
yBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRẦN PHƯƠNG HẢI
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA HÌNH CỦA MỘT SỐ GEN
LIÊN QUAN ĐẾN GÃY XƯƠNG CỘT SỐNG
DO LOÃNG XƯƠNG Ở PHỤ NỮ SAU MÃN KINH
Chuyên ngành: Nội – Xương khớp
Mã số: 9720107
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2022

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS.BS. Nguyễn Thị Thanh Hương
2. TS.BS. Trần Thị Tô Châu
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường tại Trường Đại học Y Hà Nội vào hồi ……. , ngày ….
tháng … năm ….
Có thể tìm luận án tại thư viện:
+ Thư viện Quốc gia
+ Thư viện Trường Đại học Y Hà Nội

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Trần Phương Hải, Trần Thị Tô Châu, Nguyễn Thị Thanh Hương,
Nguyễn Thị Thanh Hòa (2018). Mối liên quan giữa kiểu gen LRP5
tại SNP Q89R với gãy xương cột sống do loãng xương ở phụ nữ mãn
kinh. Y học lâm sàng, 102:145-151.
2. Trần Phương Hải, Phạm Thị Ngọc Diệp, Vũ Văn Minh, Phạm Minh
Quân, Trần Thị Tô Châu, Nguyễn Thị Thanh Hương (2020). Tỉ lệ
gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn kinh miền Bắc và một số yếu tố
liên quan. Tạp chí Y học Việt Nam. Số đặc biệt (493):283-290.

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương là bệnh lý có giảm mật độ xương và chất lượng xương,
dẫn đến tăng tính gãy xương, hậu quả là gãy xương, tăng tỉ lệ tàn phế, tăng
nguy cơ tử vong. Loãng xương gặp nhiều ở phụ nữ sau mãn kinh do tốc độ mất
xương tăng nhanh ở giai đoạn sau mãn kinh. Theo thống kê của tổ chức loãng
xương thế giới (IOF) có 50% phụ nữ mãn kinh trên 50 tuổi có nguy cơ gãy xương
do loãng xương, trong số đó có 26% gãy xương cột sống (gãy thân đốt sống).
Khuyến cáo điều trị loãng xương hiện nay là can thiệp sớm trên đối tượng có giảm
mật độ xương kèm theo yếu tố nguy cơ gãy xương. Việc xác định yếu tố nguy cơ
gãy xương theo cá thể hoá đóng vai trò quan trọng để đưa ra quyết định can thiệp
điều trị sớm đạt mục tiêu điều trị loãng xương và giảm nguy cơ gãy xương. Các
yếu tố nguy cơ loãng xương và gãy xương nói chung đã được xác định như yếu
tố tuổi, giới, chủng tộc, chỉ số khối cơ thể, mật độ xương…. Trong đó gen ảnh
hưởng đến nguy cơ gãy xương do loãng xương đã được chứng minh qua nhiều
nghiên cứu. Cho đến nay trên bản đồ gen thế giới đã công bố 203 gen liên quan
đến mật độ xương trong đó có 14 gen liên quan với nguy cơ gãy xương
(p<5x10-4).
Nhiều nghiên cứu ở Châu Âu và Châu Á đã chỉ ra mối liên quan giữa
gen với gãy xương do loãng xương. Trong đó, 3 điểm gen (MTHFR tại SNP
rs1801133, LRP5 tại SNP rs41494349, FTO tại SNP rs11211980) được chứng
minh có liên quan đến nguy cơ loãng xương và gãy xương do loãng xương, tuy
nhiên kết quả không đồng nhất giữa các chủng tộc. Năm 2011, H. Wang và
cộng sự phân tích 20 nghiên cứu đã cho thấy sự tương quan mức độ nhẹ giữa
SNP rs1801133 MTHFR với mật độ xương và nguy cơ gãy xương. Năm 2013
Bich Tran thấy gen FTO SNP rs1121980 làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng
xương lên 2 lần. Nghiên cứu ở Trung Quốc chỉ ra gen LRP5 có liên quan đến
tăng nguy cơ gãy xương và loãng xương. Ở quần thể người Việt Nam, đây là
nghiên cứu đầu tiên tại phân tích mối liên quan giữa gen với nguy cơ gãy thân
đốt sống do loãng xương trên nhóm đối tượng phụ nữ sau mãn kinh. Đồng thời
kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung thêm số liệu làm phong phú cho bản đồ gen của
người Việt Nam về loãng xương.
Vì vậy đề tài được thực hiện “Nghiên cứu tính đa hình của một số
gen liên quan đến gãy xương cột sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn
kinh” nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm gãy thân đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh
và một số yếu tố liên quan
2. Phân tích tính đa hình của gen MTHFR (rs1801133), LRP5 (rs41494349)
và FTO (rs11211980) và mối liên quan với gãy thân đốt sống do loãng
xương ở phụ nữ sau mãn kinh.

2
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đề tài thực hiện khảo sát tỉ lệ gãy thân đốt sống do loãng xương ở phụ nữ
sau mãn kinh và các yếu tố nguy cơ. Kết qủa tỉ lệ gãy xương độ I là 10,1%, độ
II là 14,9%. Vị trí gãy thường gặp ở T12, L1. Tỉ lệ gãy lún chiếm tỉ lệ cao nhất
(43%) tiếp đến là gãy bờ và gãy đĩa . Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ
GTĐS do LX ở phụ nữ sau mãn kinh là: tuổi ≥ 60 tuổi, BMI < 18,5 kg/m2, thời
gian mãn kinh ≥ 10 năm, người bệnh có > 3 con, mức độ hoạt động thể lực <
600 METs-phút/tuần và có loãng xương.
Kết qủa khi phân tích tính đa hình của 3 gen MTHFR (rs1801133),
LRP5 (rs41494349) và FTO (rs11211980) thấy có mối liên quan giữa kiểu gen
MTHFR (rs1801133) với tỉ lệ gãy xương đốt sống (p<0,05). Nhóm gãy xương
đốt sống nhưng không loãng xương thì nguy cơ gãy xương ở những phụ nữ có
kiểu gen CT và TT gen MTHFR (rs1801133) cao gấp 3,684 lần so với nhóm có
kiểu gen CC với CI95% là 1,604 – 8,461 (p<0,05). Luận án đưa ra khuyến nghị
trên thực hành lâm sàng là phụ nữ mãn kinh trên 40 tuổi nên làm xét nghiệm
gen MTHFR (rs1801133): nếu mang alen T thì cần bổ sung folat nhằm giảm
nguy cơ gãy xương đốt sống do loãng xương.
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm trang: Đặt vấn đề 02 trang; Tổng quan tài liệu 31 trang;
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21 trang; Kết quả nghiên cứu 38 trang;
Bàn luận 32 trang; Kết luận 02 trang; và kiến nghị 01 trang. Tài liệu tham khảo
với 10 tài liệu Tiếng Việt và 116 tài liệu tiếng Anh.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh
Ảnh hưởng của mãn kinh tới loãng xương liên quan trực tiếp từ sự suy
giảm nồng độ hormon sinh dục estrogen. Do đó, sau khi đạt mật độ xương đỉnh
thì xương bắt đầu mất theo thời gian, Tốc độ mất xương trung bình là 1 – 1,5%/
năm, tuy nhiên khoảng thời gian 5 -7 năm xung quanh thời gian mãn kinh tốc
độ mất xương là 10,5%/năm ở cột sống, 5,3% ở cổ xương đùi.
1.2. Gãy thân đốt sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh và một số
yếu tố ảnh hưởng
1.2.1. Gãy thân đốt sống (GTĐS) do loãng xương
Gãy thân đốt sống do loãng xương là trạng thái gãy xương siêu nhỏ
trong đốt sống hay gọi là gãy vi cấu trúc, gặp sau sang chấn tối thiểu (ngã từ độ
cao thấp hơn chiều cao cơ thể). GTĐS do loãng xương là biến chứng thường

