
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN NGUYÊN HỒNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Chính sách công
Mã số: 9 34 04 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2023

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi
Phản biện 1: PGS.TS. Lưu Văn Quảng
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Minh Phương
Phản biện 3: PGS.TS. Trần Khánh Đức
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học xã hội vào hồi …. giờ …. phút, ngày ….
tháng …. năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại
Thư viện Quốc gia,
Thư viện Học viện Khoa học xã hội

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách hành chính nhà nước là một vấn đề thiết yếu, luôn được các nước
trên thế giới coi trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước, mang
lại lợi ích cho người dân đồng thời xây dựng đất nước ngày càng hưng thịnh,
vững mạnh. Công cuộc cải cách hành chính nhà nước ở Viêt Nam hiện nay
đang được tiến hành mạnh mẽ với mục tiêu xây dựng một nền hành chính
nhà nước chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân thay vì nền hành chính quan liêu
bao cấp trước đây; trong đó, việc đổi mới, sắp xếp thu gọn bộ máy hoạt động
hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) rất quan trọng. Trên
thực tế, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối, chính
sách, pháp luật và nhiều lần triern khai tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế đồng thời cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC.
Năm 2007, thực hiện Nghị quyết số Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng (khóa X) về đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy hệ
thống chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định 132/2007/NĐ-CP về việc
tinh giản biên chế [19]. Năm 2015, Bộ Chính trị có Nghị quyết số 39 -
NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, CCVC. Thực
hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản QPPL
như Nghị định số 108/2014/NĐ-CP về tinh giản biên chế [12], Nghị định
113/2018/NĐ-CP năm 2018, Nghị định 143/2020/NĐ-CP năm 2020, các
thông tư hướng dẫn và triển khai tổ chức thực hiện chính sách tinh giản
biên chế.
Đại hội XII, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng
và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả; đổi
mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức [42]. Quan điểm này tiếp tục
được khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc XIII “Xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh
gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất
lượng và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC” [43].
Giai đoạn 2015 - 2021, thực hiện chính sách tinh giản biên chế đã đạt
được những kết quả đáng ghi nhận, lần đầu tiên đạt mục tiêu về số lượng

2
biên chế tinh giản. Tuy nhiên, bên cạnh đó, từ góc độ chính sách công, việc
thực hiện chính sách tinh giản biên chế vẫn còn những hạn chế cần phải khắc
phục như:
Một là: Kết quả tinh giản biên chế chưa đạt được mục tiêu như mong đợi,
việc tinh giản biên chế chủ yếu mang tính cơ học, chủ yếu do sắp xếp lại tổ
chưc bộ máy, chưa đạt mục tiêu nhằm sàng lọc, đưa ra khỏi bộ máy nhà nước
những CBCCVC không đủ năng lực, trình độ, cơ cấu lại, nâng cao chất lượng
đội ngũ CBCCVC.
Hai là: Trong quá trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế, tổ chức
bộ máy nhà nước đã được sắp xếp tinh gọn lại, giảm đi nhiều đầu mối, từ đó
dẫn đến xác định số lượng biên chế phù hợp hơn. Tuy nhiên, trên thực tế
chính sách sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế chưa đầy đủ, còn nhiều
vấn đề bất cập, quy định thiếu đồng bộ, chưa kịp thời, dẫn đến việc triển khai
thực hiện còn gặp nhiều khó khăn.
Ba là: Quá trình tổ chức thực thi chính sách còn một số hạn chế như một
số cán bộ, công chức nhận thức chính sách chưa đầy đủ, công tác xây dựng
kế hoạch triển khai thực hiện chính sách có nơi chưa chủ động, còn chậm trễ,
việc phân công, phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng, công tác
kiểm tra, giám sát thực thi chính sách chưa thường xuyên, còn buông lỏng;
công tác tổng kết, đánh giả chưa nhiều nơi chưa sát thực.
Bốn là: Việc cơ cấu lại, nâng cao chất lượng biên chế còn nhiều bất cập. Tiêu
chí đánh giá chất lượng, xếp loại CCVC còn chung chung, chưa cụ thể nên khó
đánh giá, xếp loại công chức không hoàn thành nhiệm vụ để đưa vào diện tinh
giản biên chế, còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại đụng chạm, dẫn đến việc
thực hiện chính sách tinh giản biên chế chưa thật sự đi vào thực chất.
Tp. HCM là một đô thị đặc biệt, một trong những trung tâm kinh tế, chính
trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất ở Việt Nam, có quy mô và mật độ
dân số đông nhất so với cả nước, có nhiều đóng góp quan trọng cho nền kinh
tế Việt Nam. Đặc biệt, Tp. HCM được Trung ương tin tưởng giao cho thực
hiện chính quyền đô thị đầu tiêu trong cả nước, không qua giai đoạn thí điểm.
Giai đoạn 2015 - 2021, Tp. HCM đã quan tâm tổ chức thực hiện chính sách
tinh giản biên chế; tuy nhiên, quá trình thực thi chính sách vẫn còn nhiều hạn
chế; đồng thời, trong bối cảnh Thành phố thực hiện chính quyền đô thị đầu
tiên trong cả nước, thì việc thực thi chính sách tinh giản biên chế cần có

3
những giải pháp phù hợp với thực trạng và định hướng của Thành phố. Chính
vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận án hướng đến mục đích đưa ra các giải
pháp, đề xuất nhằm góp phần thực hiện chính sách tinh giản biên chế hiệu
quả trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết
những nhiệm vụ cụ thể sau
Tổng hợp tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Luận
giải, hệ thống hóa lý luận về chính sách tinh giản biên chế ở Việt Nam và
thực hiện chính sách tinh giản biên chế.
Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế
tại Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích, đánh giá những kết quả đạt được
và các hạn chế, phát hiện những vấn đề cần giải quyết.
Khái quát những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chính sách tinh giản
biên chế. Luận án đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức
thực hiện chính sách tinh giản biên chế cho Thành phố Hồ Chí Minh trong
thời gian tới; đồng thời đề xuất, kiến nghị một số giải pháp thực hiện chính
sách tinh giản biên chế cho Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại
Thành phố Hồ Chí Minh, việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Việt
Nam và một số địa phương.
* Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu sâu giai đoạn
2015 - 2021, từ khi Nghị định 108/2014/NĐ-CP về tinh giản biên chế ban
hành, Nghị quyết Trung ương XII về việc tăng cường thực hiện chính sách
tinh giản biên chế; đồng thời để có cái nhìn tổng thể, luận án tóm lược cơ bản
kết quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở các giai đoạn trước.
- Về không gian: Nghiên cứu trường hợp cụ thể việc thực hiện chính sách
tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh và kinh nghiệm thực hiện
chính sách tinh giản biên chế của một số địa phương khác như Thành phố Hà
Nội, thành phố Cần Thơ.

