
1
MỤC LỤC
B
Ộ
GIO D
Ụ
C V
Đ
O T
Ạ
O
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
LÝ LUẬN HÌNH THI KINH TẾ X HỘI,
THỰC TRẠNG V GIẢI PHP TRONG VẤN ĐỀ ĐO
TẠO NGHỀ Ở NƠNG THƠN VIỆT NAM TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
(Tiểu luận triết học chương trình CH v NCS khơng chuyn triết)
Học vin thực hiện : TRẦN THỊ HẠNH THẢO
Chức danh : Gio vin
Học vị : Kỹ sư
Nơi cơng tc : Trung tm KTTH-HN Kin Giang
TP.HỒ CHÍ MINH - 2006

2
MỞ ĐẦU
ua nghiên cứu học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội chúng ta nhận ra
rằng, nguyên nhân và động lực cho sự phát triển xã hội là sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Trong các yếu tố cấu thành lực lượng
sản xuất thì người lao động đóng vai trò quyết định và công cụ lao động giữ vai
trò cực kỳ quan trọng. Như vậy, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội như chiếc
chìa khóa để con người có thể mở cửa những lĩnh vực khác nhau khi nghiên cứu
về lịch sử, xã hội.
Quan tâm hơn nữa đến việc phát triển hệ thống dạy nghề và đảm bảo chất
lượng, gắn yêu cầu nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp với nâng cao ý
thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại cũng như năng lực hành
nghề. Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với việc làm trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các ngành
các địa phương, đặc biệt khu vực nông thôn.
Giáo dục nghề nghiệp đã phục hồi sau nhiều năm suy giảm, quy mô đào
tạo của dạy nghề cũng như trung học chuyên nghiệp tăng nhanh, tỷ lệ lao động
qua đào tạo có tăng ,tuy nhiên quy mô hiện nay còn rất thấp so với yêu cấu
chuyển đổi cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, yêu cầu phát triển
đa dạng về ngành nghề, đặc biệt là ở vùng nông thôn để đào tạo được người lao
động có đầy đủ sức khỏe, có trình độ chuyên môn cao đáp ứng được yêu cầu
làm chủ được những kỹ thuật hiện đại là việc vô cùng khó khăn .
Trình độ dân trí ở nông thôn Việt Nam chúng ta hiện nay còn thấp, thậm chí ở
một số nơi còn quá thấp. Việc dạy chữ, xóa mù đã là việc làm khó khăn thì việc
dạy nghề cho người dân ở nông thôn là việc làm cực kỳ khó khăn mà chúng ta
cần phải làm gấp. Nhận thức được vấn đề này, bản thân tôi xin chọn đề tài này
làm hướng nghiên cứu và làm tiểu luận.
Hướng nghiên cứu của đề tài này là trung giải quyết về cách thức và biện
pháp dạy nghề ở nông thôn theo từng đặc thù kinh tế ở từng địa phương, từng
vùng. Một khi người lao động ở nông thôn được đào tạo nghề, nắm bắt được kỹ
thuật hiện đại thì công cuộc cách mạng công nghiệp hóa nông thôn của chúng ta
sẽ thành công.
Tiểu luận này có 3 chương :
Chương 1 : Lý luận Hình thái kinh tế – Xã hội.
Chương 2 : Vai trò và vị trí của việc đào tạo nghề ở nông thôn, thực trạng
về công tác dạy nghề ở nông thôn Việt Nam hiện nay.
Chương 3 : Cách thức và giải pháp dạy nghề ở nông thôn theo từng đặc
thù kinh tế ở từng địa phương, từng vùng.
Chương 1 : LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI.
1.1. Hình thái kinh tế xã hội là gì ?
Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để
chỉ xã hội trong từng giai đọan lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất
Q

3
đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản
xuất và một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ
sản xuất ấy.
Như vậy:Hình thái kinh tế - xã hội là một xã hội trọn vẹn trong tưng giai
đoạn lịch sử nhất định.
Cấu trúc của một hình thái kinh tế - xã hội gồm: Lực lương sản xuất, quan
hệ sản xuất ( mà những quan hệ sản xuất ấy tạo nên kết cấu kinh tế tức cơ sở hạ
tầng của xã hội) và kiến trúc thượng tầng.
Cho đến nay, lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua các hình
thái kinh tế xã hội sau :
+ HTKTXH công xã nguyên thuỷ : khoảng 4 triệu năm.
+ HTKTXH chiếnm hữu nô lệ : gần 4000 năm.
+ HTKTXH phong kiến : gần 1500 năm.
+ HTKTXH tư bản chủ nghĩa : cho đến nay gần 500 năm.
Một khi hình thái xã hội này được thay thế bằng một hình thái kinh tế xã
hội khác thì xã hội loài người phát triển lên một mức cao hơn. Vì vậy, tìm ra
được nguyên nhân và động lực làm cho hình thái kinh tế xã hội này ra đời thay
cho hình thái kinh tế xã hội khác tức là tìm ra được nguyên nhân và động lực cho
sự phát triển, từ đó định hướng cho đầu tư tương lai. Nếu đầu tư đúng thì kinh tế
xã hội sẽ nhanh phát triển, còn nếu đầu tư sai thì phải trả giá không phải 1 hoặc
vài năm mà là cả một thế hệ.
Để nghiên cứu kỹ hình thái kinh tế xã hội trước tiên chúng ta phải tìm
hiểu về: lực lượng sản xuất ; quan hệ sản xuất ; cơ sở hạ tầng ; kiến trúc thượng
tầng và mối quan hệ giữa chúng.
a. Phương thức sản xuất :
Phương thức sản xuất là cách thức sản xuất ra của cải vật chất. Bao gồm
2 mối quan hệ :
* Quan hệ giữa con người với giới tự nhiên.
* Quan hệ giữa con người với con người.
b. Lực lượng sản xuất :
Tổng hợp sức mạnh của con người tác động vào giới tự nhiên trong quá
trình sản xuất vật chất. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ của con người
với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm :
Tư liệu lao động và đối tượng lao động ; tư liệu lao động gồm: công cụ lao động
và phương tiện lao động.
- Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của các yếu tố
tạo nên kết cấu của lực lượng sản xuất, đó là:
+ Sức khỏe của người lao động .
+ Tri thức kinh nghiệm, kỹ năng người lao động.
+ Mức độ hoàn thiện của công cụ lao động.
+ Khả năng khai thác hợp lý đối tượng lao động.
Trình độ của lực lượng sản xuất biến đổi theo chiều hướng ngày càng hoàn
thiện.
* Người lao động : là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất để tạo
nên của cải vật chất cho xã hội. Người lao động có những tiêu chuẩn về : sức

4
khoẻ, tuổi tác, trí tuệ và trình độ chuyên môn. Ở những quốc gia khác nhau tiêu
chuẩn về ngươi lao động cũng khác nhau.
* Tư liệu sản xuất : Là phần giới tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất.
- Tư liệu lao động : Phần giới tự nhiên tham gia vào quá trình sản xuất vật
chất gồm: công cụ lao động và phương tiện lao động :
Công cụ lao động là những vật trung gian để truyền sức lực từ người lao
động đến với những vật khác trong quá trình sản xuất.
Phương tiện lao động là những vật hỗ trợ con người vận chuyển, bảo quản
trong quá trình sản xuất. Ví dụ như : xe đưa đón công nhân, hệ thống thông gió,
hệ thống chiếu sáng, trang thiết bị bảo hộ lao động.
- Đối tượng lao động là những vật nhận sự tác động của công cụ lao động
trong quá trình sản xuất vật chất như : đất đai, cây cối,…v.v..
Một vật, tuỳ theo trường hợp cụ thể mà nó có thể là đối tượng lao động
hoặc là phương tiện lao động hoặc là công cụ lao động.
Ví dụ :
- Đối với người thợ sửa máy thì chiếc máy cày là đối tượng lao động. Nhưng
đối với người công nhân đang lái máy để cày trên đồng ruộng thì chiếc máy cày
là công cụ lao động. Trong trường hợp dùng máy cày để chuyên chở nông dân
từ nhà ra đồng ruộng để làm thì chiếc máy cày là phương tiện của người nông
dân.
- Sức khoẻ, tuổi tác, trí tuệ và trình độ chuyên môn của người lao động phải
phù hợp với hàm lượng chất xám thể hiện trong công cụ lao động. Nói một cách
khác, giữa người lao động và công cụ lao động phải có sự phù hợp nhất định về
trình độ phát triển. Một khi sức khoẻ, trí tuệ và trình độ chuyên môn của người
lao động được nâng cao, hàm lượng chất xám trong công cụ lao động nhiều thì
nâng suất lao động sẽ tăng lên rất nhiều.
Vì vậy, người lao động đóng vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, công cụ
lao động đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình sản xuất vì chính công
cụ lao động quyết định năng suất lao động. Đây là 2 yếu tố chính thể hiện trình
độ lực lượng sản xuất.
c. Quan hệ sản xuất :
The hiện mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất.
Quan hệ sản xuất bao gồm : quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về quản
lý và phân công lao động ; quan hệ về phân phối sản phẩm.
+ Quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất : được thể hiện qua các hình thức sở
hữu : sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân.
+ Quan hệ về quản lý và phân công lao động : thể hiện mối quan hệ giữa
người có quyền quản lý và phân công lao động với người chịu sự quản lý và
chấp hành phân công lao động. (Người có quyền quản lý và phân công lao động
là người sở hữu về tư liệu sản xuất, người không sở hữu tư liệu sản xuất thì phải
chịu sự quản lý và phân công.
+ Quan hệ về phân phối sản phẩm : thể hiện mối quan hệ về quyền lợi được
hưởng đối với thành quả lao động làm ra. (Người sở hữu về tư liệu sản xuất thì
phải chịu sự phân phối, không có quyền đòi hỏi trước sự bất công trong phân
phối).

5
Trong 3 yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất thì yếu tố quan hệ về sở hữu tư
liệu sản xuất đóng vai trò quyết định đối với 2 quan hệ còn lại vì :
Trong 2 yếu tố cấu thành phương thức sản xuất. Lực lượng sản xuất là yếu tố
động và mang tính cách mạng, luôn luôn vận động và phát triển đến trình độ cao
hơn. Quan hệ sản xuất là yếu tố tĩnh mang tính bảo thủ, có đôi lúc nó làm chậm
sự phát triển của lực lượng sản xuất (thông thường vì yếu tố lợi nhuận ). Để so
sánh 2 nền sản xuất, người ta so sánh phương thức sản xuất.
1.2 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất:
a. Trình độ lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất :
* Trình độ của lực lượng sản xuất như thế nào thì quan hệ sản xuất phải tương
xứng như thế ấy, tức là quan hệ sản xuất phải tương ứng với trình độ của lực
lượng sản xuất.
Ví dụ :
Với người lao động mù chữ, công cụ lao động là cái cày, cái cuốc, phương tiện
lao động là chiếc xe bò, đối tượng lao động là ruộng vườn thì cách quản lý và
phân công cũng như phân phối sản phẩm khác với việc người lao động là một kỹ
sư chế tạo máy, công cụ lao động là những chiếc máy, phương tiện lao động là
chiếc xe con để đi làm và đối tượng lao động là sắt thép.
* Khi trình độ của lực lượng sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định thì
quan hệ sản xuất cũng phai thay đổi theo cho phù hợp với trình độ đang có của
lực lượng sản xuất. Khi đó phương thức sản xuất thay đổi. Ở phương thức sản
xuất mới, trình độ của lực lượng sản xuất vẫn tiếp tục phát triển để đến một lúc
nào đó quan hệ sản xuất lại thay đổi, một phương thức sản xuất mới ra đời.
Như vậy, Trình độ của lực lượng sản xuất quyết định tính chất quan hệ sản xuất,
quyết định sự ra đời và biến đổi của kiểu quan hệ sản xuất, quyết định các hình
thức kinh tế của quan hệ sản xuất.
b. Quan hệ sản xuất tác động ngược lại lực lượng sản xuất :
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất thông qua
việc quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống tổ
chức, quản lý, phân công sản xuất, quy định phương thức phân phối của cải vật
chất.
Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất diễn ra theo
hai hướng:
* Nếu quan hệ sản xuất phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì
sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và vì thế mà xã hội phát triển theo.
* Nếu quan hệ sản xuất không phù hợp trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, điều này gây ra kiềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, tức là kiềm
hãm sự phát triển của xã hội.
Vì vậy, để phát triển xã hội thì phải phát triển lực lượng sản xuất trong đó
đặc biệt là đầu tư vào người lao động và công cụ lao động. Khi người lao động
có sức khoẻ, trí tuệ và trình độ chuyên môn cao, công cụ lao động hiện đại thì sẽ
tạo cho xã hội nhiều của cải vật chất. Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng
sản xuất, vì vậy phải không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất thông qua việc

