intTypePromotion=1

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

Chia sẻ: Mhnjmb Mhnjmb | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
75
lượt xem
7
download

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi nhằm xem xét và đánh giá k hả năng áp dụng lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi ngân sách ở Việt Nam, các giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiên nay là gì ? những ưu nhược điểm của các giải pháp đó đối với sự pháp triển kinh tế Việt Nam hiên nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Lý thuyết Tài chính tiền tệ: Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát mục tiêu và ngưỡng bội chi

  1. TRƯỜNG ĐẠ I HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH Khoa: KẾ TOÁ N - KIỂM TOÁ N LỚP:KT002-VB2 Lý Thuyết Tài Chính – Tiền Tệ Tiểu Luận Số 7: TÓM LƯỢT LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT MỤC TIÊU VÀ NGƯỠNG BỘI CHI Giảng Viên Hướng Dẫn Thầy: Trương Minh Tuấn Nhóm SV thực hiện: Nhóm 28 1.Dương Thị Hồng Tân 2.Trần Nguyễn Ngọc Vân 3.Nguyễn Thị Lộc 4.Đinh Thị Thu Thảo Ngày 06 Tháng 11 năm 2014
  2. LỜI MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết ,bội chi ngân sách là một vấn đề mà các quốc gia đều gặp phải .Việc Xử lý bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó k hông chỉ tác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy mỗi quốc gia đều có những biện phápthích hợp nhằm khắc phục bội chi ngân sách đưa bội chi đến một mức nhất định .Chính phủ Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ . Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như: giá dầu tăng cao, khủng hoảng tài chính tại Mỹ, tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới, vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở Việt Nam. Làm sao vừa kiềm chế được lạm phát, vừa cân đối ngân sách nhà nước ở mức hợp lý là một bài toán rất khó. Học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới thì có thể nói lạm phát mục tiêu chính là hướng đi tương lai cho tình trạng kinh tế Việt Nam. Duy trì lạm phát thấp và ổn định nên trở thành mục tiêu hàng đầu trong việc sử dụng ngânsách nhà nước Vậy xử lý bội chi NSNN như thế nào để ổn định vĩ mô, thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế – xã hội, tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay? các giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiên nay là gì ? Những ưu nhược điểm của các giải pháp đó đối với sự pháp triển kinh tế Việt Nam hiên nay ?. Tuy nhiên, một vấn đề quan trọng đặt ra là liệu Việt Nam hiện nay đã có đủ điều kiện áp dụng k huôn khổ về ngưỡng bội chi và lam phát mục tiêu hay chưa? Đây cũng là mục tiêu mà nhóm 28 đặt ra khi chon đề tài: “Tóm lược mối quan hệ giữalạm phat mục tiêu và ngưỡng bội chi” nhằm xem xét và đánh giá k hả năng áp dungjlamj phát mục tiêu và ngưỡng bội chi ngân sách ở Việt Nam. 1
  3. NỘI DUNG I. Cơ sở lí thuyết 1. Lạm phát mục tiêu 1.1 Khái niệm lạm phát và lạm phát mục tiêu Trong kinh tế học, thuật ngữ “lạm phát” được dùng để chỉ sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung hầu hết các hàng hoá và dịch vụ so với thời điểm một năm trước đó. Như vậy tình trạng lạm phát được đánh giá bằng cách so sánh giá cả của một loại hàng hoá vào hai thời điểm khác nhau, với giả thiết chất lượng không thay đổi. Khi giá trị của hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đồng nghĩa với sức mua của đồng tiền giảm đi, và với cùng một số tiền nhất định, người ta chỉ có thể mua được số lượng hàng hoá ít hơn so với năm trước. Lạm phát mục tiêu là một trong những khuôn khổ chính s ách tiền tệ mà theo đó, NHTW hoặc Chính phủ thông báo một số mục tiêu trung hạn về lạm phát và NHTW cam kết đạt được những mục tiêu này. Một số tác giả cho rằng, lạm phát mục tiêu chủ yếu sử dụng dự báo lạm phát như một hướng dẫn trung gian đối với chính sách tiền tệ và vân hành chính trong một khuôn khổ minh bạch để làm tăng tính trách nhiệm. Mục tiêu lạm phát được xác định rỏ ràng về mặt định lượng bằng một con số hoặc một khoảng giá trị xác định. Ngân hàng Trung ương cần thiết lập hay phương pháp dự báo lạm phát thông qua sử dụng một số các chỉ số chứa đựng các thông tin về lạm phát trong tương lai, lộ trình thực hiện- khoảng thời gian để có thể đạt được lạm phát mục tiêu. Về kỹ thuật việc xác định lạm phát mục tiêu bao gồm các bước: - Lựa chọn loại chỉ số giá (dựa trên mức độ giá cả hoặc tỷ lệ lạm phát). - Hình thành mục tiêu. - Tính toán xu hướng lạm phát năm sau. 2
  4. Ưu việt cơ bản nhất của lạm phát mục tiêu là nó không bị can thiệp bởi các chỉ số kinh tế vĩ mô khác như các mục tiêu trung gian truyền thống (M2, M3 hay tỷ giá). Theo khuôn khổ chính sách tiền tệ (CSTT) thì lạm phát mục tiêu phụ thuộc vào 4 yếu tố: - Mục tiêu lạm phát là cái neo cho CSTT. - Sự độc lập của Ngân hang Trung ương đặt lạm phát mục tiêu. - Khả năng dự báo và đối phó với lạm phát. - Mức độ minh bạch và tính chịu trách nhiệm về CSTT. Khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu cần đảm bảo sự kết hợp về thể chế và điêu hành: - Mục tiêu lạm phát phải được công bố công khai. - Cần có cam kết ổn định tỷ giá. - Điều hành CSTT sử dụng dự bao lạm phát làm mục tiêu hành động. - Cần có sự giải thích rỏ ràng về CSTT. - Xác định rõ ràng trách nhiệm của Ngân hàng Trung ương. 1.2. Tình hình thực hiện lạm phát mục tiêu ở thế giới. Có thể nói, mọi đọng thái bất thường và bất hợp lý của chỉ số lạm phát đều để lại những hậu quả tiêu cực cho nền kinh tế Lạm phát đồng tiền giảm giá trị là tin xấu đối với hầu hết người dân. Lạm phát bóp méo gía cả, làm giảm giá trị các khoản tiết kiệm, không khuyến khích đầu tư, kích hoạt chuyển dich vốn vào các tài s ản bằng ngoại tệ, đầy tư kim loại quý và bất động sản, hạn chế tăng trưởng kinh tế và tới cực điểm nó có thể gây ra những bất ổn về mặt xã hội và chính trị. Trong khi lạm phát cao là cơn ác mộng thì giảm phát là nổi ám ảnh của Chính phủ các nước. Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), giảm phát là sự giảm kéo dài của chỉ số giá chung như chỉ số giá tiêu dung hoặc chỉ số giảm phát GDP. Gần như hiện tượng có tính quy luật (Trung Quốc là một ngoại 3
  5. lệ), giảm phat lớn kéo theo suy thoái hoặc trì trệ nền kinh tế, làm cho tổng cầu, đặc biệt là phần chi tiêu (C) và đầu tư (I) bị giảm sút. Giảm phát làm tăng giá trị của các khoản nợ danh nghĩa và nếu quá mức có thể dẫn đến tình trạng vở nợ hay phá sản các con nợ, cuối cùng gây tác hại cho nền kinh tế. Chính vì các tác hại trên của lạm phát nên việc kiểm soat lạm phát ở múc độ vừa phải đã trở thành một trong những mục tiêu lớn của nền kinh tế hàng hóa. Tuy nhiên mục tiêu kiềm chế lạm phát không có nghĩa là phải đưa lạm phát ở mức bằng không tức là nền kinh tế không có lạm phát mà phải duy trì múc lạm phát ở một mức độ nào đó phù hợp với nề kinh tế vì lạm phát không phải hoàn toàn là tiêu cực, nếu như một quốc gia nào đó có thể duy trì được mức lạm phát vừa phải và kiềm chế, có lợi cho sự phát triển kinh tế thì ở quôc gia đó lạm phát không còn mối nguy hại cho nền kinh tế nữa mà nó đã trở thanh công cụ đắc lực giúp điều tiết và phát triển nền kinh tế một cách hiệu quả. Đó chính là lạm phát mục tiêu Trong vòng 2 thập kỷ qua, nhiều nước công nghiệp và các nền kinh tế thị trường nổi áp dụng lạm phát mục tiêu. Các tác giả cho rằng lí do chung để các nước đưa ra áp dụng lạm phat mục tiêu là do các nước gặp khó khăn trong việc sử dụng các neo danh nghĩa khác ( mục tiêu tỷ giá và mục tiêu tiền tệ), cũng như mong muốn giảm tỷ lệ lạm phát và neo kỳ vọng lam phát thông qua mục tiêu đơn giản có thể quan sát được. Một loạt nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế ( IMF), bao gồm Masson, Savastan, và Sharma ( 1997), Schaechter, Stone và Zelmer (2002), carare và các cộng sự (2002) và Stone (2003) tập trung vào nhưng khó khăn mà các nền kinh tế mới nổi phải đối mặt nếu các nước này áp dụng lạm phát mục tiêu. Các tác giả đưa ra các điều kiện tiên quyết cần phải đáp ứng trước khi áp dụng lạm phát mục tiêu. Tuy nhiên, giữa các tác giả chưa có sự thống nhất về các điều kiện cần được đáp ứng trước khi lạm phát mục tiêu được áp dụng vào các nền kinh tế mới nổi. Andrea Schaechter, Mark R.Stone, và Mark Zelmer (2000) nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng khuôn khổ lạm phát mục tiêu của các nước công nghiệp và các 4
  6. nước thị trường mới nổi và đưa ra nhận định là những nền tảng để lạm phát mục tiêu toàn phần/ hoàn toàn (FFI – Full-fledged Inflation Targeting) được thiết lập thành công bao gồm: vị thế tài chính vững mạnh và ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc; hệ thống tài chính phát triển tốt; độc lập về công cụ ngân hàng trung ương và một chỉ thị/ tuyên bố nhằm đạt ổn định giá cả; sự am hiểu cơ chế truyền tải các hoạt động tiền tệ và lạm phát; phương pháp luận hợp lý xây dựng dự báo lạm phát ; và tính minh bạch của chính sách tiền tệ nhằm thiết lập trách nhiệm giải trình và sự tín nhiệm. Những yếu tố này không cần phải thiết lập tất cả trước khi các nước bắt đầu chuyển đổi sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu hoàn toàn. Colombia bắt đầu thực hiện lạm phát mục tiêu và năm 1991 và Hiến pháp cũng như Luật định thiết lập một khuôn khổ luật pháp phù hợ với mục tiêu ổn định giá cả. Theo đó, Ngân hàng trung ương phải công bố mục tiêu lạm phát mổi năm một lần và được yêu cầu đệ trình một báo cáo ra Quốc hội hai lần mổi năm. Nói chung, để thực hiện được lạm phát mục tiêu, một số điều kiện tối thiểu phải được đáp ứng đó là: một Ngân hàng Trung ương độc lập, cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch cao, báo cáo lạm phát hàng quý giải thích những quyết định của chính sách tiền tệ. CH Séc, Ba Lan và Hungary đã từ bỏ cơ chế tỷ giá hối đoái cố định và chuyển sang lạm phát mục tiêu. Các quốc gia này thường chẹch khỏi lạm phát mục tiêu vì các nền kinh tế chuyển đổi thường chịu các cú sốc nhiều hơn và do đó chệch khỏi mục tiêu lạm phát xảy ra thường xuyên hơn so với các nền kinh tế phát triển. Nhưng việc giảm dần tỷ lệ lạm phát tiến triển rất khả quan và chiến lược chính sách tiền tệ hướng vào lam phát mục tiêu đã đem lai nhiều lợi ích cho các quốc gian này. Trong khi ở Đông Á, lạm phát mục tiêu bắt đầu được áp dụng vào đầu những năm 2000 dưới tác động của cuộc khủng hoảng taì chính Châu Á năm 1997. Triển vọng áp dụng lạm phát mục tiêu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giải quyết như thế nào với cú sốc giá dầu tăng và hậu quả của cú sốc tài chính toàn cầu. 5
  7. 1.3. Xác định chỉ số lạm phát mục tiêu Vấn đề xác định chỉ số lạm phát mục tiêu cũng có sự thay đổi giữa các nước. Những khác nhau cơ bản liên quan đến 3 thông số chính của mục tiêu: tầm nhìn mục tiêu, chỉ số lạm phát mục tiêu và tính linh hoạt của chỉ số lạm phát mục tiêu. - Tầm nhìn mục tiêu. Tầm nhìn mục tiêu ngụ ý nói về quãng thời gian mà quốc gia có thể đạt được và duy trì mục tiêu kế hoạch đã đề ra. Hiện nay có hai phương pháp tính toán được xem là tối ưu: phương án thứ nhất, lạm phát mục tiêu được xem như là một chính sách giảm thiểu tối đa gây sốc cho nền kinh tế. Phụ thuộc vào từng hiện trạng của nền kinh tế mà tầm nhìn mục tiêu thường dao động từ 24 đến 36 tháng. Phương án thứ hai, lạm phát mục tiêu dựa trên quy luật kinh nghiệm. Phương pháp này phụ thuộc ở tầm nhìn "sâu'' vào tương lai của NHTW cũng như các vấn đề thay đổi, của nền kinh tế mà như quan tâm, hay nói cách khác là số lượng'' giai đoạn mà NHTW có thể dự báo về tình trạng phát triển của nền kinh tế. Ngoài ra, việc xác định tầm nhìn mục tiêu phụ thuộc rất nhiều tỷ lệ lạm phát tại thời điểm bắt đầu thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu. Ví dụ như Canađa và Niu Dilân; bước thứ nhất, họ bắt đầu sử dụng lạm phát mục tiêu như một liều thuốc chống lạm phát, độ dài mục tiêu là 18 tháng. Bước tiếp theo, mục tiêu là tiếp tục đạt được mức lạm phát thấp hơn với khoảng thời gian là 12 tháng đối với NiuDilân và trong 18 tháng đối với Canađa. Sau khi đạt được thành công về giá trị của chỉ số có lợi cho nền kinh tế trong kế hoạch dài hạn, chỉ số mục tiêu nên được duy trì ở mức cố định trong một quãng thời gian. Năm năm là khoảng thời hạn mà NHTW của Niu Dilân đề ra, tại Canađa cũng tương tự như vậy - đây là khoảng thời gian cần thiết để hiểu rõ hơn chuyển động của nền kinh tế trong điều kiện lạm phát thấp và qua đó nói lên tính ổn định giá cả trên thực tế. Chỉ số giá cả. Thực tế hầu hết các nước khi đánh giá lạm phát đều sử dụng chỉ số giá cả tiêu dùng (CPI) làm công cụ nền tảng, bởi CPI có những lợi thế riêng như: tính quảng bá tương đối rộng đối với xã hội, được công bố và tính 6
  8. toán thường xuyên. Nhưng bên cạnh đó, NHTW không hiếm khi đưa ra chỉ số giá cả khác mà nó chính là CPI hoặc CPI đã loại trừ một số yếu tố - chỉ số điều chỉnh này thường được gọi là chỉ số lạm phát cơ bản (core inflation). Thông thường, CPI bao gồm những nhóm hàng hóa và dịch vụ. Có nhiều mặt hàng mà giá cả của nó là những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của NHTW. Vì nguyên nhân này nên trong quá trình kiểm soát, NHTW cần điều chỉnh hoặc loại bỏ khỏi CPI những nhóm mặt hàng hoặc dịch vụ mà giá của chúng hoặc do chính phủ điều chỉnh hoặc thường bị dao động, hay nói cách khác, nó không phụ thuộc vào tác động của NHTW. Trên thực tế, ngoài việc điều chỉnh giá của chính phủ, thì thay đổi của thuế gián thu, giá lương thực - thực phẩm hay một số mặt hàng mà giá cả có tính thay đổi thường xuyên hoặc ít nhạy cảm với các công cụ của CSTT cũng được rất nhiều nước, bao gồm cả các nước công nghiệp phát triển, loại bỏ khỏi CPI. Các nhà phân tích kinh tế cũng nhấn mạnh rằng trong mọi trường hợp, NHTW và chính phủ khi phân tích các yếu tố dựa trên (CPI) cần cân nhắc đến ảnh hưởng của chính phủ cũng như tác động của công cụ CSTT đến mục tiêu. Theo kinh nghiệm thế giới, rất nhiều nước lựa chọn 2%/năm là chỉ số lạm phát mục tiêu cho quốc gia. Chiều rộng biên độ. Như đã nói ở trên, chỉ số lạm phát mục tiêu luôn phản ánh ý đồ cũng như phương hướng điều hành của NHTW. Trên mức độ lý thuyết ''ổn định giá cả" cần phù hợp với mức độ lạm phát bằng không, tuy nhiên trên thực tế rất nhiều NHTW hiểu rằng ''ổn định giá cả'' là khi tình trạng kinh tế có mức lạm phát không cao, theo quy luật, nó nằm trong khoảng 2- 3%/năm. Lựa chọn này được hình thành trên một loạt các lý luận về sự bất hợp lý đối với nền kinh tế khi tỷ lệ lạm phát âm và lợi ích của một tỷ lệ lạm phát lớn hơn 0 và ở mức thấp. Mức lạm phát này (2-3%) nó sẽ giúp cho nền kinh tế có khả năng thoát khỏi tình trạng suy thoái cũng như tạo sự thay đổi cần thiết vừa phải cho hàng hoá) từ phương diện nâng cao chất lượng sản phẩm. 7
  9. Một sự khác nhau cơ bản nữa giữa các nước trong việc xác định chỉ số lạm phát mục tiêu là khoảng biên độ cho phép đối với lạm phát thực tế. Có một số quốc gia ấn định chỉ số lạm phát mục tiêu là một chỉ số như tại Phần Lan, Ngân hàng Phần Lan cố gắng đạt được giá trị của chỉ số mục tiêu là 2%, nhưng có quốc gia lại không chọn giá trị của mục tiêu 1à một chỉ số mà là một khoảng biên độ, như tại Niu Dilân (0-3%), Canađa (1-3%) và Vương quốc Anh (1-4%). Tại Tây Ban Nha, chỉ số lạm phát mục tiêu lại được cố định ở ranh giới cao nhất (mức trần) của lạm phát (
  10. định trước, được định lượng và NN sử dụng chúng để điềuchỉnh vĩ mô nền kinh tế. Từ những phân tích trên, ta có thể xác định được ‘’NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ chung của NN khi NN tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của NN trên cơ sở luật định’’ 2.2 Đăc điểm của NSNN Thứ nhất:Tạo lập và sử dụng NSNN gắn liền quyền lực với việc thực hiện các chức năng của NN, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với các khoản tài chính khác. Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chi NSNN mang tính cấp phát ‘’không hoàn trả trực tiếp’’. Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế-Xã hội NN đã sử dụng để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho NN với tư cách là một chủ thể. Thứ hai: NSNN luôn gắn chặt với NN chứa đựng lợi ích chung và công, hoạt động thu chi NSNN là thể hiện các mặt KT-XH của NN, dù dưới hình thức nào thực chất cũng là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế giữa NN và XH thể hiện qua các khoản cấp phát từ NSNN cho các mục đích tiêu dùng và đầu tư. Quan hệ kinh tế giữa NN và XH dó đó thể hiện ở phạm vi rộng lớn. Thứ ba: Cũng như các quỹ tiền tệ khác NSNN cũng có đặc điểm riêng của một quỹ tiền tệ, nó tập chung lớn nhất của NN là nguồn tài chính nên NSNN là giá trị thặng dư của xã hội do đó nó mang đặc đIểm khác biệt. Thứ tư: Hoạt động thu cho của NSNN được thể hiện theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp đối với người có thu nhập cao nhằm mục đích rút ngắn khoản thời gian giữa người giàu và nghèo để công bằng xã hội 9
  11. 2.3. Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước và ngưỡng bội chi: Bội chi Ngân sách Nhà nước trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó. Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về Ngân sách Nhà nước hằng năm như sau: Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm Tổng Thu Tổng Chi A . Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ D. Chi thường xuyên. phí). E. Chi đầu tư. B. Thu về vốn (bán tài sản nhà nước). F. Cho vay thuần (= cho vay mới - thu nợ gốc). C. Bù đắp thâm hụt - Viện trợ. - Lấy từ nguồn dự trữ. - Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc). Nguyên tắc cân bằng ngân sách là: A + B +C = D + E + F Công thức tính bội chi Ngân sách Nhà nước của một năm sẽ như sau: Bội chi Ngân sách Nhà nước = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C (khoản bù đắp thâm hụt) Bội chi ngân sách Nhà nước có thể do ngoài tầm kiểm soát nhưng cũng có thể nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của chính phủ nhằm thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô. Vậy ngưỡng bội chi là giới hạn bội chi ngân sách nhà nước ở mức qui định cho phép. 10
  12. 2.4 Phân loại thâm hụt ngân sách Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thánh hai loại: Thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kì. Thâm hụt cơ cấu Là các khoản thâm hụt được quyết định bởi nhưng chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi cho giáo dục-đào tạo, quốc phòng… Thâm hụt chu kì: Là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng cảu chu kì kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấy của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ: khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn dến thu ngân sách từ thuế giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên. 2.5 Nguyên nhân của bội chi ngân sách. Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN. 11
  13. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNN. 2.6. Các giải pháp xử lý bội chi NSNN: Vấn đề thiếu hụt ngân sách thường làm đau đầu các chính trị gia giữa một bên là phát triển bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế với một bên là nguồn lực có hạn. Đòi hỏi các chính trị gia phải lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai. Từ sự lựa chọn đó họ đưa ra mức bội chi "hợp lý", bảo đảm nhu cầu tài trợ cho chi tiêu cũng như đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời bảo đảm cho nợ quốc gia ở mức hợp lý. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách; vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài; phát hành tiền để bù đắp chi tiêu;... Sử dụng phương cách nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Bội chi NSNN tác động đến kinh tế vĩ mô phụ thuộc nhiều vào các giải pháp nhằm bù đắp bội chi NSNN. Mỗi giải pháp bù đắp đều làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô. Về cơ bản, các quốc gia trên thế giới thường sử dụng các giải pháp chủ yếu nhằm xử lý bội chi NSNN như sau: Thứ nhất: Nhà nước phát hành thêm tiền. Việc xử lý bội chi NSNN có thể thông qua việc nhà nước phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên, giải pháp này sẽ gây ra lạm phát nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN. Đặc biệt, khi nguyên nhân bội chi NSNN là do thiếu hụt các nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia. Thứ hai: Vay nợ cả trong và ngoài nước. Để bù đắp thâm hụt NSNN, nhà nước có thể vay nợ nước ngoài và trong nước. Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phụ thuộc nước ngoài cả về chính trị lẫn kinh tế và làm giảm dự trữ ngoại hối quá nhiều khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất, và cái vòng nợ - trả 12
  14. lãi - bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau... Thứ ba: Tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế. Việc tăng các khoản thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Thứ tư: Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế, nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi xảy ra bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết. Thứ năm: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế - xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường v.v.. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới, vấn đề tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết. 13
  15. II. Mối quan hệ giữa ngưỡng bội chi ngân sách và lạm phát mục tiêu- Giải pháp khắc phục. Thậm hụt ngân sách và lạm phát có mối quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau: Bội chi ngân sách cao sẽ dẫn đến lạm phát và ngược lại. Chi ngân sách là một trong những công cụ chính sách quan trọng của Nhà nước nhằm tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Khi sản lượng của nền kinh tế thấp dưới mức sản lượng tiềm năng, thì Chính phủ có thể tăng mức chi ngân sách, chấp nhận bội chi để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Vì vậy, bội chi ngân sách không chỉ diễn ra phổ biến đối với các nước nghèo, kém phát triển mà xảy ra ngay cả đối với những nước thuộc nhóm các nền kinh tế phát triển nhất (nhóm OECD). Đối với các nước đang phát triển, bội chi ngân sách thường để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư cơ sở hạ tầng ban đầu như: Giao thông, điện, nước... Nhiều nước phát triển và đang phát triển trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng vẫn bội chi ngân sách. Tuy nhiên chính mức tăng chi tiêu của Chính phủ sẽ kéo theo hiệu ứng tăng giá ở một số các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ do gia tăng cầu dẫn đến tình trạng lạm phát do cầu kéo, song song với việc giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng cũng sẽ kéo theo các chi phí sản xuất tăng dẫn đến lạm phát do chi phí đẩy. Mặt khác khi các nhu cầu về đầu tư cơ sở hạ tầng tăng cao mà ngân sách nhà nước lại thiếu hụt dẫn đến không đủ nguồn vốn đối ứng để đầu tư cho phát triển. Để bù đắp phần thiếu hụt, Nhà nước có thể sử dụng chính sách phát hành thêm tiền và đưa ra lưu thông. Tuy nhiên việc tăng chi tiêu của Chính phủ trong trường hợp này sẽ gây "tăng trưởng nóng" và không cân đối với khả năng tài chính của quốc gia. Nếu nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN thì sẽ gây ra tình trạng lạm phát tiền tệ. Ngược lại, khi lạm phát cao, nhà nước phải cung tiền để kích cầu đảm bảo quan hệ cân bằng tiền-hàng ổn định giá cả, kinh tế vĩ mô. Điều này sẽ dẫn đến chi nhiều hơn thu trong bẳng cân đối kế toán và sẽ dẫn tới thâm hụt ngân sách. 14
  16. Trong phiên thảo luận tại hội nghị các đại biểu Quốc hội thống nhất bội chi ngân sách nên dừng ở mức 6,5% - 7%. Nếu bội chi ngân sách tăng s ẽ ảnh hưởng tới sự an toàn cho ngân sách quốc gia. Để giám sát khoản bội chi, cần phải kiểm soát chặt chẽ ngân sách tạm ứng như cho vay ưu đãi. Nếu không thực hiện tốt vấn đề này thì bội chi ngân sách vượt ngưỡng dẫn đến nguy cơ lạm phát. Theo báo cáo của Chính phủ, dự kiến năm 2009, mức bội chi ngân sách sẽ là 8%, nhiều đại biểu Quốc hội cho rằng, đây là mức quá cao, không an toàn cho nền kinh tế và cần hạ mức bội chi này xuống. Đại biểu Huỳnh Ngọc Đáng (đoàn Bình Dương) nêu ý kiến, bội chi ngân sách nên dừng ở mức 6,5%. Nếu bội chi ngân sách tăng sẽ ảnh hưởng tới sự an toàn cho ngân sách quốc gia. Để giám sát khoản bội chi, cần phải kiểm soát chặt chẽ ngân sách tạm ứng như cho vay ưu đãi. Nếu không thực hiện tốt vấn đề này thì nguy cơ tái lạm phát sẽ lại diễn ra. Đại biểu Phạm Thị Loan (đoàn Hà Nội) cũng đồng quan điểm với ý kiến trên của ĐB Huỳnh Ngọc Đáng, tổng số vốn kích cầu lên tới 145.000 tỷ cho thấy sẽ có sự mất cân đối về thu - chi, bội chi ngân sách sẽ tăng lên. Bội chi ngân sách sẽ không chỉ tăng 8% GDP vì chuyển nguồn vốn từ năm 2008 đã là 30.000 tỷ đồng. Hiện nay, chưa tính phát hành trái phiếu Chính phủ vào bội chi, nếu tính cả nguồn này vào thì bội chi sẽ lên tới trên 10% GDP. Theo Đại biểu Phạm Thị Loan, đại biểu Đỗ Mạnh Hùng (đoàn Thái Nguyên), chúng ta nên để mức bội chi nên dừng ở mức 7% (bội chi ngân sách 2007 là 4,94%, 2008 là 5,64%). Đại biểu Phạm Thị Loan (đoàn Hà Nội) cho rằng, để giảm bội chi ngân sách cần thực hiện cắt giảm những khoản chi không cần thiết như khánh tiết, hội họp… Còn Đại biểu Trần Du Lịch (đoàn TP.HCM) cho biết: “Trong năm 2009, nếu nước ta đạt mức bội chi 8% và kiểm soát giá cả dưới 10% thì đây là việc làm cần thiết và nếu không làm thì chúng ta khó có thể phục hồi nhanh trong năm 2010. 15
  17. Theo Đại Biểu Trần Du Lịch, hiện tất cả các nước đều công bố về mức bội chi ngân sách năm 2009 (Mỹ là 11%, Nhật Bản ở mức 10%, ngay cả Ấ n Độ cũng ở mức 11,4%). Ông Lịch đề nghị Quốc hội cần ra một nghị quyết riêng về tăng bội chi ngân sách với các điều kiện đi kèm như: làm rõ phần nào là để bù thiếu hụt cho thu ngân sách, phần nào để chi thêm cho kích cầu, và cuối cùng là kết quả của việc tăng bội chi ra sao. Giải pháp mà các Đại biểu đề ra để giảm bội chi là cần triệt để khai thác mọi nguồn thu để giảm bội chi ngân sách ở mức tối đa, giúp Chính phủ thuận tiện trong việc điều hành. Vì vậy, Ủy ban thường vụ Quốc hội nên có quyền hạn và trách nhiệm nhiều hơn trong việc quản lý các khoản thu - chi ngân sách. Theo kiến nghị của một số Đại biểu đoàn TP.HCM, Quốc hội cần ra Nghị quyết về vấn đề bội chi chứ không phải chỉ đồng ý thực hiện rồi cứ thế mà làm. Nghị quyết này phải nêu rõ nguồn nào trong bội chi bù đắp thâm hụt trong nguồn thu, phần nào tăng vốn kích cầu và khoản tăng đó đầu tư vào đâu. Chín tháng năm 2012, bội chi ngân sách nhà nước lên tới 122.320 tỷ đồng, bằng 87,2% dự toán năm. Đây là con số vừa được Bộ Tài chính công bố trong báo cáo về tình hình triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách tháng 9 và 9 tháng năm 2012. Con số nói trên thực tế đã vượt khá xa con số bội chi ngân sách của cả năm 2011 (cả năm 2011, con số này là khoảng 111.000 tỷ đồng). Nếu so sánh với mức bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) tính đến ngày 15-6, là khoảng 60.000 tỷ đồng, có thể thấy bội chi ngân sách đã tăng rất mạnh trong 3 tháng vừa qua. Giới chuyên gia nhận định, bội chi ngân sách đang tăng với tốc độ đáng lo ngại do nguồn thu ngân sách hạn chế, trong khi chi ngân sách vẫn gia tăng đáng kể do chủ trương nới lỏng chính sách tài khóa của Chính phủ. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đưa ra một con số chênh lệch lớn khi ông dẫn chứng, trong suốt những tháng đầu năm 2012, thu ngân sách tăng 1% trong khi chi lên tới 13%. Ông Vũ Khoan cũng nhấn mạnh, chúng ta đang chi cho lĩnh vực công quá nhiều, một mặt thúc đẩy sự phát triển, nhưng không phải tất cả đều được đầu tư đúng chỗ, những lãng phí trong đầu tư công như hội hè, lễ 16
  18. lạt, tổ chức hội thảo hội nghị ở những địa điểm sang trọng, xa hoa… đang bộc lộ sự lãng phí vô cùng lớn nguồn ngân sách nhà nước. Thu tăng 1%, nhưng chi tới 13%. Con số này, theo chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho thấy, chúng ta đang chi quá mức cho phép rất nhiều. Nếu theo mức chuẩn quốc tế, bội chi ngân sách không được phép quá 3%, thì con số vượt hẳn trên 10% như Việt Nam đang chi quả thực là điều không thể tưởng. Con số này dường như càng cho thấy rõ hơn: Nền kinh tế vốn đã khó khăn, sẽ lại càng khó khăn hơn vì những việc làm không theo chuẩn mực nào, vì sự mất cân đối trong thu chi mà chính chúng ta đang tự đẩy mình vào đó. Năm 2011, để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, Chính phủ đã rất gay gắt trong việc cắt giảm những lĩnh vực đầu tư công kém hiệu quả. Song, thực tế đã diễn ra lại cho thấy những nghịch lý của sự cắt giảm ấy. Cụ thể, trong khi chủ trương chung là thắt chặt chi tiêu và giảm đầu tư công, thì cuối năm 2011, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lại công bố một con s ố "khủng” về tỷ lệ đầu tư dự án công cả nước lại chiếm 40% GDP. Song, điều đáng nói là đầu tư lớn, nhưng hiệu quả đầu tư lại không cao. Không thể phủ nhận, thời gian qua, Chính phủ đã nỗ lực rất nhiều trong việc tiết kiệm đầu tư công. Và cũng không phủ nhận những mục tiêu chi của ngân sách nhà nước sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển. Việc chi ngân sách để làm cơ sở hạ tầng, đường s á cho dân là những khoản đầu tư đúng đắn. Song, trên thực tế, số đầu tư cho một số lĩnh vực công lãng phí, thất thoát nguồn ngân sách lại không phải là nhỏ. Những lãng phí ấy lại thường do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đem lại. Người dân không thể không bức xúc vì những bê bối của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước đã gây ra trong thời gian qua. Trường hợp Vinashin với dự án tàu vận tải biển tuyến Bắc – Nam đòi chi 1.000 tỉ đồng để rồi phá sản. Hay Vinalines với dự án đầu tư xây dựng Nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía Nam đã gây thiệt hại vô cùng lớn cho nền kinh tế. Thua lỗ, kém hiệu quả nhưng lại thường xuyên nhận được những ưu ái, đặc quyền của Nhà nước dành cho những con cưng. Tập đoàn Than và Khoáng sản 17
  19. Việt Nam (Vinacomin) mới đây đã nhận được "đặc ân” giảm thuế xuất khẩu than từ 20% xuống còn 10%, không những thế, "ông lớn” này còn được ưu ái tăng giá bán than cho điện để chống lỗ. Giảm thuế cho "đứa con cưng” đồng nghĩa với việc thất thu cho "mẹ” ngân sách. Nhắc lại những dữ liệu nói trên để thấy, nguồn ngân sách nếu không được điều chỉnh kịp thời, nếu còn tiếp tục đầu tư dàn trải cho những dự án tương tự Vinashin hay Vinaline trước đây thì bội chi ngân sách sẽ không chỉ dừng lại ở mức 13%. Và trong khi các dự án mới vẫn được cấp phép đều đều thì còn đó vô số những dự án đã được phê duyệt lại vẫn đang trì trệ, chậm tiến độ thi công, đó còn chưa nói đến nhiều dự án vẫn đang nằm… trên giấy. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có nhận định thế này: "Để tiêu thụ hết số dự án đã được thông qua, mỗi năm cần một số tiền lớn hơn tổng mức đầu tư toàn xã hội”. Các chuyên gia kinh tế cho rằng: Mức bội chi ngân sách cao hàm ý rằng, chính sách tài khóa sẽ không còn nhiều dư địa để tiếp tục hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó, việc nới lỏng quá mức chính sách tài khóa với mức bội chi ngân sách vượt ngưỡng cho phép làm tăng lãi suất do Chính phủ phải tăng cường vay nợ để bù đắp bội chi. Kết quả là đưa đến kích thích tiêu dùng. Và khi kích cầu quá mức thì ở chu kỳ sau sẽ kéo theo lạm phát cao. Như vậy, rõ ràng, bội chi NSNN có quan hệ nhân quả với lạm phát. Điều này cũng có nghĩa, mọi cố gắng của Chính phủ trong kiềm chế lạm phát sẽ trở nên vô nghĩa. Thực tế trong những năm qua chúng ta đã kiểm soát được mức độ chi ngân sách nhà nước ở mức giới hạn cho phép ( không quá 5% GDP trên năm) và nguồn vay chủ yếu là chi cho đầu tư phát triển. Ngoài ra chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế ,phí, lệ phí, chi đầu tư phát triển. Đây là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác quản lí cân đối ngân sách nhà nước cũng như kiểm soát vấn đề bội chi ngân sách nhà nước. Chúng ta đã kiểm soát được mức bội chi NSNN ở giới hạn cho phép (không quá 5% GDP/năm) và nguồn vay chủ yếu chi đầu tư phát triển. Ngoài ra, chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí chi đầu tư 18
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2