TIỂU LUẬN:
Thực trạng của sự phân h giàu
nghèo ở nước ta hiện nay
Mở đầu
1.Tính cấp thiết ca đề i
Thế giới đang bước vào thế kỷ mới với kvọng một cuộc sống mới phồn vinh hạnh
phúc. Làn sóng toàn cầu hoá đang lan nhanh động lực thôi thúc các quuốc gia dân tộc
vào một cuộc đua tranh sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chính vậy nền kinh tế
thế giới đã đạt tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, nhưng bên cạnh đó nó cũng tạo ra hố nn
giữa các quốc gia, các tầng lớp trong xã hi ngày càng sâu .Vấn đề nàyý nghĩa đặc biệt
hết sức quan trọng và cấp thiết đối với Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Thực tiễn đổi mới ở nước ta 20 năm qua cho thấy,
với sự chuyển đổi, xây dựng, và phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành
theo chế thị trường, sự quản của nhà nước, theo định hướng XHCN, cùng c
chính sách mở cửa, hội nhập, đã đem lại nhiều thành tựu to lớn về kinh tế,hội, đời sống
của mọi tầng lớp dân không ngừng được nâng cao. Đồng thời quá trình này cũng kéo
theo những biến động về cơ cấu xã hội, trong đó phân hoá giàu nghèo diễn ra ngày càng rõ
nét, nổi lên như một vấn đề thời sự cấp bách. cũng mang tính hai mặt: bên cạnh mặt
tích cực làm người dân giàu hợp pháp...còn mặt tiêu cực liên quan đến bất bình đẳng
XH. Nếu để quá trình bất bình đẳng diễn ra một cách tự phát thì dẫn đến những bất ổn
định không chỉ về kinh tế, văn hoá, hội mà trên cả lĩnh vực chính trị, thậm chí dẫn đến
nguy cơ chệch hướng XHCN.
Chính vậy chúng ta phải một giải quyết đúng đắn để giải quyết vấn để phân hóa
giàu nghèo sao cho xây dựng đất nước công bằng dân chủ văn minh.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những m gần đây, trước những đòi hỏi bức bách của thực tiễn, vấn đề về
phân hoá giàu nghèo được rất nhiều nhà học giả, nhà báo...quan tâm đã được nhà nước,
chính phủ, các cơ quan chức năng nghiên cứu. Tuy nhiên hầu hết các hình thức nghiên cứu
chỉ dừng lại những bài báo, những bài nghiên cứu nhưng chỉ đề cập tới một số mặt của
sự phân hoá giàu nghèo như: xoá đói giảm nghèo, giảm bất bình đẳng xã hội, hoặc các giải
pháp nhằm hạn chế sự PHGN...được đăng trong báo Nhân Dân, hội học...
Một số cuốn sách ngiên cứu về sự PHGN đã được xuất bản như: Phân hoá giàu nghèo
ở một quốc gia khu Châu á- Thái Bình Dương- Vũ Văn Hà, Đồng tham gia giảm nghèo đô
thị- Nguyễn Minh Hoà...
Theo hướng đó, đề tài tiếp tục khảo sát sự phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế nước ta
hiện nay trên những mặt luận, thực trạng, giải pháp dựa trên sở kế thừa phát triển
công trình của các tác giả đã nghiên cứu trước.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên sở phân tích luận thực tiễn,mục đích đề tài làm thực trạng xu
hướng phân hoá giàu nghèo trong quá trình chuyển đổi, xây dựng phát triển nền kinh tế
nước ta, từ đó đề xuất ra những giải pháp, phương hướng giải quyết phân hoá giàu nghèo
nhằm đảm bảo xây dựng đất nước công bằng, dân chủ, văn minh.
4. Giới hạn đề tài
Do thời gian hạn kiến thức chưa đủ sâu để nghiên cứu về toàn bộ sự phân hóa
giàu nghèo Việt Nam nên đề tài chỉ đề cập đến sự phân hoá giàu nghèo chủ yếu nông
thôn và thành thị.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên sở luận phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-
Lênin, quan niệm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước ta về vấn đề y dựa trên
phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu giữa các số liệu có liên quan.
6. Đóng góp của đề tài
- Phân tích thực trạng dự báo xu hướng biến động của phân hoá giàu nghèo trong
nền kinh tế nước ta hiện nay, đề xuất ra những phương án, giải pháp chủ yếu nhằm hạn chế
những tiêu cực của sự phân hoá giàu nghèo.
- Góp phần làm thêm sở khoa học cho việc đưa ra và thực hiện các chính sách
của Đảng và Nhà Nước nhằm giải quyết có hiệu quả vấn đề phân hoá giàu nghèo.
- Làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy cho những người quan
tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và tài liệu tham khảo, đề án gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về sự phân hoá giàu nghèo.
Chương II:Thực trạng của sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta hiện nay.
Chương III: Giải pháp nhằm hạn chế sự phân hoá giàu nghèo
chương i
Lý luận chung v s phân hoá giàu nghèo
1.1. Các khái niệm về sự phân hoá giàu nghèo .
1.1.1.Khái niệm , "nghèo" và chun mực "nghèo"
Trong một thời gian i, các nhà kinh tế nhiều nhà nghiên cứu đã điịnh nghĩa giàu
nghèo theo quan điểm định lượng, tức đưa ra một chỉ số để đo lường chủ yếu nhằm đơn
giản hoá việc hoạch định chính sách.
Một số quan điểm về "nghèo":
Hội nghị về chống nghèo khu vực Châu á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức
tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau : " Nghèo
một bộ phận dân không được hưởng thomãn những nhu cầu bản của con người,
mà những nhu cầu này đã được hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế hội
phong tục tập quán của địa phương.
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm:"Con người bị coi nghèo khổ khi
thu nhập của họ, ngay thích đáng để hthể tồn tại, rơi xuống rệt dưới mức thu
nhập cộng đồng. Khi đó họ không thể những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái
cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực."
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về
nghèo:"Người nghèo là tất cnhững ai thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho
mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
Còn nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình "Xoá đói giảm
nghèo Việt Nam-1995" đã đưa ra định nghĩa:"Nghèo tình trạng thiếu khả năng trong
việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế."
Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:
Xác định giàu nghèo một việc kvì gắn với từng thời điểm, từng quốc gia,
được xem xét nhiều góc độ khác nhau .ở nước ta, từ khi chủ trương xoá đói giảm
nghèo, các quan trong nước quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình
hình đói ngo.Đó là: chuẩn mực của bộ lao động thương binh hội, chuẩn mực của
Tổng cục Thống Kê, chuẩn mực đánh giá của Ngân Hàng Thế Giới để sở xây dựng
chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống ở nước ta hiện nay.
Các mức nghèo ở Việt Nam
(Nguồn : Tổng cục Thống kê 1994, 1996, UNDP 1999, Bộ lao động, thương binh và
hội 1999)
Cơ quan Định nghĩa về mức nghèo Phân loại
người nghèo
Mức tối thiểu
( VNĐ/tháng)
Lao động
thương
binh xã
hội
Mức nghèo tính bằng gạo: Mức nghèo
được xác định là mức thu nhập để
mua được 13 kg, 15 kg, 20 kg, hoặc
25 kg gạo mỗi tháng( theo giá năm
1995)
Đói 45.000 (13 kg
gạo)
Nghèo (nông
thôn miền
núi)
55.000 (15 kg
gạo)
Nghèo (nông
thôn đồng
bằng)
70.000 ( 20 kg
gạo)
Nghèo (
thành thị)
90.000 (25 kg
gạo)
Ngân
Hàng Thế
giới/Tổng
cục thống
Mức nghèo về lương thực thực phẩm:
Dựa vào mức chi tiêu cần thiết để mua
lương thực( gạo và lương thực, thực
phẩm khác) để có thể cấp 2100
klo/người mỗi ngày
Nghèo về
lương thực,
thực phẩm
66.500
(1992/1993
-Ngân Hàng
thế giới)
107.000
(1997/98-
Ngân hàng thế
giới/ Tổng cục