trường học, nơi làm việc…
được xem như nguyên nhân hay sự kích thích cho sự hình thành những rối nhiễu
tâm lý, hành vi không mong muốn ở thân chủ. Đồng thời cũng cần chú ý tới
những rối nhiễu thực thể và các can thiệp trước đó (ví dụ việc sử dụng thuốc,
biệt dược). Trên cơ sở đó đưa ra những thông tin tổng quát về thân chủ làm cơ
sở cho quá trình tham vấn.
- Xác định rối nhiễu, hành vi ưu tiên cần can thiệp
Nhà tham vấn cần xác định hành vi hay biểu hiện nào là cốt lõi để can
thiệp trước tiên. Việc trợ giúp thân chủ loại bỏ từng hành vi tiêu cực một sẽ giúp
cho họ có được sự tự tin để đi tiếp trong quá trình thay đổi. Đồng thời các hành
vi thường có mối quan hệ với nhau nên khi xử lý một hành vi thì những hành vi,
biểu hiện khác cũng có khả năng thay đổi theo.
- Can thiệp những yếu tố tác động.
Đó là làm thay đổi môi trường hay những yếu tố kích thích cho sự tồn tại
hành vi không mong muốn ở thân chủ. Trong một số trường hợp những hành vi
không mong muốn là hậu quả của những yếu tố kích thích. Vì vậy việc cần thiết
phải can thiệp ở đây là loại bỏ yếu tố tác nhân đó chứ không phải là bản thân
hành vi không mong muốn. Ví dụ, hành vi không tới trường của trẻ nhiều khi
xuất phát từ sự quá mong đợi và cưỡng ép con học quá mức của cha mẹ. Như
vậy vấn đề xuất phát điểm cần can thiệp ở đây không phải là hành vi không tới
42
trường của trẻ mà là hành vi thúc ép của cha mẹ.
- Tiến hành can thiệp.
Trong cách tiếp cận hành vi khi tham vấn cần xác định những hành vi
không thích hợp, những biểu hiện rối nhiễu ở các góc độ như tần suất, mức độ,
thời điểm xuất hiện. Trên cơ sở những thông tin về các yếu tố tác nhân và những
đặc điểm cá nhân, nhà tham vấn cần đưa ra lộ trình can thiệp, các kỹ thuật được
sử dụng để can thiệp. Trong kế hoạch can thiệp cần chỉ rõ những công việc cần
được tiến hành trong mỗi buổi tham vấn.
- Sau mỗi can thiệp cần có đánh giá sơ bộ sự thay đổi của hành vi hay
nhóm hành vi, biểu hiện, những tác nhân kích thích cần can thiệp. Trên cơ sở đó
có những can thiệp và điều chỉnh tiếp theo trong quá trình tham vấn. Khi kết
thúc ca tham vấn cần có đánh giá tổng thể. Sự đánh giá này cần được tiến hành
cả với thân chủ để chuẩn bị cho họ một tâm thế khi kết thúc ca tham vấn và
những cố gắng tiếp theo để duy trì hành vi đã thay đổi hay tăng cường hành vi
mong muốn sau khi ca tham vấn chấm dứt. Nhà tham vấn cần ghi chép cẩn thận
những kế hoạch và những diễn biến của quá trình can thiệp cũng như những
thay đổi của thân chủ để lưu lại trong hồ sơ của thân chủ cũng như sử dụng cho
những can thiệp sau đó khi cần thiết.
Các kỹ thuật can thiệp trong cách tiếp cận hành vi
- Phương pháp thư giãn
Thân chủ được thực hành bài tập thư giãn như nhắm mắt, tập trung vào
nhóm cơ bắp nào đó trên cơ thể cảm thấy sự căng thẳng sau đó dần dần thả lỏng.
Cứ như vậy toàn thể cơ bắp trên cơ thể được thả lỏng.
- Giải mẫn cảm có hệ thống
Đây là cách làm cho thân chủ giảm bớt cảm giác tiêu cực (ví dụ sự sợ
hãi) bằng cách giúp họ thích nghi dần với hoàn cảnh gây ra cảm giác đó.
Phương pháp này được thực hiện dựa trên những nguyên tắc của điều kiện hóa
cổ điển và thường được sử dụng để giúp đỡ những thân chủ có cảm giác lo sợ.
Biện pháp này được tiến hành thông qua một loạt hoạt động như xác định mức
độ sợ hãi, bài tập thư giãn, đồng thời lúc này nhà tham vấn hướng dẫn thân chủ
43
tưởng tượng tới yếu tố gây sự sợ hãi từ mức độ thấp nhất tới cao nhất cho tới khi
không còn cảm giác sợ hãi.
- Kỹ thuật củng cố (bao gồm củng cố tích cực và củng cố âm tính)
Củng cố tích cực là đó là đưa ra những củng cố như sự khen thưởng để làm
hình thành hay tăng cường hình vi tích cực. Khi can thiệp theo phương pháp này
nhà tham vấn cần giúp họ làm từng bước một và có những khích lệ kèm theo.
Củng cố âm tính là làm giảm đi những kích thích gây ra hành vi không mong
muốn.
- Làm mẫu
Trước tiên thân chủ quan sát những hành vi, kỹ năng cần học hỏi ví dụ
như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giao tiếp khác trong buổi tham vấn, sau đó họ
thực hiện và thực hành theo mô hình hành vi mẫu đã được quan sát.
- Kỹ thuật quản lý bản thân
Thân chủ được huấn luyện các hành vi mới liên quan tới cách thức đặt mục
tiêu, đưa ra các chiến lược, tự kiểm soát bản thân, xây dựng kế hoạch cho tương
lai…
- Huấn luyện nâng cao khả năng tự tin, quyết đoán
Là kỹ thuật liên quan đến hướng dẫn mọi người vừa bộc lộ những cảm
xúc tích cực vừa bộc lộ những cảm xúc tiêu cực của mình một cách cởi mở
thông qua tập diễn hành vi, huấn luyện các kỹ năng xã hội.Cách tiếp cận hành vi
được ứng dụng khá rộng rãi trong tham vấn những cá nhân có rối loạn ám sợ;
stress, rối nhiễu tâm lý… Người ta hay sử dụng nó trong những vấn đề liên quan
đến điều chỉnh hành vi. Thời gian can thiệp bằng liệu pháp này không dài song
có thể đem lại những kết quả mong muốn. Do vậy nó được ứng dụng khá rộng
rãi.
7.4. Trường phái lý thuyết hệ thống tự nhiên
Tác giả tiêu biểu của trường phái này là Murray Bowen(1913-1990), nhà
tâm lý học trị liệu gia đình người Mỹ. Theo Bowen gia đình là một hệ thống bao
gồm cả gia đình hạt nhân, gia đình mở rộng, cả người đã chết và người còn sống
ở bất cứ nơi nào chứ không nhất thiết quây quần dưới một mái nhà. Con người chỉ
44
thực sự trưởng thành khi trở nên hoàn toàn độc lập, không bị dính chùm vào cảm
xúc gia đình, không lệ thuộc vào sự hỗ trợ hay chấp nhận của gia đình. Người
trưởng thành là người bình tĩnh, tự tin, biết đúng/sai, biết ứng xử phù hợp, không
sợ mất lòng người khác và vì vậy họ dễ thành công trong cuộc sống. Cá nhân bị
dính chùm vào hệ thống tâm lý gia đình, là cá nhân kém thích nghi, lệ thuộc vào
người khác và khó khăn trong cảm nhận hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc cho người
khác.
Murray Bowen đề cập tới khái niệm gia đình lành mạnh, khái niệm ly
thân tâm lý. M.Bowen đánh giá tình trạng lành mạnh của gia đình dựa trên trình
độ tách riêng và khả năng tổ chức cuộc sống hiệu quả của các thành viên. Người
có trình độ tách riêng cao là người có khả năng duy trì sự cân bằng giữa lý trí và
cảm xúc để có được những suy nghĩ và cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề hiệu
quả, để tránh được tình huống để tình cảm lấn át lý trí thì sẽ dẫn đến cả nể, né
tránh, sợ mất lòng người khác, hoặc giải quyết vấn đề chỉ thiên về đúng/sai mà
không quan tâm tới cảm xúc của người khác, làm tổn thương người khác. Khi
lập gia đình, người có trình độ tách riêng cao sẽ giáo dục con cái theo hướng tạo
mọi điều kiện để con cái có thể phát triển khả năng của mình, không ép chúng
vào khuôn mẫu hay hình ảnh do bản thân mình phóng chiếu. Những đứa trẻ
được lớn lên và giáo dục trong những gia đình như vậy có khả năng tự lập, biết
xây dựng mục tiêu riêng cho bản thân tuỳ thuộc vào sở thích và khả năng của
mình, chúng có thể sẽ thành công hay thất bại tuỳ theo mức độ cố gắng của bản
thân, chúng không dựa dẫm vào người khác, không đổ lỗi cho người khác. Theo
Murray Bowen những đứa trẻ này sẽ có nhiều khả năng xây dựng gia đình hạt
nhân hạnh phúc và vẫn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp với gia đình gốc. Ngoài
ra người có trình độ tách riêng cao sẽ có khả năng đối phó hiệu quả với những
tình huống khó khăn như căng thẳng, mâu thuẫn. kinh tế sa sút, sự mất mát…và
nhanh chóng tìm lại sự thăng bằng, ổn định cuộc sống và phát triển.
Ly thân tâm lý: là cách người ta sử dụng để giảm căng thẳng với gia đình.
Khi cá nhân nảy sinh mâu thuẫn với gia đình, người ta chọn cách dọn ra ở riêng,
45
hoặc ở chung nhưng né tránh, im lặng, hoặc không đả động tới những vấn để
nhạy cảm, hạn chế giao tiếp.
Ly thân tâm lý là một cơ chế tự vệ, nó giúp cá nhân né tránh được những
nỗi đau, những xung đột gay gắt, những hành động thiếu kiểm soát, nhưng
không giúp giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn nảy sinh, đặc biệt đối với những
người có trình độ tách riêng thấp, khi phải ly thân tâm lý vì một lý do nào đó, họ
thường trốn chạy khỏi gia đình và không bao giờ muốn gặp lại người thân của
mình nữa và điều đó làm cho họ day dứt, ảnh hưởng tới tâm lý lâu dài.
Tham vấn theo cách tiếp cận hệ thống tự nhiên quan tâm tới mối quan hệ
giữa các cá nhân trong hệ thống, khi xem xét vấn đề của cá nhân nên đặt trong
hệ thống để xem vấn đề đó thuộc hệ thống nào, đó là vấn đề gì ( vấn đề thuộc
khía cạnh nhận thức, hay hành vi…) vấn đề đó có liên quan tới những hệ thống
nào, hệ thống nào giữ vai trò quan trọng và có sự ảnh hưởng tới các hệ thống
khác, ngoài ra khi trong hệ thống nảy sinh mâu thuẫn thì cá nhân cần có kiến
thức và kỹ năng đương đầu với tình huống, né tránh không phải là biện pháp giải
quyết mâu thuẫn hiệu quả.
7.5. Trường phái cấu trúc
Savadore Minuchin sinh năm 1921, là nhà tâm lý học trị liệu gia đình nổi
tiếng người Mỹ gốc Acgentina. S. Minuchin quan niệm gia đình như một cơ cấu
tổ chức, trong đó các thành viên được sắp xếp vào những thang bậc có trật tự,
mỗi người đảm nhận những chức năng và vai trò cụ thể. Trong cơ cấu gia đình
có những đường ranh giới phân chia giữa những người hoặc nhóm người có vai
trò khác nhau.
Gia đình là một hệ thống thống nhất, bao gồm các tiểu hệ thống hoạt động
tương đối độc lập nhưng lại có mối quan hệ gắn kết với nhau.
Theo S. Minuchin có hai loại gia đình không hạnh phúc, đó là gia đình
vướng mắc và gia đình lạnh nhạt. Khái niệm gia đình vướng mắc của Minuchin
có ý nghĩa tương tự như khái niệm dính chùm của M.Bowen. Gia đình vướng
mắc là gia đình có các thành viên quấn quýt chằng chịt vào nhau về phương diện
46
tâm lý, không có biên giới phân biệt người này với người kia, làm cho mọi cá
nhân không thể phát triển tối đa tiềm năng của mình.
Gia đình lạnh nhạt là gia đình mà các thành viên không có sự quan tâm tới
nhau, mạnh ai nấy sống, các cá nhân cảm thấy cô đơn ngay chính trong ngôi nhà
của mình.
Tiểu hệ thống: gia đình là một hệ thống, thường bao gồm ba tiểu hệ
thống, đó là tiểu hệ thống vợ- chồng, tiểu hệ thống cha mẹ- con cái và tiểu hệ
thống anh chị em. Trong đó tiểu hệ thống vợ - chồng là quan trọng nhất.
Tiểu hệ thống vợ- chồng cần phải có khả năng bảo vệ bản thân nó như là
một thể thống nhất, có ranh giới rõ ràng, đảm bảo nhu cầu của vợ, chồng được
thoả mãn, bao hàm cả các mối quan hệ ràng buộc như họ hàng nội, ngoại, con
chung, con riêng…các quyền lợi và trách nhiệm mà vợ, chồng phải thực hiện.
Tiểu hệ thống cha mẹ- con cái : Cần làm rõ chức năng, vai trò của cha mẹ
và của con cái, ranh giới của mối quan hệ ấy, sự tương tác giữa cha mẹ và con
cái như thế nào để đảm bảo nhu cầu của các thành viên đều được thực hiện.
Tiểu hệ thống anh chị em trong gia đình: Họ tương tác với nhau như thế
nào trong mối quan hệ thức bậc, tiểu hệ thống này là là lớp học để trẻ em học
cách giao tiếp và ứng xử với mọi người trong gia đình và với mọi người xung
quanh.
Theo trường phái cấu trúc, để giải quyết sự suy giảm chức năng của gia
đình thì cần có sự cấu trúc lại những mối quan hệ trong các tiểu hệ thống, thể
hiện ở sự phân bổ lại quyền lực, biên giới và sự liên kết giữa các thành viên
Theo S. Minuchin mỗi gia đình cần có khả năng tổ chức gia đình theo hệ
thống thứ bậc với quyền lực hợp lý, cùng với ranh giới rõ ràng và có sự liên kết
chặt chẽ giữa các thành viên. Trong đó, quyền lực là chỉ sự ảnh hưởng của người
này tới người khác, thế hiện vai trò quyết định, ví dụ: trong gia đình bố là người
quyết định những việc quan trọng, việc nội trợ và giặt quần áo là việc của những
người phụ nữ...
Sự liên kết chỉ mối quan hệ qua lại, sự liên minh giữa các thành viên với
nhau. Ranh giới là sự phân tách vai trò của các cá nhân trong gia đình, cũng như
47
với các người ngoài gia đình, ví dụ: Không được tự do xem điện thoại của người
khác khi chưa có sự đồng ý, con cái muốn mua sắm cái gì thì phải hỏi ý kiến bố
mẹ...S. Minuchin phân biệt ba loại ranh giới, đó là ranh giới rõ rệt, ranh giới mơ
hồ và ranh giới cứng nhắc.
Ranh giới rõ rệt: là ranh giới nghiêm nhưng uyển chuyển, mọi người
được tôn trọng và tự do phát triển trong khuôn khổ lợi ích chung cho cả gia
đình. Ranh giới rõ rệt khuyến khích mọi người giao tiếp cởi mở và chân thành
trên tinh thần hợp tác và xây dựng. Ranh giới rõ rệt thường tồn tại trong gia đình
lành mạnh, biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, biết lắng nghe và tạo điều kiện
để mọi cá nhân trình bày quan điểm, không áp đặt, mọi người sống có trách
nhiệm và tôn trọng tự do cá nhân trong khuôn khổ lễ giáo gia đình.
Ranh giới mơ hồ: gia đình có ranh giới mơ hồ thì các thành viên quấn
chằng vào nhau, không còn cái gì là riêng tư, ví dụ: Việc của bố cũng là việc của
mẹ, quan tâm của mẹ cũng là quan tâm của con, hạnh phúc của con cũng là hạnh
phúc của mẹ…Tiểu hệ thống cha mẹ thì dành hết thời gian, năng lực cho tiểu hệ
thống con cái, con cái cái gì cũng trao đổi với cha mẹ và trông chờ ý kiến của
cha mẹ, hoặc cá nhân sẵn sang hy sinh hạnh phúc, niềm vui của mình vì người
khác, sự liên kết của các thành viên dính vào nhau, lân sát lẫn nhau, cá nhân
không có sự độc lập, gặp khó khăn trong phát triển tiềm năng của mình.
Ranh giới cứng nhắc: ranh giới cứng nhắc cô lập các thành viên và hệ
thống nhỏ, các thành viên sống biệt lập như một ốc đảo, họ không có sự liên kết
nào với nhau, không quan tâm, không chia sẽ, không giúp đỡ, mỗi người theo
đuổi mục tiêu riêng biệt, chỉ khi nào cần thiết lắm họ mới ra khỏi biên giới và
quan hệ với nhau.
Tham vấn theo cách tiếp cận của trường phái cấu trúc là tập trung can
thiệp thay đổi cấu trúc gia đình và cách thức tương tác giữa các thành viên, một
mặt giúp gia đình huy động được sự tham gia của các thành viên, sự hợp tác
tương trợ lẫn nhau, mặt khác vẫn tôn trọng quyền tự do phát triển cá nhân trong
khuôn khổ gia đình. Khi phân tích vấn đề của gia đình S. Minuchin cho rằng cần
xem xét các khía cạnh cụ thể sau đây:
48
- Tính linh hoạt, mềm dẻo của ranh giới và khả năng cấu trúc lại của các
tiểu hệ thống.
- Sự liên kết của các thành viên, sự hợp tác tham gia, ai là người ủng hộ,
ai là người chống đối.
- Bối cảnh sống của gia đình, các nguồn lực trợ giúp.
- Quyền lực tập trung vào ai, phải phân bổ lại quyền lực như thế nào,
quan tâm tới ý kiến của tất cả mọi người, chú ý tới lợi ích của trẻ nhỏ và người
cao tuổi.
7.6.Cách tiếp cận theo mô hình giao tiếp
Virginia Satir (1916- 1988) là nhà tâm lý học trị liệu người Mỹ, ông cho
rằng nhiều vấn đề rắc rối nảy sinh trong gia đình bắt nguồn từ cách con người
giao tiếp với nhau không hiệu quả.
Theo V. Satir , con người không bao giờ sống đơn độc mà luôn sống trong
gia đình, suy nghĩ và cách ứng xử của mỗi người đều ảnh hưởng tới người khác
và ngược lại. Trong gia đình mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân không diễn
ra theo đường thẳng đơn giản ( cái nọ là nguyên nhân của cái kia), mà như một
vòng tròn tương tác: A gây ra B và B cũng tác động ngược trở lại A và có thể
liên quan tới C… Như vậy khi một thành viên có vấn đề, thì vấn đề của cá nhân
đó có thể ảnh hưởng tới nhiều cá nhân khác và ảnh hưởng tới toàn bộ gia đình,
ví dụ: Vì việc học tập của con mà bố mẹ cãi nhau, gây căng thẳng cho những
người khác.
V. Satir cho rằng, gia đình có thể giải quyết vấn đề để lấy lại sự thăng
bằng một cách thầm kín, họ quan sát và ngấm ngầm tự điều chỉnh, song thông
thường vấn đề sẽ được giải quyết hiệu quả hơn nếu thông qua giao tiếp trực tiếp.
Mục đích của sự trao đổi này là giúp mọi người lắng nghe nhau, tôn trọng lẫn
nhau, học cách quan tâm tới nhu cầu, mong muốn của nhau, không chỉ trích hay
phán xét ý kiến của người khác, mọi người học cách giao tiếp tích cực, vui vẻ,
trẻ con không bị sợ hãi, lo lắng hoặc che dấu khuyết điểm.
Vấn đề của gia đình không được giải quyết vì giao tiếp giữa các thành
viên không hiệu quả, V. Satir đưa ra 6 lý do sau đây:
49
- Không muốn làm đau lòng người khác
- Sợ bị trả đũa
- Người ta thấy kém tự tin, cảm thấy xấu hổ về cảm xúc hay suy nghĩ của
mình
- Không muốn mối quan hệ trở nên xấu them
- Không muốn áp đặt suy nghĩ và cảm xúc của mình lên người khác
- Coi khinh người khác, không thèm đối thoại
Trong cuộc sống thường có 5 kiểu khuôn mẫu giao tiếp sau đây:
- Người xoa dịu: Là người luôn nói “được”, luôn xin lỗi mặc dù chẳng có
lỗi gì, không bao giờ đòi hỏi cho bản than, tuỳ mọi người còn mình sao cũng
được, kiểu người này có cách giao tiếp là luôn chối bỏ mình và lúc nào cũng
đồng ý với người khác
- Người đổ lỗi: Là người luôn tìm lý do đổ lỗi cho người khác, không
nhận trách nhiệm, hay dùng những từ cường điệu hoá như “luôn luôn” hoặc
“không bao giờ”, ví dụ: “Cô thì có bao giờ biết quan tâm đến ai cơ chứ”, “
Trong cái nhà này chẳng ai coi tôi ra gì cả”.
- Người máy: Lúc nào cũng đúng, lúc nào cũng có lý, hành vi cứng nhắc,
giọng nói đều đều, vô cảm.
- Người lảng tránh: là người không để tâm vào câu chuyện, hỏi không trả
lời hoặc trả lời không đúng câu hỏi, hoặc nói lạc đề, điệu bộ cử chỉ không phù
hợp với nội dung câu chuyện.
- Người thẳng thắn: Diễn tả chân thật cảm xúc và suy nghĩ của mình,
thành thật xin lỗi nếu thật tình mình có lỗi, nói thẳng vào vấn đề chứ không buộc
tội hay hạ thấp uy tín của người khác, tôn trọng và biết lắng nghe người khác.
V. Satir cũng đề cập tới một số lỗi thường gặp trong giao tiếp:
- Khái quát hoá: Nhận định về một người, khái quát thành cả nhóm người
cả dân tộc, cả nhân loại, từ một sự kiện khái quát thành nhiều sự kiện thành
chuyện về cuộc đời, ví dụ “Cả đời tôi toàn gặp chuyện xui xẻo”’, “ Trên đời này
chẳng ai cho không ai bao giờ”.
50
- Suy bụng ta ra bụng người: Nghĩ rằng mọi người đều hiểu và suy nghĩ,
có cảm xúc giống như mình.
- Chủ quan cho mình là đúng, là đã biết đủ, biết hết, nhận định của mình
là chân lý, chính vì vậy họ không bao giờ lắng nghe người khác, không bao giờ
muốn tìm hiểu thêm.
- Nhận định vấn đề trong trạng thái tĩnh, chứ không trong trạng thái vận
động, trong khi mọi vấn đề trên thực tế đều luôn biến động trong không gian và
thời gian.
- Suy luận theo kiểu cứng nhắc, lúc nào cũng đúng/ sai, có/ không, thực tế
không phải lúc nào đúng/ sai cũng rõ ràng, suy luận theo kiểu quá tả, hoặc quá
hữu, hoặc quá định kiến hoặc quá bao biện cho người khác.
- Nghĩ rằng người khác hiểu mình và cũng làm theo mình.
- Cho rằng mình hiểu người khác và tự cho quyền mình nói thay cho người
khác.
Những lỗi trên đây thường đẩy giao tiếp vào chỗ bế tắc, ngăn cản sự
phản hồi tích cực để làm rõ thông tin, để hiểu về người khác, và dồn giao tiếp
vào thế thắng/ thua.
Trong gia đình, để mọi thành viên hiểu nhau và chung sống với nhau vui
vẻ hạnh phúc, thì phải biết cách giao tiếp hiệu quả. Giao tiếp có hiệu quả là đưa
ra thông tin cụ thể, rõ ràng mạnh lạc. Giao tiếp không hiệu quả là có khuynh
hướng khái quát hoá, đưa thông tin sai lệch, nói trống không, truyền đạt không
rõ ràng, khiến người nghe hiểu nhầm, hiểu sai, không quan tâm tới ý kiến phản
hồi, hoặc lấn át người, dồn người khác vào tình huống “tiến thoái lưỡng nam”.
Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý và là công cụ thiết lập mối quan hệ giữa
con người và con người. qua đó để người ta trao đổi thông tin với nhau, hiểu biết
lẫn nhau và tác động qua lại lẫn nhau. Phương tiện giao tiếp rất đa dạng, nó bao
gồm cả ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, hành động, nét
mặt, nụ cười, sự im lặng… Giao tiếp là công cụ quan trong trong tham vấn nói
chung và tham vấn gia đình.
51
Tham vấn theo cách tiếp cận của trường phái giao tiếp là giúp cá nhân
nhận thức được nguyên nhân của các vấn đề nảy sinh trong gia đình là do các cá
nhân giao tiếp không hiệu quả, giúp họ nhận ra lỗi giao tiếp và hướng dẫn cách
giao tiếp hiệu quả, dành thời gian cho thân chủ luyện tập để hình thành thói quen
giao tiếp tích cực
7.7. Cách tiếp cận theo mô hình tập trung vào giải pháp
De Shazer (1940- 2005) là nhà tâm lý học trị liệu người Áo kết hôn với
Insoo Kim Berg(1934- 2007) nhà tâm lý học trị liệu người Hàn Quốc. Đây là hai
tác giả tiêu biểu của trường phái tập trung vào giải pháp
Họ coi vấn đề của thân chủ không phải là do khiếm khuyết( về cấu trúc
hay tâm lý) của cá nhân hay gia đình, mà là sự phức tạp hoá mọi chuyện bình
thường của cuộc sống.
Họ cho rằng không có gia đình nào là không có vấn đề cả, gia đình này
giàu có thì con cái lại hư hỏng, gia đình có con ngoan, vợ hiền thì lại nghèo khó,
có gia đình thì con người khuyết tật...Trường phái giải pháp tập trung vào điều
gia đình mong muốn thay đổi, muốn cải thiện, họ không chú ý tới nguyên nhân,
cũng như vấn đề là gì. Trường phái cấu trúc quan tâm nhiều hơn tới thời kỳ mà
gia đình không có vấn đề nào xảy ra, chú ý tới các yếu tố tạo ra tình trạng không
có vấn đề. VD: Suy nghĩ về thời điểm gia đình hạnh phúc nhất, khi đó họ thấy
thế nào?, mọi người trong gia đình làm gì? Hỏi họ có thể làm lại những điều đó
không?...
Một số kỹ thuật được áp dụng:
- Kỹ thuật nói “chiếc cốc đầy một nửa”, thay vì nói chiếc cốc chưa đầy,
chiếc cốc vơi, nói “chiếc cốc đầy một nửa” cho ta cách nhìn tích cực hơn,
khuyến khích thân chủ suy nghĩ về giải pháp làm thế nào để chiếc cốc đầy tiếp
nửa còn lại.
- Kỹ thuật đặt câu hỏi kỳ diệu: Nói thân chủ tưởng tượng khi tỉnh đậy, vấn
đề của gia đình được giải quyết, hỏi họ cảm thấy như thế nào? Và hỏi thân chủ
điều gì (đây được coi là điều kỳ diệu) đã xảy ra để giúp cho vấn đề được giải
quyết.
52
- Câu hỏi hướng vào giải pháp( những gì họ muốn làm…) Ví dụ: Điều gì
anh chị cần phải làm để cho không khí gia đình vui vẻ? Hãy nói cho tôi biết điều
gì có thể giúp anh(chị)giảm bớt lo lắng?
7.8. Cách tiếp cận theo mô hình học tập xã hội
Đại diện cho trường phái này là Liberman Alexander (1912- 1999), là
người Mỹ gốc Nga, ông cho rằng con người học cách ứng xử thông qua quan sát
người khác xảy ra trong môi trường giao tiếp hàng ngày( giao tiếp giữa ông bà,
cha mẹ, anh chị em, bạn bè, dồng nghiệp…). Những điều mà họ quan sát được
họ có thể lặp lại ngay hoặc có thể cất giữ và thể hiện sau này. Lý thuyết này cho
rằng, những điều mà người khác làm xung quanh ta là những điều tốt và họ có
xu hướng muốn làm lại điều đó, và với động cơ làm giống người khác sẽ được
nhận lời khen và sự ủng hộ. Theo quan điểm của cách tiếp cận này, cách suy
nghĩ và hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường xunh quanh,
đặc biệt là trẻ em. Thông qua việc quan sát hành vi ứng xử của ông bà, cha mẹ,
anh chị em trẻ tập nhiễm cách ứng sử và trải nghiệm tình cảm, nhất là khi được
người lớn tán thưởng. Như vậy tham vấn theo hướng tiếp cận học tập xã hội là
hướng vào cải thiện môi trường xã hội, nhàm giúp cho các thành viên học được
những hành vi tích cực, đồng thời chú ý tới hành vi phản hồi chủa người khác,
nếu người khác khen ngợi, mọi người sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó để tiếp
tục nhận được lời khen, và việc lặp đi lặp lại như vậy nhiều lần sẽ giúp hình
thành thói quen tốt.
Khi can thiệp, nhà tham vấn cần chú ý:trong thực tiễn cuộc sống, gia đình
nào cũng có vấn đề riêng của mình, điều quan trọng là gia đình chấp nhận và tìm
cách đương đầu với vấn đề gặp phải. Thói quen của nhiều người là khi gia đình
có vấn đề xảy ra, mọi người cố gắng tìm kiếm các nguyên nhân để đổ lỗi cho
nhau, như vậy càng làm cho gia đình trở nên căng thẳng hơn mà vấn đề của gia
đình thì vẫn không giải quyết được. Trong tình huống đó, nhà tham vấn cần giúp
gia đình chỉ ra những hành vi, cách ứng xử không hợp lý, đồng thời giúp họ điều
chỉnh theo hướng tích cực hơn. Khuyến khích người lớn thay đổi trước, hoặc
53
những người tiên phong gương mẫu làm trước và những người khác bắt chước
thực hiện theo.
Trong hoàn cảnh có vấn đề, các thành viên trong gia đình thường rơi vào
trạng thái thiếu minh mẫn, sáng suốt, nhàn tham vấn có thể làm mẫu, để các
thành viên khác quan sát và học cách làm theo. Mỗi gia đình đều có nét văn hoá
truyền thống riêng, vì vậy khi thay đổi các yếu tố đó cần có quá trình thích ứng,
làm quen dần, nhà tham vấn cần dành thời gian cho sự thay đổi. Tập trung vào
sức mạnh và tiềm năng của gia đình
Câu hỏi ôn tập bài 1:
1. Anh/ chị định nghĩa như thế nào là trẻ tự kỷ ?
2. Anh/chị hãy trình bày những biểu hiện của trẻ mặc hội chứng tự kỷ, lấy
ví dụ minh họa ?
3. Anh/chị hãy trình bày những rào cản đối với gia đình trẻ tự kỷ ?
4. Tại sao chúng ta cần có hiểu biết về các học thuyết để làm việc với gia
đình và trẻ bị tự kỷ ?
5. Trình bày các hình thức tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ ?
6. Khi tham vấn hỗ trợ gia đình trẻ tự kỷ, nhân viên CTXH cần đảm bảo
những nguyên tắc nào ?
Tài liệu tham khảo
1. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình Tham vấn tâm lý, NXB Đại học quốc
gia Hà Nội, 2011.
2. Tài liệu tập huấn kỹ năng cơ bản trong tham vấn, Unicef, 2005.
3. Phạm Toàn – Lâm Hiếu Minh, Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ, NXB Trẻ,
2014.
4. Jean -Noel Christine (Thân Thị Mận dịch), Hiểu tự kỷ, NXB Tri thức,
2016.
5. Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm, NXB Y học,
2007.
54
6. Nguyễn Thị Hoàng Yến, Tự kỷ những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB
Đại học Sư Phạm, 2015.
7. Trần Lệ Thu, Đại cương can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật trí tuệ, NXB
Đại học quốc gia Hà Nội, 2009.
55
BÀI 2
THAM VẤN HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này người học cần năm được:
- Kiến thức: Hiểu được khái niệm tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự
kỷ, hiểu được mục đích, ý nghĩa và nắm được các bước của quy trình tham
vấn và nội dung tham vấn hỗ trợ cho gia đình có trẻ tự kỷ.
- Kỹ năng: Biết vận dụng các kỹ năng chung và kỹ năng chuyên biệt trong
tham vấn, hỗ trợ gia đình có trẻ tự kỷ.
- Thái độ: Có thái độ thân thiện, tôn trọng, không kỳ thị; Yêu nghề, tận tâm
hỗ trợ thân chủ; tích cực, chủ động tìm kiếm và áp dụng kiến thức, kỹ năng
vào thực tiến.
2.1. Khái niệm tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ
2.1.1. Một số khái niệm
Con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề trong cuộc sống, có lúc họ
có khả năng và sự minh mẫn để tự mình giải quyết các vấn đề đó nhưng đôi khi
họ lại thấy rất khó khăn và bế tắc trong việc tìm ra phương hướng giải quyết phù
hợp và lúc này đây họ cần đến sự trợ giúp từ bên ngoài, từ những người có kiến
thức, kinh nghiệm chuyên sâu về tâm lý. Tham vấn đã trở thành hoạt động trợ
giúp đáp ứng các nhu cầu của cá nhân, nhóm, gia đình trong xã hội giúp những
người đang bế tắc đó cảm thấy thoải mái, sáng suốt và hạnh phúc hơn theo cách
này hay cách khác. Tuy nhiên cần làm rõ một số các khái niệm liên quan:
Trợ giúp tâm lý: là một khái niệm chung nhất. Được dùng trong các mối
quan hệ đời thường, theo cách giúp nhau. Khái niệm này được sử dụng khá
nhiều trong công tác xã hội, thực hành tâm lý học...Những hiện tượng con người
liên kết với nhau, hỗ trợ nhau không chỉ đơn thuần là sự giúp đỡ về vật chất mà
còn chứa đựng sự cảm thông, sự chia sẻ về tinh thần. Chính vì vật trợ giúp tâm
lý có thể hiểu một cách đơn giản là một hoạt động (một công việc) giúp đỡ
56
người đang có khó khăn tâm lý để họ thực hiện điều mong muốn trong cuộc
sống. Khái niệm này bao hàm những công việc giúp đỡ không chuyên – tất cả
mọi người và công việc giúp đỡ của những người chuyên nghiệp, công việc của
các nhà tâm lý học, nhân viên xã hội, bác sĩ, nhà giáo...
Tư vấn: ở Việt Nam việc cung cấp thông tin, cho lời khuyên, trợ giúp
những khó khăn tâm lý, bảo ban hay chỉ dẫn cho một cá nhân hoặc một tổ chức,
khi họ có nhu cầu thường gọi là tư vấn. Hoạt động tư vấn như vậy phần nhiều
diễn ra dưới dạng hỏi và đáp. Nếu theo như định nghĩa này của Tư vấn, thì
Tư vấn sẽ không phải là Tham vấn và nó chỉ đúng với các loại hình tư vấn
pháp luật, tư vấn đầu tư, tư vấn kinh tế…
Trong cuốn Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng (2008) thì tư vấn được
hiểu là: “1, Một cuộc bàn thảo của các chuyên gia về một vấn đề nào đó; 2, lời
khuyên của một chuyên gia; 3, sự phán quyết khẳng định của chuyên gia với tư
cách một lời khuyên giúp cho chủ thể giải quyết một vấn đề nào đó; 4, sự giúp
đỡ them của giáo viên đối với học viên trong học tập”1
Tư vấn tâm lý: cũng trong cuốn từ điển tâm lý học, tác giả Vũ Dũng đưa
ra một thuật ngữ sâu hơn gần hơn với thuật ngữ tham vấn là tư vấn tâm lý. Ông
cho rằng: tư vấn tâm lý là hình thức trợ giúp tâm lý thực tế ở dạng các lời
khuyên, các chỉ dẫn của nhà tâm lý. Các chỉ dẫn tâm lý này được đưa ra trên cơ
sở nhà tâm lý nghiên cứu “sơ bộ” những vấn đề tâm lý của người bệnh, nghiên
cứu trực tiếp tâm lý người bệnh và các mối quan hệ của người bệnh với người
khác, với môi trường xung quanh2
2.1.2. Khái niệm tham vấn tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ
Carl Rogers (1952) mô tả tham vấn như là quá trình tham vấn viên sử
dụng mối quan hệ tích cực để tạo nên môi trường an toàn giúp người được tham
vấn (chia sẻ, chấp nhận và hướng tới thay đổi). Hoạt động tham vấn không chỉ
dừng lại ở việc giúp thân chủ có lối thoát mà còn hướng tới mục tiêu nâng cao
1 Vũ Dũng, Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách Khoa, 2008 2 Vũ Dũng, Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách Khoa, 2008
khả năng tự nhận thức và tự giải quyết vấn đề.
57
Tác giả C. Patterson (1954) cho rằng, tham vấn là sự tương tác giữa một bên là
người tham vấn với một hoặc một số thân chủ, ở đây người tham vấn sử dụng
kiến thức hiểu biết về nhân cách, phương pháp tâm lý để giúp người kia giải
quyết vấn đề và cải thiện sức khỏe tâm thần.
Một khái niệm khác về tham vấn được cũng được đưa ra trong cuốn Tham
vấn điều trị nghiện ma túy của Bùi Thị Xuân Mai cho rằng tham vấn có thể hiểu
là hoạt động mà nhà tham vấn sử dụng các kiến thức, kỹ năng và thái độ chuyên
môn giúp thân chủ nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề, tự đưa ra quyết định
đúng đắn cho vấn đề của mình và thực hiện có hiệu quả.3
Trong cuốn Tham vấn tâm lý, tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng: Tham vấn
tâm lý là một hoạt động trợ giúp mang tính chuyên nghiệp, trong đó đòi hỏi nhà
tham vấn có kiến thức sâu về tâm lý và hành vi con người nhằm giải quyết
những vấn đề của cuộc sống xã hội được coi là nguyên nhân nảy sinh những rối
loạn tâm lý cần được giúp đỡ của các cá nhân4
Từ những cách hiểu về tham vấn như trên trong tài liệu này chúng tôi đề
cập đến khái niệm tham vấn tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ như sau: tham vấn
tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn
dựa trên nguyên tắc nghề nghiệp và kỹ năng chuyên môn với thân chủ là những
người trong gia đình có trẻ bị tự kỷ, giúp họ hiểu về những khó khăn tâm lý
trong việc đương đầu, chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ, từ đó nâng cao năng lực
giải quyết vấn đề của gia đình trẻ tự kỷ.
Bản chất của tham vấm tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ là phương pháp
trợ giúp những người trong gia đình trẻ có năng lực nhận thức và tự giải quyết
vấn đề chứ không phải là đưa ra lời khuyên. Sự trợ giúp ở đây chúng ta hiểu là
việc giúp họ hiểu được chính họ, hiểu rõ về hoàn cảnh, năng lực của bản thân.
Với ý nghĩa này thì tham vấn tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷnhằm giúp thân
chủ giải quyết rất nhiều vấn đề họ gặp phải trong quá giáo dục, chăm sóc trẻ tự
3 Bùi Thị Xuân Mai, Tham vấn điều trị nghiên ma túy, NXB Lao động Xã hội, 2013 4 Trần Thị Minh Đức, Tham vấn tâm lý, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2016
kỷ.
58
Tham vấn giúp thân chủ ứng phó với sự kỳ thị của những người xung
quanh, tháo bỏ sự mặc cảm tự kỳ thị và sống một cách tích cực.
Đối tượng tác động chính trong tham vấn cho gia đình có trẻ tự kỷ là các
thành viên trong gia đình. Các đối tương này có thể là một người hoặc nhiều
người thân trong gia đình, vợ chồng, bố mẹ, anh, chị, em… Họ là đối tượng rất
quan trọng trong tham vấn tâm lý gia đình. Có nhiều hình tham vấn cho gia đình
trẻ tự kỷthông qua các buổi tham vấn cá nhân, họp mặt các thành viên trong gia
đình và có thể là buổi giáo dục gia đình tại cơ sở tham vấn cũng đóng một vai
trò rất quan trọng trong quá trình tham vấn điều trị nghiện.
Tham vấn cho gia đình có trẻ tự kỷ là hoạt động diễn ra lâu dài đòi hỏi
tính bền bỉ và kiên nhẫn. Nó không thể là một buổi hay hai buổi gặp mặt mà nó
có thể là hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm.
2.2. Mục đích, ý nghĩa của tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ
Tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ hướng tới việc: Củng cố
sức khỏe, tinh thần giúp các thành viên trong gia đình trẻ cảm thấy thoải mãi dễ
chịu hơn, giúp các thành viên trong gia đình vượt qua những vấn đề tâm lý cụ
thể; giúp các thành viên thay đổi hành vi, xu hướng, niềm tin và phát triển kỹ
năng ứng phó, giải quyết vấn đề nhằm tạo khả năng thích ứng tốt nhất trong môi
trường hiện nay. Bên cạnh đó tham vấn hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ tự kỷ cũng
hướng tới việc tăng cường hiểu biết cho các thành viên gia đình hoạt động hỗ trợ
hòa nhập, phát triển và hỗ trợ thiết lập một mạng lưới giữa các nhóm cha mẹ của
người tự kỷ, giới thiệu và chia sẻ với nhóm cha mẹ người tự kỷ.
2.3. Quy trình tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ
Bước 1: Tiếp xúc ban đầu- tạo lập mối quan hệ
Buổi tiếp xúc đầu tiên là buổi làm việc có ý nghĩa quan trọng đối với nhà
tham vấn cũng như đối với gia đình trẻ tự kỷ có nhu cầu tham vấn. Với thái độ
sẵn sàng, cởi mở, thân thiện của nhà tham vấn sẽ giúp cha mẹ trẻ có thiện cảm
và quyết định có cần đến sự trợ giúp của nhà tham vấn hay không. Chính vì vậy,
trong buổi gặp gỡ đầu tiên, nhà tham vấn cần:
59
-
Giới thiệu mình với cha mẹ trẻ tự kỷ (tên, vai trò vị trí chuyên môn) để tạo
-
sự tin tưởng.
-
Nói rõ hơn về công việc tham vấn: Nhiệm vụ của nhà tham vấn
Nói về các quy định trong tham vấn và các nguyên tắc tham vấn, đặc biệt là
-
nguyên tắc bảo mật thông tin.
Trong quá trình tham vấn, nếu là tham vấn gia đình thì nhà tham vấn cần:
o Điều phối sự tham gia của các thành viên tham dự chứ không nên
dừng ở một thành viên nào vì mục tiêu của tham vấn là tạo ra sự thay
đổi ở mỗi cá nhân trong gia đình. Muốn làm được điều này, nhà tham
vấn cần có sự thống nhất về cách làm việc trước khi tiến hành tham
vấn. Các thành viên tham gia quá trình tham vấn này cần có sự cam
kết nhất định vì mục đích chung.
Khích lệ mọi người chia sẻ suy nghĩ quan điểm liên quan đến những o
vấn đề hiện tại
o Nhấn mạnh đây là vấn đề của gia đình chứ không phải là vấn đề của
một cá nhân nào
o Tìm hiểu ưu thế của gia đình, ưu thế của từng cá nhân
o Chỉ ra những hành vi tiêu cực trong gia đình và nên có những thay đổi
để có mối quan hệ tốt hơn.
Một nhà tham vấn trong lần gặp cha mẹ trẻ tự kỷ có thể mở đầu cuộc gặp
gỡ với câu tương tự như sau:
Tôi là ...là nhân viên CTXH ở.....Trong thời gian tới, tôi sẽ tham
vấn cho anh/ chị. Nghĩa là tôi sẽ lắng nghe khi anh/ chị kể về
những lo lắng, boăn khoăn của mình. Chúng ta có thể cùng nhau
thảo luận tìm hiểu xem làm thế nào để anh/ chị có thể giải quyết tốt
hơn vấn đề của mình. Anh/ chị có thể đặt ra những mục tiêu cho
bản thân để giải quyết vấn đề của mình và chúng ta sẽ có thể làm
việc để giúp anh/ chị đạt được mục tiêu này. Bất cứ lúc nào anh/
chị cảm thấy không thoải mái hoặc thấy tham vấn không giúp gì
được anh/ chị, anh chị có thể lựa chọn tiếp tục hoặc dừng lại. Khi
60
chúng ta làm việc với nhau, anh/ chị có thể chia sẻ những thông tin
cá nhân với tôi. Mọi thông tin mà anh chị chia sẻ trong quá trình
tham vấn sẽ được giữ kín, tôi sẽ không nói điều này với bất kỳ ai.
Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, tôi nhận thấy có sự
nguy hiểm nào đó đến sự an toàn cá nhân của anh/ chị hoặc con
anh chị thì trách nhiệm nghề nghiệp của tôi là phải ngăn chặn điều
nguy hiểm đó xảy ra, điều đó có nghĩa là tôi phải thông báo điều
này với cấp trên hoặc những người có trách nhệm. Sau vài cuộc
gặp gỡ nêu chúng ta cảm thấy vấn đề của gia đình anh/ chị đã có
những tiến triển so với mục tiêu đặt ra thì chúng ta sẽ dừng lại. Hy
vọng rằng, qua thời gian tình thần, vấn đề của anh/ chị và gia đình
sẽ tốt lên và anh chị sẽ thấy có những thay đổi tích cự trong đời
sống của mình. Anh/ chị có thắc mắc gì không?
-
Nhà tham vấn chú ý:
Thiết lập một bầu không khí thân thiện, tạo cho cha mẹ trẻ tự kỷ cảm thấy
- Cởi mở, lắng nghe và sẵn sàng giúp đỡ cha mẹ trẻ tự kỷ
- Giữ bình tĩnh, kiên trì trong trường hợp thân chủ trong buổi đầu tiếp xúc đã
an toàn và thoải mái.
tỏ ra ngổ ngáo, không hợp tác (VD:cha mẹ trẻ tự kỷ bị chồng, vợ hay ông bà
-
nội ngoại bắt buộc phải đến gặp nhà tham vấn)
Theo dõi cha mẹ trẻ tự kỷ qua hành vi, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ,.. Nhà tham
vấn chủ yếu lắng nghe, không phán xét những ý kiến, sự trải nghiệm của
các thành viên rồi truyền đạt những hiểu biết của mình tới các thành viên
khác trong gia đình.
Bước 2: Thu thập thông tin và xác định vấn đề cốt lõi
Mục đích của giai đoạn này là:
-
Xác định bản chất nhu cầu của gia đình trẻ thông qua nói chuyện và quan
sát
-
Xác định mặt mạnh, mặt hạn chế ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn
đề.
61
Chính vì thế các câu hỏi mà nhà tham vấn đặt ra trong giai đoạn này tập
trung vào việc xác định thực chất vấn đề là gì, nguyên nhân nằm ở đâu, xảy ra
như thế nào?
Nhà tham vấn và cha mẹ trẻ tự kỷ cùng khám phá vấn đề của họ: vấn đề
xuất hiện như thế nào? Khi nào ? Ở đâu? Vấn đề tồn tại bao lâu? Ai liên quan
đến vấn đề? Liên quan như thế nào? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề? Vấn đề
đã giải quyết như thế nào? Vấn đề trước mắt muốn giải quyết là gì? Cha mẹ trẻ
tự kỷ cảm thấy như thế nào ?
Ngoài ra trong giai đoạn này, nhà tham vấn còn phải tìm hiểu thông tin về
các nguồn tiềm năng của thân chủ và xã hội trong việc giải quyết vấn đề của
thân chủ để phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch giúp đỡ.
Ở giai đoạn này, trong quá trình thảo luận nhà tham vấn cần:
- Lắng nghe tích cực khi thân chủ trình bày vấn đề của họ.
- Quan sát hành vi, ngôn ngữ.
- Phản ánh lại các cảm xúc, ý kiến quan trọng của cha mẹ trẻ tự kỷ.
- Hướng thân chủ tập trung vào vấn đề chính, tránh lan man.
- Thỉnh thoảng yên lặng để cha mẹ trẻ tự kỷ có dịp suy nghĩ và tìm cách thể
hiện.
- Đôi khi tóm tắt một số ý kiến mà cha mẹ trẻ tự kỷ trình bày.
- Điều cần chú ý trong tham vấn cho gia đình có trẻ tự kỷ là khuyến khích
việc xác định vấn đề hiện tại chứ không phải tìm người để đổ lỗi. Nếu tập
trung vào việc tìm ra ai là người gây ra vấn đề hiện tại sẽ làm cho không
khí căng thẳng, mọi người sẽ tìm cách đổ lỗi và thoái thác trách nhiệm và
quan trọng là họ không thể tìm ra cách giải quyết vấn đề
- Một trong những mục tiêu của tham vấn là tăng cường khả năng giao tiếp
của các thành viên trong gia đình, giúp họ thay đổi thái độ, quan niệm và
hành vi ứng xử với nhau. Nhiệm vụ của nhà tham vấn lúc này là xác định
mối quan hệ giữa các thành viên, khai thác cảm xúc, suy nghĩ và hành vi
ứng xử của các thành viên.
62
- Việc các thành viên trong gia đình chia sẻ sẽ tạo ra thêm các cơ hội để họ
có thể lắng nghe và hiểu nhau hơn và dễ thống nhất với nhau trong quá
trình hợp tác giải quyết vấn đề
- Việc đối thoại với các thành viên sẽ giúp các thành viên thấy được trách
nhiệm với nhau và nhìn thấy được những điểm mạnh, điểm yếu ở mỗi
người.
- Nhà tham vấn cần làm cho các thành viên trong gia đình nói chuyện, trao
đổi với nhau chứ không phải là nói với nhà tham vấn. Việc cho mọi người
xem lại những hình ảnh trong quá trình họ trao đổi với nhau cũng giúp các
thành viên trong gia đình có sự thay đổi ít nhiều khi trao đổi ở những lần
tiếp theo
Bước 3: Giúp cha/ mẹ trẻ tự kỷ đưa ra những hướng giải pháp có thể và lựa
chọn giải pháp tốt nhất, phù hợp nhất đối với hoàn cảnh của họ.
+ Lựa chọn các giải pháp: Gia đình trẻ thực hiện việc đưa ra các cách giải
quyết.
- Nếu các thành viên trong gia đình không đủ khả năng để đưa ra các giải pháp
thì nhà tham vấn có thể gợi ý cho họ qua việc cung cấp thông tin, hoặc giúp
thành viên gia đình biết đến các nguồn lực hỗ trợ và có các giải pháp phù hợp.
- Trong trường hợp gia đình đã tìm ra được một số giải pháp thì nhà tham vấn
và gia đình nên cùng nhau phân tích ưu điểm và hạn chế của từng giải pháp.
- Nhà tham vấn cần tôn trọng giải pháp mà thân chủ/ gia đình lựa chọn, không
nên bác bỏ các luận điểm của thân chủ/ gia đình.
+ Xây dựng kế hoạch: Sau khi xem xét và lựa chọn giải pháp tối ưu, nhà tham
vấn cùng với thân chủ/ gia đình xây dựng kế hoạch hành động để thực hiện các
giải pháp đó.
Chú ý: kế hoạch thực hiện càng chi tiết, cụ thể thì khả năng thành công càng
lớn.. Cụ thể:
- Nhà tham vấn cùng các thành viên trong gia đình xác định mục tiêu và kế
hoạch thực hiện: Muốn vậy nhà tham vấn và các thân chủ của mình cần
phải trả lời được các câu hỏi sau:
63
o Mong muốn gì?
o Mục tiêu của mong muốn là gì?
o Để thực hiện mục tiêu này cần phải làm những gì?
o
o
Trình tự thực hiện?
o Ai sẽ làm?
o Để làm được điều đó họ cần hỗ trợ gì?
Thực hiện như thế nào?
Bước 4: Triển khai thực hiện
Đây là giai đoạn các thành viên trong gia đình trẻ thực hiện theo kế hoạch đã
được xây dựng. Chính vì thế, các thành viên tham gia cần có sự chủ động, tích cực
và có trách nhiệm với những hoạt động đã được bàn bạc từ lúc xây dựng kế hoạch.
-
Nhà tham vấn chú ý:
Cần động viên kịp thời, đúng lúc với những điều mà thân chủ/ gia đình trẻ
-
làm được.
Tránh việc để các thành viên trong gia đình trẻ trở nên phụ thuộc. Trong
trường hợp thân chủ/ gia đình không có khả năng thực hiện được thì nhà
- Nếu mục tiêu quá khó thì nhà tham vấn có thể điều chỉnh cho phù hợp với
tham vấn có thể làm mẫu hoặc tìm kiếm sự hỗ trợ phù hợp.
-
tình hình thực tế.
Trong những lần gặp mặt cần có sự rà soát lại công việc đã thực hiện đến
đâu, việc nào chưa làm được? Nguyên nhân không làm được? Cần hỗ trợ gì
để có thể làm được? Nếu cần có thể làm mẫu để cha mẹ trẻ tự kỷ trải nghiệm
- Gặp gỡ các thành viên trong gia đình, kể cả người giúp việc, tìm hiểu tâm
và làm theo, hoặc tìm kiếm các nguồn hỗ trợ bên ngoài cho họ.
tư, nguyện vọng của mỗi thành viên, xác định mục tiêu nhiệm vụ chung và
- Nhấn mạnh một số việc cần làm ngay, chú ý giao tiếp mắt - mắt, cách chơi
riêng của từng thành viên (liệu pháp nhóm).
cùng trẻ...
Bước 5: Lượng giá và kết thúc
64
Khi nhà tham vấn thấy thân chủ/ gia đình đã có sự thay đổi, và sự thay đổi này
mang tính ổn định thì có thể kết thúc một quá trình tham vấn. Trước khi kết thúc
-
quá trình tham vấn, nhà tham vấn cần chú ý:
Lượng giá thường xuyên thực hiện trong suốt quá trình tham vấn nhằm giúp
cha mẹ trẻ tự kỷ cảm nhận được mức độ tiến triển của sự việc và giúp nhà
tham vấn kịp thời điểu chỉnh và thay đổi phương cách nhằm trợ giúp có hiệu
quả nhất cho cha mẹ trẻ tự kỷ. Trong trường hợp nhà tham vấn thấy việc
tham vấn không có hiệu quả cần trao đổi với thân chủ/ gia đình trẻ về việc
-
chuyển giao cho cán bộ khác nếu thầy cần thiết.
Lượng giá kết thúc đòi hỏi đánh giá toàn bộ những việc cha mẹ trẻ tự kỷ đã
làm, các nguồn lực được trợ giúp, chỉ ra những cái chưa làm được. Nhà
tham vấn cần tóm tắt lại kết quả và những gì đã thảo luận với thân chủ/ gia
-
đỉnh trẻ.
Chuẩn bị tâm lý, tinh thần cho việc kết thúc ở thân chủ/ gia đình trẻ. Lịch
tham vấn cho gia đình nên thưa dần cho tới khi kết thúc
Bước 6: Tiếp tục theo dõi sau khi kết thúc
Nhà tham vấn sử dụng các hình thức trao đổi (thư từ, điện thoại,
internet...) để biết sự tiến bộ của cha mẹ trẻ tự kỷ, đảm bảo rằng họ đã tự đương
đầu được với các vấn đề của họ trong cuộc sống. Thời gian trung bình kéo dài từ
vài tuần đến 6 tháng tùy từng trường hợp.
2.4. Một số nội dung tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ
Cuộc sống của những gia đình có trẻ tự kỷ trải qua những căng thẳng lớn
hơn rất nhiều so với những gia đình có con bình thường. Vì thế việc hỗ trợ tâm
lý cho các thành viên trong gia đình trẻ tự kỷ cũng là một công việc của nhân
viên xã hội với vai trò là một nhà tham vấn.
2.4.1. Tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ khi trẻ được chẩn đoán tự kỷ
Thật khó khăn cho cha mẹ của trẻ khi con bị chẩn đoàn là tự kỷ. Nhiều
thời gian sau đó, cha mẹ và các thành viên trong gia đình trẻ sống trong tình
trạng căng thẳng, lo lắng, đau buồn. Cha mẹ thường tự vấn, tự trách mình có thể
là nguyên nhân khiến trẻ bị bệnh. Họ thường chạy nhiều nơi, muốn đưa con đến
65
nhiều chuyên gia để xem có gì khác so với chẩn đoán không. Liệu các bác sĩ,
các nhà tâm lý có chẩn đoán nhầm không? Liệu con họ có còn hy vọng gì
không? Nhiều khi cha mẹ trẻ sống ở vùng nông thôn, trông chờ vào một liều
thuốc có thể chữa khỏi bệnh này. Họ không chấp nhận việc điều trị kéo dài. Việc
xác nhận con họ bị chứng tự kỷ là một bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống
của họ cũng như cuộc sống của các thành viên khác trong gia đình. Việc họ
nhận được sự hỗ trợ tinh thần và thông tin thực tế để giúp họ đối phó và thúc
đẩy một tương lai tích cực cho con và gia đình họ sẽ rất quan trọng trong giai
đoạn này.
Điều quan trọng cần lưu ý là phản ứng của mỗi gia đình đối với chẩn đoán
sẽ khác nhau tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Khi một đứa trẻ được chẩn đoán mắc
bệnh tự kỷ, cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình thường trải qua một
loạt những cảm xúc không thoải mái được coi là phản ứng đau buồn. Các trải
nghiệm này ở mỗi người cha, người mẹ là khác nhau:
Sốc: "Tôi không thể nhớ tôi lái xe về nhà sau khi nghe lần đầu tiên chẩn đoán"
"Làm thế nào có thể xảy ra với con tôi?", "Tôi không thể làm những điều mà tôi
thường làm cho gia đình tôi", “Tôi chỉ biết khó và khóc".
Tức giận: "Chúng tôi không xứng đáng với điều này." "Tôi rất tức giận khi điều
này xảy ra với con tôi".
Phủ nhận: "Con mình sẽ phát triển bình thường giống bao đứa trẻ khác thôi”,
"Tôi có thể chữa được cho con”.
Cô đơn: "Tôi ước gì tôi có một người bạn hiểu được tình hình của tôi", "Thật
khó để tiếp cận với những người khác."
Chấp nhận: "Tôi cảm thấy chúng ta có thể vượt qua được điều này." "Gia đình
tôi sẽ ổn thôi."
Với những hiểu biết về các trạng thái tâm lý có thể xảy ra ở cha mẹ trẻ tự
kỷ, nhà tham vấn cũng giúp cho các thành viên trong gia đình việc hiểu: nếu ở
các thành viên trong gia đình trẻ xuất hiện những cảm xúc trên là điều có thể
hiểu được và sự tức giận là một phần tự nhiên của quá trình đau buồn, có thể
thấy rằng nó hướng vào những người thân thiết nhất với bạn - con bạn, vợ /
66
chồng của bạn, hoặc một người bạn thân. Tức giận là phản ứng lành mạnh và
mong đợi đối với cảm giác mất mát và căng thẳng đi kèm với chẩn đoán của con
bạn vì thể hiện sự tức giận đôi khi là cần thiết để giải tỏa tâm trạng tiêu cực ở
cha mẹ trẻ.
Ngoài ra, nhà tham vấn cần giúp cha mẹ trẻ hiểu và chấp nhận việc chẩn
đoán con mình bị tự kỷ. Chấp nhận chẩn đoán đơn giản có nghĩa là bạn đã sẵn
sàng để bênh vực cho con bạn.
Khi cha mẹ trẻ đã chắc chắn con mình bị tử kỷ, nhà tham vấn sử dụng các
kỹ thuật trong tham vấn để bình thường hóa vấn đề. VD: Cũng có nhiều gia đình
khác cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự như gia đình anh/ chị, thậm chí còn có
gia đình có con em bị tự kỷ loại nặng.
Cha mẹ trẻ cần trao đổi cởi mở, thông cảm với vợ/ chồng, thảo luận để
tìm ra người có thể giúp, trao đổi như thế nào với những người thân khác trong
gia đình về tình hình của con để cùng nhau giải quyết vấn đề.
Cha mẹ cần nghĩ về trẻ, không phải chỉ về những vấn đề của trẻ mà còn
về những điều trẻ biết, về khả năng của trẻ, điểm mạnh của trẻ để giúp trẻ tốt
hơn.
Một điều rất quan trọng trong quá trình hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ tự kỷ
là tham vấn về việc lựa chọn các chương trình can thiệp sớm cho trẻ. Nhà tham
vấn giúp cha mẹ trẻ hiểu rằng việc trẻ được tiến hành can thiệp sớm sẽ giúp trẻ
cải thiện các kỹ năng và được hòa nhập tốt hơn. Họ cũng cần hiểu rõ trong
chặng đường giúp đỡ con mình, chính họ là chuyên gia tốt nhất của con mình.
Vì vậy hãy chia sẻ kinh nghiệm với các bậc cha mẹ khác, họ sẽ được hỗ trợ tốt
hơn từ các chuyên gia và những người cùng cảnh ngọ, họ sẽ cảm thấy đồng cảm
và tự tin hơn
Đặc biệt, trong trường hợp nhà tham vấn nhận thấy cha mẹ trẻ có những
dấu hiệu và triệu chứng sau trong một khoảng thời gian liên tục khoảng 30 ngày
và ảnh hưởng đến các chức năng xã hội thì cần được hướng dẫn đến gặp các nhà
- Mất ngủ và không cảm thấy được nghỉ ngơi khi ngủ.
chuyên môn gấp để can thiêp tình trạng trên ở cha mẹ trẻ.
67
-
Không thể kiểm soát những suy nghĩ tiêu cực của bản thân, bất kể bạn cố
gắng thế nào.
-
-
Rối loạn ăn uống
-
Sự thay đổi tính tình: khó chịu, nóng tính, hoặc hiếu chiến hơn bình thường.
Uống nhiều rượu hơn bình thường hoặc tham gia vào các hành vi liều lĩnh
-
khác.
Có suy nghĩ rằng cuộc sống không đáng sống
2.4.2. Tham vấn hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ trong việc tự chăm sóc bản
thân
Viêc chăm sóc giáo dục cho một đứa trẻ tự kỷ trong gia đình sẽ tiêu tốn
rất nhiều năng lượng và tinh thần của cha mẹ trẻ. Chính vì thế nhà tham vấn cần
làm cho cha mẹ trẻ hiểu: Nếu họ muốn giúp con mình thật tốt thì họ cần phải
biết tự chăm sóc tốt cho bản thân. Cũng giống như một vận động viên chạy
đường trường, họ cũng cần có thời gian nghỉ ngơi để cơ thể hồi phục. Cha mẹ
không thể cứ mải miết trong cuộc chạy dài hơi đó mà quên mất bản thân, quên
mất những người khác, những đứa con khác trong gia đình mà cần có sự hỗ trợ
từ những người khác trong gia đình. Nếu bạn không chăm sóc bản thân mình thì
bạn sẽ không thể chăm sóc cho những người bạn yêu quý.
Nhà tham vấn trong quá trình hỗ trợ tâm lý cho cha mẹ trẻ có thể đưa ra
một số gợi ý sau nhằm giúp họ cảm thấy dễ dàng hơn trong cuộc sống:
Thực hành tự chăm sóc bản thân.
- Dành thời gian cho chính mình: Tiến hành tự chăm sóc bản thân có thể là
dành thời gian cho chính bạn. Ngay cả khi chỉ trong 15 phút mỗi ngày,
hãy nghỉ ngơi. Bạn cần phải chăm sóc mình để có thể chăm sóc người
khác. Thời gian nghỉ ngơi giúp bạn làm công việc vặt, thư giãn, hoặc tận
hưởng thời gian với bạn đời hoặc người thân trong gia đình.
- Dành thời gian cho bạn bè của bạn. Nhiều cha mẹ báo cáo rằng tình bạn
lâu dài đã cho họ sức mạnh và sự thoải mái trong thời kỳ khó khăn nhất.
Nếu bạn cảm thấy bị cô lập, đã đến lúc phải hành động.
68
- Khám phá các sở thích sáng tạo ngoài tính tự kỷ. Cố gắng tập thể dục
hoặc khám phá một số sở thích sáng tạo. Dành thời gian để nhận ra rằng
bạn là người quan trọng và không chỉ là cha mẹ của một đứa trẻ bị chứng
tự kỷ.
- Sử dụng một số dịch vụ chăm sóc thay thế tạm thời. Sử dụng dịch vụ này
giúp cha mẹ trẻ giảm bớt và ngăn ngừa căng thẳng và mệt mỏi.
Thừa nhận những gì bạn đã đạt được: Suy nghĩ về tất cả những gì bạn đã hoàn
thành trong ngày, bạn sẽ ngạc nhiên trước danh sách này bao lâu, và bạn sẽ cảm
thấy tốt hơn về việc bắt đầu vào ngày hôm sau.
Tập trung vào những điều tích cực: Không có gì trong cuộc sống là hoàn hảo.
Mọi tình huống đều có mặt tích cực và tiêu cực. Tập trung vào những điều tích
cực, chẳng hạn như tiến bộ của con bạn hoặc liệu pháp trị liệu ngôn ngữ tuyệt
vời mà bạn tìm thấy, sẽ cho bạn năng lượng bạn cần để tiến lên phía trước.
Tổ chức các hoạt động gia đình: Khi có thể, hãy tiếp tục các thói quen hay lễ
nghi gia đình của bạn. Điều này sẽ hữu ích cho cả gia đình bạn. Có thể là một
chuyến đi chơi, đi xem phim…Các hoạt động này giúp gia đình bạn cảm giác ổn
định và tạo ra những khoảng thời gian vui vẻ để tận hưởng cùng nhau và để thư
giãn
Kiên nhẫn với chính mình: Sẽ mất một chút thời gian để hiểu được rối loạn của
con bạn và ảnh hưởng của nó đối với bạn và gia đình của bạn. Cảm xúc khó
khăn có thể hồi phục theo thời gian. Có thể có những lúc bạn cảm thấy bất lực
và giận dữ vì chứng tự kỷ đã dẫn đến một cuộc sống khác xa với những gì bạn
đã lên kế hoạch. Hãy nhớ rằng, bạn cũng sẽ trải nghiệm cảm giác hy vọng khi
con bạn bắt đầu tiến bộ.
Liên kết với cộng đồng trẻ tự kỷ: Đôi khi các gia đình của những người bị
chứng tự kỷ cảm thấy bị cô lập với người khác. Điều quan trọng là kết nối với
các gia đình có cùng kinh nghiệm và tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác.
2.4.3. Tham vấn về việc chẩn đoán tự kỷ
Khi cha mẹ trẻ đang có những boăn khoăn về việc liệu con em mình có
phải bị tự kỷ hay không, nhà tham vấn cần:
69
-
-
Chia sẻ với gia đình về những boăn khoăn, lo lắng của họ
- Không khẳng định về việc con em họ có bị tự kỷ hay không
- Hướng gia đình vào việc đến các trung tâm, bệnh viện… để xác định chính
Bình thường hóa vấn đề
-
xác vấn đề ở trẻ
- Hướng dẫn gia đình tự xem xét tình hình con em mình dựa vào các dấu hiệu
Chia sẻ với gia đình trẻ về lợi ích của việc chẩn đoán sớm:
nhận biết sớm
Tình huống
Con gái tôi 2 tuổi rưỡi. Gần đây tôi thấy cháu có một số biểu hiện
làm tôi rất lo, không biết cháu có bị mắc bệnh tự kỷ hay không. Vừa
qua, vợ chồng tôi cho cháu đi học nhà trẻ tư thục, nhưng đã một
tháng nay, sáng nào trước khi đi học bé cũng quấy khóc. Buổi
chiều về nhà bé không thích đi chơi đâu, chỉ thích ở nhà. Trước đây
bé rất ngoan, bây giờ lại hay mè nheo, dỗi hờn, động đến cái gì
cũng lăn ra ăn vạ. Tôi nghe cô giáo bảo là cháu tỏ ra rất thông
minh, chỉ có điều ở lớp bé không thích chơi với các bạn mà chỉ chơi
đồ chơi một mình. Điều này vợ chồng tôi cũng nhận ra vì cháu tiếp
thu rất nhanh, nhớ lâu và chỉ cần dạy một hai lần là cháu hiểu
ngay. Ở nhà, cháu cũng ít thích chơi với các anh chị em họ. Tôi đã
tìm hiểu thông tin trên mạng thì thấy một số biểu hiện của trẻ bị tự
kỷ rất giống con của tôi như: ăn vạ thường xuyên, rất kén ăn, ăn
đầy đủ chất nhưng vẫn gầy ốm, hay đi nhón chân, hay thích cào
cấu cha mẹ...Những biểu hiện này bộc lộ rõ nhất là từ khi cháu đi
học nhà trẻ tư thục cách đây một tháng. Vợ chồng tôi rất hoang
mang không biết cháu có vấn đề gì không?
-
Nhà tham vấn cần làm:
Chia sẻ cảm giác lo lắng khi nhận thấy những dấu hiệu khác
thường của con em họ.
70
-
Bình thường hóa vấn đề của gia đình: Hiện nay nhiều gia
đình cũng gặp khó khăn vì con em họ không thích nghi với việc đi
nhà trẻ. Khi bắt đầu đi học, trẻ có thể gặp một số khó khăn, rối
loạn về ăn uống, rối loạn giấc ngủ, rối loạn về hành vi, rối loạn về
ngôn ngữ và giao tiếp…Vì vậy có thể với những biểu hiện gia đình
kể trên thì chưa thể kết luận cháu bé bị tự kỷ. Để yên tâm hơn, gia
đình nên đưa bé đến… để được khám trực tiếp và dựa trên rất
-
nhiều biểu hiện khác nữa mới có thể chẩn đoán chính xác.
Hướng dẫn, giới thiệu các cách nhận biết sớm: Nếu gia đình
chưa có điều kiện thì thăm khám cho cháu ngay thì có thể xem các
dấu hiệu nhận biết sớm về trẻ có rối loạn tự kỷ để có xác định ban
-
đầu.
Chia sẻ lợi ích của việc chẩn đoán sớm:
o Việc tiến hành chẩn đoán sớm và khoa học sẽ giúp con bạn
có cơ hội sớm tham gia vào các hoạt động can thiệp và giáo dục
đặc biệt. Các dịch vụ này sẽ giảm bớt một cách rõ ràng các hành vi
không mong đợi của trẻ tự kỷ và tăng cường triển vọng phát triển
và hòa nhâp của trẻ tự kỷ.
o Lợi ích của việc chẩn đoán sớm sẽ giúp anh/ chị dự đoán
được những hành vi bất thường và lý do của những hành vi đó.
Anh/ chị có thể tìm hiểu và lựa chọn các can thiệp tốt nhất dành
-
cho con mình
Giới thiệu cơ sở y tế hoặc trung tâm giáo dục để gia đình lựa
chọn cho việc chẩn đoán khoa học và chính xác
2.4.4. Tham vấn cho cha mẹ trẻ về việc ứng phó với các hành vi chống đối,
nổi loạn của trẻ tự kỷ
Phần lớn các gia đình có trẻ tự kỷ đều cảm thấy đau đầu, thậm chí bất lực
trước những hành vi chống đối, nổi loạn của trẻ tự kỷ. Khi làm việc với gia đình
có trẻ tự kỷ, nhà tham vấn cần giúp họ hiểu rằng: Tất cả trẻ em thỉnh thoảng đều
có thể nổi nóng. Tuy nhiên, những hành vi này có thể trở nên thường xuyên hơn
71
và ở mức mạnh mẽ hơn đối với trẻ tự kỷ do sự khác biệt cảm nhận thế giới và
khả năng giao tiếp. Để ứng phó với hành vi này nhà tham vấn cần đưa ra gợi ý
cho gia đình cách LÀM NGƠ với những hành vi chống đối mang tính chất gây
ra sự chú ý. Nhà tham vấn giúp gia đình hiểu rằng nếu trẻ nổi cáu vì muốn đòi
một cái gì đó, cha mẹ lập tức thỏa mãn thì đó chính là việc cha mẹ đang tán
thưởng hành vi này và việc nổi cáu có khuynh hướng xảy ra thường xuyên hơn.
VD: trẻ đòi một thứ đồ chơi nguy hiểm mà cha mẹ không thể cho trẻ chơi,
khi trẻ không được thỏa mãn trẻ có thể lắc đầu liên lục, làm cho đầu tóc rũ rượi.
Nếu lúc này cha mẹ thỏa mãn ngay lập tức nhu cầu này của trẻ thì hành vi của
cha mẹ sẽ trở thành một củng cố âm tính cho các hành vi không mong muốn ở
trẻ.
Tuy nhiên, việc làm ngơ được chừng nào hay chừng ấy và điều quan trọng
là nhà tham vấn làm cho cha mẹ hiểu rằng ứng phó với hành vi này chỉ mang
tính chất tình huống, điều quan trọng là cha mẹ nên dạy cho trẻ cách thích hợp
để yêu cầu một điều gì đó. Sau này khi trẻ bình tĩnh, cha mẹ sẽ đưa cho trẻ thứ
mà trẻ muốn có như một phần thưởng cho hành vi đúng đắn.
Chú ý: Nếu những hành vi của trẻ gây hại cho chính bản thân trẻ hay gây
hại cho người khác thì không thể làm ngơ. Ngay lập tức lúc này cha mẹ nên tách
trẻ và ngăn chặn hành vi nguy hiểm đó ngay. Nếu cần phải tách trẻ khỏi tình
huống đó có thể đưa trẻ vào một hoạt động khác để chúng quên hoạt động vừa
xảy ra hoặc có thể dùng kỹ thuật: thời gian tách biệt. Đây là kỹ thuật mà cha mẹ
giúp trẻ có thể bình tĩnh hoặc giúp trẻ an toàn. Với việc sử dụng thời gian tách
biệt, cha mẹ bình tĩnh đưa trẻ từ tình huống, địa điểm trẻ đang hung hăng sang
một phòng khác, một cái ghế khác hay một cái gì đó ...để làm thời gian tách biệt.
Thời gian tách biệt giúp cha mẹ có thời gian nghỉ ngơi và giúp con em họ được
bình tĩnh trở lại.
Cha mẹ có thể đặt chuông báo hiệu thời gian tách biệt kết thúc hoặc đưa
ra yêu cầu với trẻ là khi nào hành vi không mong muốn đó chấm dứt thì trẻ có
thể quay trở lại. Nhà tham vấn cũng cần nhắc nhở cha mẹ đừng quên giải thích
lý do trẻ bị tách biệt và có thể gợi ý cho trẻ các hành vi phù hợp để thay thế.
72
2.4.5. Tham vấn cho cha mẹ trẻ về cách ứng phó với hành vi tự xâm kích
của trẻ tự kỷ
Hành vi tự xâm kích là những hành vi có thể gây ra những tổn thương ở
cơ thể. Những dạng hành vi chủ yếu là đập đầu, cắn tay, cào cấu hay chà xát một
cách thái quá. Nhà tham vấn có thể giúp cha mẹ trẻ những gợi ý khi ứng phó với
- Nếu trẻ có các hành vi tự xâm kích một cách đột ngột có thể nguyên nhân
những hành vi tự xâm kích của trẻ tự kỷ như sau:
từ chứng tai biến có tác dụng phụ của thuốc, từ việc viêm tai…nhà tham
vấn có thể gợi ý cho gia đình đưa trẻ đi bệnh viện kiểm tra, xử lý các vấn
- Nếu trẻ có hành vi tự xâm kích xuất phát từ việc trẻ quá bức xúc (ví dụ
đề tổn thương thực thể
như tức giận, hờn dỗi thái quá) và do vậy trẻ biểu hiện những hành vi này
như một sự giải toả căng thẳng diễn ra trong cơ thể nó. Nhà tham vấn có
thể gợi ý cho cha mẹ trẻ giảm mức độ bức xúc thái quá của trẻ bằng các
hình thức giải trí, hình ảnh kích thích thị giác, bài tập thể dục…
2.4.6. Tham vấn cho gia đình trẻ về các hành vi tự kích thích hoặc rập
khuôn.
Hành vi rập khuôn là sự vận động một cách lặp đi lặp lại các bộ phận cơ
thể hoặc các đồ vật. Hành vi lặp đi lặp lại ở trẻ tự kỷ có thể là các hành vi: đập
tay, xoay người nhanh, đi qua đi lại, xếp đồ vật thành hàng, bật công tắc hay các
hoạt động liên quan đến các giác quan: nhổ, ngửi…nói lặp đi lặp lại. Những
hành vi như vậy có thể là nỗ lực của trẻ nhắm tránh đi sự thay đổi
Đối với trẻ tự kỷ, việc lặp đi lặp lại các hành vi như vậy sẽ làm cho chúng
cảm thấy thoải mái và là cách để chúng giải tỏa căng thẳng. Hành vi này cũng có
thể làm cho trẻ cảm thấy buồn chán, bực mình hay lo lắng. Nếu những hành vi
này diễn ra ở mức không thể chấp nhận được hay ngăn cản chúng tham gia vào
các hoạt động khác thì cha mẹ nên thay đổi từ từ hay cho trẻ làm một việc khác
Một số hành vi rập khuôn ở trẻ tự kỷ có liên quan đến các giác quan
thay thế, một hành vi có thể dễ chấp nhận hơn.
Giác quan Các hành vi rập khuôn
73
Thị giác Nhìn trừng trừng vào bóng đèn hoặc các vật phát sáng, nheo mắt
liên hồi, hay giơ ngón tay trước mắt, hay vỗ tay.
Thính giác Hay đập đập vào tay, bật bật các ngón tay cho tạo thành âm
thanh, hay phát ra các âm thanh từ miệng
Xúc giác Hay dùng tay hoặc các vật khác tự chà vào da mình. Cũng có
thể chúng còn hay tự cào cấu vào da mình
Tiền đình Hay đu đưa thân mình từ trước ra sau hoặc hai bên
Vị giác Hay đưa các đồ vật hoặc ngón tay lên miệng
Khứu giác Hay ngửi các đồ vật, thậm chí người khác
Ở một mức độ nào đó, chúng ta cũng đã nhận thấy những biểu hiện của
hành vi tự kích thích, ví dụ như khi buồn hoặc lo lắng, chúng ta thường có
những hành vi như cắn đầu bút, gõ gõ ngón chân, cắn tóc, cắn ngón tay, nghiến
răng, nhai kẹo… Tuy nhiên đối với trẻ tự kỷ những hành vi này được coi là có
vấn đề vì chúng có thể là những nỗi bận tâm ám ảnh với chính đứa trẻ và không
dễ điều khiển.
Những hành vi của trẻ tự kỷ bao gồm sự vận động lặp đi lặp lại: tự đập
vào người, vỗ tay, chạy vòng quanh nhà, tự chọc vào cơ thể, nhẩy lên hoặc vỗ
tay đen đét một cách không thích hợp. Các dạng hành vi tự kích thích khác có
thể gồm các thao tác với đồ vật (cuộn cuộn một cái dây hoặc tờ giấy…), nhìn
chằm chằm vào một vật nào đó một cách liên tục, phát ra các âm vô nghĩa và
khó hiểu giống như ậm ừ, lúng búng trong cổ họng hoặc gào thét the thé hoặc
nhắc đi nhắc lại.
Nhà tham vấn gợi ý cho gia đình trẻ tự kỷ một số cách làm giảm bớt hoặc
loại trừ các hành vi rập khuôn. Sau đây là một số gợi ý:
Xử lý nguyên nhân tiềm ẩn – thay môi trường, giảm thiểu nguyên nhân gây
lo lắng, cằng thẳng
Sử dụng phương pháp từng bước một, đưa ra giải pháp thay thế bằng các
hành vi có thể dễ chấp nhận hơn
Cố gắng đón đầu, đoán trước được hành vi xảy ra
74
Tận dụng mọi thay đổi bên ngoài.
Chuẩn bị tinh thần cho con, sử dụng các phương pháp hỗ trợ bằng hình ảnh
và cấu trúc để giúp trẻ hiểu được vấn đề.
Các bài tập thể dục hay cung cấp cho trẻ những dạng kích thích đa dạng và
phù hợp hơn về mặt xã hội (ví dụ như nhai kẹo cao su thay vì tự cắn tay)
Sử dụng thuốc nhằm giảm thiểu những hành vi không mong muốn
2.4.7. Tham vấn cho gia đình trẻ về vấn đề dậy thì
Gia đình có trẻ tự kỷ sẽ còn gặp khá nhiều khó khăn hơn nữa khi con họ
bước vào tuổi dậy thì. Thói quen cha mẹ nói về vấn đề dậy thì cho con cái ở Việt
Nam còn chưa phổ biến. Những người thuộc phổ tự kỷ thường thích các thói
quen, không thích sự thay đổi. Do vậy, việc cha mẹ chuẩn bị cho các con về sự
thay đổi cơ thể của chúng trước khi đến tuổi dậy thì là điều rất quan trọng.
- Các kiến thức khoa học về tuổi dậy thì nói chung và dậy thì của trẻ tự kỷ nói
Nhà tham vấn cần giúp cha mẹ trẻ tự kỷ nhận thức rõ về:
riêng:
o Dậy thì là gì?
o Khi nào trẻ dậy thì?
o Sự phát triển của trẻ em trai và trẻ em gái khi dậy thì?
o Những vấn đề về tâm lý và khủng hoảng khi trẻ bước vào tuổi dậy thì?
o Tầm quan trọng của việc cha mẹ hiểu và hướng dẫn con khi con bước vào
- Cách nói chuyện/ giáo dục con về các vấn đề có liên quan đến tuổi dậy thì:
tuổi dậy thì?
vấn đề về sự phát triển và vệ sinh cá nhân của trẻ em trai và trẻ em gái.
Nhà tham vẫn có thể làm mẫu về cách dạy con:
Con sẽ trưởng thành và thay đổi. Điều này là bình thường, ai trong
độ tuổi này cũng sẽ diễn ra sự thay đổi, có người nhiều, có người ít,
có người nhanh và có người chậm. Một ngày nào đó con sẽ giống
như bố và bao người đàn ông khác...con sẽ nhận thấy mình cao
hơn, cánh tay sẽ có cơ bắp, con sẽ bắt đầu mọc râu trên mặt và con
sẽ học cách cạo râu, giọng nói của con sẽ trầm hơn, con sẽ nổi yết
75
hầu ở trên cổ, dương vật sẽ lớn lên...Việc lớn lên và thay đổi là
điều hoàn toàn bình thường. Trở thành một người đàn ông cũng là
hoàn toàn bình thường.
- Cần thiết phải nói với trẻ về dậy thì trước khi cơ thể trẻ bắt đầu phát triển.
- Cách dạy và chỉ bảo con mình các vấn đề vệ sinh cá nhân cần được thực hiện
Nhà tham vấn cần nhấn mạnh cho cha mẹ trẻ việc:
- Giúp cha mẹ trẻ xác định rõ trong gia đình ai là người nói với con về vấn đề
một cách thường xuyên.
- Trong quá trình nói với con về sự thay đổi của cơ thể để cho trẻ dễ hiểu, dễ
dậy thì
nhớ, nhà tham vấn có thể hướng dẫn cha mẹ cho trẻ xem các hình ảnh minh
họa.
2.4.8. Tham vấn cho gia đình trẻ về sự an toàn cá nhân
Một trong những vấn đề khó khăn nhất của cha mẹ trẻ tự kỷ là vấn đề
đảm bảo an toàn cho trẻ nhưng cũng không làm cho trẻ cảm thấy bị kìm kẹp
quá mức. Rất nhiều trẻ em tự kỷ thiếu những nhận thức cơ bản về cơ thể mình
và điều này dẫn tới các tai nạn. Cha mẹ không thể ngăn chặn mọi tai nạn cho dù
họ có theo sát con mình. Những vấn đề không an toàn đối với cá nhân trẻ có thể
xảy ra ngay khi trẻ ở nhà chứ không phải chí có lúc trẻ ra ngoài. Chính vì vậy
việc dạy cho trẻ tự kỷ về an toàn cá nhân là điều hết sức cần thiết.
VD: mặc dù sang đường trẻ biết phải tránh xe nhưng trẻ không thể
đánh giá được sự nguy hiểm và hướng đi của các phương tiện giao
thông, hơn nữa trẻ tự kỷ lại chỉ quan tâm đến những gì đang xảy ra
ngay trong đầu.
Tham vấn cho cha mẹ trẻ những nội dung về an toàn cá nhân. Đây là một
nhiệm vụ quan trọng trong quá trình hỗ trợ cha mẹ trẻ tự kỷ. Nhà tham vấn cần
giúp các thành viên trong gia đình trẻ tự kỷ hiểu về an toàn cá nhân của trẻ về
những vấn đề như sau:
- Sự yêu quý bản thân: Cơ thể em thật tuyệt vời, cơ thể em là của em và chỉ
thuộc về em
76
- Ranh giới an toàn cá nhân: khi xuất hiện những cảm xúc không an toàn hãy
nhớ đến quy tắc an toàn cá nhân sau:
- Cơ thể em là của em và không ai có quyền chạm vào phần kín của em trừ
khi để giữ vệ sinh hay để chữa bệnh cho em.
- Nếu em bị đụng chạm vào những chỗ đó hoặc em không cảm thấy thoải mái
thì phải nói KHÔNG- BỎ ĐI – KỂ LẠI
- Dạy trẻ những hành vi phù hợp và an toàn: đi vệ sinh, đi tắm phải đóng cửa,
thay quần áo phải thay ở trong phòng hoặc chỗ kín đáo, riêng tư.
Chú ý:
Nếu trẻ không hiểu toàn bộ những điều cha mẹ dạy, nhà tham vấn hãy gợi ý
cho cha mẹ trẻ sử dụng các biểu tượng để trợ giúp. Cha mẹ có thể chọn màu sắc
để thể hiện tính công cộng và một cái đối ngược với tính riêng tư (màu sắc và
biểu tượng phải khác nhau để tránh việc trẻ nhầm lẫn). Cha mẹ có thể đặt biểu
tượng mang tính riêng tư vào chỗ để quần áo lót, trong phòng ngủ, trong phòng
tắm còn biểu tượng công cộng ở các cửa tới các phòng khác đi ra ngoài. Cha mẹ
cũng được gợi ý về việc ghép các biểu tượng đó với các nơi mà trẻ có thể thay
đồ để đảm bảo tính riêng tư và an toàn cá nhân.
Để trẻ có thể áp dụng quy tắc an toàn cá nhân trên, cha mẹ cần:
- Dạy trẻ tập nói, tập phản ứng nhiều lần.
- Những quy tắc an toàn cá nhân của trẻ cũng cần được cha mẹ thống nhất với
các nhà giáo dục trẻ và những người khác trong gia đình.
- Nếu trẻ không giao tiếp bằng lời có thể thay thế bằng tranh.
- Chú ý dạy trẻ cách nói KHÔNG, cách BỎ ĐI và cách KỂ LẠI thật chi tiết
cụ thể
2.5. Một số kỹ năng tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ
Để có thể thực hiện được những nhiệm vụ của mình, nhân viên xã hội phải
có những kỹ năng tham vấn cơ bản và một số kỹ năng tương đối đặc thù, cần
thiết khi tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ.
2.5.1. Một số kỹ năng cơ bản trong tham vấn hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ tự kỷ
2.5.1.1. Kỹ năng thiết lập mối quan hệ
77
Tham vấn là một hoạt động trợ giúp, chủ yếu dựa trên sự tương tác giữa nhà
tham vấn và thân chủ chính vì vậy trong tham vấn thiết lập được mối quan hệ tốt
với thân chủ là vô cùng quan trọng, quyết định phần lớn đến hiệu quả tham vấn.
Chỉ khi nhà tham vấn thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với thân chủ mới có thể
gây ảnh hưởng và tạo động cơ cho thân chủ làm nên những thay đổi tích cực
trong cuộc sống của họ.
Nhà tham vấn thường sử dụng kỹ năng này trong giai đoạn đầu của quá trình
tham vấn, đó là thời điểm nhà tham vấn và thân chủ có sự tiếp xúc đầu tiên. Để làm
được điều này, tất cả điệu bộ, cử chỉ và những hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
của nhà tham vấn có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng niềm tin và sự hợp
tác của thân chủ.
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong tham vấn được hiểu là sự vận dụng
những tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất nghề nghiệp làm cho thân chủ cảm thấy
tin tưởng, muốn hợp tác và đón nhận sự trợ giúp của nhà tham vấn trong việc
giải quyết vấn đề của họ.
Mục đích của kỹ năng thiết lập mối quan hệ: thiết lập mối quan hệ trong tham vấn
nhằm mục đích tạo sự tin tưởng ở thân chủ đối với nhà tham vấn, trên cơ sở đó có
được sự hợp tác của họ để tiến hành tham vấn một cách thuận lợi.
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng thiết lập mối quan hệ:
- Tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở: Dáng điệu luôn luôn cởi mở, chân
thành, thân thiện tạo cho thân chủ cảm giác tin cậy và an toàn khi tiếp
xúc. Sử dụng ánh mắt và các động tác cơ thể để khuyến khích thân chủ trò
chuyện, chia sẻ.
- Giải thích một cách rõ ràng cho thân chủ hiểu về mục đích và nguyên tắc
tham vấn (đặc biệt là nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin)
- Sẵn sàng lắng nghe và chấp nhận thân chủ vô điều kiện: không phê phán,
lên án hay phản bác thân chủ khi họ nói quan điểm, hành vi, suy nghĩ
khác thường.
- Cảm thông, chia sẻ, và tôn trọng thân chủ: quan tâm đến cảm giác của
thân chủ khi làm việc với nhà tham vấn.
78
- Hướng dẫn các trò chơi, hoạt động khởi động nhằm khuyến khích chia sẻ và
Một số cách thức thiết lập mối quan hệ trong tham vấn:
- Thông cảm với những cảm xúc và trải nghiệm của thân chủ, chỉ ra những trải
sự tin tưởng lẫn nhau.
- Giải thích cho thân chủ hiểu mục đích, nguyên tắc tham vấn (đặc biệt là
nghiệm tương đồng giữa các thành viên trong nhóm (nếu là tham vấn nhóm)
- Khuyến khích sự trung thực và cởi mở giữa các thành viên
- Một vài chia sẻ cá nhân thích hợp của chính nhà tham vấn có thể tạo ra bầu
nguyên tắc giữ bí mật) và nói với thân chủ những điều bạn mong đợi ở họ
không khí tin tưởng, đặc biệt khi nhà tham vấn làm việc với trẻ em mà trẻ em
- Cho phép thân chủ thiết lập một số nội quy nào đó trong tiến trình tham vấn
cảm thấy do dự khi nói chuyện với nhà tham vấn.
sắp tới
2.5.1.2. Kỹ năng lắng nghe
Khái niệm
Lắng nghe là một hoạt động tâm lý tích cực có sự tham gia của ý thức, đòi
hỏi người nghe tập trung chú ý cao độ để tiếp nhận và hiểu được ý nghĩa của thông
tin. Lắng nghe khác với nghe bởi nghe được xem như một hoạt động thụ động,
chủ thể bị đánh thức bởi tác động nào đó và nghe thấy âm thanh một cách vô tình
hay hữu ý.
Kỹ năng lắng nghe trong tham vấn được hiểu là sự vận dụng những tri
thức, kinh nghiệm, phẩm chất nghề nghiệpđể thực hiện quá trình lắng nghe tích
cực, được thể hiện qua hành vi quan sát tinh tế, chú ý cao độ và thái độ tôn
trọng, chấp nhận nhằm hiểu thân chủ và vấn đề của họ, đồng thời giúp họ nhận
biết là đang được quan tâm và chia sẻ.
Đặc điểm
Lắng nghe trong tham vấn có sự khác biệt khá nhiều cả về mục đích lẫn
tính chất so với lắng nghe thông thường, lắng nghe trong tham vấn không chỉ
bao hàm việc thu nhận âm sắc, mà còn phải hiểu chính xác ý nghĩa của nó,
không chỉ là việc nhớ từ ngữ, mà còn đòi hỏi sự nhậy cảm với những âm từ, cử
79
-
chỉ hành vi của thân chủ. Lắng nghe trong tham vấn hướng tới nhiều mục đích:
-
Thu thập thông tin cho quá trình trợ giúp,
- Đem lại cho thân chủ cảm giác họ được nghe, được ghi nhận những nỗi
Tạo nên môi trường tương tác giữa nhân viên công tác xã hộivà thân chủ,
buồn, niềm vui được chia sẻ những khó khăn họ đang vật lộn, những mất
- Khích lệ thân chủ tìm chia sẻ
- Giúp thân chủ trở nên tự tin hơn khi chia sẻ.
mát mà họ trải qua.
Biểu hiện
Trước hết lắng nghe trong tham vấn được thể hiện qua các hành vi quan sát tinh
-
tế.
Luôn duy trì sự giao tiếp bằng mắt phù hợp với cách nhìn và tư thế thể hiện
-
sự quan tâm và sẵn sàng lắng nghe.
- Đưa ra phản hồi với những gì quan sát được khi cần thiết.
Im lặng, tập trung để quan sát những hành vi, cử chỉ của đối tượng.
-
Lắng nghe trong tham vấn còn được thể hiện ở sự tập trung chú ý.
- Không làm việc khác trong khi nghe.
-
Im lặng để nghe, hạn chế nói.
Tập trung tư tưởng, không phân tán, suy nghĩ về những điều khác. không
- Nghe mọi thông tin về suy nghĩ, ý tưởng, về sự kiện, con người và đặc biệt
suy diễn hay dự đoán, hãy lắng nghe để họ nói hết ý.
-
chú ý tới cảm xúc của đối tượng.
Tóm tắt và đưa ra phản hồi ngắn gọn (gật đầu, vâng, như vậy v.v…).
-
Lắng nghe còn được thể hiện qua những hành vi với thái độ tôn trọng.
Tránh những hành động thể hiện sự coi thường, phân biệt trên dưới, hay có
- Chấp nhận đối tượng, không phê phán, phản bác khi họ có quan điểm, hành
thái độ tỏ ra rất nghiêm khắc.
-
vi, suy nghĩ khác thường.
Tôn trọng sự im lặng của đối tượng và đưa ra phản hồi để thể hiện đang chú
ý và cảm nhận được tâm trạng của họ.
80
-
-
Thể hiện thấu hiểu và khích lệ, khen ngợi.
Im lặng để nghe.
2.5.1.3. Kỹ năng đặt câu hỏi
Kỹ năng đặt câu hỏi là một trong những kỹ năng chính của nhân viên
công tác xã hội khi làm việc với thân chủ. Hỏi là cách thức trong đó người hỏi
muốn khai thác thông tin từ người được hỏi nhằm mục đích nào đó. Ở đây nhân
viên công tác xã hội đặt câu hỏi cho thân chủ giúp cho thân chủ có thể giải thích
câu chuyện cũng như biết về mình rõ hơn mà không khiến họ cảm thấy bị lên án
hay lừa phỉnh.
Nếu hỏi trong đời thường được xem như một hoạt động tương tác khi một
người đưa ra thông điệp và mong muốn người kia trả lời để làm sáng tỏ vấn đề
quan tâm và hỏi ở đây thực chất là quá trình tìm kiếm, xác định thông tin.
Kỹ năng hỏi trong tham vấn được hiểu là quá trình nêu vấn đề, khích lệ
thân chủ chia sẻ nhằm khám phá thông tin, đồng thời giúp họ tự nhận thức về
bản thân và hoàn cảnh vấn đề để thay đổi.
Đặc điểm
- Thu thập khám phá thông tin một cách chi tiết về vấn đề đang tồn tại, về
mối quan hệ xã hội cũng như những mong muốn của thân chủ.
- Gợi mở, không mang tính áp đặt
- Nhà tham vấn sử dụng hỏi để hướng tới phản hồi hay khích lệ quá trình tự
nhận thức và tự thay đổi ở thân chủ.
- Khích lệ chia sẻ và thiết lập mối quan hệ
- Khích lệ thân chủ xem xét và lựa chọn giải pháp phù hợp.
- Công cụ để giúp thân chủ tự nhận thức cảm xúc, suy nghĩ hành vi cũng
như tiềm năng của
- Hỏi để khơi dậy, để khám phá và để thân chủ suy xét cho hành động.
Các loại câu hỏi
Câu hỏi đóng/mở.
o Câu hỏi mở: Loại câu hỏi này thường được sử dụng khi bắt đầu cuộc nói
chuyện hay tạo cảm giác thoải mái để giao tiếp, khích lệ tự do chia sẻ. Như
81
vậy, câu hỏi mở sẽ cho nhiều thông điệp, đặc biệt về những trải nghiệm cảm
xúc và suy nghĩ của thân chủ, thậm chí còn nhiều hơn là mong đợi. Một số
câu hỏi có thể sử dụng:
o Câu hỏi đóng: câu hỏi này được sử dụng khi muốn biết về thông tin cụ thể,
hoặc nhằm khoanh vùng nội dung thảo luận. Đôi khi, nó còn được sử dụng
như một kỹ thuật để kiểm soát những thân chủ nói nhiều, hay một công cụ
giúp thân chủ trấn tĩnh lại trong những tình huống bất an. Câu hỏi đóng là
câu hỏi có phương án trả lời là “có” hoặc “không” hay chỉ có một phương án
trả lời.
- Những câu hỏi về cảm xúc được đưa ra là dịp để thân chủ nhìn nhận lại
Câu hỏi hướng tới cảm xúc; suy nghĩ, hành vi:
những cảm xúc đích thực của họ, giúp họ phân biệt được những cảm xúc lẫn
- Việc hỏi về những hành vi giúp cho thân chủ nhận thức rõ hơn về ảnh hưởng
lộn đang tồn tại trong họ.
- Những câu hỏi về suy nghĩ sẽ khích lệ thân chủ nói lên những suy nghĩ bên
và hậu quả của nó.
trong mà họ khó nói ra ngoài.
Câu hỏi hướng tới khai phá vấn đề: Đó là các câu hỏi nhằm khám phá vấn đề
một cách đầy đủ từ nguyên nhân tới hậu quả; tập trung vào một vấn đề cụ thể
nhưng xác định mối quan hệ giữa vấn đề và sự đối phó của thân chủ với vấn đề,
mối quan hệ tương tác cá nhân liên quan tới vấn đề
Câu hỏi tăng năng lực, tập trung vào giải pháp: Loại câu hỏi này nhằm khích lệ
thân chủ tư duy về tiềm năng của mình và hướng đi cũng như những rào cản cần
loại bỏ.
Câu hỏi “Tại sao/vì sao”: Đây cũng là loại câu hỏi cũng được sử dụng trong
tham vấn tuy nhiên cần lưu ý khi mức độ sử dụng loại câu hỏi này bởi nhiều khi
chúng gây cho thân chủ cảm giác như bị tra khảo.
Như vậy, có rất nhiều dạng câu hỏi khác nhau với những mục đích khác
nhau trong quá trình tham vấn. Việc sử dụng mỗi loại câu hỏi tùy thuộc vào mục
đích của việc hỏi hay loại thông tin cần được làm rõ.
82
- Sử dụng các loại câu hỏi một cách linh hoạt như: câu hỏi mở (bắt đầu bằng
Biểu hiện cụ thể của sử dụng câu hỏi có kỹ năng:
hỏi với các từ như: cái gì, điều gì, hay kết thúc “như thế nào”, “ra sao”…câu
- Không nên sử dụng nhiều câu hỏi đóng (chỉ trong những trường hợp cần thiết).
- Tránh sử dụng nhiều câu hỏi bắt đầu bằng tại sao/vì sao.
- Tránh sử dụng câu hỏi đa nghĩa, câu hỏi có nhiều từ hỏi dễ tạo cảm giác bị
hỏi trực tiếp hướng tới cảm xúc, tới bản thân đối tượng.
hỏi dồn dập.
- Hỏi về cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của đối tượng, không chỉ hỏi về diễn biến
Một số lưu ý khi hỏi trong tham vấn:
- Hỏi về thông tin liên quan hiện tại chứ không chỉ về quá khứ, không né tránh
nguyên nhân vấn đề.
- Hỏi về suy nghĩ, mong muốn, nhu cầu và hướng giải pháp của chính đối tượng.
- Chú ý hỏi những điều đối tượng quan tâm.
- Tần suất hỏi cũng là vấn đề cần lưu ý. Hỏi nhiều không có nghĩa là tốt. Việc
hỏi về cảm xúc
hỏi tới tấp hay hỏi nhiều câu hỏi một lúc dễ làm cho thân chủ bị ngập chìm
và càng trở nên rối bời và khó trả lời. Trong tâm trạng không được thoải mái,
họ thường ít sáng suốt, thiếu nhạy bén với những câu hỏi. Nếu thân chủ có
trả lời cho loại câu hỏi này, thông tin thu được có thể ít có giá trị và không
được như mong muốn. Và như vậy, hỏi những câu hỏi có nhiều từ hỏi một
lúc, hoặc hỏi dồn dập là nên tránh. Nên hỏi vừa phải, từng câu và chú ý đến
- Thời điểm hỏi và loại hình câu hỏi cũng cần phù hợp với tính chất từng giai
phản ứng của họ khi hỏi.
đoạn khi tham vấn để giúp thân chủ đi từ mô tả vấn đề đến đến khám phá giải
- Có thái độ hỏi phù hợp: Những thái độ, hành vi khích lệ trong khi hỏi trong
pháp và thực hiện giải pháp.
o Lắng nghe và chú ý quan sát những phản ứng của đối tượng.
o Tôn trọng sự im lặng, giành thời gian cho đối tượng suy nghĩ.
tham vấn được thể hiện qua:
83
o Không dẫn dắt “mớm lời” theo ý kiến của người trợ giúp.
o Thể hiện thái độ lắng nghe, tôn trọng, không phê phán.
o Không hối thúc, không vội vàng.
o Có hành vi khích lệ như phản hồi, tóm lược, khen ngợi.v.v.
Tình huống:
Xa chồng trong suốt quá trình mang thai, chồng lại mâu thuẫn với
người nhà bên ngoại, chị Lưu Thị Phương, 36 tuổi dường như chưa
lúc nào thấy yên vui, thoải mái. Sau khi sinh con được hơn một
năm, chị Phương thấy cậu con trai mặt mũi khôi ngô rất ít cười.
Cậu bé không chịu nằm yên, ngủ ngoan. Khi vào tuổi tập nói, biết
đi, chị Phương hoảng hốt khi thấy con trai không lúc nào đứng yên,
chân đi nhón, thậm chí cậu còn có sở thích lao đầu đâm sầm vào
người khác… Càng lớn, con trai chị Phương càng hiếu động hơn,
chân tay không lúc nào ngừng nghỉ khiến chị Phương thực sự lo
lắng. Linh tính của người mẹ mách bảo chị Phương, con trai chị
phát triển bất bình thường. Bạn bè, người thân đều khuyên chị
Phương đưa con đi khám vì thấy cậu bé có biểu hiện giống trẻ tự
kỷ. Cố gắng thuyết phục chồng, chị Phương đưa con lên Hà Nội
khám. Tại đây, các bác sĩ kết luận, con chị bị tự kỷ. Nhận kết quả,
chị Phương sốc không nói lên lời khi nghĩ về cuộc sống sắp tới và
tương lai của con.
Những câu hỏi có thể đặt ra cho người mẹ này?
Từ khi nào chị cảm nhận được rằng con mình có vấn đề về -
nhận thức và phát triển?
- Mắc chứng tự kỷ có những biểu hiện gì cụ thể?
Cuộc sống của gia đình chị có gì thay đổi khi con chị được -
chẩn đoán mắc chứng tự kỷ?
Vợ chồng chị đã sắp xếp cuộc sống gia đình như thế nào để -
giúp con?
Anh/ chị đã gặp những khó khăn gì trong quá trình hỗ trợ -
84
con?
- Khi gặp khó khăn anh chị đã làm gì?
- ….
2.5.1.4. Kỹ năng phản hồi
Khái niệm
Phản hồi trong tham vấn được hiểu là phản ánh lại những hành vi suy
nghĩ cảm xúc của đối tượng bằng những hành vi, điệu bộ, lời nói của nhà tham
vấn, làm cho đối tượng hiểu được, thấy được hành vi mà họ vừa thực hiện, cảm
xúc của vừa thể hiện, suy nghĩ mà họ vừa nói ra.
Hay nói cách khác, phản hồi là mô phỏng chính xác, không mang tính
đánh giá về hành vi (bao gồm cả suy nghĩ, cảm xúc, hành động) của người đối
thoại với mình, là quá trình ta gửi lại cho đối tác những thông điệp - lời nói,
hành vi, cảm xúc, suy nghĩ - mà ta đã nhận từ đối tác và ngược lại.
Đặc điểm
Phản hồi trong tham vấn cũng là hành vi gửi lại những thông tin tiếp nhận
từ thân chủ. Tuy nhiên, loại phản hồi này hướng tới nhiều mục đích khác nhau
và chứa đựng một ý nghĩa tương tác đặc biệt trong tham vấn.
Khi phản hồi, thông tin có thể không mới đối với nhà tham vấn, nhưng nó
có tác dụng khích lệ thân chủ tự nhận thức, chấp nhận và kiểm soát được những
cảm xúc tiêu cực và hành động một cách có ý thức hơn. Chính sự tự nhận biết
này đã trở thành yếu tố tích cực có tác dụng thúc đẩy quá trình can thiệp.
Phản hồi trong tham vấn còn giúp thân chủ học cách thể hiện cảm xúc và
suy nghĩ. Sự ghi nhận của nhà tham vấn đối với cảm xúc này sẽ thúc đẩy sự
chấp nhận của chính thân chủ
Phản hồi nội dung: là cách sử dụng ngôn ngữ để truyền tải tới thân chủ những
gì đã nghe được từ họ. Khi phản hồi nội dung sự nhắc lại bằng ngôn ngữ cần đảm
bảo sự chính xác những suy nghĩ, quan điểm của thân chủ đã trình bày, tránh suy
diễn, phỏng đoán theo ý nghĩ chủ quan của người tham vấn. Nó được thực hiện
qua việc diễn đạt lại một cách ngắn gọn, bao hàm những chi tiết quan trọng và
85
phần lớn bằng những từ thân chủ sử dụng hay từ đồng nghĩa của chính nhà tham
vấn với thái độ tôn trọng và thấu cảm.
-
Biểu hiện cụ thể của phản hồi nội dung:
Lắng nghe, ghi nhận những quan điểm, hành vi, cảm xúc của đối tượng,
không phê phán những suy nghĩ của đối tượng. Đây là điều đầu tiên mà nhà
- Nói lại cảm xúc, quan điểm và suy nghĩ của đối tượng, nhưng không làm
tham vấn cần thực hiện được.
-
thay đổi ý nghĩa của nó.
Sử dụng từ ngữ gần nghĩa để nói lại ngắn gọn những điều đối tượng trình
- Diễn đạt lại những thông tin đối tượng chia sẻ chứ không phải thông tin suy
bày, song không mang tính khẳng định của cá nhân.
-
diễn theo ý chủ quan của nhà tham vấn.
Lắng nghe và tóm lược lại những điều họ chia sẻ chứ không phải ra lời
khuyên về giải pháp.
-
Tình huống phản hồi
Thân chủ: “Tôi không thể làm gì với tình trạng của con cả. Nó
-
làm những gì mà cháu muốn và không nghe lời ai cả”
Nhà tham vấn: Chị cảm thấy chị không bảo được con mình
nữa, cháu làm nhiều việc theo ý cháu. Cháu làm bất cứ điều gì
cháu muốn và không lắng nghe chị.
Phản hồi cảm xúc: là mô tả lại trạng thái cảm xúc hiện tại của thân chủ mà nhà
tham vấn nhận biết được qua quan sát trong quá trình trao đổi với thân chủ, qua
câu nói của thân chủ. Phản hồi cảm xúc thực chất là diễn đạt lại những câu nói,
hành vi liên quan tới cảm xúc của thân chủ.
-
Đặc điểm của phản hồi cảm xúc
Phản ánh cảm xúc giúp thân chủ hiểu được cảm xúc mà thân chủ đã và
đang trải nghiệm, giúp thân chủ phân loại những trạng thái, tình cảm hỗ
-
độn thân chủ đang trải nghiệm.
-
Giúp họ sẵn sàng thừa nhận các cảm xúc đó
Việc thừa nhận và xử lý các cảm xúc đó sẽ giúp thân chủ nhận ra những
86
tác động, nguyên nhân những ảnh hưởng của cảm xúc đến những hành vi
-
không tích cực của thân chủ do chính những cảm xúc đó gây ra.
Trên cơ sở đó thân chủ sẽ điều chỉnh cảm xúc suy nghĩ và hành vi sao cho
-
có lợi nhất cho bản thân họ và tình huống mà thân chủ đang mắc phải.
Phản hồi cảm xúc là thể hiện sự thấu hiểu của nhà TV từ đó khuyến khích
sự hợp tác của thân chủ . Phản hồi cảm xúc có thể được tiến hành theo các
bước khác nhau. S. Cormier đề xuất một qui trình phản hồi cảm xúc như
sau:
o
Trước hết cần xác định cảm xúc của thân chủ.
o
o Hãy kiểm tra những phản ứng của thân chủ sau phản hồi qua quan sát
Sau đó lựa chọn từ ngữ để chuyển tải lại cảm xúc.
thái độ hành vi của họ cùng những câu nói đáp lại của họ.
- Chú ý lắng nghe, quan sát những cảm xúc của đối tượng được biểu hiện qua
Những biểu hiện cụ thể của phản hồi cảm xúc:
thái độ hành vi hay lời nói của họ. Ghi nhận mọi cảm xúc tích cực hay tiêu
- Xác định cảm xúc của đối tượng qua việc quan tâm tới biểu cảm hay ý nghĩa
cực.
- Sử dụng từ ngữ biểu cảm để nói lại những cảm xúc đó. Tránh nhắc lại một
cảm xúc đằng sau hành vi hay câu nói đó.
cách chính xác các cảm xúc của thân chủ vì nó có thể gây ra cảm giác “đau
- Sử dụng từ ngữ bắt đầu câu không nên có tính khẳng định ý kiến cá nhân mà
đớn” hoặc nhại lại thân chủ.
nên dưới dạng thăm dò để kiểm tra suy nghĩ hay cảm nhận của mình nhằm
- Trao đổi với họ về cảm xúc của họ. Nhà tham vấn cần giúp người thân của trẻ
tránh tạo ra tâm lý bị áp đặt.
đối diện với cảm giác tiêu cực và khó chịu bằng cách giúp họ thích nghi chứ
không được bỏ qua các cảm xúc tiêu cực của họ
o
Tình huống phản hồi
Thân chủ: “nhiều khi tôi cảm thấy tuyệt vọng không biết mình phải
làm gì với đứa con này. Tôi cảm thấy hầu như không có sức lực,
87
o Nhà tham vấn: Chị có vẻ bế tắc về việc tìm ra cách để hỗ trợ con.
hy vọng gì nữa”
- Nếu thân chủ đang bức xúc muốn được chia sẻ nhưng lại còn e ngại vì nhà
Chị có thể nói xem là chị đã xử lý vấn đề này như thế nào không?
tham vấn còn trẻ, chưa có gia đình hoặc chưa có con…(thân chủ chưa tin
tưởng vào nhà tham vấn),
Nhà tham vấn có thể trả lời: Tôi chưa lập gia đình/ chưa có con.
Hình như anh/ chị đang phân vân về việc liệu tôi có thể hiểu được
những điều anh chị đang quan tâm?” Hoặc “Tôi chưa lập gia đình/
chưa có con nên để hiểu thường tận những gì anh/ chị quan tâm thì
không dễ. Tuy nhiên, tôi đã có những hiểu biết về những vấn đề của
các gia đình có trẻ tự kỷ. Tôi cũng đã từng làm việc với nhiều gia
đình cũng gặp vấn đề tương tự như gia đình mình và đã có những
kết quả nhất định. Nếu anh/ chị tin tưởng ở tôi, chúng ta sẽ cùng
nhau xem xét các khía cạnh của vấn đề. Tôi hy vọng chúng ta sẽ tìm
ra được cách giải quyết những khó khăn mà anh/ chị đang gặp
phải”.
2.5.1.5. Kỹ năng thấu hiểu
Thấu hiểu có vai trò vô cùng quan trọng trong tham vấn, nó được xem
như một yếu tố không thể thiếu khi tiến hành các hoạt động trợ giúp cho những
người có khó khăn (đặc biệt là về tâm lý, tình cảm) cần trợ giúp.) Thấu hiểu vừa
là thái độ, vừa là một phẩm chất, và vừa là một kỹ năng quan trọng của nhân
viên công tác xã hội. Thấu hiểu là khả năng cảm nhận và hiểu chính xác những
cảm xúc suy nghĩ, niềm tin của thân chủ, đồng thời biểu hiện đáp ứng với tâm
trạng cảm xúc và suy nghĩ đó.
Mục đích: nhằm tạo niềm tin và cảm giác an toàn cho thân chủ, trên cơ sở đó
thiết lập mối quan hệ hợp tác tích cực trong quá trình trợ giúp thân chủ giải
quyết vấn đề.
Vai trò của thấu hiểu: Thấu hiểu được xem như một yếu tố vô cùng quan trọng
trong tham vấn nói riêng trong công tác xã hội nói chung. C.Rogers với những
88
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thấu hiểu là trung tâm của sự thành công trong trị
liệu.
- Thấu hiểu là chiếc chìa khoá để tạo lập mối quan hệ tương tácnhân viên công
Về phía nhân viên công tác xã hội:
tác xã hộivà thân chủ từ đó có được sự hợp tác của thân chủ trong giải quyết
- Giúp nhân viên công tác xã hộikhai thác những thông tin quan trọng cho quá
vấn đề.
- Giúp nhân viên công tác xã hộihiểu thân chủ và tình huống của thân chủ một
trình giúp đỡ của mình
cách chính xác để từ đó cùng thân chủ đưa ra giải pháp tối ưu nhất cho đối
- Là yếu tố tham gia vào sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của nhân viên
tượng.
công tác xã hội
- Giúp thân chủ cảm thấy được hiểu và được chia sẻ từ đó họ giải toả được tâm
Về phía thân chủ:
lý nặng nề mặc cảm của bản thân. Trong nhiều trường hợp đối tượng tự
trừng phạt họ, qui trách nhiệm cho thân chủ về vấn đề mà thân chủ đang mắc
- Tăng cường tính chủ động hợp tác cùng giải quyết vấn đề: chia sẻ thông tin
phải, làm thân chủ trở nên mặc cảm và thấy tội lỗi trong tình huống đó.
(suy nghĩ, cảm xúc, dự định…) với nhân viên công tác xã hộivà tìm hướng
- Tăng cường sự tự tin ở thân chủ vì họ tin rằng có người đang hiểu mình và
giải quyết
cùng mình giải quyết vấn đề. Nhiều khi thân chủ có cảm giác chỉ có thân chủ
hiểu thân chủ, không ai hiểu thân chủ hết và thân chủ cảm thấy sự cô đơn
- Học hỏi được sự tương tác mang tính cùng hiểu biết và cùng cộng tác
trống vắng.
-
Các biểu hiện của kỹ năng thấu hiểu:
Cảm nhận và hiểu được suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: đặt mình vào hoàn
-
cảnh của thân chủ để cảm nhận những gì họ đang trải qua.
Chấp nhận quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: lắng nghe, ghi nhận
89
và tôn trọng những giá trị, niềm tin, suy nghĩ của thân chủ, không chỉ bề
mặt ngôn từ mà cả những biểu cảm dưới ngôn từ.
-
Không phê phán, đánh giá quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc không phù hợp
với quan điểm cá nhânnhân viên công tác xã hội hay xã hội
-
Phản hồi lại những suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: nhắc lại và làm rõ
những suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ
-
Quan tâm đến nhu cầu của thân chủ
-
Nhạy cảm và tôn trọng những giá trị, kinh nghiệm của thân chủ
Tình huống
Thân chủ: “Nhiều lúc tôi cảm thấy tủi thân vô cùng, tôi chán
ghét tất cả mọi thứ, chán chồng, chán con…”
Nhà tham vấn: Có vẻ như là đồi khi chị cảm thấy tủi thân, cảm
thấy chán ghét tất cả mọi người, chán chồng, chán con. Chị biết
đấy, trong cuộc sống chúng ta thấy tồn tại các cảm xúc lẫn lộn
về một ai đó, về một điều gì đó. Chị có thể nói xem là chị thấy
tủi thân về điều gì? Chán ghét chồng, con về điều gì?
- Đặt mình vào hoàn cảnh của thân chủ để cảm nhận về điều họ đang cảm
Để thấu hiểu được thân chủ của mình, nhà tham vấn cần:
- Nhắc lại cảm xúc mà thân chủ đang nói và nguyên nhân dẫn đến cảm xúc đó
thấy, cảm nhận vấn đề
(Điều này làm cho thân chủ thấy mình được lắng nghe, vấn đề của mình là có
- Nói điều họ đang cảm thấy là đúng trong hoàn cảnh của họ (làm cho thân chủ
ý nghĩa)
- Chỉ ra giá tri, ý nghĩa sâu kín nằm sau cảm xúc, hành vi tiêu cực của thân chủ
cảm thấy mình được chấp nhận)
(làm cho thân chủ cảm thấy mình có giá trị trong hoàn cảnh của họ)
Môt số điều KHÔNG NÊN khi thể hiện sự thấu hiểu:
-
Không đưa ra lời khuyên hoặc bảo họ làm gì, làm thế nào
-
-
Không đưa kinh nghiệm cá nhân vào câu nói
Không đặt câu hỏi
90
-
-
Không đứng về một phía nào để bênh/ lên án
Không giảng giải đạo đức hoặc bình luận về con người thân
chủ
2.5.2..Một số kỹ năng chuyên biệt trong tham vấn, hỗ trợ tâm lý gia đình trẻ
tự kỷ
2.5.2.1.Kỹ năng hướng dẫn vẽ cây phả hệ
Việc hướng dẫn các thành viên trong gia đình trẻ tự kỷ vẽ cây phả hệ sẽ
giúp cho họ nhìn thấy rõ hơn về các mối quan hệ trong gia đình họ. Sử dụng cây
phả hệ là cách nhà tham vấn ghi lại thông tin, đồng thời còn là công cụ để phân
tích đánh giá sự giao tiếp của các thành viên và các vấn đề trong gia đình. Việc
- Lôi kéo sự tham gia của các thành viên trong gia đình
- Giúp các thành viên nhận thức đúng vấn đề và giúp các thành viên khác nhận
sử dụng cây phả hệ cũng là một cơ hội để:
- Chỉ ra được chỗ yếu nhất
- Các thành viên hiểu rằng, để giúp đỡ con em mình và cải thiện được các chức
rõ về bản thân họ trong các mối quan hệ của gia đình
năng cho trẻ tự kỷ cần có sự giúp đỡ của cả hệ thống gia đình
Việc sử dụng cây phả hệ sẽ giúp các thành viên trong gia đình thấy được các
mối quan hệ qua các thế hệ và sự tương tác trong gia đình
Đàn ông
Đàn bà
Đã mất
Kết hôn
Ly hôn
Một số ký hiệu sử dụng vẽ sơ đồ phả hệ gia đình
91
Ly thân
Thân thiết
………………….
Quan hệ xa cách
XXXXXXXXXX :
Quan hệ xung đột
2.5.2.2.Kỹ năng giao nhiệm vụ cho các thành viên trong gia đình
Giao nhiệm vụ cho các thành viên trong gia đình là một công việc rất
quan trọng khi tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ. Những công việc này thường
được nhà tham vấn đưa ra có sự thống nhất của đối tượng là thay đổi hành vi,
thái độ, sự chia sẻ cảm xúc suy nghĩ đối với thành viên khác khi họ giao tiếp
trong gia đình
Việc giao nhiệm vụ cũng là một cách để các thành viên trong gia đình
thực hiện hành động cụ thể nào đó hoặc làm gì đó khác đi…Để giao nhiệm vụ
cho các thành viên trong gia đình, nhà tham vấn có thể dùng cấu trúc câu: Tôi
thực sự mong muốn/ khuyến khích anh/ chị ….
Tôi thực sự muốn giao cho anh/ chị một nhiệm vụ để làm khi về
nhà, anh/ chị có muốn thử không? Nhiệm vụ đó là anh sẽ giúp con
tập thể dục hàng ngày, mẹ sẽ giúp con học cách vệ sinh cá nhân
hoặc học cách thay quần áo…
2.5.2.3.Kỹ năng điều phối sự tham gia của các thành viên trong gia đình
Trong buổi tham vấn gia đình có sự tham gia của nhiều thành viên. Việc
làm việc với nhiều thành viên của một gia đình nếu nhà tham vấn không khéo
điều phối thì có thể xảy ra trường hợp: mọi người tranh nhau nói, chỉ có một
người nói. Làm việc với gia đình trẻ tự kỷ bắt buộc nhà tham vấn phải có kỹ
năng điều phối để khuyến khích sự tham gia của nhiều người vào buổi họp.
92
Kỹ năng điều phối sự tham gia của các thành viên trong gia đình là việc
giúp các thành viên thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của họ ở nhau (cả cảm xúc tích
cực lẫn tiêu cực). Nếu điều phối tốt nhà tham vấn sẽ có thể khai thác thông tin từ
nhiều phía và đặc biệt giúp các thành viên trong gia đình có cơ hội nói ra các
suy nghĩ của bản thân mà bình thường họ không muốn nói hoặc không thể nói.
Kỹ năng điều phối được thể hiện bằng cách đưa ra các câu hỏi: anh/ chị/
cháu…suy nghĩ như thế nào về điều này? Động viên các thành viên hoặc đơn
giản là khích lệ sự tham gia của các thành viên. Để điều phối sự tham gia của
các thành viên gia đình, nhà tham vấn không nên lên án hay bênh vực một ai,
tóm lại nhà tham vấn cần đóng vai trò trung gian và tạo điều kiện cho tất cả các
thành viên trong gia đình có cơ hội được nói ra suy nghĩ, quan điểm cá nhân.
Nhà tham vấn nên hạn chế người nói nhiều và khích lệ thành viên ít nói.
Những gợi ý sau đây là những điều để nói với những gia đình/ thành viên
- Tôi nhận thấy rằng, mặc dù nói về những vấn đề nhất định liên
của gia đình có vẻ trầm lặng, ít nói, không sẵn lòng tham gia tham vấn:
quan đến cuộc sống có thể không thoải mái những nhiều gia đình
vấn vui vẻ đến đây vì họ nhận ra những điều mọi thành viên khác
- Mọi người ở đây có thể có những suy nghĩ khác nhau về vấn đề
trong gia đình suy nghĩ
trong gia đình. Đôi khi, có vẻ như mọi người chỉ trích một người
nào đó đã gây ra lỗi và dường như họ đang buộc tội người đó bằng
cách nói lỗi hính là tại anh/ chị. Nếu ai có cảm giác đó hãy cho tôi
biết và chúng ta sẽ trao đổi để đảm bảo là anh/ chị có cơ hội để nói
về quan điểm của mình.
2.5.2.4. Kỹ năng cung cấp thông tin:
Schwartz cho rằng, cung cấp thông tin là sự chia sẻ trực tiếp về những sự thực,
ý tưởng, giá trị và niềm tin của nhà tham vấn liên quan đến nhiệm vụ cần làm
của thân chủ. Còn Neukrud thì cho rằng đó là việc cung cấp cho thân chủ thông
tin khách quan có giá trị mà thân chủ không biết về nó, thông tin này sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho sự hiểu biết và sự lớn lên của thân chủ.
93
Theo Schwart có hai điều cần tính khi cung cấp thông tin là: Những thông
tin liên quan đến cam kết làm việc trong quá trình trợ giúp và những thông tin
mà thân chủ cần có để hóa giải những công việc hiện thời của họ. Vì vậy nhà
tham vấn cần định hướng về những liệu thích hợp để có thể chia sẻ với thân chủ
dựa trên việc hiểu rõ về mục đích của tham vấn và cũng làm cho thân chủ nắm
rõ vấn đề này. Vì thế:
Kỹ năng cung cấp thông tin trong tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ là sự
vận dụng tri thức, kinh nghiệm của nhân viên công tác xã hội để cung cấp
những thông tin khách quan, cần thiết, có giá trị đối với việc giải quyết vấn đề
của thân chủ; đồng thời chia sẻ trực tiếp về những sự thực, ý tưởng, giá trị và
niềm tin của nhân viên công tác xã hội liên quan đến nhiệm vụ cần làm của thân
chủ. Những thông tin mới giúp thân chủ có thêm kiến thức và giúp họ tự tin hơn
trong giải quyết vấn đề của họ.
- Là sự chia sẻ trực tiếp về những sự thực, ý tưởng, giá trị và niềm tin của nhân
Đặc điểm của kỹ năng cung cấp thông tin:
- Cung cấp cho thân chủ những thông tin mà thân chủ chưa biết về nó nhằm
viên công tác xã hội liên quan đến nhiệm vụ cần làm của thân chủ.
- Cung cấp thông tin khác với cho lời khuyên bởi cung cấp thông tin là sự
tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiểu biết và tiến trình giải quyết vấn đề.
cung cấp thông tin mang tính khách quan để thân chủ có thêm kiến thức về
một vấn đề nào đó, còn cho lời khuyên là những ý kiến, thông tin đưa ra chủ
yếu dựa vào kiến thức, kinh nghiệm mang tính chủ quan của nhân viên công
tác xã hội
- Thông tin mang tính khách quan và chính xác
- Đảm bảo tính bảo mật của những trường hợp đó.
- Nhấn mạnh quyền quyết định là do thân chủ. “Quyền lựa chọn là ở anh/ chị.
Khi cung cấp thông tin, nhà tham vấn cần lưu ý:
Tôi hy vọng anh/ chị sẽ cân nhắc những thông tin tôi đưa ra để anh/ chị cân
- Luôn cảnh báo cho thân chủ biết và ý thức được rằng kinh nghiệm của người
nhắc trước khi quyết định”
94
này không thể hoàn toàn áp dụng cho người khác. Vấn đề của thân chủ có
thể không giống với người đi trước. Do đó cần khuyến khích họ chia sẻ và tự
- Tìm hiểu thân chủ cần biết thông tin về khía cạnh nào (nguồn lực, chính
chịu trách nhiệm về hành động của mình.
- Cần có hướng dẫn cách sử dụng thông tin vừa được cung cấp.
sách, tổ chức …)
Tình huống 1
Con tôi bị tự kỷ có phải là do tôi ít có thời gian trò chuyện tiếp xúc
với con không?
Nhà tham vấn
Đã có nhiều ông bố bà mẹ cũng đặt câu hỏi về việc tại sao con
mình lại bị tự kỷ, rồi họ cũng có suy nghĩ giống như chị là tự đổ lỗi
cho bản thân mình. Tự kỷ là một loại khuyết tật phát triển tồn tại
suốt đời, thường được biểu hiện ra ngoài trong 3 năm đầu đời. Tự
kỷ là một rối loạn thần kinh ảnh hưởng đến chức năng hoạt động
của não bộ gây nên ở nhiều quốc gia, không phân biệt giới tính,
chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Người bị tự kỷ thường
gặp khó khăn trong tương tác xã hội, các vấn đề về giao tiếp bằng
ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và có các hành vi, sở thích, hoạt động
lặp đi, lặp lại. 40 năm trước, người ta cho rằng tự kỷ là do bố mẹ
không biết nuôi con. Đây là một quan niệm hoàn toàn sai lầm và
quan niệm này đã gây ra biết bao lo lắng, phiền toái cho các bậc
cha mẹ, một mặt họ phải đối mặt với chứng tự kỷ của con, một mặt
họ còn tự đổ lõi cho bản thân mình giống như chị. Hiện nay khoa
học chưa tìm ra được nguyên nhân chính xác, trực tiếp dẫn đến
bệnh tự kỷ mà mới chỉ đưa ra một số nguyên nhân đã chỉ ra trẻ tự y
là do: Tổn thương não hoặc não bộ
kém phát triển, yếu tố di truyền, những bất thường của người mẹ
trong quá trình mang thai, nguyên nhân từ việc trẻ bị nhiễm trùng
thần kinh, từ môi trường sống. Bây giờ điều quan trọng là không
95
phải tìm ra ai là người gây ra bệnh này ở con mà quan trọng là
mình và gia đình sẽ giúp con như thế nào.
Tình huống 2: Con tôi 3 tuổi ở lớp rất hay cắn bạn. Tôi phải làm
thế nào để cháu không cắn bạn nữa?
Nhà tham vấn: Ngay cả ở những trẻ bình thường, vào khoảng từ 2
đến 5 tuổi, khi chơi đùa trẻ rất hay cắn các bạn khác. Quan trọng
là chị cần tìm hiểu trẻ thường cắn các bạn vào những lúc nào? Có
phải cháu luôn cắn hay chỉ khi các bạn làm điều gì mà cháu cảm
thấy không thoải mái? Khi cháu cắn bạn các cô giáo ở lớp có nhắc
nhở cháu hay không? Thái độ của cháu thế nào khi bị nhắc nhở? Vì
trẻ thường không biết hành động nào là được làm, hành động nào
là không được làm. Nhiều trẻ sau khi nhắc nhở sau đó sẽ giảm
những hành vi bạo lực của mình đi. Quan trọng là bố mẹ và các cô
giáo ở trường phải hướng dẫn trẻ hành động đúng trước những
tình huống không thoải mái.
Qua phân tích ở trên có thể thấy, hai nhóm kỹ năng tham vấn cơ bản và
nhóm kỹ năng tham vấn chuyên biệt có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong đó
các kỹ năng tham vấn cơ bản là cơ sở, điều kiện để thực hiện các kỹ năng tham
vấn chuyên biệt, các kỹ năng tham vấn chuyên biệt chi phối và ảnh hưởng đến
hiệu quả của các kỹ năng tham vấn cơ bản. Vì vậy trong quá trình tham vấn cho
gia đình trẻ tự kỷ, nhân viên công tác xã hộicần chú ý vận dụng, phối hợp linh
hoạt để quá trình tham vấn đạt hiệu quả.
2.6.Một số điểm cần lưu ý trong quá trình tham vấn, hỗ trợ tâm lý cho
- Khi tiến hành họp/làm việc với gia đình thân chủ, nhà tham vấn cần tuân
gia đình trẻ tự kỷ
thủ các nguyên tắc sau:
o Bảo mật
o Cùng lắng nghe
o Sử dụng đại từ nhân xưng “tôi”
o Không ngắt lời
96
o Bố trí thời gian ngừng khi gặp phải các xung đột quá gay gắt
- Cha mẹ trẻ tự kỷ cần nhận biết, tìm hiểu mô hình can thiệp sớm toàn diện
o Kết thúc với những điều tích cực và những cam kết
- Hội chứng tự kỷ rất nhiều trong khi các trung tâm khám và điều trị còn ít,
bao gồm giáo dục đặc biệt và trị liệu cá nhân.
nhất là các tỉnh lẻ hoặc vùng sâu vùng xa, vì vậy nhà tham vấn cần khuyến
khích, động viên cha mẹ trẻ tích cực tìm hiểu thông tin về bệnh, có niềm tin
- Trước khi kết thúc buổi họp/gặp gỡ gia đình, nhà tham vấn cần kiểm tra
vững vàng, kịp thời chăm chữa cho các con, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
các thành viên trong gia đình xem còn điều gì muốn nói trước khi kết
thúc. Vì có thể, một số vấn đề quan trọng nào đó chưa được thảo luận gây
- Việc giao nhiệm vụ cho các gia đình cũng là điều cần thiết mà nhà tham
ra sự băn khoăn.
vấn cần thực hiện. Nhiệm vụ này có thể đảm bảo rằng các thành viên
trong gia đình đang thực hiện những hành động cụ thể để cải thiện cuộc
- Với vai trò chuyên môn của mình, nhà tham vấn cần phải ý thức được
sống của họ.
rằng việc tiến hành họp/gặp gỡ với gia đình là một quá trình thường
xuyên và liên tục. Nhà tham vấn phải chuẩn bị tinh thần cho các thành
viên tham gia tham vấn trước khi tiến hành gặp gỡ với các thành viên
- Nhà tham vấn cần tạo ra sự kết nối cần thiết, xây dựng lòng tin, xem xét
khác.
sự nhìn nhận của gia đình về thực tại của từng cá nhân trong gia đình; hỗ
trợ các thành viên trong gia đình biết cách lắng nghe tích cực; hỗ trợ, giao
- Trong quá trình tiếp xúc, nhà tham vấn cần xem xét các giá trị, kiểu cách
tiếp trên cơ sở hiểu biết lẫn nhau, quan tâm, hy vọng.
của gia đình, văn hóa… Nhà tham vấn thể hiện sự hoà đồng với tâm trạng
của gia đình, ít nhất ở lần gặp đầu tiên một cách rất chân thành. Nhà tham
vấn cần tạo lập mối quan hệ với tất cả các thành viên trong gia đình trong
quá trình gặp gỡ/làm việc với họ thông qua việc sử dụng kỹ năng giao tiếp
97
trong quá trình tiếp xúc; tôn trọng, chấp nhận và thừa nhận những vấn đề
gia đình đã trải qua. Nhà tham vấn cần thấu hiểu rằng tất cả mọi người
trong gia đình đều bị ảnh hưởng, gặp khó khăn trong cuộc sống khi con em họ
- Nhà tham vấn nên dành thời gian cho các thành viên được nói hết suy
mắc chứng tự kỷ
nghĩ, cảm xúc và mong muốn của mình. Tuy nhiên nhà tham vấn không
để cho buổi họp/gặp gỡ chuyển thành công kích lẫn nhau mà chỉ nên tập
- Đối với nhà tham vấn việc cung cấp thông tin cho gia đình trẻ về tự kỷ,
trung vào những điểm tích cực.
các dấu hiệu nhận biết sớm, các địa chỉ tin cậy để chẩn đoán đúng về vấn đề
của con em họ, các vấn đề có thể nảy sinh trong quá trình chăm sóc và giáo
- Nhà tham vấn cần thảo luận về việc phân công nhiệm vụ hỗ trợ thân chủ
dục trẻ tự kỷ là cần thiết và quan trọng
cho các thành viên trong gia đình. Những nhiệm vụ cần phải ngắn gọn, cụ
thể, nhẹ nhàng và dễ thành công. Muốn các thành viên thực hiện tốt cần
xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm thực hiện cho từng
- Nhà tham vấn và gia đình cần hỗ trợ và khen ngợi việc các thành viên
người để hoàn thành nhiệm vụ.
trong gia đình thực hiện tốt các công việc và có sự phối hợp tốt với nhau trong
quá trình chăm sóc trẻ.
Câu hỏi ôn tập bài 2:
1. Anh/ chị hãy cho biết quy trình của tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình
có trẻ tự kỷ? Những điểm cần chú ý khi tiến hành theo các giai đoạn?
2. Để tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ, nhân viên CTXH cần
rèn luyện những kỹ năng cơ bản nào?
3. Để tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ, nhân viên CTXH cần
rèn luyện những kỹ năng cơ bản nào?
4. Khi tham vấn hỗ trợ tâm lý cho gia đình có trẻ tự kỷ, nhân viên CTXH
cần đảm bảo những nguyên tắc nào ?
98
Tài liệu tham khảo
1) Vũ Dũng, Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách Khoa, 2008
2) Trần Thị Minh Đức, Giáo trình Tham vấn tâm lý, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, 2016.
3) Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ-phát hiện sớm và can thiệp sớm, NXB Y học,
2007.
4) Bùi Thị Xuân Mai, Giáo trình Tham vấn tâm lý, NXB Lao động Xã hội,
2013.
5) Bùi Thị Xuân Mai, Giáo trình Tham vấn điều trị nghiên ma túy, NXB Lao
động Xã hội, 2013
6) Phillip Abrams, Trợ giúp hàng ngày cho phụ huynh các trẻ em tự kỷ, Hội
Cứu trợ trẻ em khuyết tật Việt Nam, Trung tâm sao mai, tài liệu lưu hành
nội bộ.
7) Tự kỷ và bản chất, Hội Cứu trợ trẻ em khuyết tật Việt Nam, Trung tâm
sao mai, tài liệu lưu hành nội bộ.
8) Chantal Sicile – Kira (Đào Thị Bích Thủy dịch), Tự kỷ và tuổi trưởng
thành, Trung tâm đào tạo và phát triển giáo dục đặc biệt, tài liệu lưu hành
nội bộ.
9) Jane Shields et al ( Huỳnh Ngọc Trân dịch), Sách dành cho phụ huynh
của trẻ có chứng tự kỷ, 2010
10) Phạm Toàn, Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ, NXB Y HỌC, 2014
11) Tài liệu tập huấn kỹ năng cơ bản trong tham vấn, Unicef, 2005.
12) Nguyễn Thị Hoàng Yến, Tự kỷ những vấn đề lý luận và thực tiễn,
NXB Đại học Sư Phạm, 2015.
99
Bài 3
THAM VẤN NHÓM CHA MẸ CÓ CON TỰ KỶ TRONG VIỆC
CHIA SẺ KINH NGHIỆM - CHĂM SÓC – GIÁO DỤC
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này người học cần năm được:
- Kiến thức: Hiểu được khái niệm tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ,
hiểu được ý nghĩa và nắm được các bước của quy trình tham vấn nhóm
hỗ trợ nhóm cha mẹ có con tự kỷ.
- Kỹ năng: Biết vận dụng các kỹ năng tham vấn trong việc hỗ trợ nhóm
cha mẹ có con tự kỷ.
- Thái độ: Có thái độ thân thiện, tôn trọng, không kỳ thị; Yêu nghề và
tận tâm hỗ trợ thân chủ; Tích cực, chủ động tìm kiếm và áp dụng kiến
thức, kỹ năng vào thực tiến.
3.1. Khái niệm tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
Tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ là một tiến trình hỗ trợ giữa nhà
tham vấn và các thành viên trong nhóm, trong đó nhà tham vấn là người có
chuyên môn sâu về tự kỷ và nhóm người được tham vấn là cha, mẹ có con tự kỷ,
hoặc những người có liên quan đến chăm sóc, hỗ trợ trẻ tự kỷ. Trong tiến trình
này nhà tham vấn điều phối tương tác tích cực các thành viên trong nhóm được
tham vấn chia sẻ, kiến thức, kỹ năng để thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi,
nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục phục hồi cho trẻ tự kỷ.
Tham vấn nhóm cha mẹ có trẻ tự kỷ giúp họ có kiến thức phát hiện, can
thiệp, chăm sóc và giáo dục hòa nhập cho trẻ tự kỷ hay như sau:
- Giúp các thành viên nhóm bày tỏ cách ứng xử, suy nghĩ và cảm nhận
- Giúp các thành viên nhóm tăng cường khả năng tự nhận thức về bản
thân và khả năng giao tiếp xã hội.
100
- Giúp cho các thành viên nhóm nâng cao sự tự tin, và khả năng giải quyết
vấn đề
- Giúp các thành viên nhóm có khả năng phát triển và hoàn thiện bản thân
mình.
- Giúp các thành viên nhóm tăng cường khả năng can thiệp, hỗ trợ trẻ tự
kỷ hòa nhập cộng đồng.
- Khuyến khích các thành viên trong nhóm học hỏi lẫn nhau và áp dụng
vào việc hỗ trợ chăm sóc trẻ tự kỷ.
3.2. Mục đích, ý nghĩa tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
Tham vấn nhóm cha mẹ có trẻ tự kỷ là giúp họ thay đổi cách giao tiếp
ứng xử với nhau để cải thiện không khí tâm lý gia đình, giảm bớt sự căng thẳng.
Nhà tham vấn giúp họ bằng cách khuyến khích các thành viên trong gia đình
bày tỏ một cách thẳng thắn những suy nghĩ, cảm xúc thật của mình trong quá
trình tham vấn, giúp họ nhận thức được vấn đề đang tồn tại của gia đình và hợp
tác cùng nhau để giải quyết vấn đề, cụ thể là:
Giúp các thành viên thay đổi cách ứng xử tiêu cực.
Giúp các thành viên trong gia đình giao tiếp với nhau hiệu quả.
Tạo cơ hội để các thành viên bày tỏ ý kiến, quan điểm, chia sẻ cảm xúc.
Giúp các thành viên trong gia đình có thêm kỹ năng và biết sử dụng các nguồn
lực để ứng phó với tình huống có vấn đề một cách hiệu quả.
Tham vấn gia đình là một cách can thiệp có hiệu quả trong quá trình trợ
giúp gia đình, giúp gia đình giải quyết vấn đề đang tồn tại, đồng thời thông qua
tham vấn gia đình từng vấn đề của cá nhân cũng sẽ được cải thiện, vì mỗi cá
nhân đều sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình và chịu ảnh hưởng bởi các
yếu tố văn hóa, xã hội, giáo dục của gia đình.
Trong gia đình của trẻ tự kỷ cũng vậy, nếu gia đình đó là một gia đình
đầm ấm, các thành viên trong gia đình quan tâm trợ giúp nhau, cùng tham gia
đóng góp cho sự phát triển bền vững của gia đình, đồng thời huy động nguồn
lực của gia đình trong trợ giúp cá nhân trẻ thì trẻ có nhiều hơn cơ hội để giảm
bớt tình trạng khó khăn của mình. Ngược lại gia đình có mâu thuẫn, xung đột
101
hoặc mọi người trong gia đình ứng xử với nhau thiếu tôn trọng hoặc không quan
tâm đến nhau, đùn đẩy trách nhiệm chăm sóc hỗ trợ trẻ tự kỷ cho người khác thì
có thể dẫn đến bầu không khí tâm lý trong gia đình luôn căng thẳng, trẻ tự kỷ có
thể bị bạo lực, ngược đãi hoặc bị bỏ mặc, xao nhãng. Điều đó ảnh hưởng rất tiêu
cực đến sự đời sống cũng như sự phát triển của trẻ.
Tham vấn trợ giúp các thành viên trong gia đình trẻ tự kỷ để họ giải quyết
được những “vấn đề” của họ cũng như để chăm sóc hỗ trợ trẻ tự kỷ tốt hơn là
hoạt động vô cùng cần thiết và có ý nghĩa
Nhóm cha mẹ có con tự kỷ là một nhóm có cùng cảnh ngộ, được thành
lập để giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và can thiệp cho
trẻ em tự kỷ hòa nhập cộng đồng.
Việc thành lập nhóm cha mẹ có con tự kỷ mang nhiều ý nghĩa:
Các thành viên trong nhóm chia sẻ và đồng cảm với nhau. Trong các buổi
sinh hoạt nhóm, các phụ huynh chia sẻ những khó khăn, thuận lợi, trạng thái
cảm xúc, sự căng thẳng đến từ việc chăm sóc trẻ, sự phục hồi của mỗi phụ
huynh sau một thời gian khủng hoảng tinh thần, tâm lý khi nhận được kết quả
đánh giá con mình bị bệnh tự kỷ. Đến sinh hoạt nhóm, họ biết rằng họ không
đơn độc, họ không phải là người duy nhất phải đối mặt với những khó khăn khi
sinh ra một người con mắc bệnh tự kỷ. Sinh hoạt nhóm, tạo ra một môi trường
an toàn để mỗi phụ huynh có thể chia sẻ cảm xúc, sự trải nghiệm của mình với
những người cùng hoàn cảnh. Điều này tác động đến tình cảm và nhận thức của
các phụ huyanh, từ đó góp phần thay đổi hành vi của họ, giúp họ đương đầu với
những khó khăn trong cuộc sống, tự tin giúp con hòa nhập với cộng đồng.
Các thành viên trong nhóm chia sẻ kiến thức và kĩ năng chăm sóc, can
thiệp cho trẻ. Điều này, giúp cho các thành viên trong nhóm trưởng thành hơn
thông qua việc trang bị kiến thức về bệnh tự kỷ, kiến thức về cuộc sống gia đình
khi sinh ra một trẻ mắc bệnh tự kỷ, kiến thức chăm sóc, giáo dục trẻ em tự kỷ,
về các cơ sở nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tự kỷ, các chính sách của nhà
nước đối với người khuyết tật và trẻ em khuyết tật và các vấn đề khác do chính
nhóm thấy cần thiết… Đây chính là chất liệu quan trọng để giúp cho mỗi cha mẹ
102
trở nên tự tin hơn, cảm thấy công việc chăm sóc và nuôi dưỡng con mắc bệnh tự
kỷ bớt nặng nề.
Sinh hoạt nhóm giúp các phụ huynh xóa dần sự tự ti và kì thị. Thông qua
việc tiếp xúc gần gũi với các phụ huynh khác, các thành viên yêu quý chính bản
thân mình và người con mắc bệnh tự kỷ của mình. Các phụ huynh biết cách thể
hiện bản thân để giao tiếp với cộng đồng, xã hội, không ngần ngại, lo lắng và
xấu hổ khi sinh ra một trẻ mắc bệnh tự kỷ. Từ đó, cộng đồng cũng tăng cường
hiểu biết về họ, giảm kì thị và tiếp nhận họ, con của họ, đồng cảm với họ.
Thông qua sinh hoạt nhóm, truyền thông làm giảm tỷ lệ trẻ em mắc bệnh
tự kỷ. Khi chính những người đã trải nghiệm thực tế nói lại câu chuyện của mình
và khi cộng đồng được mắt thấy, tai nghe, họ sẽ hiểu rõ hơn về trẻ em tự kỷ, về
những nguy cơ có thể dẫn đến một trẻ em mắc bệnh tự kỷ từ khi người mẹ mang
thai, đến khi sinh nở và nuôi dưỡng đứa con trong những tháng đầu tiên sau khi
sinh.
3.3. Quy trình tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
Bước 1: Thiết lập nhóm các cha mẹ có trẻ tự kỷ
Trong việc thiết lập nhóm, nhà tham vấn cần phải quan tâm chú ý tới
những vấn đề như mục đích của nhóm, thành phần, loại hình nhóm, thời gian,
địa điểm, số buổi gặp trong nhóm, ….
Mục đích nhóm: Mục đích thành lập nhóm cha mẹ có con tự kỷ nhắm chia
sẻ kinh nghiệm kiến thức trong việc chăm sóc, dạy dỗ, can thiệp chữa trị cho trẻ;
cùng nhau chia sẻ về chi phí điều trị cho trẻ; được hỗ trợ chia sẻ về mặt tinh
thần; giúp trẻ hòa nhập cộng đồng.
Loại hình nhóm: Nhóm có thể là nhóm đóng hay nhóm mở. Nhóm mở là
nhóm các phụ hunh có con tự kỷ có thể tham gia hay không tham gia một cách
tự do vào nhóm. Nhóm đóng là nhóm có xác định cụ thể số lượng phụ huynh
tham gia, trong thời gian nhóm hoạt động không có thành viên mới tham gia.
Nhóm đóng có tính chất ổn định và làm cho các phụ huynh tận tâm, gắn bó với
nhau hơn. Trong khi đó, nhóm mở cũng có ưu điểm đó là sự đào thải những
thành viên không thích hợp với nhóm khi không thể tiếp tục được nữa. Tuy thế
103
sự luôn thay đổi của thành viên cũng làm ảnh hưởng tiêu cực tới sự gắn bó của
nhóm.
Trong mỗi cuộc tham vấn nhóm sẽ phải tự giới thiệu thành viên mới và
người mới sẽ phải trải qua những giai đoạn khó khăn trong việc bắt đầu hoà
nhập và làm quen nhóm. Nhóm mở sẽ là cần thiết trong trường hợp cuộc tham
vấn nhóm được thực hiện tại bệnh viện hay là khu nhà chung cư, nơi mà mọi
người có thể đến tham gia một cách thuận tiện. Trong mỗi cuộc tham vấn nhóm
sẽ phải tự giới thiệu thành viên mới và người mới sẽ phải trải qua những giai
đoạn khó khăn trong việc bắt đầu hoà nhập và làm quen nhóm. Nhóm mở sẽ là
cần thiết trong trường hợp cuộc tham vấn nhóm được thực hiện tại bệnh viện
hay là khu nhà chung cư, nơi mà mọi người có thể đến tham gia một cách thuận
tiện.
Thành viên của nhóm: họ là cha mẹ, người thân của trẻ tự kỷ.
Quy mô của nhóm: Quy mô của nhóm một phần phụ thuộc vào mục đích
của nhóm, khoảng thời gian hoạt động tham vấn, địa điểm tham vấn và kinh
nghiệm của nhà tham vấn.
Thời gian và địa điểm hoạt động của nhóm.
- Thời gian Thông thường nhất một buổi tham vấn nhóm thường diễn ra
từ 1 tiếng đến 2 tiếng, một hai lần trong một tuần. Mỗi nhóm tham vấn có thể
được tiến hành từ 8 buổi hay nhiều hơn. Điều này phụ thuộc vào tính chất vấn
đề của các thành viên và mối quan tâm của họ trong nhóm.
Địa điểm
- Địa điểm cho việc tham vấn nhóm cần đáp ứng một số yêu cầu sau:
thuận lợi, riêng tư, kích thước và cách bài trí của căn phòng, sắp đặt chỗ ngồi, sự
gần gũi của các thành viên, môi trường, không khí và không bị tác động bên
ngoài.
Bước 2: Tiến hành tham vấn nhóm cha mẹ có trẻ tự kỷ
Khởi động nhóm
- Giới thiệu, làm quen giữa nhà tham vấn và giữa các thành viên trong
nhóm với nhau.
104
- Giúp các thành viên xác định mong muốn, nhu cầu và cam kết tham
gia.
- Xác định mục tiêu, kế hoạch tiến trình tham vấn nhóm.
- Giúp các thành viên đưa ra những thách thức khó khăn trong khi tham
gia nhóm và khẳng định sự tham gia vào nhóm của cá nhân.
- Xây dựng các quy định, nội quy của nhóm như:
Thực hiện tham vấn.
- Nhà tham vấn giúp các thành viên trong chia sẻ cảm xúc, suy nghĩ,
những hành vi, những mối quan tâm của họ, điều mà họ muốn có…
- Giúp cho các thành viên trong nhóm có được những phản hồi từ những
thành viên trong nhóm với thông tin đã được cá nhân chia sẻ.
- Nhà tham vấn hỗ trợ nhóm tập trung vào việc trợ giúp lẫn nhau để giải
quyết vấn đề. Các thành viên trong nhóm thảo luận rồi tiến tới đi vào những vấn
đề cụ thể của từng người và cùng giúp nhau tìm ra phương án giải quyết vấn đề
Nhà tham vấn có thể đóng vai trò là nhà cung cấp thông tin cho nhóm khi
mà nhóm chưa có được những thông tin hữu ích cho xác định giải pháp.
- Nhà tham vấn cần chú ý đến những rào cản có thể xuất hiện mà chúng
có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới việc chia sẻ của các thành viên trong nhóm,
cần quan sát và cảm nhận một cách tinh tế; chú ý đến sự im lặng hay không
tham gia của cá nhân trong nhóm vì có thể xuất phát từ vấn đề mà cá nhân khó
nói ra hoặc cũng có thể là sự chống đối của cá nhân với nhóm…
- Trong quá trình tham vấn nhóm: nhà tham vấn giúp phụ huynh có trẻ tự
kỷ đi từ những vấn đề chung tới vấn đề cụ thể của từng cá nhân. Sau đó, giúp
cho cá nhân trong nhóm đi vào chi tiết những cảm xúc, kinh nghiệm của họ và
nhóm sẽ cùng phân tích cụ thể những cảm xúc đó, vấn đề đó. Như vậy cá nhân
sẽ có sự trợ giúp cần thiết từ nhà tham vấn và từ các thành viên trong nhóm.
Bước 3: Kết thúc cuộc tham vấn nhóm
- Giai đoạn này bao gồm các hoạt động như: tóm tắt, đánh giá kết quả và
tiến trìnhtham vấn nhóm.
105
- Nhà tham vấn cùng các thành viên rà soát, đánh giá lại những công việc
đã được hoàn tất, so sánh những mục tiêu đã được đề ra ban đầu, đánh giá sự
tiến bộ của từng thành viên.
- Khi kết thúc nhóm cá nhân thường có cảm giác hẫng hụt. Nhà tham vấn
cần khích lệ họ nêu ra được những cảm xúc đó và cùng nhau chia sẻ.
3.4. Nội dung tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
Nội dung tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ để giúp họ hiểu bản chất
bệnh tự kỷ và cách thức có thể giúp nhau tăng cường năng lực chăm sóc, giáo
dục hỗ trợ quá trình trị liệu cho trẻ tự kỷ. Nhà tham vấn cần phải xây dựng mối
quan hệ với nhóm cha mẹ trẻ tự kỷ.
- Kiểm tra những phát hiện chính từ đánh giá
- Giáo dục sức khỏe tâm thần về trầm cảm ở trẻ em
- Trình bày lý thuyết (mô hình trị liệu hành vi nhận thức) và rà soát các
chiến lược trị liệu chính
- Hình thành mối quan hệ hợp tác giữa các cha mẹ trong nhóm. Họ sẽ
cần tham gia tích cực để hỗ trợ trẻ trị liệu thành công! Họ biết rõ con mình nhất!
Nhà tham vấn sẽ dựa vào họ để có được thông tin về tiến bộ của trị liệu và giúp
tổng hợp các kỹ năng hỗ trợ trẻ tại nhà.
- Thu thập thông tin từ cha mẹ sẽ giúp việc xác định kế hoạch trị liệu cụ
thể. Đánh giá ở phạm vi mà trong đó cha mẹ có thể/sẽ hỗ trợ trị liệu.
Điều quan trọng là nhà tham vấn cần thay đổi được cách thức cha mẹ nhìn
nhận tình trạng bệnh tật của con mình. Giúp cha mẹ nhận thấy rằng con mình
không xấu, không tệ, không đáng thương mà đó chỉ là sự phát triển khác biệt,
Hơn thế, trẻ đang bị bệnh và cần giúp để trở nên tốt hơn. Giúp các cha mẹ nhìn
nhận việc thực hành kỹ năng làm cha mẹ tiêu cực hay chỉ trích có thể làm tình
trạng của trẻ xấu them. Dạy cha mẹ những chiến lược tích cực để khích lệ trẻ tốt
hơn và giúp họ tập trung vào những việc làm tích cực trẻ sẽ làm trong trị liệu
(hơn là tập trung vào những khó khăn mà trẻ hiện đang có).
3.5. Kỹ năng tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
106
Trong tham vấn nhóm cha mẹ trẻ tự kỷ được sử dụng hầu hết các kỹ năng
tham vấn cá nhân và những kỹ năng tham vấn đặc thù của tham vấn nhóm. Sau
đây là một số kỹ năng chuyên sâu trong tham vấn nhóm.
3.5.1. Kỹ năng mở đầu và kết thúc cuộc tham vấn nhóm
Sử dụng kỹ năng này tác giả muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
mở đầu và kết thúc cuộc tham vấn nhóm như thế nào? Bởi lẽ trong tham vấn
nhóm, điều này là rất quan trọng, mở đầu cuộc tham vấn tốt thì quá trình tham
vấn sẽ thành công tốt đẹp, và khi kết thúc cần làm rõ một số điều đáng lưu ý.
- Để mở đầu cuộc tham vấn nhóm nhà tham vấn cần tạo bầu không khí
thoải mái cởi mở, tin cậy, lôi cuốn sự tham gia của các thành viên vào quá trình
tham vấn nhóm.
- Các hoạt động cần khởi động bao gồm: hoạt động cần thiết thực, hấp
dẫn dễ hiểu để các thành viên dễ dàng tham gia trao đổi hay thảo luận như: trò
chơi, các công cụ, bài tập, hoạt động thể chất, viết, vẽ…
- Nhà tham vấn có thể tạo cơ hội cho các thành viên chia sẻ về cảm xúc
suy nghĩ về ảnh hưởng của những buổi tham vấn trước đó và mong muốn của họ
trong những buổi tiếp theo.
Những câu hỏi mở có thể sử dụng.
+ Các anh/chị cảm thấy như thế nào trong buổi gặp gỡ ngày hôm nay?
+ Mọi người cảm thấy như thế nào khi chúng ta gặp nhau?
- Khi kết thúc cuộc tham vấn, nhà tham vấn dành thời gian để tóm lược,
nhấn mạnh những ý thảo luận chính, tăng cường thêm hiệu quả cuộc nói chuyện
bằng cách liên hệ với cuộc sống hàng ngày của các thành viên và kiểm tra xem
những vấn đề nào chưa được giải quyết, những vấn đề nào mới nảy sinh trong
quá trình tham vấn.
- Nhà tham vấn có thể kết thúc buổi nói chuyện bằng cách hỏi rằng:
+ Các anh, chị cảm thấy buổi nói chuyện hôm nay như thế nào?
+ Có ai còn có điều gì muốn nói với thành viên khác hay với cả nhóm hay
không?
+ Các chị có thể tóm lược buổi trò chuyện ngày hôm nay được không?
107
+ Theo các bạn thì buổi nói chuyện ngày hôm nay còn có điều gì chúng ta
cần trao đổi thêm?
+ Có điều gì chúng ta cần thay đổi để làm tốt hơn?
3.5.2. Kỹ năng thiết lập bầu không khí nhóm
Đây là cách thức nhà tham vấn ứng xử cũng như khích lệ các thành viên,
tạo ra môi trường thuận lợi để sự tương tác giữa các thành viên với nhau, giữa
thành viên với nhà tham vấn được diễn ra vui vẻ, thoải mái, cởi mở. Điều này
phụ thuộckhá nhiều vào hành vi, thái độ cởi mở, các hoạt động, kỹ thuật mà nhà
tham vấn sử dụng khi triển khai tham vấn nhóm. Ví dụ, như cách thức giới thiệu
trong nhóm, cách thức phản hồi, đưa ra câu hỏi, đưa ra lời khích lệ hay sử dụng
các trò chơi, các công cụ nhằm khai thác cảm xúc, suy nghĩ của các thành viên.
Thiết lập không khí còn liên quan tới cách mà nhà tham vấn bày trí không gian
nơi tham vấn.Không gian tham vấn nên phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Lời nói cởi mở, thân thiện cùng với thái độ sẵn lòng thiện chí và hành vi
chân tình sẽ là yếu tố tạo nên một giao tiếp rất tích cực và có tác dụng khích lệ
các thành viên. Ngược lại thái độ tỏ ra nghiêm nghị hay xã giao, căng thẳng..sẽ
tạo nên bầu không khí căng thẳng trong nhóm, khiến các thành viên sẽ không tự
tin để tương tác và chia sẻ.
Việc sử dụng các trò chơi, hoạt động thể chất đều có tác dụng làm tăng cường
bầu không khí tích cực trong nhóm cho quá trình tham vấn nhóm.
3.5.3. Kỹ năng phản hồi cho nhiều người trong nhóm
Kỹ năng phản hồi là khả năng diễn đạt lại bằng lời hoặc bằng biểu hiện cử
chỉ không lời những gì các thành viên trong nhóm nói và thể hiện một cách hiệu
quả.Phản hồi là nói lại những gì nghe thấy và nhìn thấy được từ các thành viên
đã thể hiện trong nhóm. Nhà tham vấn có thể sử dụng phản hồi nội dung, phản
hồi cảm xúc và phản hồi ý nghĩa những gì các thành viên trong nhóm chia sẻ
cho các thành viên trong nhóm hiểu.
Trong tham vấn nhóm, nhà tham vấn cần phải hiểu thấu tâm tư, nguyện
vọng của các thành viên và phản hồi lại không chỉ cho một người mà cho nhiều
người trong nhóm hiểu.Nhà tham vấn muốn phản hồi lại chính xác những gì các
108
thành viên chia sẻ, cần hiểu thấu tâm tư, tình cảm của họ. Khả năng thấu hiểu là
nhà tham vấn đặt mình vào vị trí của thân chủ để hiểu thấu tâm tư, tình cảm và
nguyện vọng của họ, hiểu thế giới nội tâm bên trong của họ như là của chính
mình. Phản hồi là nói lại những gì nghe thấy và nhìn thấy được từ các thành viên
đã thể hiện trong nhóm.Phản hồi nội dung, cảm xúc và phản hồi ý nghĩa những
gì các thành viên trong nhóm chia sẻ.Trong tham vấn nhóm, nhà tham vấn cần
phải hiểu thấu tâm tư, nguyện vọng của các thành viên và phản hồi lại không chỉ
cho một người mà cho nhiều người trong nhóm hiểu.
3.5.4. Kỹ năng tóm lược ý kiến
- Khi một thành viên nói một đoạn dài, nhà tham vấn nên tóm lược lại
những gì người đó vừa nói để tập trung vào trọng tâm và thúc đẩy câu chuyện
tiếp diễn trên cơ sở nhu cầu của các thành viên.
Ví dụ: Một người đang kể về nỗi buồn của mình...NTV cần tóm lược
những ý chính để bản thân người nói và các thành viên trong nhóm tập trung vào
vấn đề, qua đó tìm hiểu nhu cầu của các thành viên, họ tiếp tục muốn chia sẻ hay
không?
Chẳng hạn: Trong nhóm cha mẹ có con tự kỷ, sau khi nghe một phụ huynh chia
sẻ, nhà tham vấn có thể tóm tắt và phản hồi lại như sau: “Chị vừa nói là chị cảm
thấy buồn và vô cùng thất vọng khi con bị tự kỷ. Nhưng chị không muốn chia sẻ
với bạn bè, hàng xóm về tình trạng của con, mỗi khi có ai đó hỏi thăm về tình
hình sức khỏe của con chị đều lảng tránh có đúng không ?”.
Nhà tham vấn tóm lược và phản hồi lại không chỉ phản hồi cho riêng chị
ấy mà còn phản hồi cho cả nhóm cùng nghe.Sau đó đặt câu hỏi khai thác suy
nghĩ, cảm xúc của các thành viên trong nhóm.
3.5.5. Kỹ năng điều phối sự tham gia của các thành viên trong nhóm
- Kỹ năng điều phối là khả năng tổ chức, phân công nhiệm cho các thành
viên trong nhóm, điều khiển và điều chỉnh sự tham gia và hoạt động của nhóm
nhằm đạt được mục đích đặt ra. Điều phối còn thể hiện ở việc nhà tham vấn lý
giải đúng đắn những băn khoăn, thắc mắc và khó hiểu của các thành viên trong
nhóm.
109
- Nhà tham vấn cần khuyến khích các thành viên tham gia, học cách trò
chuyện và chia sẻ với nhau trong nhóm.
Trong tình huống có một thành viên chỉ tập trung chú ý đến nhà tham
vấn, lúc đó nhà tham vấn sẽ điều phối như thế nào để đạt hiệu quả hoạt động của
nhóm?...
+ Nhà tham vấn cần khéo léo hướng sự chú ý đó sang các thành viên còn
lại
+ Nhắc nhở tế nhị thành viên đó hướng về phía các thành viên khác,
không chú ý quá nhiều vào nhà tham vấn.
Cách thức điều khiển nhóm:
- Nhà tham vấn nên bắt đầu bằng việc nói rằng mình muốn nghe ý kiến từ
tất cả các thành viên.
- Nếu trong nhóm có một số thành viên ít nói, Nhà tham vấn có thể nói:
”Tôi nhận thấy một vài người rất yên lặng và tôi và cả nhóm đang rất muốn biết
anh/chị đang nghĩ gì, anh/chị có sẵn sàng chia sẻ suy nghĩ của mình không? Nào
mời anh/chị”
- Nhà tham vấn cần khích lệ sự tham gia của các thàn viên trong nhóm:
Nếu trong nhóm có những thành viên luôn cảm thấy lo lắng và e ngại
trong nhóm, nhà tham vấn cần làm gì?- Khuyến khích họ chia sẻ cảm xúc, giúp
họ thấy rằng những cảm xúc đó là bình thường. Sự trợ giúp đó còn thể hiện ở
giọng điệu, thái độ cởi mở của nhà tham vấn.
Nếu trong nhóm có một hoặc hai thành viên chống đối nhà tham vấn,nhà
tham vấn cần làm gì? – Nhà tham vấn cần nhạy cảm để hiểu rõ điều mà họ muốn
chống đối có thể là vì họ chưa sẵn sàng tham gia, họ còn nghi ngờ khả năng và
trình độ của nhà tham vấn nên họ cố tình thử thách khả năng của nhà tham vấn,
họ cho rằng nhà tham vấn chẳng giúp gì cho họ được...Vì vậy, nhà tham vấn
luôn tôn trọng họ, có thể gặp riêng họ để tìm ra những băn khoăn, thắc mắc, tạo
cơ hội để họ chia sẻ và luôn chú ý đến họ trong các buổi họp/thảo luận đặc biệt
là luôn có thiện chí và ưu ái với họ, tổ chức các hoạt động thực tiễn, lôi kéo họ
tham gia.
110
3.5.6. Xử lý hành vi nói lấn át người khác
Trong tham vấn nhóm tồn tại một hay vài thành viên nói lấn át những
người còn lại trong nhóm, có thể độc chiếm cả quá trình tham vấn.
Hành vi lấn át có thể ảnh hưởng đến những người khác trong nhóm hoặc
làm cản trở các thành viên chia sẻ quan điểm của họ với nhóm.
Nguyên nhân của việc tồn tại hành vi nói lấn át người khác.
+ Vì họ đang lo lắng về vấn đề nào đó và họ cho rằng nói nhiều sẽ giúp họ
cảm thấy giảm bớt được sự lo lắng đó.
+ Có thể họ có cảm giác không an toàn nên họ muốn tạo ấn tượng với
người khác bằng cách nói nhiều.
+ Họ có thể cố tình nói nhiều, lấn át người khác để khẳng định vai trò và
vị trí của mình;
+ Họ có thể muốn thể hiện bản thân trước các thành viên khác trong
nhóm.
+ ...
- Đặc điểm chung của những người nói nhiều: không nhận ra những người
khác đang cảm thấy khó chịu về những gì họ đang nói và sự lấn át của họ. Một
số trường hợp họ biết nhưng họ lại muốn gây áp lực với các thành viên khác
- Nhà tham vấn phải làm gì? – Nên ngắt lời họ một cách khéo léo, tế nhị
và đúng lúc.
Ví dụ: “Vâng, cảm ơn anh/chị, ý kiến của anh/chị rất hay, chúng ta có thể
nghe thêm ý kiến của các thành viên khác trong nhóm” và ngay lập tức mời
khác phát biểu ý kiến.
- “Cho phép tôi được tóm lược những ý chính trong nội dung trình bày
của anh A...ý kiến của anh/chị rất đúng đắn nhưng sẽ đầy đủ hơn khi được các
thành viên khác bổ sung, cả nhóm có đồng ý như vậy không nào. Vâng, mời chị
B” và thu hút sự tham gia của các thành viên trong nhóm.
3.6. Một số lưu ý trong tham vấn nhóm cha mẹ có con tự kỷ
Tạo sự thoải mái và cảm giác an toàn và thoải mái trong nhóm ngay từ
buổi đầu và kết thúc cuộc tham vấn nhóm
111
Tầm quan trọng của việc mở đầu và kết thúc cuộc tham vấn nhóm bởi lẽ
trong tham vấn nhóm, điều này là rất quan trọng, mở đầu cuộc tham vấn tốt thì
quá trình tham vấn sẽ thành công tốt đẹp, và khi kết thúc cần làm rõ một số điều
đáng lưu ý.
- Để mở đầu cuộc tham vấn nhóm nhà tham vấn mở đầu cuộc tham vấn
như thế nào để tạo bầu không khí thoải mái cởi mở, lôi cuốn sự tham gia của các
thành viên vào quá trìnhtham vấn nhóm.
- Các hoạt động cần khởi động: hoạt động cần thiết thực, hấp dẫn dễ hiểu
để các thành viên dễ dàng tham gia trao đổi hay thảo luận.
- Nhà tham vấn có thể tạo cơ hội cho các thành viên chia sẻ về cảm xúc
suy nghĩ về ảnh hưởng của những buổi tham vấn trước đó và mong muốn của họ
trong những buổi tiếp theo.
Luôn luôn tạo bầu không khí nhóm trong quá trình tham vấn
- Tạo nên trạng thái tích cực trong nhóm thông qua cách thức bày trí
không gian.
- Cách thức giao tiếp của nhà tham vấn như thái độ nghiêm trang hay là
thoải mái...
- Quan tâm tới cảm xúc suy nghĩ của từng cá nhân trong nhóm và có
những đáp ứng
- Việc sử dụng các trò chơi, hoạt động làm tăng cường bầu không khí tích
cực trong nhóm.
Câu hỏi ôn tập bài 3:
7. Anh/ chị hãy cho biết ý nghĩa của tham vấn nhóm bố mẹ có con tự kỷ ?
8. Anh/chị hãy trình bày tham vấn nhóm bố mẹ có trẻ tự kỷ ?
9. Anh/chị hãy trình bày những rào cản đối với gia đình trẻ tự kỷ ?
10.Trình bày các kỹ năng chuyên biệt trong tham vấn nhóm bố mẹ có trẻ tự
kỷ ?
11.Khi tham vấn hỗ trợ nhóm bố mẹ có trẻ tự kỷ, nhân viên CTXH cần đảm
bảo những nguyên tắc nào ?
112
Tài liệu tham khảo
8. Những điều cần biết về hội chứng tự kỷ (sách dành cho cha mẹ) – NXB
Đại học sư phạm.
9. Trần Thị Minh Đức, Giáo trình Tham vấn tâm lý, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội, 2011.
10.Tài liệu tập huấn kỹ năng cơ bản trong tham vấn, Unicef, 2005.
11.Phạm Toàn – Lâm Hiếu Minh, Thấu hiểu và hỗ trợ trẻ tự kỷ, NXB Trẻ,
2014.
12.Jean -Noel Christine (Thân Thị Mận dịch), Hiểu tự kỷ, NXB Tri thức,
2016.
13.Vũ Thị Bích Hạnh, Tự kỷ phát hiện sớm và can thiệp sớm, NXB Y học,
2007.
14.Nguyễn Thị Hoàng Yến, Tự kỷ những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB
Đại học Sư Phạm, 2015.
15.Trần Lệ Thu, Đại cương can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật trí tuệ, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội, 2009.
113

