
Trường ca Thu Bồn - Thể
loại và cấu trúc
Ba dan khát cấu trúc gồm 9 phần nhưmột kịch bản phim tập trung vào ba cảnh chính:
Tây Nguyên thời quá khứ, Tây Nguyên thời chiến và Tây Nguyên thời bình. Để nổi bật
lên ba cảnh chính, trong 9 phầnđược chia theo tiêu đề của trường ca, ngòi bút của nhà
thơcứ“lia” như ống kính lia đi rất nhanh theo cảnh, lúc toàn cảnh (viễn cảnh), lúc trung
cảnh và lúc cận cảnh. Phần mở đầu (không có nhan đề) là toàn cảnh Tây Nguyên được
mở đầu y hệt cách mở đầu của một kịch bảnđiệnảnh thực thụ(tất nhiên, đây là một
trường ca viết bằng thơcho nên không thểkhông có những đoạn cảm xúc của
thơ): “phía Tây/ ngọn Chưgiangxin/ nơi ngọn núi vói trời/ khoảng cách ấy tưởng đưa tay
là níu được/ đỉnh Ngọc Linh những cánh chim ngang ngược/... lại tìm về/ những nhà
rông nhưnhững lưỡi rìu/ những cây nêu trụcờmới mọc/ những mái nhà lợp vội/ cửa
ngõ còn để ngỏtới tương lai/ không liếp vách chẳng then cài”... Cứthế,“ống kính thơ”
lia đi theo một tưduy thơrất nhanh của lối chuyển cảnh điệnảnh. Sau cú “lia” toàn cảnh,
“ống kính thơ” dồn dần vềtrung cảnh: “những đám cỏtranh/ còn bom mìn rắn rết/
những cây già nua mỏi mệt/ mỗi lần buông tay/ làm nát cảkhúc đường/ những gỗhèn
ôm chặt những dây vươn/ nơi tửthủcủa những loài chồn cáo”... Sau khi thểhiện toàn
cảnh Tây Nguyên sau chiến tranh, tác giảtập trung để “quay” cận cảnh chân dung nhân
vật chính để chuyển qua phần hai, có tên “Vịtướng”. Đó là “cây trắc bách/ tôi đã gặp
trên đường/ chân lội suối/ gậy cầm tay chỉlối/ ông đi vềnhững hốc núi âm u”... “Vị
tướng” đang cùng toàn quân khai hoang vùng đất mới, bỗng “ống kính thơ” lia vềhồi
tưởng quá khứchiến tranh: “trận mùa khô đánh Mỹ/ quân ta thiếu cơm thiếu súng thiếu
cảngười/ vịtướng đến tay cầm chiếc cọc/ bằng gỗrừng đẽo gọt tinh tươm”. Tiếp theo là
lời thoại của “vịtướng” trướcđoàn quân: “- Hỡi chiến sĩ/ hãy lấy cây rừng thay chiếc
xẻng tấn công”. Rời “vịtướng”, “ống kính thơ” tiếp tục lia vềphía quần chúng: “bao cô
gái đang ngồi nói chuyện râm ran/ những cô gái Thái Bình Xêđăng Xêtrá/ một cô gái là

Hà đương xem thưngười yêu gởi/ tờgiấy xanh và mắt cô vời vợi/ bức thưtình của vùng
đáy trời xanh”... Đến phần ba, có tên “Taman lửa”, “ống kính thơ” lại quay vềhồiức
Tây Nguyên xưa với câu chuyện tình bi tráng đẫm chất sửthi giữa người con gái Giarai
(Rơchămpa) và chàng con trai Bana (Kônghơrin) trong mối thù của hai làng và hai dân
tộc. Một "cảnh phim thơ" vừa trữtình lãng mạn, vừa bi tráng. Có thểnói, đây là những
thước phim đẹpđậm dấuấn Tây Nguyên quá khứ:“vách núi càng cao hốcàng sâu
thẳm/ bên kia bờthoai thoải chạy dài/ vó ngựa ném lên trời bụiđỏ/đến bờsông ngựađi
nước nhỏ/ người ngồi trên lưng ngựa là Kônghơrin/ giọng hát buồn tay nới lỏng dây
cương/ con ngựa cúi đầu ngoạm miếng cỏsương/ ngựa vừađi vừa nhơi theo điệu hát”.
Cảnh phim đang quay lờiđối thoại tình yêu giữađôi trai gái, bỗng lập tức chuyển
cảnh: “tiếng tù và bên vách núi bỗng vang lên/ báo hiệu những giáo gươm trong im lặng
ngủquên/ tiếng binh khí chạm nhau/ tiếng chân người thình thịch/ có kẻthù lẻn sang
sông/ lệnh truyền ra truy kích/ kẻthù là đôi trai gái yêu nhau”... Tiếp theo là sănđuổi
hằn thù của tên chủlàng người Giarai. Rơchămpa bịlàng bắt khi đã mang thai, và đây là
đoạnđối thoạiđầy chấtđiệnảnh:
“- a! con điên/ tên chủlàng gầm thét/ - thảcon chim săn ra cho nó biết/ thếnào là
mỏnhọn chim ưng/ xé trái tim nó ra bằng móng vuốt chim rừng/ và hãy xua bầy chó/ theo
vết thằng con trai/
Rơchampa:/ - khỏi phải mất công/ cứnhìn máu trên bầu vú ta đã đổ/ các người sẽ
thấy Kônghơrin/...
chủlàng:/ - Tao sẽbỏmày nhưbỏcon sên/ vào bột thuốcđể cho mày cựa quậy/
Rơchămpa:/ - Nhưng đứa con trong bụng ta sẽthấy/ mặt trời tàn trên đồng cỏxanh
tươi... Nhưsợkéo dài cảnh cũ, trường ca chuyển sang phần bốn cũng rấtđột ngột: “Bọn da
trắng đến”. Ởphần này, đầu tiên, “ống kính thơ” quay toàn cảnh vềsựxuất hiện của “bọn
da trắng” ởTây Nguyên và tội ác của chúng với dân làng. Và dường như để cảnh của phần
này nối mạch cùng cảnh trước, Thu Bồn lại nối tiếp bằng câu chuyện tình của Rơchăm
cùng với chàng trai Bana tên là Kônghơrú (bạn trai của Rơlăng - con của nàng Rơchămpa
ởphần trướcđang cùng làm thuê ở đồnđiền bọn da trắng). Câu chuyện tình cũng đầy chất
bi tráng Tây Nguyên xưa. Lúc miêu tảviễn cảnh, lúc trung cảnh, lúc cận cảnh, cứthế,
trường ca tiến triển nhanh nhưnhững thước phim hình. Những câu thơnhư được chém
ngắn ra để theo cho kịp“ống kính” quay cảnh: “bóng ngựa/ bóng người/ bóng núi lồng
lộn/ xuống đồi/ lên đường/ chặnđón/ ngựa sủi bọn mồm/ nai cũng ngã lăn”... Phần bốn

khép lại một chuyện tình buồn khi Kônghơrú và Rơchăm bịchủ đồnđiền bắtđược. Anh
đã lao xuống vực sâu còn Rơchăm bịbọn chúng “trói trên lưng ngựađịu vềlàng”. Phần
năm có tên: “Đồnđiền và thành phố” cũng được mở đầu bằng toàn cảnh các đồnđiền và
thành phốmọc lên trên đất Ba dan, sau đó,“ống kính thơ” lia vềtrung cảnh đồnđiền của
bá tướcĐenphăng. Rồi nhưsợmất chất sửthi, ống kính lại lia vềquay cận cảnh những
chiến tích thời hiệnđại của Tây Nguyên với“Kapa Kơlơng/ mười sáu tuổi giết trăm tên
giặc/ tiếng bom Ngô Mây và anh hùng Núp”. Cảnh phim quay lại thời bình gồm bốn phần
cuối, có tên: “Đi vềphương Nam”, “Ông - già - nước”, “Xích đạo” và “Vịtướng”.
Tương tựnhưthế, trường ca Oran 76 ngọncấu trúc gồm 22 phần ngắn. Ngoài
phần mở đầu (không có nhan đề) mang tính chất tạo không khí thẩm mỹcho kịch bản
phim và phần cuốiVĩthanh buồn(được viết sau khi kết thúc trường ca đã gần 10 năm)
đậm cảm xúc thơcủa một trường ca, 20 phần còn lại với 20 nhan đề cụthểlà 20 cảnh
phim ngắnđược chuyển rất nhanh theo lốiđiệnảnh. Các cảnh có thểvừa tiếp nối nhau
vừađứtđoạn theo lối cấu trúc truyện phim hiệnđại. Song nhìn trên tổng thể, lôgic câu
chuyện vẫnđược ngườiđọc, người xem nối kết thành một chuỗi dài vềcuộc chiến tranh
giải phóng của những người lính Campuchia cùng những tình nguyện quân Việt Nam
trong cuộc chiến chống chế độ độc tài Pônpốt. Trong đó, có một vài cảnh, dường nhưsợ
thơsẽkéo dài không theo kịp tốcđộ điệnảnh, tác giả đã mào đầu bằng nhiềuđoạn văn
xuôi giải thích. Ví dụnhư ở phần 20 Ổquỷ:“câu chuyệnđau lòng nhưng tôi phải kể”...
Bên cạnh đó, bàng bạc trong trường ca là những đoạn thơ, câu thơngắn gọn chứađầy
hình ảnh củađiệnảnh: “chúng tôi đi bằng cảhai tay/ bò qua mắt một binh đoàn địch/ bò
qua bãi mìn mo/ bò qua sựdối lừa của muôn cái chết/ bò qua rắn rết/ bò qua cỏmay/ bò
qua mồhôi rách nát hai cùi tay/ bò nhưthểmình chưa bao giờ đứng dậy/ XôRiLa đã kiệt
sức rồi”...
SởdĩThu Bồn dám dựa vào thủpháp điệnảnh để cấu trúc trường ca là bởi giữa nó
và cái “khoảng trống” của thơrất gần nhau. “Bước thơ” đầy “khoảng lặng”, “khoảng
trắng” của tưduy thơhiệnđại rất phù hợp với bước chuyển hình trong điệnảnh. Vì ta
biết, vớiđiệnảnh, trung bình mỗi phút, ống kính có thểlia đi thu đượcđến khoảng trên
dưới 50 hình ảnh. Và nhưvậy, chỉcó "bước nhảy" kiểu tưduy thơhiệnđại mớiđápứng
được nhịpđi của hình ảnh phim. Cho nên, có thểnói rằng, việc tìm tòi cấu trúc trường ca
theo môtip củađiệnảnh cũng là sựgặp nhau giữa phong cách thơThu Bồn và nghệthuật
điệnảnh.
Cấu trúc kiểu kịch

Nhưta đã biết, kịch là "nghệthuật dùng sân khấu thểhiện hành động và đối thoại
của nhân vật nhằm phản ánh xung đột của xã hội"(7). Trong kịch, gồm có hai loại: kịch đối
thoại và kịch độc thoại. Tất nhiên, đối với trường ca, cấu trúc kịch chủyếu thểhiệnởdạng
kịch bản văn học mà cụthểlà kịch bản văn họcđược viết bằng thơ.Ởtrường ca Thu Bồn,
chúng ta dễdàng nhận ra hai loại kịch này được tác giảvận dụng khá rõ trong cấu trúc
trường ca của mình. Trường ca có dạng cấu trúc theo kiểu kịch rõ nhất là Vách đá HồChí
Minhđược thu Bồn viết năm 1970 (ngay sau Bài ca chim Chơrao bảy năm). Sau 50 câu
thơmở đầu mang tính chất dẫn truyệnđể tạo không khí, chúng ta gặp ngay cấu trúc kịch
thông qua lờiđối thoại giữa hai nhân vật chính là Dy MơThưng và Dang Nghi A. Tính
kịch còn thểhiện rất rõ ởnhững câu trong ngoặcđơn (...) mà tác giảkịch bản thường chua
vào sau tên nhân vậtđể diễn viên biểu hiện lời thoại của mình:
“Dy MơThưng:/ - Dang Nghi A ơi! (Tiếng cô gái reo nhưcon chim hót)/ Kìa nhìn
xem/ Vách đá có tên, người cảnước ta đều yêu mến/
Dang Nghi A:/ - Trong rừng có câu lim cấy sến/ Ngọn gió chờn vờnởdưới vực sâu/
Dòng chữkia anh chẳng biếtđâu/ Anh chẳng bao giờvới tới cánh chim ưng”...
Tiếp theo là sựxuất hiện và lời thoại của nhân vật tên lính Mỹvới ông già tóc
trắng (cha của Dy MơThưng) và chàng trai I Dót. I Dót và ông già tóc trắng không
chịu leo lên vách đá để xóa dòng chữ“HồChí Minh muôn năm” nên hành động kịch đã
diễn ra theo hành động và lời thoạiđược Thu Bồn ghi rất rõ cho nhân vật “diễn”: “Tên
Mỹmắt xanh (bắn anh trai làng gục xuống)” - tiếp mộtđoạn thoại... Rồi: “Tên Mỹmắt
xanh (Bắn ông già tửthương)” - ghi sau lời thoại... Rồi“Dang Nghi A (gụcđầu suy
nghĩ)” - tiếp lời thoại... “Chim ưng (đập cánh)” - tiếp lời thoại... “Dy MơThưng (ôm
xác cha)” - tiếp lời thoại... rồi “Ông già tóc trắng (chụp tay con lại)” - tiếp lời thoại...
Liên tục nhưthế, hành động kịch đã đẩy câu chuyệnđến kịch tính cuối cùng và mở
nút ởhồi kết: sau loạt nổtiểu liên, Dang Nghi A rơi xuống từvách đá và dòng chữnhư
tiếng vọng vang cảnúi rừng: “HồChí Minh muôn năm” làm hiệu lệnh để dân làng xông ra
giết giặc. Chuyện kịch kết thúc, song vì là trường ca nên Thu Bồnđã thêm phía sau mộtVĩ
thanhđể bộc lộcái tôi trữtình thơvềcâu chuyện.
Trong trường ca Người gồng gánh phương Đông (1972) sau phầnTựkhúc ngắn
ngủi (chỉ9 câu thơ), cấu trúc kịch bắtđầu xuất hiện qua lờiđốiđáp giữa “Chim lạc và
cô gái” đẫm chất sửthi huyền thoại. Ởtrường ca này, Thu Bồn không còn sửdụng
dạng kịch bản văn học thông qua những câu mởngoặcđơn (...) miêu tảnhân vật như

ởVách đá HồChí Minh mà cấu trúc lời thoại trực tiếp theo lối kịch thơthông qua các
gạch đầu dòng (-) cho từng nhân vật. Đặc biệt là ngôn ngữmiêu tả đặcđiểm và hành
động nhân vậtđược tác giảsửdụng nhiều làm thành yếu tốnổi trội của kịch bản. Cứ
nhưthế, hành động kịch phát triển kéo dài bằng mâu thuẫn giữa hai phe thiện và ác,
bóng tối và ánh sáng, để cuối cùng là trận giáp chiến giữa vợchồng "Ông Bão Táp" và
"chàng chim Lạc". Ánh sáng thắng bóng tốiđể hình thành nên non nước Việt
Nam: "lão cắn chàng trai đứt một ngón tay/ cắpđôi cánh hoàng hôn lão chạy nhưbay/
bỏmụhoang vu lõa lồphơi xác/ thời gian gió mưa rữa nát/ thành loài sên U Minh/ từ
ngón tay chàng trai máu ứa những dòng kinh/ còn lại chín ngón tay xòe ra vô tận/
thành chín nhánh Cửu Long sờvào ngực biểnĐông".
Cũng tương tựnhưthế, trong trường ca đồ sộnhất (vềhình thức) của mình (gần
1500 câu thơvà 25 đoạn thơ)Campuchia hi vọng (1978), Thu Bồnđã cấu trúc một cách
tổng hợp (cảthơ, văn xuôi, điệnảnh và kịch) với nhiều phần, nhiều mụcđầy kịch tính:
“- Mày là đồ phản bội! – Omal kêu lên đau đớn
- Thời buổi bây giờlàm gì có chuyện trung thành - Bơrốc cười gằn - Phản bội cái
này tức là trung thành với cái khác”.
Ngoài việcđưa yếu tốkịch đối thoại vào cấu trúc trường ca, Thu Bồn cũng đã sử
dụng cảyếu tốkịch độc thoại. Độc thoại cũng là đối thoại với nhân vật, với chính mình
và với cảngười xem. Thửtrích mộtđoạnđộc thoại của Hăm-lét trong bi kịch Hăm-
lét (Sếch-xpia) và mộtđoạnđộc thoại của nhân vật bà mẹBơrốc trong trường
ca Campuchia hy vọngcủa Thu Bồn, ta dễnhận ra sựgặp nhau giữa hai lờiđộc thoại
này:
Trường ca Campuchia
hy vọng
Bi kịch Hăm-lét của
Sếch-xpia
“Tôi van ngườiđừng để
lưỡi dao tội nghiệp lạnh lẽo
nằm im không một tiếng hỏi
han. Hãy giết tôi đi tôi đang cần
giải thoát. Hãy làm ơn làm nóng
thép lưỡi dao. Lời cầu khẩn của
tôi mong người thấu. Tôi nằm
“Phải chăng, Người
về để quởtrách dứa con
chậm trễcủa Ngườiđã quên
lãng thời gian đắm chìm
trong đau khổ, bỏqua lệnh
truyền cấp thiết, không thi
hành ngay đại sự? Ôi, xin

