intTypePromotion=1

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Quản lý xây dựng: Quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
6
lượt xem
1
download

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Quản lý xây dựng: Quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP), góp phần thu hút hình thức đầu tư này cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt luận án Tiến sĩ Quản lý xây dựng: Quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng

  1. B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY D NG PHẠM THỊ TRANG QU N LÝ RỦI RO D ÁN ĐẦU TƯ XÂY D NG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC Đ I TÁC CÔNG TƯ (PPP) TẠI THÀNH PH ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Qu n lý xây d ng Mã s : 9.58.03.02 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Hà Nội - Năm 2019
  2. Công trình đư c hoàn thành t i trường Đ i học Xây dựng Người hướng dẫn khoa học 1: GS.TS. Nguyễn Huy Thanh Người hướng dẫn khoa học 2: PGS. TS. Phan Cao Thọ Phản biện 1: GS.TSKH. Nghiêm Văn Dĩnh Phản biện 2: PGS. TS. Ngô Thị Thanh Vân Phản biện 3: TS. Nguyễn Ph m Quang Tú Luận án sẽ đư c bảo vệ trước H i đồng chấm Luận án tiến sỹ cấp Trường họp t i trường Đ i học Xây dựng Vào hồi ................. ngày ........ tháng ......... năm ........ Có thể tìm đọc luận án t i Thư viện Quốc gia và Thư viện trường Đ i học Xây dựng.
  3. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngày nay, nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đang ngày càng tăng nhanh cả về quy mô, lĩnh vực với sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại, vững chắc, đồng bộ và đầy đủ ngày càng quan trọng, đóng góp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư của nền kinh tế cũng như cuộc sống của nhân dân. Tuy nhiên, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật lại đòi hỏi nguồn vốn khổng lồ, vượt quá khả năng của Nhà nước Do vậy, hình thức đối tác công tư đối với đầu tư phát triển nói chung, đặc biệt với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng được xem là một kênh huy động vốn chủ yếu trong tương lai, góp phần làm giảm được gánh nặng cũng như rủi ro đối với ngân sách Nhà nước. Đó là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước có được cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết phục vụ lợi ích công và phát triển kinh tế - xã hội Thực tế trong thời gian qua, việc huy động các nguồn vốn tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng đã được thực hiện nhiều công trình dưới hình thức hợp đồng chủ yếu là BT, xét về mặt phát triển lâu dài thì việc đầu tư các dự án theo hình thức BT sẽ không tồn tại bền vững khi quỹ đất trở nên ngày càng hạn chế. Trong khi đó, khung pháp lý cũng như cơ chế vẫn chưa khuyến khích được tư nhân cùng tham gia đầu tư vào lĩnh vực này do quá trình phê duyệt và cấp phép còn nhiều phức tạp, mức thu hồi vốn thấp, vai trò trách nhiệm của bên Nhà nước cũng như tư nhân còn thiếu rõ ràng, các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt với nhiều rủi ro. Chính những tác động không ổn định từ môi trường xung quanh và sự điều chỉnh nội tại của dự án dẫn đến phải thay đổi nhiều tiêu chí cơ bản được dự tính ban đầu và làm thay đổi hiệu quả của dự án. Đó chính là sự tồn tại của rủi ro đối với dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư tại thành phố Đà Nẵng. Do đó, nếu được triển khai thực hiện có hiệu quả, có giải pháp quản lý rủi ro hợp lý sẽ có khả năng giảm thiểu được rủi ro, đặc biệt trong các giai đoạn ban đầu có thể sàng lọc được các dự án không phù hợp và ưu tiên hơn vào các dự án chất lượng cao hơn, góp phần tạo động lực thúc đẩy hình thức PPP phát triển nhanh hơn. Hiện nay, tại Việt nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, vấn đề quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP chưa được quan tâm nghiên cứu, trong phạm vi sự hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP.
  4. 2 Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu lựa chọn đề tài: “Quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng” thuộc chuyên ngành Quản lý xây dựng là thực sự cần thiết nhằm góp phần giảm thiểu tác động của rủi ro đối với các dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng, qua đó tạo động lực để kích thích và thu hút các nhà đầu tư tiềm năng, góp phần vào sự nghiệp phát triển của thành phố Đà Nẵng nói riêng và của Việt Nam nói chung. 2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu. - Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP), góp phần thu hút hình thức đầu tư này cho sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng. - Mục tiêu nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án đặt ra các mục tiêu cần đạt được theo quá trình nghiên cứu như sau: (1) Phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu về hình thức đối tác công tư, về quản lý rủi ro trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP ở trong nước và ở nước ngoài nhằm xác định khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu của luận án (2) Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP (3) Khảo sát nhằm làm rõ thực trạng nhận thức về PPP, về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng (4) Đề xuất giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện công tác QLRR của DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng (5) Đề xuất nghiên cứu ứng dụng mô hình định lượng và ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng phần mềm hỗ trợ phân tích đánh giá rủi ro nhằm quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức đối tác công tư một cách có hiệu quả 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư của của Nhà nước - Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án là nghiên cứu thực trạng công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP) tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2009 đến năm 2018. Qua đó, đề xuất giải pháp phù hợp với định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
  5. 3 4. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Để giải quyết vấn đề cần nghiên cứu, luận án đã sử dụng các cơ sở khoa học sau: Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư (PPP). Dựa trên cơ sở lý luận, tác giả đã bổ sung và làm rõ các khái niệm, các quan điểm nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng,… đối với công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Cơ sở pháp lý: Đây là một cơ sở quan trọng làm căn cứ để tổ chức, triển khai, đánh giá công tác quản lý dự án nói chung và quản lý rủi ro nói riêng đối với dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Cơ sở thực tiễn: Thông qua thực tiễn nhu cầu về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP, thực tiễn nhận thức về PPP và thực triễn triển khai công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng, thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rủi ro, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng, qua đó đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro phù hợp của cơ quan Nhà nước trên cơ sở đảm bảo lợi ích kỳ vọng cho Nhà đầu tư. 5. Phương pháp nghiên cứu của luận án Ngoài các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, so sánh, luận án đã sử dụng chủ yếu hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng để xác định kết quả nghiên cứu. 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án. a. Ý nghĩa khoa học của luận án Trên cơ sở hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP, luận án đã phân tích thực trạng của việc nghiên cứu và triển khai hình thức PPP ở trong nước và ở ngoài nước; tiến hành điều tra khảo sát để xác định nhận thức, nhu cầu về đầu tư theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng, tìm hiểu nguyên nhân thất bại trong việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng, nhận dạng được những rủi ro thường hay xảy ra, đánh giá mức độ rủi ro, đề xuất phân bổ rủi ro hợp lý trên cơ sở đó xây dựng nhóm giải pháp và xây dựng phần mềm hỗ trợ để phân tích đánh giá rủi ro nhằm quản lý rủi ro có hiệu quả trong việc thực hiện các dự án PPP. Cung cấp tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, đào tạo trong các lĩnh vực liên quan. Trang bị cơ sở khoa học để giúp cho thành phố Đà Nẵng hiện thực hóa được việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP, thực hiện dự án PPP một cách có hiệu quả. b. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
  6. 4 Góp phần hoàn thiện thể chế về công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu, hoàn chỉnh công cụ phân tích đánh giá để quản lý rủi ro giúp cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra quyết sách đúng đắn nhờ tính chính xác của công nghệ thông tin. Địa chỉ áp dụng các đề xuất của luận án và chương trình phần mềm phân tích, đánh giá rủi ro: Các phòng Quản lý xây dựng thuộc các Sở Ban Ngành tại thành phố Đà Nẵng như sở Kế hoạch Đầu tư, sở Tài chính, Sở Xây dựng, v.v và các Nhà đầu tư dự án PPP 7. Những đóng góp mới của luận án Luận án kế thừa, tiếp thu nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài, trên cơ sở đó có bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của đối tượng nghiên cứu. Kết quả luận án có những đóng góp mới như sau: (1) Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP, cụ thể: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận: các nghiên cứu khoa học ở trong nước và ở nước ngoài về quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP; việc ứng dụng mô hình và ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ công tác quản lý rủi ro. - Bổ sung và làm rõ một số vấn đề sau: Vai trò của hình thức PPP đối với việc phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, vai trò của công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng, bổ sung và làm rõ một số khái niệm như: rủi ro, phân loại rủi ro, nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, phân bổ rủi ro,…, làm rõ phương pháp định tính và định lượng trong luận án, bổ sung và làm rõ quy trình quản lý rủi ro các dự án thực hiện theo hình thức PPP, bổ sung các trình tự triển khai thực hiện dự án PPP, làm rõ nhận thức của các chủ thể có liên quan đến hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng,… (2) Phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại Việt nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng thông qua phương pháp định tính như: thống kê, phân tích, đánh giá các số liệu báo cáo tại Việt nam và một số nước trên thế giới và thông qua phương pháp định lượng điều tra khảo sát (3) Đề xuất giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng thông qua việc nhận dạng rủi ro, phân loại rủi ro, phân tích rủi ro và kiểm soát rủi ro (4) Sử dụng công cụ SPSS.16 để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về PPP tại thành phố Đà Nẵng thông qua hệ số tin cậy Cronbach alpha, nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA), ma trận xoay
  7. 5 và kiểm định phân loại rủi ro, xếp hạng rủi ro, phân bổ rủi ro theo hệ số tin cậy Cronbach alpha (5) Nghiên cứu ứng dụng các mô hình phân tích định lượng, qua đó đề xuất xây dựng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích đánh giá rủi ro, hỗ trợ ra các quyết định nhanh chóng nhằm quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư hiệu quả 8. Kết cấu của luận án Kết cấu luận án gồm phần Mở đầu, 4 chương (Chương 1: 26 trang, chương 2: 25 trang, chương 3: 35 trang, chương 4: 36 trang), kết luận – kiến nghị, 17 bảng biểu, 27 Hình vẽ, đồ thị, mục lục được trình bày trên 150 trang khổ giấy A4 không kể phần phụ lục CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) 1.1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Hình thức PPP đã, đang và tiếp tục là mối quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới khi mà nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang là mối quan tâm của nhiều nước trên toàn cầu. Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP với những mục đích và mức độ khác nhau trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu tập trung vào 2 hướng chính, đó là nghiên cứu thực nghiệm (nghiên cứu sử dụng bằng chứng thực nghiệm thông qua việc quan sát hoặc kinh nghiệm trực tiếp và gián tiếp) và nghiên cứu phi thực nghiệm (nghiên cứu thông qua việc sử dụng các mô hình để phân tích và đánh giá các vấn đề), với 4 xu thế phổ biến: nghiên cứu nhân tố thành công của dự án PPP, nghiên cứu về mặt tài chính của dự án PPP, nghiên cứu rủi ro của dự án PPP và nghiên cứu thời gian chuyển nhượng của dự án PPP. Quản lý rủi ro cũng là vấn đề nghiên cứu đang được quan tâm trên thế giới. Các nghiên cứu trên thế giới đã phát triển được các mô hình nhằm quản lý rủi ro cho các dự án thực hiện theo hình thức PPP, mặt khác, hình thức PPP cũng đã được tiến hành nghiên cứu về nhận dạng rủi ro, phân tích rủi ro, phân bổ rủi ro, qua đó xây dựng các chiến lược giảm thiểu rủi ro phù hợp. Tất cả các nghiên cứu trên thế giới, bên cạnh việc phân tích, nhận dạng nhân tố thành công quan trọng của dự án cơ sở hạ tầng theo hình thức PPP nói chung và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng, một số nghiên cứu khác lại tập trung vào việc xây dựng mô hình để giải quyết các vấn đề trong quá trình thực hiện dự án PPP.
  8. 6 Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới phần lớn tập trung vào việc nghiên cứu hình thức PPP trong dư án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung, có ít các nghiên cứu liên quan đến dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng, do vậy nghiên cứu của luận án là thực sự rất cần thiết. 1.2. Tổng quan về các công trình nghiên cứu ở trong nước Qua các công trình nghiên cứu ở trong nước, tác giả nhận thấy rằng, hình thức PPP đã, đang và tiếp tục là mối quan tâm không chỉ ở ngoài nước mà còn là mối quan tâm của Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng khi mà nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đang ngày càng tăng cao. Hầu hết các nghiên cứu trong nước chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: + Nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về triển khai thực hiện hình thức PPP và rút ra bài học cho Việt Nam ([3], [4], [19], [32], [39]) + Nghiên cứu phân tích thực trạng để đưa ra đề xuất nhằm thúc đẩy hình thức PPP ([2], [15], [16], [17], [18], [31], [34]) + Nghiên cứu tổng hợp ở mức chuyên sâu thông qua việc phân tích thực trạng, tìm hiểu kinh nghiệm thế giới và đề xuất giải pháp triển khai thực hiện hình thức PPP tại Việt Nam ([14], [20], [26], [41]) Các nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro liên quan đến dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP rất ít được các tác giả quan tâm nghiên cứu ([30], [35], [72]) Như vậy, hầu hết các nghiên cứu trong nước đều nghiên cứu dựa trên nền tảng nghiên cứu các văn bản pháp quy hiện hành; một số khác lại nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận chung về hình thức đối tác công tư, nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước và ứng dụng vào Việt Nam. Chỉ có một số rất ít tác giả nghiên cứu việc nhận dạng rủi ro và phân bổ rủi ro nhưng chỉ tập trung vào dự án giao thông thực hiện theo hình thức PPP. Vấn đề quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu. Tại thành phố Đà Nẵng, hình thức PPP đã và đang được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước quan tâm và tham gia, đã thu hút được cả các nhà đầu tư tiềm năng và khó tính nhất trong khu vực. Tuy nhiên, điều đáng buồn là có rất nhiều dự án PPP vẫn chưa thực sự được triển khai vào thực tiễn và chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng. Từ thực tế này đòi hỏi thành phố Đà Nẵng cần có trách nhiệm, cần nỗ lực nhiều hơn nữa trong nghiên cứu ứng dụng và quản lý có hiệu quả các rủi ro của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP để sớm hiện thực hóa hình thức huy động vốn này vào đời sống hàng ngày.
  9. 7 1.3. Xác định khoảng trống nghiên cứu và những vấn đề cần đi sâu nghiên cứu Với tầm nhìn rộng, các nghiên cứu sẽ rất khó để xác định được các nhân tố quan trọng nhất để thực hiện dự án PPP thành công không phân biệt quốc gia, ngành, giai đoạn hay mô hình dự án. Các kết quả chính được xác định trong các nghiên cứu trước đây chỉ có thể được tóm tắt, kiểm tra và phân tích đầy đủ nhằm mở rộng sự hiểu biết về hình thức PPP không phân biệt quốc gia, giai đoạn dự án PPP, không phân biệt ngành và dự án, qua đó cung cấp phương pháp luận cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo của tác giả. Kế thừa và phát triển các tư tưởng và các kết quả của các nghiên cứu trước đây, luận án này sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng nhằm tạo động lực thúc đẩy dự án PPP phát triển. Các vấn đề mới cần được đi sâu nghiên cứu: (1) Phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu về hình thức đối tác công tư, về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở trong nước và ở nước ngoài. (2) Hệ thống hóa, làm rõ và bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn về hình thức đối tác công tư và về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP (3) Luận án cần lượng hóa mức độ tác động của các rủi ro và đề xuất phương án phân bổ rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP bằng phương pháp định tính và định lượng phù hợp với với thực tế tại thành phố Đà Nẵng. (4) Phân tích thực trạng công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng (5) Đề xuất giải pháp có tính khoa học và khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng thông qua việc nhận dạng rủi ro, phân loại rủi ro, phân tích rủi ro và kiểm soát rủi ro (6) Sử dụng công cụ SPSS.16 để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức về PPP tại thành phố Đà Nẵng, phân loại rủi ro, nhận dạng rủi ro, xếp hạng rủi ro, phân bổ rủi ro (7) Nghiên cứu ứng dụng các mô hình phân tích định lượng, qua đó đề xuất xây dựng phần mềm ứng dụng công nghệ thông tin để phân tích đánh giá rủi ro, hỗ trợ ra các quyết định nhanh chóng nhằm quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư hiệu quả
  10. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) 2.1. Cơ sở lý luận về cơ sở hạ tầng kỹ thuật 2.1.1. Khái niệm cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật chính là hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật bao gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác [28] Trong giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, cơ sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu gồm công trình giao thông, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, chiếu sáng công cộng và công trình khác như cảng liên chiểu, cảng cá,… ít quan tâm đến thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, nghĩa trang 2.1.2. Đặc điểm của cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có các đặc điểm sau: Tính xã hội; tính thống nhất, đồng bộ và tổng hợp; Tính phức tạp; Tính kinh tế; Tính thời gian và không gian; Tính an ninh và quốc phòng; tính hiện đại 2.1.3. Các thành phần của cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm các thành tố sau: Hệ thống công trình giao thông - vận tải; Hệ thống công trình cung cấp và xử lý nước dùng làm nước sinh hoạt, nước phục vụ sản xuất công nghiệp và mạng nước thải; Các hệ thống công trình quản lý vệ sinh và chất thải bao gồm việc giải quyết và hủy bỏ các loại rác độc hại; Hệ thống công trình phát triển và phân phối năng lượng dùng trong sinh hoạt và công nghiệp; Hệ thống công trình thông tin liên lạc từ các dịch vụ điện thoại đến thông tin viễn thông; hệ thống các công trình khác [28] 2.1.4. Vai trò của cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một công trình phức hợp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội, gắn chặt với đối tượng mà hệ thống phục vụ, là điều kiện để tiếp tục phát triển đô thị. 2.2. Cơ sở lý luận về hình thức đối tác công tư 2.2.1. Khái niệm hình thức đối tác công tư (PPP) Hình thức đối tác công tư là sự thỏa thuận hợp tác trên cơ sở hợp đồng dài hạn giữa Nhà nước và Khu vực tư nhân trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công nhằm mục đích tận dụng lợi thế, chia sẻ rủi ro và lợi ích hợp lý giữa các bên tham gia trong dự án.
  11. 9 2.2.3. Các loại hợp đồng dự án thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP) Hiện nay, tại Việt Nam và các nước trên thế giới, hình thức đối tác công tư (PPP) có 10 loại hợp đồng sau [11]: Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT); Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - vận hành (BTO); Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (BT); Hợp đồng xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO); Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL); Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (BLT); Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (O&M); Hợp đồng hỗn hợp; Hợp đồng nhượng quyền khai thác (Franchise); Hợp đồng thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành (DBFO) 2.2.4. Đặc điểm của hình thức đối tác công tư + PPP là một cam kết hợp tác lâu dài (khoảng 10-50 năm) + PPP tạo ra cơ chế năng động trong việc phân công hợp lý giữa các bên trong hợp đồng dự án PPP + Nên có sự phân biệt PPP với tư nhân hóa 2.2.5. Ưu điểm và nhược điểm của hình thức đối tác công tư 2.2.5.1. Ưu điểm của hình thức đối tác công tư + Nâng cao hiệu suất sử dụng nguồn lực + Cải thiện chất lượng tài sản và dịch vụ + Cải thiện về quản lý khu vực công + Cải thiện chung về mua sắm của khu vực công 2.2.5.2. Nhược điểm của hình thức đối tác công tư + Dự án PPP có khả năng yêu cầu về chi phí cao do các nhà đầu tư tư nhân kỳ vọng một suất sinh lợi cao hơn + Dự án PPP trong nhiều trường hợp có thể khiến khu vực Nhà nước mất quyền kiểm soát quản lý + Hình thức PPP tạo cơ hội để phát triển lợi ích nhóm trong khu vực Nhà nước, đây là rủi ro mang tính khách quan khó kiểm soát 2.3. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư 2.3.1. Khái niệm về quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư a. Khái niệm rủi ro Rủi ro là sự xuất hiện của các yếu tố ngẫu nhiên (bất trắc), là sự xuất hiện của các biến cố (các rủi ro) không chắc chắn của các dự án CSHTKT thực hiện theo hình thức PPP, làm thay đổi kết quả đầu ra của dự án theo hướng tiêu cực hoặc cơ hội và sự không chắc chắn (ngẫu nhiên) đó có thể đo lường được hoặc không thể đo lường được bằng lý thuyết xác suất. b. Khái niệm quản lý rủi ro Quản lý rủi ro là quá trình nhận dạng và phân loại được các rủi ro, đo lường để xác định mức độ rủi ro, phân bổ rủi ro hợp lý, qua đó đề xuất giải
  12. 10 pháp ứng phó rủi ro, và cuối cùng là kiểm soát rủi ro nhằm nhằm kiểm tra, giám sát, hiệu chỉnh các rủi ro một cách thường xuyên để giảm thiểu các rủi ro một cách hiệu quả, có hệ thống trong suốt vòng đời của một dự án, đồng thời góp phần tối đa hóa các cơ hội, giúp dự án đạt được mục tiêu kỳ vọng đã đặt ra. 2.3.2. Quy trình quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư Quy trình quản lý rủi ro là một trình tự logic gồm 4 bước chính: Nhận dạng và phân loại rủi ro; Phân tích, đánh giá rủi ro; Xử lý rủi ro (ứng phó rủi ro) thông qua việc phân bổ rủi ro phù hợp và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro hợp lý; Kiểm soát rủi ro. 2.3.3. Nội dung các bước của quy trình quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP a. Nhận dạng rủi ro (NDRR) và phân loại rủi ro (PLRR) * Nhận dạng rủi ro: Nhận dạng rủi ro là việc tìm, phát hiện, xác định, đánh giá ý nghĩa ban đầu một cách có hệ thống và liên tục các rủi ro có thể ảnh hưởng đến dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP và ghi nhận các đặc trưng của nó nhằm mục đích giảm thiểu các rủi ro một cách hiệu quả, có hệ thống trong suốt vòng đời của một dự án, góp phần tối đa hóa các cơ hội, giúp dự án đạt được mục tiêu kỳ vọng đã đặt ra. * Phân loại rủi ro: Phân loại rủi ro là sự phân chia, sắp xếp các rủi ro của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP theo một trật tự nhất định ở những cấp độ nhất định dựa vào những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữa chúng và tùy theo mục đích sử dụng trong phân tích các hoạt động kinh tế nhằm mục đích nhận diện các rủi ro rõ ràng, thuận lợi, không trùng lắp và không bỏ sót * Phân loại rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Tại Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, mặc dù không có sự thống nhất về việc phân loại, nhưng nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra một loạt các rủi ro có thể xác định được, qua đó phân chia rủi ro theo nhiều cách khác nhau. Trong luận án, trên cơ sở nét đặc trưng điển hình của dự án PPP chính là sự thỏa thuận hợp tác trên cơ sở hợp đồng dài hạn giữa hai đối tác là Nhà nước và Khu vực tư nhân, nên tác giả đã nghiên cứu và đề xuất 2 cách phân loại như sau: * Cách 1: Nhằm mục đích để quản lý rủi ro có hiệu quả theo phạm vi xuất hiện của rủi ro, tác giả đã phân loại rủi ro chung và rủi ro cụ thể thành 10 nhóm rủi ro được thể hiện thông qua Hình 2.2. * Cách 2: Nhằm mục đích để quản lý rủi ro có hiệu quả theo môi trường tác động của rủi ro, tác giả đã phân loại rủi ro thành 8 nhóm cụ thể
  13. 11 do môi trường bên trong và rủi ro do môi trường bên ngoài dự án gây ra được thể hiện thông qua Hình 2.3. b. Phân tích, đánh giá rủi ro (PTRR) Phân tích rủi ro là việc tính toán, đánh giá mức độ tác động của các rủi ro đến hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP thông qua việc sử dụng các phương pháp phân tích rủi ro và kỹ thuật đo lường. Quá trình phân tích rủi ro đồng nghĩa với việc tính toán khả năng xảy ra rủi ro và mức độ tác động của rủi ro (trọng số cho các rủi ro) đã xác định để phục vụ cho các hành động kế tiếp. c. Xử lý rủi ro Phân bổ rủi ro (PBRR): Phân bổ rủi ro là việc xác định rủi ro nào được phân bổ cho ai và phân bổ vào thời gian nào cho hợp lý, rủi ro nên được phân bổ cho bên có khả năng nhận dạng được rủi ro, kiểm soát tốt nhất các hậu quả của rủi ro và là bên có thể xử lý rủi ro đó tốt nhất và xử lý với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất. Ứng phó rủi ro: Là các hoạt động hợp lý để chuyển dịch các rủi ro sao cho có lợi cho sự thành công dự án và giảm thiểu các tác động tiêu cực của các mối đe dọa lên các mục tiêu dự án. Quá trình này nhằm mục đích xác định các hành động ứng phó hiệu quả phù hợp với dự án d. Kiểm soát rủi ro (KSRR) Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, chương trình hành động,… để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến với dự án. Đó là công việc then chốt, nối tất cả các kỹ thuật quản lý rủi ro của dự án lại với nhau nhằm sớm nhận dạng được những rủi ro xảy ra, phân tích đánh giá kịp thời các rủi ro và đề xuất giải pháp giảm thiểu rủi ro một cách hợp lý nhằm đảm bảo mục tiêu của dự án và nâng cao hiệu quả thực hiện dự án. 2.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Qua thực trạng triển khai hình thức PPP, tác giả nhận thấy rằng, nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng đã chưa thực sự triển khai có hiệu quả, nguyên nhân khách quan của vấn đề này là do công tác quản lý rủi ro còn nhiều hạn chế bởi dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố. Tiêu biểu có 5 nhân tố lớn ảnh hưởng đến quản lý rủi ro dự án PPP đó là: nhân tố xã hội, cơ chế chính sách, năng lực quản lý, công tác tuyên truyền phổ biến, quá trình triển khai dự án. Các nhân tố được tổng hợp thông qua Hình 2.4. Sự tác động của 5 nhân tố này làm ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý rủi ro của dự án PPP.
  14. 12 2.4. Thực tiễn quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam 2.4.1. Thực tiễn ở các nước trên thế giới Anh: Anh là một trong những quốc gia áp dụng hình thức PPP sớm nhất và đã có nhiều trải nghiệm để thành công trong việc thực hiện PPP. Vấn đề quản lý rủi ro đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu ở Anh, tiêu biểu là nghiên cứu của Li và cộng sự (2005b) [99]. Trung Quốc: Trung Quốc đã và đang quy hoạch đầu tư cho hệ thống giao thông đường bộ. Do đó nhu cầu về vốn đang ngày càng tăng nhanh. Vì thế, hình thức PPP là mô hình tối ưu để giải quyết bài toán về vốn cho dự án giao thông ở Trung Quốc. Để thực hiện có hiệu quả dự án PPP ở Trung Quốc, vấn đề quản lý rủi ro cũng là vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu có: Ke và Wang (2010a) [90]; Ke et al. (2010b) [91]. Ấn Độ: Nhận thức được các lợi ích của hình thức PPP từ những năm 1990 cho đến nay, Ấn Độ là quốc gia châu Á đã áp dụng PPP rộng rãi cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng. Công tác quản lý rủi ro đã được quan tâm và triển khai có hiệu quả trong các dự án PPP ở Ấn Độ. Tiêu biểu có: Rajkumar và cộng sự (2013) [122]; Rajkumar và cộng sự (2016) [123] Ở các nước phát triển như Albani, Bỉ, Ireland, Ý... hình thức PPP cũng được sử dụng trong nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và cung cấp dịch vụ công cộng. Quản lý rủi ro trong dự án cũng được quan tâm nghiên cứu, tiêu biểu có: N. Carbonara et al. (2015) [114] 2.4.2. Thực tiễn ở Việt Nam Nhu cầu vốn đầu tư xây dựng CSHT đang ngày càng tăng nhanh. Thực trạng đó dẫn tới yêu cầu về một kế hoạch tổng thể với tầm nhìn và mục tiêu dài hạn cho chương trình PPP. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, công tác quản lý rủi ro chưa thực sự được triển khai nghiên cứu tại Việt nam. Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới nghiên cứu nhận dạng và phân bổ rủi ro cũng như đề xuất giải pháp tổng thể cho các dự án PPP trong phát triển giao thông ([30], [72]), chưa có nghiên cứu nào liên quan đến quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng CSHTKT theo hình thức PPP. Công tác quản lý rủi ro nói chung còn bị động, chỉ quản lý khi xảy ra rủi ro chứ không có kế hoạch nhận dạng và ứng phó rủi ro ngay từ khi bắt đầu dự án. 2.4.3. Thực tiễn hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về hình thức PPP tại Việt Nam 2.4.3.1. Hệ thống văn bản luật về hình thức PPP Hiện nay, trong khung pháp luật điều chỉnh hình thức PPP tại Việt Nam, có các văn bản có tính pháp lý cao nhất sau: Luật đầu tư số 67/2014/QH13, Luật đấu thầu số 43/2013/QH13, Luật xây dựng số
  15. 13 50/2014/QH13; Luật đầu tư công 49/2014/QH13; Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13; Luật ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13 2.4.3.2. Hệ thống văn bản dưới luật về hình thức PPP Hệ thống Nghị định liên quan đến hình thức đối tác công tư đã không ngừng được nghiên cứu, cải tiến và hoàn thiện qua các giai đoạn sau: Nghị định 108/2009/NĐ – CP; Quyết định 71/2010/QĐ- TTg; Nghị định 15/2015/NĐ – CP; Nghị định 63/2018/NĐ – CP Nhìn chung, những điểm mới của Nghị định 63/2018/NĐ - CP chủ yếu hướng đến hoặc xoay quanh chủ thể là Nhà nước. Về phía nhà đầu tư và người sử dụng, không có thêm quy định quyền lợi, nghĩa vụ gì khác đáng kể so với nghị định cũ, ngoài việc một số nội dung được trình bày đầy đủ, rõ ràng, chặt chẽ và theo một trình tự hợp lý hơn, tạo cảm giác minh bạch hơn, tuy sự minh bạch về thông tin dự án lại không bị bắt buộc. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 3.1. Thực trạng triển khai dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật hình thức đối tác công tư tại thành phố Đà Nẵng 3.1.1. Thực trạng nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP Thực trạng ở Bảng 3.1 cho thấy nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nói chung và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nói riêng đang ngày càng tăng, trong khi đó nguồn vốn từ Ngân sách Trung ương lại hạn chế, nhu cầu vốn vay nước ngoài ngày càng nhiều. Hình thức PPP chính là giải pháp hiệu quả cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng. Trong bối cảnh nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật thành phố rất lớn trong khi nguồn ngân sách lại có giới hạn, nếu tất cả các dự án đầu tư của thành phố đều sử dụng 100% vốn ngân sách thì sẽ không có đủ nguồn lực; còn nếu chỉ có nhà đầu tư tư nhân làm dự án mà không có sự tham gia của Nhà nước thì mức độ rủi ro sẽ cao hơn. Chính vì thế, hình thức PPP là phương thức tốt, là công cụ hữu hiệu để huy động nguồn vốn cho phát triển trong bối cảnh hiện nay 3.1.2. Thực trạng triển khai hình thức PPP + Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, hình thức PPP đã được triển khai trong một thời gian tương đối dài, từ năm 2009 đến nay. + Trong tổ số 42 dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng chỉ có 15 dự án đã được triển khai hoàn thành hoặc đang thực hiện, còn lại 27 dự án đang chưa được triển khai. Hầu hết các dự án đã hoàn thành và dự án đang thực hiện chủ yếu được thực
  16. 14 hiện theo hình thức hợp đồng BT thông qua phương thức đổi đất để lấy dự án. + Do vậy, Đà Nẵng cần có giải pháp và chính sách nhằm khuyến khích dự án PPP thực hiện đa dạng hơn với nhiều hình thức hợp đồng khác nhau nhằm khắc phục tình trạng cạn kiệt quỹ đất trong tương lai của thành phố. 3.2. Thực trạng nhận thức về hình thức PPP trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng Một nghiên cứu định lượng thực trạng nhận thức về hình thức PPP, nhận thức về rủi ro và quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP đã được thực hiện tại thành phố Đà Nẵng thông qua việc khảo sát 200 chủ thể kết hợp khảo sát 24 chuyên gia thuộc các bên có liên quan đến dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng do tác giả thực hiện. PPP trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng được xem là hình thức đầu tư rất quan trọng, hiện đang có nhu cầu biết và đầu tư khá cao. Tuy nhiên nhận thức về PPP tại Đà Nẵng trong đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật lại còn rất hạn chế: hầu hết đối tượng khảo sát mới chỉ nhận thức được đúng khái niệm về PPP (172 đối tượng nhận thức đúng khái niệm), hầu hết chỉ biết 3 hình thức hợp đồng chủ yếu của PPP là BT, BOT và BTO; 142 đối tượng cho rằng hiệu quả kinh tế xã hội là yếu tố quan trọng nhất trong dự án PPP, 92 đối tượng xem hiệu quả tài chính quan trọng thứ 2; chỉ có 34 đối tượng biết nhiều các văn bản về PPP; Nhận thức về rủi ro và quản lý rủi ro cũng còn nhiều hạn chế. Chỉ có 31 đối tượng biết đến rủi ro trong dự án PPP; hầu hết chuyên gia khảo sát đều cho rằng rủi ro chỉ được xác định khi dự án có gặp vấn đề về rủi ro, rủi ro xuất hiện ở giai đoạn do bên nào quản lý thì bên đó chịu trách nhiệm xử lý, phần lớn các rủi ro không được dự tính trước và không được phân bổ ngay từ đầu, tất cả các dự án BT thì hầu như rủi ro đều phân bổ cho Nhà đầu tư. Chỉ có 45 đối tượng quan tâm và biết đến vấn đề chia sẻ rủi ro trong quá trình thực hiện dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng Qua kết quả khảo sát, tác giả nhận thấy, thực trạng nhận thức về hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng là nguyên nhân khách quan khiến cho nhận thức về rủi ro, quản lý rủi ro tại thành phố Đà Nẵng trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP còn nhiều hạn chế, bị động. Đó chính là nguyên nhân khiến cho rất nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng thực hiện không hiệu quả và nhiều dự án hiện chưa được triển khai và hiện thực hóa được trong thực tế.
  17. 15 3.3. Thực trạng công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư tại thành phố Đà Nẵng 3.3.1. Trình tự nghiên cứu chung: Một nghiên cứu thực trạng về công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP đã được thực hiện tại thành phố Đà Nẵng thông qua các bước sau: Bước 1: Nghiên cứu các công trình thực tế đã và đang triển khai tại thành phố Đà Nẵng Bước 2: Nghiên cứu định tính thông qua các tài liệu có liên quan ở trong nước và ở nước ngoài Bước 3: Nghiên cứu định lượng thông qua khảo sát 24 chuyên gia thuộc các bên có liên quan đến dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng do tác giả thực hiện. 3.3.2. Thực trạng nhận dạng và phân loại rủi ro Trên cơ sở nghiên cứu thực tế qua các dự án PPP tại thành phố Đà Nẵng, tác giả đã tổng hợp được danh mục gồm 41 rủi ro, kết hợp nghiên cứu ở trong và ngoài nước thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu có liên quan, tác giả bước đầu đã nhận dạng được 59 rủi ro của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó, thông qua khảo sát trực tiếp từ các chuyên gia, với việc thiết lập các giả thuyết và kiểm định giả thuyết trong nghiên cứu định lượng đã được tác giả thực hiện, kết quả đã nhận dạng được 59 rủi ro của dự án PPP trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại thành phố Đà Nẵng, qua đó phân loại thành 10 nhóm theo phạm vi xuất hiện của rủi ro và phân loại thành 8 nhóm quả theo môi trường tác động của rủi ro Danh mục các rủi ro đã được tổng hợp và khái quát hóa thành khái niệm thông qua Phụ lục 16 (Trang PL92) 3.3.3. Thực trạng phân tích, xếp hạng rủi ro a. Thực trạng phân tích, xếp hạng rủi ro trong trường hợp phân loại rủi ro theo phạm vị xuất hiện của rủi ro Nhằm mục đích để quản lý rủi ro có hiệu quả theo phạm vi xuất hiện của rủi ro, tác giả đã phân loại rủi ro chung và rủi ro cụ thể thành 10 nhóm rủi ro được thể hiện thông qua Hình 2.2. Kết quả xếp hạng mức độ tác động của các nhóm rủi ro của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng được thể hiện thông qua Bảng 3.6 b. Thực trạng phân tích, xếp hạng rủi ro trong trường hợp phân loại rủi ro theo môi trường tác động của rủi ro Nhằm mục đích để quản lý rủi ro có hiệu quả theo môi trường tác động của rủi ro, tác giả đã phân loại rủi ro thành 8 nhóm cụ thể do môi
  18. 16 trường bên trong và rủi ro do môi trường bên ngoài dự án gây ra được thể hiện thông qua Hình 2.3 Kết quả xếp hạng mức độ tác động của các nhóm rủi ro của dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng được thể hiện thông qua Bảng 3.7 3.3.4. Thực trạng phân bổ rủi ro Trên cơ sở khảo sát trực tiếp 24 chuyên gia đã từng thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng. Thông qua phần mềm SPSS.16, tác giả đã phân tích, tính toán, kiểm tra tính nhất quán trong đánh giá của các chuyên gia, tác giả đề xuất giải pháp phân bổ rủi ro cho Nhà nước và Nhà đầu tư hoặc phân bổ cho hai bên Một cuộc điều tra khảo sát chuyên gia đã được tiến hành để tìm hiểu các ưu tiên trong phân bổ rủi ro của các bên có liên quan trong dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng. Phân tích số liệu phản hồi cho thấy: Rủi ro nên được phân bổ tốt nhất (phân bổ chuẩn) cho Nhà nước 6 rủi ro, cho nhà đầu tư 27 rủi ro và cho cả hai bên là 26 rủi ro. Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 2 rủi ro chiếm 3,39% được phân bổ cho khu vực Nhà nước, 38 rủi ro chiếm 64,41% được phân bổ cho hai bên và 19 rủi ro chiếm 32,20% được phân bổ cho nhà đầu tư. Như vậy, hầu hết các rủi ro được phân bổ cho hai bên cùng gánh chịu khi xảy ra rủi ro, Nhà nước chỉ gánh chịu rất ít các rủi ro. Kết quả phân bổ được thể hiện tổng hợp trong Bảng 3.8. 3.3.5. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý rủi ro dự án PPP Trên thế giới: + Đã có nhiều nghiên cứu tập trung vào việc phát triển mô hình định lượng để giải quyết các vấn đề khác nhau trong quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP. + Phần lớn các nghiên cứu đó chỉ dừng lại ở việc thiết lập phần mềm chỉ ứng dụng từng mô hình riêng lẽ để giải quyết từng vấn đề nảy sinh trong công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng theo hình thức PPP Tại Việt Nam: + Chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng tích hợp nhiều mô hình định lượng để giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong quản lý rủi ro của dự án PPP, không có nghiên cứu nào ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng phần mềm tích hợp nhiều mô hình để giải quyết nhiều vấn đề về phân tích đánh giá rủi ro trong quản lý rủi ro của dự án PPP. + Các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết mô hình và ứng dụng công cụ bằng tay để giải quyết mô hình, không có nghiên cứu
  19. 17 ứng dụng công nghệ thông tin nào trong phân tích rủi ro nhằm quản lý rủi ro hiệu quả trong dự án PPP 3.3.6. Nguyên nhân gây ra rủi ro cho dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng Qua số liệu phân tích thực trạng triển khai thực hiện dự án PPP nói chung và quản lý rủi ro DAĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP nói riêng tại thành phố Đà Nẵng, có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro cho dự án ĐTXD CSHTKT theo hình thức PPP khiến cho nhiều dự án PPP triển khai thực hiện không hiệu quả. 3.3.7. Đánh giá thực trạng công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP tại thành phố Đà Nẵng Công tác quản lý rủi ro chưa được quan tâm đúng mức; quá trình phân bổ rủi ro thường được xác định khi dự án có vấn đề, rủi ro xuất hiện ở giai đoạn do bên nào quản lý thì bên đó chịu trách nhiệm xử lý, chưa có cơ chế nhận dạng rủi ro và phân bổ rủi ro ngay từ đầu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong phân tích đánh giá nhằm quản lý rủi ro ít được quan tâm nghiên cứu. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ RỦI RO DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KỸ THUẬT THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 4.1. Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 4.1.1. Định hướng phát triển của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Định hướng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 của thành phố Đà Nẵng là “ Đà Nẵng phấn đấu trở thành thành phố xanh, hiện đại - thông minh, mang tính toàn cầu và có bản sắc, với các đặc trưng: Thành phố xanh; thành phố hiện đại - thông minh: có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cơ chế quản lý hiện đại, ứng dụng các công nghệ hiện đại trên nền tảng cách mạng công nghiệp 4.0; thành phố toàn cầu: có khả năng và sức hút kết nối toàn cầu; thành phố có bản sắc riêng: đáng sống và đáng nhớ”. 4.1.2. Mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Trên cơ sở định hướng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, thành phố Đà Nẵng đặt ra mục tiêu: Phát triển kinh tế, xã hội phù hợp với định hướng phát triển của toàn vùng, của đất nước; thật sự là trung tâm kinh tế lớn và là một khu vực tăng trưởng mạnh của vùng duyên hải miền trung - Tây Nguyên
  20. 18 4.2. Định hướng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư tại thành phố Đà Nẵng Giải pháp phải thỏa mãn 2 tiêu chí sau: Thứ nhất, phải đáp ứng được sự cân bằng lợi ích cho cả hai phía công và tư trong khống chế và kiểm soát rủi ro. Thứ hai, phải rõ ràng, minh bạch, khả thi và có hiệu quả cao theo mục tiêu của dự án. Giải pháp bên cạnh góp phần giảm thiểu rủi ro theo hướng chiến lược, tổng thể, còn góp phần đề xuất giải pháp theo hướng chi tiết, cụ thể hóa trên cơ sở căn cứ vào từng nguyên nhân gây nên rủi ro và từng nhân tố gây nên rủi ro 4.3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư tại thành phố Đà Nẵng 4.3.1. Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hình thức đối tác công tư 4.3.1.1. Bổ sung đầy đủ, đồng bộ và thống nhất văn bản pháp luật Theo giải pháp này, tác giả đề xuất cần thiết phải xây dựng một hệ thống luật về PPP, hệ thống văn bản pháp luật liên quan khác cũng cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung vào thời điểm thích hợp 4.3.1.2. Bổ sung, hoàn thiện Nghị định 63/2018/ NĐ - CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư Theo giải pháp này, tác giả đề xuất cần thiết phải hoàn thiện Nghị định 63/2018/NĐ-CP thay cho Nghị định 15/2015/NĐ-CP thông qua việc bổ sung một số vấn đề có liên quan 4.3.2. Giải pháp tổ chức thực hiện công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức đối tác công tư 4.3.2.1. Thực trạng bộ máy quản lý quản lý rủi ro dự án PPP Theo giải pháp này, tác giả đề xuất việc cần thiết phải thành lập một bộ máy quản lý dự án PPP chuyên nghiệp, bổ sung hoàn thiện bộ máy quản lý hiện có thông qua việc bổ sung thêm nguồn lực có kinh nghiệm thực hiện dự án PPP. 4.3.2.2. Thành lập bộ phận nghiệp vụ chuyên quản lý rủi ro dự án PPP Đối với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền: Cần thiết phải thành lập bộ phận nghiệp vụ chuyên quản lý rủi ro cho từng dự án PPP trong dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Đối với Nhà nước: Cần có một cơ quan liên ngành chuyên trách có sự tham gia của từng bộ, ngành chuyên môn có liên quan Để thực hiện tốt công tác quản lý rủi ro dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hình thức PPP, cần tập trung thực hiện tốt các nội dung công việc tổ chức quản lý rủi ro
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2