3
nghiên cứu lí giải cho quá trình phản ánh dần dần của giá cổ phiếu
đối với lợi nhuận bất thường dựa vào rủi ro (Ball và cộng sự,
1993; Chordia và Shivakumar, 2005; Kim và Kim, 2003;
Mendenhall, 2004; Chordia và cộng sự, 2009) hoặc sự không
hiệu quả của thị trường (Bernard và Thomas, 1989, 1990; Bartov
và cộng sự, 2000; Ali và cộng sự, 2004; Ke và Ramalingegowda,
2005; Hirshleifer và cộng sự, 2009; Drake, 2012, Cai và cộng sự,
2021). Mặc dù các tranh cãi này diễn ra trong một thời gian dài,
số lượng nghiên cứu thực hiện kiểm định khả năng giải thích của
các yếu tố khác nhau trên cùng một mẫu dữ liệu là hạn chế. Điều
này thúc đẩy luận án này thực hiện kiểm định các cách giải thích
khác nhau như rào cản giao dịch, loại hình NĐT, sự không chắn
chắn về mặt thông tin, và sự chú ý của NĐT trên cùng một mẫu
dữ liệu các công ty niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX trong
giai đoạn 2008-2021.
Bên cạnh hiệu ứng PEAD, chiến lược đầu tư F-Score là một trong
những nhánh nghiên cứu được cho là triển vọng trong thời gian
gần đây (Kothari, 2001; Richardson và cộng sự, 2010) và được
sử dụng phổ biến bởi các quỹ phòng hộ (Novy-Marx 2014).
Piotroski (2000) chỉ ra rằng có thể phân biệt được cổ phiếu tốt và
cổ phiếu xấu thông qua việc sử dụng chỉ báo tài chính tổng hợp
F-Score và qua đó cải thiện khả năng sinh lời của chiến lược đầu
tư giá trị. Chỉ số F-Score được xây dựng từ các chỉ báo đo lường
i) khả năng sinh lời; ii) thanh khoản, đòn bẩy; và iii) hiệu quả
hoạt động. Có rất nhiều cổ phiếu giá trị trên TTCK Việt Nam
không được các NĐT chú ý đến bởi vì rất ít hoặc không có
chuyên viên phân tích nào theo dõi những cổ phiếu này. Đối với