JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2016-0040
Social Sci., 2016, Vol. 61, No. 2A, pp. 128-135
This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn
THỰC TRẠNG VÀ MỘT S YẾU TỐ ẢNH HƯỚNG TỚI
RỐI NHIỄU CẢM XÚC HỌC SINH TRUNG HỌC SỞ
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Khoa Công tác hội, Trường Đại học phạm Nội
Tóm tắt.
Bài viết này được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nghiên cứu rối nhiễu
cảm xúc chế ứng phó học sinh trung học sở” được triển khai bởi nhóm nghiên
cứu của Trường Đại học Khoa học hội Nhân Văn - Đại học Quốc gia Nội với 466
học sinh Trung học sở (THCS) tại Nội và Hải Phòng thông qua các phương pháp:
điều tra bằng bảng hỏi; trắc nghiệm, thang đo phỏng vấn sâu. Bài viết tập trung làm
(1) thực trạng học sinh THCS gặp vấn đề về rối nhiễu cảm xúc (2) ảnh hướng của các
yếu tố: đặc điểm tâm nhân; việc học tập các mối quan hệ; sự quan tâm, chia sẻ giữa
cha mẹ và con cái; ứng xử của cha mẹ khi con dấu hiệu cảm xúc bất thường đối với
rối nhiễu cảm xúc của trẻ vị thành niên.
T khóa: Rối nhiễu cảm xúc, yếu tố ảnh hưởng rối nhiễu cảm xúc, học sinh trung học
sở.
1. Mở đầu
Lứa tuổi học sinh trung học sở một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng to lớn trong thời
phát triển của trẻ em đây thời chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi trưởng thành. Ngoài
những biến đổi v mặt sinh học của tuổi dậy thì, các em cũng những thay đổi v mặt tâm và
sự thay đổi v các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng những nhiệm vụ của s phát triển. Các em gặp rất
nhiều khó khăn: v học tập; v các quan hệ học đường, quan hệ hội; v tâm nhân trong
đó khả ng làm ch cảm xúc của bản thân một k khăn rất đặc trưng lứa tuổi y.
nước ngoài, vấn đề nghiên cứu cảm xúc trẻ em thanh thiếu niên đã và đang thu hút
nhiều ng trình nghiên cứu với quy khác nhau. Các nghiên cứu Anh năm 2000 chỉ ra tỉ
lệ chung trẻ em vị thành niên từ 4 đến 18 tuổi trong cộng đồng rối loạn tâm thần (mental
disorders) vào khoảng 15% (Meltzer, Gatward, Goodman, & Ford, 2000), Puerto Rico năm 2004
19.8 % (Canino, Shrout et al, 2004), trong khi đó, tỉ lệ trẻ từ 9 đến 17 tuổi Mỹ năm 2005
20,9% (US Census Bureau, 2005).
Các nghiên cứu của Hoa K công b năm 2013 cũng chỉ ra c rối loạn tâm thần rất ph
biến vị thành niên, ước tính khoảng 20% thanh thiếu niên quốc gia này được chẩn đoán gặp
vấn đề rối nhiễu (D. Murphey, M.Barry B.Vaughn (2013).
Ngày nhận bài: 15/1/2016. Ngày nhận đăng: 3/5/2016.
Liên hệ: Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, e-mail: nguyet2512@yahoo.com
128
Thực trạng một số yếu tố ảnh hướng tới rối nhiễu cảm xúc học sinh THCS
Một số yếu tố thể ảnh hướng đến RNXC trẻ đã được các nghiên cứu nước ngoài chỉ
ra như: yếu tố hội, môi trường văn hóa và bối cảnh chính trị trẻ sống, gia đình, cộng đồng,
quốc gia nơi đứa trẻ được sinh ra. Đó những yếu tố được chỉ ra trong các nghiên cứu v RNCX
trẻ VTN của Shakuntala Walker J, Melvin IK. 2010.
Tại Việt Nam, nghiên cứu bước đầu tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sức khoẻ của học
sinh khá và giỏi THCS thuộc quận nội thành Nội (2002). Nhóm tác giả: BS. Nguyễn Thị Minh
Huyền, Nguyễn Xuân Nguyên. Kết quả của nghiên cứu y cho thấy 18,5% học sinh được khảo
sát các vấn đề liên quan đến sức khoẻ tâm thần như ám sợ, lo hãi, i dối, gặp khó khăn trong
học tập.
Đề tài Bước đầu nghiên cứu v sức kho tâm thần của học sinh một số trường THCS tại
Nội do nhóm tác giả Hoàng Cẩm Tú và cs. sử dụng thang đo Child Behavior Checklist (CBCL)
cho thấy từ 15 25% trẻ các biểu hiện rối loạn tâm c dạng khác nhau, từ rối loạn hành
vi, rối loạn dạng ranh giới đến các rối loạn v mặt xúc cảm.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Phan Thị Mai Hương, Đào Thị Oanh v xúc cảm của
HS THCS cho thấy: nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát xúc cảm tiêu cực thiếu
niên, trong đó các đặc điểm nhân cách; hoàn cảnh hiện thực và sự ổn định tâm của con người
(Phan Thị Mai Hương (2007), Tuy nhiên, chưa nhiều nghiên cứu tập trung tìm hiểu riêng v rối
nhiễu cảm xúc học sinh THCS. Do vậy, từ kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu rối nhiễu
cảm xúc và chế ứng phó học sinh trung học sở do PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng và Cs.
thực hiện, bài viết y chỉ ra thực trạng học sinh THCS gặp vấn đề v RNCX một số yếu tố ảnh
hưởng đến RNCX các em.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Thông tin chung v khách thể, địa bàn phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đã được thực hiện với 466 học sinh đang theo học tại trường THCS Lợi,
Nội và THCS Tiên Thắng, Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành điều tra bằng bảng hỏi, sử dụng trắc
nghiệm, thang đo và phỏng vấn sâu. Các số liệu nghiên cứu được xử bằng phần mềm SPSS 16.0.
2.2. Thực trạng RNCX học sinh THCS
Khi bàn v RNCX, trong nghiên cứu này, RNCX được hiểu c biểu hiện bất thường và
bất ổn v phương diện cảm xúc, gây khó chịu và làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhân, thường
biểu hiện bằng các dấu hiệu v nhận thức, hành vi, cảm c các triệu chứng v thể nhưng
không kèm theo các triệu chứng loạn thần. Biểu hiện của RNCX được ch ra thông qua ba dạng
bản nghiên cứu tập trung vào rối loạn lo âu tổng quát (GAD), trầm cảm (DEP) và ám ảnh
cưỡng bức (OCD).
Kết quả nghiên cứu được trình y và phân tích từ nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ học sinh
lo âu mức cao rất cao 38%. Ghi nhận được sự khác biệt ý nghĩa giữa học sinh Nội
học sinh Hải Phòng v mức độ lo âu, theo đó, tỉ lệ học sinh Nội có biểu hiện lo âu nhiều
hơn và cao n. Không sự khác biệt v biểu hiện và mức độ lo âu giữa học sinh các khối lớp
khác nhau.
Tỉ lệ học sinh biểu hiện trầm cảm mức độ trung bình là 5,1%, từ mức đ khá nặng đến
rất nặng 4,7%. s khác biệt v biểu hiện trầm cảm giữa học sinh các khối lớp khác nhau. Cụ
129
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
thể là, tỉ lệ học sinh mắc trầm cảm mức độ biểu hiện trầm cảm tăng lên theo khối lớp, nghĩa
học sinh nhỏ hơn thì ít biểu hiện trầm cảm hơn. Học sinh lớp 9 số lượng mắc trầm cảm và
biểu hiện trầm cảm hơn học sinh c khối nhỏ hơn. Tuy nhiên, học sinh khối 6 lại biểu hiện
trầm cảm hơn học sinh khối 7.
Biểu hiện rối nhiễu cảm xúc chung học sinh n sau: 19,5% mức khá nặng, 4,6% mức
nặng và 0,5% mức rất nặng. Trong đó, các triệu chứng lo âu trầm cảm, thu mình biểu hiện rệt
hơn so với các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức và than phiền thể. s khác biệt đáng kể giữa
học sinh các khối lớp v RNCX, theo đó, xu hướng chung vẫn học sinh lớp lớn số lượng học
sinh mắc RNCX nhiều hơn và mức đ RNCX cũng rệt hơn so với học sinh lớp nhỏ trong khi
học sinh khối 6 vẫn duy trì xu hướng RNCX cao hơn so với học sinh khối 7.
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới RNCX học sinh THCS
rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đời sống cảm xúc của học sinh i chung và học sinh
THCS nói riêng. Trong nghiên cứu y, một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến đời sống cảm xúc nói
chung rối nhiễu cảm xúc nói riêng của học sinh THCS được chỉ ra, bao gồm:
- Các đặc điểm tâm nhân.
- Ảnh hưởng của việc học tập và các mối quan hệ.
- Ảnh hưởng của sự quan tâm, chia sẻ giữa cha mẹ và con.
- Ứng xử của cha mẹ khi con dấu hiệu cảm xúc bất thường.
2.3.1. Ảnh hưởng của các đặc điểm tâm nhân
Đặc điểm tâm nhân được xem một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến rối
nhiễu tâm nói chung RNCX nói riêng. Phần lớn các nhà tâm học lâm sàng cho rằng,
những đặc điểm tâm nhân yếu tố bảo vệ” đối với rối nhiễu tâm lí, một s khác lại c
“yếu tố nguy cơ” làm nhân nhạy cảm hơn với tác nhân gây stress.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đa số học sinh có nhận thức tốt v nguy dẫn đến rối nhiễu
cảm xúc từ các đặc điểm tâm nhân.
đến 62,4% học sinh được nghiên cứu lựa chọn phương án “tính tình thất thường, dễ thay
đổi” 1 trong những nguy dẫn đến RNCX. thể nói, đây một đặc điểm tâm đặc trưng
lứa tuổi vị thành niên, biểu hiện s thay đổi nhanh chóng và liên tục t trạng thái cảm xúc y
sang trạng thái cảm xúc kia. Nhiều khi trạng thái y đi kèm với những hành vi tính chất thời
điểm, không được dự o trước thường được gọi bằng những từ như “hành vi xốc nổi, thiếu suy
nghĩ”. Như vy, trạng thái cảm xúc dễ thay đổi vừa nguyên nhân vừa hậu quả của sự thiếu/kém
kiểm soát bản thân của vị thành niên. thể chính sự biểu hiện cảm xúc rệt ra bên ngoài như
vy các em dễ nhận thấy và liên h đặc điểm nhân này với rối nhiễu cảm xúc. Theo các
thuyết tâm học thì đặc điểm y vị thành niên đóng vai trò như một yếu tố nguy (đi kèm với
các nguy khác) thể dễ làm ny sinh những cảm xúc tiêu cực trẻ v thành niên.
Đặc điểm tâm nhân tiếp theo học sinh lựa chọn “Ưa hoạt động” (55,6%). Ưa
thích hoạt động và tăng hoạt động ng một đặc điểm nổi bật của lứa tuổi vị thành niên do
thể, đặc biệt hệ thần kinh của c em đang giai đoạn phát triển mạnh mẽ giải phóng ra rất
nhiều năng lượng. Ngoài c dụng mang lại cho các em sự hứng khởi, sáng khoái, hoạt động còn
phương thức kết nối các em với nhóm bạn, với những người xung quanh. Khi đó, không những
căng thẳng trong cuộc sống được giải tỏa, tâm trạng được nâng lên liên hệ xã hội của các em
được thường xuyên, liên tục và bền chặt. Vy thì khó có thể i “ưa hoạt động” một đặc điểm
130
Thực trạng một số yếu tố ảnh hướng tới rối nhiễu cảm xúc học sinh THCS
tâm nhân dễ dẫn đến rối nhiễu tâm lí. Để làm do nào đằng sau sự lựa chọn y của các
em cần chia sẻ cụ thể hơn từ chính các em. Các do các em đưa ra thể khái quát thành 3
nhóm như sau: a) thể gặp nhiều rủi ro; b) ny sinh mâu thuẫn với người khác; c) tiêu hao nhiều
năng lượng, mệt mỏi. Ưa thích hoạt động tốt th giải tỏa được những căng thẳng trong học
tập nhưng hoạt động nhiều thì mình cũng tiếp xúc với nhiều người và nảy sinh nhiều mâu thuẫn
với họ” (T.T.H, học sinh Nội). thể những tâm sự trên đây của một học sinh trải nghiệm
nhân của em nhưng với tỉ lệ chọn lựa phương án y 55,6% cho thấy đây không phải hiện
tượng biệt. Như vậy, đặc điểm nhận thức y của học sinh cần phải được nghiên cứu u hơn và
những hỗ trợ tâm p hợp cho các em lứa tuổi vị thành niên.
Những đặc điểm tiếp theo đều khoảng một nửa số học sinh cho dễ dẫn đến rối nhiễu
cảm xúc: “Ít tâm sự với người khác” (51,4%), “Đa nghi” (51,1%), “Kém tự tin, nhút nhát” (50%).
Ba đặc điểm y thực sự những đặc điểm nhân tiềm ẩn được các nhà tâm học cho là “yếu
tố nguy đối với rối nhiễu cảm xúc. Những người không có thói quen chia sẻ với người khác
thường xu hướng dồn nén cảm xúc bên trong. Những người tự ti, đánh g thấp bản thân xu
hướng ít giao tiếp nên khó thiết lập các quan hệ xã hội và ít các liên hệ hội thiếu hụt liên
hệ xã hội một trong những nguyên nhân gây trầm cảm (Levinsohn & Cs, 1979). Tính đa nghi
biểu hiện nhân xu hướng ít tin tưởng vào bất một điều trong thế giới n ngoài từ c
sự vật, hiện tượng đến những người xung quanh. Thậm chí, trường hợp nhân còn nghi ngờ
chính bản thân mình nữa. Nếu đặc điểm nhân cách y vượt qua ranh giới sẽ trở thành một dạng
rối loạn m thần được gọi là nghi bệnh. Còn trong cuộc sống bình thường, một người đa nghi,
thiếu sự tin tưởng vào mọi sự vật, vào người khác và bản thân mình sẽ dễ b stress, mệt mỏi và cảm
thấy bất an. N vy, sự lựa chọn và đánh giá của học sinh v ảnh hưởng của ba đặc điểm này tới
đời sống cảm xúc của con người rất chính xác.
th tổng hợp lại kết quả lựa chọn 5 đặc điểm tâm d dẫn đến rối nhiễu cảm c nhất
theo đánh giá của học sinh bằng biểu đồ sau đây.
Biểu đồ 1. Đánh giá của học sinh v các đặc điểm tâm dễ dẫn đến RNCX
Như vậy, nhìn chung, học sinh THCS nhận thức tương đối tốt v các đặc điểm nhân cách
dễ dẫn đến rối nhiễu cảm c. Tuy nhiên, còn khoảng hơn một phần ba, thậm c một số đặc
điểm gần một nửa số học sinh nhận thức chưa chính xác đầy đủ v các đặc điểm tâm
nhân dễ dẫn đến rối nhiễu cảm c. Trong nhận thức của học sinh cũng biểu hiện một số mâu
131
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
thuẫn, nhầm lẫn.
2.3.2. Ảnh hưởng của việc học tập các mối quan hệ
Đối với học sinh THCS, môi trường gần gũi của các em vẫn chủ yếu xoay quanh c mối
quan hệ gia đình, bạn bè, thầy/cô giáo, việc học tập. Để trả lời cho câu hỏi: điều trong cuộc sống
của học sinh THCS nh hưởng nhiều nhất và ảnh hưởng mức độ nào đến đời sống cảm xúc của
các em, d làm xuất hiện c em cảm xúc tiêu cực, nghiên cứu đã thực hiện lấy ý kiến c em
với câu hỏi: “Xin em cho biết, các yếu tố sau đây ảnh hưởng mức độ nào đến cảm xúc tiêu cực
của em?”. Kết quả thu được thể hiện như sau:
Theo đánh giá của các em, các vấn đề trong học tập ảnh hưởng lớn nhất đến cảm xúc
tiêu cực của c em. 39,5% học sinh cho rằng “khó khăn/ thất bại trong học tập” và 39,8% cho
“áp lực học tập” rất ảnh hưởng đến cảm xúc của các em. Như vậy, áp lực học tập đúng một
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến RNCX học sinh.
Các yếu tố ảnh hưởng tiếp theo là: quan hệ với cha mẹ, đặc điểm tâm cá nhân, và quan
hệ với bạn (đều ĐTB 1,9 mức ít ảnh hưởng). tất cả các yếu tố còn lại như quan hệ với
anh/ chị/ em, quan hệ với những người khác trong gia đình, quan hệ với bạn cùng giới và quan hệ
với bạn khác giới cũng chỉ nằm trong ranh giới của mức độ ít ảnh hưởng thôi. Tuy vy, kết qu
kiểm định One Sample test cho biết sự khác biệt ý nghĩa giữa hai yếu tố khó khăn trong
học tập và áp lực học tập so với các yếu tố còn lại. Điều y nghĩa là, theo đánh giá của các
em thì khó khăn trong học tập và áp lực học tập ảnh hưởng hơn đến RNCX so với các yếu tố còn
lại. Tương tự như vy, kết quả kiểm định cũng cho thy sự khác biệt ý nghĩa giữa quan hệ
với bạn bè, quan hệ với cha mẹ và đặc điểm tâm nhân (ĐTB đều 1,9) c yếu tố còn lại.
thể khẳng định, 5 yếu tố ĐTB cao nhất theo đánh giá của học sinh, ảnh hưởng mạnh hơn
đến RNCX của các em so với các yếu tố khác như quan hệ với anh/ chị em, quan hệ với người thân
khác trong gia đình, quan hệ với thầy/ giáo,...
Như vy, theo đánh giá của học sinh, mặc yếu tố ảnh hưởng mạnh hơn, yếu tố ảnh
hưởng nhẹ hơn nhưng đều mức độ trung bình. Không yếu tố nào trong các yếu tố nói trên
được đa số các em cho rất nh hưởng đến đời sống cảm xúc của mình.
2.3.3. Ảnh hưởng của sự quan tâm, chia sẻ giữa cha mẹ và con
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con nói chung tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống cảm
xúc của thiếu niên. lứa tuổi này, các mối quan hệ hội mở rộng hơn, các em tiếp xúc với bên
ngoài nhiều hơn, do đó sự ảnh hưởng của các yếu tố khách quan tác động đáng k đến tâm tình
cảm của c em. ng chính vậy, thiếu niên cần một điểm tựa vững chắc để c em không lạc
lối trong một thế giới vô vàn những giá trị phản giá trị, nhiều điều đúng đắn nhưng cũng đầy
rẫy cám dỗ, nhiều niềm vui nhưng cũng không ít các tác nhân gây stress. Một trong những việc
làm kết nối cha mẹ và con cái, đó là sự quan tâm, chia sẻ, tâm s hàng ngày giữa hai bên. Vy, thực
trạng việc nh thời gian trò chuyện với nhau của cha mẹ con cái trong gia đình như thế nào?
Kết quả nghiên cứu cho thy 25,6% học sinh cho rằng cha mẹ và các em trao đổi, chia
sẻ, tâm sự với nhau hàng ngày. Tỉ l các em lựa chọn các phương án “thỉnh thoảng “ít khi” trò
chuyện gần như nhau, lần lượt là: 24,7% 22,4%. Đây tỉ lệ k lớn. Đáng chú ý rất nhiều
học sinh cho rằng cha mẹ c em ít khi trò chuyện, chia sẻ với nhau (gần 1
4toàn bộ học sinh
tham gia nghiên cứu). Ngược lại, ch 2,7% phụ huynh tham gia nghiên cứu cho bản thân ít
khi trò chuyện với con cái. Đặc biệt hơn nữa, đến 13,5% học sinh cho biết giữa các em và cha
mẹ không bao giờ t chuyện với nhau. Kết quả nghiên cứu cho thy, một số ít các em cha
132