Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Nghiên cứu Y học

TÌM HIỂU TÍNH KHÁNG THUỐC KIỂU GEN CỦA HIV‐1   TRÊN BỆNH NHÂN CHƯA ĐIỀU TRỊ ARV TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Huỳnh Minh Tuấn*,**, Nguyễn Kim Huyền*, Phạm Hùng Vân**, Nguyễn Thanh Bảo**

TÓM TẮT

Mở đầu: Các chủng HIV‐1 đột biết kháng thuốc thoạt đầu xuất hiện bên trong một người bệnh đang được  điều trị thuốc ARV, tạo nên hiện tượng kháng thuốc mắc phải (ADR = Acquired Drug Resistance); sau đó chúng  có khả năng lây nhiễm vào người bệnh mới chưa từng điều trị, tạo nên hiện tượng kháng thuốc tiên phát (TDR =  Transmitted Drug Resistance). Tỷ lệ TDR ngày càng tăng trong nhóm người bệnh mới càng làm tăng nguy cơ  thất bại điều trị.

Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ, các kiểu đột biến của HIV‐1 ở người bệnh chưa từng điều trị ARV tại TP. Hồ Chí Minh trong năm 2010‐1011.

Phương pháp: Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả, tiền cứu, thực hiện tại Bệnh Viện Bệnh  Nhiệt Đới TP. Hồ Chí Minh từ 1/2010 đến 12/2011. Cỡ mẫu: 250 mẫu. Tiêu chuẩn chọn mẫu: người bệnh được  chẩn đoán xác định nhiễm HIV‐1 theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Bộ Y Tế 2009, chưa từng được điều trị thuốc  kháng siêu vi. Tiến hành ly trích RNA từ huyết tương, tổng hợp cDNA, khuếch đại và giải trình tự nucleotid  vùng gen reverse transcriptase, protease.S au đó, phân tích trình tự và tìm đột biến kháng thuốc dựa vào ngân  hàng dữ liệu kháng thuốc Stanford (Hoa Kỳ) và ANRS (Pháp).

Kết  quả:  Trong 216 mẫu khuếch đại thành công, có 44 mẫu (20,37%) mang ít nhất một đột biến kháng  thuốc; trong đó 6 mẫu (2,78%) mang hai đột biến kháng thuốc. Tần suất của đột biến kháng thuốc NRTI là 20  trường hợp (9,2%), NNRTI là 10 (7,8%), và PI là 7 (3,3%). Các đột biến được ghi nhận nhóm NRTIlà L74I,  M184V/I,  K219Q,  T69N/S,  T215D,  M184V,  T69N;  NNRTI  là  K103N/T,  E138A,  Y181C,  G190A,  V106I,  Y181C, V106I; PI là M46I, M36I, H69K.

Kết luận: Tỷ lệ các chủng HIV‐1 đột biến kháng thuốc tiếp tục tăng cao so với các nghiên cứu trước, hình thái đột biến đa dạng hơn.

Từ khóa: HIV‐1, kháng thuốc tiên phát, kháng thuốc thứ phát, ADR, TDR,NRTI, NNRTI, PI.

ABSTRACT

GENOTYPIC RESISTANT PROFILE OF HIV‐1 IN ARV‐NAÏVE PATIENT IN HO CHI MINH CITY

Huynh Minh Tuan, Nguyen Kim Huyen, Pham Hung Van, Nguyen Thanh Bao

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 384 ‐ 391

Background:The drug‐resistant HIV‐1 strains appear in patients who are treated with ARV drug firstly,  creating  the  phenomenon  of  acquired  drug  resistance  (ADR),  then  they  have  the  ability  to  infect  into  new  persons,  creating  naïve  drug  resistance  (TDR  =  Transmitted  Drug  Resistance).  TDR  rate  is  growing  in  new  HIV‐1 infections, trigger the high risk for treatment failure.

Objectives: Surveil the rate of drug‐resistant HIV‐1, types of mutations in naïve patients in Ho Chi Minh City during 2010‐2011.

*Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Bệnh viện Đại học Y Dược Tp. HCM  ** Bộ môn Vi sinh – Khoa Y – Đại học Y Dược Tp. HCM  Tác giả liên lạc: ThS Huỳnh Minh Tuấn  ĐT: 0909349918  Email: huynhtuan@yds.edu.vn.

Methods:  The  study  was  designed  according  to  the  descriptive  and  prospective  method,  performed  at

384

Chuyên Đề Nội Khoa

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  HCMC  Hospital  for  Tropical  Diseases  from  1/2010  to  12/2011.  Sample  size:  250.  Criteria  for  screening:  naïve patients were diagnosed with HIV infection following Vietnam Ministry of Health 2009 Guildelines  for diagnosing and treatment HIV/AIDS  (10). Total whole blood samples were extracted RNA from plasma,  synthesized  cDNA,  amplified  and  sequenced  reverse  transcriptase  and  protease  gene.  Then,  we  analysed  sequences and found out the drug‐resistant mutations, basing on drug resistance database Stanford (USA)  and the ANRS AC11 group (France).

Results:  Among  216  successful  samples,  there  are  44  individuals  (20.37%)  carrying  at  least  one  drug‐ resistant mutation type; in which 6 individuals (2.78%) carrying two drug‐resitant mutations. The frequency of  NRTI mutations is 20 cases (9.2%), of NNRTI is 10 (7.8%), and of PI is 7 (3.3%). NRTI‐resistant mutations  detected are M184V, T69NL74I, M184V/I, K219Q, T69N/S, T215D; NNRTI‐ resistant mutations are Y181C,  V106I, K103N/T, E138A, Y181C, G190A, V106I; PI‐resistant mutations are M46I, M36I, H69K.

Conclusion: The rate of ARV drug‐resistant HIV‐1 mutations is increasing not only in the term of quantity of virus but also of number of mutant strains.

Key words: HIV‐1, naïve, ADR, TDR, NRTIs, NNRTIs, Pis.

ĐẶT VẤN ĐỀ

trên toàn quốc có 69.882 người bệnh được điều  trị ARV (chiếm tỷ lệ 33,17%), các thông tin cụ thể  khác về vấn đề điều trị như sau:

Tổng số người bệnh được điều trị Người bệnh điều trị tại TP.HCM Phác đồ bậc 1 Phác đồ bậc 2

69.882 21.350 96,82% 3,05%

Bảng 2: Tình hình điều trị thuốc ARV tại Việt Nam  năm 2012

Kể  từ  trường  hợp  bệnh  đầu  tiên  được  phát  hiện  vào  cuối  thập  kỷ  90  của  thế  kỷ  trước,  đại  dịch nhiễm HIV/AIDS vẫn là vấn đề nóng bỏng  trong  ngành  y  tế  Việt  Nam  cho  đến  hiện  nay.  Theo  Báo  cáo  tổng  kết  công  tác  phòng,  chống  HIV/AIDS  năm  2012  của  Cục  Phòng  Chống  HIV/AIDS(5) thì số liệu cụ thể cho đến cuối năm  2012 trên toàn quốc là:

210.703

Bảng 1: Số liệu tình hình HIV/AIDS tại Việt Nam  năm 2012(5)

61.699

Theo  “Hướng  dẫn  chẩn  đoán  và  điều  trị  HIV/AIDS”  năm  2009(10)  và  “Sửa  đổi,  bổ  sung  hướng  dẫn  chẩn  đoán  và  điều  trị  HIV/AIDS”  năm 2011(11) của Bộ Y Tế, thuốc ARV chính thức  sử dụng tại Việt Nam thuộc ba nhóm sau đây:

63.372 239 người/ 100.000 dân 11.102 3.716 961

Số trường hợp nhiễm HIV hiện vẫn còn sống Số bệnh nhân AIDS hiện còn sống Số bệnh nhân AIDS tử vong Tỉ lệ nhiễm HIV toàn quốc Nhiễm mới HIV năm 2012 Chuyển AIDS năm 2012 Tử vong năm 2012

thuốc:  Zidovudine

‐  Nhóm  ức  chế  men  sao  chép  ngược  nucleoside  và  nucleotide  (NRTIs  =  Nucleoside  Reverse  Transcripatase  Inhibitors;  NtRTIs  =  Nucleotide  Reverse  Transcriptase  Inhibitors)  gồm  các  (AZT,  ZDV),  Stavudine  (d4T),  Didanosine  (ddI),  Lamivudine  (3TC), Abacavir (ABC), Tenofovir (TDF)…

‐  Nhóm  ức  chế  men  sao  chép  ngược  không  phải  là  nucleoside  (NNRTIs  =  Non‐Nucleoside  Reverse  Transcripatase  Inhibitors)  gồm  các  thuốc:  Efavirenz  (EFV),  Nevirapine  (NVP),  Etravirine (ETR), Rilpivirine (RPV)…

‐  Nhóm  ức  chế  men  protease  (PIs  =  Protease Inhibitors) gồm các thuốc: Atanazavir  +  ritonavir  (ATV/r),  Lopinavir  +  ritonavir  (LPV/r), Ritonavi (RTV)… Về  điều  trị  thuốc  kháng  siêu  vi  ARV  (Anti  Retrovirus),  kể  từ  năm  2005,  Việt  Nam  bắt  đầu  nhận được tài trợ chính thức của hai quỹ United  States  President’s  Emergency  Plan  for  AIDS  Relief (PEPFAR) và Global Fund để  bắt  đầu  áp  dụng chương trình điều trị kháng siêu vi (ART =  Anti Retroviral Therapy) cho người bệnh nhiễm  HIV/AIDS trên toàn quốc, và cho đến hiện nay,  số lượng người bệnh nhiễm HIV/AIDS tiếp cận  được với thuốc điều trị ARV ngày một tăng lên.  Cũng  theo  báo  cáo  trên(5),  tính  đến  30/9/2012,

385

Nhiễm

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Nghiên cứu Y học

nghiên cứu ở TP. Hồ Chí Minh(19) cho thấy tỷ lệ  người  bệnh  mang  các  chủng  HIV‐1  đột  biến  kháng thuốc có thể lên đến 5‐15% người trẻ đến  tầm  soát  nhiễm  HIV  tại  các  phòng  VCT.  Ngoài  ra, còn một số kết quả nghiên cứu của các tác giả  khác ở cả hai miền nam bắc cho thấy khoảng 6,3‐ 6,7% người nhiễm HIV‐1 mạn tính chưa điều trị  ARV có mang các chủng siêu vi đột biến kháng  thuốc trên toàn bộ Việt Nam(4,6,8,16,16).

Tổng  kết  từ  các  nghiên  cứu  này,  xét  về  các  nhóm thuốc ARV, đột biến kháng NRTI là nhiều  nhất (có thể lên đến 8‐9%), và đột biến kháng PI  là thấp nhất (ít hơn 2%). Khi xét cụ thể  các  đột  biến  thì,  trong  các  đột  biến  kháng  thuốc  nhóm  NRTI, chiếm tỷ lệ cao nhất là đột biến M184I/V  và  các  đột  biến  TAMs  (Thymidine‐Analogue  Mutations), bao gồm M41L, D67N, K70R, T215F,  L210W, và K219E/Q, tiếp theo sau đó là đột biến  L74I/V;  trong  các  đột  biến  kháng  thuốc  nhóm  NNRTI, thường gặp nhất là các đột biến Y181C,  K103N,  và  G190A;  trong  các  đột  biến  kháng  thuốc nhóm PI, thường gặp nhất là M46I/I.

Khả  năng  đột  biến  để  thích  nghi  và  tồn  tại Trên  bình  diện  thế  giới  và  khu  vực,  y  văn  đã ghi nhận tình hình kháng thuốc ARV do sự  xuất hiện của các chủng HIV‐1 đột biến kháng  thuốc  ngày  một  tăng  lên  theo  số  lượng  người  bệnh được điều trị thuốc ARV, cả kháng thuốc  thứ phát, mắc phải do chọn lọc trong quá trình  điều trị (ADR = Acquired Drug Resistance) và  kháng thuốc tiên phát do lây nhiễm chủng siêu  vi  đột  biến  kháng  thuốc  (TDR  =  Transmitted  Drug  Resistance).  Tổ  Chức  Y  Tế  Thế  Giới  (WHO  =  World  Health  Organization)  đã  có  khuyến cáo về tầm soát các trường hợp kháng  thuốc tiên  phát  do  lây  nhiễm  phải  chủng  siêu  vi  kháng  thuốc(3).  Các  kết  quả  nghiên  cứu  ở  Trung  Quốc  đã  công  bố  số  liệu  về  tỷ  lệ  lưu  hành  của  các  chủng  HIV‐1  đột  biến  kháng  thuốc  khoảng  3,8%(7).  Tại  Thái  Lan,  một  đất  nước rất gần và có rất nhiều điểm tương đồng  với đất nước chúng ta, các kết quả nghiên cứu  cũng  cho  thấy  tỷ  lệ  lưu  hành  của  các  chủng  HIV‐1 đột biết kháng thuốc tăng dần từ khi bắt  đầu  chương  trình  ART  trên  người  bệnh  Thái  nhiễm  HIV/AIDS  năm  2002,  đã  vượt  lên  hơn  ngưỡng 5% (5,2% vào năm 2006)(1,14). dưới áp lực thuốc ARV của HIV‐1 là siêu việt, và

chắc  chắn  sẽ  còn  tiếp  diễn.  Đây  cũng  là  một

trong  những  thách  thức  to  lớn  cho  con  người

trong  công  cuộc  tìm  kiếm  vũ  khí  (thuốc)  hữu

hiệu để khống chế căn bệnh thế kỷ này. Đó cũng

là lý do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu này,

tiếp  tục  tìm  hiểu  đặc  tính  kháng  thuốc  trên

những  người  bệnh  chưa  điều  trị  ARV,  nhằm

mục  đích  đóng  góp  vào  kiến  thức  dịch  tể  nói

chúng,  và  góp  phần  giúp  các  bác  sĩ  điều  trị  có

nhiều thông tin hơn trong việc chọn lựa phác đồ

điều trị cho người bệnh.

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp  mô  tả,  tiền  cứu,  thực  hiện  tại  Bệnh  Viện  Bệnh  Nhiệt  Đới  TP.  Hồ  Chí  Minh  từ  1/2010  đến  12/2011.

Tại Việt Nam, ngay từ năm 2005 khi bắt đầu  chương trình quốc gia ART, một nghiên cứu của  tác giả Trương Thị Xuân Liên và cộng sự ở TP.  Hồ  Chí  Minh(15) đã  báo  cáo  về  một  trường  hợp  nhiễm chủng HIV‐1 mang đột biến kháng thuốc  NRTI trên người bệnh là phụ nữ mang thai chưa  điều  trị  ARV.Năm  2006,  một  nghiên  cứu  khác  của  tác  giả  Ayouba  và  cộng  sự  cũng  ở  TP.  Hồ  Chí Minh(2) báo cáo về các trường hợp nhiễm các  chủng  HIV‐1  mang  các  đột  biến  kháng  thuốc  NNRTI  và  PI  trên  nhóm  người  bệnh  là  thanh  niên trẻ đến tầm soát nhiễm HIV tại các phòng  tham  vấn  xét  nghiệm  tự  nguyện  (VCT  =  Voluntary  Counseling  and  Testing).Cũng  năm  2006,  một  nghiên  cứu  của  tác  giả  Nguyễn  Trần  Hiển  và  cộng  sự  tại  Hà  Nội(8)  báo  cáo  về  các  trường hợp nhiễm chủng HIV‐1 mang đột biến  kháng  thuốc  cả  NRTI  và  NNRTI  trên  nhóm  người  bệnh  đến  tầm  soát  nhiễm  HIV  tại  các  phòngVCT.Tiếp  theo  sau  đó,  vào  các  năm  2007  và 2008, tác giả Yang và cộng sự công bố kết quả

386

Chuyên Đề Nội Khoa

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Đối tượng

Mẫu  máu  được  ly  tách  huyết  tương  bằng  phương pháp ly tâm với tốc độ 5000 vòng/phút,  trong  10  phút  ở  nhịêt  độ  4oC.  Huyết  tương  ly  tách  được  khoảng  3‐4ml,  được  aliquot  vào  các  ống Effpendof 1,5ml và lưu ở ‐70°C đến khi thực  hiện bước tiếp theo.

Ly trích RNA siêu vi HIV‐1

Rã đông tự nhiên huyết tương đã lưu ở trên,  ly  trích  RNA  bằng  cách  sử  dụng  150µl  huyết  tương  và  bộ  kit  RNAPrep  (Nam  Khoa  Biotek,  HCMC, Vietnam). Nguyên tắc của bộ kit này là  sử  dụng  hợp  chất  phenol‐chloroform  làm  biến  tính  protein  và  dùng  ethanol  lạnh  để  làm  tủa  RNA của siêu vi HIV‐1. Tổng  cộng  nhóm  nghiên  cứu  chúng  tôi  đã  thu  thập  được  250  mẫu  máu  toàn  phần  người  bệnh  HIV‐1  đến  khám  và  điều  trị  tại  phòng  khám  ngoại  trú  của  Bệnh  viện  Bệnh  Nhiệt  Đới  TP.HCM.  Mẫu  được  lấy  theo  phương  pháp  ngẫu  nhiên  liên  tục  cho  đến  khi  kết  thúc.  Tiêu  chuẩn chọn mẫu vào nghiên cứu là người bệnh  được chẩn đoán xác định nhiễm HIV‐1 theo tiêu  chuẩn chẩn đoán của Bộ Y Tế 2009(10), chưa được  điều  trị  thuốc  kháng  siêu  vi  trước  đó,  trưởng  thành  (≥  18  tuổi  tính  đến  thời  điểm  tham  gia  nghiên  cứu)  và  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu;  không phân biệt tuổi, giới, tiền sử lây truyền, và  giai đoạn tiến triển của bệnh.

Ly trích huyết tương

Tổng hợp cDNA từ RNA được ly trích ở trên  Sản  phẩm  RNA  ly  trích  ở  bước  trên  được  sử dụng để tổng hợp thành cDNA bằng bộ kit  cDNA  Synthesis  (Nam  Khoa  Biotek,  HCMC,  Vietnam). Chu kỳ nhiệt được sử dụng là: 25oC  trong  5  phút,  42oC  trong  30  phút,  85oC  trong   5 phút.

Mẫu máu toàn phần (8‐10ml) được cho vào  ống  chống  đông  EDTAK3  (Nam  Khoa  Biotek,  HCMC,  Vietnam),  được  vận  chuyển  từ  Bệnh  Viện  Bệnh  Nhiệt  Đới  TP.  Hồ  Chí  Minh  về  Đại  Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh trong thùng xốp  kín có đá khô không quá hai (02)  giờ  kể  từ  khi  lấy mẫu, và được ly tách huyết tương ngay.

Khuếch đại các vùng gen reverse transcriptase (rt) và protease (pr) của HIV‐1 bằng phương pháp

“nested” PCR và tinh sạch sản phẩm sau khuếch đại  Vùng gen

rt

pr

Mồi ngoài MJ3: 5’-AGTAGGACCTACACCTGTCA-3’ (2480 to 2499) MJ4: 5’-CTGTTAGTGCTTTGGTTCCTCT-3’ (3399 to 3420) 5’ prot 1: 5’-TAATTTTTTAGGGAAGATCTGGCCTTCC-3’ (2082 to 2109) 3’ prot 1: 5’-GCAAATACTGGAGTATTGTATGGATTTTCAGG- 3’ (2703 to 2734)

Mồi trong A(35): 5’-TTGGTTGCACTTTAAATTTTCCCATTAGTCCTATT-3’ (2530 to 2558) NE1(35): 5’-CCTACTAACTTCTGTATGTCATTGACAGTCCAGCT- 3’ (3300 to 3334) (kích thước 805 bp) 5’ prot 2: 5’-TCAGAGCAGACCAGAGCCAACAGCCCCA-3’ (2136 to 2163) 3’ prot 2: 5’-AATGCTTTTATTTTTTCTTCTGTCAATGGC-3’ (2621 to 2650) (kích thước 515 bp)

Trình tự mồi tham khảo từ tổ chức ANRS (http://www.hivfrenchresistance.org)

Chu kỳ nhiệt PCR khi sử dụng “mồi ngoài”: giây,  61 oC  trong  30  giây  và  72 oC  trong  1  phút;  sau cùng là 72 oC trong 10 phút. 95 oC trong 5 phút; 40 chu kỳ gồm 94 oC trong 30 Khi đã thực hiện khuếch đại vùng gen rt, pr, giây,  50 oC  trong  30  giây  và  72 oC  trong  1  phút; chúng tôi cho sản phẩm PCR  chạy  điện  di  trên sau cùng là 72 oC trong 10 phút. gel agarose 2% nhuộm ethidium bromide để xác

Chu kỳ nhiệt PCR khi sử dụng “mồi trong”:  95 oC trong 5 phút; 40 chu kỳ gồm 94 oC trong 30

387

Nhiễm

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Nghiên cứu Y học

định sản phẩm chính là gen rt, pr (dựa vào kích trong  việc  khuếch  đại,  giải  và  phân  tích  trình  tự của 216 mẫu (chiếm 86,4%). thước đoạn khuếch đại).

Tinh sạch toàn bộ sản phẩm PCR bằng bộ kit Purification (Qiagen, Hilden, Germany).

Giải trình tự gen rt, pr

Trong tổng số 216 mẫu được phân tích, có  44  cá  thể  người  bệnh  (chiếm  20,37%)  mang  ít  nhất một kiểu đột biến kháng thuốc của cả ba  nhóm  NRTI,  NNRTI,  và  PI;  trong  đó  6  cá  thể  người bệnh (2,78%) mang chủng HIV‐1 có hai  đột  biến  kháng  thuốc  đã  được  ghi  nhận.  Tần  suất  xuất  hiện  của  các  đột  biến  kháng  thuốc  NRTI  là  20  trường  hợp  (9,2%),  NNRTI  là  10  trường  hợp  (7,8%),  và  PI  là  7  trường  hợp  (3,3%). Các kết quả cụ thể được trình bày trong  những bảng dưới đây.

Sản phẩm từ  bước tinh  sạch  ở  trên  sẽ  được  thực hiện giải trình tự nucleotid cả 2 mạch bằng  bộ kit BigDye Terminator Cycle Sequencing v3.1  (Applied  Biosystems,  Foster  CA,  USA)  với  mồi  “xuôi” và “ngược” là A(35), NE1(35) đối với gen  rt; 5’prot2, 3’prot2 đối với gen pr, sau khi tất cả  sản phẩm PCR được đánh dấu huỳnh quang, sẽ  được  “cô  đặc”  lại  và  huyền  phù  trong  20µl  formamid để được phân tích trình tự nucleotide  bằng máy giải trình tự tự động ABI Prism 3130xl  (Applied Biosystems, Foster CA, USA). Dữ  liệu  tham  khảo  về  vị  trí  đột  biến,  kiểu  đột biến chính‐phụ được tham khảo từ các kết  quả đã công bố của nhóm ANRS (Pháp) và từ  ngân hàng dữ liệu Stanford (Hoa Kỳ).

Tinh sạch trình tự và tìm đột biến kháng  thuốc

Trình tự nucleotid “thô” sau khi giải sẽ được  “tinh sạch”  bằng  phần  mềm  Mega  5.05,  sau  đó  so  sánh  với  dữ  liệu  HIV  kháng  thuốc  Stanford  (http://hivdb.Stanford.edu/)  ANRS  (http://www.hivfrenchresistance.org)  để  xác  định  đột  biến  kháng  thuốc  chính,  phụ  đối  với  thuốc ARV (antiretrovirus) gồm các nhóm NRTI,  NNRTI, PI. Khi  so  sánh  với  các  kết  quả  nghiên  cứu  kháng thuốc đã công bố tại Việt Nam(2,4,6,8 ,15,16,19),  chúng tôi thấy: trong các nghiên cứu đã công bố  ở trên, các đột biến kháng thuốc nhóm NRTI đã  được  ghi  nhận  là:  M41L,  K65R,  D67N,  T69D,  K70R, L74V/I, V75A/M, M184V/I,L210W, T215F,  K219E/Q/R; so với nghiên cứu của chúng tôi, các  vị  trí  và  kiểu  đột  biến  được  phát  hiện  là  L74I,  M184V/I, K219Q, T69N/S, T215D, cho thấy có sự  tương đồng với các nghiên cứu đã công bố.

KẾT QUẢ & BÀN LUẬN

Trong 250 mẫu bệnh phẩm thu thập được,  nhóm  nghiên  cứu  chúng  tôi  đã  thành  công  Kết quả phân tích đột biến kháng thuốc nhóm NRTI  Bảng 3: Kết quả đột biến kháng thuốc nhóm NRTI

TT

Loại đột biến

Tần suất

Tỷ lệ %

Loại thuốc bị kháng

Chính

1

L74I

2

0,93

2 3 4 Tổng đột biến chính

M184I M184V K219Q 4

3 4 2 11

1,39 1,85 0,93 5,10

ABC¥, ddI¥ 3TC¥, FTC¥, ABC, ddI 3TC¥, FTC¥, ABC, ddI d4T

Phụ

1 2 3 Tổng đột biến phụ

T69N T69S T215D 3

6 2 1 9

2,78 0,93 0,46 4,17

TDF TDF ZDV, d4T

¥ Thuốc ARV bị kháng ở mức độ cao

388

Chuyên Đề Nội Khoa

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  Kết quả phân tích đột biến kháng thuốc nhóm NNRTI  Bảng 4: Kết quả đột biến kháng thuốc nhóm NNRTI

TT

Loại đột biến

Tần suất

Tỷ lệ %

Loại thuốc bị kháng

Chính

NVP¥, EFV¥ ETR, RPV NVP¥, ETR¥, RPV¥, EFV NVP¥, EFV¥, ETR, RPV

0,46 0,93 1,39 0,46 3,24

1 2 3 4 Tổng đột biến chính

K103N E138A Y181C G190A 3

1 2 3 1 7

Phụ

NVP ETR

0,93 3,70 4,63

1 2 Tổng đột biến phụ

K103T V106I 2

2 8 10

¥ Thuốc ARV bị kháng ở mức độ cao

Kết quả phân tích đột biến kháng thuốc nhóm PI  Bảng 5: Kết quả đột biến kháng thuốc nhóm PI

TT

Loại đột biến

Tần suất

Tỷ lệ %

Loại thuốc bị kháng

Chính

3 3

1 Tổng đột biến chính

M46I 1

1,39 1,39

ATV, FPV, IDV, LPV, NFV, TPV

Phụ

3 1 4

1 2 Tổng đột biến phụ

M36I H69K 2

1,39 0,46 1,9

TPV/RTV, IDV, NFV, FPV TPV/RTV

cho thấy một sự gia tăng khi so sánh với kết quả  nghiên cứu của những năm trước đó. Nhìn nhận  một  cách  tổng  quát,  rõ  ràng  là  khi  có  nhiều  người bệnh hơn tiếp cận với thuốc ARV, thì tỷ lệ  mang  các  chủng  siêu  vi  đột  biến  kháng  thuốc  mỗi ngày một gia tăng hơn.

Khi  xem  xét  về  tần  suất  xuất  hiện  của  các

kiểu đột biến, kết quả nghiên cứu của chúng tôi

tương  tự  như  phát  hiện  của  các  nghiên  cứu

trước đó.Trong các đột biến kháng thuốc nhóm

NRTI, chiếm tỷ lệ cao nhất là đột biến M184I/V Đối  với  thuốc  nhóm  NNRTI,  các  đột  biến  kháng  thuốc  đã  được  ghi  nhận  là:  K103N,  V106M,  V108I,  Y181C,  Y188L,  G190A/C/S/E,  P225H; trong nghiên cứu của chúng tôi, các vị  trí và kiểu đột biến được phát hiện làK103N/T,  E138A, Y181C, G190A, V106I cũng cho thấy sự  tương đồng với kết quả các nghiên cứu trước.  Đối  với  thuốc  nhóm  PI,  các  đột  biết  kháng  thuốc  đã  được  ghi  nhận  là:  D30N,  L33F,  M46I/L,  L90M;  còn  trong  nghiên  cứu  của  chúng tôi, các vị trí và kiểu đột biến được phát  hiện làM46I, M36I, H69K. và  các  đột  biến  TAMs  (Thymidine‐Analogue

Mutations), bao gồm M41L, D67N, K70R, T215F,

L210W, và K219E/Q, tiếp theo sau đó là đột biến

L74I/V;  trong  các  đột  biến  kháng  thuốc  nhóm

NNRTI, thường gặp nhất là các đột biến Y181C,

K103N,  và  G190A;  trong  các  đột  biến  kháng

thuốc nhóm PI, thường gặp nhất là M46I.

Có  tổng  cộng  6  cá  thể  người  bệnh  (2,78%) mang từ hai kiểu đột biến trở lên. Xét về tần suất người bệnh mang chủng siêu  vi đột biến kháng thuốc, tỷ lệ người bệnh mang  các  chủng  HIV‐1  đột  biến  kháng  thuốc  nhóm  NRTI  là  cao  nhất,  chiếm  tỷ  lệ  9,3%,  so  với  các  nghiên  cứu  trước  cho  thấy  một  tình  trạng  gia  tăng  đáng  kể  (khoảng  4%).  Tiếp  theo  là  kháng  thuốc  nhóm  NNRTI  với  tỷ  lệ  7,8%,  cũng  cho  thấy một sự gia tăng đáng kể (khoảng 3%). Đối  với thuốc nhóm PI, mặc dù kết quả nghiên cứu  của  chúng  tôi  cho  tỷ  lệ  thấp  nhất  là  3,3%,  vẫn

389

Nhiễm

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Ngược lại, các  số  liệu  nghiên  cứu  tại  Trung  Quốc(7) lại cho thấy một tỷ lệ lưu hành các chủng  HIV‐1  đột  biến  kháng  thuốc  thấp  hơn  nhiều,  khoảng 3,8%.

Nghiên cứu Y học  Bảng 6: Cá thể người bệnh mang hai đột biến  Loại đột biến M184I và T69N L74I và T69N K219Q và T69S Y181C và V106I K103N và V106I

TT 1 2 3 4 5

Tần suất 1 2 1 1 1 6

TỔNG CỘNG

Điểm  còn  yếu  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi là cỡ mẫu nhỏ, lại tập trung trên cộng đồng  người bệnh ở khu vực đô thị TP. Hồ Chí Minh,  nên có thể dẫn đến không phản ánh được toàn  bộ thực trạng lưu hành các chủng HIV‐1 kháng  thuốc. Song song đó, đa số người bệnh tham gia  vào  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  những  người  bệnh  nhiễm  HIV  mạn  tính  chưa  được  điều  trị  ARV, mà như chúng ta đã biết, các chủng HIV‐1  đột biến kháng thuốc có thể đột biến ngược trở  lại  thể  hoang  dại  ban  đầu  (wild‐type)  sau  12  tháng không bị áp lực chọn lọc của thuốc ARV,  và trong trường hợp như vậy thì quần thể chủng  đột  biến  kháng  thuốc  sẽ  trở  thành  thứ  yếu  (<25%)  trong  cơ  thể  người  bệnh,  và  không  thể  được phát hiện bằng kỹ thuật khuếch đại và giải  trình tự tiêu chuẩn được sử  dụng trong nghiên  cứu  này(12).  Do  vậy  cần  những  nghiên  cứu  quy  mô hơn và áp dụng kỹ thuật cao hơn để có thể  hiểu rõ hơn về đặc tính lưu hành của các chủng  HIV‐1 đột biến kháng thuốc.

KẾT LUẬN

Từ  kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy một thực tế rõ ràng là các chủng HIV‐1 đột  biến kháng thuốc ngày một lưu hành rộng hơn  và với tỷ lệ cao hơn trong cộng đồng người bệnh  nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam (trong nghiên cứu  của  chúng  tôi  là  cộng  đồng  những  người  bệnh  nhiễm HIV/AIDS mạn tính chưa điều trị ARV).  Theo  những  nghiên  cứu  đã  công  bố  trong  các  năm 2006, 2007, và 2008(4,6,8,16,19), tỷ lệ này đã tăng  dần  từ  dưới  5%  từ  những  năm  trước  2005  đến  trên 10% (có khi lên đến 15%) trong những năm  2007‐2008. Những nghiên cứu này, và cả nghiên  cứu của chúng tôi, đa số đều tập trung trên cộng  đồng  người  bệnh  tại  các  vùng  đô  thị,  rõ  ràng  phản ánh và phù hợp với thực tế là ở những nơi  này người bệnh được điều trị ARV nhiều hơn(13).  Kết quả nghiên  cứu  của  chúng  tôi  một  lần  nữa  khẳng  định  thêm  vào  quan  điểm  của  các  nhà  điều trị HIV học trên thế giới(18) là việc khảo sát  đột  biến  kháng  thuốc  cần  phải  được  tiến  hành  định  kỳ  thường  xuyên  đặc  biệt  tại  các  khu  vực  đô  thị  có  cộng  đồng  người  bệnh  đông  đang  được điều trị ARV, thậm chí có thể cần tiến hành  trước khi điều trị ARV cho mỗi người bệnh. Bởi  vì,  các  nhà  điều  trị  bệnh  nhiễm  HIV/AIDS  trên  thế giới đã đồng thuận quan điểm rằng, nếu một  người bệnh nhiễm phải chủng siêu vi mang đột  biến kháng với ít nhất một thuốc trong phác đồ  điều trị  ban  đầu,  thì  tỷ  lệ  thất  bại  sau  12  tháng  điều trị là rất cao.

Khi  so  sánh  với  các  số  liệu  của  những  nghiên cứu tại Thái Lan(1,14), chúng tôi thấy có  những nét tương đồng khi tỷ  lệ  lưu  hành  của  các  chủng  HIV‐1  kháng  thuốc  lần  lượt  tăng  dần  và  vượt  ngưỡng  5%  sau  5  năm  thực  hiện  chương trình ART.

Trên  cộng  đồng  người  bệnh  nhiễm  HIV/AIDS  chưa  từng  điều  trị  thuốc  kháng  ARV đến khám và điều trị tại Bệnh Viện Bệnh  Nhiệt  Đới  TP.  Hồ  Chí  Minh,  chúng  tôi  xác  định được tỷ lệ chung mang các chủng HIV‐1  đột biết kháng thuốc là 20,37%.Trong đó, tỷ lệ  mang  đột  biến  kháng  thuốc  nhóm  NRTI  là  9,2%, NNRTI là 7,8%, PI là 3,3%. Đối với nhóm  NRTI,  các  dạng  đột  biến  phát  hiện  được  là  L74I,  M184V/I,  K219Q,  T69N/S,  T215D,  T69N  và đột biến chính M184V chiếm tỷ lệ cao nhất  là 1,85% ;đột biến phụ T69N chiếm 2,78%. Đối  với nhóm NNRTI, các đột biến phát hiện được  là  K103N/T,  E138A,  Y181C,  G190A,  V106I  trong đó đột biến chính Y181C chiếm tỷ lệ cao  nhất  là  1,39%;  đột  biến  phụ  V106I  chiếm  3,70%. Đối với nhóm PI, các đột biến phát hiện  được  là  M46I,  M36I,  H69K  trong  đó  chỉ  xuất

390

Chuyên Đề Nội Khoa

Nghiên cứu Y học

Infected  Patients  in  Northern  Vietnam.  AIDS  Res  Hum  Retroviruses, 26: 233‐235.

10. QUYẾT ĐỊNH Số: 3003 /QĐ‐BYT ngày 19 tháng 8 năm 2009  về  việc  ban  hành  “Hướng  dẫn  chẩn  đoán  và  điều  trị  HIV/AIDS”.

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  hiệnđột biến chính M46I chiếm tỷ lệ 1,39%; đột  biến phụ M36I cũng chiếm tỷ lệ 1,39%. Có tổng  cộng  6  cá  thể  người  bệnh  (2,78%)  mang  các  chủng siêu vi có từ hai đột biến trở lên (M184I  và T69N, L74I và T69N, K219Q và T69S, Y181C  và V106I, K103N và V106I).

12.

13.

14.

Sự  lây  truyền  và  tỷ  lệ  lưu  hành  các  chủng  HIV‐1  kháng  thuốc  ngày  một  gia  tăng  đòi  hỏi  phải  có  các  nghiên  cứu  sâu  rộng  hơn,  thường  xuyên  hơn,  và  phải  có  chính  sách  tầm  soát  kháng  thuốc  quy  mô  bài  bản  hơn  nhằm  mục  đích cung cấp thông tin tốt nhất cho bác sĩ điều  trị khi kê đơn thuốc lần đầu cũng như  khi thất  bại  điều  trị,  để  việc  điều  trị  người  bệnh  nhiễm  HIV/AIDS đạt kết quả tốt nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO  1.

11. QUYẾT ĐỊNH Số 4139/QĐ‐BYT ngày 2 tháng 11 năm 2011 về  việc  sửa  đổi,  bổ  sung  một  số  nội  dung  trong  “Hướng  dẫn  chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS” ban hành kèm theo Quyết  Định số 3003 /QĐ‐BYT  ngày  19/8/2009  của  Bộ  Trưởng  Bộ  Y  Tế.  Schuurman  R,  Demeter  L,  Reichelderfer  P,  Tijnagel  J,  de  Groot  T,  et  al  (1999).  Worldwide  Evaluation  of  DNA  Sequencing Approaches for Identification of Drug Resistance  Mutations  in  the  Human  Immunodeficiency  Virus  Type  1  Reverse Transcriptase. J Clin Microbiol, 37: 2291‐2296.  Smith  RJ,  Okano  JT,  Kahn  JS,  Bodine  EN,  Blower  S  (2010).  Evolutionary Dynamics of Complex Networks of HIV Drug‐ Resistant Strains: The Case of San Francisco. Science, 327: 697‐ 701.  Sukasem  C,  Churdboonchart  V,  Chasombat  S  et  al  (2007).  Surveillance  of  genotypic  resistance  mutations  in  chronic  HIV‐1  treated  individuals  after  completion  of  the  National  Access  to  Antiretroviral  Program  in  Thailand.  Infection,35:  81–88.

2.

15. Truong LXT, Tran TC, Tran T, Luong TT, Le TC, et al (2007).  Drug resistance in HIV‐1 infected pregnant women enrolled  in  the  national  PMTCT  program  in  Ho  Chi  Minh  City  (HCMC), Vietnam. Poster discussion: 4th IAS Conference on  HIV  Pathogenesis,  Treatment  and  Prevention:  Abstract  no.  MOPDB06LB. Truy cập 10/2013.

3.

16. Vo  QM,  Nguyen  CT,  Vu  HX,  Ngo  CVV,  Nguyen  CH,  et  al  (2011).  HIV  drug  resistance  and  virological  response  in  treatment‐naïve HIV patients in a developing country: what is  implication?  [Abstract  CBD112].  In  6th  IAS  Conference  on  HIV Pathogenesis Treatment and Prevention; July 17‐20, 2011;  Rome, Italy IAS 2011. Truy cập 10/2013.

4.

5.

17. Vu  T,  Le  T,  Török  E,  Nguyen  Y,  Tran  C,  et  al  (2011).  HIV‐1  Drug  Resistance  in  Antiretroviral‐naïve  Patients  with  HIV‐ associated  Tuberculous  Meningitis  in  Ho  Chi  Minh  City,  Vietnam  [Abstract  625].  In:  18th  Conference  on  Retroviruses  and  Opportunistic  Infections;  Feburary  27‐  March  2,  2011;  Boston,  United  Stated  of  America  CROI  2011.  Truy  cập  10/2013.

6.

immunological

response

and

to

7.

18. Wittkop L, Gunthard HF, de Wolf F, Dunn D, Cozzi‐Lepri A,  et  al  (2011).  Effect  of  transmitted  drug  resistance  on  virological  initial  combination  antiretroviral  therapy  for  HIV  (EuroCoord‐ CHAIN joint project): a European multicohort study.  Lancet  Infect Dis 11: 363‐371.

8.

19. Yang  C,  Nguyen  B,  Bile  E,  Wagar  N,  Nkengasong  J,  (2011).  Global Surveillance of Transmitted HIV‐1 Drug Resistance in  PEPFAR‐supported  Countries  Using  a  Broadly  Sensitive  Genotyping  Assay  [Abstract  619].  In:  18th  Conference  on  Retroviruses  and  Opportunistic  Infections;  Feburary  27‐  March 2, 2011; Boston, United Stated of America CROI 2011.  Truy cập 10/2013.

9.

Ngày nhận bài báo: 07/11/2013

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013

Apisarnthanarak  A,  Jirayasethpong  T,  Sa‐nguansilp  C,  Thongprapai  H,  Kittihanukul  C,  et  al  (2008).  Antiretroviral  drug  resistance  among  antiretroviral  naïve  persons  with  recent HIV infection in Thailand. HIV Med, 9: 322‐325.  Ayouba A, Truong LXT, Nouhin J, Vergne L, Aghokeng AF,  et  al  (2009).  Low  prevalence  of  HIV  type  1  drug  resistance  mutations  in  untreated,  recently  infected  patients  from  burkina Faso, Côte d’Ivoire, senegal, Thailand, and Vietnam:  The  ANRS  12134  study.  AIDS  Res  Hum  Retroviruses,  25:  1193‐1196.  Bennett DE, Myatt M, Bertagnolio S, Sutherland D, Gilks CF,  (2008). Recommendations for surveillance of transmitted HIV  in  countries  scaling  up  antiretroviral  drug  resistance  treatment. Antivir Ther, 13: 25‐36.  Bontell  I,  Do  DC,  Agneskog  E,  Diwan  V,  Larsson  M,  et  al  (2011). Transmitted drug resistance and phylogenetic analysis  of  HIV  CRF01_AE  in  Northern  Vietnam.  Infect  Genet  Evol,  12:448‐452.  BÁO  CÁO  Số:  04/BC‐AIDS  ngày  11  tháng  01  năm  2013  của  Cục Phòng, Chống HIV/AIDS  về  Tổng  kết  Công  tác  phòng,  chống HIV/AIDS năm 2012 và kế hoạch công tác năm 2013  Dean  J,  Ta  Thi  TH,  Dunford  L,  Carr  MJ,  Nguyen  LT,  et  al  (2011).  Prevalence  of  HIV  Type  1  Antiretroviral  Drug  Resistance Mutations in Vietnam: A Multicenter Study. AIDS  Res Hum Retroviruses, 27: 797‐801.  Liao  L,  Xing  H,  Shang  H,  Li  J,  Zhong  P,  et  al  (2010).  The  prevalence  of  transmitted  antiretroviral  drug  resistance  in  treatment‐naive  HIV‐infected  individuals  in  China.  J  Acquir  Immune Defic Syndr, 53: S10‐S14.  Nguyen HT, Nguyen BD, Shrivastava R, Tram HT, Tuan AN,  et  al  (2008).  HIV  drug  resistance  threshold  survey  using  specimens  from  voluntary  counselling  and  testing  sites  in  Hanoi, Vietnam. Antivir Ther, 13: 115‐121.  Phan  TTC,  Ishizaki  A,  Phung  DC,  Bi  X,  Oka  S,  et  al  (2010).Characterization  of  HIV  Type  1  Genotypes  and  Drug  Resistance  Mutations  Among  Drug‐Naïve  HIV  Type  1‐

Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014

391

Nhiễm