
3
Xu hướng sử dụng các biến nhân khẩu học để nghiên cứu
những ý định khởi nghiệp là rất phổ biến trong nhiều thập kỷ. Các nhà
nghiên cứu ủng hộ phương pháp này đã cố gắng xây dựng và phát triển
một danh mục đặc điểm người khởi nghiệp như năm sinh, giới tính,
các “hình mẫu”, tuổi tác, trình độ học vấn, hoàn cảnh gia đình và thói
quen làm việc (Gaddam, 2008). Kristiansen và Indarti (2004) tìm thấy
một số nghiên cứu để hỗ trợ lập luận rằng các biến nhân khẩu học ảnh
hưởng đến khởi nghiệp. Mặc dù phương pháp này thừa nhận việc sử
dụng các thông tin cá nhân để xây dựng hồ sơ cá nhân của một người
khởi nghiệp điển hình, vậy thì một giả thuyết được đưa ra là liệu những
người khởi nghiệp có nguồn gốc tương tự có cùng những đặc tính ổn
định này hay không?, "điều này không giúp dự đoán ai sẽ là một người
khởi nghiệp hay không" (Robinson & Stimpson, 1991;Bowen &
Hisrich, 1986; Deivasenapathy, 1986; Hisrich, 1990).
2.1.3. Cách tiếp cận dựa vào thái độ
Vì cả hai phương pháp tiếp cận đều bị chỉ trích về những hạn
chế về mặt phương pháp và khái niệm (Ajzen 1991; Gartner 1989;
Low & MacMillan, 1988; Santos & Liñán 2007; Shapero & Sokol
1982), một cách tiếp cận tốt hơn là cần thiết. Krueger, Reilly và
Carsrud (2000) cho rằng quyết định trở thành một doanh nhân có thể
được coi là tự nguyện và có ý thức do đó để hiểu về quyết định đó diễn
ra như thế nào và những yếu tố nào ảnh hưởng đến tâm trí cá nhân là
rất quan trọng. Như vậy, ý định khởi nghiệp được coi là tiền đề quyết
định của các hành vi kinh doanh (Fayolle & DeGeorge, 2006;
Kolvereid, 1996). Ajzen (1991) nói rằng “ý định thực hiện một hành
vi nhất định sẽ phụ thuộc vào thái độ của người đó đối với hành vi
đó.” Thái độ càng tích cực, ý định càng rõ ràng hơn. Do đó, "cách tiếp