
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 14476-1:2025
ISO/TR 18828-1:2018
HỆ THỐNG TỰ ĐỘNG HÓA CÔNG NGHIỆP VÀ TÍCH HỢP - QUY TRÌNH CHUẨN HÓA CHO KỸ
THUẬT HỆ THỐNG SẢN XUẤT - PHẦN 1: TỔNG QUAN
Industrial automation systems and integration - standardized procedures for production
systems engineering - Part 1: Overview
Lời nói đầu
TCVN 14476-1:2025 hoàn toàn tương đương với ISO/TR 13828-1:2018;
TCVN 14476-1:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 184 Hệ thống tự động hóa và tích
hợp biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất
lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Bộ TCVN 14476 (ISO 18828), Hệ thống tự động hóa công nghiệp và tích hợp - Quy trình chuẩn hóa
cho kỹ thuật hệ thống sản xuất gồm các phần sau:
- TCVN 14476-1:2025 (ISO/TR 18828-1:2018), Phần 1:Tổng quan
- TCVN 14476-2:2025 (ISO 18828-2:2016), Phần 2: Quá trình tham chiếu cho lập kế hoạch sản xuất
liền mạch
- TCVN 14476-3:2025 (ISO 18828-3:2017), Phần 3: Luồng thông tin trong quá trình lập kế hoạch sản
xuất
- TCVN 14476-4:2025 (ISO 18828-4:2018), Phần 4: Chỉ số hiệu quả trọng yếu (KPI) trong quá trình
lập kế hoạch sản xuất
-TCVN 14476-5:2025 (ISO 18828-5:2019), Quy trình chuẩn hóa cho kỹ thuật hệ thống sản xuất - Phần
5: Quản lý thay đổi sản xuất
Lời giới thiệu
Bộ TCVN 14476 (ISO 18828) đề cập đến các quá trình chuẩn hóa đối với kỹ thuật hệ thống sản xuất.
Người lập kế hoạch sản xuất có thể là một người hưởng lợi chính của một khung công việc tiếp cận
các khía cạnh như quá trình sản xuất, luồng thông tin, chỉ số hiệu quả trọng yếu (KPI) và thay đổi sản
xuất. Các phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) tại thời điểm xuất bản được minh họa trong Hình 1 .
Hình 1 - Các phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828)
Mỗi phần trong bộ TCVN 14476 (ISO 18828) là một tiêu chuẩn riêng biệt và có thể được hiểu trong
bối cảnh nội dung của chính phần đó mà không cần tham chiếu đến các phần khác. Tuy nhiên, TCVN
14476- 2 (ISO 18828-2), TCVN 14476-3 (ISO 18828-3) và TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) có liên kết
chặt chẽ và có giá trị gia tăng khi triển khai cùng nhau. Phụ lục A minh họa phạm vi và bối cảnh vòng
đời của bộ TCVN 14476 (ISO 18828).
Hình 2 cho thấy các liên kết và quan hệ có thể có giữa từng phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) và

các luồng thông tin cơ bản của chúng. Đối tượng thụ hưởng tổng thể của tất cả các hoạt động theo
TCVN 14476 (ISO 18828) được xác định trong các quá trình tiêu chuẩn hóa dành cho các kỹ sư hệ
thống sản xuất. Thông tin quá trình lập kế hoạch là kết quả chính mà các kỹ sư hệ thống sản xuất thu
được từ TCVN 14476-2 (ISO 18828-2). Tuy nhiên, thông tin quá trình lập kế hoạch có thể được coi là
đầu vào cho các luồng thông tin (TCVN 14476-3 (ISO 18828-3)) và các KPI (TCVN 14476-4 (ISO
18828-4)) tương ứng. Các luồng dữ liệu có nguồn gốc từ các luồng thông tin (TGVN 14476-3 (IS0
18828-3)) và dữ liệu thống kê từ KPI (TCVN 14476-4 (ISO 18828-4)). Cả thông tin quá trình lập kế
hoạch và dữ liệu thống kê đều có thể ảnh hưởng đến các quá trình thay đổi sản xuất và chúng là đầu
vào cho thay đổi sản xuất (TCVN 14476- 5 (ISO 18828-5)). Từ đó, thông tin quá trình thay đổi được
cung cấp cho kỹ sư hệ thống sản xuất để đổi lại.
Hình 2 - Quan hệ giữa các phần khác nhau của bộ TCVN 14476 (ISO 13828)
Tiêu chuẩn này cung cấp tổng quan về bộ TCVN 14476 (ISO 18828):
- Điều 4 cung cấp tổng quan về từng phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828);
- Điều 5 mô tả quan hệ giữa các phần khác nhau của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) và các trường hợp
trong công nghiệp được sử dụng để giải thích về ứng dụng chung của các phần tiêu chuẩn hóa:
TCVN 14476-2 (ISO 18828-2), TCVN 14476-3 (ISO 18828-3) và TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) có
quan hệ với nhau, trong khi TCVN 14476-5 (ISO 18828-5) cung cấp thông tin chi tiết về quá trình thay
đổi sản xuất có thể được hiểu không chỉ trong phạm vi công việc của các kỹ sư hệ thống sản xuất mà
còn liên quan đến những thay đổi trong toàn bộ hệ thống sản xuất.
HỆ THỐNG TỰ ĐỘNG HÓA CÔNG NGHIỆP VÀ TÍCH HỢP - QUY TRÌNH CHUẨN HÓA CHO KỸ
THUẬT HỆ THỐNG SẢN XUẤT - PHẦN 1: TỔNG QUAN
Industrial automation systems and integration - standardized procedures for production
systems engineering - Part 1: Overview
1 Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này mô tả khung công việc của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) trong việc lập kế hoạch sản
xuất liền mạch.
Những nội dung sau đây nằm trong phạm vi của tiêu chuẩn này:
- tổng quan chung về khung công việc của bộ TCVN 14476 (ISO 18828):
- mô tả chi tiết về từng phần;
- các khía cạnh liên quan và việc áp dụng khung công việc.
Những nội dung sau đây nằm ngoài phạm vi của tiêu chuẩn này:
- mô tả quá trình chi tiết;
- luồng dữ liệu chi tiết;
- các KPI chi tiết;
- mô hình dữ liệu chi tiết;
- thảo luận chuyên sâu về các phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828).
2 Tài liệu viện dẫn

Các tài liệu viện dẫn sau đây là cần thiết cho việc áp dụng tiêu chuẩn. Đối với các tài liệu viện dẫn ghi
năm công bố thì áp dụng bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp
dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi.
TCVN 14476-2 (ISO 18828-2), Hệ thống tự động hóa công nghiệp và tích hợp - Quy trình chuẩn hóa
cho kỹ thuật hệ thống sản xuất - Phần 2: Quá trình tham chiếu cho lập kế hoạch sản xuất liền mạch
3 Thuật ngữ, định nghĩa và chữ viết tắt
Trong tiêu chuẩn này, các thuật ngữ và định nghĩa được đưa ra trong TCVN 14476-2 (ISO 18828)-2
được áp dụng.
4 Tổng quan và ngữ cảnh của từng phần trong bộ TCVN 14476 (ISO 18828)
4.1 Tổng quan về TCVN 14476-2 (ISO 18828-2)
TCVN 14476-2 (ISO 18828-2) mô tả quá trình lập kế hoạch tham chiếu nhằm thiết lập sự hiểu biết
nhất quán về quá trình lập kế hoạch sản xuất trong giai đoạn vòng đời của quá trình chuẩn bị sản
xuất. Quá trình lập kế hoạch tham chiếu này được gán giữa quá trình thiết kế sản phẩm và quá trình
sản xuất.
Quá trình lập kế hoạch tham chiếu bao gồm hai chiều, chiều thứ nhất là chiều của các nguyên tắc lập
kế hoạch. Để xác định các nguyên tắc lập kế hoạch quan trọng nhất có thể xảy ra trong các công ty
sản xuất, dữ liệu từ nhiều công ty khác nhau chỉ ra một trọng tâm chính. Bốn nguyên tắc lập kế hoạch
riêng biệt được xác định:
a) sản xuất;
b) lắp ráp;
c) logistic;
d) lập kế hoạch bố trí.
Mỗi quá trình bắt nguồn từ các nguyên tắc lập kế hoạch này đều trải qua tất cả các giai đoạn thiết kế
sản phẩm và các giai đoạn sản phẩm tạo nên chiều thứ hai của quá trình lập kế hoạch tham chiếu.
Quá trình lập kế hoạch tham chiếu mở rộng từ các giai đoạn sau của giai đoạn thiết kế sản phẩm đến
giai đoạn sản xuất. Trong giai đoạn chuẩn bị sản xuất, TCVN 14476-2 (ISO 18828-2) xác định bốn giai
đoạn liên quan đến cấp trường thành khác nhau:
- giai đoạn lập kế hoạch ý tưởng;
- giai đoạn lập kế hoạch sơ bộ;
- giai đoạn lập kế hoạch chi tiết;
- giai đoạn tối ưu hóa tiếp theo kéo dài tới các giai đoạn sản xuất đầu tiên của vòng, đời sản phẩm.
Dựa trên hai chiều, tức là nguyên tắc lập kế hoạch và cấp trường thành, quá, trình lập kế hoạch tham
chiếu chứa cho mỗi giao điểm một bước quá trình chung, riêng biệt. Mỗi bước quá trình bao gồm một
chức năng, thông tin đầu vào, thông tin kiểm soát và thông tin đầu ra. cấu trúc tuân theo cách tiếp cận
phân cấp: các quan hệ ở các cấp cao hơn xảy ra khá dày đặc, trong khi các cấp chi tiết giải quyết để
xóa sơ đồ luồng quá trình.
Các mô hình quá trình chi tiết được trình bày trong TCVN 14476-2 (ISO 18828-2) thể hiện và triển
khai một cách thống nhất việc định danh các tham số đầu vào, điều khiển và đầu ra liên quan đến quá
trình lập kế hoạch sản xuất, đồng thời phản ánh cấu trúc của quá trình lập kế hoạch. Việc thu hẹp
phạm vi một cách có hệ thống khi xem xét cơ sở của các chiều lập kế hoạch, tức là các nguyên tắc
lập kế hoạch và cấp trưởng thành, cho phép có cái nhìn tổng quan rõ ràng về các giao diện giữa các
quá trình và các hiệu ứng nhóm có thể xảy ra. Ví dụ, cách thể hiện này có thể cho phép hỗ trợ chuỗi
quy trình về phương pháp và kỹ thuật.
TCVN 14476-2 (IS0 18828-2) tập trung chủ yếu vào phần giới thiệu chi tiết về các nguyên tắc lập kế
hoạch tập trung liên quan đến các cấp trường thành, cũng như các mô hình chung toàn diện được sử
dụng để tăng cường sự hiểu biết. Ngoài ra, các hình minh họa cung cấp lời giải thích đồ họa về luồng
quá trình cho từng cấp quá trình. Một bản tóm tắt thông tin về cấu trúc mức được đưa ra trước các
mô tả chi tiết về lĩnh vực và truyền tải một bức tranh rõ ràng và minh bạch về cấu trúc tổng thể của nội
dung, mục đích và ứng dụng của tiêu chuẩn.
4.2 Tổng quan về TCVN 14476-3 (ISO 18828-3)
TCVN 14476-3 (ISO 18828-3) quy định các luồng thông tin chính trong lập kế hoạch sản xuất. Các
luồng thông tin này bắt nguồn từ các bước quá trình được xác định trong ngữ cảnh của quá trình lập
kế hoạch tham chiếu. Tuy nhiên, mỗi luồng thông tin đứng riêng lẻ và do đó có thể được coi là một
luồng thông tin riêng biệt, tách biệt, mô tả các luồng dữ liệu cần thiết cho mục tiêu chính. Các luồng
thông tin bắt nguồn từ quá trình lập kế hoạch tham chiếu. Chúng đại diện cho quan điểm định hướng
thông tin về quá trình lập kế hoạch tổng thể và tính đến cả các nguyên tắc lập kế hoạch và các giai
đoạn lập kế hoạch và cung cấp thông tin bổ sung tập trung vào tính minh bạch của các luồng. Các

giao diện quá trình bao gồm các giai đoạn quy trình, tức là lập kế hoạch ý tưởng, sơ bộ và chi tiết và
các nguyên tắc lập kế hoạch.
Trong TCVN 14476-3 (ISO 18828-3), các nguyên tắc lập kế hoạch được xác định bị giới hạn ở các
nguyên tắc lập kế hoạch cơ bản, quan trọng nhất được tìm thấy trong nhiều công ty sản xuất. Giới
thiệu về các nguyên tắc lập kế hoạch cung cấp phần chính của quá trình lập kế hoạch tham chiếu cho
lập kế hoạch sản xuất liền mạch (TCVN 14476-2 (ISO 18828-2)). Theo TCVN 14476-2 (ISO 18828-2),
các luồng thông tin chính sử dụng cùng các nguyên tắc lập kế hoạch sản xuất:
- chế tạo;
- lắp ráp;
- logistic;
- lập kế hoạch bố trí.
TCVN 14476-3 (ISO 18828-3) cung cấp tổng quan chung về các luồng thông tin chính trong quá trình
lập kế hoạch tham chiếu. Nó cũng mô tả năm luồng thông tin chính đã xác định và các mô hình thiết
lập và quá trình riêng biệt của chúng. Mỗi mô hình thông tin lấy tất cả các giao diện quá trình bắt
nguồn từ quá trình lập kế hoạch tham chiếu. Chúng mô tả tổng thể trao đổi thông tin giữa các hoạt
động đi kèm và loại dữ liệu được trao đổi. Về này, chúng giống với sơ đồ hoạt động của Ngôn ngữ
mô hình hóa thống nhất (UML).
Tất cả các luồng thông tin đều tuân theo một mô hình cơ bản, mô tả chúng một cách thống nhất.
Ngoài ra, mô tả chi tiết về từng phần của luồng thông tin giải thích mục đích của nó và các đối tượng
dữ liệu liên quan, cũng như mối liên kết giữa các nguyên tắc lập kế hoạch. Tất cả các sơ đồ đều sử
dụng cấu trúc ký hiệu trạng thái chung. Bên cạnh mô tả chi tiết về các phần quá trình của luồng thông
tin, giải thích sâu hơn về từng đối tượng thông tin sẽ bổ sung thêm nội dung cho các thực thể liên
quan.
Mỗi luồng thông tin xoay quanh một đối tượng luồng cụ thể. Sự tập trung như vậy làm tăng tính minh
bạch của các tương tác và luồng dữ liệu cho từng đối tượng và do đó làm tăng lợi ích của chính luồng
đó. Người dùng cuối quan tâm đến một luồng cụ thể có thể dễ dàng kiểm tra toàn bộ dữ liệu của họ
và duyệt qua luồng, cụ thể của họ. Các nhà cung cấp phần mềm cũng có thể hưởng lợi từ cách tiếp
cận hướng đối tượng/quá trình. Việc xác định đầu vào và đầu ra cho từng hoạt động cho phép nhanh
chóng suy ra luồng thông tin sơ bộ ban đầu. Ngoài ra, luồng chức năng gián tiếp xác định giao diện
người dùng, logic ứng dụng và kinh doanh hiện có và môi trường lập trình áp dụng.
Các phụ lục bao gồm đề xuất về danh sách kiểm tra để đối sánh chuẩn đối tượng thông tin và áp
dụng nội dung, của TCVN 14476-3 (ISO 18823-3) vào trường hợp kinh doanh.
4.3 Tổng quan về TCVN 14476-4 (ISO 18828-4)
TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) trình bày chi tiết về việc sử dụng KPI trong giai đoạn lập kế hoạch sản
xuất. Nó bắt nguồn từ việc xác định thiếu các tham số kiểm soát đầy đủ và dẫn đến việc phát triển một
khung công việc để giám sát và cải tiến các quá trình lập kế hoạch sản xuất. Các KPl được mô tả
trong TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) về cơ bản liên quan đến việc theo dõi hiệu suất của các quá trình
lập kế hoạch cho các hệ thống sản xuất kỹ thuật. Chúng nhằm mục đích cải tiến quá trình chuẩn hóa
chất lượng giám sát quá trình sản xuất. Các chỉ số trọng yếu được xác định trong TCVN 14476-4 (ISO
18828-4) mô tả một điều kiện toán học trừu tượng theo cách mà chúng có thể áp dụng nhất quán,
theo định nghĩa của chúng, trong các nguyên tắc lập kế hoạch khác nhau và, nếu được điều chỉnh
cho phù hợp, trong các lĩnh vực khác nữa.
Các KPI được thảo luận trong TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) liên quan đến các tác vụ được thực hiện
trong quá trình lập kế hoạch sản xuất. Tuy nhiên, tất cả các chỉ số trọng yếu được trình bày đều là
khuyến nghị và cũng có thể được sử dụng theo tính hợp lệ chung của quy trình tham chiếu từ TCVN
14476-2 (ISO 18828-2) và liên quan đến nội dung được mô tả ở đó.
Do bản chất của chúng, KPI chỉ có thể được thiết lập liên quan đến và được sử dụng cho mục đích so
sánh liên tục với cải tiến quy trình, nếu ngưỡng được xác định rõ ràng và áp dụng. Do đó, đối với các
quá trình lập kế hoạch sản xuất, việc chú ý đến ranh giới hệ thống của phân tích là bắt buộc.
TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) mô tả tổ chức KPI trong hệ thống đa cấp cung cấp các mức chỉ số
trọng yếu khác nhau cho các quá trình, từ đánh giá quá trình lập kế hoạch trong các chỉ số trọng yếu
hướng quá trình đến đánh giá kết quả cụ thể của tác vụ lập kế hoạch. Trong cấu trúc tổ chức này,
trong khi các chỉ số trọng yếu hướng quá trình có giá trị trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thì các chỉ số
trọng yếu hướng kết quả có xu hướng có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc lập kế hoạch được xác
định trước của quá trình lập kế hoạch sản xuất. Hệ thống đa cấp được sử dụng chỉ ra một chỉ số trọng
yếu quan trọng ở mọi cấp. Ngoài ra, mỗi KPI sử dụng một mẫu chung để cấu trúc và lập tài liệu cho
từng chỉ số theo cùng một cách chuẩn hóa. Cấu trúc bao gồm công thức rõ ràng và đơn vị/chiều
tương ứng, cũng như các tham số và biến đầu vào tương ứng, nói chung là hợp lệ.
Sự khác biệt giữa các KPI liên quan đến quá trình và kết quả bao gồm một phần chính của tiêu chuẩn
và có giải thích về sự khác biệt giữa các chỉ số trọng yếu hướng đến quá trình và hướng đến kết quả.

Các chỉ số hướng đến quá trình có thể được xác định bằng phạm vi sử dụng rộng rãi của chúng, vì
chúng không dành riêng cho một lĩnh vực cụ thể hay dành riêng cho từng giai đoạn phát triển. Các chỉ
số trọng yếu định hướng theo kết quả dựa trên kết quả lập kế hoạch cụ thể phụ thuộc nhiều hơn vào
bối cảnh và có phạm vi hiệu lực hẹp được xác định trước. Dựa trên các nguyên tắc lập kế hoạch cốt
lõi được xác định trong quá trình lập kế hoạch tham chiếu, TCVN 14476-4 (ISO 18828-4) tập trung
vào việc trình bày các KPI kết quả mẫu có thể áp dụng để sử dụng.
Việc có sẵn tiêu chuẩn này sẽ tăng, cường các lựa chọn đối sánh chuẩn trong một công ty và thậm
chí giữa nhiều công ty nếu cần.
4.4 Tổng quan về TCVN 14476-5 (ISO 18828-5)
TCVN 14476-5 (ISO 18828-5) đề cập đến các quá trình thay đổi sản xuất và việc quản lý chúng.
Trong thực tế, các hệ thống sản phẩm cần thiết cho việc sản xuất và lắp ráp các sản phẩm cũng phải
chịu nhiều thay đổi khác nhau. Một số trong số này được lập kế hoạch và triển khai cụ thể để đạt
được hiệu quả cao hơn của các hệ thống sản xuất. Tuy nhiên, những thay đổi khác phải chịu các quá
trình ít có cấu trúc hoặc được lập kế hoạch hơn. Điểm chung của tất cả các loại biện pháp thay đổi
này là tài liệu áp dụng của các hệ thống sản xuất và tình trạng sản xuất thực tế là không nhất quán
tạm thời hoặc vĩnh viễn. Điều này có nghĩa là tất cả các nhà sản xuất sẽ thấy các quá trình sản xuất
của họ lệch khỏi kế hoạch ban đầu ở một mức nào đó. Việc giám sát liên tục tình trạng thực tế và tình
trạng đã lập kế hoạch của hệ thống cho phép nhà sản xuất kiểm tra, đánh giá và cuối cùng đạt được
các mục tiêu đã đề ra về chất lượng, thời gian cần thiết và hiệu quả về chi phí.
Bất kỳ thay đổi muộn nào đối với quá trình sản xuất đều cần có sự đồng thuận của nhiều bên tham
gia và đòi hỏi một quá trình ra quyết định lặp đi lặp lại, tốn nhiều thời gian. TCVN 14476-5 (ISO
18828-5) phát triển mô tả chính thức về quy trình Quản lý thay đổi sản xuất (MCM) và cung cấp các ý
tưởng về tổ chức và kỹ thuật để lập bản đồ và xử lý toàn diện các thay đổi sản xuất giữa hoạt động và
kế hoạch sản xuất. Tiêu chuẩn cung cấp các phương pháp luận để ghi nhận và theo dõi các biện
pháp thay đổi, đồng thời giúp dự báo hợp lý và điều phối năng lực cần thiết cho các quá trình thay đổi
trong các bộ phận lập kế hoạch và sản xuất. Ngoài ra, sơ đồ mô hình dữ liệu cung cấp chế độ xem
hướng đối tượng về MCM. Mô hình dữ liệu trình bày chế độ xem phần mềm có thể triển khai, cho
phép các nhà cung cấp công nghệ thông tin phát triển các công cụ chuẩn hóa. Một khía cạnh quan
trọng của mô hình dữ liệu nằm ở loại đối tượng thay đổi trung tâm. Nó được liên kết với các đối tượng
của nhà máy kỹ thuật số, tức là quy trình, sản phẩm và nguồn lực. Đối tượng thay đổi liên quan đến
tất cả các đối tượng của nhà máy kỹ thuật số và cung cấp chế độ xem lớp n hướng quan hệ cho quá
trình MCM.
TCVN 14476-5 (ISO 18828-5) bao gồm các mô hình quá trình của MCM dựa trên cấu trúc nhiều cấp.
Mỗi mô hình quá trình được trình bày chi tiết theo các giai đoạn tiến triển theo cách tiếp cận từ trên
xuống. MCM bao gồm hai giai đoạn cấu trúc, tạo thành cấp gốc của quá trình MCM:
- yêu cầu thay đổi sản xuất;
- lệnh thay đổi sản xuất.
Có một mô tả chi tiết về cả hai bước quá trình và các quan hệ tiếp theo với các vai trò và đối tượng.
Mức trừu tượng giảm dần khi đi sâu vào các mức. Do đó, mức dưới cùng của các mô hình quá trình
cung cấp các bước quá trình rõ ràng và có cấu trúc bao gồm dữ liệu đầu vào và đầu ra. Ngoài ra, bên
cạnh mô tả chi tiết về chính các quá trình, một mô hình vai trò trình bày những nhân tố chính, tác vụ
của họ, trách nhiệm của họ và mục đích của họ trong quá trình thay đổi sản xuất.
TCVN 14476-5 (ISO 18828-5) kết thúc với thông tin chi tiết về mô hình dữ liệu được đưa vào trong
quá trình công việc chung của quá trình MCM.
5 Ứng dụng của khung công việc bộ TCVN 14476 (ISO 18828)
5.1 Quy định chung
Mỗi phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) có thể được áp dụng như một phần riêng lẻ và việc hiểu
một phần riêng lẻ không nhất thiết phụ thuộc vào các phần khác. Tuy nhiên, có thể đạt được lợi ích
lớn bằng cách kết hợp các phần của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) trong quá trình áp dụng. Hình 3
minh họa ba ví dụ về trường hợp sử dụng của việc triển khai bộ TCVN 14476 (ISO 18828) trong một
khung công việc. Các trường hợp sử dụng này được mô tả trong 5.2 đến 5.4 và dựa trên các kịch bản
triển khai thực tế của bộ TCVN 14476 (ISO 18828) của các đối tác công nghiệp lớn của Đức.

