
Tiểu luận:
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
VỀ QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA TỒN TẠI XÃ HỘI
VÀ í THỨC XÃ HỘI QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM KINH ĐIỂN

phần mở đầu
- Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một thể thống nhất thế
giới quan, phương pháp luật và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và quần chúng
lao đọng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản về xây dựng xã hội cộng sản
chủ nghĩa. Trong hệ thống quan điểm của mình, các nhà kinh điển cũng chú ý nhiều
đến quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, coi đó là
vấn đề cơ bản của triết học về xã hội. Quan điểm đó luôn luôn được Đảng ta vận
dụng vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, nhờ vậy mà đất nước đạt được
nhiều thành tựu to lớn cả trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của xã hội.
Hiện nay, đất nước bước vào thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng
mới, càng đòi hỏi cao hơn về yêu cầu làm sáng tỏ và phát triển lý luận, từ đó vận
dụng sáng tạo vào từng điều kiện cụ thể. Vấn đề quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội lại càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc hơn.
Trong quá trình tham gia lớp bồi dưỡng kinh điển, bản thân tôi đã rất chú ý
vấn đề này, do vậy đã mạnh dạn chọn nội dung này làm tiểu luận tốt nghiệp.
- Mục đích của tôi là nắm được những nội dung cơ bản của lý luận về quan
hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH, thấy rõ tầm quan trọng của nó, qua đó để hiểu
sâu sắc hơn về quan điểm cách mạng của Đảng đồng thời giúp cho công tác giảng
dạy đạt kết quả tốt hơn.
- Yêu cầu của tiểu luận là đề cập có hệ thống quan điểm của các nhà kinh
điển về quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH; chỉ ra điều kiện lịch sử của nó,
đồng thời khẳng định tính khoa học và cách mạng của tư tưởng ấy. Đặt những quan
điểm ấy trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, từ đó khẳng định tính đúng đắn trong
đường lối cách mạng của Đảng ta hiện nay.
- Kết cấu của tiểu luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận bao gồm 3
phần:
I. Quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
trong một số tác phẩm của C.Mác và ăngghen.

II. Lênin bảo vệ và phát triển quan điểm về quan hệ biện chứng giữa TTXH
và YTXH của Mác và ăngghen.
III. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận với tư cách là trình độ
cao của ý thức xã hội.

nội dung
I. quan điểm về quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
trong một số tác phẩm của C.mác và ăngghen
Vấn đề cơ bản của triết học là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội chính là quan hệ giữa vật chất và ý thức
được xem xét trong lĩnh vực xã hội. Do vậy vấn đề cơ bản của triết học về xã hội là
giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại xã hội là giải quyết mối quan hệ giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội.
Qua một số tác phẩm như: hệ tư tưởng Đức, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.
Chống Đuy rinh, sự phát triển của P.ăngghen đã giải quyết triệt để vấn đề cơ bản
của triết học về xã hội theo quan niệm duy vật lịch sử.
1. Tác phẩm hệ tư tưởng Đức
Đây là tác phẩm đánh dấu một cái mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
quá trình hình thành triết học Mác. Ta có thể xem là tác phẩm chín muồi đầu tiên
của chủ nghĩa Mác. Với tác phẩm này Mác và ăngghen đã thanh toán nhận thức triết
học trước kia của hai ông và trình bày thế giới quan mới của triết học. Đó chính là
quan niệm duy vật về lịch sử, một phát hiện vĩ đại nhất làm nên cuộc cách mạng
trên lĩnh vực triết học. Một trong những nội dung đó là quan điểm về mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
- Mác và ăngghen phê phán các nhà triết học Đức lúc đó là đã tách rời triết
học với hiện thực Đức, không thấy mối liên hệ giữa phê phán của họ với hoàn cảnh
vật chất của chính bản thân họ. [M-A, tuyển I, STHN, 1980, tr. 267]. Từ đó Mác và
ăngghen đã gắn hệ tư tưởng với cơ sở hiện thực lịch sử để xem xét và cho rằng bản
thân hệ tư tưởng chẳng qua cũng chỉ là một trong những mặt của lịch sử đó.
- Mác và ăngghen chỉ ra những tiền đề xuất phát của quan niệm duy vật lịch
sử. "Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tuỳ tiện,
không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua
trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực là hoạt động của họ và

những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng
như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra" (267). Sở dĩ Mác và
ăngghen coi đó là tiền đề xuất phát cho quan niệm ĐVLS vì "tiền đề đầu tiên của
toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người
sống" (268).
- Những cá nhân hiện thực là những cá nhân "đúng y như họ đang hoạt động,
sản xuất một cách vật chất, tức là đúng như họ hành động trong những giới hạn, tiền
đề mà điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của họ" (275). Như
vậy sự tồn tại của cá nhân hiện thực trước hết là ở hoạt động sản xuất vật chất, đó là
cái khách quan. Còn những biểu tượng của những cá nhân ấy về mình là ý niệm
hoặc về những quan hệ của họ với tự nhiên, hoặc về những quan hệ của họ với
nhau, hoặc về bản chất tự nhiên của họ... đều là sự biểu hiện có ý thức của những
quan hệ hiện thực và hoạt động hiện thực của họ, của sản xuất của họ, của sự giao
tiếp của họ, của tổ chức chính trị và xã hội của họ (275). Nói cách khác ý thức của
cá nhân đã hiện thực hay tưởng tượng đều phản ánh cuộc sống hiện thực của họ.
- Tiếp tục quan điểm trên, Mác và ăngghen đi đến khẳng định bản chất của ý
thức xã hội: "Sự sản xuất ra những ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là
trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và sự giao tiếp vật chất của con
người; nó là ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực. ở đây, những quan niệm, tư duy, sự
giao tiếp tinh thần của con người còn xuất hiện ra là sự biểu thị trực tiếp của những
quan hệ vật chất của họ. Đối với sự sản xuất tinh thần, đúng như nó biểu hiện trong
ngôn ngữ của chính trị, của luật pháp, của đạo đức, của tôn giáo, của siêu hình học,
v.v.., trong một dân tộc thì cũng thế. Chiính con người là kẻ sản xuất ra những quan
niệm, ý niệm, v.v.. ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được
ý thức và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người"
(276). Như vậy ngoài việc đề cập bản chất của ý thức xã hội, Mác - ăngghen còn đề
cập đến tồn tại của con người - tồn tại xã hội. Đồng thời khẳng định ý thức và các
hình thái ý thức xã hội là sự biểu thị trực tiếp các hoạt động và giao tiếp vật chất của

